CÂU CHUYỆN TÂM LINH 98 (Chiêm tinh)
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chiêm tinh học là một nhóm hệ thống, truyền thống và niềm tin
về sự liên quan giữa các vật thể thiên văn và những thông tin liên quan
đến đời sống, công việc con người hoặc các vật chất thuộc Trái Đất.
Người thực hành chiêm tinh học được gọi là nhà chiêm tinh. Một số nhà
chiêm tinh tin rằng sự chuyển động và vị trí của các vật thể thiên văn
trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống Trái Đất hoặc tương ứng với các sự
kiện đời sống. Chiêm tinh học từng bị cho là mê tín dị đoan bởi
một số người thiếu kiến thức về lĩnh vực này. Song cho đến ngày hôm nay,
chúng ta có thể thấy rõ rằng đây là một bộ môn khoa học thực sự, có nhiều đóng góp thực tiễn cho đời sống:
Nhiều
người trong chúng ta vẫn hay nhầm lẫn hoặc đánh đồng hai khái niệm,
hoặc có chăng có biết rằng chúng có sự khác nhau thì cũng vẫn thường
nhầm tưởng rằng Thiên văn học và Chiêm tinh học là hai lĩnh vực có sự
liên đới mật thiết. Sự thật đây là hai lĩnh vực hết sức độc lập.
Trong quan điểm hiện đại, Thiên văn học được coi là một môn khoa học với hệ thống cơ sở chắc chắn, nhiều lý thuyết và mô hình được kiểm chứng không ngừng bằng thực nghiệm. Còn Chiêm tinh học không phải một khoa học, mà chỉ là một phần của văn hóa và tín ngưỡng.
Tất nhiên, một hệ thống chỉ cho ra kết quả đúng trong một số trường hợp không có nghĩa là chúng ta có quyền nói rằng nó sai. Và cũng tất nhiên, mỗi người đều có thể lựa chọn cho mình một hướng suy nghĩ độc lập, tin tưởng vào chiêm tinh hay tử vi không có gì là sai. Nhưng một hệ thống không dựa trên những lý thuyết vững chắc được kiểm chứng, thì hiển nhiên không được coi là khoa học, và những tiên đoán do nó đưa ra hoàn toàn chỉ mang tính tham khảo. Sau cùng, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau này.
Chiêm tinh học
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Bài viết (hoặc đoạn) này hiện gây tranh cãi về tính trung lập. Các thảo luận liên quan có thể được tìm thấy tại trang thảo luận. Xin đừng xóa bảng thông báo này cho đến khi kết thúc hoặc đạt được đồng thuận trong vấn đề này. |
| Bài viết này có nhiều yêu cầu chú thích nguồn gốc chưa được đáp ứng. Xin giúp cải thiện bài viết bằng cách chú giải từ các nguồn có uy tín để người đọc có thể kiểm chứng được thông tin. Những câu văn hay đoạn văn không có chú thích kiểm chứng được có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
- Nó giúp ta hiểu được chính con người mình thông qua việc lí giải chòm sao chiếu mệnh.
- Nó góp phần dự đoán trước tương lai (không hoàn toàn chính xác tới 100%) dựa trên tính toán sự chuyển động của các hành tinh, chòm sao,... (gọi chung là các thiên thể)
- Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 08:14 ngày 16 tháng 11 năm 2014.
Chân mạng của Nguyễn Văn Thiệu
Để người ta tin vào chân mạng thiên tử, làm tổng thống đời đời của Nguyễn Văn Thiệu, thầy bói Huỳnh Liên đưa ra lá số tử vi “tam tý, tứ quý” rất hoàn hảo.
Lá số thời điểm trước bầu
cử năm 1967 và lá số sau khi Thiệu làm tổng thống có khác biệt chút ít.
Lá số sau, chân mạng thiên tử của Thiệu “tỏa sáng” hơn lá số trước.
Lá số tử vi số 2 xuất hiện ngay trước thềm bầu cử lần 2
Lá
số thứ hai này diễn giải Nguyễn Văn Thiệu sinh vào nửa đêm (giờ Tý)
ngày 24/12/1924, tức ngày 28/11 âm lịch, nhằm vào ngày Đinh Sửu, tháng
Bính Tý của năm Giáp Tý. Theo "tử vi đẩu số" thì Nguyễn Văn Thiệu không
chỉ "trùng tam tý" mà còn "trùng tứ quý mệnh" mang cung Viên cũng nằm ở
Tý.
Theo tử vi
đẩu số thì "tứ tý, tứ quý mệnh" gồm: Nhất quý đế vương; Nhị quý hiển
danh; Tam quý trường thọ; Tứ quý tài lộc. Có nghĩa là Thiệu sẽ làm vua,
nổi tiếng, sống lâu và giàu có suốt đời, mãn kiếp. Bây giờ có thêm "Tứ
tý" thì Thiệu có thêm cung mạng "tứ linh" tức lúc nào xung quanh Thiệu
cũng có 4 linh vật độ trì: Long, Lân, Quy, Phụng. Căn cứ vào đó thì ai
theo phò tá trung thành với Thiệu sẽ mang thêm chân mạng của 1 trong 4
linh vật.
Cũng
theo lá số thứ hai, Thiệu mang mạng Kim, lại rơi vào cung Thủy là đắc
cát (may mắn). Năm 1965, Thiệu bước vào tuổi 41, đi vào cung Thổ, mà
Thổ lại sinh Kim nên gặp "Khoa, Quyền, Lộc, Binh, Hình, Tướng, Ấn" (Tức
đắc cử, có quyền, có lộc, cầm binh, giữ luật, hàm tướng, có chức vị
cao nhất). Nhờ đó, vào năm 1965, Thiệu giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh
đạo Quốc gia - Quốc trưởng rồi sau đó lên chức Tổng thống.
Với
cách giải lá số tử vi như vậy thì Nguyễn Văn Thiệu quả là con nhà trời
sai xuống trần gian nắm vận mạng cả thế giới chứ không chỉ riêng miền
Nam Việt Nam.
Nhiều
người nêu thắc mắc, mang chân mạng lớn như vậy, sao Thiệu không được
đầu thai vào gia đình danh gia vọng tộc để dễ dàng leo lên ngai rồng mà
lại ra đời trong một gia đình nghèo rớt mồng tơi ở Ninh Thuận? Chiêm
tinh gia Huỳnh Liên đổ thừa: Vì thực dân Pháp trấn yểm dinh Độc Lập nên
chân mạng thiên tử của Thiệu phải đầu thai nhằm gia đình nghèo. Nếu
không bị trấn yểm, có khi Nguyễn Văn Thiệu là con trai vua… Hàm Nghi
(?!).
Huỳnh Liên
tổ chức họp báo gồm những ký giả chuyên viết "tin bàn đèn" tại sân
dinh Độc Lập. Ông ta huyên thuyên giải thích: "Hình ảnh lá cờ ba que
bay chấp chới dưới tầng 1 giống như lửa tam muội đốt dinh. Phải dời lá
cờ lên trên nóc. Cần xây thêm một hàng vòi phun nước thẳng lên để … dập
lửa tam muội".
Thật
ra, lúc đó ông hàm ý Nguyễn Cao Kỳ "đốt cháy" dinh Độc Lập. Bởi theo
Hán tự, "kỳ" là "cờ". Đó là lý do sau khi Nguyễn Cao Kỳ được làm Thủ
tướng nhưng Thiệu nài nỉ Kỳ đừng dọn vào dinh ở. Nguyễn Cao Kỳ đành thu
xếp một chỗ trong sân bay Tân Sơn Nhất làm văn phòng làm việc và ở
luôn cho đến năm 1975.
Đó là lý do, cột cờ được dời lên sân thượng dinh Độc Lập.
Một
hôm Thiệu triệu Huỳnh Liên vào phủ đầu rồng chìa ra một bản vẽ bản đồ
miền Nam Việt Nam. Trên bản đồ, Thiệu vẽ sẵn một hình chữ T. Điểm gốc
xuất phát từ Ninh Thuận - quê hương của Thiệu. Điểm ngọn là dinh Độc
Lập. Từ dinh Độc Lập có 3 nhánh nhỏ chìa ra. Điểm cuối của 3 nhánh nhỏ
ấy là Hồ Con Rùa, Nhà thờ Đức Bà và một dinh thự nằm trên đường Công Lý
(tức đường Nguyễn Văn Trỗi ngày nay). Nếu ai hiểu phong thủy, kết nối
các điểm ấy với nhau sẽ thấy đó là hình của cụm sao Vua. Chiêm tinh gia
như Huỳnh Liên cũng bái phục tài chiêm tinh của Thiệu.
Tuy
nhiên, sau khi lật tới lật lui bức đồ hình, Huỳnh Liên đề nghị Thiệu
kéo thêm 1 đường gạch thẳng xuống đồng bằng sông Cửu Long kèm thêm phân
tích: "Với đồ hình này, tổng thống chỉ làm vua từ miền Trung tới Sài
Gòn thôi. Cần kéo dài đến miền Tây Nam Bộ. Với đồ hình kéo thêm về miền
Tây thì chữ "chủ" sẽ hiện rõ. Trong chữ chủ có chữ vương. Nếu làm vua
mà không làm chủ thì mất quyền vào tay Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, tổng
thống thành ra kẻ ngồi làm hình nộm. Nếu vừa vương vừa chủ thì tổng
thống mới đích thật có quyền hành trong tay. Vả lại, đồ hình chữ chủ
gần giống với mũi tên hướng về miền Bắc". Nghe Huỳnh Liên diễn giải,
Thiệu mát ruột đồng ý ngay.
Ngay lập tức, Thiệu cho gọi một sĩ quan công binh vào dinh Độc Lập bằng một công điện "tuyệt mật".
Viên
sĩ quan này được Thiệu trực tiếp ra lệnh: "Em tuyển một số lính có
biểu hiện sợ chết, đào ngũ để thành lập một đơn vị đặc biệt. Đơn vị đặc
biệt này sẽ thực hiện một loạt nhiệm vụ đặc biệt tối mật theo sự hướng
dẫn của một chuyên gia từ Hồng Kông trở về. Em chỉ được phép thực hiện
chứ không được phép hỏi". Đó là lý do sau này người ta đồn Huỳnh Liên
là thầy phong thủy gốc Hồng Kông.
Tuy
đồ hình phong thủy trấn yểm long mạch cho vận mạng "quốc gia" nhưng
lại mang tính chất cá nhân cho Thiệu. Những vị trí được đánh dấu trấn
yểm trên bản đồ gồm 5 vị trí: Dinh Độc Lập; Thư viện Quốc gia; Nhà thờ
Đức Bà; núi Mặt Quỷ ở Ninh Hải, Ninh Thuận (quê hương của Thiệu); tư
dinh của Thiệu (số 81, Trần Quốc Thảo ngày nay) và một khu vườn sát
quốc lộ ở trung tâm quận Thốt Nốt, Long Xuyên (ngày nay Thốt Nốt thuộc
Cần Thơ).
Trong 5
vị trí phong thủy đó, cụm "long mạch" dinh Độc Lập quan trọng nhất,
bao gồm: Dinh Độc Lập (đầu rồng - Long); Thư viện Quốc gia (chân và
mình rồng - Lân); Nhà thờ Đức Bà (chân và mình rồng - Phụng) và Hồ Con
Rùa (đuôi rồng - Quy).
| Hồ Con Rùa ngày nay. |
Giải mật đồ hình Hồ Con Rùa
Nếu nhìn từ khía cạnh địa lý thì vị trí đất dinh Độc Lập và Hồ Con Rùa là 2 gò nổi cao nhất trong khu vực.
Thầy
bói Huỳnh Liên khẳng định, con rồng nằm dưới dinh Độc Lập quẫy đạp nên
Diệm mới bị đảo chính và bị giết. Để con rồng dinh Độc Lập không quẫy
đạp nữa, cần phải dùng pháp thuật đóng đuôi rồng xuống đất cho nó nằm
im chịu phép.
Một
ngày cuối năm 1970, Hồ Con Rùa được khởi công xây dựng gấp gáp ngay
tại vị trí cổng thành Khảm Khuyết thuở xưa. Giữa trung tâm hồ nước tròn
là một đài tưởng niệm cao có hình cánh hoa xòe. Theo Huỳnh Liên, đó là
cây đinh đóng ghim đuôi rồng xuống đất cho nó đừng vùng vẫy. Dưới chân
đài có đúc một con rùa lớn bằng kim loại đội tấm bia đá ở trên lưng.
Tấm bia đá khắc tên nhiều quốc gia.
Là
đà trên mặt hồ nước là 3 đường hình bán nguyệt, 1 đường hình dấu hỏi
giao nhau dưới chân "cây đinh". Từ trên cao nhìn xuống, 4 lối đi trên
mặt nước tạo thành một đồ hình giống lá bùa. Năm 1972, công trình Hồ
Con Rùa hoàn thành và được đổi tên thành Công trường Quốc tế nhưng dân
Sài Gòn vẫn thích gọi đó là Hồ Con Rùa.
Cho
đến tận bây giờ nhiều người vẫn đặt dấu hỏi, 4 con đường trên mặt nước
là chữ bùa gì? Người thì đoán đó là chữ "Trấn thần" theo chữ Phạn.
Theo giới pháp sư Xiêm, Lèo, Trà Kha chuyên sử dụng chữ Phạn vẽ thần
phù thì 4 con đường đó chỉ hao hao thôi chứ không giống.
Người
thì đoán đó là chữ "gạo" theo Hán tự cách điệu. Vì Thiệu tuổi tý, trấn
phù bằng chữ "gạo" thì kể như "chuột sa hũ gạo", sống giàu sang, thụ
hưởng suốt đời. Tuy nhiên, xoay dọc ngang, đồ hình đó cũng chỉ hao hao
chứ không đủ nét để tạo thành chữ gạo.
Sau
năm 1975, thầy Huỳnh Liên đói khổ đã đổi vài ký gạo để tiết lộ với một
người nguyên là thiếu tá thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa định cư
ở Cali về thăm quê hương rằng: "Nó chẳng mang chữ gì cả. Đầu rồng nằm ở
dinh Độc Lập. Thân rồng chạy dọc theo đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa xuống
bến Bạch Đằng rồi ẹo lên theo đường Đồng Khởi, đi qua Nhà thờ Đức Bà để
đuôi rồng nằm ở Hồ Con Rùa. Những lối đi ấy là rẻ quạt đuôi rồng.
Những rẻ quạt ấy từ xương cụt của đuôi rồng tủa ra theo đường tròn rồi
tụ về hướng đường Võ Văn Tần. Do tôi vẽ tồi nên cái rẻ quạt đuôi rồng
không được giống lắm". Hóa ra, cái đồ hình của Hồ Con Rùa chẳng có ý
nghĩa gì hết. Ấy vậy mà nhiều người tin đến sái cổ.
Cũng thời điểm 1971, Nguyễn Văn Thiệu còn nhờ Huỳnh Liên trấn phong thủy để đặt "hậu điện vua" ở quê nhà Ninh Thuận.
Một
sự trùng hợp ngẫu nhiên đã xảy ra vào cuối năm 1974. Khi đó, các mặt
trận Tây Nguyên, miền Đông được quân ta giải phóng ào ạt. Bỗng dưng,
vùng núi Đá Chồng có hiện tượng "bão côn trùng". Cào cào, châu chấu,
sâu bướm sinh sôi nảy nở bay thành từng đàn lớn rợp cả bầu trời. Chưa
hết, một buổi chiều mưa, sét đánh vỡ ngọn Đá Dao làm đôi. Đá Dao lăn
xuống bứng gốc 3 hòn đá mặt quỷ. Thế là Đá Dao lẫn Mặt Quỷ không còn.
Đầu
năm 1975, quân ta giải phóng Sài Gòn. Được dịp, các thầy bói càng tin
tưởng vào việc Thiệu trấn yểm cung mạng. Năm 1975 là năm Ất Mão. Họ cho
rằng tuối Giáp Tý của Thiệu kỵ Ất Mão. Con mèo làm thịt ăn sống con
chuột nên Thiệu phải ra đi.
Cùng
trong năm xây dựng miếu Văn Thánh trấn hòn Đá Dao, Thiệu còn cho trồng
5 trụ đá theo thế "ngũ long trấn phục" ở dinh thự số 81, đường Trần
Quốc Thảo, quận 3 ngày nay. Đó là dinh thự được giao cho Thiệu làm nhà
ở. Thiệu sợ ám sát, không dám ở bên đó nên giao cho bà mẹ vợ. Lấy cớ
trồng 5 trụ đá trấn yểm vận mệnh quốc gia, Thiệu cắt cử một toán cảnh
sát dã chiến đến canh giữ. Xem như mẹ vợ của Thiệu được bảo vệ mà không
tốn một xu thuê người.
Sau
năm 1975, chính quyền cách mạng tiếp quản dinh thự đó làm nhà tang lễ.
Thấy những trụ đá ngăn cản lối đi, nhân viên nhà tang lễ nhổ bỏ 4 trụ.
Họ chừa 1 trụ nằm ở góc tường nhà bên trái làm miếu nhang khói cúng
vong. Khi nhà tang lễ dời đi, biệt thự này trở thành trụ sở Hội Liên
hiệp Văn học nghệ thuật TP HCM. Ngôi miếu này vẫn tồn tại. Mới đây, trụ
sở này được phá dỡ xây mới. Cái miếu - trụ đá trấn yểm bị phá bỏ.
Tại
trung tâm Thốt Nốt, Cần Thơ, Thiệu cũng cho xây một ngôi miếu nhỏ
trồng 5 trụ đá giữa một khu vườn cây ven quốc lộ 91 rồi cắt cử một lính
nghĩa quân canh gác, hương khói. Thật ra, đó là miếng đất Thiệu mua
khi còn là Tư lệnh Quân khu 4. Ông ta dự tính, nếu mất Sài Gòn, ông ta
sẽ về Cần Thơ trú ngụ và đó sẽ là nơi xây dinh thự. Sau năm 1975, cái
miếu này bị phá bỏ và chính quyền xây thành Trung tâm Giáo dục dạy
nghề.
| Hồ Con Rùa chụp từ vệ tinh giống như lá bùa. |
Sự thật…
Người
ta chỉ biết sự thật về ngày sinh khi Nguyễn Văn Thiệu kết thúc kiếp
người vào ngày 29/9/2001 tại Boston, Massachusetts, Mỹ. Đến lúc này
người ta mới giật mình vỡ lẽ khi thấy vợ con ông ta ghi ngày sinh của
ông trên bảng cáo phó khác hoàn toàn so với những lần ông công bố trước
đây.
Ngày sinh
thật của Nguyễn Văn Thiệu là ngày 5/4/1923, chứ không phải ngày
24/12/1924 như ông khai trong hồ sơ cá nhân và thường khoe ầm ĩ.
Theo
lời kể của bà mẹ ông thì ông chào đời vào giờ Dần. Chiếu theo tử vi
thì đó là giờ Dần, ngày Mậu Thân, tháng Ất Mão, năm Quý Hợi. Theo đó
thì lá số tử vi của ông xấu đến tàn tệ: Tứ hành xung khắc. Tức mệnh
yểu, bất tài, độc ác và háo sắc. Theo những ông thầy tử vi thì nhờ năm
sinh thật thuộc về mạng "quý" nên ông không thành cướp cạn hoặc tử trận
từ thời mới mang lon thiếu úy.
Thiệu
không làm "vua" suốt đời mà chỉ tồn tại 10 năm. Năm 1975, trước sự sụp
đổ về chính trị lẫn quân sự, ngày 21/4, Thiệu lên truyền hình mếu máo
khóc, xin từ chức. Nửa đêm ngày 25/4, ông ta đùm túm vợ con, bí mật rời
Sài Gòn lên máy bay chuồn sang Đài Loan sống lưu vong. Những ngày cuối
đời, ông mò sang Mỹ và qua đời ngày 29/9/2001. Đến lúc đó, người ta
mới thấy cuộc đời Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn dỏm, từ ngày sinh tháng đẻ
cho đến cái chức tổng thống.
Sau
năm 1975, Huỳnh Liên rời Sài Gòn về Vĩnh Phú, Lái Thiêu, Bình Dương
sống với bà vợ út, tránh mặt thế gian với cái tên cúng cơm là Trần
Thanh Sỹ. Một ngày đầu tháng 10/1982, ông bị 2 gã cháu vợ dùng dây điện
siết cổ đến chết để chiếm đoạt số vàng ông cất giấu. Tuy nhiên, họ
chẳng tìm được món gì có giá trị. Vụ án nhanh chóng được công an địa
phương khám phá. Kẻ thủ ác ra tòa lãnh án.
Do không bói nổi hậu vận cho mình nên "chiêm tinh gia phủ đầu rồng" không kịp hiểu vì sao mình chết thảm như vậy!
VHN stSự khác nhau giữa Thiên văn học và Chiêm tinh học
Viết bởi Đặng Vũ Tuấn Sơn
Trước tiên, bạn hãy để ý rằng có thể là
bạn hoặc những người xung quanh mà chắc chắn bạn đã gặp nhiều hơn một
lần thường coi rằng Thiên văn học (astronomy) và Chiêm tinh học
(astrology) nếu không phải là một thì cũng có những liên hệ mật thiết,
đó là sự quan sát các ngôi sao và chòm sao trên bầu trời. Tuy nhiên
trước khi đọc tiếp phần dưới xin bạn hãy từ nay nhớ một điều: hai sự
việc có cùng nguồn gốc không có nghĩa là giống nhau hoặc anh em thân
thiết gì với nhau cả, ví dụ như loài mèo và loài chó có cùng cấu tạo cơ
bản về các cơ quan trong cơ thể như hệ hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn ...
thậm chí nhu cầu thức ăn cũng khá giống nhau, nhưng hiển nhiên hai loài
vật này chẳng có họ hàng gì với nhau hay là với con người chúng ta. Vậy
thì Thiên văn học và Chiêm tinh học cũng vậy.
Chiêm tinh học xuất phát đầu tiên từ nền văn minh Lưỡng Hà cổ từ khoảng năm 3500 - 3000 trước CN, các linh mục một phần để phục vụ mục đích truyền giáo của mình đã quan sát chuyển động của các ngôi sao và đưa ra các dự đoán về tương lai, số phận của con người hay một vùng đất. Tất nhiên, họ phải ghi lại khá tỉ mỉ chuyển động của các ngôi sao và các pha của Mặt Trăng để lập ra hệ thống dự đoán của mình. Vì thế có thể coi vào thời gian ban đầu này, các hoạt động này có thể coi là vừa là chiêm tinh vừa là thiên văn.
Khi các nhà thiên văn sau này lần lượt phân định và đặt tên các chòm sao, ghi lại chuyển động chi tiết của các thiên thể trên bầu trời theo chu kì hàng năm, các thông tin đó tiếp tục được sử dụng cho chiêm tinh, và trong một khoảng thời gian khá dài các nhà thiên văn và các nhà chiêm tinh thường được coi là một. Thực tế là đến khi thiên văn học bắt đầu được nghiên cứu theo hướng thực nghiệm mà như chúng ta biết người dẫn đường là Galileo Galilei thì khi đó nó mới thật sự tách biệt hoàn toàn với chiêm tinh học.
Sự khác biệt cơ bản của hai lĩnh vực này có thể thấy ở một số điểm.
Chiêm tinh học xuất phát đầu tiên từ nền văn minh Lưỡng Hà cổ từ khoảng năm 3500 - 3000 trước CN, các linh mục một phần để phục vụ mục đích truyền giáo của mình đã quan sát chuyển động của các ngôi sao và đưa ra các dự đoán về tương lai, số phận của con người hay một vùng đất. Tất nhiên, họ phải ghi lại khá tỉ mỉ chuyển động của các ngôi sao và các pha của Mặt Trăng để lập ra hệ thống dự đoán của mình. Vì thế có thể coi vào thời gian ban đầu này, các hoạt động này có thể coi là vừa là chiêm tinh vừa là thiên văn.
Khi các nhà thiên văn sau này lần lượt phân định và đặt tên các chòm sao, ghi lại chuyển động chi tiết của các thiên thể trên bầu trời theo chu kì hàng năm, các thông tin đó tiếp tục được sử dụng cho chiêm tinh, và trong một khoảng thời gian khá dài các nhà thiên văn và các nhà chiêm tinh thường được coi là một. Thực tế là đến khi thiên văn học bắt đầu được nghiên cứu theo hướng thực nghiệm mà như chúng ta biết người dẫn đường là Galileo Galilei thì khi đó nó mới thật sự tách biệt hoàn toàn với chiêm tinh học.
Sự khác biệt cơ bản của hai lĩnh vực này có thể thấy ở một số điểm.
Mục đích: Chiêm tinh
học có mục đích phán đoán tương lai, quá khứ, số phận hay tính cách của
con người (hoặc các thực thể liên quan mật thiết tới con người). Trong
khi đó Thiên văn học tập trung giải thích cấu trúc của các thiên thể,
không gian và các hiện tượng xảy ra phía ngoài khí quyển Trái Đất.
Đối tượng: Chiêm tinh
học có đối tượng trực tiếp là các thiên thể biểu kiến trên bầu trời. Đối
với các nhà chiêm tinh thì sao, hành tinh hay thiên hà ... đều không có
ý nghĩa gì đặc biệt, với họ chỉ có các đốm sáng gọi chung là sao trên
thiên cầu, và họ sử dụng một số kiến thức về chu kì chuyển động, độ sáng
của chúng để lập ra các mô hình của mình.
Thiên văn học không giống với chiêm tinh, thiên văn nghiên cứu trực tiếp trên từng đối tượng để tìm ra các tính chất của chúng. Thuật ngữ "thiên văn học" ngày nay thực ra là một từ chung được dùng cho cả "thiên văn học" (nghiên cứu các qui luật chuyển động của bầu trời, cấu tạo của Hệ Mặt Trời và các hành tinh ...) và "Vật lý thiên văn" (gồm có các chuyển động quĩ đạo chi tiết của các thiên thể từ vệ tinh, hành tinh đến các sao và thiên hà (Celestial Mechanics) và hình học của không-thời gian (Cosmology)). Nói ngắn gọn, thiên văn học đi theo hướng của vật lý và toán học, với các con số thực nghiệm chi tiết và nghiên cứu sâu vào bản chất của các đối tượng thay vì chỉ quan sát hình chiếu của các thiên thể trên thiên cầu.
Thiên văn học không giống với chiêm tinh, thiên văn nghiên cứu trực tiếp trên từng đối tượng để tìm ra các tính chất của chúng. Thuật ngữ "thiên văn học" ngày nay thực ra là một từ chung được dùng cho cả "thiên văn học" (nghiên cứu các qui luật chuyển động của bầu trời, cấu tạo của Hệ Mặt Trời và các hành tinh ...) và "Vật lý thiên văn" (gồm có các chuyển động quĩ đạo chi tiết của các thiên thể từ vệ tinh, hành tinh đến các sao và thiên hà (Celestial Mechanics) và hình học của không-thời gian (Cosmology)). Nói ngắn gọn, thiên văn học đi theo hướng của vật lý và toán học, với các con số thực nghiệm chi tiết và nghiên cứu sâu vào bản chất của các đối tượng thay vì chỉ quan sát hình chiếu của các thiên thể trên thiên cầu.
Cơ sở: Chiêm tinh học
dùng cơ sở là các phán đoán kết hợp với quá trình tích lũy kinh nghiệm
sau hàng nghìn năm, các cơ sở của lĩnh vực này không mang tính cố định,
chắc chắn mà có thể thay đổi, về cơ bản chiêm tinh của phương Tây và tử
vi của phương Đông có cùng cách lập luận này, chỉ khác nhau về nội dung
chi tiết và cách lí giải. Còn thiên văn học dùng cơ sở là các quan sát
thực tế kết hợp với các mô hình toán học.
Có thể thấy một điều, các phán quyết của
chiêm tinh có thể đúng trong một số trường hợp chứ không thể đúng trong
mọi trường hợp, tức là nó mang tính may rủi. Trong khi đó các lý thuyết
của thiên văn, vật lý thì luôn đúng trong mọi trường hợp trong những
phạm vi nhất định, chúng chỉ bị thay đổi khi có các thực nghiệm chi tiết
hơn ở các qui mô lớn hơn hoặc nhỏ hơn chỉ ra được điểm chưa hoàn chỉnh
của lý thuyết ban đầu.
Trong quan điểm hiện đại, Thiên văn học được coi là một môn khoa học với hệ thống cơ sở chắc chắn, nhiều lý thuyết và mô hình được kiểm chứng không ngừng bằng thực nghiệm. Còn Chiêm tinh học không phải một khoa học, mà chỉ là một phần của văn hóa và tín ngưỡng.
Tất nhiên, một hệ thống chỉ cho ra kết quả đúng trong một số trường hợp không có nghĩa là chúng ta có quyền nói rằng nó sai. Và cũng tất nhiên, mỗi người đều có thể lựa chọn cho mình một hướng suy nghĩ độc lập, tin tưởng vào chiêm tinh hay tử vi không có gì là sai. Nhưng một hệ thống không dựa trên những lý thuyết vững chắc được kiểm chứng, thì hiển nhiên không được coi là khoa học, và những tiên đoán do nó đưa ra hoàn toàn chỉ mang tính tham khảo. Sau cùng, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau này.
Về phía tôi, tác giả của bài viết này,
xin được chia sẻ với độc giả đôi chút quan điểm cá nhân: tôi chưa bao
giờ đi xem tử vi hay chiêm tinh, và chẳng bao giờ tôi quan tâm xem tôi
tương ứng với ngôi sao chiếu mệnh nào cả. Phần vì không tin, phần vì nếu
số phận con người là có thể biết trước thì cuộc sống của chúng ta sẽ
chẳng còn chút ý nghĩa nào.
Với tôi thì chỉ có kẻ thiếu tự tin vào
bản thân mới phải tìm kiếm chính mình trong những trò bói toán hay thậm
chí mấy bộ phim, cuốn truyện. Những kẻ thiếu tự tin thường có muốn được
nghe ai đó nói về mình, tìm thấy cái gì đó trong đó làm mình hài lòng.
Chỉ có chính bạn mới biết mình là ai, mình như thế nào, mình muốn gì và những con người ra sao sẽ phù hợp với mình chứ không phải là một ai đó nói cho mà biết. Và muốn thành công trong cuộc sống thì chính bạn hãy tự cố gắng đi chứ đừng đợi những thứ vô căn cứ nói cho biết là khi nào bạn thành công.
Đặng Vũ Tuấn Sơn
Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn Thienvanvietnam.org khi copy bài viết này!
Chỉ có chính bạn mới biết mình là ai, mình như thế nào, mình muốn gì và những con người ra sao sẽ phù hợp với mình chứ không phải là một ai đó nói cho mà biết. Và muốn thành công trong cuộc sống thì chính bạn hãy tự cố gắng đi chứ đừng đợi những thứ vô căn cứ nói cho biết là khi nào bạn thành công.
Đặng Vũ Tuấn Sơn
Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn Thienvanvietnam.org khi copy bài viết này!
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Nhận xét
Đăng nhận xét