CHÚNG TAO ĐANG VỀ, DƯƠNG ƠI!
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Ca dao
Chúng tao chết lâu rồi
Xác cũng lâu rồi tan vào lòng sông Thạch Hãn
Yên phận mình, chúng tao thanh thản
Đồng đội thương tạc đá bài thơ
Tưởng nhớ dựng bên bờ
Thôi thì..., xin cảm ơn đồng đội!
Danh lợi,
Đồ mối mọt,
Khốn nạn nhất là mày!
Gặm mục ruỗng một bầy*
Nhai banh chành nghĩa khí
Làm bao trai xưa từng anh hùng, dũng sĩ
Già, thành đê hèn, ti tiện hôm nay.
Chúng tao đang về đây
Theo lệnh Tổ Tiên, bảo toàn đồng đội
Vạch mặt mày ra, đồ hôi tanh danh lợi
Nấp dưới quân hàm, sau tấm huân chương
Trong bộ quân phục Giải Phóng thiêng liêng...
Cút xéo ngay, danh lợi!
Cho gan góc hồi sinh, biết quên thân hối lỗi
Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh
Một trận cuối đời, giữa công thưởng-tội trừng, còn mất nhục-vinh!
Chúng tao chết mất xác lâu rồi
Thành những linh hồn không nói
Nhưng biết nghe nên đang tụ về đây
Phù hộ bao vây, đánh tội đồ danh lợi...
Hãy yên lòng hỡi anh em, đồng đội!
Trần Hạnh Thu
Chú thích: *Bầy này có nhiều đứa giàu lắm, ai không tin... thì thôi!
_________________________
ĐỌC THÊM:
Lê Bá Dương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lê Bá Dương |
|---|
|
|
|---|---|
Tiểu sử
Lê Bá Dương sinh ngày 10 tháng 4 năm 1953 tại Nghệ An và trải qua tuổi thơ tại đây. Tháng 4 năm 1968, khi mới 15 tuổi anh khai tăng tuổi để được nhập ngũ. Sau 2 tuần huấn luyện và 1 tháng hành quân, Lê Bá Dương vào chiến đấu ở Quảng Trị. Trong trận chiến đầu tiên của anh tại thôn Đông Trì thuộc mặt trận Đông Hà, mới 15 tuổi 49 ngày Lê Bá Dương đã trở thành dũng sĩ cấp II nhờ diệt hơn chục lính Mỹ. Trong trận đánh đồi Thám Báo (cao điểm 544), anh cùng 3 đồng đội chiến đấu gần một ngày, đẩy lùi rất nhiều đợt tấn công của 2 đại đội địch. Cuối cùng, khi địch tràn ngập trận địa, Dương giật 3 quả pháo hiệu làm hiệu cho pháo của Quân giải phóng phá hủy trận địa, chấp nhận cùng hy sinh nhưng may mắn anh chỉ bị ngất đi. Trước lúc đó, anh đã dùng máu từ vết thương mình viết vào tấm ảnh Hồ Chí Minh mà anh luôn mang trong người những dòng chữ: "Bác Hồ ơi, bắt đầu từ hôm nay 20-6, con cùng đồng đội bắt đầu nổ súng diệt địch, dự (giữ) chốt đến cùng. Quán diệt được bảy tên, Hòe, Dương mỗi người hơn một chục. Ghi sâu lời Bác dạy, hễ còn tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi. Bác ơi, quyết tâm của chúng con, trách nhiệm của chúng con là dự chốt…”.Một trận đánh khác tại Tây Bắc huyện lỵ Cam Lộ đã trở thành cội nguồn của việc sau này anh về thắp hương trên núi, trên đồi, thả hoa xuống suối sông. Đêm đó, sau trận đánh cao điểm 322 (giữa tháng 11 năm 1969), đại đội của anh lúc ấy gồm 67 người vừa mới dừng chân để nấu ăn thì một loạt bom B52 dội xuống đội hình. Trận bom quét qua chỉ mấy giây đồng hồ nhưng đại đội chỉ còn đúng 6 người.
Từ 1968 đến 1973, qua nhiều trận đánh vào sinh ra tử trên khắp chiến trường Quảng Trị, Lê Bá Dương đã được phong tặng danh hiệu "dũng sĩ diệt cơ giới", "dũng sĩ diệt máy bay". Trên mặt trận B5 (đường 9, Quảng Trị) đương thời từng dấy lên phong trào “Xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”. Các tờ báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân, báo Tiền phong đã có nhiều bài viết và in ảnh Lê Bá Dương mặt trẻ măng, kẹp AK giữa chiến trường, với ánh mắt trong veo và đôi môi mím chặt.
Hiện nay, mang trên mình 14 vết thương và 1 ngón tay để lại chiến trường, Lê Bá Dương vẫn tiếp tục chụp ảnh và cầm bút với tư cách phóng viên thường trú báo Văn Hóa tại chi nhánh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Nha Trang), hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và hội viên Liên đoàn Nhiếp ảnh quốc tế (FIAP).
Nghĩa cử thả hoa
Năm 1976, từ Nha Trang trở lại thăm chiến trường Quảng Trị, Lê Bá Dương đã lặng lẽ hái hoa dại, mua hoa ở chợ thả ở Bến Tắt, phía Tây Bắc của nghĩa trang Trường Sơn để tưởng nhớ những người đồng đội đã ngã xuống và nằm lại vĩnh viễn tại nơi này. Cứ thế sau đó ông thả hoa ở cầu Đuồi, cầu Lai Phước trên sông Hiếu, sông Ô Lâu và trên sông Thạch Hãn.Ông tâm sự:
| “ | Qua nhiều trận đánh, tự tay tôi đã vuốt mắt, chôn hàng trăm đồng đội. Không chỉ là những mất mát đến xót xa một lúc cả trăm, cả ngàn người lính, mà còn là nỗi đớn đau khi nhiều người lính không còn đủ hình hài để có thể cắm một cái bia tên tuổi anh em. Có những người, sau khi chôn xong thì bị lũ cuốn trôi, hay bom lại xới lên, phải chôn lại... Riêng trong chiến dịch giải phóng và sau này bảo vệ thành cổ Quảng Trị, hàng trăm anh em chúng tôi đã nằm - chính xác hơn là tan hòa vĩnh viễn vào lòng sông Thạch Hãn và cả các dòng sông khác. Vì vậy mỗi lần về lại Quảng Trị, tôi đều lên đồi cao đốt hương cho khói tỏa đến vong linh anh em đồng đội, rồi xuống sông thả hương hoa gửi vào lòng suối, cuối sông... | ” |
—Lê Bá Dương, ”
|
||
Sau chuyện này những người bạn Lê Bá Dương ở Triệu Hải cứ đến dịp 27 tháng 7 năm nào cũng mua hương hoa ra thả. Lâu dần thành tập quán chung của người dân ở hai bên bờ Thạch Hãn và bây giờ là tập quán của mỗi người dân Quảng Trị. Những cán bộ văn hóa và văn nghệ sĩ tại Quảng Trị sau đó đã nâng nghĩa cử này trở thành một lễ hội.
Nằm trong tổng thể dự án xây dựng một khu tưởng niệm ở Quảng Trị để hương khói cho vong linh đồng bào, chiến sĩ, năm 2007 Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã xin phép tỉnh để được đầu tư xây dựng trước một hạng mục quan trọng là bến thả hoa nối dài ra phía lòng sông tại bờ kè phía Nam sông Thạch Hãn, đồng thời thể theo ước nguyện của các cụ lão thành xin trồng 81 cây phượng bên bờ kè Nam sông Thạch Hãn.
Sáng tác
Văn chương
Ngoài những tác phẩm nhiếp ảnh, một bài thơ mang tên Lời gọi bên sông của Lê Bá Dương, được sáng tác chiều ngày 27 tháng 7 năm 1987, đã trở nên nổi tiếng với nhiều dị bản khác nhau lưu truyền trong nhân dân, mà dưới đây là một trong số đó:- Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
- Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
- Có tuổi hai mươi thành sóng nước
- Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm
- Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc
- Một dấu chân in màu đất hai miền.
Tháng 8 năm 2009 nhân kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đặc khu Vĩnh Linh (25 tháng 8 năm 1954–25 tháng 8 năm 2009), Lê Bá Dương cho ra mắt cuốn sách Thép từ ngàn độ lửa, tập hợp những bài viết theo lối thuật chuyện của nhiều tác giả không chuyên với tư cách là những người trong cuộc. Trong 348 trang với 57 tác phẩm của 41 tác giả, cuốn sách nói về cuộc “vạn lý trường chinh” của người dân giới tuyến Vĩnh Linh 40 năm về trước, và lòng tri ân của người dân Vĩnh Linh đối với đồng bào và chiến sĩ miền Bắc.
Nhận xét
Đăng nhận xét