BÍ ẨN KHẢO CỔ 27

(ĐC sưu tầm trên NET)


Bí ẩn về Paracas Candelabra làm đau đầu giới khảo cổ

Hàng thế kỷ nay, các đường vẽ khổng lồ có tên Paracas Candelabra rộng đến 180m ở Peru vẫn là bí ẩn làm đau đầu giới khảo cổ.

 Các đường vẽ khổng lồ có tên Paracas Candelabra rộng đến 180m tại Peru.

Geoglyph là những hình vẽ khổng lồ trên mặt đất. Đường kẻ Nazca có lẽ là geoglyph nổi tiếng nhất, nhưng cách đó 200km thậm chí tồn tại một hình vẽ còn bí ẩn hơn.
Đó là các đường vẽ khổng lồ có tên Paracas Candelabra rộng đến 180m. Tuy nhiên các đường vẽ này nhiều khả năng không phải do người Nazca tạo ra. Thông qua các bình gốm được tìm thấy ở khu vực này có niên đại từ năm 200 trước Công nguyên, dẫn tới khả năng hình vẽ này xuất hiện từ nền văn hóa Paracas. 
Hình vẽ có hình dạng của những ngọn nến này được người dân địa phương xem là sứ giả của Viracocha, một vị thần sáng tạo thời cổ đại. Dựa vào kích thước to lớn có thể nhìn thấy được từ ngoài biển ở khoảng cách 20km, Paracas Candelabra được cho là cột mốc chỉ đường cho các thủy thủ.  
Tuy nhiên, lí do thật sự mà những hình vẽ này được tạo ra vẫn là bí ẩn làm đau đầu giới khảo cổ.





Vụ đắm tàu bí hiểm nhất lịch sử hàng hải

Việc biến mất của hai chiếc tàu với hơn 200 con người và số phận của một số người trốn thoát lên đảo ở Thái Bình Dương từ đó trở thành một trong những bí hiểm nhất của lịch sử ngành hàng hải.
Những cơn gió mạnh với tốc độ 50 hải lý hoành hành. Những con sóng cao đến 10 mét quăng quật, ném con tàu vào dải đá ngầm. Những chiếc neo thuỷ thủ thả xuống đáy biển hoàn toàn không tác dụng vì tàu đã vỡ. Sóng quét những con người đang vất vả chống đỡ trên boong, quẳng họ xuống biển và lập tức bị biển nuốt chửng. Con tàu cứ thế chìm xuống dần mang theo cả những người còn mắc lại. Gió gào lên khúc nhạc tang thương dữ dội...
Đó là những hé lộ từ cuộc “khai quật” dưới đáy đại dương về đoàn tàu thám hiểm của Pháp do La Perouse chỉ huy bị đắm từ gần 220 năm trước, một vụ đắm tàu được xem là bí hiểm nhất của lịch sử hàng hải

Đoàn tàu khai phá

Thế kỷ XVIII ở châu Âu là thời hoàng kim của những chuyến thám hiểm rất xa và dài ngày trên biển của các quốc gia như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Anh, Hà Lan, Pháp…

Các thợ lặn đã làm việc cật lực trong 20 ngày với tổng số thời gian là 730 giờ dưới nước.

Những chuyến đi như vậy đối với cựu lục địa mang lại rất nhiều hiểu biết về thế giới, chuẩn bị cho việc chinh phục những vùng đất mới, xâm chiếm thuộc địa. Đi kèm với chúng là những phát kiến vĩ đại của khoa học. Hoàng đế Pháp lúc đó Louis XVI, đã trao nhiệm vụ dẫn đầu một cuộc thám hiểm quan trọng cho bá tước De La Perouse, một người dày dạn kinh nghiệm biển khơi, đã từng tham gia hạm đội hoàng gia từ năm 15 tuổi.
Nhiệm vụ của La Perouse là chỉ huy cuộc thám hiểm trên hai con tàu La Boussole và l’Astrolabe được coi là tiên tiến nhất thời đó. Vừa tìm đường đến những xứ sở lạ lẫm với phương Tây, tàu vừa tiến hành nghiên cứu khoa học, tìm hiểu các nền văn hoá phương Đông. Thậm chí, tàu còn mang theo hạt giống rau và cây ăn quả để dạy cho những dân tộc “bán khai” cách trồng tỉa…
232 người của đoàn gồm các thành phần rất đa dạng: 6 quan chức cao cấp, 17 người gồm các nhà bác học về thiên văn học, vật lý học, sinh học, thực vật học, kỹ sư, người hoạ đồ và… thợ sửa đồng hồ cùng với các sĩ quan hải quân và thuỷ thủ đoàn.

Hành trình tang tóc của La Perouse

Đoàn tàu rời bến cảng Brest vào ngày 1.6.1785 với 700 tấn lương thực chất trong hầm chứa, thuỷ thủ và các nhà bác học phiêu lưu sang bờ biển tây bắc châu Mỹ rồi hướng về Thái Bình Dương.

Một số hiện vật còn nguyên vẹn, ngủ yên dưới đáy biển hơn 2 thế kỷ

Men theo bờ phía đông đại dương này, đoàn tàu đã ghé nhiều nơi chưa có người châu Âu đặt chân đến, nhiều hòn đảo hoang vắng giữa biển khơi, các quần đảo thuộc Nhật, bán đảo Kamchatka thuộc Nga… Nó đã dừng chân 40 ngày ở Manila, nơi người Tây Ban Nha đã đặt chân lên, để sửa chữa. Rồi những biến cố đau buồn bắt đầu xảy ra. 21 người bị chết trên ba con thuyền nhỏ đi tiền trạm đổ bộ vào bờ do va phải đá ngầm. Thuyền trưởng De Langle của con tàu l’Astrolabe bạn thân của La Perouse bị thảm sát cùng 11 thuỷ thủ bởi thổ dân trên đảo Salomon, khi ông mạo hiểm lên bờ tìm nước ngọt. Rồi đoàn tàu cặp bến Botany Bay thuộc Úc ngày 16.1.1788, ngày bá tước La Perouse gửi lá thư cuối cùng về Pháp cho Bộ trưởng Bộ Hàng hải báo cáo tình hình.
Từ đó ông muốn đi ngược lên phía bắc, qua Tân Calêđoni và Tân Ghi nê trước khi trở về Pháp… Những tấm hải đồ quá sơ sài, không hề ghi sự tồn tại của những ngọn núi lửa xưa kia đã từng bị chìm xuống ở Nam Thái Bình Dương, đảo Vanikoro và những cơn bão khủng khiếp có thể xảy ra ở vùng này.
Việc biến mất của hai chiếc tàu với hơn 200 con người và số phận của một số người trốn thoát lên đảo ở Thái Bình Dương từ đó trở thành một trong những bí hiểm nhất của lịch sử ngành hàng hải.

Những cuộc kiếm tìm trong quá khứ

Bốn mươi năm sau, thuyền trưởng Ái Nhĩ Lan Peter Dillon là người đầu tiên lần theo hải trình của La Perouse thông qua những dấu vết ít ỏi. Ông đã tập hợp được một số tư liệu, một số hiện vật liên quan đến vụ đắm tàu.

Alain Conan đã thuê người tìm thấy và đưa lên bờ khẩu đại bác 800 từ tàu L’Astrolabe và chuyển cho tàu Jacques mang về Paris nghiên cứu.

Hai mươi năm tiếp theo, trên cơ sở những tài liệu từ Peter Dillon, một người Pháp là Dumont d’Urville được cử đến thẳng mũi Vanikoro để tìm hiểu sự việc. Tại đây, ông tìm được thêm nhiều hiện vật khác: những chiếc neo, những khẩu đại bác và rất nhiều đồ vật của đoàn thám hiểm hoàng gia mà ông thuê vớt lên bằng những phương tiện thô sơ. Ông dựng trên bờ biển một đài tưởng niệm những người yêu nước bất hạnh của nước Pháp và đưa các hiện vật về trưng bày tại Viện bảo tàng hàng hải ở Paris. Từ đó đến nay, đã 217 năm trôi qua.

Bí mật của La Perouse ló dạng

Ngày 18.5.2005, con tàu Jacques Cartier với phương tiện trục vớt hiện đại đã đến quần đảo Santa Cruz, trong đó có đảo Vanikoro để tiến hành vụ “khai quật” dưới biển điều tra những bí mật cuối cùng của đoàn tàu thám hiểm do La Perouse chỉ huy. Tham gia vào vụ điều tra này có một đội ngũ thuỷ thủ và thợ lặn gồm 52 người cùng với 30 nhà khoa học.
Jacques Cartier bỏ neo cách đảo vài trăm mét. Các nhà nghiên cứu mang theo hàng chục tấn dụng cụ trục vớt, từ chiếc bàn chải nhỏ nhất đến các búa máy, khoan máy hoạt động dưới nước, thiết bị lặn tối tân. Địa điểm nằm trên xích đạo này rất khắc nghiệt. Những trận mưa như trút xảy ra thường xuyên và không thể dự đoán trước bất cứ điều gì. Gió lốc, vòi rồng, bão tố. Và chẳng có nơi nào để lẩn tránh.
Chừng 20 thợ lặn được trang bị những chiếc đèn pin cực mạnh, cho phép nhìn xa 40m và sâu 15m vào cuộc. Để có chứng cớ, ở những chỗ tìm thấy hiện vật, phải dùng máy đào cả những địa tầng kèm theo. Lúc này, người ta mới biết thêm một nhân vật: Alain Conan, chủ tich Hội những người Tân Calêđoni ở đảo Salomon. Ông rất quan tâm đến chuyện này vì lòng ngưỡng mộ đối với nhà hàng hải Pháp La Perouse. Ông đã 7 lần tự bỏ tiền ra khai quật vụ đắm tàu. Năm 2003, êkíp của ông đã trục vớt được một khẩu đại bác nặng 900 kg. Cùng năm ấy, những người thợ lặn đã đưa lên được một bộ xương. Đó là thành viên đầu tiên và duy nhất của đoàn thám hiểm khi xưa. Bộ hài cốt ông trao cho đoàn được đưa về Pháp và giao cho Viện nghiên cứu hình sự của cảnh sát để xác định gấp. Người ta đã chứng minh rằng, đó là một người đàn ông châu Âu, khoảng 30 tuổi.
Lần này, đoàn cũng thu thập được xương ống chân và một số xương vụn khác. Xương người được gỡ ra khỏi đám san hô phủ kín là hiện thân của những thuỷ thủ và các nhà khoa học đã hy sinh trong vụ đắm tàu. Vật có giá trị nhất trong đợt khai quật là một chiếc la bàn phương vị có trang bị cả vòng ngắm chuẩn và kính lục phân (sextant). Dụng cụ đi biển này khắc tên Mercier. 12.000 trang tư liệu chính thức mà Alain Conan tìm thấy đã nói đến nó: “... một chiếc kính lục phân do Mercier chế tạo đã được Viện hàng hải hoàng gia cấp cho tàu La Boussole”, chứng tỏ đây chính là con tàu bị đắm của La Perouse.
Michel L’Hour và Elisabeth Veyrat, những người chỉ huy việc trục vớt, bằng những tư liệu và hiện vật đã kể lại với sự xúc động: “Người ta có thể dễ dàng hình dung ra tai hoạ bất ngờ đã xảy ra với Perouse và con tàu của ông khi gặp bão. Những cơn gió mạnh với tốc độ 50 hải lý hoành hành. Những con sóng cao đến 10 mét quăng quật, ném con tàu vào dải đá ngầm. Những chiếc neo mà thuỷ thủ thả xuống đáy biển hoàn toàn không tác dụng vì tàu đã vỡ. Sóng quét những con người đang vất vả chống đỡ trên boong, quẳng họ xuống biển và lập tức bị biển nuốt chửng. Con tàu cứ thế chìm xuống dần mang theo cả những người còn mắc lại. Gió gào lên một khúc nhạc tang thương dữ dội”.
Trong khi đó, cách một dặm, con tàu L’Astrolabe mắc cạn trên một rạn san hô. Khoảng 50 thuỷ thủ tìm cách lên được bờ. Và đến lượt họ trở thành tù nhân của đảo Vanikoro. Khí hậu nơi đây thật khủng khiếp đối với người châu Âu. Nhiệt độ đã cao, độ ẩm lại cực đại khiến họ không thể thở được. Đàn côn trùng khát máu sống dưới gốc đước không cho họ lúc nào yên. Thổ dân coi họ là kẻ thù. Họ phải ăn tất cả những gì tìm được trong thiên nhiên. Bệnh sốt rét tàn phá cơ thể họ. Họ trốn chui trốn lủi đằng sau những bụi cây rậm rạp. Năm tháng như thế, tìm mọi cách ghép được vài chiếc thuyền để vượt biển, nhắm hướng châu Úc hoặc Timor, nhưng họ đã chẳng bao giờ đến được đích.
Đoàn điều tra đã khẳng định được vị trí xác hai con tàu: tàu Boussole nằm ở một chỗ rạn nứt dưới đáy biển. Tàu L’Astrolabe mắc cạn trên một vỉa san hô. Tuy nhiên, nhiệm vụ của đoàn điều tra chưa phải đã kết thúc. Những hiện vật mang về phải được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm, để nói lên những bí mật cuối cùng.
Ngày 15.8.2005 tàu Jacques Cartier rời nơi trục vớt, chất đầy những lời giải đáp, những điều khẳng định và một niềm hy vọng mới: Làm sáng tỏ trường hợp hy sinh của nhà hàng hải vĩ đại của nước Pháp, mang lại câu trả lời cho mọi người, đặc biệt cho… hoàng đế Louis XVI. Các sử gia kể lại rằng khi bước lên đoạn đầu đài (nhà vua bị cách mạng Pháp năm 1789 xử tử), ông vẫn đau đáu về số phận của La Perouse. Câu nói cuối cùng của ông trước khi đưa đầu vào máy chém không phải lo cho mình mà là: “Có tin gì về ông La Perouse chưa?”.

 

Sự thật về xác tàu "ăn thịt người" tại Bắc Cực

Tàu HMS Erebus do thuyền trưởng John Franklin dẫn đầu thám hiểm Bắc Cực và mắc kẹt năm 1846. Sau 168 năm mất tích, con tàu được phát hiện với dấu hiệu một số thủy thủ phải ăn thịt người để tồn tại.

Giữa thế kỷ 19, những bộ xương người đầu tiên được phát hiện tại vùng biển Bắc Cực thuộc Canada, nghi là thủy thủ đoàn trên con tàu xấu số HMS Erebus. 2 bộ xương đầu tiên được tìm thấy trên bờ biển đảo King William năm 1859, thuộc về 2 người đàn ông chết ngồi từ lâu. Mười năm sau, một bộ xương khác cũng được tìm thấy trên bãi biển này.
Đến năm 1879, người ta phát hiện thêm 6 bộ xương trắng và chúng lần lượt xuất hiện thêm vào các năm 1932, 1987 và 1992, tất cả đều không được chôn cất. Một số bộ hài cốt còn có vết răng của những loài động vật gặm nhấm. Đáng sợ hơn, một vài bộ xương có dấu hiệu của các vết lóc thịt, chủ yếu trên cổ tay.

Tàu HMS Erebus mất tích năm 1846 tại Bắc Cực. Ảnh: Wikimedia

Một nhóm nghiên cứu của Canada khẳng định đây chính là các thành viên thủy thủ đoàn trên con tàu HMS Erebus do thuyền trưởng John Franklin dẫn đầu, bị mắc kẹt trong băng gần đảo King Wiliam - cách thành phố Toronto – Canada khoảng 1.200 hải lý về phía Tây Bắc - vào năm 1846 kéo theo cái chết của 129 người đàn ông.
Tháng 9-2014, các nhà thám hiểm phát hiện một xác tàu ở khu vực trên và hôm 2-10, Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Canada xác nhận xác tàu chính là HMS Erebus.
Ông John Geiger, thành viên nhóm nghiên cứu, đồng thời là Chủ tịch Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Canada, cho biết: “Con tàu ở trong tình trạng đáng kinh ngạc. Như thể chúng tôi đang ở trên mặt trăng vậy”.
Một con tàu khác song hành với tàu Erebus là HMS Terror hiện vẫn chưa được tìm thấy. Cả hai con tàu đều biến mất trong cuộc thám hiểm “hành lang Tây Bắc”, chỉ con đường biển nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương qua ngõ Bắc Cực.

Hình ảnh siêu âm chụp tàu HMS Erebus dưới đáy biển. Ảnh: AP

Ảnh: Canadian Press

Theo một bản ghi được tìm thấy trên một ụ đá, sau 2 năm kẹt ở Bắc Cực, thủy thủ đoàn giảm từ 129 xuống còn 105 người, trong đó cả thuyền trưởng Franklin cũng thiệt mạng. Những người còn lại rời bỏ con tàu vì hết thực phẩm dự trữ, lang thang trên băng và khiến cái chết đến với họ càng mau chóng hơn.
Theo thông tin của nhóm dân tộc bản địa Inuit từ thế kỷ 19 được lưu trữ, các thành viên thủy thủ đoàn người chết vì bệnh tật, người qua đời vì ngộ độc chì gây ra bởi thức ăn đóng hộp. Còn một nguyên nhân nữa chưa được xác minh, đó là thủy thủ đoàn phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại chờ cứu hộ. Bằng chứng là các vết cắt trên xương, đặc biệt ở phần cổ tay, được tìm thấy trên nhiều bộ hài cốt.
Thêm một bí ẩn nữa: Thi thể thuyền trưởng Franklin không được tìm thấy. Có ý kiến suy đoán ông có thể được chôn cất trên bờ, bị chôn vùi dưới đáy biển hoặc cũng có khi vẫn còn nằm lại trên tàu.
Việc xác định xác tàu HMS Erebus có thể sẽ trả lời được nhiều bí ẩn xoay quanh thời đại ăn thịt người Victoria.

Một nhà nghiên cứu xem xét xác tàu HMS Erebus. Ảnh: Parks Canada

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32