AN CHI GIẢI ĐÁP 28
(ĐC sưu tầm trên NET)
Bạn đọc: Tôi
đã nghe lỏm ông An Chi có nói rằng thanh phù của các chữ Hán thuộc loại
hình thanh rất có ích cho việc truy tầm từ nguyên của nhiều từ Việt gốc
Hán. Xin ông cho một vài thí dụ. Cảm ơn ông.
Bạn đọc:
“Súng ống, đạn dược”: Tại sao “ống” lại đi với “súng”, rồi “dược” lại đi
với “đạn”? Xin ông giải thích giúp và xin cảm ơn ông. Nguyễn Hữu Bài
(Hà Nội)
Tác dụng của thanh phù
Bạn đọc: Tôi
đã nghe lỏm ông An Chi có nói rằng thanh phù của các chữ Hán thuộc loại
hình thanh rất có ích cho việc truy tầm từ nguyên của nhiều từ Việt gốc
Hán. Xin ông cho một vài thí dụ. Cảm ơn ông.
Trần Bá Đào (Yên Phụ, Hà Nội)
Học giả An Chi:
"Thanh phù" là một khái niệm liên quan đến một khái niệm khác là "hình
thanh tự", tức chữ hình thanh. Hình thanh là một trong sáu phép đặt chữ
của Tàu, cùng với 5 phép khác là: tượng hình, chỉ sự, hội ý, chuyển chú
và giả tá.
Chữ hình thanh gồm hai thành phần là
nghĩa phù và thanh phù. Nghĩa phù, cũng gọi hình phù [形符], là yếu tố chỉ
phạm trù ngữ nghĩa của chữ, nằm trong 214 bộ quen thuộc thường thấy
trong nhiều quyển từ điển. Còn thanh phù là yếu tố dùng để chỉ âm (cách
đọc) của nó, có khi là chữ đồng âm tuyệt đối, có khi chỉ là chữ cận âm
mà thôi. Chữ "trượng"
[杖], chẳng hạn, là một chữ hình thanh mà
nghĩa phù là "mộc" [木] ( = cây) còn thanh phù là "trượng" [丈] (= đơn vị
đo lường bằng 10 thước). Nhưng trên đây chỉ là nói về nguyên tắc và
điểm xuất phát chứ do quá trình biến chuyển theo thời gian thì hiện nay
âm của thanh phù và âm của chữ mà nó hài thanh có khi khác nhau rất xa,
thí dụ như "địa" [地] (= đất) là một chữ hình thanh mà thanh phù lại là
"dã" [也] (= cũng). Khác nhau rất xa! Rồi chữ "dã" [也] này lại hài thanh
cho chữ "trì" [池] là ao, cũng khác nhau rất xa. Nhưng với tư cách là
thanh phù của cả "địa" [地] lẫn "trì" [池], chính chữ "dã" lại là một chỗ
dựa chắc chắn để ta kết luận rằng "đìa" là điệp thức của "trì". Dưới
đây, xin giới thiệu về một thanh phù đặc biệt là chữ "quê" [圭], thường
đọc là "khuê" (trong "sao Khuê").
1.- Nó là thanh phù trong chữ "quái" [卦]
mà nghĩa phù (bộ thủ) là "bốc" [卜], có nghĩa là "quẻ" (trong "quẻ
bói"). Về mối quan hệ AI ↔ UE/OE, ta còn có: – "quái" [獪] (= gian trá) ↔
"qué" trong "mách qué"; ↔ "khoái" [快] (= mau lẹ, nhanh chóng; thích
chí; nhọn sắc, sắc sảo; v.v...] ↔ "khỏe" trong "khỏe khoắn"; chữ "hòe"
trong "hoa hòe hoa sói" theo đúng phiên thiết phải đọc là "hoài" [槐].
2.- Nó là thanh phù trong chữ "oa" [蛙]
(= chẫu chuộc) mà "nhái" (trong "ếch nhái") là một điệp thức, tuy rất xa
về ngữ âm nhưng lại rất thuyết phục vì một lý do rất đơn giản và hiển
nhiên là chử "oa" [蛙] hài thanh bằng chữ "quê" [圭] mà chữ "quê" [圭] cũng
hài thanh cho chữ "nhai" [街] (= đường đi). "Nhái" (thanh điệu 5) chỉ
khác "nhai" (thanh điệu 1) có một cái dấu "sắc" (').
3.- Nó là thanh phù trong chữ "giai" [佳]
(= tốt, đẹp) mà "hay" là một điệp thức không thể phủ nhận được vì hai
lý do. Một là về mối quan hệ AI ↔ AY, ta còn có: "bài" [排] (= sắp xếp) ↔
"bày" trong "phô bày"; "khái" [愾] (= giận, ghét) ↔ "kháy" trong "nói
kháy"; "đại" [袋] (= túi, tay nải) ↔ "đãy" (= túi to); v,v... Còn về mối
quan hệ GI ↔ H thì chính chữ "giai" [佳] hài thanh bằng chữ "quê" [圭] mà
chữ "quê" [圭] còn hài thanh cho chữ "hài" [鞋] là "giày".
4.- Nó là thanh phù trong chữ "hài" [鞋]
là "giày" mà chính "giày" là một điệp thức của nó, như đã có thể thấy
tại mục 3 trên đây.
5.- Chữ "nhai1" [厓] và chữ "nhai2" [睚]
là hai đồng nguyên tự (chữ cùng gốc), vì cả hai đều cùng một nghĩa gốc
là "bên, cạnh": "nhai1" [厓] là "bờ nước" còn "nhai2" [睚] thuộc bộ "mục"
[目] (= mắt) là "bờ mắt", như Lưu Quân Kiệt [劉鈞杰] đã chứng minh trong
Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, tr.10).
"Nhai2" [睚] hài thanh bằng "nhai1" [厓] còn "nhai1" [厓] thì lại hài
thanh bằng "quê" [圭], thường đọc thành "khuê". Đây chính là căn cứ đầy
đủ sức thuyết phục cho phép kết luận rằng "khóe" trong "khóe mắt" chính
là điệp thức của "nhai2" [睚].
Tóm lại, với 5 trường hợp trên đây liên
quan đến thanh phù "quê/khuê" [圭], chúng tôi đã chỉ ra được từ nguyên
của 5 từ "quẻ", "nhái", "hay", "giày" và "khóe" mà chắc chắn có nhiều
người, kể cả nhiều nhà, sẽ cho là những từ "thuần Việt". Cả 5 từ này đều
là những từ Việt gốc Hán.
Súng ống - Đạn dược
Bạn đọc:
“Súng ống, đạn dược”: Tại sao “ống” lại đi với “súng”, rồi “dược” lại đi
với “đạn”? Xin ông giải thích giúp và xin cảm ơn ông. Nguyễn Hữu Bài
(Hà Nội)
Học giả An Chi:
Trước nhất, xin nói rằng "súng ống" là một danh ngữ được tạo ra trong
nội bộ của tiếng Việt còn "đạn dược" lại là một danh ngữ mượn "nguyên
xi" từ tiếng Hán (dĩ nhiên là đọc theo âm Hán Việt).
Trong tiếng Việt hiện đai thì "đạn dược"
là một danh ngữ được quan niệm là dùng để chỉ tất cả các loại đạn, lựu
đạn, bom, mìn, tên lửa, nói chung là các vật nổ gây sát thương, tiêu
diệt hay phá hoại. Đây là một danh ngữ mượn thẳng từ tiếng Hán và trong
tiếng Hán thì nó là một danh ngữ đẳng lập gồm có "đạn" và "dược". Trong
tiếng Hán thì "đạn" [彈] gồm có phi đạn, pháo đạn, lựu đạn, tạc đạn,
v.v...; còn "dược" là "trá dược" [炸藥] (thuốc nổ), "hỏa dược" [火藥] (thuốc
súng). Chính là với cái nghĩa này mà "dược" mới được ghép vào "đạn"
thành danh ngữ đẳng lập "đạn dược", dùng để chỉ khái niệm tổng hợp mà
tiếng Anh gọi là "ammunition", thường gọi tắt là "ammo", tức là dùng để
chỉ đạn, lựu đạn, bom, mìn, tên lửa, v.v... Danh từ chỉ thuốc nhồi bên
trong đạn ("dược") mà đi chung với danh từ chỉ "đạn" thì âu cũng là
chuyện bình thường và càng là chuyện thú vị nếu ta biết thêm rằng
"thuốc" và "dược" lại là hai từ cùng gốc, như chúng tôi đã từng chứng
minh. Nhưng đối với nhiều người Việt thì "dược" thường được biết đến
nhiều hơn thông qua các danh ngữ như: dược khoa, dược liệu, được phẩm,
dược sĩ, dược thảo, y dược, nghĩa là biết đến với nghĩa gốc là "thuốc để
trị bệnh". Có lẽ vì thế nên mới sinh ra điều thắc mắc mà bạn đã nêu
chăng?
Còn "ống" mà đi chung với "súng" thì
cũng là chuyện bình thường vì đây là hai khái niệm gắn bó với nhau như
môi với răng. Chẳng thế mà "súng" đã được giảng là "vũ khí gồm chủ yếu
một ống kim loại (thường bằng thép) gọi là nòng súng, dùng để phóng một
viên đạn do sức đẩy của một liều thuốc cháy ở đằng sau tống mạnh ra",
như có thể thấy trong Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên. Còn quyển
từ điển cùng tên của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ
biên thì giảng ngắn gọn là "tên gọi chung các loại vũ khí có nòng hình
ống". Cứ theo hai lời giảng trên đây thì hiển nhiên là hai khái niệm
"súng" và "ống" gắn bó với nhau như hình với bóng. Vậy chẳng có gì lạ
nếu hai thứ này "cặp kè" với nhau để tạo thành danh ngữ đẳng lập "súng
ống". Nhưng những lời giảng trên đây xuất phát từ thực tế của thời hiện
đại, khi mà giới quân sự đã có nhiều loại súng tối tân khác nhau chứ,
theo chúng tôi, thì danh ngữ "súng ống" lại có tuổi "xưa" hơn nhiều. Tuy
vốn là chuyện xảy ra ở bên Tàu trước nhưng vì là "đồng văn" nên thường
cũng được bên ta biết đến. Mục "Thuốc nổ" thuộc Chương 9 (do Kim Thu
Bằng viết), Phần bốn của quyển "Lịch sử văn hóa Trung Quốc" do Đàm Gia
Kiện chủ biên (nhóm Trương Chính dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,
1993) có đoạn:
"Hỏa khí hình ống thì Trần Quy đời Tống
phát minh năm 1132, lấy tên là "hỏa thương". Hỏa thương làm bằng ống tre
to hai người vác, lúc dùng, nạp hỏa dược vào, lâm chiến thì đốt ngòi,
ngọn lửa phun ra thiêu cháy địch. Thứ hỏa khí ấy, mặc dù còn giản lậu,
nhưng nó mở đường cho loại hỏa khí hình ống. Đến giữa thế kỷ XII, lại có
người phát minh "đột hỏa thương", làm bằng "ống tre to, trong nạp những
ổ lửa nhỏ", châm ngòi thì ổ lửa bắn ra. Đó là hỏa khí hình ống bắn đạn
xưa nhất.
Hỏa khí hình ống bằng kim loại xuất hiện
vào thời gian nào, còn chưa xác định được. Nhưng chậm nhất cũng vào đầu
thế kỷ XIV, đời Nguyên, đã có "đồng hỏa súng" (súng bằng đồng). Súng
này bắn đạn đá, nạp hỏa dược vào thân súng, cuối súng có ngòi, châm ngòi
thì bắn đạn đá ra". (Sđd, tr.793). Sang đời Minh, súng hình ống họng to
dần dần được gọi là "pháo" [砲,礮] còn loại có nòng nhỏ thì gọi là "súng"
[銃]. Chữ [礮] chính âm là "pháo" nhưng bị đọc sai thành "bác" (do suy
luận theo chữ "bác" [駮] bên phải?) nên tiếng Việt hiện đại mới có danh
ngữ "đại bác" chứ ngày xưa thì ta gọi pháo là "súng thần công". Súng
thần công của ta, cũng như của Tàu, đều là súng có thân hình ống, mà Tàu
gọi là "quản hình" [管型]. Cứ như trên thì, một lần nữa, "ống" mà cặp kè
với "súng" chỉ là chuyện bình thường mà thôi, nếu không nói là tất yếu.
Dậy non là gì?
Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của hai tiếng “dậy non” trong câu “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Xin cảm ơn ông. Trần Quang Long (TP Vũng Tàu)
Học
giả An Chi: "Dậy" là một vị từ động (thường gọi là động từ) mà Từ điển
tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học do Hoàng Phê chủ biên giảng là:
1.- chuyển từ trạng thái ngủ sang trạng thái thức […].
2.- chuyển từ tư thế nằm sang tư thế ngồi, hay từ tư thế nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng.
3.- chuyển từ trạng thái không có những
biểu hiện rõ rệt của sự tồn tại sang trạng thái có những biểu hiện rõ
rệt [nói về cái gì nổi lên, rực lên, bốc lên, v.v…].
Còn quyển từ điển cùng tên do Văn Tân chủ biên thì giảng là:
1.- cất mình lên.
2.- thức, không ngủ nữa.
3.- nở ra.
4.- nổi lên.
Với những nghĩa đã cho trên đây, ta có thể thấy rằng "dậy" là một điệp thức của "dấy", mà từ điển Hoàng Phê giảng là:
1.- nổi dậy hoặc làm cho nổi dậy.
2.- [trạng thái, cảm xúc] nổi lên và biểu hiện mạnh mẽ."
Còn từ điển Văn Tân thì giảng "dấy" là
"nổi lên, vùng lên", với một số mục liên quan: "dấy binh", "dấy loạn",
"dấy nghĩa", "dấy nghiệp", "dấy quân".
Cứ như trên, ta có thể kết luận rằng
"dấy" và "dậy" đều vốn có một nghĩa chung là "gây ra", "tạo nên", v.v…,
đặc biệt là với hai ngữ vị từ "dấy giặc" và "dậy giặc" mà Huình-Tịnh
Paulus Của đã ghi nhận trong Đại Nam quấc âm tự vị:
"Dậy giặc: Nổi giặc, làm giặc".
"Dấy giặc: Làm cho sinh giặc, gây cho có giặc, nổi giặc".
Với hai ngữ vị từ này thì "dấy" và "dậy"
hiển nhiên là hai từ đồng nghĩa với nhau và đều cùng diễn đạt cái hành
động gây ra, tạo ra một vật hoặc một hiện tượng nào đó do danh từ đi
liền sau nó thể hiện. Chẳng qua là, với "dậy" thì đây là một nghĩa cổ
nên, nói chung, nó không còn được biết đến nữa. Và với cái nghĩa cổ này
thì "dậy non" chẳng qua là một ngữ vị từ cổ xưa, có nghĩa là "dựng núi",
"tạo ra núi". Ngày nay, danh từ "non" (= núi) hầu như không còn được
dùng độc lập nhưng xưa kia thì nó thông dụng hơn nhiều, như vẫn còn có
thể thấy trong "đầu non gốc núi", "hòn non bộ", "lên non", "một cây làm
chẳng nên non", "non xanh nước biếc", v.v… Với phép thần thông được
truyền tụng của hắn ta thì "Cao Biền dậy non" có nghĩa là "Cao Biền tạo
núi" chứ không có nghĩa gì khác. Tại mục "Thực hư về mả Cao Biền", một
thành viên trên Diễn đàn của http://thegioivohinh.com đã viết: "Ở Phú
Yên, hiện nay vẫn có người kể chuyện Cao Biền gánh núi, Cao Biền đào
sông […]. Trong dân chúng đã có hiện tượng lẫn lộn, đồng nhất nhân vật
truyền thuyết Cao Biền với những vị thần núi, thần rừng, thần sông, thần
biển... mà chính mình đã tạo ra trên mảnh đất này". Chính là với tinh
thần đó mà câu "Cao Biền dậy non" đã ra đời. Chẳng qua vì không còn hiểu
được nghĩa gốc của ngữ vị từ đang xét nên người ta mới tạo ra cách hiểu
theo từ nguyên dân gian mà "giảng" rằng "dậy non" là "nổi lên trong
điều kiện chửa chín muồi", như có thể thấy trong từ điển Văn Tân. Rồi từ
đó người ta mới bịa ra câu chuyện phi lý về việc Cao Biền luyện âm
binh.
Chuyện kể rằng Cao Biền có phép thần
thông "tản đậu thành binh". Mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, hắn
chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt
đậu sẽ hóa thành một tên lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu
nên khi mở ra thì tuy hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ
sức, đứng lên không vững. Đó là trạng thái mà dân gian, và cả nhà nghiên
cứu, đều cho là "Cao Biền dậy non". Thay vào những hạt đậu, có dị bản
kể rằng hắn ta luyện những âm binh bằng giấy.
Lại có dị bản kể rằng khi sang nước Nam
Cao Biền đã yểm bùa nhằm triệt hạ long mạch của ta. Hắn nuôi 100 âm binh
để phục vụ cho việc này. Cao Biền nhờ một bà lão hàng nước thắp mỗi
ngày một nén hương để gọi dậy một âm binh. Khi thắp đủ 100 nén hương thì
sẽ gọi dậy được đủ 100 tên. Nhưng bà lão nước Nam đã phá âm mưu của Cao
Biền bằng cách thắp cả 100 nén hương trong vòng 1 ngày. Kết quả là âm
binh của Cao Biền đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, nghĩa là vì
"dậy non" nên lính tráng của Cao Biền đã không làm được gì nên hồn. Phi
lý! Cao tay ấn và đầy mưu mẹo như Cao Biền mà lại phó mặc cho một bà lão
hàng nước "trông coi" âm binh của mình. Chi tiết quá ngây ngô. Đã thế
nhưng đại đa số tác giả còn đi xa hơn mà nói rằng mỗi khi thấy người nào
sức yếu, tay chân cử động run rẩy, người ta hay so sánh bằng câu thành
ngữ: "Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non". Tác giả trên Diễn đàn của
http://thegioivohinh.com còn dẫn cả ca dao: Con nhạn chắp cánh bay
chuyền
Chồng em lẩy bẩy như Cao Biền dậy non.
Thực ra, "lẩy bẩy" ở đây đâu có chỉ sự
lập cập của người ốm yếu mà chỉ cái trạng thái bề ngoài lơ mơ, bất định,
đầu thì lắc lư, toàn thân run rẩy, thuộc phần "diễn xuất" mở đầu của
các pháp sư để tạo cho "hiện trường" thêm vẻ linh thiêng. Tiếc rằng
người đời lại không đặt hai tiếng "lẩy bẩy" vào cái không khí "hành
nghề" đó mà lại gắn nó vào đầu, mình và tứ chi của người ốm yếu nên hành
động "tạo sơn" đã bị biến thành hiện tượng "nổi lên trong điều kiện
chửa chín muồi", như đã giảng trong từ điển do Văn Tân chủ biên. Chị vợ
đã than phiền chông mình "lẩy bẩy như Cao Biền dậy non" chỉ nên dùng hai
tiếng "lẩy bẩy" mà bỏ cái vế so sánh "như Cao Biền dậy non" đi chứ nếu
quả đúng anh ta thực sự "lẩy bẩy như Cao Biền" thì cái nội lực "dậy non"
của đức lang quân sẽ đưa chị ta lên chín tầng mây (nên chẳng có gì phải
than phiền).
A.C
Nhận xét
Đăng nhận xét