VIỆT NAM HIỀN HÒA 3/4
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tên dân tộc: M'Nông (Bru Đang, Preh, Ger, Nong, Prêng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu No, nhóm M'Nông Bru Dâng).
Dân số: 92.451 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Ðắk Lắk, Lâm Ðồng và Bình Phước
Dân tộc M'Nông
Dân tộc M'Nông
30 / 05/ 2012, 03:05:46
Tên dân tộc: M'Nông (Bru Đang, Preh, Ger, Nong, Prêng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu No, nhóm M'Nông Bru Dâng).
Dân số: 92.451 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Ðắk Lắk, Lâm Ðồng và Bình Phước
Phong tục tập quán:
Thờ nhiều thần linh, đề cao thần lúa. Sống thành làng, mỗi làng có vài chục nóc nhà. Ðứng đầu là trưởng làng. Ở nhà sàn, nhà trệt. Duy trì chế độ mẫu hệ, con mang họ mẹ, người vợ là chủ gia đình. Thích nhiều con gái, sinh sau 1 năm mới đặt tên.
Tang lễ có tập quán ca hát, gõ chiêng, trống bên áo quan. Khi hạ huyệt dùng cây, que, lá cây trải kín miệng hố rồi lấp đất. Qua 7 ngày hoặc 1 tháng thì làm lễ đoạn tang. Mọi người đều thích rượu cần và thuốc lá cuốn.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Trang phục:
Nữ mặc váy quấn dài, Nam đóng khố, cởi trần. Khố váy áo màu chàm có trang trí hoa văn.
Kinh tế:
Làm rẫy, làm ruộng nước. Nghề săn và thuần dưỡng voi rất nổi tiếng (Buôn Ðôn). Nghề thủ công: dệt vải và đan lát
Thờ nhiều thần linh, đề cao thần lúa. Sống thành làng, mỗi làng có vài chục nóc nhà. Ðứng đầu là trưởng làng. Ở nhà sàn, nhà trệt. Duy trì chế độ mẫu hệ, con mang họ mẹ, người vợ là chủ gia đình. Thích nhiều con gái, sinh sau 1 năm mới đặt tên.
Tang lễ có tập quán ca hát, gõ chiêng, trống bên áo quan. Khi hạ huyệt dùng cây, que, lá cây trải kín miệng hố rồi lấp đất. Qua 7 ngày hoặc 1 tháng thì làm lễ đoạn tang. Mọi người đều thích rượu cần và thuốc lá cuốn.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Trang phục:
Nữ mặc váy quấn dài, Nam đóng khố, cởi trần. Khố váy áo màu chàm có trang trí hoa văn.
Kinh tế:
Làm rẫy, làm ruộng nước. Nghề săn và thuần dưỡng voi rất nổi tiếng (Buôn Ðôn). Nghề thủ công: dệt vải và đan lát
Dân tộc Mông (H'Mông)
Dân tộc Mông (H'Mông)
30 / 05/ 2012, 03:05:59
Tên dân tộc: Mông (Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Mán)
Dân số: 787.604 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.
Dân số: 787.604 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.
Phong tục tập quán:
Mỗi dòng họ sống thành cụm do trưởng họ đảm nhiệm. Tự do hôn nhân, nhưng không lấy người cùng dòng họ. Vợ chồng rất ít bỏ nhau.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Mông - Dao.
Văn hoá:
Người Mông ở nhà trệt, cấu trúc theo lối xứ lạnh, có lò sưởi, có thịt sấy ăn quanh năm, có món "mèn mén", món "thắng cố" độc đáo. Nhạc cụ là nhiều loại khèn và đàn môi. Tết tổ chức vào tháng 12 dương lịch. Trong 3 ngày Tết không ăn rau xanh. Nam nữ thanh niên vui xuân, thổi khèn gọi bạn.
Trang phục:
Quần áo may bằng vải lanh tự dệt. Nữ mặc váy xoè rộng, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân.
Kinh tế:
Làm nương rẫy du canh và trồng lúa nước ở ruộng bậc thang. Trồng lanh để lấy sợi dệt vải và cây dược liệu.
Mỗi dòng họ sống thành cụm do trưởng họ đảm nhiệm. Tự do hôn nhân, nhưng không lấy người cùng dòng họ. Vợ chồng rất ít bỏ nhau.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Mông - Dao.
Văn hoá:
Người Mông ở nhà trệt, cấu trúc theo lối xứ lạnh, có lò sưởi, có thịt sấy ăn quanh năm, có món "mèn mén", món "thắng cố" độc đáo. Nhạc cụ là nhiều loại khèn và đàn môi. Tết tổ chức vào tháng 12 dương lịch. Trong 3 ngày Tết không ăn rau xanh. Nam nữ thanh niên vui xuân, thổi khèn gọi bạn.
Trang phục:
Quần áo may bằng vải lanh tự dệt. Nữ mặc váy xoè rộng, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân.
Kinh tế:
Làm nương rẫy du canh và trồng lúa nước ở ruộng bậc thang. Trồng lanh để lấy sợi dệt vải và cây dược liệu.
Dân tộc Mảng
Dân tộc Mảng
30 / 05/ 2012, 03:05:01
Tên dân tộc: Mảng (Mảng Ư, Xá Lá Vàng).
Dân số: 2.663 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lai Châu (Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay).
Dân số: 2.663 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lai Châu (Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay).
Phong tục tập quán:
Thờ vị thần cao nhất là trời. Hôn nhân tự do; lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành cô dâu. Cư trú theo dòng họ, riêng biệt, ở nhà sàn. Có trưởng bản cai quản cùng hội đồng già làng.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Văn hoá:
Ðặc trưng văn hoá lâu đời: tục xăm cằm, lễ thành đinh và các làn điệu dân ca.
Trang phục:
Nữ mặc váy dài, áo ngắn xẻ ngực, choàng tấm vải trắng có trang trí hoa văn. Nam mặc quần, áo xẻ ngực.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, công cụ sản xuất thô sơ. Một số nơi làm ruộng bậc thang. Nghề thủ công đan lát.
Thờ vị thần cao nhất là trời. Hôn nhân tự do; lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành cô dâu. Cư trú theo dòng họ, riêng biệt, ở nhà sàn. Có trưởng bản cai quản cùng hội đồng già làng.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Văn hoá:
Ðặc trưng văn hoá lâu đời: tục xăm cằm, lễ thành đinh và các làn điệu dân ca.
Trang phục:
Nữ mặc váy dài, áo ngắn xẻ ngực, choàng tấm vải trắng có trang trí hoa văn. Nam mặc quần, áo xẻ ngực.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, công cụ sản xuất thô sơ. Một số nơi làm ruộng bậc thang. Nghề thủ công đan lát.
Dân tộc Mạ
Dân tộc Mạ
30 / 05/ 2012, 02:05:33
Tên dân tộc: Mạ (Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn).
Dân số: 33.338 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lâm Ðồng.
Dân số: 33.338 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lâm Ðồng.
Phong tục tập quán:
Thờ thần sông, thần núi, thần lửa... Sống thành bon (làng), mỗi bon có từ 5 - 10 nhà sàn dài. Ðứng đầu bon là quăng bon (già trưởng làng). Nhà trai chủ động trong hôn nhân nhưng sau lễ cưới phải ở rể. Ðủ đồ sính lễ thì được đón vợ về nhà.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Văn hoá:
Nhạc cụ có bộ chiêng đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ... Văn học dân gian gồm có truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại.
Trang phục:
Nữ mặc váy, quần, nam đóng khố. Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, trồng lúa, hoa màu; dệt vải truyền thống. Nghề rèn và đánh cá trên sông.
Thờ thần sông, thần núi, thần lửa... Sống thành bon (làng), mỗi bon có từ 5 - 10 nhà sàn dài. Ðứng đầu bon là quăng bon (già trưởng làng). Nhà trai chủ động trong hôn nhân nhưng sau lễ cưới phải ở rể. Ðủ đồ sính lễ thì được đón vợ về nhà.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khmer.
Văn hoá:
Nhạc cụ có bộ chiêng đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ... Văn học dân gian gồm có truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại.
Trang phục:
Nữ mặc váy, quần, nam đóng khố. Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, trồng lúa, hoa màu; dệt vải truyền thống. Nghề rèn và đánh cá trên sông.
Dân tộc Lự
Dân tộc Lự
30 / 05/ 2012, 02:05:35
Tên dân tộc: Lự (Lữ, Nhuồn, Duồn).
Dân số: 4.964 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Dân số: 4.964 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Phong tục tập quán:
Theo đạo Phật, sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm lễ đưa linh hồn người chết vào chùa. Ở nhà sàn, hai mái, có cửa ra vào ở hướng tây bắc. Trai gái tự do tìm hiểu rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nhưng phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm là Bạ, tên con gái có chữ đệm là Ý. Vợ chồng sống chung thủy, rất ít khi ly dị nhau.
Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.
Văn hóa:
Yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, hay hát dân ca "khăp". Nhạc cụ là các loại sáo, nhị.
Trang phục:
Nam mặc quần, nữ mặc váy, áo và có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm.
Kinh tế:
Làm ruộng từ lâu đời, trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, lạc, bông. Có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè.
Theo đạo Phật, sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm lễ đưa linh hồn người chết vào chùa. Ở nhà sàn, hai mái, có cửa ra vào ở hướng tây bắc. Trai gái tự do tìm hiểu rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nhưng phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm là Bạ, tên con gái có chữ đệm là Ý. Vợ chồng sống chung thủy, rất ít khi ly dị nhau.
Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.
Văn hóa:
Yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, hay hát dân ca "khăp". Nhạc cụ là các loại sáo, nhị.
Trang phục:
Nam mặc quần, nữ mặc váy, áo và có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm.
Kinh tế:
Làm ruộng từ lâu đời, trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, lạc, bông. Có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè.
Dân tộc Lô Lô
Dân tộc Lô Lô
30 / 05/ 2012, 02:05:10
Tên dân tộc: Lô Lô (Mùn Di, Di... Có hai nhóm: Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen).
Dân số: 3.307 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Phần lớn sống ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai.
Dân số: 3.307 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Phần lớn sống ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai.
Phong tục tập quán:
Thờ tổ tiên là chính. Hôn nhân nhân một vợ một chồng. Vợ chồng sau khi cưới ở nhà chồng. Mỗi làng tập trung từ 20 đến 25 nóc nhà. Làng ở lưng chừng núi, gần nguồn nước. Có 3 loại nhà: nhà đất, nhà sàn nửa đất và nhà sàn.
Người cùng họ thường sống với nhau thành một làng. Ðứng đầu dòng họ là Thầu chú, phụ trách việc cúng bái và duy trì tục lệ của dòng họ. Mỗi dòng họ có trống đồng riêng. Tộc trưởng của họ giữ trống bằng cách chôn xuống đất. Khi sử dụng trong các đám tang hoặc nhảy múa mới đào lên.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng.
Văn hoá:
Chữ viết là chữ tượng hình nhưng hiện nay không dùng. Có lịch riêng chia một năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với tên một con vật.
Văn hoá đa dạng, đặc sắc qua các điệu nhảy múa, ca hát, truyện cổ...
Cách bố trí hoa văn trên khăn áo, váy, quần có nét riêng biệt, sặc sỡ.
Coi trọng việc giáo dục. Nhiều người học hành thành đạt và làm việc ở
địa phương.
Trang phục:
Nữ mặc áo cổ tròn xẻ ngực, quần chân què, ngoài quần còn quấn thêm váy lửng. Phụ nữ Lô Lô đen mặc quần chân què, áo cổ vuông chui đầu.
Kinh tế:
Trồng ngô hoặc lúa nương.
Thờ tổ tiên là chính. Hôn nhân nhân một vợ một chồng. Vợ chồng sau khi cưới ở nhà chồng. Mỗi làng tập trung từ 20 đến 25 nóc nhà. Làng ở lưng chừng núi, gần nguồn nước. Có 3 loại nhà: nhà đất, nhà sàn nửa đất và nhà sàn.
Người cùng họ thường sống với nhau thành một làng. Ðứng đầu dòng họ là Thầu chú, phụ trách việc cúng bái và duy trì tục lệ của dòng họ. Mỗi dòng họ có trống đồng riêng. Tộc trưởng của họ giữ trống bằng cách chôn xuống đất. Khi sử dụng trong các đám tang hoặc nhảy múa mới đào lên.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng.
Văn hoá:
Chữ viết là chữ tượng hình nhưng hiện nay không dùng. Có lịch riêng chia một năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với tên một con vật.
Trang phục:
Nữ mặc áo cổ tròn xẻ ngực, quần chân què, ngoài quần còn quấn thêm váy lửng. Phụ nữ Lô Lô đen mặc quần chân què, áo cổ vuông chui đầu.
Kinh tế:
Trồng ngô hoặc lúa nương.
Dân tộc Lào
Dân tộc Lào
30 / 05/ 2012, 02:05:30
Tên dân tộc: Lào (Lào Bốc, Lào Nọi).
Dân số: 11.611 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Ðiện Biên (Điện Biên), huyện Phong Thổ, Than Uyên (Lai Châu), huyện Sông Mã (Sơn La).
Dân số: 11.611 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Ðiện Biên (Điện Biên), huyện Phong Thổ, Than Uyên (Lai Châu), huyện Sông Mã (Sơn La).
Phong tục tập quán:
Thờ cúng tổ tiên, chịu ảnh hưởng của đạo Phật.
Thường mang các họ Lò, Lường, Vi... Con cái theo họ cha. Sống định cư. Nhà rộng lòng, thoáng đãng, chắc chắn. Trong phong tục ma chay, người
chết được làm lễ và chôn cất chu đáo. Riêng người đứng đầu mường, bản dưới chế độ cũ thì chết thiêu xác.
Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.
Văn hoá:
Những ông Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết nhiều truyện cổ, dân ca. Văn nghệ dân gian chịu ảnh hưởng của văn nghệ dân gian Thái, có tục múa Lăm vông trong các dịp lễ hội.
Trang phục:
Nữ mặc váy đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu hoa văn sặc sỡ. Nam thường xăm hình chữ "vạn" ở cổ tay và hình con vật vào đùi.
Kinh tế:
Làm ruộng lúa nước, với kỹ thuật canh tác dùng cày, bừa và làm thủy lợi. Nghề phụ: dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc khá phát triển.
Thờ cúng tổ tiên, chịu ảnh hưởng của đạo Phật.
Thường mang các họ Lò, Lường, Vi... Con cái theo họ cha. Sống định cư. Nhà rộng lòng, thoáng đãng, chắc chắn. Trong phong tục ma chay, người
Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.
Văn hoá:
Những ông Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết nhiều truyện cổ, dân ca. Văn nghệ dân gian chịu ảnh hưởng của văn nghệ dân gian Thái, có tục múa Lăm vông trong các dịp lễ hội.
Trang phục:
Nữ mặc váy đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu hoa văn sặc sỡ. Nam thường xăm hình chữ "vạn" ở cổ tay và hình con vật vào đùi.
Kinh tế:
Làm ruộng lúa nước, với kỹ thuật canh tác dùng cày, bừa và làm thủy lợi. Nghề phụ: dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc khá phát triển.
Dân tộc La Hủ
Dân tộc La Hủ
30 / 05/ 2012, 02:05:54
Tên dân tộc: La Hủ ( Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Xung, Khả Quy).
Dân số: 6.874 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Mường Tè (Lai Châu).
Dân số: 6.874 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Huyện Mường Tè (Lai Châu).
Phong tục tập quán:
Sống định canh định cư ở trên sườn núi. Nhà ở phần lớn là nhà trệt với vách bằng phên. Bàn thờ và bếp đặt tại nơi ngủ của chủ gia đình. Phụ nữ sinh con tại buồng ngủ. Sau 3 ngày đặt tên đứa bé, trong 3 ngày đó, nhà có khách thì người khách này được mời đặt tên cho đứa bé. Con trai thừa hưởng tài sản. Trai gái tự do hôn nhân. Sau lễ cưới, con trai phải ở nhà vợ 2-3 năm sau đó mới đón vợ về nhà mình.
Việc thờ cúng tổ tiên, thực tế người La Hủ chỉ dành cho cha mẹ đã khuất. Có lễ cúng thần đất để cầu an, cúng gọi hồn ngô, lúa khi gieo cấy xong và lúc thu hoạch, cúng tổ sư nghề rèn...
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng.
Văn hoá:
Có nhiều điệu múa khèn. Khi hát thường dùng tiếng Hà Nhì theo nhịp điệu riêng. Kho tàng truyện cổ phong phú. Có lịch riêng theo 12 con vật (hổ, thỏ, rồng, chấy, ngựa, cừu, gà, chó, lợn, sóc, trâu).
Trang phục:
Nữ mặc quần, áo dài tới cổ chân, lễ tết mặc thêm áo ngắn. Cổ áo, nẹp ngực, ống tay có thêu hoặc đáp vải các màu, đính xu bạc, xu nhôm và các bông chỉ đỏ. Nam mặc quần áo giống như các dân tộc khác ở vùng Tây Bắc.
Kinh tế:
Trồng lúa nước và làm nương dẫy, đàn ông có nghề phụ săn bắn, đan lát và rèn.
Sống định canh định cư ở trên sườn núi. Nhà ở phần lớn là nhà trệt với vách bằng phên. Bàn thờ và bếp đặt tại nơi ngủ của chủ gia đình. Phụ nữ sinh con tại buồng ngủ. Sau 3 ngày đặt tên đứa bé, trong 3 ngày đó, nhà có khách thì người khách này được mời đặt tên cho đứa bé. Con trai thừa hưởng tài sản. Trai gái tự do hôn nhân. Sau lễ cưới, con trai phải ở nhà vợ 2-3 năm sau đó mới đón vợ về nhà mình.
Việc thờ cúng tổ tiên, thực tế người La Hủ chỉ dành cho cha mẹ đã khuất. Có lễ cúng thần đất để cầu an, cúng gọi hồn ngô, lúa khi gieo cấy xong và lúc thu hoạch, cúng tổ sư nghề rèn...
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng.
Văn hoá:
Có nhiều điệu múa khèn. Khi hát thường dùng tiếng Hà Nhì theo nhịp điệu riêng. Kho tàng truyện cổ phong phú. Có lịch riêng theo 12 con vật (hổ, thỏ, rồng, chấy, ngựa, cừu, gà, chó, lợn, sóc, trâu).
Trang phục:
Nữ mặc quần, áo dài tới cổ chân, lễ tết mặc thêm áo ngắn. Cổ áo, nẹp ngực, ống tay có thêu hoặc đáp vải các màu, đính xu bạc, xu nhôm và các bông chỉ đỏ. Nam mặc quần áo giống như các dân tộc khác ở vùng Tây Bắc.
Kinh tế:
Trồng lúa nước và làm nương dẫy, đàn ông có nghề phụ săn bắn, đan lát và rèn.
Dân tộc La Ha
Dân tộc La Ha
30 / 05/ 2012, 02:05:42
Tên dân tộc: La Ha (Xá Khắc, Phlắc, Khlá).
Dân số: 5.686 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Sơn La, Lào Cai.
Dân số: 5.686 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Sơn La, Lào Cai.
Phong tục tập quán:
Ở nhà sàn, có 2 cửa với 2 thang lên xuống tại hai đầu. Hôn nhân tự do. Chàng trai đến nhà cô gái dùng sáo, nhị, lời hát để tỏ tình. Sau lễ dạm hỏi, chàng trai phải ở rể từ 4-8 năm. Hết hạn đó mới tổ chức cưới, cô dâu về ở nhà chồng. Vợ đổi họ theo chồng.
Người La Ha tin có nhiều ma: ma rừng, ma nước, ma sương, ma nhà,... Trong gia đình có bàn thờ ma nhà và chỉ thờ một ông bố.
Lễ tạ ơn cha mẹ vào mùa hoa ban nở hàng năm. Người chết được chôn theo cả tiền và thóc.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Kadai.
Trang phục:
Người La Ha mặc giống người Thái Đen.
Kinh tế:
Sống bằng nghề làm rẫy theo lối du canh và hái lượm. Ngày nay nhiều bản đã làm ruộng, biết đắp bờ chống xói mòn nương, trồng bông nhưng không dệt vải.
Ở nhà sàn, có 2 cửa với 2 thang lên xuống tại hai đầu. Hôn nhân tự do. Chàng trai đến nhà cô gái dùng sáo, nhị, lời hát để tỏ tình. Sau lễ dạm hỏi, chàng trai phải ở rể từ 4-8 năm. Hết hạn đó mới tổ chức cưới, cô dâu về ở nhà chồng. Vợ đổi họ theo chồng.
Người La Ha tin có nhiều ma: ma rừng, ma nước, ma sương, ma nhà,... Trong gia đình có bàn thờ ma nhà và chỉ thờ một ông bố.
Lễ tạ ơn cha mẹ vào mùa hoa ban nở hàng năm. Người chết được chôn theo cả tiền và thóc.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Kadai.
Trang phục:
Người La Ha mặc giống người Thái Đen.
Kinh tế:
Sống bằng nghề làm rẫy theo lối du canh và hái lượm. Ngày nay nhiều bản đã làm ruộng, biết đắp bờ chống xói mòn nương, trồng bông nhưng không dệt vải.
Nhận xét
Đăng nhận xét