KIẾP GIANG HỒ 11/c ("Giang hồ Sài Gòn")
(ĐC sưu tầm trên NET, chép từ http://tusach.mobi/http://tusach.mobi/)
Báo chí đã đăng nhiều bài nói về mối thù giữa hai tay giang hồ cộm cán
này. Theo đó, Lâm Chín ngón luôn tỏ vẻ "khi dễ" Năm Cam vì tên này khi
xưa là đàn em dưới cơ Lâm xa lắc, nay chẳng qua gặp thời thế phất lên mà
lại được lắm kẻ a dua theo bợ đỡ; còn Năm Cam bực bởi Lâm dám cả gan
không chịu phục tùng mình như bao dân chơi khác, lại ngông nghênh có
những lời nói xúc phạm đến "ông trùm" xã hội đen; đã vậy đến cả vợ của
Lâm cũng coi Năm Cam không ra gì thì thật là quá quắt.
Tôi quen Lâm Chín ngón đã lâu, viết về nhân vật này đã khá nhiều, nhưng
chưa bao giờ viết về những ngày cuối đời của Lâm, cũng như cái chết của
anh ta.
Tác giả viết bài này từng bị giam tại chuồng cọp trại 7, khu C, Côn Đảo
gần hai năm (từ giữa năm 1973 đến 30-4-1975). Trong số tám khu biệt giam
chuồng cọp thuộc trại 7, riêng khu C đúng nhốt tội phạm hinh sự “thú
dữ” và bọn du đãng “có vằn có vện”.
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương VI: Mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón-
Rốt cuộc Năm Cam sai đệ tử trừng phạt Lâm Chín ngón bằng cách tạt a-xit vào ngay mắt đối thủ khiến Lâm gần như bị mù.
Tất cả những thông tin trên đều không sai, tuy nhiên có một điều vẫn chưa được làm rõ: Mối thù này đã bắt đâu từ thời gian nào?
Đưa vào sự quen biết giữa bản thân tôi với Lâm Chín ngón cũng như Năm
Cam và một số tư liệu nắm được, tôi cố gắng làm sáng tỏ thêm vấn đề này.
Tôi quen Năm Cam
Trong giới nhà báo, có lẽ tôi là một trong những người quen biết Năm Cam sớm nhất.
Đúng hơn là Năm Cam làm quen với tôi, qua sự quen biết giữa con út của
Năm Cam - Trương Hiền Vũ - và con trai tôi, cũng tên Vũ, Lê Vũ. Số là cả
hai Vũ (để phân biệt, võ đường kêu con Năm Cam là Vũ lớn và con tôi là
Vũ nhỏ do nhỏ tuổi hơn nhiều) đều cũng theo học một lớp tại võ đường
Taekwondo quận 3 nằm trên Sài gòn Hồ Xuân Hương vào cuối những năm 1980,
khi ấy do anh Trương Văn Hai (thường gọi thân mật là Hai Lùn), ngũ đẳng
huyền đai dạy. Anh Hai Lùn từng làm đội trưởng đội bảo vệ cho tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu.
Nhân một lần kỷ niệm sinh nhật con
trai tôi, vào cuối những năm 1980, tôi cho phép cháu mời một số bạn quen
lại nhà dự một bữa ăn thân mật nho nhỏ. Bạn bè cháu mời không tới 20
người, gồm hai lứa ban: Học chung lớp văn hoá và học chung lớp
Taekwondo. Do bữa ăn chỉ nhắm mời bạn của cháu, nên hễ cháu nào được
người lớn chở tới nhà, tôi chỉ mời người nhà uống nước và hẹn hai giờ
sau lại rước cháu; hơn nữa, nhà tôi khi ấy ở tại một căn hộ thuộc chung
cư Nguyễn Kim vốn chật chội nên cũng không thể đủ chỗ đón khách.
Chiều hôm ấy đích thân Năm Cam chở con tới nhà tôi, mang theo quà mừng
sinh nhật (mà lâu quá tôi không còn nhớ). Tôi cũng lịch sự mời Năm Cam
ngồi uống ly nước và Năm Cam ngồi chơi không lâu, nhưng từ đó có sự quen
biết. Hỏi qua tuổi tác, thấy thua tôi ít tuổi, lại nữa qua câu chuyện,
biết tôi từng ở tù Chí Hoà, Côn Đảo chung với nhiều dân chơi du đãng
lừng danh hồi trước như Đại Cathay, Huệ Râu, Điền Khắc Kim, Tuấn Đả, Nam
Lương, Lâm Chín ngón…, Năm Cam gọi tôi bằng anh ngọt sớt (nhưng cũng
rất có thể, một phần do vào thời gian ấy tôi đang giữ chức phó Tổng Biên
tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tạm gọi là có chút danh phận,
nên Năm Cam tỏ ra lễ độ; và chuyện Năm Cam chở con tới nhà tôi là có ý
đồ làm quen từ lâu và nay mới gặp dịp)
Một thời gian ngắn
sau, gặp nhau lại tại võ đường Taekwondo Hồ Xuân Hương, trong khi chờ
đón con, Năm Cam nói với tôi có vẻ rất thân tình:
- Em thấy
anh ngày nào cũng chở cháu đi đi về về, vừa mất thời gian vừa cực. Em có
mấy đứa đệ tử đưa rước thằng Vũ lớn con em, đằng nào cũng tốn công, hay
để em nói tụi nó chở cháu Vũ nhở con anh luôn cho tiện.
Đúng
là tôi chở con đi học võ cực thiệt, nhất là gặp khi mưa gió hoặc bận
việc này nọ, nhưng cực vì con cũng có cái vui của nó, và lại nhờ ai chớ
nhờ Năm Cam thì tôi chả dại, nên tôi cám ơn Năm Cam và dứt khoát không
nhận lời.
Mãi nhiều năm sau này, khi con tôi thì xong đai
đen, Năm Cam không dưới một lần bảo tôi: “Cháu có việc gì làm chưa, nếu
không, anh cứ để em kiếm việc cho cháu, cháu có thể vừa đi học vừa đi
làm thêm, bảo đảm đủ sống”.
Tuy lúc ấy không biết rành về các
việc làm của Năm Cam, nhưng tôi cũng nghe loáng thoáng, nên lần nào Năm
Cam ngỏ lời tôi cũng đều từ chối. Có lẽ thấy tôi tuy vẫn tiếp chuyện
lịch sự nhưng không mặn mà gì với bất kỳ đề nghị giúp đỡ nào, nên Năm
Cam đối với tôi không thân thêm, mà cũng không xa lánh thêm, cho mãi đến
khi xảy ra một việc…
Một hôm, Lâm Chín ngón hỏi tôi:
- Anh hay viết bài điều tra lắm phải không?
Thì đúng thể loại báo chí tôi ưa thích, nên tôi đáp:
- Cũng thỉnh thoảng. Có gì không Lâm?
- Có. Chuyện hay lắm mà em nghĩ may ra chỉ có báo Công an mới dám đăng.
Đụng đến “máu nghề nghiệp”, tôi không nén nổi tò mò:
- Chuyện gì mà ghê vậy, Lâm cứ nói.
Quả thực, hiếm khi một người “ruột để ngoài da”, có gì cứ huỵch toẹt mà
lại cứ kể úp úp mở mở như lần ấy. Lâm Chín ngón rào đón:
-
Chuyện lớn lắm, về một sòng bạc, nói ra rất dễ đụng chạm, nhưng nếu anh
không thể trực tiếp thì thôi, không thể giao cho bất cứ người nào khác.
Tôi thật tình bảo:
- Cũng tuỳ chuyện. Toà soạn đông anh chị em phóng viên viết điều tra
lắm. Nếu bận việc, tôi để anh em khác đi điều tra là chuyện thường tình.
Nhiều anh chị em giỏi hơn tôi nhiều.
Lâm Chín ngón lắc đầu, kiên quyết:
- Việc nào em không biết. Nhưng việc này dứt khoát chỉ hoặc là anh,
hoặc bỏ qua. Chuyện em kể là hoàn toàn đúng sự thật một trăm phần trăm.
Nhưng em biết anh cái gì cũng đòi mắt thấy tai nghe mới viết, nên nếu
anh đồng ý, em sẽ dẫn anh đi vô tận sòng bạc, anh ngồi chơi ít ván cho
biết và nắm tư liệu cụ thể.
Tôi gật đầu, lựa:
-
Biết rồi, dù chưa biết là chuyện gì, tôi vẫn tin Lâm như từ hồi nào đến
giờ. Nếu việc Lâm kể, vì bất cứ lý do gì khiến tôi không thể trực tiếp
điều tra, thì coi như… huề. Rồi, giờ kể được chưa?
Đến nước này mà Lâm Chín ngón còn đưa tay ra ngoéo tay tôi để làm bằng trước khi “vô đề”:
- Sòng bạc này nằm ở quận 4. Sòng bạc lớn lắm. Em bảo đảm với anh lớn
nhất thành phố Hồ Chí Minh nếu không nói là lớn nhất Việt Nam. Quy mô
hơn cả những sòng bạc em biết hồi trào trước giải phóng. Ăn thua mỗi ván
lên đến bạc triệu. Đủ thứ bài bạc; xóc đĩa, xí ngầu. Đổi tiền; cầm đồ
tại chỗ. Bảo vệ từ vòng ngoài đến vòng trong. Dân bảo vệ toàn thú dữ.
Khách vô chơi bắt buộc phải là dân quen và đã được tuyển nếu không có
người quen giới thiệu. Có rất nhiều lối thoát hiểm an toàn khi bị bảo
động; nhưng việc này chưa bảo giờ xảy ra. Chắc chắn đây là một tư liệu
hết sức độc đáo để anh viết báo.
Tôi hỏi:
- Như vậy làm sao tôi vô sòng bạc ấy được? Tiền đâu mà chơi bài?
Lâm gật gù:
- Vì vậy em mới dẫn anh đi. Anh không có tiền thì em đưa cho anh. Có em
là khách quen sẽ không ai dám khó dễ gì anh cả; đồng thời em cũng bảo
vệ cho anh luôn. Em cũng tính rồi, nếu anh đồng ý, em bố trí thêm vài
thằng đệ tử thân tín nữa ngầm bảo vệ, ở sẵn trong sòng bài. Nếu rủi có
chuyện gì anh cứ yên tâm…
Ông tướng thứ 13
Trước
khi kể tiếp về sòng bạc ở quận 4, tôi xin quay ngược giòng thời gian
chút đỉnh để nói qua mối tình quen biết giữa tôi với Lâm Chín ngón.
Do tại Côn Đảo tôi bị nhốt chung với số anh em dân giang hồ thú dữ tại
chuồng cọp khu C trại 7 suốt hai năm (từ khoảng giữa 1973 đến ngày
30-4-1975) nên quen biết, và hơn nữa, chơi khá thân với tất cả những anh
em này.
Lâm Chín ngón bị đày ra Côn Đảo khoảng đầu tháng 4-1975, tất nhiên được đưa ngay vào khu C trại 1, nhốt một mình một phòng.
Thoi gian này tôi mới ở bệnh xá về, ở chung phòng với anh Giáo, chân
phải vẫn còn bị liệt nên ngay cả giờ tắm nắng cũng ít đi lại, phải nói
thực mới loáng thoáng biết có Lâm, chớ chưa thế gọi là quen Lâm.
Thì tiếp đó là giải phóng 30-4.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi khi đó đang bị liệt một
chân nên được lên chuyển tàu đầu tiên về đất liền. Mãi về sau nghe anh
em kể lại số dân chơi trong chuồng cọp khu C bắt Sang lai là tên cầm đầu
bọn trật tự phải quỳ gối uống hết một chén nước tiểu trộn phân. Tiếp đó
nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày đầu giải
phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại, phá kho
tang vật, lấy cấp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng hồ, nữ
trang, tiền mặt… và toàn bộ số này bị xử bắn (nghe đâu ở bài Đầm Trầu).
Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án
chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên
không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm
khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới
được tha về.
Tha về chưa được bao lâu Lâm Chín ngón đã hỏi
thăm, tìm tới thăm tôi, kể cho tôi nghe suốt hơn mười năm qua anh ta đã
sống ra sao.
Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.
Biết tôi quen Đại Cathay hồi ở tù năm 1966 tại khu ED, Chí Hoà; hỏi
tuổi, Lâm thua tôi một tuổi nên gọi tôi là anh, xưng em - và kể từ đó,
Lâm luôn giới thiệu với mọi người (từ dân chơi đến gia định, người quen)
tôi là “anh kết nghĩa” của Lâm.
Trong câu chuyện kể, tôi nhớ
nhất chi tiết Lâm Chín ngón bị đưa vô trại học tập cải tạo ở tận miền
Bắc chung với số sĩ quan và cán bộ cao cấp của chế độ cũ. Lần lượt họ
được tha về gần hết, rốt lại chỉ còn 13 ông tướng bị nhốt trong trại, đó
là 12 người đeo quân hàm tướng thật sự (tướng nguỵ) và ông tướng thứ 13
là tướng cướp - tức Lâm Chín ngón.
Tôi cũng chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta nên cố sống đàng hoàng.
Sòng bạc quận 4
Giờ xin trở lại với sòng bạc tại quận 4.
Nghe qua lời Lâm giới thiệu về sòng bạc, tôi bán tín bán nghi. Không lẽ
một sòng bạc lớn tới cỡ đó mà không cơ quan chức năng nào hay biết,
nhất là chính quyền cơ sở và công an phường, cảnh sát khu vực. Nhưng quả
thực Lâm Chín ngón nói dóc với ai thì tôi không rõ, chứ chưa khi nào
anh ta nói dóc với tôi. Tôi nói thật ý nghĩ vừa thoáng qua của mình:
- Vậy chớ Uỷ ban nhân dân và Công an phường, rồi Công an quận, chẳng lẽ không ai hay biết gì sao?
Lâm lắc đầu:
- Em không rõ, nhưng chắc là họ biết và có thể họ làm ngơ. Nhưng sao
anh chưa trả lời liệu có dám đi với em lấy tư liệu về viết báo không?
Tôi suy nghĩ rất nhanh, đánh giá nguồn tin, cân nhắc qua mọi tình huống, đáp:
- Ý tôi rất muốn đi cũng với Lâm. Nhưng chuyện này qua lớn, có thể vượt
ngoài khă năng của tôi, nên Lâm cho tôi suy nghĩ dăm ba ngày, sẽ trả
lời Lâm sau.
Lâm Chín ngón gật đầu:
- Em cũng nghĩ
anh khó quyết đoán ngay được. Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, anh cũng
đừng nói với ai rằng em đã báo nguồn tin này. Ít hôm nữa em sẽ tới gặp
lại anh.
Từ thâm tâm tôi qua thực rất muốn cùng Lâm Chín ngón
mạo hiểm một chuyến, thâm nhập sòng bài để lấy tư liệu thực tế viết bài
điều tra mà tôi tin rằng sẽ khá độc đáo. Nhưng tôi không thể tự mình
mạo hiểm. Giả sử tôi có mặt tại sòng bài đúng lúc công an ập vô bắt quả
tang, lại đúng khi tôi đang đặt tiền thì làm sao giải thích? Chưa kể
tình huống xấu nhất, tôi bị những tay bảo vệ sòng bài phát hiện, tấn
công mà Lâm Chín ngón cũng như đám tay chân của anh ta không đủ sức
chống cự giải vây cho tôi, thì liệu thân tôi sẽ ra sao?
Chỉ có cách tốt nhất là báo cáo lên lãnh đạo xin ý kiến, tuỳ trên quyết định, và tôi sẽ nghiêm chỉnh chấp hành quyết định ấy.
Tôi gặp Huỳnh Bá Thành, tức Ba Ớt, khi ấy là thủ trưởng trực tiếp của tôi, Tổng Biên tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Huỳnh Bá Thành về chức vụ tuy là cấp trên, nhưng đối với tôi vốn quen
biết từ lâu, hồi còn làm báo tại Sài gòn, nên coi như chỗ bạn bè thân
tình mày tao chi tớ. Nghe tôi kể qua câu chuyện sòng bạc quận 4, Ba Ớt
bảo:
- Nguy hiểm quá, nguy hiểm quá, mà ông tính xông vô đó thiệt hay sao?
Tôi cười:
- Có gì mà không thiệt. Sợ quái gì. Hồi trước bao nhiêu hiểm nguy còn chưa sợ, nay sợ gì một sòng bạc.
Ba Ớt khất:
- Nhưng tình hình bây giờ khác. Tôi không dám can, mà cũng không muốn
khuyến khích ông. Bây giờ như vậy, nói thiệt ông nghe tôi cũng không dám
quyết chuyện này đâu. Ông ráng chờ ít hôm để tôi phải xin ý kiến Ban
Giám đốc Công an Thành phố mới được. Anh em mình quyết với nhau, rủi ông
có chuyện gì bắt trắc, làm sao tôi trả lời với Ban Giám đốc?
Huỳnh Bá Thành nghĩ vậy là đúng. Ngay khi trao đối với Ba Ớt, tôi cũng
đã đoán anh ta sẽ “đẩy” lên cấp cao hơn nữa, nhưng dù sao tôi cũng đã
làm tròn nhiệm vụ của tôi; và toàn bộ công việc của tôi lúc này chỉ là
chờ đợi. Thực sự cho đến lúc ấy, tôi vẫn chưa biết ai là chủ nhân của
sòng bạc tại quận 4 mà Lâm Chín ngón muốn dẫn tôi đi lấy tư liệu để viết
bài.
Trong khi ấy Lâm Chín ngón tỏ ra rất nôn nóng. Mới hai ngày sau anh ta đã tới gặp tôi, thúc giục:
- Sao, anh đã xin ý kiến xong chưa?
Tôi nói thật với Lâm là tôi đã báo cáo với Ban Biên tập, và còn phải
báo cáo lên cấp cao hơn nữa. Việc chờ dợi do đó có thể không phải ba
ngày, mà phải lâu hơn.
Bất ngờ từ Năm Cam
Mấy ngày sau, Ba Ớt gọi tôi cho biết sòng bài đang được theo dõi, không nên viết bài đánh động.
Khi nghe tôi báo tin tôi không thể theo anh ta đến sòng bạc quận 4 để viết bài, Lâm thở ra, bảo:
- Em cũng đã đoán trước có thể anh mắc kẹt, nlung vẫn có hy vọng. Ai dè Năm Cam quen biết lớn thật…
Tôi cố giải thích:
- Không hẳn vậy đâu, nhưng ở đời luôn có nhưng việc dù mình muốn mà
không thể thực hiện, luôn có những việc mà mình không thể hiểu biết thấu
đáo. Thôi Lâm ạ, cứ yên vui với cuộc sống của mình là được rồi, hơi đâu
lo cho kẻ khác.
Những Lâm vẫn tỏ vẻ bực đọc:
-
Anh nói vậy em nghe vậy. Những Năm Cam đâu có ra gì. Hồi nào nó tà lọt
cho anh Đại, dưới cỡ em xa lắc, giờ chỉ nhờ khéo luồn lọt mà ngoi lên,
bao nhiêu thằng theo nịnh. Phải chi nó có tài đã đành.
Thì ra
Lâm Chín ngón ganh ghét Năm Cam nên muốn qua báo chí “chơi” Năm Cam -
tôi chợt hiểu ra cốt lõi của vấn đề. Lâm Chín ngón tiếp tục tâm sự:
- Anh biết không, cách đây chưa lâu công an đánh vụ buôn lậu và sản
xuất hàng giả tại làng thương binh Phước Bình, Thủ Đức. Em không biết rõ
sự việc nhưng nghe nói huy động lực lượng mạnh lắm, quay cả phim để học
tập rút kinh nghiệm đánh án trong nội bộ ngánh…
Vụ làng
thương binh Phước Bình thì tôi biết. Do dính liu đến thương binh vốn là
vấn đề hết sức nhạy cảm nên công an thành phố và công an huyện Thủ Đức
phải phối hợp với lực lượng kiểm soát quân sự, Bộ tư lệnh Thành và Huyện
đội Thủ Đức để phá án. Đúng là khi ấy lực lượng công an có quay cuốn
băng video về vụ này, nhưng tại sao Lâm Chín ngón cũng biết thì lạ
thiệt. Giọng Lâm vẫn đều đều:
- … Nghe đâu chỉ cán bộ có tầm cỡ mới được coi bộ phim ấy, thế mà anh biết không, Năm Cam được “mời” xem phim.
Xem xong, Năm Cam bị hỏi kiểu dằn mặt: “Nguyên cả làng thương binh
Phước Bình cũng không thể chống nổi, liệu sòng bạc quận 4 của anh có
chịu nổi không?”. Năm Cam đáp nữa đùa nửa thật: “Dạ, dạ, sòng bạc của em
sao chịu nổi, cũng nhờ mấy anh thương bỏ qua cho. Có điều muốn đánh
sòng bạc của em, các anh phải huy động lực lượng gấp hai lần đánh Phước
Bình”.
Anh nghĩ thử coi, Năm Cam nó quen biết cỡ đó và dám trả lời láo như vậy thì thật hết biết.
Tôi khi ấy hoàn toàn không tin chuyện Năm Cam có thể ngồi xem cuốn phim
được coi là tài liệu mật của ngành công an, những nếu không thì làm
cách nào Lâm Chín ngón bịa chuyện y như thật? Tôi hỏi:
- Dựa vào đâu mà Lâm biết chuyện về cuốn băng trên?
- Thì chinh Năm Cam khoe với bọn đàn em nhằm trấn an bọn chúng cứ yên
tâm hoạt động vì đã lo lót hết các cửa. Bọn chúng kể lại với em nên em
mới rành chuyện.
Một lần nữa tôi trấn an Lâm, nhưng lần này cũng là trấn an chinh mình:
- Nghe qua nghe lại tam sao thất bổn. Chuyện khó tin lắm, không lẽ một
trùm xã hội đen lại ngồi xem tài liệu mật chung với cán bộ công an có
tầm cỡ. Có thể Năm Cam bốc phét loè em út đó. Thôi, mình cứ lo thân mình
cho xong, hơi nào lo thiên hạ sự.
Nãy giờ tôi quen chưa nói
thời gian xảy ra sự kiện trên. Đó là vào quãng giữa năm 1992. Như vậy
mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón hẳn phải có từ trước đó nữa, đã
lâu làm rồi.
Mãi sau này, khi Năm Cam bị bắt, cơ quan điều
tra phanh phui ra mới quan hệ móc ngoặc giữa Năm Cam và một số cán bộ có
tầm cỡ của Công an Thành phố Hồ Chí Minh như (nguyên) Thượng tá Sài gòn
Minh Ngoc, trưởng Phòng cảnh sát hinh sự; (nguyên) Trung tá Nguyễn Mạnh
Trung, phó Phòng cảnh sát điều tra; và sự quen biết giữa Năm Cam với
các cán bộ còn lớn hơn nữa như (nguyên) Phó Giám đốc Công an Thành phố
Hồ Chí Minh Thân Thành Huyện và Vô Văn Mạng, v.v… tôi mới vỡ lẽ nguồn
tin của Lâm Chín ngón là hoàn toàn có cơ sở để tin cậy.
Như
vậy rất có thể không phải Năm Cam đã “huếnh” lên về cuốn băng, mà hắn đã
từng được mời xem thực và từng bị “nắn gân” thực. Câu trả lời của Năm
Cam có thể do hắn bốc phét thêm mắm dặm muối nhằm “giật le” với bọn em
út, nhưng cũng có thể xuất phát từ sự thật. Quả là toàn những chuyện khó
tin nhưng có thực.
Tôi cũng bất giác lạnh xương sống khi
nghĩ nếu ngày ấy tôi cao hứng lên, theo Lâm Chín ngón vô sòng bạc tại
quận 4 của Năm Cam, về viết bài, đang lên báo, thì nào ai mà biết được
hậu quả sẽ ra sao!
Và, ai mà biết được, chuyện Lâm Chín ngón
tâm sự với tôi về sòng bạc đã bằng cách nào đó lọt đến tại Năm Cam,
chinh vì vậy sau này Năm Cam tỏ ra lơ là với tôi và thêm lý do để hắn
rắp tâm tạt át-xit Lâm nhằm trả thù, mối thù mà Năm Cam đã ấp ủ suốt
hàng chục năm.
Chuyện của giới giang hồ xã hội đen tôi nào
muốn dính dáng đến, nhưng do hoàn cảnh đẩy đưa, muốn tránh cũng không
được, thôi đành cố giữ lấy mình; điều gì giúp được anh em mà không trái
luật pháp, không trái đạo lý làm người thì có giúp, không bằng hành động
cụ thể thì bằng lời khuyên “phù thế giáo một vài câu thanh nghị”, còn
sự việc xảy ra thì mình tài hèn sức mọn làm sao can thiệp cho nổi, đành
phó thác mặc cho số phận…
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương VII: Những ngày cuối của một “đại ca”-
Nay, trước hương hồn người đã mất, xin viết lại chuyện chưa bao giờ viết này.
Và, để bạn đọc nắm được toàn bộ nội dung, xin lược qua lại những gì tôi
biết về tay giang hồ cộm cán nổi tiếng từ thâp niên 1960 này.
Tôi quen biết Lâm Chín ngón
Tôi biết Lâm Chín ngón khi ở tù tại khu C, trại 7, Côn Đảo - thường gọi Chuồng cọp.
Thời gian ở tù ngoài Côn Đảo (tôi bị án tù chung thân năm 1972, ra đảo
đầu năm 1973), tuy tôi là tù chính trị nhưng lại bị nhốt chung một khu
với tù hinh sự.
Riêng Lâm ra đảo đâu khoảng đầu tháng 4
-1975, được đưa ngay vào khu C, một mình một phòng. Thời gian này tôi
mới ở bệnh xá về, ở chung phòng với anh Giáo, thêm bị liệt chân phải đi
lại khó khăn nên chỉ loáng thoáng biết có Lâm, tiếp đó là giải phóng
30-4, nên chưa thể nói quen Lâm.
Sau ngay miền Nam hoàn toàn
giải phóng, nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày
đầu giải phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại,
phá kho tang vật, lấy cấp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng
hồ, nữ trang, tiền mặt… và bị trừng trị hết sức nghiêm khắc.
Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án chung
thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không
được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà
tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được
tha.
Tha về chưa được bảo lâu, qua số tù hình sự ở khu C trại
7 Côn Đảo trước đây, Lâm Chín ngón hỏi thăm, tìm tới tôi, kể cho tôi
nghe suốt thời gian từ sau 30-4-1975 đến giờ anh ta đã sống ra sao.
Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.
Nói ngay, người em kết nghĩa này chưa khi nào nói dối, qua mắt tôi,
luôn trước sau như một xưng hô cung kính anh em. Ngay cả đối với bã xã
tôi Lâm cũng luôn hễ gặp là vòng tay chào hỏi, nói chuyện thường chắp
hai tay, gọi chị xưng em hết sức đàng hoàng.
Nghe Lâm kể quãng thời gian ngồi tù, tôi chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta từ nay nên cố sống lương thiện.
Còn có một câu chuyện bây giờ tôi mới kể khi Lâm ở trong trại đã lừa đánh cán bộ cải huấn…
Theo lời Lâm, có một cán bộ trong trại cải tạo không hiểu sao luôn tìm
đủ mọi cách gây khó dễ cho Lâm khiến Lâm rắp tâm trả thù, nhưng phải đời
thời cơ.
Thời cơ đến khi một sáng sớm nọ, trước giờ vác cuốc
lên đường trồng cây, cán bộ từ phía sau Lâm bước đến, mà ánh mắt trời
in rõ bóng ông ta chiếu dài theo bước chân. Lâm đang vác cuốc thấy vậy
liền sửa lại thế, hơi kéo cán cuốc đang vác trên vai về phía trước, theo
dõi bóng đối thủ. Bởi “nạn nhân” đến đúng tam, Lâm bất ngờ làm như sửa
lại thế vác, xô mạnh nguyên lưỡi cuốc ra phía sau, đúng vào mặt kẻ vừa
bước đến, khiến ông ta ngã khuỵu, gãy một hơi mấy chiếc răng cửa.
Tất nhiên Lâm chịu kỷ luật, nhưng đó Lâm khai “tôi đâu ngoảnh đầu lại
mà biết cán bộ đang đi tới, chỉ vô tình sửa lại thế vác cuốc” và tại
hiện trường quả đúng như vậy, nên kỷ luật tương đối nhẹ.
Rồi
Lâm Chín ngón kể tiếp từ ngày được tha, anh ta buôn bán thuốc tây ở khu
đường 3 tháng 2, quận 10; cuộc sống chỉ tạm đủ vá víu qua ngày. Sau Lâm
hùn với một tay đàn em cũ là Mười đen ra chợ Huỳnh Thúc Kháng buôn bán
hàng điện tử (nghe đâu do Năm Cam giúp đỡ). Thấy Mười đen phò Năm Cam,
và không muốn mang tiếng nhờ vả núp bóng đàn em, Lâm tách ra toan trở
lại nghề bảo kê cho một số quầy bar quanh khu vực Tân Sơn Nhất. Có lẽ
đây là quãng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều kỷ niệm đối với
Lâm Chín ngón cũng như một số dân chơi khác. Nào mấy ai ngờ một “ông
tướng” nay lại lại phải làm mặt rõ kiếm sống qua ngáy. Nhưng thôi, cuộc
đời ai chẳng có lúc lên voi xuống chó.
Và Lâm kể cho tôi nghe một kỷ niệm “nhớ đời” của anh ta trong quãng thời gian ngắn ngủi này…
Đại ca thứ thiệt
Một tối nọ, có bọn thanh niên lực lưỡng, mặt mày bặm trợn, chỉ cần liếc
qua tướng tá, quần áo, cử chỉ cũng biết ngay là dân giang hồ không phải
loại tầm thường vô quán đòi ngồi ở phòng riêng, kêu bọn em gái bia ôm
hầu bàn. Ăn đã đời từ hơn bảy giờ tối gần 11 giờ đêm, uống hết hơn một
thùng bia bọn họ mời gọi tính tiền. Nhưng khi giấy tính tiền đưa tới
bàn, họ thậm chí không thèm liếc nhìn qua tờ giấy, mà một vị khách thọc
tay vô bụng rút luôn ra… khẩu súng ngắn, dằn mạnh lên mặt bàn, buông
thõng một câu xanh dờn:
- Không có tiền, trả bằng thứ này được không?
Cả bọn em gái hoảng hồn la oai oái, tranh nhau chạy ra khỏi phòng. Chủ
quán nghe mấy em cấp báo, lính quýnh vừa run vừa kêu Lâm Chín ngón đến
giải quyết. Lâm mở cửa bước vô phòng, việc đầu tiên là nhào đến chụp
ngay khẩu súng, tất nhiên khôn ngoan cầm phía bá súng. Gã thanh niên hớt
tóc ngắn to con nhất trong bọn, có vẻ là tay cầm đầu, cũng nhanh như
chớp vung tay chộp súng, kéo lại, miệng quát:
- Ê, mày làm gì vậy?
Lâm bình tĩnh:
- Các anh nói trả thứ này thay cho tiền nên tôi lấy!
Nghe đối thủ trả lời cứng cựa, gã không thèm đáp mà ra sức giành lại vũ
khí. Hai bên cùng nín thở thi triển 10 thành công lực, gồng hết cơ bắp,
thử sức một phen cho rõ tài cao thấp. Kéo qua kéo lại, một lát sau Lâm
Chín ngón dần dần thắng thế thấy rõ, có thể một phần do anh ta nắm ngay
bá súng nên chiếm lợi thế nhờ có điểm tựa chắc chắn hơn. Dù sao, với dân
chơi thứ thiệt, hễ thua thì nhận thua. Gã tóc ngắn đành buông súng ra,
kêu:
- Khá lắm, khá lắm. Mày làm gì ở đây mà dám can thiệp vào chuyện của bọn tao?
- Đây là quán của người quen tôi, nhờ tôi coi giúp. Nuôi quan ba năm
nhờ đến một giờ. Đây là nồi cơm của tôi nên tôi phải giựt. Nếu tôi tới
quán mấy anh quấy, chắc chắn mấy anh cũng phải làm như tôi thôi.
Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm:
- “Chó lửa” của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các
anh nói giỡn, vì đây là đồ làm ăn, vật bất ly thân của các anh đời nào
các anh trả cho quán; và lại nếu tính trị giá, nó hơn hẳn tiền ăn nhậu
từ tối đến giờ”.
Tên tóc ngắn dịu giọng:
- Nói
nghe có lý lắm. Nếu vậy cũng là anh em trong nhà cả, không lẽ chơi quỵt
nhau. Được rồi. Không nhận súng thì lấy thứ này vậy!
Nhanh hơn cả làm trò ảo thuật, hắn rút trong túi ra một trái lựu đạn đặt cái “cộp” lên mặt bàn.
Nhiều tiếng la oai oái nổi lên phía ngoài cửa phòng và tiếng chân chạy
rầm rập. Thì ra nãy giờ chủ quán và mấy “em gái” thập thò ngoài cửa theo
dõi diễn biến tình hình, nay hoảng quá tranh nhau co giò manh ai nấy
chuồn cho lẹ.
Lâm vội quay người một vòng, đưa chân đá cánh
cửa. “Sấm” một tiếng, cánh cửa khoá tự động đã đóng lại. Lâm Chín ngón
cố giở giọng thản nhiên:
- Lỡ chơi thì chơi luôn! Một đổi bốn còn lời chán! Và lại đời tôi sống cũng đủ lắm rồi. Cứ cho nổ!
Tính dằn mặt đối thủ, ai dè gặp thứ thiệt, đám thực khách không còn
cách nào khác hơn là chấp nhận xuống nước. “Trời không chịu đất thì đất
đành phải chịu trời”. Tên có hàm râu quai nón trong bọn lên tiếng, đổi
giọng:
- Thấy anh nãy giờ tôi nghĩ không phải thứ mới vào nghề chưa có số má gì. Anh nói thật cho tụi tôi biết anh là ai?
Lâm thở dài:
- Từ lâu lắm tôi đã cố quên tên của mình. Nay các bạn hỏi tôi cũng xin
nói thiệt. Cách nay hơn mười năm tôi cũng tạm gọi là có chút danh vọng.
Anh em trong giới giang hồ khi ấy quen gọi tôi là Lâm Chín ngón.
Cả bốn tên đều bắt giác đứng bật dậy, gã tóc ngắn hỏi:
- Anh là Lâm Chín ngón? Đâu, anh cho xem bàn tay trái thử coi.
Lâm Chín ngón vốn là biệt danh của Lâm sau một trận đụng độ ác liệt
giữa hai nhóm dân chơi của Đại Cathay và Tin Mã Nàm tại ngay trước khu
Đại Thế Giới. Trong trận kịch chiến này, khi cố giải cứu Ba Thế, một
trong “tứ đại ca” (Đại, Tỳ, Cái, Thế), Lâm bị một thanh mã tấu xớt mất
ngón tay cái của bàn tay trái. Nãy giờ, khi thử sức Lâm dùng tay phải
nên chưa ai thấy bàn tay trái của anh ta.
Khi Lâm vừa xoè bàn
tay trái với bốn ngón ra thì cả bọn đưa đưa cả hai tay ôm vai anh ta,
đứa cấm tay lắc lấy lắc để, đứa chắp hai tay xá lia lịa:
-
Xin lỗi đại ca, xin lỗi. Nãy giờ tụi em không biết lõ xúc phạm đến đại
ca. Anh em trong nhà cả, đại ca không nói sớm. Đâu, chủ quán đâu?
Thì nãy giờ chủ quán nấp ngay sau cánh cửa chớ đâu. Vừa nghe gọi lập tức chủ quán bước vô phòng…
Tên hớt tóc ngắn bảo:
- Đưa hoá đơn tính tiền coi!
Chủ quán đã lấy lại bình tĩnh:
- Đã khi nãy đưa rồi mà.
Tên râu quai nón cúi xuống gầm bàn lượm tờ giấy lên, đọc:
- Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn. Tưởng nhiều, nhiêu đó nhằm gì!
Gã móc túi lấy ra chiếc khăn, mở ra, bỗng gói vội lại, kêu “Lộn rồi!”.
Nhưng Lâm đã kịp nhìn thấy một đống nhẫn, dây chuyền, đồng hồ… trong
khăn, đoán chừng bọn này vừa “ăn hàng” về, vô quán ăn mừng. Gã móc túi
bên kia, phen này thì đúng là một bọc tiền. Tên hớt tóc ngắn giọng xởi
lởi:
- Trả luôn một triệu năm trăm ngàn cho chẵn. Ủa, còn mấy em gái khi nãy đâu?
Thấy tình hình đã lắng dịu, “phe mình” thắng thế, mấy em gái bia ôm
thập thò ngoài cửa phòng, chỉ chờ cơ hội là ăn theo, nhanh nhen bước vô.
Một tên khác bảo:
- Bo mỗi em một trăm ngàn chịu không?
Thì mấy em chịu quá đi chớ! Tiền bạc xong xuôi, tên hớt tóc ngắn thân mật bắt tay Lâm Chín ngón:
- Tụi em khi nãy không biết, lỡ đắc tội, đại ca bỏ quá cho. Khi nào có
dịp ra Hải Phòng, đến bến Sau Kho, đại ca cứ hỏi Thanh bếp là ai cũng
biết, tụi em xin tiếp đón trọng thế.
Kể xong câu chuyện, Lâm
Chín ngón thở dài tâm sự: “Anh ạ, từ sau tối hôm ấy em nghĩ cái mạng
mình sống chết bất cứ lúc nào nếu còn theo cái nghề bảo kê ấy mà chết
lãng xẹt. Nên em quyết bỏ bằng được”.
Từ Campuchia…
Sau vụ bảo kê quán nhậu ờ Tân Sơn Nhất, đụng độ với băng giang hồ Hải
Phòng, Lâm lo tu tỉnh làm ăn thật. Tuy nhiên do không có nghề ngỗng gì
cụ thể, nên công việc làm ăn của Lâm nếu không coi là thất bại thì cũng
không thể gọi là khấm khá.
Khoảng đầu năm 1994, khi ấy tôi đang làm Tổng Biên tập tạp chỉ Người Du lịch, sáng một bữa nọ Lâm tìm đến tôi ở toà soạn.
Lâm bắt tay tôi, giọng hơi bất bình thường:
- Anh ạ, bữa nay em tới tạm biệt anh, mà cũng có thể là vĩnh biệt!
Tôi ngạc nhiên:
- Sao Lâm nói kỳ vậy?
- Nếu hơn một tháng nữa mà anh không gặp em, không nghe tin tức gì về em tức là em đã chết, bỏ xác ở Campuchia.
Tôi còn tưởng mình nghe lộn:
- Lâm làm gì mà qua tận Campuchia?
- Em nói thiệt. Ở đây làm ăn thất bại quá. Bên Campuchia hồi này người
Việt qua làm ăn đông lắm, giang hồ cũng kéo qua đó, chia băng chia phái
kèn cựa nhau. Chúng nhờ em qua…
- Sao Lâm hứa với tôi rút khỏi dân chơi rồi mà?
- Không. Chúng nhờ em qua hoà giải, vậy thôi. Em chỉ tin có anh, nên
anh là người duy nhất em nói về việc đi Campuchia và chào tạm biệt. Ở
bên này mãi, tiền bạc không có…
- Như vậy Lâm qua đó, lạ nước lạ cái, làm sao đi lại, làm sao sống?
- Có người dân Sài gòn, bảo đảm chi cho em ăn, ở, luôn cả lộ phĩ. Miễn
sao em thu xếp cho anh em giang hồ người Việt bên đó đỡ kình chống nhau.
Nhưng bọn xã hội đen bây giờ cũng tráo trở lắm, em qua cũng có thể bỏ
xác quê người…
Tôi nghe Lâm nói tự nhiên thấy bùi ngùi, móc
ví sau túi quần, thấy trong ví còn hơn 300.000 ngàn đồng, liền đưa Lâm
hết số tiền chẵn:
- Lâm cầm đỡ ít tiền qua đó sinh sống.
Lần đầu tiên tôi thấy Lâm rơm rớm nước mắt khi đưa tay nhận tiền:
- Nếu còn sống, thế nào em cũng về gặp anh. Còn một điều nữa… Em có đứa con gái mới sinh…
(Tôi không tiện viết thêm về cô con gái này cũng như người phụ nữ đã
sinh con với Lâm - người này sau đã yên bề gia thất, không muốn ai biết
nhiều về quan hệ trước đây của mình; và cô con gái riêng của hắn, nếu
nay còn sống, cũng đã gần 20 tuổi, hẳn cũng muốn sống cuộc đời êm thấm)
Thế nhưng khoảng hơn một tháng sau, bữa nọ Lâm lại đến gặp tôi cũng tại toà soạn báo Người Du lịch, gương mặt vui tươi:
- Em vừa về tới, vội đến gặp anh ngay.
Tôi tò mò:
- Chuyện ra sao rồi?
- Coi như xong. Tốt đẹp cả, vì bọn chúng đôi chút cũng nể mặt em. Nhưng ở bên ấy dễ bỏ mạng lắm, em chẳng thà về lại Việt Nam.
… đến Vũng Tàu
Bẵng đi một thời gian, Lâm từ biệt tôi, nói ra Vũng Tàu để làm ăn. Đang
lúc bận rộn công việc, tôi không mấy để ý, cũng chẳng tò mò hỏi Lâm ra
đó làm ăn cụ thể ra sao.
Tuy nhiên thời gian mới ra Vũng Tàu
và sau đó khoảng nữa năm, Lâm làm ăn có vẻ khấm khá, mỗi lần về lại
Thành phố Hồ Chí Minh gặp tôi thường gởi tiền, quà cho con gái.
Mãi sau này nhân một lần vui miệng, Lâm mới kể tôi nghe anh ta ra Vũng Tàu nổi đình đám ra sao. Theo lời Lâm thì…
“Em ra Vũng Tàu; cầm đầu bảo vệ cho một nhà máy thu mua cá, mực, tôm; ốc… nói chúng là hải sản, vựa rất lớn.
Nhà máy ngày càng ăn nên làm ra khiến một cơ quan cạnh tranh bực mình, muốn giành mối.
Chiều nọ, một tốp có đến cả chục tên đầu trâu mặt ngựa, đứa nào cũng
mang theo vũ khí; đứa dao, đứa kiếm, đứa thanh sắt, đứa côn nhị khúc…
xông vào cổng nhà máy của em.
Em bước ra, chặn chúng lại, hỏi:
- Các anh muốn gì?
Một tên mặt mày bặm trợn, ra vẻ đầu sỏ, quát:
- Đây là địa bàn làm ăn của bọn tôi; anh muốn sống thì cút đi chỗ khác!
- Nói vậy đâu được, chúng tôi ở nhà máy bên này, đâu đụng chạm gì tôi mấy anh?
- Vậy là thằng này muốn chết!
Và bọn chúng hò hét, vung vẩy dao, kiếm như muốn ăn tươi nuốt sống em.
Em ngó lui: Mấy đứa bảo vệ chung với em nháo nhác lo chuồn ngay khi em bước ra nói chuyện với bọn này.
Với anh là người đầu tiên em mới nói thật, lúc này em muốn chuồn thì
cũng đã quá muộn vì mười mấy đứa hinh như có bàn tính trước, đã vây
quanh em. Em tính quơ đại thứ gì làm vũ khí cũng không thể kịp; vả lại,
dù có vũ khí cũng không cách nào một mình chống đỡ nổi số địch thủ đông
như vậy. Karate không bằng ka-ra-bu, tức bu lại mà đánh. Vô kế khả thi,
đàng nào cũng chết, em xuống tấn thủ thế, đánh nước liều:
- Chưa chắc thằng nào chết!
Vừa lúc em tính mình từ chết đến bị thương thì bỗng phía bên trong có
nhiều tiếng la hét, hàng mấy chục công nhân tay cầm cây khiêng cần xé
thủy sản, hoặc dao làm cá bén ngọt xông ra. Thì ra mấy đứa bảo vệ chung
với em chạy vô báo lại tình hình, công nhân thấy động đến miếng cơm manh
áo thiệt thân với họ, họ hè nhau nhất tề ra đánh đuổi bọn du đãng. Lúc
này tình thế đã đảo ngược, nhân số phe ta đông hơn hẳn, áp đảo phe địch,
hơn nữa ai cũng có vũ khí. Bọn đầu trâu mặt ngựa vội bỏ chạy có cờ…
Mới biết hay không bằng hên. Mọi người đâu ai biết em nhát gan chỉ được
nước liều mạng, khen em hết cỡ, nào là “một mình dám chống lại cả hơn
chục đứa”, nào là “tay không đánh với kiếm, dao, tuýp sắt,” nào là “đứng
giữa đám đông côn đồ vây quanh vẫn tỉnh bơ,”… Rồi họ còn thêm mắm dặm
muối…
Dù sao, sau vụ đó em trở nên có “uy” nhưng cũng bị không ít kẻ ganh ghét.
Phàm ở đời, nói quá đi bị ghen tị. Và cũng chính vì bị ghen tị, sau một thời gian Lâm lại dạt về Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1994, Lâm gá nghĩa với một phụ nữ chí thú làm ăn, đã qua một đời
chồng - chị Liên, người mà Lâm gắn bó đến tận cuối đời, người chăm sóc,
lo lắng cho Lâm những khi Lâm gặp hoàn cảnh khó khăn nhất. Mà lạ, ngay
cả những người con riêng của chị Liên cũng thương yêu Lâm, chăm chút ông
dượng ghẻ.
Những ngày Lâm ra toà (với tư cách nhân chứng và
người bị hại) trong vụ xử án Năm Cam và đồng bọn, chị Liên luôn dìu dắt
Lâm, đứng cạnh Lâm. Khi ấy, thần kinh Lâm đã bị khủng hoảng (từ sau vụ
bị tạt át-xit), thậm chí chị còn hỏi trước Lâm sẽ khai những gì để
khuyên nhủ Lâm khai sao cho có lợi.
Đến tận bây giờ, mỗi khi
gặp chị Liên, nhắc lại những kỷ niệm về Lâm, chị vẫn bùi ngùi. Ngay khi
viết bài bảo này, thoạt đầu chị cũng ngại ngần muốn mọi việc chìm vào dĩ
vãng, chuyện đã qua cho qua. Tôi thuyết phục mãi, cuối cùng chị đồng ý,
lại còn cung cấp hình ảnh và một số tư liệu về Lâm.
Lâm giúp tôi
Đúng ra không phải giúp tôi, mà là giúp một người bạn của tôi, bác sĩ
Bê công tác tại bệnh viện Nguyễn Trãi, có nhà riêng ở huyện Bình Chánh.
Chuyện liên quan đến giới giang hồ nên phải nhờ Lâm giúp.
Số là, bác sĩ Bê mở quán ăn tại nhà riêng, thường bị bọn côn đồ địa
phương đến quấy phá, như đòi tiền bảo kê, ăn uống thiếu nợ, đòi thu
“thuế”…
Bác sĩ Bê biết tôi quen một số tay anh chị, nhờ xem
có cách nào giúp. Tôi tìm Lâm, kể lại mọi việc, giới thiệu Lâm với bác
sĩ Bê. Lâm nói “bạn của anh cũng như anh của em,” và bắt tay vào việc.
Hơn một tuần sau, bác sĩ Bê vui ra mặt, nói với tôi mọi việc đã ổn thoả
đâu vào đấy, nhờ tôi gởi lời cảm ơn Lâm, nhưng tình tiết cụ thể Lâm làm
cách nào thì anh ta không rõ.
Gặp lại Lâm, tôi nhắn lời cám ơn của bác sĩ Bê, vui miệng hỏi Lâm giải quyết cách nào mà ổn thoả nhanh và hiệu quả vậy.
Lâm cười cười:
- Đối với em việc dể như trở bàn tay.
Và theo lời Lâm, anh ta xuống ngay địa bàn nơi bác sĩ Bê có quán ăn,
hỏi thăm những kẻ có “số má” cầm đầu tại đây. Xong, Lâm trực tiếp gặp
những tên sừng sỏ, côn đồ miệt vườn nay. Vừa nghe tên tuổi Lâm Chín
ngón, bọn chúng đều muốn diện kiến đại ca. Lâm nhắn nhủ với cả bọn: “Đây
là bạn đại ca của tao, tụi mày vuốt mặt phải nể mũi, không được léng
phéng ở quán của bác sĩ Bê, nghe chưa?” Đơn giản vậy thôi.
Cũng nhân vụ giải quyết “tép riu” này, Lâm kể tôi nghe một việc Lâm giúp
mấy anh công an giải quyết một vụ việc lớn hơn, phức tạp hơn nhiều, xảy
ra vào khỏang giữa thập niên 1990 - vụ một nhân vật quan trong bị giật
chiếc cặp-táp có đựng tài liệu quan trọng ngay trước cổng trụ sở Bộ Công
an tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyện bây giờ mới kể…
Lâm giúp công an “pha án”
Chiếc xe hơi sang trọng đỗ trước cổng Bộ Công an (đường Nguyễn Trãi).
Người đàn ông xách cặp táp ngồi trên băng sau vừa mở cửa xe bước xuống;
bỗng một xe gắn máy chạy ngang, tên ngồi phía sau giật phăng cặp táp,
ngọt xớt, và xe găn máy tăng tốc mất hút…
Gay go là trong cặp có nhiều tài liệu mật.
Chuyên án lập tức được mở. Các trinh sát giỏi nhất được tung vào cuộc.
Một ngày… hai ngày… rồi một tuần vẫn chưa lần được manh mối nào. Lâm
Chín ngón được mời tới giúp.
Sau đây là lời Lâm kể với tôi:
“Em kêu ngay bọn ba binh ba tướng thường giật dọc quanh khu vực Cộng
Hoà, Đồng Tiến, Mả Lạng, nhắn “Tụi bay muốn sống phải đưa ngay chiếc cặp
giật được lúc… ngày… Tụi bay đụng vào hang cọp rồi đó!'. Thì ra bọn
chúng ngỡ trong cặp có tiền, đô-la, về giở ra coi mới hay toàn thứ tụi
chúng không biết dùng vô làm việc gì, chỉ có nước bán… giấy vụn. Nay bọn
chúng muốn trả lại cũng chẳng biết đường đâu mà trả, thêm nỗi sợ tù
tội. Nghe em nói tụi chúng đưa ra chiếc cặp táp còn nguyên vẹn… Sau đó
các anh em công an để thưởng lãm, mở bữa tiệc nho nhỏ ăn mừng, kêu cả em
và một số liên quan trong vụ này tới”.
Không biết lời Lâm kể có thể tin được bao nhiêu phần trăm, nhưng chắc chắn Lâm không thể dựng đứng hoàn toàn câu chuyện.
Bị tạt a-xit
Tôi biết Lâm ghét Năm Cam từ rất lâu.
Không ít lần Lâm tâm sự với tôi: “Anh biết không, thằng Năm Cam thời
anh Đại (Đại Cathay) chỉ là tà-lọt ngồi gác sòng bài bên quận 4, học
hành chẳng ra sao, không có số má gì, thế mà bây giờ chỉ nhờ khéo nịnh,
giỏi hối lộ mà thành trùm”.
(Lâm từng theo học chương trình
Pháp tại trường Trung học Taberd, Sài gòn cũ - góc Hai Bà Trưng - Ly Tự
Trọng, nay một phần thành trường Trần Đại Nghĩa).
Lần nào tôi cũng đáp: “Thôi thì gặp thời thế mà. Chuyện ngưởi khác mặc họ, miễn là mình đàng hoàng…”.
Nói vậy chớ tôi biết Lâm không những nói xấu Năm Cam với tôi mà còn tỏ
vẻ khinh bỉ, ghét Năm Cam ra mặt với khá nhiều dân chơi cũ cũng như mới.
Và thế nào tin này chẳng đến tai Năm Cam.
Cũng có lẽ vì vậy
Năm Cam sai đàn em “khử” Lâm Chín ngón. Nhưng bọn chúng biết, nếu chơi
theo kiểu đấu tay đôi với Lâm khó đứa nào chơi lại (Lâm cao 1,7m, chắc
nịch nhờ thường xuyên tập tạ, nổi tiếng sát thủ với các ngón võ giang
hồ).
Và thế là chúng nghĩ ra chiêu độc: Tạt át-xit.
Tôi nghĩ không gì trung thực bằng lời kể của chị Liên, nên xin ghi lại nguyên văn:
“Tối hôm 14-1-1999, lúc 7g30, vừa mới bán hết hàng, cu Bi con trai em
đòi ăn phở nên anh Lâm chở hai mẹ con đi ăn tại tiệm phở Lợi ở cư xá Bắc
Hải. Đến nơi, hai mẹ con xuống trước, em dắt con em đi vào quán còn anh
Lâm dựng xe trước cửa quán. Lúc sau em nghe tiếng anh Lâm hét lên; quay
lại em thấy đồ anh mặc lủng nhiều chỗ, mặt mũi bị cháy xém, em kêu lên
anh bị tạt át-xit rồi anh ơi. Lúc đó trong quán rất đông người nhưng hỗn
loạn em không thể biết ai đã tạt át-xít vào anh. Lúc đó anh còn hỏi:
'Em và con có bị sao không?'. Em nhìn anh lòng đau đớn sợ hãi, em với
kêu taxi chở anh đến bệnh viện”.
May Lâm đeo kính nên hai mắt
không bị hỏng hoàn toàn, nhưng thị lực giảm có đến hơn 90%. Lâm phải
nằm nhiều bệnh viện để điều trị, mà thời gian lâu nhất là ở Bệnh viện
chấn thương chỉnh hinh, qua nhiều lần phẫu thuật, tốn cả mấy trăm triệu.
Thời gian này Lâm sinh ra chán đời, không muốn gặp bất cứ ai. Vợ Lâm,
chị Liên, mua cho Lâm căn hộ chung cư ở Tân Bình, giấu tất cả bạn bè
thân thuộc, để Lâm tĩnh dưỡng.
Tâm trạng Lâm trong thời gian
ấy khá hoảng loạn, thậm chí hoang tưởng, lúc nào cũng nghĩ có ai đó muốn
hại mình, nên đôi khi nghi ngờ cả tôi cũng muốn hại anh ta (sau nay chị
Liên mới kể tôi nghe, chị kể đến cả chị cũng không ít phen bị Lâm
nghi).
Tuy nhiên, lâu lâu, không gặp tôi, Lâm lại nhờ chị
Liên nhắn tôi lên gặp gỡ, tâm sự. Thoạt đầu, Lâm không chút nghi ngờ kẻ
hại mình lại là Năm Cam, mà nhất định đổ riệt cho băng giang hồ ngoài
Vũng Tàu, hận Lâm vì phá đất làm ăn của chúng nên rắp tâm trả thù (trước
cảnh sát điều tra, mới đầu Lâm cũng khai như vậy. Khi họ cho Lâm biết
thủ phạm là đàn em Năm Cam và kẻ chủ mưu chính là Năm Cam, Lâm vẫn kể
với tôi cũng chưa chắc đã đúng; tôi phải nói “chớ Lâm không tin nhân
viên điều tra, không tin lời khai của Năm Cam hay sao? Ngu gì Năm Cam tự
vơ thêm tội vào mình?” Lâm mới chịu từ bỏ ý nghĩ ban đầu đã trở thành
định kiến).
Từ khi trở thành người không còn lành lặn như
xưa, Lâm đổi tính, không còn vui vẻ, cởi mở với mọi người; mà trở nên
lầm lì, ít nói.
(Tôi cũng xin mở ngoặc thêm chuyện đi tu của
Lâm: Lúc này Lâm và chị Liên đã có một bé trai kháu khỉnh, cu Bi, đang
học tiểu học).
Để phần nào giúp Lâm vừa tránh gặp mặt mọi
người, vừa có việc làm nhẹ nhàng giết thời gian hầu lãng quên quãng đời
lắm gian truân trước đây, chị Liên mua một mảnh đất tuốt bên huyện Nhà
Bè, sát mé sông. Tại đây, chị xây nhà, làm chuồng heo, đào ao nuôi cá,
cất rượu lấy hèm cho heo ăn, đưa Lâm về bên đó sống biệt lập, xa lánh
tất cả…
Nhưng những vết sẹo trên mặt do bị tạt át-xít tuy đã
lành vẫn thỉnh thoảng khiến Lâm vô cùng đau đớn - cả theo nghĩa bóng lẫn
nghĩa đen, nhất là những khi trái gió trở trời. Không ít lần Lâm nói
với tôi “Em nghĩ thà chết cho bớt đau”.
Và quả Lâm nói sao làm vậy.
Ba lần tự tử
Phải nói ngay, không mấy người có cái gan như Lâm Chín ngón, kể cả gan tìm đến với cái chết.
Lần đầu Lâm tự tử bằng cách uống thuốc ngủ, dễ có tới hàng trăm viên.
Chị Liên vội chở Lâm vào bệnh viện kịp thời súc ruột cứu sống Lâm. Theo
chị Liên, một phần nhờ thời gian gần đây Lâm thường xuyên mất ngủ nên
hầu như tối nào cũng phải dùng loại thuốc này do đó lờn thuốc.
Trước khi uống thuốc ngủ, Lâm để lại lá thư tuyệt mạng cho vợ:
“Liên yêu quý,
Anh rất mãn nguyện vì yêu em.
Anh vĩnh biệt em vì muốn bảo vệ danh dự gia đình em và xã hội.
Con anh sẽ không buồn tủi vì có một người cha có quá khứ xấu xa.
Em yêu thương con như đã yêu anh…”
Lần thứ hai, Lâm nhảy từ trên nóc nhà bên Nhà Bè xuống đất. Lần này Lâm
bị chấn thương cột sống khá nặng, phải nằm điều trị gần 3 tháng ở Trung
tâm chấn thương chỉnh hình, nhưng rốt cuộc cũng thoát chết.
Lần cuối cùng. Lâm nhảy vào thùng kháp rượu đang sôi sùng sục, và lần
này, Lâm ra đi vĩnh viễn. Chuyện xảy ra vào quãng 12 giờ trưa ngày
30-8-2006.
Đâu khoảng 1 giờ trưa hôm ấy, chị Liên hốt hoảng
gọi điện thoại cho tôi, báo tin. Chị cũng kêu tôi sang ngay Nhà Bè để
nhờ lo liệu mối thủ tục.
Tôi còn nhớ như in, khi tôi tới nơi,
hiện trường con nguyên vẹn, nhưng tôi không thể nào diễn đạt. Đến tận
bây giờ, những hình ảnh phút cuối đời của Lâm Chín ngón vẫn còn như in
trong óc tôi, nhất là mỗi lần nghĩ đến người em kết nghĩa năm nào.
Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người quá cố được sống an lành bên kia bờ
thế giới. Nếu có sống lại kiếp sau, xin đừng trở lại cuộc đời giang hồ
đầy bất trắc.
Lâm đã không ít lần tâm sự với tôi muốn trở lại
cuộc đời lương thiện, làm ăn đàng hoàng, tử tế. Và, từ trong thâm tâm,
tôi biết Lâm cũng rất muốn vậy. Nhưng nhiều khi cây muốn lặng mà gió
chẳng muốn dừng, có thể một phần lỗi do Lâm tư tưởng không mấy vững
vàng, thêm tác động của bè bạn, xã hội đưa đẩy.
Khi đến báo
Thanh niên đưa tin buồn về Lâm, tôi cũng nhớ lời chị Liên dặn, yêu cầu
đừng nói gì thêm, thậm chí không viết rõ Lê Ngọc Lâm là tên thật của Lâm
Chín ngón.
Mới đó thấm thoắt đã gần 5 năm kể từ ngày Lâm mất…
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương VIII: -Giang hồ Sài gòn xưa khác nay-
Cứ hai người một phòng
giam, luân phiên một vài tháng lại đổi người, nên tôi có dịp làm quen,
tìm hiểu khá kỹ về giới giang hồ năm xưa. Khi bị giam ở Chí Hoà, tôi còn
gặp cả bọn Chương Khùng, Việt Parker - và trước nữa, trong lần ở tù
1965-1970 là Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất hồi đó - nên có thể
nói phần nào tôi có điều kiện “thâm nhập” giới này.
Sau ngày
miền Nam hoàn toàn giải phóng, khoảng giữa những năm 1980, con trai tôi
học Taekwondo tại võ đường Hồ Xuân Hương, quận 3, Thành phố Hồ Chí
Minh, chung với con trai của Năm Cam. Và nhân một lần tổ chức sinh nhật
cho con trai tôi tại nhà riêng (tôi cho phép con mời một số bạn học việc
và bạn học võ chung lớp), Năm Cam chở con trai y tới nhà tôi làm quen.
Hinh như Năm Cam cố ý tìm cơ hội đến làm quen với tôi (khi ấy tôi đang
làm phó Tổng Biên tập Bảo Công an TP. HCM, tạm gọi là có chút địa vị. Và
tôi trở thanh một trong những nhà báo đầu tiên - nếu không dám nhân là
nhà báo đầu tiên - quen biết với Năm Cam. Thế là thông qua Năm Cam và
đàn em của y, tôi cũng biết thêm khá nhiều về giới giang hồ tại TP. HCM
sau này.
Do đó, căn cứ vào hiểu biết cá nhân, tôi xin mạnh
dạn đưa ra một số nhận xét của mình về những điểm khác biệt của giới
giang hồ xưa và nay. Tất nhiên những nhận xét của tôi hoàn toàn do chủ
quan, rất có thể phiến diện, còn nhiều sai sót và không được nhiều người
đồng tình. Tôi xin sẵn sàng tiếp thu những ý kiến khác, kể cả trao đổi
bổ sung, thậm chí đối lập với ý kiến của tôi.
Tôi không kể
những điểm giống nhau trong giới giang hồ, vì thời nào chẳng vậy, họ là
thủ phạm gây nên nhiều vụ án hinh sự nghiêm trọng từ cướp của tới giết
người, từ đâm thuê chém mướn tới đánh lộn đánh lạo, từ tổ chức sòng bạc,
buôn bán ma tuý tới cho vay nặng lãi, bảo kê các vũ trường, quán bar,
thậm chỉ gầy động mãi dâm, v.v… và v.v…
Mặt khác họ tìm cách
hối lộ, mua chuộc các quan chức trong bộ máy nhà nước, nhất là quan chức
trong các lực lượng liên quan đến pháp luật như công an, toà án, kiểm
sát. Họ cũng “kết” với một số nhà báo, nhà văn đề khti viết bài tố cáo
họ (nếu những người này viết tốt về họ thì càng hay), thậm chí đưa
“phòng bì” cho số được coi là nhà báo, nhà văn nay (trong vụ án Trương
Văn Cam, có hai nhà báo liên quan, đã nhiều lần nhận tiền của hắn nên
cũng bị ra toà, lãnh án tù là Nguyễn Hoàng Linh của bảo Tuổi Trẻ và Võ
Quang Thắng của báo Công an TP.HCM).
Tuy nhiên, trong giới giang hồ trước đây luôn có một số điều luật bất thành văn mà giới giang hồ sau này không tôn trọng.
Trước hết, giang hồ cũ không bao giờ “đụng” với quan chức thực thi pháp
luật. Đại Cathay lẫy lừng là vậy mà sau lần lỡ tay giựt cùi chỏ đánh Cò
Ly (Trưởng ty Cảnh sát quận 1) tại vũ trường Tự Do đã phải trốn chui
trốn nhủi, nhờ người đứng ra dàn xếp, xin lỗi. Kết cuộc, Đại Cathay phải
chịu hinh phạt của Cò Ly: Cấm không được lui tới những vũ trường, nhà
hàng mà Cò Ly đã có mặt trước - Cò Ly cho rằng Đại Cathay đã phạm tội
“khi quan” (!)
Cũng vì dám động đến đám lính không quân (dù
chưa làm ai bị thương chớ đừng nói đến chết) mà nguyên đám giang hồ của
Đại Cathay bị xoá sổ vào năm 1966.
Giang hồ sau này khác hẳn;
đụng quan chức, kể cả công an cũng “chơi” luôn: Dám dùng dao đâm chết
cảnh sát Phan Lê Sơn ngay tại một quán nhậu ở trung tam thành phố.
Thứ nhì, tuy dân giang hồ thời trước cũng có đủ loại vũ khí, từ dao lê,
mã tấu, côn nhị khúc… đến súng, lựu đạn; nhưng “hang nóng” (tức súng,
lựu đạn) chỉ dùng để ăn cướp mà không bao giờ dùng đến khi thanh toán
nội bộ hoặc đấu đá, thu phục lẫn nhau.
Thí dụ, khi Đại Cathay
muốn thâu tóm băng của Tin Mã Nàm ở khu vực Đại Thế Giới, Chợ Lớn, Đại
chỉ huy đống binh hùng tướng mạnh mang theo dao búa gậy gộc tấn công đối
thủ. Phe Tín Mã Nàm cũng vậy, chỉ dùng “tay nghề” tức võ thuật và tài
sử dụng dao búa để kháng cự, dù cả hai phe súng ống đầy dẫy. Nhiều lần
đụng độ bất phân thắng bại, có khi mỗi bên xuất quân tới mấy chục, nhưng
chưa khi nào nghe tiếng súng nổ, cũng do đó bình thường đôi bên chỉ bị
thương chớ không ai bỏ mạng bao giờ)
Giang hồ khi xưa quan
niệm, khi chỉ dùng “tay nghề” thi đấu, bên nào thua mới tâm phục khẩu
phục. Cho nên, những “đại ca” thời trước đều phải vừa gan lì, vừa phải
thường xuyên thao dợt võ nghệ, tập luyện thân thể, kể cả trong tù. Võ
của anh em hầu hết không theo một trường phái cụ thể nào, không nhằm muá
cho nhuyễn, “đi bài” cho đẹp, nhưng là những đòn thế giang hồ theo kiểu
tổng hợp “thập cẩm” chủ yếu là làm bất cứ cách nào hạ được đối thủ, sát
thương đối thủ như chơi.
Trong khi giới giang hồ bây giờ hở
một chút là “chơi hàng nóng”. Cụ thể như Bình Kiểm, mau chóng có số má
chỉ nhờ vào mấy khẩu súng. Hoặc Châu Phát Lai Em, nổi lên bước đầu nhờ
khích một tay đàn anh đấu võ tay không, riêng Lai Em lén giấu dao trong
áo, khi thấy nguy cơ thua liền rút dao đâm diệt đối thủ…
Thứ
ba, giang hồ ngày trưởc, dù đã lên đến hạng “đại ca” vẫn sẵn sàng trực
tiếp thi thố tài năng khi cần thiết. Đại Cathay khi cùng một lô tay em
lên Đà Lạt, gặp trùm du đãng xứ sương mù là Xi Rỗ, Đại Cathay chơi “pạc
co (par corps tức đấu tay đôi) liền, không chút sợ hãi (nếu là Năm Cam
hay Hiệp Phò mã, dám chắc cả hai bỏ chạy có cờ).
Thứ tư, ngày
trước đã mang danh dân giang hồ là phải “chơi đẹp”. Tất nhiên không
phải hiểu “chơi đẹp” theo nghĩa thông thường là chi tiêu hào phóng, rộng
rãi; mà là đối với bạn bè - dù bất cứ thành phần đối tượng nào đã kết
thân coi như bạn - phải đàng hoàng, không nói dóc, hứa cuội, mà giữ gìn
chữ tín, nể trọng lẫn nhau.
Mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ân
hận một chuyện: Khoảng đầu 1977 tôi gặp lại Huệ Râu, trước bị giam chúng
với tôi tại chuồng cọp khu C, trại 7. Anh em mừng mừng tủi tủi, ôn lại
đủ thứ chuyện hồi bị giam chung tại khu C trại 7 ngoài Côn Đảo. Thấy anh
gầy và xanh, tôi sực nhớ có nghe một cựu tù nhân kể anh chơi xi ke, tôi
hỏi nhưng anh chối. Tôi nói dứt khoát: “Nếu anh không chơi thứ đó thì
tốt. Nhưng nếu còn dính đến xì ke thì đừng gặp tôi nữa”. Từ đó tôi không
bao giờ gặp lại anh, sau này nghe tin anh chết mà vẫn không bỏ được thứ
ma tuý ấy. Phải chi lúc ấy tôi đừng quá “căng” hoặc Huệ Râu cứ nói dối
tôi có thể sự việc đã đổi khác. Tôi kết thân với anh em giang hồ cũ
chính là nhờ điểm này. Đến tận lúc chết, Lâm Chín ngón vẫn tự coi là
“đàn em” của tôi một cách rất thật tình.
Giang hồ thời nay không thiếu gì kẻ lừa thầy phản bạn, bán đứng anh em, từ “chơi đẹp” gần như đã chìm hẳn vào quá khứ.
Cũng chinh một phần nhờ “chơi đẹp” mà giang hồ năm xưa mới nổi đình
đám, được cảm tình của một số người, trong đó các doanh nhân, văn nghệ
sĩ, và cả một số lính, cảnh sát của chế độ cũ (như Lành là cảnh sát Tổng
nha theo làm tài xế cho Đại Cathay; Sáng và Cu Quì là người nhái làm
đàn em của Đại…).
Thêm một câu hỏi: Tại sao giang hồ Sài gòn
lại rộ lên, với khá nhiều đồn đại (đôi khi không có thực) vào quãng
1962-1967, để rồi tàn lụi? Những thế lực giang hồ về sau này không thể
có một vài phong cách hành xử “đẹp” như như Đại Cathay và đàn em trong
một số trường hợp, tại sao?
Có thể đưa ra hai lý do để tạm giải thích.
Thứ nhất, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, các tướng lãnh (nguỵ)
cũng như các chính trị gia khi ấy chỉ lo đấu đá, hết đảo chính lại
“chỉnh lý” rồi bầu cử (dỏm) để tranh chức tranh quyền, không mấy chú ý
đến trật tự an toàn xã hội. Tổng nha Cảnh sát chủ yếu lo đối phó với Mặt
trận Giải phóng miền Nam và đán áp sinh viên học sinh xuống đường, biểu
tình chống chiến tranh, chống Mỹ-nguỵ, mà lơ là số du đãng quấy phá.
Mãi đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống, thế chính trị đã tạm
ổn, mới quay ra lập ra “Uỷ ban bài trừ du đãng trung ương” thì giang hồ
đã đủ lông đủ cánh, thành một “thế lực” có tiếng tăm khá vang dội.
Thứ nữa, khoảng giữa những năm 1960 là lúc triết học hiện sinh của Jean
Paul Sartre ảnh hưởng khá nhiều đến miền Nam Việt Nam nói chung, giới
thanh niên nói riêng. Rất tiếc, quan niệm “dân thân” (s'engager) của nhà
triết học nổi tiếng người Pháp này lại bị hiểu theo một nghĩa khác là
“sống hết mình”, kể cả ăn chơi, trác táng cũng hết mình. Không ít thanh
niên - nhất là số có nền văn hoá từ trung bình trở xuống - đã thể hiện
quan niệm sai lệch này. Đồng thời đây phải chăng cũng là biểu hiện của
không ít thanh niên khi ấy bế tắc trước cuộc sống: Tương lai mình không
biết đi về đâu trước tình hình thối nát của chế độ miền Nam khi ấy,
trong khi không dễ gì tự mình tìm đến với cách mạng, và cũng không dễ gì
có gan đi theo cách mạng.
Suy cho cùng, giới giang hồ cũng
chỉ là một sản phẩm của xã hội. Chính xã hội bát nháo khi đó, với
“thượng tầng kiến trúc” là các “chính khứa” xôi thịt đấu đá nhau, tranh
giành quyền lực đã tạo ra lớp giang hồ ấy…
Tôi còn nhớ đoạn
được đoạn mất của một bài thơ sặc mùi “hiện sinh” mà Đại Cathay và Lâm
Chín ngón rất mê, học được khi “đoong thóc” (tức nằm hút thuốc phiện)
tại tiệm Khang Sinh (nằm gần khu Đại Thế Giới - vốn là nơi nhiều văn
nghệ sĩ và dân giang hồ thời trước thường lui tới), từng đọc cho tôi
nghe:
Hắn mái tóc nâu vương niềm đau thế kỷ
Quần blue jeans chung thuỷ bạc thời gian
Bastos xanh gắn chặt ngón tay vàng…
Theo thời gian hắn vươn mình cuồng loạn
Lớp trẻ đôi mươi hôm nay cởi mở lòng
Và trọn vẹn cho hắn sống
Dù mất hồn như François Sagan, David Victor,
Tương lai đâu?…
Hai giờ đêm có kẻ mất hồn
Hè đại lộ, bar, show, dồn dập on night
Lê gót giầy nghiến từng lưng phố sá
Crazy love, kêu em về mộng mị đắm say…
Tuy nhiên, cũng chính nhờ hiểu lõm bõm về Sartre, Albert Camus, Andre
Gide mà du đãng khi ấy còn ghi được một vài nét được gọi là “đẹp” của
giới giang hồ như trên đã viết: Họ muốn tự coi mình vốn là người đàng
hoàng, chẳng qua thời thế đưa đẩy mới trở thành giang hồ, và dù là giang
hồ vẫn có những hiểu biết nhất định về cách đối nhân xử thế.
Tiếc thay, vài nét được gọi là “đẹp” của giới giang hồ khi ấy cũng mai
một dần, biến tướng dần, trong khi những đặc trưng khác của xã hội đen
như cướp giật, thủ đoạn, tranh giành địa vị, thanh toán lẫn nhau, kết bè
kết phái, mua chuộc hối lộ… ngày càng phát triển; hầu như trở thành bản
chất của các băng nhóm tội phạm hiện nay - sau hơn 40 năm
Vũ Quang Hùng
HẾT
Nhận xét
Đăng nhận xét