GIỚI THIỆU PHÂN TÂM HỌC 1
(ĐC sưu tầm trên NET)
Hai con trai với người vợ đầu của Jacob sống gần đó, tuổi gần bằng tuổi mẹ của cậu bé Sigmund, còn các con của những người cậu của Sigmund thì là những bạn chơi thời thơ ấu của Sigmund.
Những năm tháng sống ở Freiberg là những năm tháng rất đẹp trong thời thơ ấu của cậu bé Freud. Nhưng tại đây, ông cũng có những kỷ niệm buồn khi người em trai ngay sau ông, người mà ông luôn ghen tị khi thấy em mình được dành nhiều sự quan tâm của bố mẹ hơn lúc mới ra đời, đã mất khi chỉ mới 7 tháng tuổi. Cái chết của em làm Freud có cảm giác tội lỗi sâu sắc. Chính những ký ức về thời gian tại nơi này đã là chủ đề của nhiều bài viết sau này của ông.
Từ nhỏ, Freud đã sớm bộc lộ là một cậu bé thông minh, nhạy cảm. Ở trường, Freud là một học sinh giỏi, cậu được vào trung học sớm một năm, và liên tục đứng đầu lớp trong những năm trung học. Freud là một cậu bé đọc rộng, nắm vững tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh và Ý.
Tài năng và thành công trong học tập của Freud được gia đình trân trọng. Tuy điều kiện gia đình khó khăn về tài chính nhưng cậu bé luôn được cha tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học của mình. Vào nửa sau thế kỷ 19, với sự phát triển của tư sản Tiệp, đe dọa đến cuộc sống của các thương nhân Do Thái. Cha của Freud nhận thấy cuộc sống tại Freiberg không còn đảm bảo nữa, năm 1860, ông quyết định chuyển gia đình lên sinh sống tại Wien. Trong thời gian này, cậu bé lại có thêm những người em nữa. Đó là những năm khó khăn, gia đình đông người nhưng sống trong một căn nhà nhỏ. Tuy nhiên, cậu bé Freud vẫn được ưu ái dành riêng cho một căn phòng, có cửa sổ, giá sách, ghế và bàn viết, và được dùng đèn dầu, trong khi cả nhà phải dùng nến.
Lúc còn nhỏ, Freud đối với em mình lại là một ông anh khó tính, hống hách. Cậu giúp các em học, nhưng kiểm tra sách các em đọc, cấm các em đọc Balzac và Dumas, lại hay thuyết giảng...
Những năm thanh thiếu niên của ông, Wien, dù vẫn còn chủ nghĩa bài Do Thái, nhưng là một nơi của chủ nghĩa tự do chính trị. Nguyên tắc bình quyền giữa các tôn giáo được chính quyền tán thành. Thanh niên Do Thái lúc bấy giờ có đầy đủ các quyền công dân và quyền gia nhập các đoàn thể. Freud cũng không ngoại lệ. Ông mong muốn theo học ngành luật, nhưng mùa thu năm 1873, Freud lại vào khoa Y trường Đại học Wien.
Năm 1881, ông mới học xong đại học, và được công nhận là bác sĩ y khoa. Nhưng bản thân Freud, ông chưa bao giờ cho mình là thầy thuốc thực hành, và trong giai đoạn này, Freud luôn tìm kiếm cho mình một hướng đi sâu hơn về sinh lý học y khoa, và ông vẫn tiếp tục công việc của mình tại viện sinh lý cho đến khi ông đính hôn.
Năm 1882, Freud gặp và yêu, rồi đính hôn với Martha Bernay, một cô gái nhỏ bé, thông minh, xuất thân từ một gia đình có truyền thống trí thức và văn hóa Do Thái. Điều kiện làm việc tại viện sinh lý không cho phép Freud có thể lo lắng cho cả một gia đình dù đó là một gia đình nhỏ. Nếu muốn cưới vợ, ông phải có thu nhập thêm, vì vậy ông quyết định bỏ việc tại viện sinh lý, và đến làm việc tại bệnh viện đa khoa Wien.
Năm 1884, Freud đọc được một tài liệu viết về một bác sĩ quân y Đức sử dụng thành công cocain để tăng cường năng lực và sự chịu đựng cho binh sĩ. Ông đã quyết định dùng chính mình để thử, và nhận thấy mình trở nên khỏe khoắn, khả năng làm việc tăng lên. Lập tức ông khuyên một số đồng nghiệp của mình dùng thử, trong đó có Ernst von Fleischl-Marxow, một bác sĩ tài giỏi nhưng nghiện morphin. Freud cho rằng cocain có thể chữa được chứng nghiện morphin, vì thế Ernst von Fleischl-Marxow hăm hở dùng, và nhanh chóng đạt đến liều cao.
Trong số đồng nghiệp của Freud được giới thiệu về cocain, có Carl Koller, một bác sĩ nhãn khoa. Koller đã nhận thấy cocain có thể làm thuốc gây tê tại chỗ trong phẫu thuật mắt, ông đã nhanh chóng nghiên cứu và đã thành công. Ông đã nhanh chóng công bố phát hiện của mình, và gây được tiếng vang, được giới khoa học công nhận.
Thực ra Freud cũng biết đến tác dụng này của cocain, nhưng đáng tiếc là ông không lưu tâm đến điều này, không đi sâu tìm hiểu. Freud đã bỏ lỡ cơ hội. Không những thế, Fleischl-Marxow, người bạn của ông đã trở thành kẻ nghiện không chỉ morphin mà cả cocain. Fleischl-Marxow nhanh chóng suy sụp, lâm vào trạng thái thần kinh lẫn lộn, bị kích động, lo lắng và ảo giác, và chết sau đó vài năm.
Trong khi đó trên thế giới bắt đầu có nhiều báo cáo về ngộ độc cocain, còn Freud bị chỉ trích nặng nề vì biện hộ cho cocain. Sự chỉ trích này có thể coi là viết nhơ trong cuộc đời ông, và nó cũng là một lý do khiến những ý tưởng sau này của ông không được quan tâm đánh giá đúng mức.
Lúc thuyết Phân tâm học mới ra đời, thì cả nó lẫn tác giả của nó đều không được ủng hộ. Người ta không bán bánh mì cho Sigmund Freud nên ông phải che mặt nếu muốn mua được bánh mì.
Lúc này, tâm bệnh học bắt đầu có những bước phát triển tại châu Âu, nhất là tại Pháp. Tại đây, hysteria và thuật thôi miên là những đề tài y học nghiêm túc, được nghiên cứu, chú ý và gây nhiều tranh cãi trong giới y khoa. Đi tiên phong trong lãnh vực này là Jean Martin Charcot - một nhà thần kinh học lớn. Bệnh viện Salpêtrière của Charcot đã trở thành thánh địa cho các nhà thần kinh học đến thăm.
Tuy nhiên, tại Đức và Áo, hysteria bị khinh thị, giới y học ở đây cho rằng đó là chứng bệnh của đàn bà, với những triệu chứng không tìm được nguyên nhân. Những bệnh nhân bị bệnh tâm thần kinh thì bị coi thường, tại các bệnh viện, họ được điều trị bằng kích thích điện và những thứ thuốc không hiệu quả.
Freud, cũng như những nhà thần kinh học khác, đã tìm đến bệnh viện của Charcot. Chính tài năng, tri thức cùng uy tín của Charcot đã mang lại nhiệt tình cho Freud. Trong một lá thư ông gửi cho Martha - người vợ chưa cưới của mình, ông viết: "Không có người nào từng tác động nhiều đến anh như vậy". Ông đã dịch các bài viết của Charcot sang tiếng Đức. Và chính Charcot đã làm Freud quan tâm đặc biệt đến bệnh học tâm lý. Ông cũng treo bức tranh khắc của André Brouillet "Bài học lâm sàng của bác sĩ Charcot" tại phòng khám của mình ở số 19 phố Berggasse, người con trai đầu lòng chào đời năm 1889 cũng được ông đặt tên là Jean Martin để tôn vinh người thầy của mình. Trong suốt cuộc đời làm việc về sau, Freud vẫn hay trích dẫn câu nói của Charcot: "Lý thuyết thì tốt, nhưng không ngăn được thực tiễn tồn tại", để chỉ trích thái độ chỉ biết chấp nhận những kiến thức thu được mà không hề phê phán.
Freud đã được trao Giải Goethe năm 1930.
Tác giả: Người Tìm Hiểu (từ MINH TRIẾT VIỆT)
Carl
Jung là một nhà Tâm Lý học và tâm lý Trị Liệu Tâm Thần sinh sống trong
khoảng thời gian 1875-1961. Nổi tiếng nhờ ông thành lập một trường phái
Tâm Lý học mới có tên là “Tâm Lý Học Phân Tích”(‘analytical psychology’)
nhằm phân biệt với trường phái “Phân Tâm Học” (‘psychanalysis’) của
Sigmund Freud. Và ngày nay có rất nhiều nhà tâm lý trị liệu chữa trị
bệnh nhân theo phương pháp của ông. Phần lớn những điều được biết về
cuộc đời của Jung được tìm thấy trong cuốn Tự Truyên của ông có tựa là
‘Memories, Dreams, Reflections’
A)TẦM QUAN TRỌNG CÔNG TRÌNH CỦA CARL JUNG
Từ
ngữ ‘Khủng Hoảng Tuổi Trung Niên’ (Mid-Life Crisis) hiện nay rất thịnh
hành, nhất là đối với những người đứng tuổi mỗi khi gặp vấn đề liên quan
ít nhiều đến Nội Tâm. Chính bản thân Carl Jung cũng từng trải qua loại
Khủng Hoảng tương tự và ông đã sử dụng mọi phương tiện sẵn có trong tay
để giải quyết vấn đề Tâm Lý hệ trọng này, cho mình trước tiên, và sau đó
như một kinh nghiệm bản thân nhằm giúp người khác, bệnh nhân của ông
hay không, vượt qua thử thách nội tâm quan trọng này.
Mỗi
khi bàn về thế giới Tâm Thần (Psyche), Jung muốn nói đến toàn bộ tâm
trí hay tinh thần của con người về cả hai mặt Ý Thức và Vô Thức. Ông
nhìn tâm thần như là một tiến trình hơn là một vật thể và nó luôn luôn
kiếm tìm sự tăng trưởng và viên mãn. Phải tránh lẫn lộn tâm thần của một
cá nhân với Đại Ngã (Self) là mục tiêu, trung điểm của ‘vòng tròn huyền
diệu (mandala) mà tâm trí con người luôn luôn kiếm tìm và hướng tới.
Phong cách của một người ở đợt Ý Thức sẽ được quân bình bởi Vô Thức của
chính người đó bằng các phương tiện như giấc mơ, những hình ảnh tự phát,
sự lở lời…vvv…Nếu thông điệp của Vô Thức bị đương sự ‘phớt lờ’, thì sẽ
xảy ra chứng thác loạn thần kinh, và ngay cả các chứng bệnh về thể xác.
Sigmund Freud
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud; 6 tháng 5, 1856 – 23 tháng 9, 1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo. Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học.
Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây nhiều
tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp
phân tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải
thừa nhận rằng ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20.Thời niên thiếu
Cách Praha, thủ đô nước Cộng hòa Séc khoảng 130 dặm về phía đông là thành phố Freiberg (sau đổi tên là Pribor), một thành phố nhỏ thuộc vùng Moravia nằm gần biên giới Ba Lan. Sigmund Freud đã ra đời vào ngày 6 tháng 5 năm 1856 trong một gia đình Do Thái chính thống. Theo phong tục, cậu bé được đặt một tên Do Thái là Schlomo, theo tên vua Solomon và cũng là tên người ông của cậu. Mẹ ông, một phụ nữ người Viên, là vợ thứ ba của Jacob, cha ông, và khi sinh Sigmund bà chỉ mới 21 tuổi. Cha của Freud là một nhà buôn len bình thường, tính tình hòa nhã, hơn người vợ ba của mình đến 20 tuổi.Hai con trai với người vợ đầu của Jacob sống gần đó, tuổi gần bằng tuổi mẹ của cậu bé Sigmund, còn các con của những người cậu của Sigmund thì là những bạn chơi thời thơ ấu của Sigmund.
Những năm tháng sống ở Freiberg là những năm tháng rất đẹp trong thời thơ ấu của cậu bé Freud. Nhưng tại đây, ông cũng có những kỷ niệm buồn khi người em trai ngay sau ông, người mà ông luôn ghen tị khi thấy em mình được dành nhiều sự quan tâm của bố mẹ hơn lúc mới ra đời, đã mất khi chỉ mới 7 tháng tuổi. Cái chết của em làm Freud có cảm giác tội lỗi sâu sắc. Chính những ký ức về thời gian tại nơi này đã là chủ đề của nhiều bài viết sau này của ông.
Từ nhỏ, Freud đã sớm bộc lộ là một cậu bé thông minh, nhạy cảm. Ở trường, Freud là một học sinh giỏi, cậu được vào trung học sớm một năm, và liên tục đứng đầu lớp trong những năm trung học. Freud là một cậu bé đọc rộng, nắm vững tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh và Ý.
Tài năng và thành công trong học tập của Freud được gia đình trân trọng. Tuy điều kiện gia đình khó khăn về tài chính nhưng cậu bé luôn được cha tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học của mình. Vào nửa sau thế kỷ 19, với sự phát triển của tư sản Tiệp, đe dọa đến cuộc sống của các thương nhân Do Thái. Cha của Freud nhận thấy cuộc sống tại Freiberg không còn đảm bảo nữa, năm 1860, ông quyết định chuyển gia đình lên sinh sống tại Wien. Trong thời gian này, cậu bé lại có thêm những người em nữa. Đó là những năm khó khăn, gia đình đông người nhưng sống trong một căn nhà nhỏ. Tuy nhiên, cậu bé Freud vẫn được ưu ái dành riêng cho một căn phòng, có cửa sổ, giá sách, ghế và bàn viết, và được dùng đèn dầu, trong khi cả nhà phải dùng nến.
Lúc còn nhỏ, Freud đối với em mình lại là một ông anh khó tính, hống hách. Cậu giúp các em học, nhưng kiểm tra sách các em đọc, cấm các em đọc Balzac và Dumas, lại hay thuyết giảng...
Những năm thanh thiếu niên của ông, Wien, dù vẫn còn chủ nghĩa bài Do Thái, nhưng là một nơi của chủ nghĩa tự do chính trị. Nguyên tắc bình quyền giữa các tôn giáo được chính quyền tán thành. Thanh niên Do Thái lúc bấy giờ có đầy đủ các quyền công dân và quyền gia nhập các đoàn thể. Freud cũng không ngoại lệ. Ông mong muốn theo học ngành luật, nhưng mùa thu năm 1873, Freud lại vào khoa Y trường Đại học Wien.
Con đường đến với khoa học
Trong thời gian học y khoa, ông tỏ rất rõ quan tâm của mình đến sinh lý y khoa và sớm có những công trình nghiên cứu về sinh lý rất quan trọng, mặc dù ông còn rất trẻ. Năm 1876, ông được nhận làm sinh viên nghiên cứu ở viện sinh lý nổi tiếng của Ernst Brücke, ở đó ông tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về sinh lý thần kinh.Năm 1881, ông mới học xong đại học, và được công nhận là bác sĩ y khoa. Nhưng bản thân Freud, ông chưa bao giờ cho mình là thầy thuốc thực hành, và trong giai đoạn này, Freud luôn tìm kiếm cho mình một hướng đi sâu hơn về sinh lý học y khoa, và ông vẫn tiếp tục công việc của mình tại viện sinh lý cho đến khi ông đính hôn.
Năm 1882, Freud gặp và yêu, rồi đính hôn với Martha Bernay, một cô gái nhỏ bé, thông minh, xuất thân từ một gia đình có truyền thống trí thức và văn hóa Do Thái. Điều kiện làm việc tại viện sinh lý không cho phép Freud có thể lo lắng cho cả một gia đình dù đó là một gia đình nhỏ. Nếu muốn cưới vợ, ông phải có thu nhập thêm, vì vậy ông quyết định bỏ việc tại viện sinh lý, và đến làm việc tại bệnh viện đa khoa Wien.
Những thất bại
Lúc này, Freud, một chàng trai trẻ tuổi, khát khao có được thành công trong khoa học, vì vậy, ông luôn muốn có được một khám phá mà ông hi vọng rằng có thể đem đến công danh cũng như tiền bạc. Điều đó ông đã lỡ mất chỉ trong gang tấc.Năm 1884, Freud đọc được một tài liệu viết về một bác sĩ quân y Đức sử dụng thành công cocain để tăng cường năng lực và sự chịu đựng cho binh sĩ. Ông đã quyết định dùng chính mình để thử, và nhận thấy mình trở nên khỏe khoắn, khả năng làm việc tăng lên. Lập tức ông khuyên một số đồng nghiệp của mình dùng thử, trong đó có Ernst von Fleischl-Marxow, một bác sĩ tài giỏi nhưng nghiện morphin. Freud cho rằng cocain có thể chữa được chứng nghiện morphin, vì thế Ernst von Fleischl-Marxow hăm hở dùng, và nhanh chóng đạt đến liều cao.
Trong số đồng nghiệp của Freud được giới thiệu về cocain, có Carl Koller, một bác sĩ nhãn khoa. Koller đã nhận thấy cocain có thể làm thuốc gây tê tại chỗ trong phẫu thuật mắt, ông đã nhanh chóng nghiên cứu và đã thành công. Ông đã nhanh chóng công bố phát hiện của mình, và gây được tiếng vang, được giới khoa học công nhận.
Thực ra Freud cũng biết đến tác dụng này của cocain, nhưng đáng tiếc là ông không lưu tâm đến điều này, không đi sâu tìm hiểu. Freud đã bỏ lỡ cơ hội. Không những thế, Fleischl-Marxow, người bạn của ông đã trở thành kẻ nghiện không chỉ morphin mà cả cocain. Fleischl-Marxow nhanh chóng suy sụp, lâm vào trạng thái thần kinh lẫn lộn, bị kích động, lo lắng và ảo giác, và chết sau đó vài năm.
Trong khi đó trên thế giới bắt đầu có nhiều báo cáo về ngộ độc cocain, còn Freud bị chỉ trích nặng nề vì biện hộ cho cocain. Sự chỉ trích này có thể coi là viết nhơ trong cuộc đời ông, và nó cũng là một lý do khiến những ý tưởng sau này của ông không được quan tâm đánh giá đúng mức.
Lúc thuyết Phân tâm học mới ra đời, thì cả nó lẫn tác giả của nó đều không được ủng hộ. Người ta không bán bánh mì cho Sigmund Freud nên ông phải che mặt nếu muốn mua được bánh mì.
Và những khám phá trong phân tâm học
Tuy câu chuyện buồn về Fleischl-Marxow là một thất bại ảnh hưởng đến uy tín của ông Freud lúc đó nhưng Brücke và một số giáo sư ở Đại học Wien tin tưởng. Cũng vì sự ủng hộ của những giáo sư này mà năm 1885, ông được đề bạt làm giảng viên danh dự tại đại học này, một vị trí rất được trọng nể.Lúc này, tâm bệnh học bắt đầu có những bước phát triển tại châu Âu, nhất là tại Pháp. Tại đây, hysteria và thuật thôi miên là những đề tài y học nghiêm túc, được nghiên cứu, chú ý và gây nhiều tranh cãi trong giới y khoa. Đi tiên phong trong lãnh vực này là Jean Martin Charcot - một nhà thần kinh học lớn. Bệnh viện Salpêtrière của Charcot đã trở thành thánh địa cho các nhà thần kinh học đến thăm.
Tuy nhiên, tại Đức và Áo, hysteria bị khinh thị, giới y học ở đây cho rằng đó là chứng bệnh của đàn bà, với những triệu chứng không tìm được nguyên nhân. Những bệnh nhân bị bệnh tâm thần kinh thì bị coi thường, tại các bệnh viện, họ được điều trị bằng kích thích điện và những thứ thuốc không hiệu quả.
Freud, cũng như những nhà thần kinh học khác, đã tìm đến bệnh viện của Charcot. Chính tài năng, tri thức cùng uy tín của Charcot đã mang lại nhiệt tình cho Freud. Trong một lá thư ông gửi cho Martha - người vợ chưa cưới của mình, ông viết: "Không có người nào từng tác động nhiều đến anh như vậy". Ông đã dịch các bài viết của Charcot sang tiếng Đức. Và chính Charcot đã làm Freud quan tâm đặc biệt đến bệnh học tâm lý. Ông cũng treo bức tranh khắc của André Brouillet "Bài học lâm sàng của bác sĩ Charcot" tại phòng khám của mình ở số 19 phố Berggasse, người con trai đầu lòng chào đời năm 1889 cũng được ông đặt tên là Jean Martin để tôn vinh người thầy của mình. Trong suốt cuộc đời làm việc về sau, Freud vẫn hay trích dẫn câu nói của Charcot: "Lý thuyết thì tốt, nhưng không ngăn được thực tiễn tồn tại", để chỉ trích thái độ chỉ biết chấp nhận những kiến thức thu được mà không hề phê phán.
Freud đã được trao Giải Goethe năm 1930.
Tác giả: Người Tìm Hiểu (từ MINH TRIẾT VIỆT)
CARL JUNG VÀ CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
DẪN NHẬP
Rất nhiều người đã nghe đến tiếng tăm
của Carl Jung và nhiều cuốn sách đã được viết về ông. Jung tự thân cũng
là một cây viết phong phú với hơn 20 tác phẩm. Một số ý tưởng và thuật
ngữ được ông đặt ra, đã trở thành thông dụng trong đời sống hằng ngày
hiện nay như ‘archetype’ (= linh tượng, sơ nguyên tương),
‘introvert-extrovert’ (= hướng nội – hướng ngoại), ‘midlife crisis’ (=
khủng hoảng tuổi trung niên)…..vvv…..
Carl Jung còn là một Học Giả lớn, và
những lãnh vực mà ông quan tâm đến bao gồm Chiêm Tinh, Thuật Giả Kim,
các Tôn Giáo trên thế giới…..vvv…..Nội dung suy tư và sáng tác của Carl
Jung không chỉ liên quan đến các lãnh vực nói trên, mà còn dựa trên
Kinh Nghiêm thực tiễn mà ông có khi tiếp xúc với các bệnh nhân trong
lãnh vực nghề nghiêp.
Hệ Tâm Lý mà Jung phát triển là một
ngành Tâm Lý học TÂM LINH, được phân biệt với ngành Tâm Lý học chính
thống đương thời với đặc tính CƠ KHÍ cứng ngắc, và lối nhìn con người
dưới dạng thức của một cái MÁY mà các hành động được định đoạt bởi các
nguyên nhân có tính cách Vật Lý và Hóa Học.
Suốt cuộc đời, Carl Jung bi quyến rũ
bởi địa hạt Tâm Linh và Thần Bí và cho rằng đó là khía cạnh quan trọng
nhất trong công trình sáng tác của ông.
Sở dĩ Jung chú tâm (một cách cố tình)
đến một địa bàn rộng lớn bao gồm nhiều lãnh vực và nhiều truyền thống
Tâm Linh khác nhau, bởi vì mục tiêu của Jung là thử đi tìm những Chân Lý
CHUNG của cả Nhân Loại.
Jung tin rẳng đời sống Tâm Linh của một
cá nhân có tính quan trọng bậc nhất trong tiến trình chữa trị. Ông cho
rằng câu chuyện về đời sống cá nhân của một con người là điều quan
trọng. Jung quan tâm và lắng nghe một cách cẩn thận những gì bệnh nhân
cảm thấy cần phải kể lại. Ông xem những chẩn đoán bệnh lý chỉ hữu ích
đối với Bác Sĩ chữa trị mà thôi, nhằm cung cấp cho Vị này một loại
‘Định Hướng nào đó’, chứ theo Jung, nó không giúp gì cho bệnh nhân.
Carl Jung sinh sống vào cuối thế kỷ 19,
trong khoảng thời gian bắt đầu có nhiều thay đổi quan trọng trong xã
hội, nhất là ở lãnh vực Khoa Học. Thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin
(1809-1882) đang thách thức lối Suy Nghĩ của Tôn Giáo, khiến nhiều người
đặt lại vấn đề đối với những gì được viết trong Kinh Thánh .
Sigmund Freud giúp mở rộng tầm nhận thức
của người đồng thời về sư quan trọng của Vô Thức trong đời sống Tâm Lý
của con người. Ngay cả cơ cấu xã hội cũng đang thay đổi, vì người ta bắt
đầu sống trong những tập hợp nhỏ hơn, và đi tìm kiếm những Chân Lý MỚI
cũng như bắt đầu quan tâm đến việc ‘Tìm Hiểu Về Chính Bản Thân Mình’.
Trong suốt công trình của ông, Jung nhấn
mạnh đến sư quan trọng của Vô Thức. Ông thường dùng từ ngữ ‘PSYCHE’ mà
đối với Jung, bao gồm cả tiến trình Ý Thức lẫn Vô Thức. Mặt khác, từ
ngữ ‘Mind’ được Jung sử dụng để chỉ các tiến trình của Ý Thức mà thôi.
Jung vạch ra sư kiện sau đây là tất cả những gì chúng ta lĩnh hội được
đều được nhận biết và ‘phiên dịch’ bởi Trí Óc của chúng ta. Do đó, chúng
ta không bao giờ biết một cách chắc chắn về những chân lý liên quan đến
thế giới bên ngoài chúng ta.
B) ‘TÂM LÝ HỌC PHÂN TÍCH’ LÀ GÌ ?
‘Tâm Lý Học Phân Tích’ là toàn thể ‘Hệ
Tâm Lý’ mà Carl Jung đã phát triển trong suốt cuộc đời của ông. Những ý
tưởng của Jung trong lãnh vực này đến từ nhiều nguồn khác nhau:
- - Từ gần 60 năm Kinh Nghiệm nghề nghiệp với các bệnh nhân
- = Từ việc cần cù nghiên cứu thế giới Nội Tâm, những Giấc Mơ, Cảnh Mộng, và Biểu Tượng của chính mình
- - Từ việc đọc rất nhiều và rộng, đi du lịch nhằm khảo sát tỉ mỉ nhiều Huyền Thoại và Niềm Tin Tôn Giáo của nhiều nền Văn Hóa.
Jung trở nên quan tâm đến ý tưởng cho
rằng có một vài Chủ Đề CHUNG hiện hữu xuyên qua các Huyền Thoại và nội
dung Văn Hóa của tất cả các Dân Tộc. Ý tường này dẫn đến sự khám phá ra
‘Vô Thức Cộng Thông’ (Collective Unconscious), một trong những chủ đề
chính yếu trong học thuyết của Carl Jung.
‘Tâm Lý Học Phân Tích’ xuất hiện với nhiều khía cạnh chính yếu:
- - Một phương pháp chữa trị nhằm Chữa không những Rối Loạn về Thần Kinh và Trí Óc, mà còn nhằm giúp những con người bình thường đạt được Quân Bình và ‘Tự Nhận Thức về chính bản thân mình’
- - Một nỗ lực nhằm cung cấp một Bản Đồ về toàn thể Cơ cấu TÂM LINH của con người hầu hiểu rõ hơn cách thức hoạt động của cơ cấu này
- - Sự khảo sát tỉ mỉ các khía cạnh sâu kín của Tâm Lý con người qua việc nghiên cứu các niềm tin Tôn Giáo, các giấc mơ, huyền thoại, biểu tượng và lãnh vực “Vượt Kinh Nghiệm Bình Thường” (‘PARANORMAL’) liên quan đến những sự việc không thể giải thích được bằng những phương pháp bình thường và khách quan.
Jung đăt ra thuật ngữ “Tâm Lý Học
Phân Tích” (=’Analytical Psychology’) vào khoảng năm 1913 nhằm phân biệt
với hệ “Phân Tâm Học” (= ‘Psycho-Analysis’) của Sigmund Freud.
Từ khi Jung qua đời vào năm 1961,
công trình phân tích Cơ Cấu TÂM LINH của Jung được công nhận một cách
rộng rãi như là một cái KHUNG Lý Thuyết có thể giúp ích trong việc
nghiên cứu các vấn đề Tâm Lý. Tuy nhiên, chính Jung cũng phải thú nhân
rằng các ý tưởng của ông không phải dễ ‘nắm bắt’. Ông cũng đưa ra nhận
xét là ông không thể cho rằng mình đã thành hình được một Lý Thuyết rõ
ràng, sáng sủa. Và công trình của ông bao gồm một loạt ‘thăm dò’ hướng
về cái KHUNG Lý Thuyết lý tưởng.
Dẫu có những khó khăn như vừa đề cập
ở trên, Jung vẫn khuyến khích chúng ta thể nghiệm việc đời với chính nó
và nếu được, phát triển lối nhìn thấu thị bên trong lòng sự vật.
Tuy nhiên, tới gần cuối đời, Jung
cuối cùng đã chấp nhận thử đặt một số ý tưởng lại với nhau nhằm giúp
những người bình thường hiểu được các Ý Tưởng của ông. Kết quả của nỗ
lực trên là sư ra đời của tác phẩm ‘Man and His Symbols’ có thề dùng như
bước khởi đầu tìm hiểu Học Thuyết của Carl Jung.
Nội dung tác phẩm nhấn mạnh đến niềm
thâm tín lâu đời của Jung rằng Thế Giới TÂM LINH của con người có một
địa vị quan trọng bậc nhất và phải đựợc nghiên cứu một cách nghiêm
chỉnh.
CARL JUNG VÀ ‘KHỦNG HOẢNG TUỔI TRUNG NIÊN’
C) KHỦNG HOẢNG TUỔI TRUNG NIÊN
Riêng
Jung, “sau khi mối liên hệ giữa ông và Freud đổ vỡ, Jung bị vướng mắc
vào tình trạng ‘suy trầm tâm lý’ kéo dài mà sau này Jung đặt tên
là‘khủng hoảng tuổi trung niên’. Lúc đó, ông đang ở tuối 39, rất nhiều
bạn bè và đồng nghiệp cũ cắt đứt liên hệ với ông, và Jung cũng thôi
không giảng dạy tại Đại Học nữa.
Jung
cảm thấy mất định hướng và có cảm tưởng đang bị treo lơ lửng giữa trời
và không tìm ra con đường đời đích thực của mình nữa. Phản ứng tức thời
là Jung xây lưng lại với thế giới bên ngoài một thời gian và rút lui vào
thế giới Nội Tâm của mình. Ông bắt đầu quan tâm đến các Giấc Mơ và
những gì kích thích trí Tưởng Tượng không những của riêng ông mà còn của
các bệnh nhân nữa.
Thật
sự Jung không hiểu tại sao các Bác Sĩ lại bị ‘ám ảnh’ với việc đưa ra
các chẩn đoán bệnh lý ‘chắc bắp’ mà không có vẻ quan tâm đến những gì
bệnh nhân nói với họ.
D) SỰ QUAN TRỌNG CỦA HUYỀN THOẠI
Carl
Jung đã quan tâm từ lâu đến vai trò của Huyền Thoại. Trong thời gian
làm việc tại bệnh viện Tâm Thần Burghõlzli tại Zũrich, ông bắt đầu ý
thức được rằng các chủ đề kiểu Huyền Thoại thường xuất hiện trong các
giấc mơ và sinh hoạt tưởng tượng của người Điên.
Cách
suy nghĩ của khoa Trị Liệu Tâm Thần đương thời cho rằng người ta mang
theo cái phần còn lại của mỗi ngày – tức những hình ảnh bắt nguồn từ các
kinh nghiệm hàng ngày mà Ý Thức đã quên, nhưng vẫn còn được giữ lại
trong phần Vô Thức.
Riêng
Jung bắt đầu tự hỏi rằng con người có thể mang thêm cái phần còn lại
‘Cổ Xưa’ (archaic) hay không – tức những mảnh vụn làm bằng những hình
ảnh, ấn tượng, cảm giác…..kế thừa theo di truyền từ các thế hệ ‘cha
ông’. Từ đó, Jung bắt đầu xây dựng lý thuyết của mình về Vô Thức Cộng
Thông (collective unconscious) và Linh Tượng hay Sơ Nguyên Tượng
(archetype).
Jung
tìm ra những Điển Tích được kể lại trong Huyền Thoại như điểm quy chiếu
về những vị Anh Hùng đã phải trải một cuộc hành trình vào ‘biển cả và
đêm tối’ với đầy hiểm nguy đang chờ đợi. Đôi khi, vị Anh Hùng phải bị
một con quái vật ‘nuốt chửng’ trước khi hồi sinh lại trong vinh quang.
Ý
tưởng ‘huyền thoại’ này rất phù hợp với trạng thái Nội Tâm của Jung lúc
này. Thực vậy, vào thời điểm đó, Jung có cảm tưởng đang sống thường
trực dưới sức ép của nội tâm, có khi mãnh liệt đến nỗi ông nghĩ là mình
đang trong trạng thái ‘nhiễu loạn tâm thần’ nghiêm trọng.
Tuy
nhiên, đồng thời Jung cũng nhận thấy rằng các giấc mơ và cảnh mộng đang
tràn ngập thế giới nội tâm của mình, bằng cách này hay cách khác có thể
được móc nối với các Ý Tưởng mà các Huyền Thoại đã diễn tả, làm thành
nội dung của điều mà Jung gọi là khả năng của Trí Tưởng Tượng trong việc
sáng tạo ra các Huyền Thoại.
Theo
Jung, các ‘ý tưởng tưởng tượng’ đó ở đâu cũng có, nhưng chính yếu ở đợt
Vô Thức, nhưng thường gây ra sợ hãi và ngờ vực cho nhiều người khi
chúng xuất hiện ở đợt Ý Thức. Trong khi đắm mình trong thế giới Vô Thức
như vậy, để tránh những nguy cơ có thể xảy đến, Jung ý thức rằng ở mặt
khác, ông cần phải tiếp tục một đời sống bình thường trong thế giới thực
tế được sử dụng như đối trọng lại với những lần ông‘du ngoạn’ vào thế
giới nội tâm.
Gia
đình và công việc đóng vai trò của những cái Neo nhắn nhở Jung rằng ông
là một con người thực sự và tránh cho ông tình trạng hoàn toàn ‘mất
chân đứng’. Jung đi đến quyết định rằng đàng nào, ông cũng phải làm chủ
tình thế, và bắt đầu nghiên cứu về khủng hoảng của chính bản thân mình
với tư cách là bệnh nhân và bác sĩ trong cùng một lúc. Jung cảm thấy lạc
lối nếu không có một cái khung để quy chiếu vào. Do đó, ông nhìn xung
quanh để tìm kiếm phương tiện nhằm lập biểu đồ cho cuộc hành trình của
chính mình.
D) SÁNG TẠO TRONG TRÒ CHƠI
Jung
cố nhớ lại tất cả các chi tiết của thời thơ ấu hầu cố tìm cho ra lý do
có thể giải thích các nhiễu loạn tâm lý hiện tại của mình. Ông thực hiện
điều trên hai lần, nhưng hình như không đi tới đâu. Cuối cùng, Jung
quyết định là sẽ tránh bớt óc phân tích và sẽ tuân theo các thôi thúc
của chính Vô Thức của mình. Và điều này đã mang lại những kết quả đáng
lưu ý.
Điều
đầu tiên đến trong đầu Jung hình như là ký ức về một điều mà ông say mê
khi mới mười tuổi. Jung đã dùng những cục đá và không ngừng xây nhà,
lâu đài, thành quách và làng mạc. Khi ký ức trào vọt, Jung cảm thấy rất
là xúc động và hưng phấn, và ông quyết định diễn lại giai đọan thơ ấu
bằng cách miệt mài trong các trò chơi tượng tự. Lúc đầu, Jung cảm thấy
tự ý thức được về mình, nhưng không lâu sau, ông nhận thấy đây là một
cách thức tốt đẹp để thực sư trở lại tiếp cận với bản chất đích thực của
mình vào lứa tuổi này.
Jung
thu nhặt những cục đá phù hơp với mục tiêu của mình và bắt đầu xây.
Jung xây nhiều mái nhà tranh, một lâu đài, một cái làng và một nhà thờ,
nhưng ông do dự trong việc đặt một bàn thờ thật sự trong lòng nhà thờ.
Rồi một ngày kia, khi đi dạo gần một cái hồ, ông kiếm ra được một cục đá
nhỏ màu đỏ hình chóp với dáng hoàn hảo chiều cao cỡ 4 cm. Jung rất vui
mừng vì biết đây là bàn thờ của nhà thờ của mình. Khi ông đặt vào đúng
chỗ của nó, Jung chợt nhớ lại giấc mơ ông có hồi còn rất nhỏ tuổi về một
ông Thần kỳ lạ ngồi trên ngai vàng của mình nằm dưới lòng đất qua hình
ảnh của một cái Dương Vật. Jung cảm thấy cực kỳ thỏa mãn bởi điều này.
Từ
đó, mỗi chiều, Jung bày trò chơi và chơi cho đến khi bệnh nhân đếnn ,
và sau đó tiếp tục chơi cho đến tối. Trong suốt cuộc đời còn lại, Jung
sử dụng trò chơi sáng tạo loại này như là một phương tiện chữa trị vô
giá.
THĂM DÒ THẾ GIỚI TÂM THẦN
TIỀM THỨC CÁ NHÂN
Thật ra,
quan niệm về ảnh hưởng của Tiềm Thức, Vô Thức trên lối hành xử của
chúng ta không phải là điều mới mẻ vì từ lâu người ta đã biết điều này.
Nhưng trước Freud, người ta không chú ý lắm, ngay cả ‘phớt lờ’ các tác
động của Vô Thức. Công trình của Freud khiến người ta ý thức hơn về vai
trò của Vô Thức và cách thức mà nó tác động trên đời sống, sinh hoạt của
người lớn cũng như của đứa trẻ tuổi đang lớn. Freud tin rằng tiếp cận
với Vô Thức và các ký ức bị ‘đè nén’ sẽ giúp ích cho việc chữa trị các
chứng thác loạn tâm thần.
Freud là
một ‘tín đồ thuần thành’ của chủ nghĩa Cơ Giới (mechanist) và ông luôn
tỏ ra nghiêm chỉnh trong việc áp dụng phương pháp Khoa Học trong công
việc của mình, trong khi Jung không ngừng quan tâm đến khía cạnh tâm
thần ‘vượt bình thường’ (paranormal) của trí óc con người. Sự khác biệt
này là một trong những yếu tố then chốt gây ra sư rạn nứt trong mối quan
hệ giữa Freud và Jung. Giống như Freud, Jung tin rằng Vô Thức có một
tầm ảnh hưởng rất lớn , nhưng lối nhìn của Jung về Vô Thức rất khác xa
Freud. Theo Jung, ảnh hưởng của Freud trên lối suy tư đương thời biến Vô
Thức thành môt ‘đống rác rưởi’ tâm thần. Đối với Jung, nội dung của Vô
Thức phong phú hơn vậy nhiều. Nó chứa đựng tất cả mọi khía cạnh của bản
tính con người, ‘sáng và tối, xinh đẹp và xấu xí, tốt lành và xấu xa,
thâm trầm và ngờ nghệch’. Khám phá lớn của Jung giúp ông khai phá một
lối tiếp cận hoàn toàn mới đối với ngành Tâm Lý học với chủ trương rằng ”
cũng như nội dung của Ý Thức có thể biến mất trong lòng Vô Thức, thì
nội dung mới khác chưa bao giờ được Ý Thức biết đến cũng có thể bắt
nguồn từ chính Vô Thức. Nói một cách khác, Vô Thức không phải chỉ là một
‘đống rác rưởi’ tâm thần , mà trái lại nó vô cùng huyền bí và chứa đầy
những hạt mầm cho những biến cố và dự kiến trong tương lai cũng như
đến từ quá khứ… Không những nó có khả năng đón chờ tương lai cũng như
trở lại với quá khứ , Vô Thức còn vượt qua các ranh giới của cá nhân để
tiến vào thế giới của Vô Thức Cộng Thông (collective unconscious)
Thái độ
thù nghịch của Freud đối với các hiện tượng ‘vượt bình thường’
(paranormal) khiến cho Jung phát cáu, vì theo Jung, đó lả một thái độ
hẹp hòi, hạn chế trong việc tìm hiểu về thế giới Tâm Thần. Mục tiêu của
Jung là nghiên cứu tìm hiểu các khía cạnh phong phú và lắm vẻ của cả
Tiềm Thức cá nhân lẫn Vô Thức Cộng Thông, mặc dầu ông công nhận đó quả
là một công việc to lớn đồ sộ.
Một buổi
tối, Jung đến thăm Freud và hỏi ý kiến của Freud về các hiện tượng
‘điềm báo trước’ (precognition) cũng như về ngành Tâm Lý học chuyên về
những cái ‘vượt bình thường’ (parapsychology) một cách chung chung.
Freud trả lời một cách vắn tắt với thái độ dửng dưng và Jung cảm thấy
ông phải cố gắng dằn lòng lại nhằm che dấu sự bực tức của mình. Trong
khi thực hiện điều đó, Jung cảm thấy vòng cơ hoành của mình ở bụng trở
nên nóng hổi và theo sau là một tiếng nổ lớn trong tủ sách của Freud
nằm ở cạnh đó, khiến cho hai người nhảy nhổm lên. Jung tuyên bố đó là
một thí dụ về hiện tượng xúc tác được thể hiện ra bên ngoài. Freud chế
giễu ý tưởng đó, nhưng Jung cãi lại và báo trước cho Freud biết là sẽ có
một tiếng nổ lớn thứ hai nhằm bảo vệ quan điểm của mình. Điều đó xảy ra
tức khắc sau đó khiến cho Jung cảm thấy mãn nguyện còn Freud thì tỏ ra
kinh ngạc.
VÔ THỨC CỘNG THÔNG
Mối quan
tâm của Jung đối với Vô Thức Công Thông (collective unconscious) bắt
nguồn từ công việc mà Jung thực hiện với các bệnh nhân tâm thần cũng
như từ cuộc ‘khủng hoảng tuổi trung niên ‘ của chính mình. Jung khám phá
ra rằng tâm trí con người tạo ra những biểu tượng và hình ảnh được
nhìn nhận một cách phổ quát, mà ông đặt tên là ‘Archetype’ (= linh tượng
hay sơ nguyên tượng). Vô Thức Cộng Thông xuất hiện dưới 2 khía cạnh
chính yếu là :
- Sơ Nguyên Tượng (archetypes) giúp mặc một hình thái cho sự hiểu biết của chúng ta về các Ý Tưởng vô thức.
- Bản
Năng (instincts)là những thúc đẩy sinh lý bẩm sinh xác định thái độ và
hành vi của chúng ta như chẳng hạn sự thúc đẩy do tình dục, do đói ăn,
do tính gây hấn.
Trên đây
là hai yếu tố cấu thành thuộc Vô Thức Công Thông vì chúng hiện hữu một
cách độc lập đối với tâm trí của một cá nhân và chứa đựng những khía
cạnh bẩm sinh được thừa nhận môt cách phổ quát.
SƠ NGUYÊN TƯỢNG
Theo
Jung, Sơ Nguyên Tượng(archetype) thông thường có tính cách Tôn Giáo
trong bản chất và thường đi đôi với một bầu khí Thần Bí tức như có sự
hiện diện của Thần Linh. Làm bằng những hình tượng và không hiện hữu
dưới dạng thái vật thể trong thế giới vật chất, điều này không có nghĩa
là Sơ Nguyên Tượng không có một thực thể riêng biệt tự thân của chúng.
Một thí dụ thích hợp về Sơ Nguyên Tượng là Philemon, vị hướng đạo tinh
thần của Jung và là một Sơ Nguyên Tượng về nhà Hiền Triết. Các dân tộc
khác nhau hình thành những hình ảnh về Sơ Nguyên Tượng khác nhau tùy
theo bầu khí Văn hóa mà họ đang sinh sống. Nếu một mặt các hình tượng
của Sơ Nguyên Tượng khác nhau thì mặt khác, Sơ Nguyên Tượng tự thân lại
giống nhau. Mọi người đều cảm thấy thân thuộc với các hình dáng Sơ
Nguyên Tượng có khuynh hướng xuất hiện trong các huyền thoại và truyện
thần tiên. như sơ nguyên tượng về người phụ nữ cao niên, về kẻ lừa gạt,
người trẻ tuổi, kẻ khờ dại…vvv…
BẢN NĂNG
Theo
Jung, Văn Minh bó buộc chúng ta phải rời xa các Bản Năng cơ bản của
mình, nhưng không vì vậy mà tất cả bản năng của chúng ta đều phải biến
đi mất. Vì các bản năng thường bị đè nén, nên chúng có khuynh hướng xuất
hiện một cách gián tiếp qua hình thái của một chứng thác loạn thần kinh
hay một loại tính khí kỳ quặt của một cá nhân. Chúng cũng có thể xuất
hiện với những hình ảnh trong giấc mơ hoặc qua những lúc lở lời hoặc
đảng trí.
Jung
muốn vượt qua quan niệm về sự hiện hữu riêng biệt của những bản năng
khác nhau như các bản năng đói, tình dục, gây hấn. Jung cho rằng lối
tiếp cận trên quá cụ thể và sẽ có ích hơn nếu chúng ta xem tất cả các
bản năng khác nhau như những biểu hiện khác nhau của một năng lượng tâm
lý duy nhất. Jung gọi năng lượng này là ‘libido’ mà ông so sánh với năng
lượng vật lý nơi đây sức nóng, ánh sáng và điện lực chỉ là những khía
cạnh khác nhau của năng lượng vật lý duy nhất. Quan niệm ‘libido’ của
Jung khác với Freud vì từ ngữ ‘libido’ được Freud xử dụng để chỉ bản
năng tình dục mà thôi.
Nhận xét
Đăng nhận xét