KIẾP GIANG HỒ 11/a ("Giang hồ Sài Gòn")
(ĐC sưu tầm trên NET, http://tusach.mobi/)
V
Giang Hồ Đại Chiến
Ông chủ của những ông trùm
Du đãng Sài Gòn đụng dân chơi Đà Lạt
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Lời giới thiệu
ũ Quang Hùng làm báo từ rất sớm, lúc mái 19 tuổi ở Sài gòn (1964), từng
là chủ bút tạp chí Chân Lý của phong trào sinh viên - học sinh chống
chế do Sài gòn, sau đó có cộng tác với các báo Tia Sáng, Điện Tín (trước
năm 1975 ở miền Nam). Ông tham gia cách mạng và từng bị chế độ cũ đày
đi Côn Đảo từ năm 1973 đến tận ngày đất nước thống nhất.
Sau
ngày giải phóng, ông tiếp tục làm báo, lần lượt là phó Tổng biên tập báo
Công an TP.HCM, Tổng biên tập tạp chí Người Du Lịch, biên tập viên báo
Pháp luật TP.HCM. Quá trình làm báo dày dạn đã giúp ông có được các đầu
sách Tọa độ X (viết chung với Trần Tử Văn, NXB Văn Nghệ, 1992), Người
coi trời bằng nửa con mắt (NXB Trẻ, 2002) và Phóng sự điều tra (NXB Tổng
Hợp TP.HCM, 2003).
Sự tình cờ của sộ phận đã đưa ông vào
chung một tù với các tù hình sự thời chế độ cũ ở khám Chí Hòa rồi nhà tù
Côn Đảo. Từ đó ông đã quen khá nhiếu giang hồ cộm cán thời chế độ cũ -
thậm chí còn kết giao khá thân với một "đai ca" khét tiếng là Lâm Chín
ngón.
Tập Giang Hồ Sài Gòn mà bạn đọc đang cầm trên tay chính là bản tổng kết
về cả một thời dọc ngang của dân du đảng Sài gòn trước năm 1975. Nhưng
tên tuổi lừng lãy một thời như Đại Cathay, Huỳnh Tỳ; Wòng Cái, Lâm Thế
(Đại-Tỳ-Cái-Thế), Tín Mã Nàm, Lâm Chín ngón, Điền Khắc Kim... cũng xuất
hiện trong tập sách này, với nhiều thông tin lần đầu được công bố, in
sách. Một tư liệu đáng tin cậy của một nhá báo từng lăn Iộn trong nghề
nhiếu năm, về một mảng tối của miền Nam trước ngày 30-4-1975: cái gọi là
"xã hội đen", là du đảng đâm chém, giựt dọc... Tất nhiên, dù cố gắng
giữ sự khách quan của một người làm báo, đây vẫn là một góc nhìn cá
nhân, được thu thập qua nhiếu lời kể, không thể khái quát chính xác hoặc
đầy đủ hết về thực trạng này.Nếu được coi như một tài liệu tham khảo,
sẽ bổ sung thêm một góc của bức tranh toàn cảnh xã hội đầy biến động ở
miền Nam trước 1975.
Nhà Xuất Bản TRẺ &Tủ Sách Tuổi Trẻ
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương I
Hơn 50 năm trước - quãng đầu thập niên 1960 - Trương Văn Cam, tức Năm
Cam, còn đứng gác cửa và lắc tài xỉu cho Bảy Xi tại một sòng bạc trên
đường Lê Văn Linh, quận 4. Bảy Xi là anh vợ Năm Cam và cũng là trùm các
sòng bạc thuộc khu vực quận 4 và huyện Nhà Bè.
Nếu tính trùm
sòng bạc tại Sài gòn thời dó, còn có thể kể thêm Đực Bà Tiều (Đực là con
một phụ người Triều Châu - hay gọi là người Tiều) cát cứ khu vực chợ
Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối; và Tám Lâu đứng đầu các casino quanh đường
Nguyễn Công Trứ.
Tất cá các "trùm" trên đều phải chia lợi tức
cho Đại Cathay ông vua du đảng nổi tiếng nhất. Nhưng Đại Cathay không
chỉ sống nhờ lợi tức từ các sòng bạc. Một nguồn thu khác đều đặn và có
phần Iớn hơn nhiều của Đại Cathay là tiền bảo kê từ các nhà hàng; khách
sao, vũ trường... Ngoài ra còn có tiền của một số tay tài phiệt hoặc do
phải đóng "thuế giang hồ" hoặc do "ngưỡng mộ" Đại Cathay nên tự nguyện
chi trả (như trường hợp "vua kẽm gai" Hoàng Kim Qui chẳng hạn).
Toàn bộ số tiền thu được; Đại Cathay đứng trả lương cho bọn đàn em, mua
chuộc các quan chức (kể cá cảnh sát, trong số đó có Đại uý Trần Kim
Chi, Trưởng ban Bài trừ Du đảng, cánh tay phải của Thiếu tướng Nguyễn
Ngọc Loan, Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia khi ấy) và ăn chơi (nhất
là nhảy đầm tại các vũ trường lớn, "boa" cho các cô ca-ve. Đại Cathay
thường tự hào mình nhảy bê -bốp và cha-cha-cha rất đẹp).
Đám
đàn em thân tín nhất của Đại Cathay khi ấy có thể kể: A Chó, Hải Súng,
Lâm Khùng, Lương Chột, Hủng Đầu bò, Phong, Chương, Việt Parker...
A Chó làm kinh tài cho Đại với vai trò cố vấn kinh tế. Hải Súng là kẻ
trực tiếp nhận lệnh từ Đại rồi truyền xuống cho bọn đàn em thực hiện
(vai trò của y tương tự Thảo "ma" trong tổ chức của Năm Cam sau này).
Lâm coi như cận vệ của Đại, lúc này chưa mang tên Lâm Chín ngón (tại sao
Lâm có biệt danh này sẽ được giái thích sau). Hùng Đầu bò và Lương Chột
đóng vai trò "quân sư" cho Đại... Bọn còn lại hầu hết vừa là sát thủ
của Đại, vừa "ăn bay" - tức cướp giật bằng xe gắn máy với tốc độ cao.
Con mồi của chúng đa phần là những người vừa lãnh tiền ở ngân hàng ra,
bị chúng theo dõi, chó lúc thuận tiện liền ra tay cướp. Nếu bị rượt
đuổi, chúng dùng súng bắn trả quyết liệt.
Sự thực Đại Cathay
chưa bao giờ ra lệnh cho thuộc hạ sát hại bất cứ một người nào - và có
lẽ đây là điểm khác biệt Iớn nhất với trùm xã hội đen Năm Cam ba mươi
năm sau (Năm Cam sẵn sàng giết người dù kẻ đó là bạn cũ, đối thủ làm ăn,
hoặc kể cả nhân viên cộng lực dám ngáng đường hắn). Khi cần tấn công,
bất các băng nhóm khác qui phục để mở rộng địa bàn làm ăn, Đại và đàn em
cũng không bao giờ dùng súng (mặc dù, như trên đã nói; rất nhiều tay em
sát thủ của Đại có súng). Một phần vì chúng muốn tránh sự để ý của cảnh
sát nhưng nguyên nhân chính vì chỉ dùng sức mạnh với "tay nghề" lão
luyện khuất phục được đối thủ mới khiến bọn này thật sự "tâm phục, khẩu
phục".
Nhin bề ngoài, Đại Cathay dể chinh phục cảm tình người
đối diện: khá đẹp trai (cao l,64m), lại có vẻ trí thức chớ không hề bậm
trợn, ăn nói nhỏ nhẹ, nhã nhặn. (Năm 1966, khi bị giam tại Chí Hòa, Đại
Cathay ở phòng 3E4; tôi - khi đó cùng một số anh em sinh viên học sinh
bi biệt giam tại lầu 3D và được anh em bầu làm "trưởng phòng" – nhờ vậy
có thể đi lại tương đối thong thả trong khu ED vào giờ mở cửa biệt giam
nên có dịp qua lại thăm Đại Cathay nhiều lần và trò chuyện khá thân
mật).
Phần trên mới chỉ viết về các tay trùm vùng Sài gòn,
chưa hề nhắc tới khu Chợ Lớn. Khi đó đối với dân chơi, hai khu vực này
tách biệt hẳn và toàn bộ khu Chợ Lớn do các băng nhóm xã hội đen người
Hoa điều khiển.
(Khi xưa Sài gòn và Chợ Lớn có ranh giới là
đường Cộng Hòa - bây giờ là Nguyễn Văn Cừ - tiếp đó chạy dài theo đường
Lý Thái Tổ).
Nổi bật nhất trong đám xã hội đen người Hoa phải
kể đến Nàm Chảy tức Tín Mã Nàm. (Sau giái phóng, một phần cuộc đời của
Nàm Chảy
Được dựng thành tuồng cải lương “Tướng cướp Mã Ngưu”
do đòan Trung Hiếu của Công an Thành phố Hồ Chí Minh trình diễn, khá ăn
khách). Tín Mã Nàm hùng cứ khu Đại Thế Giới - khi ấy là khu sòng bạc ăn
chơi nổi tiếng nhất của cả miền Nam, nay đã bị phá bỏ, xây lại thành
Trung tâm Văn hóa quận 5, nằm tại góc đường Trần Hưng Đạo – Trần Phú.
Cầm đầu vùng An Bình là Hải Phòng Kin. Còn “lãnh chúa” khu Lido-Đồng
Khánh (1) là Quảy Thầu Hao (tức Quỉ Mặt Đen); và còn phải kể thêm Sú
Hùng “chuyên trị” các đoàn múa lân.
Nhân đây xin giải thích
thêm, nhiều người không rõ lắm về giới giang hồ cho rằng cầm đầu miệt
Chợ Lớn là Mã Thầu Dậu. Thực ra Mã Thầu Dầu chỉ là danh từ chung chỉ đám
dân chơi (Mã Thầu = mã đầu, tức đầu ngựa; ý nói đám đầu trâu mặt ngựa)
mà không hề nhắc đến một cá nhân cụ thể nào.
Tuy nhiên, xã
hội đen Chợ Lớn khác Sài gòn ở chỗ họ không chỉ bao thầu các sòng bài,
bảo kê nhà hàng, vũ trường, khách sạn... mà còn ăn tiền cống nạp của
nhiều cơ sở sản xuất hàng giả và kinh doanh trốn thuế. Nguồn thu từ hai
đầu mối sau cùng này rất nhiều vì vào thời điểm ấy Chợ Lớn nhan nhản
hàng giả, hàng nhái, làm lậu (chẳng thế từng có câu "Hồng Kông bên hông
Chợ Lớn).
Bọn họ còn giỏi về mua chuộc, hối lộ. Thiếu tá (sau
lên trung tá) Trụ, Trưởng ty Cảnh sát quận 5, bị mua đứt, chẳng bao giờ
ra lệnh điều tra các hoạt động mờ ám của đám xã hội đen (nếu có nhúng
tay thì chỉ để bênh vực họ).
Một số tay tài phiệt Chợ Lớn, để
việc làm ăn được thuận lợi, hàng tháng đã gom tiền “cống nạp” cho họ
một cách tự nguyện, cụ thể như Lý Long Thân, Mã Hỉ... nên cuộc sống của
dân giang hồ Chợ Lớn tương đối thong thả, ung dung, ít phải “ăn bay” để
kiếm thêm tiền tiêu xài và do đó cũng ít “sóng gió” hơn so với mạn Sài
gòn. Ít ra là đến khoảng đầu năm 1964...
Vào khoảng thời gian
này, thế lực của Đại Cathay có thể nói đã tới hồi cực thịnh dù Đại chưa
đến 25 tuổi. Quân tướng dưới trướng Đại từ các nơi qui tụ về đông đúc
đến hàng ngàn, riêng số sát thủ cũng kể tới số trăm. “Đông, vui nhưng
hao”, càng nhiều binh tướng càng khó phân chia lời nhuận và một ngày đẹp
trời nọ, cố vân kinh tài A Chó hiến kế với Đại Cathay:
“Vùng
Sài gòn chúng ta đã khai thác gần hết tiềm năng rồi. Nay muốn khắm khá
chỉ còn cách duy nhất là lần qua địa bàn Chợ Lớn. Bên ấy kinh tế phát
đạt, dân người Hoa lại dễ bắt naạ. Nếu chúng ta mở rộng được thế lực qua
ngả Chợ Lớn thi khỏi lo gì tiền bạc, có thể tính kế làm ăn lâu dài.”
Đại Cathay càng nghĩ càng thấm thía gợi ý của quân sư A Chó. Hơn nữa
đây còn là dịp để Đại phô trương thanh thế, “thống nhất giang hồ thành
một cõi”, nên dù biết đụng đến đất làm ăn của dân chơi người Hoa không
phải dễ xơi, thậm chí máu đổ đầu rơi, cuối cùng Đại Cathay vẫn gật đầu
đồng ý.
Và, thế là vụ tranh giánh "lãnh thổ" lớn nhất, cuộc
chiến hao binh tổn tướng nhất và kéo dài nhất trong lịch sử giới – Chợ
Lớn từ xưa đến nay bắt đầu...
Đại, Tỳ, Cái, Thế
Nhưng trước khi đi vào tình tiết cụ thể, xin vắn tắt nói thêm về bốn tay
"đại cao thủ võ lâm" đã thành danh trên chốn gian hồ hơn 30 năm về
trước: Đại, Tỳ, Cái, Thế.
Đại Cathay vừa được đề cập khá kỹ
và tay trùm du đãng này đã đi vào "Lịch sử dân chơi" với nhiều huyền
thọai pha lẫn thực tế, kể cả cái chết bí ẩn của anh ta (có thể coi bài
tiếp theo "Cái chết của Đại Cathay" trong tập sách này).
Có
điều ít người biết hồi nhỏ Đại Cathay từng bị bắt nhốt vào trường giáo
dục thiếu niên. Tại đây, Đại đã nổi tiếng liều lĩnh, trong một lần cướp
sòng bạc (chơi ban đêm, dưới ánh đèn dầu ngay trong trại), Đại tung mền
úp đèn, quơ tiền, ai dè mền bắt đầu bóc cháy, quấn vào ngang người dưới
của Đại khiến anh ta bị phỏng khá nặng nguyên phần từ bụng dưới trở
xuống.
Tỳ vốn là võ sư, tên thật Huỳnh Tỳ, trước hùng cứ tại
rạp Olympic, đường Hồng Thập Tự (nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM, số 97
đường Nguyễn Thị Minh Khai) - nơi đòan Kim Chung "Tiếng Chuông Vàng"
dùng làm rạp hát (sau 1975, Tỳ đã vào chùa thấp nhang thề từ bỏ chốn
giang hồ, về nhà lám nghề mua bán và sau đó vẫn giữ được lời thề).
Cái họ Wòng vốn gốc là dân Nùng; còn Thế tên thật Lâm Thế, thường gọi
Ba Thế. Khi ấy Cái và Thế cùng nhau coi khu vực từ Lê Lai dọc qua ngã tư
Quốc tế đến khu Dân Sinh (Wòng Cái chết trong thùng xe bánh mì sau bệnh
viện Sài gòn vì bị ma túy hành hạ trong đêm Noel 1978. Còn Ba Thế tập
hợp số đàn em còn rơi rớt lại tính "cướp cú chót" vào thời gian gần Tết
Trung thu năm 1976, nhưng vụ cướp không thành và Ba Thế bi bắt, số phận
sau ra sao không rõ).
Vào thời điểm Đại Cathay tính “bành
trướng lãnh thổ” sang khu Chợ Lớn, cả ba cao thủ Tỳ, Cái, Thế đều đã qui
phục Đại, thêm vào đó là hai tay sừng sỏ khác: Của Gia Định, trùm du
đảng khu Gia Định mênh mông với biệt danh “hùm xám Gia Định” và Minh
Casino, vốn cầm đầu rạp Casino và luôn cả khu vực quanh chợ Bến Thành.
Xin nhắc lại, nghe theo lời quân sư Chó (hay goi A Chó vi Chó góc người
Hoa), để mở rộng địa bàn, Đại Cathay dùng "tiên lễ hậu binh". Trước
hết, Đại Cathay lần lượt gặp các trùm dăn chơi người Hoa, phân tích tình
hình và nói chuyện phải quấy, hy vọng qui tụ toàn bộ giới –Chợ Lớn về
một mối duy nhất.
Đánh giá sơ bộ các đối thủ, theo phương
châm "dễ trước, khó sau", Đại Cathay lần lượt cử người gặp Hải Phòng
Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng.
Phần vì đã nghe danh tiếng Đại
Cathay, phần thông cảm với “đồng nghiệp”, phần nữa cũng ngại đụng chạm,
cả Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng đều đồng ý cho Đại "góp phần
hùn" (tượng trưng, thực tế chỉ bằng miệng) vô khu ăn chơi giải trí Chợ
Lớn và chia tỉ lệ phần trăm cho dân chơi Sài gòn.
Bây giờ mới tới “khúc xương khó nhá” nhất: Tín Mã Nàm.
Khu vực Đại Thế Giới của Tín Mã Nàm vốn đã nỗi tiếng từ thời Pháp
thuộc, đến lúc Bình Xuyén quản lý lai càng mở mang phát triển hơn. Chỉ
duy nhất thời Ngô Đình Diệm ra lệnh dẹp "tứ đổ tường" (cờ bạc, trai gái;
thuốc sái, rượu chè), Đại Thế Giới thọat đầu co cụm lại. Nhưng chính
phủ Ngô Đình Diệm vừa đổ, Đại Thế Giới không những chỉ trở thành sòng
bài lớn nhất miền Nam mà còn vang danh cả khu vực Đông Nam Á. Tiền bạc
vô như nước, đương nhiên bọn đứng "mặt rô" phải đông. Dưới trướng Tín Mã
Nàm là một doc các "cao thủ" với cánh tay phải là Xú Bá Xứng chuyên coi
về tài chánh, cờ bạc; về đâm thuê chém mướn phải kể đến Bắc Kỳ Chảy và
Cọp Chảy đứng đầu bảng bảo kê. Nhất là Bắc Kỳ Chảy vốn là dân gốc người
Nùng từ Móng Cái di cư vào đầu quân cho Tín Mã Nàm.
Hầu hết
băng bảo kê Đại Thế Giới xuất thân từ các võ sĩ ở đội múa lân, ai nấy
đều tinh thông quyền cước, dao, kiếm, giáo, côn; cả nội công lẫn ngọai
công không phái tầm thường.
Ỷ vào binh hùng tướng mạnh, vả lại quyền lợ quá lớn mà lòng tham vô đáy, Tín Mã Nàm gạt phăng đề nghị của Đại Cathay:
- Ở lây anh em lông lắm, chia phần lâu còn đủ ăn.
Lần đầu tiên bị từ chối thẳng thừng, Đại Cathay lên giọng đe dọa:
- Không chia phần tôi, e sẽ xảy ra chiến tranh và bất lợi cho Nàm Chảy đấy.
Ai dè Tín Mã Nàm không những không lộ vẻ sợ hãi má còn thách thức:
- Muốn lánh thì lánh. Ngộ lâu có ngán!
Kịch chiến mở màn
Cả hai bên đều biết “chiến tranh” là điều xảy ra nội nhật nay mai, nên
đều tích cực chuẩn bị cho trận sống mái. Phía Tín Mã Nàm đương nhiên
thiên về thế thủ. Tất cả các sạp báo, quán ăn, tiệm cà-phê quanh khu vực
Đại Thế Giới đều biến thành chỗ cất giấu vũ khí. Không bao giờ đàn em
dưới trướng Tín Mã Nàm đi hoặc ngồi quán một minh hoặc đôi ba người, mà
luôn từ năm-bảy người trở lên, sẵn sàng ứng cúu lẫn nhau.
Còn
Đại Cathay lập tức triệu tập binh tướng, lên kế hoạch tập kích. Ba Thế
mới về đầu quân cho Đại Cathay chưa bao lâu, chưa lập được chiến cống
hiểh hách náo, hăng hái:
- Để thằng Bắc Kỳ Chảy cho tôi!
Tuy là một trong "tứ đại cao thủ" nhưng Ba Thế trắng trẻo, đẹp trai,
từng được hề Ba Hội đoàn Kim Chung đặt biệt danh “bạch diện thư sinh”
nên Đại Cathay ngần ngại:
- Thằng Nùng đó ghê lắm. Bọn Nùng
di cư toàn đi lính nhảy dù và thiết giáp... Thôi được, thằng Lâm phải
theo sát hỗ trợ cho Thế!
"Giờ" G" được xác định là khoảng 9
giờ sáng – giờ băng Tín Mã Nàm thường tụ tập ăn điểm tâm tại các tiệm,
quán phía trước Đại Thế Giới.
Vậy là một buổi sáng đẹp trời
nọ, trên 100 “giang hồ hảo hớn” rần rần rộ rộ kéo đến khu vực Đồng Khánh
(nay là Trần Hưng Đạo B) – Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú) – Nguyễn Tri
Phương. Đạo quân do đích thân Đại Cathay dẫn đầu, có đủ mặt anh hào:
Huỳnh Tỳ, Wòng Cái, Lâm Thế, Hải Súng, Lâm, Chương Khùng, Việt Parker,
Của Gia Định, Minh Casino... Hai xe hơi du lịch và máy chục xe gắn máy
hiệu Gobel, Push, Brumi, Ishia (hồi ấy chưa có xe gắn máy Nhật, mà chỉ
toàn xe máy hiệu Sach của Đức) chở đôi phóng như bay, bất ngờ đồng loạt
thắng lại trước khu Đại Thế Giới. Các thanh niên trên xe nhào xuống, ai
nấy kẻ rút đao, kiếm; người móc côn, lưỡi lê, ào vô các tiệm quán bên
đường, cứ nhè các thanh niên đang ngồi uống cà-phê hay ăn hủ tíu mà đâm,
chém tới tấp bất kể đó có phải đám lâu la của Tín Mã Nàm hay không.
Sau một thoáng ngỡ ngàng, nhóm thanh niên này lập tức trấn tĩnh lại, hò
hét lấy khí thế, chạy vô phía trong quán, cũng lấy đao, kiếm, côn nhị
khúc... cất giấu sẵn, múa may đánh trả không chút sợ hãi. Bà con bán
quán vốn quen biết đám Đại Thế Giới, lại cũng gốc người Hoa, nên ủng hộ
"bồ nhà" vỗ tay và la lối trợ oai vang dội cả mấy con đường. Cuộc chiến
chỉ mới bắt đầu coi mòi đã căng thẳng, khó phân thắng bại.
Trong lúc hai bên kịch liệt giáp chiến, Ba Thế đảo mắt tìm Bắc Kỳ Chảy.
Kia rồi! Đối thủ của hắn đang cầm một thanh "mã" vung loang loáng, chỉ
huy một nhóm năm tên tả xung hữu đột. Ba Thế cầm đao xộc thẳng tới trước
mặt Bắc Kỳ Chảy, quát lần:
- Mày ngon đấu tay đôi với tao!
Bắc Kỳ Chảy không thèm trả lời, chỉ "hú" một tiếng, múa thanh mã xông
lại đón đường đao của Ba Thế. Qua lại được vài hiệp, đám giang hồ do Lâm
dẫn đầu ùa tới khiến Bắc Kỳ Chảy không dám nghênh chiến nữa, bỏ chạy.
Đang hăng, Ba Thế rượt đối thủ bén gót. Hinh như đã có chủ ý, Bắc Kỳ
Chảy chạy tát vào rạp hát Hào Huê (nay là rạp Nhân Dân nằm trên đường
Trần Phú, gần góc đường Trần Hưng Đạo). Đời nào để con mồi thoát thân,
Ba Thế lao theo. Ai ngờ hắn vừa lọt vô rạp hát thì nghe đánh rầm ở phía
sau: Hai tên đàn em Bắc Kỳ Chảy phục sẵn ngay tại phía trong cửa rạp hát
đã kéo cửa sắt, khiến cả bọn lâu la của Ba Thế rớt lại phía ngoài cửa!
Thấy đối thủ đã sa bẫy, Bắc Kỳ Chảy vung thanh mã tấu, cười gằn:
- Phen nay nị chết nhen con!
Hai tay đàn em của gã ngườl Nùng cũng kẻ rút côn nhị khúc, đứa cầm kiếm
lăm lăm, sấn tới. Ba Thế hốt hoảng lượng định tình thế, áp sát lưng vô
tường làm điểm tựa, xuống tấn, cầm ngang dao thủ thế, chân không ngừng
di chuyển dần lại phía cửa sắt...
Phía ngoài, Lâm đã đuổi tới
rạp Hào Huê, nhưng cánh cửa sắt đã khép lại, hắn chỉ thấy phía trong Ba
Thế một chống ba, tính mạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc. Lâm
nhanh trí, lấy đầu nhọn con dao phở mà hắn dùng làm vũ khí lách vô dưới
khẻ hở chốt cửa, khẽ nâng lên.
"Tách" một tiếng, chốt đã nâng
lên, Lâm vừa đưa tay trái kéo cửa sắt mở ra thì nghe sau gáy lạnh buốt:
Một nhát kiếm đã chém trúng sau đầu hắn. Lại nghe tiếng quát phía sau,
mũi con dao phở vẫn còn dính trong kẹt cửa khiến tay phải Lâm không thể
nào quài dao lại đở, hắn đành liều mình, buông tay trái đang vịn cửa lên
che ót. Lưỡi kiếm bén ngót lần này tiện đứt lìa ngón tay cái của Lâm
(và Lâm mang biệt danh Lâm Chín ngón kể từ đó).
Bên trong rạp
Hào Huê, Ba Thế không bỏ Iỡ cơ hội, nhanh chóng thoát ra ngoài, vừa kịp
lúc đám giang hồ Sài Gòn hàng chục người xông tới tiếp cứu khiến nhóm
Chợ Lớn phải tháo lui, tẩu tán vào các hang cùng ngõ hẻm và các nhà,
quán quen thuộc, trong phút chốc biến mất sạch!
Hậu quả của
trận thư hùng mở màn cho giới giang hồ hai phe Sài gòn – Chợ Lớn này là
mỗi bên đều có khoảng trên dưới 20 người bi thương nặng nhẹ, tuy nhiên
không ai tử thương.
Đàn em của Đại Cathay bi thương được đưa
vô điều trị tại các bệnh viện Chợ Rẫy và Nguyễn Văn Học (nay là bệnh
viện Nhân dân Gia Định); còn đám lâu la bị thương của Tín Mã Nàm vô nằm
tại các bệnh viện Triều Châu, Quảng Đông; Phúc Kiến... ở vùng Chợ Lớn.
Qua trận kịch chiến đầu tiên bất phân thắng bại này đôi bên đều thấy rõ
hơn thực lực của mình và chỗ sở trường, sở đoản của đối phương.
Phía Sài Gòn biết họ quân binh đông đúc hơn hẳn; lại nắm thế chủ động
tấn công, nhất là về thời gian, thích đánh lúc nào thì đánh. Nhưng đối
thủ lại dễ dàng lẫn tránh, khi nào thấy "chơi" được thì mới đánh trả, hễ
coi mòi nguy hiểm là chúng "lặn" mất tăm!
Biết phe mình yếu
thế hơn, Tín Mã Nàm lo thế thủ là chính: Tại bất kỳ sạp báo, tiệm hủ
tíu, quán cà-phê nào ở trước Đại Thế Giới và khu Khoái Lạc (nằm kề rạp
Hào Huê) cũng là "kho" cất giấu kiếm, đao, mã tẩu; côn nhị khúc, để nếu
cần lấy ra "chơi" liền. Lâu la của hắn không bao giờ đi lẻ tẻ; luôn ngồi
uống nước, ăn sáng phải tụ hàng chục người trở lên. Bà con người Hoa
cũng tỏ ra sốt sắng ủng hộ "người nhà": Khi thấy bóng dáng thanh niên
nghi là băng Đại Cathay, họ lập tức báo động; đồng thời gõ nồi niêu,
khua xoong chảo cũng hò hét trợ oai.
Bên Tín Mã Nàm còn lợ
dụng “chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”, địa hình địa vật quen thuộc;
cứ sử dụng phục binh theo kiểu “du kích” tuy không dám tấn công nhưng
giữ thế thủ cho chắc thì không dễ gì thất bại - không khác nào kiểu Tư
Mã Ý phe Bắc Ngụy chống Khổng Minh phe Thục trong Tam Quốc diễn nghĩa,
tuy Ngụy đánh không thắng nổi quân Thục, nhưng hễ quân Thục kéo đến thì
phải chịu bại trận, rút lui.
Về “chỗ dựa lưng” - đám cảnh sát
ngầm ủng hộ - đôi bên cũng ngườl tám lạng, kẻ nửa cân. Nếu Đại uý Chi,
Trưởng ban Bài trừ Du đãng Tổng nha Cảnh sát, ủng hộ Đại Cathay; thì Tín
Mã Nàm có Thiếu tá Trụ, Trưởng ty Cảnh sát quận 5, hết lòng hổ trợ.
Lần đầu đích thân xuất tướng thất bại, Đại Cathay vô cùng bực bội. Tay
trùm du đảng Sài Gòn này quyết không chịu bỏ dở kế hoạch ban đầu, tổ
chức thêm mấy trận đánh nữa – bất ngờ hơn, với lực lượng cơ động hơn và
ít người hơn - nhưng trận chiến vẫn chỉ ở thế giằng co. Tuy nhiên, rõ
ràng cuộc chiến càng kéo dài càng gây bắt lợi cho cả đôi bên.
Giữa lúc ấy, cả hai phe đều có tinh huống diễn biến mới.
***
Tín Mã Nàm đọat vợ em út
Xin kể trước về tình huống Tín Mã Nàm khi ấy, trước hết là về bản thân tay trùm du đãng người Hoa này.
Tín Mã Nàm tướng người vạm vỡ, mặt rắn đanh, đặc biệt cặp mắt vừa có
uy, vừa sắc lạnh khiến bọn đàn em rất nể sợ Mỗi khi Nàm Chảy bước chân
tới đâu, bọn đàn em xếp re đến đó. Sòng bạc đang ồn ào sát phạt, Nàm
Chảy vừa bước vô, hầu như chỉ còn nghe tiếng động duy nhất là tiếng đổ
hột xí ngầu (con xúc xắc).
Năm ấy Tín Mã Nàm trên 30 tuổi, đã
có vợ con, và bồ bịch tùm lum; tuy vậy hắn thuộc loại háo sắc nên hể
thấy có gái nào vừa mắt, hắn đã "chấm" thì không dễ gì lọt qua tay hắn.
Như trên đã nói, cánh tay phải của Tín Mã Nàm là Xú Bá Xứng chuyên tổ
chức cờ bạc, coi về tài chính. Xú Bá Xứng có cô vợ mói cưới, vừa trẻ vừa
rất đẹp tên Ái Huê. Ái Huê nguyên là một nghệ sĩ trong đòan hát Hồng
Kông qua Chợ Lớn biểu diễn. Xú Bá Xứng đi coi hát, mê tít Ái Huê; mới
tới sau khi vãn hát đều mời cô đi ăn, tặng cô hột xoàn, dây chuyền, vòng
đeo tay... không thiếu thứ gì. Cuối cùng Ái Huê "đáp lại tình yêu", ở
lại Việt Nam, trở thành vợ của Xú Bá Xứng.
Không hiểu trời
xui đất khiến ra sao, Tín Mã Nàm gặp Ái Huê và đâm ra... khoái có vợ của
tay đàn em này. Thế là Tín Mã Nàm kiếm cách trừ khử Xú Bá Xứng, chiếm
đọat bằng được Ái Huê. Hắn liền dựng chuyện, vu cho Xú Bá Xứng tội "biển
thủ" thu tiền sòng bài không nộp đủ cho hắn mà giữ lại làm của riêng.
Mặc dù Xú Bá Xứng chối dài và không hề có bằng chứng cụ thể nào, Tín Mã
Nàm vẫn hành xử theo kiểu giang hồ: Tự tay đánh Xú Bá Xứng ngay trước
mặt bọn đàn em để lấy le và "làm gương", khiến Xú Bá Xứng gãy mấy xương
be sườn, hộc máu mồm, phải vô nằm bệnh viện.
Bọn đàn em đều
biết thừa lý do đích thực khiến Xú Bá Xứng bị đánh đến thừa sống thiếu
chết, nhưng không một ai dám can thiệp, tuy nhiên uy tín của Tín Mã Nàm
qua vụ này xuống thấp thấy rõ.
Đại Cathay đánh Trưởng ty Cảnh sát quận 1
Trong khi ấy, Đại Cathay phải trốn chui trốn nhủi cá tháng trời sau vụ đánh Iộn với Cò Ly.
Cò Ly mang Ion đại uý, khi ấy là Trưởng ty Cảnh sát quận 1, nổi tiếng về nhiều mặt.
Trước hết, nổi tiếng về ăn chơi, nhảy đầm. Có thể nói tất cả các nhà
hàng, vũ trường trong địa bàn quận 1. Cò Ly đều đã đặt chân tới. Nơi nào
được Cò Ly đến thăm, nơi đó coi như vinh hạnh nhờ được "chiếu cố" chủ
quán, tiệm chẳng khi nào dám tính tiền. Đã vậy, Cò Ly đâu bao giờ đi một
mình. Hắn không dùng xe jeep đi nhảy đầm bao giờ, mà chạy chiếc xe hai
bánh Harley Davidson kềnh càng có ghế dựa, theo sau là bốn-năm cận vệ
súng ống đầy mình.
Thứ hai là nói tiếng về tài bắn súng ngắn.
Cò Ly luôn mặc áo sơ-mi ca-rô, quần jeans xăn ống, khẩu ru-lô xệ bên
hông bắt chước theo kiểu Lucky Luke nổi tiếng trong các tập truyện
tranh. Hể nhậu sương sương là Cò Ly móc súng ra bắn biểu diễn. Được cái
chẳng bao giờ Cò Ly bắn ai bị thương, mà chỉ nhắm đích là bóng đèn hoặc
chai bia, có thể nói bách phát bách trúng.
Cho nên, trong địa
bàn quận 1 khi ấy, từ các chủ quán ăn, vũ trường, cho đến dân giang hồ
và cá lính Mỹ, ai cũng vừa sợ vừa ghét Cò Ly.
Tối hôm ấy, gần
ngày lễ Noel, khi Cò Ly cùng bọn cận vệ đếnn vũ trường Tự Do nhảy đầm,
thì ở bàn bên kia Đại Cathay và gần chục đàn em đã ngồi yên vị. Ngồi kế
bên Đại Cathay tối hôm ấy là Sáng và Cu Quì - cả hai đều là người nhái
Hải quân. Trong bàn tiệc lại có cả Trung úy Ý thuộc Tổng Tham mưu và Tâm
nhà báo, là cháu bá Bút Trà, chủ nhiệm báo Sài GònMới.
Nháy
nhót, bia bọt một chập coi bộ đã hơi xỉn, Cò Ly móc súng toan bắn biểu
diễn chơi thì Trung úy Ý, vốn là chỗ quen biết, đến ngăn lại:
- Cò Ly ơi, ông mà nổ súng khách khứa sợ bỏ đi hết mất.
Cò Ly vênh váo:
- Nơi nào được tôi tới chơi là vinh dự lắm, sao lai bỏ đi, bộ không nể mặt tôi sao?
Ý kéo Cò Ly qua bán Đại Cathay, nhẹ nhàng:
- Ai má dám không nể Cò Ly ? Anh em đây đều nghe danh ông cả má.
Nghe khen phình mũi, Cò Ly bật cười hô hô làm Đại Cathay nóng mặt, chen ngang:
- Thì tướng ông Cò Ly y như cao bồi Texas, gặp đâu bắn đó là đúng rồi!
Giọng khiếu khích khiến Cò Ly nổi nóng chỉ ngay mặt Đại, quát nạt ra chiều hạch hỏi:
- Ê, thằng này là thằng nào?
Thực ra, vốn thừa biết Đại Cathay lừng danh trùm du đảng, nên Cò Ly
miệng hỏi, tay móc khẩu ru-lô. Đã đề phòng trước, và đã biết tài xạ thủ
của Cò Ly, Đại Cathay nhanh như chớp xô ghê đứng bật dậy, khuỷu tay phải
lập tức co lại, giật hậu trúng ngay quai hàm Cò Ly khiến tay đại uý
cảnh sát láo đáo, thì Đại Cathay đá nhanh như sóc nhảy phóc chỉ ba bước
tớ cầu thang, tuôn chạy bất kể hai-ba bậc thang xuống tầng dưới. Bon cận
vệ Cò Ly vội rút súng cầm tay. Phía bên kia, nhóm Sáng, Cu Quì cũng lăm
le "chó lửa", sẵn sàng chơi lại. Trung úy Ý và Tâm nhà báo hốt hoảng ra
sức cản ngăn đôi bên, trong khi phía dưới kia Đại Cathay đã lên xe gắn
máy, ung dung vọt mất dạng.
Sau vu này, Cò Ly "quê cơ," lớn
tiếng tuyên bố "hễ có Cò Ly ở quận 1 thì không có Đại Cathay", đông thời
thách thức Đại Cathay đấu súng tay đôi theo kiểu cao bồi Mỹ hồi thế kỷ
19! Theo đó, Cò Ly sẵn sàng cởi bộ sắc phục cảnh sát, chấp Đại Cathay
lựa chọn địa điểm và thời gian. Giới giang hồ hả hê, chủ các nhà hàng,
vũ trường khoái chí, ngầm ủng hộ Đại Cathay, còn riêng tay trùm du đảng
phái "chém vè" trốn biệt, nhờ Đại uý Chi đứng ra giàn xếp.
Đại uý Chi con nhà giàu, du hoc ở Pháp về, nguyên là sĩ quan nhảy dù,
được Nguyễn Ngọc Loan khi làm Chỉ huy trưởng Tổng nha Cảnh sát Quốc gia
kéo về phong chức "Trưởng ban Bài trừ Du đảng". Cũng cở tuổi với Đại
Cathay, cũng phần nào nể vì tay giang hồ này, cả hai thường cập kè đến
các vũ trường và nhiều chốn ăn chơi khác. Có lần Chi tâm sự với Đại
Cathay nói một mặt ông ta mến mộ Đại,, mặt khác có nhiệm vụ phải bắt Đại
nên lúng túng rất khó xử. Chính vì vậy, Đại Cathay cũng phần nào kính
nể Đại uý Chi.
Rất khéo, Chi nói với Cò Ly, Đại Cathay vốn
biết Cò Ly bắn súng rất giỏi, sợ nếu súng đã rút khỏi bao thì Đại ắt bị
hạ nên bất đắc dĩ mới phái hành động trước, còn như đấu súng tay đôi thì
Đại xin chịu thua trước còn hơn.
Được khen mát mặt, Cò Ly
nguôi ngoai cơn giận, đồng ý cho Đại Cathay về lại quận 1, nhưng phải
chịu hình phạt về tội "khi quân" (!): Cấm Đại Cathay đặt chân tới một số
vũ trường mà Cò Ly thường lui tới.
Dàn xếp êm xuôi, Đại Cathay lại nghĩ tới khu Đại Thế Giới mà lòng tức anh ách. Quân sư A Chó liền trình bày kế hoạch mới...
Chú thích:
1. Nay là khu vực Trần Hưng Đạo B.
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương I (B)
Nắm chắc tình hình của Tín Mã Nàm, A Chó kể với Đại Cathay rằng từ sau
khi đọat vợ của tay đàn em Xú Bá Xứng, Tín Mã Nàm đang mất dần uy tín.
Đã thế, sau khi đánh Xú Bá Xứng phải nằm bệnh viện; Tín Mã Nàm ngày càng
lộng hành. Trong dịp mừng kỷ niệm khu Đại Thế Giới mới đây, hơn 10 con
lân được mời đến giúp vui. Tất cả bầy lân phải phủ phục dưới chân ghế
Tín Mã Nàm, chờ hắn vẫy tay ra hiệu mới được đứng lên để bắt đầu biểu
diễn. Có một tay cầm đầu lân đi sai bộ, liền bị Tín Mã Nàm bước tới đá
ngay tại chỗ. Bởi thế, theo A Chó, có thể nhờ "ông chủ" giúp khử Tín Mã
Nàm.
Đại Cathay ngạc nhiên hói:
- Ông chủ nào?
- Chính ngộ cũng không rành. Chỉ biết mọi người thường gọi ông ấy là Xí
Ngàn. Trên danh nghĩa, ông là chủ tiệm thuốc Bắc lớn nhất khu Chợ Lớn,
kế bên Đại Thế Giới. Nhưng tất cả giới tài phiệt, chính khách, dân biểu,
giang hồ người Hoa ở Chợ Lớn đều gọi Xí Ngàn là "ông chủ" kể cả Quảy
Thầu Hao, Hải Phòng Kin, Sú Hùng và luôn cá Tín Mã Nàm, tuy ông không
trực tiếp xếp sòng ở bất cứ khu vực nào.
- Xí Ngàn quan hệ với Đại Thế Giới ra sao?
- Ngộ hỏng biết. Toàn bộ dân làm ăn ở Đại Thế Giới cũng gọi ông là "ông
chủ" luôn. Chỉ biết ông chủ đi Hong Kong, Ma Cao, Đại Loan như đi chợ,
ra vô Tổng nha Cảnh sát, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo như ra vô nhà
riêng. Mỗi tháng ông ở Sài Gòn chi khoáng một tuán. Có ngưới nói ông
là... CIA!
Đại Cathay háo hức:
- Vậy làm cách nào gặp được "ông chủ"?
- Ngộ quen biết mấy đàn em thân tín của ông là bọn Tào Chanh, A Hỏi, A Cham... Để ngộ nhờ bọn chúng báo với ông chủ.
Hơn một tuần sau, Đại Cathay được A Chó báo tin "ông chủ" vừa từ Hong
Kong về, đã nhận lời tiếp Đại vào sáng hôm sau. Biết trước buổi "ra mắt"
này vô cùng quan trọng, Đại Cathay chuẩn bi rất kỹ ngay cá từ hình
thức: mặc áo sơ-mi trắng, quần jeans xanh, đi xăng-đan "Dada" (tiem giầy
ở Tân Định, đang là mốt (mode) vào thời gian ấy), lại đeo thêm cặp
kiếng trắng gọng đen cho ra vẻ "trí thức" - kiếng không độ vi Đại Cathay
không hề bị cận thị hay viễn thị.
Đi tháp tùng Đại, ngoài A
Chó còn có thêm ba thủ hạ thân tín: Hải Súng, Lâm Chín ngón và Lành.
Lành đang là nhân viên cảnh sát tại Tổng nha Cảnh sát nhưng lại khoái du
đảng nên đi theo làm đệ tử cho Đại Cathay. Khi ấy Đại mới tậu chiếc xe
bốn bánh Mustang hai màu xanh-trắng loại décapotable (có thể hạ mui
xuống) trông rất oai, kêu Lành làm tái xế.
Doc đườngg, A Chó còn căn dặn Đại Cathay thêm lần nữa:
- Cái Iầy gặp "ông chủ" nhớ nói cho khéo. Ông mà gật đầu thi coi như thắng trận này trên 70 phần trăm.
- Còn nếu "ông chủ" lắc đầu?
- Thi... hỏng pét!
Hải Súng vốn hay giởn mặt, chen vô:
- Thi "chơi" luôn "ông chủ".
Đại Cathay quát:
- Không phải chuyện giởn, đừng đùa mất mạng nghen con. Tới nơi mày phải ngồi im cho tao.
Bị Đại ca mắng, Hải Súng le lưỡi ngồi im thin thít như mèo bi cắt tai.
Xe hơi ngừng ngay trước Đại Thế Giới. Tào Chanh đã đứng dợi sẵn. Trạc
ngoài tam tuần, tướng sang trọng, da dẻ trắng trẻo, đẹp trai như tài tử
xi-nê Hong Kong, Tào Chanh có bí danh "Quỉ Cốc tiên sinh" được coi là
thư ký riêng của Xí Ngàn. Ông ta dẫn Đại Cathay và đám thủ hạ qua thẳng
tiệm thuốc Bắc kế bên, lịch sự mời mọi người ngồi chờ vài phút, "ông
chủ" sẽ ra tiếp.
Cả bọn hồi hộp ngồi xuống bộ ghế xa-lông
theo kiểu cổ, làm bằng gỗ quí chạm trổ rồng phượng và khảm xá cừ, nhưng
giữ ý, để trống chiếc ghế lớn nhất kê ở đầu bàn. Người hầu lập tức bưng
ra khay trà với binh trà Thiết Quan Âm còn nóng hổi. Chỉ cần nhìn qua bộ
tách uống trà cũng có thể đoán ngay "ông chủ" thuộc giai cấp nào trong
xã hội. Cả bọn vừa nhâm nhi tách trà nóng vừa đưa mắt nhìn quanh phòng
khách.
Phòng khách tại tiệm thuốc Bắc treo đầy hình ảnh những
người bị bệnh tại khắp các bộ phận của cơ thể gồm đủ lục phủ ngũ tạng
cùng với nhiều đường dẫn kinh mạch theo kiểu đông y, lại có cá các loại
thuốc dùng chửa từng thứ bệnh. Nhưng tất cả đều ghi chú toàn bằng tiếng
Hoa nên bọn Đại Cathay mù tịt.
Vài phút sau "ông chủ" xuất
hiện trong bộ đồ xá xẩu, bắt tay từng người theo giới thiệu bằng tiếng
Hoa của A Chó. "Ông chủ" Xí Ngàn khoảng 50 tuổi, dáng to cao, khỏe mạnh,
tóc hớt ngắn, mặt hơi rỗ hoa, tướng tá oai vệ dễ khiến người đối diện
nể vì, nhưng cũng dễ gây cảm tình. "Ông chủ" ngồi xuống chiếc ghế lớn
nhất, nhìn Đại Cathay cười cười, vui vẻ nói bằng tiếng Việt, giọng hơi
lơ lớ:
- Vậy nị là Đại Cathay hả? Nghe nói nị dữ lắm, mà sao ngó tướng hiền khô vậy?
Đại nghe giọng điệu mừng thầm trong dạ, lựa lời:
- Thưa ông chủ, đó là người ta đốn thế thôi... Tụi tôi đến đây nhờ ông chủ giúp chút việc...
Vừa nói Đại vừa dợm đứng dậy thì Xí Ngàn xua tay:
- Có gì nị cứ ngồi nói chuyện tự nhiên, uống trà cho vui - Ông ta cười
cười, chỉ mấy tắm hình trên tường - Nị có pị pất cứ pịnh gì, ngộ cũng có
thuốc chửa được mà. Có phải đánh Iộn bi trặc bả vai không?
Đại Cathay cũng bật cười, biết "ông chủ" giỡn chơi:
- Tụi tôi ở Sài Gòn qua, nhờ" A Chó với Tào Chanh thưa lại với ông chủ...
- A! Vậy ni không trặc pả vai, hay nị chơi bời bị phong tình, ngộ chữa thuốc Pắc cũng hết.
Đại Cathay lúng túng:
- Dạ không... tôi không... chơi bời...
A Chó, Tào Chanh cũng bật cườl trước sự lúng túng của tay trùm du đảng. Xí Ngàn hỏi tiếp:
- Nị không pị pịnh, không cần thuốc Pắc, vậy ngộ đâu giúp được gì. Hay có gì khó nị cứ nói.
"Được lời như cởi tấm lòng" Đại Cathay thở ra một hơi:
- Thưa "ông chủ", hồi này đời sống của anh em ở bên Sài Gòn khó khăn
quá, nên tôi thay mặt anh em tính nhờ ông chủ cho tui tới ké một chân
trong Đại Thế Giới.
Câu vừa dài, vừa nhiều chữ nên "ông chủ"
nghe không ra, kêu A Chó dịch lại ra tiếng Hoa. Nghe xong, Xí Ngàn trầm
ngâm giây lát - mà Đại Cathay và đông bọn tưởng đâu cả tiếng đồng hồ -
rồi thong thả:
- Tưởng gì, chớ việc ấy không khó lắm đâu. Có điều phải chờ ít hôm.
Bọn Đại Cathay nhìn nhau, vẻ mừng rỡ hiện trên nét mặt, không ngờ mọi
chuyện lại dễ dàng đến thế. "Ông chủ" đứng dậy, bảo mọi người:
- Tôi đây mà không qua Đại Thế Giới đánh pạc thì không phải chút nào. Pọn ta cùng qua đó chơi chút đỉnh.
Tào Chanh dẫn đường mọi người, không đi theo cổng chính khi nãy, mà đi
bằng cửa hông từ tiệm thuốc Bắc sang thẳng Đại Thế Giới. Nhiều tiếng xì
xầm trong phòng hốt me vang lên: "Ông chủ tới kìa!" và ai đó lập tức kéo
ghế cho Xí Ngàn. Lại lập tức có người mang tới một đống phỉnh trước mặt
"ông chủ". Xí Ngàn xua tay:
- Pữa nay dẹp phỉnh, chơi tiền mặt.
Lại lập tức có một đống tiền cao nghệu, toàn xấp giấy 100 đồng (đồng
bạc có mệnh giá lớn nhất khi ấy) xuất hiện cạnh "ông chủ" - mà Đại
Cathay ước tính có đến khoảng một triệu rưởi (khi ấy vàng chỉ khoảng
12.000 đồng/lượng, tức đồng tiền có giá trị trên 120 lượng vàng). Bon
Đại Cathay không tham gia trò chơi, chỉ đứng xem, suốt dọc chiếc bàn dài
hơn 20 mét người chơi đông đúc nhưng rất trật tự, tay "phát hỏa" dùng
chiếc đủa gạt đống hột me sang một bên, vừa gạt vừa hô lớn "Yêu",
"Lượng" hoặc "Tam" "Túc"...
Hình như "ông chủ" chẳng mấy để ý
đến chuyện ăn thua, nét mặt luôn dửng dưng, đặt tiền theo kiểu gặp đâu
đặt đấy, miễn sao cho có. Vậy mà đống tiền bên cạnh "ông chủ" cứ thế cao
lên trông thấy, có lẽ đã gần gấp hai lần lúc ban đầu. Được khoảng 15
phút, Xí Ngàn đứng dậy, ra lệnh:
- Thôi, nghỉ. Nè, thưởng cho
"phát hỏa" 20.000 đồng, nhà cái 20.000 đồng, gạc song (garçon = bồi
bàn, tiếp viên) 15.000 đồng... nghe!
Tào Chanh"dạ" một tiếng
trong khi Xí Ngàn vẫn chẳng ngó ngàng gì đến đống tiền, dẫn đầu cả bọn
trở lại tiệm thuốc Bắc. Nhấp nháy đã thấy có người ôm cọc tiền qua đặt
lên bàn của "ông chủ". Xí Ngàn không để ý đến xấp bạc, quay sang hỏi Tào
Chanh:
- Pữa nay thứ mấy?
Tào Chanh nhanh nhẩu:
- Da, thú Bảy.
Xí Ngàn nói với Đại Cathay và đồng bọn:
- Tối thứ Pảy ở Chợ Lớn vui lắm. Chín giờ tối nay, nị dẫn mấy anh em
xuống đay chơi cho piết. Nhưng đừng đi đông quá. Nhớ nghen!
Ông ta còn quay sang Tào Chanh xổ ra một tràng tiếng Hoa. Tuy không hiểu
gì nhưng bọn Đại Cathay mừng thầm bữa nay gặp hên vì ngay trong lần gặp
mặt đầu tiên mà "ông chủ" đánh bài thắng lớn, thường theo người Hoa
quan niệm như vậy sẽ mở đầu cho chuyện làm ăn giữa đôi bên được thuận
lợi. Lời mời "tối nay xuống chơi" là một biếu hiện cho thuận lợi ban đầu
ấy.
Nhất dạ đế vương
Đại Cathay
kể lại nội dung buổi gặp “ông chủ” cho đám thuộc hạ thân cận, ai nấy đều
mừng rỡ ra mặt. Nhất là khi Đại nhắc đến lời mời “Chín giờ tối nay nị
dẫn mấy anh em xuống đây chơi cho piết” thì cả bọn nhao nhao tranh nhau
đòi đi theo “cho piết” !
Đại Cathay phải lớn tiếng:
- “Ông chủ” đã dặn đừng đi đông. Tụi bay ngồi yên để tao tính đứa nào được đi.
A Chó bảo:
- Tôi phải li trước. Khi sáng “ông chủ” nói tiếng Hoa với Tào Chanh,
bảo Tào Chanh nhắn A Hiếu chuẩn bị tối đón khách đặc biệt, và kêu tôi
xuống sớm chút chút để chuẩn bị.
- A Hiếu nào?
- A Hiếu là tên thật của Quảy Thầu Hao tức Quỉ Mặt Đen đó!
Cả bọn ngẩn mặt nhìn nhau. Quảy Thầu Hao, ông trùm khách sạn - nhà hàng
Lido trên đường Đồng Khánh, nơi lâu nay nổi tiếng với nhất dạ đế vương.
Bọn chúng lại nhao nhao:
- Thì đừng đi đông chớ đâu nói mấy người. Mình đi chừng hơn hai chục đứa thôi...
Đại Cathay lại quát:
- Im ngay. Như vầy: Mấy đứa theo tao khi sáng đương nhiên được đi tiếp.
Thêm hai thằng Cu Quì và Năm Công Xóm đạo là chất đầy chiếc Mustang
rồi. Hết!
Cu Quì là người nhái nên được quyền mang súng hợp
pháp, còn Năm Cồng Xóm đạo (vì y là trùm số du đãng trong khu đồng bào
theo đạo Thiên Chúa), cũng là “tay hòm chìa khóa” của Đại Cathay, cần có
mặt bên Đại trong các vụ hợp tác kinh tế. Cả hai được chọn là đúng phóc
nên không ai dám có ý kiến gì khác.
Vậy là cả bọn chồng chất lên chiếc xe hơi Mustang décapotable. Hạ mui xuống, sáu tên ngồi cả lên thành ghế là vừa chật.
“Ông chủ” Xí Ngàn đợi khách sẵn, nhấc điện thoại kêu A Hiếu xuống. Tuy
nghe danh chớ chưa thấy mặt, nên khi thấy Quảy Thầu Hao Đại Cathay không
khỏi ngạc nhiên: Khác hẳn với biệt danh “Quỉ Mặt Đen” Quảy Thầu Hao
trạc 40 tuổi, cao ráo, đầu hói, da dẻ trắng trẻo, mặt chỉ bị một vết nám
nhỏ xíu, vóc người liền lạc, khỏe mạnh, tướng tá sang trọng, đẹp trai
trong bộ đồ xá xẩu.
Xí Ngàn giới thiệu đôi bên, A Hiếu bắt tay từng người, lịch sự nói với Đại:
- Nghe tiếng nị đã lâu, nay mới gặp, thiệt đúng là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” !
“Ông chủ” dặn dò A Hiếu:
- Đây là mấy người pạn làm ăn, tuy mới pan đầu nhưng chắc trong tương
lai còn gặp gỡ nhau nhiều. Pữa nay ngộ mắc pận, nị thay mặt ngộ tiếp
khách.
A Hiếu cung kính vòng tay, khom người:
- Nhưng cũng xin mời “ông chủ” ghé ngang Lido chút xíu.
Đến Lido, phân ngôi chủ khách xong, “ông chủ” lên tiếng giới thiệu:
- Ở đây có hai thứ rượu đặc piệt là “đệ nhất thiên hạ” và “cửu chiến pất pại”. Các anh em muốn dùng thứ nào trước?
Thấy bọn Đại Cathay ngơ ngác nhìn nhau, A Hiếu đỡ lời:
- Mình nếm “đệ nhất thiên hạ” trước, rồi từ từ tính sau. Tối nay, mời các vị khách quí qua một đêm “nhất dạ đế vương”.
Đúng là “đệ nhất thiên hạ”, rượu ngâm bằng những vị thuốc gì không rõ
mà uống vô thấy vừa thơm, vừa ngọt, gây cảm giác lâng lâng khó tả, dường
như uống mãi không say. Vẫn là Hải Súng lắm mồm lắm miệng:
- Sao ngồi lâu quá mà chẳng thấy ai ra tiếp vậy nè?
A Hiếu cười:
- Để mỗi người uống cạn vài ly đã.
Đoạn y vỗ tay ba tiếng. Đã phục sẵn đâu đó, vừa nghe ám hiệu khoảng hơn
20 cô gái xinh tươi trẻ đẹp tuổi chỉ khoảng mười tám-đôi mươi, trang
phục thướt tha y như những nàng tiên trong các bức tranh tố nữ đồng loạt
ùa ra, cứ ba-bốn cô ùa lại phục vụ một khách. Một cô đứng sau ghế đấm
hai vai, hai cô hai bên bóp và xoa nhẹ hai cánh tay, một cô lo rót rượu.
Cả bọn như lạc vào chốn Thiên Thai, nhìn các cô gái không chớp mắt. A
Hiếu cười cười nói với Đại:
- Bữa nay nị xuống đây ở đây luôn, lấy vợ người Hoa luôn!
Đại Cathay cười méo xẹo:
- Uổng quá, lỡ có vợ vừa sanh con gái rồi!
Đúng là Đại đã cưới cô Nhân, con chủ tiệm gỗ Đồng Nhân trên đường Hồng
Thập Tự phía trước rạp Olympic. Tân, anh của cô Nhân, là bạn hay đi nhảy
đầm chung với Đại đã giới thiệu em gái mình cho tay trùm du đãng này,
và cô vừa hạ sinh một bé gái chưa ăn đầy tháng.
A Hiếu giới thiệu sơ qua:
- Các cô ở đây ai nấy đều có vẻ đẹp riêng biệt theo tiêu chuẩn “tứ đại
mỹ nhân” : Chim sa, cá lặn hay nguyệt thẹn, hoa nhường. Hoặc đẹp phảng
phất nét buồn của Vương Chiêu Quân tức Vương Tường đời Hán, hoặc đẹp
lộng lẫy kiêu sa như Tây Thi thời Chiến Quốc, hoặc đẹp mê hoặc lòng
người như Điêu Thuyên thời Tam Quốc, hoặc đẹp bốc lửa pha chút sexy như
Dương Quí Phi cuối đời Đường. Các cô đều phải rèn luyện học tập cách
phục vụ khách từ hồi còn nhỏ như các cô gái Geisha kỹ nữ Nhật Bản.
Cả bọn càng nghe càng ngáo ra. Đại Cathay cũng như đồng bọn chỉ rành
chuyện đánh lộn đánh lạo, đâm chém, có ăn chơi thì cũng chỉ nhảy đầm,
uống rượu tây Martell, Napoléon X.O là nhất xứ rồi... đâu thể nói là dân
chơi sành điệu. Bọn hắn làm sao biết nổi bốn vẻ đẹp “truyền thống”
trong lịch sử Trung Quốc mà Ôn Như Hầu Nguyên Gia Thiều từng miêu tả
trong Cung oán ngâm khúc: chìm dưới nước cá lờ đờ lặn/ Lửng da trời nhạn
ngẩn ngơ sa/ Hương trời đắm nguyệt say hoa/ Tây Thi mất vía Hằng Nga
giật mình. Nhưng tuy không hiểu hết ý nghĩa, chẳng biết Chiêu Quân, Tây
Thi, Điêu Thuyền, Dương Quí Phi là những ai, chỉ cần nhìn các cô thiếu
nữ mỗi cô một vẻ đẹp là bọn hắn mê tít, hết biết trời đất gì rồi.
Bọn hắn càng ngạc nhiên và khâm phục khi một cô cầm nguyên nắm hạt dưa
bỏ vô miệng, không hiểu bằng cách nào, lát sau cồ nhè ra một đống vỏ,
còn lại toàn nhân màu trắng bùi và béo cô mới “mớm” cho khách.
Xong màn đầu, A Hiếu mời khách quí qua phòng kế bên hút thuốc phiện.
“Ông chủ” đã lặng lẽ rút êm từ hồi nào chẳng ai hay biết (vả lúc này bọn
chúng cũng chẳng cần để ý đến “ông chủ” nữa!). Hút thuốc phiện khi ấy
là mốt của dân chơi và giới văn nghệ sĩ, nhưng không mấy ai trong số họ
nghiện như dân ghiền ma túy ngày nay. Các cô tiếp tục theo sang phục vụ
khách, cứ hai-ba người chung một bàn. Đại Cathay nằm chung với A Hiếu và
A Chó vừa thưởng thức nàng tiên nâu vừa tính chuyện làm ăn lâu dài.
A Hiếu nhỏ nhẹ:
- Được “ông chủ” đồng ý rồi. A Đại không những thành công về mọi mặt,
kể cả kinh tế, mà đến chính quyền cũng phải nể. Ngộ đây nè, trước khi
được “ông chủ” quan tâm, bị cảnh sát bắt hoài, muốn gặp mấy ông ở chính
quyền, mấy ông hổng thèm ngó tới. Nay ngược lại, Trưởng ty Cảnh sát ngộ
không muốn gặp, còn đám “rề-sẹc” gặp ngộ sợ thấy mẹ.
Đại Cathay thăm dò:
- Nghe nói “ông chủ” đi nước ngoài hoài?
A Hiếu rất kín miệng:
- Ờ. Ổng làm ăn lớn lắm, không ai biết hết được... Có gì A Đại cứ nói với Tào Chanh, hay với ngộ cũng được.
Hết màn thuốc phiện cả bọn kéo nhau qua phòng ăn. Thôi thì sơn hào hải
vị, của ngon vật lạ không thiếu thứ gì. Bây giờ rượu “cửu chiến bất bại”
mới được dọn ra. Hiệu quả của rượu ra sao chưa rõ, nhưng về thơm ngon
thì đúng là thua xa “đệ nhất thiên hạ”. Mới nhấp qua một hớp, Hải Súng
nhăn mặt la ầm lên:
- Cửu chiến gì nổi, chỉ hai, ba... là hết xíu quách cho coi!
Ai nấy đều phì cười. Tại bữa tiệc, đích thân chủ nhà A Hiếu tức Quảy
Thầu Hao đóng vai phiên dịch giữa khách và các cô. Thực ra cô nào cũng
bập bẹ nói được tiếng Việt và chút ít tiếng Pháp, tiếng Anh, vả lại khi
đã nhậu sương sương, với mấy “em” hầu hết mọi chuyện chỉ cần trao đổi
bằng... tay nên cuộc vui không hề gặp trở ngại. Các cô thay nhau gắp
thức ăn, gọt táo, cắt cam, đấm bóp cho khách, cũng vẫn ba- bốn cô phục
vụ một người.
Tiệc tàn, rượu thấm, các cô dìu mỗi khách về
một phòng ngủ riêng. Ai nấy lâng lâng dường như quên hết ân oán giang
hồ, quên hết phiền muộn trần thế, cứ ngỡ mình lên chốn non Bồng nước
Nhược. Rồi các cô tự động ra khỏi phòng, nhẹ nhàng đóng cửa, chỉ để lại
một cô được khách ưng ý nhất...
Sáng hôm sau, khách ai nấy
đều ngạc nhiên vì rõ ràng khi hôm mình ngủ với một cô, sáng dậy lại thấy
một cô khác nằm bên cạnh! Đại Cathay mơ mơ màng màng còn tưởng mình lạc
lõng nơi đâu, hỏi cô gái:
- Anh đang ở đâu vậy?
Cô gái cười chúm chím:
- Anh đang ở bên em.
Nghe cầu trả lời ỡm ờ, Đại Cathay coi đồng hồ, giật mình vì đã 9 giờ sáng. Hắn nhổm dậy:
- Bạn anh đâu?
Cô gái vẫn giọng tỉnh bơ:
- Bạn anh đã có bạn của em lo.
Đại Cathay chụp điện thoại. Tiếp tân cho biết hắn đang ở khách sạn
Lido, xin mời mọi người lên sân thượng ăn sáng. Tắm rửa tỉnh táo, Đại
Cathay mới trở về với thực tại, dần dần nhớ lại bữa tiệc “nhất dạ đế
vương” mới hôm qua mà tưởng đâu còn trong giấc mộng. A Hiếu đã đợi sẵn
trên sân thượng, vui vẻ:
- Trước khi ăn điểm tâm, mời mọi người dùng qua trà thịt bò cho khỏe. Khách quí của “ông chủ” mới được mời ăn đó!
Quả là món có một không hai. Thịt bò bầm nhuyễn hầm với các thứ thuốc Bắc, đặc biệt có mùi trà rất đậm. A Hiếu nói thêm:
- Ai còn no, xin cứ uống nước, bỏ xác lại.
Món khai vị này làm ai nấy cảm thấy sảng khoái, khỏe hẳn lại, bất giác
đều buột miệng khen “hẩu sực”. Đã đến giờ chia tay, Đại Cathay lịch sự:
- Xin thay mặt anh em cảm ơn A Hiếu và nhờ A Hiếu gởi lời cảm ơn “ông
chủ”, nhắn giùm “ông chủ” sẽ không thất vọng về anh em ở Sài Gòn đâu.
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương I (C)
Như đã nói ở phần trên, hồi ấy có một số tay tài phiệt thường “tài trợ”
cho dân du đãng, trong số đó đáng kể nhất là Hoàng Kim Qui, thường được
gọi “vua kẽm gai”. Đó là do Kim Qui làm giàu nhờ chiến tranh Việt Nam:
Ông ta trúng thầu cung cấp toàn bộ dây kẽm gai để làm hàng rào ấp chiến
lược, hàng rào phòng thủ cho đồn bót, rào cản ngăn chặn sinh viên học
sinh biểu tình tranh đấu... Về sau Kim Qui còn trúng thầu làm lưới sắt
bảo vệ B40, nên lại càng giàu thêm.
Hoàng Kim Qui có một quí
tử là Hoàng Kim Lân, thuộc loại công tử bột ăn chơi có hạng. Lân thường
kết bạn với số con nhà giàu khác và các “dân chơi” nổi tiếng, ngày ngày
lui tới các vũ trường, nhà hàng, tiêu tiền như rác, lâu lâu nổi hứng
“chơi trội” để “giựt le”.
Có lần, buổi tối Lân vô một nhà
hàng lớn nằm trên đường Lê Lợi, tuyên bố sẽ bao toàn bộ khách đang ăn
trong nhà hàng, trả tiền cho hết thảy mọi người. Maitre d’hôtel lên
thông báo trên micro, ai dè bữa đó có một toán biệt động quân từ chiến
trường về Sài Gòn nghỉ phép vô quán nhậu từ xế, nay đã ngà ngà say. Bọn
này nhao nhao phản đối: “Tụi tao có tiền, vô đây ăn uống. Lân là thằng
nào mà dám trả tiền bao tụi tao?”. Lời qua tiếng lại, bọn lính rút lựu
đạn ra. Lân đang cầm chiếc hộp quẹt máy châm thuốc lá hút nổi sùng lên,
quăng bỏ luôn hộp quẹt máy, te te bỏ ra khỏi nhà hàng. Nhân viên cả nhà
hàng vội nháo nhào đi tìm chiếc hộp quẹt vì hộp quẹt của Lân ai cũng
biết làm bằng vàng 18!
Lân rất khoái chơi với bọn Đại Cathay.
Thường hắn ký sẵn séc tại các nơi Đại Cathay thường lui tới ăn chơi,
lâu lâu kiểm tra lại, khi nào thấy Đại và bọn đàn em xài gần hết lại ký
tiếp.
Trong băng công tử bột của Lân có hai anh em người Hoa
là Dách Bửu và Dì Bửu, là con của chủ nhà hàng Mékong. Khi ấy chủ Mékong
không những có hai nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn và Chợ Lớn, mà còn
mở cả nhà hàng tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, và tại thủ đô PhnomPenh,
Campuchia. Đang lúc ăn nên làm ra, Mékong lập thêm một nhà hàng nữa ở Đà
Lạt. Nhân dịp khai trường nhà hàng này, Dách Bửu và Dì Bửu mời Hoàng
Kim Lân lên Đà Lạt dự lễ, nhờ Lân mời luôn Đại Cathay và một số tay em
của hắn - mà hai anh em người Hoa này cũng đã biết sơ sơ qua giới thiệu
của Lân và đôi lần gặp gỡ trên sàn nhảy.
Gặp hồi đang phấn
khởi vui vẻ trước lời hứa giúp đỡ của “ông chủ”, Đại kéo luôn một lô đàn
em thân tín lên cao nguyên đổi gió. Đi cùng tay trùm du đãng này có đến
hơn chục tên: Lâm Chín ngón, Hải Súng, Cu Quì, Sáng, Phong, Năm Công...
chất lên hai xe du lịch Mustang và Traction không hết, phải đi nhờ cả
xe của Hoàng Kim Lân.
Dách Bửu, Dì Bửu đón tiếp giới du đãng
rất long trọng, không thua gì so với các nhà chính trị xa-lông có máu
mặt và khách nước ngoài đến dự lễ khai trương. Chúng được dành nguyên
một tầng lầu riêng để tiện việc ăn ở, đi lại. Đúng thời gian ấy có đoàn
cải lương từ Sài Gòn lên Đà Lạt lưu diễn tại nhà hát ngay khu chợ Hòa
Bình thuộc trung tâm thành phố sương mù. Các kép chính trong đoàn vốn
cũng không xa lạ gì với Đại Cathay vì Thành Được, Hữu Phước hay lui tới
hút thuốc phiện (hồi đó thường gọi là “đoong thóc”) tại tiệm Khang Thành
nằm gần góc đường Đồng Khánh và đã nhiều lần gặp Đại Cathay cùng đám
nhà văn Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy... cũng thường đến đây đi mây về gió.
Liên tiếp hai đêm, đoàn cải lương không ngớt kêu khổ vì đám du đãng Đà
Lạt đến gây rối. Đám du đãng này đâu khoảng trên dưới 20 tên, do Xi Rổ
cầm đầu, câu kết với bọn lính địa phương quân. Băng nhóm Xi Rỏ không chỉ
coi khu chợ Hòa Bình mà còn tung hoành khắp thị xã Đà Lạt, từ bến bãi
xe đến nhà hàng, khách sạn, vũ trường... hễ ai dám không “nộp thuế” cho
bọn chúng là gặp chuyện ngay.
Gặp đoàn cải lương, đêm nào
chúng cũng đòi “coi cọp” (không mua vé), không chỉ cho riêng chúng mà
còn cho cả bọn lính địa phương và... luôn họ hàng, bạn bè thân thuộc của
chúng, với số người “ăn theo” lên đến hàng trăm. Đã thế, chúng lại yêu
cầu ngược: Đoàn cải lương phải trả “tiền bảo vệ” cho mỗi suất hát. Bầu
cải lương tuy méo mặt vẫn rán è cổ ra chịu mà trong lòng tức anh ách.
“ Tha hương ngộ cố tri”, bất ngờ đất lạ quê người gặp ngay Đại Cathay
trùm du đãng - mà anh em văn nghệ sĩ khi ấy hay gọi là Zimbô - Hữu Phước
và Thành Được đều vô cùng mừng rỡ (Đại có tên “Zimbô” vì vào khoảng
thời gian 1965 ở Sài Gòn có chiếu một bộ phim Tarzan Ấn Độ với nhân vật
chính là Zimbô rất ăn khách. Do Đại mang một phần tư máu Ấn - cha lai
Ấn, mẹ Việt Nam - nên được mang tên này luôn). Cả hai tài tử cải lương
đều xổ bầu tâm sự, than phiền không ngớt về dân chơi Đà Lạt chơi không
đẹp và nhờ Đại ra tay giúp đỡ. Nghe qua lời kể, phần vì được nịnh phỗng
mũi, phần vì nghĩa khí giang hồ “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy
bất cứu mạc anh hùng” (thấy việc nghĩa không làm là không phải kẻ dũng
khí, gặp nguy chẳng cứu chẳng phải anh hùng), Đại Cathay ưỡn ngực hứa:
“Để đấy tôi lo cho!”.
Chưa hết. Nghe tin nhà hàng Mékong khai
trương làm lễ rất lớn, Xi Rổ viết thư gởi đến chủ nhà hàng, yêu cầu nội
nhật chiều hôm ấy phải gởi cho hắn một con heo quay, hai chai rượu
ngoại và năm két bia (hồi đó chỉ có bia La Rue con cọp) để bọn hắn nhậu,
ghi chú rõ ràng ở cuối thư “nếu không, chủ nhà hàng phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm” (?). Mời bọn Đại Cathay lên Đà Lạt dự lễ khai trương, đụng
chuyện này mà nhờ vả đến thì thật là đắc sách, Dách Bửu và Dì Bửu đưa
thư của Xi Rổ cho Đại Cathay coi và “xin ý kiến chỉ đạo”. Vốn đã có sẵn
chủ ý, Đại phẩy tay:
- Cứ gởi rượu, bia, heo quay cho chúng. Tôi sẽ nói chuyện phải quấy với thằng Xi Rổ sau.
Khoảng 8 giờ tối hôm ấy, Đại Cathay kéo nguyên băng ra bến xe gần chợ
Hòa Bình tìm Xi Rổ, thì Xi Rổ đang ngồi nhậu với bầy lâu la ngay quán
nhậu kế bến xe chớ đâu. Ngoài khoảng hơn chục tên du đãng xứ hoa anh đào
còn có cả tiểu đội địa phương quân cũng túm tụm uống rượu, bia với mồi
là con heo quay béo ngậy. Súng cạc-bin, ga-răng dựa ngay bên bàn nhậu.
Riêng Xi Rổ cởi trần trùng trục mặc dù trời tối Đà Lạt trời lạnh như
cắt, có lẽ một phần hắn muốn khoe thân hình lực lưỡng cuồn cuộn cơ bắp,
một phần do nhờ rượu tỏa năng lượng sưởi ấm cơ thể (?).
Đại
Cathay dẫn đầu băng du đãng Sài Gòn, tiến thẳng đến trước tiệc nhậu, lớn
tiếng (tuy hắn dễ dàng nhận ngay ra Xi Rỗ với khuôn mặt rỗ đặc trưng):
- Ai là Xi Rỗ đâu?
Thấy có kẻ kêu đích danh mình, lại có vẻ hống hách, Xi Rỗ không thèm đứng dậy, hếch mặt, tay không buông ly rượu đang uống dở:
- Tao đây! Có chuyện gì vậy?
Đại Cathay gằn giọng:
- Tao muốn nói chuyện với mày về vụ nhà hàng Mékong và đoàn cải lương. Mày có biết tao là ai không?
Xi Rỗ hừ một tiếng, dằn mạnh ly rượu xuống bàn:
- Biết chớ! Biết cả chuyện mày lên đây đã mấy ngày rồi mà không lại chào tao. Giờ mày muốn gì?
Đại Cathay cố nén giận:
- Nhà hàng Mékong và đoàn cải lương là chỗ bạn bè của tao, mày vuốt mặt phải nể mũi.
Xi Rỗ vụt đứng dậy:
- Mày là cái thá gì mà tao phải nể? Rừng nào cọp nấy. Sài Gòn của Đại Cathay. Đà Lạt này của Xi Rỗ, không được lôi thôi gì hết!
Nãy giờ đã hầm hầm trong bụng, Sáng người nhái nghe đến đây tức khí móc
luôn khẩu Colt 45 giấu bên hông ra, thẳng tay quật bá súng vô sau ót Xi
Rỗ. Nhưng Xi Rỗ không phải tay vừa, đã kịp hụp đầu xuống làm bá súng
chỉ sớt ngang vai. Rồi như một con thú bị thương, lại thêm hơi men hừng
hực, Xi Rỗ bất thần cúi đầu, khom người dùng hết sức lao ngay ngang bụng
Đại Cathay. Quá bất ngờ, bị trúng đòn “đầu quyền”, Đại ngã ngồi phịch
xuống đất. Nhưng không hổ danh Zimbô, Đại đã kịp vòng tay ôm lấy cổ Xi
Rỗ kéo hắn ngã theo. Xi Rỗ khỏe như con trâu điên, siết chặt ngang lưng
Đại...
Và cứ thế, hai tay đầu sở du đãng vừa ôm cứng lấy
nhau, vừa ra đòn quyết liệt, nào đấm, nào đá, nào siết cổ, nào chận
họng, nào móc mắt, nào thúc cùi chỏ, nào lên đầu gối, nào bẻ ngón tay,
toàn dùng các thế hiểm hóc như “tiểu cầm nã thủ pháp” trong truyện
chưởng do các đại cao thủ võ lâm sử dụng khi cận chiến. Chiến trường nằm
ngay trên sườn dốc nên chẳng mấy chốc cả Đại Cathay lẫn Xi Rỗ đều lăn
lông lốc theo con dốc thoai thoải, có lúc Xi Rỗ đè lên người Đại, có khi
Đại lại ấn được đầu Xi Rỗ xuống...
Quân binh hai bên cũng
xấp lá cà, có điều chỉ toàn thượng cẳng tay hạ cẳng chân mà không bên
nào dùng đến súng ống, theo đúng điệu dân chơi khi ấy. Tin cấp báo đến
Ty Cảnh sát Đà Lạt. Nguyên một đại đội cảnh sát dã chiến trang bị vũ khí
đến tận răng được điều đến khu vực chợ Hòa Bình.
Khi bọn
cảnh sát tới nơi thì hai phe du đãng Sài Gòn và dân chơi Đà Lạt đã đập
phá tanh bành mấy quán nhậu, dùng bàn ghế trong quán làm vũ khí. Riêng
hai “chủ tướng” Đại Cathay và Xi Rỗ đã ôm vật nhau lăn hết con dốc.
Thấy số người lâm chiến quá đông, lại đang hăng máu, cảnh sát nổ súng
thị uy. Ai dè bọn địa phương quân nghe tiếng súng tưởng đâu phe Đại xài
“chó lửa” liền xách súng ra “chơi” lại. Cảnh sát dã chiến đông hơn, súng
ống hiện đại hơn, coi mòi chiếm ưu thế. Các xạ thủ dùng luôn bến xe làm
bãi chiến trường với vật cản là những chiếc xe hơi. Thấy lực lượng yếu
hơn, địa phương quân báo cáo về đơn vị xin tăng cường một đại đội vũ
trang mạnh vì “Việt Cộng tràn vô thành phố” (!). Đến lượt cảnh sát dã
chiến lép vế, yêu cầu chi viện một đại đội nữa. Súng nổ vang trời, đạn
như pháo bông... Tình hình không ai đoán nổi sẽ diễn biến ra sao nếu
tỉnh trưởng Đà Lạt không đích thân can thiệp và đôi bên đành chấp nhận
ngưng chiến. Cũng ngộ: Súng nổ như bắp rang cả giờ đồng hồ mà không ai
trúng đạn!
Trong khi ấy, Dách Bửu hay tin chiến sự, vội lái
chiếc xe “con cóc” 2CV đến tận chợ Đà Lạt, chở Đại Cathay, Hải Súng và
Cu Quì vọt thẳng về Sài Gòn cho khỏi ai hỏi han lôi thôi. Đại Cathay qua
trận kịch chiến với Xi Rỗ bị trặc cổ chân, đi cà nhắc, phải nhờ đàn em
đỡ lên xe. Còn Xi Rỗ mặt mày thâm tím, thân mình trầy xướt tùm lum y như
con gà chọi vừa sau đó đá, sợ quá, chạy tuốt vô rừng trốn biệt suốt
đêm, sáng hôm sau mới dám mò về. Dân du đãng, giang hồ mạnh ai nấy tìm
đường thoát thân, cũng chẳng ai bị bắt, coi như... huề cả làng!
Chỉ tội nghiệp cho đoàn cải lương, sau trận đọ súng vang trời chẳng ma
nào dám tới xem hát nên đành cuốn gói về Sài Gòn chịu lỗ chỏng gọng. Ít
ngày sau, gặp lại Đại Cathay tại tiệm hút thuốc phiện Khang Thành, Hữu
Phước và Thành Được nhắc lại “sự cố” trên Đà Lạt, nữa đùa nữa thật nói:
“Gặp Zimbô, tưởng huy hoàng ai ngờ điêu tàn!” Đại Cathay không hề giận,
chỉ cười cười nhắc lại lời hắn nói với Dách Bửu khi tay công tử bột này
chở hắn chạy trốn khỏi Đà Lạt, sau đó còn đưa hắn về ở tại nhà riêng
trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) để ẩn náu thêm ít
bữa: “Tôi tưởng tụi nó biết điều, sợ uy tôi nên mới kiếm gặp nói chuyện
phải quấy, ai dè tụi nó uống rượu xỉn nên chẳng sợ trời đất gì cả,
chuyện hoàn toàn ngoài dự kiến. Thôi, để hôm nào tôi lên Đà Lạt tính sổ
lại”.
Điềm báo hiệu ngày tàn
Tuy nhiên Đại Cathay
không thể ngờ đó là chuyến đi Đà Lạt cuối cùng của hắn. Những sự việc
diễn biến tiếp theo sẽ chứng tỏ điều này. Và trước hết là điểm báo hiệu
ngày tàn của băng du đãng Sài Gòn qua vụ nội bộ chúng tự thanh toán lẫn
nhau, với hậu quả hai tên đàn em thân tín của Đại Cathay là Bồng và Thu
bị bắn chết ngay tại sòng bài, giữa thanh thiên bạch nhật.
Trong số các sòng bài dưới quyền Đại Cathay khi ấy, sòng me ở quận 4 do
Bảy Xi phụ trách là sòng lớn nhất (Năm Cam xuất thân đầu tiên cũng tại
sòng bài này). Nhất là từ sau khi nghe tin “ông chủ” chịu nhường cho Đại
để y có phần hùn tại nhà hàng Đại Thế Giới, các tay đánh bạc đổ về đây
ngày càng tấp nập. “Quân sư” A Chó thường xuyên có mặt tại sòng me để
kiểm tra tài chánh. Hai tay em của Đại Cathay là Thu và Bông chịu trách
nhiệm “bảo vệ” địa điểm đang ăn nên làm ra này.
Nhưng trước hết, phải có đôi dòng giới thiệu về Bảy Măng, nhân vật chính trong vụ thanh toán nội bộ.
Bảy Măng là trung úy Tổng nha Cảnh sát nhưng chỉ là “lính kiểng” (để
khỏi đi quân dịch, khỏi cần lãnh lương), còn nghề nghiệp thực thụ của
hắn là đánh bài - xứng đôi với vợ hắn là Bảy Quấn chuyên môi giới gái
mại dâm ở đường Nguyễn Du, toàn “đào” nổi tiếng vừa trẻ vừa đẹp. Thoạt
đầu chỉ chơi bài, nhưng nhờ mác sĩ quan cảnh sát, Bảy Măng được Đại
Cathay ưu ái cho hưởng phần lợi tức tại sòng bài theo tỉ lệ phần trăm,
một phần coi như thưởng công cho hắn đã nhiều lần giúp Đại Cathay giao
dịch với các quan chức. Về vấn đề ngoại giao, phải công nhận Bảy Măng có
tài, lại nhờ mác trung úy cảnh sát nên dễ làm quen chỗ này chỗ nọ. Và
thế là dần dần, Bảy Măng đứng núi này trông núi nọ, tranh chấp với A
Chó, mong ngoi lên thành kẻ phụ trách tài chánh cho Đại Cathay. A Chó
đâu phải ngu gì, đánh hơi ngay được âm mưu này của Bảy Măng, nên một mặt
ráo riết đề phòng, một mặt chờ dịp ra tay...
Không hiểu tại sao, thời gian gần đầy Bảy Măng chơi bài toàn gặp xui, thua cháy túi liên tiếp mấy ngày.
Đến khoảng hơn 10 giờ sáng bữa ấy, Bảy Măng lại nướng sạch tiền. Đang say máu gỡ gạc, hắn liền hỏi A Chó:
- Nị, bữa nay trích tiền lời phần trăm cho tui chớ?
A Chó lắc đầu:
- Đâu được giờ này. Phải chiều mới có.
Bảy Măng nổi nóng, đổi giọng:
- Sao bữa qua không chia tiền cho tao?
A Chó cũng lớn tiếng cự lại, còn ra vẻ khi dễ:
- Tiền tao muốn cho mày hưởng thì mày mới được hưởng. Nói thiệt mày nghe, tao muốn đuổi mày lúc nào chẳng được!
Đang thua bạc, tiền không được nhận, túi thì rỗng tuếch, còn bị chửi te
tua, mà mình cũng đường đường một đấng sĩ quan cảnh sát (!) “nghĩ mình
phương diện quốc gia”, Bảy Măng giận đến tím mặt, te te rời sòng bài, về
nhà lấy khẩu ru-lô mà Tổng nha Cảnh sát cấp cho hắn, lận vô lưng quần,
tức tốc quay trở lại địa điểm đánh bạc cũ.
Lúc ấy khoảng 11
giờ trưa, sòng bài đang lúc “tàn xưởng” (tiếng lóng của dần cờ bạc, chỉ
lúc mọi người đánh bạc tà tà đợi thêm khách). Bảy Măng hùng hùng hổ hổ
xộc thẳng vô tuốt bên trong sòng bài vì là khách quen nên chẳng bị ai
cản trở, tay rút súng, miệng quát:
- A Chó đâu?
Nghe tiếng quát, lại có ai đó nói nhỏ “Nó cầm súng đó!”, A Chó hồn vía
lên mây, vội vàng ba chân bốn cẳng bỏ chạy theo ngã sau. Sòng bài vốn
nhiều ngóc ngách nên khi Bảy Măng sục sạo hết các phòng thì A Chó đã cao
bay xa chạy. Không những thế, do quá sợ, thoát khỏi sòng bài A Chó
không dám chạy theo những con hẻm mà nhảy đại xuống kênh nước hôi rình,
toàn bùn sình, cứ thế cắm đầu cắm cổ lủi càng xa nơi nguy hiểm càng tốt.
Thu và Bông, bảo vệ sòng bài, nghe nói Bảy Măng rượt bắn A Chó, vội
chạy tới cố ngăn cản. Tưởng tên trung úy cảnh sát này chỉ hù dọa, nếu có
bắn cùng lắm cũng chỉ thanh toán đối thủ chính là A Chó, Thu nhào vô
toan ôm Bảy Măng lại, còn lớn tiếng chửi thề: - Đ.M, bộ mày điên hết
muốn sống rồi hả?
Ai dè Bảy Măng đang nổi cơn điên thật. Hắn
không thèm trả lời mà trừng mắt, đưa luôn họng súng ngay tam tinh (ngang
trán, giữa hai lông mày) Thu, bóp cò. Viên đạn ở cự ly gần xuyên qua óc
Thu khiến tên du đãng này đổ vật xuống dãy đành đạch.
Bông
thấy bạn ngã chết tại chỗ, sợ quá quay đầu chạy trốn, nhưng Bảy Măng
đang say máu, chĩa súng nhắm ngay ót đối thủ, “đoàng” một phát. Đến lượt
Bông ngã sấp, máu ra lênh láng. Cả sòng bài hốt hoảng, nín khe không ai
dám ho he một tiếng. Bảy Măng đưa mắt nhìn quanh một lượt, không thấy
ai để bắn tiếp, hậm hực nhét súng vô lưng quần, lên xe gắn máy chạy
thẳng vô Tổng nha Cảnh sát đầu thú.
Nghe được hung tin, Đại
Cathay lập tức triệu tập toàn bộ các thủ hạ có súng - kể cả số mang súng
hợp pháp như Sáng, Cu Quì, lẫn số mang súng bất hợp pháp chuyên “ăn
bay” như Hải Súng, Lâm Chín ngón, Chương Khùng, Việt Parker... - ra lệnh
tỏa ra khắp hướng kiếm Bảy Măng, hễ thấy mặt là bắn ngay không lôi thôi
gì cả.
Bọn chúng sục đến tận nhà riêng của Bảy Măng trên
đường Nguyễn Du, vô các sòng bài, quán nhậu, vũ trường, nhà hàng...
nhưng làm sao tìm ra thủ phạm vì Bảy Măng đã xin được tạm giam luôn
trong Tổng nha Cảnh sát, đã thế còn ở biệt giam một mình một phòng cho
chắc ăn.
Mặt khác, đám ma Thu và Bông được Đại Cathay ủy nhiệm cho Bảy Xi tổ chức rất long trọng, nhạc tây nhạc ta ì xèo không dứt.
Rồi cơn giận nguôi ngoai, từ từ Đại Cathay mới biết Bảy Măng bắn hạ Thu
và Bông chẳng qua trong cơn nóng giận nhất thời, còn kẻ hắn tính triệt
hạ đúng ra là A Chó. Nghe mọi người thuật lại đầu đuôi, Đại rút lại
“lệnh” giết Bảy Măng, bảo: “Thôi, vậy thì tha cho nó”.
Nhờ
vậy, sau này khi Bảy Măng bị kết án năm năm tù giam vì tội cố sát, nhốt
tại khám Chí Hòa, hắn vẫn sống yên ổn với đám du đãng cũng bị bắt nhốt
tại đây.
Đại chiến tại nhà hàng Thanh Bạch
Chẳng
bao lâu sau vụ Bảy Măng bắn chết Thu và Bông, một tối nọ Đại Cathay dẫn
gần chục đàn em đến vũ trường Olympia, một vũ trường sang trọng tại quận
l.
Mỗi khi binh tướng du đãng kéo tới, thường các em ca-ve
dồn đến tiếp đón nồng hậu, phần vì khi ấy Đại Cathay rất nổi tiếng, phần
vì bọn hắn “boa” đẹp.
Có thể nói, vào thời điểm ấy, chỉ có hai nhân vật được các vũ trường đón tiếp long trọng hơn Đại Cathay.
Thứ nhất là Nguyễn Ngọc Loan, thường gọi Sáu Lèo , giám đốc Tổng nha
Cảnh sát Quốc gia. Sáu Lèo vốn mê Phương Dung, cô ca sĩ mới nổi được
phong tặng danh hiệu “con nhạn trắng Gò Công”. Mỗi khi nghe Phương Dung
cất giọng ca bài ruột Nỗi buồn gác trọ “Có người con gái buông tóc thề
thu về e ấp chuyện vu qui...” là Sáu Lèo khoái chí tử, tay gõ nhẹ trên
bàn đánh nhịp theo bài hát và thế nào cũng lôi bằng được cô xuống ngồi
chung bàn.
Người thứ nhì là Lưu Kim Cương, khi ấy đang chỉ
huy lực lượng không quân. Kim Cương thích Minh Hiếu, cô ca sĩ vốn xuất
thần từ con một ông thợ hớt tóc nghèo tại Phú Nhuận. Bọn cận vệ đi theo
Lưu Kim Cương vốn quen được các cô vũ nữ nuông chiều (thực ra họ nuông
chiều Kim Cương) nên hễ vô tới vũ trường là bọn chúng “quơ” hết các cô
đẹp nhất về bàn của mình. Nhưng tất nhiên, bọn lính tráng này tiền bạc
chẳng là bao nên không thể “boa đẹp” như dân giang hồ.
Tối
hôm ấy, thấy băng Đại Cathay kéo đến, ca-ve dồn qua bàn của bọn hắn, dễ
có đến hơn chục cô. Không có gì lạ, bởi bữa nay, băng Đại Cathay đi nhảy
đầm khá đông, ngoài “chủ tướng” còn có Hải Súng, Lâm Chín ngón, Ngân
pô-côn, Phong khùng, Bôn... Cả bọn còn đang tán dóc chưa kịp nhảy nhót
gì, bỗng lại có nguyên băng không quân cận vệ của Lưu Kim Cương bước vào
Olympia - tối đó tay tướng không quân này mắc bận không đến vũ trường.
Ngồi dễ đến 10 phút mà không thấy không có em nào “sạch nước cản” đến
chăm sóc như mọi hôm. Đã vậy, Thiếu úy Hải thường gọi Hải Không quân,
một tên trong băng, vẫy tay mấy lần mà các em cứ làm bộ ngó lơ, nhí nha
nhí nhót với băng du đãng. Hải Không quân không dằn nổi cơn bực bội, kêu
má mì Thúy Tàu lệnh phải dẫn đào đến cho bọn hắn. Biết Hải Không quân
vốn rất rất khoái một cô vũ nữ đang ngồi chung với Hải Súng tên Ly Ly,
Thúy Tàu nói nhỏ cô này qua ngồi kế Hải Không quân để tình hình bớt căng
thẳng, vì má mì thấy hai băng coi bộ đang “kên” nhau.
Ai dè
Hải Súng vốn hay gây sự. Vừa thấy đào rời ghế qua ngồi bàn bên cạnh, hắn
lập tức xô ghế, bước qua kiếm chuyện với Hải Không quân:
- Ê! Cô này là của tao mà!
Hải Không quân lên tiếng:
- Bàn bên đó nhiều “ghế linh” (gái đẹp) quá mà. Mượn đỡ một em không được sao?
- Không được thì làm gì nhau?
Vừa nói hắn vừa nắm cánh tay phải cô vũ nữ Ly Ly đứng dậy, lôi về phía mình.
Đời nào chịu lép về trước “văn võ bá quan”, nhất là người đẹp bên cạnh
bị phỗng tay trên, Hải Không quân vụt đứng dậy, nắm tay trái cô gái kéo
lại, miệng chửi thề:
- Đ.M, bộ mày ngon lắm hả?
Bị
hai cao thủ cầm hai tay ra sức lôi kéo, đúng là “trâu bò húc nhau ruồi
muỗi chết”, bỗng nhiên biến thành mục tiêu cho hai thanh niên lực lưỡng
thi triển công lực, cô ca-ve Ly Ly đau quá, không biết nên làm thế nào
cho phải, miệng thét lên be be, thì Hải Súng đã nhanh nhẹn co tay lại,
thúc cùi chỗ ngay mặt đối thủ. Và hắn nhanh như chớp, quơ chai rượu
whisky Black & White đang uống dở trên bàn, nhắm đầu Hải Không quần
thẳng cánh quật xuống. Giả sử chai rượu trúng đích, chưa biết giữa hai
thứ - cái đầu của Hải Không quân và chai rượu - thứ nào sẽ vỡ thành
nhiều mảnh hơn. Nhưng với phản ứng nhanh nhạy của con nhà võ, gã thiếu
úy tức thì buông Ly Ly, một mặt đưa cánh tay lên đỡ chai rượu, một mặt
thọc tay vào bụng rút phát khẩu súng ngắn ra, quát:
- Cho tụi mày chết luôn!
Miệng nói, tay hắn nhắm về hướng Đại Cathay đúng lúc tên cầm đầu du đãng dợm đứng dậy.
Đại Cathay vung chân đá bàn tiệc. Ly, tách, chén, dĩa bay tứ tung. Tay
trùm du đãng vừa khom người định lấy thế lao lên thì viên đạn găm ngay
chân.
Thấy đồng bọn đã nhả đạn, gần chục tên cận vệ đi theo
Hải Không quân đồng loạt rút súng bắn tá lả. May thay Thúy Tàu nhanh trí
cúp cầu dao điện, vũ trường vụt tối thui, vũ nữ la oai oái, khách khứa
chạy tứ tung như đàn ông vỡ tổ. Bọn lính hầu hết chỉ bắn lên trời ra oai
vì sợ bắn lầm người hoặc sát thương lẫn nhau.
Đại Cathay kêu
nho nhỏ: “Tao trúng đạn rồi” khi Lâm Chín ngón đến dìu hắn chạy xuống
cầu thang. Đồng thời Lâm cũng đánh liều rút súng định bắn trả, nhưng một
viên đạn đã xuyên ngang bắp tay phải khiến khẩu súng rớt xuống đất. Lâm
Chín ngón không thể sử dụng vũ khí được nữa, đành cố nhịn đau, dìu đại
ca vòng xuống cầu thang phía sau, chuồn theo cửa hậu. Vừa may Lành lái
xe hơi trờ tới, rước cả hai chạy trốn.
Sau trận “đại chiến”
này, Sáu Lèo kiên quyết không nương tay với bọn du đãng nữa. Đại úy Chi
nhắn Đại Cathay bỏ trốn ra nước ngoài một thời gian chờ êm chuyện, nhưng
Đại cứ chần chừ...
Ba ngày sau, chế độ cầm quyền cũ tung ra
chiến dịch truy quét sạch “dân chơi” Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ Đại Cathay,
Huỳnh Tì, Woòng Cái cho đến Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Bắc Kỳ Chảy...
đều bị bắt sạch.
Duy nhất Tín Mã Nàm thoát nạn nhờ hắn thân
hành dẫn Trung tá (mới thăng chức từ thiếu tá) Trụ, Trưởng ty Cảnh sát
quận 5, chỉ mặt bắt từng người.
Đến ngày 28-11-1966, cả bọn
bị đầy ra đảo Phú Quốc “an trí” về tội “có nhiều thành tích bất hảo”.
Toàn bộ các băng nhóm du đãng tạm thời bị xóa sổ.
Thêm một
tình tiết phụ: Sau đó không lâu, Đại úy Chi sau giờ làm việc, lái chiếc
xe hơi mui trần màu đỏ đang chạy trên xa lộ thì bị một xe Container cán
dẹp lép cả xe lẫn người. Tài xế xe Container bước xuống xem Chi đã tắt
thở hẳn hay chưa rồi mới lên xe chạy tiếp và... biến mất. Vụ án không
tìm ra thủ phạm này khiến có nhiều tin đồn rằng tàn dư của dân du đãng
đã dàn cảnh giết Đại úy Chi nhằm trả thù việc tay sĩ quan cảnh sát này
đã lừa bắt Đại Cathay. Cũng có người cho rằng Trần Kim Chi bị giới tài
phiệt thanh toán. Nghi án đến tận bây giờ vẫn chưa sáng tỏ và có lẽ vĩnh
viễn sẽ không bao giờ sáng tỏ.
Cái chết của Đại Cathay
Giang hồ Sài Gòn
Tác giả: Vũ Quang Hùng
Chương II
Có lẽ không mấy ai không biết tiếng Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng
nhất trước 1975 (và mãi đến sau này), người đứng đầu trong “tứ đại giang
hồ” (Đại, Tỳ, Cái, Thế).
Bị đày ra đảo Phú Quốc, Đại Cathay tìm cách vượt ngục vào rạng sáng ngày 9-1-1967, và được coi là mất tích luôn từ đó.
Sự thật Đại Cathay đã chết. Nhưng bao quanh cái chết của anh ta vẫn còn
nhiều uẩn khúc và có lẽ mãi mãi bao trùm trong bí mật...
Có
thể nói, một cách nào đó, cái chết của Đại Cathay cũng là một “huyền
thoại” giống như nhiều huyền thoại xoay quanh cuộc đời của anh ta.
Từ sau khi Đại Cathay được coi là mất tích, đã có khá nhiều câu chuyện
đồn đại với các tình tiết ly kỳ, hấp dẫn về “đoạn kết” của nhân vật này.
Loại trừ các câu chuyện hoàn toàn không có đủ cơ sở để tin cậy như Đại
Cathay đã trốn thoát khỏi đảo Phú Quốc sang Thái Lan “gác kiếm giang hồ”
sống cuộc đời bình dị, hoặc Đại Cathay đã chỉ huy một cánh quân giải
phóng tiến chiếm Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào
30-4-1975 và đã anh dũng hy sinh... ít nhất cũng có ba câu chuyện khác
nhau với “đầy đủ chứng cứ” :
(l) Đại Cathay đã chết tại trường đua Phú Thọ trong dịp Tết Mậu Thân (1968),
(2) Đại Cathaybị Trần Tử Thanh, thiếu úy biệt kích ngụy, và tổ biệt kích của y giết theo lệnh Nguyễn Cao Kỳ,
và (3) bị quân du kích của Mặt trận Giải phóng miền Nam bắn chết tại khu vực núi Khu Tượng trên đảo Phú Quốc.
Nhưng, trước khi đi sâu vào các chi tiết “có thể tin được” nhờ các nhân
chứng người thật việc thật qua các lời đồn đại trên, xin mời các bạn
cùng chúng tôi lược qua tiểu sử của Đại Cathay và một số câu chuyện liên
quan đến tay trùm du đãng nổi tiếng này.
Tại sao lại là “Đại Cathay” ?
Điểu tưởng như đơn giản nhất là họ tên thật, ngày tháng năm sinh và tên
cha mẹ của Đại Cathay cũng đã gặp rắc rối: Lê Văn Đại, tức Nguyễn Văn
Đại, tự Đỗ Minh Đức, tự Dũng, tự Đại Cathay. Năm sinh lúc thì 1944, khi
thì 1940, lại có lần ghi 1941 hoặc 1945.
Cha Đại Cathay có ba tên: Nguyễn Văn Cự, Lê Văn Cự và Lê Văn Trự. Mẹ cũng có ba tên: Lê Thị Hưng, Lê Thị Hương và Lê Thị Duyên.
Việc này đã được Đại Cathay thú thật trong một lần bị Tổng nha Cảnh sát (ngụy) thẩm vấn:
“Riêng về năm sanh và tên cha mẹ, tôi tự ý khai để đánh lạc hướng trong
cuộc xét hỏi của nhân viên công lực, mà hiện tôi không còn nhớ rõ”
(trích lời khai trong lần bị bắt vào đêm 8-4-1964).
Dẫu sao,
cũng có thể khẳng định Đại Cathay lúc nhỏ ở với cha mẹ tại chân Cầu Mống
(quận l), sau chuyển qua đường Đỗ Thành Nhân (Khánh Hội, quận 1), theo
học văn hóa đến năm 1954 thì nghỉ học vì cha mất, phải ở nhà phụ giúp mẹ
buôn bán và làm... du đãng.
Cũng có người kể, vào khoảng năm
1950, vườn hoa bên cạnh Cầu Mống nối Sài Gòn với Khánh Hội khi đó có
một vựa củi lớn đối diện với hội trường Diên Hồng (hiện là Sở Thương mại
Thành phố). Bố mẹ của Đại Cathay làm nghề chẻ củi thuê cho vựa củi này.
Đại lúc ấy còn “nhóc tì” là một thằng bé hiền lành, ít nói, dẫu có
tướng “ngầu”. Suốt ngày, Đại thơ thẩn chơi đùa bên phía hội trường Diên
Hồng, vòng ra con đường sau lưng hội trường là đường Nguyên Công Trứ.
Ngay góc con đường này có một rạp hát và chiếu bóng không lấy gì làm
sang trọng lắm có tên rạp Cathay. Tại đây, chú bé Đại kết thân với nhiều
trẻ em bụi đời khác làm đủ thứ nghề như đánh giày, bán báo, bán kem...
Lũ lối này đánh lộn như cơm bữa, mà thông thường Đại luôn đánh thắng kể
cả những đứa lớn tuổi và lớn con hơn nhờ Đại vốn liều lĩnh, lì lợm, thêm
có “năng khiếu” đánh lộn (!).
Gần rạp Cathay có khu Dân Sinh
và bót cảnh sát quận 1. Bót này nổi tiếng dữ dằn với những ông đội xếp,
mà thời ấy kêu là “mã tà” hoặc “phú lít” (police).
Gần như
ngày nào đám trẻ con bụi đời cũng bị mã tà túm cổ về các tội đánh lộn,
ăn cắp vặt, móc túi... và bị đánh đập ra trò. Đại cũng nhiều lần bị túm,
dù không gầy án cũng bị đập để cảnh sát bắt khai ra đồng bọn. Lối lấy
cung khủng khiếp nhất đối với bọn trẻ là bị bắt quì xuống, hả to họng để
“mã tà” bỏ tọt một con gián còn sống nhăn vô. Con gián cuống cuống tìm
đường thoát, chui theo cuống họng xuống, dãy dụa, cào cổ họng, bao tử
làm chú nhóc ói đến mật xanh mật vàng. Qua những lần bị xử phạt như vậy
Đại vẫn nhất định không khai gì và được thả, lại lang thang ra rạp xi-nê
Cathay đánh lộn tiếp. Đám bụi đời nhóc tì ngưỡng mộ và phục Đại tính lì
lợm hơn người, đặt biệt danh “Đại Cathay”.
Đúng là du đãng
Năm 1955, Ngô Đình Diệm thắng lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn và các
giáo phái chống đối ông ta ở miền Tây. Thành phố Sài Gòn, khi ấy là thủ
đô Việt Nam Cộng hòa, cũng được chỉnh trang lại phần nào để mang bộ mặt
mới. Vựa củi bên cạnh Cầu Mống bị dẹp để biến thành công viên. Bố mẹ Đại
mất việc làm, dời nhà sang bên kia sông, ngụ tại con hẻm hãng phân
Khánh Hội. Con nít, trẻ nhỏ ở bên đó thuộc khu bến tàu cũng chẳng vừa
gì, vì ảnh hưởng của đời sống chính cha mẹ chúng và những người lớn ưa
nhậu nhẹt thường xuyên gây lộn. Đại Cathay xông vô “trận địa mới” ngay
và cũng thường xuyên thắng.
Đã có chút “máu mặt”, Đại Cathay
kéo rốc đám anh em bụi đời đó sang khu Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh, họp lại
làm ăn. Chỉ sau một thời gian ngắn, gây vài vụ án, tiếng tăm Đại Cathay
nổi như cồn, làm lu mờ dần những tay anh chị du đãng khét tiếng hồi đó.
Cũng vì du đãng, tính đến khi mất tích, Đại Cathay bị bắt tổng cộng 10
lần (không tính những lần còn là chú nhóc), trong đó có ba lần bị đưa ra
tòa xử. Nói chính xác hơn, trừ lần đầu, ngày 30-11-1959, Đại Cathay bị
bắt giải Tòa sơ thẩm Sài Gòn xử hai tháng tù ở tội danh “oa trữ giấy cầm
đồng hồ đeo tay”, cả 9 lần sau đó Đại Cathay đều bị bắt về các tội danh
“du đãng, bênh bạn chém quân nhân bị thương tích ở khu Dân Sinh” (bị
bắt ngày 8-5-61, Tòa sơ thẩm Sài Gòn xử 5 tháng tù ở), “đầu sỏ du đãng”
(bị bắt giải Tòa sơ thẩm Sài Gòn ngày 7-11-61, được miễn tố), “du đãng,
cố ý đả thương nhân viên công lực trong lúc hành sự” (bị Cảnh sát quận 2
bắt ngày 1-3-62, giam cứu số 4268, trả tự do ngày 21-4-62), “du đãng
đặc biệt” (Cảnh sát Đô thành bắt ngày 26-6-1965), v.v...
Nên có thể nói, Đại Cathay đúng là du đãng, chớ không phải ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp như nhiều tội phạm hình sự khác.
Cụ thể và chi li hơn, có thêm một lần Đại Cathay bị bắt không hẳn vì
tội danh du đãng: Lúc 9 giờ đêm 13-6-1962, nhà hàng Vạn Lộc ở số 32
đường Trần Hưng Đạo bị ném lựu đạn. Cảnh sát (ngụy) bắt 3 tên Thạch
Linh, Thạch Minh và Đỗ Trí Dũng để điều tra. Những tên này khai và Đại
Cathay bị bắt ngày 20-6-1962 - đúng một tuần sau. Nhưng cuộc điều tra
“không đem lại kết quả” và gần ba tháng sau, Đại Cathay được thả tự do,
cụ thể vào ngày 12-9-62.
Xin trích lại một phúc trình của nhân viên Ban 4 phòng Hình cảnh gởi lên chủ sự phòng nói về Đại Cathay:
“... Chúng tôi đã mật điều tra trong vùng Đô thành và ghi nhận những
tin tức về Đại Cathay như sau: tên Đại Cathay đã sống không nghề nghiệp
từ lúc 19 tuổi, y đã kết hợp một số thanh niên cùng tình trạng tổ chức
những vụ đánh chém lộn khắp vùng Sài Gòn Chợ Lớn, y đã hai lần tổ chức
chém người tại khu Dân Sinh (Q2) và tại Chợ Lớn. Ngoài ra y cũng đã bị
chém một lần tại đường Lê Lai. Đặc biệt, số người bị đánh chém cũng như
đã chém y đều thuộc thành phần lưu manh, du đãng...”.
(Phúc trình ngày 15-1-1966 do Lý Văn Vàng, Võ Minh Nhựt ký tên, bên cạnh có Phó Cảnh sát trưởng Trần Văn Ơn xác nhận).
Ngoài những điểm gan lì, “chịu chơi”, Đại Cathay còn chơi rất đẹp không
chỉ với dân chơi mà còn với bạn bè, nên chẳng bao lâu đã nổi lên thành
“nhân vật du đãng số một” thời Mỹ ngụy.
Xin kể một trong những chuyện “chơi đẹp” của Đại Cathay:
Viên “tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ lúc ấy cố chứng tỏ ông ta muốn chấn
hưng đạo đức, lành mạnh hóa xã hội nên ra lệnh thành lập “Trung tâm Bài
trừ Du đãng” nằm gần cầu Bình Triệu, là một khu đất rộng có thể xây cất
nhiều dãy nhà làm phòng giam. Đại úy Trần Kim Chi được cử làm giám đốc,
đương nhiên dưới quyền điều khiển của Tổng nha Cảnh sát khi đó do Nguyễn
Ngọc Loan nắm quyền tối cao.
Một buổi chiều, nhà văn Nguyễn
Thụy Long (khi đó làm phóng viên cho một nhật báo) được mời đến Trung
tâm. Đại úy Chi cho Thụy Long biết vừa bắt được mấy tay đàn em của Đại
Cathay. Và cũng liền đó, ông ta nhận được giấy mời của Đại Cathay đến
nhà hàng Paramouth dự tiệc vào tối hôm đó.
Biết Thụy Long vốn quen biết Đại Cathay từ trước, Đại úy Chi mời Thụy Long đi cùng.
Theo lời Thụy Long kể, 7 giờ tối hôm đó, hai người cùng nhau đến nhà
hàng. Xe hơi vừa dừng lại trước cửa Paramouth, Đại Cathay thân hành ra
tận cửa đón khách. Anh ta có dáng người vừa tầm, ăn mặc nhũn nhặn, áo
sơ-mi trắng bỏ trong quần màu sẫm, tóc hớt ngắn, đeo kính gọng bạc.
Trông Đại Cathay hiền lành như một thư sinh chớ không phải một tay anh
chị khét tiếng, đã thế còn ăn nói rất lịch sự.
Đại Cathay
hướng dẫn khách lên tầng trên của nhà hàng sang trọng, mờ ảo trong ánh
đèn màu. Rượu sâm-banh, những món ăn ngon lành, thịnh soạn được dọn ra,
nhưng nhà hàng sao lại vắng hoe ngoại trừ bàn tiệc mà Đại Cathay đãi
khách? Đại Cathay thân mật rót rượu mời nhập tiệc và nhỏ nhẹ giải thích
rằng tối nay nhà hàng dành riêng để phục vụ khách của anh ta, không một
ai khác được lai vãng: Anh ta đã “mua” nhà hàng trọn đêm.
Trong bữa tiệc, Đại Cathay ngỏ lời với Đại úy Chi xin thả mấy tay đàn em
vừa mới bị Trung tâm bắt giữ, Đại Cathay sẽ không quên ơn Đại úy. Thỏa
thuận không đi đến kết quả, tuy nhiên Đại Cathay vẫn giữ vẻ lịch sự,
nâng ly mời:
- Chuyện không thành thì thôi, nhưng đêm nay
mình cứ vui đã, các vị là khách chúng tôi mời. Xong tiệc ở đâỵ, quí vị
có thể tiếp tục cùng chúng tôi vui tiếp ở một nơi khác. Thưa Đại úy,
cuộc đời này mình chẳng thể nói trước được điều gì!
Và Đại
Cathay đã được cảnh sát ngụy đối xử rất đặc biệt. Xin dẫn chứng: Ngày
8-4-1964, lúc 22 giờ 15, Ban Bài trừ Du đãng thuộc Tổng nha Cảnh sát bắt
Đại Cathay tại xã Phú Nhuận , giải giao đến Tổng nha ngày 10-4-64. Đến
11 giờ ngày 25-5-64, ủy ban An ninh nội bộ Tổng nha Cảnh sát nhóm họp
tại văn phòng Trung tá phụ trách khối cảnh sát đặc biệt để “cứu xét
những can phạm mới khai thác xong để trình Trung tá Tổng Giám đốc Cảnh
sát quốc gia quyết định”.
Chỉ riêng việc Đại Cathay được ủy
ban An ninh Tổng nha Cảnh sát Quốc gia họp để cứu xét chung với “can
phạm Việt Cộng” cũng đủ biết anh ta được chính quyền cũ “ưu ái” biết
dường nào!
Cuối cùng, sau khi nhận thấy không thể “cải tạo”
nổi Đại Cathay, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia quyết định đưa anh ta ra “an
trí” tại đảo Phú Quốc vào ngày 28-11-1966.
Trại Cửu Sừng
Khác với đảo Côn Lôn (sau được đổi thành Côn Sơn và hiện nay là Côn
Đảo), thời Pháp thuộc đảo Phú Quốc chưa hề có trại giam. Thời Ngô Đình
Diệm cũng vậy. Mãi đến “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu, Phú Quốc
mới hình thành hai trại giam, một dành cho tù binh (tức là số bộ đội
miền Bắc vô chiến đấu và bị bắt tại miền Nam), một dành cho “dân chơi”
và số tù chính trị quốc gia (chỉ số chống đối chế độ Sài Gòn khi ấy
nhưng không liên quan gì với Mặt trận Giải phóng miền Nam - hầu hết là
số người can dự vào cuộc chống đối Thiệu ở miền Trung do bác sĩ Mẫn cầm
đầu).
“Dân chơi” được đưa ra Phú Quốc lúc đó chỉ khoảng vài
chục người, toàn thuộc loại du đãng, chém lộn có nhiều thành tích “có
vằn có vện” (không phải cướp của giết người, cũng không được đưa ra tòa
xét xử) như Hải Phòng Kin, Sú Hùng, Lâm Chín ngón, Bảy Xi, Hải Súng,
Quảy Thầu Hao, Hắc Quảy Chảy, Đực Bà Tiểu, Thanh Tưa, Lắm Mổ bụng, Hùng
Mỏ chuột, Hòa Áo thun... Và đương nhiên, trong số đó có Đại Cathay.
Trại giam thứ hai này được xây cất vội vàng theo kiểu dã chiến, gần
ngay sân bay thuộc thị trấn Dương Đông - và do đó cũng không mấy xa bãi
biển (không phải trại giam tù binh do Mỹ xây dựng, nằm trên đường đi từ
Dương Đông đến An Thới, cách thị trấn Dương Đông đến hơn 20 km). Vội
vàng đến nổi trại giam chưa kịp đặt tên ngoài một danh từ khá hoa mỹ sử
dụng trên giấy tờ: “Trại hướng nghiệp Phú Quốc”.
Số can phạm
mới chuyện từ đất liền tới trại, buồn tình không biết làm gì, cả ngày
dài cổ giải trí bằng bộ bài mạt chược. Đánh bài mãi cũng đâm chán, đến
một lúc nào đó, bác sĩ Mẫn cao hứng tuyên bố:
- Tụi nó không đặt tên cho trại này thì chúng ta phải đặt tên mới được!
Cả bọn nhao nhao đồng ý. Sau một hồi bàn tán, ai nấy nhất trí sẽ xáo bộ
bài và để một người làm “đại diện” rút một cây bài. Tên cây bài này sẽ
là tên trại. Đại Cathay được hân hạnh đề cử làm người rút cây bài ấy. Và
Đại Cathay đã rút trúng con bài cửu sừng.
Trại Cửu Sừng từ
đó thay cho tên “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” (thật ra trại đâu có dạy
cho ai nghề gì - chẳng có người dạy, cũng chẳng có xưởng trại, máy
móc... chi ráo lấy gì mà “hướng nghiệp” ?).
Chiếc áo lạnh dát vàng (?)
Theo lời kể của một trung úy cảnh sát dã chiến có nhiệm vụ canh gác trại Cửu Sừng thì:
“Trong một chuyến thăm nuôi, tôi thấy trong đám thân nhân những người
tù có thân nhân của Đại Cathay. Đó là vợ ba của Đại, khá xinh đẹp, nghe
đâu thuộc gia đình tử tế và bản thân chị ta là người học thức. Trong
những món đồ thăm nuôi hậu hĩnh, có một chiếc áo blouson. Chiếc áo màu
đen, sau lưng thêu bản đồ Việt Nam chia đôi. Nửa trên phía Bắc thêu chỉ
đỏ, phía miền Nam thêu chỉ vàng và hai chữ Việt Nam thêu to tướng trên
vai lưng áo. Loại áo này bán rất nhiều ở đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn khi
đó, dành cho lính Mỹ mang về nước làm kỷ niệm. Thật ra chiếc áo này
chẳng ấm áp gì, những đường may lại vụng về, xấu xí. Khi khám xét đồ
thăm nuôi, tôi nhấc chiếc áo đó lên xem xét. Chiếc áo nặng trịch, ngoài
sức tưởng tượng! Lần vào lưng áo, tôi biết có những thỏi gì đó như những
thỏi kim loại nhưng mềm. Tôi toan lên tiếng thì một vị sếp của tôi lừ
mắt ra hiệu tôi trả lại áo cho Đại Cathay. Tôi không còn cách nào khác
là đưa chiếc áo cho Đại Cathay ôm trở về trại”.
“Điều bất ngờ
nhất là chỉ một ngày sau, vào buổi tối, Đại Cathay đã trốn thoát khỏi
trại cùng với một đàn em thân tín. Theo lời kể lại của lính gác thì Đại
Cathay khi trốn đi đã mặc quần áo hải quân cùng với một số binh sĩ vừa
lính vừa sĩ quan. Họ được hộ tống ra bãi biển dùng ca-nô chạy ra một
chiếc tàu hải quân đậu sẵn ngoài khơi”.
Phẩn cuối lời kể của
viên trung úy cảnh sát dã chiến gần đúng với nội dung công điện hỏa tốc
được gởi từ “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” về Tổng nha Cảnh sát Quốc
gia...
Sự thực về chuyện vượt ngục của Đại Cathay
Tuy nhiên, lời kể của viên trung úy cảnh sát dã chiến cũng như nội dung công điện hỏa tốc trên đều chỉ đúng ở phần đầu.
Chúng tôi đã trực tiếp gặp một số đàn em của Đại Cathay liên quan mật
thiết đến chuyện vượt ngục này, và qua phối kiểm các nguồn tin thu được,
xin dựng lại câu chuyện như sau:
Sau khi nhận được “chiếc áo
lạnh dát vàng”, Đại Cathay tỏ ra rất phấn khởi, bàn bạc với số đàn em
thân tín, tính chuyện vượt ngục. Đại Cathay cho biết, anh ta đã mua
chuộc được một số người trong Ban Quản đốc “Trại hướng nghiệp Phú Quốc”
(gồm Đại úy Nghĩa, Trung úy Long, Trung úy Tảo), đồng thời liên hệ được
với một tàu hải quân. Tất cả đều sẵn sàng để Đại Cathay vượt ngục cùng
với một vài tay đàn em thân tín và giúp họ trốn qua Thái Lan. Gần một
chục tay đàn em xin đi theo Đại Cathay gồm Hải Súng, Lâm Chín ngón, Xì
kíp, Hùng Mỏ chuột, Lắm Mổ bụng... Nhưng Hải Súng tham mưu:
- Thằng Lâm (Chín ngón) lóc chóc, để nó đi theo là bể chuyện.
Kẹt nỗi Lâm Chín ngón lại là cánh tay đắc lực thân cận của Đại Cathay
và rất được Đại Cathay thương yêu. Suy nghĩ mãi đến gần nữa đêm, Đại
Cathay bảo Lâm Chín ngón:
- Tao nghe nói mày còn chơi xì ke phải không? Bỏ đi. Chơi thứ đó hại người lắm. Mày phải nghe lời tao!
- Dạ... Nhưng bỏ gay quá.
- Tao cho mày chích lần này là lần chót!
Vừa nói, Đại Cathay vừa kêu đàn em chích vào mạch máu ở cánh tay Lâm
Chín ngón một liều ma túy gấp đôi liều bình thường. Liều thuốc này do
chính Hải Súng pha chế, lại thêm cả một số “chất xúc tác” để tăng
ép-phê. Kết quả Lâm Chín ngón “phê”, ngủ say như chết.
Giờ
“G” vượt ngục đã đến. Đại Cathay và 5 tên đàn em lặng lẽ chui qua hàng
rào trại giam. Đêm hôm ấy trời tạnh ráo, nhưng ánh sáng lập lòe của
những vì sao không đủ soi tỏ cảnh vật. Bỗng có tiếng quát lớn:
- Ai đấy?
Tiếp theo là tiếng súng bắn báo động liên hồi và hỏa châu vụt tỏa sáng
trên bầu trời. Thì ra do giờ giấc hợp đồng không chặt chẽ, Đại Cathay và
bọn đàn em bò ra hàng rào trại giam không đúng ca trực của tốp lính gác
đã bị mua chuộc.
Cũng có nguồn tin cho rằng không phải nhiều
dân chơi xin vượt ngục theo Đại Cathay, mà thực ra Đại Cathay phân công
nhiều người cùng đi theo, để phòng khi gặp chuyện sẽ “tung hỏa mù” giúp
Đại Cathay dễ bề trốn thoát. Dù hiểu theo cách nào, đạn vẫn tiếp tục
nổ, hỏa châu tiếp tục nối đuôi nhau soi sáng khu trại giam như ban ngày,
nhưng không còn cách nào khác vì đã lỡ “phóng lao”, bọn vượt ngục cứ
thế liều chết phóng chạy. Xì kíp, Hùng Mỏ chuột... bị bắt. Chỉ còn Đại
Cathay và Hải Súng chạy thoát. Tuy nhiên họ không dám chạy về phía bãi
biển để ra tàu hải quân như kế hoạch vạch sẵn, mà lao bừa theo hướng
ngược lại: chui vô rừng, lần lên phía Bắc đảo...
Đến đây,
trước khi viết tiếp về chuyện vượt ngục của Đại Cathay, chúng tôi thấy
nên nhắc lại một số “huyền thoại” của nhân vật này để bạn đọc tiện theo
dõi...
“Mặc cả” giữa Đại Cathay và Tổng nha Cảnh sát
Đại Cathay đang trong lứa tuổi phải đi quân dịch, nhưng anh ta vẫn
“phây phây” khoác đồ xi-vin ngông nghênh trên đường phố giữa Sài Gòn.
Một viên tướng, vốn có cảm tình với Đại Cathay - và có lẽ phần nào cũng
muốn “chơi trội” - nhắn gặp Đại Cathay, thân mật khuyên:
- Để khỏi phải động viên, anh chịu phiền làm gạc-đờ-co (cận vệ) cho tôi là xong chuyện!
Đại Cathay cười cười đáp lại rất thiệt tình:
- Tôi đi đâu cũng có hàng chục “gạc-đờ-co” nay lại làm “gạc-đờ-co” cho
ngài, không lẽ bỏ mấy thằng “gạc-đờ-co” của tôi thất nghiệp?
Nghe kể, có một lần giới “dân chơi” xôn xao vì tin Nguyễn Ngọc Loan thừa
lệnh Nguyễn Cao Kỳ chính thức mời Đại Cathay “đàm phán” để giải quyết
nhằm triệt tận gốc rễ nạn du đãng tại Sài Gòn - Gia Định.
Để
gây ấn tượng cho buổi đàm phán này, Đại Cathay đến điểm họp với tiền hô
hậu ủng chưa từng có trong lịch sử giang hồ miền Nam: Bữa ấy Đại Cathay
chễm chệ trên chiếc Chevrolet gắn máy lạnh do Tư Gáo cầm lái - nên nhớ
xe hơi có gắn máy lạnh khoảng giữa thập niên 1960 của cả Sài Gòn có thể
đếm trên đầu ngón tay (xe này Đại Cathay mua lại của bà Bút Trà). Cặp
theo Chevrolet là hơn chục chiếc Honda 67 đen bóng, xoáy nòng chở đôi
theo bảo vệ cho “đại ca”.
Cuộc đàm phán diễn ra trong vòng bí
mật, tuy nhiên sau đó nội dung vẫn bị rõ rỉ, đồn đại ra giới giang hồ.
Theo đó, Nguyễn Ngọc Loan, có Mã Sâm Nhơn phụ tá, yêu cầu Đại Cathay từ
giã cuộc đời du đãng, tuyên bố giải tán các băng, đảng dưới trướng. Tất
cả anh em hoàn lương bảo đảm không ai bị làm khó dễ, còn được tạo điều
kiện làm ăn. Ngược lại, kẻ nào trái lệnh, tiếp tục gây ân oán, Đại
Cathay có nhiệm vụ “triệt”. Bù lại, Đại Cathay được đặc cách làm thư ký
cho Nguyễn Ngọc Loan, với cấp bậc tương đương biên tập viên hoặc thẩm
sát viên.
Cũng theo tin đốn, Đại Cathay ra giá “mặc cả” chỉ
đồng ý đề nghị trên với hai điều kiện: Một là, phải để lại Cảng Sài Gòn
cho giới giang hồ có đất làm ăn, hai là anh em dân chơi được quyền “bảo
kê” các sòng bài.
Cuộc “đàm phán” giằng co mãi, nhiều tỉ lệ ăn chia được đặt ra, nhưng không đi đến thống nhất.
Lại có tin đồn (toàn là tin đồn!) Đại Cathay được đề nghị giữ chức
Trưởng ty Cảnh sát quận 9 (tức vùng Thủ Thiêm). Đổi lại, Đại Cathay phải
lập công bằng cách bắt gọn bọn đàn em. Việc này Đại Cathay từ chối
thẳng thừng: “Tôi vốn là thằng du đãng, không thể nào bán đứng bạn bè,
cũng là du đãng như tôi!”
Dù thế nào, rốt cuộc “đàm phán” cũng không thành. Trung tâm Bài trừ Du đãng được thành lập.
Nhiểu “kẻ biết chuyện” còn kể thêm, sau cuộc “đàm phán” bất thành với
Đại Cathay, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia khi ấy chuyển qua “đàm phán” với
một trùm du đãng khác khá nổi danh trong giới người Hoa: Tín Mã Nàm. Kẻ
đứng làm trung gian cho cuộc “đàm phán” sau này là Trung tá Trụ, Trưởng
ty Cảnh sát quận 5. Tín Mã Nàm đã đồng ý “chiêu hồi”, chỉ cho cảnh sát
bắt vô số dân chơi người Hoa đẩy ra trại Cửu Sừng, Phú Quốc như Hải
Phòng Kin, Sú Hùng, Cọp Chảy, Quảy Thầu Hao, Hắc Quảy Chảy... Nhờ vậy,
Tín Mã Nàm được trọng dụng, dựa vào thế lực của cảnh sát để tác yêu tác
quái một thời. Nhưng “thiên bất dung gian” Tín Mã Nàm đã chết trong bệnh
tật, khổ sở vì thiếu xì ke.
Còn Đại Cathay, vốn đã nổi danh
lại càng lừng lẫy sau vụ “đàm phán” được thổi phồng lên rằng anh ta đã
cương quyết không bán đứng giới giang hồ để mua chiếc lon thiếu tá cảnh
sát, còn dám công khai bảo vệ dân chơi trước mặt viên tướng chỉ huy
trưởng Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Nghĩa khí này quả là đáng nể phục,
xứng đáng làm đại ca của những đại ca. Tham vọng của Đại Cathay bắt đầu
nổi lên. Anh ta tuyên bố với bọn đàn em rằng muốn trở thành một nhân vật
như Bảy Viễn thời thực dân Pháp còn tạm chiếm, thành một ông “vua”
trong kinh doanh bất cứ thứ gì ngoài vòng pháp luật: đĩ điếm, ma túy,
bài bạc...
Nhưng phàm ở đời, những kẻ không biết tự lượng sức
mình, không biết đâu là điểm dừng rất dễ bị diệt vong - hoặc theo nghĩa
bóng, hoặc theo nghĩa đen.
Đến đây, chúng tôi xin trở lại lý giải từng câu chuyện đồn thổi về đoạn kết của Đại Cathay.
Đại Cathay “chỉ huy” cánh quân cách mạng dịp Tết Mậu Thân?
Khá nhiều nhật báo xuất bản tại Sài Gòn vào thời điểm ấy đã loan tin
“giật gân sốt dẻo” trên sau đợt tổng tấn công của Mặt trận Giải phóng
miền Nam năm 1968.
Tin cho rằng Đại Cathay đã “chỉ huy một
cánh quân Việt Cộng tấn công vào hướng tây bắc Sài Gòn và bị bắn hạ
trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, gần Ngã tư Bảy Hiền.”
Có
báo còn thêm tình tiết để bạn đọc có thể tin được như “người ta tìm thấy
trong xác chết một hộp quẹt Zippo có khắc tên Trần Đại ở nắp, một cuốn
nhật ký viết về tiểu sử đời một tay du đãng, tự nhận mình là nhân vật
chính trong cuốn tiểu thuyết viết về xã hội đen của một tác giả nổi
tiếng xuất bản ở Sài Gòn...”.
Nguyễn Thụy Long (tác giả tiểu
thuyết Loan mắt nhung, được cho là viết về Đại Cathay) khi đó đang là
phóng viên một tờ nhật báo ở Sài Gòn, vừa nghe tin trên vội xách máy ảnh
chạy thẳng lên ngã tư Bảy Hiển hỏi thăm bà con tại chỗ, tìm khắp khu
vực quanh trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám song chẳng tìm thấy bất cứ chi
tiết nào xác nhận nguồn tin ban đầu trên. Xác Đại Cathay không có, hộp
quẹt Zippo cũng không, quyển nhật ký cũng không nốt.
Thụy
Long bèn lần mò hỏi các giới chức có thẩm quyền chỉ huy trận đánh tại
đây (về phía Mỹ, ngụy), họ trả lời tất cả xác chết của chiến binh Mặt
trận Giải phóng miền Nam đều đã được đem chôn tập thể ở đâu đó.
Riêng Đại úy Trần Bá Ngôn khẳng định: “Tôi biết chắc đó là Đại Cathay
vì hồi còn mang lon thiếu úy, tôi đã có lần đánh nhau tay đôi với anh ta
và đã thấy anh ta dùng chiếc hộp quẹt Zippo này. Xác Đại Cathy đã được
chôn chung với các xác chết khác”. Tuy nhiên khi Thụy Long hỏi thêm chôn
ở đâu thì ông ta... tắc tị.
Về chiếc hộp quẹt Zippo và cuốn nhật ký, Đại úy Ngôn kể:
“Có một lính nhảy dù vốn là đàn em của Đại Cathay đã cất giữ những thứ này làm vật kỷ niệm”.
Thụy Long hỏi anh lính nhảy dù này là ai, họ tên ra sao, thuộc đơn vị cụ thể nào, Đại úy Ngôn đều không thể nào trả lời được.
Thụy Long dò hỏi thêm nhiều nhà báo, phóng viên, nhiếp ảnh... ở Sài Gòn
hồi đó, nhưng không một ai ghi nhận thêm tình tiết nào khác, cũng không
ai chụp được một pô ảnh nào khả dĩ chứng thực nguồn tin trên.
Nhằm chứng minh cho việc Đại Cathay đi theo Mặt trận Giải phóng miền
Nam, có thêm tin đồn một trung tướng trong chính quyền Thiệu, do rất có
cảm tình với Đại Cathay, đã đứng ra tổ chức chuyện vượt ngục cho Đại
Cathay. Đại Cathay đã trốn thoát khỏi đảo, trở về đất liền. Nhưng khi
tàu chở Đại Cathay vừa tới Cà Mau thì gặp quân du kích của Mặt trận Giải
phóng miền Nam tấn công. Rốt cuộc lính tráng trên tàu lớp tử thương,
lớp đầu hàng tình nguyện đi theo quân giải phóng - trong số này có Đại
Cathay.
Tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ, vì như chúng tôi
đã tường thuật rõ ở phần trước: Đại Cathay vượt ngục nhưng chưa hề trốn
thoát khỏi đảo Phú Quốc.
Vì vậy, nguồn tin Đại Cathay chỉ
huy một cánh quân Mặt trận Giải phóng miền Nam tấn công vào hướng Tây
Sài Gòn và bị bắn hạ trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, theo chúng tôi
chỉ là một tin vịt, như vô số nguồn tin vịt khác thường có trên báo chí
khi ấy.
Trần Tử Thanh giết chết Đại Cathay?
Trần
Tử Thanh lúc ấy đeo lon thiếu úy biệt kích dù, tính khá bốc phét, nhất
là khi khoe thành tích của mình, kể cả những thành tích mà nếu có đúng
100% cũng không ai khoe. Thí dụ Thanh khoe chính hắn đã “chơi” Chu Tử
tức Chu Văn Bình (khi đó là chủ bút báo Sóng thần), và cũng chính hắn đã
“mần” Thượng tọa Thích Thiện Minh.
Đặc biệt, khi đã có chút
hơi men, Thanh ba hoa đủ thứ chuyện, khó mà tin được trong lời kể của
hắn sự thực chiếm bao nhiêu phần trăm. Có điều, câu chuyện kể về Đại
Cathay của Trần Tử Thanh được coi là “có đầu có đũa”, hơn nữa, theo lời
kể, hắn là nhân vật chính, là “người hùng” trong câu chuyện. Xin nhường
lời cho tay thiếu úy biệt kích dù này:
“Bữa ấy moa đang ngồi ở
một quán cà-phê quen thuộc nằm trên đường Gia Long (nay là Lý Tự
Trọng). Bỗng một tay cảnh sát chìm quen mặt đến gần nói nhỏ với moa:
“Thưa Thiếu úy, có lệnh của ông Tướng gọi gấp”. Ông Tướng theo tụi moa
hiểu ngâm với nhau là Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan tức Sáu Lèo, giám đốc
Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Biết có chuyện tối quan trọng, moa rời quán
cà-phê ngay. Tại Tổng nha, moa gặp đủ mấy đứa trong nhóm của moa. Tụi
moa được lệnh lên đường ngay để thi hành một nhiệm vụ đặc biệt.
Nghề biệt kích là vậy. Đã quen với những nhiệm vụ loại này nên bọn moa
chẳng đứa nào thắc mắc. Tất nhiên không thể có thời gian trở về nhà nói
lời từ biệt với người thân, bọn moa được đưa thẳng ra phi trường. Trực
thăng đã chờ sẵn bốc bọn moa lên ngay. Khi trực thăng đã lơ lửng giữa
bầu trời, bọn moa mới được phát mỗi thằng một bọc đồ. Với kinh nghiệm
sẵn có, bọn moa vội mở ra, trong đó thế nào cũng có một gói nhỏ đựng
tiền. Nhìn tiền là mình biết ngay sẽ được thả xuống đâu. Nếu là tiền
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chắc ăn là sẽ nhảy dù xuống miền Bắc. Nếu là
tiền ria ắt phải xuống đất Căm-bốt. Còn nếu tiền Việt Nam Cộng hòa thì
yên trí chỉ lòng vòng ở miền Nam. Nhưng lần này, vừa mở gói đồ, moa biết
ngay mình khỏi phải đi đâu xa: Trong đó là một bộ bà ba đen, đôi dép
râu và chiếc nón tai bèo. Như vậy chắc như bắp là bọn moa phải hóa trang
làm “Việt Cộng”, có điều chưa biết nơi mình đáp xuống.
Thế rồi trực thăng lướt trên mặt biển mênh mông. Tay sĩ quan trên trực thăng lúc này mới lên tiếng dặn dò:
- Các anh được lệnh giả làm Việt Cộng. Súng AK đây. Nhiệm vụ lần này
không lấy gì làm nguy hiểm, nhưng phải thực hiện thành công và khôn
khéo. Theo báo cáo chính thức của cảnh sát Phú Quốc, Đại Cathay và đồng
bọn mới vượt ngục tối qua. Ta bắt lại gần hết, chỉ hai đứa trong đó có
Đại Cathay trốn thoát, chúng đã chạy vô rừng mất dạng. Trực thăng sẽ đổ
các anh xuống bìa rừng, để các anh vô rừng truy lùng hai tên này bắn
chết chúng. Nhớ phải giữ bí mật, làm sao cho mọi người không ai biết ông
tướng hạ lệnh thủ tiêu Đại Cathay) không ai biết chúng ta giết tay trùm
du đãng này nghe!
Biết những chuyện công tác kiểu này có hỏi
thêm cũng vô ích, bọn moa lặng lẽ thay đồ biệt kích bằng quần áo bà ba
đen, dép râu. Tay sĩ quan dặn thêm:
- Làm sao cho mọi người
đều hiểu Việt Cộng giết Đại Cathay là tốt nhứt nên các anh mới phải hóa
trang. Nếu lộ thì phiền phức lắm đó!
“Phiền” nghĩa là gì, moa
thừa biết. Sau mấy ngày luồn rừng lội suối, bọn moa phát hiện Đại
Cathay cùng tên đồng bọn của hắn tại chân núi Khu Tượng. Chẳng lôi thôi
gì, moa “phơ” luôn.
Hà hà... nào ai ngờ Đại Cathay danh tiếng lừng lẫy một thời lại dễ dàng gục ngã trước mũi súng của moa!”.
Câu chuyện do Trần Tử Thanh vừa kể, theo như nhận định của chúng tôi
ngay từ ban đầu, khó có thể tin vì thiếu rất nhiều tình tiết cụ thể. Rất
tiếc, chúng tôi không có điều kiện gặp trực tiếp Trần Tử Thanh để hỏi
thêm anh ta đã bắn Đại Cathay mấy phát đạn, đạn trúng vô đâu? Đại Cathay
có phản ứng gì không? Làm cách nào anh ta nhận diện, biết chắc đó là
Đại Cathay? Giết xong Đại Cathay anh ta lấy gì làm bằng chứng để báo cáo
lại với thượng cấp? Ai đã chôn cất, dựng bia mộ cho Đại Cathay? Cùng tổ
biệt kích với Trần Tử Thanh còn có những ai, mấy người, tên gì? Bắn
chết Đại Cathay xong, làm cách nào anh ta trở lại Sài Gòn? Nguyễn Ngọc
Loan có ý kiến gì khi được báo cáo lại tình hình? v.v... và v.v...
Và, nếu đúng vậy, tại sao Tổng nha Cảnh sát Quốc gia lại ra “báo cáo
tầm nã” (giống lệnh truy nã hiện nay) đối với Đại Cathay và Hải Súng?
Tuy nhiên, cũng phải đặt câu hỏi ngược lại: làm cách nào Trần Tử Thanh
biết được chính xác Đại Cathay chết ở chân núi Khu Tượng?
Dẫu
sao, không thể phủ nhận nỗi bực bội - nếu không nói là căm ghét - của
Nguyễn Ngọc Loan và một số tướng tá khác đối với Đại Cathay.
Lời kể của Hòa Áo thun.
Hòa Áo thun là dân chơi thuộc loại đàn em của Đại Cathay bị đưa ra trại
Cửu Sừng cùng lúc với “đại ca”. Anh ta tên thật là Hòa, mang biệt danh
trên vì trên người có xâm hình một chiếc áo thun ba lỗ màu chàm đậm,
khiến thoạt nhìn tưởng như lúc nào anh ta cũng khoác áo thun trên người,
dù thực ra đang ở trần cùi cụi.
Sau khi Đại Cathay và Hải
Súng vượt ngục Cửu Sừng được một thời gian, Hòa áo thun cũng trốn trại
nhân khi ra ngoài làm khổ sai. Nhưng ít tuần sau, khi quân ngụy mở cuộc
hành quân lên mạn Bắc Đảo, Hòa Áo thun lớ ngớ bị bắt trở lại.
Và sau đấy là lời kể của Hòa Áo thun:
“Tại Bắc Đảo có lực lượng khá đông anh em du kích của Mặt trận Giải
phóng miền Nam. Lúc tôi đi lạc vô căn cứ, anh em hỏi thăm, biết tôi là
tù hình sự đào thoát, đối đãi rất tử tế. Anh em cho tôi một bịch gạo,
một cần câu để câu cá, tự kiếm lấy thức ăn. Lúc quân đội (ngụy) hành
quân, lực lượng du kích quen thuộc đường đi nước bước, lần đi đâu hết
trơn. Còn mình tôi chẳng biết trốn vô ngóc ngách nào, đành để bị bắt”.
Riêng tin liên quan Đại Cathay, Hòa Áo thun cho biết:
“Khoảng giữa đường từ thị trấn Dương Đông lên Bắc Đảo có một ngọn núi
có tên núi Khu Tượng. Ngay tại đây có hai ngôi mộ mới đắp đất có bia mộ
mang tên Lê Văn Đại và Võ Văn Hải. Bà con ở khu vực này đồn rằng Đại
Cathay và Hải Súng đã bị anh em du kích bắn chết vì chống lại cách mạng.
Họ còn đồn đại về chuyện Đại Cathay đánh lộn với “Việt Cộng” hồi anh ta
bị giam ở khám lớn Chí Hòa”.
Vụ ẩu đã diễn ra liên tục hai
ngày hai đêm giữa tù chính trị và tù thường phạm tại khám Chí Hòa với
hàng ngàn người tham gia vào giữa năm 1966 có thể nói đã đi vào “lịch sử
trại giam”. Khi tôi được chuyển từ Tổng nha Cảnh sát Quốc gia sang Chí
Hòa (tháng 6-1966), vụ việc đã chấm dứt hơn một tháng, nhưng dư âm vẫn
còn sôi động. Kế đó, tôi lại bị đưa từ khu FG (khu giam tù chính trị)
sang khu ED, thoạt đầu ở phòng 1E3, sau chuyển sang 3D (nơi trước dùng
giam tù tử hình, sau dùng nhốt một số tù chính trị “đặc biệt” - từng nổi
tiếng với “con ma vú dài” ). Lầu 3D cũng chính là nơi ở của số anh em
tù chính trị vừa mới xung đột với tù thường phạm. Vào thời gian tôi ở
khu ED, Đại Cathay bị nhốt ở phòng 3E4, cũng có đôi lần gặp tôi nói
chuyện tào lao. Về sau, tôi còn hỏi thêm chi tiết về vụ ẩu đã trên và
được nhiều anh em cả tù chính trị lẫn tù thường phạm từng trực tiếp tham
gia kể lại. Xin phục dựng lại vụ xung đột có thể nói khá chính xác qua
lời kể của những người trong cuộc thuộc cả đôi bên.
Vụ ẩu đã giữa tù chính trị và tù thường phạm tại khám Chí Hòa 1966
Hôm ấy, vào khoảng 5 giờ chiều, đã hết giờ hành chính nên hầu hết giám
thị về nghỉ, chỉ còn một vài tên trực nhưng thường bọn chúng giao cho số
trật tự (luôn do tù hình sự án nhẹ, được bọn chúng tin tưởng) điều hành
sau khi khóa trái cửa khu.
Dưới sân dãy E thuộc khu ED khám
Chí Hòa có bể chứa nước lớn, dành cho can phạm ở các phòng thuộc toàn
khu ED (sân dãy D không có bể nước) luân phiên nhau tắm giặt và hứng
nước mang lên phòng nấu ăn. Vào giờ đó các phòng thuộc tầng trệt và ba
tầng lầu bên dãy E đều đã khóa cửa, các can phạm thường án (tù hình sự)
đã hết giờ ra tắm nắng, giặt giũ. Theo thông lệ, đến lượt anh em tù
chính trị trên lầu 3D sử dụng hồ nước.
Tuy nhiên, vẫn còn ba
can phạm thường án dưới sân chơi: Của Gia Định biệt danh “Hùm xám Gia
Định” (trùm du đãng miệt Gia Định), do vai vế, muốn giải lao tới chừng
nào vô phòng giam cũng được, Ngọc “heo” là trật tự giữ chìa khóa các
phòng giam, có nhiệm vụ đóng mở cửa toàn khu ED, và Đại Cathay, hôm ấy
đi tòa án để khai cung mới về. Cũng do mới về, nên mặc dù không phải tới
lượt mình, Đại Cathay cũng chen lấn vô nhóm anh em tù chính trị, xát xà
bông tắm rửa. Rất tự nhiên, anh ta đưa nguyên cả chiếc đầu dính xà-bông
tùm lum vô vòi nước.
Một bác tù nhân đã lớn tuổi, râu tóc bạc như cước, cản lại:
- Chú à, tụi tui đang hứng nước nấu ăn, sao chú lại đưa đầu toàn xà bông vô?
Đại Cathay cãi:
- Mắt tôi đầy xà bông, có thấy chi đâu. Bác hứng nước hồi nào?
- Giờ này là giờ của tụi tôi, sao chú chen ngang?
Hai bên còn đang lời qua tiếng lại, có lẽ lần đầu tiên trong tù mới có
kẻ dám cự cãi không chịu phục tùng Đại Cathay, thì bất ngờ Của Gia Định
nhảy tới, vung chần đá vào ngực bác lớn tuổi, nhằm bênh vực (?) cho đại
ca của mình. Thử tưởng tượng, một gã cao khoảng 1,75 m, to con, lực
lưỡng, tung đòn taekwondo vô ngực một ông già trên 60 tuổi. Ông già tức
thì “hự” lên một tiếng, máu rỉ qua khóe mép, gục xuống. Mấy chục anh em
tù chính trị không nén nổi tức giận, nhào tới, kẻ tay không, người cầm
thùng, xô, kẻ lượm gạch, đá nhất tề tấn công Của Gia Định. Đại Cathay và
Ngọc heo cũng bốc lên, xông vô vòng chiến đấu bênh Của.
Cuộc
chiến không cân sức nhanh chóng kết thúc với kết quả dăm anh em tù
chính trị bị thương nhẹ, còn cả ba tù hình sự đều bất tỉnh nhân sự, nằm
thẳng cẳng với nhiều vết thương khắp đầu, mình, chân, tay. Trong khi ấy,
thấy “đại ca” bị tấn công, bị số đông “bề hội đồng” (như trên đã nói,
dãy E khu ED trông thẳng xuống sân E gồm ba tầng lầu một tầng trệt, các
phòng đều giam tù thường án), số tù hình sự trong 16 phòng giam la hét
vang dội, yêu cầu mở khóa cửa phòng để ra hổ trợ cho đồng bọn. Nhưng
chìa khóa các phòng đều do Ngọc heo mang trong người, không ai mở khóa
nên họ tìm cách phá cửa phòng.
Cuối cùng, nhiều phòng lần
lượt bị phá cửa. Tù hình sự ùa theo cầu thang, tràn xuống sân mỗi lúc
một đông, mang theo nào chổi, nào gậy, nào cây sắt... Bây giờ tính quân
số đôi bên đảo ngược. Phía tù chính trị trở thành thiểu số. Anh em vội
kéo nhau rút lên lầu 3D cố thủ. Cuộc hỗn chiến được khu FG kế bên nhìn
thấy rõ. Tổng cộng 32 phòng giam bên khu này nhốt toàn chính trị phạm và
anh em hô khẩu hiệu vang dội, hỗ trợ đồng đội. Bọn giám thị nhà tù Chí
Hòa lúc này mới có mặt, nhưng không thể làm gì để ngăn cản nổi tình
trạng hỗn loạn mỗi lúc một dâng cao.
Dù một số bị thương, với
nỗ lực phi thường mà chủ yếu là đoàn kết thành một khối, anh em tù
chính trị đã rút được hết lên lầu 3D, dùng chai, lọ, mảnh lu nước bể...
bất cứ thứ gì trong tầm tay, ném ra ngăn cản địch thủ.
Cùng
thời gian này, Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo được đưa đến bệnh
xá, sau chuyển ra bệnh viện bên ngoài cấp cứu. Khoảng 9 giờ tối hôm đó,
có tin nhắn từ bệnh viện về rằng cả ba đều đã chết. Số tù thường phạm
nổi giận đùng đùng, hấp tấp đốt đèn cầy sáng rực khu ED, tổ chức tang lễ
cho các đại ca, đòi “nợ máu phải trả bằng máu”. Họ vừa khóc lóc, vừa
kéo rốc lên tiếp tục tấn công lầu 3D.
Mãi đến bây giờ tôi vẫn
không biết chính xác nguồn tin Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo bị
chính trị phạm đánh chết do ai tung ra, chỉ có thể suy đoán do số giám
thị gác trại giam Chí Hòa, vì tù nhân không thể trực tiếp đến bệnh viện
để lấy tin. Rất có thể, bọn giám thị muốn tạo mâu thuẫn giữa tù chính
trị và tù hình sự theo kiểu “chia để trị” và “dĩ tù trị tù”. (Viết thêm:
năm 1967, khi bị đầy ra Côn Đảo, tôi gặp Của Gia Định làm “chuyên môn”
tại đây. “Chuyên môn” là danh từ ngoài đảo khi ấy gọi số tù hình sự được
trao nhiệm vụ theo dõi, kiểm soát công việc khổ sai, đi lại, ăn ở của
tù chính trị, đặc biệt là điều tra, đánh đập tù chính trị khi họ “vi
phạm nội qui nhà tù”. Của Gia Định khét tiếng là một hung thần trong ban
chuyên môn đối với chính trị phạm ở Côn Đảo trong thời gian này).
Và cứ như vậy, cuộc chiến kéo dài suốt hai ngày hai đêm tại khu ED khám
Chí Hòa. Trực tiếp tham gia là số tù hình sự giam tại dãy E (16 phòng,
mỗi phòng bình quân có từ 40- 50 người, vậy tổng số khoảng 800 người) và
trên dưới 100 tù chính trị ở lầu 3D.
Sau khi đánh bất tỉnh
Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo, phía chính chính trị phạm chỉ lo
cố thủ. Nhờ địa thế lầu 3D có cấu trúc đặc biệt dùng giam tù tử hình
(tôi từng bị nhốt tại đây hơn nữa năm nên biết rất rành): hành lang ở
giữa, hai bên là những phòng nhỏ, cửa sắt đây không có chấn song mà chỉ
có lỗ thông gió), đầu hành lang là cửa chắn song sắt, nhất là nhờ đoàn
kết nhất trí và lòng dũng cảm, anh em tù chính trị đã giữ vững “trận
địa”, đẩy lùi vô số đợt tấn công của đối phương. Gián tiếp tham gia (như
hò hét trợ oai, đập thùng thiếc, thau nhôm, xô... để tăng khí thế, la
khẩu hiệu yêu cầu bọn quản đốc và giám thị Chí Hòa giải quyết, đốt đèn
cầy sáng rực vào ban đêm... là cả khu FG với khoảng gần 2.000 chính trị
phạm.
Kết quả, ngoài ba tù thường phạm bất tỉnh lúc ban đầu,
không ai bị trọng thương hoặc tử vong. Số bị thương nhẹ thì rất nhiều
nhưng không thống kê được. Tất cả đều được chăm sóc, băng bó tại chỗ,
không ai phải đưa ra bệnh viện ngoài điều trị.
Mọi việc trở lại bình thường sau khi Đại Cathay, Của Gia Định và Ngọc heo đều trở lại khu ED mạnh khỏe.
Sự việc là như vậy, bắt nguồn từ một nguyên nhân khá vu vơ, tuy khởi
đầu là Đại Cathay, nhưng thực tế do Của Gia Định trực tiếp gây ra, và,
một cách nào đó, được số giám thị trại giam Chí Hòa tiếp tục châm dầu.
Đến khi hàng trăm chính trị phạm và thường phạm tham chiến thì đúng là
không một ai có thể cản nổi.
Kết thúc một huyền thoại
Như vậy, mặc dù chưa tìm đủ chứng cứ để kết luận Đại Cathay đã bị ai
giết, giết như thế nào, bằng thứ vũ khí gì, tôi có thể mạnh dạn khẳng
định: Đại Cathay đã chết, mộ hiện nằm tại núi Khu Tượng.
Khoảng đầu những năm 1990, trong lần gặp một cán bộ công tác lâu năm ở
đảo Phú Quốc, tôi có hỏi về hai ngồi mộ ở núi Khu Tượng, anh xác nhận:
- Đúng là ở đó có hai ngôi mộ, một mang tên Đại, tôi không nhớ rõ họ, và ngôi mộ kia tôi không nhớ tên...
Dân giang hồ còn sót lại mà tôi có dịp gặp mặt sau này như Lâm Chín ngón, Bảy Xi, Lắm Mổ bụng... cũng đều ngậm ngùi:
- Đúng là anh Đại đã chết rồi. Nấm mộ của anh hiện nằm ngoài Phú Quốc.
Cái chết của Đại Cathay không khỏi làm nhiều người suy nghĩ. Người ta
ai cũng phải chết, đã đành là vậy. Nhưng một người như Đại Cathay, khi
sống khét tiếng giang hồ, “thần tượng” của giới dân chơi, mà đến với cái
chết lại rất giản đơn, lặng lẽ. Phải chăng đó cũng là “quả kiếp nhân
duyên”, luật bù trừ của tạo hóa?
Cái chết của Đại Cathay còn
được coi như dấu chấm hết và là sự cáo chung của “dân chơi” hồi thập
niên 1960, với các đặc tính: chơi trội và chơi “có hậu” theo luật giang
hồ.
Nhận xét
Đăng nhận xét