GIỚI THIỆU PHÂN TÂM HỌC 2

 (ĐC sưu tầm trên NET)

Phân tâm học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
Phân tâm học (viết tắt của Phân tích tâm lý học, tiếng Anh: Psychoanalysis) là tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiểu những mối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng. Nó được khởi thảo bởi Sigmund Freud, một bác sĩ người Áo. Phân tâm học chuyên sâu nghiên cứu về con người. Phân tâm học chia bản năng con người ra làm ba phần: cái ấy (E: id;F:Le Ca; G:das Es), cái tôi (E: Ego;F:Le Moi; G:das Ich) và cái siêu tôi (E:Super ego;F: Le Surmoi; G:das Über-Ich). Trong đó nói rõ con nguời luôn bị chi phối bởi bản năng tính dục và mọi hoạt động của con người đều nhằm thỏa mãn hoặc ức chế nhu cầu đó. Lí thuyết phân tâm đã được nhiều người nghiên cứu tuy nhiên nó vẫn chưa thực sự được nhận thức đầy đủ. Cùng với nhiều công trình nghiên cứa về con người như thuyết tiến hóa và khoa học về nhận thức, đã đóng góp vào việc tìm hiểu sau hơn về nhận thức về văn hóa và văn minh nhân loại.

Lịch sử

Phân tâm học được sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 bởi một nhà thần kinh học người Áo – Sigmund Freud. Thuyết tâm lý học này đã được đánh giá, mở rộng và phát triển theo nhiều hướng khác nhau, phần lớn nhờ công của một số học trò của Freud như Alfred Adler (với Tâm lý học cá nhân), Carl Gustav Jung (với Tâm lý học phân tích), Wilhelm Reich, và sau nữa là những đóng góp từ các nhà phân tâm mới như Erich Fromm (với một số cuốn sách rất thú vị: “chạy trốn tự do – escape from freedom”; “Phân tâm học và Thiền – Zen Buddhism and Psychoanalysis”...) , Karen Horney, Harry Stack Sullivan, Jacques Lacan.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học chủ yếu bao gồm:
  1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh và phi lý.
  2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
  3. Qúa trình cố đưa những xung năng này “trồi” lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
  4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
  5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
  6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ những nội dung vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Dưới tầm ảnh hưởng rộng lớn của phân tâm học, đã có ít nhất 22 nhánh lý thuyết nghiên cứu về sự phát triển tâm trí con người. Nhiều phương pháp tiếp cận khác trong trị liệu cũng được gọi là “ phân tâm lại khác xa so với lý thuyết. Thuật ngữ phân tâm học cũng dùng cho một phương pháp nghiên cứu về sự phát triển ở trẻ em.
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (phân tích bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những nan đề của mình.
Điểm đặc trưng cho phương pháp can thiệp của liệu pháp phân tâm là đương đầu và phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân. Qua sự phân tích những xung đột và sự tác động của nó gây ra những kháng cự tâm lý và hiện tượng chuyển di vào nhà phân tích qua những hành vị bị bóp méo, liệu pháp phân tâm có thể đưa ra những giả thuyết về vô thức chính là những kẻ thù tệ hại nhất của các bệnh nhân: cách thức mà những hành động mang tính biểu trưng và vô thức đã bị kích thích bởi những trải nghiệm đang gây ra các triệu chứng. Lý thuyết này đã bị chỉ trích rất nhiều, có quan điểm cho rằng đó là một hệ lý thuyết phi khoa học; nhưng dù vậy, liệu pháp phân tâm vẫn đang được rất nhiều nhà tâm lý hiện nay ứng dụng.

Phân tâm học [nội dung học thuyết] - Sigmund Freud.


Vì Freud là gốc người Do Thái, từ năm 1938 ông sống lưu vong để tỵ nạn chế độ phát xít Đức, và mất tại Anh vào năm 1939. Xuất phát từ một phương pháp trị bệnh rối loạn thần kinh đặc biệt (hystérie), Freud đã đề xuất phép trị liệu phân tâm học bằng sự sử dụng liên tưởng, mộng để phân tích những động lực mạnh (choc) gây bệnh. Về sau phân tâm học trở thành chủ nghĩa Freud (Freudianism) và đề xuất hai bản năng gốc là "bản năng tình dục" và "bản năng chết", xem đó là nguyên động lực chi phối tiến trình lịch sử nhân loại. Sau đó, lại tiếp tục hình thành nên chủ nghĩa Freud mới (Neo-Freudianism) với các đại biểu chính là E. Fromn, K. Horney v.v...
Lý thuyết của Freud có thể được tóm tắt như sau: Freud cho rằng cấu trúc nhân tính hay ngã tính của con người bao gồm ba phần: Bản năng (Id), ngã tính (ego) và siêu ngã (superego), cũng gọi là "ý thức" ba ngôi. (27)

a) Bản năng (Id):

Bản năng là cội nguồn nhân tính của con người, ở đó tích lũy các nguồn năng lượng và cung cấp năng lực cho các hoạt động tâm lý như ý thức (ego) và siêu thức (superego). Khi nguồn năng lượng gia tăng khiến cho bản năng bùng phát mạnh tạo thành những cú sốc (choc) tâm lý khó chịu, căng thẳng, bực tức ... Ngược lại, sự giải trừ các căng thẳng và qui giảm năng lượng trở về trạng thái ổn định, thư giãn ... là con đường phấn khích đưa đến khoái lạc. Do đó, bản năng được chia thành hai loại tác năng chính, đó là: "bản năng tình dục" (libido) và "bản năng chết".
- Về bản năng tình dục (libido): nó là cội nguồn, năng lượng tình dục, năng lực kích thích tình dục, phấn khích tình yêu ... và chi phối đời sống nội tâm. Ở điểm này libido được xem như là "nguyên tắc khoái lạc". Nó vừa là sự phát triển tình dục của người lành mạnh và được mở rộng cho đến các hoạt động khoa học, mỹ thuật của cá nhân, lại vừa là căn nguyên của bệnh lý. Về sau, Freud liên hệ rộng hơn nữa về khái niệm libido cho tất cả xung năng của tình yêu, như tình yêu giữa bố mẹ và con cái...
- Về bản năng chết (pulsion de mort) hay lực chết: nó diễn ra theo chiều hướng ngược lại khi tùy vào mức độ tăng tốc của năng lượng trong bản năng (Id) đi đến đỉnh cao như tức tối, giận dữ... làm tăng huyết áp, ngất xỉu, tử vong...
Theo nhận xét của C. Jung, libido không những là xung năng (pulsion) của tình dục, mà còn là năng lượng của tâm lý nói chung. (28)

b) Ý thức tự ngã (ego)

Freud cho rằng, ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản năng (Id) mà nội dung chính của nó là "libido" hiểu theo nghĩa rộng - tức là mọi nhu cầu, khát vọng, dục vọng, thèm muốn giao tiếp với thế giới thực tại khách quan. Ý thức là là bản năng khát vọng sống của tự ngã ( cái tôi). Nhưng khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi những khuôn định, qui ước xã hội (social conventions) nó lại đi vào vô thức (inconscient). Rồi từ đó, những xung năng khát vọng bộc phát lên ý thức, biến thành những ưu phiền, lo âu... "Cái tôi" của mỗi cá thể luôn luôn bị phá vỡ bởi sự mâu thuẫn của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã hội.

c) Siêu ngã (superego)

Siêu ngã cũng được gọi là siêu thức, nó vượt lên trên bản năng tình dục (sexuality) và ý thức tự ngã để duy trì mọi giá trị truyền thống và các lý tưởng đạo đức xã hội. Nó, một mặt vừa kiềm chế sự thôi thúc của "khát vọng dục tính" (sexual desize), mặt khác thúc giục ý thức bảo trì các giá trị đạo đức cá nhân và xã hội. Do đó, siêu thức là ý thức vươn đến sự hoàn thiện của đời sống.
Theo đánh giá của L. Broom và P. Seiznick, thì cả hai triết gia thực nghiệm George H. Mead và Sigmund Freud, những người sáng lập ngành giải phẫu tâm lý này đã đóng góp một phần lớn vào tiến trình nghiên cứu bản ngã trong quá trình xã hội hóa. (29) Tuy nhiên, như chúng ta thấy, quan điểm của Mead và Freud hoàn toàn khác nhau. Mead thì lấy xã hội làm nền tảng cho sự phát triển của ý thức, trong khi Freud thì cho rằng, những qui ước xã hội đã kiềm hãm và làm sai lệch ý thức tự ngã. Mead chia ý thức thành hai phạm trù: bản ngã (ego) và sở hữu tự ngã (ego - attribute), và cho rằng cả hai đều nương tựa vào xã hội mà hình thành và phát triển. Ngược lại, Freud chia ý thức làm ba phạm trù: bản năng (Id), ý thức (ego) và siêu thức (superego); và ở đó, bản năng (Id) là phần trọng tâm của sinh lý cá thể mà xã hội không thể nào điều hành được, ego là người trung gian hòa giải các nhu cầu sinh lý và những đòi hỏi của xã hội. Đối với Mead, ngã và sở hữu tự ngã có thể dung hóa lẫn nhau, trong khi theo Freud, các phạm trù của ngã luôn tiềm tàng những khả năng xung đột, mâu thuẫn... hay còn gọi là xung năng (pulsion).

Những nguồn tham khảo khác
Các tác fẩm chính của ông : dự án về một nền tâm lý học khoa học và những nghiên cứu về bệnh Hysteri, Lý giải các giấc mơ, 3 tiểu luận về lý thuyết tình dục, vật tổ và sự cấm kỵ.

b) Đối tượng nghiên cứu :

quan tâm nghiên cứu vô thức để biết một cách khách wan tâm lý thực sự của con người. SF wan niệm, tất cả các hiện tượng tâm thần con người về bản chất là hiện tượng vô thức. vô thức là fạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý con người. mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tùy theo tương wan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những quy luật khác hẳn với ý thức. trogn các loại vô thức thì đam mê tính dục có một vị trí đặc biệt wan trọng trong tòan bộ đời sống tâm lý con người.

c) Fương fáp nghiên cứu :

Phân tích tâm lý người bệnh để tìm cho được nguồn gốc gây bệnh ẩn dấu sâu trong vô thức người bệnh. cách thức mà ông tiến hành là thôi miên để giúp người bệnh nhớ lại những điều đã trải wa. Việc giải tỏa tắc nghẽn trong tâm thần người bệnh sẽ làm cho bệnh thuyên giảm hoặc mất đi.

d) Nội dung học thuyết :

ông xác định bộ máy tâm thần con người bao gồm :

1
. cái nó bao gồm tất cả những cái gì con người có được từ khi mới sinh ra tức là tất cả những cái gì được quy định về mặt cấu tạo. cái nó chính là biểu hiện của cái di truyền, có xu hướng thỏa mãn những nhu cầu bẩm sinh của cá nhân. Cái nó và cái vô thức được ấn dấu sâu bên trong bộ máy tâm thần. những xung lực fát ra từ cái nó chính là năng lượng Libido và sức thôi thúc của Libido cắt nghĩa cho đa số hành vi con người. cái nó chứa đựng bản năng như đói, khát, tính dục và bản năng này được điều khiển bởi nguyên lý khóai lạc.

2
. cái tôi là cái trung gian giữa cái nó và cái bên ngoài. Về mặt nguồn gốc, cái tôi được xem là một fần của cái nó nhưng đã bị tách khỏi cái nó để tiếp xúc với cái bên ngoài. Khi đó cái tôi chống lại cái nó bằng cách giành quyền làm chủ những đòi hỏi xung lực và quyết định việc thỏa mãn hay chưa thỏa mãn ngay những đòi hỏi của xung lực. công việc của cái tôi là làm cho các ước muốn của cái nó fù hợp với cái thực tại tương ứng trongmôi trừơng vật lý. Cái tôi bị chi fối bởi nguyên lý thực tại vì nó làm thỏa mãn một nhu cầu nào đó một cách thực sự chứ ko fải là tưởng tượng.

3
. cái siêu tôi là lực lượng đối lập với cái tôi, ngăn cản cái tôi trong wá trình fát triển, kìm hãm sự thỏa mãn của cái tôi.

e) Đánh giá học thuyết :

+ ưu điểm :
* đóng góp to lớn của SF là đưa ra giả thuyết về vô thức, tiềm thức là những mặt wan trọng trong đời sống tâm lý con người.
* Đưa ra một số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồng nhất hóa, các giai đoạn fát triển nhân cách ( gồm 4 giai đoạn : lỗ miệng, hậu môn, âm vật và dương vật, cá nhân hướng đối tượng ra bên ngoài).
* tư tưởng khoa học đúng đắn : TLH fải có 1 con đường riêng của mình. Sự xuất hiện của fân tâm học một cách khách wan làm cho TLH fát triển.
* Fương fáp giải tỏa tâm lý đã được sử dụng khá rộng rãi, hiệu wả trong các bệnh viện tâm thần.

+ hạn chế :

* Do wá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người, SF đã ko thấy được mặt bản chất trong ý thức con người, ko thấy được bản chất xã hội - lịch sử của các hiện tượng tâm lý người.
* con người trong fân tâm học là con người cơ thể, con người sinh vật bị fân ly ra nhiều mảng, con người với những mong muốn chủ yếu là thỏa mãn các đam mê tính dục, đối lập với xã hội.

st: tamlyhoc.net


Khái lược về phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud

Theo Freud, nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung năng với những kinh nghiệm thời niên thiếu của họ. Hành vi của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi họ còn ở thời tuổi nhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời.

Sigmund Freud là cha đẻ của phân tâm cổ điển, ông sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856, ở Freiburg, một thị xã  nhỏ ở Moravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech. Khi Freud lên 4 tuổi, cha ông là một thợ máy  người  Do Thái  , đưa gia đình đến Vienna,  Freud đã sống hầu hết thời gian ở đây.Theo học trường y khoa, ông chuyên về thần kinh học và đã học một năm tại Paris với Jean-Martin Charcot, ông chịu ảnh hưởng bởi Ambroise-August Liebault và Hippolyte-Marie Bernheim, cả hai đều dạy ông thôi miên khi ông ở Pháp. Sau khi học tập ở Pháp, ông quay trở về Vienna và bắt đầu công việc lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria. Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, công việc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học. Ông chết năm 1939 tại Luân Đôn. 
Theo ông, nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời niên thiếu của họ. Hành vi của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi họ còn ở thời tuổi nhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Trong lý thuyết của ông, con người tiếp tục thỏa mãn những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tác với người khác trong quá khứ hay cách mà họ thỏa mãn những mong muốn của mình thời thơ ấu.

Những vấn đề quan trọng được đề cập tới trong lý thuyết của Sigmund Freud đó là bản năng, vô thức, cấu trúc nhân cách, cơ chế tự vệ.

Bản năng
Ông cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức. Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng chết.
-         Bản năng sống: là sự đói khát, tình dục.
-         Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống. Những hành vi gây thương tích, tự hủy hoại bản than ở con người. Những hành vi hung tính, sự nóng giận cũng là bản năng chết của con người.
Cấu trúc nhân cách
S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm có 3 cấu thành, đó là cái Nó (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego). Các cấu trúc này được hình thành và phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi.
-   Cái ấy (id): Hệ thống này bao gồm các bản năng vô thức và thúc đẩy con người thỏa mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tắc và các quy định của xã hội.
-    Cái tôi (ego): được hoạt động, điều chỉnh (kiểm soát) bởi thực tiễn thế giới xung quanh.
-   Cái siêu tôi (superego): bao gồm ý thức và đạo đức.

         Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng quy định ảnh hưởng lẫn nhau. Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn. Cái tôi hoạt động theo nguyên tắc thực tiễn và cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.

Sự mâu thuẫn tồn tại giữa cái Ấy và cái Siêu tôi dễ làm con người rơi vào tình trạng căng thẳng. Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tình trạng này, S.Freud cho rằng cần có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người.

Các cơ chế tự vệ.
-         Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra ngoài.
-         Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.(tâm sự)
-         Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang tồn tại trong bản than.
-         Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi trước đó ( hiện tượng trẻ con hóa).
-         Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu thành hành động. ( Lo về kết quả học tập – học bài).
-         Sự phá bỏ: chuyển những cảm xúc lo âu thành sự hung dữ. ( Lo về kết quả học tập – đi uống rượu)
-         Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội. ( Ví dụ: nhà thơ Xuân Diệu chuyển cảm xúc thất tình thành thơ)
-         Sự mơ mộng: thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ.
Quá trình phát triển nhân cách
S. Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau sau đây:
- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi. Sự thỏa mãn được thự hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ. Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thoản mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời.
- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi. Sự thỏa mãn được thực hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh và các hoạt động giáo dục khác.
- Giai đoạn dương vật (phallic stage): từ 3 – 5 tuổi. Trong giai đoạn này có 3 mặt phát triển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng  phạm vi quá trình bảo vệ cái tôi.
- Giai đoạn tiểm ẩn (latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành niên. Khi này trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự tôn kính.
- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi thanh niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành vi ở người lớn.
Các kỹ thuật can thiệp.
-         Phân tích sự chuyển dịch:
Sự chuyển dịch là quá trình những cảm xúc xung đột của thân chủ với người nào đó trong quá khứ (ví dụ như: cha, mẹ, người yêu..)được thể hiện ra với nhà tham vấn.
Để xử lý những tình huống chuyển dịch, trước hết nhà tham vấn cần nhân biết và giúp thân chủ nhân thức được hiện tượng này. Bằng những câu nói hay câu hỏi đưa ra thông tin cho thân chủ biết liệu họ có đang đánh đồng mình với một nhân vật nào đó không.
Trong quá trình tham vấn, cũng có hiện tượng khi nhà tham vấn chuyển tải những cảm xúc của mình đối với một nhân vật nào đó trong quá khứ lên thân chủ. Đây được xem như quá trình chuyển dịch ngược.
Một trong những cách xử lý là nhà tham vấn có thể chia sẻ với đồng nghiệp xin tư vấn hoặc có thể chuyển giao ca tham vấn sang nhà tham vấn khác trong trường hợp nhà tham vấn không kiểm soát được cảm xúc, tình cảm  của mình.
-         Phân tích giấc mơ: theo S.freud thì giấc mơ không chỉ có chức năng sinh lý mà nó còn có một chức năng tâm lý vô cùng quan trọng, bởi nó giúp người ta giải tỏa được những căng thẳng thần kinh qua việc thỏa mãn những mong muốn của cá nhân trong khi mơ mà những mong muốn đó không được thực hiện trong thực tiễn.
-         Liên tưởng tự do: khuyến khích thân chủ thổ lộ, chia sẻ. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là lắng nghe tích cực tất cả mọi điều, mọi chi tiết mà thân chủ chia sẻ dù là rất nhỏ nhặt và bám theo dấu vết của những liên tưởng này đến liên tưởng khác để tìm được cội nguồn của chúng.
-         Nhạy cảm với những phản kháng/chống đối từ phía thân chủ: Sự chống đối của thân chhur thể hiện ở những hành vi như từ chối không thảo luận về một vấn đề nào đó, im lặng, quên, tỏ ra khó khăn trong trình bày bằng lời nói. Đôi khi sự phản ứng còn được biểu hiện qua hành vi hung dữ. Khi này có thể vấn đề thân chủ đang thảo luận đã động chạm đên cảm xúc đau đớn mà họ trải nghiệm trong quá khứ - Cần phải giúp họ thoát khỏi tình trạng đau đớn, lo âu.
S.T

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32