CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 12

(ĐC sưu tầm trên NET)

Cụm tình báo huyền thoại: Anh hùng thầm lặng

13:28 | 28/09/2013
Trong những chiến công lớn của Cụm Tình báo A20 - H67 và tổ chức cách mạng, dấu ấn của cụm trưởng Sáu Trí được khắc ghi đậm nét.
Cụm trưởng Cụm Tình báo A20 Sáu Trí tên thật là Nguyễn Văn Khiêm, bí danh Phạm Duy Hoàng và Nguyễn Đức Trí, sinh năm 1925, tại Gò Công - Tiền Giang, là anh họ đồng thời cũng là người dẫn dắt điệp viên Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ, mật danh H3) gia nhập Cụm A20.

Dọc ngang giữa lòng địch

Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, Sáu Trí là một trong những thành viên của Đội Thanh niên Tiền phong tham gia cướp chính quyền. Cách mạng thành công, Sáu Trí gia nhập ngành quân báo với bí danh Phạm Duy Hoàng, sau đó chuyển địa bàn hoạt động về Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, được phân công giữ chức Trưởng chi Quân báo Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Một năm trước khi thực dân Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ (1954), ông bí mật vào nội đô Sài Gòn, xin vào làm việc tại Nha Công an Nam phần của chính quyền thân Pháp, thu thập nhiều thông tin tình báo quan trọng phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ cho đến ngày thắng lợi.

Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Ngô Đình Diệm trở về miền Nam và thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tình thế thay đổi, ông Sáu Trí tiếp tục ở lại miền Nam và chuyển sang làm sĩ quan ở Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Ngô Đình Diệm cho đến ngày bị lộ vào cuối năm 1962.

Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí, bìa phải)
và Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Vào thời điểm ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn theo dõi gắt gao, buộc phải rút vào chiến khu cũng là lúc Cụm A20 được thành lập tại mật khu Bời Lời (Tây Ninh). Với kinh nghiệm hoạt động quân báo thời chống Pháp, đã được thử lửa qua nhiều tình huống thực tế kịch tính, ông Sáu Trí được Phòng Tình báo miền (J22) tin tưởng giao trọng trách làm cụm trưởng Cụm A20.

Qua những chuyến đi về giữa mật khu Bời Lời - căn cứ địa A20 - nội đô Sài Gòn những năm 1962 - 1965, ông Sáu Trí đã xây dựng nhiều cơ sở nội tuyến ngay trong lòng bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, góp phần giúp A20 hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của tổ chức cách mạng. Thời gian này, ông lấy bí danh Nguyễn Đức Trí (bí danh này được giữ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

Ra Bắc, vào Nam

Tháng 11-1965, ông Sáu Trí được rút về làm Phó Phòng Quân báo Bộ Tổng Tham mưu miền (B2), bộ phận điệp báo của J22. Về sau, ông được cử giữ chức Trưởng Phòng J22, trở thành một trong những nhà chỉ huy tình báo hàng đầu tại miền Nam. Nhiều năm liền, Sáu Trí đã xây dựng, củng cố và chỉ đạo hoạt động tốt các mạng lưới tình báo chiến lược, thu nhận và phân tích tin tức tình báo, phục vụ đắc lực các hoạt động quân sự của quân giải phóng trên chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 11-1973, tại chiến khu Lộc Ninh (nay thuộc tỉnh Bình Phước), Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) tổ chức gặp mặt chia tay 20 sĩ quan cấp tá lên đường ra Bắc học tập, chuẩn bị cho kế hoạch đánh lớn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai sĩ quan của J22 được cử đi học đợt này là thượng tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) - thủ trưởng và trung tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) - Phó Chính ủy J22. Sáu Trí vào Học viện Quân sự, Tư Cang vào Học viện Chính trị và bắt đầu khóa học 2 năm.

Giữa lúc đó, tình hình chiến trường miền Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Bước sang tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên nổ ra và không lâu sau đó là chiến dịch Huế - Đà Nẵng kết thúc thắng lợi, quân ta nhanh chóng giải phóng một vùng trung du và duyên hải miền Trung rộng lớn. Tất cả các cánh quân đều hướng về Sài Gòn trong thời cơ lịch sử ngàn năm có một.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong năm 1975. Số cán bộ B2 ra miền Bắc học tập từ cuối năm 1973 được điều động quay trở lại chiến trường miền Nam. Ông Sáu Trí được lệnh lập tức vào nội đô Sài Gòn, nắm bắt các cơ sở điệp báo cấp cao. Ông Tư Cang xuống Củ Chi, gia nhập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 trong vai trò chính ủy.

Chứng nhân thời khắc lịch sử

Cũng trong thời gian vào nội thành làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trưa 28-4, tại nhà H3, thình lình kỹ sư Tô Văn Cang và kỹ sư Lê Văn Giàu (những cơ sở cách mạng) đến xin được gặp mặt thủ trưởng Sáu Trí. Nguyên do là nội các Dương Văn Minh trong cơn lúng túng muốn thông qua 2 kỹ sư này để tìm gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam để thương lượng.

Ông Sáu Trí đề nghị Tổng thống Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30-4-1975, ông Sáu Trí và điệp viên Ba Lễ cùng một số đồng đội đến Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Tổng thống Dương Văn Minh…
Những ngày đầu sau giải phóng, ông Sáu Trí được cử làm Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản TP Sài Gòn, sau đó ông được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Làm tốt sứ mệnh đặc biệt

Trở lại căn cứ Lộc Ninh ngày 17-4-1975, ông Sáu Trí được cấp trên phân công nhiệm vụ đặc biệt, đó là phục vụ chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Lúc bấy giờ, điệp viên H3, lưới A20-H67 (H67 là tên mới của A20 kể từ năm 1970) đã xây dựng được một cơ sở mới là đại tá Lộc - thành viên Đảng Tân Đại Việt, người được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giao nhiệm vụ thành lập và chỉ huy một liên đoàn biệt động quân, tăng cường tuyến phòng thủ Sài Gòn. Nhiệm vụ của Sáu Trí là vận động đại tá Lộc làm binh biến tại chỗ, hỗ trợ các cánh quân cách mạng tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Sau khi vào thành để tìm hiểu thông tin về đại tá Lộc qua điệp viên H3, Sáu Trí trở về căn cứ. Sau cuộc họp khẩn cấp trong đêm 25-4, ông được lệnh quay trở lại Sài Gòn ngay, ở tại nhà H3 và bắt đầu tiếp xúc với những điệp viên trong các lưới tình báo nội đô. Kết quả, ngày 30-4, khi 5 cánh quân của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, liên đoàn biệt động quân do đại tá Lộc chỉ huy hoàn toàn bị vô hiệu hóa.
    Đạo diễn Lê Phong Lan
    Nguồn tin: Người Lao Động

    Người giữ bí mật của Phạm Xuân Ẩn


    Một ngày của năm 2006, bà Nguyễn Thị Ba - nguyên thiếu tá tình báo, Anh hùng Lực lượng vũ trang - nhận được tin người đồng đội thân tín nhất đã qua đời - đó là nhà tình báo huyền thoại, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn. Ngay buổi chiều, bà cụ 90 tuổi đã vượt quãng đường dài từ Long An về TPHCM chia tay người đã từng suốt 15 năm gắn sự sống và cái chết với bà trong một nhiệm vụ đặc biệt, vô cùng nguy hiểm...
    Tình báo trên đường phố
    Một ngày cuối năm 1969, trên đường phố Sài Gòn có vụ cự cãi giữa một phụ nữ bán hàng rong với mấy cảnh sát. Cảnh sát đuổi những người bán hàng rong đi nơi khác. Người phụ nữ rủ bà con phản đối chính quyền ức hiếp dân. Thấy mấy bà làm dữ, nhóm cảnh sát bỏ đi sau khi dọa dẫm, chửi thề. Những cảnh sát ấy (người có cấp bậc cao nhất là thượng sĩ) đâu thể ngờ người bán hàng rong vừa cự cãi với họ đang "mang" quân hàm cao hơn họ rất nhiều, cấp bậc đại uý, mà là đại úy tình báo QĐNDVN.
    Phương tiện hoạt động của bà là mâm đồ trang sức bằng vàng giả rẻ tiền. Ngày hôm ấy, suýt chút nữa là cảnh sát đã hất đổ cái mâm đang chứa đựng những thông tin tối mật về kế hoạch chiến dịch Lam Sơn - đường 9 Nam Lào diễn ra sau đó mấy tháng. Khi chính quyền Sài Gòn và các quan thầy cố vấn Mỹ đau như cắt vì kế hoạch chiến dịch đã bị đối phương nắm trước, thì người phụ nữ ấy vẫn tảo tần bán bưng trên khắp nẻo Sài Gòn.
    Sở dĩ lần ấy bà không nhường nhịn cảnh sát cho êm chuyện, vì với tư cách trạm liên lạc di động, bà buộc phải có mặt ở vị trí đó để duy trì đường dây. Người phụ nữ ấy là chiếc cầu nối duy nhất giữa nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn với hậu phương. Hôm ấy, sau khi cảnh sát bỏ đi, bà không phải đợi lâu, ông Ẩn đường hoàng chạy xe hơi đến gặp bà. Ông cho biết, ông đến trễ là do tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ lại nói chuyện.
    Chỉ qua mấy phút ngắn ngủi trò chuyện vu vơ giữa thanh thiên bạch nhật, ông Ẩn và bà đã trao đổi xong những thông tin, tài liệu mà với cặp mắt bình thường không ai có thể nhận ra. Nghề tình báo tưởng như tuyệt đối bí mật ấy được bà và ông Ẩn biến hóa sáng tạo thành công khai, mang dáng vẻ đời thường. Có lẽ chính yếu tố bất ngờ đó đã giúp họ suốt 15 năm hoạt động ngay trước mũi đối phương mà hầu như chưa có lần nào rơi vào tình thế hiểm nghèo.
    Những nẻo đường đấu tranh
    Bà Ba ra đời cùng năm với Cách mạng Tháng Mười, ở huyện Đức Hòa (Long An). Cô gái quê đã sớm đến với cách mạng. Năm 1936, bà được kết nạp Đảng. Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, bà cùng các đồng chí ở Đức Hòa tổ chức cướp chính quyền ở một số nơi. Nhưng cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu. Anh ruột và chồng bà bị bắt đày đi Côn Đảo. Giặc Pháp lùng bố gắt gao, bà phải lánh khỏi địa phương. Bà có mặt ở Sài Gòn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám hào hùng.
    Tận hưởng cuộc sống độc lập chưa đầy tháng, bà bước vào cuộc kháng chiến 9 năm với tư cách UVBCH Hội PN Sài Gòn. Năm 1948, bà được điều chuyển về Hội Phụ nữ tỉnh Tân An. Năm 1952 bà về Rạch Giá, thôi làm công tác phụ nữ, chuyển sang làm công tác mật, cái cơ duyên cho một nữ sĩ quan tình báo sau này.
    Hiệp định Genève được ký kết, bà có tên trong danh sách tập kết ra Bắc, nhưng cuối cùng đã xin ở lại. Sau đó là mấy năm bà hoạt động ở địa bàn Cà Mau, được ông Mười Hương (một cán bộ an ninh cấp cao) đào tạo trong một lớp học đặc biệt ở Đất Mũi. Liên tục những chuyến công tác mật của bà đi lại giữa Cà Mau và Sài Gòn, đường xa hun hút với bao cạm bẫy rình rập. Năm 1958 bà chuyển về Châu Đốc - Hồng Ngự, tại đây sau một lớp tập huấn nghiệp vụ tình báo, bà được tung về Sài Gòn với bí số B3.
    Hạnh phúc thời chiến
    Có thể nói, gia đình bà là điển hình của chia ly cách trở trong một giai đoạn bi thương mà hào hùng của đất nước. Bà và ông Trần Văn Phước gặp nhau trên đường đấu tranh và thành vợ thành chồng đầu năm 1941. Từ đó cho đến ngày miền Nam giải phóng, suốt 34 năm trên danh nghĩa chồng vợ nhưng thời gian hai người ở bên nhau có thể đếm bằng số ngày. Sau ngày cưới chưa đầy tháng, ông bị bắt đày đi Côn Đảo.
    Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Tôn cùng mấy ngàn tù Côn Đảo được đón về đất liền. Bà đã có phút giây hạnh phúc tột cùng trên bến cảng buổi sáng hôm ấy, khi lẫn trong đoàn người ốm đói mà rạng rỡ là hai gương mặt người thân (chồng và anh ruột) cứ ngỡ đã bỏ thây ngoài hải đảo. Nhưng chỉ vài tuần sau, tiếng súng Nam Bộ kháng chiến đã nổ, chiến trường lại tiếp tục chia cắt đôi vợ chồng vừa mới sum họp. Họ chỉ thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, mà là hạnh phúc trên đường kháng chiến, khi bà từ Sài Gòn chuyển về Tân An cùng địa bàn với ông từ năm 1948 đến 1951.
    Hai đứa con, một gái một trai, đã ra đời trong thời gian ngắn ngủi đó. Năm 1951, ông chuyển về Long - Châu - Sa, ít khi hai vợ chồng gặp lại nhau. Khi ông vượt Trường Sơn ra Bắc vào năm 1952 để học đợt chỉnh huấn Đảng, họ không thể ngờ đó là cuộc chia ly chồng Bắc vợ Nam thuộc loại dài nhất cuộc chiến, không phải 21 năm như bao cặp vợ chồng khác, mà đến 23 năm.
    Năm 1954, bà đứng trước sự chọn lựa không dễ dàng, nếu chấp nhận lên tàu tập kết thì sẽ sum họp với chồng, nhưng phải xa con. Trái tim bao la của người mẹ đã đưa bà đến sự lựa chọn ngược lại - ở lại miền Nam với hai con nhỏ. Thế nhưng, dù ở lại, bà vẫn phải chịu cảnh xa con. Gửi con cho người chị chồng, bà về chiến trường Cà Mau xa xôi. Mỗi tháng đôi lần bà đi công tác mật về Sài Gòn. Con đường mấy trăm cây số bị hư hỏng nặng trong chiến tranh như vắt kiệt sức lực của người phụ nữ ốm yếu. Mỗi lần xe chạy ngang Tân Hương, nơi có hai thiên thần bé bỏng của bà đang vui đùa đâu đó dưới tàn cây xa xa, bà cố nuốt nước mắt vào tim, để có thêm nghị lực.
    Nhà báo Mỹ và điệp viên B3
    Thiếu tá tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Ba. Chỉ mấy tháng sau ngày miền Nam giải phóng, cùng với ông Phạm Xuân Ẩn, bà được tuyên dương Anh hùng LLVT ngay đợt đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước và thăng quân hàm thiếu tá ngành tình báo. Ông Phạm Xuân Ẩn nói về bà: "Không thể nhớ hết đã bao lần bà mang theo người những tài liệu tối mật có ảnh hưởng đến cục diện toàn miền Nam và đến sinh mạng cá nhân tôi".
    Ông Ẩn nhỏ hơn bà 10 tuổi, nên gọi nhau là "chị Ba" và "cậu Hai". Mười lăm năm gắn bó, sinh mệnh hai người gắn chặt với nhau. Nhà tình báo chiến lược đã tạo được vỏ bọc khá chắc chắn với vị trí một phóng viên thường trú của một tờ báo đầy thế lực ở Mỹ. Ông Ẩn hầu như chỉ có khả năng duy nhất bị lộ diện là từ người cộng sự - đại úy B3.
    Ngay từ năm 1961, ông Ẩn đã dàn xếp những lý lẽ để công khai hóa sự gặp gỡ của một phóng viên sang trọng với người phụ nữ bán hàng rong: một vụ tai nạn xe hơi mà người lái là ông Ẩn và nạn nhân là bà. Một nhà báo giàu sang thỉnh thoảng ghé thăm nạn nhân của mình là điều mà các cặp mắt dò xét có thể bị đánh lừa. Còn nữ điệp viên B3 (bí số của bà) cũng có cách tạo vỏ bọc cho mình, đôi khi khá táo bạo và thông minh, như bà đã từng làm người ở cho gia đình của một trung tá Sài Gòn.
    Đối với bà, mỗi chuyến đi, mỗi điệp vụ đều có nhiều phương án đặt ra sau khi đã điều nghiên kỹ đối phương. Trong các phương án đó không hề có tình huống nào để lộ cơ sở, đặc biệt là ông Ẩn. Phương án bất đắc dĩ cuối cùng là "tự sát, thủ tiêu tài liệu". Thỉnh thoảng qua mật báo bà cũng nhận được những tin vui: Tin chiến thắng có phần đóng góp của đơn vị bà; tin đơn vị D36 (cụm tình báo SG) được phong danh hiệu Anh hùng; tin bà được thăng quân hàm trung úy, rồi đại úy; tin chồng bà vẫn khoẻ mạnh và gặp con trai ở Hà Nội...
    Những lúc như thế, bà xếp gánh hàng, tìm một nơi thanh vắng, ngồi ngắm nhìn bầu trời xanh mà nghe hạnh phúc dâng tràn. Những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn thông tin hai chiều càng dồn dập. Mỹ - ngụy bỏ Tây Nguyên, quân đội Sài Gòn rút như cuốn chiếu khỏi miền Trung, rồi Sài Gòn được giải phóng một cách vẹn nguyên...
    Cùng với những người trong cuộc, ông Ẩn và bà đã biết chắc cái kết cục 30.4.1975 trước đó mấy tháng. Chiều ngày 30.4 bà kêu taxi đi khắp Sài Gòn để nhìn thành phố rạng rỡ đón hoà bình, và đó là chuyến đi đầu tiên sau mấy chục năm bà không lên phương án đối phó với nguy hiểm.
    Theo Người Lao Động



    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32