ĐỊNH HƯỚNG ĐI ĐÂU? 49

-NÓI NHƯ CON "KÉT", LÀM NHƯ CON "KẸT"!
-QUAN "NỔ" = MỴ DÂN
-Định hướng như ... cứt mà đòi lên "Thiên Đường".  
-Rồi đây, lịch sử sẽ chỉ rõ công - tội!
-Không có KTNN sẽ không có CNXH! Nhưng KTNN phải hoạt động theo KTTT.
-Phí không khéo, sẽ làm cho "sưu cao thuế nặng", và như vậy, khác gì thời phong kiến!? 
-Không thể chối cãi: xã hội yếu kém phổ biến, là sai lầm của thể chế!
- Thế nào là định hướng XHCN !? Phải chăng là (đối với VN), phải ưu tiên công nghiệp hóa nông nghiệp?
-Xây dựng ồ ạt, mở rộng tràn lan phạm vi đô thị như Hà Nội, tp HCM...là một định hướng nóng vội, sai lầm! Vì tác dụng làm cho dân giàu nước mạnh rất ít, lợi bất cập hại!
-Bảo vệ đảng và bảo vệ dân, cái nào ưu tiên hơn cái nào?
-"Đồng chí" nào "lên" cũng vậy thôi! Ôi, cần lắm một nhân tài!
-Ưu tiên công nghiệp hóa nông nghiệp một cách thực chất, đó là định hướng duy nhất đúng cho kinh tế Việt Nam, đó là tiền đề làm cho "dân giàu, nước mạnh" đúng nghĩa!

 -------------------------------------- 
(ĐC sưu tầm trên NET)

Miền Tây trước làn sóng tha phương mới

Trong số 25.000 cô gái Việt Nam tới Campuchia tìm kiếm việc làm, nhiều cô gái còn rất trẻ đã bị bán vào các quán bar, massage, karaoke, nhà chứa và buộc phải làm “sex workers” ở Phnom Penh.

Miền Tây đối diện với làn sóng di cư mới. Trong hình: Con gái ông Hiệp (bơi xuồng) đã quen cuộc sống không có đất. Ảnh: Ngọc Đào.
Chưa có ai đưa ra được con số chính xác bao nhiêu người di cư tìm sinh kế khác, sinh sống thế nào, nhưng làng quê
miền Tây bây giờ tìm người gom lúa, hái cam… trả công 150.000 - 200.000 đồng/ngày cũng không dễ kiếm.
Điểm nóng cực đoan về nguy cơ di cư
Cuối năm ngoái, TS Võ Hùng Dũng, giám đốc phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ) nói về tình trạng này nhưng tránh dùng từ “di cư” vì được xem là nhạy cảm: “Xuất cư” ròng ra khỏi vùng bùng nổ trong các năm 2009 - 2011, lên đến mức 8,4%.
Ông Dũng nhận xét: “Hiện tượng xuất cư ròng nhiều năm ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do nền kinh tế vùng không đủ sức giải quyết công ăn việc làm cho người địa phương và cũng không hấp dẫn thu hút lao động từ các địa phương khác đến”.
Gia đình bảy người của ông Nguyễn Viết Hoàng Hiệp, gồm: mẹ vợ, vợ chồng ông và bốn con nhỏ, chưa kể vợ ông đang mang thai đứa thứ năm gần sáu tháng, từ Biển Hồ thuộc tỉnh Pursat (Campuchia) di cư và hồi hương về sống ở chợ nổi Long Xuyên, thuộc phường Mỹ Phước (TP Long Xuyên, An Giang) từ năm 2009 đến nay.
Tài sản duy nhất của ông là chiếc ghe xì lỗ mội, đêm nào cũng phải tát 4 - 5 lần để khỏi chìm. Dưới lườn ghe “lợp” bốn lớp cao su cho đỡ vô nước nhưng giờ cũng đã rệu rã.
Ông Hiệp bức xúc nói: “Từ khi gia đình trở về đây sinh sống, tôi đã trình báo chính quyền để xin cấp hộ khẩu nhưng không được chấp nhận nên sống tạm bợ trên sông cho đến giờ”.
Mẹ vợ của ông Hiệp, bà Nguyễn Thị Nguyệt, 66 tuổi, cho biết tổ tiên ông bà ở Châu Đốc, đến 1975 cùng cha mẹ sang Campuchia sống nghề giăng câu, lưới.
Ở đó bà còn hai người con nữa, làm ăn không thành công nhưng chưa có điều kiện để trở về đây.
Bà Nguyệt nói: cách nay ba năm, nghe người ta chỉ trên khu dân cư ở phường Mỹ Phước có bãi đất trống không ai ở nên gia đình kéo nhau về đó phát hoang, cất chòi sống tạm nhưng được vài ngày bị chính quyền đuổi, phải thuê nhà trọ ở được hai tháng.
Trên bờ, không làm ra tiền nên vay nóng bên ngoài 3 triệu đồng mua ghe cũ rồi cả nhà kéo nhau xuống sông ở tới giờ.
Con gái bà Nguyệt tên Trần Thị Oanh chuyên bán đồ nhậu trên chợ nổi, người tong teo, da ngâm đen, mới vay được 2 triệu đồng mua đồ bán, mỗi ngày trả góp 60.000 đồng.
Gia tăng cú sốc
ĐBSCL là một trong ba điểm nóng “cực đoan” toàn cầu về nguy cơ di cư do hậu quả của biến đổi khí hậu. Đến năm 2050, khoảng 1 triệu người dân ĐBSCL sẽ đối mặt với nguy cơ phải di dời chỗ ở, nếu không có hành động quyết liệt nào được thực hiện.
Trung tâm Theo dõi di trú trong nước (IDMC) cho biết trong giai đoạn 2008 - 2012, khoảng 1 triệu người phải di dời nơi sinh sống, Việt Nam đứng hàng thứ 17 trong số 82 quốc gia có số người di trú lớn nhất do thiên tai.
Báo cáo này dựa vào hàng loạt các nghiên cứu và ấn phẩm, với cách nhìn nhận toàn cầu và cụ thể của quốc gia.
Năm 2015, Việt Nam có khoảng 135.000 hộ dân phải di dời vì lý do môi trường. Biến đổi khí hậu đã tạo ra nhiều yếu tố phức tạp mới và diễn biến cấp bách đối với mối quan hệ với di cư và suy thoái môi trường.
Từ năm 2012, kết quả phân tích 188 cuộc khảo sát nông thôn và 200 cuộc khảo sát các hộ tái định cư tại hai tỉnh Long An và Đồng Tháp, cho thấy tất cả các nhóm đối tượng được phỏng vấn đều trả lời rằng áp lực môi trường có nhiều tác động đến sinh kế của họ.
Trong vòng hai thập kỷ qua, bản chất và quy mô di cư do môi trường đã có những thay đổi, biến đổi khí hậu làm gia tăng các cú sốc và áp lực suy thoái môi trường.
Một báo cáo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoà, viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ về Nghiên cứu lao động nữ di cư giúp việc nhà từ ĐBSCL tới TPHCM được thực hiện tại phường 9, thị xã Trà Vinh, cho biết, những phụ nữ tham gia di cư thường là những phụ nữ trẻ, có trình độ học vấn thấp, chưa lập gia đình, và phần lớn trong số họ đều làm việc trong ngành dịch vụ, có thu nhập thấp.
Cũng theo Nguyễn Thị Hoà, trong Nghiên cứu về những cô gái Việt Nam sống ở Campuchia do Mony Tep và Salon Ek cung cấp, cho thấy cuộc sống của 25.000 cô gái Việt Nam tới Campuchia tìm kiếm việc làm.
Trong đó, nhiều cô gái còn rất trẻ đã bị bán vào các quán bar, massage, karaoke, nhà chứa và buộc phải làm “sex workers” tại “Khu công nghệ tình dục” gần thủ đô Phnom Penh.
Khi chưa có một khung pháp lý nào bảo vệ người di cư tự do thì tình trạng việc làm bấp bênh, tiền công lao động thấp, điều kiện nhà ở thấp kém, hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ xã hội, là điều dễ thấy, và đó là một vấn đề xã hội nổi trội đặt lên vai các cấp chính quyền.
Theo Khánh An - Ngọc Đào - Thế giới tiếp thị

Ruộng bỏ hoang... nông dân khổ!


(Báo Quảng Ngãi)- Nhiều năm qua, hàng chục hecta đất sản xuất nông nghiệp ở cánh đồng Bàu Nhá, thôn Điền Chánh, xã Nghĩa Điền và Gò Lăng, thôn An Hội Bắc 3, xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa không thể sản xuất do ngập nước và ô nhiễm.  

Làm nông những phải mua lúa

Dẫn chúng tôi ra cánh đồng Bàu Nhá- nơi trước đây là vựa lúa của xã Nghĩa Điền, ông Lê Tôn Phúc- Trưởng thôn Điền Chánh giọng trầm buồn, nói: “Vụ đông xuân đã sản xuất gần 1 tháng nay, nhưng hơn 120 hộ nông dân ở xứ đồng 25ha này không thể xuống giống được”. Theo lời ông Phúc, thực trạng này xảy ra hơn chục năm nay, trong khi người dân trong thôn sống chủ yếu dựa vào cây lúa. Nhìn những thửa ruộng trước kia thu hoạch hai vụ lúa ăn chắc, năng suất 5-6 tấn/ha/vụ, nhưng nhiều năm nay đành bỏ hoang, bà con ở đây tiếc đứt ruột.
 25ha đất nông nghiệp ở đồng Bàu Nhá hơn chục năm nay bỏ hoang vì chưa được tiêu thoát nước.
25ha đất nông nghiệp ở đồng Bàu Nhá hơn chục năm nay bỏ hoang vì chưa được tiêu thoát nước.

Bây giờ không có đất sản xuất, họ phải chật vật tự kiếm việc làm, từ buôn bán nhỏ, làm thợ nề, chăn nuôi hoặc tha phương mưu sinh. “Ruộng bỏ hoang, dân không có công ăn việc làm, lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Chúng tôi nhiều lần viết đơn kiến nghị đến các cấp chính quyền nhưng chưa được giải quyết. Ai đời làm ruộng mà phải mua lúa”, lão nông Hồ Văn Bình trăn trở, nói. Ông Bình có 3 sào lúa ở đồng này, nhưng không sản xuất được.

Ông Đặng Văn Tuyến - Chủ tịch UBND xã Nghĩa Điền cho biết: Đồng Bàu Nhá cùng với đồng Ba Đơn thuộc thôn Điền An là nơi sản xuất lúa chính của xã. Cánh đồng này chạy dọc suối Ba Đơn và kênh Tư Nghĩa, hai con suối này hợp lưu đổ vào sông Bàu Giang đoạn thượng lưu cầu Xóm Xiếc. Những năm qua, khi nguồn nước Thạch Nham đi qua là cũng bắt đầu xảy ra ngập úng. Trong khi năng lực tiêu thoát của sông Bàu Giang bị suy giảm. Lòng sông xu hướng cạn dần và thu hẹp, vật cản phát sinh nhiều, lòng sông gấp khúc, bị xói lở, bồi lấp. Cùng với đó thì lượng nước đến từ suối Ba Đơn  ngày càng lớn (do nước kênh Thạch Nham đổ trực tiếp vào suối), khiến lượng nước ở đây không thể tiêu thoát... dẫn đến tình trạng ngập úng.

Còn 4,2ha đất sản xuất nông nghiệp của cánh đồng Gò Lăng, thuộc thôn An Hội Bắc 3, xã Nghĩa Kỳ cũng rơi vào cảnh tương tự. Cụ ông Võ Miên, chỉ vào 2 sào ruộng bỏ hoang vì ngập úng, buồn bã nói: “Tấc đất, tấc vàng”, thấy ruộng cỏ dại, bèo mọc như nấm mà xót lắm. Nhưng không sạ được, cũng đành bỏ không. Vợ chồng tôi phải nuôi thêm gà, vịt kiếm sống qua ngày”.

Trưởng thôn An Hội Bắc 3, Nguyễn Thành Khiêm cho biết: Từ năm 2006 đến nay, diện tích này đều bị ngập úng không sản xuất được, do KCN Quảng Phú bắt đầu triển khai thi công đã làm cản trở dòng chảy, không tiêu thoát được nước, gây ngập úng cho diện tích đất sản xuất trên.

Tuyến kênh Bàu Lăng bắt đầu từ cống tiêu qua đường (thuộc thôn An Hội 3), chảy qua KCN Quảng Phú rồi đổ vào kênh Tư Nghĩa. Đoạn đầu từ cống tiêu đến giáp với KCN bị sạt lở gây bồi lấp lòng kênh. Ngoài ra, cỏ và bèo mọc nhiều trong lòng kênh gây cản trở dòng chảy tạo ngập úng cục bộ cho một số diện tích đất sản xuất lúa.

Cần sớm khơi thông

Để giải quyết bức xúc của người dân ở đồng Bàu Nhá, cuối năm 2015, UBND tỉnh bố trí vốn ưu tiên đầu tư tại Quyết định số 1722 để thực hiện công trình  tiêu úng từ Bàu Nhá - Bàu Giang. Công trình do UBND huyện Tư Nghĩa làm chủ đầu tư, với kinh phí 17 tỷ đồng.  Trong đó, vốn đối ứng của huyện Tư Nghĩa là 2 tỷ đồng còn lại nguồn vốn bố trí của tỉnh. Dự kiến, công trình sẽ được triển khai giữa năm 2016. “Nếu công trình được triển khai không những đảm bảo khắc phục ngập úng, tránh việc lãng phí đất sản xuất nông nghiệp mà còn ổn định cuộc sống của hàng trăm hộ dân, thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương”, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Điền Đặng Văn Tuyến kỳ vọng.

Còn hướng giải quyết đối với đồng Gò Lăng, Nghĩa Kỳ, ông Trần Thiên Thanh - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Tư Nghĩa nêu giải pháp: "Sở NN& PTNT tỉnh đã tiến hành khảo sát lại và có kế hoạch kiến nghị UBND tỉnh bố trí kinh phí để tiếp tục nạo vét đoạn kênh từ cống tiêu đồng Bàu Lăng đến giáp với KCN Quảng Phú và yêu cầu Công ty TNHH MTV Đầu tư, Xây dựng và Kinh doanh dịch vụ Quảng Ngãi (chủ đầu tư dự án Chỉnh kênh Bàu Lăng KCN Quảng Phú) sớm hoàn thiện dự án để đảm bảo tiêu thoát nước".

       Bài, ảnh: KN
Vì sao gần ngàn mẫu ruộng bỏ hoang? 14/07/2015, 09:38 (GMT+7) Làng Yên Nội, xã Đồng Quang (Quốc Oai – Hà Nội) vốn bình yên nay bỗng trở nên hỗn loạn khi người dân rùng rùng chăng cờ quạt, lều bạt khắp nơi khiếu nại việc dồn điền đổi thửa... Vì sao gần ngàn mẫu ruộng bỏ hoang? Người dân dựng lều, ăn ngủ ngay tại cánh đồng để phản đối chính quyền Chia sẻ Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme Tin bài khác Hai anh em ruột tử nạn dưới giếng nước Cải tạo, xây lại chung cư cũ ở Hà Nội: Tháo dần những 'nút thắt' Quảng Ngãi: Cháy Trung tâm Điện máy, thiệt hại hàng tỷ đồng Xe máy và ô tô khách đấu đầu, một người tử vong tại chỗ Trăm khe đổ về suối 'chết' Xem thêm http://nongnghiep.vn/vinh-tuong-dien-hinh-ngo-dong-post154431.html http://nongnghiep.vn/phan-bon-voi-bien-doi-khi-hau-36-19.html * Yên Nội không bình yên PV NNVN về đây tác nghiệp bị dọa, nếu không cẩn thận thì… gãy xương sườn, bởi đã có những vụ ẩu đả trước đó. Chính quyền, người dân giằng co, hậu quả gần 1.000 mẫu ruộng bị bỏ hoang liền hai vụ, cỏ mọc đến đầu gối. Cánh đồng thẳng cánh cò bay giờ chỉ làm bãi thả vịt, nuôi bò, cá… Những việc làm trái khoáy Theo người dân Yên Nội, nơi này trở lên "quân hồi vô phèng" xuất phát từ những việc làm trái khoáy của đội ngũ lãnh đạo xã Đồng Quang. Cụ thể, trong quá trình dồn điền đổi thửa xây dựng NTM, nhiều mảnh ruộng của người dân bị xã hớt đi phần đất màu đem bán. Thậm chí, có mảnh còn bị dùng máy múc, khoét sâu gần 4 m. 16-01-03_2 Nhiều diện tích đất bị múc đi lớp đất màu, thụt sâu gần nửa mét Ruộng hóa thành ao, người dân không thể SX, bức xúc nảy sinh. Nhiều con mương sau khi chỉnh trang đồng ruộng biến thành những cái rãnh có khi… cao hơn mặt ruộng, khi trũng sâu như cái hố. Nước bơm vào tưới tiêu, mảnh bị ngập nặng, mảnh khô cằn như sân bóng. Ông Nguyễn Duy Sáu, thôn Yên Nội bức xúc, riêng chuyện xã cho đắp mấy cái bờ mương đã cho thấy một sự phản khoa học, không quan tâm gì tới việc SX của người dân. Thực tế trên cánh đồng, những con mương này mới được nạo vét, ngổn ngang đất. Mặt bờ mương được đắp tạm bằng một lớp đất nhão nhoét. Lòng mương lổn nhổn, đoạn thấp cao không đều. “Đấy các chú xem, mương máng thế này thì tưới tiêu kiểu gì. Đổ nước một cái thì khu bị ngập trắng, khu không giọt nước. Chúng tôi không cày cấy được thì phản đối thôi”, ông Sáu phân trần. Đi quá một đoạn, đập vào mắt chúng tôi là khoảnh ruộng bị giày xéo, nham nhở vết bánh máy xúc. Đây chính là phần ruộng đã bị lãnh đạo xã Đồng Quang thuê máy xúc, công nông về hớt lớp đầu màu đi bán. Lượng đất sau đó được chuyển sang một xã bên cạnh, bán cho các hộ trồng cây cây cảnh, ăn quả. So với những thửa ruộng bên cạnh, mặt bằng của khu này thụt hẳn xuống gần nửa mét. Nhiều người bức xúc, cười như mếu bảo, đúng là "chuyện trái khoáy trần đời có một" nay xuất hiện ở Yên Nội. Ruộng có mỗi lớp đất màu để cấy lúc thì bị múc đi, còn gì để cày với cấy. Chưa ăn thua, người dân dẫn chúng tôi đi xem một chuyện “lạ” hơn ở Yên Nội. Một mảnh ruộng hai vụ lúa, một vụ màu của người dân sau dồn điền đổi thửa nay biến thành một cái hồ. 16-01-03_3 Chuyện “lạ”, sau dồn điền đổi thửa, ruộng biến thành ao nuôi cá Theo tính toán của người dân Yên Nội, riêng vụ xuân vừa qua, họ đã bị thiệt hại khoảng 16.000 tấn thóc. Nhà nào nhà nấy, trong hòm, thóc chẳng còn một hạt mà phải đi ăn đong qua ngày. Thêm một mùa vụ nữa, không biết cuộc sống người dân sẽ ra sao. Một người dân từng lội xuống đáy ruộng và đo được mực nước sâu gần 4 m. Chủ nhân mảnh ruộng dở khóc dở cười, giờ chẳng lẽ viết đơn chuyển đổi sang nuôi cá. Lệnh giới nghiêm!? Để “lọt” được vào thôn Yên Nội gặp gỡ người dân, tôi nhận được rất nhiều lời đe dọa kiểu “không cẩn thận bị đánh gãy xương sườn như thằng hôm nọ”. Con dường đê dẫn vào thôn, băng rôn khẩu hiệu phản đối chính quyền được người dân chăng kín. Mỗi con đường xuống đồng đều có một “chốt” canh gác. Sau màn “chào hỏi” bằng việc xuất trình giấy tờ, nơi làm việc, tôi mới được tác nghiệp. Ông Nguyễn Đình Xuân, người thôn Yên Nội giải thích, phải làm như thế vì sợ có người lạ mặt trà trộn vào quay phim, chụp ảnh. Đã gần 1 tháng nay, ông Xuân và hàng chục người khác ăn, ngủ luôn tại chiếc chòi dẫn ra cánh đồng. Nhà ông Xuân có 3,2 sào ruộng cũng đã bỏ hoang cả năm nay để phản đối việc làm của xã Đồng Quang. 16-01-03_4 Mương máng được đắp tạm bợ, chỉ sau một trận mưa là sạt lở “Dân nghèo chúng tôi chỉ sống nhờ ruộng đồng thôi. Nhưng thử hỏi, ruộng nương, mương máng như thế làm ao không được, ruộng cũng không xong thì cấy hái kiểu gì. Bây giờ chúng tôi chỉ yêu cầu xã làm lại mương máng, trả lại nguyên trạng đồng ruộng thì mới nhận cấy”, ông Xuân nói. Còn ông Nguyễn Duy Sáu bùi ngùi, kể ra thì xót ruộng đồng lắm nhưng cũng đành. Yên Nội vốn được coi là vựa lúa ở Hà Tây (cũ). Thôn có 2.000 hộ dân với 9.000 nhân khẩu, canh tác khoảng gần 1.000 mẫu ruộng, thuộc loại lớn nhất xã, có khi lớn nhất huyện Quốc Oai. Cũng bởi vậy, diện tích canh tác của thôn này chiếm tới ½ tổng diện tích SX toàn xã Đồng Quang. Vụ xuân 2015, xã Đồng Quang báo cáo lên huyện Quốc Oai việc người dân bỏ 200 mẫu ruộng. Nhưng trên thực tế, đã hai vụ, 2.000 hộ dân không một nhà nào chịu nhận ruộng canh tác. Tranh thủ, nhiều hộ mua vịt về thả rông khắp cánh đồng. Cỏ mọc khắp nơi, gần trăm con bò của thôn Yên Nội ăn không xuể. “Lãnh đạo xã cũng đã nhận sẽ san lại mặt ruộng, làm lại mương máng nhưng bảo phải đến mùa khô mới làm được. Dân chúng tôi bây giờ không tin nữa rồi. Nếu cứ như này, có khi sang năm chúng tôi lại bỏ ruộng tiếp”, một người dân Yên Nội bức xúc. Một người dân chua xót bảo tôi: "Dân bỏ ruộng lại hay chú ạ, bò có cỏ mà ăn, vịt có chỗ mà kiếm mồi. Khéo mấy nữa Yên Nội là thành vùng nuôi vịt, nuôi bò phát triển nhất Hà Nội cũng nên". Ông Sáu bảo, ruộng bỏ cả năm cỏ mọc tốt, giờ có nhận lại cấy cũng phải "cải tạo ốm" mới xong. Bên cạnh chuyện dồn điền đổi thửa, người dân Yên Nội cũng đang đấu tranh đòi xã Đồng Quang chia lại đất đai. Chính quyền địa phương khất lần nữa, càng khiến người dân bức xúc. Mới đây, UBND huyện Quốc Oai giao Phòng Kinh tế đưa máy cày cùng 1 tấn lúa giống về làm đất, thuyết phục người dân gieo cấy nhưng bất thành. Thậm chí, đã có sự đụng độ, xô xát giữa bà con với chính quyền địa phương. Một người dân cho biết, "trước hôm tôi về, một người dân xã bên do hiếu kỳ đứng lại chụp ảnh bằng điện thoại liền bị đánh gãy xương sườn, hiện vẫn nằm viện". 16-01-03_5 Ruộng đồng thành nơi chăn thả vịt, nuôi bò Về việc có chia lại đất cho người dân hay không, UBND huyện Quốc Oai cho biết vẫn đang xem xét và giải quyết. Huyện này cũng thừa nhận, trong quá trình dồn diển đổi thửa, lãnh đạo xã Đồng Quang làm chưa đúng quy trình, nhiều diện tích đất nông nghiệp bị phá vỡ mặt bằng, thay đổi hiện trạng. Đang trong lúc rối ren, ngày 6/7 vừa qua, trụ sở UBND xã Đồng Quang bỗng dưng bị cháy lúc nửa đêm. Một khối lượng lớn công văn, giấy tờ bị thiêu rụi. Con dấu của UBND xã cũng bị hư hỏng, đang hoàn thiện thủ tục xin cấp lại. Chúng tôi đến liên hệ làm việc, nữ cán bộ văn phòng xã tên Minh cho biết, xã vừa đại hội, chủ tịch cũ vừa nghỉ hưu. Người kế nhiệm là ông Vũ Hồng Toàn, nguyên Phó Chủ tịch HĐND xã. Sau một hồi lòng vòng kiểm tra giấy tờ, liên hệ với tân Chủ tịch, nữ cán bộ này cho biết, Chủ tịch đang họp trên huyện, hẹn tuần sau làm việc. Trong khi phòng làm việc của ông Toàn điện sáng choang, quạt trần quay vù vù. Trước khi liên hệ với ông Toàn, bà Minh còn bảo tôi: “Cậu ra sân tìm cái ông áo xanh cộc tay ấy, Chủ tịch mới đấy. Tôi vừa nhìn thấy ông ấy đi qua”. Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme KẾ TOẠI... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/vi-sao-gan-ngan-mau-ruong-bo-hoang-post146257.html | NongNghiep.vn

Vì sao hàng chục mẫu ruộng bị bỏ hoang?

Ngoại thành | 06:49 Thứ Hai ngày 05/10/2015
(HNM) - Trong khi các địa phương đang hối hả bước vào vụ gặt, thì ở thôn Nội Xá, xã Vạn Thái (Ứng Hòa), hàng chục mẫu canh tác "bờ xôi, ruộng mật" của nông dân đang bị bỏ hoang, nhiều diện tích lúa trong tình trạng cháy bông, không thể thu hoạch. Theo phản ánh của người dân, nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Nội Xá không tổ chức làm đất để xã viên cấy lúa đúng thời vụ, khiến vụ mùa năm nay nhiều diện tích đất ở thôn bị mất trắng.

Nông dân "chán" ruộng?

Có mặt tại cánh đồng thôn Nội Xá vào một ngày cuối tháng 9 nắng như đổ lửa, chúng tôi tận mắt chứng kiến những vạt ruộng trắng bông hoặc đang còn hoang hóa. Tuyến đường liên thôn chạy dọc cánh đồng làng tuy chưa được trải bê tông nhưng rất thuận tiện cho việc đi lại của người dân. Hệ thống kênh mương nội đồng ở đây cũng được bố trí rất khoa học, bảo đảm dẫn nước đến từng chân ruộng. Có thể nói, hầu hết diện tích đất gieo cấy của thôn Nội Xá đều là "bờ xôi, ruộng mật" cho năng suất cao. Thế nhưng, điều ngạc nhiên là rất nhiều thửa ruộng thuộc cánh đồng Man Nhà, Tứ Tương, Náp, Nang Việt... hiện trong tình trạng trơ đất, cỏ dại mọc đầy. Nhiều mẫu ruộng khác đến nay vẫn chưa được thu hoạch do lúa cháy bông, không cho năng suất. Tiếp xúc với phóng viên Báo Hànộimới, nhiều người dân bức xúc cho biết: Thôn Nội Xá có tổng diện tích 585 mẫu đất nông nghiệp, trong đó 555 mẫu lúa hai vụ, 30 mẫu chuyên trồng màu. Vụ mùa 2015 chỉ có 2/3 diện tích được cấy đúng vụ, diện tích còn lại bị bỏ hoang hoặc có cấy nhưng do muộn vụ nên lúa lép bông, năng suất gần như mất trắng. Nguyên nhân là do HTX Nội Xá không tổ chức dịch vụ làm đất cho xã viên, khiến người dân không thể gieo cấy.

Những vạt ruộng bị cháy bông do sâu bệnh ở Nội Xá.


Anh Nguyễn Văn Thái, Đội 8, thôn Nội Xá cho biết: Toàn thôn có trên 2.000 hộ dân tham gia vào HTX, chia làm 5 đội sản xuất. Năm nào cũng vậy, trước vụ lúa hoặc màu, HTX đều thu tiền của xã viên để tổ chức các khâu dịch vụ làm đất, dẫn nước, bảo vệ đồng điền... Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, Ban Quản trị (BQT) HTX đã thiếu công khai, minh bạch trong thu chi, khiến xã viên vô cùng bức xúc. Cụ thể, khoản tiền 18.600 đồng/sào, Nhà nước hỗ trợ cho dân nhưng HTX giữ lại, xã viên không được nhận. Mỗi năm HTX thu trên 200.000 đồng/khẩu để làm dịch vụ nhưng khoản tiền này lại được BQT HTX dùng để mua BHXH, BHYT sai đối tượng, chi tiêu sai mục đích... Khi vụ việc được phát hiện, xã viên nhiều lần yêu cầu BQT phải giải trình rõ ràng, công khai các khoản thu nhưng HTX cố tình không thực hiện. Bất bình trước những việc làm như vậy của BQT, nhiều xã viên đã phản ứng lại bằng cách không đóng tiền dịch vụ cho HTX. Ước tính, vụ mùa 2015 chỉ có khoảng 60-70% diện tích đất nông nghiệp ở Nội Xá được gieo cấy đúng thời vụ, diện tích còn lại do bà con tự làm dịch vụ, gieo mạ muộn, không đúng thời vụ nên trắng bông. Chưa kể, nhiều diện tích đất hoàn toàn bị bỏ không.

"Nhân dân thôn Nội Xá bao đời nay vốn thuần nông, không có nghề phụ, mọi sinh hoạt, chi tiêu đều trông cả vào cây lúa. Nay đồng ruộng hoang hóa, diện tích đã cấy xong cũng có nguy cơ mất trắng. Gia đình tôi có 4 khẩu với 5 sào lúa, vụ mùa này cả 5 sào ruộng đều bỏ hoang, không biết thời gian tới chúng tôi sẽ lấy gì để ăn nữa?" - Anh Thái xót xa.

Tại cả... đôi bên?

Nhằm làm rõ những thắc mắc của người dân, phóng viên Báo Hànộimới đã có buổi làm việc với lãnh đạo xã Vạn Thái và Chủ nhiệm HTX thôn Nội Xá. Ông Ngô Trung Tuyến, Chủ nhiệm HTX cho biết: “Ngay từ cuối năm 2013, một số xã viên đã có đơn khiếu kiện về việc thu chi tài chính của HTX, đồng thời không nộp sản khiến HTX không có nguồn thu. Do không có tiền chi trả các dịch vụ làm đất, dẫn nước, bảo vệ đồng điền... năm 2014, HTX phải đi vay mượn 150 triệu đồng để duy trì hoạt động của tổ dịch vụ cho vụ xuân 2015. Tuy nhiên, trước tình trạng các xã viên không chịu nộp sản, vụ mùa 2015, HTX buộc phải thay đổi việc tổ chức dịch vụ so với các vụ trước. Chúng tôi chỉ làm dịch vụ cho các hộ chấp hành việc nộp tiền cho HTX, kết quả chỉ có khoảng 30% số hộ xã viên nộp tiền theo quy định. Ngoài ra, một số hộ do điều kiện khó khăn, có lời "nhờ" HTX, chúng tôi vẫn tiến hành làm dịch vụ. Do đó, không thể nói HTX không làm dịch vụ đất gieo cấy cho bà con. Về tình trạng lúa lép, do trà lúa muộn bị mắc bệnh sâu cuốn lá, HTX đã thông báo và mang thuốc trừ sâu về phục vụ kịp thời, nhưng do nhiều hộ phun thuốc trừ sâu quá muộn nên có khoảng 2ha bị thiệt hại nặng".

Về phản ánh của xã viên liên quan đến việc BQT thu chi tài chính sai nguyên tắc, ông Tuyến thẳng thắn thừa nhận: "Từ tháng 10-2011 đến tháng 12-2013, BQT HTX đã sử dụng một phần quỹ quản lý để trích nộp BHXH, BHYT cho hai cá nhân là trưởng xóm và thủ quỹ HTX với tổng số tiền trên 8,6 triệu đồng. Đây là khoản chi sai quy định do hai cá nhân trên không nằm trong danh sách cán bộ HTX. Mặt khác, trong quá trình quản lý tài chính, BQT đã có nhiều khoản chi sai nguyên tắc như chi cho việc đi hiếu, hỉ, chúc Tết, mua quà Trung thu... với số tiền trên 9 triệu đồng. Về việc này, trong các cuộc đại hội xã viên tháng 8-2014 và tháng 5-2015, tôi đã có báo cáo giải trình cụ thể trước xã viên, đề ra giải pháp như chấm dứt việc trích nộp BHYT, BHXH sai đối tượng, truy thu số tiền cá nhân phải đóng BHYT, BHXH. Về khoản chi sai mục đích, nếu bà con yêu cầu, chúng tôi sẵn sàng bỏ tiền túi ra nộp lại". Lý giải về việc nhiều hộ xã viên không được nhận khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước, ông Tuyến cho biết: "Với những hộ cố tình không nộp sản cho HTX, chúng tôi buộc phải lấy khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước để khấu trừ. Mọi khoản thu của HTX đều được thông báo cụ thể tới xã viên trước khi triển khai. Riêng khoản tiền trên 200.000 đồng/khẩu hằng năm là do đội trưởng đội sản xuất kiêm trưởng xóm thu, khi thu đã gộp luôn cả khoản thu của HTX vào các khoản thu khác như tiền vệ sinh xóm, tiền quỹ thôn... khiến bà con hiểu lầm".

Về phía chính quyền xã, ông Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch UBND xã Vạn Thái khẳng định: "Trước vụ mùa 2015, UBND xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động bà con xã viên nộp tiền dịch vụ để HTX trả cho tổ dịch vụ làm đất, tuy nhiên nhiều hộ vẫn cố ý không chấp hành. Nhiều xã viên còn vận động các gia đình khác bỏ ruộng hoang, gây sức ép buộc HTX phải làm dịch vụ. Việc nhiều hộ xã viên thôn Nội Xá bỏ ruộng hoang, không thực hiện việc phun thuốc đúng quy trình khiến lúa bị lép hạt đã kéo lùi sản lượng lương thực toàn xã chỉ đạt 86% vụ mùa 2015. Do đó, sau khi thực hiện xong việc bầu trưởng thôn ở Nội Xá, thời gian tới UBND xã sẽ tập trung chỉ đạo, vận động xã viên đẩy mạnh việc nộp dịch vụ cho HTX trong vụ đông, tránh lặp lại tình trạng ruộng bị bỏ hoang và lúa sâu bệnh như vụ mùa 2015".

Như vậy, có thể khẳng định những bức xúc của xã viên về tình trạng chi tiêu sai mục đích của BQT HTX thôn Nội Xá là có cơ sở. Vi phạm cũng đã được làm rõ, nhưng không xử lý dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân. Tuy nhiên, trước khi vụ việc được xử lý dứt điểm, các xã viên thôn Nội Xá cần sớm trở lại với ruộng đồng, không chỉ vì những bức xúc mà bỏ hoang "bờ xôi, ruộng mật", bởi khi đó thiệt hại nặng nề nhất không ai khác chính là người nông dân.
Bài, ảnh: Bảo Nga

Nghệ An: Nông dân bỏ ruộng tràn lan

Bám ruộng chẳng đủ ăn, nhiều nhà nông bỏ ruộng, trả ruộng. Trong hai vụ Hè và Xuân vừa qua, tại Nghệ An có tới gần 1.500ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang (các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu…). Toàn tỉnh có khoảng 15.000 lao động ly hương tìm việc làm trong và ngoài nước.

 
Ruộng bỏ hoang vụ Xuân tại Nghi Lộc, Nghệ An. Ảnh: Việt Hương.
Ruộng bỏ hoang vụ Xuân tại Nghi Lộc, Nghệ An. Ảnh: Việt Hương.
Muôn nẻo rời quê
Huyện Yên Thành, nơi từng được xem là “vựa lúa” của tỉnh Nghệ An, trong những năm qua cũng có nhiều biến động trong nhân lực lao động. Nếu như trước đây, bà con gắn bó với “bờ xôi ruộng mật”, thì nay lực lượng lao động trẻ lại có hướng “chuyển dịch” mới. Thống kê tại huyện Yên Thành cho thấy, hằng năm có trên 10.000 người đi xuất khẩu lao động tại 23 quốc gia. Đây được xem là hướng đi đang thu hút nhiều lao động trẻ của địa phương. Thay vào đó, “bờ xôi ruộng mật” được bà con nhà nông mang… trả lại cho xã quản lý.
Sau mấy ngày sum vầy dịp tết cổ truyền, nhiều ngôi làng chỉ lưa thưa còn lại hình bóng của những ông bà già và trẻ nhỏ, ít xuất hiện thanh niên. “Con cháu chúng tôi chấp nhận đi làm thuê ở thành phố từ giúp việc, công nhân cho đến buôn bán đồng nát, hàng ăn vỉa hè… miễn là có tiền mặt gửi về nuôi con ăn học chứ bám ruộng đồng lúa chẳng đủ ăn, nói chi các khoản chi tiêu khác trong nhà”, ông Hoàng Nguyên Hợi, 65 tuổi trú xóm Hồng Yên (Diễn Ngọc - Diễn Châu) tâm sự. Còn ông Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch UBND xã Diễn Ngọc (Diễn Châu - Nghệ An) cho biết: “Gần 2/3 số dân độ tuổi lao động trong xã tìm cách đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) nước ngoài và các thành phố lớn trong nước. Nông dân càng ngày càng chán với nghề nông, bỏ hoang ruộng lúa, chấp nhận đi làm thuê”.
Tại xã Thanh Hưng (Thanh Chương - Nghệ An), hiện có hơn 5.000 nhân khẩu, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 2.200 người. Tuy nhiên, theo thống kê, hiện toàn xã có khoảng 950 lao động đi làm thuê ở nơi khác, 55 người đi XKLĐ ở nước ngoài và hằng năm, số lao động trên làm ra hàng chục tỷ đồng (gấp 3 lần khi ở nhà làm ruộng). “Cách đây 3 năm, nhà tôi còn làm tới 7 sào ruộng lúa cả hai vụ hè và xuân  thì dư ra nguồn lương thực để ăn cả năm. Tuy nhiên, trong thời buổi hiện nay không thể chỉ ăn gạo không mà sống được. Lúa mang đi bán cũng rẻ rúng lắm nên chúng nó chọn cách sang Lào buôn bán đồng nát và mang về hàng chục triệu đồng/năm, đảm bảo cho con cái học hành thì phải trả lại ruộng thôi”, một nông dân nói.
Nghệ An: Nông dân bỏ ruộng tràn lan - ảnh 1
Nguồn thu từ ruộng không đủ sống nông dân miền Trung thi nhau bỏ ruộng. Ảnh: Việt Hương.
Những cánh đồng bỏ hoang
Về các xã Hưng Lợi, Hưng Thắng, Hưng Lĩnh (Hưng Nguyên, Nghệ An), thời gian này gần như nông dân bỏ hẳn vụ Hè, vụ Xuân chỉ làm rải rác. Những cánh đồng “thẳng cánh cò bay” trở thành nơi chăn thả trâu bò trên ruộng. “Vụ Hè thu họ đã bỏ hoang rồi, nay vụ Xuân cũng ít người mặn mà lắm, vì nguồn thu chẳng đủ chi. Làm ruộng thuê tất tần tật hết nhiều tiền mà sản lượng làm ra, bán đi cũng chẳng đủ để bù vào nên dân chọn cách kiếm tiền từ các công việc khác. Kiếm tiền  kiểu “tiền trao cháo múc” vẫn tốt hơn”, chị Trần Thị Mến, xã Hưng Lợi chia sẻ.
“Với cái thời buổi công nghiệp hóa hiện đại hóa như hiện nay thì nhà nông bỏ ruộng có khi lại là một điều tốt. Đã bần nông mà quanh năm chỉ ôm khư khư một mẫu ruộng thì chỉ có nước thiếu ăn. Làm nông phải định hướng và lựa chọn đúng con đường biến những mẫu ruộng khô cằn thành cái đích làm giàu mà không nhất thiết phải cấy lúa”. Ông Vi Lưu Bình, PGĐ sở NN&PTNT Nghệ An
Thông thường, cứ vào dịp sau tết một tuần, người dân lại nô nức xuống đồng để chuẩn bị cho vụ hè thu. Thế nhưng gần đây, tình trạng nông dân bỏ ruộng lại tiếp tục tiếp diễn. Thay vì xuống đồng, một bộ phận lao động ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang chuẩn bị đi các tỉnh khác làm ăn trong khi đồng ruộng bị bỏ không. Đáng chú ý, theo nhận định của đại diện nhiều địa phương, tình trạng nông dân bỏ ruộng sẽ tiếp tục xảy ra trên quy mô lớn hơn. Nguyên nhân thì đã rõ nhưng các ngành chức năng vẫn chưa tìm được giải pháp tối ưu để người dân yên tâm bám ruộng.
Theo thống kê của ngành nông nghiệp, mỗi địa phương trong cả nước trung bình có khoảng 100 ha ruộng lúa bị bỏ hoang. Vụ hè thu vừa qua, Nghệ An là địa phương diễn ra tình trạng nông dân bỏ ruộng, trả lại ruộng nhiều với gần 2.000 ha, trong đó đứng đầu là Nam Đàn hơn 700 ha, tiếp đó là Hưng Nguyên trên 400ha, còn lại là các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Đô Lương… Ở Nam Đàn, hàng chục hecta ruộng lúa đã bị người dân đăng ký trả không tiếp tục cày cấy. Nguyên nhân nông dân bỏ ruộng đã được các ngành chức năng làm rõ, đó là giá lúa, rau màu thấp trong khi đầu vào như vật tư phân bón, dịch vụ bảo vệ thực vật, công chăm sóc ngày càng tăng cao… Thu nhập thấp lại phải đóng phí theo đầu sào đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý nông dân.
Tại Diễn Tháp (Diễn Châu - Nghệ An), hầu hết dân không còn làm ruộng, thay vào đó là “xuất ngoại” sang nước bạn Lào để buôn bán đồng nát, thương mại xây dựng. Nông dân đang có xu hướng ngày càng ít mặn mà với đồng ruộng, thay vào đó là muôn nẻo chọn cách kiếm sống từ các việc làm thuê trong và ngoài nước. Có người cũng phải đổ máu và nước mắt mới đổi được đồng tiền về nuôi con ăn học; kẻ thì bỏ mạng ở nước ngoài… hệ lụy khôn lường.
Ông Đậu Xuân Mạnh, Phó chủ tịch UBND xã Diễn Tháp (Diễn Châu - Nghệ An) cho biết: Toàn xã có tới 95% dân chuyển đổi nghề nông sang nghề thương mại. Vụ xuân này nhà nông còn gắng gượng ra đồng chứ vụ hè thu hầu như bỏ ruộng sang Lào kiếm sống. Hàng chục năm nay, dân Diễn Tháp đã không còn mặn mà với nghề nông nữa, ruộng đồng bỏ hoang, làng vắng người…

Tác giả bài viết: Việt Hương
Nguồn tin: Báo Tiền Phong

Ruộng bỏ hoang, dân dài cổ chờ

Thứ Hai, 29/06/2015, 19:34:14

Mặc dù đơn vị thi công đã xây dựng hai công tiêu úng, nhưng ruộng vẫn bị ngập úng.
NDĐT- Hơn tám ha đất gieo trồng hai vụ của gần 120 người dân bị bỏ hoang, bèo mọc lên như nấm khắp cánh đồng. Đó là thực trạng đáng buồn đang diễn ra tại cánh đồng Nhà Nà, xã Sơn Dương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, khi dự án điều chỉnh tuyến quốc lộ 32C được thi công.
Cánh đồng Nhà Nà, xã Sơn Dương, huyện Lâm Thao, Phú Thọ lâu nay được biết đến là vựa lúa của huyện Lâm Thao nói chung, tỉnh Phú Thọ nói riêng. Năm 2010, được đầu tư của Nhà nước, dự án điều chỉnh tuyến quốc lộ 32C đoạn qua thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ được triển khai với tổng chiều dài hơn 21km. Trong đó, đoạn chạy qua xã Sơn Dương dài gần bốn km. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 800 tỷ đồng do Sở Giao thông - Vận tải (GTVT) Phú Thọ làm chủ đầu tư.
Khi dự án được triển khai, mặc dù, đơn vị thi công đã xây dựng hai công thoát nước để tránh ngập úng. Tuy nhiên, do mặt bằng cống thấp khiến hơn tám ha của người dân luôn trong tình trạng ngập úng, không gieo trồng được. Hàng chục lá đơn của người dân gửi đi nhưng đến nay tình trạng này vẫn chưa được giải quyết, khiến nhiều người dân bức xúc.
Ông Nguyễn Văn Doãn, Bí thư Chi bộ khu 1, xã Sơn Dương cho hay, trước đây cánh đồng Nhà Nà vẫn cấy hai vụ lúa bình thường, từ khi con đường 32C chạy qua đã làm ngăn cản, thu hẹp dòng chảy, gây ra hiện tượng ngập úng dài ngày dẫn đến lúa chết. Cánh đồng cũng bị bỏ hoang từ ngày đó đến nay.
Còn bà Nguyễn Thị Tuyết, Trưởng khu dân cư số 1, xã Sơn Dương cho biết: Từ khi con đường 32C hình thành cũng là lúc hơn tám ha bị ngập úng. Ruộng bỏ hoang, dân không có công ăn việc làm đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Cực chẳng đã, người dân nhiều lần viết đơn kiến nghị đến các cấp chính quyền đề nghị hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do ngập úng.

Đồng Nhà Nà bị bỏ hoang nhiều năm.
Trước những kiến nghị của nhân dân, năm 2010, UBND huyện Lâm Thao đã quyết định hỗ trợ hơn 181 triệu đồng/ vụ cho các hộ dân bị ảnh hưởng và cho đến nay, người dân không được nhận thêm bất cứ khoản hỗ trợ nào khác. Để tránh thiệt thòi cho người dân, UBND huyện Lâm Thao đã có công văn đề nghị UBND tỉnh xem xét, tiếp tục hỗ trợ cho nhân dân.
Ông Đỗ Đức Thắng, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Dương cho biết, bà con đã nhiều lần kiến nghị với xã và xã cũng đã kiến nghị với các cấp nhưng đến nay bà con cũng chỉ được hỗ trợ một vụ. Hiện nay, cũng chưa có cơ quan chức năng nào có kết luận chính thức về vấn đề này và chưa có giải pháp, phương án cụ thể để hỗ trợ cho nhân dân.
Lý giải về nguyên nhân gây ngập úng cục bộ khiến hơn tám ha bị ngập úng, ông Dương Hoàng Phúc, Giám đốc Ban Quản lý dự án giao thông (Sở GTVT Phú Thọ) cho biết: Khu vực đồng Nhà Nà là khu đồng chiêm trũng, khi đơn vị thi công làm cống tiêu nước cho cánh đồng này đã tính toán kỹ về độ tiêu úng cho cánh đồng. Tuy nhiên, ở phía hạ lưu cống (khu vực đồng Bờ Sấu, xã Sơn Vi) người dân thường xuyên đắp bờ giữ nước để nuôi trồng thủy sản. Do đó, khi có mưa cánh đồng Nhà Nhà và khu vực đồng Bờ Sấu, xã Sơn Vi có mực nước ngang nhau nên nước ở cánh đồng Nhà Nà không thể chảy xuống đi được, dẫn đến gây ngập ở cánh đồng này.
Trước thực trạng trên, cuối tháng 3-2015, UBND tỉnh Phú Thọ có công văn yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, GTVT và một số ngành liên quan, chính quyền địa phương kiểm tra hồ sơ và thực địa xác định các nguyên nhân gây ngập úng, diện tích, loại đất bị ảnh hưởng; báo cáo, đề xuất biện pháp với Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 14-4 để có hướng giải quyết.
Sau khi tiến hành kiểm tra, ngày 8-5-2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Thọ có kết luận: Việc triển khai thi công xây dựng công trình tuyến đường Quốc lộ 32C, đoạn qua địa bàn huyện Lâm Thao làm chia cắt khu vực tiêu, ảnh hưởng đến việc kéo dài thời gian tiêu thoát nước cho cánh đồng Nhà Nà, xã Sơn Dương. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu gây ngập úng cho cánh đồng Nhà Nà là do một số đoạn lòng kênh tiêu bị bồi lấp, nhiều đoạn chảy qua ao, hồ không còn nguyên trạng đáy kênh do một số hộ dân tự đắp bờ ngăn dòng chảy để lấy nước nuôi trồng thủy sản; mặt khác cánh đồng Nhà Nà bèo tây mọc dày gây tắc nghẽn dòng chảy, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước, gây hiện tượng ngập úng cho khu vực.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đề nghị UBND tỉnh giao UBND huyện Lâm Thao chỉ đạo UBND xã Sơn Dương, Công ty TNHH Nhà nước MTV khai thác công trình thủy lợi vận động nhân dân thực hiện vớt bèo, nạo vét đáy kênh và tháo dỡ một số công trình trên tuyến kênh tiêu.
Đồng thời, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo chủ đầu tư phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức thẩm định xem xét phương án hỗ trợ thiệt hại do ngập úng cho các hộ dân có đất canh tác tại cánh đồng Nhà Nà.
Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh Phú Thọ đã có những động thái tích cực vào cuộc để giải quyết dứt điểm vấn đề này, nhưng cho đến nay, những thắc mắc của người dân cũng như đề xuất kiến nghị của người dân vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, không biết đến biết bao giờ người dân mới hết cảnh phải dài cổ chờ.
NGỌC LONG

Đất nông nghiệp bỏ hoang: Hết thời “tấc đất, tấc vàng”?

08:30 10/03/2014

Thời vụ cấy lúa xuân 2014 vừa kết thúc, song trên địa bàn một số quận, huyện của Hà Nội vẫn có nhiều diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, khiến không ít người xót xa cho những "tấc vàng" một thời. 

Đất nông nghiệp bỏ hoang: Hết thời “tấc đất, tấc vàng”?
Ảnh minh họa
Nhiều diện tích đã bỏ hoang từ 4 đến 5 năm không sản xuất, nhưng chính quyền các cấp vẫn chưa có phương án giải quyết hiệu quả. Tình trạng nông dân bỏ ruộng xảy ra nhiều nhất tại các huyện ven đô, nơi "cơn lốc" đô thị hóa diễn ra nhanh và mạnh.

Hàng nghìn héc ta đất nông nghiệp bỏ hoang


Trong khi nhiều huyện, thị xã đã hoàn thành cấy lúa xuân thì trên các cánh đồng của huyện Từ Liêm, nhiều thửa ruộng vẫn chưa được làm đất, có nơi ruộng bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm. Tại cánh đồng xã Xuân Phương (huyện Từ Liêm), mặc dù có vị trí khá thuận lợi, nằm ngay trục giao thông chính, sát các khu đô thị, nhưng không có mảnh ruộng nào được cấy lúa, trồng rau màu. Bà Nguyễn Thị Khang, đội 11, thôn Thị Cấm, xã Xuân Phương cho biết: Do nằm xen kẽ các khu đô thị, hệ thống kênh mương bị phá vỡ, mùa mưa không tiêu được nước, mùa khô ruộng đồng nứt nẻ, không trồng được cây gì. Gia đình bà có hơn 1 mẫu ruộng đã bỏ hoang 4 năm nay. "Từ trước tới giờ, gia đình chỉ biết cấy lúa, làm màu; mang tiếng là có đất sản xuất nhưng không thể canh tác được, tôi phải đi làm thuê, bốc vác, phụ hồ vất vả lắm. Nhìn ruộng đồng bỏ hoang tiếc lắm, song nếu có muốn làm cũng không được" - Bà Khang than vãn. Theo ông Phạm Đăng Thình, Phó trưởng phòng Kinh tế huyện Từ Liêm, dù chưa có thống kê chính xác nhưng số diện tích ruộng xen kẹt trong các khu đô thị, công nghiệp rất khó sản xuất, người dân bỏ hoang cũng lên tới hàng trăm héc ta, tập trung ở các xã Đại Mỗ, Tây Mỗ, Mễ Trì, Mỹ Đình, Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh…

Tương tự, tại huyện Hoài Đức, diện tích đất nông nghiệp bỏ hoang cũng lên tới con số vài chục héc ta. Phó chủ tịch UBND xã Kim Chung Đinh Văn Thi cho biết: "Vụ xuân năm 2014, xã còn gần chục héc ta bỏ hoang. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống thủy lợi, tiêu úng bị phá vỡ do các dự án đô thị xung quanh. Để vận động nhân dân đóng góp hay xin kinh phí của huyện Hoài Đức hoàn thành hệ thống kênh mương là rất khó, bởi theo quy hoạch của UBND TP. Hà Nội, đến năm 2015, Kim Chung không còn đất sản xuất nông nghiệp. Với tâm lý chờ đền bù, người dân cứ bỏ ruộng cho cỏ mọc". Ngoài ra, qua tìm hiểu của chúng tôi, tại các huyện Thanh Oai, Quốc Oai, Đông Anh, Gia Lâm, Hà Đông, Phúc Thọ... cũng có hàng chục héc ta đất nông nghiệp xen kẹt, đồi gò, vùng trũng bỏ hoang nhiều năm không sản xuất. Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hà Nội, toàn thành phố có gần 5.000ha đất nông nghiệp bỏ hoang, chủ yếu là đất lúa xen kẹt giữa các khu đô thị, khu công nghiệp, những nơi có hệ thống giao thông, thủy lợi bị phá vỡ, không đủ điều kiện sản xuất.

Bỏ ruộng vì chi phí sản xuất cao

Dạo quanh các xã của huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng… tìm hiểu tâm tư của người dân mới thấy, phần lớn nông dân bỏ ruộng không phải vì lý do không có nước, úng ngập… mà là do… chán ruộng! Bà Nguyễn Thị Hồng, thôn Đại Tự, xã Kim Chung cho biết, gia đình chỉ còn hơn 2 sào ruộng, bỏ không cấy. Mấy năm trước còn thuê cấy, song công cấy ngày một cao nên hai năm nay gia đình bỏ ruộng. Bà Hồng than: "Làm 1 sào ruộng đầu tư hơn 1 triệu đồng, chỉ thu được khoảng 2 tạ thóc, với giá 6.500 đồng/kg thóc, tính ra không được là bao, làm để làm gì?".

Khảo sát mới đây của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cũng cho thấy, bình quân mỗi hộ dân có quy mô 3,72 khẩu, được giao khoảng 5,5 sào ruộng, thu được khoảng 22 triệu đồng/năm. Với mức thu này, trừ chi phí thuê làm đất, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, gặt, tuốt lúa, chỉ còn hơn 10 triệu đồng/năm. Tình trạng nông dân bỏ ruộng chủ yếu là trên diện tích đất hai vụ lúa/năm hoặc hai vụ lúa, một vụ màu/năm. Thêm vào đó tình trạng "già hóa" lao động tại nông thôn do thanh niên bỏ làng ra thành phố lao động cũng là một nguyên nhân. Trưởng phòng Kinh tế huyện Hoài Đức Nguyễn Văn Hiến cho biết, với những huyện có tốc độ đô thị hóa nhanh như Hoài Đức, đa phần người trong độ tuổi lao động đều đi làm thuê trong các khu công nghiệp. Tại các xã có làng nghề, do làm nghề cho thu nhập cao gấp nhiều lần trồng lúa nên nông dân không mặn mà với cây lúa.

Cần có cơ chế đặc thù

Câu chuyện nông dân bỏ ruộng không chỉ có ở Hà Nội mà diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước. Nguyên nhân chủ yếu do sản xuất nông nghiệp không đủ thu nhập để các hộ gia đình ổn định cuộc sống. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho rằng, cần thiết phải duy trì quỹ đất lúa vì lợi ích trước mắt và lâu dài, nhưng trên đất lúa bà con có thể chuyển sang cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đối với những diện tích đất xen kẹt, không thể sản xuất, TP. Hà Nội cần có chính sách cụ thể giúp người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển sang làm dịch vụ và các hoạt động buôn bán, kinh doanh khác cho hiệu quả.

Nếu không sớm giải quyết bài toán nông dân bỏ ruộng, nguy cơ mất an ninh lương thực sẽ hiển hiện trước mắt, Hà Nội sẽ mất nguồn kinh phí không nhỏ để nhập lương thực, thực phẩm. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ, Giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học nông nghiệp Việt Nam, với tốc độ dồn điền, đổi thửa xây dựng nông thôn mới hiện nay, việc đưa cơ giới hóa, giống cây, con chất lượng cao vào sản xuất là không khó. Muốn vậy, Hà Nội cần xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách sát thực tế, gắn với nhu cầu người dân, tránh tình trạng chính sách chỉ có giá trị trên giấy.

Theo Hà Nội mới

Vì sao nông dân viết đơn trả ruộng?

TP - “Nếu tính chi li, một sào lúa (sào Trung bộ là 500m2) mỗi vụ mất ba tháng trời may mắn lắm chỉ thu lãi khoảng 100 ngàn đồng, trong lúc đó, đi làm lao động phổ thông như thợ nề, bốc vác... một ngày cũng có từ 150 đến 200 ngàn đồng. Tội chi không bỏ ruộng!” - một nông dân bỏ ruộng ở Quảng Bình bộc bạch.
Nông dân bỏ ruộng ngày càng nhiều
Theo báo cáo gửi Bộ NN&PTNT của các địa phương ở miền Trung, con số nông dân bỏ ruộng lên đến hàng chục nghìn hộ dân và hàng nghìn ha đất trồng lúa hoang hóa trong mấy năm lại đây. Và tình trạng này đang ngày càng gia tăng khiến chính quyền các địa phương bối rối, chưa có giải pháp thích hợp để ngăn chặn.
Tại Hà Tĩnh, tổng diện tích ruộng bị bỏ hoang, hoặc người dân trực tiếp gửi đơn xin trả cho Nhà nước là 1.300ha, với hơn 7.500 hộ nông dân, 59 xã đối mặt với tình trạng nông dân bỏ ruộng, trả ruộng. Còn ở Quảng Bình, có hơn 750 ha đất trồng lúa bị bỏ hoang, tập trung nhiều nhất ở hai huyện lúa Quảng Ninh và Lệ Thủy.
Theo đánh giá của các ngành chức năng, tại các địa phương có nhiều nông dân bỏ ruộng chưa hẳn người làm lúa gặp khó trong canh tác hoặc có nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên để thu hút nông dân vào làm công nghiệp. Tại xã Trường Lộc, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) được xem là có điều kiện lý tưởng cho người trồng lúa. Đồng ruộng bằng phẳng, phì nhiêu, hệ thống kênh mương thủy lợi đồng bộ đến từng chân ruộng, lại ở đầu nguồn nước... Thế nhưng, thời gian gần đây số hộ nông dân chủ động viết đơn xin trả ruộng ngày càng gia tăng.
Ông Hoàng Mạnh Hùng, trưởng thôn Tân Tiến, xã Trường Lộc chỉ tay về phía cánh đồng hoang hóa buồn rầu cho biết: “Đây là cánh đồng Cộ, đồng Điếm. Trước đây lúa tốt bao nhiêu thì nay cỏ tốt cũng không kém. Trong vụ lúa đông - xuân vừa rồi toàn thôn có hơn 15 đơn của nông dân xin trả ruộng, thì vụ hè - thu này tiếp tục có hơn 10 đơn xin trả ruộng nữa. Cứ cái đà này thì nguy quá”.
Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) Nguyễn Viết Ánh cho biết: Toàn huyện có hơn 360 ha đất lúa bị bỏ hoang trong vụ hè thu này. Chính quyền chưa có giải pháp nào hữu hiệu để ngăn chặn, mà chỉ biết tuyên truyền, động viên nông dân đừng bỏ ruộng. Trong khi đó, ở huyện Lệ Thủy, có đến hơn 8.000 ha đất lúa, nông dân không trồng mới vụ hè - thu mà để nguyên gốc rạ của vụ đông - xuân để thu lúa tái sinh.
Ruộng đồng manh mún, hiệu quả thấp
Theo nhiều nông dân ở miền Trung mà chúng tôi gặp, rất ít hộ nông dân sống đủ nhờ nghề nông. Nguyên nhân được cho là ruộng đất chia cho đầu người quá ít, chỉ vài sào đất, thậm chí là vài thước đất cho mỗi người, rồi thiên tai, dịch bệnh triền miên, cộng với vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp quá cao, trong lúc sản phẩm làm ra bán với giá rẻ mạt, thu không đủ bù chi, khiến người nông dân bỏ ruộng.
Theo tính toán của nhiều nông dân, chi phí để sản xuất 1 sào ruộng (500m2) hiện nay hết 1,5 triệu đồng, nếu được mùa, sản lượng thu được 2,7 tạ, với giá lúa như hiện nay, người nông dân chỉ lãi được 100.000 đồng/sào. Thu nhập đã thấp, trong lúc đó người trồng lúa phải nộp hàng chục khoản phí khác do HTX, thôn, xã đề ra theo đầu sào khiến người nông dân càng thêm khó khăn. “Chưa phải 1,5 triệu đồng chi phí sản xuất một sào ruộng là hết đâu, chúng tôi phải nộp thêm các khoản khác cho từng đầu sào như an ninh nội đồng, kênh mương thủy lợi, đường sá đi lại v.v... nói chung là lỗ chỏng vó” - ông Nguyễn Văn Tuấn, nông dân ở xã An Ninh, huyện Quảng Ninh nói.
Nguyên nhân bỏ ruộng của người nông dân không chỉ có vậy, các chính sách hiện hành cho nông nghiệp còn nhiều bất cập khiến người nông dân không mặn mà với ruộng đồng. Ông Nguyễn Thanh Kiếm, nguyên Chủ nhiệm HTX Dịch vụ Nông nghiệp Cồn Nâm (đã giải thể), xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) cho biết: Tiếng là làm nông nghiệp nhưng dân ở đây chỉ mỗi khẩu chưa được nửa sào ruộng. Ai cũng được chia đất nên ruộng đồng manh mún, bờ vùng, bờ thửa “ăn” hết đất.
Cũng theo ông Kiếm, làm lúa thì lỗ nặng, nhưng người dân muốn đào ao nuôi cá trên mảnh ruộng đó để có thu nhập cao hơn thì lại không được. Chính sách an ninh lương thực đã buộc người nông dân phải bám ruộng, trong lúc nếu đầu tư làm nghề khác trên mảnh ruộng đó lại có thu nhập cao hơn.
Báo giấy

Quá tải dân số

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản đồ các quốc gia theo mật độ dân số, trên kilômét vuông. (Xem Danh sách quốc gia theo mật độ dân số.)

Các vùng có mật độ dân số cao, tính toán năm 1994.

Bản đồ các quốc gia và vùng lãnh thổ theo tỷ suất sinh (Xem Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ theo tỷ suất sinh.)
Quá tải dân số hay nạn nhân mãn là một trạng thái thống kê theo đó số lượng của một sinh vật vượt quá khả năng chống đỡ của môi trường sống của nó. Theo cách nói thông thường, thuật ngữ thường chỉ mối quan hệ giữa số lượng con ngườimôi trường, Trái Đất.
Quá tải dân số không chỉ phụ thuộc ở kích cỡ hay mật độ dân số, mà vào tỷ lệ của dân số với các nguồn tài nguyên có thể duy trì, vào các biện pháp sử dụng tài nguyên và sự phân bố do số lượng dân đó sử dụng. Nếu cho một môi trường có 10 người, nhưng chỉ có đủ nước và thức ăn cho 9, khi ấy trong một hệ kín nơi không có quan hệ thương mại, môi trường đó là quá tải dân số; nếu dân số là 100 nhưng có đủ thức ăn, chỗ ở và nước cho 200 người cho tương lai không giới hạn, thì khi đó không phải là quá tải dân số. Quá tải dân số có thể xuất hiện từ sự gia tăng sinh sản, một sự suy giảm tỷ lệ tửphát triển y tế, từ sự gia tăng nhập cư, hay từ một quần xã sinh vật không thể duy trì và sự cạn kiệt tài nguyên. Các khu vực dân cư rất rải rác cũng có thể gặp nạn nhân mãn, khi khu vực đó có thể có khả năng thấp hay không có khả năng duy trì cuộc sống loài người (ví dụ vùng trung tâm Sa mạc Sahara hay Nam Cực).
Các nguồn tài nguyên được xem xét khi đánh giá liệu một hệ sinh thái có là quá tải dân số hay không gồm nước sạch, không khí, thức ăn, nơi ở, trạng thái ấm và các nguồn tài nguyên khác cần thiết để duy trì sự sống. Nếu chất lượng cuộc sống con người được xem xét, có thể cân nhắc cả những nguồn tài nguyên khác như chăm sóc y tế, giáo dục, xử lý nước thảirác thải thích hợp. Các địa điểm quá tải dân số gây áp lực trên các nguồn tài nguyên duy trì sự sống, dẫn tới sự giảm sút chất lượng cuộc sống 
Steve Jones, lãnh đạo khoa sinh vật học tại Đại học London, đã nói, "Con người đang đông gấp 10.000 lần theo con số đáng nhẽ phải có, theo các quy luật của vương quốc sinh vật, và may mắn là chúng ta có nông nghiệp. Không có nông nghiệp, dân số thế giới có lẽ hiện chỉ chưa tới nửa triệu người." 
Một số quốc gia đã tìm cách làm gia tăng khả năng chống đỡ của mình bằng cách sử dụng các kỹ thuật như nông nghiệp, khử muối, và hạt nhân hiện đại.

Tăng trưởng dân số

Lịch sử

Dữ liệu từ bài 'Dân số thế giới'
Dữ liệu từ bài 'Dân số thế giới'
Để thể hiện rõ hơn chủ đề quá tải dân số, có thể là có ích khi xem xét dân số thế giới hiện nay trong bối cảnh dân số loài người từ buổi đầu văn minh tới hiện tại. Văn minh bắt đầu từ khoảng 10,000 năm trước, trùng với:
  • sự rút lui cuối cùng của băng hà sau sự kết thúc của giai đoạn băng hà gần nhất
  • sự khởi đầu của "Cách mạng Đồ đá mới" khi có một sự thay đổi trong hoạt động của con người từ "săn bắn hái lượm" về phía hoạt động nông nghiệp ban sơ.
  • buổi đầu nông nghiệp, khoảng năm 8,000 trước Công Nguyên, dân số thế giới xấp xỉ 5 triệu người 
  • Sự thay đổi nhỏ về dân số trong hàng nghìn năm chấm dứt vào khoảng năm 1,000 trước Công Nguyên.
  • Tăng trưởng vững chắc bắt đầu vào khoảng năm 1,000 trước công nguyên sau đó là ổn định (hay có thể tăng đỉnh) khoảng năm 0., với 200 tới 300 triệu người.
  • Khuynh hướng cho 800 - 900 năm tiếp theo từ khoảng năm 800 sau Công Nguyên trở về sau là tăng chậm nhưng ổn định, dù có sự ngắt quãng bởi các bệnh dịch (đáng kể nhất là Tử thần Đen ở thế kỷ 14).
  • Tăng trưởng nhanh hơn từ khởi đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp khoảng năm 1700. Ước tính khoảng 1 người năm 1804.
  • Hơn 6.7 tỷ] Dân số thế giới tăng gấp 3 lần vào năm 2009 so với xấp xỉ 2.3 tỷ hay ít hơn năm 1939, dù có thiệt hại nhân mạng trong Thế chiến II (một ước tính ở mức cao khoảng 72 triệu người).
  • Tăng mạnh từ khoảng năm 1950 trùng với sự tăng vọt trong sản xuất thực phẩm nhờ việc công nghiệp hoá nông nghiệp (được gọi là cuộc Cách mạng Xanh). Dự báo dân số tiếp tục tăng đến 8.9 tỷ người, 9.2 billion, hay 9.5 tỷ hay thậm chí 11 tỷ năm 2050.
Rõ ràng, các biểu đồ trên cho thấy một sự phát triển nghiêng âm bất thường. Trong trường hợp này nó có nghĩa sau nhiều nghìn năm ít thay đổi về dân số, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đã có một giai đoạn tăng dân số nhanh liên tục ở mức độ đặc biệt cao và chưa từng có.

Dự đoán cho năm 2050

Các báo cáo của Liên hiệp quốc, như World Population Prospects viết:
  • Dân số thế giới hiện tăng xấp xỉ 74 triệu người mỗi năm. Nếu tỷ suất sinh hiện nay tiếp diễn, năm 2050 tổng dân số thế giới sẽ là 11 tỷ người, với 169 triệu người tăng thêm mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ suất sinh đã giảm trong nhiều thập kỷ, và các con số cập nhật của Liên hiệp quốc dự đoán dân số thế giới sẽ đạt 9.2 tỷ người khoảng năm 2050.  Đây là con số trung bình với giả thiết mức giảm tỷ suất sinh từ 2.5 xuống còn 2.
  • Hầu như tất cả số tăng đều diễn ra tại các vùng kém phát triển, con số 5.3 tỷ người hiện đang sống tại các nước kém phát triển sẽ tăng thành 7.8 tỷ năm 2050. Trái lại, dân số tại những vùng phát triển hơn hầu như sẽ không thay đổi, ở mức 1.2 tỷ. Dân số thế giới dự đoán sẽ tăng 40% lên 9.1 tỷ người. Ngoại trừ dân số Mỹ dự đoán sẽ tăng 44% từ 305 triệu năm 2008 lên 439 năm 2050.
  • Giai đoạn 2000-2005, tỷ suất sinh trung bình của thế giới là 2.65 trẻ em trên mỗi phụ nữ, khoảng bằng nửa mức giai đoạn 1950-1955 (5 trẻ em trên mỗi phụ nữ). Ở mức trung bình, tỷ suất sinh của thế giới dự đoán sẽ giảm hơn nữa xuống 2.05 trẻ em trên mỗi phụ nữ.
  • Trong giai đoạn 2005-2050, chín quốc gia dự đoán sẽ chiếm một nửa số tăng dân số thế giới: Ấn Độ, Pakistan, Nigeria, Cộng hoà Dân chủ Congo, Bangladesh, Uganda, Hoa Kỳ, Ethiopia, và Trung Quốc, được liệt kê theo mức độ đóng góp vào tăng trưởng dân số.
  • Tuổi thọ khi sinh toàn cầu, được ước tính đã tăng từ 46 giai đoạn 1950-1955 tới 65 giai đoạn 2000-2005, và sẽ tiếp tục tăng để đạt 75 tuổi giai đoạn 2045-2050. Tại các vùng phát triển hơn, dự đoán mức tăng từ 75 tuổi hiện nay lên 82 tuổi ở giữa thế kỷ. Với các quốc gia kém phát triển, nơi tuổi thọ hiện tại chỉ dưới 50, tuổi thọ dự báo sẽ tăng lên 66 tuổi trong giai đoạn 2045-2050.
  • Dân số của 51 quốc gia hay khu vực, gồm Đức, Italia, Nhật Bản và hầu hết các quốc gia kế tục của Liên xô cũ, dự đoán vào năm 2050 sẽ thấp hơn mức năm 2005.
  • Trong giai đoạn 2005-2050, con số người di cư thực trên thế giới tới các vùng phát triển hơn dự đoán là 98 triệu người. Vì mức tử dự đoán sẽ cao hơn mức sinh tại các vùng phát triển ở mức 73 triệu người trong giai đoạn 2005-2050, gia tăng dân số tại các vùng này sẽ chủ yếu bởi di cư.
  • Năm 2000-2005, con số nhập cư thực tại 28 quốc gia hoặc đã giúp ngăn chặn suy giảm dân số hoặc ít nhất đã giúp tăng dân số tự nhiên (sinh trừ tử). Các quốc gia này gồm, Áo, Canada, Croatia, Đan Mạch, Đức, Italia, Bồ Đào Nha, Qatar, Singapore, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất và Anh Quốc.
  • Các tỷ lệ sinh hiện đang giảm ở mức độ thấp tại các nước đang phát triển, trong khi dân số thực tại nhiều nước phát triển sẽ giảm nếu không có nhập cư 
  • Tới năm 2050 (số trung bình), Ấn Độ sẽ có 1.7 tỷ người, Trung Quốc 1.4 tỷ, Hoa Kỳ 400 triệu, Indonesia 297 triệu, Pakistan 292 triệu, Nigeria 289 triệu, Bangladesh 254 triệu, Brasil 254 triệu, Cộng hoà Dân chủ Congo 187 triệu, Ethiopia 183 triệu, Philippines 141 triệu, Mexico 132 triệu, Ai Cập 121 triệu, Vietnam 120 triệu, Nga 108 triệu, Nhật Bản 103 triệu, Iran 100 triệu, Thổ Nhĩ Kỳ 99 triệu, Uganda 93 triệu, Tanzania 85 triệu, và Kenya 85 triệu.
2050
  • Châu Phi - 1.9 tỷ
  • Châu Á - 5.2 tỷ
  • Châu Âu - 664 triệu
  • Mỹ La tinh & Caribbean - 769 triệu
  • Bắc Mỹ - 445 triệu

Di chuyển nhân khẩu


Các dự báo dân số thế giới của Liên hiệp quốc theo địa điểm.
Lý thuyết chuyển đổi dân số, tuy chưa được chứng minh để áp dụng cho tất cả các vùng trên thế giới, cho rằng, khi tiêu chuẩn sốngtuổi thọ tăng, kích thước gia đìnhtỷ suất sinh giảm. Các yếu tố được chỉ ra gồm các yếu tố xã hội như tuổi kết hôn, sự gia tăng mong ước của nhiều phụ nữ về nghề nghiệp bên ngoài việc nuôi dạy con và công việc gia đình, và sự giảm nhu cầu trẻ em trong môi trường công nghiệp hoá. Yếu tố sau cùng này xuất phát từ thực tế rằng trẻ em đảm đương khá nhiều công việc trong các xã hội nông nghiệp ở tầm mức nhỏ, và làm việc ít hơn trong những xã hội công nghiệp; điều này đã được nêu ra để giải thích sự sụt giảm tỷ suất sinh tại các vùng công nghiệp.
Một phiên bản khác của chuyển đổi dân số là của Virginia Abernethy trong Chính trị dân số, khi bà cho rằng chuyển đổi dân số diễn ra chủ yếu tại các quốc gia nơi phụ nữ có một vị trí đặc biệt (xem Lý thuyết cơ hội sinh sản). Tại các quốc gia theo phụ hệ mạnh, nơi bà cho rằng phụ nữ ít có các quyền đặc biệt, tiêu chuẩn sống cao thường đi cùng tăng trưởng dân số.
Nhiều quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nhưng có tỷ suất sinh thấp bởi sự tăng trưởng dân số cao trong quá khứ khiến tuổi nhân khẩu thường thấp, vì thế dân số vẫn tăng khi thế hệ trẻ đến tuổi sinh sản 
"Bẫy nhân khẩu" là một ý tưởng do Maurice King đề xuất, ông cho rằng hiện tượng này xảy ra khi một quốc gia có dân số lớn hơn khả năng chống đỡ của nó, không có khả năng di cư, và xuất khẩu quá ít để có thể nhập khẩu lương thực. Điều này sẽ gây ra nạn đói. Ông lấy ví dụ nhiều quốc gia hạ Sahara nơi đang ở trong hoặc sẽ rơi vào bẫy nhân khẩu, thay vì có một sự chuyển đổi dân số.
Với toàn thế giới, số lượng trẻ em được sinh ra trên mỗi phụ nữ đã giảm từ 5.02 xuống 2.65 trong giai đoạn 1950 và 2005. Bảng chi tiết theo lục địa như sau:
Năm 2050, con số trẻ em dự đoán sẽ được sinh ra trên mỗi phụ nữ là 2.05. Chỉ Trung Đông & Bắc Phi (2.09) và Châu Phi hạ Sahara (2.61) khi ấy sẽ có mức sinh lớn hơn 2.05.

Khả năng chống đỡ

Các ước tính khoa học về khả năng chống đỡ của Trái Đất trong khoảng một tới hai tỷ người, tuỳ theo các giá trị được sử dụng khi tính toán 
Trong một nghiên cứu với tiêu đề Thực phẩm, Đất đai, Dân số và Kinh tế Hoa Kỳ, David Pimentel, giáo sư sinh thái và nông nghiệp tại Đại học Cornell, và Mario Giampietro, nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện nghiên cứu Quốc gia về Thực phẩm và Dinh dưỡng Hoa Kỳ (INRAN), ước tính con số tối đa của dân số Hoa Kỳ cho một nền kinh tế bền vững ở mức 200 triệu người. Để có được một nền kinh tế bền vững và tránh thảm hoạ, Hoa Kỳ ít nhất phải giảm một phần ba dân số, và dân số thế giới sẽ phải giảm đi hai phần ba, theo nghiên cứu này.
Steve Jones, lãnh đạo khoa sinh vật học tại Đại học London, đã nói, "Con người đông gấp 10,000 lần con số đáng ra phải có, theo các quy luật của vương quốc sinh vật, và chúng ta phải cảm ơn vì có nông nghiệp. Không có nông nghiệp, dân số thế giới có thể chỉ đạt mức nửa triệu ở thời điểm hiện tại." 
Một số nhóm (ví dụ, Quỹ Thiên nhiên Hoang dã Thế giới Global Footprint Network ) đã cho rằng khả năng chống đỡ cho dân số loài người đã bị vượt quá khi được tính theo ecological footprint. Năm 2006, báo cáo "Living Planet" của WWF cho rằng để toàn bộ con người được sống sung túc (theo các tiêu chuẩn Châu Âu), chúng ta phải sử dụng ba lần nhiều hơn con số Trái Đất có thể cung cấp.
Nhưng sự chỉ trích đặt nghi vấn về sự đơn giản và các phương pháp thống kê được sử dụng khi tính toán ecological footprints. Một số người chỉ ra rằng một phương pháp chính sách hơn để ước tính ecological footprint là để định rõ sự bền vững trước các yếu tố không bền vững của tiêu thụ. 

Các nguồn tài nguyên

David Pimentel, Giáo sư danh sự tại Đại học Cornell, đã nói rằng "với sự phát triển không cân xứng giữa dân số và các nguồn tài nguyên tối cần thiết cho sự sống, con người cần phải bảo vệ đất canh tác, nguồn nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên sinh thái. Cần thiết phải phát triển các nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo. Con người ở bất kỳ đâu phải hiểu rằng tăng trưởng dân số nhanh chóng đe doạ các nguồn tài nguyên của Trái Đất và làm suy giảm chất lượng cuộc sống." 
Những điều này cũng được phản ánh trong tài liệu của hội Nghiên cứu Địa chất Hoa Kỳ Tương lai hành tinh Trái Đất: Các thách thức khoa học trong các thế kỷ tới. "Khi dân số thế giới tiếp tục tăng...con người ngày càng có nhu cầu nhiều hơn với các nguồn tài nguyên của hành tinh chúng ta, gồm khoáng chấtcác nguồn năng lượng, không gian mở, nước, và các nguồn tài nguyên động thực vật." "Sự giàu có về thiên nhiên của Trái Đất: một bản kiểm toán" của tạp chí New Scientist nói rằng nhiều khoáng chất mà chúng ta sử dụng cho nhiều sản phẩm hiện đang gặp nguy hiểm hay sẽ cạn kiệt trong tương lai gần. "[no close quote follows.] Một số nhà địa chất trên thế giới đã tính toán chi phí cho các công nghệ mới về các khoáng chất họ sử dụng và việc áp dụng chúng cho khu vực kém phát triển. Tất cả đều đồng ý rằng dân số bùng nổ của thế giới và tiêu chuẩn sống gia tăng đang đặt ra những nhu cầu chưa từng có trên các khoáng chất mà Trái Đất có thể đáp ứng. Các giới hạn về khả năng khai thác các khoáng chất có thể có nghĩa rằng kỹ thuật cũng không có giá trị gì ở thời hạn dài.... "Các mỏ kim loại còn chưa được khai thác dường như không đủ để duy trì chất lượng cuộc sống của 'thế giới phát triển' hiện đại cho mọi công dân Trái Đất theo kỹ thuật hiện nay" 
Mặt khác, một số tác gia, như Julian SimonBjorn Lomborg tin rằng các nguồn tài nguyên tồn tại dù cho dân số có tăng trưởng nữa. Tuy nhiên, những lời chỉ trích đã xuất hiện, điều này sẽ có một giá đắt cho Trái Đất: "những người tin vào kỹ thuật có lẽ đúng khi cho rằng tổng sản xuất lương thực thế giới sẽ tăng ổn định trong vài thập kỷ nữa...[tuy nhiên] cái giá về môi trường của cái mà Paul R. và Anne H. Ehrlich miêu tả như việc 'biến Trái Đất thành một nơi cung cấp lương thực vĩ đại cho loài người có thể rất khó khăn. Một sự mở rộng mạnh của nông nghiệp để cung cấp đủ lương thực cho dân số gia tăng của thế giới có lẽ sẽ dẫn tới sự phá rừng, tuyệt chủng các giống loài, xói mòn đất, và ô nhiễm hơn nữa từ các loại thuốc trừ sâu, phân bón khi nông nghiệp mở rộng và những vùng đất mới được đưa vào sản xuất." Bởi chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào các hệ thống sinh vật trên Trái Đất  các nhà khoa học đã đặt câu hỏi về ý định mở rộng thêm nữa.
Theo Đánh giá các Hệ sinh thái Thiên niên kỷ, một nỗ lực nghiên cứu trong bốn năm của 1,360 nhà khoa học hàng đầu của thế giới nhằm tính toán giá trị hiện tại của các nguồn tài nguyên dành cho con người của thế giới, "Cơ cấu các hệ sinh thái thế giới đã thay đổi nhanh hơn trong nửa sau thế kỷ hai mươi hơn bất kỳ một thời điểm nào từng được ghi lại trong lịch sử loài người, và rõ ràng mọi hệ sinh thái Trái Đất hiện đã bị biến đổi mạnh bởi các hoạt động của con người."  "Các hoạt động của hệ sinh thái, đặc biệt là cung cấp thực phẩm, gỗ và cá, là rất quan trọng trong hoạt động kinh tế và việc làm của con người. Việc sử dụng quá mức các hệ sinh thái thường tạo ra ưu điểm trong ngắn hạn, nhưng việc sử dụng quá mức và không bền vững có thể dẫn tới những thiệt hại trong dài hạn. Một quốc gia có thể đốn rừng và tận diệt nguồn thuỷ sản, và điều này sẽ dẫn tới tăng GDP, dù có sự mất mát về tài sản. Nếu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái được tính đến trong việc hoạch định chính sách, sự tàn phá đối với chúng sẽ giảm đi rất nhiều hay thậm chí được đảo ngược."  The MA blames habitat loss and fragmentation for the continuing disappearance of species.
Một nghiên cứu khác của Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) gọi là Global Environment Outlook  với sự tham gia của 1,400 nhà khoa học và 5 năm chuẩn bị cũng đi đến những kết luận tương tự. Nếu "thấy rằng sự tiêu thụ của con người đã vượt quá các nguồn tài nguyên có thể sử dụng. Mỗi con người trên Trái Đất hiện cần diện tích đất rộng gấp ba lần diện tích Trái Đất có thể cung cấp để có đủ cho nhu cầu của mình. "Nghiên cứu chê trách sự thất bại để "đáp ứng hay nhận biết mức độ các nguy cơ mà con người và môi trường của hành tinh đang phải đối mặt... 'Sự tàn phá có hệ thống các nguồn tài nguyên tự nhiên và dựa trên tự nhiên của Trái Đất đã đạt tới mức khả năng tồn tại kinh tế của các nền kinh tế bị đe doạ - và vấn đề này sẽ được trao lại cho con cháu chúng ta với khả năng chúng không thể giải quyết'... Các tác giả bản báo cáo nói rằng mục tiêu của nó là 'không phải đưa ra môtj viễn cảnh tối tăm và ảm đạm, mà để đưa ra một lời kêu gọi khẩn thiết cho hành động'. Nó cảnh bảo rằng việc bàn bạc các vấn đề có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhóm kinh tế mạnh, và rằng môi trường phải là vấn đề quan trọng nhất trong việc quyết định chính sách... ' 
Ngoài ra, các vấn đề khác liên quan tới chất lượng cuộc sông - liệu đa số người muốn sống trong một thế giới với hàng tỷ người thêm nữa - và quyền căn bản của các giống loài khác là được tồn tại trong các môi trường của chúng cũng cần được tính đến.
Dù mọi nguồn tài nguyên, cả khoáng chất hay khác, là có giới hạn trên hành tinh của chúng ta, có một mức độ tự sửa chữa khi một sự khan hiếm hay nhu cầu cao với một loại riêng biệt nào đó xảy ra. Ví dụ năm 1990 nguồn dự trữ được biết của nhiều tài nguyên thiên nhiên ở mức cao hơn, và giá của chúng thấp hơn, ở năm 1970, dù có nhu cầu và mức tiêu thụ lớn hơn. Khi một cơn biến động giá diễn ra thị trường thường tự sửa chữa nó hoặc bằng cách thay thế bằng một nguồn tài nguyên tương tự hoặc thay đổi bằng một công nghệ mới 

Nước sạch

Các nguồn cung nước sạch, tối quan trọng cho nông nghiệp, đang giảm đi trên toàn thế giới.  Cuộc khủng hoảng nước này hiện đang được dự báo sẽ trầm trọng thêm khi dân số tăng lên. Lester R. Brown thuộc Viện Chính sách Thế giới cho rằng sự giảm sút các nguồn nước sạch sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho nông nghiệp trong tương lai. 
Có thể lấy nước sạch từ nước biển bằng cách khử muối. Ví dụ, Malta lấy hai phần ba nước sạch cho nhu cầu của mình bằng khử muối. Một số nhà máy khử mối bằng năng lượng hạt nhân đã được xây dựng,  và một số người cho rằng có đủ nhiên liệu hạt nhân cho hàng tỷ năm nữa.  Nhưng chi phí cao của quá trình khử muối, đặc biệt với các nước kém phst triển, khiến việc chuyển lượng lớn nước biển đã khử muối vào trong nội địa trở nên bất khả thi với các nước lớn. Tuy nhiên, khi khử muối cho 1,000 gallons nước có thể mất $3, dung tích nước đóng chai tương tự có giá đến $7,945.
Một nghiên cứu tìm ra rằng "cần phải đưa nước lên cao 2000 m, hay vận chuyển nó hơn 1600 km để có chi phí vận chuyển tương tự như việc khử muối. Nước đã khử muối rất đắt tại những nơi vừa xa biển vừa ở trên cao, như Riyadh và Harare. Tại những nơi khác, chi phí chủ yếu là việc khử muối chứ không phải vận chuyển. Điều này giúp giảm chi phí như tại các thành phố Bắc Kinh, Bangkok, Zaragoza, Phoenix, và, tất nhiên, các thành phố ven biển như Tripoli." Vì thế tuy nghiên cứu nói chung là khả quan về công nghệ và các địa điểm thích hợp ở gần biển, nó kết luận rằng "Nước khử muối có thể là giải pháp cho một số vùng theo nước, nhưng không phải cho các địa điểm nghèo, nằm sâu trong lục địa, hay ở độ cao lớn. Không may thay, trong số này lại có những nơi đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng nhất." 
Israel hiện đang khử muối cho nước với chi phí 53 cent mỗi mét khối ] Singapore với giá 49 cent trên mét khối.  Tại Hoa Kỳ, chi phí là 81 cent trên mét khối ($3.06 cho 1,000 gallons).
Một vấn đề khác của việc khử muối là "sản phẩm phụ độc hại của nước mặn là một nguyên nhân chính gây ô nhiễm biển khi bị bơm trở lại vào đại dương ở nhiệt độ cao."
Nhà máy khử muối lớn nhất thế giới nằm tại là Nhà máy Khử muối Jebel Ali (Giai đoạn 2) tại Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, có thể sản xuất 300 triệu mét khối nước mỗi năm,  hay khoảng 2500 gallon mỗi giây. Nhà máy khử mối lớn nhất Hoa Kỳ nằm tại Vịnh Tampa, Florida, bắt đầu khử muối 25 triệu gallons (95000 m³) nước mỗi ngày từ tháng 12 năm 2007. Một bài báo ngày17 tháng 1 năm 2008 trên tờ Wall Street Journal nói rằng, "Trên thế giới, 13,080 nhà máy khử muối sản xuất ra hơn 12 tỷ gallon nước mỗi ngày, theo Hiệp hội Khử muối Quốc tế."  Sau khi được khử muối tại Jubail, Ả Rập Saudi, nước được bơm 200 dặm vào trong đất liền thông qua đường ống tới thủ đô Riyadh. 

Lương thực

Một số người cho rằng có đủ lương thực để cung cấp cho dân số thế giới,  nhưng những người khác lại tranh cãi về điều này, đặc biệt nếu tính tới sự phát triển bền vững 
Hiện hơn 100 quốc gia phải nhập khẩu bột mì và 40 nước nhập khẩu gạo. Ai CậpIran phải nhập khẩu 40% nhu cầu ngũ cốc của mình. Algérie, Nhật Bản, Hàn QuốcĐài Loan nhập khẩu 70% hay hơn nữa. YemenIsrael nhập khẩu hơn 90%. Và chỉ 6 nước - Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Australia, ArgentinaThái Lan - cung cấp 90% lượng ngũ cốc xuất khẩu. Riêng Hoa Kỳ cung cấp hầu như một nửa lượng xuất khẩu ngũ cốc của thế giới. 
Một báo cáo năm 2001 của Liên hiệp quốc nói rằng tăng trưởng dân số là "lực đẩy chính điều khiển sự gia tăng nhu cầu nông nghiệp" nhưng "đa số các đánh giá gần đây của chuyên gia đều lạc quan một cách thận trọng về khả năng sản xuất lương thực tế giới để đáp ứng nhu cầu trong một tương lai có thể đoán trước (có nghĩa rằng, cho tới khoảng năm 2030 hay 2050)", với các tỷ lệ sinh đang giảm. 

Triển vọng toàn cầu


Tăng sản xuất lương thực đã lớn hơn tăng dân số. Thực phẩm trên người đã tăng trong giai đoạn 1961-2005.
Số lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong hoàn cảnh này không cần thiết phải ấn định, và sự phân bố của chúng cũng không cần phải là một zero-sum game. Ví dụ, nhờ cuộc Cách mạng xanh và thực tế rằng ngày càng có nhiều đất được chuyển từ đất hoang sang đất canh tác, sản xuất lương thực trên toàn thế giới đã tăng vững chắc cho tới tận năm 1995. Sản xuất lương thực thế giới trên đầu người năm 2005 cao hơn năm 1961.
Khi dân số thế giới tăng gấp đôi từ 3 tỷ lên 6 tỷ, tiêu thụ calorie hàng ngày ở các nước nghèo đã tăng từ 1,932 lên 2,650, và phần trăm số người suy dinh dưỡng tại các quốc gia đó đã giảm từ 45% xuống còn 18%. Điều này có nghĩa rằng sự nghèo đói ở Thế giới thứ Ba gây ra bởi sự kém phát triển, không phải sự quá tải dân số.  Tuy nhiên, những người khác đã tỏ ra nghi ngờ những con số thống kê này.
Số người quá cân đã vượt quá số người suy dinh dưỡng. Trong một bản tin năm 2006, MSNBC thông báo, "Ước tính có 800 triệu người suy dinh dưỡng và hơn một tỷ người bị coi là thừa cân trên thế giới." 
Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc đã nói trong bản báo cáo của mình Tình trạng An ninh Lương thực trên Thế giới năm 2006, rằng tuy số người suy dinh dưỡng tại các nước đang phát triển đã giảm khoảng 3 triệu người, một tỷ lệ dân số nhỏ hơn tại các nước đang phát triển hiện nay bị suy dinh dưỡng so với thời kỳ 1990–92: 17% so với 20%. Hơn nữa, dự đoán của FAO cho rằng tỷ lệ người đói tại các nước đang phát triển sẽ giảm một nửa từ mức năm 1990-92 còn 10% năm 2015. FAO cũng cho rằng "Chúng ta phải nhấn mạnh đầu tiên và trước hết rằng giảm nạn đói không phải là một vấn đề về phương tiện trong tay cộng đồng quốc tế. Thế giới hiện giàu hơn so với nó mười năm trước. Có nhiều thực phẩm hơn và vẫn có nhiều lương thực được sản xuất ra mà không gặp áp lực về giá. Tri thức và các nguồn tài nguyên để giảm nạn đói vẫn có. Điều còn thiếu là mong muốn chính trị thực sự để tập trung các nguồn tài nguyên giải quyết vấn đề." [5]PDF
Ở thời điểm năm 2008, giá ngũ cốc đã tăng vì nhiều khu vực đất nông nghiệp bị sử dụng sản xuất nhiên liệu sinh học, giá dầu mỏ ở mức $100 mỗi barrel,  tăng trưởng dân số thế giới,  thay đổi khí hậu, sự mất mát đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và làm nhà ở,  và sự tăng nhu cầu tiêu thụ ở Trung QuốcẤn Độ Các cuộc bạo loạn vì lương thựcgần đây đã diễn ra ở nhiều nước trên khắp thế giới. Một bệnh dịch xuất hiện trên lúa mì do giống Ug99 hiện đang lan tràn khắp Châu Phi và vào Châu Á gây ra mối lo ngại lớn. Một bệnh dịch gây hại rất lớn trên cây lúa mì có thể tiêu diệt hầu hết thu hoạch của loại ngũ cốc chính của thế giới, khiến hàng triệu người chết đói. Loài nấm này đã lây từ Châu Phi tới Iran, và có lẽ đã xuất hiện ở AfghanistanPakistan 

Châu Phi

Tại Châu Phi, nếu các xu hướng xói mòn đất và tăng dân số hiện tại tiếp tục, lục địa này có thể chỉ cung ứng được 25% nhu cầu lương thực cho người dân của nó vào năm 2025, theo Viện các nguồn Tài nguyên Thiên nhiên có trụ sở ở Ghana của UNU 
Nạn đóisuy dinh dưỡng gây cái chết của gần 6 triệu trẻ em mỗi năm, và trong thập kỷ này con số người suy dinh dưỡng ở Châu Phi hạ Sahara cao hơn hồi thập niên 1990, theo một báo cáo do Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc đưa ra. Tại Châu Phi hạ Sahara, số người suy dinh dưỡng đã tăng từ 203.5 triệu năm 2000-02 từ 170.4 triệu 10 năm trước, báo cáo Tình trạng An ninh Lương thực trên Thế giới cho biết.
Theo BBC, nạn đói ở Zimbabwe có nguyên nhân vì chính phủ nắm đất canh tác.  Tuy nhiên, hạn hán cũng đóng một vai trò lớn. Hạn hán tại miền Nam Châu Phi hiện đe doạ 13 triệu người với nạn đói, 6 triệu người trong số đó sống tại Zimbabwe. Sự thiếu hụt lương thực hiện nay được dự báo sẽ còn nghiêm trọng hơn.  Trước sự phối hợp của nạn hạn hán và chiếm đoạt đất canh tác, Zimbabwe xuất khẩu rất nhiều lương thực tới mức nước này đã được gọi là "giỏ bánh mì của miền Nam Châu Phi", nên các nước khác cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng chiếm đoạt đất đai.  Những người nghiên cứu nạn đói ở Zimbabwea cho rằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có dư hơn nhu cầu nuôi sống người dân. Một số người cho rằng các con đập và con sông ở Zimbabwe đầy nước, và rằng nạn đói không liên quan tới hạn hán.  Mặc dù chắc chắn rằng quản lý kém đã làm trầm trọng hơn tình trạng đói kém, bài báo ghi chú rằng "Bốn tuần không mưa trong giai đoạn nảy mầm tối quan trọng đã dấn tới tình trạng mất mùa [của những người nông dân]. Sẽ không có vụ mùa nào khác cho tới tận tháng 6 sau."
Trước khi Tổng thống Robert Mugabe chiếm đoạt đất canh tác ở Zimbabwe, các nông dân đã sử dụng hệ thống thuỷ lợi để đối phó với hạn hán, nhưng khi đã bị lấy mất đất đai, đa số các thiết bị thuỷ lợi đã bị cướp phá và huỷ hoại. Một bài báo năm 2006 của BBC về việc chiếm đoạt đất đai nói rằng, "Những người chỉ trích nói các cuộc cải cách đã tàn phá nền kinh tế và dẫn tới nạn đói trên diện rộng. Đa số những người da trắng sở hữu đất đai trước kia không còn sản xuất ra lương thực nữa - hoặc bởi những người được nhận đất không có kinh nghiệm canh tác hoặc họ thiếu vốn hay công cụ. Nhiều nông trang đã bị phá hoại khi những người ủng hộ chính phủ tràn vào."
So với mật độ dân số 33 người trên kilômét vuông của Zimbabwe, Israel có 302 người trên kilômét vuông  Dù Israel là một quốc gia sa mạc với hạn hán thường xuyên và mật độ dân số rất cao, nước này không gặp nạn đói. Một lý do có thể của điều này là bởi chính phủ khuyến khích nông dân sử dụng nông nghiệp và thuỷ lợi hiện đại để gia tăng sản lượng thu hoạch Một lý do có thể khác là Israel là một nước nhập khẩu lương thực Cũng cần lưu ý rằng sản lượng cao của nông nghiệp hiện đại phụ thuộc vào việc sử dụng bền vững nhiên liệu hoá thạch để sản xuất ra phân bónthuốc trừ sâu và để sử dụng máy móc nông nghiệp.

Châu Á

Tại Trung Quốc, chỉ 8% trẻ em thiếu cân  Theo một bài báo năm 2004 của BBC, Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới, đang gặp phải tình trạng béo phì Những dữ liệu gần đây hơn cho thấy sản lượng ngũ cốc của Trung Quốc tăng đỉnh điểm hồi giữa thập niên 1990, nhờ việc khoan nước ngầm tại đồng bằng Bắc Trung Quốc.
Gần một nửa trẻ em Ấn Độ bị suy dinh dưỡng, theo dữ liệu gần đây của chính phủ Nhật Bản có thể cũng gặp phải khủng hoảng lương thực làm giảm chất lượng bữa ăn xuống ngang mức thập niên 1950, một cố vấn cao cấp của chính phủ nước này cho biết. 

Châu Mỹ

Theo một bài báo năm 2007 của BBC, các nhà khoa học tại Đại học Columbia đã đưa ra giả thiết rằng trong tương lai, các thành phố có mật độ dân đông đúc như Mexico City, Los Angeles, và New York City, là những thành phố lớn nhất ở Bắc Mỹ, có thể sử dụng canh tác theo chiều dọc để trồng cây lương thực trên các toà nhà chọc trời 30 tầng 

Dân số như một chức năng của khả năng tiếp cận lương thực

Các nhà tư tưởng như David Pimentel  một giáo sư từ Đại học Cornell, Virginia Abernethy, Alan Thornhill  Russell Hopffenberg và tác gia Daniel Quinn  đưa ra giả thiết rằng, như mọi loài động vật khác, dân số loài người dự đoán sẽ tăng và giảm theo khả năng cung cấp lương thực của mình - dân số tăng khi có nhiều lương thực, và giảm khi thiếu thốn.
Các đề xuất của lý thuyết này cho rằng mọi thời điểm sản xuất lương thực gia tăng, dân số gia tăng. Dân số loài người trong suốt lịch sử ủng hộ lý thuyết này. Dân số thời săn bắn hái lượm tăng giảm theo số lượng lương thực có được. Dân số gia tăng sau cuộc Cách mạng Thời kỳ Đồ đá mới đi liền với sự gia tăng lương thực. Tiếp đó là sự gia tăng dân số sau các cuộc cách mạng nông nghiệp.
Những người chỉ trích ý tưởng này chỉ ra rằng các tỷ lệ sinh đang ở mức thấp nhất tại các nước phát triển, cũng là những nơi có mức độ tiếp cận lương thực lớn nhất. Trên thực tế, một số nước phát triển vừa có dân số giảm vừa có nguồn cung lương thực dồi dào. Liên hiệp quốc dự đoán các quốc gia thuộc Liên xô cũ, sẽ có số dân năm 2050 thấp hơn năm 2005.  Điều này cho thấy khi một người giới hạn tầm quan sát của mình vào một dân số sống trong một biên giới chính trị cho trước, dân số con người không phải luôn tăng cùng với khả năng cung cấp lương thực. Ngoài ra, nhiều quốc gia đó còn là nước xuất khẩu lương thực lớn.
Tuy nhiên, trên bình diện toàn cầu dân số thế giới đang gia tăng  và lượng lương thực loài người sản xuất ra cũng tăng - một mô hình đã từng đúng trong gần 10,000 năm, bởi con người phát triển lương thực. Một số quốc gia cho thấy suy giảm dân số không không ảnh hưởng tới lý thuyết. Lương thực di chuyển xuyên biên giới từ vùng nhiều tới vùng ít. Ngoài ra, lý thuyết này không đơn giản tới mức đưa ra dự đoán dựa trên một cuộc nghiên cứu riêng biệt, như các xu hướng dân số hiện nay của Đức - và tính đến các yếu tố khác: tiếp cận dịch vụ tránh thai, các tiêu chuẩn văn hoá và quan trọng nhất là thực tế kinh tế khác biệt từ quốc gia này sp vpứo quốc gia khác.

Hậu quả cuộc khủng hoảng nước

Khủng hoảng nước, vốn đang buộc nhiều nước nhỏ phải gia tăng nhập khẩu ngũ cốc, cũng có thể nhanh chóng khiến các nước lớn như Trung Quốc hay Ấn Độ phải làm như vậy.  Lượng nước dang suy giảm tại các nước được nghiên cứu (gồm miền Bắc Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ) và tình trạng sử dụng quá mức sẽ ảnh hưởng tới sản lượng thu hoạch. Các nước khác cũng bị ảnh hưởng gồm Pakistan, Iran, và Mexico. Việc sử dụng quá mức đã dẫn tới sự khan hiếm nước và sụt giảm năng suất. Thậm chí cả khi sử dụng nước ngầm, Trung Quốc vẫn đang thiếu hụt lương thực. Hậu quả này góp phần vào việc đẩy giá lương thực lên cao. Dự đoán 3 tỷ người trên toàn thế giới vào giữa thế kỷ này sẽ sinh ra tại những quốc gia đang ở trong tình trạng khan hiếm nước. Một giải pháp được đề xuất để giảm tăng trưởng dân số là đầu tư mạnh vào giáo dục và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình cho phụ nữ.[103] Khử muối cũng được xem xét như một giải pháp có thể và hiệu quả cho vấn đề thiếu hụt nước. 
Sau Trung QuốcẤn Độ, một loạt quốc gia nhỏ hơn cũng phải đối mặt với sự khan hiếm nước — Algérie, Ai Cập, Iran, Mexico, và Pakistan. Bốn nước trong số này đã phải nhập khẩu một phần lớn nhu cầu lương thực. Chỉ Pakistan vẫn còn khả năng tự cung cấp. Nhưng với dân số tăng thêm 4 triệu người mỗi năm, nước này cũng sẽ nhanh chóng phải tính tới nhập khẩu lương thực từ thế giới.

Đất đai

Viện các nguồn Tài nguyên Thế giới nói rằng "Việc biến đổi đất và đồng cỏ cho mục đích nông nghiệp đã ảnh hưởng tới 3.3 tỷ [hectares] — khoảng 26 phần trăm diện tích đất. Tổng cộng, nông nghiệp đã chiếm một phần ba diện tích rừng ôn hoàrừng nhiệt đới và một phần tư diện tích đồng cỏ tự nhiên."  Việc phát triển năng lượng cũng đòi hỏi những diện tích đất lớn; các đập thuỷ điện là một ví dụ. Đất có thể trồng trọt trở thành đất cằn sau quá trình muối hoá, phá rừng, sa mạc hoá, xói mòn, và đô thị hoá. Tình trạng nóng lên toàn cầu có thể gây lụt lội với hầu hết các vùng sản xuất nông nghiệp . Vì thế, đất có thể trồng trọt có thể trở thành một yếu tố giới hạn. Theo hầu hết các ước tính, ít nhất một nửa số đất đai có thể trồng cấy hiện đã được sử dụng, và có những lo ngại rằng số đất còn lại đã bị ước tính quá mức.
Các loài rau có sản lượng thu hoạch cao như khoai tâyrau diếp  ít phát triển những thành phần không sử dụng được, như thân, vỏ, dây leo và các loại lá không ăn được. Các loại giống mới được lựa chọn và các loại cây lai có nhiều phần sử dụng được (quả, lá, hạt) và ít phần phải bỏ đi; tuy nhiên, nhiều loại ngũ cốc của kỹ thuật nông nghiệp hiện đã trở thành lịch sử, và các kỹ thuật mới rất khó để đạt được. Với các kỹ thuật mới, có thể trồng trọt trên một số vùng đất khó trồng trọt ở dưới một số điều kiện. Về lý thuyết nuôi trồng thuỷ sản có thể gia tăng diện tích. Kỹ thuật trồng trong nước và thực phẩm từ vi khuẩn và nấm, như quorn, có thể cho phép gia tăng lương thực mà không cần các yếu tố diện tích đất, khí hậu, hay thậm chí ánh sáng mặt trời, dù một quá trình như vậy có thể rất tốn kém năng lượng. Một số người cho rằng không phải mọi vùng đất trồng cấy được đều sẽ tiếp tục như vậy nếu được sử dụng cho nông nghiệp bởi một số vùng đất bạc màu chỉ có thể thích hợp sản xuất lượng thực bởi những quy trình không bền vững như chặt và đốt. Thậm chí với những kỹ thuật nông nghiệp mới, tính bền vững của sản xuất vẫn bị nghi ngờ.
Một số quốc gia như Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và đặc biệt là tiểu Vương quốc Dubai đã xây dựng những hòn đảo nhân tạo lớn, hay đã tạo ra các hệ thống kiểu đê đập, như Hà Lan, lấy lại đất từ biển để tăng tổng diện tích đất đai của mình.  Một số nhà khoa học nói rằng trong tương lai, các thành phố có mật độ dân số cao sẽ sử dụng canh tác chiều dọc để trồng cây lương thực bên trong những toà nhà chọc trời.
Không gian cho chính con người không phải là một vấn đề. Một số nhà tư tưởng bác bỏ sự quá tải dân số là một vấn đề đã lưu ý rằng tổng dân số thể giới có thể sống trên một vùng đất có diện tích như bang Texas. Các nguồn tài nguyên dường như đang cạn kiệt đầu tiên là đất trồng trọt, gỗ và nước sạch.

Năng lượng

Những người lạc quan về vấn đề dân số cũng đã bỉ chỉ trích vì không tính được những thiếu hụt trong tương lai về nhiên liệu hoá thạch, hiện được dùng để làm phân bón và vận tải cho nền nông nghiệp hiện đại. (Xem Đỉnh HubbertPhát triển Năng lượng Tương lai.) Họ tính rằng sẽ có đủ nhiên liệu hoá thạch cho tới khi các kỹ thuật thay thế bền vững được phát triển, ví dụ hydro trong một nền kinh tế hydro. 
Trong cuốn sách Trái Đất trong sự Cân bằng năm 1992 của mình, Al Gore đã viết, "... cần phải có thể thiết lập một chương trình phối hợp toàn cầu để hoàn thành mục tiêu chiến lược hạn chế hoàn toàn việc sử dụng động cơ đốt trong, ít nhất là, hai mươi năm năm nữa..."  Xe hơi chạy điện như Tesla Roadster cho thấy dự đoán của Gore sẽ trở thành hiện thực.[cần dẫn nguồn] Trái Đất có đủ uranium để cung cấp cho toàn bộ nhu cầu điện của con người cho tới khi mặt trời tắt trong 5 tỷ năm nữa, nếu chúng ta phản triển những lò phản ứng tái sinh quy mô lớn.
Ngày càng có sự phát triển trong việc chế tạo năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, gió và năng lượng thuỷ triều. Nếu được áp dụng trên quy mô lớn, về lý thuyết chúng có thể đáp ứng hầu như, nếu không phải toàn bộ nhu cầu năng lượng hiện được cung cấp từ các nguồn tài nguyên không thể tái tạo Đa số các hình thức năng lượng tái tạo dựa trên một nền kinh tế dựa trên dầu mỏ để sản xuất, ví dụ bạn không thể chế tạo tuốc bin gió nếu không bắt đầu bằng một máy chế tạo chạy bằng dầu mỏ, khiến cả quá trình bị tranh cãi. Một số trong những nguồn tài nguyên có thể tái tạo đó có ảnh hưởng sinh thái, mặc dù chúng có thể khác biệt hay nhỏ hơn so với một số nguồn năng lượng không thể tái tạo khác.

Phân bón

Nông nghiệp hiện đại sử dụng một lượng lớn phân bón. Bởi đa số lượng phân bón này được sản xuất từ dầu mỏ, vấn đề đỉnh dầu mỏ thường được đặt ra. Theo những bài viết trên tờ Discover Magazine (năm 2003 và một bài năm 2006), có thể sử dụng quá trình thermal depolymerization để sản xuất phân bón mà không tạo ra rác, nước thải, và rác nông nghiệp. 

Giàu và Nghèo


Phần trăm dân số thế giới sống với chưa tới $1 trên ngày (đã được tính bù lạm phát) đã giảm một nửa trong 20 năm. Biểu đồ thể hiện giai đoạn 1981-2001.
Liên hiệp quốc cho biết khoảng 850 triệu người bị suy dinh dưỡng hay đói,  và 1.1 tỷ người không thể tiếp cận nước sạch.  Một số người cho rằng Trái Đất có thể cung cấp đủ cho 6 tỷ người, nhưng chỉ trong trường hợp nhiều người sống trong nghèo khổ. Tỷ lệ phần trăm dân số thế giới sống với chưa tới $1 mỗi ngày đã giảm một nửa trong 20 năm, nhưng đó là những còn số chưa bù lạm phát và dường như không còn chính xác.
Báo cáo Phát triển Con người năm 1997 của Liên hiệp quốc viết: "Trong 15-20 năm qua, hơn 100 nước đang phát triển và nhiều nước Đông Âu đã gặp phải tình trạng giảm phát mạnh. Sự suy giảm tiêu chuẩn sống đã trở nên mạnh và kéo dài hơn điều từng thấy ở các quốc gia công nghiệp hoá trong cuộc đại giảm phát hồi thập niên 1930. Vì thế, thu nhập của hơn một tỷ người đã giảm sút dưới mức đã từng đạt được 10, 20 hay 30 năm trước". Tương tự, dù tỷ lệ người "đói" ở Châu Phi hạ Sahara đã giảm, con số tuyệt đối người đói đã tăng vì dân số tăng. Tỷ lệ phần trăm giảm từ 38% năm 1970 còn 33% năm 1996 và dự đoán sẽ còn 30% năm 2010  Nhưng dân số trong vùng đã tăng khoảng gấp đôi trong thời gian 1970 và 1996. Khiến số lượng người đói vẫn ổn định, dù tỷ lệ phần trăm có thể giảm hơn một nửa. 
Những người phản đối kiểm soát sinh sản thỉnh thoảng cho rằng quá tải dân số không liên quan tới tình trạng đói nghèo cùng cực 
Biểu đồ bên cạnh thể hiện.

Sự giàu có trên đầu người với tỷ suất sinh.
Ở thời điểm năm 2004, có 108 quốc gia trên thế giới có dân số trên 5 triệu người. Không nước nào trong số đó, tính trung bình, phụ nữ có trung bình trên bốn đứa con trong suốt cuộc đời, có GDP trên đầu người lớn hơn $5000. Trái lại, toàn bộ chỉ trừ hai quốc gia có GDP trên đầu người lớn hơn $5,000, phụ nữ có, trung bình, 2 hay ít hơn con trong suốt cuộc đời. Israel và Ả Rập Saudi là những trường hợp ngoại lệ, với GDP trên đầu người trong khoảng $15,000 và $25,000, và số lần sinh trung bình trong suốt đời người phụ nữ trong khoảng 2 tới 4.
Tuy nhiên, sự tương quan không ngụ ý nguyên nhân và hậu quả, bởi sự tương quan quá mạnh, có thể có một cơ cấu phản hồi đang hoạt động; đói nghèo gia tăng sinh đẻ, sinh đẻ nhiều làm tăng đói nghèo và cứ tiếp tục như vậy. Những vòng tròn như thế vốn rất khó bị phá vỡ.

Môi trường

Quá tải dân số gây ảnh hưởng xấu liên tục tới môi trường Trái Đất ngay từ thế kỷ 20.  Có một số hậu quả kinh tế của sự xuống cấp môi trường này ở hình thức suy mòn hoạt động hệ sinh thái. Vượt quá cả sự tác động có thể tính toán theo khoa học tới môi trường, một số người còn nêu ra quyền đạo đức của các giống loài khác được tồn tại chứ không phải bị tuyệt chủng. Tác gia về môi trường Jeremy Rifkin, nói "dân số đang trở nên trưởng giả của chúng ta và cách sống thành thị đã được tạo nên với chi phí lớn từ các hệ sinh thái và các môi trường sống.... Khi chúng ta tăng tốc quá trình đô thị hoá thế giới, chúng ta nhanh chóng đạt tới mức sử dụng nước kỷ lục: thì sự biến mất của đời sống hoang dã không phải là một tai nạn."
Peter Raven, cựu Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Khoa học Mỹ (AAAS) trong cuộc hội thảo AAAS Atlas of Population & Environment, nói "Chúng ta đang ở đâu trong những nỗ lực để có một thế giới bền vững? Rõ ràng, nửa thế kỷ vừa rồi là một giai đoạn buồn đao, như một sự tổng hợp các hậu quả của dân số, sự sung túc (chi tiêu trên đầu người) và những lựa chọn công nghệ của chúng ta tiếp tục khai thác nhanh chóng các nguồn tại nguyên của thế giới ở mức không hề ổn định.... Trong một khoảng thời gian rất ngắn, chúng ta đã mất một phần tư lượng đất mặt và một phần năm đất nông nghiệp, thay đổi mạnh thành phần khí quyển, và phá huỷ một tỷ lệ lớn rừng cũng như các địa điểm sinh sống tự nhiên mà không thể thay thế. Tai hại nhất, chúng ta đã biến đổi cả tỷ lệ tuyệt chủng sinh học, mất đi vĩnh viễn các loài, gấp hàng trăm lần so với các mức độ trong lịch sử, và đang bị đe doạ với sự mất đi hầu hết giống loài ở cuối thế kỷ 21."
Hơn nữa, thậm chí các quốc gia vừa có dân số tăng nhanh vừa gặp các vấn đề sinh thái lớn, cũng không phải rằng sự giải quyết vấn đề tăng dân số sẽ giúp chúng ta giải quyết toàn bộ vấn đề môi trường. Tuy nhiên, khi các quốc gia phát triển với dân số cao trở nên công nghiệp hoá hơn, ô nhiễm và tiêu thụ sẽ tiếp tục tăng.

Thành phố

Năm 1800 chỉ 3% dân số thế giới sống trong các thành phố. Tới đầu thế kỷ 20, 47% dân số sống trong các thành phố. Năm 1950, có 83 thành phố có dân số vượt quá 1 triệu người; nhưng tới năm 2007, con số này đã tăng lên 468.  Các nhà nghiên cứu cho biết, nếu khuynh hướng này tiếp tục, dân số thành thị của thế giới sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 38 năm. Liên hiệp quốc dự báo dân số thành thị hiện nay là 3.2 tỷ người sẽ tăng lên gần 5 tỷ năm 2030, khi ấy ba trong số năm người dân sẽ sống trong các thành phố.
Mức tăng mạnh nhất là tại các nước và lục địa nghèo và kém đô thị hoá nhất, Châu ÁChâu Phi. Các dự báo cho thấy hầu hết sự gia tăng đô thị trong vòng 25 năm tới sẽ diễn ra tại các nước đang phát triển Một tỷ người, một phần sáu dân số thế giới, hay một phần ba dân số đô thị, hiện sống trong các khu đô thị tồi tàn,  vốn được coi là "mảnh đất màu mỡ" cho các vấn đề xã hội như tội phạm, nghiện ma tuý, nghiện rượu, nghèo đóithất nghiệp. Ở nhiều nước nghèo, các khu nhà ổ chuột có tỷ lệ bệnh dịch cao vì các điều kiện vệ sinh kém, suy dinh dưỡng và thiếu dịch vụ chăm sóc y tế cơ sở.
Năm 2000, có 18 siêu thành phốvùng thành phố như Tokyo, Seoul, Mexico City, Mumbai (Bombay), São PauloNew York City – có dân số vượt quá 10 triệu người. Đại Tokyo đã có 35 triệu người, đông dân hơn cả nước Canada 
Tới năm 2025, theo Thời báo Kinh tế Viễn Đông, chỉ riêng Châu Á đã có ít nhất 10 thành phố với 20 triệu dân hay hơn, gồm Jakarta (24.9 triệu người), Dhaka (25 triệu), Karachi (26.5 triệu), Thượng Hải (27 triệu) và Mumbai (33 triệu). Lagos đã có số dân tăng từ 300,000 năm 1950 lên ước tính 15 triệu người hiện tại, và chính phủ Nigeria ước tính thành phố này sẽ mở rộng lên 25 triệu người năm 2015.  Các chuyên gia Trung Quốc dự báo rằng các thành phố Trung Quốc sẽ có 800 triệu người năm 2020.
Dù mật độ dân số trong các thành phố có tăng (và sự xuất hiện của các siêu thành phố), UN Habitat đã nói trong các báo cáo của mình rằng đô thị hoá có thể là cách đối phó tốt nhất với sự gia tăng dân số toàn cầu.  Các thành phố tập trung hoạt động của con người trong các diện tích giới hạn, hạn chế ảnh hưởng tới môi trường Nhưng sự ảnh hưởng giới hạn này chỉ có thể có được nếu đô thị hoá có kế hoạch được cải thiện mạnh và các dịch vụ trong thành phố được duy trì tốt.

Ảnh hưởng sinh thái theo vùng của Thế giới

Như được trình bày ở trang 18 báo cáo Living Planet của WWF, các vùng của thế giới có vấn đề sinh thái lớn nhất gồm  và được xếp hạng như sau năm 2003:
  1. Bắc Mỹ
  2. Châu Âu (các quốc gia Liên minh Châu Âu)
  3. Trung Đông và Trung Á
  4. Châu Á và các hòn đảo Thái Bình Dương
  5. Châu Phi
  6. Châu Âu (các quốc gia không thuộc Liên minh Châu Âu)
  7. Mỹ Latinh và Caribbean

Những hậu quả của quá tải dân số

Một số vấn đề gắn liền hay trở nên trầm trọng hơn bởi sự quá tải dân số loài người:
  • Thiếu nước sạch cho nước uống cũng như xử lý nước thải và xả thải. Một số quốc gia, như Ả Rập Saudi, dùng kỹ thuật khử muối đắt tiền để giải quyết vấn đề thiếu nước. 
  • Suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nhiên liệu hoá thạch
  • Tăng mức độ ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đấtô nhiễm tiếng ồn. Khi một quốc gia đã công nghiệp hoá và trở nên giàu có, sự quản lý của chính phủ và cải tiến công nghệ sẽ giúp làm giảm ô nhiễm một cách bền vững, thậm chí khi dân số tiếp tục tăng.
  • Phá rừng và mất hệ sinh thái giúp duy trì ôxi trong khí quyển và cân bằng carbon dioxide; khoảng tám triệu héc ta rừng bị mất mỗi năm.
  • Thay đổi thành phần khí quyển và hậu quả nóng lên toàn cầu 
  • Mất đất canh tác không thể phục hồi và sa mạc hoá Phá rừng và sa mạc hoá có thể bị ngăn chặn bởi việc chấp nhận các quyền sở hữu, và chính sách này đã thành công thậm chí khi dân số tiếp tục tăng. 
  • Nhiều giống loài bị tuyệt chủng. từ môi trường sống bị giảm bớt trong các khu rừng nhiệt đới vì các kỹ thuật phát quang và đốt thỉnh thoảng do những người dân du canh thực hiện, đặc biệt tại các quốc gia có dân số nông nghiệp tăng trưởng nhanh; tỷ lệ tuyệt chủng hiệ tại có thể lên tới 140,000 giống loài mỗi năm  Năm 2007, IUCN Red List liệt kê tổng cộng 698 loài vật đã bị tuyệt chủng trong lịch sử loài người.
  • Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ em cao Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao do nghèo đói. Các quốc gia giàu với mật độ dân số cao có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp. 
  • Tăng cơ hội phát sinh của bệnh dịchdịch lớn  Vì nhiều lý do môi trường và xã hội, gồm cả các điều kiện sống quá đông đúc, suy dinh dưỡng và không có, không thể tiếp cận, hay tiếp cận không đầy đủ các dịch vụ chăm sóc y tế, người nghèo thường dễ mắc các bệnh truyền nhiễm. 
  • Đói, suy dinh dưỡng hay chế độ ăn không đầy đủ với sức khoẻ kém và các bệnh do thiếu ăn (ví dụ còi cọc). Tuy nhiên, các nước giàu với mật độ dân số cao không có nạn đói. 
  • Đói nghèo cùng với lạm phát ở một số vùng và mức độ hình thành tư bản kém. Đói nghèo và lạm phát trở thành vấn đề lớn hơn bởi các chính sách kinh tế và quản lý kém của chính phủ. Nhiều quốc gia có mật độ dân số cao đã hạn chế được tình trạng nghèo đói tuyệt đối bằng cách giữ tỷ lệ lạm phát rất thấp.
  • Tuổi thọ thấp tại các nước có dân số tăng nhanh
  • Các điều kiện sống mất vệ sinh vì suy giảm nguồn nước, tình trạng xả nước thải  và chất thải rắn không qua xử lý. Tuy nhiên, vấn đề này có thể được giải quyết với các hệ thống thoát nước. Ví dụ, sau khi Karachi, Pakistan lắp đặt hệ thống nước thải, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm mạnh.
  • Tỷ lệ tội phạm cao vì tăng các tổ chức buôn bán ma tuý và tội phạm bởi những người ăn cắp các nguồn tài nguyên để tồn tại
  • Xung đột về các nguồn tài nguyên đang cạn kiệt, dẫn tới gia tăng các nguy cơ chiến tranh
  • Lương thấp. Trong mô hình kinh tế cung và cầu, khi số lượng người lao động tăng (tăng cung) kết quả làm hạ lương bổng (giá giảm) khi nhiều người cùng cạnh tranh cho một công việc.
Một số nhà kinh tế, như Thomas Sowell Walter E. Williams  đã cho rằng tình trạng nghèođói của thế giới thứ ba được gây ra bởi chính sách kinh tế và quản lý chính phủ kém, chứ không phải quá tải dân số. Trong cuốn sách The Ultimate Resource của mình nhà kinh tế học Julian Simon cho rằng mật độ dân số cao dẫn tới sự chuyên môn hoácải tiến công nghệ cao hơn, và rằng điều này dẫn tới sự cải thiện tiêu chuẩn sống Nhưng hầu hết các nhà xã hội học coi quá tải dân số là một vấn đề nghiêm trọng. 

Các biện pháp giảm nhẹ

Tuy các khuynh hướng hiện nay của thế giới không cho thấy bất kỳ một giải pháp thực tế nào cho sự quá tải dân số của loài người trong thế kỷ 21, có nhiều biện pháp giảm nhẹ đã được hay có thể được áp dụng để giảm tác hại của sự quá tải dân số.

Kiểm soát sinh sản

Quá tải dân số liên quan tới vấn đề kiểm soát sinh sản; một số quốc gia, như Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, sử dụng các biện pháp mạnh để giảm tỷ lệ sinh. Sự phản đối tôn giáo và ý thức hệ với việc kiểm soát sinh sản đã được đưa ra như một yếu tố dẫn đến sự quá tải dân số và đói nghèo.  Một số nhà lãnh đạo và nhà môi trường (như Ted Turner) đã cho rằng Liên hiệp quốc cần thiết phải áp dụng nghiêm ngặt một biện pháp hạn chế sinh sản như kiểu Trung Quốc trên toàn cầu, bởi nó giúp kiểm soát và giảm dần dân số như bằng chứng từ sự thành công trong phát triển kinh tế và giảm đói nghèo của Trung Quốc trong những năm gần đây  Bởi một chính sách như vậy sẽ được áp dụng đồng nhất và như nhau trên toàn cầu và do một tổ chức có danh tiếng của thế giới (Liên hiệp quốc) tiến hành, nó sẽ ít gặp phải sự chống đối chính trị và xã hội từ các quốc gia riêng lẻ.
Indira Gandhi, cựu Thủ tướng Ấn Độ, đã áp dụng một chương trình triệt sản bắt buộc hồi thập niên 1970. Chính thức, đàn ông có từ hai con trở lên đều phải triệt sản, nhưng nhiều chàng trai trẻ chưa lập gia đình, các đối thủ chính trị và những người cố tình bất tuân bị cho là đã bị triệt sản. Chương trình này vẫn còn được nhớ và chỉ trích ở Ấn Độ, và bị lên án vì đã tạo ra một thái độ phản đối với việc kế hoạch hoá gia đình, gây ảnh hưởng tới các chương trình của chính phủ trong nhiều thập kỷ.
Nhà thiết kế đô thị Michael E. Arth đã đề xuất một "chương trình sinh sản có giấy phép dựa trên sự lựa chọn, có thể trao đổi" mà ông gọi là "giấy phép sinh sản." Giấy phép sinh sản sẽ cho phép bất kỳ phụ nữ nào có bất kỳ số con nào cô ta muốn, khi cô ta có thể mua được giấy phép sinh đẻ từ người khác điều này sẽ dẫn tới tăng trưởng dân số O (ZPG). Ví dụ, nếu giấy phép sinh đẻ là cho một đứa trẻ, thì đứa trẻ đầu tiên sẽ là tự do, và thị trường sẽ quyết định chi phí giấy phép cho mỗi đứa trẻ khác mà người phụ nữ muốn có. Các giấy phép sinh đẻ thêm sẽ hết hạn sau một thời gian nào đó, vì thế giấy phép không thể bị tích trữ. Một ưu thế khác của ý tưởng này là người giàu có không thể mua chúng bởi họ đã giới hạn kích thước gia đình của mình theo lựa chọn, như con số trung bình 1.1 trẻ em trên mỗi phụ nữ Châu Âu. Chi phí thực của giấy phép chỉ là một phần của chi phí sinh và nuôi dưỡng một đứa trẻ, nhờ vậy các giấy phép sẽ trở thành một tiếng chuông cảnh tỉnh những người phụ nữ muốn đẻ nhiều con mà không xem xét kỹ những trách nhiệm tương lai của họ và xã hội[

Giáo dục và Cho phép hành động

Một cách là tập trung vào giáo dục về quá tải dân số, kế hoạch hoá gia đình, và các biện pháp kiểm soát sinh sản, và chế tạo các dụng cụ kiểm soát sinh sản như bao cao su cho nam/nữ và thuốc tránh thai dễ tiếp cận. Ước tính 350 triệu phụ nữ ở các nước nghèo nhất thế giới hoặc không muốn có đứa con cuối cùng, hoặc không muốn đẻ thêm hoặc muốn cách quãng những lần mang thai, nhưng họ thiếu tiếp cận thông tin, các biện pháp và dịch vụ để quyết định kích cỡ gia đình cũng như khoảng thời gian giữa những lần mang thai. Ở thế giới đang phát triển, khoảng 514,000 phụ nữ[cần dẫn nguồn] chết hàng năm vì các biến chứng từ thai nghénphá thai. Ngoài ra, 8 triệu trẻ sơ sinh chết, có thể vì suy dinh dưỡng hay các căn bệnh có thể phòng tránh, đặc biệt do không thể tiếp cận nguồn nước sạch.  Tại Hoa Kỳ, năm 2001, hầu như một nửa số ca có thai đều là có chủ định.
Ai Cập đã thông báo một chương trình giảm sự quá tải dân số của mình bằng giáo dục kế hoạch hoá gia đình và đưa phụ nữ vào lực lượng lao động. Vào tháng 6 năm 2008 Bộ trưởng Y tế và Dân số nước này Hatem el-Gabali đã thông báo. Chính phủ đã chi 480 triệu pound Ai Cập (khoảng 90 triệu dollar Mỹ) cho chương trình.

Định cư ngoài Trái Đất

Trong thập niên 1970, Gerard O'Neill đã đề xuất xây những nơi sinh sống ngoài vũ trụ có thể đáp ứng gấp 30,000 lần khả năng của Trái Đất chỉ bằng cách sử dụng vành đai tiểu hành tinh và rằng cả hệ mặt trời có khả năng đáp ứng cho sự gia tăng dân số như hiện tại trong hàng nghìn năm nữa. Marshall Savage (1992, 1994) đã dự đoán tới năm 3000 một dân số loài người tới 5 luỹ thừa 30 trong cả hệ mặt trời, đa số sống trong vành đai tiểu hành tinh.  Arthur C. Clarke, một người ủng hộ Savage nhiệt thành, đã cho rằng tới năm 2057 sẽ có người ở trên Mặt Trăng, Sao Hoả, Europa, Ganymede, Titan và trong quỹ đạo quanh Sao Kim, Sao Hải VươngDiêm VươngFreeman Dyson (1999) coi vành đai Kuiper là một ngôi nhà trong tương lai của nhân loại, cho rằng điều này sẽ xảy ra trong vài thế kỷ nữa. Trong cuốn Mining the Sky, John S. Lewis cho rằng các nguồn tài nguyên trong hệ mặt trời đủ cung cấp cho 10 mũ 16 (10^16) người.
K. Eric Drexler, nhà sáng chế nổi tiếng về những ý tưởng tương lai về công nghệ nano phân tử, đã đưa ra trong Engines of Creation rằng việc thực dân hoá vũ trụ sẽ có nghĩa là sự phá vỡ các giới hạn Malthusia với sự phát triển của loài người.
Nhiều tác gia (ví dụ Carl Sagan, Arthur C. Clarke, Isaac Asimov ) đã cho rằng việc đưa số người thừa vào vũ trụ không phải là giải pháp cho sự quá tải dân số, và rằng "cuộc chiến dân số phải diễn ra hay chiến thắng ở đây trên Trái Đất". (Clarke, 1999) Vấn đề với những tác gia đó không là sự thiếu hụt nguồn tài nguyên trong vũ trụ (như đã được thể hiện trong các cuốn sách như Khai thác bầu trời ), mà là sự không thực tế của việc đưa số lượng lớn người lên vũ trụ để "giải quyết" sự quá tải dân số trên Trái Đất. Tuy nhiên, các tính toán của Gerard O'Neill cho thấy Trái Đất có thể thoát được số dân tăng thêm với một ngành công nghiệp vũ trụ ở mức ngành công nghiệp hàng không hiện nay.O'Neill, Gerard K. (1981). 2081: A Hopeful View of the Human Future. Simon and Schuster. ISBN 0-671-44751-3..

Những cách tiếp cận khác và hậu quả

Nhiều nhà triết học, gồm cả Thomas Malthus, đã nhiều lần nói rằng khi con người không kiểm soát tăng trưởng dân số, thiên nhiên sẽ thực hiện điều đó. Nhưng việc này sẽ không phải là cái chết của con người thông qua các thảm hoạ; thay vào đó nó có thể là sự ảnh hưởng trên khả năng sinh sản. Các nhà khoa học người Đức đã báo cáo rằng một virus được gọi là Virus liên kết Adeno có thể đóng vai trò trong sự suy giảm khả năng sinh sản nam,  nhưng lại không gây hại đến con người. Vì thế, nếu virus này hay các virus tương tự biến đổi, chúng có thể gây sự giảm khả năng sinh sản trên diện rộng, gây ra bệnh dịch virus trên diện rộng và tạo thành một cách kiểm soát dân số tự nhiên theo thời gian.[nghiên cứu chưa công bố?]

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32