BÍ ẨN KHẢO CỔ 36

(ĐC sưu tầm trên NET)

Bí mật kinh hoàng trong mộ hoạn quan “quái thai” nhất Trung Quốc

Cập nhật lúc 16h34' ngày 24/04
Bí mật trong ngôi mộ đại hoạn quan Lý Liên Anh, Trung Quốc kèm theo nhiều truyền thuyết thần bí.

Khám phá ngôi mộ đại họa quan của Trung Quốc

Lý Liên Anh là đại thái giám nổi tiếng của 04 triều hoàng đế Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự và Tuyên Thống nhà Thanh. Ông ta vốn là người thông minh, lại được Từ Hy thái hậu nhất mực tin tưởng và sủng ái, vì thế ông ta được đặc cách làm quan nhị phẩm. Từ thân phận một tên nô tài thấp hèn, Lý Liên Anh đã leo lên đỉnh cao danh vọng.

Bí mật kinh hoàng trong mộ hoạn quan “quái thai” nhất Trung Quốc
Chân dung đại thái giám nổi tiếng nhà Thanh Lý Liên Anh.
Liên quan đến nhân vật Lý Liên Anh, nhân gian còn lưu truyền rất nhiều truyền thuyết với nhiều màu sắc thần bí khác nhau. Trong đó có một bí mật kinh ngạc vẫn chưa có lời giải trong quan tài của viên đại hoạn quan này.

Sự thật vụ khai quật mộ thái giám hơn 40 năm trước

Tại một nơi góc khuất hẻo lánh phía Tây Nam trong khuôn viên trường “Lục nhất” xưa ở Bắc Kinh có một ngôi mộ cổ. Ít ai nơi đây từng có một ngôi mộ với quy mô hoành tráng như vậy. Chủ nhân của ngôi mộ đó có thân phận đặc biệt. Tuy không phải hoàng thân quốc thích, nhưng cũng là bậc giàu có đệ nhất thiên hạ. Tuy không phải vương hầu tướng quân, nhưng địa vị vô cùng hiển hách. Đó chính là đại thái giám nổi tiếng Lý Liên Anh triều Thanh.
Phần mộ của Lý Liên Anh tọa lạc trên mảnh đất rộng khoảng hơn 20 mẫu kéo dài từ Nam sang Bắc. Điểm cực Bắc là cầu Kim Thủy, từ cầu sang hướng Bắc có một nhà bia đầy khí thế được xây bằng đá ngọc trắng thời Hán.
Đầu mùa hè năm 1966, một đội khoảng 5,6 người bắt đầu tiến hành khai quật mộ của Lý Liên Anh. Ngôi mộ lúc này chỉ còn là một đám đất có hình lô cốt nằm tại một góc hoang vu tại khu Hải Điện, Bắc Kinh. Ròng rã hơn một tuần trời đào liên tục nhưng dường như cả ngôi mộ không hề bị ảnh hưởng gì. Mộ được xây bằng hỗn hợp đất trộn lòng trắng trứng gà, cháo gạo nếp, vôi và đất bazan. Sau hơn một tuần cuối cùng cũng mở được một cái hốc nhỏ trên nóc mộ lộ ra một tầng đá hoa cương. Sau vài nhát búa lớp đá hoa cương vẫn trơ trơ. Mọi người đều cảm thấy rất tuyệt vọng.
Đúng lúc này có một cụ già bước đến, sau khi biết mọi người đang khai quật mộ Lý Liên Anh thì cụ già cảm thấy vô cùng kinh ngạc và nói rằng: "Đừng đào thế vô ích, lại đây ta chỉ cho cách". Cụ già chỉ về hướng bia mộ và nói hãy đào từ đây, phía dưới chính là địa cung, phía sau sẽ là đường chính, lúc nhỏ ta thường chui xuống đó chơi.

"Kim tỉnh ngọc táng" cao quý

Nơi cụ già chỉ gần hai tấm bia đá lớn trước mộ. Sau lớp đất hỗn hợp là một tầng đá răm. Sau khi dọn sạch lớp đá răm sâu gần hai mét có một tảng đá dài màu xanh hiện ra. Trên tảng đá có một cái hốc hình tròn, đây chính là nơi âm dương thông nhau. Tiền thất của ngôi mộ là một khoảnh rộng khoảng 3m hình vuông và được cắt bằng đá ngọc trắng thời Hán. Hai bức tường phía Đông Tây đều được khắc họa những bức tranh vô cùng tinh xảo. Hai bên Nam Bắc đều có cửa. Cửa phía Nam nối với mộ đạo, phía Bắc thông với mộ thất.
Phía sau cửa có một quả cầu đá chặn bên dưới cửa chính. Có một rãnh nhỏ chạy dọc ở dưới, khi cửa đóng lại quả cầu sẽ tự động lăn vào rãnh giống như cái chốt chặn lại nên ở ngoài không thể đẩy vào được.
Quan tài của Lý Liên Anh màu đỏ tím phía đầu vẽ kim hoa vô cùng tinh xảo đã rơi ra khỏi vị trí trên giường ngọc. Phía trên giường đặt quan tài được đúc bằng đá bạch ngọc, trên đục một lỗ tròn, bên trong treo một hầu bao đựng ngọc và một ít tiền bằng đồng. Điều này chứng tỏ Lý Liên Anh được mai táng bằng hình thức “Kim tỉnh ngọc táng” - một hình thức mai táng cao quý thời bấy giờ.
Quan sát xung quanh, trên tường của hầm mộ có rất nhiều những dấu tích màu vàng. Đây có lẽ là vết mỗi khi mộ bị ngập, nước rút để lại vết, và cũng có thể do ngập nước nên quan tài đã bị xê dịch ra khỏi vị trí ban đầu.
Khi bật nắp quan tài, một hình người được xếp nằm ngay ngắn. Có hình đầu, cổ, chân tay và được đắp chăn. Trương Quảng Tri, một giáo viên trường “Lục nhất” là người trực tiếp tham gia khai quật từ đầu đến cuối nhớ lại:
Sau khi lật lớp chăn thì có một lớp bùn đen ở dưới. Khi xem kỹ thì đây thực chất là do lớp mùn do chăn mủn ra. Khi đưa tay vào áo quan để di chuyển thi thể ra bên ngoài thì chiếc giày bên phải tuột ra. Nhìn vào bên trong giống như bông gòn màu đen. Lật tiếp lớp quần áo rất dày với lớp ngoài cùng là một áo khoác dài chưa hề mục nát. Nhưng điều đáng kinh ngạc là không hề tìm thấy xương cốt mà toàn bộ là đồ gần giống bông gòn đen.
Khi xem đến phần eo của cơ thể thì tìm thấy một chuỗi tràng hạt và hơn 50 món kim ngân châu bảo được tùy táng. Phần đầu quan tài tìm thấy một hộp xương sọ với xương gò má cao, hàm răng vẩu, bên ngoài còn bọc một lớp da. Nhìn hiện trạng quan tài và thi thể bên trong vẫn còn trong tình trạng nguyên vẹn hoàn hảo, điều này chứng tỏ chưa có ai từng đến đây. Một câu hỏi lớn được đặt ra tại sao trong quan tài chỉ có phần xương sọ mà không tìm thấy xương cốt phần thân và Lý Liên Anh đã chết vì nguyên nhân gì?

Bí ẩn khó giải về cái chết của Lý Liên Anh

Cùng lật lại lịch sử, tháng 10 năm 1908, Từ Hy thái hậu qua đời. Trong “Lý thị gia phả” có ghi rằng “Bách nhật hiếu mãn, xuất cung dưỡng lão” (tức đợi sau 100 ngày mất của Từ Hy thì Lý Liên Anh đã xuất cung về quê dưỡng lão). Sau khi trở về nhà riêng ở ngõ Miên Hoa, Bắc Kinh, Lý Liên Anh cả ngày chỉ ăn chay, niệm Phật không đi ra ngoài. Ba năm sau, ông ta cũng đi theo hầu Từ Hy. Theo hậu duệ của Lý gia, Lý thái giám chết vì bệnh kiết lỵ. Sau khi mắc bệnh 3, 4 hôm không chịu chữa trị thì qua đời. Nhưng tìm trong hồ sơ và mộ chí minh của triều Thanh thì chỉ thấy ghi vẻn vẹn có một chữ “chết” mà không rõ nguyên nhân.
Nếu căn cứ theo việc khai quật mộ thì rất có thể Lý Liên Anh đã bị giết, vậy ai đã giết ông ta và mục đích gì, có ba cách giải thích sau:
Thứ nhất do bị giết. Vì trong cuộc chiến giữa Từ Hy và hoàng đế Quang Tự ông ta đã ủng hộ thái hậu và đả kích hoàng đế. Nhưng quan điểm này đã vấp phải sự phản đối của nhiều học giả. Lý Liên Anh chưa từng tham gia vào cuộc chiến trong triều đình. Chính vì thế ông ta không thể đắc tội với họ được. Hơn nữa, sau khi Từ Hy chết ông ta đã xuất cung ba năm về ở ẩn không còn ảnh hưởng gì đến triều đình nên có giết ông ta cũng không mang lại lợi ích gì.
Thứ hai là do Giang Triều Tông và Tiểu Đức Trương giết. Cách giải thích này chủ yếu là quan điểm của cá nhân Nhan Nghi Dân. Thậm chí trong văn chương của mình, ông đã dẫn ra chi tiết rằng khi Giang Triều Tông nhậm chức đề đốc Cửu Môn đã mời Lý Liên Anh dùng cơm, sau đó phái người giết chết ông ta ở Hậu Hải, Bắc Kinh.
Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng Giang Triều Tông là thân tín của Viên Thế Khải. Lý Liên Anh từng đắc tội với Viên Thế Khải nên có thể ông ta đã hạ lệnh cho thân tín giết Lý thái giám. Còn Tiểu Đức Trương vốn là hậu nhiệm của Lý Liên Anh, vì tranh giành gia sản mà nảy sinh động cơ giết ông ta. Nhưng cách giải thích này cũng bị các học giả phản đối vì năm thứ hai Tuyên Thống Giang Triều Tông đang nhậm chức tổng binh ở thị trấn Hán Trung, Thiểm Tây. Mãi đến năm 1912 mới quay về Bắc Kinh nhậm chức tư lệnh cảnh vệ Bắc Kinh chính phủ Bắc Dương. Việc ông ta ở xa hàng nghìn dặm không thể nào lại mời Lý Liên Anh ăn cơm để mưu sát được. Hơn nữa về việc công, giữa hai người không hề có xung đột gì quá lớn nên động cơ giết người để trả thù là không tồn tại.
Thứ ba, trên đường đi đòi nợ ở Sơn Đông, Lý Liên Anh đã bị thổ phỉ giết chết. Về quan điểm này cũng có rất nhiều chuyên gia cảm thấy nghi ngờ. Với địa vị và sự giàu có của Lý Liên Anh thì tại sao ông ta lại phải đích thân đi đòi nợ? Những người ủng hộ quan điểm này thì giải thích rằng, Lý Liên Anh có người cháu gái gả cho một gia đình ở huyện Vô Lệ, Sơn Đông. Ông ta đã từng đi thăm cháu gái, tiện đường đi vãn cảnh núi Thái Sơn. Khi đi đến nơi tiếp giáp giữa Sơn Đông và Hà Bắc thì bị giết. Hai tên thị vệ theo hầu thì sợ hãi tột cùng chỉ kịp nhặt được thủ cấp của Lý Liên Anh tháo chạy về kinh.
Nhưng đây chỉ là những tương truyền trong dân gian còn trong sử sách thì ghi chép không rõ ràng. Hơn nữa sự thiếu logic trong những cách mà người đời nói về Lý Liên Anh chỉ làm cho cái chết của ông ta thêm muôn màu kì bí. Cho dù là cách giải thích nào thì việc thi thể không nguyên vẹn trong quan tài của Lý Liên Anh là sự thật. Bí mật về nguyên nhân cái chết của ông ta có thể một ngày nào đó sẽ được tìm ra, nhưng cũng có thể mãi mãi chìm trong bóng đêm của quá khứ lịch sử.

Phát hiện mộ đại thi hào Cervantes

Cập nhật lúc 12h50' ngày 18/03
Các nhà khoa học Tây Ban Nha hôm qua khẳng định đã thấy nơi chôn cất đại thi hào Cervantes, tác giả cuốn tiểu thuyết kinh điển "Don Quixote".

Tìm thấy quan tài của đại thi hào Cervantes

Phát hiện mộ đại thi hào Cervantes
Các chuyên gia đang kiểm tra những vật liệu được tìm thấy tại hầm mộ tu viện Trinitarians. (Ảnh: EPA)
Tại cuộc họp báo ở thủ đô Madrid, Tây Ban Nha, nhóm nghiên cứu do Francisco Etxeberria dẫn đầu tự tin thông báo rằng họ đã tìm thấy quan tài của Cervantes trong hầm mộ của tu viện Trinitarians, gần 400 năm sau khi nhà văn qua đời. Các ghi chép lịch sử chỉ ra rằng Cervantes được chôn cất tại khu vực này, nhưng thi thể ông bị thất lạc khi xây dựng tu viện.
"Chúng tôi đã tìm thấy Cervantes. Nhưng không may xương cốt đã bị phân mảnh và phân hủy", CNN dẫn lời phát biểu của Etxeberria trên truyền hình quốc gia. Hiện chưa có bằng chứng chính xác hoặc thử nghiệm ADN để xác minh các kết quả này, nhưng có "nhiều điểm trùng hợp và không có yếu tố thiếu nhất quán" khi xác định Osario 32, một ngôi mộ chung trong hầm mộ chứa hài cốt của 16 người.
Theo Etxeberria, quá trình tìm kiếm bắt đầu từ năm ngoái. Nhờ áp dụng công nghệ radar, camera hồng ngoại và máy quét 3D, họ định hình khoảng 30 hốc chôn trên các bức tường và vị trí cách mặt sàn nhà thờ khoảng 5 m.
Cervantes sinh năm 1547 tại Madrid. Ông là tác giả cuốn tiểu thuyết kinh điển Don Quixote of La Mancha (Don Quixote, nhà quý tộc tài ba xứ Mancha) và được coi là cha đẻ của tiểu thuyết hiện đại. Đại thi hào qua đời vào ngày 23/4/1616.
Trước đó, các nhà khoa học từng hy vọng công việc của họ sẽ hoàn thành trước năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày mất của hai đại văn hào thế giới là Cervantes và Shakespeare.

Phát hiện lăng mộ của "Thần Chết"

Cập nhật lúc 08h33' ngày 09/01
Mới đây, các nhà khảo cổ học tại Ai Cập đã bất ngờ phát hiện ra một ngôi mộ của thần chết Osiris – thần của các vị thần Ai cập cổ đại.
Cấu trúc khác thường này được khai quật tại nghĩa địa Al-Gorna trên bờ tây sông Nile với niên đại khoảng 760 đến 525 TCN. Lăng mộ bao trùm bởi màu đen óng, có lối cầu thang được cắt vuông vắn cùng với trần hình vòm. Trên các bức tường, các tấm phù điêu ma quỷ và biểu tượng thần Osiris được đặt khắp nơi.
Phát hiện lăng mộ của "Thần Chết"
Phát hiện lăng mộ của "Thần Chết"
Lăng mộ thần Orisis được phát hiện tại nghĩa địa Al-Gorna, bờ tây sông Nile.
Tại trung tâm lăng mộ là bức tượng thần Osiris. Dưới bức tượng là một phòng chôn cất sâu 9m liên kết người chết với vị thần này. Trong lăng mộ, còn có một cầu thang dẫn tới thế giới ngầm và một hành lang trống tượng trưng cho con sông.
Đi về phía hành lang hướng Tây của ngôi mộ còn có 2 căn phòng bí ẩn mà đến nay các nhà khảo cổ vẫn chưa khám phá hết.
Phát hiện lăng mộ của "Thần Chết"
Sơ đồ lăng mộ của thần Orisis cùng 2 căn phòng bí mật.
Phát hiện lăng mộ của "Thần Chết"
Thần Orisis cai trị thế giới người chết.
Theo thần thoại Ai Cập, Osris là con trai cả của vị thần Trái Đất Geb, cai trị thế giới người chết và cũng là thần mang lại sự sống dưới dạng cây cỏ và lũ lụt màu mỡ ở sông Nile.
Ông được miêu tả là một người đàn ông râu quai nón, da xanh lá cây cùng đôi chân được ướp xác. Osris thường đội một chiếc vương miện nhọn gắn lông đà điểu, một cái móc và một chiếc đòn.

Phát hiện ngôi mộ của vua Herod

Cập nhật lúc 10h26' ngày 08/05
(Ảnh: vidyya)Các nhà khoa học Israel đã tìm thấy ngôi mộ của Herod vĩ đại - vị hoàng đế Do Thái trong đế chế La mã ở thành Judea cổ đại. Phát hiện được tìm thấy tại Herodium, nơi cung điện kiêm pháo đài của Herod từng ngự trị, cách thành phố thánh nơi ông đã xây lại và mở rộng ngôi đền Do Thái khoảng 12 km.
Herod đã ra lệnh tàn sát những đứa trẻ vô tội, nhằm giết hết những cậu con trai mới lớn tại nơi sinh của Jesus ở Bethlehem, do lo ngại rằng sẽ bị mất ngôi bởi một vị vua Do Thái mới. Theo sách phúc âm, Joseph và Mary cùng đứa con Jesus đã chạy trốn thoát sang Ai Cập.
Triều đình La Mã đã phong cho Herod là vua Do Thái vào khoảng năm 40 trước Công nguyên. Herod chết năm 4 trước Công nguyên.
M.T.

Phát hiện "bồn tắm của Chúa"

Cập nhật lúc 10h37' ngày 06/06
Các nhà khoa học Australia vừa phát hiện một hồ nước trong vắt như pha lê, chưa từng chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu và bất kỳ tác động nào của con người.
Hồ nước đặc biệt trên hiện được đặt tên là hồ Xanh. Nó là một trong những hồ lớn nhất trên đảo North Stradbroke, ngoài khơi phía nam bang Queensland, Australia.
Hãng thông tấn AAP dẫn lời tiến sĩ Cameron Barr tuyên bố: "Hồ Xanh đẹp tuyệt vời. Nó như chiếc bồn tắm của Chúa".
Ông Barr cùng các cộng sự đến từ trường Đại học Adelaide cho biết, nước hồ trong đến mức bạn có thể nhìn thấy đáy hồ, nằm sâu dưới 9 mét nước.
Phát hiện "bồn tắm của Chúa"
Hồ xanh vẫn giữ nguyên trạng như cách đây 7.500 năm. (Ảnh: AAP)
"Dường như hồ Xanh là "nơi trốn tránh" sự biến đổi khí hậu quan trọng của hệ thống sinh vật nước ngọt trong khu vực. Hồ vẫn giữ được nguyên trạng như cách đây 7.500 năm", tiến sĩ Barr nhận định. Nhà nghiên cứu này nói, hồ Xanh là hồ duy nhất thuộc dạng này từng được phát hiện ở Australia.
Để đưa ra các kết luận trên, nhóm nghiên cứu đã xem xét kỹ lưỡng chất lượng nước hồ, hóa thạch của phấn hoa và tảo, rồi so sánh với những bức ảnh chụp các khu vực lân cận trên đảo trong hơn 117 năm qua.
Họ nhận thấy, nhiều hồ khác gần đó đã khô cạn trong 40 năm qua do sự biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nước trong hồ Xanh vẫn không thay đổi vì nước hồ thoát ra một đầm lầy gần đó và được thay thế nhờ một tầng ngập nước cứ khoảng 35 ngày một lần.
Ông Barr lý giải, do quá trình thoát và bù đắp nước tự nhiên xảy ra liên tục nên hồ Xanh không phải hứng chịu các tác động của sự biến đổi khí hậu. Nước hồ cũng không bị bốc hơi và trở nên mặn hơn.
Ngoài ra, tình trạng của hồ vẫn còn nguyên vẹn vì không có dấu vết tác động của con người. Theo các nhà nghiên cứu, ngay cả những thứ nhỏ như chút ít kem chống nắng của du khách rớt xuống cũng có thể thay đổi đặc tính hóa học của hồ.

Phát hiện hồ của thần Cupid

Cập nhật lúc 15h35' ngày 22/04
Bắc Cực, một địa điểm không tưởng cho sự lãng mạn, thế nhưng Trái đất lại chọn nơi đây để lưu lại dấu ấn của thần tình yêu. 
Hồ trái tim độc đáo ở Bắc Cực.
Thiên nhiên đã khéo léo tạc nên chiếc hồ hình trái tim “lộng lẫy” trên Spitsbergen, hòn đảo lớn nhất của quần đảo Svalbard, nằm giữa Nauy và Bắc Cực. Các khối băng tụ lại ở dòng sông băng khiến mặt đất bị lõm xuống, tạo ra một hố sâu 30m hình trái tim. Khi băng tan, khối hình này được lấp đầy bởi nước mưa và tuyết tan, tạo thành hồ nước độc đáo.
Nhiếp ảnh gia người Pháp Bruno Mazodier đã có mặt trong giờ phút chuyển giao mùa và ghi lại hình ảnh "hồ Cupid" vào lúc lộ diện trước ánh nắng mặt trời.

Tiến sĩ Bryn Hubbard, ĐH Aberystwyth, cho biết: “Hiện tượng dòng sông băng ở chuỗi đảo này đã biến mất và những gì mà nó để lại thật phi thường. Sẽ khó có thể tìm thấy một chiếc hồ trái tim thứ hai trên thế giới”.
Quần đảo có "hồ Cupid" là quần đảo có người ở gần cực nhất, mặc dù số người ở đây vẫn ít hơn số lượng loài gấu trắng Bắc Cực.

Phát hiện nơi sinh của thần Zeus

Cập nhật lúc 12h40' ngày 12/02
Vị thần sấm sét trong thần hoại Hy Lạp có khởi nguồn từ mặt đất, và các nhà khoa học cho rằng cuối cùng họ đã biết được nơi bắt nguồn.
Theo một nhóm các nhà khảo cổ Mỹ và Hy Lạp, người Hy Lạp cổ đại lần đầu tiên thờ phụng thần Zeus quyền năng tại một điện thờ trên núi Lykaion. Trong một lần khai quật mới đây tại địa điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát hiện những đồ nghi lễ thường được sử dụng trong hoạt động thờ cúng và có niên đại trên 3 thiên niên kỷ. Đây chính là bằng chứng sớm nhất về sự xuất hiện của thần Zeus tại Hy Lạp.

Khám phá này thách thức quan điểm cho rằng việc tôn thờ thần Zeus bắt đầu trên hò đảo Crete của Hy Lạp, nơi đây đã được ít nhất một nhà sử học cổ đại đặt tên là nơi sinh thần thoại của thần. Những phát hiện mới nhất trên núi Lykaion thuộc tỉnh Arcadia cũng lâu đời như chính khái niệm về thần Zeus, theo nhà khoa học David Romano thuộc đại học Pennsylvania.

Romano cho biết: “Bằng chứng mới này cho thấy có những bữa tiệc đã diễn ra trên đỉnh núi cách đây khoảng 3.300 đến 3.400 năm trước”.

Sự tôn thờ thần sấm sét vẫn còn nguyên vẹn

Thần Zeus là nhân vật quan trọng nhất trong thần thoại Hy Lạp cổ đại. Ngài là đáng cai trị tối cao của đỉnh Olympus, chúa của bầu trời và là cha của những vị thần và con người khác, ví dụ như Athena, Apollo, Heracles, Aphrodite và Helen của thành Troy, theo truyền thuyết kể lại.

Nhân vật anh hùng này được sinh ra hoặc là ở đảo Crete hoặc trên núi Lykaion, theo hai nguồn thông tin được viết vào thời cổ đại. Trong khi truyền thuyết là như thế, các nhà sử học và các nhà khảo cổ học vẫn luôn hứng thú với công việc tìm kiếm những nhân tố trong câu chuyện ít nhất cũng được dựa trên sự thực.

Mặt trái của đồng bạc xtato, Zeus Lykaios ngồi trên ngai vàng với con đại bàng đậu trên tay trái. Đồng bạc có đường kính 2 cm, niên đại vào thế kỷ 5 trước Công nguyên. (Ảnh: Image courtesy of University of Pennsylvania Museum)
Mặc dù đền thờ thần Zeus, trong đó có một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại, được tìm thấy ở trên khắp Hy Lạp. Nơi sinh thành của thần Zeus có thể là nơi mà những người Hy Lạp lần đầu tiên tôn thờ ngài.

Khi khai quật một căn hầm trên núi Lykaion, nơi mà các nhà sử học Hy Lạp cổ đại sau này gọi là “án thờ tro của thần Zeus”, các nhà khảo cổ học phát hiện trên 50 đồ chứa nước, các phần của những bức tượng người và động vật, cùng với xương của dê và cừu bị cháy. Tất cả những đồ tạo tác này phù hợp với những nghi lễ thờ cúng của người Mycenae định cư tại Hy Lạp cách đấy xấp xỉ 3.000 đến 4.000 năm.

Một phần của những đồ đạc này được nhóm nghiên cứu công bố sơ bộ vào năm ngoái.

Các án thờ trên đỉnh núi của người Mycenae rất hiếm thấy ở phần lãnh thổ chính của Hy Lạp, theo các nhà khảo cổ học. Giai đoạn này cũng trùng khớp với những đề cập lịch sử đầu tiên về thần Zeus trong những trang văn tự Hy Lạp. Điều đó cho thấy các nghi lễ trên núi Lykaion chính là để vinh danh ngài.

Tập tục tôn thờ thần Zeus đã trở nên phổ biến hơn trên núi Lykaion trong thời Hy Lạp cổ đại, theo nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khảo cổ học thuộc đại học Pennsylvania, Arizona và Dịch vụ khảo cổ học Hy Lạp.

Những căn hầm mới hơn và cao hơn còn có các đồng xu bạc, một cánh tay bằng đồng thiếc cầm bó sấm sét; những lần khai quật trong quá khứ cũng về những tia sét bằng đá. Tất cả những đồ vật trên đều mang một lời khẳng định về thần Zeus, từ đó cho thấy việc sử dụng các án thờ thần trên núi Lykaion vẫn không hề thay đổi trong suốt vài thiên niên kỷ.

Thần thoại và lịch sử


Mối liên hệ giữa thần thoại và lịch sử dường như không áp dụng đơn độc trong trường hợp Hy Lạp cổ đại. Nhiều nền văn hóa cổ đại cũng tồn thờ các vị lần có mối liên hệ cả với thế giới vật chất và tinh thần.

Hình ảnh xe ngựa của Zeus từ “Những câu chuyện bi kịch Hy Lạp” năm 1879 của Afred Church
Những địa điểm trong thực tại được đề cập đến trong văn tự thần thoại về thần thánh thường trở thành nơi tôn thờ hay các đền điện ví dụ như núi Lykaion và ngược lại. Điều này đặc biệt đúng với các nơi sinh thành hay nhà của thần thánh, ví dụ như:

Heliopolis, Ai Cập: Mặc dù đã bị phá hủy và nuốt chửng phần lớn bởi sự mở rộng của Cairo hiện đại, thành phố Heliopolis cổ đại một thời là trung tâm tôn thờ thần Ra của Ai Cập, đây là vị thần Mặt Trời tối cao. Ra băng hà vào buổi tối và được tái sinh vào mỗi sáng, theo truyền thuyết, ngài nằm trên con thuyền trôi nổi cả đêm dưới địa ngục.

Kilauea, Hawaii: Ngọn núi lửa thiêng liêng trên Đảo Lớn của Hawaii vừa đáng sợ (bởi nó là ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất trên hành tinh) và được sùng kính bởi nó là nhà của Pele, thần Lửa của Hawaii. Khách du lịch nếu bất kính với Kilauea hay lấy đá từ ngọn núi sẽ khiến thần Pele nổi giận và sẽ nguyền rủa những con người xấu số.
Teotihuacan, Mexico: Địa danh quan trọng nhất của Aztecs thời kỳ trước Colombia đồng thời là thành phố chính của thế giới, Teotihuacan cũng là trung tâm thờ phụng thần rắn có lông vũ Quetzalcoatl, Đấng sáng thế của Aztec. Thần thoại Aztec kể rằng tại ngôi đền trên địa danh này, thần Quetzalcoatl lần đầu tiên có lông vũ gắn lên cơ thể giống loài rắn của mình.

Phát hiện mới về nơi sinh của Đức Phật

Cập nhật lúc 14h30' ngày 26/11
(khoahoc.tv) - Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Đây là tài liệu khảo cổ học đầu tiên liên kết cuộc đời của Đức Phật – và là bông hoa đầu tiên của Phật giáo – với một thế kỷ cụ thể.
Các cuộc khai quật tiên phong trong khu vực đền thiêng Ma gia (Maya Devi Temple) tại Lâm Tỳ Ni (Lumbini), Nepal, một kì quan của thế giới được UNESCO công nhận từ lâu là nơi sinh của Đức Phật, khám phá ra phần còn lại chưa được biết đến về thế kỷ thứ 6 trước công nghuyên, cấu trúc gỗ nằm dưới một loạt các ngôi đền bằng gạch. Bố trí trên cùng với thiết kế giống những thứ nằm ở trên, cấu trúc gỗ gồm có một không gian mở trong vùng trung tâm liên quan tới câu chuyện về sự ra đời của chính Đức Phật.
Cho đến nay, các bằng chứng khảo cổ học sớm nhất về kiến trúc Phật giáo tại Lumbini có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, thời điểm thuộc sự bảo trợ của Hoàng đế Asoka, người đã thúc đẩy sự truyền bá đạo Phật từ Afghanistan tới Bangladesh ngày nay.
“Cho tới nay thì chúng ta còn biết rất ít về cuộc đời của Đức Phật, ngoại trừ thông qua các văn tự còn lại và truyền miệng”, giáo sư khảo cổ học, ông Robin Coningham thuộc Đại học Durham, Anh, đồng tác giả dẫn đầu nghiên cứu này cho biết. Ông cho hay, một số học giả cho rằng, Đức Phật được sinh ra trong thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. “Chúng tôi nghĩ tại sao lại không trở lại với khảo cổ học để tìm ra các câu trả lời về nơi sinh của Ngài?” Giờ đây, lần đầu tiên chúng tôi có một chuỗi khảo cổ tại Lumbini, cho thấy các công trình ở đó có tuổi vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.
Một nhóm các nhà khảo cổ học quốc tế, dẫn đầu bởi Coningham và Kosh Prasad Acharya thuộc tổ chức Pashupati Area Development Trust tại Nepal cho biết, phát hiện này đóng góp vào sự hiểu biết rộng hơn về sự phát triển ban đầu của phật giáo cũng như tầm quan trọng về tinh thần của Lumbini. Những kết quả nghiên cứu được trình bày trên tạp chí quốc tế Antiquity vào tháng 12/2013 tới. Nghiên cứu được hỗ trợ một phần bởi Hiệp hội địa lý quốc gia (National Geographic Society).
Phát hiện mới về nơi sinh của Đức Phật
Các nhà khảo cổ bên ngôi đền
Để xác định niên đại của ngôi đền gỗ và các cấu trúc bằng gạch gần đây chưa được biết đến nằm trên nó, các mảnh than và cát vỡ đã được kiểm tra bằng việc sử dụng sự kết hợp các kỹ thuật phân tích carbon phóng xạ và các kỹ thuật quang học phát xạ kích thích. Nghiên cứu khảo cổ địa chất cũng đã xác định sự có mặt của các rễ cây cổ đại trong khoảng trống trung tâm của ngôi đền.
“UNESCO rất tự hào vì được liên kết với phát hiện quan trọng này tại một trong số những nơi linh thiêng nhất đối với một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới”, tổng giám đốc UNESCO Irina Bokova cho biết. Bà hi vọng các nghiên cứu khảo cổ học sẽ được tiến hành nhiều hơn và sẽ tăng cường công tác bảo tồn và quản lý vị trí này để đảm bảo sự bảo vệ của Lumbini.
“Những phát hiện này là rất quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về nơi sinh của Đức Phật”, Ram Kumar Shrestha – bộ trưởng Văn hóa, du lịch và hàng không dân dụng của Nepal nói. “Chính phủ Nepal sẽ nỗ lực hết sức để bảo vệ vị trí quan trọng này”.
Các ghi chép truyền thống của phật giáo ghi lại rằng hoàng hậu Maya Devi, mẹ của Đức Phật, đã sinh ra Ngài trong lúc đang vin vào một cành cây trong vườn thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nằm giữa các vương quốc của chồng bà và của bố mẹ bà. Coningham và các đồng nghiệp của ông cho rằng không gian mở ở trung tâm của đền gỗ là nơi mọc của một cái cây. Các ngôi đền gạch được xây dựng sau nằm trên ngôi đền gỗ cũng được bố trí xung quanh không gian trung tâm này, nơi không có mái.

Bốn địa điểm Phật giáo chính

Lâm Tỳ Ni là một trong những địa điểm chủ chốt liên quan đến cuộc đời của Đức Phật, những vị trí khác là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), nơi ông trở thành một vị Phật hay một người giác ngộ: Sarnath, nơi ông lần đầu tiên rao giảng, và thành Câu-thi-la, nơi Đức Phật qua đời. Đức phật đã qua đời ở tuổi 80. “Ngôi đền vẫn còn ở giữa thiên niên kỷ đầu tiên và được ghi chép lại bởi những kẻ hành hương người Trung Quốc, rằng có một ngôi đền bên cạnh một cái cây”.
Đền Maya Devi tại Lumbini vẫn còn đến ngày nay, các nhà khảo cổ đã làm việc cùng với các thiền tăng, ni và các khách hành hương.
Trong một bài báo khoa học tại Antiquity, các tác giả viết: “Chuỗi công trình tại Lâm Tỳ Ni là một mô hình thu nhỏ cho sự phát triển của Phật giáo từ một giáo phái địa phương tới một tôn giáo toàn cầu”.
Bị biến mất và nằm trong các rừng rậm của Nepal trong thời kỳ trung cổ, Lumbini cổ xưa đã được tái phát hiện vào năm 1896 và đã được xác định với tư cách là nơi sinh của Đức Phật trên các bảng kê khai của sự hiện diện của một cột đá sa thạch thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Cột trụ này, vẫn đứng vững, mang một dòng chữ ghi lại một chuyến thăm của Hoàng đế Asoka tới nơi đã sinh ra Đức phật cũng như tên của nơi này – đó là Lumbini.
Bất chấp sự phát hiện lại các vị trí quan trọng của phật giáo, các cấp sớm nhất của các công trình này đã bị chôn vùi sâu hoặc bị hủy hoại bởi những công trình xây dựng sau, để bằng chứng về các giai đoạn đầu của Phật giáo là không thể tiếp cận để điều tra khảo học cho đến ngày nay. Nửa tỷ người trên thế giới là Phật tử, và mỗi năm có hàng trăm ngàn cuộc hành hương tới thánh địa Lumbini. Nghiên cứu khảo cổ có sự tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản hợp tác với chính phủ Nepal, theo một dự án của UNESCO nhằm tăng cường việc bảo tồn và quản lý Lumbini. Cùng với Hiệp hội Địa lý Quốc gia, nghiên cứu cũng được hỗ trợ bởi Đại học Durham và Đại học Stirling
Các đồng tác giả của nghiên cứu là Coningham và Acharya, Strickland, CE Davis, MJ Manuel, IA Simpson, K. Gilliland, J. Tremblay, TC Kinnaird và D.C.W. Sanderson.
Một tài liệu nghiên cứu về cuộc đời Đức Phậtcủa Coningham, "Các bí mật chôn cất của Đức Phật", sẽ ra mắt vào tháng 2 trên kênh National Geographic

Phát hiện mới về nguồn gốc của lúa gạo

Cập nhật lúc 13h53' ngày 05/05
Trên số mới nhất của Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (PNAS), một nhóm các nhà nghiên cứu phát hiện lúa gạo có thể đã xuất hiện lần đầu vào khoảng 9.000 năm trước ở thung lũng sông Dương Tử của Trung Quốc theo kết quả một nghiên cứu về lịch sử tiến hóa hàng ngàn năm thông qua phân tích trình tự gen lúa gạo ở quy mô lớn.
Lúa châu Á, Oryza sativa, là một trong những loài cây trồng lâu đời nhất và rất đa dạng với hàng chục ngàn giống được biết đến trên toàn thế giới. Hai phân loài lớn của lúa là japonica và indica đại diện cho hầu hết các giống lúa của thế giới. Vì lúa gạo rất đa dạng, nguồn gốc của nó là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận khoa học. Một giả thuyết cho rằng indica và japonica đã được thuần hóa từ lúa hoang O. rufipogon. Ngược lại, một giả thiết đề xuất rằng hai phân loài lúa này đã được thuần hóa riêng biệt ở nhiều vùng khác nhau của châu Á nhờ các quan sát cho thấy sự khác biệt di truyền giữa indica và japonica và kết quả kiểm tra mối quan hệ tiến hóa giữa các giống lúa thuần ở Ấn Độ và Trung Quốc.

Hình ảnh ruộng lúa Việt Nam chuẩn bị mùa thu hoạch (Ảnh: IAEA.org)
Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu công bố trước đây (cho rằng lúa indica và japonica có nguồn gốc riêng biệt) và đánh giá lại sự phát sinh loài của lúa gạo bằng các thuật toán hiện đại hơn. Cuối cùng, họ kết luận hai loài lúa này có cùng một nguồn gốc vì chúng có mối quan hệ di truyền gần gũi với nhau hơn bất kỳ loài lúa hoang dã khác tìm thấy tại Ấn Độ hoặc Trung Quốc.
Ngoài ra, các tác giả đã kiểm tra phát sinh loài của lúa thuần bằng cách sắp xếp lại 630 đoạn gen trên nhiễm sắc thể lựa chọn từ một tập hợp đa dạng các giống lúa hoang dại và thuần hóa bằng mô hình trước đây đã được sử dụng để xem xét dữ liệu di truyền tiến hóa của con người. Kết quả sắp xếp dữ liệu cho thấy chuỗi gen phù hợp với một nguồn gốc duy nhất của lúa. Các nhà khoa học cũng đã sử dụng một "đồng hồ phân tử" của các gen lúa để xác định sự tiến hóa của lúa. Tùy thuộc vào cách hiệu chỉnh các đồng hồ phân tử này, các nhà nghiên cứu xác định sự xuất hiện của lúa trồng có thể từ 8.200 năm trước, trong khi japonica và indica cách nhau khoảng 3.900 năm trước. Kết quả của nghiên cứu này nhất quán với những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy lúa thuần ở thung lũng sông Dương Tử xuất hiện khoảng 8.000 đến 9.000 năm trước trong khi lúa thuần trong khu vực sông Hằng của Ấn Độ là khoảng 4.000 năm trước.
Theo Michael Purugganan, nhà sinh vật học, đồng tác giả nghiên cứu thì "khi lúa thuần được thương nhân và nông dân di cư đưa từ Trung Quốc sang Ấn Độ, nó có khả năng lai rộng rãi với lúa hoang địa phương. Vì vậy, lúa thuần mà chúng ta nghĩ rằng có nguồn gốc ở Ấn Độ thực sự có sự khởi đầu tại Trung Quốc” và" lúa gạo có một lịch sử tiến hóa phức tạp cùng với con người và nó đã đi theo họ khi họ di chuyển khắp châu Á”, theo ông Barbara A. Schaal, Mary-Dell Chilton giáo sư sinh vật học của Đại học Washington ở St Louis, người cũng là một đồng tác giả.

Vén màn số phận kinh hoàng của nữ thần sắc đẹp Aphrodite

Cập nhật lúc 11h07' ngày 13/05
Mới đây các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ in ấn 3D để mô phỏng suy đoán về vị trí của 2 cánh tay bị mất của tượng nữ thần Venus, và đã phát hiện ra số phận "kinh hoàng" của thần Vệ Nữ Hy Lạp cổ đại.


     
    Tượng thần Vệ Nữ thành Milo là một tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại nổi tiếng trên thế giới, khắc hoạ Aphrodite - vị nữ thần tình yêu và sắc đẹp của người Hy Lạp. Tượng được điêu khắc trên chất liệu cẩm thạch, hơi lớn hơn người thật với chiều cao 203 cm, nhưng đã mất hai tay và bệ nguyên bản. Và tư thế của tượng nữ thần Milo vẫn còn là một bí ẩn kể từ khi bức tượng được phát hiện hơn từ 200 năm trước đây tại một hòn đảo của Hy Lạp.
    Vén màn số phận kinh hoàng của nữ thần sắc đẹp AphroditeCác nhà khoa học giải mã tư thế cánh tay bị mất của tượng nữ thần Venus nhờ vào công nghệ in 3D
    Một nhà văn Mỹ đã cho rằng bức tượng nữ thần sắc đẹp mất tay này có thể đã từng giữ một tấm gương, một cây giáo hay một quả táo, nhưng cho đến nay giả thuyết đó đã được kiểm chứng lại và xác nhận rằng tượng nữ thần Aphrodite có thể đã được khắc họa trong tư thế đang quay tơ, kéo sợi.
    Một nhà thiết kế tại San Francisco đã tái hiện lại tác phẩm điêu khắc với hình dáng của một người đang quay tơ - đó là một công việc phổ biến của những cô gái mại dâm ở Hy Lạp thời cổ đại.
    Elizabeth Wayland Barber cho rằng tư thế của bức tượng đang được trưng bày trong viện bảo tàng Louvre ở Paris, đã mô tả một dáng đứng quen thuộc của nhiều phụ nữ vào năm 100 trước công nguyên. Đặc biệt là những cô gái mại dâm “miệt mài” với công việc quay sợi để “ngụy trang” sự bận rộn của mình trong khi đợi khách.
    Cosmo Wenman đã thực hiện dựng hình 3D để chứng minh tư thế của bức tượng theo yêu cầu của nhà văn Virginia Postrel. Các nhà thiết kế và nghệ sĩ dựa trên mô hình bức tượng chụp 3D của ông kết hợp nghiên cứu chi tiết trên 1850 tượng thạch cao khác được trưng bày tại Skulpturhalle Basel ở Thụy Sĩ, để giải mã bí ẩn về vị trí 2 cánh tay của thần Vệ Nữ Venus.
    Vén màn số phận kinh hoàng của nữ thần sắc đẹp AphroditePhát hiện kinh hoàng về số phận 'gái mại dâm' ẩn sau bức tượng nữ thần Venus
    Nghiên cứu bằng hình ảnh 3D với tượng nữ thần Venus là một nền tảng giúp đa dạng hóa tư thế của cánh tay Vệ Nữ một các tự nhiên nhất. Tôi trực tiếp sao chép các dụng cụ và ghép vào tay trái của Aphrodite từ một bức tranh bình đặc biệt tại Bảo tàng Anh. Tôi cũng dựa trên tư thế hơi cúi của nữ thần Venus tại Bảo tàng Anh để nảy ra các ý tưởng về các kiểu đặt tay khác nhau của bức tượng”, Wenman cho biết.
    Nhóm nghiên cứu dự kiến sử dụng mô hình kỹ thuật số của Wenman để tạo thành một bản sao để bàn bằng nhựa nhờ vào công nghệ in ấn hình 3D. Các công cụ liên quan đến công việc kéo sợi được in riêng biệt và các mô hình được lắp ghép từng mảnh.
    Dựa trên các nghiên cứu, Wenman nhận ra các thiết bị quay sợi không thể được làm từ loại đá cẩm thạch chạm khắc nên bức tượng. Ông đoán rằng các công cụ đi kèm có thể được làm bằng gỗ sơn vàng. Nếu các công cụ được làm bằng gỗ thì đã có thể trả lời câu hỏi của nhà khảo cổ học Elmer F Suhr từ hơn 50 năm trước đây: Những công cụ kéo sợi gắn liền với các bức tượng cổ điển khác với cùng một tư thế như nữ thần Venus đã đi đâu?
    Tiến sĩ Suhr đã từng xác định được một số tác phẩm điêu khắc cổ điển cũng cùng ở tư thế quay sợi, nhưng không tìm thấy các công cụ đi kèm. Thí nghiệm Wenman của gợi ý rằng thiết bị này có thể chỉ đơn giản là đã bị hao hỏng theo thời gian hoặc đã bị đánh cắp. Hiện tại, những kết luận cuối cùng để giải đáp chính xác thắc mắc về điều bí ẩn đằng sau tư thế của bức tượng thần Vệ Nữ vẫn chưa thể được làm rõ.
     

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32