ĐÃ TỪNG HIỆN THỰC 22
(ĐC sưu tầm trên NET)
Điểm lại các dịch cúm kinh hoàng trong lịch sử |
||||||||||||
Cập nhật lúc 11h57' ngày 08/06
|
||||||||||||
Giết
hại nhiều người hơn cả chiến tranh và các loại bệnh dịch khác, dịch cúm
từ lâu đã là kẻ tử thù khiến nhân loại phải nhiều phen điêu đứng.
Triệu chứng do siêu vi cúm được Hippocrates, thầy thuốc nổi tiếng Hy Lạp mô tả rành mạch khoảng 2.400 năm trước. Dưới đế chế La Mã cổ đại, các sử gia cũng đã nhận biết được nhiều loại dịch cúm khác nhau. Hàng năm, Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Mỹ ước tính có tới 36.000 người Mỹ tử vong do dịch cúm theo mùa, gấp 10 lần số người chết trong vụ khủng bố 11/9 và gây thiệt hại đến 160 tỉ USD, gấp đôi phí tổn sau cơn bão Katrina. Virus cúm này chủ yếu gây tử vong ở người già và trẻ em, và phí tổn thiệt hại trải đều trong năm nên ít được mọi người chú ý. Mặc dù vậy, sau vài thập kỷ, virus cúm ngày càng biến đổi và lan rộng gây nên đại dịch trên toàn cầu. Năm 1919 chứng kiến đại dịch cúm Tây Ban Nha nghiêm trọng nhất trong lịch sử trong khi dư luận đã từng lên án các phương tiện truyền thông và cho rằng tác hại của virus chỉ là sự cường điệu hoá; họ coi virus cúm không có khả năng gây tử vong hay thiệt hại lớn. Trước sự hoành hành của dịch cúm lợn, website Popsci.com đã điểm lại những dấu mốc đáng nhớ trong lịch sử dịch cúm của toàn nhân loại: Đại dịch cúm đầu tiên của nhân loại được ghi vào lịch sử (năm 1580) Đây được coi là trận dịch cúm đầu tiên mà con người biết tới. Dịch bắt nguồn từ châu Á, lan sang châu Phi và tấn công vào châu Âu. Theo một bài viết trên tạp chí Journal of Applied Microbiology vào năm 2001, trận dịch đã khiến các thành phố của Tây Ban Nha trở nên hoang tàn và làm chết 8.000 người tại thành Rome, Italy.
Thậm chí, dịch cúm đã lây lan mạnh tới mức dẫn đến sự ra đời của từ chỉ dịch cúm “influenza”, bắt nguồn từ cụm từ tiếng Italy “influenza del freddo”, có nghĩa là “ảnh hưởng của cảm lạnh”. Đại dịch cúm Tây Ban Nha (năm 1918 - 1919)
Đây là đại dịch cúm nghiêm trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Theo ước tính, dịch cúm đã làm chết khoảng từ 50 triệu đến 100 triệu người, trong số đó có khoảng 10% là người trẻ tuổi. Đại dịch này được giới y học xếp ngang hàng với trận dịch hạch làm chết gần hai phần ba số dân châu Âu vào giữa thế kỷ 14. Dịch cúm châu Á vào năm 1956 - 1958 Từ năm 1956 đến 1958 là năm đánh đánh dấu dịch cúm châu Á. Tuy không gây thiệt hại lớn như dịch cúm Tây Ban Nha kinh hoàng trước đó, nhưng dịch cúm châu Á này cũng làm chết hơn hai triệu người, trong đó có 70.000 người Mỹ.
Chủng virus gây bệnh là virus cúm loại A, H2N2 có nguồn gốc từ Nga và từng phát dịch vào năm 1889. Gây ra tỉ lệ tử vong thấp và thời gian tồn tại ngắn, cúm châu Á được coi là trận dịch không đe doạ tới nền văn minh nhân loại, nhưng lại làm phát sinh tác nhân của dịch cúm theo mùa. Dịch cúm Hong Kong vào năm 1968
Dịch cúm này xuất phát từ Hong Kong do virus cúm loại A, H3N2 gây ra. Theo thống kê số liệu từ website Pandemicflu, trận dịch đã cướp đi 33.800 sinh mạng người Mỹ. Con số tử vong này ít hơn so với dịch cúm theo mùa vào năm trước đó. Cúm Hong Kong phát triển từ dịch cúm châu Á trước đó, vì vậy những ai nhiễm virus cúm vào năm 1957 sẽ trở nên miễn dịch với chủng cúm năm 1968. Dịch cúm “lạ lùng” vào năm 1976
Tháng 2/1976, một quân nhân ở Fort Dix, New Jersey đã chết khi bị nhiễm virus cúm H1N1. Với lo ngại virus H1N1 có cùng chủng loại với virus gây ra đại dịch 1918 - 1919 , chính phủ Mỹ kêu gọi công dân tham gia chương trình tiêm chủng phòng dịch, một phần tư dân số nước này đã hưởng ứng lời kêu gọi. Thế nhưng, đáng buồn, cứ một người chết do nhiễm virus cúm thì lại có tới 25 người chết do biến chứng của vắcxin. Đại dịch cúm gia cầm H5N1 vào năm 2003 Năm 2003, Hiệp hội Sức khoẻ thế giới đã công bố bốn trường hợp tử vong do nhiễm virus cúm H5N1. Không giống như chủng H5N1 khác, cúm gia cầm lần này đã làm chết 60% số bệnh nhân.
Tỷ lệ tử vong cao khiến thế giới lo ngại dịch cúm Tây Ban Nha kinh hoàng quay trở lại. Tuy nhiên, thật may mắn khi virus cúm này đã nằm trong tầm kiểm soát. Virus khó lây lan từ người sang người mà chỉ có khả năng lây cho những ai tiếp xúc với gia cầm sống. |
Những vụ trả thù đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại |
||||||||
Cập nhật lúc 03h17' ngày 06/08
|
||||||||
Nợ máu phải trả bằng máu, nhưng khi sự căm hận đã lên đến đỉnh điểm, con người có thể nhấn chìm cả 1 chủng tộc trong biển máu.
Khái niệm trả thù luôn song hành với
lịch sử nhân loại. Con người luôn mang trong mình khát khao được trút sự
thù hận của mình lên những kẻ đã đối xử tệ bạc với mình. Hammurabi, bộ
luật cổ xưa nhất được tìm thấy từ trước tới nay, đã lấy quan điểm “an eye for an eye” – nợ máu phải trả bằng máu làm gốc rễ. Và nó đã diễn đạt chính xác khái niệm trả thù.
Bộ luận Hammurabi đã đánh dấu sự khởi
đầu chính thức của việc chuẩn hóa khái niệm trả thù. Nó vẫn giữ được
những ảnh hưởng của mình trong cuộc sống hiện tại, thể hiện trong việc
hình thành hệ thống pháp luật dựa trên sự trừng phạt những kẻ dám đi ra
ngoài những khuôn khổ của xã hội.
Trên thực tế, trả thù đã vượt ra xa khỏi
những chuẩn mực đó. Khát khao được nhìn thấy kẻ thù của mình phải gánh
lấy tai họa chỉ được giới hạn ở cấp độ cá nhân, và khi đó, hành động trả
thù đã đi quá những giới hạn của pháp luật. Hãy cùng chúng tôi điểm lại
những vụ trả thù đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.
5. 47 Ronin
Đây là sự kiện đã trở thành huyền thoại
trong lịch sử nước Nhật, nó trở thành cột mốc được tô đậm bởi lòng trung
thành và sự thù hận. Sự kiện này cũng đã trở thành cảm hứng cho nhiều
tác phẩm điện ảnh và văn học ra đời sau đó.
Dưới thời Edo, các Samurai được biết đến
với vai trò cố vấn quân sự, bảo vệ cho tài sản và tính mạng của những
nhân vật quan trọng trong xã hội. Một trong những lời thề của các
Samurai là trả thù cho cái chết của chủ nhân mình. Và 47 người Samurai
của Naganori Asano đã thực hiện trọn vẹn lời thề này.
Khi ghé thăm Edo (Tokyo hiện nay),
Naganori Asano đã dùng gươm gây thương tích cho Kira Yoshinaka, sau khi
tranh cãi nổ ra giữa 2 người. Nhà cầm quyền quyết định buộc Naganori
phải mổ bụng tự sát. Tất nhiên, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài
việc thực thi.
47 người Ronin (những samurai vô chủ)
kiên nhẫn chờ đợi. Hai năm sau, họ đột nhập vào nhà Yoshinaka, khống chế
và buộc ông phải tự sát giống như chủ nhân quá cố của họ. Khi Yoshinaka
từ chối, họ đã chặt đầu ông và đem nó đến ngôi mộ của Naganori. Ngay
sau đó, họ đầu thú và 46 người Samurai này đã tự kết liễu đời mình. Số
phận của người Samurai thứ 47 cho đến nay vẫn là một dấu hỏi lớn.
4. Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy
Khi Kháng Cách, một cộng đồng thuộc Cơ
Đốc giáo tách khỏi Công giáo La Mã, ra đời sau cuộc cải cách tôn giáo
khởi phát bởi Martin Luther vào thế kỷ 16, nhà thờ đã coi họ như cái gai
trong mắt mình. Không đơn giản chỉ là việc tranh giành nhau biểu tượng
tôn giáo, nhà thờ đã mất đi nhiều hơn thế: quyền lực, lãnh thổ, tài
chính…
Đinh điểm của những mâu thuẫn giữa 2 phe
Kháng Cách và Công giáo cực đoan là sự kiện công chúa Marguerite de
Valois kết hôn với Henry xứ Navarre. Cuộc hôn nhân giữa 2 người đứng đầu
2 phe đối lập đã hoàn toàn thất bại trong nỗ lực xoa dịu những căng
thẳng. Những người Công giáo cực đoan vốn đã rất khó chịu với sự hiện
diện của những người Kháng Cách giữa lòng thủ đô Paris, nay càng không
thể chấp nhận được cuộc hôn nhân giữa công chúa của họ với một người
Kháng Cách. Thêm vào đó, sự hào nhoáng xa xỉ của đám cưới giữa thời điểm
mất mùa đói kém đang tràn lan càng làm cho mọi việc thêm phần căng
thẳng.
Rất đông người Kháng Cách đã đến tham dự
hôn lễ nhằm bảo vệ thủ lĩnh của mình. Nhưng ngay sau khi kết thúc đám
cưới, đô đốc Coligny, lãnh tụ quân sự được kính trọng nhất của phe Kháng
Cách đã bị ám sát. Thủ phạm ngay sau đó đã trốn thoát, nhưng những gì
xảy ra sau đó đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Lo sợ trước sự trả thù của
phe Kháng Cách, Vua Charles IX và Thái hậu Catherine đã quyết định “Tiên thủ hạ vi cường”:
hạ sát toàn bộ những người Kháng Cách trong thành Paris trước khi họ có
bất kỳ động thái nào khác. Ước tính có trên dưới 4000 người Kháng Cách
đã thiệt mạng trong vụ thảm sát này.
Không chỉ dừng lại ở đó, Vua Charles đã
mở rộng quy mô của cuộc thảm sát này ra trên toàn bộ lãnh thổ nước Pháp.
Tất cả những ai thuộc mang trong mình dòng máu Kháng Cách đều bị xử tử.
Tổng cộng khoảng 100.000 người đã thiệt mạng sau khi sắc lệnh này được
ban ra.
3. Aaron Burr
Có rất ít cuộc trả thù mang nhiều tính
chất chính trị như câu chuyện giữa Alexander Hamilton và Aaron Burr. Và
cũng hiếm cuộc trả thù nào diễn ra chóng vánh và trực tiếp như thế.
Burr và Hamilton đều phục vụ trong quân
đội cách mạng dưới sự lãnh đạo của Washington. Cả hai đều theo đuổi sự
nghiệp chính trị và đều đạt được những thành công sau đó. Hamilton được
biết đến như là người đồng sáng lập ra tờ báo Những người chủ trương
Liên bang, một trong những tờ báo có ảnh hưởng chính trị cực lớn thời
bấy giờ, đồng thời là Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ. Ông
chính là cánh tay đắc lực cho những tổng thống thời bấy giờ, gồm có
George Washington, Thomas Jefferson và John Adams, với một trong những
vai trò chính là loại bỏ những đối thủ ngáng đường họ trên con đường
tranh cử tổng thống.
Nhưng với Burr, Hamilton đã đi quá giới
hạn của mình. Ngay sau khi mất chức Tổng thống một cách cay đắng vào tay
Thomas Jefferson, và tất nhiên, với công lớn thuộc về Hamilton khi ông
luôn có ảnh hưởng lớn với Hạ viện Hoa Kỳ, Burr tới tranh cử chức Thống
đốc New York và phát hiện ra mình cũng gặp phải sự chống đối của
Hamilton ở đây. Không còn chịu nổi nữa, Burr quyết định thách đấu súng
với Hamilton, và theo thông lệ, ngay lập tức được chấp nhận. Ngày 11
tháng 7 năm 1804 trở thành ngày định mệnh với toàn bộ nước Mỹ khi phó
thủ tướng Aaron Burr và Bộ trưởng Bộ Tài chính Alexander Hamilton chĩa
súng vào nhau – kết quả là Alexander bị thương nặng và tử vong sau đó
không lâu, bất chấp những nỗ lực của các bác sỹ vào thời đó.
Luật đấu súng quy định rằng không một
cáo trạng nào được phép đưa ra sau cuộc đấu, do đó, Burr vẫn tiếp tục
quay về thực hiện tiếp nhiệm kỳ phó tổng thống của mình trước khi bị
buộc tội phản quốc do nỗ lực xây dựng một đế chế cho riêng mình ở các
bang thuộc miền Nam lãnh thổ Hoa Kỳ.
2. Boudica
“Sòng phẳng” và “Chơi đẹp”
chưa bao giờ là những điểm tích cực của Đế chế La Mã. Khi Vua
Prasutagus qua đời, ông để lại quyền cai trị Celtic Iceni cho người vợ
Boudicca và 2 người con gái của mình. Nhưng Rome lại có kế hoạch khác:
họ xâm lược Iceni, biến người dân thành nô lệ và cưỡng hiếp 2 người con
gái của Boudica. Không may cho Rome, họ không hiểu rằng mình đã vay một
món nợ quá lớn.
Những gì chúng ta được biết về Boudica đều có nguồn gốc từ những ghi chép trong lịch sử của đế chế La Mã. Họ mô tả bà như là “một
người phụ nữ cao lớn và đáng sợ, với mái tóc đỏ rực dài đến tận hông…
Bà mang theo một ngọn giáo có khả năng truyền sự khiếp đảm tới bất cứ ai
trông thấy mình". Và lịch sử cũng đã chứng minh rằng, Boudica nói
riêng và người Celts nói chung không nhỏ bé và khiếp nhược như bất cứ
một dân tộc nào đã bị xâm lược bởi đế chế La Mã. Ngược lại, họ đã cho
thấy mình là một trong những dân tộc đáng sợ nhất trong lịch sử nhân
loại.
Vào khoảng năm 60 sau Công nguyên, nhân
thời điểm chính quyền La Mã đang bận rộn trong cuộc chiến ở miền Bắc xứ
Wales, Boudica đã lãnh đạo những người Iceni và Trinovantes nổi dậy. Họ
đã thiêu hủy hoàn toàn Camulodunum, một trong những thuộc địa của La Mã
lúc bấy giờ, đồng thời cũng là nơi đặt đền thờ Vua Claudius. Ngay sau
đó, đội quân nhanh chóng tiến đến Londinium (London hiện nay). Sau khi
chiến thắng binh đoàn số 9 của Đế chế La Mã, 2 thành phố Londinium và
Verulamium đã bị thiêu hủy hoàn toàn. Ước tính khoảng 70.000 – 80.000
người bản địa và người La Mã đã thiệt mạng trong cuộc thảm sát này.
Dù sau cùng, Boudica đã phải chịu thất
bại trước sự vượt trội về lực lượng của đối phương (nhiều ghi chép cho
rằng, La Mã đã thiệt hại mất 3 binh đoàn trong trận Watling Street),
nhưng cuộc nổi dậy này đã khiến bà trở thành một biểu tượng của người
dân Anh. Lịch sử đã ghi nhận bà như là một trong 10 nữ tướng vĩ đại nhất
trong lịch sử nhân loại
1. Thành Cát Tư Hãn
Ngay sau khi đã thôn tính gần như toàn
bộ Châu Á, Thành Cát Tư Hãn tiếp tục tính đến các quốc gia vùng Trung
Đông. Để thể hiện thiện chí của mình, ông gửi một món quà bao gồm nhiều
châu báu và mỹ nữ tới Đế quốc Khwarezm, được hộ tống bởi khoảng 500 binh
lính. Tuy nhiên, người Khwarezm tỏ ra không mấy thiện chí với một chủng
tộc “sinh sống trong túp lều”, và họ thẳng thừng từ chối bằng cách hạ sát toàn bộ những binh lính hộ tống đoàn vận chuyển.
Tại thời điểm này, Thành Cát Tư Hãn vẫn
tỏ ra hết sức bình tĩnh. Ông cho người Khwarezm một cơ hội thứ hai khi
tiếp tục gửi một sứ giả đến thương lượng với họ. Và người Khwarezm đã
mắc một sai lầm khủng khiếp khi gửi trả Thành Cát Tư Hãn cái đầu của vị
sứ giả đáng thương này.
Để trả thù cho tất cả những nạn nhân xấu
số trên, Thành Cát Tư Hãn đã phát động một cuộc thảm sát với quy mô có
lẽ chỉ đứng sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Bốn vị tướng xuất
sắc nhất, trong đó có Bạt Tốc Đài, cùng với binh đoàn gồm 200.000 chiến
binh thiện chiến đã tiêu diệt hoàn toàn một đội quân có số lượng lớn gấp
5 lần họ. Toàn bộ đế quốc Khwarezmia bị xóa sổ, với khoảng 4 triệu
người thiệt mạng. Lịch sử mô tả rằng “ngay cả chó mèo cũng không được tha mạng”.
Chưa thỏa mãn cơn giận dữ của mình, Thành Cát Tư Hãn còn cho làm chệch
hướng toàn bộ những dòng sông trên lãnh thổ Khwarezmia nhằm mục đích xóa
sổ hoàn toàn quốc gia này khỏi bản đồ.
“Khi hai nước giao tranh, đừng giết sứ giả". Nhất là khi sứ giả đó được cử đến bởi Thành Cát Tư Hãn.
|
Những vụ án nhiễm độc thủy ngân kinh hoàng trong lịch sử |
Cập nhật lúc 17h09' ngày 10/09
|
Hàng
ngàn năm trước con người đã biết đến thủy ngân. Thời kỳ đó, người Trung
Hoa, Ấn Độ cho rằng thủy ngân là một loại thần dược giúp con người
trường sinh bất lão, chữa lành vết thương và duy trì sức khỏe. Người La
Mã sử dụng thứ chất lỏng lấp lánh này để chế ra các loại mỹ phẩm. Vì
thế, thủy ngân đã có “cơ hội” trở thành thủ phạm của những vụ án nghiêm trọng.
Thủy ngân - Thủ phạm của những vụ án kinh hoàng trong lịch sử“Nước bạc” thời cổ đại
Với tính chất lỏng và có ánh kim, thủy ngân đã được một thầy thuốc người Hy Lạp đặt cho cái tên “nước bạc”. Theo tiếng Latinh, kim loại này có tên là hydrargyrum. Ở châu Âu, nó lại được lấy theo tên của một vị thần La Mã - thần Mercury.
Thủy ngân - Hg
Trong nhiều tài liệu cổ, người ta đã đề cập đến tác dụng chữa bệnh của thủy ngân.
Các thầy thuốc thời xưa mô tả cách họ điều trị bệnh nhân bị xoắn ruột
bằng cách rót một lượng thủy ngân chừng hơn 200g vào dạ dày người bệnh.
Họ cho rằng “nước bạc” nặng và linh động sẽ luồn lách trong
ruột để nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Hậu quả của cách chữa bệnh theo
cảm tính này thế nào, chúng ta đã biết.
Hàng thế kỷ sau đó, thủy ngân vẫn được “trọng dụng” để chữa bệnh. Thủy ngân sử dụng để điều trị bệnh giang mai vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh. Trong suốt thế kỷ 19, loại thần dược có tên là “Blue mass” là một dạng thuốc viên thành phần chính là thủy ngân, đã được các thầy thuốc dùng để điều trị các bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng và thậm chí dùng trong việc sinh nở. Cho đến đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hằng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun.
Những vụ án kinh hoàng
Việc sử dụng thủy ngân sai trong quá khứ đã dẫn đến những hậu quả khôn lường. Những nạn nhân đầu tiên có lẽ là các nhà giả kim thuật.
Từ thời cổ đại, các nhà giả kim thuật đã biết sử dụng thủy ngân để chế ra một số kim loại khác, đặc biệt là vàng. Trong những “phòng thí nghiệm” sơ sài, các nhà giả kim Trung Hoa, Ai Cập, Ả Rập ngày đêm “chung sống” với thứ chất lỏng kỳ lạ để mong tìm được “bí quyết” chế ra vàng. Họ không biết rằng, hơi thủy ngân đã xâm nhập đường hô hấp, ngấm qua da... vào cơ thể họ. Hậu quả cuối cùng, họ đều mắc những chứng bệnh kỳ lạ như ảo giác, ám ảnh, cơ thể suy nhược và chết một cách bí hiểm.
Công trình mạ mái vòm nhà thờ Isaac ở Petecbua (Nga) đã cướp đi hàng chục sinh mạng người thợ. Vì thủy ngân có khả năng hòa tan nhiều kim loại, tạo thành các “hỗn hống”
(amalgam), người ta đã đem hơn 100kg vàng nguyên chất, hòa tan trong
thủy ngân thành hỗn hống, sau đó đem tráng lên những tấm đồng đường kính
lớn hàng chục mét. Sau đó đem các tấm đồng này nung nóng trên những cái
lò đặc biệt cho đến khi thủy ngân bốc hơi hết và để lại một lớp vàng
rất mỏng trên tấm đồng.
Những người thợ làm vòm nhà thờ khi đó dù được trang
bị bảo hộ bằng quần áo lao động và che mặt bằng một tấm kính để chống
hơi độc và sức nóng. Song, những điều đó cũng không ngăn được thứ hơi
độc chết người màu xanh nhạt xâm nhập cơ thể họ. Tất cả hơn 10 người thợ
đã chết vì những căn bệnh bí hiểm mà không ai biết thủ phạm. Thời đó,
người ta đã thêu dệt nên những câu chuyện liên quan đến ma quỷ trong vụ án này.
Sa hoàng Ivan IV Vasilyevich (1530 - 1564) - (Ảnh: Wikimedia)
Những cơn điên loạn và cái chết của vị Sa hoàng Ivan IV Vasilyevich
(1530 - 1564) là một bí ẩn mà gần đây mới được giải mã. Các tài liệu
ghi lại ông vua này có một sức khỏe bình thường, nhưng sau đó mắc chứng
bệnh kỳ lạ, thỉnh thoảng lên cơn điên loạn. Trong một
cơn cuồng nộ như thế, ông ta đã giết chết chính con trai của mình. Ông
ta thường xuyên bị ám ảnh bởi những ảo giác, luôn nghi ngờ xung quanh và
lúc nào cũng run sợ vì cho rằng tai họa đang rình rập xung quanh. Khi
đó người ta cho rằng ông bị quỷ ám. Nhưng việc khai quật hài cốt của ông
do các nhà khoa học tiến hành sau này đã cho thấy thủ phạm chính là thủy ngân.
Nguyên nhân là do ông bị mắc chứng đau nhức xương, ông được các ngự y
kê đơn cho sử dụng nhiều loại thuốc mỡ chứa thủy ngân trong một thời
gian dài. Ông đã bị ngộ độc do một lượng lớn thủy ngân ngấm vào cơ thể.
Xét nghiệm cho thấy hàm lượng thủy ngân trong xương của nhà vua rất cao.
Các nhà sử học từng nghiên cứu các kho lưu trữ của
thế kỷ XVII đã khẳng định, sự nhiễm độc thủy ngân cũng là nguyên nhân
gây nên cái chết của vua Carl (Charles) II thuộc triều đại Stuart ở nước Anh.
Vì quá say mê những ý tưởng giả kim thuật, nhà vua đã trang bị một
phòng thí nghiệm trong cung đình; tại đó, ông ta đã sử dụng tất cả thời
gian rỗi để nung thủy ngân. Các nhà bác học đã tìm được những tài liệu,
trong đó mô tả các triệu chứng bệnh tật của Carl II như tính cáu gắt,
chứng co giật, bệnh niệu độc (bệnh đái ra các chất độc) kinh niên. Các
bệnh này do tác động lâu dài của hơi thủy ngân gây ra. Mặc dầu các vị
ngự y đã thử dùng đủ mọi phương thuốc hiệu nghiệm nhất của y học thời
bấy giờ: hút máu, uống ký ninh nhưng vẫn không thể cứu được nhà vua.
Đến tận thế kỷ 20, thủy ngân vẫn gây những vụ án kinh hoàng tại nhiều nơi. Tại Nhật Bản - đất nước có nền công nghiệp phát triển cũng đã từng chấn động do thảm họa thủy ngân, mà người ta hay gọi là thảm họa Minamata.
Nạn nhân bị nhiễm độc bởi chất thủy ngân ở khu vực Minamata đầu những năm 1950 (Ảnh: W. Eugene Smith)
Vào đầu những năm 1950, nhiều người dân ở khu vực Minamata - một khu vực chuyên về đánh bắt thủy sản
ở phía Nam Nhật Bản bị mắc những chứng bệnh lạ như run rẩy chân tay,
bại liệt, mất trí nhớ, một số trường hợp bị tử vong. Các nhà chức trách
phát hiện ra chất thải công nghiệp có chứa thủy ngân
của công ty sản xuất hóa chất Chisso đã làm cho các loài hải sản vùng
biển này bị nhiễm thủy ngân. Người dân ở đây đánh bắt và sử dụng các
loại hải sản đó và bị nhiễm độc thủy ngân. Khoảng trên 3.000 người đã có
những khuyết tật nào đó hay có triệu chứng ngộ độc thủy ngân nặng nề
hoặc đã chết vì ngộ độc.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở Nigata
cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm là chất thải chứa thủy
ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn. Năm 2001, có khoảng 1.700
trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy
hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương.
Một quan chức Nhật Bản cho biết thịt cá voi và cá heo
cung cấp cho các buổi ăn trưa tại những trường học trên toàn nước này
đã nhiễm một lượng thủy ngân vượt quá xa tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y
tế.
Ngày nay, với tốc độ phát triển của các nền công nghiệp hiện đại, người ta càng lo ngại đến nguy cơ nhiễm độc thủy ngân. Tuy vậy, cũng phải đánh giá một cách công bằng. Thủy ngân chính là một “người bạn” thuộc dạng lâu năm nhất của con người và mang lại nhiều lợi ích nếu biết sử dụng đúng đắn.
Thủy ngân là tác nhân chủ yếu trong nhiều khí cụ vật lý:
áp kế kỹ thuật, khí áp kế, bơm chân không. Nhiệt kế thủy ngân là một
trong những thiết bị phổ dụng nhất trên thế giới. Đèn thủy ngân - thạch
anh tạo ra bức xạ tử ngoại rất mạnh được sử dụng rộng rãi trong y học và
trong công nghiệp hóa học...
|
Những vụ tai nạn máy bay kinh hoàng nhất trong lịch sử |
|||||
Cập nhật lúc 10h46' ngày 19/07
|
|||||
Tai
nạn thảm khốc của chiếc máy bay MH17 thuộc hãng hàng không Malaysia làm
298 người thiệt mạng đã khiến cả thế giới bàng hoàng và chìm trong đau
thương. Lịch sử ngành hàng không thế giới cũng đã từng đau xót chứng
kiến những tai nạn máy bay thảm thương không kém, cùng điểm lại những vụ
tai nạn máy bay dân sự kinh hoàng nhất trong lịch sử.
Ngày 27/3/1977, 2 chiếc Boeing 747 của
hãng hàng không KLM và Pan Am đâm nhau trên một đường băng đầy sương mù ở
Tenerife, thuộc quần đảo Canary của Tây Ban Nha. Máy bay KLM đã khởi
hành mà không được phép và đâm vào máy bay của hãng Pan Am khi nó di
chuyển trên cùng đường băng. Sai lầm tai hại này đã làm 583 người chết.
Ngày 12/8/1985, một máy bay Boeing 747
của hãng không Japan Airlines bị đâm ở gần núi Phú Sĩ và làm 520 người
chết, sau khi cất cánh từ Tokyo trong chặng bay nội địa. Chiếc máy bay
đã bị hỏng ở phần đuôi và từng được sửa sau một vụ tai nạn 7 năm trước.
Tuy nhiên, việc khắc phục phần hỏng không thành công khiến phần đuôi của
chiếc Boeing 747 bị phá hủy, phi cơ mất kiểm soát và gây ra tai nạn.
Sau vụ tai nạn, một giám sát bảo trì của hãng hàng không JAL đã tự sát,
trong khi chủ tịch của hãng này từ chức và chịu hoàn toàn trách nhiệm về
vụ tai nạn.
Ngày 12/11/1996, một máy bay chở hàng
Ilyushin IL-76 đi từ Kazakhstan đâm vào một chiếc Boeing 747 của Ả-rập
Xê-út trên không trung tại khu vực gần Delhi, Ấn Độ. Hậu quả của vụ tai
nạn thảm khốc là làm 349 người chết. Nguyên nhân vụ việc được cho là phi
hành đoàn Kazakhstan đã không tuân thủ hướng dẫn, trong khi cả 2 máy
bay đều không trang bị công nghệ tránh va chạm.
Chiếc Airbus A330-200 của hãng hàng
không Air France mất tích trên Đại Tây Dương khi đang trên đường từ Rio
de Janeiro tới Paris. Vụ tai nạn đã làm cho 228 hành khách trên máy bay
thiệt mạng.
|
Nhận xét
Đăng nhận xét