BỘ MẶT CHIẾN TRANH 74
Bai Ca Danh Cho Nhung Xac Nguoi - Khanh Ly - YouTube.flv
Hát trên những xác người - Khánh Ly
-Trong tình trạng chiến tranh đầy chết chóc và tan hoang, bản chất sống của loài người trở nên cực hạn về mọi phía:
+Yêu thương vô vàn mà cũng hận thù vô song
+Thông minh trí tuệ bao nhiêu thì cũng ngu ngốc, mù quáng bấy nhiêu.
+Tuyệt đỉnh dũng cảm thì cũng tột cùng hèn nhát.
+Vừa là thánh thần vừa là quỉ dữ.
...
-Chiến tranh mang bộ mặt gớm ghiếc, tởm lợm đến khủng khiếp, không thể tả được, dù bôi son trát phấn như thế nào, tung hô ra sao.
-Chiến tranh là thể hiện sự thờ ơ, vô cảm khốn nạn tột cùng về việc hủy diệt tàn bạo cuộc sống và thân phận con người.
-Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh "nặn ra" lý do từ không có lý do, hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách không chính đáng. Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh nảy sinh từ việc chống chiến tranh phi nghĩa, được hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách chính đáng (?).
-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng rồi thì nên lấy tang lễ mà xử".
-Giống như bóng tối không thể làm tiêu tan bóng tối, thì hận thù không thể xoa dịu được hận thù, và chiến tranh không thể xóa bỏ được chiến tranh.
-Chỉ có sự thấu hiểu ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống, sự thấu hiểu về tính bất hạnh, vô nghĩa tột cùng của cái chết và sự cảm thông, yêu thương sâu sắc đồng loại mới có thể ngăn chặn được chiến tranh!
-Một khi còn tình cảm dân tộc hẹp hòi, lòng tham vị kỷ và cái tâm hận thù của con người, thì vẫn còn chiến tranh.
"The Dark Night" - The Most Recognizable Soviet WWII Song (English subtitles)
Imagine Dragons - Believer - Call of Duty: WWII (Music Video)
------------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET)
Cảnh tàn sát người Do Thái vào thời Hitler pt.1
Cảnh tàn sát người Do Thái vào thời Hitler pt.2
Cảnh tàn sát người Do Thái vào thời Hitler pt.5
Cảnh tàn sát người Do Thái vào thời Hitler pt.6
Câu chuyện về chiến binh huyền thoại của Nhật Bản trong Thế chiến II: 30 năm sau khi chiến tranh vẫn mai phục trong rừng vì... chỉ huy không quay lại đón như đã hứa
Câu chuyện của vị cựu binh huyền thoại Hiroo Onoda có lẽ là minh chứng tuyệt vời và có phần tàn nhẫn, cho thấy đôi khi chính tinh thần trách nhiệm của người Nhật Bản lại là thứ đẩy con người ta vào những tình huống dở khóc dở cười.
Ở đây, chúng ta sẽ không bàn đến tính đúng sai của các bên trong cuộc. Câu chuyện cần quan tâm lần này là về một người cựu binh được xem là huyền thoại của Nhật Bản trong trận chiến lần này. Đó là Hiroo Onoda - chiến binh sở hữu tinh thần trách nhiệm lớn đến mức gần như vứt bỏ đến nửa đời người.
Những người lính yêu nước bậc nhất
Ông Hiroo Onoda sinh năm 1922 ở quận Wakayama, ở phía Tây Nhật Bản. Lớn lên trong nước Nhật, như bao người con trai khác, Onoda mang theo trên mọi chặng đường mình đi niềm tự hào và lí tưởng phục vụ Tổ quốc.
Năm 1939, Thế chiến II nổ ra. Nhật Bản chiêu mộ tướng sĩ và Hiroo Onoda lập tức gia nhập quân đội hoàng gia Nhật Bản khi đủ 18 tuổi, từ đó hoạt động trên cương vị sĩ quan tình báo.
Cuối năm 1944, khi cuộc chiến sắp ngã ngũ, ông được cử đến công tác cùng đồng đội đang đóng ở đảo Lubang thuộc Phillipines, tiếp chiến trên mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương. Tại đây, chỉ huy của Onoda - thiếu tá Yoshimi Taniguchi - lệnh cho ông bám trụ lại trên đảo, dù thế nào cũng không được tự sát mà phải chiến đấu đến cùng.
"Trận chiến có thể kéo dài 3 năm, 5 năm – nhưng dù chuyện gì có xảy ra thì chúng tôi cũng sẽ quay lại đón các anh trở về. Cho tới lúc đó, kể cả khi hàng ngũ của ta chỉ còn lại một người, hãy cứ tiếp tục dẫn dắt họ." - đó là những lời cuối cùng Taniguchi gửi gắm. Sau câu nói này, ông được thuyên chuyển công tác đến một vị trí khác.
Nhưng có lẽ, vị sĩ quan đã không thể ngờ được rằng lời nói của mình có sức nặng đến thế nào. Bởi lẽ trong gần 3 thập kỉ tiếp theo của đời mình, trung úy Onoda đã thực hiện đúng những gì cấp trên giao phó, không sai đến một chữ.
Khu
rừng nơi Hiroo Onoda từng ở ngày nay được Phillipines xây rào bảo tồn,
trở thành một địa điểm du lịch vô cùng hấp dẫn đối với khách tham quan
Quân số của lính Nhật trên đảo ngày một sụt giảm và không thể liên kết với nhau được như trước. Sau khi binh đoàn của ông bị tan rã sau một cuộc càn quét của lính Mỹ, Onoda tiếp tục chiến đấu với 3 đồng đội của mình là hạ sĩ Shoichi Shimada, binh nhất Kinshichi Kozuka và binh nhì Yuichi Akatsu. Họ lập tạm một "căn cứ" trong rừng và cầm cố qua ngày, sống cuốc sống biệt lập với xã hội bên ngoài.
Vị chiến binh và đồng đội cứ như vậy tiếp tục, thực hiện nhiệm vụ mình được ủy thác mà không hề biết rằng chỉ ít lâu sau đó, vào ngày mùng 2/9/1945, Nhật Bản kí văn kiện chính thức đầu hàng trước quân Đồng minh. Qua đó đặt dấu chấm hết cho cuộc thế chiến đẫm máu kéo dài 6 năm.
Người dân địa phương bắt đầu rải truyền đơn để thông báo cho các binh sĩ Nhật đang lẩn trốn trên núi. Nhóm bốn người của Onoda tuy nhận được những khuyến cáo này, nhưng vì cho rằng đây là một chiến thuật dụ hàng của địch, nhất quyết không xuống núi.
Kể từ đó, họ sống một cuộc đời du kích. Đêm ngủ trong rừng, ngày đi kiếm ăn, cướp lương thực và nhu yếu phẩm từ người dân địa phương.
Thậm chí, ngay cả khi máy bay thả xuống hòn đảo này những lá đơn có đóng dấu đầu hàng của Đại tướng quân đội Nhật Bản Tomoyuki, thư tay và ảnh từ gia đình của ba người, không một ai chịu tin chiến tranh đã thật sự kết thúc. Trái lại, việc này còn có vẻ phản tác dụng, càng làm cho họ nhắc nhở nhau nâng cao cảnh giác trước "thủ đoạn" ngày càng tinh vi của địch.
Sự đề phòng này căng thẳng đến nỗi: bất kì cuộc chạm chán nào với cư dân Phillipines địa phương cũng đều kết thúc bằng tiếng súng. Cho rằng những người mặc thường phục này thực chất là quân Đồng minh đóng giả, chẳng suy nghĩ, ba người gặp ai cũng thẳng tay bắn chết, không tha một mạng nào. Họ tiếp tục "làm nhiệm vụ", tấn công các "căn cứ địch" trên hòn đảo và thu thập thông tin tình báo.
"Cuộc chiến" chưa có vẻ gì là sẽ dừng lại, trong khi lực lượng của Onoda cứ giảm dần theo thời gian. Năm 1949, Yuichi Akatsu bỏ lại đồng đội, trốn khỏi nơi tập kết để đầu hàng quân đội Phillipines. Năm 1954, Shoichi Shimada qua đời khi bị một đoàn tìm kiếm cứu hộ bắn trả sau khi ông tấn công nhóm này. Và rồi năm 1972, binh nhất Kozuka cũng bị giết trong một cuộc đụng độ với cảnh sát đảo Lubang.
Chỉ còn một mình Onoda trong trận chiến không hồi kết. Mọi chuyện có lẽ sẽ cứ tiếp diễn nếu như không có cuộc hội ngộ định mệnh ấy. Năm 1974 , Onoda được tìm thấy bởi nhà thám hiểm Norio Suzuki và hai người đã có một cuộc trao đổi hết sức nhẹ nhàng. Cùng là người Nhật, Suzuki dễ dàng lấy được lòng tin của ông Onoda và sau đó thuyết phục ông quay về Nhật Bản.
Bạn nghĩ ông ấy có đồng ý không?
Ngay lúc đó thì chưa đâu. Onoda vẫn bán tín bán nghi và thẳng thắn khước từ. Tuy nhiên bằng sự tâm huyết của mình, Suzuki nhất quyết phải mời cho bằng được vị trung úy đặc biệt này hồi hương – và thế là ông đã liên lạc với vị chỉ huy trước đây của Onoda, người đã trao cho Onoda nhiệm vụ, cùng với một lời hứa trở về: thiếu tá Yoshimi Taniguchi.
Một tháng sau, đích thân ông Yoshimi Taniguchi quay lại hòn đảo năm nào để thực hiện lời hứa đó, trực tiếp chấm dứt nhiệm vụ của Hiroo Onoda - người lính với lòng trung thành và kỉ luật thép. Onoda kính cẩn cúi chào lá cờ Nhật Bản, trao trả thanh kiếm samurai và toàn bộ vũ khí trong bộ quân phục ông đã tự hào khoác trên mình gần ba thập kỉ.
Chính phủ Phillipines quyết định tha bổng cho Onoda dù trong thời gian cư trú trên đảo, ông đã giết chết 30 người vô tội. Hiroo Onoda trở về nước và trở nên vô cùng nổi tiếng – nhưng lại không hề hạnh phúc.
Cảm thấy khó hòa nhập với cuộc sống sau chiến tranh và sự thui chột của những giá trị truyền thống trong lòng xã hội Nhật Bản mà ông luôn kính trọng, Onoda chuyển tới sống ở Brazil năm 1975. Tại đây, ông sống bằng nghề chăn nuôi gia súc và mở trường dạy học.
Năm 2014, người cựu binh qua đời ở tuổi 91, để lại cho hậu thế một huyền thoại về sự trung thành tuyệt đối và lòng yêu nước bất diệt.
Nguồn: The New York Times
Tù binh phát xít Đức bị trả thù sau Thế chiến 2 thế nào?
Sau khi Thế chiến 2 kết thúc, hàng chục ngàn tù binh phát xít Đức từng phục tùng mệnh lệnh của Hitler bị giam giữ trong một trại giam ở ngoại ô Nuremberg trở thành mục tiêu trả thù của một nhóm người Do Thái.
Trong Thế chiến 2, trùm phát xít Hitler và
chính quyền Đức quốc xã tàn sát hàng triệu người dân vô tội ở Đức và
nhiều nước trên thế giới. Theo đó, khoảng 6 triệu người Do Thái bị phát
xít Đức thảm sát đẫm máu trong các trại tập trung khét tiếng ở Đức và
các nước chiếm đóng.
Do vậy, sau khi Thế chiến 2 kết thúc, một
số người Do Thái sống sót sau những cuộc thanh trừng của phát xít
Đức lên kế hoạch trả thù nhằm vào các tù binh phát xít Đức.
Mục tiêu của nhóm này là giết được càng
nhiều lính Đức quốc xã càng tốt bởi "tay chân" của Hitler đã gây ra hàng
loại tội ác, khiến nhiều người mất đi người thân, gia đình và bạn bè.
Kế hoạch ban đầu của nhóm người Do Thái là
bỏ thuốc độc vào nguồn nước uống tại thành phố Nuremberg, Đức. Thế
nhưng, nhiều thành viên trong nhóm phản đối vì kế hoạch này có thể khiến
nhiều người Đức vô tội thiệt mạng.
Vì vậy, nhóm quyết định thay đổi kế hoạch
và chuyển sang mục tiêu là 36.000 tù binh thuộc lực lượng SS của phát
xít Đức đang bị giam giữ trong một trại tram ở ngoại ô Nuremberg.
Sau khi chuẩn bị kỹ càng, ngày 13/4/1946,
ba thành viên của nhóm đột nhập vào xưởng bánh mỳ tại thị trấn
Langwasser, ngoại ô Nuremberg. Xưởng bánh này chuyên cung cấp bánh cho
trại giam tội phạm phát xít Đức.
Sau khi đột nhập vào trong xưởng bánh, các
thành viên trong nhóm trả thù bí mật trộn thạch tín vào 3.000 ổ bánh
được cung cấp đến trại giam tù binh phát xít Đức nhằm giết chết khoảng
12.000 thành viên lực lượng SS.
Theo thông tin đăng tải trên tờ New York
Times tháng 4/1946, khoảng 1.900 tù binh Đức trong trại giam trên bị đầu
độc bằng thạch tín. Trong số này, khoảng từ 300 - 400 tù binh phát xít
Đức tử vong vì ăn bánh có chứa thạch tín.
Sau khi phát hiện nhiều trường hợp tù binh
Đức quốc xã tử vong bất thường cũng như nhiều người khác có dấu hiệu bị
đầu độc, bộ phận y tế của trại giam nhanh chóng đưa thức ăn đi kiểm
tra. Do vậy, họ phát hiện mỗi chiếc bánh mì có lượng thạch tín lên đến
0,2 g. Với liều lượng này, một người khỏe mạnh có thể mất mạng.
Khi sự thật bị phát giác, toàn bộ số bánh
mì có trộn thạch tín được đem tiêu hủy. Sau đó, việc trả thù của nhóm
người Do Thái trên chấm dứt.
Theo Tâm Anh (Kiến Thức)



Nhận xét
Đăng nhận xét