CÂU CHUYỆN TÂM LINH 57
(ĐC su6u tầm trên NET)
Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị - ĐHXD
Mổ xẻ... tìm nguồn cội cột đá thề Đền Hùng (1)
Để tìm hiểu cụ
thể hơn, Phòng NC Phong thủy Kiến trúc - Viện quy hoạch & Kiến trúc
đô thị (UAI) - ĐHXD đã tổ chức đợt khảo sát ngày 12/6/2013, với mục đích
khảo sát "hòn đá thề" tại đền Thượng.
Đoàn khảo sát của Phòng nghiên cứu Phong thủy Kiến trúc - Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị - ĐHXD. |
Hiểu thế nào về “đá thề”?
Đá thề là công cụ của các bộ lạc xưa,
do cần dùng máu làm chất dẫn để cam kết với thần linh, nên còn gọi là đá
huyết thề, đá thề máu.
Đá thề bắt nguồn từ nghi lễ đón nhận
chức vụ thủ lĩnh mới trong các bộ lạc xưa, khi đó bộ lạc chọn được thủ
lĩnh mới, tất cả cần thề phải luôn trung thành với thủ lĩnh mới, thầy mo
hay thầy cúng khi đó sẽ lấy ra hòn đá thề niệm chú, để từng người lần
lượt lên nhỏ máu của mình, nhìn vào hòn đá thề và tuyên thề sẽ trung
thành với thủ lĩnh mới, người vi phạm sẽ bị quỷ thần sát hại. nếu người
nào không muốn tuyên thề, nhẹ sẽ bị đuổi khỏi bộ lạc, nặng thì bị tử
hình ngay tức khắc. Xét theo góc nhìn hiện nay, đó là cách củng cố quyền
lực của người thủ lĩnh mới.
Cột đá thề, còn gọi là đá huyết thề, do dùng máu bôi lên. |
Đá thề ban đầu là một hòn đá nguyên
vẹn, sau hành động pháp thuật của thầy mo, cũng gần như làm khai quang
trì chú hiện nay, sẽ dùng cho nghi lễ tuyên thề trung thành với thủ lĩnh
mới của bộ lạc. Cùng với việc các bộ lạc cổ xưa biến mất, thầy mo và đá
thề cũng mất theo, ít người để ý đến. Sau này khi vu thuật và các hoạt
động cúng tế thịnh hành trở lại, thầy mo hay thầy cúng và đá thề lại
xuất hiện, nhưng đá thề không chỉ dùng cho tuyên thề với thủ lĩnh mới,
mà còn trở thành vật cam kết tình yêu của các lứa đôi, dưới góc độ tình
cảm này, từ một viên đá hoàn chỉnh người ta đã làm ra hai viên đá nhỏ
như nhau, sau khi thề mỗi bên giữ một viên đá có dính giọt máu của người
kia để làm tin.
Theo truyền thuyết, người đã tuyên thề trước đá, nếu vi phạm sẽ bị quỷ thần lấy mất linh hồn hay sinh mệnh.
Vậy, đá thề được dùng thế nào trong
chuyện tình cảm? Khi đôi trai gái nhỏ máu của mình lên viên đá thề và
niệm chú (đọc lời thề), hai người sẽ ký kết khế ước với quỷ thần, cả đời
phải yêu thương nhau, không được thay lòng đổi dạ. Nếu người nào vi
phạm, người đó sẽ bị quỷ thần trì chú lấy đi trái tim và thay hòn đá
vào, mang trong người trái tim đá, không bao giờ được ai yêu nữa, phải
sống cô độc hết đời, khi cái chết đến gần, quỷ thần sẽ mang linh hồn đi,
không bao giờ được đầu thai. Sở dĩ đá thề dùng cho đôi lứa được làm
thành hình tròn, vì người xưa cho rằng, viên đá tròn khi kết hợp với máu
sẽ tượng trưng cho trứng và tinh trùng, ngụ ý tình cảm sâu sắc.
Dùng trong chuyện tình cảm, đá thề chỉ là hai viên đá nhỏ, như vật làm tin. |
“Đá thề” trong truyền thuyết, sử sách
Thục Phán dựng cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh:
Theo cuốn "Giới thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng" của Vũ Kim Biên,
"Vua sai bầy tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, đem móng thiêng của Rùa Vàng làm
máy, đặt tên là Linh quang kim trảo thần nỗ. Vua đã được nỏ thần, bèn
thu nhặt tàn quân sĩ tốt, kén chọn thêm dân binh. Rồi đưa tờ hịch cho
thần Tản Viên rằng: "Nay quân Thục lại lấn chiếm đô thành của ta, người
nên chăng đem binh mã lại viện trợ". Tản Viên liền đem binh tới Loa
Thành cùng vua thiết lập trận đồ, dương oai thanh thế. Vài ngày sau, Tản
Viên can vua rằng: ”Nhà Hùng hưởng nước trải đã lâu dài, ý hẳn lòng
Trời có hạn, mới khiến Thục Vương thừa lúc hở cơ lại chiếm nước ta. Vả
lại Thục Chúa vốn là chủ bộ Ai Lao, cũng trong tông phái của các đời
hoàng đế trước vậy. Thế nước chẳng được yên đều bởi tiên định. Vua tiếc
gì một cõi phương nam mà trái ý Trời để hại đến sinh ung. Vả bệ hạ cùng
thần đã có thuật thần tiên, chẳng gì bằng đi khắp bồng lai lãng uyển
rong chơi gác phượng lầu rồng vui cùng tiên đồng ngọc nữ, tránh được bụi
đời nhơ bẩn, vàng bạc châu báu coi nhẹ như lông hồng. Đó là chí lớn
vậy”. Vua nghe theo, nhân đấy đưa thư cho Thục Vương, bảo nhường y cả
nước. Thục Vương sau sứ lại tạ ơn. Vua nhân đó trao cho Thục Vương thần
nỗ, rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh hẹn với Tản Viên Sơn Tinh hóa sinh bất
diệt. Thục An dương Vương được nước, cảm thấy công đức của Duệ Vương lớn
như trời đất, bèn dóng xe về núi Nghĩa Lĩnh dựng giao đài để cả nước
thờ tự. Dựng hai cột đá ở giữa núi, chỉ lên trời mà khấn rằng: "Nguyện
có trời cao lồng lộng soi xét, chẳng dám sai lời. Nước Nam trường tồn
lưu ở miếu Hùng Vương. Ví bằng vua sau nối nghiệp trái ước phai thề sẽ
bị trăng vùi gió dập, trời đất cùng tru diệt". Khấn xong vua bái yết,
rồi quay về kinh đô Phong Châu, mời họ hàng chi phái của Vua Hùng, tôn
là dân con trưởng lập ra hương Trung Nghĩa, cấp ruộng 500 mẫu tại Hy
Cương. Lại cấp cho tô thuế thu của các xứ trên từ Tuyên Quang, Hưng Hóa,
dưới đến Việt Trì để làm hương hoả thờ cúng 18 đời Vua Hùng, kể từ
thánh tổ cao hoàng đế và các vua nỗi dõi, cùng cả nước vui tốt lành,
muôn năm không dứt. An Dương Vương nối nghiệp trải 50 năm".
Ông Vũ Kim Biên cách đây một năm lại giả thiết hòn đá thề ở đền Hạ. |
Theo tích xưa: Sách "Việt điện U Linh"
có chép: Ngày 23 tháng 3 năm 1028, nhà vua ban chiếu lập đàn treo cờ
tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới
đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề "Làm con phải hiếu, làm tôi phải
trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội". Đoạn mỗi người
từ cửa đông đi vào, qua thần vị, uống tiết sống ăn thề. Sách "Hà Nội
địa dư" còn chép thêm rằng: đời nhà Trần cũng bắt chước lối thề của nhà
Lý. Ngày hôm đó, nhà vua ngự tại điện Đại Minh, các quan phải đem cả
giai nhân tới đền mà thề rằng: "Làm tôi phải hết lòng trung, làm quan
phải thanh bạch; ai trái lời thề, thần minh giết chết". Đến triều Hậu Lê
cũng vẫn theo lệ này, nhưng chọn ngày "mậu" tháng giêng mỗi năm làm lễ
tuyên thệ ở bến sông. Còn tại đền Đồng Cổ thì vua sai quan đến tế lễ.
Nước ta có tục uống máu ăn thề là vậy.
Như vậy, lật lại bài viết ngày 20/03/2012 trên Thể thao & Văn Hóa cũng của Vũ Kim Biên, có giả thiết về hai hòn đá là "lưỡng thạch trụ" (tức hai cột đá thề xưa) nằm ở đền Hạ chứ không phải đền Thượng, đồng thời cũng giả thiết hai hòn đá này dùng để chém dao vào khi tuyên thề. Như kiến thức căn bản về “đá thề” đã cung cấp trên đây, đá thề thường dùng máu để kết nối thần linh hơn là dùng dao chém. Hơn nữa khi đưa ra giả thiết về hai cột đá thề đền Hạ, vậy "hòn đá thề" đền Thượng là gì?
(Còn nữa...)Như vậy, lật lại bài viết ngày 20/03/2012 trên Thể thao & Văn Hóa cũng của Vũ Kim Biên, có giả thiết về hai hòn đá là "lưỡng thạch trụ" (tức hai cột đá thề xưa) nằm ở đền Hạ chứ không phải đền Thượng, đồng thời cũng giả thiết hai hòn đá này dùng để chém dao vào khi tuyên thề. Như kiến thức căn bản về “đá thề” đã cung cấp trên đây, đá thề thường dùng máu để kết nối thần linh hơn là dùng dao chém. Hơn nữa khi đưa ra giả thiết về hai cột đá thề đền Hạ, vậy "hòn đá thề" đền Thượng là gì?
Phòng nghiên cứu Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị - ĐHXD
Nhận xét
Đăng nhận xét