VIỆT NAM HIỀN HÒA 3/3

(ĐC sưu tầm trên NET)

  • DÂN TỘC SI LA
Tên gọi khác
Cú Dé Xử, Khà Pé
Nhóm ngôn ngữ
Tạng - Miến
Cư trú
Sống ở ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Ðặc điểm kinh tế
Người Si La sống bằng nghề trồng lúa nương, ngô. Từ mấy chục năm nay đồng bào làm thêm ruộng nước. Tuy sản xuất đóng vai trò chính nhưng săn bắn và hái lượm vẫn có ý nghĩa đối với đời sống của đồng bào.
Ðời sống của người Si La hiện còn thấp kém. Giao thông cách trở, cái ăn, cái mặc đều chưa đủ, nạn hữu sinh vô dưỡng, tập tục lạc hậu, bệnh tật (phổ biến là bướu cổ, sốt rét...)
Tổ chức cộng đồng
Người Si La có nhiều dòng họ. Các dòng họ đều kiêng ăn thịt mèo. Quan hệ trong họ khăng khít, chặt chẽ. Trưởng họ là người đàn ông cao tuổi nhất, có vai trò quan trọng đối với các thành viên và có trách nhiệm tổ chức sinh hoạt chung của họ mình, đặc biệt là việc thờ cúng. Trong xã hội, ngoài trưởng họ, người Si La rất coi trọng các thầy mo.
Hôn nhân gia đình
Trong hôn nhân, phong tục Si La có đặc điểm là làm lễ cưới hai lần, lần thứ hai sau lần trước khoảng một năm. Nhà trai phải có khoản tiền cưới trao cho nhà gái mới được đón dâu về nhà mình.
Tục lệ ma chay
Theo phong tục Si La, bãi mộ nằm phía dưới khu cư trú của dân bản, trong đó mộ những người cùng họ được quây quần bên nhau. Người Si La dựng nhà mồ xong mới đào huyệt bên trong. Quan tài gỗ độc mộc. Ðặc biệt, khi có người chết, đồng bào tổ chức vui chơi, ca hát, không có tiếng khóc. Tuy không tảo mộ, cải táng nhưng người Si La có tục con cái để tang cha mẹ 3 năm.
Nhà cửa
Người Si La ở nhà trệt, có bếp lửa đặt giữa nhà.
+ Trang phục nam
Ngày nay, đa số người Si La để răng trắng, nhưng theo tục cũ thì đàn ông nhuộm răng đỏ, đàn bà nhuộm răng đen.
+ Trang phục nữ
Phụ nữ ăn vận khá độc đáo, đặt biệt là mảng ngực áo bằng vải khác màu với áo, gắn đặc xu bạc, xu nhôm. Khăn đội đầu của nữ cũng khác nhau theo lứa tuổi. Các cô thường đeo chiếc túi bằng dây rừng, được trang trí những tơ chỉ đỏ sặc sỡ.

Dân tộc Rơ Măm

Dân tộc Rơ Măm

30 / 05/ 2012, 03:05:38
Tên dân tộc: Rơ Măm.
Dân số: 352 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: làng Le, xã Morai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
  Phong tục tập quán:
Ở theo làng (đê), đứng đầu là trưởng làng. Có nghi lễ thờ cúng trong quá trình sản xuất. Hôn nhân gồm có lễ ăn hỏi và cưới xin. Sau lễ cưới vài ba ngày có thể bỏ nhau nhưng lâu hơn thì không được. Mỗi gia đình gồm có nhiều thế hệ sống chung nhưng độc lập về kinh tế. Khi có người chết thì được chôn ở nghĩa địa nằm ở phía tây của làng.
Ngôn ngữ:
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.
Văn hoá:
Sinh hoạt văn hoá cộng đồng và có một số nghi lễ thờ cúng chung.

Trang phục:
Nữ mặc váy quấn bằng vải mộc dài quá đầu gối, áo cộc tay, trang sức: khuyên hoa tai, vòng tay, chuỗi hạt cườm. Nam đóng khố, vạt trước dài quá gối, vạt sau dài tới ống chân.
Kinh tế:
Làm rẫy, săn bắn và hái lượm. Lúa nếp là lương thực chủ yếu.

Dân tộc Pà Thẻn

Dân tộc Pà Thẻn

30 / 05/ 2012, 03:05:04
Tên dân tộc: Pà Thẻn (Pà Hưng, Tống).
Dân số: 5.569 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang.
Phong tục tập quán:
Ở nhà sàn, nhà nền đất và nhà nửa sàn nửa đất. Thờ cúng tổ tiên trong nhà, thờ thổ công, cúng cơm mới, cúng cầu mưa, cúng hồn sung... Người trong cùng dòng họ không được lấy nhau. Có tục ở rể tạm thời, nếu gia đình không có con trai mới lấy rể về ở hẳn. Người ở rể phải thờ ma họ vợ. Con cái một nửa theo họ bố, một nửa theo họ mẹ.
Ngôn ngữ:
Dân tộc Pà Thẻn
Ngôn ngữ thuộc nhóm Mông - Dao.
Văn hoá:
Văn hoá dân gian khá phong phú như: có kho tàng truyện cổ tích, các làn điệu dân ca, hát ru, các điệu múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tày nhậy, sáo trúc...).
Trang phục:
Trang phục rực rỡ. Nam giới mặc áo cánh, quần dài, đầu quấn khăn. Nữ giới mặc váy dài, áo, yếm, khăn đội đầu với nhiều hoa văn trang trí, đeo vòng trang sức bằng bạc.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, trồng lúa và ngô.

Dân tộc Ra Glai

Dân tộc Ra Glai

30 / 05/ 2012, 03:05:31
Tên dân tộc: Ra Glai (Ra Glay, Hai, Noa Na, La Vang)
Dân số: 96.931 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Phía nam tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận.
Phong tục tập quán:Dân tộc Ra Glai
Thờ thần (Giàng). Theo chế độ Mẫu hệ, con theo họ mẹ. Hôn nhân do gia đình nhà gái lo, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng. Sống du canh du cư. Ở nhà sàn, đứng đầu là trưởng làng. Làm lễ cúng trời đất khi bị hạn hán nặng.
Ngôn ngữ:
Thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo.
Văn hoá:
Nhạc cụ gồm chiêng cồng, đàn bầu, kèn môi, đàn ống tre. Trong sinh hoạt văn nghệ, hình thức hát đối khá phổ biến. Sau thu hoạch, có hội làng để tạ ơn thần và ăn mừng lúa mới.
Kinh tế:
Làm nương rẫy, săn bắn hái lượm, rèn, đan lát. Một số nơi đã làm ruộng nước.

Dân tộc Pu Péo

Dân tộc Pu Péo

30 / 05/ 2012, 03:05:57
Tên dân tộc: Pu Péo (Ka Beo, Pen Ti Lô Lô).
Dân số: 705 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Hà Giang.
Phong tục tập quán:dan toc pu peo
Ở nhà trệt, sống tập trung thành từng nhóm nhỏ bên cạnh người Hoa, Mông. Mỗi dòng họ có tên đệm riêng. Con cái lấy họ cha, người cha là chủ nhà. Người Pu Péo coi trọng thờ cúng tổ tiên. Trên bàn thờ thường đặt những hũ sành nhỏ, mỗi hũ tượng trưng cho một đời.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Kadai.
Văn hoá:
Dân tộc Pu Péo là một trong số ít dân tộc còn sử dụng trống đồng, trống "đực" và "cái" được ghép với nhau thành cặp. Có các ngày lễ: lễ cưới hỏi, ma chay, cầu an, Tết Nguyên Đán, tết mùng 5 tháng 5...
Trang phục:dan toc pu peo
Nữ dùng khăn, váy, áo, tạp dề, sử dụng kỹ thuật can đáp vải khác màu để có hoa văn sặc sỡ. Nam mặc như các dân tộc khác quanh vùng.
Kinh tế:
Làm nương, ruộng nương, trồng ngô, lúa, lúa mạch, đậu. Sử dụng cày bừa trâu bò làm sức kéo. Bữa ăn hàng ngày là bột ngô đồ chín.

Dân tộc Phù Lá

Dân tộc Phù Lá

30 / 05/ 2012, 03:05:11
Tên dân tộc: Phù Lá (Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Xí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang).
Dân số: 9.046 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, đông nhất ở Lào Cai.
Phong tục tập quán:dan toc phù lá
Thờ tổ tiên và tin vạn vật hữu linh. Mỗi bản có từ 10 đến 15 nóc nhà. Nhà có một gian, hai chái, mái lợp tranh. Sống thành bản riêng. Già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ có uy tín trong làng bản. Hôn nhân tự do. Sau lễ đính hôn một, hai năm, đám cưới có thể tổ chức. Cô dâu về ở nhà chồng.
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng.
Trang phục:
Nam mặc quần, áo xẻ ngực, trên thân áo và ở nẹp ngực có đính hạt cườm hình chữ thập. Trang phục nữ có nhiều hoa văn, ngoài áo có yếm cổ vuông thêu hoa văn, đằng trước đính hạt cườm tạo thành đường song song hoặc sao tám cánh.
Kinh tế:
Làm nương và ruộng bậc thang. Chăn nuôi trâu, ngựa, lợn. Nghề thủ công là mây, tre làm gùi và các vật dụng để dùng và trao đổi.

Dân tộc Nùng

Dân tộc Nùng

30 / 05/ 2012, 03:05:19
Tên dân tộc: Nùng (Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Phần Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài).
Dân số: 856.412 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Tuyên Quang.
Phong tục tập quán:
Thờ tổ tiên, thờ thánh, thần, Khổng tử và Quan âm Bồ tát. Sống thành từng bản trên các sườn đồi, trước bản là ruộng nước, sau là nương và các vườn cây ăn quả.
Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái. Tiếng Nùng có văn tự Nôm Nùng xuất hiện từ thế kỷ 17.
Văn hoá:dan toc nung
Có nhiều điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Tiếng Sli giao duyên hoà quyện vào âm thanh của núi rừng. Ðiệu dân ca then làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Nùng khi ở xa quê hương. Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người là hội "lùng tùng" (xuống đồng) được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm.
Trang phục:
Mặc quần áo chàm.
Kinh tế:
Cây trồng chính lúa và ngô. Ngoài ra còn trồng nhiều loại cây công nghiệp như cây hồi, cây ăn quả như quýt, hồng...

Dân tộc Ngái

Dân tộc Ngái

30 / 05/ 2012, 03:05:09
Tên dân tộc: Ngái (Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Ðàn, Lê).
Dân số: 4.841 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên.
Phong tục tập quán:
Ở nhà ba gian hai chái. Thờ cúng tổ tiên và các loại "thần", "ma". Thôn xóm nào cũng có đền, chùa. Cha mẹ dựng vợ gả chồng cho con cái và tổ chức hai lần cưới. Người chồng quyết định mọi việc lớn trong gia đình. Con gái không được hưởng gia tài.
Ngôn ngữ:Dan toc Ngai
Ngôn ngữ thuộc nhóm Hán.
Văn hoá:
Có lối hát giao duyên nam nữ (Sường Cô) rất phong phú. Các trò chơi: múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn.
Trang phục:
Mặc giống người Hoa.
Kinh tế:
Làm ruộng trồng lúa, đánh cá, đào kênh, mương, đắp đập tạo hồ nước, dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói.

Dân tộc Mường

Dân tộc Mường

30 / 05/ 2012, 03:05:12
Tên dân tộc: Mường (Mol, Mual, Moi, Moi Bi, Au Tá, Ao Tá)
Dân số: 1.137.515 người (năm 1999).
Ðịa bàn cư trú: Cư trú ở nhiều tỉnh phía bắc, tập trung đông ở Hoà Bình và miền núi Thanh Hoá. Sống định canh định cư nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn.
Phong tục tập quán:dan toc Muong
Thờ cúng tổ tiên và tin vào đa thần giáo. Xưa tổ chức xã hội của người Mường là chế độ lang đạo chia nhau cai quản các vùng. Ðứng đầu mỗi mường có các Lang Cun, dưới Lang Cun có các Lang Xóm hoặc Đạo Xóm.
Hôn lễ của người Mường gần giống người Kinh. Khi trong nhà có người sinh nở thì rào cầu thang chính bằng phên nứa. Khi trẻ lớn khoảng một tuổi mới đặt tên.
Khi có người chết, tang lễ được tổ chức theo nghi thức nghiêm ngặt.

Ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường.
Văn hoá:
Kho tàng văn nghệ dân gian khá phong phú: thơ, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Có nhiều bài hát: ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi... Nhạc cụ có cồng, nhị, sáo trống, khèn lù. Có nhiều ngày hội trong năm: hội xuống đồng (khuông mùa), hội cầu mưa, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới..
Trang phục:dan toc muong
Nam mặc quần áo màu chàm. Nữ mặc áo, váy, áo ngắn thân xẻ ngực (có nơi xẻ vai), ít cài cúc và mặc yếm. Váy khá dài, cao đến nách, cạp váy dệt bằng tơ nhuộm màu, có hoa văn trang trí rất đẹp. Ðầu đội khăn màu trắng hình chữ nhật.
Kinh tế:
Làm ruộng từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu. Kinh tế phụ là khai thác lâm thổ sản. Nghề thủ công có dệt vải, đan lát, ươm tơ. Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ nghệ khá tinh xảo.
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32