AN CHI GIẢI ĐÁP 26

(ĐC sưu tầm trên NET)
10/02/2016

Chuyện tên của loài khỉ

Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".

Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".
Từ thuở nhỏ, nghĩa là cách đây chừng 70 năm, tại đất Gia Định, cá nhân An Chi đã có nghe dùng từ "mai" để chỉ loài khỉ. Nhưng để cho thuyết phục hơn, xin trích - mà xin phép ông để trích hơi… dài - lời của nhà phê bình văn học Đặng Tiến:
"Miệt Bạc Liêu, Cà Mau có câu hát, về sau phổ biến khắp miền Nam, rồi lan truyền khắp nước:
"Tháng ba cơm gói ra Hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai"
Nhiều người không hiểu chính xác, cho rằng Hang Mai có nhiều hoa mai thơ mộng, hay nhiều rắn hổ mang tàn độc. Thật ra, "mai" tiếng địa phương có nghĩa là "khỉ". Hang Mai tức là "hang của loài khỉ". Phi Vân đã giải thích như vậy, ngay trang mở đầu cuốn phóng sự "Đồng Quê", giải thưởng Hội Khuyến học Cần Thơ năm 1943. Và ông ấy miêu tả căn cơ:
chuyen ten cua loai khi
"Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa ( ... ). Ở hai bên bờ người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ong mật và vô số cá". Dĩ nhiên là nhiều khỉ. Từ điển phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái, 1994, cũng có ghi chữ mai nghĩa là khỉ" (Chim Việt Cành Nam, "Chuyện Khỉ năm Thân", Orléans, Xuân Giáp Thân 2004).
Nhà thiền học Lý Việt Dũng, người gốc Bạc Liêu, cũng đã khẳng định với chúng tôi rằng, tại quê ông, hầu như người ta không dùng từ "khỉ", mà chỉ nói "mai" để gọi loài động vật này.
Một cái tên khác nữa dùng để gọi loài khỉ tại Nam Bộ là "khọn", như có thể thấy trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của:
"Khọn. n. Khỉ.
Con khọn. id.
Làm tuồng mặt con khọn. Làm mặt khỉ, tiếng mắng đứa hay làm mặt vúc vắc, nhăn nhíu khó coi.
Làm con khọn. id. Làm chẳng nên sự gì (tiếng mắng)".
Dictionnaire annamite-français của J.F.M. Génibrel cũng ghi:
"KHỌN. Con khọn, Singe, m. Làm như khọn, Imiter les gestes. Singer, a."
Đáng tiếc là trong phương ngữ Nam Bộ hiện nay, "khọn" đã trở thành một từ cổ. Có lẽ cũng vì thế nên nó không được ghi nhận trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994) do Nguyễn Văn Ái chủ biên và Từ điển từ ngữ Nam Bộ (2009) của TS Huỳnh Công Tín. Nó chỉ được ghi nhận một cách "vớt vát" trong Việt Nam tự điển (1970) của Lê Văn Đức, cũng có thể xem là một quyển từ điển lấy phương ngữ Nam Bộ làm nền tảng. Nhưng "khọn" sẽ không "chết mất xác" vì nó đã gắn chặt với "khỉ" trong từ tổ đẳng lập "khỉ khọn" dùng để chỉ tính nghịch ngợm của thiếu nhi, thiếu niên, mà cả từ điển Nguyễn Văn Ái lẫn từ điển Huỳnh Công Tín đều có ghi nhận.
Thế là tiếng Nam Bộ có hai từ riêng là "khọn" và "mai", dùng để chỉ khỉ mà nói chung người miền Bắc không biết đến. Rồi miền Bắc cũng có hai từ riêng dùng để chỉ loài động vật này là "tườu" và "bú dù", thường là tiếng dùng để chửi mắng, mà nói chung, nhiều người miền Nam cũng ít có cơ hội được biết đến.
Nhưng cũng là từ "khỉ" chung cho tiếng Việt toàn dân mà người miền Nam lại khai thác cái khía cạnh hay làm trò của khỉ mà lấy tên của nó làm ẩn dụ để chỉ trẻ con nghịch ngợm; chẳng những xài "đơn" với "khỉ" mà còn xài "kép" với từ tổ "khỉ khọn", như đã nói ở trên. Cái nhìn này của người Miền Nam lại giống với nhãn quan của người Quảng Đông khi họ dùng ba tiếng "mạ lấu chính" [馬驑精], đọc theo âm Hán Việt là "mã lưu tinh", để chỉ những đứa trẻ tinh nghịch. Trong tiếng Quảng Đông thì "mạ lấu" [馬驑] (mã lưu) là khỉ; người Quảng Đông không dùng hai tiếng "hầu tử" [猴子] như trong tiếng Bắc Kinh (mà nếu ghi âm theo kiểu pinyin thì sẽ là "hóu.zi"). Còn điểm chung của cả hai miền Nam, Bắc nước ta là dùng từ "khỉ" để diễn tả cái ý "không ra gì" (nhưng miền Nam thì có nhiều cách ghép đôi hơn như "khỉ cùi", "khỉ khô", "khỉ mốc"). Bình dân và thông dụng nhất cho cả hai miền có lẽ là quán ngữ "cái con khỉ" đi liền theo sau từ/ngữ chỉ khái niệm mà người nói muốn phủ nhận hoặc phản đối, chẳng hạn "Cười, cười cái con khỉ!", "Đẹp, đẹp cái con khỉ!", v.v…
Liên quan đến tên gọi của loài linh trưởng này, chúng tôi đã lần theo chữ nghĩa để đi tìm nguồn gốc của chính từ "khỉ" thì thấy đây quả là một vấn đề hóc búa. Đặng Tiến (Bđd) đã dè dặt khi viết:
"Không biết vì lý do gì và từ thời nào, trong tiếng Hán Việt, người ta phát âm chệch từ khỉ thành khởi (cũng như quý thành quới): ngày nay ta nói khởi nghĩa, khởi hành, nhưng các từ điển xưa ghi là khỉ hành, khỉ nghĩa. Trong khi đó, trong tiếng thuần Việt, thành ngữ dân gian vẫn nói: "Khỉ khô khỉ mốc, khỉ ho cò gáy, rung cây nhát khỉ [……..] Không rõ từ khỉ phát âm chệch thành khởi có liên quan gì đến tên loài động vật không".
Đặng Tiến là nhà phê bình văn học. Ông không làm từ nguyên nhưng khi nói về chuyện có liên quan đến từ nguyên thì ông rất dè dặt. Ngược lại, trong bài "Năm Thân nói chuyện khỉ" của Nguyễn-Phú-Thứ (Lyon - France) trên mạng ERCT, tác giả đã khẳng định:
"Năm Thân tức Khỉ cũng là Khởi, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày […..]".
Nguyễn Phú Thứ đã khẳng định như trên nhưng ở đây thì "khỉ" dứt khoát không thể là "khởi" được. "Khỉ", tên của một loài động vật, là một yếu tố phi Hán Việt còn "khỉ" trong "khỉ hành", "khỉ nghĩa" - mà Đặng Tiến đã nêu - là một yếu tố Hán Việt. Chỉ có trong phạm vi Hán Viêt ta mới thấy có một số yếu tố vốn thuộc vần -I đã chuyển sang vần -ƠI, như:
–"hy" [稀] là hiếm, vốn thuộc vận (vtv) "vi" [微], mới chuyển thành (mct) "hơi", dùng để chỉ mức độ không cao của một trạng thái, một tính chất, v.v… (hơi mệt, hơi dày, hơi ngọt, v.v…);
–"ly" [離] là rời, lìa, v.v…, vtv "chi" [支], mct "lơi" trong "buông lơi", "lơi tay", "mời lơi", v.v...;
–"nghị" [議] là bàn luận, vtv 'chí" [寘], mct "ngợi" trong "ca ngợi", "ngợi khen", "nghĩ ngợi", v.v...;
–"phi" [披] là mở ra, banh ra, vtv "chi" [支], mct "phơi" trong "phơi phóng", "phơi thóc", v.v...
"Quý" > "quới", "khỉ" > "khởi" cũng là cùng cái lý đó. Và đó chính là cơ sở ngữ âm mà người ta đã căn cứ vào để chuyển hai chữ húy kiêng âm sau đây từ vần -I sang vần -ƠI: –"Lỵ" [利] húy của Lê Thái Tổ đã đọc thành (đđt) "Lợi";
–"Thì" [時] húy của Tự Đức đđt "Thời".
Nhưng trên đây chỉ là chuyện "nội bộ" của phạm vi Hán Việt chứ ngoài phạm vi này thì không có chuyện chuyển -I thành -ƠI. Mà trong thực tế thì trên cả nước Việt Nam, "[con] khỉ" cũng chẳng bao giờ bị người Việt gọi là "[con] khởi" cả. Chính vì vậy nên nói rằng "Khỉ cũng là Khởi" trong trường hợp này là đã khẳng định một điều hoàn toàn vô căn cứ. Trong quá trình đi tìm từ nguyên của các từ Việt gốc Hán, chúng tôi có ghi nhận một ứng viên cho nguyên từ (etymon) của "khỉ". Đó là chữ/từ "quỷ" [蛫] trong tiếng Hán mà Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) đã cho nghĩa là "viên loại" [猿类], nghĩa là "loài vượn". Đây là một hình thanh tự mà nghĩa phù là "khuyển" [犭] còn thanh phù là "nguy" [危]. Về phụ âm đầu thì Q[w] của "quỷ", NG[w] của "nguy" và KH của "khỉ" đều là những âm cuối lưỡi cho nên mối tương quan về từ nguyên của chúng - nếu có - thì cũng là chuyện bình thường. Chúng tôi chỉ dè dặt có một điều là Q của "quỷ" và NG của "nguy" thì có [w], nghĩa là có yếu tố "tròn môi" còn KH của "khỉ" thì không. Vì sự dè dặt này mà chúng tôi chưa "duyệt" chữ/từ "quỷ" [蛫] làm nguyên từ của "khỉ" trong những trang ghi chép của mình. Làm từ nguyên thì không thể tào lao theo kiểu "thổ mộ là độc mã".
Nguồn:
 Nói lái trong tiếng Pháp

Bạn đọc: Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong hơn 20 năm nay, trả lời cho độc giả, ông đã vài lần giải thích về hiện tượng “nói lái”, kể cả trong tiếng Anh (spoonerism) nhưng trong tiếng Pháp thì hình như chưa, hoặc có nhưng chỉ phớt qua. Xin ông vui lòng nói rõ thêm? Cảm ơn ông. Lê Thành Khẩn (Ba Đình, Hà Nội

Học giả An Chi: "Nói lái", tiếng Pháp là "contrepèterie". Danh từ này đã được Le dictionnaire de linguistique et des sciences du langage trong Tủ sách Larousse định nghĩa là:
"La contrepèterie est une sorte de jeu ou un lapsus consistant à permuter certains éléments phoniques (syllabes ou phonèmes) de telle manière qu'on obtient un nouveau énoncé qui apparaisse comme une déformation burlesque du premier énoncé: Mon oncle perd courage devant les amas de patentes devient Mon oncle perd courage devant les appas de ma tante. Le terme de contrepèterie désigne aussi l'énoncé lui-même issu de cette déformation".
(Nói lái là một cách chơi [chữ] hoặc một sự nhịu [lưỡi] nhầm hoán vị một số yếu tố âm thanh (âm tiết hoặc âm vị) sao cho người ta có được một phát ngôn mới có vẻ như là một kiểu biến dạng tếu táo của phát ngôn gốc: Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những mớ môn bài trở thành Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những nét khêu gợi của bác[gái]/thím/mợ tôi. Thuật ngữ "contrepèterie" cũng chỉ chính phát ngôn xuất phát từ sự biến dạng đó).
Cũng như trong tiếng Việt và cả trong tiếng Anh, hiện tượng nói lái có khi chỉ là hậu quả của một sự nhịu lưỡi, nhưng nhiều khi lại là kết quả của một hành động ngôn ngữ nhằm mục đích chơi chữ. Chính vì mục đích chơi chữ nên Rabelais, tại chương XVI (Des moeurs & conditions de Panurge) của tác phẩm Pantagruel mới lái "femme folle de la messe" thành "femme molle de la fesse" mà viết về Panurge: "Il disait qu'il n'y avait qu'une antistrophe entre femme folle à la messe et femme molle à la fesse". "Femme folle de la messe" là "phụ nữ sùng lễ [nhà thờ]" còn "femme molle à la fesse" là "phụ nữ thờ ơ với chuyện chăn gối" ("mou/molle" là yếu đuối, nhu nhược; "fesse" là mông [đít]). Vậy ý của Panurge là "chỉ cần một sự nói lái ("antistrophe" là từ cũ để chỉ "contrepèterie") thì người phụ nữ sùng đạo sẽ trở thành người phụ nữ lãnh cảm". Thí dụ này được xem như là điển hình về hiện tượng nói lái trong tiếng Pháp.
Ở thời hiện đại, Jacques Prévert cũng được xem là nhà văn thích chơi chữ bằng thao tác nói lái. Tờ Le Canard enchaîné (Con vịt [bị] trói) cũng nổi tiếng về chuyện nói lái với chuyên mục "Sur l'album de la Comtesse" (Về album của bà Bá tước). Còn tại Việt Nam thì nhiều người biết tiếng Pháp sống vào thời Cách mạng Tháng Tám và cuộc Kháng chiến chống Pháp có thể biết chuyện tên của viên Cao ủy Thierry d'Argenlieu đã được lái thành "Tient lieu d'argenterie" (Thay cho đồ bạc). Chả là "đồ bạc" được dùng theo nghĩa bóng để chỉ số mề đai của y vì d'Argenlieu thuộc loại được nhiều mề đai nhất của hải quân Pháp.
Và chẳng cứ Việt Nam ta mới có "văn nghệ bình dân"; Tây cũng chẳng thua gì. Nhẹ nhàng nhất là những chuyện như: - "Femme déçue" (phụ nữ [bị] thất vọng) lái thành "dame fessue" (bà đít bự);
- "Ni fin ni cesse" (không ngừng không nghỉ) lái thành "ni sein ni fesse" (ngực lép mông xẹp [không vú không mông]); - "J'ai glissé dans la piscine" (tôi đã trượt trong bể bơi) lái thành "j'ai pissé dans la Glycine" (tôi đã tè trong [tòa nhà] Glycine [thuộc Hàng hải quốc gia của Pháp]);
- "Méfiez-vous des dons coûteux" (hãy dè chừng với những món quà đắt tiền) lái thành "méfiez-vous des cons douteux" (hãy dè chừng với những thằng ngốc đáng ngờ);
- "Adjudant, faites bisser l'appel!" (thượng sĩ, cho điểm danh lại đi) lái thành "adjudant, faites pisser la belle!" (thượng sĩ, cho người đẹp đi tè đi);
- "Ce sont toujours les bons qui nous quittent..." (thường là những người tốt bỏ ta mà đi) lái thành "ce sont toujours les cons qui nous bitent..." (thường là những thằng ngốc [lại] hiểu ta); - "En lisant Racine ou Molière, je tricotais des épaulières" (tôi đan những miếng che vai lúc đọc Racine hay Molìere) lái thành "en lisant Racine ou Molière, je tripotais des écolières" (tôi sờ soạng mấy cô nữ sinh lúc đọc Racine hay Molière); v.v... và v.v...
Xin chú ý là trong khi tiếng Việt thiên về lái vần thì tiếng Pháp lại thiên về lái phụ âm đầu (của âm tiết).
Nguồn:

Ngựa Hồ - Chim Việt

Bạn đọc: Có lẽ nhiều người vẫn biết hai câu “Ngựa Hồ hí gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam” xuất xứ từ đôi câu đối tiếng Hán “Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi” của tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Hán thì hai câu này xuất xứ từ đâu? Xin ông vui lòng cho biết. Cảm ơn ông. Trần Đông Ngạc (Cầu Giấy, Hà Nội) 

Học giả An Chi: Sài Môn thi đàn có bài "Ngựa Hồ Chim Việt" của Võ Doãn Nhẫn, mở đầu như sau:
"Ngựa Hồ, chim Việt "do chữ Hồ mã, Việt điểu. Trong Ðường thi có câu "Hồ mã tế (sic [gõ nhầm chăng?]) bắc phong, Việt điểu sào nam chi", nghĩa là "ngựa Hồ hí gió bấc, chim Việt đậu cành nam", do điển rợ Hồ ở phía bắc Trung Hoa đem dâng Hán Vũ Ðế một con ngựa hay; nhưng từ khi sang Trung Hoa được nuôi ở vườn Thượng lâm thì bỏ ăn trông rất buồn và mỗi khi có gió bấc thổi thì hí lên. Lại tích chim Việt thì đời Hùng Vương có đem dâng cho vua Châu Thành Vương một con chim bạch trĩ, chim này chỉ chọn cành nào hướng về phương Nam thì đậu".
Võ Doãn Nhẫn khẳng định như trên, nhưng tiếc rằng thơ Đường thì lại không bài nào có hai câu "Hồ mã tê (không phải "tế") bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Thực ra thì hai câu này đã có từ đời nhà Hán ở bên Tàu. Đây là hai câu nằm trong bài đầu tiên của Cổ thi thập cửu thủ (Mười chín bài thơ cổ) mà tác giả không được biết tên (Vô danh thị). Mười chín bài này được sưu tập sớm nhất là trong "Chiêu Minh văn tuyển" của Chiêu Minh Thái tử Tiêu Thống 
[蕭統], con trai trưởng của Lương Vũ Đế. Những bài thơ này không có tên nên được lấy câu đầu làm nhan đề. Hai câu đang xét nằm trong bài đầu tiên là "Hành hành trùng hành hành" [行行重行行], gồm 16 câu thơ ngũ ngôn, nguyên văn chữ Hán như sau: 
行行重行行, 與君生別離。
相去萬餘里, 各在天一涯;
道路阻且長, 會面安可知?
胡馬依北風, 越鳥巢南枝。
相去日已遠, 衣帶日已緩;
浮云蔽白日, 游子不顧返。
思君令人老, 歲月忽已晚。
棄捐勿復道, 努力加餐飯。
Phiên âm:
Hành hành trùng hành hành - Dữ quân sinh biệt ly
Tương khứ vạn dư lý - Các tại thiên nhất nhai
Đạo lộ trở thả trường - Hội diện an hà tri
Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi
Tương khứ nhật dĩ viễn - Y đái nhật dĩ hoãn
Phù vân tế bạch nhật - Du tử bất cố phản
Tư quân lệnh nhân lão - Tuế nguyệt hốt dĩ vãn
Khí quyên vật phục đạo - Nỗ lực gia xán phạn.
Dịch ý:
Chàng cứ đi, đi mãi - Thiếp với chàng sinh ly
Xa nhau hơn muôn dặm - Mỗi người một phương trời
Đường gian truân xa thẳm - Tái ngộ biết chừng nao
Ngựa Hồ trông gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam
Xa nhau ngày càng dài - Áo mặc ngày một rộng
Mây trôi che khuất nắng - Chàng nào nhớ ngày về
Tiều tụy vì nhớ chàng - Năm tháng càng trôi nhanh
Tâm tư không nói hết - Chỉ mong chàng yên thân.
Cứ như trên thì hai câu "Ngựa Hồ hí gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam" không xuất xứ từ thơ Đường, mà từ một bài thơ trong "Cổ thi thập cửu thủ", được giới nghiên cứu cho là đã ra đời vào khoảng từ 140 đến 190, tức khoảng cuối đời Thuận Đế đến trước đời Hiến Đế nhà Đông Hán. Bài thơ đã phản ánh một cách sinh động tâm tư của người thiếu phụ xa chồng trong cảnh xã hội loạn ly, làm cho người đọc không kìm được sự xúc động, được Thi phả của Trần Dịch [陳繹] ghi nhận là "tình chân, cảnh chân, sự chân, ý chân" (tình thật, cảnh thật, chuyện thật, ý thật). Ý kiến vô căn cứ của Võ Doãn Nhẫn đã làm giảm tuổi thọ của bài thơ từ 400 năm trở lên.
Ngay trước đời Đường thì khai quốc công thần nhà Tùy là Dương Tố cũng đã dụng điển mà viết trong bài "Xuất tái" (Ra biên ải) thứ nhất (vì có hai bài) hai câu "Bắc phong tê sóc mã - Hồ sương thiết tái hồng" [北風嘶朔馬,胡霜切塞鸿]. "Sóc" chỉ hướng Bắc, "sóc mã" chẳng qua là "Hồ mã" và "Bắc phong tê sóc mã" chẳng qua là "Hồ mã tê Bắc phong", có tu từ bằng hình thức đảo ngữ mà thôi. 
Đến đời Đường, Lưu Trường Khanh cũng dụng điển mà viết trong bài "Tòng quân" thứ sáu (vì có sáu bài) hai câu "Hồ mã tê nhất thanh - Hán binh lệ song lạc" (Ngựa Hồ hí một tiếng - Lính Hán lệ [chảy] hai hàng). 
Đến đời Tống, nhiều nhà thơ đã dụng điển "Hồ mã". Dương Ức có bài thơ ngũ ngôn 12 câu nhan đề "Hồ mã tê Bắc phong" nhưng chỉ dụng điển làm nhan đề cho bài thơ mang tính phúng dụ chứ trong 60 chữ của ông không có một chữ "mã" nào cả. Còn trong bài "Đại Trần Vô Kỷ thuật hoài", Ngô Cảnh (có thể đọc Kỉnh) [吳儆] đã mượn gần như "nguyên xi" hai câu cổ thi mà viết "Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu y Nam chi" [胡馬嘶北風 - 越鳥依南枝] làm hai câu đầu cho bài thơ ngũ ngôn 12 câu của mình. Trong bài "Phát Lăng Châu", Văn Thiên Tường viết "Kiện mã tê Bắc phong - Tiềm ngư lạc thâm uyên" [健馬嘶北風 - 潜魚樂深淵]. Lưu Xưởng viết trong bài "Phụ huyên" thứ tư (vì có bốn bài) hai câu "Hồ sô đề triêu sương - Biên mã tê sóc phong" [胡雛啼朝霜 - 邊馬嘶朔風]. Trong bài "Đông mộ" (Chiều đông), Triều Công Tố viết: "Biên mã tê Bắc phong - Tái hoàn thảo diệc suy" [邊馬嘶北風 - 塞垣草亦衰]. Tào Huân viết trong bài "Thu tứ": "Hải thảo vị điêu lục - Hồ mã tê Hàm Tần" [海草未凋綠 - 胡馬嘶咸秦]. V.v... và v.v...
Xin chú ý là vì lý do dị bản nên có một vài nguồn ghi chữ "y" [依] thay cho chữ "tê" (trong câu trước) hoặc chữ "sào" (trong câu sau), khi chép lại bài "Hành hành trùng hành hành". Cuối cùng, xin nói rằng "Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi" cũng chỉ là hai câu thơ đối ý chứ không phải là hai câu đối chính danh vì, chiếu theo luật đối, thì nó đã hỏng ngay từ đầu vì chữ cuối của hai câu đều thuộc vần bằng (nên sai hẳn luật).
Nguồn:

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32