CÂU CHUYỆN TÂM LINH 99

(ĐC sưu tầm trên NET)

Cúng rằm tháng bảy - Vu Lan tại nhà sao cho đúng?

Đến đúng ngày 15/7, mọi việc phải được hoàn tất, đó cũng là lúc "ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy", "mở cửa ngục xá tội vong nhân".
Trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam, cứ đến ngày Rằm tháng Bảy mọi người khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan với tâm nguyện nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Trong ngày lễ Vu Lan, mọi người cùng nhau đến chùa để thắp nhang, khấn nguyện, cầu siêu cho người đã khuất, cầu mong cho gia đình, người thân được nhiều cơ may, hạnh phúc.
Những ai cài bông hoa màu đỏ, màu hồng là có ý nghĩa thầm cảm tạ trời đất vì mình vẫn còn được phụng dưỡng cha mẹ. Còn người cài hoa trắng là những người đã không còn bậc sinh thành...
Cúng rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên, cúng Vu Lan báo hiếu tại nhà thường có các lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thí thực cô hồn và cúng phóng sinh.
1. Cúng Phật
Vào ngày rằm tháng Bảy, sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh - Kinh Vu Lan - để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi.
2. Cúng thần linh và gia tiên
Một số người Việt Nam tin rằng Lễ Xá tội vong nhân bắt nguồn từ công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm, cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào vụ thu hoạch mùa màng. Để công việc được may mắn, không gặp trắc trở, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa... bắt giam những yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.
Đến đúng ngày 15/7, mọi việc phải được hoàn tất, đó cũng là lúc "ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy", "mở cửa ngục xá tội vong nhân". Và cũng vào ngày này, người ta thường làm một lễ cúng tạ ơn các thần linh, và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát và cầu bình an cho gia đình. Vì vậy nên đa phần các gia đình thường cúng cơm mặn, nhưng cúng chay tốt hơn.
a. Văn khấn cúng thần linh tại gia rằm tháng 7
Nam mô A Di Đà Phật
Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.
Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm ....
Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) … thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.
Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.
Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.
Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hướng về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
b. Văn tế khấn Tổ tiên ngày rằm/7
Nam mô A Di Đà Phật
Kính lạy Tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.
Hôm nay là rằm tháng bảy năm ....
Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến Tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vì vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.
Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Nguyễn, Lê, Trần …)
Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.
Tín chủ lại mời: các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
3. Cúng thí thực cô hồn (hay còn gọi cúng chúng sinh – theo Phật giáo miền Bắc) tại nhà
Ngoài việc cúng Phật, cúng thần linh và cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội...
* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).
* Sắm lễ:
- Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.
- Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).
- Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.
- Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).
- Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)
Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời.
* Văn khấn:
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương,
Con lạy Đức Phật Di Đà.
Con lạy Bồ Tát Quan Âm.
Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.
Tiết tháng 7 sắp thu phân
Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà
Âm cung mở cửa ngục ra
Vong linh không cửa không nhà
Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương
Gốc cây xó chợ đầu đường
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang
Quanh năm đói rét cơ hàn
Không manh áo mỏng, che làn heo may
Cô hồn nam bắc đông tây
Trẻ già trai gái về đây họp đoàn
Dù rằng: chết uổng, chết oan
Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu
Chết tai nạn, chết ốm đau
Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình
Chết bom đạn, chết đao binh
Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi
Chết vì sét đánh giữa trời
Nay nghe tín chủ thỉnh mời
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau
Cơm canh cháo nẻ trầu cau
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh
Gạo muối quả thực hoa đăng
Mang theo một chút để dành ngày mai
Phù hộ tín chủ lộc tài
An khang thịnh vượng hoà hài gia trung
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời
Bây giờ nhận hưởng xong rồi
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần
Tín chủ thiêu hoá kim ngân
Cùng với quần áo đã được phân chia
Kính cáo Tôn thần
Chứng minh công đức
Cho tín chủ con
Tên là:....................................
Vợ/Chồng:...............................
Con trai:.................................
Con gái:..................................
Ngụ tại:...................................
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
4. Cúng phóng sinh
Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.
Văn khấn cúng phóng sinh
Chúng sanh nay có bấy nhiêu
lắng tai nghe lấy những lời dạy răn
các ngươi trước lòng trần tục lắm
nên đời nay chìm đắm sông mê
tối tăm chẳng biết làm lành
gây bao tội ác, lạc vào trầm luân
do vì đời trước ác tâm
nên nay chịu quả khổ đau vô cùng
mang, lông, mai, vẩy, đội sừng
da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh
do vì ghen ghét, tham sân
do vì lợi dưỡng hại người làm vui
do vì gây oán chuốc thù
do vì hại vật, hại sanh thoả lòng
do vì chia cách, giam cầm
do vì đâm thọc chịu bao khổ hình
cầu xin Phật lực từ bi
lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương
nay nhờ Tăng chúng hộ trì
kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau
hoặc sanh lên các cõi trời
hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành
hoặc sanh lên được làm người
biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…..
Chúng sanh quy y Phật
Chúng sanh Quy y Pháp
Chúng sanh Quy y Tăng….
Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần)
Theo Chùa Phúc Lâm

Đi tìm những "ẩn ức tâm linh" trong ngày Rằm tháng 7 ở châu Á

Tại nhiều nước châu Á, ngày Rằm tháng 7 âm lịch được coi là ngày dành cho người âm và tháng 7 cũng được coi là tháng âm (còn được gọi là tháng cô hồn), vì vậy người ta thường tránh làm việc đại sự vào tháng này...

Đi tìm những ẩn ức trong ngày Rằm tháng 7 ở châu Á
Người ta tin rằng, trong suốt tháng 7 và đặc biệt vào ngày Rằm tháng 7, những linh hồn từ dưới âm phủ, gồm cả linh hồn của tổ tiên và những cô hồn phiêu dạt sẽ từ dưới địa phủ quay về dương thế.
Rằm tháng 7, hay còn được gọi là lễ “xá tội vong nhân”, là một ngày lễ lớn, quan trọng trong phong tục của nhiều nước Á Đông. Lễ này trùng với lễ Vu Lan, vốn là lễ báo hiếu, cũng là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo.
Không giống như những ngày lễ khác trong năm, khi người sống nhớ về người chết, người ta tin rằng Rằm tháng 7 là dịp để người chết quay về thăm người sống và thụ hưởng những lễ vật mà người thân cúng cho.
Đi tìm những ẩn ức trong ngày Rằm tháng 7 ở châu Á
Bản chất của ngày Rằm tháng 7 cũng giống như lễ Vu Lan, vốn là để tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên. Người ta quan niệm, vào ngày 15/7 âm lịch, những linh hồn người chết ở dưới âm phủ sẽ được xóa bỏ mọi tội lỗi. Theo tín ngưỡng dân gian, đây là ngày mở cửa âm phủ, “xá tội vong nhân” (bỏ qua mọi tội lỗi cho người chết).
Vào ngày này, bên cạnh mâm cúng gia tiên, nhiều gia đình còn có lễ cúng cô hồn (thường vào buổi chiều) dành cho các vong linh không nhà cửa, không nơi nương tựa, không có thân nhân thờ cúng.
Đi tìm những ẩn ức trong ngày Rằm tháng 7 ở châu Á
Theo truyền thuyết, ngày Rằm tháng 7 bắt đầu được biết tới trong nhân gian từ khi Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu cứu mẹ ra khỏi kiếp ngạ quỷ (quỷ đói). Chính từ truyền thuyết này mà ngày lễ Vu Lan cũng được sinh ra, trở thành ngày để tưởng nhớ công ơn cha mẹ.
Mục Kiền Liên vốn là một vị cao tăng, tu luyện được nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề khi đó đã qua đời, ông nhớ mẹ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên đã dùng mắt thần nhìn khắp trời đất để tìm.
Ông thấy mẹ mình vì gây nhiều nghiệp ác khi còn sống nên phải làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, mỗi khi bà đưa thức ăn lên miệng thì thức ăn đều hóa thành lửa đỏ.
Mục Kiền Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Chỉ có một cách là nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".
Đi tìm những ẩn ức trong ngày Rằm tháng 7 ở châu Á
Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Kiền Liên đã được giải thoát trong ngày Rằm tháng 7 để quay về thăm con và được hưởng những lễ vật mà con dâng lên. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ hãy theo cách này. Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.
Về bản chất, Rằm tháng 7 và lễ Vu lan rất giống nhau. Rằm tháng 7 là cách gọi dân giã trong nhân gian còn lễ Vu lan là ngày lễ lớn của Phật giáo.
Ở nhiều nước Á Đông, ngày Rằm tháng 7 là dịp để người sống tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà đã mất, cũng là dịp để giúp đỡ những linh hồn đói khát.
Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Rằm tháng 7 là dịp lễ lớn, cả nhà chùa và các gia đình đều làm lễ. Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào xẩm tối vì lúc này mặt trời đã lặn, cửa âm phủ đã đóng. Vào ngày này, những gia đình có điều kiện đều cúng hai mâm: một mâm cúng tổ tiên tại bàn thờ và một mâm cúng chúng sinh (cúng cô hồn) đặt ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè.
Trên mâm cúng tổ tiên, gia đình bày một mâm cỗ mặn, tiền vàng và những vật dụng cá nhân dành cho người cõi âm làm bằng giấy (vẫn gọi là đồ hàng mã) những mong người cõi âm có được một cuộc sống tiện nghi, đầy đủ giống như người dương thế.
Ở Việt Nam
Trên mâm cúng chúng sinh, lễ vật gồm có: quần áo chúng sinh bằng giấy nhiều màu, các loại bỏng gạo, ngô khoai, bánh kẹo, cháo trắng hoặc cháo hoa, tiền vàng, nước lã hoặc rượu, cốc gạo trộn lẫn với muối (cốc này sẽ được rắc ra vỉa hè hoặc sân nhà khắp tứ phía sau khi cúng xong) và còn có thể cài thêm cả chút tiền lẻ.
Cô hồn thực ra là ma đói, không nơi nương tựa, không người thờ cúng, khi cúng chúng sinh xong người ta thường gọi những đứa trẻ xung quanh đến rồi cho chúng cùng nhảy vào tranh cướp mâm cúng, hình ảnh đó tượng trưng cho những cô hồn đang cướp cỗ.
Ở Việt Nam
Ngoài ra, vào ngày này, ở chùa cũng hay có lễ phóng sinh, thả chim, thả cá về với môi trường sống của chúng.
Ngoài ra, ở một số vùng miền của Việt Nam, trong ngày lễ Vu Lan, vốn được coi là ngày dành cho mẹ, những người có mẹ còn đang sống sẽ cài một bông hồng đỏ lên áo và sẽ báo hiếu mẹ trong ngày này. Những người không còn mẹ nữa sẽ đeo một bông hồng trắng, tới chùa cầu kinh để linh hồn mẹ được an lành, siêu thoát.
Ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, ngày lễ này thường được tổ chức vào Rằm tháng 7 hoặc Rằm tháng 8. Trong ngày này, để bày tỏ những ước nguyện của mình với gia tiên đã khuất, người ta viết ước nguyện ra giấy rồi treo lên cây trúc với hy vọng điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.
Ngày lễ Rằm tháng 7 ở Nhật Bản qua nhiều đời đã dần mang thêm một nét nghĩa mới, trở thành dịp để gia đình đoàn tụ, khi đó, những người đi làm ở xa cũng sẽ quay về nhà để cả đại gia đình thăm viếng mộ tổ tiên.
Ở Nhật Bản
Vào dịp này, ở Nhật cũng thường tổ chức những hoạt động văn hóa - văn nghệ, những điệu múa truyền thống là không thể thiếu. Tục lệ này đã được duy trì trong suốt hơn 500 năm.
Ở Trung Quốc, các tục lệ có nhiều nét tương đồng với người Việt Nam. Thêm vào đó, người Trung Quốc còn có tục thả thuyền giấy hoặc đèn hoa đăng trên sông vào buổi tối như một cách để chỉ đường dẫn lối cho những linh hồn phiêu dạt khỏi bị lạc, biết đường trở về âm phủ trước khi cửa đóng hẳn.
Ở Nhật Bản
Vào dịp này, ở Trung Quốc cũng thường tổ chức văn nghệ quần chúng, mời người dân địa phương đến xem, hàng ghế đầu tiên luôn là hàng ghế trống, để dành cho các linh hồn tới cùng chung vui.
Ở Singapore và Malaysia, những buổi văn nghệ quần chúng là nét văn hóa nổi bật trong dịp lễ này. Những sân khấu dựng tạm là nơi để các ca sĩ, vũ công nghiệp dư biểu diễn. Tiền dựng rạp và thuê người biểu diễn sẽ do người dân địa phương cùng nhau quyên góp.
Hồ Bích Ngọc
Tổng hợp (Theo dantri.com.vn)
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
VH- Người Việt/ dân tộc Việt còn gọi là người Kinh, chiếm số lượng dân số đông nhất trong 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ nước Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là một sự hỗn dung tôn giáo bản địa, thu hút đông đảo công chúng tham gia, không phân biệt xu hướng chính trị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp... Các thực hành của tín ngưỡng này phản ánh nhiều giá trị văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng. Đặc biệt, tín ngưỡng tôn thờ người Mẹ, đồng nghĩa với sự bảo trợ, sinh sôi, sáng tạo, hướng về đời sống thực tại. Với những giá trị nhân văn sâu sắc, tính sáng tạo và thể hiện sự đa dạng văn hóa, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt xứng đáng được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Màn biểu diễn đón mừng sự kiện hai di sản “Nghi lễ Chầu văn của người Việt”

1. Trong đời sống tâm linh của người Việt đã từng tồn tại nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu. Đây là một tín ngưỡng dân gian xuất hiện phổ biến trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam nói riêng và cư dân sản xuất nông nghiệp lúa nước khu vực Đông Nam Á nói chung. Trải qua quá trình phát sinh từ một tín ngưỡng sùng bái tự nhiên mang tính bản địa đã phát triển thành tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần như: Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa… mang yếu tố âm, nữ tính. Các vị nữ thần được nhân dân suy tôn làm Thánh Mẫu với chức năng che chở, sinh sản, bảo vệ cho đời sống tinh thần của nhân dân.
Theo các tài liệu nghiên cứu về quá trình tam sinh tam hóa của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vào các thế kỷ XV, XVI, XVII thì đây là một nhân vật vừa có thực với cuộc sống trần gian, có cha mẹ, chồng con, là biểu tượng về tấm gương đức hạnh Trinh – Hiếu – Từ cùng công, dung, ngôn, hạnh. Đồng thời, Mẫu Liễu Hạnh lại là Tiên, là Thánh, là Phật, là Đại vương luôn thương yêu, che chở giúp đỡ, cứu khổ, cứu nạn cho muôn dân, trừng trị những kẻ độc ác. Vì vậy, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân tôn thờ làm thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, là “Tứ bất tử”, là “Mẫu nghi thiên hạ”, là “Thiên Bản lục kỳ chi đệ nhất”(1).
Với tư cách là thần chủ của tín ngưỡng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh có quyền năng cai quản toàn vũ trụ. Theo đó, vũ trụ được chia làm ba miền ứng với Tam phủ gồm Thiên (Trời), Địa (Đất), Thủy (Nước) hoặc Tứ phủ thì có thêm Nhạc (núi rừng). Trong đó, Thánh Mẫu Liễu Hạnh thường được đồng nhất hóa là Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Địa (còn gọi là Mẫu Bán Thiên), công chúa La Bình, con gái đức Tản Viên Sơn Thánh được tôn vinh là Mẫu Thượng Ngàn và công chúa Tam Giang, con gái vua Động Đình Long vương là Mẫu Thoải.
Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được sắp đặt một cách hệ thống và hoàn chỉnh. Các vị thần linh được phân chia thành các Phủ, các hàng theo các cấp bậc từ Tam tòa Thánh Mẫu, hàng Quan, hàng Chầu, ông Hoàng, các Cô, Cậu… theo lối tư duy cặp đôi âm – dương, chẵn – lẻ, tạo nên sự hài hòa, cân đối. Trong tín ngưỡng còn có một hệ thống các nghi lễ và lễ hội rất phong phú, đa dạng. Nơi khởi nguồn, hội tụ và lan tỏa của tín ngưỡng là Phủ Dầy - Nam Định.
2. Quần thể di tích Phủ Dầy gồm 20 di tích đền, phủ, chùa, lăng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các vị thần linh trong tín ngưỡng Tam phủ, tập trung tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Quá trình “Mẫu hóa” các di tích đã tạo thành một “siêu điện thờ”, đưa Phủ Dầy – Nam Định trở thành trung tâm của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt. Năm 1975, các di tích phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và Lăng Mẫu trong quần thể di tích Phủ Dầy đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.
Trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt thì Nghi lễ Chầu văn được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất. Nghi lễ Chầu văn, hầu đồng thường được diễn ra ở hầu hết các đền, phủ thờ Mẫu trong cả nước, nhưng tập trung nhiều nhất là tại quần thể di tích Phủ Dầy trong dịp Lễ hội tháng Ba (tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ).
Trong dịp này, các thanh đồng – những chủ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu thường tổ chức thành hội, bản hội để tham gia thực hành Nghi lễ Chầu văn, nhằm tôn vinh các vị thần linh Tam phủ, Tứ phủ, những người có công với dân với nước, nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người. Nghi lễ Chầu văn có sự tích hợp, tổng hợp nhiều hình thức văn hoá dân gian bản địa khác như: âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức dân gian, ca hát, nhảy múa, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, ẩm thực... đã tạo nên một hình thức sân khấu tâm linh huyền ảo, mang đầy tính thiêng liêng thần bí. Do vậy, có thể khẳng định Nghi lễ Chầu văn là một thành tố văn hóa quan trọng không thể thiếu được trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.
Bên cạnh Nghi lễ Chầu văn, thì Lễ hội Phủ Dầy cũng là đặc trưng tiêu biểu của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt. Lễ hội Phủ Dầy được tổ chức vào tháng Ba âm lịch hằng năm, để tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong Lễ hội Phủ Dầy thường diễn ra nhiều hoạt động lễ nghi, nhưng quan trọng nhất là Lễ rước Thỉnh kinh và Hội Hoa trượng…
Nghi lễ rước Mẫu lên chùa thỉnh kinh là lễ rước có quy mô lớn với sự tham gia của đông đảo cộng đồng, bắt nguồn từ sự kiện “Sòng Sơn đại chiến”, Mẫu Liễu Hạnh đã được Phật Tổ Như Lai ra tay cứu giúp và thu nạp. Từ đó, Mẫu Liễu Hạnh quy y cửa Phật để cứu độ chúng sinh khỏi cảnh lầm than cơ cực. Thông qua nghi thức rước Thỉnh kinh thể hiện mối quan hệ dung hoà, gắn kết giữa Tín ngưỡng thờ Mẫu với Nội đạo tràng và Phật giáo. Điều này đã góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng, thu hút nhiều tín đồ, phật tử tham dự và trở thành nét độc đáo trong Lễ hội Phủ Dầy...
...và “Lễ hội Phủ Dầy” được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (tháng 11.2013 tại tỉnh Nam Định) Ảnh: Ngọc Anh
Hội Hoa trượng còn gọi là Kéo chữ, Xếp chữ được tổ chức tại hai phủ Tiên Hương và Vân Cát do Thái phi Trần Thị Ngọc Đài (1577 - 1669), người thôn Thông Khê, tổng Đồng Đội, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Thông Khê xã Cộng Hoà) khởi xướng. Bà là người có công giúp dân Thiên Bản không phải đi lao dịch đắp đê ở Hà thành. Nhớ lời bà dặn khi về qua Phủ Dầy làm lễ tạ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, xếp cuốc xẻng thành các chữ để tạ ơn. Từ đó Hội Hoa trượng được hình thành, những chữ được chọn xếp trong Lễ hội Phủ Dầy thường là các chữ: “Mẫu nghi thiên hạ”, “Thiên hạ thái bình”, “Quốc thái dân an”, “Phong đăng hòa cốc”… là những nội dung thể hiện ước nguyện vĩnh hằng của cư dân nông nghiệp lúa nước, cầu mong mưa thuận gió hòa, đất nước hòa bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Thông qua các hoạt động lễ nghi, lễ hội, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt đã đề cao giá trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và trong cộng đồng. Tình yêu Mẹ, trở thành nguồn cội, gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên, giúp cho con người tin tưởng vào cuộc sống tươi đẹp, từ đó sống có ý thức, trách nhiệm với cộng đồng, môi trường thiên nhiên. Vì vậy trải qua thời gian, Nghi lễ Chầu văn và Lễ hội Phủ Dầy vẫn được bảo tồn và phát triển, trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang tính cộng đồng cao, trong đó tâm thức và tâm linh đan xen, hòa quyện vào nhau tạo thành sức mạnh tinh thần đoàn kết, góp phần cố kết nhân tâm, ổn định và phát triển xã hội.
3. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ do cộng đồng người Việt sáng tạo và lưu truyền. Đây là sản phẩm phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên xã hội của các cư dân nông nghiệp lúa nước. Với lối tư duy “thực tế”, “thực dụng” của người Việt Nam, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài… ở thế giới thực tại. Vì thế, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ còn mang tính thiết thực, “hiện sinh”, phù hợp với nhu cầu của con người ở mọi thời đại. Đây là sợi dây kết nối những cá nhân với các nhóm cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước có cùng niềm tin, tín ngưỡng tôn thờ Thánh Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ còn thể hiện khả năng tiếp thu, tích hợp và bản địa hóa nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau như Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và văn hóa nhiều dân tộc thiểu số như: Dao, Tày, Nùng… thể hiện mối quan hệ bình đẳng, gắn bó mật thiết giữa dân tộc Việt với các dân tộc anh em. Đặc biệt, thông qua việc thực hành tín ngưỡng còn giúp con người sống đoàn kết, hòa hợp, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói riêng và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, cũng như các dân tộc khác trên thế giới nói chung. Do đó, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt đã trở thành biểu tượng đa văn hóa tộc người, góp phần vào sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của nhân loại.
Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ còn chứa đựng nhiều giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc. Đó là tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh những người tài giỏi, có công với dân với nước. Nó đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, mà trong đó người Mẹ - Mẫu là nhân vật trung tâm. Thông qua các kho tàng truyền thuyết, huyền thoại, các hình thức diễn xướng, nghề thủ công truyền thống, trang phục cùng với nghệ thuật trang trí, kiến trúc, đã phản ánh lối tư duy, nếp sinh hoạt, lễ nghi, ẩm thực độc đáo của người Việt. Trong đó, Nghi lễ Chầu văn được coi là nghi lễ quan trọng nhất của tín ngưỡng – một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt. Nghi lễ Chầu văn đã sản sinh ra loại hình âm nhạc hát văn, mà theo ý kiến của Giáo sư Trần Văn Khê - nhà nghiên cứu âm nhạc học dân tộc, đó là một trong những loại hình dân ca tiêu biểu nhất của người Việt đóng góp vào kho tàng âm nhạc thế giới.
4. Như vậy, từ một tín ngưỡng với các hành vi tôn thờ Mẹ (Mẫu) đã có bước phát triển thành một tín ngưỡng lâu đời, có tính hệ thống và lan tỏa mạnh mẽ, trở thành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mang nét đặc trưng tiêu biểu của người Việt.
Hiện nay, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã phát triển lan tỏa ra khắp mọi vùng miền của đất nước, từ đồng bằng lên miền núi, từ Hà Giang đến mũi Cà Mau.
Trong các năm 2012, 2013, tỉnh Nam Định đã tổ chức kiểm kê, lập hồ sơ “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” và “Lễ hội Phủ Dầy”. Cả hai di sản văn hóa phi vật thể này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhận thức được giá trị, tầm quan trọng và ý nghĩa của di sản văn hóa phi vật thể “Tín ngưỡng thờ Mẫu” đối với cộng đồng và đời sống đương đại, đối chiếu với các tiêu chí quy định của UNESCO về việc ghi danh các di sản vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Nam Định đã đại diện cho các địa phương có di sản trên phối hợp với Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam cùng các cơ quan liên quan tiến hành xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” trình UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Với những giá trị nhân văn sâu sắc, tính sáng tạo và thể hiện sự đa dạng văn hóa, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt xứng đáng được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đỗ Thanh Xuân
Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở VHDLTT Nam Định
 (1). - “Tứ bất tử” gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
- “Mẫu nghi thiên hạ”: người mẹ mẫu mực trong thiên hạ.
- “Thiên Bản lục kỳ chi đệ nhất”: đứng đầu trong 6 sự tích linh thiêng của đất Thiên Bản xưa, nay là Vụ Bản, Nam Định.
(2). Bài viết có tham khảo các tài liệu:
Ngô Đức Thịnh: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế “Văn hóa thờ Nữ thần – Mẫu ở Việt Nam và châu Á, bản sắc và giá trị”; Hồ sơ Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia “Nghi lễ chầu văn của người Việt” và “Lễ hội Phủ Dầy”, 2012, 2013; Hồ sơ đề cử quốc gia “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” trình UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2014, Tư liệu Viện VHNT Quốc gia Việt Nam.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32