AN CHI GIẢI ĐÁP 27

 (ĐC sưu tầm trên NET)

Điệp thức của chữ GIÁC [角]

Bạn đọc: Xin ông cho biết xuất xứ của từ “giác” trong “ống giác”, “giác hơi”. Nó có liên quan gì đến chữ “giác” trong “tê giác” mà ông đã có lần nói đến? Xin cám ơn ông! Trương Thế Mỹ (TP Vũng Tàu)
 

Học giả An Chi: Liên quan đến ý bạn hỏi, Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng: "giác" là một động từ có nghĩa là "làm cho máu tụ lại một chỗ cho đỡ đau, bằng cách úp sát vào đó một dụng cụ hình chén thắt miệng [bầu giác] hoặc hình ống [ống giác] đã được đốt lửa hoặc nén hơi bên trong [một phương pháp chữa bệnh dân gian]". Cái mà từ điển Vietlex gọi là "phương pháp chữa bệnh dân gian" này, tiếng Anh gọi là "cupping therapy" (hoặc "cupping glass treatment"), tiếng Pháp là "traitement par ventouses", còn tiếng Tàu hiện đại là "[bạt] hỏa quán liệu pháp" [(拔)火罐療法].
Trong tiếng Việt, từ, ngữ của phương pháp chữa bệnh dân gian nói trên đã là cơ sở cho việc tạo ra thuật ngữ thực vật học "giác mút", dùng để chỉ dạng rễ của cây ký sinh đâm sâu vào cây chủ để hút chất dinh dưỡng từ cây này. Giác mút, tiếng Anh và tiếng Pháp là "haustorium" (tiếng Pháp cũng dùng "haustorie"), còn Tàu thì gọi là "hấp khí" [吸器]. Danh ngữ "giác mút" đã được dùng để đối dịch "haustorium/haustorie" trong Từ điển thực vật học Pháp Việt do Lê Khả Kế chủ biên (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1978) hoặc Dictionnaire français-vietnamien, cũng do Lê Khả Kế chủ biên (Agence de Coopération Culturelle et Technique, 1981).
Nếu chỉ bằng vào những cứ liệu trên đây thì ta sẽ không thấy "giác" trong "ống giác", "giác hơi" có liên quan gì đến chữ "giác", có nghĩa là sừng, trong "tê giác" cả. Nhưng nếu tìm cho kỹ thì ta sẽ thấy là có đấy. Trong báo cáo khoa học "De l'utilisation des ventouses [Về việc sử dụng ống giác]" (Formation TUINA EMTC-2006-2008, déposé le 30-05-08), Dominique Schueller cho biết:
"Ống giác đã được dùng từ thời xa xăm, hầu như khắp nơi trên thế giới. Những chiếc (ống giác) đầu tiên có vẻ như đã được chế tác từ sừng của thú vật được khoét rỗng, bên trong người ta đốt lửa để có thể tạo ra chân không và từ đó gây ra một sức hút". (tr.7).
Bà cho biết phương pháp trị liệu đó không những đã được thực hiện ở những nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Hy Lạp, Tàu, Ấn Độ, mà còn tại nhiều nơi khác ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ Latinh từ thời xa xưa. Cá nhân chúng tôi đã từng thấy người Trại, tức người Sán Dìu, ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), dùng sừng trâu, nói cho thật chính xác là dùng cái chót sừng, khoét rỗng để làm ống giác. Tới đây thì ta đã thấy sự có mặt của cái vật gọi là sừng trong thao tác "giác". Sừng, tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) là "giác", mà mặt chữ là [角]. "Bắt rễ" từ đây, ta sẽ gặp danh ngữ "hấp giác" [吸角], có nghĩa là "ống giác", là một lối nói trong y học cổ truyền của Tàu như đã được khẳng định tại http://bulo.hujiang.com/question/380483/: "Trung y lý đích bạt hỏa quán" [中医里的拔火罐], nghĩa là "ống giác trong [lối nói của] Trung y".
Ngày nay, Tàu chỉ chơi lối nói mô-đẹc (nói trên) nên đã xếp xó hai chữ/tiếng "hấp giác" [吸角], chứ Nhật thì vẫn còn giữ và đọc theo Kan-on là "kyukaku", mà chỉ cần gõ vào thanh tìm kiếm trên mạng thì ta đã có thể thấy ngay ở trang http://www.shutterstock.com/s/kyukaku/search.html hơn 50 bức ảnh về thao tác giác hơi. Thế là Tàu thì đã xếp xó cái chữ [角] mà âm Bắc Kinh là "jiǎo" (theo pinyin) với cái nghĩa là một thứ y cụ chứ ta và Nhật thì vẫn còn xài: Nhật với âm "kaku" (trong "kyukaku") còn ta thì với âm "giác". Có điều là ta đã chuyển từ loại của "giác" từ danh từ thành động từ (như từ điển Vietlex đã giảng), rồi lại dùng động từ này làm định ngữ hạn định cho "bầu" và "ống" trong hai danh ngữ "bầu giác" và "ống giác". Nhưng dù có chuyển từ loại hay không thì "giác" trong "ống giác", "giác hơi" cũng cứ là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành chính là … "giác" trong "hấp giác" [吸角].
Thế là cái sừng, nói cho chính xác là cái chót sừng, của một số loài động vật, đã từng được dùng làm ống giác. Nhưng nó còn có một công dụng thú vị khác nữa là làm vật đựng thức uống, dĩ nhiên là cũng từ thời xa xưa. Chẳng thế mà tiếng Việt lai có từ "cốc", được từ điển Vietlex giảng là "đồ dùng để uống nước, uống rượu, v.v... thường làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, có thành cao, lòng sâu và không có quai". "Cốc" là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành là "giác". Với âm Bắc Kinh "jué" (theo pinyin), nghĩa thứ 7 của chữ "giác" [角] trong Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) là "cổ đại tửu khí […]", tức "đồ đựng rượu thời xưa […]". Tại nghĩa này, quyển từ điển đã dẫn "Bộ [角]" trong Thuyết văn thông huấn định thanh của Chu Tuấn Thanh đời Thanh như sau: "Nghi cổ tửu khí chi thủy, dĩ giác vi chi, cố [觚], [觶], [觴], [觥], đẳng tự đa tùng [角]", nghĩa là "ngờ [rằng] đồ đựng rượu sơ khai thời xưa làm bằng sừng, do đó [mà] các chữ "cô", "chi", "thương", "quanh", v.v., thường thuộc bộ "giác" [角]". Chí lý! Ở đây cần phải nói rõ rằng với nghĩa đang bàn thì âm Bắc Kinh của chữ [角] là "jué" còn với nghĩa "sừng" thì âm Bắc Kinh của nó lại là "jiǎo" nhưng âm Hán Việt của nó thì lại không phân hóa thành hai. Đó vẫn chỉ là "cổ nhạc thiết" [古岳切], tức là "các" (rồi về sau mới bị đọc thành "giác"). Vậy "các" thì liên quan gì về ngữ âm với "cốc" trong '"cốc nước", "cốc bia", v.v...? Xin thưa là có vì hai vận AC và ÔC có một mối quan hệ lịch sử lâu đời: các chữ "ác"
[握], [渥], chẳng hạn, cũng có âm "ốc" và hài thanh bằng chữ "ốc" [屋]; đặc biệt, chữ "giốc" trong danh ngữ "thế ỷ giốc" chính là chữ "giác" [角] mà ta đang nói đến. Vậy thì chẳng có gì lạ nếu việc dùng sừng (giác < các) làm đồ đựng thức uống đã gián tiếp sản sinh ra từ "cốc" trong tiếng Việt.
Rồi việc trâu, bò dùng sừng để húc đã đem đến cho chữ "giác" [角] cái nghĩa "húc", rồi nghĩa rộng là đánh nhau, tranh nhau. Nghĩa này đã đưa đến cho tiếng Việt động từ "cốc" mà từ điển Vietlex giảng là "gõ vào đầu bằng một đầu ngón tay gập lại".
Cái nghĩa "sừng" của chữ 'giác"
[角] còn đem đến cho tiếng Việt một danh từ là "gạc" mà từ điển của Vietlex giảng là "sừng già phân nhánh của hươu, nai". Mối quan hệ ngữ âm "GI ↔ G[H]" giữa "giác" và "gạc" thì không còn là chuyện lạ trong lĩnh vực từ nguyên học về các từ Việt gốc Hán: - "giá" [嫁] là gả chồng ↔ "gả" trong "cưới gả";
- cũng chữ"giá" [嫁] này nhưng với nghĩa "trút, trao cho người khác" ↔ "gá" trong "gá nợ", "gá nghĩa";
- "giải" [蟹] là cua ↔ "ghẹ" là một giống cua;
- "giam" [監] là nhốt kẻ có tội ↔ "găm" là "giữ lại không chịu đưa ra vì một mục đích nhất định (như trong "găm giữ");
- "giám" [監] là trông coi, xem xét ↔ "gắm" trong "gửi gắm", mà về từ nguyên, cũng là điệp thức của "ký giám" [寄監], có nghĩa gốc là "
[bắt rồi] giao cho nhà ngục tạm giam";
- "giáp" [夾] là kép, trái với "đơn" ↔ "ghép" trong "gán ghép";
- "giới" [疥] là ghẻ ↔ "ghẻ" trong "ghẻ chốc"; v.v...
Còn với nghĩa hình học của nó trong "đa giác", "tam giác", "tứ giác", v.v... thì "giác" [角] có một điệp thức là "góc" trong "góc cạnh". Rồi với cái nghĩa là một phần mười của một đồng, tức một hào, thì chữ "giác" còn đem đến cho tiếng Việt danh từ "cắc", một thời rất thông dụng trong Nam. "Nam cắc, Bắc hào". Biết rằng "giác" vốn là "các", ta sẽ dễ dàng thấy rằng từ "các" đến "cắc", chỉ có một bước nhỏ từ "a dài" sang "a ngắn" mà thôi.
Nguồn:

Nói rõ thêm về NƯỚC

Bạn đọc: Trong bài “Lạ nước lạ cái” (Năng lượng Mới số 486), ông An Chi đã giải thích rằng, “nước” là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ [略] mà âm Hán Việt là “lược”. Ông còn nói thêm “lược” có 1 nghĩa là: cõi, vùng. Đây là một cách giải thích nghe rất hợp lý. 

Nhưng tôi có một cách giải thích khác cho từ này: “nước” là một từ thuần Việt chứ không phải gốc Hán. Chữ ghi âm “nước” thường gặp trong văn bản Hán Nôm là chữ Nôm [洛], theo ý tôi người ta mượn chữ Hán [洛] có âm Hán Việt đọc là “lạc” để ghi một điệp thức cổ của từ “nước” là “nác”. Điệp thức này vẫn tồn tại trong tiếng Mường và phương ngữ Thanh Nghệ, ví dụ sử thi của người Mường là “Đẻ đất đẻ nác”. Ngoài ra còn thấy trong từ điển chữ Nôm từ “nước” được ghi bằng [渃], một chữ Hán có âm đọc Hán Việt là “nhược”. Xin ông cho thêm ý kiến.
Học giả An Chi: Chúng tôi rất hoan nghênh bạn đã đặt lại vấn đề để cùng góp phần làm cho mọi việc thêm sáng tỏ và xin trả lời bạn như sau.
Từ "nước" mà chúng tôi nói đến trong bài "Lạ nước lạ cái" (Năng lượng Mới số 486) dùng để chỉ một khái niệm địa lý mà chính chúng tôi đã nói rõ:
" […] "nước" (trở xuống sẽ ghi là "nước1") là một từ chỉ một vùng đất nhất định. Đây là nghĩa gốc xa xưa còn nghĩa của nó trong tiếng Việt hiện đại thì được từ điển Vietlex giảng là "vùng đất trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị - xã hội và cùng thuộc về một nhà nước nhất định". Chúng tôi bàn về từ "nước" này còn "nước" trong sử thi Đẻ đất đẻ nước (trở xuống sẽ ghi là "nước2") của người Mường thì lại là chất lỏng không màu, không mùi mà công thức hoá học là H2O. Để chứng minh, chúng tôi xin dẫn phần "Đẻ nước" (của Đẻ đất đẻ nước) trong "Sưu tập ca dao tục ngữ - Văn hóa Việt" của mạng e-cadao.com để bạn tham khảo:
"1. Xuất xứ.
"Đoạn thơ này trích gần trọn chương "Đẻ nước" trong sử thi Đẻ đất đẻ nước; từ câu 268-334 theo sưu tầm của Hoàng Anh Nhân (Thanh Hóa).
"2. Ý chủ đạo.
"Đoạn thơ nói về trận đại hồng thủy thời tiền sử - buổi đầu khai thiên lập địa theo cách cảm nhận riêng của người Mường xa xưa.
"3. Ông Pồng Pêu.
"Là Thần Mưa theo cách gọi của ngưòi Mường.
"Thiên tai kéo dài "Hạn chín tháng biền biệt - nắng mười hai năm xác đất" làm cho muôn loài đau khổ: "cây cau úa cả tàu - rừng vàu không mọc măng", làm cho "chó mực, chó ngao lè lưỡi, rái cá phải chạy lên đồi"...
"Ông Pồng Pêu lúc đó đang ngồi đan chài và đan lưới trong nhà, bình dị như con người lao động. Ông ngước nhìn khắp trời đất, rồi gọi gió, gọi "mưa cho mát lòng các loài thú hiền thú dữ, cây lau cây bái". Tức thì trời mưa to. Pồng Pêu là biểu tượng cho ý nguyện của muôn loài muôn vật và con người vì sự sống bất diệt trên trái đất.
"4. Cảnh trời mưa.
"Mưa miêu tả dữ dội chẳng khác nào trận đại hồng thuỷ trong Kinh thánh nói đến. Mây vàng mây đen đùn lên che kín cả bầu trời, gió ùn ùn thổi điên cuồng. Cun Sấm nàng Sét cùng ra oai:
Lanh lảnh cun sấm xuống thét
Lăm lăm nàng sét xuống đánh.
"Mưa kéo dài "mưa 9 đêm, mưa liền 9 ngày". Hạt mưa "to bằng hột cà" về sau "to bằng quả bưởi". Nước ngập mênh mông. Mưa để "rước nàng ngâu về trời" để "đưa chàng ngâu qua sông Ngân". Mưa "ngập cây", "ngập bụi", mãi "bốn tháng nước rút - bảy tháng nước xuôi". Mưa đem đến sự sống cho đàn cua đá, đàn cá, đàn ba ba, đàn cá chuối, đàn nòng nọc, đàn cá cơm. Sau khi "đẻ nước", trời "đẻ đất".
Có đất, đất đang xơ xác,
Có nước, nước ùn đục ngầu
Đó vẫn là cảnh thiên địa sơ khai.
"Biện pháp lặp và liệt kê được nhà thơ dân gian xưa của tộc Mường, vận dụng tạo nên ấn tượng "đẻ nước". Thần mưa, thần sấm, thần sét, Chức nữ, Ngưu lang... được nói đến hồn nhiên, đầy ý vị. Đoạn sử thi đã giải thích hiện tượng mưa gió, lũ lụt qua cảm quan nghệ thuật "vạn vật hữu linh" của người Mường thời viễn cổ". "Nước" trong Đẻ đất đẻ nước là như thế, tức là "nước2". Tuy có nhiều dị bản nhưng "đẻ nước" trong thiên sử thi này thì luôn luôn là tạo ra "nước2", tức H2O. Người Mường không có từ dùng để chỉ khái niệm "nước1", tức khái niệm "quốc gia". Họ chỉ có từ "mường", dùng để chỉ một phạm vi đất đai nhất định. Đây là một từ Mường gốc Thái, có nhiều phần chắc chắn là Thái Tây Bắc Việt Nam. Nhưng ngoài cái nghĩa thông thường này (như trong Mường La, Mường Lự, Mường Thanh, Mường Tè, v.v...), người Thái Tây Bắc Việt Nam (do ảnh hưởng từ tiếng Lào) còn dùng từ "mường" (họ đọc thành mưỡng) để chỉ khái niệm "quốc gia", "tổ quốc".
"Nước Việt Nam" trong ngôn ngữ của họ là "Mưỡng Việt Nạ", như đã ghi nhận trong Từ điển Thái - Việt do Hoàng Trần Nghịch - Tòng Kim Ân biên soạn (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990). Cái nghĩa này là hệ quả của sự tiến hóa lịch sử - xã hội mà người Thái Lan và người Lào đã trải qua, rồi về sau đã nhập vào tiếng Thái Tây Bắc Việt Nam. Nhưng trong tiếng Mường thì không; trong thứ tiếng này thì "mường" lại chỉ một khái niệm hẹp hơn, thấp hơn. Đó chỉ là một phạm vi đất đai tương đương với làng, xã hay huyện, xưa thuộc quyền cai quản của một chúa đất.
Tuy Từ điển Mường - Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nguyễn Văn Khang chủ biên (NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002) có ghi nhận danh ngữ đẳng lập tất đác và đối dịch là "đất nước" nhưng đây chẳng qua là một lối nói tân tạo (neologism) trong tiếng Mường, do ảnh hưởng của tiếng Kinh (Việt) mà ra. Mà sự tân tạo này cũng không thích đáng vì nước trong "đất nước" của tiếng Kinh là "nước1" chứ không phải "nước2" nên cũng không thể dịch thành "đác" (là chất lỏng, là H2O). Sở dĩ người ta phải sản sinh ra cái danh ngữ kỳ dị này thì chỉ đơn giản là vì tiếng Mường không có từ dùng để chỉ khái niệm "quốc gia", tức "nước1", như đã nói. "Nước" trong "đất nước" cũng chính là "nước" trong "nước nhà", "nhà nước" và chỉ là một từ đồng âm với "nước" trong "sông nước", "nước non", "non nước". Đây là một hiện tượng rất tế nhị nên dễ làm cho người ta nhầm lẫn nhưng người làm từ nguyên thì không thể nhầm lẫn. Quyển từ điển trên đây cũng có ghi nhận những mục từ như "nước nước, đất nước, tổ quốc" và "nước nhà nước nhà, quốc gia" nhưng đây hiển nhiên là những từ, ngữ mà tiếng Mường đã mượn thẳng của tiếng Việt ngay ở thời hiện đại.
Còn "nác" của phương ngữ Bắc Trung Bộ mà bạn đã nêu thì chỉ là một từ tương ứng với "nước2", chỉ chất lỏng. Bắc Trung Bộ không hề có "nác" mà lại tương ứng với "nước 1". Từ điển tiếng địa phương Nghệ-Tĩnh do Nguyễn Nhã Bản chủ biên (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999) có đến 26 mục liên quan đến từ "nác" (như: nác bạc, nác cắn, nác chát, nác chảy lộ trụng, nác cốt, v.v...) nhưng đây chỉ là điệp thức mang tính địa phương của "nước2". Người miền Bắc Trung Bộ không nói *nác Mỹ, *nác Nga, *nác Tàu, v.v... để chỉ nước Mỹ, nước Nga, nước Tàu, v.v...
Chữ "nác" mà bạn nói là Nôm ghi bằng chữ "lạc" [洛] thì cũng chỉ là "nước2", tức chất lỏng. Chỉ có chữ [渃] mới được dùng để ghi cả "nước1" lẫn "nước2" mà thôi. Nhưng xét theo việc tạo tự, đây không phải là chữ Hán (như bạn nói), mà là một chữ Nôm thuộc loại hình thanh, nên đã được xếp vào loại F2 trong Tự điển chữ Nôm dẫn giải của Nguyễn Quang Hồng (Tập 1, NXB KHXH - Hội Bảo tồn DSCN, 2014).
Cuối cùng, bạn khẳng định rằng "nước" (ở đây là "nước1") là một từ thuần Việt chứ không phải gốc Hán. Đây là một điều mà khẳng định thì dễ nhưng chứng minh lại rất khó vì, như chúng tôi từng nói, từ thuần Việt chỉ là từ mà ta không biết được nguồn gốc. Bạn căn cứ vào ngữ liệu cụ thể nào để khẳng định rằng nó là "thuần Việt"? Không có.
Nguồn:

'Lạ nước lạ cái'

Bạn đọc: Xin ông cho biết, “lạ nước lạ cái” có nghĩa là gì và đâu là từ nguyên của “nước” và “cái” trong câu này? Có người đã gắn nó với thức ăn; lại có người gắn nó vào cuộc đỏ đen nên tôi phân vân? Xin cảm ơn ông. Nguyễn Hồng Phúc (TP Vũng Tàu)
 

Học giả An Chi: Có ý kiến cho rằng, "lạ nước lạ cái" là một thành ngữ dùng để chỉ phản ứng của cá nhân trước một món ăn lạ mắt, lạ miệng. "Nước" thì đương nhiên là phần chất lỏng của canh còn "cái" là phần nguyên liệu dùng để nấu canh mà tinh chất đã được "chiết xuất" khi đun nấu, nên thường được quan niệm là không còn nguyên chất bổ, chất béo vì những chất này đã được hòa tan vào nước canh. Vì thế mà có câu thành ngữ dùng để nói đùa là "Khôn ăn cái, dại ăn nước". Nhưng câu tục ngữ "ngược" này thì nói về chuyện ăn uống chứ câu "lạ nước lạ cái" lại không nói về chuyện ăn uống.
Cách hiểu thứ hai có thể có thì lại gắn câu "lạ nước lạ cái" vào trò đỏ đen. "Nước" là cách đoán bài, đi bài, nói tóm lại là cách chơi nơi đổ trường còn "cái" là "sếp sòng" dĩ nhiên là sòng bài, mà dân gian thường gọi là "nhà cái". Vậy theo cách hiểu thứ hai thì câu thành ngữ đang xét dùng để nói lên sự dè dặt, sự thận trọng của con bạc mới, và vì "chưa quen với môi trường" nên chưa tính được đường đi, nước bước ra sao. Thì cũng chỉ là suy luận cho có vẻ cầu kỳ chứ theo cách hiểu quen thuộc - mà hoàn toàn chính xác - thì "lạ nước lạ cái" chẳng qua là "lạ nơi, lạ chốn". Hầu như tất cả các quyển từ điển quen thuộc đều giảng như thế. Xin dẫn một đại diện đáng tin cậy là Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên: "Bỡ ngỡ, chưa quen trước cảnh lạ, người lạ, vì vừa mới đến".
Cứ như trên thì "nước" là một từ chỉ một vùng đất nhất định. Đây là nghĩa gốc xa xưa còn nghĩa của nó trong tiếng Việt hiện đại thì được từ điển Vietlex giảng là "vùng đất trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị - xã hội và cùng thuộc về một nhà nước nhất định". Dĩ nhiên là ở đây, ta không thể câu nệ được. Chữ "bang" [邦], chẳng hạn, thường được dịch là "nước"; nhưng "nước" Mỹ có đến 50 bang thì sao? Đây là nói về nghĩa. Còn về từ nguyên thì "nước" là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ [略] mà âm Hán Việt hiện hành là "lược".
Về mối quan hệ "L ↔ N" giữa "lược" và "nước" thì ta còn có thể dẫn chứng bằng nhiều trường hợp tương tự:
- "lãm" [攬] là nắm ↔ "nắm" trong "nắm bắt";
- "loại" [類] là giống, loài ↔ "nòi" trong "nòi giống";
- "loan" [巒] là núi nhỏ mà nhọn ↔ "non" trong "núi non";
- "lôi < lồi" [畾] là vùng đất ruộng ↔ "nội" trong "đồng nội";
- "lỗn" ("noãn" [卵] trên, "tâm" [心] dưới) là mập, bự ↔ "nộn" trong "phì nộn";
- "long" (trái "hoả" [火], phải "long" [龍]) là đốt ↔ "nung" trong "nung nấu";
"lũng" [壟] là gò đất cao ↔ "nỗng" trong "gò nỗng"; v.v.. Trở lên là nói về mặt ngữ âm. Về nghĩa thì chữ "lược" [略] có một cái nghĩa quan trọng mà Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) đã cho súc tích như sau: "cương giới" [彊界], nghĩa là bờ cõi đất đai. Còn Hán Việt tự điển của Thiều Chửu thì đối dịch chỉ bằng một chữ là "cõi". Xét về từ nguyên thì cái nghĩa này hoàn toàn ăn khớp với nghĩa xa xưa của từ "nước" mà chúng tôi đã nêu ở trên. Nhân tiện cũng xin nói thêm rằng chữ "nước" của giới đỏ đen cũng do chữ "lược" [略] này mà ra. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là "Mưu kế. Trí". Việt Hán thông thoại tự vị của Đỗ Văn Đáp giảng là "Mẹo". Còn Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng thì giảng là "sự tính toán sắp đặt". Với những cái nghĩa trên đây thì, về mặt từ nguyên, ta thật khó lòng phủ nhận sự liên quan ngữ nghĩa giữa "lược" và "nước" trong "nước bài", "nước cờ", v.v… Thế là ta có hai đẳng thức:
- "lược" [= cõi, bờ cõi đất đai] ↔ "nước" [= một vùng đất nhất định] (1);
- "lược" [= mưu kế; mẹo; sự tính toán sắp đặt] ↔ "nước" [trong "nước bài", "nước cờ", v.v…] (2).
Hai đẳng thức này là hai trường hợp đồng dạng từ nguyên học (khác nghĩa nhưng tương quan ngữ âm như nhau) - mà thỉnh thoảng chúng tôi có nói đến - và với hai trường hợp đồng dạng như thế này thì mối liên quan từ nguyên giữa hai vế trong mỗi đẳng thức là điều chắc chắn.
Tóm lại, trong "lạ nước lạ cái" thì "nước" không phải là H2O, mà cũng chẳng phải là sự lựa chọn cách đi cờ, đánh bài, v.v... trong trò đỏ đen. Ở đây, nước là "một vùng đất nhất định. Nhưng còn "cái" thì sao?
Xin thưa rằng "cái" là một từ cổ và là âm xưa của chữ [界] mà âm Hán Việt hiện hành là "giới". Thiết âm của nó trong Quảng vận (đầu thế kỷ XI) là "cổ bái thiết" [古拜切]; vậy lẽ ra nó phải được đọc là "C[ổ] + [b]ÁI" = CÁI. Ta còn có những chữ "cái" khác - những trường hợp đồng dạng từ nguyên học - cũng trải qua một sự chuyển biến ngữ âm tương tự":
- "giới1" [介] là một đơn vị từ, đồng nguyên với "cá"
[个], có nghĩa là "cái", vốn đọc là (vđl) CÁI. Trong Kinh nghĩa thuật văn [經義述闻], Vương Dẫn Chi đã chỉ ra rằng cả hai chữ vốn chỉ là một nhưng về sau người ta dành âm CÁ cho chữ [个] và âm CÁI > GIỚI cho chữ [介] (Theo Vương Lực, Đồng nguyên tự điển, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1997, tr. 431). Với nghĩa này thì, khi vào đến tiếng Việt, "cái" là một danh từ đơn vị (trước đây bị gọi là "loại từ"), như trong "cái bàn", cái ghế", cái mâm", v.v…
- "giới 2" [介] là to lớn, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), mà "cái" thì hiện nay lại vinh dự được nhiều người xem là "thuần Việt",như có thể thấy trong (ncttt) "cột cái", "đường cái", "sông cái [sông con]", v.v...
- "giới 3" [戒] là phòng ngừa, thận trọng, giữ gìn, chay tịnh, v.v..., vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), nay chuyển sang thanh điệu 1 thành "cai" ncttt "cai nghiện", "cai sữa", v.v…
"giới 4" [芥] là [rau] cải, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), nay đã chuyển sang thanh điệu 4 thành CẢI, ncttt "cải bẹ xanh", "củ cải", "cải xà-lách", v.v...
"giới 5" [疥] là ghẻ, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), ncttt "cái ghẻ" ( = động vật chân đốt rất nhỏ, sống kí sinh ở da, gây ra bệnh ghẻ [Từ điển Vietlex]). Cuối cùng, ta có:
- "giới 6" [界], vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), có nghĩa là cái ranh giữa hai vùng đất, rồi vùng đất hạn chế trong những lằn ranh, rồi vùng đất, và xa hơn nữa là bờ cõi.
Với âm và nghĩa của "giới 6" [界], như đã thấy trên đây, ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng CÁI là âm xưa của "giới6" [界], đồng thời là một từ cổ, có nghĩa là một vùng đất nhất định. Đây chính là nghĩa của "cái" trong thành ngữ "lạ nước lạ cái".
Nguồn:

Nhận xét