AN CHI GIẢI ĐÁP 25
(ĐC sưu tầm trên NET)
Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của cụm từ “lý do lý trấu”? “Lý trấu” là gì? Xin cảm ơn ông.
Bạn đọc:
Trên Facebook (FB) của Cá Vàng, Quang Nguyễn đã viết: “Cụ An Chi bảo
rằng: Đến như cách phiên âm của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc
âm tự vị thì ngay trong câu đang xét: “Sông Tương một dải nông sờ” một
chữ dễ hơn là chữ “dải” cũng đã bị tác giả phiên sai thành “dãy”.
Bạn đọc: Từ
ngày 25-1 đến ngày 3-2-2016, Báo Tuổi trẻ đã đăng 10 kỳ tư liệu “Giải mã
gốm Chu Đậu” của Thái Lộc - Trần Mai. Đặc biệt là kỳ 4 (28-1) đã cho
người đọc biết hai luồng ý kiến đối nghịch về 4 chữ “Bùi thị hý bút”
trên chiếc bình gốm Chu Đậu ở Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ
Kỳ). Căn cứ vào 4 chữ này (kết hợp với một số chứng cứ khác), ông Tăng
Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương là người đầu tiên lên tiếng
chứng minh rằng, có một bà cụ tổ nghề gốm Chu Đậu tên là Bùi Thị Hý
nhưng ý kiến đối nghịch thì cho rằng, “Bùi thị hý bút” chẳng qua là “họ
Bùi vẽ chơi”. Còn chính hai tác giả của tư liệu thì kết luận: “Trong
loạt bài viết này, chúng tôi đành phải hẹn với bạn đọc câu trả lời chữ
“Hý” trên chiếc bình là tên riêng hay chơi/đùa trong một dịp khác. Bởi
vì “một nửa sự thật không phải là sự thật” và những tư liệu hiện vật
chúng tôi tiếp cận được còn có điểm đáng ngờ, chưa đủ khẳng định tính
xác thực đến mức nào”. Xin ông An Chi cho biết ý kiến trong khi chờ đợi?
Xin cảm ơn ông. Bùi Thế Nghi (Hải Dương)
Lý do lý trấu
Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của cụm từ “lý do lý trấu”? “Lý trấu” là gì? Xin cảm ơn ông.
Nguyễn Sơn (Hà Nội)
Học giả An Chi:
Tiếng Việt có một đặc trưng là để bác bỏ, thấp hơn thì để bày tỏ sự dị
ứng của mình trước một hiện tượng, một vấn đề, một khái niệm nào và thấp
nhất là để đùa tếu một cách dí dỏm, người ta thay thế cái từ diễn đạt
khái niệm, vấn đề, hiện tượng đó bằng một từ đồng âm với nó để tạo ra
một ngữ đoạn mà nội dung không còn liên quan gì đến hiện tượng, vấn đề
hoặc khái niệm ban đầu nữa.
Trường hợp đầu tiên mà chúng tôi muốn
nêu làm thí dụ là ba tiếng "tuyệt cú mèo", xuất hiện trong Nam từ trước
1975, được Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công Tín (NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2009) giảng là "tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi
như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa". Xuất phát điểm của quán
ngữ này là danh ngữ "tuyệt cú" [絕句] của tiếng Hán, đã được nhiều nguồn
thư tịch giảng là [绝句,又稱截句、断句,四句一首(…)] "tuyệt cú, hựu xưng tiệt cú, đoản
cú, tứ cú nhất thủ" (tuyệt cú, cũng gọi [là] tiệt cú, đoản cú, mỗi bài
bốn câu). Vậy "tuyệt cú" vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu.
Nhưng từ nguyên dân gian đã khiến nhiều người hiểu sai mà mặc nhiên cho
rằng, nó có nghĩa là "câu [thơ] hay", rồi hiểu rộng ra là "hay", là
"tuyệt". Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta
lại tếu táo mà đánh đồng chữ "cú" nghĩa là "câu" của nó với "cú" trong
tên của một loài chim là loài "cú mèo". Thế là ta có ba tiếng "tuyệt cú
mèo", như đã ghi nhận trong từ điển của TS Huỳnh Công Tín, cũng như
trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên (NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 1994).
Xin nêu một thí dụ có xuất xứ là miền
Bắc. Đó là thành ngữ "cậu ấm sứt vòi" mà Từ điển tiếng Việt do Văn Tân
chủ biên giảng là "từ dùng để mỉa mai con nhà quan đã sa sút (cũ)". Thực
ra, nói một cách đơn giản thì "cậu ấm" vốn có nghĩa là con trai nhà
quan được hưởng phúc ấm của cha ông; rồi nghĩa rộng là con trai nhà quan
và nghĩa xấu là con trai được cha mẹ nuông chiều một cách quá lố. Trong
"cậu ấm sứt vòi" thì người ta đã biến từ "ấm" của "cậu ấm" thành "ấm"
là bình đựng nước mà gắn cho nó cái vòi đã sứt. Ấm mà đã sứt vòi thì…
hết xài (nên mới ám chỉ con nhà quan đã sa sút). Có ý kiến cho rằng,
"cậu ấm sứt vòi" là "cậu ấm sứt b...".
Hiểu như thế là không biết gì về lối nói
đang bàn. Huống chi cái đó - nếu đúng là… nó - thì dai chứ có cứng và
giòn như xương, như răng đâu mà... "sứt"!
"Phe" là một động từ mà từ điển Vietlex
giảng là "làm việc mua đi bán lại bất cứ hàng hóa gì để kiếm lãi [hàm ý
coi thường]". Đây là một từ Việt gốc Pháp, bắt nguồn ở danh từ
"affaire", mà cái nghĩa hữu quan là công việc buôn bán. Ban đầu, từ này
được các doanh nhân, trí thức, người biết tiếng Pháp, v.v..., phiên âm
thành "áp-phe". Thời còn mồ ma thực dân Pháp, hai tiếng "áp-phe" chỉ có
sắc thái trung hòa và dùng để chỉ những thương vụ ra… thương vụ nhưng về
sau nó đã bị ngắt đầu, chỉ còn lại có tiếng "phe" (sẽ ghi là "phe1") để
chỉ hành động mua bán ít quang minh chính đại, có khi chỉ diễn ra nơi
đầu đường xó chợ hoặc trên những chuyến xe liên tỉnh, v.v... (nên từ
điển Vietlex mới chú là "hàm ý coi thường"). "Phe1" có một từ đồng âm
nay đã trở thành từ cổ (archaism). Từ "phe" cổ xưa này (sẽ ghi là
"phe2") là một từ gần nghĩa với từ "phẩy" còn "phẩy" thì được từ điển
Vietlex giảng là "cầm một vật mỏng, nhẹ đưa qua đưa lại để tạo ra gió
hoặc để làm bay bụi trên bề mặt". Vì gần nghĩa nên "phe2" và "phẩy" mới
được kết hợp với nhau để tạo thành từ tổ đẳng lập "phe2 phẩy", mà từ
điển do Văn Tân chủ biên giảng là "đưa đi đưa lại một cách nhẹ nhàng,
ung dung". Nhưng sau khi động từ "phe1" xuất hiện và hiện tượng "phe1"
xuất hiện trong xã hội "rộ" hơn buổi đầu thì người ta lại "sáng tạo" ra
từ tổ "phe1 phẩy", bằng cách thêm "phẩy", vốn chỉ đi chung với "phe2",
vào sau "phe1" để chỉ hành động buôn bán bị quan niệm là không chính
đáng, không nghiêm túc.
Trong "văn nghệ" thì "nghệ" là nghề; vậy
nói nôm na thì "văn nghệ" là "nghề văn". Nhưng, để tếu táo, người ta đã
cố ý hiểu lệch từ "nghệ" là nghề thành "nghệ" là một loại củ có thể
dùng làm gia vị hoặc dược liệu để đưa một loại củ khác là "gừng" vào mà
tạo nên tổ hợp từ "văn nghệ văn gừng". "Gừng" là một loài thực vật chẳng
có dây mơ rễ má gì về ngữ nghĩa với "nghệ" là nghề, có nghĩa là nghề,
nhưng chính vì thế nên mới góp phần gây cười và làm cho hiện tượng được
nói đến mất đi cái vẻ nghiêm túc.
Trong "chính trị" thì "trị" chẳng có dây
mơ rễ má gì với "chị" là một từ chỉ quan hệ thân tộc. Nhưng vì, nói
chung, ở miền Bắc thì "trị" vốn có phụ âm đầu TR thường được phát âm
thành "chị" với phụ âm đầu CH nên nhiều người mới đánh đồng nó với "chị"
trong "anh chị" mà nói "chính trị chính em" để làm cho khái niệm "chính
trị" mất đi vẻ nghiêm túc. Theo cảm nhận riêng của chúng tôi thì lối
nói này ra đời từ những người hay ngại những buổi sinh hoạt hoặc học tập
chính tri.
Cá nhân An Chi có bộ Chuyện Đông chuyện
Tây 6 tập, mà chúng tôi có gửi tặng một bạn đồng môn ở Chasseloup-Laubat
đã sống bên Pháp trên nửa thế kỷ. Có lần từ Pháp về Việt Nam, anh bạn
đã hỏi chúng tôi một cách thân mật: "Ê, chừng nào toa mới cho in tập 7
bộ Chuyện đông chuyện đủ của toa vậy?". Chẳng là, ở đây, anh bạn đã cố ý
đánh đồng từ "Đông" chỉ phương mặt trời mọc với tính từ "đông" có nghĩa
là "gồm nhiều người" nên mới đưa từ "đủ" vào để trêu An Chi. Mà anh bạn
còn nói thêm: "Phải có cả tập 7 mới đủ đó nha".
Với hai câu: "Trong đầm gì đẹp bằng sen/
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng" thì "nhị" hiển nhiên là bộ phận
sinh sản của hoa và dùng để tả hoa sen trong đầm. Nhưng trong trường hợp
sau đây - trường hợp này chỉ xuất hiện ở trong Nam - thì cũng cái từ
"nhị" đó, chính nó, không còn trực tiếp nói về "hoa lá cành" nữa mà lại
có tác dụng phủ định đối với vấn đề đã được nêu ra trước đó.
Sếp nói với nhân viên:
- Cậu phải hoàn thành bản kế hoạch trong vòng hai ngày.
Nhân viên:
- Nhưng hai ngày thì ít quá, thưa sếp…
Sếp:
- Không nhưng không nhị gì cả. Được thì làm; không được thì nghỉ.
"Nhưng" là một "kết từ biểu thị điều sắp
nêu ra ngược lại với ý do điều vừa nói đến có thể gợi ra" (Từ điển
tiếng Việt của Vietlex do Hoàng Phê chủ biên). Vậy "nhị" là bộ phận sinh
sản của hoa thì liên quan gì đến "nhưng"? Thế mà có đấy. Trong Nam thì
"nhưn" được phát âm thành "nhưng"; nói một cách khác, "nhưn" và "nhưng"
là hai từ đồng âm. Ngài sếp kia đã thay kết từ "nhưng" bằng danh từ
"nhưn" mà người trong Nam dùng đề chỉ cái mà người ngoài Bắc gọi là
"nhân" (trong "nhân bánh bao", chẳng hạn). "Nhưn/nhân" và "nhị" đều có
chung một đặc điểm là "vật nằm bên trong của một vật khác lớn hơn". Thế
là ngài sếp kia đã "cáp đôi" "nhưn" với "nhị" mà tạo nên ngữ đoạn "không
nhưn[g] không nhị" để bác bỏ sự viện cớ của nhân viên. Điều quan trọng
cần chú ý là ở đây, hai từ được "cáp đôi" với nhau phải đồng nghĩa hoặc
ít nhất phải có một nét nghĩa chung.
Cũng là với dụng ý bác bỏ mà bốn tiếng
"lý do lý trấu" đã ra đời ở miền Bắc. Điểm đầu tiên chúng tôi muốn nói
đến là, nói chung, ở miền Bắc thì "do" đồng âm với "gio", mà trong ngôn
ngữ toàn dân là "tro", tức cái chất nhuyễn như bột, còn lại từ một vật
đã bị đốt cháy. "Tro/gio", là một khái niệm có thể gợi ý cho ta liên
tưởng đến "trấu", tức là vỏ thóc, có thể dùng để rấm bếp. Cứ như thế thì
"tro/gio" và "trấu" là hai danh từ có một đặc điểm chung là đều liên
quan đến công việc bếp núc. Và hai từ này cũng cùng có mặt trong thành
ngữ "bòn tro đãi trấu". Người ta đã tận dụng những điều kiện đó mà đánh
đồng "do" trong "lý do" với "gio" là "tro" rối "cáp đôi" nó với "trấu"
thành "lý do lý trấu", mà ta thường thấy được dùng để bài bác, thấp nhất
cũng là để tỏ thái độ không đồng tình, với cái lý do bị xem là không
chính đáng, thấp nhất thì cũng là… vu vơ.
Nói cho sướng miệng thì hay ho gì
Bạn đọc:
Trên Facebook (FB) của Cá Vàng, Quang Nguyễn đã viết: “Cụ An Chi bảo
rằng: Đến như cách phiên âm của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc
âm tự vị thì ngay trong câu đang xét: “Sông Tương một dải nông sờ” một
chữ dễ hơn là chữ “dải” cũng đã bị tác giả phiên sai thành “dãy”.
“Theo tôi, cụ An Chi chỉ nói cho sướng miệng mà thôi! Sao cụ lại không
nghĩ đây là lỗi in ấn. Trong tự vị của cụ P.Của, mục từ DẢI (trang 216 )
và mục từ DÃY (trang 217) được cụ P.Của phân biệt rất rõ ràng, có thấy
lầm lẫn chỗ nào đâu? Đề cập đến cổ nhân mà không cẩn thận, dễ gây ra sự
mạo phạm ngoài ý muốn! Xin hỏi ông An Chi có ý kiến gì về ý kiến của
Quang Nguyễn. Xin cảm ơn ông.
Huỳnh Trọng Tín (Bà Chiểu, TP HCM)
Học giả An Chi:
Nói cho sướng miệng thì hay ho gì. Vì thế nên chúng tôi mới trả lời cho
bạn Quang Nguyễn (2-2-2016, trên FB của bạn Cá Vàng) như sau:
“Bạn Quang Nguyễn, người nghiên cứu
nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không nói cho sướng miệng. Nếu đó
đúng là lỗi in ấn thì Huình-Tịnh Paulus Của đã cải chính trong phần
“Đính ngoa” ở đầu Tome II”.
Bạn Quang Nguyễn không chấp nhận cách trả lời của chúng tôi nên đã viết tiếp (vẫn trên FB của bạn Cá Vàng):
“1- Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với cụ An
Chi là: “Người nghiên cứu nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không
nói cho sướng miệng”. Vậy thì xin cụ làm ơn công bố ra cái chữ Nôm mà cụ
P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ” trích từ cuốn
tự vị do chính cụ P. Của biên tập.
“2- Một bộ tự vị, tome I, năm 1895, 608
trang + tome II, năm 1896, 596 trang (theo bản in lại của Khai Trí
[Saigon] 1974), do một mình cụ P.Của thực hiện mà bảo là không có sai
sót trong mục đính ngoa thì quả là chuyện lạ!”.
Chúng tôi thì có ý kiến ngược hẳn với
bạn Quang Nguyễn. Ta tuyệt đối không thể biện bạch rằng, vì bộ từ điển
của Huình-Tịnh Paulus Của dày đến 1.204 trang nên nếu không có sai sót
trong mục đính ngoa thì mới là chuyện lạ. Chơi tài tử thì được chứ làm
học thuật nghiêm túc thì không. Chúng tôi chỉ căn cứ vào giấy trắng mực
đen để nhận xét theo lệ thường mà thôi. Quyển Dictionarium Annamiticum,
Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La) của A. de Rhodes cũng có nhiều
sai sót về chính tả (chữ Việt - so với cách viết của chính tác giả) nên
chính A. de Rhodes cũng đã phải làm một bảng “Đính chính” (Errata
Dictionarij linguæ Annamiticæ corrige) dài hơn hai trang rưỡi dày đặc mà
vẫn chưa nhặt ra hết những chỗ sai. Những chỗ sai sót này, chính A. de
Rhodes phải chịu trách nhiệm chứ không phải là ai khác. Nhưng có vẻ như
để thách thức, bạn Quang Nguyễn còn đề nghị chúng tôi “công bố ra cái
chữ Nôm mà cụ P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ”
trích từ cuốn tự vị do chính cụ P.Của biên tập”. Đây cũng là một kiểu
thách thức kỳ lạ. Người phải trưng cái chữ Nôm “dãy” đó phải là Paulus
Của chứ sao lại là An Chi. Để khẳng định cái sai của Paulus Của, An Chi
chỉ căn cứ vào:
- Một là chữ “dải” trong hầu hết các bản
Kiều quen thuộc, kể cả bản đã được khẳng định một cách chắc chắn là đã
ra đời tại Nam Kỳ, do người Nam Kỳ biên tập. Đó là bản Duy Minh Thị
1872; bản này cũng in chữ “dải” hình thanh gồm có “mịch” [糸] và chữ
“đái” [帶].
- Hai là nghĩa của chữ thứ 4 trong câu
Kiều thứ 365 (để xem “dãy” hay là “dải” mới thích hợp). Từ điển tiếng
Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng
“dải” là “khoảng đất hay nước trong thiên nhiên dài, nhưng hẹp” còn
“dãy” là “tập hợp gồm những vật cùng loại nối tiếp nhau, cái này cạnh
cái kia”.
Cứ như trên thì chữ “dải” mới thích hợp
để nói về con sông Tương chứ nhất định không thể là “dãy”. Đó là chúng
tôi còn chưa nói đến hiện tượng sau đây. Nếu quan niệm rằng “nung sừ” là
một từ tổ chính phụ (“sừ” thêm nghĩa cho “nung”) thì cái nghĩa đang xét
phải được gắn với chữ “nung” nhưng ở đây nó lại được đưa vào mục “nung
sừ”, một mục phụ của mục “sừ”. Còn nếu quan niệm rằng, đó là một từ tổ
đẳng lập thì mục “nung sừ” phải được xếp theo chữ cái N tại mục “nung”.
Nhưng ở đây thì lại không như thế. Việc làm không bình thường này của
Paulus Của rất dễ gây cho nhà nghiên cứu cái ấn tượng rằng tác giả đã bê
nguyên xi hai chữ “nông sờ” của câu Kiều thứ 365 mà ông đọc thành “nung
sừ” để làm thành một mục từ cho quyển từ điển của mình.
Bạn Quang Nguyễn lại còn thách thức tiếp:
“Và có lẽ vì cũng nghĩ rằng sông Tương
là một con sông lớn nên sau khi phiên hai tiếng đang xét thành “nung sừ”
rồi thì nhà từ điển tất phải luận ra rằng đó là “mịt mù”, “mênh mông”
cho thuận lý chăng?” (An Chi). Có thật cụ P. Của đã “LUẬN” về ý nghĩa
của tiếng ghép NUNG SỪ hay không? Không thấy cụ An Chi đưa ra bằng chứng
qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Chúng tôi chỉ nói “có lẽ” chứ đâu có khẳng định nên cũng không cần phải “đưa ra bằng chứng qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Cuối cùng, bạn Quang Nguyễn còn lập luận
rằng theo Nguyễn Văn Y, “đặc điểm nổi bật của bộ Đại Nam quốc âm tự vị
đối với người Việt ngày nay là nó chứa rất nhiều từ ngữ xưa, có thể rất
thông dụng ở thế kỷ XIX, nhưng hiện nay chúng ta không còn nói, viết
nữa.” Quang Nguyễn đã đưa thông tin như trên nhưng về nguyên tắc thì
điều này tuyệt đối không cho phép bất cứ ai kết luận rằng “nung sừ” là
một đơn vị từ vựng cổ của tiếng Việt cũng như Huình-Tịnh Paulus Của
không bao giờ sai.
'Bùi thị hý bút” nghĩa là gì?
Bạn đọc: Từ
ngày 25-1 đến ngày 3-2-2016, Báo Tuổi trẻ đã đăng 10 kỳ tư liệu “Giải mã
gốm Chu Đậu” của Thái Lộc - Trần Mai. Đặc biệt là kỳ 4 (28-1) đã cho
người đọc biết hai luồng ý kiến đối nghịch về 4 chữ “Bùi thị hý bút”
trên chiếc bình gốm Chu Đậu ở Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ
Kỳ). Căn cứ vào 4 chữ này (kết hợp với một số chứng cứ khác), ông Tăng
Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương là người đầu tiên lên tiếng
chứng minh rằng, có một bà cụ tổ nghề gốm Chu Đậu tên là Bùi Thị Hý
nhưng ý kiến đối nghịch thì cho rằng, “Bùi thị hý bút” chẳng qua là “họ
Bùi vẽ chơi”. Còn chính hai tác giả của tư liệu thì kết luận: “Trong
loạt bài viết này, chúng tôi đành phải hẹn với bạn đọc câu trả lời chữ
“Hý” trên chiếc bình là tên riêng hay chơi/đùa trong một dịp khác. Bởi
vì “một nửa sự thật không phải là sự thật” và những tư liệu hiện vật
chúng tôi tiếp cận được còn có điểm đáng ngờ, chưa đủ khẳng định tính
xác thực đến mức nào”. Xin ông An Chi cho biết ý kiến trong khi chờ đợi?
Xin cảm ơn ông. Bùi Thế Nghi (Hải Dương)
Học giả An Chi:
Trước khi kết luận thì, trong bài của mình, Thái Lộc - Trần Mai cũng đã
ghi lại lời của ông Nguyễn Đình Chiến, nguyên Phó giám đốc Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam như sau:
"Những tư liệu (của ông Tăng Bá Hoành và
những người có liên quan - AC) mang tính hư cấu, chúng tôi không tin.
Tự dạng đầy đủ được tra trong từ điển là "họ Bùi vẽ chơi". Không thể ép
lấy cái tượng trong tàu Cù Lao Chàm gán cho bà Bùi Thị Hý được!
| Gốm Chu Đậu |
"Tra kỹ tư liệu thu thập được, chúng tôi
giật mình vì chữ "đại" trên cột trúc đài nét quá khác, mới và sắc so
với nhiều chữ khác.
"Trong khi nhiều chữ viết khác bị phong
hóa, mòn mờ theo thời gian thì nhiều chữ, gồm cả cụm "Bùi Thị Húy Hý" có
nhiều nét khắc dựa trên sự lồi lõm của mặt đá đã bị phong hóa...". Cứ
như trên thì những ý kiến mà ông Tăng Bá Hoành đại diện và là người chủ
xướng thực sự không đáng tin chút nào nên chúng tôi cũng nghiêng về ý
kiến của ông Nguyễn Đình Chiến. Nhưng nói như ông Chiến rằng "tự dạng
đầy đủ được tra trong từ điển là «họ Bùi vẽ chơi»" thì cũng không xác
đáng vì "hý bút" [戲筆] lại không có nghĩa là "vẽ chơi". "Vẽ chơi" thì hàm
ý lạc quan còn "hý bút" có khi lại là để than thân trách phận, chẳng
hạn trong bài thất ngôn của Dương Vạn Lý đời Tống mà tác giả đã dùng
chính hai chữ "Hý bút" làm nhan đề (cho hai bài - đây là bài thứ nhất),
nguyên văn như sau:
戲筆
野菊荒苔各鑄錢,
金黃銅綠兩爭妍。
天公支與窮詩客,
只買清愁不買田。
Phiên âm:
Hý bút
Dã cúc hoang đài các chú tiền
Kim Hoàng đồng lục lưỡng tranh nghiên
Thiên công chi dữ cùng thi khách
Chỉ mãi thanh sầu bất mãi điền
Tạm diễn nghĩa:
Cúc dại rêu hoang khéo đúc tiền
Vàng cúc xanh rêu khoe sắc chen
Ông trời cho khách thơ ngần ấy
Ruộng nào mua được chỉ mua phiền.
Trước cảnh túng quẫn của mình, nhìn
những đóa cúc vàng và những đốm rêu xanh, Dương Vạn Lý liên tưởng đến
hình dạng của những đồng tiền mà nghĩ rằng, ông trời ban cho mình (một
khách thơ cùng túng) thứ tiền này thì chỉ gợi thêm sầu muộn (Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ!) chứ nào giúp cho mình có được cuộc sống vật
chất thoải mái.
Cứ như tâm sự của Dương Vạn Lý thì ta
làm sao có thể giảng "hý bút" là "vẽ chơi" được. Huống chi, trong "vẽ
chơi" thì "chơi" (nghĩa của chữ "hý") là trạng ngữ chỉ mục đích của động
từ "vẽ" còn trong "hý bút" thì "hý" lại là động từ chính, là trung tâm.
Ngữ đoạn vị từ "hý bút" nằm trên một trục đối vị (paradigmatic axis)
với "các bút", "khai bút", "lộng bút", "phóng bút", v.v..., trong đó
"các", "khai", "lộng", "phóng" đều là động từ chính. Vậy, "hý bút" không
phải là "vẽ chơi" mà là "nghịch bút", "nghịch" với nghĩa trong "nghịch
bùn", "nghịch đất", "nghịch lửa", nghịch nước", v.v...
Dĩ nhiên "nghịch bút" chỉ là nghĩa đen
còn cái nghĩa "thuật ngữ" của nó là "dùng bút mà sáng tác thơ văn, tranh
vẽ theo ngẫu hứng". Lại cứ như trên thì trong "Bùi thị hý bút", "Bùi
thị" là đề còn "hý bút" là thuyết mà cũng cứ như thế thì "hý" dứt khoát
không trực tiếp phụ thuộc vào "Bùi thị". "Hý bút" là một ngữ [đoạn] vị
từ (verb phrase), một từ tổ độc lập, như còn có thể thấy trong nhiều ngữ
cảnh khác nữa. Nó cũng thường được dùng làm tên của thi phẩm, họa phẩm,
mà thí dụ đầu tiên là tên bài thơ của Dương Vạn Lý đã nêu ở trên. Cũng
vào đời Tống, Trịnh Thanh Chi [鄭清之] có bài "Thụy khởi hý bút" [睡起戲筆].
Trần Hiến Chương [陳獻章] đời Minh có bài "Tân Sửu nguyên đán hý bút". Thời
nay, Gia Tuấn [家俊] có một bài thất tuyệt nhan đề "Hý bút" [戏笔], sáng
tác vào ngày
12-2-2015 tại tiệm trà Lão Ba [老爸] đường
Dược Tiến [跃进], thành phố Tam Á. Trang "Tân Bạch thư phòng" [辛白书房] có
"Gia phi ẩn hý bút" [咖啡瘾戏笔], nghĩa là "Nghịch bút về chứng nghiện cà
phê". Trở lên là nói về thơ. Còn về hoạ thì gần đây, Từ Hoa Phong [徐华峰]
có Từ Hoa Phong thiên mặc hý bút họa tập [徐华峰天墨戏笔画集] do Trung Quốc xã
hội xuất bản xã ấn hành. Chu Linh [朱龄] có 10 bức "Thủy mặc hý bút"
[水墨戏笔]. Lộng Mặc Đường chủ [弄墨堂主] có 3 bức "Thủy mặc hý bút [tam bức]".
Tôn Minh [孙明] có bức "Hý bút hoa điểu tiểu phẩm" với ghi chú "Tôn Minh
hý bút" [孙明戏笔].
Cấu trúc của "Tôn Minh hý bút" [孙明戏笔]
cũng y chang như của "Bùi thị hý bút". Nếu thuận theo cách phân tích đầy
chất sáng tạo của ông Tăng Bá Hoành thì ở đây ta sẽ có một họa gia tên
là "Tôn Minh Hý". Và chúng tôi xin cung cấp thêm cho ông Hoành là ở Nam
Sách còn có một bà nữa cũng tên "Hý" nhưng họ Trang, là Trang Thị Hý
nữa. Số là, ngoài chiếc bình ở Bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ), ta
được biết là còn có một chiếc bình khác thuộc dòng gốm Chu Đậu cũng nổi
tiếng không kém, được trưng bày tại cuộc triển lãm về nghệ thuật của
Trung Quốc ở London (Anh) năm 1936. Chiếc bình này được nhắc đến tại mục
"5. Việt Nam đào từ" [5. 越南陶瓷], trang 251 trong quyển "Trung ngoại đào
từ bưu phiếu" [中外陶瓷邮票] của Nhâm Mẫn Cương - Ngụy Thanh Mai [任敏剛;魏清梅] do
Thiểm Tây khoa học kỹ thuật xuất bản xã ấn hành năm 2002.
Trên chiếc bình này có 13 chữ liên quan
đến vấn đề đang bàn là "Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Trang
thị hý bút" [大和八年匠人南策州装氏戏笔], nghĩa là "người thợ họ Trang châu Nam Sách
nghịch bút - năm Đại Hòa thứ 8". Chiếc bình Topkapi Saray cũng có đúng
13 chữ và đó là "Thái Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý
bút", nghĩa là "người thợ họ Bùi châu Nam Sách nghịch bút - năm Thái Hòa
thứ 8". Khác nhau ở họ của người thợ (Trang ≠ Bùi) và ở chữ đầu tiên
của ngữ đoạn: Đại ≠ Thái. Chữ "đại" [大] trong "Trung ngoại đào từ bưu
phiếu" chắc chắn là kết quả của một sự nhầm lẫn từ chữ "thái" [太] trong
niên hiệu "Thái Hòa" (1443 - 1453) của Lê Nhân Tông. Ta có thể khẳng
định điều này vì chính hai tác giả của nó đã xác định "Đại Hòa bát niên"
(của Việt Nam) là "Cảnh Thái nguyên niên" nhà Minh, đều là năm 1450
dương lịch.
Thế là chỉ trong năm 1450, ta đã có hai
chiếc bình gốm Chu Đậu đặc biệt: chiếc Topkapi Saray do "Bùi thị hý bút"
và chiếc Luân Đôn do "Trang thị hý bút". Nếu theo cách hiểu của ông
Tăng Bá Hoành thì ta còn phải tìm thêm bà Hý thứ hai là "Trang Thị Hý".
Và chúng tôi mạo muội nghĩ rằng gốm Chu Đậu còn có rất nhiều nữ nghệ
nhân tên "Hý" khác vì trong hàng trăm ngàn hiện vật Chu Đậu, chắc còn có
những chiếc khác cũng mang trên mình nó cái công thức "[…] X thị hý
bút" chứ lẽ nào lại tuyệt đối không có? Vậy xin kính đề nghị các vị
chuyên gia cứ thử đảo tới đảo lui, đảo xuôi đảo ngược nhiều hiện vật Chu
Đậu đặc biệt khác xem còn có những "bà Hý" nào nữa hay không.
Nhận xét
Đăng nhận xét