THÀNH TỰU 6: Đại bác

(ĐC sưu tầm trên NET)
 

Pháo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Một loại pháo binh
Pháo hay đại pháo, hoả pháo, là tên gọi chung của các loại hỏa khí tập thể có cỡ nòng từ hai mươi mi-li-mét trở lên. Có uy lực dùng trong quân đội các nước để tiêu diệt sinh lực và phương tiện của đối phương hoặc làm những nhiệm vụ khác như tạo khói, chiếu sáng... Pháo là một cấu thành của hệ vũ khí quân dụng và là cấu thành chính của một binh chủng rất quan trọng trong quân đội có tên là binh chủng pháo binh.
Trong tiếng Việt pháo có tục xưng là "đại bác". Cách gọi này bắt nguồn từ việc đọc sai âm Hán-Việt của chữ "pháo" 礮 trong từ "đại pháo" 大礮. "礮" là chữ hình thanh, hình bàng "thạch" 石 gợi nghĩa của chữ, thanh bàng "bác" 駮 gợi âm đọc. Một số người căn cứ theo thanh bàng "bác" 駮 đã ngộ nhận âm đọc của chữ "礮" là "bác", từ đó dẫn đến đọc sai 大礮 là "đại bác".

Lịch sử

Lần sử dụng pháo với đạn đẩy bằng thuốc nổ trên chiến trường đã được ghi lại lần đầu là vào ngày 28 tháng 1 năm 1132 khi tướng Hàn Thế Trung của Nam Tống dùng thang mây và hoả pháo để đánh thành Kiến Châu (nay là Kiến Âu). Loại vũ khí nhỏ thô sơ này đã du nhập vào vùng Trung Đông rồi đến châu Âu vào thế kỷ 13.
Pháo xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 13. Lịch sử hình thành pháo gắn liền với lịch sử phát minh ra thuốc súng. Những khẩu pháo đầu tiên được chế tạo bằng đồng, nòng nhẵn, bắn đạn bằng đá hoặc bằng gang hình cầu. Ban đầu pháo được dùng để công thành, mở đường tấn công cho bộ binh hoặc kỵ binh.
Đến thế kỷ 15 xuất hiện thêm pháo bắn đạn ria để bảo vệ lực lượng phòng ngự.
thế kỷ 16, pháo bắn đạn sắt đã bắt đầu phổ biến. Đã bắt đầu xuất hiện các khẩu pháo nòng ngắn, đạn đi theo đường cầu vồng và pháo nòng dài đặt trên thuyền chiến.
Sang thế kỷ 17, pháo được sử dụng rộng rãi trong cả tấn công lẫn phòng ngự.
Vào thế kỷ 18, Vallière, người Pháp đã dùng từ cannon để chỉ tất cả những loại súng không xách tay được. Trong giai đoạn này cũng xuất hiện pháo có khương tuyến cho phép bắn xa hơn 2 - 2,5 lần, và chính xác hơn đến 5 lần so với pháo nòng nhẵn.
Đến thế kỷ 19 xuất hiện pháo nạp đạn bằng khoá nòng từ phía sau. Kỹ thuật chế tạo thuốc súng ngày càng tân tiến, với việc chế tạo thuốc súng không khói (1884) trọng lượng đạn pháo đã tăng thêm 20%, vận tốc đầu nòng (sơ tốc đạn) tăng 40%. Đầu thế kỷ 20 xuất hiện thêm nhiều loại pháo mới như pháo cối, pháo lựu, pháo phòng không,...

Loại siêu pháo cỡ lớn 380 mm của Đức trong Thế chiến I
Trong cuộc Thế chiến thứ nhất, 6 cường quốc Áo-Hung, Anh, Đức, Hoa Kỳ, PhápNga đã chế tạo và sử dụng gần 63.000 khẩu pháo các loại trong đó khoảng 50% là lựu pháo. Thế chiến thứ hai có nhiều thay đổi đáng kể về chiến thuật, kỹ thuật, trang bị cho nhiều loại pháo. Giai đoạn này đã xuất hiện radar phục vụ việc bắn pháo, xuất hiện pháo tự hành, dàn phóng phản lực, pháo chống tăng,...
Sau Thế chiến thứ hai mặc dù xuất hiện tên lửa nhưng pháo vẫn có vai trò vô cùng quan trọng. Sự phát triển của pháo cũng gắn liền với sự phát triển của đạn. Từ năm 1970 đã xuất hiện các loại đạn pháo có điều khiển điển hình là đạn 155 mm Copperhead dùng cho lựu pháo tự hành M110 trong Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991.
Pháo khác với súng ở chỗ cỡ nòng của pháo lớn hơn nhiều cỡ nòng súng (nòng súng đại liên cỡ lớn là đến 14.5 mm còn nòng pháo cỡ nhỏ nhất cũng đã là 20 mm và loại lớn có thể đến trên 800 mm như là khẩu Gustav) nhưng đặc điểm quan trọng nhất của pháo là đầu đạn pháo có thể nổ để tiêu diệt mục tiêu còn đầu đạn của súng thường không nổ khi bắn vào mục tiêu. Do vậy pháo là hoả lực cơ bản của lục quân.

Pháo thời hiện đại


Pháo 105 mm của quân đội Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại chiến trường miền Nam Việt Nam, hiện trưng bày trên đỉnh Hòn Me (Hòn Đất, Kiên Giang)
.
Pháo thời nay rất dễ phân biệt bởi cỡ nòng lớn, bắn ra đầu đạn có thể nổ hoặc rocket và có kích thước cũng như khối lượng khác nhau để phù hợp với yêu cầu tương thích với xe đặc dụng cho chiến đấu và cho việc vận chuyển. Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng nhất của pháo thời hiện đại là sử dụng cách bắn gián tiếp, tức mục tiêu không nhất thiết phải nằm trong tầm nhìn. Cách bắn gián tiếp xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 là một bước tiến vượt bậc nhờ vào sự phát triển của phương pháp dự đoán hỏa lực trong thế chiến thứ nhất. Bắn gián tiếp sử dụng tập hợp dữ liệu hỏa lực (firing data set) trong tầm nhìn, phương pháp dự đoán hỏa lực đảm bảo dữ liệu này chính xác và phù hợp với sự sai khác khi so với điều kiện chuẩn cho vận tốc đầu đạn, nhiệt độ, gió và mật độ không khí.
Vũ khí với tên 'pháo hiện đại' bao gồm pháo "cannon" như lựu pháo, súng cối, pháo dã chiếnpháo hoả tiễn. Một số pháo loại mortar với cỡ nòng nhỏ hơn thường được thiết kế với hỏa lực nhỏ hơn pháp, mặc dù vẫn dùng cách bắn gián tiếp.
Từ "pháo" lúc đầu không được sử dụng cho vật thể phóng đi với hệ thống đẫn đường bên trong, mặc dù một số đơn vị pháo binh sử dụng tên lửa đất đối đất. Những tiến bộ trong hệ thống dẫn đường cho vũ khí loại nhỏ đã giúp cho vật thể với cỡ nòng lớn được phát triển, nhờ thế xóa dần đi sự phân biệt này.
Trong Thế chiến I, những loại pháo cỡ nhỏ, có thể bắn tự động được phát minh để trang bị cho máy bay và để chống máy bay. Ngày nay, các loại pháo tự động đã thay thế các pháo phòng không cỡ lớn trên mặt đất, thay thế súng đại liên nhỏ trên máy bay, được đặt trên xe cộ một cách phổ biến. Pháo tự động là các loại súng có nhịp bắn cao nhất hiện nay, có thể lên tới 10000 phát/ phút.
Từ Thế chiến II, một số loại "pháo xách tay", cỡ nòng thường là 20mm, đã xuất hiện. Các pháo nhỏ này được trang bị cho bộ binh để chống tăng, phá hoại xe cộ, máy bay.

Phân loại

Đạn đạo các pháo.JPG
Có thể phân loại pháo theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau như: Tính năng chiến đấu, tầm bắn, uy lực của đạn, độ chính xác bắn, tốc độ bắn, khả năng cơ động (về hỏa lực và di chuyển pháo)... Thông dụng nhất là phân loại theo các tiêu chuẩn sau:
  • Theo nơi đặt và mục tiêu bắn có: Pháo mặt đất, pháo trên máy bay, pháo trên xe tăng, pháo trên tàu chiến, pháo trên tàu hỏa, pháo phòng không, pháo chống tăng, pháo đa năng...
  • Theo kết cấu nòng có: Pháo rãnh xoắn, pháo nòng trơn
  • Theo cỡ nòng có: Pháo cỡ nhỏ (20 - 75mm), pháo cỡ trung (76 - 155mm), pháo cỡ lớn (trên 155mm)
  • Theo khả năng cơ động có: Pháo cố định, pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo tự di chuyển, pháo mang vác...
  • Theo kết cấu có: Pháo nòng dài, pháo lựu, pháo không giật, cối...
  • Theo thao tác bắn có: Pháo tự động, pháo bán tự động, pháo không tự động
  • Theo nguyên lý có: Thuật phóng trong (pháo, cối). Thuật phóng ngoài (pháo phản lực, hỏa tiễn)

Một số loại pháo

Pháo không giật (khoảng 1910)

Được Davis, người Mỹ, phát minh vào đầu thế kỷ 20, được sử dụng ngắn ngủi trên một vài máy bay của Anh trong Thế chiến thứ nhất, loại pháo này có hai nòng ngược nhau và một buồng ở giữa để nạp đẩy. Vào cuối thập niên 1930, các hãng Krupp và Rheinmetal của Đức đã chế tạo nhiều mẫu pháo không giật với cỡ 75 mm, mà một mẫu đã được thử nghiệm cùng với lính nhảy dù Đức ở Crete.

Những trận pháo kích dữ dội nhất lịch sử

Nhật Huy |

"Đó không phải là pháo kích, mà là 1 trận cuồng phong... Mặt đất rung chuyển, lắc lư như 1 con tàu trong bão cấp 12"- Một sĩ quan Đức nói về trận pháo kích trong chiến dịch Berlin.

1. Chiến dịch Berlin
Chiến dịch Berlin là chiến dịch tấn công cuối cùng của quân đội Xô Viết trong Chiến tranh Xô-Đức, diễn ra từ ngày 16/4 đến 8/5/1945.
Vành đai bảo vệ Berlin của quân Đức lúc này có chiều sâu 40 km, gồm 3 tuyến phòng thủ. Trong đó phòng tuyến thứ 1 là vùng đồng bằng và đầm lầy Oderbruch bên bờ đông của sông Oder.
Địa hình bình phẳng, với nhiều kênh đào, lạch nước cắt ngang tạo lợi thế lớn cho người Đức.
Trung tâm của phòng tuyến thứ 2 là cao điểm Seelow, nơi quân Đức có vị trí thuận lợi để khai hỏa vào Hồng quân đang di chuyển ở Oderbruch.
Phòng tuyến thứ 3, phía sau Seelow, là nơi triển khai của những sư đoàn thiết giáp dự bị cuối cùng của quân đội Đức. Chỉ huy vành đai phòng thủ Berlin là đại tướng Heinrici.
Phương diện quân Belarus thứ nhất, do nguyên soái Zhukov chỉ huy, là lực lượng chính có vai trò tấn công Berlin.
Tương tự với các chiến dịch trước đó, Hồng quân sẽ sử dụng ưu thế vượt trội về hỏa lực của mình để chọc thủng phòng tuyến của quân Đức.
Sau đó, các binh đoàn thiết giáp sẽ tràn qua đột phá khẩu và bao vây Berlin. Đóng vai trò trung tâm trong kế hoạch này của Zhukov là lực lượng pháo binh khổng lồ, với hơn 40.000 khẩu pháo đủ cỡ.
Chiến dịch tấn công Berlin sẽ được mở màn bằng đợt pháo kích ngắn nhưng dữ dội vào lúc rạng sáng.
Quy mô và mật độ tập trung pháo binh trong chiến dịch này là chưa từng có trong lịch sử. Trung bình mỗi kilomet mặt trận có 270 khẩu pháo với cỡ nòng từ 76mm trở lên.

Pháo binh Liên Xô tại trận Seelow
Đúng 3 giờ sáng ngày 16/4/1945, 40.000 khẩu đại pháo, súng cối, pháo hỏa tiễn cùng khai hỏa, nhắm vào phòng tuyến của người Đức.
Từ trên đỉnh Seelow, một sĩ quan Đức sau này đã thuật lại:
“Khi cơn bão lửa chạm tới điểm cao, dường như cả mặt đất bị hất tung lên trời. Không ai trong chúng tôi từng trải qua điều gì tương tự, và chưa bao giờ nghĩ nó có thể xảy ra."
Một lính Đức khác kể lại: “…Đó không phải là pháo kích, mà là một trận cuồng phong, phá tan mọi thứ xung quanh chúng tôi…Mặt đất rung chuyển, lắc lư như một con tàu trong cơn bão cấp 12…
Công sự nơi chúng tôi đang ẩn nấp trở nên nhỏ dần lại, khi lòng đất ép vào bên trong. Chúng tôi như cá mòi trong hộp…”
Trong ngày đầu tiên của chiến dịch, Hồng quân đã sử dụng 1.236.000 quả đạn pháo, tên lửa các loại.
Phần lớn được dùng trong đợt pháo kích đầu tiên này, kéo dài trong 20 phút. Số đạn pháo này chứa đầy trong 2.450 toa xe lửa.
Đến ngày 19/4/1945, Hồng quân chiếm được Seelow, và từ đó con đường dẫn đến Berlin đã hoàn toàn rộng mở. Thiệt hại của người Đức tại tại Seelow là 12.000 quân, con số này về phía Liên Xô là 20.000.
Tuy nhiên sự chênh lệch này không có nhiều ý nghĩa khi mà Hồng quân vào lúc này đã hoàn toàn áp đảo so với quân đội Đức.
2. Trận chiến Somme
Chiến dịch tổng tấn công năm 1916 tại mặt trận Somme của quân đội viễn chinh Anh bắt đầu từ ngày 1/7 và trước đó được mở đầu bằng một đợt pháo kích kéo dài.
Các tướng lĩnh của Anh, gồm Tổng tư lệnh Douglas Haig và tư lệnh tập đoàn quân số 4, Henry Rawlinson, tin rằng hỏa lực pháo binh như vậy sẽ giúp dọn sạch mọi hàng rào thép gai, vật cản, chiến hào của người Đức và mở đường cho bộ binh.
Tổng cộng người Anh tập trung hơn 1.000 pháo dã chiến, với cỡ nòng dưới 120 mm, và 427 pháo hạng nặng, một số với cỡ nòng lên đến 380 mm.
Nhưng điều đáng chú ý nhất không phải ở số lượng pháo mà ở việc đợt pháo kích này được lên kế hoạch sẽ kéo dài đến 5 ngày đêm liên tục.
Mỗi khẩu đội sẽ khai hỏa trong 2 tiếng, sau đó ngừng một thời gian trong lúc những khẩu đội khác thay thế.

Vỏ đạn rỗng của quân Anh tại Somme
Theo kế hoạch, trong 2 ngày đầu tiên, mục tiêu chính là phá các lớp hàng rào thép gai của phòng tuyến quân Đức. Mục tiêu của 3 ngày tiếp theo là các chiến hào, công sự, và pháo binh của đối phương.
Các tuyến đường bộ, đường sắt sẽ bị pháo kích vào ban đêm để ngăn chặn tiếp viện. Ngày pháo kích đầu tiên là 24/6/1916.
Tuy nhiên, sau khi nhận thấy trong thực tế hiệu quả đạt được không như mong đợi, các tướng lĩnh Anh và Pháp đã quyết định kéo dài đợt pháo kích này thêm 2 ngày nữa. Tộng cộng có khoảng 1,7 triệu quả đạn pháo được sử dụng.
Các lớp hàng rào thép gai có nơi bị hủy diệt hoàn toàn, nhưng tại một số nơi khác lại gần như không hề hấn gì.
Đạn lép chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số đạn được bắn đi. Ngoài ra, đa số đạn pháo được dùng là đạn mảnh thay vì đạn công phá, do đó tác dụng đối với hệ thống công sự phòng ngự của quân Đức bị hạn chế.
Một thất bại nữa của pháo binh Anh là họ gây rất ít thiệt hại cho pháo binh Đức.
Một phần nguyên nhân là hạn chế trong tầm bắn của pháo binh Anh so với người Đức, và một phần vì kỹ thuật phản pháo kích khi đó vẫn trong giai đoạn sơ khai.
Bên cạnh đó, phần lớn binh lính Anh vào thời điểm 1916 vẫn còn thiếu kinh nghiệm.
Bộ binh của liên quân Anh, Pháp chính là những người phải trả giá cho thất bại của pháo binh.
Tổng cộng số thương vong của phe liên minh trong 5 tháng của chiến dịch Somme là hơn 600.000 người.
Chỉ riêng trong ngày 1/7, ngày tấn công đầu tiên sau đợt pháo kích, có đến 57.000 binh lính Anh thiệt mạng hay bị thương, con số thương vong cao nhất trong lịch sử quân đội Anh.
(Còn tiếp)
theo Đại Lộ

Những trận pháo kích dữ dội nhất lịch sử (II)

Nhật Huy |
Những trận pháo kích dữ dội nhất lịch sử (II)
Ảnh minh họa

"Hỏa lực pháo binh Đức tạo thành biển lửa vô tận. Những chiến hào của Pháp hoàn toàn bị vùi lấp. Những cây cổ thụ lâu năm cũng bị trốc gốc, với những mảng thi thể vương vãi"...



Những trận pháo kích dữ dội nhất lịch sử (I)
3. Trận chiến Kwajalein
Kwajalein là một đảo san hô nhỏ thuộc quần đảo Marshall, Thái Bình Dương. Mỹ chiếm lại đảo này từ tay phát xít Nhật trong một trận đánh kéo dài từ ngày 31/01 đến 03/02 năm 1944.
Đây là một trong những chiến thắng tiêu biểu cho chiến lược nhảy cóc của Mỹ tại Thái Bình Dương.
Theo những tiêu chuẩn thông thường thì quy mô pháo binh được sử dụng trong trận này không quá ấn tượng. Tuy nhiên, mức độ dữ dội thì không hề kém cạnh những cuộc chiến lớn trên bộ.
Kwajalein ngày nay
Các tàu chiến Mỹ đã bắn 14.000 phát đạn pháo, một số với cỡ đạn lên đến 360 mm, lên hòn đảo trong 2 ngày đêm. Mỗi viên đạn của đại pháo 360 mm có trọng lượng lên đến 640 kg.
Cùng thời gian đó, quân Mỹ đổ bộ lên những đảo san hô nhỏ quanh Kwajalein, triển khai pháo dã chiến 105 mm và 155 mm và nã 29.000 phát đạn pháo vào hòn đảo.
Hàng trăm lượt máy bay ném bom hạng nặng của không quân cũng oanh tạc dữ dội nhằm vào hòn đảo nhỏ bé này.
Một nhân chứng cho biết “…như thể cả hòn đảo bị nhấc lên không trung rồi thả rơi xuống.”
Lực lượng đồn trú bảo vệ đảo của Nhật chịu thiệt hại nặng nề, với 4.300 trong tổng số gần 5.000 quân thiệt mạng.
Bài học từ Kwajalein cho thấy, việc phòng thủ bờ biển chống đổ bộ là vô nghĩa trước hỏa lực áp đảo của quân Mỹ.
Vì vậy, trong những trận chiến sau đó, như tại Guam, Peleliu, Iwo Jiam, quân Nhật bỏ trống bờ biển và tập trung phòng thủ sâu bên trong đảo.
4. Trận chiến tại Verdun
Trận chiến giữa quân đội Đức và Pháp tại Verdun trong Thế chiến I là một trong những trận chiến khốc liệt và đẫm máu nhất trong lịch sử loài người.
Kéo dài trong gần một năm, từ tháng 2 đến tháng 12 năm 1916, trận chiến này khiến cả 2 bên chịu thiệt hại nặng nề, với hơn 800.000 binh sĩ chết và bị thương.
Mục tiêu chính của người Đức không phải là chiếm khu vực này mà nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực của quân đội Pháp nhiều nhất có thể và qua đó loại nước này khỏi vòng chiến.
Bộ binh Pháp hứng chịu pháo kích của quân Đức
Như phần lớn chiến dịch quy mô khác trong Thế chiến I, Verdun cũng được mở màn bằng một trận pháo kích dữ dội, bắt đầu lúc 7h15 sáng ngày 21/2/1916.
Quân đội Đức kỳ vọng cơn mưa đạn pháo khủng khiếp này sẽ có thể tiêu diệt phần lớn lực lượng phòng thủ của Pháp, ước tính gồm 200.000 quân tại thời điểm mở màn trận đánh.
Phía chính diện có chiều rộng khoảng 13km bị pháo kích bởi hơn 1.200 khẩu pháo. Số đạn dược đủ cho 6 ngày nằm ngay cạnh các khẩu đội, với tổng cộng hơn 2.500.000 viên đạn, được vận chuyển bởi 1.300 chuyến xe lửa.
Trong 9 giờ đầu tiên pháo kích cấp tập, trung bình mỗi giờ có 100.000 viên đạn rơi xuống Verdun.
Hỏa lực pháo binh Đức tạo thành một biển lửa vô tận. Những chiến hào của quân Pháp hoàn toàn bị vùi lấp. Ngay cả những cây cổ thụ lâu năm cũng bị trốc gốc, với những mảng thi thể vương vãi trên các nhánh cây.
Mặc dù có lợi thế về tính bất ngờ và sự vượt trội về lực lượng vào thời điểm mở màn trận đánh, người Đức thất bại với mục tiêu của mình.
Khi trận đánh càng lúc càng kéo dài thì thiệt hại của 2 bên là gần như tương đương. Và đến tháng 12/1916, quân Đức đã bị đẩy lùi về vị trí ban đầu như trước khi trận đánh xảy ra.
5. Chiến dịch Bagration
Được đặt theo tên một vị tướng Nga trong cuộc chiến chống lại Napoleon, chiến dịch Bagration là cuộc tổng tiến công chiến lược có quy mô lớn mà Hồng quân Liên Xô thực hiện trong Thế chiến II.
Bắt đầu từ ngày 22/6/1944, đúng 3 năm sau ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô, chiến dịch này đã gần như tiêu diệt hoàn toàn Phương diện quân Trung tâm, xương sống của quân đội Đức tại mặt trận phía Đông và dọn đường để Hồng quân tiến vào lãnh thổ Đức.
Pháo binh Liên Xô trong chiến dịch Bagration
Chiến dịch cũng được mở màn bằng cuộc cuộc pháo kích với quy mô chưa từng có. Hơn 30.000 khẩu pháo và súng cối, bao gồm hơn 2.000 giàn phóng pháo hỏa tiễn, đồng loạt khai hỏa trong suốt 2 giờ.
Trung bình mỗi khẩu pháo của Hồng quân đã bắn 6 tấn đạn sang phòng tuyến quân Đức.
Binh lính Đức đầu hàng Hồng quân
theo Đại Lộ



Pháo binh Nga: Từ Kachiusa đến Iskander


Trong lịch sử, Nga đã nắm trong tay những dàn pháo, dàn tên lửa lợi hại. Nhân ngày 19/11, ngày Lực lượng Pháo binh và Tên lửa Nga, dưới đây là sự phát triển của pháo binh và tên lửa của Nga qua ảnh.
Lực lượng Pháo binh và tên lửa Nga đã chọn ngày 19/11 hàng năm để làm ngày truyền thống đánh dấu những chiến công của pháo binh Nga trong trận Stalingrad vào năm 1942. Từ đó đến nay, lực lượng tên lửa chiến lược và pháo binh của Nga giờ đây đã được trang bị những vũ khí hiện đại và tiên tiến. Dưới đây là sự phát triển của dàn tên lửa Nga, từ dàn hỏa tiễn Katyusha cho đến Iskander qua ảnh.
Ngày Lực lượng Pháo binh và Tên lửa Nga là ngày 19/11. Ngày này được chọn để đánh dấu những chiến công của pháo binh trong trận Stalingrad năm 1942.
Dàn hỏa tiễn BM-13 là vũ khí nổi tiếng nhất trong Chiến tranh Vệ quốc (chiến tranh thế giới thứ 2) của Nga. Vì dàn pháo này được đánh dấu với chữ K, những người lính Hồng quân đã lấy tên cô gái Katyusha từ một bài hát nổi tiếng đặt cho nó.
2S1 Gvozdika là một loại pháo tự hành 122mm, đã được sử dụng trong Quân đội Liên Xô vào đầu những năm 1970.
Quân đội Mỹ đặt tên gọi cho nó là M1974, và pháo được sản xuất ở các nhà máy đặt ở  Bulgaria, Ba Lan và Nga.
Pháo phản lực phóng loạt BM-21 của Liên Xô được lắp trên một chiếc xe tải, được thiết kế vào đầu những năm 1960. Nó được biết đến nhiều hơn với tên Tổ hợp tên lửa hàng loạt Grad. BM-21 có thể bắn 40 phát cùng một lúc.
Msta-S (đặt theo tên sông Msta) là một loại pháo tự hành cỡ nòng 152mm.
2S9 NONA là một loại pháo tự hành 120mm được thiết kế bởi Liên Xô và đi vào hoạt động lần đầu tiên vào năm 1981
Lính Pháo binh đang tập luyện bắn pháo ở doanh traị Pavenkovo, vùng Kaliningrad.
2A65 Msta-B là một loại pháo kéo 152mm. Vũ khí này hiện vẫn đang được sử dụng cùng với các loại pháo khác của quân đội Nga. Tương tư như các pháo hiện đại, Msta-B có khả năng bắn đạn chứa uranium.
Tổ hợp pháo phản lực phóng loạt Tornado-G là một phiên bản mới hơn của Grad. tổ hợp này có tầm bắn lên đến 30km và có thể sử dụng chống lại bộ binh địch và các loại xe thiết giáp.
BM-27 Uragan là một tổ hợp pháo phản lực phóng loạt, sử dụng cỡ đạn 220mm
Các sĩ quan pháo binh Nga trong một buổi tập bắn của lực lượng Khối Quân sự Trung ương.
BM-30 Smerch là một phiên bản pháo phản lực nhiều nòng, được thiết kế nhằm tiêu diệt các khí tài, xe thiết giáp, các mục tiêu tập trung tại một điểm, pháo, bốt chỉ huy và kho đạn được. Pháo có cỡ nòng 300mm có tầm xa 70 đến 90km và rất nhiều đầu đạn đã được sản xuất cho dàn phóng này.
Hàng loạt dàn Smerch và Uragan được trưng bày tại Triển lãm Vũ khí Quốc tế lần thứ ba tại Moscow năm 2008.
Pháo tự hành Msta-S trước một buổi diễn tập cho buổi diễu hành ngày Chiến thắng Phát xít năm 2011.
Khrizantema là một loại tên lửa siêu thanh chống tăng, được thiết kế nhằm chống lại các mẫu xe tăng hiện tại và tương lai và chống lại máy bay bay chậm ở tầm thấp như trực thăng. Một đặc điểm nổi trội của tên lửa là nó có thể được định hướng bằng laser hay bằng rađa.
Iskander-M là một dàn tên lửa tự hành có khả năng di chuyển trên mọi địa hình và điều kiện thời tiết, có thể bắn trúng các mục tiêu ở cách đó 500km. Dàn tên lửa này được trang bị các loại tên lửa đạn đạo và hành trình.
Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin TASS, hãng thông tấn nhà nước Nga được tái thiết từ hãng tin Itar-TASS cũ. Đây là một trong những hãng thông tấn lớn nhất của Nga, có bề dày 100 năm lịch sử. Hãng này liên kết với hơn 80 hãng thông tấn nước ngoài khác và là một trong những hãng thông tấn uy tín trên thế giới.
Anh Tuấn (lược dịch)
262015

Chiên công oanh liệt của Pháo binh Việt Nam

CHIẾN CÔNG CHƯA TỪNG CÓ TRONG
LỊCH SỬ CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI CỦA PHÁO BINH VIỆT NAM
Trong chiến dịch mang mật danh Nguyễn Huệ năm 1972, giải phóng Quảng trị, Trung đoàn pháo binh 38 Bông lau đã lập nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử chiến tranh hiện đại Việt Nam: bức hàng trung đoàn bộ binh 56 do trung tá Phạm Văn Đính, một trong những con át chủ bài của quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ huy tại căn cứ 241 - (Caroll). Đây là một căn cứ hỏa lực mạnh nhất vùng I chiến thuật yểm trợ cho Khe Sanh và kiểm soát toàn thể mặt trận tây bắc Quảng Trị.
Chiến dịch tiến công Quảng Trị bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 1972, pháo binh với vai trò hỏa lực chủ yếu có nhiệm vụ hiệp đồng chi viện cho khối binh chủng hợp thành tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm của địch tiến tới giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Trung đoàn Pháo binh 38 Bông lau phối thuộc sư đoàn bộ binh 304 có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt quân lực VNCH trên hướng Tây, hướng chủ lực của chiến dịch ở các cứ điểm Tân Lâm, Mai Lộc, Đầu Mầu, Ái Tử…
Căn cứ 241 do trung đoàn bộ binh 56 trấn giữ cùng nhiều đơn vị pháo trực thuộc, trận địa pháo 105mm, trận địa pháo155mm, 26 khẩu, đặc biệt có 4 khẩu 175mm tự hành tối tân trong số 08 khẩu Mỹ vừa mới trang bị cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa để “Việt Nam hóa chiến tranh”. Pháo 175mm được mệnh danh là “Vua chiến trường”, loại pháo có cỡ nòng mặt đất lớn nhất thế giới lúc bấy giờ, dùng loại đạn tăng tầm có thể bắn xa trên 40km. Quân số của căn cứ có khoảng 1800 người dưới sự chỉ huy của trung tá Phạm Văn Đính, người hùng và niềm tự hào của quân lực VNCH.
Vào lúc 11:30 ngày 30-3-1972 toàn bộ Trung đoàn pháo Bông Lau với 30 khẩu pháo 130 mm, 122 mm… bất ngờ tập kích hỏa lực mãnh liệt vào cứ điểm Carroll của trung đoàn 56, vào căn cứ Mai Lộc của lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 đồng thời ngăn chặn sự chi viện từ các căn cứ quanh vùng. Ngày 2-4-1972, trời mây mù mãi đến gần trưa mới hửng nắng, hỏa lực của ta vẫn tiếp tục tập kích mãnh liệt dìm đầu pháo địch khiến cho cả dàn pháo hiện đại đủ loại của chúng không ngóc đầu lên được.
Thương vong ngày càng nhiều trước những loạt pháo tập trung chính xác, mãnh liệt của Trung đoàn pháo binh 38 Bông Lau. Căn cứ 241 lâm vào nguy cơ bị tiêu diệt và trước sự tan rã nhanh chóng của các căn cứ tiền tiêu do bị sư đoàn 304 tấn công tiêu diệt, không còn con đường nào thoát, bộ chỉ huy của căn cứ Carroll 241 đã chịu chấp nhận đầu hàng không điều kiện ngay từ khi mũi chủ lực của sư đoàn bộ binh 304 chưa tiếp cận ra đòn tấn công.
13 giờ, đài quan sát của trung đoàn 38, đài“Sao mai” do đồng chí Trần Thông - Trung đoàn phó chỉ huy nhận được tín hiệu của lính thông tin trung đoàn 56, nói chỉ huy của trung đoàn xin gặp chỉ huy cao nhất của Bông Lau. Chiến sĩ thông tin đài “Sao mai” nhận được thông tin nhưng không dám báo cáo, sợ rằng mình quan hệ với địch vô nguyên tắc. Nhưng trung đoàn 56 tiếp tục gọi nhiều lần xin gặp, đồng chí Thông điện về sở chỉ huy báo cáo Trung đoàn trưởng Trung đoàn 38 lúc đó là đồng chí Cao Sơn. Đồng chí Cao Sơn ngay lập tức họp hội ý, trao đổi với Chính ủy Trương Linh Huyên và sau khi báo cáo Sư trưởng 304 - Đại tá Hoàng Đan, anh cầm máy nói chuyện trực tiếp với Phạm Văn Đính. Phạm Văn Đính thưa: “Tôi, Phạm Văn Đính, Trung tá, Trung đoàn trưởng trung đoàn 56 cùng toàn thể sĩ quan thuộc bộ chỉ huy Trung đoàn đã họp tại phòng làm việc của tôi, trên dưới bàn bạc quyết định không đề kháng nữa để ra với Quân giải phóng”. Trung đoàn trưởng Pháo binh Bông Lau Cao Sơn khẳng định: “Hoan nghênh các anh hạ súng đầu hàng tập thể. Pháo sẽ ngừng bắn... Sẽ có người tới dẫn đường cho các anh”.
Khoảng 20 phút sau từ đài quan sát “Sao Mai”, đồng chí Trần Thông báo về đã thấy cờ trắng trên điểm cao 241 và các binh sĩ trung đoàn 56 cầm cờ trắng đi ra phía Đầu Mầu theo quy định. Trung đoàn trưởng Cao Sơn lệnh cho Trung úy Giáp, cán bộ quân lực của Trung đoàn, cùng Trung úy Đạo, chỉ huy Đại đội 8, khẩu đội trưởng Tô Văn Thành và các chiến sĩ khẩu đội 4 đi trên chiếc xe xích ATC 55 do đồng chí Lương Minh Nghĩa lái tới tiếp nhận sự đầu hàng của Trung đoàn 56. Gần tới nơi xe bị trúng mìn, mấy chiến sĩ bị thương. Đồng chí Đạo và mọi người tiếp tục đi bộ tới gặp Phạm Văn Đính. Trung úy Giáp một mặt cử người đưa Trung tá Phạm Văn Đính và Trung tá Vĩnh Phong về tuyến sau một mặt cùng với Trung sĩ Hẩu lái xe của Trung đoàn 56 thu chuyển khí tài của địch ra khỏi căn cứ đem đi cất giấu.
Sự kiện trung đoàn 56 ở căn cứ 241 đầu hàng và lữ đoàn lính thủy đánh bộ 241 ở Mai Lộc bị đánh thiệt hại nặng, đã chẳng những trực tiếp
giảm thiểu sự đổ máu cho quân sỹ cả hai bên, mà còn góp phần quan trọng làm tan rã tinh thần địch, tạo đà cho quân dân Trị Thiên giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Đó cũng là một sự kiện hy hữu, chỉ có trong cuộc chiến tranh hiện đại ở Việt Nam. Trong khi không quân, hải quân của ta chưa có điều kiện chi viện hỏa lực trực tiếp cho bộ binh, thì pháo binh đã làm tròn sứ mạng của mình chi viện hỏa lực cho binh chủng hợp thành tiến công phá tan tuyến phòng ngự bất khả xâm phạm của địch.
Chiến công hy hữu này đã được tái hiện trong nhật ký chiến tranh: Mùa hè cháy” của đại tá, nhà văn Quí Hải, nguyên tiểu đoàn trường tiểu đoàn II, Trung đoàn pháo binh 38 Bông Lau. Trung tá Cao Sơn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo binh 38 Bông Lau xúc động ghi lại cảm xúc của mình trong cuốn: “Mùa hè cháy”: “Tôi – Cao Sơn. Từ năm 1969 đến năm 1972 là trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 38 Pháo binh, cùng sát cánh với đồng chí Quý Hải dự chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972. Tôi rất vui và hoan nghênh khi được đọc cuốn nhật ký này. Nội dung nhật ký đã làm sống lại nhiều sự kiện chân thật, sinh động của trung đoàn 38, từ khi bước vào chuẩn bị chiến dịch đến khi kết thúc chiến dich lịch sử. Là một cán bộ chỉ huy quân sự gánh vác trách nhiệm nặng nề trong chỉ huy, phải xử lý những tình huống khẩn trương, có lúc rất ác liệt trong chiến đấu mà đồng chí Qúy Hải vẫn tranh thủ thời gian chăm chút ghi lại tỉ mỉ cả về thời gian, địa điểm, mối quan hệ trên dưới, đồng chí, đồng bào với tình cảm tin tưởng, lãng mạn của tuổi thanh xuân. Nhất là sự kiện đập tan sự kháng cự của trung đoàn 56 ngụy buộc chúng đầu hàng. Sau đó tham khảo sưu tầm nhiều tài liệu trong và ngoài nước để những ý nghĩa và công tích của trung đoàn 38 được xuất sắc, xác thực thêm. Tôi rất cảm kích và trân trọng sự cố gắng này..” – (Hà Nội tháng 10 năm 2007. Đại tá CAO SƠN – nguyên Trung đoàn trưởng trung đoàn Pháo binh 38)3
Còn trong cuộc gặp mặt “Hội bạn chiến đấu trung đoàn 38 pháo binh Bông Lau” ngày 25.11.2012, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội Nhân dân Việt Nam nhấn mạnh:
- Trung đoàn 38 pháo binh Bông Lau năm 1972 đã lập nên một kỳ tích trong lịch sử chiến tranh hiện đại là đã bức hàng và bắt sống trung đoàn bộ binh 56 của địch. Chiến công to lớn ấy đã viết lên một trang sử vàng vẻ vang trong lịch sử chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, đồng thời có một vai trò vô cùng quan trọng, nâng cao tinh thấn quyết thắng của quân và dân ta, góp phần làm tan rã tinh thần địch, tạo đà cho quân dân
giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian nhanh chóng. Tôi mong rằng “Hội bạn chiến đấu trung đoàn 38 pháo binh Bông Lau” sẽ tổ chức gặp mặt thường xuyên, bởi đây không chỉ là dịp chúng ta ôn lại những kỷ niệm của một thời đẹp nhất, giúp chúng ta sống tốt hơn mà còn có tác dụng giáo dục sâu sắc với thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhà văn Lê Xuân Quang

Vì sao Trung tá Pháo binh Pháp Piroth tự sát?

VÌ SAO TRUNG TÁ PHÁO BINH PHÁP PI-RỐT

TỰ SÁT?

Phạm Quốc Vinh
piroth
Từ thời Na-pô-lê-ông, nước Pháp đã tự hào về pháo binh. Người ta quyết định chọn cho Đờ Cát-xtơ-ri một viên phó chỉ huy đặc trách pháo binh. Đó là trung tá Pi-rốt (Charles Piroth).
Pi-rốt đã mất cách tay trái trong một trận đánh tai Ý năm 1943, nhưng vẫn được giữ lại trong quân đội vì những kinh nghiệm chuyên môn giỏi của mình. Trong cuốn sách “Điện Biên Phủ, một góc địa ngục” của Bernard Fall hay “Điện Biên Phủ” của John Keegan, các tác giả đều có viết về trung tá pháo binh này: Theo ý kiến của tướng Cô-nhi, chàng pháo thủ Pi-rốt là sự bổ sung tuyệt vời cho chàng kỵ sĩ Đờ Cát. Những đơn vị pháo binh giỏi được điều lên Điện Biên Phủ đó là: Tiểu đoàn 3 trung đoàn pháo binh thuộc địa thứ 10 (3/10RAC), tiểu đoàn số 2 thuộc trung đoàn pháo thuộc địa thứ 4 (4CRAC).
Theo tướng Cô-nhi, những khẩu trọng pháo 155mm là những khẩu pháo lớn nhất của quân đội Pháp bố trí ở Đông Dương được đưa lên Điện Biên Phủ và tiếng nổ sấm sét của nó sẽ là “chuông báo tử cho cuộc tấn công Việt Minh và các tiền đồn! Ngoài hai tiểu đoàn trọng pháo rất đáng tin cậy còn có 3 đại đội súng cối hạng nặng 120mm; Mặc dù bắn không xa nhưng với cách bắn cầu vòng, có thể phá hoại các giao thông hào của đối phương. Theo cách đánh của phương Tây thì trung tâm tập đoàn cứ điểm chỉ rộng khoảng 2,5km2 đã có tới: 12 khẩu 105mm, 4 khẩu 155mm, 24 khẩu cối 120mm và 81mm.
Đến ngày 13-3-1954, trước khi quân ta nổ sung tấn công cứ điểm Him Lam, các trận địa pháo binh của Pháp ở trung tâm Mường Thanh và Hồng Cúm đã sẵn sàng có từ 6-8 cơ số đạn tùy theo cỡ súng với số lượng như sau: 27.400 đạn pháo 105mm; 22.000 đạn cối và 2.500 đạn pháo 155mm.
Pi-rốt thích trình bày với các nhân vật đến thăm tập đoàn cứ điểm về sức mạnh và hỏa lực pháo binh của hắn, đồng thời Pi-rốt khẳng định: “Việt Minh không thể nào đưa được pháo đến tận đây; Nếu họ đến, chúng tôi sẽ đè bẹp…và ngay cả khi họ tìm được cách đến, tiếp tục bắn, họ cũng không có khả năng tiếp tế  đầy đủ đạn dược cho pháo của họ để gây khó khăn thật sự cho chúng tôi!.
–                     Ngày 17-2-1953, đến thăm Điện Biên Phủ, tướng Na-va lên đồi Him Lam quan sát và có vẻ lo ngại: -“Béatrice (Him Lam) là một cứ điểm kiên cố vào loại bậc nhất nhưng  bị những ngọn đồi có rừng rậm bao bọc, đối phương có thể giấu những đại bác cỡ lớn và khi Béatrice rơi vào tay Việt Minh, rõ ràng đại bộ phận tập đoàn cứ điểm sẽ nằm trong tầm hỏa lực của họ”.
Pierre Schoenderffer, một phóng viên quay phim mặt trận của Pháp lúc đó cũng đứng trên nắp hầm với các sĩ quan, nhớ rõ câu trả lời của Pi-rốt: “Thưa tướng quân, không có khẩu đại bác nào của Việt Minh bắn được ba phát mà không bị pháo binh của chúng ta tiêu diệt”.
Với tướng Le Blanc, tham mưu trưởng lục quân Pháp đến thăm Điện Biên Phủ, Pi-rốt nói: “Nếu tôi được báo trước 30 phút, cuộc phản pháo của tôi sẽ có hiệu quả”. Ngày 26-1-1954, khi Marc Jacquet, Bộ trưởng liên hiệp Pháp lên thăm tập đoàn cứ điểm hỏi Pi-rốt, hắn “hợm hĩnh” trả lời là hắn đã có quá số trọng pháo cần thiết ở Điện Biên Phủ và hắn cam kết sẽ bắt pháo binh đối phương phải im lặng ngay từ loạt đạn đầu!
Bộ chỉ huy Pháp từng phán đoán đối phương không có khả năng đưa trọng pháo vượt qua núi cao thì chiều 13-3-1954 hơn 40 khẩu pháo đã giội bão lửa xuống Him Lam mở màn chiến dịch. Đoàn phủ đầu của pháo binh ta đã gây cho quân Pháp nỗi kinh hoàng lo sợ, tập đoàn cứ điểm bị đe dọa nghiêm trọng.
Ngay sau trận Him Lam, Pi-rốt trung tá phụ cấp pháo binh đã khóc trước mặt Langlais và rồi sau trận đồi Độc Lập (Grabille) đêm 14-3, lực lượng pháo binh của Pi-rốt cũng tỏ ra bất lực!… Sau hai trận đấu, vốn liếng của Pi-rốt đã hao mòn quá lớn: 1 đại đội súng cối 120mm, 2 khẩu pháo 105mm, 1 trong 4 khẩu pháo 155mm đã bị phá hủy cùng với số đạn đã bắn vô tác dụng lên tới 2,7 vạn viên… Ngày 15-3-1954, vì quá bất ngờ, vì không chịu được hỏa lực của pháo binh Việt Minh và lại bị Đờ-Cát chỉ huy tập đoàn cứ điểm khiển trách, Pi-rốt  đã tự sát bằng lựu đạn và được chôn ngay trong hầm của hắn!…
…Liền sau đó, một bức điện đã bay về cơ quan tham mưu của tướng Cô-nhi ở Hà Nội: “Trung tá Pi-rốt đã “bỏ mình” trên chiến trường danh dự!”.

Trích: Tạp chí Sự kiện và Nhân chứng (nguyệt san của báo Quân đội nhân dân), số 123 tháng 3-2004

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32