AN CHI GIẢI ĐÁP 29
(ĐC sưu tầm trên NET)
Bạn đọc: Xin
ông cho biết, “cầu thủ ra ràng” là cầu thủ như thế nào? Gần đây, đã có
một số nhà báo dùng từ như thế. Xin cảm ơn ông. Khoái Bóng Đá (Thị Nghè,
TP HCM)
Cầu thủ ra ràng là cầu thủ mới mọc… lông tơ
Bạn đọc: Xin
ông cho biết, “cầu thủ ra ràng” là cầu thủ như thế nào? Gần đây, đã có
một số nhà báo dùng từ như thế. Xin cảm ơn ông. Khoái Bóng Đá (Thị Nghè,
TP HCM)
Học giả An Chi:
"Cầu thủ ra ràng" là cầu thủ mới mọc lông tơ. Nhưng muốn biết thực ra
các tác giả đó muốn nói gì thì có lẽ ta cũng nên dẫn những câu cụ thể
của họ để suy luận.
- "Hiện tại, lứa cầu thủ đầu tiên của
PVF đã 18 tuổi và sắp "ra ràng", nhưng PVF đã có sự chuẩn bị nào để tung
ra sản phẩm đầu tiên do họ đào tạo?" (Đỗ Tuấn, "PVF - thế lực mới của
bóng đá trẻ", Bóngđá+, 23-3-2015).
- "Lứa U17 của PVF nay chỉ còn 1 năm nữa
là "ra ràng" []" (Nhật Thành, "Tiêu cực ảnh hưởng tới bóng đá trẻ: Nỗi
lo "đầu ra" của các trung tâm đào tạo", laodong.com.vn, 29-7-2014).
- "Lò PVF cho "ra ràng" lứa cầu thủ đầu tiên" (tuoitreonline, 11-9-2015).
- "Và ngày lứa cầu thủ đầu tiên của học
viện này ra ràng, ai cũng phấn khởi […..]" (Nhất Huy, "Xem Hoàng Anh Gia
Lai, nhớ Cảng Sài Gòn", Công an TP HCM, ngày 23-11-2015).
V.v… và v.v…
Với bốn câu trích dẫn trên đây thì hiển
nhiên là các tác giả của nó chỉ đơn giản muốn nói rằng các cầu thủ kia
sắp "rời khỏi trung tâm đào tạo", nhưng vì khoái "sáng tạo" nên mới dùng
hai chữ chuyên chỉ một đặc điểm của chim. "Ra ràng" là một ngữ đoạn vị
từ thường đi chung với hai tiếng "bồ câu" thành "bồ câu ra ràng", mà ta
có thể đọc thấy trên mạng một cách dễ dàng. Nhưng hiểu nó cho đúng thì
hãy còn là một vấn đề mà chúng tôi muốn đặt lại, thay vì cứ để cho nó
trôi qua một cách tự nhiên nhi nhiên. Ta hiện đang có ba cách hiểu.
1. Thô thiển nhất là ý kiến mặc nhiên
cho rằng, "ràng" là "chuồng [bồ câu]", như có thể thấy trong hai dẫn
chứng hoàn toàn trùng hợp về ngôn từ sau đây:
1a. "Bồ câu ra ràng là chỉ chim bồ câu
đã được 10-15 ngày tuổi, thường vươn cổ thập thò ở tổ và ra ràng để đón
ăn mồi (Lai Minh, "Bồ câu ra ràng", Tổ quốc, 22-1-2013).
1b. "Bồ câu ra ràng là chỉ chim bồ câu
đã được 10-15 ngày tuổi, thường vươn cổ thập thò ở tổ và ra ràng để đón
ăn mồi" (Chim bồ câu gốc quê đại bổ dưỡng cho sức khỏe,
nongsanyenthe.com).
2. Cũng có cách hiểu mơ hồ, thiên về thời gian sinh trưởng như:
2a. "Trong thuật ngữ ẩm thực, chim ra
ràng là thịt bồ câu khoảng một tháng tuổi; nó đã đạt tới kích cỡ gần
trưởng thành nhưng chưa đầy đặn" ("Tình hình sử dụng thịt chim bồ câu",
naihuou.com, 25-1-2014).
2b. "Chim bồ câu ra ràng là loại chim
vừa mới sinh sản khoảng 15 ngày tuổi" ("Bồ câu ra ràng là gì", Trang
trại chim bồ câu Pháp Quảng Ngãi).
2c. "Bồ câu ra ràng là loại chim vừa mới
nở khoảng 10 ngày tuổi, thuộc món đại bổ chính hiệu..." ("Hấp dẫn bồ
câu ra ràng", SAIGONamthuc.vn, 7-10-2013).
2d. "Chim non... sau khi nở được 3 tuần
tuổi là ra ràng và chim mẹ lại chuẩn bị đẻ lứa tiếp theo, như vậy một
cặp bồ câu cứ sau 40-45 ngày là cho ra một thế hệ mới" (hieumap, "Bồ câu
đẻ?", Diễn đàn sinh vật cảnh Việt Nam).
3. Gần với sự thật nhất, nhưng lại không hoàn toàn hiển ngôn, là những ý kiến sau đây:
3a. "Chim ra ràng là chim mà lông dưới
cổ và cánh rất ngắn và thưa, chúng chưa bay được" ("Bồ câu ra ràng ngon,
bổ , rẻ - giao tận nơi", Vatgia.com).
3b. "[…] chim bồ câu dùng để hầm phải là
chim mới ra ràng, chưa đủ lông […]" (DS Mỹ Nữ, "Bồ câu ra ràng hấp hạt
sen", Đà Nẵng điện tử, 5-4-2010).
3c. "Chúng to chừng nắm tay và mọc lông
măng thưa thớt, chỉ có phần cánh và phần lưng là mọc dày hơn chút đỉnh"
(Chim bồ câu gốc quê đại bổ dưỡng cho sức khỏe, nongsanyenthe.com).
3d. "Bồ câu phải là bồ câu "mới ra
ràng", vừa mới mọc đầy đủ lông con chứ bồ câu già quá thì
không còn ngọt, thịt bị dai" ("Thưởng thức món bồ cầu tiềm thuốc
bắc ở Quy Nhơn", KinhteSaigonOnline, 19-4-2012).
3e. "Bồ câu ra ràng (mới bắt đầu đủ
lông) là béo và mềm ngọt nhất" (Cách nấu cháo chim bồ câu bổ dưỡng cho
bà bầu và trẻ em, vaobepnauan.com).
Cách hiểu thứ 3 là cách hiểu xác đáng
hơn vì rất gần với nội dung ngữ nghĩa của hai tiếng "ra ràng" mà Từ điển
tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967)
giảng là "nói chim con, thường là chim bồ câu, mọc đủ lông" còn từ điển
cùng tên của Vietlex do Hoàng Phê chủ biên thì giảng là "[chim non] mới
mọc đủ lông, đủ cánh, bắt đầu có thể bay ra khỏi tổ". Thực ra thì lời
giảng của cả hai quyển từ điển trên đây đều cần được chỉnh lý. Từ điển
Văn tân đã đưa vào lời giảng nét nghĩa "mọc đủ lông" thì không chính xác
còn từ điển Hoàng Phê lại chế tạo thêm cái nét nghĩa "bắt đầu có thể
bay ra khỏi tổ" thì càng bay xa sự thật. "Ràng" là lông tơ của loài chim
cho nên "ra ràng" có nghĩa là "đang mọc lông tơ" và ngữ đoạn này cùng
nằm trên một trục đối vị (paradigmatic axis) với "ra hoa", "ra lá", "ra
nhánh", "ra nụ", "ra rễ", v.v... Vậy "bồ câu ra ràng" là "bồ câu con
đang mọc lông tơ" (Xin xem ảnh) nên chẳng làm sao "có thể bắt đầu bay ra
khỏi tổ". Hai quyển từ điển mang đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ là Đại
Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của và Việt Nam tự điển của Lê
Văn Đức đều nhầm lẫn vì đã đánh đồng hai chữ đồng âm (theo ngữ âm Nam
Bộ) khác nghĩa là "ràn" và "ràng". "Ràn" là "chuồng gia súc, gia cầm"
còn "ràng" là "lông tơ của loài chim". Đại Nam quấc âm tự vị không có
"ràng" mà chỉ có "ràn" nhưng lại ghi nhận hai mục: - "Ra ràn. Chim con
mới nở, mới ra khỏi ổ, mới biết chuyền".
- "Cu con ra ràn. Chim cu mới nở, hiểu là một vật ăn rất ngon".
Giảng như vậy thì mâu thuẫn vì mới nở
thì không thể ra khỏi ổ (tổ) và càng không thể biết chuyền. Và cu con
mới nở thì cũng chẳng ai ăn vì chỉ có "cu con ra ràng" (chứ không phải
"ràn") mới được "hiểu là một vật ăn rất ngon" mà thôi. Việt Nam tự điển
cũng không có "ràng" còn mục "ra ràn" thì được giảng là "tơ, nói về loài
chim vừa mọc lông, to con, thịt mềm, chưa rỏ ( = chưa săn chắc - AC). Ở
đây, lời giảng thì có thể xem là đúng nhưng chính tả thì sai vì chữ
"ràng" lại bị ghi thành "ràn". Phải là "ràng" thì mới vần một cách ngon
lành với "nàng" trong câu "Nhất chim ra ràng, nhì nàng bỏ guốc" hoặc với
"tang" trong câu "Cau phơi tái, gái mãn tang, bồ câu ra ràng, gà mái
ghẹ".
Tóm lại, "ra ràng" là "mọc lông tơ"; bởi
vậy ta không nên vì sính chữ mà biến cầu thủ mới "rời khỏi trung tâm
đào tạo" thành "cầu thủ mới… mọc lông tơ".
Từ MỰC đến MỨC
Trên Năng lượng Mới số 474 (13-11) & 475 (17-11-2015), chúng tôi chưa nói hết ý kiến về bài "Tản mạn về nghĩa của 'mực tàu' 墨艚 qua từ điển Việt Bồ La (phần 1)" của Phan Anh Dũng - Nguyễn Cung Thông (PAD-NCT) (www.khoahocnet.com, 29-10-2015).
Học giả An Chi: Lần này, xin nói thêm về hai ý.
I. Từ "mực viết" đến "chuẩn mực"
Tại mục 3.2 trong bài của mình, PAD-NCT viết:
"Ta có thể tìm thấy cách dùng chữ 墨 mực
(viết) thông với dây đo mực 墨 (mực viết) hay mực/mức 纆 (dây đo) đã dùng
tương đương trong thư tịch Hán cổ […….]". Với cái câu trên đây của
PAD-NCT, dù có rành tiếng Việt đến đâu, người ta cũng phải đặt câu hỏi:
"Dây đo mực là dây gì?" và "Thế nào là dây đo mực 墨 (mực viết) hay
mực/mức 纆 (dây đo)?".
Bàn luận về ngôn ngữ mà hành văn như thế
này thì… Thực ra, "mặc" [墨], kể cả "mặc" [纆] bộ "mịch" [糸], chỉ có
nghĩa là dây nói chung, tức "sách dã" [索也], chứ không phải là dây đo. Mà
nói chung thì cái công dụng chính của dây là để cột, để buộc, để trói.
Với công dụng này, ta có danh ngữ "huy mặc" [徽纆], có nghĩa là thừng dùng
để trói tù nhân. PAD-NCT diễn nghĩa "mặc" [墨] là "dây đo" là vì hai tác
giả này đã bị chữ "độ" [度] trong Khang Hy tự điển ám ảnh như chúng tôi
đã nói trong bài trước. Huống chi, người ta chỉ đo vải, đo ruộng, v.v...
chứ có ai đo mực (mực viết) bao giờ. Còn trong cái đấu mực, tức "mặc
đẩu", mà PAD-NCT đã gọi theo cú pháp Tàu là cái "mực tàu" (như cũng đã
nói trong bài trước) thì dây lại có một công dụng đặc biệt khác hẳn. Nó
được thấm mực và dùng để nảy/nẻ đường thẳng trên gỗ. Động tác nảy/nẻ này
sẽ làm hằn lên trên mặt gỗ một lằn mực thẳng để thợ mộc theo đó mà cưa,
xẻ cho khỏi xiên lệch. Nói một cách khác, thợ mộc sẽ lấy cái lằn mực đó
làm chuẩn mà… kéo cưa lừa xẻ. Thế là ta có cái đẳng thức ngữ nghĩa "lằn
mực = chuẩn [để cưa, xẻ]" và theo thời gian, chữ "lằn" cũng bị "tinh
giản" để chỉ còn lại có "mực" mà thôi. Rồi khi cái nghĩa "chuẩn" đã được
gắn chặt vào "mực" thì, theo quy tắc cấu tạo danh ngữ đẳng lập, "mực"
cũng đã "cặp đôi" với "chuẩn" thành "chuẩn mực". Vậy "chuẩn" là một cái
nghĩa phái sinh của "mực" trong nội bộ tiếng Việt, không liên quan gì
với tiếng Tàu ở đây cả. Và "mực" cũng không hề có nghĩa là "dây đo" như
PAD-NCT đã khéo gán ghép.
Thế còn "mực tàu" trong câu "Mực tàu có
hiệu đốc thằng thẳng ngay" của Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa thì sao? Thì
chúng tôi vẫn giữ ý kiến cho rằng, "mực tàu" có nghĩa là "mực Trung
Hoa". Có thể là ban đầu người ta dùng mực thường cho cái đấu mực nhưng
vì thứ mực thường này hay làm cho cái đường thẳng nảy/nẻ trên gỗ không
sắc nét vì nhòe, lem. Để cải tiến, người ta đã dùng mực tàu là một thứ
mực đậm đặc hơn và cái lằn mực thường đã trở thành "lằn mực tàu" rồi từ
"lằn" cũng bị tinh giản để chỉ còn có hai tiếng "mực tàu" mà thôi. Đến
đây thì "mực tàu" đã thay thế cho "mực" mà mang cái nghĩa "chuẩn" cho
thợ mộc vậy.
II. "Mức" là điệp thức của "mực" PAD-NCT
viết: "Mực (hay mức) có nhiều nghĩa. Mực là một biến âm của mặc HV,
thường là chữ mặc bộ thổ 墨". Nhưng thực ra, ta phải nói "mặc" là biến âm
của "mực" mới đúng vì chính các tác giả cũng đã khẳng định chữ "mặc"
[墨] bộ "thổ" [土] thuộc thanh mẫu "minh" [明], vận mẫu "đức" [德]. Thuộc
vận mẫu "đức" thì tất nhiên âm gốc phải là "mực", mà "mức" là một biến
thể thanh điệu từ 6 (dấu nặng) → 5 (dấu sắc). Nhưng "mức" không có những
nghĩa của "mực" (đen, tham ô, mực [viết], một hình phạt [bôi mực lên
chữ thích trên mặt], đạo Mặc, một đơn vị đo lường [bằng năm thước]), như
PAD-NCT đã gán ghép. Và việc chuyển biến ngữ âm của "mực" từ thanh điệu
6 (dấu nặng) sang thanh điệu 5 (dấu sắc) thành "mức" là một hiện tượng
xảy ra trong nội bộ của tiếng Việt, không liên quan gì đến tiếng Hán,
nghĩa là cũng chẳng liên quan gì đến loạt nghĩa của "mặc" [墨] mà PAD-NCT
đã liệt kê. Cơ sở ngữ nghĩa của sự chuyển biến đó chính là cái nghĩa
"chuẩn" của chữ/từ "mực" trong "chuẩn mực". "Mức" là cái chừng độ nhất
định, tức cũng là một thứ chuẩn. Và tiếng Việt thì không hiếm những cặp
điệp thức mà yếu tố này có thanh điệu 5 còn yếu tố kia có thanh điệu 6:
cuốn [sách] – cuộn [dây]; cuống [lá] – cuộng [rau]; dáng [dấp] – [bộ]
dạng; thiếp – thiệp; vết – vệt; v.v... Đây là dẫn chứng cho từ loại danh
từ còn với như vị từ thì ta có hàng loạt: - bắng nhắng - bặng nhặng;
cắm - cặm; cắp - cặp; chắn - chặn; chếch - chệch; [chi] chít - [chằng]
chịt; [chếnh] choáng - [loạng] choạng; chớp [mắt] - chợp [mắt]; chúm -
chụm; Xin tạm nói thêm như trên trong khi chờ phần 2 của PAD-NCT.
Tại sao cụ Nguyễn Trãi không dùng “song viết” [双曰] thay cho “xương'
“Phương pháp mới” của ĐVT về “chiết tự” đã không ổn mà cách “chế tạo ngữ nghĩa” của tác giả này cho chữ “xương” cũng chỉ là một sự pha trộn “không đồng chất”.
ĐVT
đưa ra cho chữ “xương” 7 nghĩa sau đây lấy từ 漢語大詞典 Hán ngữ đại từ điển
(La Trúc Phong chủ biên, 1990): “– 1.明, 光明. Sáng, sáng rõ; – 2. 善; 正当.
Thiện, chính đáng; – 3. 佼好貌. Vẻ tốt đẹp; – 4. 兴盛; 昌盛. Hưng thịnh; – 5.
庆. Phúc lành; – 6. 指有生命之物. Vạn vật có sự sống; – 7. 显明. Tỏa sáng”. Rồi
ĐVT còn dẫn Hán Việt tự điển của Thiều Chửu với 5 nghĩa sau đây: “– 1.
Tương đang, lời nói hay. Nói thẳng không kỵ húy gì; – 2. Sáng sủa; – 3.
Thịnh; – 4. Tốt đẹp, đẫy đà; – 5. Vật được thỏa sự sinh sản gọi là
xương”. Rồi căn cứ vào hai hệ nghĩa trên đây, ĐVT tiếp tục hùng biện.
“Như vậy XƯƠNG 昌 bao gồm các ý nghĩa:
“lời hay ý đẹp, trực ngôn (chân thật)”; “thiện, chính đáng”; “hưng
thịnh, sáng sủa, tốt đẹp”; “phúc lành, thỏa sinh”... Có thể thấy trong
chữ Hán hiếm có chữ nào như chữ XƯƠNG 昌 hội tụ ý nghĩa thực hay và tốt
đẹp đến thế (…). Qua Nguyễn Trãi, XƯƠNG 昌 nói lên một lý tưởng cao đẹp
của một kẻ sĩ đạt đạo, sống chân thật, hài hòa với tự nhiên, hướng đến
một cuộc sống tươi sáng, một xã hội thịnh vượng, tốt đẹp”.
Vì mải mê hùng biện mà ĐVT đã quên rằng
mình đang trộn lẫn những thứ không được phép trộn chung về ngữ nghĩa: vị
từ và danh từ. Trong Hán ngữ đại từ điển thì các nghĩa 3, 5, 6 thuộc
về danh từ còn các nghĩa 1, 2, 4, 7 thì thuộc về vị từ; trong Hán Việt
tự điển của Thiều Chửu thì nghĩa 5 thuôc về danh từ; các nghĩa 2, 3, 4
thuộc về vị từ còn nghĩa 1 thì chính Thiều Chửu cũng giảng mập mờ giữa
danh từ và vị từ rồi ĐVT còn chế biến thành “xương có nghĩa là nói thẳng
không kỵ húy gì” trong khi Thiều Chửu thì giảng rõ là “nói thẳng không
kỵ húy gì gọi là xương ngôn”. Tóm lại, để lăng-xê phương pháp mới của
mình là “chiết tự”, ĐVT đã làm một sự chế biến không được phép nên kết
quả chỉ là một món ăn gồm những nguyên liệu kỵ nhau mà cứ nhìn bề ngoài
thì có thể ngỡ là cao lương mỹ vị. Đã thế, ĐVT còn “củng cố” thêm cho
lập luận của mình:
“Trong thư pháp, các nhà Nho vẫn thường
hay dùng chỉ một chữ duy nhất như chữ TÂM 心, NHẪN 忍, NHÂN仁... để gói
ghém tâm tư, tình cảm, lý tưởng của mình. Cho nên có thể nói chữ XƯƠNG 昌
thông qua cách viết 双 曰 SONG VIẾT chính là một “nhất tự” tâm đắc của
Nguyễn Trãi (xuất hiện lần đầu tiên trong Quốc âm thi tập)”.< /p>
Nhưng “tâm”, “nhẫn”, “nhân” là những chữ
có nghĩa hoàn toàn xác định còn chữ “xương” thì lại được ĐVT gán cho
một thứ hỗn hợp ngữ nghĩa rối rắm, không xác định thì làm sao có thể gọi
là là “nhất tự tâm đắc của Nguyễn Trãi”? Ấy là ta còn chưa nói đến
chuyện Nguyễn Trãi đâu có dốt đến độ không biết chữ “xương” [昌] là hai
chữ “nhật” [日] , tức “lưỡng nhật/song nhật”, chồng lên nhau (nên trong
từ điển nó mới thuộc bộ “nhật” [日]). Và chính vì thuộc bộ “nhật” nên nó
mới có nghĩa gốc là “sáng sủa” như cũng đã cho trong Hán ngữ đại từ điển
do La Trúc Phong chủ biên và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu. Còn sở dĩ
nó bị biến thành “song viết” (hai chữ “viết” [曰], chữ này chồng lên chữ
kia) thì đơn giản chỉ là vì người ta phải “bóp bẹp” hai chữ “nhật” [日]
xuống để cho khi chữ này chồng lên chữ kia thì mới tạo được một phương
khối tự (chữ vuông) dễ nhìn chứ nếu không thì chữ “xương” sẽ trở thành
một chữ cao nghều nghệu. Nguyễn Trãi đâu có dốt mà không biết “xương” là
“lưỡng nhật/song nhật”. Vậy ta không nên suy bụng ta ra bụng người mà
ép Nguyễn Trãi phải dùng hai chữ “song viết” thay cho “nhất tự tâm đắc”
là chữ “xương”.
Bài “tiểu luận” này của An Chi chỉ mới
có 2.988 chữ nên chưa nói hết được những gì cần nói về bài đại luận
8.439 chữ của ĐVT nhưng chúng tôi phải dừng lại ở đây vì ta hãy còn có
những dịp khác nữa mà, phải không bạn Nguyễn Thế Hiển và các bạn?
Nhận xét
Đăng nhận xét