CÂU CHUYỆN TÂM LINH 40

(ĐC sưu tầm trên NET)

                                        Kỳ lạ những lời tiên tri đúng 100% của vĩ nhân Việt

Kỳ lạ những lời tiên tri đúng 100% của vĩ nhân Việt

 

(Kiến Thức) - Thông qua những câu sấm truyền, nhiều bậc vĩ nhân của lịch sử VN đã tiên đoán chính xác những sự kiện diễn ra sau hàng thế kỷ.

    Thiền sư Định Không giải đoán hậu vận đất nước

    Thiền sư Định Không (?-808) xuất thân từ một dòng tộc quyền quý họ Nguyễn, ở hương Cổ Pháp, Bắc Ninh. Sử sách ghi lại rằng ông là người am hiểu thế số, hành động đúng pháp tắc biết đoán định tương lai.

    Lời sấm truyền linh ứng sau 200 năm của ông về sự ra đời của nhà Lý vẫn còn được lưu lại đến nay, nội dung như sau:

    Pháp khí xuất hiện
    Thập khẩu đồng chung
    Tính Lý hưng long
    Tam phẩm thành công


    Dịch ra tiếng Việt:

    Hiện ra pháp khí
    Mười khẩu chuông đồng
    Họ Lý hưng long
    Ba phẩm thành công


    Trước khi qua đời, sư truyền lời tiên tri về hậu vận đất nước cho học trò như sau: “Ta muốn mở rộng làng xóm, nhưng e nửa chừng gặp tai họa, chắc có kẻ lạ đến phá hoại đất nước ta. Sau khi ta mất, con khéo giữ pháp này, gặp người họ Đinh thì truyền, nguyện ta đã mãn”.

    Hơn 60 năm sau, lời của ông đã linh ứng. Nhà Đường cử Tiết Độ Sứ Cao Biền sang cai trị, bóc lột nhân dân ta. Thâm độc hơn, chúng còn đến nhiều vùng đất, thế núi linh thiêng, nơi sẽ sinh người tài giỏi, trấn yểm triệt phá long mạch, trong đó có đất Cổ Pháp của sư Định Không. Một thế kỷ sau đó Đinh Tiên Hoàng (924 – 979) chấm dứt tình cảnh loạn lạc, sáng lập ra nhà Đinh và nước Đại Cồ Việt, mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ của người Việt.

    Sau này, sự chấm dứt của triều Đinh (968 – 980) cũng ứng với một lời sấm không rõ tác giả, xuất hiện vào năm 974:

    Đỗ Thích giết hai Đinh
    Nhà Lê sinh thánh minh


    6 năm sau, trong bữa tiệc tối, nhân lúc vua quan say rượu, hoạn quan Đỗ Thích đã giết vua và người con cả Đinh Liễn. Sau đó Lê Hoàn nắm quyền kiểm soát triều đình và trở thành hoàng đế, mở ra thời Tiền Lê. Dưới thời của ông đất nước được thịnh trị và giành chiến thắng vẻ vang trước cuộc xâm lược của nước Tống.

    Thiền sư La Quý tiên đoán sự ra đời của Nhà Lý

    Thiền sư La Quý (852 – 936) là người họ Đinh, cũng được lịch sử ghi nhận với khả năng tiên tri của mình. Tương truyền, trước khi qua đời ông đã trồng cây gạo ở chùa Minh Châu, làng Diên Uẩn và để lại những bài kệ:

    Đại sơn long đầu khỉ
    Cù vĩ ẩn châu minh
    Thập bát tử định thiền
    Miên thọ hiện long hình
    Thổ kê thử nguyệt nội
    Định kiên nhật xuất thanh


    Dịch là:

    Đại sơn đầu rồng ngửng
    Đuôi cù ẩn Châu minh
    Thập bát tử định thành
    Bông gạo hiện long hình
    Thỏ gà trong tháng chuột
    Nhất định thấy trời lên


    Do những từ “thập bát tử” ở câu số 3 là chiết tự của chữ Lý, nghĩa là họ Lý, nên bài thơ được diễn giải như sau: Đầu rồng hiện ở núi lớn / đuôi rồng giấu sự thịnh vượng / Họ Lý nhất định thành/khi cây gạo hiện hình rồng/ chỉ trong mấy tháng thỏ, gà, chuột / chắc chắn sẽ thấy mặt trời (vua) anh minh". Điều này ứng với sự ra đời của nhà Lý vào tháng 11 (tháng chuột) năm Kỷ Dậu (năm gà) 1009.

    Tài tiên tri của thiền sư Vạn Hạnh

    Thiền sư Vạn Hạnh (938 – 1025) là người họ Nguyễn, quê ở châu Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Ông là vị thiền sư có nhiều đóng góp trong việc mở ra nhà Lý đồng thời cũng là một nhà tiên tri.

     Tượng thiền sư Vạn Hạnh.

    Câu chuyện nổi tiếng nhất về khả năng tiên tri của thiền sư Vạn Hạnh gắn liền với cây gạo do thiền sư La Quý trồng ở làng Diên Uẩn. Theo Đại Việt Sử Ký, vào năm 1009, cây gạo này đã bị sét đánh và hiện lên những dòng chữ như sau:

    Thọ căn diễu diễu
    Mộc biểu thanh thanh
    Hoa đào mộc lạc
    Thập bát tử thành
    Đông a nhập địa
    Dị mộc tái sanh
    Chấn cung kiến nhật
    Đoài cung ẩn tinh
    Lục thất niên gian
    Thiên hạ thái bình


    Dịch là:

    Gốc cây thăm thẳm
    Ngọn cây xanh xanh
    Cây hoa đào rụng
    Mười tám hạt thành
    Cành đông xuống đất
    Cành khác lại sanh
    Đông mặt trời mọc
    Tây sao ẩn hình
    Sáu bảy năm nữa
    Thiên hạ thái bình


    Sư Vạn Hạnh đã giải đoán rằng, trong câu “Thọ căn diễu diễu” chữ “căn” là gốc, gốc là vua, chữ “diễu” đồng âm với chữ yểu, nghĩa là nhà vua (Lê Long Đĩnh) sẽ chết yểu.

    Trong câu “Mộc biểu thanh thanh” chữ “biểu” là ngọn, ngọn là bầy tôi, chữ “thanh” đồng âm với chữ thịnh, nghĩa là một người trong số quần thần sẽ lên nắm chính quyền.

    Ở câu 3, chữ “hoa đào” ghép lại thành chữ “lê”, tức là nhà Lê sẽ sụp đổ. Ở câu 4, ba chữ “thập bát tử” ghép lại là chữ Lý, tức là nhà Lý sẽ lên ngôi.

    Trong câu “Đông a nhập địa”, chữ “đông” và chữ “a” ghép thành chữ Trần, nói về sự kế tiếp của nhà Trần sau nhà Lý. Câu “Dị mộc tái sanh” nghĩa là một họ Lê khác (Lê Lợi và nhà Hậu Lê) sẽ lại nổi lên…

    Qua lời sấm này, thiền sư Vạn Hạnh đã tiên đoán chính xác những diễn biến lịch sử của dân tộc trong khoảng 5 thế kỷ, từ thời Tiền Lê đến thời Hậu Lê.

    Việc cây gạo bị sét đánh và hiện ra lời sấm cũng đã được thiền sư La Quý tiên đoán trước đó với câu "Miên thọ hiện long hình" (Bông gạo hiện long hình), câu thứ 4 trong bài kệ năm 936 của ông.

    Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà tiên tri số một

    Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), người mà dân gian quen là Trạng Trình là một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông cũng được coi là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam với nhiều câu sấm được để lại và tập hợp trong Sấm Trạng Trình. Tác phẩm này đưa ra những lời tiên tri trong chiều dài nhiều thế kỷ, đến nay vẫn còn được tìm hiểu và luận giải.

     Tượng đài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    Dưới đây là một số sự kiện xảy ra trong thế kỷ 20, theo các nhà nghiên cứu đã được Sấm Trạng Trình dự báo trước đó 5 thế kỷ.

    Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được tiên tri trong câu:

    Đầu Thu gà gáy xôn xao
    Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long


    Ở câu 1, “đầu Thu” là tháng 7 Âm lịch, “gà” nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện lịch sử này diễn ra, “gáy xôn xao” nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn người.

    Ở câu 2, “Trăng xưa” nghĩa là “cổ nguyệt” theo Hán tự, ghép lại thành từ “hồ”, là họ của Hồ Chủ tịch. “Sáng tỏ soi vào Thăng Long” là sự kiện Bác đọc Tuyên ngôn độc lập trước hang vạn đồng bào ở quảng trường Ba Đình của thủ đô Thăng Long – Hà Nội.

    Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 được tiên tri trong câu:

    Cửu cửu càn khôn dĩ định
    Thanh minh thời tiết Hoa tàn
    Trực đáo Dương đầu Mã vĩ
    Hồ binh bát vạn nhập Tràng An


    Câu 1, “cửu cửu” bằng 81 năm, khoảng thời gian từ khi triều đình Huế ký vào văn bản Hòa ước đầu hàng thực dân Pháp cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, theo “càn khôn dĩ định” hay quy luật đất trời.

    Câu 2, “thanh minh thời tiết” là thời điểm tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ rơi vào tháng 3 Âm lịch, “hoa tàn” là sự thất bại của người Pháp (thời Nguyễn Bỉnh Khiêm thượng gọi ngoại quốc là Hoa Lang”.

    Câu 3, “trực đáo” là thẳng tiến, “dương đầu” là đầu năm con dê 1955, “mã vĩ”, là cuối năm con ngựa 1954.

    Câu 4, toàn câu có nghĩa rất rõ ràng: tám vạn quân Cụ Hồ tiếp quản Thủ đô Hà Nội (tên gọi cũ là Tràng An).

    Ngoài các sự kiện lịch sử, thời khắc “trở lại” của Trạng Trình cũng được ông ghi rõ trong câu sấm truyền:

    Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi
    Sông Hàn nối lại thì tôi lại về


    Đúng như lời sấm, vào năm 1991, tròn 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tiên Lãng bị xẻ đôi ra vì có công trình đào con sông để làm kênh thuỷ lợi. Cùng lúc ấy có cây cầu được xây dựng nối sông Hàn từ quê Vĩnh Bảo của ông sang Thái Bình. Cũng từ năm ấy trở đi, tên tuổi, danh tiếng, tài năng kiệt xuất của Trạng Trình được sống lại. Lễ kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông được tổ chức long trọng tại Văn Miếu -  Quốc Tử Giám…

    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới

    • 1 2 3 4 5 328
    • 59.344
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới cùng với nhiều lời tiên đoán trở thành hiện thực khiến thế giới kinh ngạc và sợ hãi - liệu bạn có thực sự biết nhiều về những nhà tiên tri ấy cùng những tiên đoán của họ?

    Những nhà tiên tri lừng danh và những tiên đóan vĩ đại

    Nhà tiên tri Nostradamus

    Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.
    Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.
    Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.
    Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Italy, Do Thái và Ả Rập…
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
    Nhà tiên tri Nostradamus. (Ảnh: Elmonasterio.org)
    Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.
    Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, phu nhân của vua Henry đệ II.
    Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.
    Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị
    Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già
    Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh
    Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng
    Hai vết thương và một cái chết thảm thương.
    Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery - “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi. Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.
    Cảnh báo việc Napoleon bại trận ở Nga
    Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:
    Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga
    Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố
    Quân chủ lực sẽ phản công
    Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.
    Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon
    Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém
    Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh
    Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm
    Khi ông giành được quyền lực tối cao.
    Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba
    Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa
    Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang
    Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.
    Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.
    Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966
    Máu của thần công lý sẽ bao phủ London
    Thành phố sẽ cháy vào năm 66
    Vị phu nhân mất địa vị tối cao
    Và nhiều nơi bị hủy hoại.
    Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.
    Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.
    Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.
    Tiên tri về cái chết của mình
    Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”.
    Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.
    Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới
    Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.
    Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.
    Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999
    Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.
    Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc.
    Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

    Nhà tiên tri Emanuel Swedenborg

    Ở Thụy Điển có một người "thấy được tương lai" nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè... Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
    Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom" (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!

    Quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng

    Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bốn Độn.
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
    Khổng Minh "thần cơ diệu toán" - (Ảnh: Viettimes)
    Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của ông còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

    Nhà tiên tri Jean Dixon

    Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai - bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri "nhí" Jeane đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay sẽ phát nổ.
    Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.
    Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những người khác.
    Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh của người đó.
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
    Nữ tiên tri Jeane Dixon đưa ra nhiều tiên đoán chính xác về cái chết của nhiều nhân vật nổi tiếng.
    Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.
    Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất.
    Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.
    Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.

    Vanga - Nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX

    Vanga (tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng.
    Những nhà tiên tri lừng danh thế giới
    Vanga - Nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX
    Bà sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh viện ở thủ đô Sofia.
    Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.
    Bà từng nói:“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.
    Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những nền văn minh khác tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.
      Cập nhật: 20/10/2015 Tổng hợp

      Bí ẩn lời tiên tri kỳ lạ ‘chính xác đến từng chữ’ của đại sư Tây Tạng hơn 1000 năm trước về tương lai nhân loại hiện đại

      30/12/2016 08:20:23
      Hơn 1000 năm trước đây, một đại sư của Ấn Độ và của Mật giáo Tây Tạng đã thấy trước những sự kiện sẽ diễn ra trong thời đại ngày nay, như: Thiên tai xảy ra khắp nơi, nạn đói và dịch bệnh tràn lan, cuộc xâm lăng Tây Tạng, đền chùa và tượng Phật bị phá hủy, các tu sĩ bị sát hại, v.v. Đối chiếu với ngày nay, có thể thấy đó đều là những dự ngôn chuẩn xác lạ thường…
      Trước khi Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn tại Thánh địa Kushinagar, ngài đã nói với các đệ tử của mình rằng:

      “Trong thế gian vô thường này chúng sinh không thể tránh được cái chết, giờ đã tới lúc ta phải ra đi. Nhưng đừng than khóc nữa, vì 12 năm sau khi ta lìa thế gian, tại hồ Dhanakosha ở góc tây bắc của xứ Urgyan, sẽ có một đấng thông thái và đầy quyền năng sinh ra trong một đóa hoa sen. Người đó sẽ được gọi là Liên Hoa Sinh và truyền bá Mật giáo.”
      Đấng thông thái mà Phật Thích Ca Mâu Ni nhắc đến chính là Đại sư Liên Hoa Sinh, người truyền bá Phật giáo sang Tây Tạng và được các đệ tử tôn kính gọi là “Đức Phật thứ hai”.
      Đại sư Liên Hoa Sinh. (Ảnh: Wikipedia)
      Truyền thuyết về Đại sư Liên Hoa Sinh
      Tương truyền, Đại sư Liên Hoa Sinh là một hóa thân của Phật A Di Đà. Ngài sinh ra trong một đóa sen ở giữa Hồ Ngọc (hồ Dhanakosha) thuộc xứ Urgyan, phía tây của Bodhgaya (tức Bồ Đề Đạo Tràng). Ngay từ khi sinh ra, Liên Hoa Sinh đã mang thần thái của một đấng giác ngộ, sớm thông tuệ các giáo lý Phật Pháp. Ngài đã được vua Indrabodhi nhận làm con trai và trao quyền kế vị vương quốc.
      Thế nhưng, khi đã đạt tới đỉnh cao của quyền lực thế gian, Liên Hoa Sinh nhận ra rằng vạn vật trong cõi vô thường chỉ là hư ảo. Ngài đã quyết định từ bỏ ngai vàng để xuất gia tu hành. Cũng trong những năm tháng ấy, đại sư đã nhiều lần sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái, và đẩy lùi thiên tai, để lại nhiều truyện thần thoại cho đời sau. Vì vậy mà người ta còn gọi ngài là “Đạo sư quý báu”, “Quỹ Phạm Sư Bảo”, hay “Sư Tôn Bảo”.
      Điều đặc biệt là tất cả những lời dạy của Đại sư Liên Hoa Sinh đã được một đệ tử của ngài là Đức bà Yeshe Tsogyal, người có trí nhớ kỳ diệu, chi chép lại trong Kinh Dakini. Cuốn sách này đã được cất giấu và chỉ được hậu thế tìm ra cách nay khoảng 500 năm. Đoạn trích dẫn trong ngoặc kép dưới đây là lời tiên tri về thời mạt pháp, tức thời đại ngày nay của chúng ta:
      Dự ngôn về thời mạt pháp
      Khi vị vua bảo hộ Mật giáo ở Tây Tạng tên là Trisondetsen hỏi đức Liên Hoa Sinh về thời Mạt pháp, ngài đã trả lời rằng:

      Sư tăng vô đạo…

      Khi thời mạt pháp đi dần tới nạn lửa cuối cùng, tuổi thọ của kiếp người giảm và bóng tối dầy đặc hơn, nhưng con đường sa đọa vẫn còn được kiềm chế khi người ta vẫn còn nghe lời Phật và vẫn còn theo Đạo Pháp.

      Vào khoảng cuối thời hắc ám này, khi tuổi thọ giảm từ 65 xuống 55, còn tính vị kỷ của người ta tăng mà không giảm, thì những tình trạng xấu sẽ thắng thế, báo trước sự hủy hoại của Đại Bảo Tháp (Đại Bảo Tháp là một hình ảnh ẩn dụ, có thể hiểu nôm na là tín tâm của nhân loại đối với Phật Pháp – NV), đó là:

      Người tại gia đến ở đầy chùa và đánh nhau trước bàn thờ. Đền chùa được dùng làm lò sát sinh. Các vị ẩn tu trong hang núi trở về cày ruộng. Các Thiền giả sẽ đi buôn. Bọn trộm cướp thì có của cải và gia súc. Tu sĩ trở thành người tại gia. Còn các sư trưởng thì trở thành giặc cướp, trộm đạo.

      Trật tự trở thành hỗn loạn, biến thành hốt hoảng lan nhanh như lửa cháy rừng. Người hư hỏng và vị kỷ trở thành lãnh tụ, còn các sư trưởng trở thành sĩ quan quân đội chỉ huy các tu sĩ quân nhân của họ. Các nữ tu giết con hoang của mình. Có những người phải chứng kiến cảnh cơ nghiệp và gia sản của mình bị cướp đoạt. Bọn mị dân ác độc và thô lỗ trở thành các lãnh đạo địa phương, còn các cô gái thì dạy trẻ con ở các trường học. Phù thủy Bon lớn tiếng đến nỗi Thiền giả trong am thất cũng nghe thấy, và các đền chùa bị cướp bóc.

      Kinh sách của chư Phật, tượng Phật, tranh ảnh và các Tháp bị xâm phạm, bị đánh cắp và mua bán với giá ngoài chợ, không ai nhớ tới giá trị thật của những vật này. Đền chùa trở thành chuồng trâu, chuồng ngựa phủ đầy phân.
      Đập phá chùa chiền và đốt tượng Phật trong thời Đại Cách Mạng Văn Hoá bên Trung Quốc. (Ảnh: Internet)

      Nhân tâm suy đồi

      Khi người ta quên bổn phận tôn giáo thì ma quỷ, vốn bị kềm chế bằng các nghi lễ, sẽ được thả lỏng, làm loạn và điều khiển tâm trí của người nào mà chúng nhập. Ma thù địch nhập vào các tu sĩ. Ma vị kỷ độc ác nhập vào các hành giả Mật chú và các phù thủy. Ma bệnh tật nhập vào các đạo sĩ Bon. Ma gây bệnh nhập vào đàn ông. Ma cãi cọ nhập vào đàn bà. Ma lả lơi nhập vào các cô gái. Ma hư hỏng nhập vào các nữ tu. Ma phá rối nhập vào trẻ con. Mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con trong xứ đều bị lực lượng hắc ám được thả lỏng nhập vào.

      Dấu hiệu của thời này là kiểu y phục mới, kỳ lạ: kiểu quần áo cũ kỹ bị bỏ quên. Các tu sĩ mặc kiểu áo mới lạ, còn các nữ tu thì sửa sang trước tấm gương. Mọi người đều phải mang gươm để tự vệ và ai cũng canh chừng để thức ăn của mình không bị bỏ thuốc độc. Sư trưởng và thầy làm ô nhiễm tâm trí các đệ tử của họ. Nhà cầm quyền và các pháp quan không đồng ý với nhau. Đàn ông trở nên thô tục, buông thả. Đàn bà không còn trong sạch nữa. Các tu sĩ không giữ giới và đức hạnh. Các hành giả Mật chú vi phạm lời thệ nguyện. Khi sự hoành hành của các ma độc ác, vị kỷ, thù hận và tàn bạo gia tăng, thì những tin đồn hoảng hốt cũng gia tăng và kiểu y phục thay đổi thường xuyên hơn.
      “Mọi người đều phải mang gươm để tự vệ và ai cũng canh chừng để thức ăn của mình không bị bỏ thuốc độc…”, ngày nay thức ăn, hoa quả đều rất độc hại. (Ảnh: Internet)

      Chính giáo và tà giáo

      Bọn say rượu thuyết giảng về sự cứu rỗi. Bọn mị dân được người ta nghe theo. Các vị thầy giả mạo truyền tâm ấn giả dối. Bọn lừa bịp khoe là có thần thông. Tài hùng biện được coi là trí huệ. Bọn kiêu ngạo đề cao phàm tục. Bọn hạ tiện cai trị vương quốc. Các vua chúa trở thành người nghèo. Bọn đồ tể và bọn giết người trở thành thủ lãnh. Bọn tham vọng tiến thân thô lỗ leo lên vị trí cao. Các vị Thầy của nghi quỹ cao cấp chạy rông như chó ngoài đường, còn các đệ tử của họ thì không có tín tâm cũng đi lang thang như sư tử trong rừng. Những người hiện thân của độc ác và vị kỷ được kính trọng như các vị thầy, trong khi sự thành tựu của các vị thầy Mật giáo thì bị nói xấu, lời dạy của Đạo Sư Bí Mật bị coi là tà đạo, giáo lý của Đức Phật bị bỏ quên, lời khuyên của các Thiền giả và các Thánh nhân bị làm ngơ. Bọn ngu ngốc và bọn gian tà mặc áo Tu sĩ, còn các Tu sĩ mặc y phục của ngoại nhân; bọn sát nhân cũng mặc áo cà sa. Những người tìm ma thuật học Mật chú vì mục đích vị kỷ. Tu sĩ chế thuốc độc để bức bách người khác và để trục lợi. Giáo lý tà ngụy được tạo ra từ lời Phật và các vị thầy diễn giải kinh điển để tự đề cao.

      Người ta đi theo những con đường nguy hiểm chưa được biết trước đây. Nhiều lối tu hành gian tà lan rộng. Những hành vi vốn được coi là xấu xa thì lại được dung dưỡng; những tư tưởng mới trái ngược với phong tục cũ, những tục lệ tốt bị từ bỏ, những lối sống mới đáng khinh làm hư hỏng con người, tài sản của đền chùa bị cướp đoạt và bị những người đã thọ giới tiêu phí. Đi theo đường tà, con người bị kẹt trong chính những hành động xấu của họ. Những người bảo hộ giáo lý thuần túy thì lại tham lam, giả dối, không làm tròn bổn phận của họ nữa.

      Thiên tai nhân họa, bệnh tật tràn lan

      Thiên lý bị đảo lộn, gây ra dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh để làm khủng hoảng đời sống thế gian. Các tinh tú hỗn loạn, những ngôi sao rơi khỏi các chòm sao; những ngôi sao lớn bốc cháy xuất hiện mang lại tai họa không thể lường trước được. Mưa rơi không đúng mùa, mà trái mùa; các thung lũng bị ngập lụt. Nạn đói, sương giá và mưa đá gây mất mùa nhiều năm. Bọn nữ quỷ dữ tợn và mười hai nữ hộ pháp không được cúng tế nữa nên nổi giận thả lỏng các bệnh tật cùng các bệnh dịch khủng khiếp lan tràn như lửa cháy rừng, làm hại cả người lẫn gia súc. Những trận động đất gây nạn lụt bất ngờ, trong khi lửa, bão và gió lốc tàn phá đền chùa, tháp và các thành phố trong khoảnh khắc.
      Thiên lý đảo lộn, động đất, hạn hán, lũ lụt, sóng thần, v.v. xảy ra khắp nơi… (Ảnh: Internet)

      “Trong cảnh đen tối này, Pháp luân ở Vajrasana (Bồ đề đạo tràng) không hoạt động nữa; chiến tranh tàn phá Nepal trong nhiều năm; Ấn Độ gặp nạn đói; thung lũng Kathmandu bị bệnh dịch hoành hành; động đất tiêu diệt dân xứ Ngari Thượng ở miền tây Tây Tạng; bệnh dịch hủy diệt dân miền trung Tây Tạng; quận Thung lũng Kyi của thủ đô Lhasa vẫn tồn tại; các đỉnh của Hy Mã Lạp Sơn ở biên giới xứ Mon bị đổ xuống các thung lũng. Ba đồn phòng thủ được xây trên núi Năm Đỉnh; các Thiền giả tụ họp nơi thung lũng Hang Gấu ở Mon; hai mặt trời mọc ở tỉnh Kham về hướng đông; Hoàng đế trung Hoa chết đột ngột; bốn đạo quân tràn xuống miền trung Tây Tạng từ biên giới; quân Hồi giáo chiếm Ấn Độ; quân Garlok diệt giáo pháp ở Kashmir; người Mông cổ chiếm Tây Tạng; quân Jang tiến vào Kham; chùa Hộ Pháp Rasa Trulnang bị đe dọa; chùa Samye danh tiếng bị xâm phạm; các tháp ở Bhutan bị nghiêng và Pháp luân bị hỏng.

      Các chùa lớn ở xứ này bị bỏ hoang và tiếng Ợ của đạo sĩ Bon vang trong các am thất yên tĩnh; các vị lãnh đạo khôn ngoan hay chất phác của các tu viện bị đầu độc làm cho việc diễn giải và tu hành truyền thống bị phân tán hay mai một; những người bảo tồn truyền thống bị chết đột ngột. Bọn giả dối lừa gạt người dân và những bóng ma đen ám ảnh xứ sở này. Nút chỉ tơ thiêng liêng trói buộc các lực lượng ma quỷ bị tháo ra và sợi dây tín tâm giữ tâm trí con người hòa hợp bị cắt đứt. Luật lệ của vua bị phá và sức mạnh của sự hợp nhất xã hội bị diệt; phong tục của dân bị chối bỏ và biển an lạc bị khô cạn; đạo đức con người bị bỏ quên và ca áo khiêm tốn bị liệng bỏ.”

      “Người đức hạnh thì bất lực và bị hạ nhục, chịu sự sai khiến của những người cai trị thô lỗ, kiêu ngạo, đáng sợ. Các tu sĩ và thầy giáo trở thành sĩ quan quân đội, còn kẻ ngu dốt thì lại hướng dẫn người có đạo tâm, thuyết giảng giáo lý và truyền tâm ấn. Tín đồ nói xấu người khác để tự biện minh, trong khi đồ tể và voi hoang dẫn dắt người ta. Các đèo, các thung lũng và các đường mòn đều bị các bọn cướp vô liêm sỉ quấy phá. Lo sợ, vô pháp luật và không có người hướng dẫn, dân chúng đánh lẫn nhau và hành động một cách vị kỷ. Tây Tạng trở nên bại hoại và ô nhiễm. Đây là tình trạng chính yếu trong khoảng giữa thời Mạt pháp, khi tuổi thọ của con người là năm mươi năm.

      …chiến tranh sẽ bộc phát như một cơn bão thổi qua Tây Tạng và Trung Hoa, sự phi nhân của tai họa này sẽ làm tăng gấp ba lực hắc ám, nạn đói và bệnh tật sẽ đưa chúng sinh vào địa ngục khủng khiếp. Từ biên giới Trung Hoa ở cao nguyên Đông bắc, một đạo quân đông bằng năm lượng hạt cải trắng sẽ xâm lăng Tây Tạng và tiếng kêu khủng khiếp sẽ vang như sấm trong nhiều năm. Một đạo quân đông bằng chín lượng hạt cải trắng sẽ tiến qua vùng bình nguyên miền nam xâm lăng Tây Tạng và tiếng kêu kinh hoàng sẽ vang như là một con rồng lửa. Các đạo quân sẽ tiến qua những thung lũng như chớp nhoáng xâm chiếm miền tây Tây Tạng. Lực lượng cao nguyên sẽ xâm lăng Trung Hoa, cướp phá cho tới khi chiến thắng. Một nửa dân Tây Tạng sẽ bị giết, các đền chùa đều bị phá hủy, các bức tượng bị xâm phạm, kinh sách bị chà đạp dưới đất, các tu sĩ bị sát hại. Những ngôi làng bị tàn phá và trở nên hoang vắng vì những người sống sót trong tai họa này sẽ trốn sang Sikkim, Bhutan, Nepal và Ấn Độ như những người tỵ nạn, và đến các thung lũng bí mật của Hy Mã Lạp Sơn. Những người ở lại vì còn tiếc ruộng đất và của cải, sẽ bị bọn man rợ chống giáo pháp tàn sát cùng với gia súc của họ.
      “Một nửa dân Tây Tạng sẽ bị giết, các đền chùa đều bị phá hủy, các bức tượng bị xâm phạm, kinh sách bị chà đạp dưới đất, các tu sĩ bị sát hại.” (Ảnh: worldreligionnews.com)

      Sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế

      Ngài có trí lực lớn và sẽ thấy rõ những gì mình sẽ làm trong đời. Do nhận thức bí ẩn hay rõ rệt trong các kiếp từ khi Ngài phát nguyện, Ngài sẽ tái sinh với tín tâm coi Tam Bảo là An Lạc Vĩnh Hằng, tôn kính trách vụ của giáo hội, và thành tâm với sự thiêng liêng của thân, khẩu, ý. Là người Đại thừa, Ngài có tâm từ bi đối với loài người cũng như các sinh vật và sự bố thí của Ngài về thân, khẩu, ý là vô tận. Với trí huệ về chân không an lạc của bản thể các pháp, Ngài quán thông Phật Hạnh bạo động và sự biểu lộ hung dữ của các hộ pháp phẫn nộ.

      Nguyện giải trừ sự thống khổ này, vị Tulku, với lục an lạc của ta, với tâm từ bi đối với chúng sinh, không nghĩ tới thể xác, sự sống và hạnh phúc của riêng mình, khôi phục dũng mãnh bằng sự phẫn nộ thiêng liêng, ngài hướng dẫn và củng cố sức mạnh cần thiết cho người dân ở các xứ biên giới. Khi tiếng nói đức hạnh của những người lưu vong đã hợp nhất, thì những người bạn của Vĩ nhân này bắt đầu cùng nhau ra sức phục hồi Đại Bảo Tháp.
      Cứu Thế Chủ, vị thần tối cao sẽ đến vào giờ phút cuối cùng của nhân loại. (Ảnh: Falunart)

      Nhưng những quyền lực hắc ám quái đản đã dụ dỗ mọi người làm những điều tội lỗi; chỉ có ít người tôn sùng và tin tưởng vị Tulku, những người này ít như sao buổi sáng. Tuy nhiên, Vĩ nhân này cũng có một trăm ba mươi ngàn tín dồ đạo hạnh, một trăm lẻ sáu Đạo sư uyên thâm, tám mươi tám Thiền giả thành tâm trì giới, tám mươi thí chủ rộng rãi, không keo kiệt, hai mươi ba nhà tiên tri, tám Giáo sư hóa thân của tám Bồ Tát, hai mươi lăm đệ tử sùng tín, năm Dakini (nữ thần) hóa thân, và hai mươi lăm thiếu nữ thuộc các gia đình cao quý. Tiếp xúc với họ, Ngài thanh lọc tâm trí ô nhiễm của họ và dọn sạch mọi chướng ngại trên đường đạo của họ.

      Tất cả những người nào ra tay phục hồi Đại Bảo Tháp, sau ba lần tái thức tỉnh, sẽ tái sinh làm người hay thần, thanh tịnh để nhận cam lộ Giáo pháp, và rốt cuộc sẽ đắc Phật quả ở cõi Tây Phương Cực Lạc (…) Tất cả những người nào cùng với Đấng Vĩ Đại, thi hành việc phục hồi Đại Bảo Tháp, dù có ý thức về Ngài hay không, dù tin tưởng và tôn sùng hay không, đều sẽ đạt thành tựu tối thượng và quyền năng tâm linh vào cuối kiếp làm người thế gian.
      Hoa Ưu Đàm 3.000 năm khai nở một lần. (Ảnh: Internet)
      Cuối cùng, xin được kết thúc bài viết này bằng một dự ngôn khác. Đạo sư Liên Hoa Sinh cũng có lời tiên tri giống với lời giảng của Đức Phật Thích Ca 2500 năm trước đây, rằng: Khi Đấng Cứu Thế xuất hiện thì hoa Ưu Đàm Bà La sẽ khai nở. Lời tiên tri trong kinh Phật đã ứng nghiệm rồi, những bông hoa Ưu Đàm Bà La hiện giờ đã khai nở khắp nơi, phải chăng Đấng Cứu Thế đã có mặt tại nhân gian và đang cứu độ chúng sinh rồi?

      (Dựa theo các ghi chép của Đức bà Yeshe Tsogyal trong phần “truyền thuyết về Đạo sư Liên Hoa Sinh” và “Huyền thoại Đại Bảo Tháp Bodha”)

      Hồng Liên biên tập 

      Người "nhìn thấu" tương lai nhân loại đến năm 7000

      Thứ Năm, ngày 28/08/2014 09:00 AM (GMT+7)
      Nostradamus được mệnh danh là nhà tiên tri xuất chúng mọi thời đại bởi ông đã dự đoán đúng nhiều sự kiện lịch sử thế giới mặc dù nó xảy ra sau khi ông qua đời cả hàng trăm năm.
      Nostradamus (1503-1566) là dược sĩ và nhà tiên tri người Pháp. Ông còn được biết đến với biệt danh "đầy tớ của ma quỷ" bởi tất cả những lời tiên tri của Nostradamus đều không được viết bằng thứ ngôn ngữ phổ thông minh bạch mà đều được viết theo kiểu ẩn ngữ, chơi chữ, hoặc dùng tiếng Hy Lạp, Do Thái, Ả Rập, Italy… là những ngôn ngữ khó. Đó là một lựa chọn thận trọng bởi Nostradamus không muốn bị kết tội dị giáo, phù thủy, mê tín dị đoan…
      Những lời tiên tri đúng đến kinh hãi
      Người "nhìn thấu" tương lai nhân loại đến năm 7000 - 1
      Dược sĩ, nhà tiên tri người Pháp Nostradamus
      Trong suốt cuộc đời của mình, Nostradamus đã tiên đoán chính xác rất nhiều những thảm họa như dịch bệnh, động đất, chiến tranh, lũ lụt, hạn hán và những trận giao tranh. Những người hâm mộ Nostradamus đã ghi lại những sự kiện trong lịch sử thế giới được dự đoán đúng bao gồm: cách mạng Pháp, chiến tranh thế giới thứ I và thứ II, cái chết của Napoleon, Hitler, công nương Diana và thậm chí là thành tựu khoa học tàu Apolo xuống mặt trăng…
      Nostradamus tuyên bố rằng, những dự đoán của ông về tương lai đều dựa trên những cách tính toán của các hành tinh và các vì sao với trái đất. Điều này bắt nguồn từ các nhà sử học cổ điển cũng như những biên niên từ thời trung cổ để lại.
      Trong thực tế, nhiều học giả tin rằng, Nostradamus diễn giải ngày tận thế của trái đất từ những lời tiên tri cổ xưa (chủ yếu  là từ Kinh Thánh), sau đó thông qua các bài đọc chiêm tinh trong quá khứ để dự báo những sự kiện xảy ra trong tương lai.
      Một trong những người đầu tiên kinh hãi trước lời tiên tri của Nostradamus là hoàng đế Henry II của Pháp. Ông vua 46 tuổi khi thấy sức khỏe sa sút đã gọi Nostradamus vào cung để hỏi về số phận mình, và nhận được lời tiên đoán: “Có một ngày, đầu của bệ hạ sẽ bị đâm bởi một vật sắc nhọn và đó là nguyên nhân khiến người băng hà. Điều đó sẽ xảy đến trong 10 năm nữa".
      Người "nhìn thấu" tương lai nhân loại đến năm 7000 - 2
      Nostradamus tiên đoán đúng cái chết của vua Henry II
      Ông đã cảnh báo nhà vua nên tránh một cuộc đấu ngựa. Thế nhưng đến tháng 6/1559, phớt lờ những lời cảnh báo của Nostradamus, vua Henry II vẫn tham gia vào cuộc đấu với Bá tước Montgomery trong ngày cưới của cô em gái. Hai đối thủ cùng đeo chiếc khiên khắc nổi hình sư tử và Montgomery trẻ hơn Henry 6 tuổi. Trong khi chơi, một chiếc thương đã xuyên qua tấm khiên che mặt của nhà vua, đâm qua mắt và xiên vào thái dương. Vua Henry II từ trần ở tuổi 41 sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.
      Nhà vua qua đời 10 ngày sai tai nạn, vào tháng 6 năm 1559. Sự kiện đó đã được ghi trong cuốn “Những thế kỷ” của Nostradamus xuất bản trước đó một năm
      Vận mệnh của một vị hoàng đế khác sống sau đó 2 thế kỷ cũng được Nostradamus đoán đúng là Napoleon - người bách chiến bách thắng nhưng thất bại ở Nga, rồi mất vương quyền: Những vần thơ của Nostradamus chỉ rõ: "Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém/Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh/Khi ông giành được quyền lực tối cao/Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba/Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa/Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang/Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu".
      Những tội ác của Hitler, vụ ném bom nguyên tử ở Nagasaki và Hirosima, phi thuyền con thoi của  Mỹ bị nổ năm 1985, tổng thống Mỹ Kennedy bị ám sát… đều được cho là Nostradamus tiên tri trong những bài thơ của mình.
      Những lời tiên tri sấm truyền
      Người "nhìn thấu" tương lai nhân loại đến năm 7000 - 3
       Trong số hơn 1.000 lời tiên đoán của ông, có đến quá nửa đã trở thành sự thật
      Năm 1554, Nostradamus và ông quyết định dành tất cả những năng lượng của mình vào các tác phẩm. Ông dự định mỗi cuốn sách sẽ gồm 10 chương, mỗi chương là 100 dự đoán viết dưới dạng thơ tứ tuyệt.
      Năm 1555, ông xuất bản cuốn Les Prophéties (Lời tiên tri) bao gồm một bộ sưu tập các dự đoán lớn, lâu dài của mình. Để tránh bị soi xét, ông đã nghĩ ra một phương pháp làm giảm đi ý nghĩa của những lời tiên tri bằng cách sử dụng thơ văn và các loại ngôn ngữ khác nhau như Hy Lạp, Ý, Latin và Provencal cùng một số phương ngữ của người miền Nam nước Pháp.
      Ông hầu như không bao giờ chỉ rõ thời gian, địa điểm xảy ra các sự kiện nên chẳng ai có thể dựa vào những lời tiên tri của ông mà đoán biết trước được điều gì sắp đến. Trong hầu hết các trường hợp, người ta chỉ có thể sử dụng chúng để chiêm nghiệm sau khi sự việc đã diễn ra.
      Cuốn sách đã gây ra rất nhiều tranh cãi, một số người cho rằng Nostradamus là một người đầy tớ của ma quỷ. Những người khác thì lại nghĩ ông là đồ giả tạo hoặc mất trí nhớ. Tuy nhiên, vẫn rất nhiều người tin rằng những lời tiên tri đó được xuất phất từ thần linh. Nostradamus ngày càng trở nên nổi tiếng và được tầng lớp thượng lưu châu Á trọng vọng. Catherine de Medici, vợ vua Henri II của Pháp là một trong những người hâm mộ lớn nhất của Nostradamus.
      Sau khi đọc niên giám 1555, thấy bài thơ số 35 ám chỉ một mối đe dọa chưa được đặt tên về gia đình mình, Catherine de Medici đã gọi Nostradamus đến Paris để giải thích và lập lá số tử vi cho mình.
      Trong suốt 400 năm qua, những lời tiên tri của Michel de Nostradamus đã khiến các nhà khoa học bối rối. Trong số hơn 1.000 lời tiên đoán của ông, có đến quá nửa đã trở thành sự thật. Các nhà nghiên cứu Nostradamus cho biết,  ông đã nhìn thấu tương lai của nhân loại đến tận năm 7000, rằng theo ông thì nào năm 3979, sa mạc Gobi sẽ thành biển cả. Bây giờ mới là năm 2014, vì thế nhân loại sẽ còn rất nhiều thời gian để tiếp tục chiêm nghiệm độ đúng sai trong những lời tiên tri của ông.
      Theo Hiểu Nhân (Theo Biography, Paranormal) (Khampha.vn) 

      Nhà tiên tri Edgar Cayce đã tiên đoán điều gì về thế kỷ 21?

      Đăng lúc 10:22 AM 19/11/2016 660 0

      Edgar Cayce (1877-1945) là nhà tiên tri rất nổi tiếng ở phương Tây, lời tiên tri của ông bao hàm nhiều lĩnh vực, độ chuẩn xác cực cao, đề cập đến các cá nhân, đoàn thể, quốc gia, tình thế thế giới, và cả hướng đi trong tương lai của nhân loại.

      Tinh hoa, Edgar Cayce,
      Nhà tiên tri Edgar Cayce có những tiên đoán chuẩn xác. (Ảnh: Internet)
      Edgar Cayce đã từng tiên đoán chính xác về hai lần thế chiến, khủng hoảng kinh tế năm 1929, việc giành độc lập của Ấn Độ, Israel lập quốc, tổng thống nước Mỹ qua đời khi đang đương nhiệm, cùng với sự kiện từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và thành lập thể chế xã hội mới của Nga trong vài thập niên sau đó. Những lời tiên đoán này của ông hết thảy đều đã được nghiệm chứng. Người ta còn thành lập “Quỹ Cayce” (Edgar Cayce Foundation) để tiến hành tổng hợp và kiểm tra tất cả những lời tiên đoán của ông, kết quả thống kê đưa ra xác suất chuẩn xác khiến cả thế giới thán phục.
      Cayce có niềm yêu thích đặc biệt đối với nền văn minh tiền sử Atlantis đã chìm dưới Đại Tây Dương. Cả đời ông đã từng đề cập vấn đề này hàng trăm lần, không chỉ tường thuật lại chi tiết, tỉ mỉ, mà còn tiên đoán Atlantis vào năm 1968 mới được con người phát hiện. Năm 1968, người ta quả nhiên phát hiện dưới đáy biển Bimini ở Đại Tây Dương có một con đường hình vuông bằng đá lớn, đây chính là vùng biển Atlantis mà Cayce đã miêu tả.
      Nhưng Cayce lại không cho mình là có siêu năng lực, ông nói rằng những năng lực này là bản năng bẩm sinh của bất kỳ ai; chỉ có người đã loại bỏ đi dục vọng đối với lợi ích cá nhân đến mức nhất định (detachment from self-interest) mới có thể có được năng lực này, và rằng khả năng của con người là vượt quá trí tưởng tượng của con người hiện đại.
      Cả đời ông để lại gần 15.000 lời tiên tri, trong đó tiên tri về tương lai của nền văn minh nhân loại chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều hứng thú đối với rất nhiều người, dẫu cho có một ít nội dung cho đến nay vẫn không thể hoàn toàn giải mã.
      Thế chiến lần thứ II chính là đại nạn trong lịch sử của nhân loại, bởi vậy đối mặt với tương lai của thế giới đang đi về hướng mờ mịt, rất nhiều người đã đến xin sự chỉ dẫn của Cayce. Trước khi thế chiến thứ II bắt đầu, Cayce đã tiên đoán rằng có sự trỗi dậy của Hitler, Nhật Bản, sau chiến tranh Nga cuối cùng sẽ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để hướng về dân chủ.
      Khi giảng đến chiến tranh thế giới và cục diện thế giới thật ra đều liên quan đến ý thức và tội nghiệp của nhân loại. Cayce đánh giá một cách sinh động tình huống của các quốc gia như sau:
      Như trùm tài chính, một hội kín cùng nước Đức—nơi phát nguyên chủ nghĩa cộng sản—được xưng là “khoác lên mình tấm áo của Hội huynh đệ, trở thành quỷ hút máu của thế giới”.
      Italia là “vì một bát súp thịt mà bán rẻ chính mình”; Nhật Bản năm 1931 xâm nhập vào Trung Quốc là muốn “trở thành lực lượng chi phối”; đế quốc Anh già nua “mặt trời không bao giờ lặn” lại “một mực tự cho là có cách nghĩ cao minh hơn các quốc gia khác”, tội của nước Pháp là “phóng đại dục vọng thân thể”; tội của Ấn Độ là “ngoại trừ tìm kiếm trong nội tâm ra, có văn minh xán lạn nhưng lại khước từ thực hiện”; tội của nước Mỹ là “đã quên mất nguyên tắc Thượng Đế là đồng tại với chúng ta”. Những bình luận trực quan này khiến người ta cảm thấy thú vị, cũng rất sâu sắc.
      Tuy nhiên, những lời tiên đoán và đánh giá của Cayce đối với Trung Quốc mới là tường tận nhất.
      Ngày 24/1/1925, trong trạng thái tiên tri Cayce đã chủ động kể ra sự tình sẽ phát sinh ở Trung Quốc: “Giữa năm 1931, Trung Quốc sẽ ở vào một giai đoạn đặc biệt, tại Mãn Châu sẽ xuất hiện tai hoạ đổ máu…”, đây chính là nói về sự kiện Nhật Bản xâm Hoa vào 6 năm sau.
      Ngày 30/7/1927, ông tiếp tục đọc lên tình hình mà bản thân thấy được: “Một vài sự kiện đặc biệt phát sinh ở trên thân thể người Trung Quốc, ở trên thân thể người Nhật, một số lực lượng người ngoài hành tinh xâm lấn từ bên ngoài đã có được thế lực rồi…”, điều này có chút khiến người ta khó hiểu, bởi vì lúc đó mọi người không có nhiều khái niệm về người ngoài hành tinh và sự can thiệp của họ đối với nền văn minh nhân loại, nhưng Cayce cũng đã nói ra.
      Nhưng khiến người phương Tây kinh ngạc nhất chính là ông đã đưa ra lời tiên đoán cho một giai đoạn của Trung Quốc:
      “Trung Quốc thông qua sự phát triển chậm chạp mà bảo tồn nền văn minh của mình… Nàng có một ngày sẽ thức tỉnh, cắt đứt bím tóc! Bắt đầu suy nghĩ thực tế!” Cayce tuyên bố: “Có một ngày, nơi Trung Quốc ấy sẽ là cái nôi thai nghén ra Christianity (Christianity có nghĩa bề mặt là Cơ Đốc giáo), cũng áp dụng trong sinh hoạt của mọi người. Đúng vậy, sự kiện này đối với mọi người mà nói thì rất xa xôi, nhưng đối với Thần thì rất nhanh—rất nhanh, Trung Quốc sẽ tỉnh lại!”.
      Đoạn câu sau khiến người ta khó lý giải, bởi vì Cơ Đốc giáo đã ra đời từ sớm, nhưng người ta vẫn trung thực ghi lại nguyên văn tiếng Anh lời của ông như sau: “Yea, there in China one day will be the cradle of Christianity, as applied in the lives of men. It is far off, as man counts tune, but only a day in the heart of God. For tomorrow China will awake”.
      Đối với điều này, các học giả phương Tây đã đưa ra một cách giải thích, tức là lời tiên đoán có thể chỉ về việc Trung Quốc sẽ xuất hiện một tín ngưỡng tương tự như Phật giáo, Cơ Đốc giáo, một tín ngưỡng và văn minh mới sẽ được sinh ra đời, đối với tương lai rất có ảnh hưởng, đây là lý giải không ở trên chữ nghĩa bề mặt đối với từ Christianity (Cơ Đốc giáo).
      Cayce đối với sự biến đổi của tương lai cũng đề cập rất cụ thể: Ở thế kỷ 21, mọi người sẽ nhận ra trục trái đất đang di động; khí hậu biến đổi, toàn cầu sẽ ấm lên, vùng băng giá sẽ ấm áp; động đất phát sinh nhiều lần, nước biển dâng lên, một phần nước Mỹ sẽ bị ngập, phần lớn nước Nhật sẽ bị chìm; thế giới thiếu lương thực, miền Trung nước Mỹ, Argentina và Châu Phi sẽ trở thành vựa lúa của thế giới; Washington vẫn là trung tâm quyền lực của thế giới…
      Mark Thueston là chuyên gia nghiên cứu các lời tiên tri của Cayce. Khi phát hiện ra tính chuẩn xác khiến người ta thán phục trong những lời tiên tri của Cayce, ông bắt đầu tiến hành biên soạn lại một cách chu đáo hơn 10.000 lời tiên đoán, đặt tên là “Lời tiên tri của Cayce về thế kỷ 21” (Cayce’s Prediction for the 21th Century), sau còn chỉnh lý thêm “Những lời tiên tri chưa trở thành hiện thực của Cayce trong thế kỷ 20″, cung cấp nghiệm chứng và tham khảo cho người đời sau.
      Và dưới đây là 9 lời tiên đoán quan trọng trong số đó:
      1. Một phương pháp chữa bệnh mới sẽ xuất hiện – căn cứ vào sự lưu động và chuyển hoán trong hệ thống năng lượng của thân thể người và tâm linh.
      Tinh hoa, Edgar Cayce,
      Hình ảnh các học viên Pháp Luân Công – môn khí công tu luyện của Phật gia đang thịnh hành trên thế giới. (Ảnh: Internet)
      2. Linh hồn không chết, sự luân hồi sẽ được đại chúng phổ biến và tiếp nhận;
      3. Khoa học và tâm linh chấm dứt tranh luận;
      4. Bề mặt trái đất sẽ phát sinh biến đổi to lớn, kể cả sự thay đổi khí hậu;
      5. Trọng tâm của thế giới sẽ chuyển về phương Đông, Trung Quốc sẽ chiếm vị trí quan trọng;
      6. Các phát hiện khảo cổ về văn minh tiền sử sẽ dần dần thay đổi nhận thức của nhân loại đối với lịch sử;
      7. Trực giác và siêu năng lực sẽ xuất hiện rộng rãi, rất nhiều người có thể trực tiếp liên lạc với các không gian khác;
      8. Nguyên tắc vũ trụ “Thái Nhất” (chỉ về bản nguyên và cội nguồn của vạn vật trong vũ trụ) sẽ trở thành phép tuân thủ trong mọi hoạt động của nhân loại: một tín ngưỡng mới hoàn toàn sẽ xuất hiện, cũng chỉ đạo tất cả khoa học, chỉnh thể “Thái Nhất” của nhân loại sẽ trở thành căn bản cho tất cả hoạt động chính trị và kinh tế của thế giới, tín ngưỡng mới này là ánh sáng của vũ trụ.
      9. Chúa Cứu Thế sẽ đến.
      Thời điểm Cayce giảng thuật những lời tiên tri này, nhân loại vẫn chưa tiến vào thời đại điện tử, và thế chiến thứ II cũng chưa kết thúc; rất rõ ràng, Cayce có năng lực và trí tuệ vượt xa phạm vi hiểu biết của thời đại ông.
      “Các chòm sao và thiên tượng đang biến hoá, đến lúc đó, bản thân nhân loại sẽ bắt đầu thức tỉnh và thay đổi. Rất nhiều linh hồn vĩ đại trong lịch sử đã qua đời sẽ trở về, sinh ra ảnh hưởng cực lớn đến thế giới”. Cayce nói, đợi “khi thời gian Điều Chỉnh kết thúc”, “chính nghĩa sẽ tồn tại vĩnh viễn trên Trái đất”.
      Theo Chanhkien.org
      Ai có thể giải nghĩa lời tiên tri?
      Nút thắt Gordius được cho là bí ẩn lớn nhất vào thời A-léc-xan-đơ Đại Đế. Ai có thể tháo được nút thắt phức tạp này là người thông thái và là nhà chinh phục vĩ đại*. Theo truyền thuyết, A-léc-xan-đơ đã giải được bí ẩn đó bằng một nhát gươm.
      Qua các thời đại, các nhà thông thái không chỉ tìm cách tháo nút thắt khó gỡ mà còn cố giải các câu đố, giải nghĩa lời tiên tri, và thậm chí tiên đoán tương lai.
      Tuy nhiên, thường thì những việc đó vượt quá khả năng của họ. Chẳng hạn, các nhà thông thái của vua nước Ba-by-lôn là Bên-xát-sa đã không giải nghĩa được chữ viết một cách kỳ lạ trên tường cung điện trong một yến tiệc linh đình. Chỉ có Đa-ni-ên, nhà tiên tri cao niên của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và nổi tiếng là “gỡ được những điều khúc mắc”, mới giải nghĩa được thông điệp mang tính tiên tri ấy (Đa-ni-ên 5:12, Nguyễn Thế Thuấn). Đó là lời tiên tri về sự sụp đổ của đế quốc Ba-by-lôn, đã được ứng nghiệm ngay đêm ấy!—Đa-ni-ên 5:1, 4-8, 25-30.
      Lời tiên tri là gì?
      Lời tiên tri được định nghĩa là sự tiết lộ về tương lai, tức những sự kiện được ghi chép từ trước khi chúng xảy ra. Lời tiên tri thật là thông điệp đến từ Đức Chúa Trời qua lời nói hoặc chữ viết, một sự mạc khải về ý định và ý muốn của ngài. Trong Kinh Thánh có những lời tiên tri về sự xuất hiện và dấu hiệu nhận diện Đấng Mê-si, “kỳ cuối cùng của thời đại này” cũng như sự phán xét của Đức Chúa Trời.—Ma-thi-ơ 24:3; Đa-ni-ên 9:25.
      Những nhà thông thái thời nay như các chuyên gia về khoa học, kinh tế, sức khỏe, chính trị, môi trường và nhiều lĩnh vực khác đều cố gắng tiên đoán tương lai. Dù những lời tiên đoán đó được quảng bá rộng rãi trên phương tiện truyền thông và rất được công chúng ưa chuộng, nhưng suy cho cùng chúng chỉ là những dự đoán theo sự hiểu biết và quan điểm cá nhân. Bên cạnh đó, mọi quan điểm đưa ra đều có những quan điểm ngược lại và luận cứ phản bác. Vì vậy, dự đoán tương lai quả là một việc làm liều lĩnh.
      Nguồn gốc lời tiên tri thật
      Thế thì những lời tiên tri thật bắt nguồn từ đâu? Ai có thể giải nghĩa chúng? Sứ đồ Phi-e-rơ viết: “Chẳng có lời tiên-tri nào trong Kinh-thánh lấy ý riêng giải nghĩa được” (2 Phi-e-rơ 1:20, Bản Truyền thống của Liên hiệp Thánh Kinh hội). Danh từ Hy Lạp được dịch là “giải nghĩa” có nghĩa “giải pháp, sự tiết lộ”, và bao hàm ý “điều trước kia bị buộc nay được giải thoát hay tháo gỡ”. Vì vậy, một bản Kinh Thánh (The Amplified New Testament) dịch lời của Phi-e-rơ như sau: “Chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh bởi ý cá nhân... tháo gỡ”.
      Hãy hình dung một thủy thủ khéo léo thắt một nút phức tạp bằng sợi thừng. Khi nút ấy được thắt xong, người không trong nghề có thể thấy các đường dây của nút thắt đó nhưng không biết chắc cách tháo ra. Tương tự thế, người ta có thể thấy những xu hướng dẫn tới một tương lai rối rắm, nhưng họ không biết cụ thể những diễn biến nào sẽ tạo thành viễn cảnh ấy.
      Các nhà tiên tri thời xưa của Đức Chúa Trời, chẳng hạn như Đa-ni-ên, đã không tự ý phân tích những xu hướng lúc bấy giờ, rồi tìm cách tiên đoán một viễn cảnh phức tạp. Nếu cố ép tương lai diễn ra theo sự tiên đoán của họ thì lời tiên tri như thế bắt nguồn từ trí tưởng tượng riêng. Đó là lời tiên đoán của con người, là điều dự báo dựa trên cơ sở không chắc chắn. Còn về lời tiên tri thật, Phi-e-rơ giải thích tiếp: “Không hề có lời tiên tri nào ra bởi ý muốn của loài người, nhưng người ta nói những gì đến từ Đức Chúa Trời khi được thần khí hướng dẫn”.—2 Phi-e-rơ 1:21.
      ‘Minh giải các điềm thuộc quyền Đức Chúa Trời’
      Cách nay khoảng 3.700 năm, có hai người đàn ông bị giam giữ trong một nhà tù ở Ai Cập. Mỗi người thấy một giấc mơ kỳ lạ. Không hỏi được nhà thông thái nào trong xứ, họ than thở với một bạn tù là Giô-sép: “Chúng tôi nằm mơ thấy mộng mà chẳng có người giải mộng cho”. Là tôi tớ của Đức Chúa Trời, Giô-sép bảo họ kể lại giấc mơ của mình và nói: “Minh giải các điềm há không phải là thuộc quyền Thiên Chúa sao?” (Sáng-thế Ký 40:8, NTT). Giê-hô-va Đức Chúa Trời là đấng duy nhất có khả năng giải nghĩa các lời tiên tri, giống như người thủy thủ kinh nghiệm tháo được nút thắt phức tạp. Suy cho cùng, chính Đức Chúa Trời là đấng thắt nút hay phán các lời tiên tri. Vậy, điều hợp lý là chúng ta trông chờ ngài tháo nút hay giải nghĩa chúng. Thật thế, Giô-sép đã đúng khi công nhận quyền đó thuộc về Đức Chúa Trời.
      ‘Minh giải các điềm thuộc quyền Đức Chúa Trời’ có nghĩa gì? Câu này có thể hiểu theo những nghĩa sau đây. Một số lời tiên tri trong Kinh Thánh được Đức Chúa Trời cho ghi lại cùng với cách ứng nghiệm. Vậy thì những lời tiên tri ấy tương đối dễ giải thích, giống như một số nút thắt được người thủy thủ hướng dẫn cách tháo ra.—Sáng-thế Ký 18:14; 21:2.
      Một số lời tiên tri khác có thể được giải nghĩa bằng cách phân tích văn cảnh. Nhà tiên tri Đa-ni-ên được thấy một khải tượng mang tính tiên tri. Ông thấy ‘một con chiên đực có hai cái sừng’ đang bị hạ gục bởi một “con dê xờm đực” có “cái sừng mọc rõ ra giữa hai con mắt nó”. Văn cảnh cho thấy con chiên đực có hai sừng tượng trưng cho “các vua nước Mê-đi và Phe-rơ-sơ”, con dê tượng trưng cho “vua nước Gờ-réc”, tức vua Hy Lạp (Đa-ni-ên 8:3-8, 20-22). Hơn 200 năm sau, “cái sừng lớn” tượng trưng cho A-léc-xan-đơ Đại Đế đã bắt đầu cuộc chinh phục Phe-rơ-sơ. Theo lời sử gia Do Thái là Josephus, trong lúc đạo quân của A-léc-xan-đơ đang thực hiện chiến dịch gần Giê-ru-sa-lem, vua được cho xem chính lời tiên tri này và tin rằng nó ám chỉ về mình.
      Câu ‘minh giải các điềm thuộc quyền Đức Chúa Trời’ còn có một nghĩa khác. Người tôi tớ trung thành Giô-sép hiểu được ý nghĩa của những giấc mơ kỳ lạ mà các bạn tù kể cho ông nghe là nhờ thần khí của Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 41:38). Ngày nay, khi các tôi tớ của Đức Chúa Trời không biết chắc ý nghĩa của một lời tiên tri nào đó, họ cầu xin ngài ban thần khí, rồi siêng năng tìm tòi và nghiên cứu Kinh Thánh, là lời được thần khí soi dẫn. Nhờ Đức Chúa Trời hướng dẫn, họ có thể tìm ra những câu Kinh Thánh giúp họ giải nghĩa một số lời tiên tri. Không người nào có khả năng phi thường để giải nghĩa các lời tiên tri. Lời minh giải đến từ Đức Chúa Trời, vì ý nghĩa của các lời tiên tri được làm sáng tỏ qua thần khí và Lời ngài. Lời minh giải không đến từ nguồn nào ngoài Kinh Thánh, từ sự tiên đoán của con người.—Công vụ 15:12-21.
      Câu ‘minh giải các điềm thuộc quyền Đức Chúa Trời’ cũng có nghĩa là ngài quyết định khi nào cho các tôi tớ trung thành hiểu được lời tiên tri. Có thể nhận ra ý nghĩa của một lời tiên tri trước khi, trong khi hoặc sau khi nó được ứng nghiệm. Vì Đức Chúa Trời đã thắt nút, nên ngài sẽ tháo gỡ vào đúng lúc, tức thời điểm ngài ấn định.
      Chẳng hạn như trong lời tường thuật về Giô-sép và hai bạn tù, Giô-sép đã giải nghĩa giấc mơ của hai người ấy ba ngày trước khi chúng được ứng nghiệm (Sáng-thế Ký 40:13, 19). Sau đó, khi Giô-sép được dẫn đến trước mặt Pha-ra-ôn đầy uy quyền để giải thích giấc mơ của Pha-ra-ôn thì bảy năm được mùa theo lời tiên tri đã sắp bắt đầu. Thần khí Đức Chúa Trời đã giúp Giô-sép giải nghĩa giấc mơ đúng lúc, nhờ thế Pha-ra-ôn có thể sắp đặt để dự trữ phần hoa lợi của những năm được mùa.—Sáng-thế Ký 41:29, 39, 40.
      Một số lời tiên tri chỉ được hiểu tường tận sau khi chúng ứng nghiệm. Nhiều sự kiện trong cuộc đời Chúa Giê-su đã được tiên tri hàng thế kỷ trước khi ngài sinh ra, và các môn đồ ngài chỉ hiểu tường tận những điều đó sau khi ngài sống lại (Thi-thiên 22:18; 34:20; Giăng 19:24, 36). Ngoài ra, theo Đa-ni-ên 12:4, một số lời tiên tri được giữ kín hay “đóng ấn... cho đến kỳ cuối-cùng”, là khi “sự học-thức sẽ được thêm lên”. Chúng ta đang sống trong chính giai đoạn những lời tiên tri ấy đang ứng nghiệm*.
      Các lời tiên tri trong Kinh Thánh và bạn
      Giô-sép và Đa-ni-ên từng đứng trước mặt các vua và tuyên bố lời tiên tri ảnh hưởng đến nhiều nước và vương quốc. Các môn đồ Chúa Giê-su thời thế kỷ thứ nhất cũng đóng vai trò ngôn sứ của Đức Giê-hô-va là đấng phán lời tiên tri; và những người hưởng ứng thông điệp của họ nhận được lợi ích rất nhiều.
      Ngày nay, Nhân Chứng Giê-hô-va trên khắp thế giới đang rao báo lời tiên tri về tin mừng Nước Đức Chúa Trời, và cho mọi người biết rằng lời tiên tri của Chúa Giê-su về “kỳ cuối cùng của thời đại này” đang ứng nghiệm (Ma-thi-ơ 24:3, 14). Bạn có biết lời tiên tri đó là gì và nó ảnh hưởng thế nào đến bạn không? Nhân Chứng Giê-hô-va vui lòng giúp bạn hiểu và nhận lợi ích từ một trong những lời tiên tri quan trọng nhất của Kinh Thánh.
      [Chú thích]
      Truyền thuyết Hy Lạp kể rằng ở thủ đô Gordium của xứ Phy-gi-a, cỗ xe ngựa của người sáng lập thành phố này là ông Gordius được buộc vào cây cột với một nút thắt phức tạp, và người nào tháo ra được sẽ là nhà chinh phục châu Á tương lai.
      Xin xem loạt bài mở đầu “Sáu lời tiên tri đang ứng nghiệm”, trong Tháp Canh ngày 1-5-2011.
      [Các hình nơi trang 12, 13]
      Cả Giô-sép và Đa-ni-ên đều công nhận rằng Đức Chúa Trời là đấng giải thích các lời tiên tri
       

       

      Nhận xét