VIỆT NAM HIỀN HÒA 22 (hò)
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 10:52, ngày 16 tháng 4 năm 2013.
Hò
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hò
là một loại ca hát trình diễn dân gian phổ biến đến đời sống, là nét
văn hóa của miền Trung và miền Nam. Có nguồn gốc lao động sông nước,
diễn tả tâm tư tình cảm của người lao động. Hò và lý tuy có phần giống nhau nhưng hò thường gắn liền với với một động tác khi làm việc còn lý thì không.[1]
Một số bài dân ca của các quốc gia khác hay các vùng miền khác có nội dung và tiết tấu tương tự cũng được đặt tên là "hò", tỉ như bài dân ca Nga Hò kéo thuyền trên sông Volga.
Một số bài dân ca của các quốc gia khác hay các vùng miền khác có nội dung và tiết tấu tương tự cũng được đặt tên là "hò", tỉ như bài dân ca Nga Hò kéo thuyền trên sông Volga.
Hình thức sinh hoạt
Một người hò cho đại diện một tập thể đông người cho cùng một việc hay một mình tự sự, sâu lắng, dàn trải. Trong sinh hoạt những đêm trăng những nhóm con trai đi chơi, thường cất lên những điệu hò để dò hỏi những cô gái về những công việc. Diệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp lại nhau, người con gái hay một nhóm sẽ hò đáp trả lại khi đó. Trên sông nước khi đi ghe hay đò, người hò (có thể con trai hay con gái) thường hò diệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, thuyền, đò gần nhau.Các điệu hò sông nước
- Hò Đồng Tháp
- Hò kéo lưới
- Hò giựt chì
- Hò Qua sông hái củi
- Hò khoan
- Hò mái nhì
- Hò mái đẩy
- Hò mái ba Gò Công
- Hò sông Mã
- Hò khoan Lệ Thủy
Các điệu hò trong sinh hoạt
Tham khảo
Hò và víChú thích
- ^ [Trần Văn Khê. Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt nam. Tp HCM: nxb Trẻ, 2004. tr 81]
|
|||||
Nhận xét
Đăng nhận xét