Thiền sư Định Không (?-808) xuất thân từ một dòng tộc quyền quý họ
Nguyễn, ở hương Cổ Pháp, Bắc Ninh. Sử sách ghi lại rằng ông là người am
hiểu thế số, hành động đúng pháp tắc biết đoán định tương lai.
Lời sấm truyền linh ứng sau 200 năm của ông về sự ra đời của nhà Lý vẫn còn được lưu lại đến nay, nội dung như sau:
Trước khi qua đời, sư truyền lời tiên tri về hậu vận đất nước cho học
trò như sau: “Ta muốn mở rộng làng xóm, nhưng e nửa chừng gặp tai họa,
chắc có kẻ lạ đến phá hoại đất nước ta. Sau khi ta mất, con khéo giữ
pháp này, gặp người họ Đinh thì truyền, nguyện ta đã mãn”.
Hơn 60 năm sau, lời của ông đã linh ứng. Nhà Đường cử Tiết Độ Sứ Cao
Biền sang cai trị, bóc lột nhân dân ta. Thâm độc hơn, chúng còn đến
nhiều vùng đất, thế núi linh thiêng, nơi sẽ sinh người tài giỏi, trấn
yểm triệt phá long mạch, trong đó có đất Cổ Pháp của sư Định Không. Một
thế kỷ sau đó Đinh Tiên Hoàng (924 – 979) chấm dứt tình cảnh loạn lạc,
sáng lập ra nhà Đinh và nước Đại Cồ Việt, mở đầu cho thời đại độc lập,
tự chủ của người Việt.
Sau này, sự chấm dứt của triều Đinh (968 – 980) cũng ứng với một lời sấm không rõ tác giả, xuất hiện vào năm 974:
6 năm sau, trong bữa tiệc tối, nhân lúc vua quan say rượu, hoạn quan Đỗ
Thích đã giết vua và người con cả Đinh Liễn. Sau đó Lê Hoàn nắm quyền
kiểm soát triều đình và trở thành hoàng đế, mở ra thời Tiền Lê. Dưới
thời của ông đất nước được thịnh trị và giành chiến thắng vẻ vang trước
cuộc xâm lược của nước Tống.
Thiền sư La Quý (852 – 936) là người họ Đinh, cũng được lịch sử ghi nhận với khả năng tiên tri của mình. Tương truyền, trước khi qua đời ông đã trồng cây gạo ở chùa Minh Châu, làng Diên Uẩn và để lại những bài kệ:
Do những từ “thập bát tử” ở câu số 3 là chiết tự của chữ Lý, nghĩa là họ
Lý, nên bài thơ được diễn giải như sau: Đầu rồng hiện ở núi lớn / đuôi
rồng giấu sự thịnh vượng / Họ Lý nhất định thành/khi cây gạo hiện hình
rồng/ chỉ trong mấy tháng thỏ, gà, chuột / chắc chắn sẽ thấy mặt trời
(vua) anh minh". Điều này ứng với sự ra đời của nhà Lý vào tháng 11
(tháng chuột) năm Kỷ Dậu (năm gà) 1009.
Thiền sư Vạn Hạnh (938 – 1025) là người họ Nguyễn, quê ở châu Cổ Pháp
(Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Ông là vị thiền sư có nhiều đóng góp trong
việc mở ra nhà Lý đồng thời cũng là một nhà tiên tri.
Sư Vạn Hạnh đã giải đoán rằng, trong câu “Thọ căn diễu diễu” chữ “căn”
là gốc, gốc là vua, chữ “diễu” đồng âm với chữ yểu, nghĩa là nhà vua (Lê
Long Đĩnh) sẽ chết yểu.
Trong câu “Mộc biểu thanh thanh” chữ “biểu” là ngọn, ngọn là bầy tôi,
chữ “thanh” đồng âm với chữ thịnh, nghĩa là một người trong số quần thần
sẽ lên nắm chính quyền.
Trong câu “Đông a nhập địa”, chữ “đông” và chữ “a” ghép thành chữ Trần, nói về sự kế tiếp của nhà Trần sau nhà Lý. Câu “Dị mộc tái sanh” nghĩa là một họ Lê khác (Lê Lợi và nhà Hậu Lê) sẽ lại nổi lên…
Qua lời sấm này, thiền sư Vạn Hạnh đã
tiên đoán chính xác những diễn biến lịch sử của dân tộc trong khoảng 5
thế kỷ, từ thời Tiền Lê đến thời Hậu Lê.
Việc cây gạo bị sét đánh và hiện ra lời sấm cũng đã được thiền sư La Quý
tiên đoán trước đó với câu "Miên thọ hiện long hình" (Bông gạo hiện
long hình), câu thứ 4 trong bài kệ năm 936 của ông.
Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), người mà dân gian quen là
Trạng Trình là một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông
cũng được coi là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam với nhiều
câu sấm được để lại và tập hợp trong Sấm Trạng Trình. Tác phẩm này đưa ra những lời tiên tri trong chiều dài nhiều thế kỷ, đến nay vẫn còn được tìm hiểu và luận giải.
Ở câu 1, “đầu Thu” là tháng 7 Âm lịch, “gà” nghĩa là năm Ất Dậu, thời
điểm sự kiện lịch sử này diễn ra, “gáy xôn xao” nghĩa là có tiếng vang
lớn, thức tỉnh muôn người.
Ở câu 2, “Trăng xưa” nghĩa là “cổ nguyệt” theo Hán tự, ghép lại thành từ
“hồ”, là họ của Hồ Chủ tịch. “Sáng tỏ soi vào Thăng Long” là sự kiện
Bác đọc Tuyên ngôn độc lập trước hang vạn đồng bào ở quảng trường Ba
Đình của thủ đô Thăng Long – Hà Nội.
Câu 1, “cửu cửu” bằng 81 năm, khoảng thời gian từ khi triều đình Huế ký
vào văn bản Hòa ước đầu hàng thực dân Pháp cho đến chiến dịch Điện Biên
Phủ thắng lợi, theo “càn khôn dĩ định” hay quy luật đất trời.
Câu 2, “thanh minh thời tiết” là thời điểm tiến hành chiến dịch Điện
Biên Phủ rơi vào tháng 3 Âm lịch, “hoa tàn” là sự thất bại của người
Pháp (thời Nguyễn Bỉnh Khiêm thượng gọi ngoại quốc là Hoa Lang”.
Câu 3, “trực đáo” là thẳng tiến, “dương đầu” là đầu năm con dê 1955, “mã vĩ”, là cuối năm con ngựa 1954.
Câu 4, toàn câu có nghĩa rất rõ ràng: tám vạn quân Cụ Hồ tiếp quản Thủ đô Hà Nội (tên gọi cũ là Tràng An).
Ngoài các sự kiện lịch sử, thời khắc “trở lại” của Trạng Trình cũng được ông ghi rõ trong câu sấm truyền:
Đúng như lời sấm, vào năm 1991, tròn 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Tiên Lãng bị xẻ đôi ra vì có công trình đào con sông để làm kênh
thuỷ lợi. Cùng lúc ấy có cây cầu được xây dựng nối sông Hàn từ quê Vĩnh
Bảo của ông sang Thái Bình. Cũng từ năm ấy trở đi, tên tuổi, danh tiếng,
tài năng kiệt xuất của Trạng Trình được sống lại. Lễ kỷ niệm 500 năm
ngày sinh của ông được tổ chức long trọng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám…
Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
Những nhà tiên tri lừng danh thế
giới cùng với nhiều lời tiên đoán trở thành hiện thực khiến thế giới
kinh ngạc và sợ hãi - liệu bạn có thực sự biết nhiều về những nhà tiên
tri ấy cùng những tiên đoán của họ?
Những nhà tiên tri lừng danh và những tiên đóan vĩ đại
Nhà tiên tri Nostradamus
Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ
đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả
năng
đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài,
thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những
biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên
tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.
Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc
lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và
chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ
cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong
gia đình ông.
Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ
, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành
khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản
“đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.
Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký
của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền,
ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp,
La Tinh, Italy, Do Thái và Ả Rập…
Nhà tiên tri Nostradamus. (Ảnh: Elmonasterio.org)
Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”)
của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có
người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song
cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.
Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những
lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô
cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, phu nhân của vua Henry đệ II.
Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của
Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng
tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập
lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong
cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm
này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị
thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.
Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị
Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già
Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh
Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng
Hai vết thương và một cái chết thảm thương.
Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính
xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ
lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery - “sư tử con” ít hơn “sư tử già”
6 tuổi. Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry
bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng.
Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối
nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường
bệnh.
Cảnh báo việc Napoleon bại trận ở Nga
Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh
như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân
viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn
toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để
lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội
quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập
đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót
vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của
Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương
như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:
Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga
Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố
Quân chủ lực sẽ phản công
Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.
Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon
Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém
Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh
Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm
Khi ông giành được quyền lực tối cao.
Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba
Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa
Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang
Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.
Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối
liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song
vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau
khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân
nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận
Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị
và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy
không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả
năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.
Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966
Máu của thần công lý sẽ bao phủ London
Thành phố sẽ cháy vào năm 66
Vị phu nhân mất địa vị tối cao
Và nhiều nơi bị hủy hoại.
Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong
Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc
nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.
Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho
ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi
lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”.
Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi
khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất
ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên
đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo
lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên
tri này.
Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.
Tiên tri về cái chết của mình
Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết
trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư
ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”.
Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua
Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước
Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.
Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới
Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi
cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những
kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.
Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác
chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.
Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999
Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại
và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.
Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm,
bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề.
Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc
thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một
thời gian dài thái bình an lạc.
Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới
tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến
thành biển.
Nhà tiên tri Emanuel Swedenborg
Ở Thụy Điển có một người "thấy được tương lai"
nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772,
ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn,
tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí,
vũ khí, tàu bè... Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.
Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom" (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn”
của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác
việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!
Quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng
Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc,
không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực
này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu
Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng
phép Chiêm Bốc hay Bốn Độn.
Khổng Minh "thần cơ diệu toán" - (Ảnh: Viettimes)
Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ.
Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày
nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của ông còn truyền
tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán
trước cả mấy trăm năm.
Nhà tiên tri Jean Dixon
Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán
biết tương lai - bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri "nhí" Jeane
đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có
tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh
tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì
vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay
sẽ phát nổ.
Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý
tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là
mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là
mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.
Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay
TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành
từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ
tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những
người khác.
Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của
nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng
nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh
của người đó.
Nữ tiên tri Jeane Dixon đưa ra nhiều tiên đoán chính xác về cái chết của nhiều nhân vật nổi tiếng.
Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.
Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất.
Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là
chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở
Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.
Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom
từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury
và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn
xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.
Vanga - Nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX
Vanga
(tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành
Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và
đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng.
Vanga - Nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX
Bà sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố
Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh
viện ở thủ đô Sofia.
Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một
trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh
mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.
Bà từng nói:
“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại
không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể
hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm
trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.
Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những
nền văn minh khác
tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh.
Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của
người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn
minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.
Cập nhật: 20/10/2015
Tổng hợp
30/12/2016 08:20:23
Hơn 1000 năm trước đây, một đại sư của Ấn Độ và
của Mật giáo Tây Tạng đã thấy trước những sự kiện sẽ diễn ra trong thời
đại ngày nay, như: Thiên tai xảy ra khắp nơi, nạn đói và dịch bệnh tràn
lan, cuộc xâm lăng Tây Tạng, đền chùa và tượng Phật bị phá hủy, các tu
sĩ bị sát hại, v.v. Đối chiếu với ngày nay, có thể thấy đó đều là những
dự ngôn chuẩn xác lạ thường…
Trước khi Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn tại Thánh địa Kushinagar, ngài đã nói với các đệ tử của mình rằng:
“Trong
thế gian vô thường này chúng sinh không thể tránh được cái chết, giờ đã
tới lúc ta phải ra đi. Nhưng đừng than khóc nữa, vì 12 năm sau khi ta
lìa thế gian, tại hồ Dhanakosha ở góc tây bắc của xứ Urgyan, sẽ có một
đấng thông thái và đầy quyền năng sinh ra trong một đóa hoa sen. Người
đó sẽ được gọi là Liên Hoa Sinh và truyền bá Mật giáo.”
Đấng thông thái mà
Phật Thích Ca Mâu Ni nhắc đến chính là Đại sư Liên Hoa Sinh, người
truyền bá Phật giáo sang Tây Tạng và được các đệ tử tôn kính gọi là “Đức
Phật thứ hai”.
|
|
Đại sư Liên Hoa Sinh. (Ảnh: Wikipedia)
|
Truyền thuyết về Đại sư Liên Hoa Sinh
Tương truyền, Đại
sư Liên Hoa Sinh là một hóa thân của Phật A Di Đà. Ngài sinh ra trong
một đóa sen ở giữa Hồ Ngọc (hồ Dhanakosha) thuộc xứ Urgyan, phía tây của
Bodhgaya (tức Bồ Đề Đạo Tràng). Ngay từ khi sinh ra, Liên Hoa Sinh đã
mang thần thái của một đấng giác ngộ, sớm thông tuệ các giáo lý Phật
Pháp. Ngài đã được vua Indrabodhi nhận làm con trai và trao quyền kế vị
vương quốc.
Thế nhưng, khi đã
đạt tới đỉnh cao của quyền lực thế gian, Liên Hoa Sinh nhận ra rằng vạn
vật trong cõi vô thường chỉ là hư ảo. Ngài đã quyết định từ bỏ ngai vàng
để xuất gia tu hành. Cũng trong những năm tháng ấy, đại sư đã nhiều lần
sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái, và đẩy lùi thiên tai, để lại
nhiều truyện thần thoại cho đời sau. Vì vậy mà người ta còn gọi ngài là
“Đạo sư quý báu”, “Quỹ Phạm Sư Bảo”, hay “Sư Tôn Bảo”.
Điều đặc biệt là
tất cả những lời dạy của Đại sư Liên Hoa Sinh đã được một đệ tử của ngài
là Đức bà Yeshe Tsogyal, người có trí nhớ kỳ diệu, chi chép lại trong
Kinh Dakini. Cuốn sách này đã được cất giấu và chỉ được hậu thế tìm ra
cách nay khoảng 500 năm. Đoạn trích dẫn trong ngoặc kép dưới đây là lời
tiên tri về thời mạt pháp, tức thời đại ngày nay của chúng ta:
Dự ngôn về thời mạt pháp
Khi vị vua bảo hộ Mật giáo ở Tây Tạng tên là Trisondetsen hỏi đức Liên Hoa Sinh về thời Mạt pháp, ngài đã trả lời rằng:
Sư tăng vô đạo…
“ Khi
thời mạt pháp đi dần tới nạn lửa cuối cùng, tuổi thọ của kiếp người
giảm và bóng tối dầy đặc hơn, nhưng con đường sa đọa vẫn còn được kiềm
chế khi người ta vẫn còn nghe lời Phật và vẫn còn theo Đạo Pháp.
Vào
khoảng cuối thời hắc ám này, khi tuổi thọ giảm từ 65 xuống 55, còn tính
vị kỷ của người ta tăng mà không giảm, thì những tình trạng xấu sẽ
thắng thế, báo trước sự hủy hoại của Đại Bảo Tháp (Đại Bảo Tháp là một
hình ảnh ẩn dụ, có thể hiểu nôm na là tín tâm của nhân loại đối với Phật
Pháp – NV), đó là:
Người
tại gia đến ở đầy chùa và đánh nhau trước bàn thờ. Đền chùa được dùng
làm lò sát sinh. Các vị ẩn tu trong hang núi trở về cày ruộng. Các Thiền
giả sẽ đi buôn. Bọn trộm cướp thì có của cải và gia súc. Tu sĩ trở
thành người tại gia. Còn các sư trưởng thì trở thành giặc cướp, trộm
đạo.
Trật
tự trở thành hỗn loạn, biến thành hốt hoảng lan nhanh như lửa cháy
rừng. Người hư hỏng và vị kỷ trở thành lãnh tụ, còn các sư trưởng trở
thành sĩ quan quân đội chỉ huy các tu sĩ quân nhân của họ. Các nữ tu
giết con hoang của mình. Có những người phải chứng kiến cảnh cơ nghiệp
và gia sản của mình bị cướp đoạt. Bọn mị dân ác độc và thô lỗ trở thành
các lãnh đạo địa phương, còn các cô gái thì dạy trẻ con ở các trường
học. Phù thủy Bon lớn tiếng đến nỗi Thiền giả trong am thất cũng nghe
thấy, và các đền chùa bị cướp bóc.
Kinh
sách của chư Phật, tượng Phật, tranh ảnh và các Tháp bị xâm phạm, bị
đánh cắp và mua bán với giá ngoài chợ, không ai nhớ tới giá trị thật của
những vật này. Đền chùa trở thành chuồng trâu, chuồng ngựa phủ đầy
phân. ”
|
|
Đập phá chùa chiền và đốt tượng Phật trong thời Đại Cách Mạng Văn Hoá bên Trung Quốc. (Ảnh: Internet)
|
Nhân tâm suy đồi
“ Khi
người ta quên bổn phận tôn giáo thì ma quỷ, vốn bị kềm chế bằng các
nghi lễ, sẽ được thả lỏng, làm loạn và điều khiển tâm trí của người nào
mà chúng nhập. Ma thù địch nhập vào các tu sĩ. Ma vị kỷ độc ác nhập vào
các hành giả Mật chú và các phù thủy. Ma bệnh tật nhập vào các đạo sĩ
Bon. Ma gây bệnh nhập vào đàn ông. Ma cãi cọ nhập vào đàn bà. Ma lả lơi
nhập vào các cô gái. Ma hư hỏng nhập vào các nữ tu. Ma phá rối nhập vào
trẻ con. Mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con trong xứ đều bị lực lượng
hắc ám được thả lỏng nhập vào.
Dấu
hiệu của thời này là kiểu y phục mới, kỳ lạ: kiểu quần áo cũ kỹ bị bỏ
quên. Các tu sĩ mặc kiểu áo mới lạ, còn các nữ tu thì sửa sang trước tấm
gương. Mọi người đều phải mang gươm để tự vệ và ai cũng canh chừng để
thức ăn của mình không bị bỏ thuốc độc. Sư trưởng và thầy làm ô nhiễm
tâm trí các đệ tử của họ. Nhà cầm quyền và các pháp quan không đồng ý
với nhau. Đàn ông trở nên thô tục, buông thả. Đàn bà không còn trong
sạch nữa. Các tu sĩ không giữ giới và đức hạnh. Các hành giả Mật chú vi
phạm lời thệ nguyện. Khi sự hoành hành của các ma độc ác, vị kỷ, thù hận
và tàn bạo gia tăng, thì những tin đồn hoảng hốt cũng gia tăng và kiểu y
phục thay đổi thường xuyên hơn. ”
|
|
“Mọi
người đều phải mang gươm để tự vệ và ai cũng canh chừng để thức ăn của
mình không bị bỏ thuốc độc…”, ngày nay thức ăn, hoa quả đều rất độc hại.
(Ảnh: Internet)
|
Chính giáo và tà giáo
“ Bọn
say rượu thuyết giảng về sự cứu rỗi. Bọn mị dân được người ta nghe
theo. Các vị thầy giả mạo truyền tâm ấn giả dối. Bọn lừa bịp khoe là có
thần thông. Tài hùng biện được coi là trí huệ. Bọn kiêu ngạo đề cao phàm
tục. Bọn hạ tiện cai trị vương quốc. Các vua chúa trở thành người
nghèo. Bọn đồ tể và bọn giết người trở thành thủ lãnh. Bọn tham vọng
tiến thân thô lỗ leo lên vị trí cao. Các vị Thầy của nghi quỹ cao cấp
chạy rông như chó ngoài đường, còn các đệ tử của họ thì không có tín tâm
cũng đi lang thang như sư tử trong rừng. Những người hiện thân của độc
ác và vị kỷ được kính trọng như các vị thầy, trong khi sự thành tựu của
các vị thầy Mật giáo thì bị nói xấu, lời dạy của Đạo Sư Bí Mật bị coi là
tà đạo, giáo lý của Đức Phật bị bỏ quên, lời khuyên của các Thiền giả
và các Thánh nhân bị làm ngơ. Bọn ngu ngốc và bọn gian tà mặc áo Tu sĩ,
còn các Tu sĩ mặc y phục của ngoại nhân; bọn sát nhân cũng mặc áo cà sa.
Những người tìm ma thuật học Mật chú vì mục đích vị kỷ. Tu sĩ chế thuốc
độc để bức bách người khác và để trục lợi. Giáo lý tà ngụy được tạo ra
từ lời Phật và các vị thầy diễn giải kinh điển để tự đề cao.
Người
ta đi theo những con đường nguy hiểm chưa được biết trước đây. Nhiều
lối tu hành gian tà lan rộng. Những hành vi vốn được coi là xấu xa thì
lại được dung dưỡng; những tư tưởng mới trái ngược với phong tục cũ,
những tục lệ tốt bị từ bỏ, những lối sống mới đáng khinh làm hư hỏng con
người, tài sản của đền chùa bị cướp đoạt và bị những người đã thọ giới
tiêu phí. Đi theo đường tà, con người bị kẹt trong chính những hành động
xấu của họ. Những người bảo hộ giáo lý thuần túy thì lại tham lam, giả
dối, không làm tròn bổn phận của họ nữa. ”
Thiên tai nhân họa, bệnh tật tràn lan
“ Thiên
lý bị đảo lộn, gây ra dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh để làm khủng
hoảng đời sống thế gian. Các tinh tú hỗn loạn, những ngôi sao rơi khỏi
các chòm sao; những ngôi sao lớn bốc cháy xuất hiện mang lại tai họa
không thể lường trước được. Mưa rơi không đúng mùa, mà trái mùa; các
thung lũng bị ngập lụt. Nạn đói, sương giá và mưa đá gây mất mùa nhiều
năm. Bọn nữ quỷ dữ tợn và mười hai nữ hộ pháp không được cúng tế nữa nên
nổi giận thả lỏng các bệnh tật cùng các bệnh dịch khủng khiếp lan tràn
như lửa cháy rừng, làm hại cả người lẫn gia súc. Những trận động đất gây
nạn lụt bất ngờ, trong khi lửa, bão và gió lốc tàn phá đền chùa, tháp
và các thành phố trong khoảnh khắc. ”
|
|
Thiên lý đảo lộn, động đất, hạn hán, lũ lụt, sóng thần, v.v. xảy ra khắp nơi… (Ảnh: Internet)
|
“Trong
cảnh đen tối này, Pháp luân ở Vajrasana (Bồ đề đạo tràng) không hoạt
động nữa; chiến tranh tàn phá Nepal trong nhiều năm; Ấn Độ gặp nạn đói;
thung lũng Kathmandu bị bệnh dịch hoành hành; động đất tiêu diệt dân xứ
Ngari Thượng ở miền tây Tây Tạng; bệnh dịch hủy diệt dân miền trung Tây
Tạng; quận Thung lũng Kyi của thủ đô Lhasa vẫn tồn tại; các đỉnh của Hy
Mã Lạp Sơn ở biên giới xứ Mon bị đổ xuống các thung lũng. Ba đồn phòng
thủ được xây trên núi Năm Đỉnh; các Thiền giả tụ họp nơi thung lũng Hang
Gấu ở Mon; hai mặt trời mọc ở tỉnh Kham về hướng đông; Hoàng đế trung
Hoa chết đột ngột; bốn đạo quân tràn xuống miền trung Tây Tạng từ biên
giới; quân Hồi giáo chiếm Ấn Độ; quân Garlok diệt giáo pháp ở Kashmir;
người Mông cổ chiếm Tây Tạng; quân Jang tiến vào Kham; chùa Hộ Pháp Rasa
Trulnang bị đe dọa; chùa Samye danh tiếng bị xâm phạm; các tháp ở
Bhutan bị nghiêng và Pháp luân bị hỏng. ”
“ Các
chùa lớn ở xứ này bị bỏ hoang và tiếng Ợ của đạo sĩ Bon vang trong các
am thất yên tĩnh; các vị lãnh đạo khôn ngoan hay chất phác của các tu
viện bị đầu độc làm cho việc diễn giải và tu hành truyền thống bị phân
tán hay mai một; những người bảo tồn truyền thống bị chết đột ngột. Bọn
giả dối lừa gạt người dân và những bóng ma đen ám ảnh xứ sở này. Nút chỉ
tơ thiêng liêng trói buộc các lực lượng ma quỷ bị tháo ra và sợi dây
tín tâm giữ tâm trí con người hòa hợp bị cắt đứt. Luật lệ của vua bị phá
và sức mạnh của sự hợp nhất xã hội bị diệt; phong tục của dân bị chối
bỏ và biển an lạc bị khô cạn; đạo đức con người bị bỏ quên và ca áo
khiêm tốn bị liệng bỏ.”
“Người
đức hạnh thì bất lực và bị hạ nhục, chịu sự sai khiến của những người
cai trị thô lỗ, kiêu ngạo, đáng sợ. Các tu sĩ và thầy giáo trở thành sĩ
quan quân đội, còn kẻ ngu dốt thì lại hướng dẫn người có đạo tâm, thuyết
giảng giáo lý và truyền tâm ấn. Tín đồ nói xấu người khác để tự biện
minh, trong khi đồ tể và voi hoang dẫn dắt người ta. Các đèo, các thung
lũng và các đường mòn đều bị các bọn cướp vô liêm sỉ quấy phá. Lo sợ, vô
pháp luật và không có người hướng dẫn, dân chúng đánh lẫn nhau và hành
động một cách vị kỷ. Tây Tạng trở nên bại hoại và ô nhiễm. Đây là tình
trạng chính yếu trong khoảng giữa thời Mạt pháp, khi tuổi thọ của con
người là năm mươi năm. ”
“ …chiến
tranh sẽ bộc phát như một cơn bão thổi qua Tây Tạng và Trung Hoa, sự
phi nhân của tai họa này sẽ làm tăng gấp ba lực hắc ám, nạn đói và bệnh
tật sẽ đưa chúng sinh vào địa ngục khủng khiếp. Từ biên giới Trung Hoa ở
cao nguyên Đông bắc, một đạo quân đông bằng năm lượng hạt cải trắng sẽ
xâm lăng Tây Tạng và tiếng kêu khủng khiếp sẽ vang như sấm trong nhiều
năm. Một đạo quân đông bằng chín lượng hạt cải trắng sẽ tiến qua vùng
bình nguyên miền nam xâm lăng Tây Tạng và tiếng kêu kinh hoàng sẽ vang
như là một con rồng lửa. Các đạo quân sẽ tiến qua những thung lũng như
chớp nhoáng xâm chiếm miền tây Tây Tạng. Lực lượng cao nguyên sẽ xâm
lăng Trung Hoa, cướp phá cho tới khi chiến thắng. Một nửa dân Tây Tạng
sẽ bị giết, các đền chùa đều bị phá hủy, các bức tượng bị xâm phạm, kinh
sách bị chà đạp dưới đất, các tu sĩ bị sát hại. Những ngôi làng bị tàn
phá và trở nên hoang vắng vì những người sống sót trong tai họa này sẽ
trốn sang Sikkim, Bhutan, Nepal và Ấn Độ như những người tỵ nạn, và đến
các thung lũng bí mật của Hy Mã Lạp Sơn. Những người ở lại vì còn tiếc
ruộng đất và của cải, sẽ bị bọn man rợ chống giáo pháp tàn sát cùng với
gia súc của họ. ”
|
|
“Một nửa
dân Tây Tạng sẽ bị giết, các đền chùa đều bị phá hủy, các bức tượng bị
xâm phạm, kinh sách bị chà đạp dưới đất, các tu sĩ bị sát hại.” (Ảnh:
worldreligionnews.com)
|
Sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế
“ Ngài
có trí lực lớn và sẽ thấy rõ những gì mình sẽ làm trong đời. Do nhận
thức bí ẩn hay rõ rệt trong các kiếp từ khi Ngài phát nguyện, Ngài sẽ
tái sinh với tín tâm coi Tam Bảo là An Lạc Vĩnh Hằng, tôn kính trách vụ
của giáo hội, và thành tâm với sự thiêng liêng của thân, khẩu, ý. Là
người Đại thừa, Ngài có tâm từ bi đối với loài người cũng như các sinh
vật và sự bố thí của Ngài về thân, khẩu, ý là vô tận. Với trí huệ về
chân không an lạc của bản thể các pháp, Ngài quán thông Phật Hạnh bạo
động và sự biểu lộ hung dữ của các hộ pháp phẫn nộ. ”
“ Nguyện
giải trừ sự thống khổ này, vị Tulku, với lục an lạc của ta, với tâm từ
bi đối với chúng sinh, không nghĩ tới thể xác, sự sống và hạnh phúc của
riêng mình, khôi phục dũng mãnh bằng sự phẫn nộ thiêng liêng, ngài hướng
dẫn và củng cố sức mạnh cần thiết cho người dân ở các xứ biên giới. Khi
tiếng nói đức hạnh của những người lưu vong đã hợp nhất, thì những
người bạn của Vĩ nhân này bắt đầu cùng nhau ra sức phục hồi Đại Bảo
Tháp.
|
|
Cứu Thế Chủ, vị thần tối cao sẽ đến vào giờ phút cuối cùng của nhân loại. (Ảnh: Falunart)
|
Nhưng
những quyền lực hắc ám quái đản đã dụ dỗ mọi người làm những điều tội
lỗi; chỉ có ít người tôn sùng và tin tưởng vị Tulku, những người này ít
như sao buổi sáng. Tuy nhiên, Vĩ nhân này cũng có một trăm ba mươi ngàn
tín dồ đạo hạnh, một trăm lẻ sáu Đạo sư uyên thâm, tám mươi tám Thiền
giả thành tâm trì giới, tám mươi thí chủ rộng rãi, không keo kiệt, hai
mươi ba nhà tiên tri, tám Giáo sư hóa thân của tám Bồ Tát, hai mươi lăm
đệ tử sùng tín, năm Dakini (nữ thần) hóa thân, và hai mươi lăm thiếu nữ
thuộc các gia đình cao quý. Tiếp xúc với họ, Ngài thanh lọc tâm trí ô
nhiễm của họ và dọn sạch mọi chướng ngại trên đường đạo của họ. ”
“ Tất
cả những người nào ra tay phục hồi Đại Bảo Tháp, sau ba lần tái thức
tỉnh, sẽ tái sinh làm người hay thần, thanh tịnh để nhận cam lộ Giáo
pháp, và rốt cuộc sẽ đắc Phật quả ở cõi Tây Phương Cực Lạc (…) Tất cả
những người nào cùng với Đấng Vĩ Đại, thi hành việc phục hồi Đại Bảo
Tháp, dù có ý thức về Ngài hay không, dù tin tưởng và tôn sùng hay
không, đều sẽ đạt thành tựu tối thượng và quyền năng tâm linh vào cuối
kiếp làm người thế gian. ”
|
|
Hoa Ưu Đàm 3.000 năm khai nở một lần. (Ảnh: Internet)
|
Cuối cùng, xin
được kết thúc bài viết này bằng một dự ngôn khác. Đạo sư Liên Hoa Sinh
cũng có lời tiên tri giống với lời giảng của Đức Phật Thích Ca 2500 năm
trước đây, rằng: Khi Đấng Cứu Thế xuất hiện thì hoa Ưu Đàm Bà La sẽ khai
nở. Lời tiên tri trong kinh Phật đã ứng nghiệm rồi, những bông hoa Ưu
Đàm Bà La hiện giờ đã khai nở khắp nơi, phải chăng Đấng Cứu Thế đã có
mặt tại nhân gian và đang cứu độ chúng sinh rồi?
(Dựa
theo các ghi chép của Đức bà Yeshe Tsogyal trong phần “truyền thuyết về
Đạo sư Liên Hoa Sinh” và “Huyền thoại Đại Bảo Tháp Bodha”)
Hồng Liên biên tập
Người "nhìn thấu" tương lai nhân loại đến năm 7000
Thứ Năm, ngày 28/08/2014 09:00 AM (GMT+7)
Nostradamus được mệnh danh là nhà tiên tri xuất chúng mọi thời đại bởi
ông đã dự đoán đúng nhiều sự kiện lịch sử thế giới mặc dù nó xảy ra sau
khi ông qua đời cả hàng trăm năm.
Nostradamus (1503-1566) là dược sĩ và
nhà tiên tri người Pháp. Ông còn được biết đến với biệt danh "đầy tớ của ma quỷ" bởi tất cả những
lời tiên tri của Nostradamus
đều không được viết bằng thứ ngôn ngữ phổ thông minh bạch mà đều được
viết theo kiểu ẩn ngữ, chơi chữ, hoặc dùng tiếng Hy Lạp, Do Thái, Ả Rập,
Italy… là những ngôn ngữ khó. Đó là một lựa chọn thận trọng bởi
Nostradamus không muốn bị kết tội dị giáo, phù thủy, mê tín dị đoan…
Những lời tiên tri đúng đến kinh hãi
Dược sĩ, nhà tiên tri người Pháp Nostradamus
Trong suốt cuộc đời của mình, Nostradamus đã tiên đoán chính xác rất
nhiều những thảm họa như dịch bệnh, động đất, chiến tranh, lũ lụt, hạn
hán và những trận giao tranh. Những người hâm mộ Nostradamus đã ghi lại
những sự kiện trong lịch sử thế giới được dự đoán đúng bao gồm: cách
mạng Pháp, chiến tranh thế giới thứ I và thứ II, cái chết của Napoleon,
Hitler, công nương Diana và thậm chí là thành tựu khoa học tàu Apolo
xuống mặt trăng…
Nostradamus tuyên bố rằng, những
dự đoán của ông về tương lai
đều dựa trên những cách tính toán của các hành tinh và các vì sao với
trái đất. Điều này bắt nguồn từ các nhà sử học cổ điển cũng như những
biên niên từ thời trung cổ để lại.
Trong thực tế, nhiều học giả tin rằng, Nostradamus diễn giải ngày tận
thế của trái đất từ những lời tiên tri cổ xưa (chủ yếu là từ Kinh
Thánh), sau đó thông qua các bài đọc chiêm tinh trong quá khứ để dự báo
những sự kiện xảy ra trong tương lai.
Một trong những người đầu tiên kinh hãi trước
lời tiên tri của Nostradamus
là hoàng đế Henry II của Pháp. Ông vua 46 tuổi khi thấy sức khỏe sa sút
đã gọi Nostradamus vào cung để hỏi về số phận mình, và nhận được lời
tiên đoán:
“Có một ngày, đầu của bệ hạ sẽ bị đâm bởi một vật sắc
nhọn và đó là nguyên nhân khiến người băng hà. Điều đó sẽ xảy đến trong
10 năm nữa".
Nostradamus tiên đoán đúng cái chết của vua Henry II
Ông đã cảnh báo nhà vua nên tránh một cuộc đấu ngựa. Thế nhưng đến
tháng 6/1559, phớt lờ những lời cảnh báo của Nostradamus, vua Henry II
vẫn tham gia vào cuộc đấu với Bá tước Montgomery trong ngày cưới của cô
em gái. Hai đối thủ cùng đeo chiếc khiên khắc nổi hình sư tử và
Montgomery trẻ hơn Henry 6 tuổi. Trong khi chơi, một chiếc thương đã
xuyên qua tấm khiên che mặt của nhà vua, đâm qua mắt và xiên vào thái
dương. Vua Henry II từ trần ở tuổi 41 sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.
Nhà vua qua đời 10 ngày sai tai nạn, vào tháng 6 năm 1559. Sự kiện đó
đã được ghi trong cuốn “Những thế kỷ” của Nostradamus xuất bản trước đó
một năm
Vận mệnh của một vị hoàng đế khác sống sau đó 2 thế kỷ cũng được
Nostradamus đoán đúng là Napoleon - người bách chiến bách thắng nhưng
thất bại ở Nga, rồi mất vương quyền: Những vần thơ của Nostradamus chỉ
rõ: "Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém/Và nhanh chóng
trở nên lớn mạnh/Khi ông giành được quyền lực tối cao/Ông hoàng chiến
bại bị lưu đày ở Elba/Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa/Nhưng không
vượt qua được các thế lực ngoại bang/Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ
máu".
Những tội ác của Hitler, vụ ném bom nguyên tử ở Nagasaki và Hirosima,
phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ năm 1985, tổng thống Mỹ Kennedy bị ám
sát… đều được cho là Nostradamus tiên tri trong những bài thơ của mình.
Những lời tiên tri sấm truyền
Trong số hơn 1.000 lời tiên đoán của ông, có đến quá nửa đã trở thành sự thật
Năm 1554, Nostradamus và ông quyết định dành tất cả những năng lượng
của mình vào các tác phẩm. Ông dự định mỗi cuốn sách sẽ gồm 10 chương,
mỗi chương là 100 dự đoán viết dưới dạng thơ tứ tuyệt.
Năm 1555, ông xuất bản cuốn Les Prophéties (Lời tiên tri) bao gồm một
bộ sưu tập các dự đoán lớn, lâu dài của mình. Để tránh bị soi xét, ông
đã nghĩ ra một phương pháp làm giảm đi ý nghĩa của những lời tiên tri
bằng cách sử dụng thơ văn và các loại ngôn ngữ khác nhau như Hy Lạp, Ý,
Latin và Provencal cùng một số phương ngữ của người miền Nam nước Pháp.
Ông hầu như không bao giờ chỉ rõ thời gian, địa điểm xảy ra các sự
kiện nên chẳng ai có thể dựa vào những lời tiên tri của ông mà đoán biết
trước được điều gì sắp đến. Trong hầu hết các trường hợp, người ta chỉ
có thể sử dụng chúng để chiêm nghiệm sau khi sự việc đã diễn ra.
Cuốn sách đã gây ra rất nhiều tranh cãi, một số người cho rằng
Nostradamus là một người đầy tớ của ma quỷ. Những người khác thì lại
nghĩ ông là đồ giả tạo hoặc mất trí nhớ. Tuy nhiên, vẫn rất nhiều người
tin rằng những lời tiên tri đó được xuất phất từ thần linh. Nostradamus
ngày càng trở nên nổi tiếng và được tầng lớp thượng lưu châu Á trọng
vọng. Catherine de Medici, vợ vua Henri II của Pháp là một trong những
người hâm mộ lớn nhất của Nostradamus.
Sau khi đọc niên giám 1555, thấy bài thơ số 35 ám chỉ một mối đe dọa
chưa được đặt tên về gia đình mình, Catherine de Medici đã gọi
Nostradamus đến Paris để giải thích và lập lá số tử vi cho mình.
Trong suốt 400 năm qua, những lời tiên tri của Michel de Nostradamus
đã khiến các nhà khoa học bối rối. Trong số hơn 1.000 lời tiên đoán của
ông, có đến quá nửa đã trở thành sự thật. Các nhà nghiên cứu Nostradamus
cho biết, ông đã nhìn thấu tương lai của nhân loại đến tận năm 7000,
rằng theo ông thì nào năm 3979, sa mạc Gobi sẽ thành biển cả. Bây giờ
mới là năm 2014, vì thế nhân loại sẽ còn rất nhiều thời gian để tiếp tục
chiêm nghiệm độ đúng sai trong những lời tiên tri của ông.
Theo Hiểu Nhân (Theo Biography, Paranormal) (Khampha.vn)
Nhà tiên tri Edgar Cayce đã tiên đoán điều gì về thế kỷ 21?
Edgar Cayce (1877-1945) là nhà tiên tri rất nổi tiếng ở phương Tây,
lời tiên tri của ông bao hàm nhiều lĩnh vực, độ chuẩn xác cực cao, đề
cập đến các cá nhân, đoàn thể, quốc gia, tình thế thế giới, và cả hướng
đi trong tương lai của nhân loại.

Nhà tiên tri Edgar Cayce có những tiên đoán chuẩn xác. (Ảnh: Internet)
Edgar
Cayce đã từng tiên đoán chính xác về hai lần thế chiến, khủng hoảng
kinh tế năm 1929, việc giành độc lập của Ấn Độ, Israel lập quốc, tổng
thống nước Mỹ qua đời khi đang đương nhiệm, cùng với sự kiện từ bỏ chủ
nghĩa cộng sản và thành lập thể chế xã hội mới của Nga trong vài thập
niên sau đó. Những lời tiên đoán này của ông hết thảy đều đã được nghiệm
chứng. Người ta còn thành lập “Quỹ Cayce” (Edgar Cayce Foundation) để
tiến hành tổng hợp và kiểm tra tất cả những lời tiên đoán của ông, kết
quả thống kê đưa ra xác suất chuẩn xác khiến cả thế giới thán phục.
Cayce
có niềm yêu thích đặc biệt đối với nền văn minh tiền sử Atlantis đã
chìm dưới Đại Tây Dương. Cả đời ông đã từng đề cập vấn đề này hàng trăm
lần, không chỉ tường thuật lại chi tiết, tỉ mỉ, mà còn tiên đoán
Atlantis vào năm 1968 mới được con người phát hiện. Năm 1968, người ta
quả nhiên phát hiện dưới đáy biển Bimini ở Đại Tây Dương có một con
đường hình vuông bằng đá lớn, đây chính là vùng biển Atlantis mà Cayce
đã miêu tả.
Nhưng Cayce lại không cho mình là có siêu năng lực,
ông nói rằng những năng lực này là bản năng bẩm sinh của bất kỳ ai; chỉ
có người đã loại bỏ đi dục vọng đối với lợi ích cá nhân đến mức nhất
định (detachment from self-interest) mới có thể có được năng lực này, và
rằng khả năng của con người là vượt quá trí tưởng tượng của con người
hiện đại.
Cả đời ông để lại gần 15.000 lời tiên tri, trong đó
tiên tri về tương lai của nền văn minh nhân loại chỉ chiếm một bộ phận
rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều hứng thú đối với rất nhiều người, dẫu cho
có một ít nội dung cho đến nay vẫn không thể hoàn toàn giải mã.
Thế
chiến lần thứ II chính là đại nạn trong lịch sử của nhân loại, bởi vậy
đối mặt với tương lai của thế giới đang đi về hướng mờ mịt, rất nhiều
người đã đến xin sự chỉ dẫn của Cayce. Trước khi thế chiến thứ II bắt
đầu, Cayce đã tiên đoán rằng có sự trỗi dậy của Hitler, Nhật Bản, sau
chiến tranh Nga cuối cùng sẽ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để hướng về dân
chủ.
Khi giảng đến chiến tranh thế giới và cục diện thế giới thật ra
đều liên quan đến ý thức và tội nghiệp của nhân loại. Cayce đánh giá
một cách sinh động tình huống của các quốc gia như sau:
Như
trùm tài chính, một hội kín cùng nước Đức—nơi phát nguyên chủ nghĩa
cộng sản—được xưng là “khoác lên mình tấm áo của Hội huynh đệ, trở thành
quỷ hút máu của thế giới”.
Italia là “vì một bát
súp thịt mà bán rẻ chính mình”; Nhật Bản năm 1931 xâm nhập vào Trung
Quốc là muốn “trở thành lực lượng chi phối”; đế quốc Anh già nua “mặt
trời không bao giờ lặn” lại “một mực tự cho là có cách nghĩ cao minh hơn
các quốc gia khác”, tội của nước Pháp là “phóng đại dục vọng thân thể”;
tội của Ấn Độ là “ngoại trừ tìm kiếm trong nội tâm ra, có văn minh xán
lạn nhưng lại khước từ thực hiện”; tội của nước Mỹ là “đã quên mất
nguyên tắc Thượng Đế là đồng tại với chúng ta”. Những bình luận trực
quan này khiến người ta cảm thấy thú vị, cũng rất sâu sắc.
Tuy nhiên, những lời tiên đoán và đánh giá của Cayce đối với Trung Quốc mới là tường tận nhất.
Ngày 24/1/1925, trong trạng thái tiên tri Cayce đã chủ động kể ra sự tình sẽ phát sinh ở Trung Quốc:
“Giữa năm 1931, Trung Quốc sẽ ở vào một giai đoạn đặc biệt, tại Mãn Châu sẽ xuất hiện tai hoạ đổ máu…”, đây chính là nói về sự kiện Nhật Bản xâm Hoa vào 6 năm sau.
Ngày 30/7/1927, ông tiếp tục đọc lên tình hình mà bản thân thấy được:
“Một
vài sự kiện đặc biệt phát sinh ở trên thân thể người Trung Quốc, ở trên
thân thể người Nhật, một số lực lượng người ngoài hành tinh xâm lấn từ
bên ngoài đã có được thế lực rồi…”, điều này có chút khiến người ta
khó hiểu, bởi vì lúc đó mọi người không có nhiều khái niệm về người
ngoài hành tinh và sự can thiệp của họ đối với nền văn minh nhân loại,
nhưng Cayce cũng đã nói ra.
Nhưng khiến người phương Tây kinh ngạc nhất chính là ông đã đưa ra lời tiên đoán cho một giai đoạn của Trung Quốc:
“Trung
Quốc thông qua sự phát triển chậm chạp mà bảo tồn nền văn minh của
mình… Nàng có một ngày sẽ thức tỉnh, cắt đứt bím tóc! Bắt đầu suy nghĩ
thực tế!” Cayce tuyên bố: “Có một ngày, nơi Trung Quốc ấy sẽ là cái nôi
thai nghén ra Christianity (Christianity có nghĩa bề mặt là Cơ Đốc
giáo), cũng áp dụng trong sinh hoạt của mọi người. Đúng vậy, sự kiện này
đối với mọi người mà nói thì rất xa xôi, nhưng đối với Thần thì rất
nhanh—rất nhanh, Trung Quốc sẽ tỉnh lại!”.
Đoạn câu
sau khiến người ta khó lý giải, bởi vì Cơ Đốc giáo đã ra đời từ sớm,
nhưng người ta vẫn trung thực ghi lại nguyên văn tiếng Anh lời của ông
như sau:
“Yea, there in China one day will be the cradle of
Christianity, as applied in the lives of men. It is far off, as man
counts tune, but only a day in the heart of God. For tomorrow China will
awake”.
Đối
với điều này, các học giả phương Tây đã đưa ra một cách giải thích, tức
là lời tiên đoán có thể chỉ về việc Trung Quốc sẽ xuất hiện một tín
ngưỡng tương tự như Phật giáo, Cơ Đốc giáo, một tín ngưỡng và văn minh
mới sẽ được sinh ra đời, đối với tương lai rất có ảnh hưởng, đây là lý
giải không ở trên chữ nghĩa bề mặt đối với từ Christianity (Cơ Đốc
giáo).
Cayce đối với sự biến đổi của tương lai cũng đề cập rất cụ
thể: Ở thế kỷ 21, mọi người sẽ nhận ra trục trái đất đang di động; khí
hậu biến đổi, toàn cầu sẽ ấm lên, vùng băng giá sẽ ấm áp; động đất phát
sinh nhiều lần, nước biển dâng lên, một phần nước Mỹ sẽ bị ngập, phần
lớn nước Nhật sẽ bị chìm; thế giới thiếu lương thực, miền Trung nước Mỹ,
Argentina và Châu Phi sẽ trở thành vựa lúa của thế giới; Washington vẫn
là trung tâm quyền lực của thế giới…
Mark Thueston là chuyên gia
nghiên cứu các lời tiên tri của Cayce. Khi phát hiện ra tính chuẩn xác
khiến người ta thán phục trong những lời tiên tri của Cayce, ông bắt đầu
tiến hành biên soạn lại một cách chu đáo hơn 10.000 lời tiên đoán, đặt
tên là
“Lời tiên tri của Cayce về thế kỷ 21” (Cayce’s Prediction for the 21th Century), sau còn chỉnh lý thêm
“Những lời tiên tri chưa trở thành hiện thực của Cayce trong thế kỷ 20″, cung cấp nghiệm chứng và tham khảo cho người đời sau.
Và dưới đây là 9 lời tiên đoán quan trọng trong số đó:
1.
Một phương pháp chữa bệnh mới sẽ xuất hiện – căn cứ vào sự lưu động và
chuyển hoán trong hệ thống năng lượng của thân thể người và tâm linh.

Hình ảnh các học viên Pháp Luân Công – môn khí công tu luyện của Phật gia đang thịnh hành trên thế giới. (Ảnh: Internet)
2. Linh hồn không chết, sự luân hồi sẽ được đại chúng phổ biến và tiếp nhận;
3. Khoa học và tâm linh chấm dứt tranh luận;
4. Bề mặt trái đất sẽ phát sinh biến đổi to lớn, kể cả sự thay đổi khí hậu;
5. Trọng tâm của thế giới sẽ chuyển về phương Đông, Trung Quốc sẽ chiếm vị trí quan trọng;
6. Các phát hiện khảo cổ về văn minh tiền sử sẽ dần dần thay đổi nhận thức của nhân loại đối với lịch sử;
7. Trực giác và siêu năng lực sẽ xuất hiện rộng rãi, rất nhiều người có thể trực tiếp liên lạc với các không gian khác;
8.
Nguyên tắc vũ trụ “Thái Nhất” (chỉ về bản nguyên và cội nguồn của vạn
vật trong vũ trụ) sẽ trở thành phép tuân thủ trong mọi hoạt động của
nhân loại: một tín ngưỡng mới hoàn toàn sẽ xuất hiện, cũng chỉ đạo tất
cả khoa học, chỉnh thể “Thái Nhất” của nhân loại sẽ trở thành căn
bản cho tất cả hoạt động chính trị và kinh tế của thế giới, tín ngưỡng
mới này là ánh sáng của vũ trụ.

9. Chúa Cứu Thế sẽ đến.
Thời
điểm Cayce giảng thuật những lời tiên tri này, nhân loại vẫn chưa tiến
vào thời đại điện tử, và thế chiến thứ II cũng chưa kết thúc; rất rõ
ràng, Cayce có năng lực và trí tuệ vượt xa phạm vi hiểu biết của thời
đại ông.
“Các chòm sao và thiên tượng đang biến hoá, đến lúc
đó, bản thân nhân loại sẽ bắt đầu thức tỉnh và thay đổi. Rất nhiều linh
hồn vĩ đại trong lịch sử đã qua đời sẽ trở về, sinh ra ảnh hưởng cực lớn
đến thế giới”. Cayce nói, đợi “
khi thời gian Điều Chỉnh kết thúc”, “chính nghĩa sẽ tồn tại vĩnh viễn trên Trái đất”.
Theo Chanhkien.org
Ai có thể giải nghĩa lời tiên tri?
Nút thắt Gordius được cho là bí ẩn
lớn nhất vào thời A-léc-xan-đơ Đại Đế. Ai có thể tháo được nút thắt phức
tạp này là người thông thái và là nhà chinh phục vĩ đại
*. Theo truyền thuyết, A-léc-xan-đơ đã giải được bí ẩn đó bằng một nhát gươm.
Qua các thời đại, các nhà thông thái
không chỉ tìm cách tháo nút thắt khó gỡ mà còn cố giải các câu đố, giải
nghĩa lời tiên tri, và thậm chí tiên đoán tương lai.
Tuy nhiên, thường thì những việc đó
vượt quá khả năng của họ. Chẳng hạn, các nhà thông thái của vua nước
Ba-by-lôn là Bên-xát-sa đã không giải nghĩa được chữ viết một cách kỳ lạ
trên tường cung điện trong một yến tiệc linh đình. Chỉ có Đa-ni-ên, nhà
tiên tri cao niên của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và nổi tiếng là “gỡ được
những điều khúc mắc”, mới giải nghĩa được thông điệp mang tính tiên tri
ấy (Đa-ni-ên 5:12, Nguyễn Thế Thuấn). Đó là lời tiên tri về sự sụp đổ của đế quốc Ba-by-lôn, đã được ứng nghiệm ngay đêm ấy!—Đa-ni-ên 5:1, 4-8, 25-30.
Lời tiên tri là gì?
Lời tiên tri được định nghĩa là sự
tiết lộ về tương lai, tức những sự kiện được ghi chép từ trước khi chúng
xảy ra. Lời tiên tri thật là thông điệp đến từ Đức Chúa Trời qua lời
nói hoặc chữ viết, một sự mạc khải về ý định và ý muốn của ngài. Trong
Kinh Thánh có những lời tiên tri về sự xuất hiện và dấu hiệu nhận diện
Đấng Mê-si, “kỳ cuối cùng của thời đại này” cũng như sự phán xét của Đức
Chúa Trời.—
Ma-thi-ơ 24:3; Đa-ni-ên 9:25.
Những nhà thông thái thời nay như các
chuyên gia về khoa học, kinh tế, sức khỏe, chính trị, môi trường và
nhiều lĩnh vực khác đều cố gắng tiên đoán tương lai. Dù những lời tiên
đoán đó được quảng bá rộng rãi trên phương tiện truyền thông và rất được
công chúng ưa chuộng, nhưng suy cho cùng chúng chỉ là những dự đoán
theo sự hiểu biết và quan điểm cá nhân. Bên cạnh đó, mọi quan điểm đưa
ra đều có những quan điểm ngược lại và luận cứ phản bác. Vì vậy, dự đoán
tương lai quả là một việc làm liều lĩnh.
Nguồn gốc lời tiên tri thật
Thế thì những lời tiên tri thật bắt
nguồn từ đâu? Ai có thể giải nghĩa chúng? Sứ đồ Phi-e-rơ viết: “Chẳng có
lời tiên-tri nào trong Kinh-thánh lấy ý riêng giải nghĩa được” (
2 Phi-e-rơ 1:20,
Bản Truyền thống của
Liên hiệp Thánh Kinh hội). Danh từ Hy Lạp được dịch là “giải nghĩa” có
nghĩa “giải pháp, sự tiết lộ”, và bao hàm ý “điều trước kia bị buộc nay
được giải thoát hay tháo gỡ”. Vì vậy, một bản Kinh Thánh (
The Amplified New Testament) dịch lời của Phi-e-rơ như sau: “Chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh bởi ý cá nhân... tháo gỡ”.
Hãy hình dung một thủy thủ khéo léo
thắt một nút phức tạp bằng sợi thừng. Khi nút ấy được thắt xong, người
không trong nghề có thể thấy các đường dây của nút thắt đó nhưng không
biết chắc cách tháo ra. Tương tự thế, người ta có thể thấy những xu
hướng dẫn tới một tương lai rối rắm, nhưng họ không biết cụ thể những
diễn biến nào sẽ tạo thành viễn cảnh ấy.
Các nhà tiên tri thời xưa của Đức
Chúa Trời, chẳng hạn như Đa-ni-ên, đã không tự ý phân tích những xu
hướng lúc bấy giờ, rồi tìm cách tiên đoán một viễn cảnh phức tạp. Nếu cố
ép tương lai diễn ra theo sự tiên đoán của họ thì lời tiên tri như thế
bắt nguồn từ trí tưởng tượng riêng. Đó là lời tiên đoán của con người,
là điều dự báo dựa trên cơ sở không chắc chắn. Còn về lời tiên tri thật,
Phi-e-rơ giải thích tiếp: “Không hề có lời tiên tri nào ra bởi ý muốn
của loài người, nhưng người ta nói những gì đến từ Đức Chúa Trời khi
được thần khí hướng dẫn”.—
2 Phi-e-rơ 1:21.
‘Minh giải các điềm thuộc quyền Đức Chúa Trời’
Cách nay khoảng 3.700 năm, có hai
người đàn ông bị giam giữ trong một nhà tù ở Ai Cập. Mỗi người thấy một
giấc mơ kỳ lạ. Không hỏi được nhà thông thái nào trong xứ, họ than thở
với một bạn tù là Giô-sép: “Chúng tôi nằm mơ thấy mộng mà chẳng có người
giải mộng cho”. Là tôi tớ của Đức Chúa Trời, Giô-sép bảo họ kể lại giấc
mơ của mình và nói: “Minh giải các điềm há không phải là thuộc quyền
Thiên Chúa sao?” (Sáng-thế Ký 40:8, NTT). Giê-hô-va Đức Chúa
Trời là đấng duy nhất có khả năng giải nghĩa các lời tiên tri, giống như
người thủy thủ kinh nghiệm tháo được nút thắt phức tạp. Suy cho cùng,
chính Đức Chúa Trời là đấng thắt nút hay phán các lời tiên tri. Vậy,
điều hợp lý là chúng ta trông chờ ngài tháo nút hay giải nghĩa chúng.
Thật thế, Giô-sép đã đúng khi công nhận quyền đó thuộc về Đức Chúa Trời.
‘Minh giải các điềm thuộc quyền Đức
Chúa Trời’ có nghĩa gì? Câu này có thể hiểu theo những nghĩa sau đây.
Một số lời tiên tri trong Kinh Thánh được Đức Chúa Trời cho ghi lại cùng
với cách ứng nghiệm. Vậy thì những lời tiên tri ấy tương đối dễ giải
thích, giống như một số nút thắt được người thủy thủ hướng dẫn cách tháo
ra.—Sáng-thế Ký 18:14; 21:2.
Một số lời tiên tri khác có thể
được giải nghĩa bằng cách phân tích văn cảnh. Nhà tiên tri Đa-ni-ên được
thấy một khải tượng mang tính tiên tri. Ông thấy ‘một con chiên đực có
hai cái sừng’ đang bị hạ gục bởi một “con dê xờm đực” có “cái sừng mọc
rõ ra giữa hai con mắt nó”. Văn cảnh cho thấy con chiên đực có hai sừng
tượng trưng cho “các vua nước Mê-đi và Phe-rơ-sơ”, con dê tượng trưng
cho “vua nước Gờ-réc”, tức vua Hy Lạp (Đa-ni-ên 8:3-8, 20-22). Hơn
200 năm sau, “cái sừng lớn” tượng trưng cho A-léc-xan-đơ Đại Đế đã bắt
đầu cuộc chinh phục Phe-rơ-sơ. Theo lời sử gia Do Thái là Josephus,
trong lúc đạo quân của A-léc-xan-đơ đang thực hiện chiến dịch gần
Giê-ru-sa-lem, vua được cho xem chính lời tiên tri này và tin rằng nó ám
chỉ về mình.
Câu ‘minh giải các điềm thuộc quyền
Đức Chúa Trời’ còn có một nghĩa khác. Người tôi tớ trung thành Giô-sép
hiểu được ý nghĩa của những giấc mơ kỳ lạ mà các bạn tù kể cho ông nghe
là nhờ thần khí của Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 41:38). Ngày
nay, khi các tôi tớ của Đức Chúa Trời không biết chắc ý nghĩa của một
lời tiên tri nào đó, họ cầu xin ngài ban thần khí, rồi siêng năng tìm
tòi và nghiên cứu Kinh Thánh, là lời được thần khí soi dẫn. Nhờ Đức Chúa
Trời hướng dẫn, họ có thể tìm ra những câu Kinh Thánh giúp họ giải
nghĩa một số lời tiên tri. Không người nào có khả năng phi thường để
giải nghĩa các lời tiên tri. Lời minh giải đến từ Đức Chúa Trời, vì ý
nghĩa của các lời tiên tri được làm sáng tỏ qua thần khí và Lời ngài.
Lời minh giải không đến từ nguồn nào ngoài Kinh Thánh, từ sự tiên đoán
của con người.—
Công vụ 15:12-21.
Câu ‘minh giải các điềm thuộc quyền
Đức Chúa Trời’ cũng có nghĩa là ngài quyết định khi nào cho các tôi tớ
trung thành hiểu được lời tiên tri. Có thể nhận ra ý nghĩa của một lời
tiên tri trước khi, trong khi hoặc sau khi nó được ứng nghiệm. Vì Đức
Chúa Trời đã thắt nút, nên ngài sẽ tháo gỡ vào đúng lúc, tức thời điểm
ngài ấn định.
Chẳng hạn như trong lời tường thuật
về Giô-sép và hai bạn tù, Giô-sép đã giải nghĩa giấc mơ của hai người
ấy ba ngày trước khi chúng được ứng nghiệm (Sáng-thế Ký 40:13, 19). Sau
đó, khi Giô-sép được dẫn đến trước mặt Pha-ra-ôn đầy uy quyền để giải
thích giấc mơ của Pha-ra-ôn thì bảy năm được mùa theo lời tiên tri đã
sắp bắt đầu. Thần khí Đức Chúa Trời đã giúp Giô-sép giải nghĩa giấc mơ
đúng lúc, nhờ thế Pha-ra-ôn có thể sắp đặt để dự trữ phần hoa lợi của
những năm được mùa.—Sáng-thế Ký 41:29, 39, 40.
Một số lời tiên tri chỉ được hiểu
tường tận sau khi chúng ứng nghiệm. Nhiều sự kiện trong cuộc đời Chúa
Giê-su đã được tiên tri hàng thế kỷ trước khi ngài sinh ra, và các môn
đồ ngài chỉ hiểu tường tận những điều đó sau khi ngài sống lại
(Thi-thiên 22:18; 34:20;
Giăng 19:24, 36).
Ngoài ra, theo Đa-ni-ên 12:4, một số lời tiên tri được giữ kín hay
“đóng ấn... cho đến kỳ cuối-cùng”, là khi “sự học-thức sẽ được thêm
lên”. Chúng ta đang sống trong chính giai đoạn những lời tiên tri ấy
đang ứng nghiệm
*.
Các lời tiên tri trong Kinh Thánh và bạn
Giô-sép và Đa-ni-ên từng đứng trước
mặt các vua và tuyên bố lời tiên tri ảnh hưởng đến nhiều nước và vương
quốc. Các môn đồ Chúa Giê-su thời thế kỷ thứ nhất cũng đóng vai trò ngôn
sứ của Đức Giê-hô-va là đấng phán lời tiên tri; và những người hưởng
ứng thông điệp của họ nhận được lợi ích rất nhiều.
Ngày nay, Nhân Chứng Giê-hô-va trên
khắp thế giới đang rao báo lời tiên tri về tin mừng Nước Đức Chúa Trời,
và cho mọi người biết rằng lời tiên tri của Chúa Giê-su về “kỳ cuối
cùng của thời đại này” đang ứng nghiệm (
Ma-thi-ơ 24:3, 14).
Bạn có biết lời tiên tri đó là gì và nó ảnh hưởng thế nào đến bạn
không? Nhân Chứng Giê-hô-va vui lòng giúp bạn hiểu và nhận lợi ích từ
một trong những lời tiên tri quan trọng nhất của Kinh Thánh.
[Chú thích]
Truyền thuyết Hy Lạp
kể rằng ở thủ đô Gordium của xứ Phy-gi-a, cỗ xe ngựa của người sáng lập
thành phố này là ông Gordius được buộc vào cây cột với một nút thắt
phức tạp, và người nào tháo ra được sẽ là nhà chinh phục châu Á tương
lai.
[Các hình nơi trang 12, 13]
Cả Giô-sép và Đa-ni-ên đều công nhận rằng Đức Chúa Trời là đấng giải thích các lời tiên tri
Nhận xét
Đăng nhận xét