TIN BUỒN 32 (Nhà thơ Kiên Giang mất)
(ĐCchép chép lại từ các báo)
Ông (hưởng thọ 87 tuổi) tên thật là Trương Khương Trinh, gia đình cho
biết tuy nhiều tài liệu ghi ông sinh năm 1929 nhưng chính xác ngày sinh
của ông là 17-2-1927 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, Rạch Giá, tỉnh
Kiên Giang. Khi bước chân vào văn đàn, ông đã lấy tên quê hương để đặt
bút hiệu cho mình là Kiên Giang.
Thưở sinh thời, nhà thơ Kiên Giang từng tâm sự khi vừa hết lớp 12 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm báo cho tờ Tiếng súng chống địch ở chiến khu 9. Khoảng năm 1955, ông về Sài Gòn viết cho các tờ Dân chủ mới, Tiếng chuông, Dân ta, Dân tiến…
Thơ của Kiên Giang được nhiều người yêu mến và thuộc nằm lòng cho đến ngày nay. Ông nổi tiếng với bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, lấy cảm hứng từ mối tình đầu sâu đậm, trong sáng với cô nữ sinh xóm Đạo vùng đất Tây đô. Bài thơ này sau đó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và rất được công chúng yêu thích.
Ông đã xuất bản các tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Lúa sạ miền Nam, Quê hương thơ ấu…
Ngoài làm thơ, làm báo, Kiên Giang còn viết nhiều tuồng cải lương rất nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà như: Người đẹp bán tơ, Người vợ không bao giờ cưới, Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Dòng nước ngược, Trương Chi Mỵ Nương…
Ông được xem là soạn giả nổi tiếng cùng thời với NSND Năm Châu, NSND Viễn Châu, Quy Sắc…, và là thầy của cặp đôi soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng. Vở Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà thời đó đã giúp NSƯT Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm danh giá và trở thành ngôi sao cải lương sáng rực thời bấy giờ.
Soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà cũng viết rất nhiều bài tân cổ giao duyên như: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Trái tim cò trắng, Cô gái miền Tây…
Sau 1975, nhà thơ Kiên Giang làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu. Ông cũng từng là ủy viên ban chấp hành Hội sân khấu TP.HCM qua ba nhiệm kỳ.
Gia đình sẽ tổ chức khâm liệm nhà thơ - soạn giả Kiên Giang vào lúc 0g ngày 1-11. Linh cữu của ông sẽ được quàn tại nhà tang lễ Thành phố số 25, Lê Quý Đôn, lễ viếng bắt đầu từ 10g ngày 1-11. Lễ động quan lúc 7g ngày 2-11, sau đó đưa đi an táng tại nghĩa trang Hoa Viên (Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
Giới mê cải lương thì nhớ mãi những vở tuồng: Người vợ không bao giờ cưới (tức Sơn nữ Phà Ca) hay Áo cưới trước cổng chùa
và hàng trăm bài vọng cổ khác do ông là soạn giả (dưới bút danh Hà Huy
Hà). Chính nhờ đóng vai Sơn nữ Phà Ca mà cô đào trẻ Thanh Nga được trao
giải Thanh Tâm năm 1958 và bước lên ngôi vị “Nữ hoàng sân khấu”.
Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh tại Xẻo Đước, làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (bây giờ là Kiên Giang). Cái tên Kiên Giang trở nên quen thuộc trên thi đàn miền Nam từ năm 1955. Ngoài làm thơ, viết tuồng, soạn bài vọng cổ - ông còn là ký giả kịch trường của nhiều tờ báo ở Sài Gòn như: Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lẽ Sống, Lập Trường, Điện Tín... với bút danh Hà Huy Hà. Ông từng là Trưởng ban Mây Tần (chuyên mục thơ ca) trên Đài phát thanh Sài Gòn và đã bị bắt giam khi tham gia Ngày ký giả ăn mày để phản đối luật báo chí cải cách của chính quyền Sài Gòn (1974).
Người viết được may mắn gặp nhà thơ Kiên Giang lần đầu vào tối 15.1.1997 tại Trung tâm văn hóa Phú Nhuận (TP.HCM) - nơi tổ chức Đêm thơ Kiên Giang. Đêm đó, nhà văn Sơn Nam đã giới thiệu về người bạn chí cốt của mình như sau: “Tôi với Kiên Giang cùng quê, cùng làng - một xứ nghèo nàn lạc hậu, không có chính quyền, bọn hải tặc lộng hành suốt vùng ven biển... Tuổi thơ chúng tôi hiu hắt như ngọn đèn dầu mù u. Quả thật, chẳng ai dám mơ quê mình có được những tao nhân mặc khách. Cho nên quê hương chúng tôi rất tự hào là đã sản sinh được một Kiên Giang - Hà Huy Hà”.
Dù rất nổi tiếng trên văn đàn nhưng cuộc đời Kiên Giang nhiều gian truân. Vì mưu sinh ông luôn dịch chuyển “ăn nhờ, ở đậu” nhiều nơi. Dạo ấy ông cất cái chòi lá trên miếng đất của khu dưỡng lão Hội Nghệ sĩ sân khấu TP.HCM (Q.8), sau dời về đường Bùi Minh Trực hướng về Cần Giuộc, lên Thủ Đức ở, rồi neo mình ở trụ sở Ban Ái hữu nghệ sĩ TP.HCM (133 Cô Bắc, Q.1). Tôi nhớ bài thơ ông đã làm cho đứa con gái út: “Tạ lỗi con, ba nghèo rách quá/Để con đói lạnh tuổi còn thơ/Mới ra đời ngủ trong nhà bếp/Mười tuổi rồi con vẫn ốm o/Cá hấp chợ chiều, rau muống luộc/Tập ăn quen vẫn sống trên đời/Mỗi năm thêm tuổi, con thêm ốm/Ba má nhìn con nén ngậm ngùi”.
Mỗi lần gặp ông là tôi thường “gài” để ông kể chuyện văn nghệ ngày xưa, “gãi đúng chỗ ngứa”, ông kể chuyện ro ro với một trí nhớ tuyệt vời, nhất là chuyện “thi sĩ chân quê” Nguyễn Bính lưu lạc xuống Rạch Giá (1946), ông đi tìm và trở thành “đệ tử”. Ông nhớ mãi phút đầu tiên Nguyễn Bính gặp, đã hỏi: “Có thuốc hút không?”. Chàng trai 17 tuổi là ông, bối rối đưa bao thuốc Cotab chỉ còn vỏn vẹn 2 điếu cong queo. Nguyễn Bính xé bao thuốc lá, lật mặt trong ghi 4 câu thơ tặng: “Có những dòng sông chảy rất mau/Nhớ chi nghĩa bến với sông cầu/Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp/Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau”. Rồi câu thơ Nguyễn Bính dán trước căn chòi tạm trú của hai thầy trò: “Từ dạo về đây sống rất nghèo/Bạn bè chỉ có gió trăng theo/Những thằng bất nghĩa xin đừng đến/Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”. Kiên Giang kể hấp dẫn, lôi cuốn như khi ông kể về mối tình học trò với cô Nh. (nhân vật chính trong bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím).
Thơ của Kiên Giang đã trở nên phổ thông đến độ ngỡ như ca dao, tục ngữ: “Bướm vàng đậu đọt mù u/Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn” hay “Lạy Chúa con là người ngoại đạo/Nhưng con tin có Chúa ngự trên trời” (Hoa trắng thôi cài lên áo tím) hoặc “Ngày mai đám cưới người ta/Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn?” (Người vợ không bao giờ cưới). Chỉ có những câu thơ được viết bằng cảm xúc mới đi vào lòng người và hóa thành “ca dao”. Mấy người làm thơ được như thế ?
Sinh thời, nhà thơ Kiên Giang “nghèo kiết xác”. Gia tài của ông chỉ là... chiếc giỏ xách đựng tài liệu, sách vở mà ông luôn đeo bên người. Sống thanh bần với trái tim nhân hậu, ông thường vận động cứu trợ những văn nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, khiến nhà văn Sơn Nam đã cảm thán: “Kẻ cần cứu trợ lại hay đi cứu trợ người khác”. Mới đây khi ông đọc báo thấy có tin một trẻ sơ sinh bị bỏ rơi ngoài đường, ông đã tức tốc rời cái “tum lưu niệm” của mình (do con gái lớn cất cho ông an hưởng tuổi già ở TP.Long Xuyên) để lên Sài Gòn mang chút tiền hưu dưỡng giúp đỡ. Nhưng lên tới Sài Gòn, chưa thực hiện được ý định thì ông bị đột quỵ và không bao giờ tỉnh lại.
Trong bài thơ Lặng lẽ của ông có câu: “Trái tim là một con tàu suốt/Chẳng có sân ga trạm cuối cùng”. Trái tim nhân hậu đã yêu thương đến phút cuối cùng ấy đã ngừng đập.
Nhà thơ Kiên Giang qua đời
6h30
sáng 31/10, tác giả "Hoa trắng thôi cài trên áo tím" mất tại TP HCM sau
thời gian nằm viện do đột quỵ. Ông hưởng thọ 87 tuổi.
Chị Thùy, con gái thứ ba của nhà thơ, soạn giả Kiên Giang nghẹn ngào
cho biết, trước khi ba mất, chị và ông còn trao đổi với nhau được vài
câu. Nhà thơ sinh 1926 nhập bệnh viện Nguyễn Tri Phương, TP HCM, từ ngày
28/10 sau một cơn đột quỵ. Từ khi ông nhập viện, dù các bác sĩ tận tình
cứu chữa, do tuổi cao sức yếu, khả năng cầm cự của ông ngày càng có
chiều hướng xấu đi. Chiều 30/10, gia đình và các bác sĩ bệnh viện Nguyễn
Tri Phương thống nhất đến 18h ngày 31/10 rút ống thở oxy để ông ra đi
được nhẹ nhàng hơn. "Khi chưa rút ống thở thì 6h30 sáng nay ba tôi qua
đời", chị Thùy ngậm ngùi nói.
|
|
|
Nhà thơ Kiên Giang bên nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan. Lão nhà thơ qua đời
đột ngột khi còn dang dở một bản thảo thơ với tâm niệm in ra dành tặng
cho độc giả. Ảnh: Cá Con.
|
Chị Thùy kể, trước ngày 28/10 - thời gian ông bị đột quỵ - nhà thơ Kiên
Giang hoàn toàn khỏe khoắn. Khi đọc tin về một sản phụ ở An Giang bị xe
tải cán lọt thai nhi ra ngoài,
ông xúc động mạnh. Lão nhà thơ quyết định lấy số tiền lương hưu gần 3
triệu đồng của ông để mang đi tặng gia đình người bị nạn. Chị Thùy thấy
tấm lòng của ba nên góp cùng ông thêm cho số tiền đủ 5 triệu đồng. Do
cha con người bị nạn được chuyển về Sài Gòn điều trị, ông quyết định
khăn gói lên Sài Gòn để tận tay trao tiền. Ban đầu gia đình can ngăn vì
tuổi ông đã cao, lại di chuyển đường xa nhưng ông quyết định phải đi để
trao tiền cho kịp thời.
Nhà thơ một mình bắt xe lên TP HCM và ghé nhà người quen ở quận 8 ở,
ông còn dành thời gian viết một bài báo trải lòng về tai nạn giao thông
thương tâm làm chết đi người mẹ, người vợ trẻ. Ông định khi viết xong
bài sẽ gửi đăng báo và vào bệnh viện để trao tiền. Nhưng khi vừa hoàn
thành bài viết, ông kêu mệt, tay chân tím. Nhà thơ nhanh chóng được đưa
vào bệnh viện Điều dưỡng quận 8 và sau đó chuyển qua bệnh viện Nguyễn
Tri Phương. Ông được chẩn đoán xuất huyến não nặng.
|
|
|
Nghệ sĩ Bảo Quốc nói lời tri ân Kiên Giang khi ông dù tuổi cao sức
yếu vẫn lặn lội từ quê lên TP HCM xem vở "Bên cầu dệt lụa" trong chương
trình kỷ niệm 64 năm đoàn cải lương Thanh Minh - Thanh Nga vào tháng 3 năm nay. Ảnh: Cá Con.
|
Con gái của nhà thơ đang cùng Ban chấp hành Hội Sân khấu TP HCM lên kế
hoạch hậu sự cho Kiên Giang. Dự kiến, ông được quàn tại Nhà tang lễ TP
HCM. Lễ viếng bắt đầu từ 8 giờ ngày 1/1. Lễ truy điệu lúc 7 giờ ngày
3/11. Đoàn xe tang di quan đến trụ sở Ban ái hữu Nghệ sĩ thành phố ở Cô
Bắc, quận 1. Đây là nơi ông từng gắn bó với công việc của ban ái hữu,
giúp đỡ nghệ sĩ, công nhân hậu đài nghèo khó nhiều năm liền. Sau đó, ông
được an táng tại Nghĩa trang Bình Dương, xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến
Cát, tỉnh Bình Dương.
Nhà thơ, soạn giả Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, ông sinh
năm 1927 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
(nhưng trên giấy tờ ghi ông sinh năm 1929). Quê ngoại ông ở An Giang.
Hơn một năm trước, vì tuổi già, ông về lại An Giang sống cùng người con
gái.
Nhà thơ Kiên Giang được xem là thầy của hai soạn giả nổi tiếng Hà Triều - Hoa Phượng. Ông là tác giả của ba tập thơ: Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962), Lúa sạ miền Nam (1970), Quê hương thơ ấu và là soạn giả của nhiều tác phẩm cải lương, vọng cổ nổi tiếng như: Người đẹp bán tơ (1956), Con đò Thủ Thiêm (1957), Người vợ không bao giờ cưới (1958 - với Phúc - Nguyên), Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Trương Chi Mỵ Nương, Lưu Bình - Dương Lễ...
Bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím là sáng tác được rất
nhiều độc giả yêu thích của Kiên Giang. Bài thơ này được nhạc sĩ Huỳnh
Anh phổ nhạc và đi vào lòng nhiều thế hệ khán giả.
| * Video: Nghệ sĩ Hồng Vân ngâm thơ "Hoa trắng thôi cài trên áo tím" |
Thoại Hà
Vĩnh biệt nhà thơ - soạn giả Kiên Giang
TTO - Sau một cơn đột quỵ, nhà thơ Kiên Giang nổi
tiếng với bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím đã trút hơi thở cuối cùng
tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) lúc 6g30 sáng ngày 31-10.
|
Soạn giả Kiên Giang và nghệ sĩ Phượng Liên, tháng 3- năm 2014 - Ảnh: T.T.D |
|
Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà trong chương trình thơ
nhạc mừng thượng thọ 81 tuổi của ông tại Trung tâm văn hóa Phú Nhuận,
TP.HCM, năm 2008 - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ |
| Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Ảnh tư liệu |
Thưở sinh thời, nhà thơ Kiên Giang từng tâm sự khi vừa hết lớp 12 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm báo cho tờ Tiếng súng chống địch ở chiến khu 9. Khoảng năm 1955, ông về Sài Gòn viết cho các tờ Dân chủ mới, Tiếng chuông, Dân ta, Dân tiến…
Thơ của Kiên Giang được nhiều người yêu mến và thuộc nằm lòng cho đến ngày nay. Ông nổi tiếng với bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, lấy cảm hứng từ mối tình đầu sâu đậm, trong sáng với cô nữ sinh xóm Đạo vùng đất Tây đô. Bài thơ này sau đó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và rất được công chúng yêu thích.
Ông đã xuất bản các tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Lúa sạ miền Nam, Quê hương thơ ấu…
Ngoài làm thơ, làm báo, Kiên Giang còn viết nhiều tuồng cải lương rất nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà như: Người đẹp bán tơ, Người vợ không bao giờ cưới, Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Dòng nước ngược, Trương Chi Mỵ Nương…
Ông được xem là soạn giả nổi tiếng cùng thời với NSND Năm Châu, NSND Viễn Châu, Quy Sắc…, và là thầy của cặp đôi soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng. Vở Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà thời đó đã giúp NSƯT Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm danh giá và trở thành ngôi sao cải lương sáng rực thời bấy giờ.
Soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà cũng viết rất nhiều bài tân cổ giao duyên như: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Trái tim cò trắng, Cô gái miền Tây…
Sau 1975, nhà thơ Kiên Giang làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu. Ông cũng từng là ủy viên ban chấp hành Hội sân khấu TP.HCM qua ba nhiệm kỳ.
Gia đình sẽ tổ chức khâm liệm nhà thơ - soạn giả Kiên Giang vào lúc 0g ngày 1-11. Linh cữu của ông sẽ được quàn tại nhà tang lễ Thành phố số 25, Lê Quý Đôn, lễ viếng bắt đầu từ 10g ngày 1-11. Lễ động quan lúc 7g ngày 2-11, sau đó đưa đi an táng tại nghĩa trang Hoa Viên (Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
| Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Ảnh: Đào Trung Phụng |
LINH ĐOAN
Nhà thơ Kiên Giang: Con tàu thơ đã đến trạm cuối cùng
01/11/2014 05:00Nhắc đến nhà thơ Kiên Giang, nhiều người thuộc lứa trung niên ở miền Nam vẫn còn nhớ đến bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím do ông sáng tác năm 1958, sau đó nhạc sĩ Huỳnh Anh đã phổ nhạc bài thơ này.
|
Nhà thơ Kiên Giang - Ảnh: Đào Trung Phụng |
Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh tại Xẻo Đước, làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (bây giờ là Kiên Giang). Cái tên Kiên Giang trở nên quen thuộc trên thi đàn miền Nam từ năm 1955. Ngoài làm thơ, viết tuồng, soạn bài vọng cổ - ông còn là ký giả kịch trường của nhiều tờ báo ở Sài Gòn như: Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lẽ Sống, Lập Trường, Điện Tín... với bút danh Hà Huy Hà. Ông từng là Trưởng ban Mây Tần (chuyên mục thơ ca) trên Đài phát thanh Sài Gòn và đã bị bắt giam khi tham gia Ngày ký giả ăn mày để phản đối luật báo chí cải cách của chính quyền Sài Gòn (1974).
Người viết được may mắn gặp nhà thơ Kiên Giang lần đầu vào tối 15.1.1997 tại Trung tâm văn hóa Phú Nhuận (TP.HCM) - nơi tổ chức Đêm thơ Kiên Giang. Đêm đó, nhà văn Sơn Nam đã giới thiệu về người bạn chí cốt của mình như sau: “Tôi với Kiên Giang cùng quê, cùng làng - một xứ nghèo nàn lạc hậu, không có chính quyền, bọn hải tặc lộng hành suốt vùng ven biển... Tuổi thơ chúng tôi hiu hắt như ngọn đèn dầu mù u. Quả thật, chẳng ai dám mơ quê mình có được những tao nhân mặc khách. Cho nên quê hương chúng tôi rất tự hào là đã sản sinh được một Kiên Giang - Hà Huy Hà”.
Dù rất nổi tiếng trên văn đàn nhưng cuộc đời Kiên Giang nhiều gian truân. Vì mưu sinh ông luôn dịch chuyển “ăn nhờ, ở đậu” nhiều nơi. Dạo ấy ông cất cái chòi lá trên miếng đất của khu dưỡng lão Hội Nghệ sĩ sân khấu TP.HCM (Q.8), sau dời về đường Bùi Minh Trực hướng về Cần Giuộc, lên Thủ Đức ở, rồi neo mình ở trụ sở Ban Ái hữu nghệ sĩ TP.HCM (133 Cô Bắc, Q.1). Tôi nhớ bài thơ ông đã làm cho đứa con gái út: “Tạ lỗi con, ba nghèo rách quá/Để con đói lạnh tuổi còn thơ/Mới ra đời ngủ trong nhà bếp/Mười tuổi rồi con vẫn ốm o/Cá hấp chợ chiều, rau muống luộc/Tập ăn quen vẫn sống trên đời/Mỗi năm thêm tuổi, con thêm ốm/Ba má nhìn con nén ngậm ngùi”.
Mỗi lần gặp ông là tôi thường “gài” để ông kể chuyện văn nghệ ngày xưa, “gãi đúng chỗ ngứa”, ông kể chuyện ro ro với một trí nhớ tuyệt vời, nhất là chuyện “thi sĩ chân quê” Nguyễn Bính lưu lạc xuống Rạch Giá (1946), ông đi tìm và trở thành “đệ tử”. Ông nhớ mãi phút đầu tiên Nguyễn Bính gặp, đã hỏi: “Có thuốc hút không?”. Chàng trai 17 tuổi là ông, bối rối đưa bao thuốc Cotab chỉ còn vỏn vẹn 2 điếu cong queo. Nguyễn Bính xé bao thuốc lá, lật mặt trong ghi 4 câu thơ tặng: “Có những dòng sông chảy rất mau/Nhớ chi nghĩa bến với sông cầu/Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp/Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau”. Rồi câu thơ Nguyễn Bính dán trước căn chòi tạm trú của hai thầy trò: “Từ dạo về đây sống rất nghèo/Bạn bè chỉ có gió trăng theo/Những thằng bất nghĩa xin đừng đến/Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”. Kiên Giang kể hấp dẫn, lôi cuốn như khi ông kể về mối tình học trò với cô Nh. (nhân vật chính trong bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím).
Thơ của Kiên Giang đã trở nên phổ thông đến độ ngỡ như ca dao, tục ngữ: “Bướm vàng đậu đọt mù u/Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn” hay “Lạy Chúa con là người ngoại đạo/Nhưng con tin có Chúa ngự trên trời” (Hoa trắng thôi cài lên áo tím) hoặc “Ngày mai đám cưới người ta/Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn?” (Người vợ không bao giờ cưới). Chỉ có những câu thơ được viết bằng cảm xúc mới đi vào lòng người và hóa thành “ca dao”. Mấy người làm thơ được như thế ?
Sinh thời, nhà thơ Kiên Giang “nghèo kiết xác”. Gia tài của ông chỉ là... chiếc giỏ xách đựng tài liệu, sách vở mà ông luôn đeo bên người. Sống thanh bần với trái tim nhân hậu, ông thường vận động cứu trợ những văn nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, khiến nhà văn Sơn Nam đã cảm thán: “Kẻ cần cứu trợ lại hay đi cứu trợ người khác”. Mới đây khi ông đọc báo thấy có tin một trẻ sơ sinh bị bỏ rơi ngoài đường, ông đã tức tốc rời cái “tum lưu niệm” của mình (do con gái lớn cất cho ông an hưởng tuổi già ở TP.Long Xuyên) để lên Sài Gòn mang chút tiền hưu dưỡng giúp đỡ. Nhưng lên tới Sài Gòn, chưa thực hiện được ý định thì ông bị đột quỵ và không bao giờ tỉnh lại.
Trong bài thơ Lặng lẽ của ông có câu: “Trái tim là một con tàu suốt/Chẳng có sân ga trạm cuối cùng”. Trái tim nhân hậu đã yêu thương đến phút cuối cùng ấy đã ngừng đập.
|
Sau hơn hai ngày hôn mê sâu, nhà thơ Kiên Giang trút hơi
thở cuối cùng lúc 6 giờ 30 ngày 31.10 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
(Q.5, TP.HCM), thọ 86 tuổi. Linh cữu nhà thơ được quàn tại Nhà tang lễ
TP.HCM (25 Lê Quý Đôn, Q.3). Lễ viếng bắt đầu từ 10 giờ ngày 1.11. Lễ di
quan lúc 6 giờ 30 ngày 3.11, sau đó xe tang sẽ đến trụ sở Ban Ái hữu
nghệ sĩ TP.HCM để ông từ biệt nơi mình đã có nhiều năm gắn bó, sau đó sẽ
tiến hành an táng tại hoa viên nghĩa trang Bình Dương (H.Bến Cát, tỉnh
Bình Dương), nơi có phần mộ của người bạn chí cốt với ông: nhà văn Sơn
Nam. |
Hà Đình Nguyên
Nhận xét
Đăng nhận xét