QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH MỞ NƯỚC, DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT17/c
(ĐC sưu tầm trên NET)
Lê Tương Dực (chữ Hán: 黎襄翼; 25 tháng 6, 1495 - 7 tháng 4, 1516), đôi khi gọi là Linh Ẩn vương (靈隱王), là vị hoàng đế thứ 9 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1509 đến năm 1516, tổng cộng 7 năm.
Tương Dực đế được đánh giá là người có công khi lật đổ Lê Uy Mục, sửa sang việc học, khôi phục văn miếu, xứng đáng kế thừa sự nghiệp vẻ vang của Cao Hoàng, Thuần Hoàng, làm rạng danh cơ nghiệp. Khi quốc khố sung túc, ông sai Vũ Như Tô xây dựng điện 100 nóc, lại xây công trình quy mô lớn là Cửu Trùng Đài, làm nhiều cung điện quy mô hơn xung quanh. Cũng vì vậy, tài nguyên dần suy kiệt, người lao động bị sai đi xây dựng kiệt sức, tạo mầm mống để cho bọn loạn thần phiến loạn.
Năm 1515, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản nghe lời thuộc hạ và Thái sư Lê Quảng Độ (黎廣度), đang đêm đem quân vào kinh sư, truy lùng và bắt giết Tương Dực đế, lập tông thất Lê Y (黎椅) lên thay, tức Lê Chiêu Tông.
Kiến vương có 4 người con trai, đều do Trịnh phu nhân sinh ra: con cả Lê Sùng (黎漴), được phong Cảm Giang vương (錦江王), con thứ 2 chính là Lê Oanh; con thứ 3 là Lê Vinh (黎濴), được phong Tĩnh Lượng công (靖亮公) và con út Lê Quyên (黎娟) do còn nhỏ chưa được phong.
Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công (簡修公).
Để chiêu dụ các đại thần và các quan, Lê Oanh sai Lương Đắc Bằng viết hịch rằng:
Ngày 8 tháng 11, năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh khởi binh tiến quân thủy bộ từ thành Tây Đô. Thủy quân tiến đến núi Thiên Kiện. Uy Mục đế dùng hai chiếc thuyền nhẹ Hà Thanh và Hải Thanh đi đến chùa Bảo trên núi Thiên Kiện, bắt được một viên tướng thuỷ quân của Giản Tu công và giết được 20 bình sĩ đem xác về ngoài cửa Đông Hoa. Uy Mục Đế cho Lê Vũ làm tán lý cũng nhiều người khác đem cấm quân và quan quân thuộc các vệ Thần vũ, Hiệu lực, Điện tiền đi chống giữ nhưng bị Lê Oanh đánh bại.
Ngày 23 cùng năm, anh em trai của ông là Cẩm Giang Vương Lê Sùng (黎漴), Tĩnh Lượng công Lê Vinh (黎濴), Lê Quyên (黎娟), Trịnh phu nhân cùng phò mã Nguyễn Kính (阮 敬) đều bị Uy Mục đế giết. Tuy vậy, quân của ông vẫn dùng cờ chiêu an của Cẩm Giang Vương (錦江王) để dụ Lê Vũ về hàng. Lê Vũ mới đem đầu Cẩm Giang Vương ra trước trận, giơ lên cho xem và nói:
Ngày 26 năm ấy, các dinh quân của Lê Oanh đều tiến đến các xứ Bảo Đà, Nhân Mục, Hồng Mia, Thiêu Thân ở sát Kinh thành. Uy Mục đế vì cần thêm quân để chống giữ mới lấy vàng bạc tiền của ban cho bọn tội nhân bị giam ở ty Ngũ hình mỗi người 3 quan, rồi sai đi đánh quân Lê Oanh. Tù nhân nhận được tiền, không những không đi đánh mà người nào người nấy đều bỏ về nhà. Uy Mục Đế sợ hãi lại vội vã chọn người đi gọi quân các xứ. Những người này đi chưa đến nơi, thì đại quân của Lê Oanh đã áp sát vào thành, nhiều người bỏ chạy thoát thân.
Tướng trấn thủ là Lê Quảng Độ (黎廣度) cùng với Giản Tu công Lê Oanh người trong kẻ ngoài thông tin với nhau, lại cho bắn súng làm hiệu, dựng gậy làm cờ, chặt cây làm binh khí giả đánh lộn lẫn nhau cho các quân kinh hãi, rồi mới ép Uy Mục đế chạy lên phía Bắc. Giản Tu công Lê Oanh sau khi đem quân vào thành Đông Kinh nghe tin gia quyến đều bị hại, liền sai quan sửa việc tang và làm lễ chôn cất.
Ngày 28 năm ấy, Uy Mục đề chạy tới phường Nhật Chiêu thì bị một vệ sĩ cũ bắt được, nộp cho Giản Tu công. Ông đem giam Uy Mục đế ở cửa Lệ Cảnh. Ngày 1 tháng 12 Uy Mục đế vì buồn bã nên đã uống thuốc độc tự tử. Giản Tu công Lê Oanh vì căm việc Uy Mục đế sát hại gia quyến mình rất thảm khốc, mới sai người để xác cựu Hoàng vào miệng súng súng lớn, rồi cho bắn nổ tan xác.
Ngày 4 tháng 12, cùng năm ấy, Giản Tu công Lê Oanh tự lập làm Hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Thuận (洪順). Ông lấy ngày sinh làm Thiên Bảo thánh tiết (天保聖節), tự xưng là Nhân Hải Động chủ (仁海洞主).
Trong những năm đầu cầm quyền, Tương Dực Đế cũng có vài đóng góp thể hiện sự cố gắng vực dậy đất nước đã suy tàn, nhất là trong lĩnh vực khoa cử. Năm 1511, ông tổ chức kỳ thi Hội, đến kỳ thi Đình thì ông đích thân ra đề văn hỏi về đạo trị quốc. Ông cho trùng tu Quốc Tử Giám, dựng lại bia tiến sĩ tỏ rõ sự khuyến khích hiền tài. Đông các đại học sĩ Đỗ Nhạc đã soạn bài ký ở Quốc Tử giám ca ngợi công đức của Tương Dực Đế:
Nay, Tương Dực định lệ đổi lại mỗi năm thu được: Vàng mười thứ "kiêm kim" 449 lượng; Vàng mười 2.901 lượng; Bạc 6.125 lượng. Những vàng bạc đó nộp vào kho để cho hoàng gia tiêu dùng. Còn cách thu nộp thế nào cũng không rõ.
Năm 1510, Tương Dực sai quan Binh bộ Thượng thư là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt thông giám hay Việt giám thông khảo. Đại Việt thông giám gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Thái Tổ Cao hoàng đế.
Tương Dực còn sai Lê Tung soạn bài tổng luận về bộ sử ấy. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử.
Tương Dực sai Mỹ Huệ hầu Trịnh Duy Sản chỉ huy quan quân đi đánh Trần Tuân. Bấy giờ, quân của Tuân đã bức sát đến huyện Từ Liêm (Quốc Oai), quan quân bại trận, lui về đóng ở các xứ Đông Ngạc, Nhật Chiêu.
Thế quân của Tuân rất mạnh, muốn bức sát kinh thành. Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang sai quân 6 vệ Điện tiền kéo thuyền Tiểu Thiên Quang xuống sông, định đưa hoàng đế ngự về Thanh Hoá, giữ nơi hiểm yếu rồi gọi hết bọn thợ của các sở ở Công bộ và thợ thường ban, bày kỵ binh ở xứ Đông Hà để giữ. Đến đêm, bọn họ hoảng sợ trốn về cả. Tương Dực sai Minh Luân bá Lê Niệm, Tổng thái giám Lê Văn Huy và 2 người khoa văn học sinh đem lực sĩ của hai ty Hải Thanh và Hà Thanh chèo hai chiếc thuyền nhẹ ra xứ Từ Liêm để dò xét tình hình quân giặc.
Niệm đến chợ An Giang trước thấy phố xá bị thiêu trụi, quan quân đã bại trận rút về, vượt sông vào xã Quả Hối. Niệm lại chạy về, vào điện tâu trước mặt Tương Dực. Bấy giờ, Duy Sản bị giặc đánh bại, thủ hạ chỉ còn hơn 30 người, xé áo làm hiệu, thề cùng nhau đánh giặc. Giờ Dậu, Duy Sản thình lình xuất hiện, đột nhập vào dinh của Tuân, thấy Tuân mặc áo đỏ ngồi trên giường, liền dùng giáo đâm chết Tuân, bè đảng của Tuân đều tan chạy cả. Bấy giờ quân lính của Tuân đóng ở chỗ khác, không biết là nghịch Tuân đã chết, vẫn cứ đóng quân như trước.
Ngày 20, Tương Dực làm lễ tấu cáo ở Thái Miếu, rồi sai Nguyễn Văn Lang đem tướng sĩ, voi ngựa của các doanh đi đánh. Bấy giờ, Duy Sản đã giết Trần Tuân, liền thừa thế bắn ba tiếng súng, các quân đánh trống hò reo tiến vào, đánh tan quân giặc, đuổi theo đến các xã Thuỵ Hương, Quả Động, Đông Ngạc, đâm chết rất nhiều. Sau này định công ban thưởng, ban phong Trịnh Duy Sản là Nguyên quận công (原郡公), những người đi theo Duy Sản đâm chết được nhiều giặc đều được trao chức đô chỉ huy đồng tri.
Lời nói của sứ thần nhà Minh như báo hiệu cho nghiệp trị nước của Tương Dực đế sớm lụi tàn. Những năm về sau, hoàng đế chỉ lo xây cất nhà cửa, lâu đài, chơi bời xa xỉ truỵ lạc. Tháng 5 năm 1514, nghe lời của Hiệu uý Hữu Vĩnh, Tương Dực đế giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm.
Năm 1516, hoàng đế cho đắp thành rộng cả ngàn trượng chắn ngang sông Tô Lịch. Để thể hiện uy quyền đế vương, ông sai một người thợ là Vũ Như Tô xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài. Quân dân làm trong mấy năm trời không xong, hao tổn tiền của, chết hại nhiều người. Bỏ bê việc nước, chỉ ngày ngày du ngoạn Tây Hồ, Tương Dực nghĩ ra nhiều trò quái lạ. Thói trụy lạc của Tương Dực ngày càng lộ rõ khi ông ra lệnh làm thuyền chiến thật trang hoàng lộng lẫy rồi bắt các cung nữ trần truồng, tay cầm cái chèo đánh nhịp làm đại nhạc để hoàng đế thưởng sắc.
Sự sa đọa của Tương Dực Đế sách Đại Việt sử kí toàn thư đã chép:
Ở huyện Thủy Đường (Hải Phòng), một người là Trần Cảo (hay còn gọi là Trần Cao), thấy sấm nói rằng ở phương đông có thiên tử khí[8], bèn tụ tập được nhiều người lấy đất Hải Dương, Thủy Đường, Đông Triều, rồi tự xưng là vua Đế Thích giáng sinh. Trần Cảo thành lập quân đội, người đi theo đến hàng vạn.
Trần Cảo đem quân về đóng ở đất Bồ Đề, bên kia sông Nhị Hà, định sang lấy kinh đô Đông Kinh. Tương Dực đích thân xuất chinh đi đánh giặc, ngự ở trên điện ra lệnh điều động các tướng. Sau quân triều đình sang đánh, Trần Cảo lui về đóng ở Trâu Sơn, thuộc phủ Từ Sơn. Tương Dực sai An Hòa hầu là Nguyễn Hoằng Dụ sang đóng quân ở Bồ Đề để chống giữ.
Nguyên Quận công là Trịnh Duy Sản, trước có công đi đánh dẹp Trần Tuân, nhiều lần trái ý Tương Dực, bị đem đánh bằng roi, rồi sinh lòng thù hận. Duy Sản bất mãn mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm để lập người khác, sửa sang binh giới ở bến Thái Cực, nói dối là đi đánh giặc. Đêm ngày 6 tháng 4, hồi canh hai, đem hơn 3000 người ở các vệ Kim ngô và Hộ vệ vào cửa Bắc Thần. Tương Dực nghe tin ấy, ngờ là có giặc đến, bèn ngự ra ngoài cửa Bảo Khánh.
Ngày mồng 7, mờ mờ sáng, có Thừa chỉ Nguyễn Vũ theo hoàng đế đi tắt qua cửa nhà Thái Học. Đến hồ Chu Tước, phường Bích Câu hoàng đế gặp Duy Sản và hỏi: Giặc ở phương nào?. Duy Sản không trả lời, quay nhìn chỗ khác cười ầm lên. Hoàng đế ngờ ngợ, quất ngựa chạy về phía tây. Duy Sản sai vũ sĩ là tên Hạnh cầm giáo đâm ông ngã ngựa chết rồi giết chết. Nguyễn Vũ cũng chết theo . Duy Sản còn sai người đem xác Tương Dực về quán Bắc Sứ, khâm liệm rồi đem thiêu. Khâm Đức hoàng hậu cũng nhảy theo tự thiêu. Quân sĩ đem hai quan tài về chôn ở huyện Ngự Thiên, giáng phong hoàng đế làm Linh Ẩn Vương (靈隱王).
Toàn thư nhận xét:
Cuối thời Lê sơ, Trần Cảo làm đến chức Thuần Mỹ điện giám. Bấy giờ, các vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực tàn ác, chơi bời sa đọa, triều chính rối ren, khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra. Trần Cảo nghe lời sấm truyền trong dân gian rằng "đông phương hữu thiên tử khí" bèn quyết định khởi binh lập nghiệp lớn.
Ông tụ tập những người tha hương trốn tránh làm vây cánh, tự xưng là cháu năm đời của vua Trần Thái Tông và là ngoại thích của Quang Thục hoàng hậu, mẹ vua Lê Thánh Tông. Tháng 3 năm 1516, ông cùng con là Cung (㫒) và các thủ hạ Phan Ất người Chiêm Thành, Đình Ngạn, Đình Nghệ, Công Uẩn, Đình Bảo, Đoàn Bố dấy binh khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm, chiếm cứ hai huyện Thủy Đường và Đông Triều.
Trần Cảo khi ra trận mình mặc áo đen, quân lính đều cạo trọc đầu, để ba chỏm tóc nên còn gọi là lính tam đóa (三鬌, nghĩa là ba chỏm tóc). Ông tự xưng là Đế Thích giáng sinh, xưng làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Ứng (天應). Cả một vùng Hải Dương phía đông, quân nhà Lê không chống đỡ nổi, quân tam đóa làm chủ. "Đại Việt thông sử" ghi nhận: "vùng Hải Dương đều rạp xuống như cỏ gặp gió, không ai chống cự nổi". Quân của Trần Cảo đông tới vài vạn người.
Lê Tương Dực lại sai Định quận công Phùng Trấn, Diên Hưng bá Trịnh Khổng Chiêu, Phú Lộc bá Trịnh Ngạc đem quân đuổi đánh Trần Cảo. Trần Cảo đại phá quân triều đình, giết chết Phùng Trấn và Trịnh Khổng Chiêu, bắt sống được Trịnh Ngạc. Trịnh Ngạc không chịu đầu hàng nên Trần Cảo bèn giết chết.
Lê Tương Dực lo sợ, triệu tập An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ về cứu. Dụ mang quân về đóng ở dinh Bồ Đề.
Nhưng Tương Dực trong lúc nguy biến vẫn chơi bời hưởng lạc, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản thấy vậy thường can ngăn trái ý vua, Tương Dực bực tức sai đánh Duy Sản bằng trượng. Trịnh Duy Sản căm tức, ngấm ngầm bàn với Thái sư Lê Quảng Độ, Thượng thư Trình Chí Sâm cùng nhau bỏ Tương Dực để lập vua khác.
Đêm ngày 6 tháng Tư âm lịch (tức 7 tháng 5 năm 1516), Duy Sản lấy cớ đi đánh Trần Cảo rồi giết chết Lê Tương Dực. Nguyễn Hoằng Dụ vốn cùng phe với Tương Dực thấy Tương Dực bị giết bèn phóng lửa đốt phá và cướp kinh thành, rồi dẫn quân bỏ về phía nam, mặc việc triều chính cho phe Trịnh Duy Sản.
Trịnh Duy Sản cùng Thái sư Lê Quảng Độ lập chắt của Lê Thánh Tông (tức gọi Tương Dực bằng chú) là Y mới 11 tuổi lên ngôi, tức là Lê Chiêu Tông. Trần Cảo nhân đạo quân Nguyễn Hoằng Dụ rút rồi, bèn dồn sức tấn công kinh thành. Trịnh Duy Sản lật đật mang vua Chiêu Tông bỏ chạy vào thành Tây Đô ở Thanh Hóa, Thái sư Lê Quảng Độ ra đầu hàng Trần Cảo. Ông bèn thu dụng Lê Quảng Độ, tiến quân qua sông vào thành Thăng Long, giao cho Lê Quảng Độ cho coi việc triều chính.
Trần Cảo được tin, sai Phan Ất từ làng Bảo Đà huyện Thanh Oai tiến quân; Trần Chân từ làng Dư Dụ huyện Thanh Đàm đem quân đón đánh. Trần Chân tiến đến xạ đôi (mô đất để tập bắn ) cố sức đánh nhau với Phan Ất, khí giới đều hết phải lấy mảnh cong mảnh lọ để ném. Răng và miệng Trần Chân bị thương nặng, lại thấy rằng toán quân của mình chơ vơ khó có thể đánh lâu được, bèn nhân đêm rút quân đến chợ Hoàng Hoa.
Lê Chiêu Tông ở Tây Đô, tập hợp lực lượng quân tam phủ (Thiệu Thiên , Hà Trung và Tĩnh Gia thuộc Thanh Hóa) mưu khôi phục Thăng Long, sai Lê Nghĩa Chiêu thảo hịch đánh Trần Cảo.
Quân các trấn theo lời hịch về hội, Trịnh Duy Sản nhận lệnh vua Chiêu Tông thống lĩnh quân thuỷ lẫn quân bộ, hợp sức các tướng cần vương có Trịnh Hy, Lê Sạn, Lê Dực, Trương Huyền Linh tiến đánh kinh thành, vây 4 mặt.
Trần Cảo mang quân lên lầu ngoài cổng, vẫy cờ bắn súng chống lại. Quân khởi nghĩa từ cầu Mộng tiến vào cung Thuỵ Quang, quân của Trịnh Hy phải lùi lại, sắp rút về giữ Hồng Mai thì gặp quân Nguyễn Hoằng Dụ kéo tới, bèn cùng chấn chỉnh lại đội ngũ tiến vào cửa Đại Hưng.
Duy Sản đổi hướng đánh từ bến Thái Cực sang bến Đông Hà . Quân Trần Cảo núng thế, nhưng quân triều đình vẫn chưa chiếm lại được Thăng Long, bèn chuyển sang vây phía tây.
Trong khi chiến sự kinh thành chưa ngã ngũ thì một tướng ở Sơn Tây là Hà Công Chân muốn tranh công đánh lấy kinh thành, chống lại quân triều đình. Trịnh Duy Sản tự mình mang quân ra chặn đánh, giết chết Công Chân. Sau đó các đạo quân nhà Lê hợp lại phá tan quân Trần Cảo. Ông bèn phá vây bỏ chạy về Lạng Nguyên. Vua Chiêu Tông trở lại kinh đô.
Trần Cảo vẫn hoạt động mạnh chống lại triều đình. Lê Chiêu Tông dùng Trịnh Duy Sản làm quyền tiết chế các doanh thuỷ bộ, quản lãnh các huyện ở Hải Dương. Tướng Trịnh Tuy mang quân đến đánh chiếm lại vùng Kinh Bắc từ tay quân Trần Cảo rồi đóng ở phía bắc Thị Cầu.
Tháng 11 năm 1516, Duy Sản cùng Nguyễn Hoằng Dụ dẫn các tướng đi đánh Trần Cảo ở xã Trâu Sơn, huyện Chí Linh (Hải Dương). Tuy nhiên, tình hình ở kinh thành không yên, kỷ luật của tướng sĩ không nghiêm. Các tướng triều đình do Đa Sĩ cầm đầu cậy có công làm càn, hoành hành cướp phá ở kinh đô, thả cửa giết người. Duy Sản nghe tin, vội sai con nuôi là Trần Chân điều bớt quân về kinh để dẹp các tướng làm loạn.
Sau đó quân của Trần Cảo đánh nhau giáp lá cà với quân Duy Sản ở xã Nam Giản . Quân khởi nghĩa giết chết tỳ tướng của Duy Sản là Hạnh. Quân Duy Sản bắt đầu núng thế. Quân Trần Cảo tới khiêu chiến, Trịnh Duy Sản muốn ra, các tướng can ngăn nhưng không nghe theo, tự mình đi tiên phong đánh vào trại Trần Cảo. Trần Cảo biết Sản nôn nóng muốn thắng bèn đặt phục binh, đánh tan quân triều đình. Trịnh Duy Sản cùng Nguyễn Thượng bị Trần Cảo bắt sống mang về hành dinh ở Vạn Kiếp giết chết.
Trần Cảo bị thua nặng nề, phải chạy lên Lạng Nguyên. Quân Trần Cảo và quân triều đình lấy sông Minh Nguyệt làm ranh giới. Trần Cảo cùng Trần Chân đánh nhau nhiều ngày vẫn không phân thắng bại.
Sau đó, Trần Cảo truyền ngôi cho con là Trần Cung rồi cạo đầu làm sư, giấu tên để trốn tránh. Các sách sử đều ghi nhận, từ đó không tìm ra tung tích của Trần Cảo, không biết kết cục của ông ra sao. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tại các thôn Bảo Lộc, An Lạc, Chu Nguyên vẫn còn đền thờ ông và các sử gia phong kiến phỏng đoán "có lẽ Cảo chết ở đó".
Trần Cung nhân lúc các tướng nhà Lê tranh giành quyền bính giết hại lẫn nhau, tiếp tục chiếm cứ phía đông chống lại triều đình, cũng xưng làm vua, đặt niên hiệu là Tuyên Hoà tới tận năm 1521 mới thất bại dưới tay Mạc Đăng Dung – viên tướng giỏi nhất của nhà Lê lúc đó, người không lâu sau lấy ngôi của nhà Lê. Trần Cung bại trận chạy lên châu Thất Nguyên rồi bị triều đình tầm nã bắt được, giải về kinh hành hình.
Người tin theo thuyết duy tâm cho rằng, ông chính là hậu thân của Trần Cảo - Hồ Ông đầu thời Lê, người được Lê Lợi dựng làm vua theo yêu sách của tướng Minh là Vương Thông. Nhưng sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi rồi, Lê Lợi đã giết Trần Cảo đó để chiếm ngôi vua, vì vậy sau này Trần Cảo lại tái sinh để báo thù nhà Lê. (một điểm cần lưu ý là khi tự xưng vua, Trần Cảo lại lấy hiệu là Thiên Ứng trong khi đó vị Trần Cảo trước đó do Lê Lợi dựng lên lại có hiệu là Thiên Khánh).
Những người tin sấm vĩ cũng cho rằng, niềm tin của Trần Cảo vào sấm truyền phương đông có khí thiên tử không phải là bừa bãi, bởi không lâu sau khi cha con ông (đều cùng xưng là vua) thất bại, người đánh bại con ông và lấy ngôi nhà Lê - Mạc Đăng Dung – cũng xuất thân từ phương có "khí thiên tử" đó
Lê Chiêu Tông, tên thật Lê Y, (chữ Hán: 黎昭宗, 4 tháng 10, 1506 - 18 tháng 12, 1525), là vị hoàng đế thứ 10 của nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1516 đến 1522, tổng cộng 7 năm.
Chiêu Tông dòng dõi tông thất, lên ngôi còn thơ ấu, trong nước rối ren, mọi việc đều do Nguyên quận công Trịnh Duy Sản chủ trương, dẹp được loạn Trần Cảo. Nhưng sau khi Duy Sản chết, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy, Thiết Sơn bá Trần Chân lại sinh mâu thuẫn. Chiêu Tông nghe lời dèm giết Trần Chân, đến nỗi bọn đệ tử là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng tức giận làm náo loạn kinh thành, phải bỏ lên Bảo Châu.
Đến khi Mạc Đăng Dung lấn át quyền thế, khởi binh chống lại, mới đầu thuận lợi, tưởng chừng như có thể thống nhất cơ đồ thì lại vụng về làm Trịnh Tuy bất mãn, bị bắt đem về Thanh Hóa, Mạc Đăng Dung nhờ thế mà lấn vượt, cơ nghiệp nhà Lê tiêu vong.
Năm 1516, Lê Tương Dực bị Nguyên quận công Trịnh Duy Sản giết chết, Duy Sản tính bề lập Lê Quang Trị em họ ông lúc đó 8 tuổi nhưng Quang Trị bị Trịnh Duy Đại đem về Tây Kinh. Duy Sản bèn lập ông lên ngôi.
Lúc này Thiết Sơn bá Trần Chân, con nuôi của Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, tập hợp quân sĩ hơn 6000 người ở chợ Hoàng Hoa (chợ Ngọc Hà ngày nay). Cảo xua Phan Ất đi trấn áp, 2 bên đánh nhau quyết liệt, Trần Chân do không có tiếp viện bèn lui về cố thủ. Bấy giờ Chiêu Tông từ Tây Kinh, hiệu triệu quân 3 phủ sai các Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Bình Phú hầu Nguyễn Văn Lự (em của Nguyễn Văn Lang), Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đem quân thuỷ bộ cùng tiến thẳng đến Đông Kinh. Đồng thời gửi hịch cho các phủ huyện.
Ngày 23 tháng 3, năm 1516, tại Đông Kinh xảy ra trận chiến ác liệt giữa các thế lực phò Chiêu Tông và Trần Cảo. Cảo liên tục dùng súng, hỏa khí bắn ra để chặn quân triều đình, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Tín bá Trịnh Hy, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy ra sức chống lại, hết sức dũng mãnh, khiến Cảo phải gắng đóng cửa thành cố thủ. Đến khi thế trận nguy khốn, Cảo mở cửa thành chạy qua sông Đuống, chạy lên Lạng Nguyên.
Ngày 27 tháng 3, Chiêu Tông chính thức đặt niên hiệu là Quang Thiệu (光紹). Bấy giờ Trịnh Duy Đại giữ Quang trị ở Tây Kinh, nghe đến Chiêu Tông đã chiếm được Đông Kinh, bèn giết Quang Trị và những người em để chạy về Chiêu Tông. Tặc thần Lê Quảng Độ do đầu hàng Trần Cảo bị giết, cùng năm Nguyên quận công Trịnh Duy Sản do đánh tàn dư của Trần Cảo bị tử trận.
Năm 1518, có người đặt ra câu ca rằng: "Trần hữu nhất nhân, vi thiên hạ quân, thố đầu hổ vĩ, tế thế an dân", nghĩa là: Có một người họ Trần, làm vua thiên hạ, đầu thỏ đuôi hổ, trị nước yên dân. Quốc cữu Chử Khảo, Thọ quốc công Trịnh Hựu, cùng với Thuỵ quân công Ngô Bính khuyên Chiêu Tông giết Chân. Ngày 11 tháng 7, Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ Trần Trí, Nguyễn Nga, Nguyễn Bá Đại, Lê Nguyên Khâm.
Nhóm thủ hạ của Trần Chân là Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thì họp binh với nhau ở chùa Yên Lãng , đánh sát vào kinh thành. Chiêu Tông nghe tin, đang đem trốn vào Gia Lâm. Bấy giờ, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đóng quân ở xứ Sơn Nam có hơn 1 vạn người, nghe tin quan gia chạy ra ngoài, quân lính tan cả. Thế là quân Sơn Tây thả sức cướp phá, trong thành sạch không, Kinh sư thành bãi săn bắn, đánh cá. Chiêu Tông cho gọi Nguyễn Hoằng Dụ ra đánh bọn Nguyễn Kính. Nhưng Hoằng Dụ lưỡng lự không đi.
Chiêu Tông bèn triệu thông gia của Trần Chân là Vĩnh Xuyên bá Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương về cứu, rồi sai người đi dụ Nguyễn Kính. Nguyễn Kính đòi giết Chử Khải, Trịnh Hựu, Ngô Bính là những người gièm pha Trần Chân. Chiêu Tông nghe kế của Đàm Cử, bèn giết 3 người, nhưng Nguyễn Kính lại càng hoành hành, đóng quân không rút.
Mạc Đăng Dung khuyên Chiêu Tông về Bảo Châu (huyện Từ Liêm), nhưng nội thần Đỗ Nhạc và Nguyễn Dư can ngăn, Đăng Dung đem giết cả 2, đưa Chiêu Tông cùng em là Lê Xuân về Bảo Châu.
Chiêu Tông sai người đi mời Nguyễn Hoằng Dụ lần nữa và sai Mạc Đăng Dung cùng đi đánh Nguyễn Kính. Hoằng Dụ được tin, bèn đem quân Thanh Hoa ra cứu nhưng không lâu sau bị Nguyễn Kính đánh bại, bỏ chạy về Thanh Hóa rồi chết, để một mình Mạc Đăng Dung ở lại cầm cự.
Tháng 1 năm 1519, Trịnh Tuy làm cầu phao tiến quân, qua giữa sông để khiêu chiến với Chiêu Tông. Chiêu Tông sai các tướng đánh phá, chặt đứt cầu phao. Trịnh Tuy cùng Lê Do rút về vùng Yên Lãng, Yên Lạc (Vĩnh Phú ngày nay). Chiêu Tông lại sai tướng đến đánh, bọn Tuy đang đêm kinh sợ trốn chạy.
Tháng 7, Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn, bị Đăng Dung bắt được, giải về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy về Thanh Hoá. Các tướng Sơn Tây là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc đều xin hàng. Chiêu Tông phong Mạc Đăng Dung làm Minh quận công (明郡公). Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà nắm hết quyền bính.
Ngày 27 tháng 7, năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), Chiêu Tông chạy ra huyện Minh Nghĩa ở Sơn Tây (vùng đất nay thuộc tỉnh Hà Tây), lúc đó ông mưu ngầm với bọn Phạm Hiến, Phạm Thứ, sai người đem mật chiếu vào Tây Kinh bảo Trịnh Tuy nghênh viện. Hôm sau Đăng Dung nghe tin, cho người đuổi theo nhưng Chiêu Tông quyết chống lại, chạy vào thành Tây Kinh. Trong kinh thành, Mạc Đăng Dung cùng Thái sư Lượng quốc công Lê Phụ và các công hầu lập em của Chiêu Tông là Lê Xuân lên ngôi. Ngày 1 tháng 8, Mạc Đăng Dung cùng Lê Phụ tôn Lê Xuân lên, tức Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông, gọi là Quang Thiệu Đế (光紹帝). Cung Hoàng lên ngôi, đặt niên hiệu là Thống Nguyên (統元), trong nước lúc đấy tồn tại 2 vị hoàng đế. Cung Hoàng bị Đăng Dung dời đến Hồng Thị, thuộc Hải Dương tạm trú ẩn; ngay khi nghe tin ấy Chiêu Tông ngự về Đông Kinh, thiết lập lại triều đình.
Bấy giờ các xứ Tây, Nam, Bắc thì Chiêu Tông đều lấy được cả, thanh thế lớn. Sau đó, Trịnh Tuy đem quân phủ Thanh Hóa vào chầu, Chiêu Tông nghe lời nịnh mà chém thuộc tướng của Tuy, nên Tuy sinh lòng hận thù. Ngày 18 tháng 10, Trịnh Tuy bắt Chiêu Tông về Thanh Hóa, Tây Kinh, cả nước đều thất vọng. Ngày 18 tháng 12, Mạc Đăng Dung sau khi dẹp phản loạn Giang Văn Dụ, đuổi khỏi kinh thành, đưa Cung Hoàng từ Hồng Thị về kinh sư.
Năm 1523, sau khi Trịnh Tuy đem Chiêu Tông về Thanh Hóa, quân lực Chiêu Tông bị giảm đáng kể, Đăng Dung liên tiếp sai Sơn Đông hầu Mạc Quyết, Quỳnh Khê hầu Vũ Hộ, Dương Xuyên hầu Vũ Như Quế đi đánh Trịnh Tuy ở Thanh Hoa, phá tan quân Tuy. Tuy liền dời Chiêu Tông lên châu Lang Chánh. Năm đó Đang Dung giáng Chiêu Tông làm Đà Dương vương (陀陽王).
Năm 1525, Cung Hoàng phong Mạc Đăng Dung thêm thành Bình chương quốc trọng sự, đem quân đánh Trịnh Tuy, Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đang Dung bắt được Chiêu Tông ở động An Nhân. Về đến kinh sư, Đăng Dung giam Chiêu Tông ở phường Đông Hà. Nghe tin Chiêu Tông bị bắt, các quần thần Phúc Lương hầu Hà Phi Chuẩn, Nghiêm Bá Kỳ, Đàm Thận Huy đều bị truy lùng và giết chết, bấy giờ triều đình đều nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Ngày 18 tháng 12, năm 1526, Đang Dung bí mật sai Bái Khê bá Phạm Kim Bảng giết Chiêu Tông ở nơi bị giam, đem xác về chôn ở Vĩnh Hưng lăng.
Sử sách ghi Trang Tông là con của Chiêu Tông, sinh năm 1514. Điều đó khiến các nhà nghiên cứu nghi ngờ vì khoảng cách giữa Chiêu Tông và Trang Tông quá ngắn, chỉ có 8 năm. Nhà Mạc, trong biểu tâu nhà Minh, phân trần về việc này cũng nói rằng: Nguyễn Kim dựng con mình lên ngôi, nói dối là con của vua Chiêu Tông.
Sử sách chép về cuộc đời Chiêu Tông cũng có mâu thuẫn. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi: Chiêu Tông sinh ngày 4 tháng 10 năm Đoan Khánh thứ 2 đời Lê Uy Mục, tức năm 1506, nhưng khi ông được đưa lên ngôi năm 1516, đáng lý ghi "lên 11 tuổi" lại ghi "lên 14 tuổi" và khi ông bị hại năm 1526, đáng lý phải ghi: "thọ 21 tuổi" thì lại ghi "thọ 26 tuổi" (nếu làm phép suy ngược thì Chiêu Tông có 3 năm sinh khác nhau: 1506, 1503, 1501). Phải chăng việc "hợp thức hoá" cho quan hệ cha - con của Chiêu Tông - Trang Tông chưa được kín kẽ?
Lê Thái Tông trước đây cũng lên ngôi năm 11 tuổi và cũng phải đối phó với quyền thần Lê Sát, Lê Ngân. Nhưng khi đó cơ nghiệp do Lê Thái Tổ để lại còn vững, chính sự nhà Lê đi vào ổn định, trong triều vẫn có nhiều lương thần phù trợ và đặc biệt là không có biến động trong đời sống xã hội, cuộc sống của nhân dân được đảm bảo, do đó ngôi vua của Thái Tông được duy trì.
Tới thời Chiêu Tông, lương thần thì ít mà gian thần đã quá nhiều. Sự đổ nát của chính sự nhà Lê thực ra đã bắt đầu từ thời các vua quỷ Uy Mục và vua lợn Tương Dực. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, bạo loạn đã bùng phát từ thời hai vua này, trước khi Chiêu Tông lên ngôi. Nhà Lê đổ nát tới mức khi quân khởi nghĩa Trần Cảo vào kinh, thái sư đầu triều Lê Quảng Độ lập tức theo hàng, vì ông hiểu rằng Chiêu Tông hay Lê Doanh cũng chỉ là những con bài chính trị trong tay các quyền thần thuộc các thế tộc họ Trịnh và họ Nguyễn. Chính sự suy đồi của nhà Lê khiến những người như Trần Cảo rắp tâm xưng hiệu không còn nể sợ "mệnh trời".
Nhà Lê dường như luôn bị họ Trần ám ảnh trên vũ đài chính trị. Trước kia Lê Thái Tổ giết vua (trên danh nghĩa) Trần Cảo và sau đó giết công thần Trần Nguyên Hãn để tuyệt lòng nhớ tiếc của thiên hạ với nhà Trần. Tới vua Chiêu Tông lại dồn sức diệt một Trần Cảo khác và ngay lập tức trừ khử công thần Trần Chân. Có lẽ ông không ngờ rằng bụng dạ của các tướng không mang họ Trần mới thật khó lường.
Mỗi bước đi của các quan văn, võ đều đầy toan tính, tráo trở: Mạc Đăng Dung kết thông gia với Trần Chân khi Chân đắc thế, nhưng khi cùng Chân đánh Nguyễn Hoằng Dụ lại ngầm thả cho Dụ đi để tranh thủ Dụ làm cái thế chân kiềng; Nguyễn Hoằng Dụ do dự khi phát quân cứu vua; Trịnh Tuy vừa so gươm với triều đình, hôm sau lại đến xin làm quân cần vương. Không riêng Chiêu Tông, các hoàng đế thiếu niên khác được lập khi đó như Lê Doanh, Lê Bảng, Lê Do, Quang Trị... đều nằm trong mục đích "dễ kiềm toả" của các quyền thần để họ thực hiện ý đồ của Vương Mãng, Đổng Trác trong lịch sử Trung Quốc.
Trong cảnh loạn lạc đó, Chiêu Tông đã không đủ sáng suốt để cứu vãn tình hình. Lúc Trần Chân đại phá được Trần Cảo, tình hình đã tạm yên, Cảo phải bỏ ngôi đi tu thoát thân, Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy phải "nín hơi lặng tiếng", Mạc Đăng Dung chưa có cơ hội "nổi đình đám". Việc ông vội vã sát hại Trần Chân bị các sử gia coi là sai lầm, ví như Lý Cao Tông giết Phạm Bỉnh Di, Trần Giản Định Đế giết Đặng Tất - tự cắt chân tay khi đại cuộc chưa định. Đó là sai lầm đầu tiên của một hoàng đế mới 13 tuổi (1518) vừa trải qua cơn binh hỏa, phải liên tục "di giá" sau khi lên ngôi. Sau đó, khi thoát khỏi tay Mạc Đăng Dung, Chiêu Tông đã có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các tướng ở Bắc Bộ khiến uy thế của Đăng Dung chao đảo, thì ông lại tin theo, dựa vào Trịnh Tuy, một kẻ từng là phản thần của triều đình, từng công khai chống lại ông, khiến lòng người chia lìa. Giả sử lúc đó Chiêu Tông giết Tuy với tội danh như giết phản thần Trịnh Duy Đại trước đây khiến các cánh quân cần vương không bị giải tán thì Mạc Đăng Dung khó mà thay đổi được cục diện nhanh đến như vậy. Đó là sai lầm lớn thứ hai của Chiêu Tông, lúc đó đã 17 tuổi, có 6 năm trải nghiệm trên ngai vàng thời loạn và lần này thì không thể chuộc lại.
Sau khi Lê Chiêu Tông thất bại, cơ nghiệp nhà Lê coi như đã không còn, vì vua em Cung Hoàng vốn đã chỉ là con bài trong tay họ Mạc từ khi được đưa lên ngai.
Nhà Lê sơ (1428 - 1527)(tiếp)
Lê Tương Dực
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lê Tương Dực Đế 黎襄翼帝 |
|
|---|---|
| Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...) | |
| Hoàng đế nhà Hậu Lê | |
| Trị vì | 1509 - 1516 |
| Tiền nhiệm | Lê Uy Mục |
| Kế nhiệm | Lê Quang Trị Lê Chiêu Tông |
| Thông tin chung | |
| Thê thiếp | Khâm Đức hoàng hậu |
| Tên húy | Lê Oanh (黎瀠) Lê Trừu (黎晭) |
| Niên hiệu | Hồng Thuận (洪順) |
| Thụy hiệu | Linh Ẩn vương (靈隱王) Tương Dực hoàng đế (襄翼皇帝) |
| Triều đại | Nhà Hậu Lê |
| Thân phụ | Lê Đức Tông |
| Thân mẫu | Huy Từ Kiến hoàng hậu |
| Sinh | 25 tháng 6, 1495 |
| Mất | 7 tháng 4, 1516 (20 tuổi) hồ Chu Tước, phường Bích Câu, Đông Kinh |
| An táng | Nguyên Lăng (元陵) |
Tương Dực đế được đánh giá là người có công khi lật đổ Lê Uy Mục, sửa sang việc học, khôi phục văn miếu, xứng đáng kế thừa sự nghiệp vẻ vang của Cao Hoàng, Thuần Hoàng, làm rạng danh cơ nghiệp. Khi quốc khố sung túc, ông sai Vũ Như Tô xây dựng điện 100 nóc, lại xây công trình quy mô lớn là Cửu Trùng Đài, làm nhiều cung điện quy mô hơn xung quanh. Cũng vì vậy, tài nguyên dần suy kiệt, người lao động bị sai đi xây dựng kiệt sức, tạo mầm mống để cho bọn loạn thần phiến loạn.
Năm 1515, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản nghe lời thuộc hạ và Thái sư Lê Quảng Độ (黎廣度), đang đêm đem quân vào kinh sư, truy lùng và bắt giết Tương Dực đế, lập tông thất Lê Y (黎椅) lên thay, tức Lê Chiêu Tông.
Thân thế
Tương Dực đế tên húy là Lê Oanh (黎瀠) , còn có tên là Lê Trừu (黎晭), là cháu nội của Thánh Tông Thuần hoàng đế, con trai thứ hai của Kiến Vương Lê Tân và bà Trịnh Thị Tuyên, người làng Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (tức Thọ Xuân, Thanh Hoá).Kiến vương có 4 người con trai, đều do Trịnh phu nhân sinh ra: con cả Lê Sùng (黎漴), được phong Cảm Giang vương (錦江王), con thứ 2 chính là Lê Oanh; con thứ 3 là Lê Vinh (黎濴), được phong Tĩnh Lượng công (靖亮公) và con út Lê Quyên (黎娟) do còn nhỏ chưa được phong.
Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công (簡修公).
Khởi nghĩa và lên ngôi
Lê Uy Mục giết hại tông thất, giam bắt giam Giản Tu công Lê Oanh. Lê Oanh muốn chạy thoát ra ngoài, mới đem của cải ải đút lót với người cai ngục. Người cai ngục được tiền, liền thả cho ông chạy thoát. Lê Oanh một mình chạy trốn vào thành Tây Đô mà không kịp báo cho mẹ, anh em mình một tiếng. Đến khi chạy đến được cửa biển Thần Phù, Lê Oanh được đại thần thất sủng là Nguyễn Văn Lang ra đón rước, rồi được tôn lên là minh chủ. Ông cùng Nguyễn Văn Lang và với những người khác như Nguyễn Diễn, Ngô Khế, Nguyễn Bá Cao, Lê Trạm, Nguyễn Bá Tuấn, Lê Tung, Nguyễn Thì Ung dấy binh khởi nghĩa chống lại Uy Mục đế.Để chiêu dụ các đại thần và các quan, Lê Oanh sai Lương Đắc Bằng viết hịch rằng:
| “ | Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ hèn kém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muôn khoé. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn ngoại thích được tin dùng mà phường đuôi chó ngang ngược làm bậy, người cứng cỏi bị ruồng bỏ mà kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa. Quan tước đã hết rồi vẫn thưởng tràn không ngớt, dân chúng đã cùng khốn còn vơ vét chẳng thôi. Vét thuế khoá từng cân lạng, tiêu tiền của như đất bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính. Đãi bề tôi như chó ngựa, coi dân chúng tựa cỏ rác ngạo mạn quá cả Nguỵ Oanh. Huống chi lại xây cung thất to, làm vườn hoa rộng. Xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổ chất gò Hoa Cương đời Tống; lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xây cung A Phòng nhà Tần. Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồi xây lên, dân Hải Dương, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêu căng lại ngang ngược, ngang ngược lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xôn xao, rối loạn. Cư dân nhức óc, cả nước đau lòng. | ” |
— Hịch
|
||
Ngày 23 cùng năm, anh em trai của ông là Cẩm Giang Vương Lê Sùng (黎漴), Tĩnh Lượng công Lê Vinh (黎濴), Lê Quyên (黎娟), Trịnh phu nhân cùng phò mã Nguyễn Kính (阮 敬) đều bị Uy Mục đế giết. Tuy vậy, quân của ông vẫn dùng cờ chiêu an của Cẩm Giang Vương (錦江王) để dụ Lê Vũ về hàng. Lê Vũ mới đem đầu Cẩm Giang Vương ra trước trận, giơ lên cho xem và nói:
- Đây là cái đầu của Cẩm Giang vương, chúng bay còn nói láo làm gì?
Ngày 26 năm ấy, các dinh quân của Lê Oanh đều tiến đến các xứ Bảo Đà, Nhân Mục, Hồng Mia, Thiêu Thân ở sát Kinh thành. Uy Mục đế vì cần thêm quân để chống giữ mới lấy vàng bạc tiền của ban cho bọn tội nhân bị giam ở ty Ngũ hình mỗi người 3 quan, rồi sai đi đánh quân Lê Oanh. Tù nhân nhận được tiền, không những không đi đánh mà người nào người nấy đều bỏ về nhà. Uy Mục Đế sợ hãi lại vội vã chọn người đi gọi quân các xứ. Những người này đi chưa đến nơi, thì đại quân của Lê Oanh đã áp sát vào thành, nhiều người bỏ chạy thoát thân.
Tướng trấn thủ là Lê Quảng Độ (黎廣度) cùng với Giản Tu công Lê Oanh người trong kẻ ngoài thông tin với nhau, lại cho bắn súng làm hiệu, dựng gậy làm cờ, chặt cây làm binh khí giả đánh lộn lẫn nhau cho các quân kinh hãi, rồi mới ép Uy Mục đế chạy lên phía Bắc. Giản Tu công Lê Oanh sau khi đem quân vào thành Đông Kinh nghe tin gia quyến đều bị hại, liền sai quan sửa việc tang và làm lễ chôn cất.
Ngày 28 năm ấy, Uy Mục đề chạy tới phường Nhật Chiêu thì bị một vệ sĩ cũ bắt được, nộp cho Giản Tu công. Ông đem giam Uy Mục đế ở cửa Lệ Cảnh. Ngày 1 tháng 12 Uy Mục đế vì buồn bã nên đã uống thuốc độc tự tử. Giản Tu công Lê Oanh vì căm việc Uy Mục đế sát hại gia quyến mình rất thảm khốc, mới sai người để xác cựu Hoàng vào miệng súng súng lớn, rồi cho bắn nổ tan xác.
Ngày 4 tháng 12, cùng năm ấy, Giản Tu công Lê Oanh tự lập làm Hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Thuận (洪順). Ông lấy ngày sinh làm Thiên Bảo thánh tiết (天保聖節), tự xưng là Nhân Hải Động chủ (仁海洞主).
Hồng Thuận thời đại
Hưng trị
Vừa khi lên ngôi, Tương Dực đế đã trú trọng thưởng các công thần. Ông ra chỉ ban thưởng như sau:- Nguyễn Văn Lang từ Nghĩa quận công (義郡公) lên làm Nghĩa quốc công (義國公); Lê Quảng Độ từ Thiệu quận công (紹郡公) lên làm Thiệu quốc công (紹國公); Lê Phụ (黎輔) từ Lượng quận công (諒郡公) lên làm Lượng quốc công (諒國公); Lê Bá Lân (黎伯璘) từ Uy quận công (威郡公) lên làm Uy quốc công (威國公); Trịnh Duy Đại (鄭維岱) từ Hộ bộ thượng thư lên làm Văn quận công (文郡公); Trịnh Hựu (鄭侑) từ Thụy Dương hầu (瑞陽侯) lên làm Thọ quận công (壽郡公); Lê Mậu Chiêu (黎荗昭) từ phò mã đô úy lên làm Diên quận công (延郡公); Nguyễn Hoằng Dụ được ban làm An Hòa hầu (安和侯); Trịnh Duy Sản làm Mỹ Huệ hầu (美惠侯); Nguyễn Bá Tuấn (阮伯俊) từ Tổng binh chiêm sự Thanh Hóa thành Lễ bộ thượng thư, tước Do Lễ bá (由禮伯); Lê Tung từ Thanh Hóa thừa tuyên sứ thành Lại bộ thượng thư, tước Đôn Thư bá (敦書伯); Nguyễn Thì Ung (阮時雍) từ Thanh Hóa tham chính thành Ngự sử đài Đô ngự sử, tước Lương Văn bá (良文伯); Đàm Thận Huy (譚慎徽) được phong Hình bộ thượng thư, Hàn Lâm viện thị độc, chưởng quản Hàn Lâm viện; Lương Đắc Bằng (梁得朋) được làm Lại bộ tả thị lang.
Trong những năm đầu cầm quyền, Tương Dực Đế cũng có vài đóng góp thể hiện sự cố gắng vực dậy đất nước đã suy tàn, nhất là trong lĩnh vực khoa cử. Năm 1511, ông tổ chức kỳ thi Hội, đến kỳ thi Đình thì ông đích thân ra đề văn hỏi về đạo trị quốc. Ông cho trùng tu Quốc Tử Giám, dựng lại bia tiến sĩ tỏ rõ sự khuyến khích hiền tài. Đông các đại học sĩ Đỗ Nhạc đã soạn bài ký ở Quốc Tử giám ca ngợi công đức của Tương Dực Đế:
- Hoàng đế thông minh xứng đáng bậc chí tôn, sáng suốt làm gương cả nước, khôi phục quy mô xây dựng cơ nghiệp của Thái Tổ Cao Hoàng, mở rộng nền móng văn giáo thịnh trị của Thánh Tông Thuần Hoàng. Sáng vầng sao Khuê, ngang trời dọc đất thì có tập Bảo thiên thanh hạ; mở gương trị giáo mẫu mực xưa nay thì có tập Quang thiên thanh hạ. Thánh học ngày càng cao minh, thánh đức ngày càng thuần tuý. Hơn nữa, đến nhà Thái Học hỏi về đạo trị nước, ra nơi điện đình thi chọn bọn học trò, then máy cổ võ lại càng chu đáo lắm. Đã sai quan chọn bọn học trò, then máy cổ võ lại càng chu đáo lắm. Đã sai quan trùng tu Quốc tử giám và làm mới nhà bia, lại nghĩ tới hai khoa Ất Sửu, Mậu Thìn chưa có dựng bia, liền sai quan khắc bia soạn ký để dựng lên. Như vậy có thể thấy được cái ý tôn sùng đạo học, khuyến khích hiền tài sâu sắc dường nào!
Nay, Tương Dực định lệ đổi lại mỗi năm thu được: Vàng mười thứ "kiêm kim" 449 lượng; Vàng mười 2.901 lượng; Bạc 6.125 lượng. Những vàng bạc đó nộp vào kho để cho hoàng gia tiêu dùng. Còn cách thu nộp thế nào cũng không rõ.
Năm 1510, Tương Dực sai quan Binh bộ Thượng thư là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt thông giám hay Việt giám thông khảo. Đại Việt thông giám gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Thái Tổ Cao hoàng đế.
Tương Dực còn sai Lê Tung soạn bài tổng luận về bộ sử ấy. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử.
Nội loạn Trần Tuân
Ngày 11 tháng 11, năm 1511, người làng Quang Bị, huyện Bất Bạt là Trần Tuân nổi loại ở vùng Sơn Tây. Bấy giờ, nhân dân các phố xá ở kinh thành náo động, đều đem vợ con về quê quán, đường phố không còn một ai đi lại. Hoàng đế sai Hộ bộ hữu thị lang Lê Đĩnh Chi, cùng các quan khoa, đài đi khám xét các phố xá hàng chợ, xem người nào còn nhà ở, người nào vợ con đã về quê quán, ra lệnh cấm rất nghiêm ngặt, xử tội rất nặng những người đã cho vợ con về quê quán, dân chúng khó bè nhắc chân động tay. Những người đã để vợ con về quê, thì phần nhiều đem người khác đến, nói dối là vợ con mình để đợi sai quan tới khám xét. Đến đây, lại sai xá nhân đến tận nhà các đại thần và văn thần xem thực hư ra sao, thì thấy vợ con của 5 người là bọn Lê Đĩnh Chi, Nguyễn Tông Thốc, Nguyễn Lý Quang và Hàn lâm kiểm thảo Ngô Tuy, Giám sát ngự sử Trần Húc đều về nguyên quán. Hoàng đế sai giết bọn Đĩnh Chi ở ngã ba phường Đông Hà, vì bọn Đĩnh Chi làm quan đi khám xét mà vợ con lại trốn về quê trước, cho nên xử tội.Tương Dực sai Mỹ Huệ hầu Trịnh Duy Sản chỉ huy quan quân đi đánh Trần Tuân. Bấy giờ, quân của Tuân đã bức sát đến huyện Từ Liêm (Quốc Oai), quan quân bại trận, lui về đóng ở các xứ Đông Ngạc, Nhật Chiêu.
Thế quân của Tuân rất mạnh, muốn bức sát kinh thành. Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang sai quân 6 vệ Điện tiền kéo thuyền Tiểu Thiên Quang xuống sông, định đưa hoàng đế ngự về Thanh Hoá, giữ nơi hiểm yếu rồi gọi hết bọn thợ của các sở ở Công bộ và thợ thường ban, bày kỵ binh ở xứ Đông Hà để giữ. Đến đêm, bọn họ hoảng sợ trốn về cả. Tương Dực sai Minh Luân bá Lê Niệm, Tổng thái giám Lê Văn Huy và 2 người khoa văn học sinh đem lực sĩ của hai ty Hải Thanh và Hà Thanh chèo hai chiếc thuyền nhẹ ra xứ Từ Liêm để dò xét tình hình quân giặc.
Niệm đến chợ An Giang trước thấy phố xá bị thiêu trụi, quan quân đã bại trận rút về, vượt sông vào xã Quả Hối. Niệm lại chạy về, vào điện tâu trước mặt Tương Dực. Bấy giờ, Duy Sản bị giặc đánh bại, thủ hạ chỉ còn hơn 30 người, xé áo làm hiệu, thề cùng nhau đánh giặc. Giờ Dậu, Duy Sản thình lình xuất hiện, đột nhập vào dinh của Tuân, thấy Tuân mặc áo đỏ ngồi trên giường, liền dùng giáo đâm chết Tuân, bè đảng của Tuân đều tan chạy cả. Bấy giờ quân lính của Tuân đóng ở chỗ khác, không biết là nghịch Tuân đã chết, vẫn cứ đóng quân như trước.
Ngày 20, Tương Dực làm lễ tấu cáo ở Thái Miếu, rồi sai Nguyễn Văn Lang đem tướng sĩ, voi ngựa của các doanh đi đánh. Bấy giờ, Duy Sản đã giết Trần Tuân, liền thừa thế bắn ba tiếng súng, các quân đánh trống hò reo tiến vào, đánh tan quân giặc, đuổi theo đến các xã Thuỵ Hương, Quả Động, Đông Ngạc, đâm chết rất nhiều. Sau này định công ban thưởng, ban phong Trịnh Duy Sản là Nguyên quận công (原郡公), những người đi theo Duy Sản đâm chết được nhiều giặc đều được trao chức đô chỉ huy đồng tri.
Suy trị
Năm 1513, có sứ thần nhà Minh là Phan Huy Tăng (潘希曾) đến theo lệnh sắc phong Tương Dực làm An Nam quốc vương (安南國王). Đến khi trông thấy ông, Huy Tăng nói với người đồng hành là Nhược Thủy rằng: Quốc vương An Nam mặt thì đẹp mà người lại lệch, tính háo dâm, là vua lợn, loạn vong sẽ không lâu đâu (安南國王貌羙而身傾性好滛乃諸王也乱亡不久矣), nên từ đấy có lời dị gọi ông là Trư vương (豬王). Ông có bài thơ họa lại tiến sứ thần về nước.Lời nói của sứ thần nhà Minh như báo hiệu cho nghiệp trị nước của Tương Dực đế sớm lụi tàn. Những năm về sau, hoàng đế chỉ lo xây cất nhà cửa, lâu đài, chơi bời xa xỉ truỵ lạc. Tháng 5 năm 1514, nghe lời của Hiệu uý Hữu Vĩnh, Tương Dực đế giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm.
Năm 1516, hoàng đế cho đắp thành rộng cả ngàn trượng chắn ngang sông Tô Lịch. Để thể hiện uy quyền đế vương, ông sai một người thợ là Vũ Như Tô xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài. Quân dân làm trong mấy năm trời không xong, hao tổn tiền của, chết hại nhiều người. Bỏ bê việc nước, chỉ ngày ngày du ngoạn Tây Hồ, Tương Dực nghĩ ra nhiều trò quái lạ. Thói trụy lạc của Tương Dực ngày càng lộ rõ khi ông ra lệnh làm thuyền chiến thật trang hoàng lộng lẫy rồi bắt các cung nữ trần truồng, tay cầm cái chèo đánh nhịp làm đại nhạc để hoàng đế thưởng sắc.
Sự sa đọa của Tương Dực Đế sách Đại Việt sử kí toàn thư đã chép:
| “ | Trước đây, vua thích làm nhiều công trình thổ mộc, đắp thành rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp hoàng thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang. Lại sai làm thuyền chiến, sai thợ vẽ kiểu, sai bọn nữ sử trần truồng chèo thuyền chơi trên Hồ Tây, vua cùng chơi, lấy làm vui thích lắm. Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân năm phủ đắp thành chưa xong được, đến đây lại có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành phải làm, tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng ngày bất thần ngự chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua năm khác, liên miên không dứt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một phần mười | ” |
— Đại Việt sử ký toàn thư
|
||
Bị hại
Tháng 3, năm Hồng Thuận thứ 8 (1516), xảy ra bạo loạn đánh dấu sự sụp đổ của triều đại Lê Tương Dực.Ở huyện Thủy Đường (Hải Phòng), một người là Trần Cảo (hay còn gọi là Trần Cao), thấy sấm nói rằng ở phương đông có thiên tử khí[8], bèn tụ tập được nhiều người lấy đất Hải Dương, Thủy Đường, Đông Triều, rồi tự xưng là vua Đế Thích giáng sinh. Trần Cảo thành lập quân đội, người đi theo đến hàng vạn.
Trần Cảo đem quân về đóng ở đất Bồ Đề, bên kia sông Nhị Hà, định sang lấy kinh đô Đông Kinh. Tương Dực đích thân xuất chinh đi đánh giặc, ngự ở trên điện ra lệnh điều động các tướng. Sau quân triều đình sang đánh, Trần Cảo lui về đóng ở Trâu Sơn, thuộc phủ Từ Sơn. Tương Dực sai An Hòa hầu là Nguyễn Hoằng Dụ sang đóng quân ở Bồ Đề để chống giữ.
Nguyên Quận công là Trịnh Duy Sản, trước có công đi đánh dẹp Trần Tuân, nhiều lần trái ý Tương Dực, bị đem đánh bằng roi, rồi sinh lòng thù hận. Duy Sản bất mãn mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm để lập người khác, sửa sang binh giới ở bến Thái Cực, nói dối là đi đánh giặc. Đêm ngày 6 tháng 4, hồi canh hai, đem hơn 3000 người ở các vệ Kim ngô và Hộ vệ vào cửa Bắc Thần. Tương Dực nghe tin ấy, ngờ là có giặc đến, bèn ngự ra ngoài cửa Bảo Khánh.
Ngày mồng 7, mờ mờ sáng, có Thừa chỉ Nguyễn Vũ theo hoàng đế đi tắt qua cửa nhà Thái Học. Đến hồ Chu Tước, phường Bích Câu hoàng đế gặp Duy Sản và hỏi: Giặc ở phương nào?. Duy Sản không trả lời, quay nhìn chỗ khác cười ầm lên. Hoàng đế ngờ ngợ, quất ngựa chạy về phía tây. Duy Sản sai vũ sĩ là tên Hạnh cầm giáo đâm ông ngã ngựa chết rồi giết chết. Nguyễn Vũ cũng chết theo . Duy Sản còn sai người đem xác Tương Dực về quán Bắc Sứ, khâm liệm rồi đem thiêu. Khâm Đức hoàng hậu cũng nhảy theo tự thiêu. Quân sĩ đem hai quan tài về chôn ở huyện Ngự Thiên, giáng phong hoàng đế làm Linh Ẩn Vương (靈隱王).
Toàn thư nhận xét:
- Linh Ẩn gian dâm với vợ lẽ của cha, để tang cha mẹ ít ngày, mượn tên của anh để cướp nước của người khác, xa hoa dâm dục quá độ, hình phạt nặng, thuế khoá nhiều, giết hết các thân vương, can qua xảy ra khắp nơi, người thời ấy gọi là "vua lợn", điềm nguy vong đã được thấy đó!"
Gia quyến
- Thân phụ: Kiến vương Lê Tân, về sau truy tôn làm Đức Tông Kiến hoàng đế (德宗建皇帝).
- Thân mẫu: Trịnh Thị Tuyên, cháu gái Dương Vũ công thần Ngọc quận công Trịnh Khắc Phục. Năm 1509, bà cùng các anh em Tương Dực bị Uy Mục giết chết. Tương Dực truy tôn bà làm Huy Từ Kiến hoàng hậu (徽慈建皇后).
- Hậu cung: Khâm Đức hoàng hậu Nguyễn thị (欽德皇后阮氏), người huyện Văn Giang, con gái viên quan lĩnh họ Nguyễn. Được sắc lập làm Hoàng hậu. Sinh ra 3 hoàng nữ. Khi Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết chết, đem thiêu ở quán Bắc sứ, bà lao vào lửa ở điện Mục Thanh chết theo. Bà được mai táng cùng Tương Dực trong Nguyên Lăng.
- Con: 3 hoàng nữ do Khâm Đức hoàng hậu sinh
- Bảo Phúc công chúa (宝福公主), tên là Thọ Túc (壽肅).
- Hoàng nữ Thọ Nguyên (壽元), chưa phong.
- Hoàng nữ Thọ Kính (壽敬), chưa phong.
Nhận định
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có lời nhận định về Lê Tương Dực:| “ | Vua buổi đầu lên ngôi, ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt, cũng đáng coi là có công nghiệp. Song chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên, dẫn đến nguy vong là bởi ở đấy. | ” |
— [1]
|
||
Trần Cảo (tướng khởi nghĩa)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đối với các định nghĩa khác, xem Trần Cảo.
Trần Cảo (chữ Hán: 陳暠) là thủ lĩnh quân khởi nghĩa cuối thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, làm nhà Lê suy yếu và đi đến sụp đổ. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục do phải tị húy nên thay chữ "cảo" 暠 trong tên ông bằng chữ "cao" 高, gọi ông là Trần Cao (陳高).Khởi nghĩa
Sử chép Trần Cảo là người trang Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).Cuối thời Lê sơ, Trần Cảo làm đến chức Thuần Mỹ điện giám. Bấy giờ, các vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực tàn ác, chơi bời sa đọa, triều chính rối ren, khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra. Trần Cảo nghe lời sấm truyền trong dân gian rằng "đông phương hữu thiên tử khí" bèn quyết định khởi binh lập nghiệp lớn.
Ông tụ tập những người tha hương trốn tránh làm vây cánh, tự xưng là cháu năm đời của vua Trần Thái Tông và là ngoại thích của Quang Thục hoàng hậu, mẹ vua Lê Thánh Tông. Tháng 3 năm 1516, ông cùng con là Cung (㫒) và các thủ hạ Phan Ất người Chiêm Thành, Đình Ngạn, Đình Nghệ, Công Uẩn, Đình Bảo, Đoàn Bố dấy binh khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm, chiếm cứ hai huyện Thủy Đường và Đông Triều.
Trần Cảo khi ra trận mình mặc áo đen, quân lính đều cạo trọc đầu, để ba chỏm tóc nên còn gọi là lính tam đóa (三鬌, nghĩa là ba chỏm tóc). Ông tự xưng là Đế Thích giáng sinh, xưng làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Ứng (天應). Cả một vùng Hải Dương phía đông, quân nhà Lê không chống đỡ nổi, quân tam đóa làm chủ. "Đại Việt thông sử" ghi nhận: "vùng Hải Dương đều rạp xuống như cỏ gặp gió, không ai chống cự nổi". Quân của Trần Cảo đông tới vài vạn người.
Đánh chiếm kinh thành
Tháng 4 năm 1516, Trần Cảo mang quân đánh vào các huyện Tiên Du, Quế Dương, Gia Lâm rồi tiến thẳng vào bến Bồ Đề, uy hiếp Thăng Long. Vua Lê Tương Dực phải xuống chiếu thân chinh đi đánh, trước hết sai Đông Nham bá Lại Thúc Mậu mang quân qua sông, đóng ở Lâm Hạ (nay thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) ra lệnh nổ ba tiếng pháo, hợp các đạo quân lại cùng đánh. Quân Trần Cảo bị thua, ông chạy về Trâu Sơn.Lê Tương Dực lại sai Định quận công Phùng Trấn, Diên Hưng bá Trịnh Khổng Chiêu, Phú Lộc bá Trịnh Ngạc đem quân đuổi đánh Trần Cảo. Trần Cảo đại phá quân triều đình, giết chết Phùng Trấn và Trịnh Khổng Chiêu, bắt sống được Trịnh Ngạc. Trịnh Ngạc không chịu đầu hàng nên Trần Cảo bèn giết chết.
Lê Tương Dực lo sợ, triệu tập An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ về cứu. Dụ mang quân về đóng ở dinh Bồ Đề.
Nhưng Tương Dực trong lúc nguy biến vẫn chơi bời hưởng lạc, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản thấy vậy thường can ngăn trái ý vua, Tương Dực bực tức sai đánh Duy Sản bằng trượng. Trịnh Duy Sản căm tức, ngấm ngầm bàn với Thái sư Lê Quảng Độ, Thượng thư Trình Chí Sâm cùng nhau bỏ Tương Dực để lập vua khác.
Đêm ngày 6 tháng Tư âm lịch (tức 7 tháng 5 năm 1516), Duy Sản lấy cớ đi đánh Trần Cảo rồi giết chết Lê Tương Dực. Nguyễn Hoằng Dụ vốn cùng phe với Tương Dực thấy Tương Dực bị giết bèn phóng lửa đốt phá và cướp kinh thành, rồi dẫn quân bỏ về phía nam, mặc việc triều chính cho phe Trịnh Duy Sản.
Trịnh Duy Sản cùng Thái sư Lê Quảng Độ lập chắt của Lê Thánh Tông (tức gọi Tương Dực bằng chú) là Y mới 11 tuổi lên ngôi, tức là Lê Chiêu Tông. Trần Cảo nhân đạo quân Nguyễn Hoằng Dụ rút rồi, bèn dồn sức tấn công kinh thành. Trịnh Duy Sản lật đật mang vua Chiêu Tông bỏ chạy vào thành Tây Đô ở Thanh Hóa, Thái sư Lê Quảng Độ ra đầu hàng Trần Cảo. Ông bèn thu dụng Lê Quảng Độ, tiến quân qua sông vào thành Thăng Long, giao cho Lê Quảng Độ cho coi việc triều chính.
Đại chiến ở kinh thành
Lúc đó con nuôi của Trịnh Duy Sản là Trần Chân họp tập thống suất các dũng sĩ cũ cùng con em trong nhà, binh tráng trong làng được mấy ngàn người, đóng ở chợ Hoàng Hoa để mưu tính công việc đánh Trần Cảo.Trần Cảo được tin, sai Phan Ất từ làng Bảo Đà huyện Thanh Oai tiến quân; Trần Chân từ làng Dư Dụ huyện Thanh Đàm đem quân đón đánh. Trần Chân tiến đến xạ đôi (mô đất để tập bắn ) cố sức đánh nhau với Phan Ất, khí giới đều hết phải lấy mảnh cong mảnh lọ để ném. Răng và miệng Trần Chân bị thương nặng, lại thấy rằng toán quân của mình chơ vơ khó có thể đánh lâu được, bèn nhân đêm rút quân đến chợ Hoàng Hoa.
Lê Chiêu Tông ở Tây Đô, tập hợp lực lượng quân tam phủ (Thiệu Thiên , Hà Trung và Tĩnh Gia thuộc Thanh Hóa) mưu khôi phục Thăng Long, sai Lê Nghĩa Chiêu thảo hịch đánh Trần Cảo.
Quân các trấn theo lời hịch về hội, Trịnh Duy Sản nhận lệnh vua Chiêu Tông thống lĩnh quân thuỷ lẫn quân bộ, hợp sức các tướng cần vương có Trịnh Hy, Lê Sạn, Lê Dực, Trương Huyền Linh tiến đánh kinh thành, vây 4 mặt.
Trần Cảo mang quân lên lầu ngoài cổng, vẫy cờ bắn súng chống lại. Quân khởi nghĩa từ cầu Mộng tiến vào cung Thuỵ Quang, quân của Trịnh Hy phải lùi lại, sắp rút về giữ Hồng Mai thì gặp quân Nguyễn Hoằng Dụ kéo tới, bèn cùng chấn chỉnh lại đội ngũ tiến vào cửa Đại Hưng.
Duy Sản đổi hướng đánh từ bến Thái Cực sang bến Đông Hà . Quân Trần Cảo núng thế, nhưng quân triều đình vẫn chưa chiếm lại được Thăng Long, bèn chuyển sang vây phía tây.
Trong khi chiến sự kinh thành chưa ngã ngũ thì một tướng ở Sơn Tây là Hà Công Chân muốn tranh công đánh lấy kinh thành, chống lại quân triều đình. Trịnh Duy Sản tự mình mang quân ra chặn đánh, giết chết Công Chân. Sau đó các đạo quân nhà Lê hợp lại phá tan quân Trần Cảo. Ông bèn phá vây bỏ chạy về Lạng Nguyên. Vua Chiêu Tông trở lại kinh đô.
Đại phá Trịnh Duy Sản
Lê Chiêu Tông treo giải thưởng cho ai bắt sống được cha con Trần Cảo. Tháng 8 năm 1516, quân nhà Lê bắt được tướng dưới quyền ông là Phan Ất ở Đông Triều, đóng cũi mang về Thăng Long xử chém.Trần Cảo vẫn hoạt động mạnh chống lại triều đình. Lê Chiêu Tông dùng Trịnh Duy Sản làm quyền tiết chế các doanh thuỷ bộ, quản lãnh các huyện ở Hải Dương. Tướng Trịnh Tuy mang quân đến đánh chiếm lại vùng Kinh Bắc từ tay quân Trần Cảo rồi đóng ở phía bắc Thị Cầu.
Tháng 11 năm 1516, Duy Sản cùng Nguyễn Hoằng Dụ dẫn các tướng đi đánh Trần Cảo ở xã Trâu Sơn, huyện Chí Linh (Hải Dương). Tuy nhiên, tình hình ở kinh thành không yên, kỷ luật của tướng sĩ không nghiêm. Các tướng triều đình do Đa Sĩ cầm đầu cậy có công làm càn, hoành hành cướp phá ở kinh đô, thả cửa giết người. Duy Sản nghe tin, vội sai con nuôi là Trần Chân điều bớt quân về kinh để dẹp các tướng làm loạn.
Sau đó quân của Trần Cảo đánh nhau giáp lá cà với quân Duy Sản ở xã Nam Giản . Quân khởi nghĩa giết chết tỳ tướng của Duy Sản là Hạnh. Quân Duy Sản bắt đầu núng thế. Quân Trần Cảo tới khiêu chiến, Trịnh Duy Sản muốn ra, các tướng can ngăn nhưng không nghe theo, tự mình đi tiên phong đánh vào trại Trần Cảo. Trần Cảo biết Sản nôn nóng muốn thắng bèn đặt phục binh, đánh tan quân triều đình. Trịnh Duy Sản cùng Nguyễn Thượng bị Trần Cảo bắt sống mang về hành dinh ở Vạn Kiếp giết chết.
Nhà sư biệt tích
Trần Cảo thừa thắng xông lên, tiến quân thẳng đến Bồ Đề để đánh kinh thành một lần nữa. Kinh thành lại gặp nguy hiểm. Lê Chiêu Tông liền sai tướng quân Thiết Sơn bá Trần Chân mang quân ra đón đánh. Trần Cảo có phần chủ quan sau khi giết được quốc công tiết chế Trịnh Duy Sản, bị Trần Chân đón đánh phá tan tành. Quân khởi nghĩa bị chết trận này rất nhiều.Trần Cảo bị thua nặng nề, phải chạy lên Lạng Nguyên. Quân Trần Cảo và quân triều đình lấy sông Minh Nguyệt làm ranh giới. Trần Cảo cùng Trần Chân đánh nhau nhiều ngày vẫn không phân thắng bại.
Sau đó, Trần Cảo truyền ngôi cho con là Trần Cung rồi cạo đầu làm sư, giấu tên để trốn tránh. Các sách sử đều ghi nhận, từ đó không tìm ra tung tích của Trần Cảo, không biết kết cục của ông ra sao. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tại các thôn Bảo Lộc, An Lạc, Chu Nguyên vẫn còn đền thờ ông và các sử gia phong kiến phỏng đoán "có lẽ Cảo chết ở đó".
Trần Cung nhân lúc các tướng nhà Lê tranh giành quyền bính giết hại lẫn nhau, tiếp tục chiếm cứ phía đông chống lại triều đình, cũng xưng làm vua, đặt niên hiệu là Tuyên Hoà tới tận năm 1521 mới thất bại dưới tay Mạc Đăng Dung – viên tướng giỏi nhất của nhà Lê lúc đó, người không lâu sau lấy ngôi của nhà Lê. Trần Cung bại trận chạy lên châu Thất Nguyên rồi bị triều đình tầm nã bắt được, giải về kinh hành hình.
Bình luận
Khởi nghĩa Trần Cảo là khởi nghĩa lớn nhất thời Lê sơ, tuy cuối cùng thất bại nhưng đã khiến triều đình nhà Lê nghiêng ngả. Các lực lượng quân phiệt khi đó lợi dụng việc chống Trần Cảo để phát triển lực lượng cho mình và hình thành các thế lực chia rẽ, chống đối nhà Lê. Dù không trực tiếp nhưng cuối cùng khởi nghĩa do ông đề xướng là một nguyên nhân khiến cho nhà Lê sụp đổ.Người tin theo thuyết duy tâm cho rằng, ông chính là hậu thân của Trần Cảo - Hồ Ông đầu thời Lê, người được Lê Lợi dựng làm vua theo yêu sách của tướng Minh là Vương Thông. Nhưng sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi rồi, Lê Lợi đã giết Trần Cảo đó để chiếm ngôi vua, vì vậy sau này Trần Cảo lại tái sinh để báo thù nhà Lê. (một điểm cần lưu ý là khi tự xưng vua, Trần Cảo lại lấy hiệu là Thiên Ứng trong khi đó vị Trần Cảo trước đó do Lê Lợi dựng lên lại có hiệu là Thiên Khánh).
Những người tin sấm vĩ cũng cho rằng, niềm tin của Trần Cảo vào sấm truyền phương đông có khí thiên tử không phải là bừa bãi, bởi không lâu sau khi cha con ông (đều cùng xưng là vua) thất bại, người đánh bại con ông và lấy ngôi nhà Lê - Mạc Đăng Dung – cũng xuất thân từ phương có "khí thiên tử" đó
Lê Chiêu Tông
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lê Chiêu Tông 黎昭宗 |
||
|---|---|---|
| Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...) | ||
| Hoàng đế nhà Hậu Lê | ||
| Trị vì | 1516 - 1522 | |
| Tiền nhiệm | Lê Tương Dực Lê Quang Trị |
|
| Kế nhiệm | Lê Cung Hoàng | |
| Thông tin chung | ||
| Hậu duệ |
|
|
| Tên húy | Lê Y (黎椅) | |
| Niên hiệu | Quang Thiệu (光紹) | |
| Thụy hiệu | Thần Hoàng Đế 神皇帝 |
|
| Miếu hiệu | Chiêu Tông (昭宗) | |
| Triều đại | Nhà Hậu Lê | |
| Thân phụ | Lê Minh Tông | |
| Thân mẫu | Trịnh Thị Loan | |
| Sinh | 4 tháng 10, 1506 Đông Kinh |
|
| Mất | 18 tháng 12,1526 (20 tuổi) phường Đông Hà (Hàng Chiếu), Đông Kinh |
|
| An táng | Vĩnh Hưng lăng (永興陵) | |
Chiêu Tông dòng dõi tông thất, lên ngôi còn thơ ấu, trong nước rối ren, mọi việc đều do Nguyên quận công Trịnh Duy Sản chủ trương, dẹp được loạn Trần Cảo. Nhưng sau khi Duy Sản chết, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy, Thiết Sơn bá Trần Chân lại sinh mâu thuẫn. Chiêu Tông nghe lời dèm giết Trần Chân, đến nỗi bọn đệ tử là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng tức giận làm náo loạn kinh thành, phải bỏ lên Bảo Châu.
Đến khi Mạc Đăng Dung lấn át quyền thế, khởi binh chống lại, mới đầu thuận lợi, tưởng chừng như có thể thống nhất cơ đồ thì lại vụng về làm Trịnh Tuy bất mãn, bị bắt đem về Thanh Hóa, Mạc Đăng Dung nhờ thế mà lấn vượt, cơ nghiệp nhà Lê tiêu vong.
Thân thế
Lê Chiêu Tông tên thật là Lê Y (黎椅), sinh ngày 4 tháng 10 (âm lịch), năm Đoan Khánh thứ nhất (1506), tại Đông Kinh. Chiêu Tông là con trưởng của của Cẩm Giang vương Lê Sùng (黎漴), mẹ là Trịnh Thị Loan, người huyện Thanh Chương, Nghệ An. Xét theo dòng dõi, ông là cháu nội Kiến vương Lê Tân và là chắt của Lê Thánh Tông.Năm 1516, Lê Tương Dực bị Nguyên quận công Trịnh Duy Sản giết chết, Duy Sản tính bề lập Lê Quang Trị em họ ông lúc đó 8 tuổi nhưng Quang Trị bị Trịnh Duy Đại đem về Tây Kinh. Duy Sản bèn lập ông lên ngôi.
Thiếu đế thời loạn
Hoạ Trần Cảo
Dưới đời Lê Tương Dực, có một người tên Trần Cảo làm phản tại vùng Hải Dương, Đông Triều, Thủy Đường. Quân khởi nghĩa Trần Cảo đánh chiếm kinh thành Đông Kinh, tự xưng làm Thiên Ứng Đế (天應帝), thái sư Lê Quảng Độ đầu hàng.Lúc này Thiết Sơn bá Trần Chân, con nuôi của Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, tập hợp quân sĩ hơn 6000 người ở chợ Hoàng Hoa (chợ Ngọc Hà ngày nay). Cảo xua Phan Ất đi trấn áp, 2 bên đánh nhau quyết liệt, Trần Chân do không có tiếp viện bèn lui về cố thủ. Bấy giờ Chiêu Tông từ Tây Kinh, hiệu triệu quân 3 phủ sai các Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Bình Phú hầu Nguyễn Văn Lự (em của Nguyễn Văn Lang), Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đem quân thuỷ bộ cùng tiến thẳng đến Đông Kinh. Đồng thời gửi hịch cho các phủ huyện.
Ngày 23 tháng 3, năm 1516, tại Đông Kinh xảy ra trận chiến ác liệt giữa các thế lực phò Chiêu Tông và Trần Cảo. Cảo liên tục dùng súng, hỏa khí bắn ra để chặn quân triều đình, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Tín bá Trịnh Hy, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy ra sức chống lại, hết sức dũng mãnh, khiến Cảo phải gắng đóng cửa thành cố thủ. Đến khi thế trận nguy khốn, Cảo mở cửa thành chạy qua sông Đuống, chạy lên Lạng Nguyên.
Ngày 27 tháng 3, Chiêu Tông chính thức đặt niên hiệu là Quang Thiệu (光紹). Bấy giờ Trịnh Duy Đại giữ Quang trị ở Tây Kinh, nghe đến Chiêu Tông đã chiếm được Đông Kinh, bèn giết Quang Trị và những người em để chạy về Chiêu Tông. Tặc thần Lê Quảng Độ do đầu hàng Trần Cảo bị giết, cùng năm Nguyên quận công Trịnh Duy Sản do đánh tàn dư của Trần Cảo bị tử trận.
Hoạ quyền thần
Vây cánh của Trần Chân
Trần Cảo rút đi, các tướng lại chia bè phái đánh nhau. An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ đánh nhau với Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy. Tuy thua chạy về Tây Kinh rồi kéo ra Sơn Nam. Trần Chân là con nuôi của Trịnh Duy Sản, người cùng họ với Tuy nên về phe với Tuy, mang quân đánh đuổi Hoằng Dụ. Hoằng Dụ bỏ chạy vào Thanh Hoá. Năm ấy, trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau. Những nơi trải qua binh lửa như Đông Triều, Giáp Sơn ở Hải Dương; Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn ở Kinh Bắc là càng đói dữ. Trần Chân sau khi đuổi được Hoằng Dụ, tiện tay chiếm giữ Kinh thành. Vũ Xuyên bá Mạc Đăng Dung sợ uy thế của Chân, bèn hỏi con gái của Chân cho con trai mình là Mạc Đăng Doanh.Năm 1518, có người đặt ra câu ca rằng: "Trần hữu nhất nhân, vi thiên hạ quân, thố đầu hổ vĩ, tế thế an dân", nghĩa là: Có một người họ Trần, làm vua thiên hạ, đầu thỏ đuôi hổ, trị nước yên dân. Quốc cữu Chử Khảo, Thọ quốc công Trịnh Hựu, cùng với Thuỵ quân công Ngô Bính khuyên Chiêu Tông giết Chân. Ngày 11 tháng 7, Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ Trần Trí, Nguyễn Nga, Nguyễn Bá Đại, Lê Nguyên Khâm.
Nhóm thủ hạ của Trần Chân là Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thì họp binh với nhau ở chùa Yên Lãng , đánh sát vào kinh thành. Chiêu Tông nghe tin, đang đem trốn vào Gia Lâm. Bấy giờ, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đóng quân ở xứ Sơn Nam có hơn 1 vạn người, nghe tin quan gia chạy ra ngoài, quân lính tan cả. Thế là quân Sơn Tây thả sức cướp phá, trong thành sạch không, Kinh sư thành bãi săn bắn, đánh cá. Chiêu Tông cho gọi Nguyễn Hoằng Dụ ra đánh bọn Nguyễn Kính. Nhưng Hoằng Dụ lưỡng lự không đi.
Chiêu Tông bèn triệu thông gia của Trần Chân là Vĩnh Xuyên bá Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương về cứu, rồi sai người đi dụ Nguyễn Kính. Nguyễn Kính đòi giết Chử Khải, Trịnh Hựu, Ngô Bính là những người gièm pha Trần Chân. Chiêu Tông nghe kế của Đàm Cử, bèn giết 3 người, nhưng Nguyễn Kính lại càng hoành hành, đóng quân không rút.
Mạc Đăng Dung khuyên Chiêu Tông về Bảo Châu (huyện Từ Liêm), nhưng nội thần Đỗ Nhạc và Nguyễn Dư can ngăn, Đăng Dung đem giết cả 2, đưa Chiêu Tông cùng em là Lê Xuân về Bảo Châu.
Trịnh Tuy
Tháng 9 năm 1518, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy cùng văn thần Nguyễn Sư, bọn giặc Sơn Tây lập Lê Bảng (黎榜), con của Tĩnh Tu công Lê Lộc (静修公黎禄) lên ngôi, đổi thành Đại Đức Đế (大德帝). Được nửa năm lại phế Bảng mà lập Lê Do (黎槱), đổi thành Thiên Hiến Đế (天宪帝). Cả 2 đều là cháu 4 đời của Cung vương Lê Khắc Xương (黎克昌), con thứ 2 của Thái Tông Văn hoàng đế.Chiêu Tông sai người đi mời Nguyễn Hoằng Dụ lần nữa và sai Mạc Đăng Dung cùng đi đánh Nguyễn Kính. Hoằng Dụ được tin, bèn đem quân Thanh Hoa ra cứu nhưng không lâu sau bị Nguyễn Kính đánh bại, bỏ chạy về Thanh Hóa rồi chết, để một mình Mạc Đăng Dung ở lại cầm cự.
Tháng 1 năm 1519, Trịnh Tuy làm cầu phao tiến quân, qua giữa sông để khiêu chiến với Chiêu Tông. Chiêu Tông sai các tướng đánh phá, chặt đứt cầu phao. Trịnh Tuy cùng Lê Do rút về vùng Yên Lãng, Yên Lạc (Vĩnh Phú ngày nay). Chiêu Tông lại sai tướng đến đánh, bọn Tuy đang đêm kinh sợ trốn chạy.
Tháng 7, Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn, bị Đăng Dung bắt được, giải về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy về Thanh Hoá. Các tướng Sơn Tây là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc đều xin hàng. Chiêu Tông phong Mạc Đăng Dung làm Minh quận công (明郡公). Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà nắm hết quyền bính.
Mạc Đăng Dung
Năm 1521, Mạc Đăng Dung lại được phong làm Nhân quốc công (仁國公), lĩnh quản binh lực thủy bộ của 13 đạo, lại phong làm Thái phó. Tháng 8, Đăng Dung lãnh quân đến vùng Kinh Bắc, dẹp được Trần Cung, con của Trần Cảo. Lúc này quyền thế của Mạc Đăng Dung rất lớn, kiểm soát toàn bộ triều đình. Dung đem con gái nuôi vào cung hầu, tiếng là chầu hầu, thực ra là để dò xét, coi giữ. Lại cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh làm Dục Mỹ hầu (煜美侯), trông coi điện Kim Quang. Đăng Dung đi bộ thì lọng phượng giát vàng, đi thuỷ thì thuyền rồng dây kéo, ra vào cung cấm, không kiêng sợ gì. Lại giết bọn thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyễn Thọ và Đàm Cử.Ngày 27 tháng 7, năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), Chiêu Tông chạy ra huyện Minh Nghĩa ở Sơn Tây (vùng đất nay thuộc tỉnh Hà Tây), lúc đó ông mưu ngầm với bọn Phạm Hiến, Phạm Thứ, sai người đem mật chiếu vào Tây Kinh bảo Trịnh Tuy nghênh viện. Hôm sau Đăng Dung nghe tin, cho người đuổi theo nhưng Chiêu Tông quyết chống lại, chạy vào thành Tây Kinh. Trong kinh thành, Mạc Đăng Dung cùng Thái sư Lượng quốc công Lê Phụ và các công hầu lập em của Chiêu Tông là Lê Xuân lên ngôi. Ngày 1 tháng 8, Mạc Đăng Dung cùng Lê Phụ tôn Lê Xuân lên, tức Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông, gọi là Quang Thiệu Đế (光紹帝). Cung Hoàng lên ngôi, đặt niên hiệu là Thống Nguyên (統元), trong nước lúc đấy tồn tại 2 vị hoàng đế. Cung Hoàng bị Đăng Dung dời đến Hồng Thị, thuộc Hải Dương tạm trú ẩn; ngay khi nghe tin ấy Chiêu Tông ngự về Đông Kinh, thiết lập lại triều đình.
Bấy giờ các xứ Tây, Nam, Bắc thì Chiêu Tông đều lấy được cả, thanh thế lớn. Sau đó, Trịnh Tuy đem quân phủ Thanh Hóa vào chầu, Chiêu Tông nghe lời nịnh mà chém thuộc tướng của Tuy, nên Tuy sinh lòng hận thù. Ngày 18 tháng 10, Trịnh Tuy bắt Chiêu Tông về Thanh Hóa, Tây Kinh, cả nước đều thất vọng. Ngày 18 tháng 12, Mạc Đăng Dung sau khi dẹp phản loạn Giang Văn Dụ, đuổi khỏi kinh thành, đưa Cung Hoàng từ Hồng Thị về kinh sư.
Năm 1523, sau khi Trịnh Tuy đem Chiêu Tông về Thanh Hóa, quân lực Chiêu Tông bị giảm đáng kể, Đăng Dung liên tiếp sai Sơn Đông hầu Mạc Quyết, Quỳnh Khê hầu Vũ Hộ, Dương Xuyên hầu Vũ Như Quế đi đánh Trịnh Tuy ở Thanh Hoa, phá tan quân Tuy. Tuy liền dời Chiêu Tông lên châu Lang Chánh. Năm đó Đang Dung giáng Chiêu Tông làm Đà Dương vương (陀陽王).
Năm 1525, Cung Hoàng phong Mạc Đăng Dung thêm thành Bình chương quốc trọng sự, đem quân đánh Trịnh Tuy, Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đang Dung bắt được Chiêu Tông ở động An Nhân. Về đến kinh sư, Đăng Dung giam Chiêu Tông ở phường Đông Hà. Nghe tin Chiêu Tông bị bắt, các quần thần Phúc Lương hầu Hà Phi Chuẩn, Nghiêm Bá Kỳ, Đàm Thận Huy đều bị truy lùng và giết chết, bấy giờ triều đình đều nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Ngày 18 tháng 12, năm 1526, Đang Dung bí mật sai Bái Khê bá Phạm Kim Bảng giết Chiêu Tông ở nơi bị giam, đem xác về chôn ở Vĩnh Hưng lăng.
Hậu thế
Hơn nửa năm sau cái chết của Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung phế truất Lê Cung Hoàng, lập ra nhà Mạc. Sáu năm sau (1533), cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim lập Lê Ninh tại Ai Lao, tức là Lê Trang Tông, tái lập nhà Hậu Lê.Sử sách ghi Trang Tông là con của Chiêu Tông, sinh năm 1514. Điều đó khiến các nhà nghiên cứu nghi ngờ vì khoảng cách giữa Chiêu Tông và Trang Tông quá ngắn, chỉ có 8 năm. Nhà Mạc, trong biểu tâu nhà Minh, phân trần về việc này cũng nói rằng: Nguyễn Kim dựng con mình lên ngôi, nói dối là con của vua Chiêu Tông.
Sử sách chép về cuộc đời Chiêu Tông cũng có mâu thuẫn. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi: Chiêu Tông sinh ngày 4 tháng 10 năm Đoan Khánh thứ 2 đời Lê Uy Mục, tức năm 1506, nhưng khi ông được đưa lên ngôi năm 1516, đáng lý ghi "lên 11 tuổi" lại ghi "lên 14 tuổi" và khi ông bị hại năm 1526, đáng lý phải ghi: "thọ 21 tuổi" thì lại ghi "thọ 26 tuổi" (nếu làm phép suy ngược thì Chiêu Tông có 3 năm sinh khác nhau: 1506, 1503, 1501). Phải chăng việc "hợp thức hoá" cho quan hệ cha - con của Chiêu Tông - Trang Tông chưa được kín kẽ?
Bình luận
Đại Việt Sử ký Toàn thư nhận xét về Chiêu Tông như sau:- "Bấy giờ trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay, bên trong thì nghe lời xiểm nịnh gian trá, bên ngoài lại ham mê săn bắn chim muông, ngu tối bất minh, ương ngạnh tự phụ, bị nguy vong là đáng lắm!"
Lê Thái Tông trước đây cũng lên ngôi năm 11 tuổi và cũng phải đối phó với quyền thần Lê Sát, Lê Ngân. Nhưng khi đó cơ nghiệp do Lê Thái Tổ để lại còn vững, chính sự nhà Lê đi vào ổn định, trong triều vẫn có nhiều lương thần phù trợ và đặc biệt là không có biến động trong đời sống xã hội, cuộc sống của nhân dân được đảm bảo, do đó ngôi vua của Thái Tông được duy trì.
Tới thời Chiêu Tông, lương thần thì ít mà gian thần đã quá nhiều. Sự đổ nát của chính sự nhà Lê thực ra đã bắt đầu từ thời các vua quỷ Uy Mục và vua lợn Tương Dực. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, bạo loạn đã bùng phát từ thời hai vua này, trước khi Chiêu Tông lên ngôi. Nhà Lê đổ nát tới mức khi quân khởi nghĩa Trần Cảo vào kinh, thái sư đầu triều Lê Quảng Độ lập tức theo hàng, vì ông hiểu rằng Chiêu Tông hay Lê Doanh cũng chỉ là những con bài chính trị trong tay các quyền thần thuộc các thế tộc họ Trịnh và họ Nguyễn. Chính sự suy đồi của nhà Lê khiến những người như Trần Cảo rắp tâm xưng hiệu không còn nể sợ "mệnh trời".
Nhà Lê dường như luôn bị họ Trần ám ảnh trên vũ đài chính trị. Trước kia Lê Thái Tổ giết vua (trên danh nghĩa) Trần Cảo và sau đó giết công thần Trần Nguyên Hãn để tuyệt lòng nhớ tiếc của thiên hạ với nhà Trần. Tới vua Chiêu Tông lại dồn sức diệt một Trần Cảo khác và ngay lập tức trừ khử công thần Trần Chân. Có lẽ ông không ngờ rằng bụng dạ của các tướng không mang họ Trần mới thật khó lường.
Mỗi bước đi của các quan văn, võ đều đầy toan tính, tráo trở: Mạc Đăng Dung kết thông gia với Trần Chân khi Chân đắc thế, nhưng khi cùng Chân đánh Nguyễn Hoằng Dụ lại ngầm thả cho Dụ đi để tranh thủ Dụ làm cái thế chân kiềng; Nguyễn Hoằng Dụ do dự khi phát quân cứu vua; Trịnh Tuy vừa so gươm với triều đình, hôm sau lại đến xin làm quân cần vương. Không riêng Chiêu Tông, các hoàng đế thiếu niên khác được lập khi đó như Lê Doanh, Lê Bảng, Lê Do, Quang Trị... đều nằm trong mục đích "dễ kiềm toả" của các quyền thần để họ thực hiện ý đồ của Vương Mãng, Đổng Trác trong lịch sử Trung Quốc.
Trong cảnh loạn lạc đó, Chiêu Tông đã không đủ sáng suốt để cứu vãn tình hình. Lúc Trần Chân đại phá được Trần Cảo, tình hình đã tạm yên, Cảo phải bỏ ngôi đi tu thoát thân, Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy phải "nín hơi lặng tiếng", Mạc Đăng Dung chưa có cơ hội "nổi đình đám". Việc ông vội vã sát hại Trần Chân bị các sử gia coi là sai lầm, ví như Lý Cao Tông giết Phạm Bỉnh Di, Trần Giản Định Đế giết Đặng Tất - tự cắt chân tay khi đại cuộc chưa định. Đó là sai lầm đầu tiên của một hoàng đế mới 13 tuổi (1518) vừa trải qua cơn binh hỏa, phải liên tục "di giá" sau khi lên ngôi. Sau đó, khi thoát khỏi tay Mạc Đăng Dung, Chiêu Tông đã có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các tướng ở Bắc Bộ khiến uy thế của Đăng Dung chao đảo, thì ông lại tin theo, dựa vào Trịnh Tuy, một kẻ từng là phản thần của triều đình, từng công khai chống lại ông, khiến lòng người chia lìa. Giả sử lúc đó Chiêu Tông giết Tuy với tội danh như giết phản thần Trịnh Duy Đại trước đây khiến các cánh quân cần vương không bị giải tán thì Mạc Đăng Dung khó mà thay đổi được cục diện nhanh đến như vậy. Đó là sai lầm lớn thứ hai của Chiêu Tông, lúc đó đã 17 tuổi, có 6 năm trải nghiệm trên ngai vàng thời loạn và lần này thì không thể chuộc lại.
Sau khi Lê Chiêu Tông thất bại, cơ nghiệp nhà Lê coi như đã không còn, vì vua em Cung Hoàng vốn đã chỉ là con bài trong tay họ Mạc từ khi được đưa lên ngai.
Gia quyến
- Tổ phụ: Kiến vương Lê Tân, được tôn phong Đức Tông Kiến hoàng đế (德宗建皇帝).
- Tổ mẫu: Trịnh Thị Tuyên (鄭氏瑄; 1471 - 1509), tôn phong Huy Từ Kiến hoàng hậu (徽慈建皇后).
- Cha: Cẩm Giang vương Lê Sùng (錦江王黎漴; ? - 1509), bị Lê Uy Mục giết hại. Về sau được truy phong Minh Tông Triết hoàng đế (明宗哲皇帝).
- Mẹ: Trịnh Thị Loan (鄭氏鸞; ? - 1527), được tôn làm Hoàng thái hậu vào năm 1517. Bà chết cùng ngày với Lê Cung Hoàng. Về sau tôn phong làm Đoan Mục Triết hoàng hậu (端穆慈哲皇后).
- Hậu phi:: Gia Khánh hoàng hậu Phạm thị (嘉慶皇后范氏), húy là Ngọc Quỳnh (玉瓊), người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên. Vào hầu Chiêu Tông, sinh ra Lê Trang Tông. Không rõ năm sinh năm mất. Năm Nguyên Hòa (1533), truy tôn làm Hoàng thái hậu.
- Hậu duệ: Lê Duy Ninh (黎維寧), tức Lê Trang Tông.
Nhận xét
Đăng nhận xét