ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 61
(ĐC sưu tầm trên NET)
Theo sử liệu[1] thì ông là người có tài, nhưng vì chán công danh nên không xin thi cử. Mãi đến năm Trinh Phù thứ 10 (1185), khi tuổi đã 44, ông mới đi ứng thí, và đã đỗ đại khoa trong số 30 người trúng tuyển.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1234), ông mất, thọ 93 tuổi.
Thương tiếc ông, người dân tạo tượng thờ ông ở chùa Thiên Niên, và ghi danh ông trên "Thanh Bằng thịnh sự bia" (bia nói về sự thịnh vượng của làng Bằng Liệt), khắc ngày 18 tháng 2 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784).
Tuy nhiên, theo TS. Bùi Xuân Đính, thì tấm bia ở Văn chỉ làng Bằng Liệt, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì (nay đổi thành phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) được lập trước hai cuốn sách trên khá lâu đã khẳng định Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt. Như vậy, có nhiều khả năng ông quê gốc ở đây nhưng về sau chuyển xuống làng Bình Lãng, và khi đi thi thì ông làm hồ sơ tại nơi ở hiện tại.
Mặc dù có khác biệt nhỏ về thứ hạng, nhưng căn cứ vào các sử liệu đã nêu trên và nội dung văn bia ở làng Bằng Liệt, TS. Bùi Xuân Đính đã kết luận rằng Bùi Quốc Khái mới chính là vị khai khoa của Thăng Long Hà Nội, chứ không phải Chu Văn An, người đã đỗ Thái học sinh (như Tiến sĩ sau này) vào khoảng đời Trần Hiến Tông (1329-1341).
Trương Hanh [張亨]
[? - ?]. Người làng Mạnh Tân ( Yên Tân ), huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng ,
Hải Dương (huyện Tứ Lộc, Hải Dương ngày nay ) Kiên Trung thứ 8(1232),
đời Trần Thái Tông
Tên: Trương Hanh [張亨]
Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn
Ngày: Kiên Trung thứ 8(1232), đời Trần Thái Tông
Quê quán: Người làng Mạnh Tân ( Yên Tân ), huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng , Hải Dương (huyện Tứ Lộc, Hải Dương ngày nay )
Chức vụ: Làm quan đến Thị lang, Hàn lâm Học sĩ
Mô tả cuộc đời: Tháng 2, thi thái học sinh. Đỗ đệ nhất giáp là Trương Hanh, Lưu Diễm; đệ nhị giáp là Đặng Diễn, Trịnh Phẫu; đệ tam giáp là Trần Chu Phổ.
Trước kia, nhà Lý kén chọn học trò, chưa phân ra cấp bậc. Nay mới định người đỗ cao đỗ thấp theo cấp bậc tam giáp. Khoa ấy lấy Trương Hanh, Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp. Nhưng phép tuyển cử cũng chưa được tường tận.
Lời chua - Thái học sinh: Tức khoa Tiến sĩ, nhưng lúc bấy giờ ai đỗ chỉ gọi là
Thái học sinh, đến khoa Giáp Dần, Trần Duệ Tông năm Long Khánh thứ 2 (1374) mới gọi
là Tiến sĩ.
Trương Hanh: Người ở Trường Tân thuộc Hồng Châu.
Chu Phổ: Người ở Tế Giang thuộc Bắc Giang. Còn các người khác không rõ ở đâu.
Bùi Quốc Khái
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bùi Quốc Khái (chữ Hán: 裴國愾, 1141-1234) là người đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm Trinh Phù thứ 10 (Ất Tỵ, 1185) dưới thời vua Lý Cao Tông (ở ngôi: 1176-1210), nước Đại Việt (nay là Việt Nam).
Cuộc đời
Bùi Quốc Khái sinh năm Tân Dậu (1141) tại làng Bình Lãng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).Theo sử liệu[1] thì ông là người có tài, nhưng vì chán công danh nên không xin thi cử. Mãi đến năm Trinh Phù thứ 10 (1185), khi tuổi đã 44, ông mới đi ứng thí, và đã đỗ đại khoa trong số 30 người trúng tuyển.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:
- Ất Tỵ [Trịnh Phù] năm thứ 10 [1185]. Mùa xuân, tháng Giêng, sĩ nhân trong cả nước, người nào từ 15 tuổi trở lên, mà thông thạo thi thư thì được vào hầu học ở Ngự diện. (Sau) lấy đỗ bọn Bùi Quốc Khái, Đặng Nghiêm (tổng cộng) 30 người, còn thì đều ở lại học .
Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1234), ông mất, thọ 93 tuổi.
Thương tiếc ông, người dân tạo tượng thờ ông ở chùa Thiên Niên, và ghi danh ông trên "Thanh Bằng thịnh sự bia" (bia nói về sự thịnh vượng của làng Bằng Liệt), khắc ngày 18 tháng 2 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784).
Công bố mới
Quê quán
Quê quán của ông, sách Đại Việt sử ký toàn thư không ghi. Còn Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều cho biết Bùi Quốc Khái là người Bình Lãng huyện Cẩm Giàng.Tuy nhiên, theo TS. Bùi Xuân Đính, thì tấm bia ở Văn chỉ làng Bằng Liệt, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì (nay đổi thành phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) được lập trước hai cuốn sách trên khá lâu đã khẳng định Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt. Như vậy, có nhiều khả năng ông quê gốc ở đây nhưng về sau chuyển xuống làng Bình Lãng, và khi đi thi thì ông làm hồ sơ tại nơi ở hiện tại.
Tiến sĩ khai khoa...
Và theo nội dung tấm bia này, thì Bùi Quốc Khái chỉ đỗ thứ hai trong kỳ thi Đình khoa Ất Tỵ (1185). Trích văn bia: lúc đầu, hội tư văn mua một khu đất ở xóm Vĩnh Phúc dựng Từ chỉ làm nơi cúng tế lâu dài. Vị trùm trưởng cùng các thành viên trong hội xuất ruộng tư làm ruộng tế điền của hội để lưu truyền mãi mãi. Hàng năm cho người cày cấy lấy tiền lợi tức cúng tế. Cứ vào 12 tháng 2 chuẩn bị lễ vật dâng tế lên Từ chỉ cáo tế các chi vị: Tiến sỹ cập đệ, Đệ nhất giáp, Đệ nhị danh, Bảng nhãn Khoa Ất tỵ, chức Ngự sử đài, Đô ngự sử Bùi tướng công (Quốc Khái) cùng các vị chức sắc trúng trường, viên mục, các hương sắc trên dưới cùng được phối hưởng, để khí thiêng hun đúc, nối dài thờ tự muôn ngàn vạn năm, mãi mãi trường tồn cùng trời đất. Nhân đó khắc lên bia đá để truyền về sau.Mặc dù có khác biệt nhỏ về thứ hạng, nhưng căn cứ vào các sử liệu đã nêu trên và nội dung văn bia ở làng Bằng Liệt, TS. Bùi Xuân Đính đã kết luận rằng Bùi Quốc Khái mới chính là vị khai khoa của Thăng Long Hà Nội, chứ không phải Chu Văn An, người đã đỗ Thái học sinh (như Tiến sĩ sau này) vào khoảng đời Trần Hiến Tông (1329-1341).
| Trạng nguyên Phạm Công Bình (...? ...?) Trạng nguyên đầu tiên của họ Phạm Việt Nam |
|
| Bản tin nội tộc (Số 6/2004), 01-11-2003. Số lần xem: 2704 | |
| Ông là người xã An Lạc, huyện Yên Lạc, Phủ
Tam Đái, Sơn Tây ( nay là thôn Yên Lạc xã Đồng Văn huyện Yên Lạc tỉnh
Vĩnh Phúc). Căn cứ vào tư liệu địa phương thôn Yên Lạc trong sách" Yên
Lạc một hành trình lịch sử" - NXB tỉnh Vĩnh Phúc, chúng ta được biết về
Trạng nguyên Phạm Công bình như sau: Ông xuất thân từ con nhà nghèo nhưng có chí lớn, thông minh hơn người. Ông đỗ đệ nhất Giáp khoa thi năm Giáp Tuất (1124) Triều Lý. Vì có công lớn với Triều Lý nên được ban Quốc tính (họ vua). Đến Triều Trần, lấy cớ kiêng tên húy Tổ họ Trần là Trần Lý, nên đổi thành họ Nguyễn. Các nhà viết sử thực lục về sau đều ghi ông theo các họ đã đổi: Lý Công Bình hoặc Nguyễn Công Bình. Chiến công của Phạm Công Bình đều là các chiến công chống ngoại xâm. Ta có thể liệt kê một số chiến tích chính: - Tháng 2 năm Mậu Thân (1128), quân Chân Lạp vào cướp ở Nghệ An vua Lý Thần Tông cử Thái phó Phạm Công Bình (Đại Việt sử kí chép là (Lý) Nguyễn Công Bình đi đánh dẹp " bắt được tướng của nó rồi về". - Tháng 9 năm Bính Thìn (1136) Tướng Chân Lạp là Tô Pha Lăng đến cướp châu Nghệ An, vua Lý Thần Tông cử quan Thái Phó Phạm công đi đánh bại được. Phạm Công Bình là một văn quan ở bậc Đại thần của triều Lý. Công lao phù tá đứng vào hàng Tam công của triều Lý. Hiện nay ở thôn Yên lạc còn di tích Đền thờ trạng nguyên Phạm Công bình. Tương truyền Đền thờ làm trên nền nhà cũ của cha sinh Phạm Công Bình, lúc đầu chỉ là tường đất, mái lá sau nhân dân đóng góp xây dựng lại lợp ngói khang trang hơn (1930). Đến năm 1941, Đền thờ được tu sửa lớn, xây thêm bao lơn và cổng Đền như ngày nay. Trong Đền bài trí đồ thờ uy nghi, đặc biệt có pho tượng Phạm Công Bình được tạc bằng gỗ sơn son thếp vàng trong tư thế ngồi oai phong, lẫm liệt thể hiện phong thái của một quan văn, học vấn uyên thâm đồng thời phong thái của một quan võ cương nghị đúng với sự nghiệp của ông. Trong Đền còn giữ được một bức hoành phi " Long đầu trọng vọng" có nghĩa là người đứng đầu nhà Lý được vua trọng vọng. Một đôi câu đối: " Sơn tỉnh Vĩnh Tường An Lạc địa - Lý Triều Trinh khánh Trạng nguyên từ". ( Tạm dịch là sinh ra lớn lên ở đất An Lạc, Vĩnh Tường, Sơn Tây- Đỗ Trạng nguyên Triều Lý). Người để lại nhiều dấu ấn nhất và cũng nhiều tranh luận nhất, đầu tiên phải kể đến Đền Trạng nguyên Phạm Công Bình còn được thờ ở xã Phú Tài huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, với duệ hiệu: Lý Triều Trạng nguyên Phạm Quốc Công Đại vương. Có sự tích và sắc phong nhưng nay đều thất lạc cả. Phạm Hồng Vũ ( trích lược) |
|
| Nguyễn Công Bình [阮公平] [? - ?]. Người đất Yên Lạc, phủ Tam Đới ( Vĩnh Phúc ngày nay ) Kiến Gia thứ 3 (1213), đời Lý Huệ Tông
Tên: Nguyễn Công Bình [阮公平] Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Dậu Ngày: Kiến Gia thứ 3 (1213), đời Lý Huệ Tông Quê quán: Người đất Yên Lạc, phủ Tam Đới ( Vĩnh Phúc ngày nay ) Chức vụ: Làm quan đến Hàn lâm Học sĩ Mô tả: Ông Đỗ đầu (Đệ nhất giáp) khoa thi năm Giáp Thìn (1124) đời vua Lý Nhân Tông. Là người văn võ song toàn, năm 1128 Nguyễn Công Bình được phong chức Thái uý (đứng đầu hàng quan võ), ông được cử cầm quân đánh dẹp giặc phương Nam (Chân Lạp) thắng nhiều trận lớn vào các năm 1128, 1136… giữ yên bờ cõi phương Nam của Đại Việt. Chiến công của Nguyễn Công Bình. Đều là các chiến công chống ngoại xâm. - Tháng 2 năm Mậu thân (1128) quân Chân Lạp vào cướp ở Nghệ An, vua Lí Thần Tông - cử thái phó Phạm Công Bình (Đ.V.S.L chép là Nguyễn (Lí), Công Bình) đi đánh dẹp "bắt được tướng của nó rồi về". - Tháng 9 năm Bính thìn (1136) tướng Chân Lạp là Tô Phá Lăng đến cướp Châu Nghệ An. Vua Lí Thần Tông cử quan Thái phó Phạm Công đi đánh bại được. Về chiến công năm 1128, sử T.T chép kĩ hơn Đ.V.S.L. Đại lược là: ngày Giáp dần, tháng giêng năm Mậu thân, hơn hai vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An, quan thái phó Lí Công Bình được cử đi đánh dẹp - ngày Quí hợi thì bắt được chủ tướng và quân lính - sang tháng 3, Lí Công Bình đem quân về kinh sư, dâng tù binh gồm 169 người. Nguyễn Công Bình là một văn quan, ở vào bậc đại thần của Triều Lí - Thần Tông - Công lao phù tá đứng vào hàng Tam công của Triều Lí - so với quan chế ban hành đời Lê Hồng Đức (1470), ông ở vào cương vị của hàng chánh Nhất phẩm triều đình - chức danh rất trọng. Hơn 800 năm đã trôi qua, Nguyễn Công Bình được dân thôn An Lạc thờ là: Thượng Đẳng Phúc Thần (tứ thời hương khói). Các triều đại phong kiến Việt Nam đều có nhiều đạo sắc phong tôn vinh ông. Đền thờ ông ở thôn An lạc làm trên nền nhà cũ của gia đình, trong đền có bức tượng Phạm Công Bình và đôi câu đối ca ngợi võ công của ông: Lôi thanh hướng trận khôi tam giáp Vũ hoá ân chiêm trạch tử dân [nghĩa là: Sấm vang vào trận, công đầu ba giáp Mưa nhuần mang ân cho bốn dân (sĩ, nông, công, thương)] Chú thích: Ông là trạng nguyên đầu tiên của đất Vĩnh Phúc. |
Tên: Trương Hanh [張亨]
Bằng cấp: Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn
Ngày: Kiên Trung thứ 8(1232), đời Trần Thái Tông
Quê quán: Người làng Mạnh Tân ( Yên Tân ), huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng , Hải Dương (huyện Tứ Lộc, Hải Dương ngày nay )
Chức vụ: Làm quan đến Thị lang, Hàn lâm Học sĩ
Mô tả cuộc đời: Tháng 2, thi thái học sinh. Đỗ đệ nhất giáp là Trương Hanh, Lưu Diễm; đệ nhị giáp là Đặng Diễn, Trịnh Phẫu; đệ tam giáp là Trần Chu Phổ.
Trước kia, nhà Lý kén chọn học trò, chưa phân ra cấp bậc. Nay mới định người đỗ cao đỗ thấp theo cấp bậc tam giáp. Khoa ấy lấy Trương Hanh, Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp. Nhưng phép tuyển cử cũng chưa được tường tận.
Lời chua - Thái học sinh: Tức khoa Tiến sĩ, nhưng lúc bấy giờ ai đỗ chỉ gọi là
Thái học sinh, đến khoa Giáp Dần, Trần Duệ Tông năm Long Khánh thứ 2 (1374) mới gọi
là Tiến sĩ.
Trương Hanh: Người ở Trường Tân thuộc Hồng Châu.
Chu Phổ: Người ở Tế Giang thuộc Bắc Giang. Còn các người khác không rõ ở đâu.
Trong lịch sử thi cử Nho
học ở Việt Nam, kể từ khoa thi đầu tiên vào năm Ất Mão (1075) dưới
triều vua Lý Nhân Tông, trải qua hơn 150 năm, đến năm 1239 dưới triều
vua Trần Thái Tông (niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 8) có 5 kỳ thi
Đại khoa; nhưng cả triều Lý và triều Trần đều chưa lấy đậu Trạng nguyên.
Các vị đỗ đầu các kỳ thi đó như: Lê Văn Thịnh, Mạc Hiển Tích, Bùi Quốc
Khái, Trương Hanh và Lưu Miễn chỉ được lấy đỗ đầu nhất giáp.
Mãi tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ
sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời
vua Trần Thái Tông mới có danh hiệu Tam khôi gồm: Trạng nguyên, Bảng
nhãn, Thám hoa. Trong kỳ thi này, Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên;
Phạm Văn Tuấn đậu Bảng nhãn; Vương Hữu Phùng đậu Thám hoa. Như vậy
Nguyễn Quan Quang chính là vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Đại Việt.
Nguyễn Quan Quang quê gốc xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Sinh ra trong một nhà nông nghèo, không
đủ gạo tiền để theo học, nhưng với bản tính vốn ham học hỏi , Nguyễn
Quan Quang thường lân la ngoài cửa lớp nghe thầy dạy bọn học trò trong
làng học sách Tam tự kinh. Tuy chỉ nghe lỏm nhưng cậu bé
Quan Quang ngồi ngay trước sân dùng gạch non (vì không có giấy mực đi
học như bọn trẻ trong lớp) viết chữ xuống nền gạch. Nét chữ của cậu rất
đẹp. Một hôm, tan buổi học, thầy đồ chợt nhìn thấy sân nhà có rất nhiều
nét chữ như rồng bay, phượng múa. Thầy kinh ngạc và nói rằng: “đây mới
chính là trò giỏi”. Nói rồi, thầy cho gọi Quan Quang vào lớp và thu nhận
làm học trò của thầy.
Nguyễn Quan Quang nổi tiếng thông minh
học một biết mười. Chẳng bao lâu, ông đã thông kinh, thuộc sử, ứng khẩu
thành thơ, luận bàn việc đời thông thái uyên thâm. Ông dự kỳ thi Hương,
đậu luôn giải Nguyên. Đến kỳ thi Hội lại đỗ luôn Hội nguyên. Khi vua
Trần Thái Tông mở khoa thi Đại tỉ Thủ sĩ, ông đậu luôn Đệ nhất giáp Tiến
sĩ cập đệ đệ nhất danh ( tức Trạng nguyên). Người đương thời khi đó đều
gọi Nguyễn Quan Quang là “ông Tam nguyên”.
Sĩ tử tại trường thi xưa.
Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Quan
Quang vào chầu vua để ra mắt. bấy giờ quân xâm lược Mông Cổ tiến đến
biên giới, lăm le đợi ngày xâm lược nước ta. Vua Trần Thái Tông ra chiếu
cử Nguyễn Quan Quang sang thượng nghị với giặc. Tên tướng giặc nổi
tiếng là kiêu hùng, thâm thúy. Y cho rằng Trạng nguyên nước Việt đến là
để mang ba tấc lưỡi thuyết khách, nên hắn bèn nghĩ cách phải dùng uy để
trấn áp ông.
Nhân lúc đi qua ao bèo, tướng giặc Mông
Cổ vớt một cây bèo lên, nắm gọn trong lòng bàn tay lại rồi bóp chặt. Lát
sau, hắn mở lòng bàn tay ra chìa cho Nguyễn Quan Quang xem. Cây bèo đã
nát vụn trong bàn tay hộ pháp của hắn. Tướng giặc cười sằng sặc vẻ rất
đắc ý. Thâm ý của tướng giặc ngạo mạn trong hành động bóp nát cánh bèo
là: dân nước Việt bé nhỏ chỉ như những cánh bèo non yếu ớt, đạo quân của
hắn chỉ cần đánh khẽ sẽ tan như cánh bèo này. Quan Quang hiểu được thâm
ý của viên tướng giặc; ông bèn nhặt ngay một hòn đá rất to và ném xuống
giữa ao bèo. Bèo dạt nhanh ra thành một khoảng trống, nhưng chỉ ít lát
sau, những cánh bèo lại tụ kín mặt ao, không còn thấy dấu vết của viên
đá to đâu nữa. Xem hành động của Nguyễn Quan Quang, tên tướng giặc tái
mặt vì đã hiểu rõ thâm ý đối đáp rất nhanh của vị Trạng nguyên trẻ nước
Đại Việt rằng: nước Việt tuy nhỏ nhưng bao giờ cũng đoàn kết toàn dân
để bảo vệ giang sơn. Không một sức mạnh nào có thể khuất phục được
truyền thống yêu nước và đoàn kết ấy giống như ao bèo tụ lại sau khi bị
ném đá.
Sau chuyện đó, viên tướng giặc đã hoãn binh mà không dám tiến quân sang xâm lược nước ta ngay.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258), Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang có
nhiều cống hiến lớn. Ông được vua Trần Thái Tông phong đến chức Bộc xạ (
tương đương chức Tể tướng). Khi làm quan, ông quan xuất thân từ gia
đình nông dân nghèo khó đó hết lòng vì dân, vì nước, thanh liêm, trung
thực. Ông được cả trong triều cũng như dân chúng mến phục vì đức và tài
vẹn toàn. Ông lấy vợ tên là Tuyên Huệ phu nhân. Ở kinh sư một thời gian,
thì ông từ quan về quê. Ông lui về quê hương mở trường dạy chữ cho cả
con nhà nghèo. Ông sống một cuộc đời thanh đạm như người đi tu. Người
dân Tam Sơn cho rằng: ông là người khai sáng việc học của quê hương, mở
đường cho đất Ba Gò sau này có một “kho nhân tài”. Yêu mến, cảm phục
ông, nơi Nguyễn Quan Quang dạy học được dân làng dựng lên một ngôi chùa
để tưởng nhớ đến ông- một người sống như tu. Chùa mang tên Linh Khánh.
Ngôi chùa ấy ngày nay không còn nữa, nhưng vẫn còn một cây hương tạc
bằng đá vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nội dung ghi trên bia nói về
công đức của trạng nguyên Nguyễn Quan Quang với dân làng. Sau khi ông
mất, dân làng lập đền thờ ông trên núi Viềng. Họ thờ ông làm Thành
Hoàng, gọi là Bản thổ Thành Hoàng, Đại vương Phúc Thần. Triều đình cũng
truy phong ông là Đại tư không.
Hàng năm cứ vào dịp 22 tháng chạp âm
lịch, dân làng lại tổ chức “ Tế phong mã” để tưởng nhớ vị Trạng nguyên
tài năng và ân đức của quê hương Kinh Bắc. Âu cũng là để nhắc nhở các
thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống hiếu học và yêu nước, thương dân của vị
Trạng nguyên đầu tiên nước Đại Việt.
Minh Vượng (tổng hợp)
Nhận xét
Đăng nhận xét