CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 104
(ĐC sưu tầm trên NET)
(Kiến Thức) - Nhiều vị vua chúa đã được lịch sử Việt
Nam ghi danh vì những chiến công quân sự xuất sắc, trước hoặc sau khi
lên nắm quyền.
An Dương Vương
Sau chiến thắng, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa nhằm củng
cố thêm khả năng phòng thủ quân sự. Tòa thành này có cấu trúc độc đáo,
theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, được củng cố bởi mạng lưới
hào nước liên kết với nhau chạy dưới chân thành. An Dương Vương cũng
phát triển thuỷ binh và cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế
quân sự vững chắc cho Cổ Loa.
Lý Nam Đế
Triệu Việt Vương
Ngô Quyền
Khi cuộc chiến diễn ra, Ngô Quyền đã nhử quân Nam Hán vào khu
vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân
Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Kết quả, quân Nam Hán thua chạy, Lưu
Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc
mộng xâm lược.
(Còn nữa…)
Sau các biến động chính trị dồn dập, tình hình đất nước trở nên
rối loạn và từ năm 966 hình thành 12 sứ quân cát cứ nhiều vùng, sử gọi
là loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư,
cùng con trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần
Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình).
Lê Đại Hành
Trần Nhân Tông
Trong cả 2 lần kháng chiến vào các năm 1285 và 1288, vua Trần
Nhân Tông đã đóng vai trò của một ngọn cờ đoàn kết dân tộc, lãnh đạo
quân dân Đại Việt vượt nhiều thời khắc khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới
thắng lợi cuối cùng. Trong các cuộc chiến này, nhà vua đã nhiều lần trực
tiếp cầm quân đánh trận như một vị tướng dũng cảm, vừa đưa ra được
những quyết sách đúng đắn trong vai trò của một nhà chiến lược tài giỏi.
(Còn nữa…)
(Kiến Thức) - Bên cạnh những cuộc kháng chiến oai hùng chống lại kẻ
xâm lược, các vua chúa Việt cũng có công rất lớn trong việc mở mang bờ
cõi đất nước.
Lê Thái Tổ
Trong những năm đầu tiên, cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn,
Lê Lợi và nghĩa quân thường phải lẩn trốn trong rừng núi. Năm 1424, khi
quân lực được củng cố, Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An.
Sau nhiều trận thắng, đến cuối năm 1425, ông làm chủ toàn bộ đất đai từ
Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.
Lê Thánh Tông
Chúa Nguyễn Hoàng
Hoàng đế Quang Trung
Sau khi Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, đưa quân Thanh về
cướp nước, ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên
hiệu Quang Trung và ngay hôm sau thực hiện một cuộc hành quân thần tốc
ra miền Bắc để đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn tiến như vũ bão và đánh bại
kẻ thù trong trận quyết chiến ở Ngọc Hồi - Đống Đa vào đầu xuân Ký Dậu
1789.
Chưa từng biết đến thất bại trên chiến trận, hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi nhận như một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất của lịch sử Việt Nam.
(Kiến Thức) - Có rất
nhiều vị vua trẻ con của Việt Nam được dựng lên từ những tính toán của
“người lớn” và không bao giờ nắm được quyền lực thật sự. Nhưng có một
số ít đã để lại dấu ấn sâu đậm...
Kỳ 1: Những “đứa trẻ” trở thành nhà cai trị sáng suốt
Lý Nhân Tông
Lý Nhân Tông cũng là người quan tâm đến hoạt động sản xuất nông
nghiệp và cải cách quan chế. Ông ra quy định cấm giết trâu bò bừa bãi
và cho đắp đê chống lũ lụt, nổi tiếng nhất là đê Cơ Xá, khởi đầu cho
việc đắp đê ngăn lũ ở Việt Nam, nhằm giữ cho kinh thành khỏi ngập lụt.
Năm 1086, ông định lại quan chế, chia văn võ bá quan làm 9 phẩm.
Trần Minh Tông
Lê Thái Tông
Lê Nhân Tông
(Kiến Thức) - Cuộc hôn nhân giữa “nữ hoàng nhi đồng” Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh,
người sau đó thành “hoàng đế trẻ con” là một biến cố hi hữu trong lịch sử
VN.
Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam
Cuộc hôn nhân chính trị Trần Cảnh - Lý Chiêu Hoàng
Đoạn kết cuộc tình “nữ hoàng nhi đồng” - “hoàng đế trẻ con”
Hàm Nghi - ông vua nhỏ tuổi hiệu triệu cả đất nước
Tại Tân Sở, theo kế hoạch của lực lượng kháng chiến, vào ngày
13/7/1885 vua Hàm Nghi đã ban bố chiếu Cần Vương làm dấy lên một phong
trào chống Pháp rộng khắp. Tân Sở thất thủ mấy ngày sau đó, buộc lực
lượng khởi nghĩa phải rút về các vùng rừng sâu để hoạt động
“Cậu bé ngỗ nghịch” Thành Thái
Khi lớn lên, vua Thành Thái ngày càng bộc lộ tinh thần dân tộc
và chống Pháp. Do đọc những tân thư chữ Hán của Trung Quốc và Nhật Bản,
vua Thành Thái đã tiếp thu tinh thần tự cường dân tộc và đầu óc cải
cách.
Duy Tân – từ đứa trẻ “nhút nhát, đần độn” thành ông vua can trường
Mặc dù còn nhỏ và bị kiểm soát bởi các đại thần thân Pháp, vua
Duy Tân luôn tỏ ra là một người có tư tưởng dân tộc, quyết đoán và không
chịu lệ thuộc vào Pháp.
Những vua chúa đánh trận siêu đẳng trong sử Việt (1)
(Kiến Thức) - Nhiều vị vua chúa đã được lịch sử Việt
Nam ghi danh vì những chiến công quân sự xuất sắc, trước hoặc sau khi
lên nắm quyền.
An Dương Vương
An Dương Vương, tên thật là Thục Phán, là vị vua đầu tiên và duy nhất
của nhà nước Âu Lạc - nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà
nước Văn Lang của các vua Hùng. Theo sử cũ, ông làm vua trong khoảng
thời gian từ 257 TCN đến 208 TCN.
Vào thời kỳ đó, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất Trung Hoa và tiếp tục tham
vọng xâm chiếm vùng đất phía Nam của các bộ tộc người Việt. Quân Tần do
Đồ Thư chỉ huy đã đánh chiếm nhiều vùng đất của Bách Việt, nhập vào lãnh
thổ Trung Hoa.
Trước tình hình này An Dương Vương đã chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tần
của quân dân Âu Lạc. Khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt,
Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, Nhân dân
Việt làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần dần lâm vào tình trạng
suy yếu do thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã kiệt sức thì
quân Âu Lạc xuất trận. Đồ Thư mất mạng, quân Tần thua to, phải bỏ chạy
về phương Bắc.
| Sơ đồ thành Cổ Loa. |
Ít lâu sau, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc. Nhờ sự chuẩn bị quân sự
tốt và ưu thế của thành Cổ Loa, An Dương Vương đã chống cự hiệu quả cuộc
xâm lược này.
Triệu Đà buộc phải dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai
mình, Trọng Thủy, và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm được
bí mật quân sự của An Dương Vương thông qua con trai, Triệu Đà đã thành
công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và tự
tử, kết thúc thời kỳ An Dương Vương.
Lý Nam Đế
Lý Nam Đế (503–548) tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, sinh ra trong
hoàn cảnh nước Việt bị nhà Lương đô hộ. Có tư chất thông minh, thể chất
mạnh khỏe từ nhỏ, khi lớn lên Lý Bí trở thành một người văn võ song
toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.
Ông được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu
(huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), nhưng do bất bình với các quan
lại đô hộ tàn ác nên bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính
quyền đô hộ.
Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh và thu phục
được nhiều nhân vật xuất chúng như tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu
Quang Phục, Tinh Thiều, lão tướng Phạm Tu…
Lý Bí đã liên kết với các châu lân cận và cuối năm 541 chính thức khởi
binh chống nhà Lương, khí thế rất mạnh. Tiêu Tư liệu không chống nổi
quân Lý Bí, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý Bí để được
tha chạy thoát về Quảng Châu để quân của Lý Bí chiếm thành Long Biên.
Tháng 4/542, vua Lương Vũ Đế sai quân từ phường Bắc kết hợp với quân của
các châu còn kiểm soát ở phía Nam tạo thành gọng kìm đánh Lý Bí. Lý Bí
đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía Nam
đánh lui cuộc phản công của nhà Lương, làm chủ toàn bộ Giao Châu.
Cuối năm 542, quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ động mang quân ra bán
đảo Hợp Phố đón đánh khiến quân xâm lược thảm bại, 10 phần chết đến 6-7
phần. Sau chiến thắng này, Lý Bí kiểm soát thêm quận Hợp Phố (thuộc
Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay).
Trong khi Lý Bí bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía Nam,
vua nước Lâm Ấp “đục nước béo cò”, đem quân đánh Giao Châu vào tháng
5/543. Lý Bí sai Phạm Tu cầm quân đánh Lâm Ấp và thắng lớn.
Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn
Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội).
Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn
Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục.
Triệu Việt Vương
Triệu Quang Phục (?-571) là con Triệu Túc, tù trưởng huyện Chu Diên. Ông
cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh
đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.
Năm 546, sau khi Lý Nam Đế thua trận phải lui về động Khuất Lạo, Triệu
Quang Phục được ủy thác việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của
nhà Lương.
Tháng 1/547, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu,
tỉnh Hưng Yên). Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có
nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có
thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể
vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi
xuống nước liền bị rắn độc cắn chết.
Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền
đất trong đầm, và dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để
khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh
doanh trại của quân Bá Tiên cướp lương thực vũ khí làm kế cầm cự lâu
dài.
Năm 550, nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về. Triệu Quang
phục tận dụng thời cơ tung quân ra đánh. Quân Lương tan vỡ chạy về nước.
Triệu Quang Phục vào thành Long Biên và xưng làm Triệu Việt Vương.
Đến năm 571, một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi
Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30
năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602.
Ngô Quyền
Ngô Quyền (898 - 944) sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở
châu Đường Lâm. Ông lớn lên khi chính quyền đô hộ của nhà Đường đang suy
yếu và tan rã, khó lòng khống chế các thế lực hào trưởng người Việt ở
địa phương, do đó dẫn tới sự xác lập quyền lực của họ Khúc ở phủ thành
Đại La vào năm 905 và họ Dương vào năm 931.
Sau khi trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được tin cậy
giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 937, hào trưởng đất
Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ để chiếm quyền,
nhưng lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc nên đã cầu cứu nhà Nam
Hán để bảo vệ quyền lực của mình.
Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều
Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo
chỉ huy.
Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng
cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi
cọc bị che lấp.
| Mô hình trận Bạch Đằng. |
Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, kết thúc hơn 1.000 năm Bắc
thuộc, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam. Ông không
có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô
Vương. Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ
Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một nghìn năm trước.
(Còn nữa…)
Những vua chúa đánh trận siêu đẳng trong sử Việt (2)
(Kiến Thức) - Nhiều vị vua Việt Nam đã chứng minh mình không chỉ là một nhà cai trị anh minh mà còn là một nhà quân sự tài năng.
Đinh Tiên Hoàng
Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 ở thôn Kim
Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn,
Ninh Bình) vào thời kỳ đất nước bị nhà Ngô đô hộ. Ông là con của Đinh
Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ. Từ bé ông đã mê đánh trận giả
và tỏ ra là người có khả năng chỉ huy.
| Ảnh minh họa. |
Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ
Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô
và các sứ quân khác. Chỉ trong vài năm, ông lần lượt đánh thắng 11 sứ
quân khác, được xưng tụng là Vạn Thắng Vương.
Sau khi xóa bỏ tình trạng cát cứ, năm
968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế,
niên hiệu Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa
Lư. Ông là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung
ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì thế mà ông còn được gọi là người
mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử.
Đinh Tiên Hoàng ở ngôi đến năm 979 thì
mất. Theo chính sử, một viên quan là Đỗ Thích mơ thấy sao rơi vào
miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên
Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.
Lê Đại Hành
Lê Hoàn sinh năm 941, quê quán chưa
được xác định rõ ràng. Mồ côi từ nhỏ, ông được một vị quan là Lê Đột
nhận về nuôi, lớn lên đi theo đội quân của Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn,
lập được nhiều chiến công.
Sau khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm
968, Lê Hoàn được giao chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ
Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc đó
ông mới 27 tuổi.
Năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và
Đinh Liễn bị sát hại, Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính cho Vệ vương Đinh
Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua. Tranh chấp quyền lực đã xảy ra giữa phe
của Lê Hoàn và một số đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng. Lê Hoàn đã
giết chết các đối thủ và củng cố sự kiểm soát triều đình.
Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà
Tống ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt, nhiều lần viết thư
sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng.
Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân
Nga cùng các tướng lĩnh và triều thần đã tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê
Hoàn lên ngôi (sử thường gọi là Lê Đại Hành), lấy niên hiệu là Thiên
Phúc.
Đầu năm 981, vua nhà Tống phát quân
sang đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành đã lãnh đạo quân dân đánh bại quân
Tống ở các trận Bạch Đằng, Tây Kết, giết và bắt sống nhiều tướng giặc
chủ chốt, khiến quân Tống phải tháo chạy về nước.
Trong vòng 26 năm trị vì, Lê Đại Hành
là người đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía Nam. Ông đã tiến hành nhiều
hoạt động quân sự lớn, đích thân cầm quân đánh dẹp sự nổi dậy của các
thế lực cát cứ và xâm lấn, không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới, mà còn
trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt. Lê Đại Hành mất năm 1005, thọ 65 tuổi.
Lý Thánh Tông
Lý Thánh Tông (1023 – 1072) là vị vua
thứ ba của nhà Lý. Ông tên thật là Lý Nhật Tôn, là con trưởng của Lý
Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai Thị. Không chỉ nổi tiếng là một
minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam, ông còn là một nhà
quân sự lỗi lạc.
Trong thời kỳ trị vì của vua cha Lý
Thái Tông, Lý Nhật Tôn đã nhiều lần cầm quân đi dẹp loạn, bảo vệ biên
cương và lập nhiều chiến công, được sử sách ghi nhận như dẹp bạo loạn ở
Lâm Tây năm 1037, khi mới 15 tuổi, đánh châu Văn năm 1042, châu Ái năm
1043.
Sau khi Lý Thái Tông băng hà năm 1054,
Lý Thánh Tông lên ngôi, tiếp tục ổn định tình hình trong nước và chú
trọng mở rộng cương thổ. Quân đội dưới thời gian ông trị vì được tổ chức
rất chặt chẽ và quy củ, có tiếng thiện chiến, nhiều lần đánh đuổi quân
Tống ở biên cương phía Bắc vào các năm 1059-1060, khiến nhà Tống phải nể
sợ.
Do nước Chiêm Thành phía Nam hay sang
quấy nhiễu, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu
không thành công, ông đem quân trở về. Đi nửa đường vua nghe thấy nhân
dân khen bà Nguyên phi Ỷ Lan (vợ thứ của vua) ở nhà giám quốc, trong
nước được yên trị, liền nghĩ bụng: "Người đàn bà trị nước còn được như
thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn
lắm sao?". Vua lại đem quân trở lại đánh và bắt được vua Chiêm Thành là
Chế Củ.
Chế Củ đã phải dâng đất ba châu là Địa
Lý, Ma Linh và Bố Chính (ngày nay thuộc các huyện Quảng Ninh, Quảng
Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải
tỉnh Quảng Trị) cho Đại Việt để chuộc tội.
Trần Nhân Tông
Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên
thật Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần. Ông là con trai trưởng
của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần
Thị Thiều, được vua cha nhường ngôi vào năm 1278.
Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là
một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, là người
đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và có vai trò lãnh đạo quan
trọng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 và
3.
| Hình minh họa. |
Ngoài cuộc đối đầu với người Mông Cổ,
vào năm 1290, nhà vua cũng thân chinh đi đánh dẹp quân Ai Lao, những kẻ
thường hay quấy nhiễu biên giới, bảo vệ vững chắc bờ cõi phía Tây.
Vua Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.
(Còn nữa…)
Những vua chúa đánh trận siêu đẳng trong sử Việt (3)
(Kiến Thức) - Bên cạnh những cuộc kháng chiến oai hùng chống lại kẻ
xâm lược, các vua chúa Việt cũng có công rất lớn trong việc mở mang bờ
cõi đất nước.
Lê Thái Tổ
Lê Lợi sinh năm 1385 ở vùng đất Lam
Sơn, Thanh Hóa, vào cuối đời nhà Trần - giai đoạn lịch sử rối ren của
đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế Truất nhà Trần, tự lên làm vua lấy
quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ. Năm 1407 nhà Hồ sụp đổ trước sự
xâm lược của quân Minh, nước Việt một lần nữa nằm dưới sự đô hộ của
phương Bắc.
Năm 1418, Lê Lợi đã cùng những hào
kiệt, đồng chí hướng chính thức phất ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn, kêu gọi
dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước.
| Tượng đài vua Lê Thái Tổ ở Hà Nội. |
Từ tháng 8/1426, Lê Lợi cho quân tiến ra Bắc. Đội quân của ông thắng lớn ở Tốt Động, Chúc Động và vây hãm thành Đông Quan.
Cuối năm 1427, vua Minh điều một lực
lượng viện binh lớn sang nước Việt. Lê Lợi chủ động đánh chặn các đạo
quân này và giành thắng lợi lớn trong trận Chi Lăng – Xương Giang. Các
cánh viện binh còn lại nghe tin, hoảng hốt rút về phương Bắc.
Sau thất bại này, quân Minh xin giảng
hòa để rút quân. Lê Lợi muốn giữ hòa khí nên đồng ý để quân xâm lược về
nước và sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để báo cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh.
Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức
là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên vương triều nhà Lê. Ông khôi
phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long
thành Đông Kinh vào năm 1430. Lê Thái Tổ băng hà năm 1433, hưởng thọ 49
tuổi.
Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông (1442 - 1497) tên thật
là Lê Tư Thành, là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê. Tư Thành là con thứ
4 của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Ông lên ngôi năm
1460, sau cuộc đảo chính do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu, giết chết
vua Lê Nghi Dân.
Trong thời gian trị vì, Lê Thánh Tông
nổi tiếng là vị minh quân, người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim
của chế độ phong kiến. Ông đã để lại nhiều dấu ấn trên phương diện quân
sự trong lịch sử Việt Nam.
Sau khi lên ngôi, vua ra sắc chỉ đầu
tiên là chỉnh đốn lại quân đội để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.
Ông thường thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi, trở thành
tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị.
Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông
đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng
kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ, kết hợp
với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến
với nhà Minh.
Đó là cơ sở để vua Lê Thánh Tông giành
những thắng lợi quan trọng trong các hoạt động quân sự của mình. Đó là
công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi Đại Việt bằng cách đánh chiếm kinh đô
của vương quốc Chiêm Thành năm 1471, sáp nhập một phần lãnh thổ Chiêm
Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt; đồng thời
có cuộc hành quân toàn thắng về phía Tây đất nước vào năm 1479.
Năm 1497 vua Lê Thánh Tông băng hà vì lâm bệnh nặng.
Chúa Nguyễn Hoàng
Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) là con trai
thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim, sinh ra ở Thanh Hóa. Ông là vị
chúa đầu tiên trong số 9 chúa Nguyễn trước khi nhà Nguyễn hình thành.
Dưới triều Lê trung hưng, Nguyễn Hoàng
là một tướng tài lập nhiều công lớn. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị
Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông
là Trịnh Kiểm. Sau này, anh ruột của ông là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm
giết.
Do lo sợ bị sát hại, Nguyễn Hoàng xin
vào trấn thủ ở Thuận Hoá (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày
nay). Năm 1558, ông cùng gia quyến và một số người dân Thanh - Nghệ đi
vào Nam. Ông xưng chúa, lập thủ phủ ban đầu là xã Ái Tử, huyện Đăng
Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.
Từ đó cho đến đầu những năm 1600,
Nguyễn Hoàng lo phát triển và củng cố lực lượng, từng bước trở thành một
thế lực độc lập với họ Trịnh.
Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 ông đã
thực hiện cuộc Nam tiến, chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo
Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa đang suy yếu, lập thành phủ
Phú Yên. Trong thời gian Nguyễn Hoàng tiến hành Nam tiến, giang sơn họ
Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) tới núi Đá Bia
(Thạch Bi Sơn), bây giờ là vùng cực Nam Phú Yên.
Các sử gia đời sau coi Nguyễn Hoàng là
người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam, mở
đầu cho việc hùng cứ phương Nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc
thành lập vương triều nhà Nguyễn.
Năm 1613, ông lâm bệnh nặng và qua đời. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.
Hoàng đế Quang Trung
Quang Trung - Nguyễn Huệ (1753 – 1792)
là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn. Ông cùng hai người anh Nguyễn
Nhạc và Nguyễn Lữ là con của Nguyễn Phi Phúc một người chuyên nghề buôn
trầu và làm ăn phát đạt.
Năm 1971, lấy lý do chống lại sự áp
bức của quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương,
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ cất binh khởi nghĩa, xây dựng căn
cứ chống chính quyền chúa Nguyễn tại Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã chứng tỏ
được tài quân sự xuất chúng của mình trong cuộc chiến này, giúp quân Tây
Sơn đánh bại Chúa Nguyễn đầu những năm 1780.
Dưới danh nghĩa “Phù lê diệt Trịnh”,
quân của Nguyễn Huệ cũng tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn họ Trịnh, chấm dứt
cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và
Nguyễn ở phía Nam.
Sau các thất bại lớn, Nguyễn Ánh cầu
cứu quân Xiêm dẫn đến Trận Rạch Gầm - Xoài Mút đầu năm 1785. Đây là một
trận đánh lớn trên sông giữa liên quân Xiêm-Nguyễn và quân Tây Sơn tại
khúc sông Rạch Gầm-Xoài Mút (Tiền Giang) với kết quả toàn thắng thuộc về
quân Tây Sơn.
| Tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ. |
Sau khi đẩy lùi quân xâm lược phương
Bắc, hoàng đế Quang Trung dốc sức cho cuộc chiến cuối cùng với Nguyễn
Ánh để thống nhất đất nước. Kế hoạch này đã không bao giờ được hoàn
thành do ông đột ngột qua đời năm 1792 ở tuổi 40. Sau cái chết của hoàng
đế Quang Trung, nhà Tây Sơn suy yếu và nhanh chóng sụp đổ
Chưa từng biết đến thất bại trên chiến trận, hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi nhận như một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất của lịch sử Việt Nam.
Những vị “hoàng đế con nít” nổi danh trong sử Việt (1)
(Kiến Thức) - Có rất
nhiều vị vua trẻ con của Việt Nam được dựng lên từ những tính toán của
“người lớn” và không bao giờ nắm được quyền lực thật sự. Nhưng có một
số ít đã để lại dấu ấn sâu đậm...
Có rất nhiều vị vua
trẻ con của Việt Nam được dựng lên từ những tính toán của “người lớn” và
không bao giờ nắm được quyền lực thật sự. Không ít trường hợp đã kết
thúc số phận của mình một cách bi thảm. Nhẹ nhàng hơn là chìm vào sự
lãng quên của lịch sử.
Nhưng cũng có một số vị vua lên ngôi từ thuở ấu thơ đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong sử sách.
Kỳ 1: Những “đứa trẻ” trở thành nhà cai trị sáng suốt
Trong lịch sử Việt Nam, có một số trường hợp hiếm hoi những vị vua lên
ngôi từ khi còn là trẻ con đã trưởng thành trên ngai vàng và trở thành
những nhà cai trị sáng suốt, lưu tiếng thơm cho hậu thế.
Lý Nhân Tông
Người đầu tiên có thể kể đến là vua Lý Nhân Tông (1066 – 1127), vị vua thứ tư của triều Lý. Ông có tên thật là Lý Càn Đức, là con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân.
Lý Nhân Tông lên ngôi năm 1072, khi mới 6 tuổi, sau khi vua cha Lê Thánh Tông mất. Khi còn nhỏ, ông nhờ vào Thái phi Ỷ Lan
làm nhiếp chính, lại thêm sự phò tá của Thái sư Lý Đạo Thành và Phụ
quốc thái úy Lý Thường Kiệt, những nhân vật lịch sử lỗi lạc Việt Nam.
Trong thời gian trị vì của mình, Lý Nhân Tông tỏ ra là một vị vua chú
trọng văn hóa, giáo dục, biệt đãi nhân tài, trọng vọng các bậc thiền sư
thạc đức. Dưới triều đại của ông lần đầu tiên nước Việt tổ chức khoa thi
Tam trường và lập Quốc tử giám.
| Ảnh minh họa. |
Vua Lý Nhân Tông làm vua đến năm Đinh Mùi (1127) thì mất, trị vì được 55
năm (1072 – 1127), hưởng thọ 62 tuổi. Với con số này, Lý Nhân Tông là
vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. Trong thời gian ông cầm
quyền, Đại Việt trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực.
Trần Minh Tông
Vua Trần Minh Tông (1300-1357) tên thật là Trần Mạnh, lên ngôi lúc 14 tuổi là vị vua thứ 5 của nhà Trần. Ông là người con thứ tư của vua Trần Anh Tông và Chiêu Hiến hoàng thái hậu Trần thị (con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng).
Trong 15 năm trị vì (1314-1329), Trần Minh Tông được sử sách ghi nhận là
người có tính tình nhân hậu, biết trọng người tài. Nhờ biết tôn trọng
kẻ sĩ nên Minh Tông đã có dưới trướng mình những hiền thần như Đoàn Nhữ
Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An giúp.
Năm 1323, ông đã cho mở khoa thi Thái học sinh chọn người có tài ra giúp
nước.
Tuy nhiên, vua Trần Minh Tông cũng bị chê trách khi tin vào Trần Khắc
Chung và Văn Hiến hầu nên đã giết Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn, một người
có công, là ông chú ruột, đồng thời là quốc trượng (bố vợ) năm 1328.
Cũng bắt đầu từ triều đại của Trần Minh Tông, họ Lê của Lê Quý Ly có cơ
sở để chuyên quyền về sau.
Nhìn chung, triều đại nhà Trần dưới thời Trần Minh Tông tiếp tục duy trì sự thịnh vượng của các đời vua trước đã tạo nên.
Lê Thái Tông
Lê Thái Tông (1423 – 1442), là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Hậu Lê. Ông tên thật là Lê Nguyên Long. Con thứ hai của vua Lê Thái Tổ và bà Cung Từ hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần.
Lê Thái Tông lên ngôi năm 1433, khi mới 11 tuổi. Dù còn ít tuổi và có sự
phụ chính của công thần Lê Sát nhưng ông đã khẳng định được sự thông
minh, quyết đoán, đủ bản lĩnh đối phó với những vấn đề phức tạp của
triều đình.
Không lâu sau khi lên ngôi, năm 1434 vua Lê Thái Tông đã ra chiếu cho bá
quan văn võ chiêu mộ hiền tài. Năm 1438 ông cho mở khoa thi vào Quốc tử
giám và chỉnh đốn việc thi cử các đạo. Năm 1442, ông mở khoa thi Tiến
sĩ, tạo ra tục lệ khắc tên những người thi đỗ vào bia đá ở Văn Miếu.
Ngoài chính sách giáo dục, ông còn đề xuất nhiều biện pháp kinh tế như
quy định lại những cách thức tiêu dùng tiền và lụa vải ở trong nước.
Khi Lê Thái Tông đủ 15 tuổi, lẽ ra Lê Sát phải rút lui nhưng vẫn tham
quyền cố vị, tỏ ra chuyên quyền. Vua bất bình đã bãi chức Lê Sát và Lê
Ngân rồi hạ lệnh giết chết những người này và đích thân chấp chính. Ông
đã trọng dụng các đại thần chính trực như Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt…
Vào thời vua Lê Thái Tông đất nước thịnh vượng, no ấm được ca ngợi và đã
đi vào ca dao của dân tộc. Những nước lân bang, như Xiêm La, Ai Lao và
Chiêm Thành đều có sứ thần đi lại và thường có tiến cống.
Lê Thái Tông mất rất sớm, khi mới 20 tuổi, khi ở Lệ Chi Viên cùng Nguyễn
Thị Lộ. Cái chết của ông là nguyên nhân vụ thảm án Án Lệ Chi Viên nổi
tiếng, khiến Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi bị kết tội giết vua và tru di
tam tộc.
Lê Nhân Tông
Lê Nhân Tông (1441 – 1459), vị vua thứ ba của nhà Lê sơ tên thật là Lê
Bang Cơ. Dù chỉ là con trai thứ ba, nhưng ông được vua cha Thái Tông
phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441, khi mới vài tháng tuổi.
Năm 12 tuổi Lê Nhân Tông đã tự điều
hành triều chính. Dù nhỏ tuổi nhưng ông chứng tỏ mình là vị hoàng đế anh
minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính
cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những
người có công đối với Vương triều.
Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định, bờ cõi được bảo vệ và mở rộng.
Dù sáng suốt và nhân từ, nhưng vua Nhân Tông vẫn bị anh cả là Lê Nghi
Dân oán hận và muốn đoạt ngôi vì ông chỉ là con thứ. Trong khi đó, Nhân
Tông không đề phòng gì vì luôn coi Nghi Dân là anh ruột.
Một đêm cuối năm 1459, Nghi Dân cùng các thủ hạ đã bắc thang vào cung
cấm giết vua Nhân Tông. Khi đó ông mới 18 tuổi. Cái chết của ông khiến
cho quan lại "nuốt hận ngậm đau", và thần dân "như mất cha mất mẹ”.
(Còn nữa...)
(Còn nữa...)
Những vị “hoàng đế con nít” nổi danh trong sử Việt (2)
(Kiến Thức) - Cuộc hôn nhân giữa “nữ hoàng nhi đồng” Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh,
người sau đó thành “hoàng đế trẻ con” là một biến cố hi hữu trong lịch sử
VN.
Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam
Lý Chiêu Hoàng (1218-1278), là con gái
thứ hai của vua Lý Huệ Tông, tên húy là Phật Kim, sau đổi là Thiên
Hinh, tước hiệu là Chiêu Thánh công chúa. Bà sinh ra trong bối cảnh
triều đình nhà Lý đã rệu rã, mọi quyền hành đều rơi vào tay họ Trần mà
đứng đầu là Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, một quyền thần có rất
nhiều thủ đoạn chính trị.
Lý Huệ Tông không có con trai nối
ngôi, lại bị họ Trần chi phối nên bất đắc chí mà chìm ngập trong rượu
chè và sinh bệnh tâm thần. Sử sách ghi, có khi vua tự xưng là Thiên
tướng giáng sinh, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào búi tóc, đùa múa
từ sáng đến chiều không nghỉ
Năm 1224, Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ
Tông đi tu ở chùa Chân Giáo. Do Lý Huệ Tông không có con trai, ông phải
xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm Thái tử, rồi truyền ngôi, đổi
niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo, gọi là Lý Chiêu Hoàng.
Khi mới 6 tuổi, Lý Chiêu Hoàng trở
thành vị vua thứ 9 của nhà Lý, đồng thời là nữ hoàng đầu tiên và duy
nhất trong lịch sử Việt Nam. Đây là trường hợp chưa từng có tiền lệ
trong sử Việt.
Trước đó, do quan niệm “Nữ nhân ngoại
tộc”, trong trường hợp vua không có con rtai thì sẽ nhận con cháu trong
hoàng tộc để truyền ngôi chứ không bao giờ nhận con gái. Điển hình là
trường hợp vua Lý Nhân Tông truyền ngôi cho Lý Thần Tông, vốn là con của
Sùng Hiển Hầu, em ruột của vua.
Ngồi ở ngôi báu khi mới còn quá nhỏ
tuổi, không hề có kinh nghiệm về chính trị, trên thực tế Lý Chiêu Hoàng
trở thành tấm bình phong cho Trần Thủ Độ thao túng triều chính. Mặc dù
trong hoàng tộc nhà Lý thời điểm đó vẫn còn những nhân vật tên tuổi như
Lý Long Tường, Lý Quang Bật… nhưng thế lực của họ không mạnh để đối đầu
với họ Trần.
Việc lên ngôi lạ lùng của Lý Chiêu Hoàng là khởi đầu của một màn kịch hoành tráng và độc nhất vô nhị trong lịch sử Việt Nam.
| Lý Chiêu Hoàng. Ảnh minh họa. |
Trần Cảnh tên thật là Trần Bồ,sinh năm
1218, là con của Trần Thừa (anh họ Trần Thủ Độ). Do dung mạo khôi ngô
tuấn tú và có tư chất thông minh, Trần Cảnh đã “lọt mắt xanh” của Trần
Thủ Độ. Năm 8 tuổi, ông được được đưa vào cung làm Chánh thủ hầu hạ Lý
Chiêu Hoàng để phục vụ âm mưu chính trị của ông chú.
Ngay từ buổi đầu gặp gỡ, Lý Chiêu
Hoàng đã tỏ ra ưa thích Trần Cảnh. Bản thân Trần Cảnh rất biết giữ lễ
vua tôi, hết mực cung kính khi đối đáp và phục vụ nữ hoàng nhỏ tuổi.
Một năm sau khi Lý Chiêu Hoàng ở ngôi,
Trần Thủ Độ nhận thấy thời cơ đã chín muồi. Ông thực hiện một nước cờ
hiểm: thuyết phục Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh. Đến đây, âm mưu đoạt
ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ đã được thực hiện một nửa.
Theo quan niệm truyền thống, phụ nữ đã
lấy chống thì phải phục tùng chống chứ không thể đứng trên chồng. Đó là
cơ sở để vị Thái sư đã ra đòn quyết định: ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi
cho Trần Cảnh. Vào đầu năm 1225, Lý Chiêu Hoàng viết chiếu nhường ngôi
cho chồng. Trần Cảnh chính thức lên ngôi vua, lấy miếu hiệu là Trần Thái
Tông. Trần Thủ Độ sau đó được phong làm Thái sư - chức quan cao nhất
trong triều đình phong kiến Việt Nam.
Đến đây, màn kịch chính trị mà Trần
Thủ Độ làm đạo diễn, Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng là hai diễn viên chính
đã diễn ra một cách hoàn hảo. Bằng mưu lược của mình, ông đã biến việc
đại sự quốc gia như nhường ngôi thành chuyện vợ chồng trong nội bộ gia
đình và đoạt ngôi nhà Lý một cách nhẹ nhàng.
Với sự giúp sức của Trần Thủ Độ, trong
thời gian Trần Thái Tông ở ngôi, đất nước Đại Việt ngày càng trở nên
hùng mạnh và thịnh vượng. Ông ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 - 1258) và làm
Thái thượng hoàng cho đến khi mất (1277).
Đoạn kết cuộc tình “nữ hoàng nhi đồng” - “hoàng đế trẻ con”
Dù đến với nhau như những quân cờ dưới
bàn tay của Trần Thủ Độ, nhưng giữa cựu nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng và vua
trẻ tuôi Trần Thái Tông đã nảy sinh tình cảm thực sự.
Sau khi nhường ngôi cho chồng, Lý
Chiêu Hoàng đã được lập làm Hoàng hậu Chiêu Thánh. Bà chung sống với
Trần Thái Tông hơn 10 năm, tình cảm khá mặn nồng, được Trần Cảnh vua yêu
thương hết mực.
Nhưng một lần nữa Trần Thủ Độ lại can thiệp thô bạo và làm cuộc sống của bà bị đảo lộn.
Vì lấy nhau 12 năm nhưng Hoàng hậu
Chiêu Thánh không có con, Thái sư Trần Thủ Độ đã ép Trần Cảnh phải bỏ
Chiêu Thánh để lấy chị dâu (vợ Trần Liễu, chị ruột Chiêu Thánh) là công
chúa Thuận Thiên đương có mang 3 tháng. Chiêu Thánh bị phế bỏ ngôi vị
hoàng hậu, lui về ẩn mình trong cung cấm, toan dứt nợ trần tục.
Cuộc đời chỉ tươi sáng hơn khi 20 năm
sau, khi đã ở độ tuổi 40, Chiêu Thánh được vua Trần Thái Tông đem gả cho
Lê Phụ Trần, một đại tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống
quân Mông Cổ.
Mặc dù việc làm của nhà vua bị người
đời chê trách, nhưng bản thân cựu vương Lý Chiêu Hoàng đã tìm được một
niềm hạnh phúc mới. Bà và Lê Phụ Trần đã có một cuộc sống yên ấm và đầy
tình yêu thương. Họ đã có với nhau hai đứa con, sau này đều trở thành
những người thành công trong sự nghiệp.
Lý Chiêu Hoàng mất năm 1278, khi 61
tuổi. Tương truyền ở tuổi lục tuần bà vẫn giữ được những nét xuân sắc
hiếm có từ thời thiếu nữ…
Những vị “hoàng đế con nít” nổi danh trong sử Việt (3)
(Kiến Thức) “Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động”.
Trong giai đoạn Việt
Nam bị thực dân Pháp đô hộ, nhà Nguyễn đã có 3 vị vua yêu nước được lịch
sử tôn vinh. Có một điều trùng hợp là cả ba vị vua này đều lên ngôi từ
khi còn là trẻ con. Sự nghiệp yêu nước của cả ba đếu đứt gánh giữa đường
và chịu cảnh đi đày nơi xa xứ…
Hàm Nghi - ông vua nhỏ tuổi hiệu triệu cả đất nước
Vua Hàm Nghi (1871 – 1943) là vị Hoàng
đế thứ 8 của nhà Nguyễn. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, còn có
tên là Nguyễn Phúc Minh. Ông là con thứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn
Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn và là em ruột của Ưng Đăng (vua Kiến
Phúc) và Chánh Mông - vua Đồng Khánh sau này.
Sau khi vua Tự Đức qua đời trong tình
cảnh không có người nói dõi vào tháng 7/1883, các vị quan chủ chiến
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định đưa Nguyễn Phúc Ưng Lịch,
khi đó mới 13 tuổi lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Hàm Nghi.
Ưng Lịch được chọn vì là một người có
đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành
làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc do từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn,
dân dã với mẹ. Và quan trọng hơn cả, do vua còn trẻ nên hai vị quan cấp
tiến có thể định hướng theo đường lối kháng chiến một cách dễ dàng.
Việc vua Hàm Nghi lên ngôi khiến chính quyền bảo hộ Pháp tức giận, nhưng phải ngậm bồ hòn làm ngọt vì sự đã rồi.
Những tháng sau đó, mối quan hệ giữa
triều đình Huế và thực dân Pháp ngày càng trở nên căng thắng. Tôn Thất
Thuyết quyết đinh ra tay trước để làm chủ tình hình. Đầu tháng 7/1885,
ông đem quân đánh trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Quân Pháp nhanh chóng
phản công, đánh bại quân triều đình. Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm
Nghi rút chạy về thành Tân Sở (Quảng Trị).
| Vua Hàm Nghi. |
Trải qua các biến cố lớn, vua Hàm Nghi
dần dần nhận thức được vai trò chính trị của bản thân, không còn cảm
thấy bị cưỡng ép như trước. Ông đã khẳng khái từ chối lời chiêu dụ của
vua anh Đồng Khánh cũng như Paul Bert - Toàn quyền Pháp ở Đông Dương.
Do sự phản bội của của Nguyễn Đình
Tình và Trương Quang Ngọc, hai thành viên của đội quân kháng chiến, vua
Hàm Nghi bị bắt vào đêm 26/9/1888, Nhà vua đã chỉ thẳng vào mặt Trương
Quang Ngọc mà nói: "Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây".
Khi đó, ông mới 17 tuổi.
Triều đình muốn đưa Hàm Nghi về Huế,
nhưng người Pháp lo sợ ảnh hưởng của ông nên đã Hàm Nghi cần phải được
đưa đi tĩnh dưỡng để đày ông sang xứ Algeria ở Bắc Phi.
Cựu hoàng Hàm Nghi sống tại Algeria
đến cuối đời. Ông mất ngày 4/1/1943 vì ung thư dạ dày tại biệt thự Gia
Long, thủ đô Alger và được chôn cất ở Sarlat, vùng Aquitaine, nước Pháp.
“Cậu bé ngỗ nghịch” Thành Thái
Vua Thành Thái (1879 – 1954) là vị
Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân,
còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà
Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu).
Ngày 28/1/1889, vua Đồng Khánh lâm
bệnh qua đời, con ông mới 3 tuổi nên không nối ngôi được. Nguyễn Phúc
Bửu Lân trở thành người kế vị, lấy niên hiệu là Thành Thái. Khi đó ông
mới 10 tuổi.
Khi mới lên ngôi, Thành Thái tỏ ra là
một ông vua… ngỗ nghịch, thích chơi bời, quậy phá hơn là tham gia triều
chính. Ông đã bị bắt ra quản thúc ở đảo Bồng Dinh trên hồ Tịnh Tâm một
thời gian để đưa vào khuôn phép.
| Vua Thành Thái. |
Điều này đã dẫn vua Thành Thái đến các
mối liên hệ với những người yêu nước. Có tài liệu nói ông đã toan bí
mật sang Trung Quốc hoạt động, nhưng mới đi đến Thanh Hóa đã bị người
Pháp ngǎn chặn. Nguồn tin khác cho rằng ông đã tạo điều kiện cho nhà
cách mạng – hoàng thân Cường Để xuất dương theo Phan Bội Châu sang Nhật.
Ông để còn cho cho họa sĩ Lê Vǎn Miến, người tốt nghiệp Trường Mỹ thuật
Paris vẽ lại các mẫu súng hiện đại của Pháp.
Đặc biệt, vua Thành Thái còn bí mật
lập các đội nữ binh để che mắt Pháp. Theo một số tài liệu, ông đã chiêu
nạp được 4 đội, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong thì trở về
gia đình và nạp đội mới, khi có thời cơ sẽ cùng nổi dậy chống Pháp.
Nhưng sự việc cuối cùng bị lộ khi các quan trong triều báo cho người
Pháp.
Người Pháp rất lo ngại tư tưởng cấp
tiến của vua Thành Thái, tìm cách ngăn trở trở ông. Vào một lần nọ,
Thành Thái đã giả hành động như một người mất trí để che mắt Pháp. Chính
quyền thực dân lợi dụng cơ hội này vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị,
nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe.
Ngày 12/9/1907, ít ngày sau khi thoái
vị, vua Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Vũng Tàu ngày nay. Đến nǎm 1916
ông bị đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.
Đầu tháng 5/1945, cựu hoàng Thành Thái
được cho về Việt Nam. Ông cùng gia đình sống ở Vũng Tàu và mất ngày
24/3/1954, thọ 75 tuổi, an táng tại khuôn viên lăng Dục Đức ở Huế.
Duy Tân – từ đứa trẻ “nhút nhát, đần độn” thành ông vua can trường
Vua Duy Tân (1900 – 1945) có tên húy
là Nguyễn Phúc Vĩnh San, còn có tên khác là Nguyễn Phúc Hoảng, là vị vua
thứ 11 của nhà Nguyễn. Ông là con thứ 8 của vua Thành Thái và bà hoàng
phi Nguyễn Thị Định.
Ông lên ngôi vào ngày 5/9/1907, lúc 7
tuổi, sau khi vua cha Thành Thái bị đưa đi quản thúc. Vua Thành Thái có
nhiều con trai, nhưng người Pháp đã chọn Vĩnh San làm người kế vị vì ông
nhỏ tuổi và trông có vẻ “nhút nhát, đần độn”.
Nhưng Duy Tân đã thay đổi hoàn toàn kể từ khi lên ngôi vua và khiến thực dân Pháp phải hối hận vì đã chọn ông.
| Vua Duy Tân. |
Vào năm 1912, ông đã ra lệnh đóng cửa
Hoàng thành Huế để phản đối chiến dịch vơ vét vàng của Khâm sứ Georges
Marie Joseph Mahé. Toàn quyền Albert Pierre Sarraut đã phải vào Huế để
giải quyết vụ việc.
Năm 1913, khi 13 tuổi, vua Duy Tân cho
rằng việc thi hành hiệp ước 1884 của hai nước Việt - Pháp đã không được
tuân thú và yêu cầu người sang Pháp để duyệt lại hiệp ước này. Nhưng cả
triều đình không ai dám nhận chuyến đi.
Năm 15 tuổi, vua Duy Tân triệu tập cả
sáu đại thần trong Phụ chính, bắt buộc họ phải ký vào biên bản để đích
thân vua sẽ cầm qua trình với toà Khâm Sứ nhưng các đại thần sợ người
Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký.
Thái độ chống Pháp của ông lên đến cao
điểm vào năm 1916, khi ở châu Âu đang xảy ra cuộc Đại chiến. Ông bí mật
liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần
Cao Vân và dự định khởi nghĩa.
Theo kế hoạch, khởi nghĩa sẽ nổ ra vào
1 giờ sáng ngày 3/5. Nhưng cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam
Quang Phục Hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Cuộc khởi nghĩa
không thể nổ ra như dự kiến. Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua tới
vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhưng sáng ngày 6/5/1916 thì cả nhóm bị
bắt.
Khâm sứ tại Huế và Toàn quyền Pháp
thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý. Ông đã
tuyên bố: “Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy
coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động,
nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp”.
Cuối cùng, vua Duy Tân bị đày đi đảo
La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916. Tại
đây, do mâu thuẫn về tính cách với cha nên ông cắt đứt liên lạc với gia
đình và sinh sống như một thường dân.
Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần
thứ hai (1939 - 1945) vua Duy Tân gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít
Đức và được nhà lãnh đạo Charles de Gaulle của Pháp chú ý. Sau cuộc
chiến, de Gaulle muốn đưa Duy Tân trở lại Đông Dương như một lá bài
trong kế hoạch tái chiếm Đông Dương, trong khi ông cũng muốn lợi dụng de
Gaulle để trở lại ngai vàng và từng bước củng cố độc lập dân tộc.
Nhưng kế hoạch chưa được thực hiện thì
vào ngày 26/12/1945, ông tử nạn trong một vụ tai nạn máy bay ở Cộng hoà
Trung Phi. Có giả thuyết cho rằng đây là âm mưu ám sát của người Anh,
vì việc vua Duy Tân trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc
trao trả các thuộc địa.
Ngày 24/4/1987, thi hài cựu hoàng Duy
Tân được đưa từ đảo Réunion về Việt Nam, rồi đưa về an táng tại Lăng Dục
Đức, cạnh lăng mộ vua cha Thành Thái ở Huế.
Nhận xét
Đăng nhận xét