BÍ ẨN LỊCH SỬ 116

(ĐC sưu tầm trên NET)

“Kỷ lục” buồn nhà Hậu Lê: 9 vua bị giết đau đớn

 

Do tồn tại trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nhà Hậu Lê là triều đại nắm giữ "kỷ lục" về số vua bị giết hại…

- Nhà Hậu Lê (1428 – 1789) chia làm hai thời kỳ là Lê sơ (1428-1527) và Lê trung hưng (1533-1789). Với 27 triều vua và gần 4 thế kỷ tồn tại, đây là triều đại kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam.

Do tồn tại trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động mà đây cũng là triều đại nắm giữ “kỷ lục” về số vua bị giết hại…

Cái chết cay đắng của Lê Bang Cơ

Lê Nhân Tông, vị vua thứ ba của nhà Lê sơ tên thật là Lê Bang Cơ. Dù chỉ là con trai thứ ba, nhưng ông được vua cha Thái Tông phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441, khi mới vài tháng tuổi.

Thái hậu Nguyễn Thị Anh làm Nhiếp chính cho ông từ khi mới lên ngôi báu cho đến khi ông tự thân chấp chính vào năm 1452. Lên ngôi lúc còn nhỏ, Lê Nhân Tông tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo, xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những người có công đối với Vương triều.

Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định, bờ cõi được bảo vệ và mở rộng.

Dù sáng suốt và nhân từ, nhưng vua Nhân Tông vẫn bị anh cả là Lê Nghi Dân oán hận và muốn đoạt ngôi vì ông chỉ là con thứ. Trong khi đó, Nhân Tông không đề phòng gì vì luôn coi Nghi Dân là anh ruột.

Một đêm cuối năm 1459, Nghi Dân cùng các thủ hạ đã bắc thang vào cung cấm giết vua Nhân Tông. Khi đó ông mới 18 tuổi. Cái chết của ông khiến cho quan lại "nuốt hận ngậm đau", và thần dân "như mất cha mất mẹ”.

Quả báo dành cho Lê Nghi Dân

Lê Nghi Dân vốn được lập làm thái tử khi mới 3 tháng tuổi (năm 1440). Ông bị mất ngôi thái tử vào tay người em Bang Cơ của mình chỉ vì mẹ bị vua thất sủng. Sau khi giết Bang Cơ năm 1459, Lê Nghi Dân lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Hưng.

Do bất mãn, tháng 5/1460, các tể tướng đại thần là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ, Lê Ê đã bí mật bàn việc lật đổ vua Thiên Hưng. Vụ việc đó bị lộ, tất cả những người mưu phản đều bị bắt giết.

Do vua thay đổi nhiều pháp chế của đời trước, dùng những người thân tín của mình vào triều nên các cựu thần ngày càng không bằng lòng. Tháng 6/1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm… lại bàn nhau làm binh biến.

Sau một buổi chầu, Nguyễn Xí đã dẫn quân vào giữ chặt quân cấm binh, đóng các cửa thành và giết các bề tôi tin cẩn của vua Thiên Hưng. Hơn 100 người thuộc phe cánh của vua đã mất mạng.

Bản thân Lê Thiên Hưng bị bắt, phế truất làm Lệ Đức hầu và bị thắt cổ chết khi mới 22 tuổi, ở ngôi được một năm.
Hình minh họa.
Hình minh họa.

“Vua quỷ” Lê Uy Mục đền mạng

Năm 1505, Lê Uy Mục lên ngôi sau khi vua Lê Túc Tông mất sớm ở tuổi 17. Trong thời gian trị vì, vị vua này đã bị gọi là “vua quỷ” vì ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của vua.

Điều này làm dấy lên sự phẫn nộ trong quan lại, dân chúng cũng như dòng dõi họ Lê. Giản Tu Công Lê Oanh (vua Lê Tương Dực sau này) đã được lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục.

Tháng 11/1509, Lê Oanh sai Cẩm Giang Vương Lê Sùng ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội). Uy Mục có ưu thế hơn, đã bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh. Sau đó, Lê Oanh vào chiếm kinh thành bắt được và bức tử Lê Uy Mục.

Hận Uy Mục giết hại gia đình mình, Lê Oanh còn sai người dùng súng lớn, nhét xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại quê mẹ tại làng Phù Chẩn. “Quỷ vương” Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

Sau “vua quỷ”, đến lượt “vua lợn” Lê Tương Dực

Lê Oanh sinh năm 1495, là cháu nội của vua Lê Thánh Tông. Dưới thời Lê Hiến Tông, ông được phong làm Giản Tu công. Sau khi giết Lê Uy Mục, Lê Oanh tự lập mình làm vua, lấy niên hiệu là Hồng Thuận, tức là vua Tương Dực Đế.

Đi theo vết xe đổ của Lê Uy Mục, Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Dân chúng oán ghét và khinh bỉ Tương Dực, nên gọi ông là vua lợn. Triều chính trở nên hết sức rối ren, bên ngoài khắp nơi loạn lạc.

Dù tình hình căng thẳng nhưng Lê Tương Dực không đoái hoài. Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản là người có công trạng, nhiều lần can ngăn không được mà còn bị vua cho người đánh bằng trượng. Sản bất mãn, mưu với thái sư Lê Quảng Độ và Trình Trí Sâm lập vua khác.

Mượn tiếng đi đánh giặc, mờ sáng một ngày tháng 5/1516 Trịnh Duy Sản đem binh vào cửa Bắc Thần giết “vua lợn”. Lê Tương Dực ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 21 tuổi.

Cuộc đời bão tố và cái chết của Lê Chiêu Tông

Lê Chiêu Tông (1506 – 1526), có tên húy là Lê Y, chắt của vua Lê Thánh Tông, là vị vua thứ 10 của nhà Lê sơ. Lúc mới 11 tuổi, ông được đại thần Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ lập làm vua khi dấy quân lật đổ Lê Tương Dực.

Trong thời gian trị vì của Lê Chiêu Tông, triều đình bị thao túng bởi Trần Chân, con nuôi của Trịnh Duy Sản. Vua nghe lời gièm pha, sợ uy quyền của Trần Chân nên sai người dụ Chân vào triều rồi giết Chân cùng các thủ hạ thân tín.

Nhóm thủ hạ còn lại của Trần Chân phục thù, mang quân từ Sơn Tây đánh kinh thành, khiến vua phải tháo chạy. Với sự lãnh đạo của Mạc Đăng Dung, quân triều đình đánh bại những kẻ nổi loạn. Dung lần lượt được phong làm Minh quận công, rồi thái phó, quyền thế dần dần át cả vua.

Chiêu Tông không muốn bị Đăng Dung khống chế, bí mật bàn cùng các nội thần hạ bệ Đăng Dung. Nhưng kế hoạch bị đổ vỡ, Chiêu Tông phải trốn chạy. Sau đó Đăng Dung tuyên bố phế truất ông và lập em ông là Lê Xuân lên ngôi (Lê Cung Hoàng). Như vậy, trong nước lúc này có 2 vua là Chiêu Tông và Cung Hoàng.

Các tướng thân cận của Chiêu Tông đem quân giúp vua, khôi phục lại được thanh thế và đẩy lùi quân của mạc Đăng Dung. Nhưng do nội bộ bất hoà, nhiều tướng lại bỏ theo phe của kẻ tiếm quyền. Từ đó quân của Mặc Đăng Dung làm chủ tình hình.

Ngày 28/10/1525, Mạc Đăng Dung bắt được Chiêu Tông mang về Thăng Long giam lỏng. Đến tháng 12/1526, ông bị Đăng Dung sai người giết chết, thọ 24 tuổi, ở ngôi được 6 năm.

Lê Cung Hoàng chết trong tủi nhục

Vua Lê Cung Hoàng (1507 – 1427) có tên húy là Lê Xuân là vị vua cuối cùng của Thời Lê sơ. Ông là em ruột Lê Chiêu Tông, chắt của Lê Thánh Tông, được Mạc Đăng Dung lập lên để giữ danh chính khi Chiêu Tông trốn thoát vào năm 1522.

Sau khi Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đã đến lúc để Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.

Ngày 15/6/1527, Mạc Đăng Dung đem quân vào kinh, bắt vua nhường ngôi. Triều thần lúc đó hầu hết đã là người của Đăng Dung hoặc theo Đăng Dung, tự khởi thảo chiếu nhường ngôi cho vua.

Mạc Đăng Dung xưng hoàng đế, tức là Mạc Thái Tổ, lập ra nhà Mạc, lấy niên hiệu là Minh Đức.

Lê Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung Vương rồi giam cùng với Hoàng thái hậu ở cung Tây Nội. Vài tháng sau, Đăng Dung ép mẹ con Cung Hoàng phải tự tử. Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Cuộc trỗi dậy không thành của Lê Anh Tông

Lê Anh Tông (1532 - 1573), tên thật là Lê Duy Bang, là vị vua thứ ba của thời Lê trung hưng.

Trong thời kỳ này, quyền hành của các chúa Trịnh tăng lên rất nhiều. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền bính. Trịnh Cối thất bại phải sang hàng nhà Mạc.

Năm 1572, thấy quyền hành Trịnh Tùng lớn quá, Lê Cập Đệ bàn mưu với Lê Anh Tông mưu trừ khử Tùng để lấy lại quyền bính cho nhà Lê. Kế hoạch bị lộ, Cập Đệ bị đao phủ của Trịnh Tùng giết chết. Lê Anh Tông bỏ hành cung chạy trốn cùng 4 người con trai lớn ra Nghệ An.

Năm 1573, Trịnh Tùng đưa con trai thứ năm còn nhỏ tuổi của ông là Lê Duy Đàm lên ngôi vua và sai quân về Nghệ An bắt Anh Tông. Vua bị đưa về triều giám sát ngày đêm và bức chết. Khi đó ông 42 tuổi, ở ngôi được 17 năm.

Bi kịch của Lê Anh Tông lặp lại với cháu nội Lê Kính Tông

Lê Kính Tông (1588 – 1619), có tên húy là Lê Duy Tân, là vị vua thứ 5 của thời Lê trung hưng. Ông lên ngôi khi mới 11 tuổi.

Vào lúc này, chính quyền nhà Lê đã trở thành bù nhìn, mọi quyền hành thực sự nằm trong tay chúa Trịnh. Ông nội của Kính Tông là Lê Anh Tông (Duy Bang) đã bị Trịnh Tùng sát hại vì chống lại Trịnh Tùng.

Từ năm 1600, Trịnh Tùng đã cơ bản dẹp được nhà Mạc ở miền Bắc, mâu thuẫn mới nổi lên giữa họ Trịnh và họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng tự ý bỏ vào vùng Thuận - Quảng. Nhân cơ hội này, tàn dư nhà họ Mạc lại nổi lên.

Trong tình hình đó, vào năm 1619, Lê Kính Tông cùng Trịnh Xuân mưu giết chết Trịnh Tùng để giành lại địa vị. Nhưng kế hoạch thất baik, Trịnh Xuân bị tống vào ngục, còn nhà vua bị bức thắt cổ chết. Lê Kính Tông thọ 31 tuổi, ở ngôi 20 năm.

Lê Duy Phường sống oan khuất, chết cay đắng

Lê Duy Phường (1709 – 1735) là vị vua thứ 12 của thời Lê trung hưng. Là cháu ngoại chúa Trịnh Cương - người nắm thực quyền khi đó - ông đã có nhiều hậu thuẫn để lên ngôi vua năm 1729, khi 21 tuổi, với niên hiệu là Vĩnh Khánh.

Tháng 10/1729, Trịnh Cương mất, con là Trịnh Giang lên nối ngôi. Cũng như các đời trước, việc triều chính do Trịnh Giang định đoạt, vua Vĩnh Khánh không có thực quyền. Trịnh Giang còn muốn thay đổi ngôi vua do Trịnh Cương đã sắp đặt để ra oai với thần hạ.

Năm 1732, vua Vĩnh Khánh bị ép ra ở cung riêng. Tháng 8 năm đó, Trịnh Giang vu cho vua Vĩnh Khánh tư thông với vợ Trịnh Cương, rồi phế bỏ, lập con trưởng của Dụ Tông (anh cả của Duy Phường) là Lê Duy Tường lên ngôi, tức Lê Thuần Tông. Tháng 4/1735, Lê Thuần Tông mất, Trịnh Giang lập em Duy Phường là Lê Duy Thận làm vua, tức là Lê Ý Tông.

Duy Phường bị dời đến ở một ngôi nhà ở bên ngoài. Tháng 9/1735, Trịnh Giang sai người thắt cổ giết chết ông. Lê Duy Phường ở ngôi 3 năm , thọ 27 tuổi.
Hoàng Phương

3 'kỳ án' kéo dài trong lịch sử tố tụng Việt Nam


Đây là những kỳ án kéo dài cả chục năm, làm 'đau đầu' cơ quan tố tụng, điều tra.
Kỳ án Vườn điều
Đầu tiên phải kể đến "kỳ án vườn điều". Đây được xem là vụ oan sai lớn nhất trong lịch sử tư pháp Việt Nam bởi có đến 9 người trong một gia đình rơi vào vòng lao lý.
Giữa tháng 5/1993, thi thể nạn nhân Dương Thị Mỹ được phát hiện trong vườn điều của ông Hai Hoàng (xã Tân Minh, H.Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận) trong tình trạng đa chấn thương do bị chém bằng vật sắc nhọn. Do án mạng xảy ra trong khu vực ít người qua lại, thi thể nạn nhân đang trong quá trình phân hủy và hiện trường bị xáo trộn nên không thu thập được tình tiết nào đáng kể.
Vụ án tưởng chừng rơi vào bế tắc thì năm 1998, khi bị bắt giữ để điều tra về hành vi Giết người, Cướp tài sản, nghi phạm Huỳnh Văn Nén đã khai mình là thủ phạm vụ trọng án 5 năm về trước.
3 ky an keo dai trong lich su to tung Viet Nam
Nén trước vành móng ngựa.
Theo lời khai của Nén, do nghi ngờ bà Mỹ có quan hệ bất chính với chồng của chị vợ mình tên là Nhung nên một số người trong gia đình đã chặn đường hành hung và dùng dao phay chém nạn nhân đến chết. Từ lời khai của Nén, 9 người trong gia đình vợ của Nén bị cơ quan công an bắt giữ và buộc tội giết bà Mỹ.
Vụ án sau đó được đưa ra xét xử nhiều lần nhưng đều bị hủy án do có nhiều tình tiết chưa rõ ràng, những chứng cứ buộc tội đều mập mờ và mâu thuẫn với lời khai của bị can. Đặc biệt, cơ quan điều tra đã vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng. Trong khi đó, các bị cáo một mực kêu oan và cho rằng những lời nhận tội là do bị mớm cung. Riêng Nén lại phản cung, cho rằng thời điểm xảy ra vụ án đang làm thuê cho một gia đình tại Đồng Nai
Việc điều tra xét xử vụ án kéo dài 12 năm nhưng vẫn không tìm ra hung thủ. Cuối cùng, Bộ Công an đã phải vào cuộc điều tra lại từ đầu. Tuy nhiên, do vụ án đã diễn ra quá lâu nên công tác điều tra gặp rất nhiều khó khăn, không thu thập đủ các tài liệu, chứng cứ để buộc tội các bị can. Năm 2006, cơ quan điều tra xác định các bị cáo vô tội và trả tự do tại tòa, đồng thời cơ quan công tố phải công khai xin lỗi và bồi thường oan sai với tổng số tiền lên đến hơn một tỷ đồng.
Kỳ án Vườn Mít
Theo kết quả điều tra, năm 2001, Lê Bá Mai (SN 1982, quê Thanh Hóa) vào làm thuê trong trang trại của ông Dương Bá Tuân (xã An Khương, H.Hớn Quản, tỉnh Bình Phước). Sáng ngày 12/11/2004, khi đang bón phân cho cây trồng, nhìn thấy 2 bé gái là Út (SN 1993) và Hằng (SN 1995) đang mót củ mì gần đó, Mai nảy sinh tà ý. Mai lấy xe máy chở Út đến khu vườn mít trong trang trại, dùng tay đánh vào gáy khiến nạn nhân bất tỉnh rồi thực hiện hành vi đồi bại.
Sau khi thỏa mãn thú tính, thấy cháu bé còn thở thoi thóp, sợ bị tố cáo nên Mai siết cổ nạn nhân cho đến chết. Út không về nhà nên gia đình tổ chức tìm kiếm, 5 ngày sau thì phát hiện thi thể nạn nhân trong tình trạng không mặc quần và đang trong thời kỳ phân hủy. Mai bị công an bắt giữ để tiến hành điều tra.
3 ky an keo dai trong lich su to tung Viet Nam
Lê Bá Mai lãnh án tù chung thân
Năm 2005, TAND tỉnh Bình Phước đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt Mai án tử hình về 2 tội Giết người và Hiếp dâm trẻ em. Sau đó, tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM giữ nguyên án sơ thẩm đối với bị cáo.
Nhưng nhận thấy vụ án "chưa có căn cứ vững chắc" để kết tội Mai và quá trình điều tra "vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, có nhiều vấn đề mâu thuẫn cần được làm rõ", nên tháng 12/2006, Viện trưởng Viện KSND Tối cao ra kháng nghị giám đốc thẩm, hủy cả 2 bản án trước đó để tiến hành điều tra lại.
Tại phiên tòa diễn ra vào tháng 5/2011, cho rằng không có đủ chứng cứ buộc tội nên HĐXX trả tự do cho Mai ngay tại tòa. Tuy nhiên đến ngày 18/5/2012, Mai lại bị bắt để tiếp tục hầu tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm diễn ra sau đó, TAND Tối cao tại TP.HCM cho rằng "quá trình điều tra có thiếu sót nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án, vì thế cấp sơ thẩm tuyên trắng án là bỏ lọt tội phạm" và tuyên hủy án để điều tra và xét xử lại từ đầu.
Vào đầu năm 2013, TAND Bình Phước lại đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt tù chung thân đối với Lê Bá Mai về 2 tội Giết người và Hiếp dâm trẻ em. Ngay sau đó, Viện KSND tỉnh Bình Phước lại làm đơn kháng nghị theo hướng tăng hình phạt lên tử hình, còn Mai cũng làm đơn kháng cáo.
Ngày 30/8, TAND Tối cao tại TP.HCM mở phiên tòa Phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm đối với Mai.
Kỳ án trộm dê
Khuya 28/5/2005, bà Trần Thị Kim Nguyệt (SN 1970, trú xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình, Bình Thuận) cùng một số thanh niên đến chuồng dê của bà Lê Thị Kim Y và ông Lê Văn Thái (xã Sông Bình, huyện Bắc Bình) lùa đi 52 con dê trị giá trên 117 triệu đồng.
Sáng ngày hôm sau, phát hiện đàn dê “không cánh mà bay”, nạn nhân trình báo lên chính quyền. Cơ quan công an đã vào cuộc điều tra và thu hồi được 24 con dê trả lại cho bị hại, 28 con dê còn lại trị giá hơn 70 triệu đồng không thu hồi được. Bà Nguyệt bị bắt giữ ngay sau đó.
Tại cơ quan điều tra và các phiên tòa, bà Nguyệt đều cho rằng đàn dê do mình bỏ tiền mua, còn trại nuôi dê thì mua lại của bà Nguyễn Thị Lâm. Sau đó do mâu thuẫn gia đình nên bà Nguyệt mới tổ chức bắt dê của mình về chứ không phải trộm dê như cáo trạng nêu.
Còn bà Lê Thị Kim Y cho rằng bà Nguyễn Thị Lâm có bán trại dê cho ông Trần Văn Lý (cha dượng bà Nguyệt) nhưng ông này đã viết giấy tay bán lại cho mình. Bà Y cũng đã sang tên sổ đỏ miếng đất.
Vụ án này kéo dài 8 năm với 12 lần xét xử nhưng vẫn chưa xác định được chính xác chủ sở hữu và đồng sở hữu đối với đàn dê khiến thân phận pháp lý của bà Trần Thị Kim Nguyệt bị treo lơ lửng.
Ngày 12/9, phiên xử lần thứ 12 tại TAND H.Bắc Bình (Bình Thuận) lại tiếp tục hoãn xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, trưng cầu định giá lại đối với đàn dê, triệu tập thêm người bị hại, nhân chứng vụ án và xác định lại chủ sở hữu, đồng sở hữu đối với đàn dê.
VietBao.vn (Theo Tri thức)

Những bí ẩn về ‘cung điện hoan lạc’ của Pháp

Trước khi trở thành dinh tổng thống Pháp, điện Elysee từng được coi là cung điện của hoan lạc vì là nơi ở của tình nhân hoàng đế.

“<>Phòng nhì” của hoàng đế Louis 15
Điện Elysee được xây dựng trong 4 năm, từ 1718 tới 1722, do kiến trúc sư Armand-Claude Mollet thiết kế và giám sát xây dựng trên mảnh đất mà ông bán cho Henri-Louis de la Tour d'Auvergne, bá tước  Évreux. Công trình nằm không xa hoàng cung của vua Pháp này cực kỳ lộng lẫy và tráng lệ với diện tích xây dựng 11.000 m2 và khuôn viên gần 2 ha, có  300 phòng. Tòa cung điện, mang tên chủ nhân của nó là tòa nhà Évreux, được thán phục đến nỗi, vào năm 1753, hoàng đế Louis 15 đã mua nó để tặng cho người đàn bà được ngài sủng ái nhất: nữ hầu tước Pompadour.

Hình ảnh Những bí ẩn về ‘cung điện hoan lạc’ của Pháp số 1
Cung điện Elysee.
Dưới tay người phụ nữ mê làm đẹp, trang trí và có gu thẩm mỹ tinh tế này, cung điện càng được sửa sang, bài trí để trở thành một biểu tượng của cái đẹp và sự xa hoa của cuộc sống cung đình, và thấm đẫm thi vị. Phải nói là cả núi tiền của từ ngân khố Pháp đã được đổ vào cuộc tân trang này để làm đẹp lòng “ái phi”, để chốn hoan lạc của hoàng đế trở nên cực kỳ mời gọi. Tại cung điện này, bà Pompadour đã tổ chức rất nhiều cuộc vui mới lạ và hấp dẫn, khiến nó trở thành nơi mà đức vua muốn đến nhất. Tòa nhà Évreux, chứ không phải hoàng cung, mới thực sự là hậu cung của vua Pháp .
Sau khi nữ hầu tước mất, tòa nhà về tay một nhà tư bản và được sửa sang lần nữa. Sau đó, vào cuối thế kỷ 18, nó lại tiếp tục trở thành sở hữu của một phụ nữ đại quý tộc - nữ công tước  Bourbon - và được đổi theo tên bà, sau đó bà lại đổi thành Elysee, đặt theo tên đại lộ phía trước mặt. Tòa nhà được trang trí theo phong cách “đồng bóng” của bà chủ với ánh đèn mờ ảo với những quả cầu chiêm tinh bí ẩn…

Hình ảnh Những bí ẩn về ‘cung điện hoan lạc’ của Pháp số 2
Hầu tước Pompadour, nữ chủ nhân nổi tiếng nhất của điện Elysee.
Nơi “giải sầu” của Napoleon
Khi cách mạng tư sản Pháp nổ ra vào năm 1793, điện Elysee được nữ công tước Bourbon hiến cho chính phủ cộng hòa trước khi bà bị tống ngục. Công trình xa hoa này được dùng làm nơi đặt nhà in, và khi bà chủ được tha về trong cảnh khánh kiệt, nó được cho thuê tầng trệt để kinh doanh các dịch vụ giải trí, từ cà phê, hòa nhạc đến kịch, diễn thuyết và… nhà nghỉ, dành cho những cặp đôi muốn hưởng cảm giác hoan lạc giữa không khí cung đình.
Năm 1805, điện Elysee thoát khỏi cảnh rẻ rúng đó khi ông Murat, em rể Napoleon, mua lại và sửa sang. Một lần nữa, cung điện này lại trở thành địa chỉ ngọt ngào cho những cuộc hẹn ái tình của chính Napoleon và các người tình để tiêu mối sầu từ cuộc hôn nhân nặng nề với hoàng hậu Josephine, đồng thời để kiếm con nối dõi. Và khi Murat về  Naples nơi ông ta được phong vương, cung điện Elysee trở thành chỗ ở chính thức của Napoleon. Khi ly dị Josephine, hoàng đế Pháp tặng bà cung điện này như một sự bù đắp, nhưng bà không ở, mà chính Napoleon đã ở đây trong những năm trị vì cuối cùng. Sau đó, điện Elysée tiếp tục là nơi ở của các hoàng đế và tổng thống của nước Pháp. Nó vẫn luôn là một trong những công trình được ngưỡng mộ nhất thế giới. Hằng năm, nó được mở cửa vài ngày để đón khách tham quan.
<>Những sự cố bất ngờ
Là nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng điện Elysee cũng xảy ra nhiều sự cố khó tin. Chẳng hạn, một đêm tháng 11 năm 1974, cung điện bị một người đàn ông đột nhập vào để… ngủ.  Anh ta leo qua hàng rào sắt, lẻn vào nằm trên ghế tràng kỷ tại phòng khách bạc. Sau đó hơn nửa năm, sự cố tương tự lại xảy ra: vào lúc sáng sớm có hai người trẻ tuổi lẻn vào và khi bị cảnh sát bắt giữ thì họ khai là vào gặp tổng thống. Một buổi tối cuối năm 1982, một nam sinh viên lại nhảy qua hàng rào sắt để vào cung điện, nhưng anh này thất bại trong việc đột nhập khi bị bắt ngay trong khuôn viên.
Một sự cố gây chấn động khác xảy ra năm 1994, khi ông François de Grossouvre, một người bạn chiến đấu lâu năm của tổng thống Mitterrand, lúc đó đã bị thất sủng, tự sát bằng súng ngay trong cung điện Elysee.
Chính vì thế mà càng ngày, công tác bảo vệ ở điện Elysee càng được hoàn thiện. Và để phòng các sự cố, kế hoạch bảo vệ được thay đổi sau mỗi nửa năm. Những khu nhà gần kề pháo đài được liệt vào dạng cấm khách bộ hành đi qua. Ô tô cũng không được phép đi vào một vài đường phố lân cận.
Trung Thành (tổng hợp)

“<>Phòng nhì” của hoàng đế Louis 15
Điện Elysee được xây dựng trong 4 năm, từ 1718 tới 1722, do kiến trúc sư Armand-Claude Mollet thiết kế và giám sát xây dựng trên mảnh đất mà ông bán cho Henri-Louis de la Tour d'Auvergne, bá tước  Évreux. Công trình nằm không xa hoàng cung của vua Pháp này cực kỳ lộng lẫy và tráng lệ với diện tích xây dựng 11.000 m2 và khuôn viên gần 2 ha, có  300 phòng. Tòa cung điện, mang tên chủ nhân của nó là tòa nhà Évreux, được thán phục đến nỗi, vào năm 1753, hoàng đế Louis 15 đã mua nó để tặng cho người đàn bà được ngài sủng ái nhất: nữ hầu tước Pompadour.

Hình ảnh Những bí ẩn về ‘cung điện hoan lạc’ của Pháp số 1
Cung điện Elysee.
Dưới tay người phụ nữ mê làm đẹp, trang trí và có gu thẩm mỹ tinh tế này, cung điện càng được sửa sang, bài trí để trở thành một biểu tượng của cái đẹp và sự xa hoa của cuộc sống cung đình, và thấm đẫm thi vị. Phải nói là cả núi tiền của từ ngân khố Pháp đã được đổ vào cuộc tân trang này để làm đẹp lòng “ái phi”, để chốn hoan lạc của hoàng đế trở nên cực kỳ mời gọi. Tại cung điện này, bà Pompadour đã tổ chức rất nhiều cuộc vui mới lạ và hấp dẫn, khiến nó trở thành nơi mà đức vua muốn đến nhất. Tòa nhà Évreux, chứ không phải hoàng cung, mới thực sự là hậu cung của vua Pháp .
Sau khi nữ hầu tước mất, tòa nhà về tay một nhà tư bản và được sửa sang lần nữa. Sau đó, vào cuối thế kỷ 18, nó lại tiếp tục trở thành sở hữu của một phụ nữ đại quý tộc - nữ công tước  Bourbon - và được đổi theo tên bà, sau đó bà lại đổi thành Elysee, đặt theo tên đại lộ phía trước mặt. Tòa nhà được trang trí theo phong cách “đồng bóng” của bà chủ với ánh đèn mờ ảo với những quả cầu chiêm tinh bí ẩn…

Hình ảnh Những bí ẩn về ‘cung điện hoan lạc’ của Pháp số 2
Hầu tước Pompadour, nữ chủ nhân nổi tiếng nhất của điện Elysee.
Nơi “giải sầu” của Napoleon
Khi cách mạng tư sản Pháp nổ ra vào năm 1793, điện Elysee được nữ công tước Bourbon hiến cho chính phủ cộng hòa trước khi bà bị tống ngục. Công trình xa hoa này được dùng làm nơi đặt nhà in, và khi bà chủ được tha về trong cảnh khánh kiệt, nó được cho thuê tầng trệt để kinh doanh các dịch vụ giải trí, từ cà phê, hòa nhạc đến kịch, diễn thuyết và… nhà nghỉ, dành cho những cặp đôi muốn hưởng cảm giác hoan lạc giữa không khí cung đình.
Năm 1805, điện Elysee thoát khỏi cảnh rẻ rúng đó khi ông Murat, em rể Napoleon, mua lại và sửa sang. Một lần nữa, cung điện này lại trở thành địa chỉ ngọt ngào cho những cuộc hẹn ái tình của chính Napoleon và các người tình để tiêu mối sầu từ cuộc hôn nhân nặng nề với hoàng hậu Josephine, đồng thời để kiếm con nối dõi. Và khi Murat về  Naples nơi ông ta được phong vương, cung điện Elysee trở thành chỗ ở chính thức của Napoleon. Khi ly dị Josephine, hoàng đế Pháp tặng bà cung điện này như một sự bù đắp, nhưng bà không ở, mà chính Napoleon đã ở đây trong những năm trị vì cuối cùng. Sau đó, điện Elysée tiếp tục là nơi ở của các hoàng đế và tổng thống của nước Pháp. Nó vẫn luôn là một trong những công trình được ngưỡng mộ nhất thế giới. Hằng năm, nó được mở cửa vài ngày để đón khách tham quan.
<>Những sự cố bất ngờ
Là nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng điện Elysee cũng xảy ra nhiều sự cố khó tin. Chẳng hạn, một đêm tháng 11 năm 1974, cung điện bị một người đàn ông đột nhập vào để… ngủ.  Anh ta leo qua hàng rào sắt, lẻn vào nằm trên ghế tràng kỷ tại phòng khách bạc. Sau đó hơn nửa năm, sự cố tương tự lại xảy ra: vào lúc sáng sớm có hai người trẻ tuổi lẻn vào và khi bị cảnh sát bắt giữ thì họ khai là vào gặp tổng thống. Một buổi tối cuối năm 1982, một nam sinh viên lại nhảy qua hàng rào sắt để vào cung điện, nhưng anh này thất bại trong việc đột nhập khi bị bắt ngay trong khuôn viên.
Một sự cố gây chấn động khác xảy ra năm 1994, khi ông François de Grossouvre, một người bạn chiến đấu lâu năm của tổng thống Mitterrand, lúc đó đã bị thất sủng, tự sát bằng súng ngay trong cung điện Elysee.
Chính vì thế mà càng ngày, công tác bảo vệ ở điện Elysee càng được hoàn thiện. Và để phòng các sự cố, kế hoạch bảo vệ được thay đổi sau mỗi nửa năm. Những khu nhà gần kề pháo đài được liệt vào dạng cấm khách bộ hành đi qua. Ô tô cũng không được phép đi vào một vài đường phố lân cận.
Trung Thành (tổng hợp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32