KIẾP GIANG HỒ 11/b ("Giang hồ Sài Gòn")

(ĐC sưu tầm trên NET, http://tusach.mobi/)

Giang hồ Sài Gòn

Tác giả: Vũ Quang Hùng

Chương III: Giang hồ trong khám Chí Hòa -

Sài Gòn, những năm cuối thập niên 1960, đầu 1970.
Lúc này, trong trại giam Chí Hoà nhốt một dọc những tay giang hồ nổi tiếng vào thời gian ấy.
Có thể kể Cương Võ sĩ, Lâm Chín ngón, Tuấn đả, Y Cà-lết (do dáng đi hơi khập khiễng), Chương khùng, Viet Parker...
Muốn gì có nấy
Vào thời đó, bộ máy cảnh sát cũng như giám thị nhà tù của chế độ gần như bó tay trước nạn lộng hành của đám lưu manh du đãng hung hãn, nhất là khi bọn chúng dược ma tuý hỗ trợ.
Tuy bị giam tại Chí Hoà, giữa toà nhà bát giác, nhưng cuộc sống của những tay giang hồ sừng sỏ nhất cũng chẳng mấy khác cuộc sống hồi còn ở ngoài đời, ngoài chuyện không thể muốn đi đâu tuỳ ý.
Muốn ăn ngon, chúng cứ việc xin phép giám thị (dễ ợt) đến căng-tin nằm ngay tại hồ nước, giữa sân Chí Hoà - miễn là có tiền, tất nhiên.
Không ít tên còn chơi ngông, đặt tiền trước cho nhà hàng: Bảo đảm qua hôm sau, nhà hàng mua sẵn mang vào phục vụ cho chúng đầy đủ "sơn hào hải vị" thức ăn ngon nhất, đặc sản của bất cứ nhà hàng, tiệm ăn nào nổi tiếng nhất Sài Gòn - Chợ Lớn, tất cả đều còn nóng hổi.
Ngay cả muốn ngủ với gái mãi dâm cũng không khó, có điều thường phải chờ đến tối thứ Bảy hoặc Chủ Nhật...
Trong sân trại giam Chí Hoà (phía trước), kề bên khu thăm nuôi, có một chiếc xe tải hư hỏng bỏ không. Đám tù hình sự che chắn lại, biến xe thành nơi "hành lạc" có đủ nệm, quạt máy... Chi việc dúi vào tay cai tù (khi ấy gọi là giám thị) một xập tiền kèm theo ám hiệu là bọn này liên hệ với các động mãi dâm quen thuộc.
"Đến hẹn lại lên", tối thứ Bảy, Chủ nhật gì đó, vài ba cô gái môi son má phấn sẽ dược giám thị dắt vào, phục kich sẵn trong xe tải chờ tiếp các đại ca.
Những đại ca giang hồ nào không mang án quá nặng còn có thể "đi phép", miễn là chung chi hơi nặng tay. Cái giá phải trả khi ấy cho giấy phép một ngày là 120.000 đồng, cả ngày lẫn đêm gấp đôi: 240.000 đồng (vàng vào thời gian ấy chỉ có giá khoảng 20.000 đồng/lượng - tức giấy phép giá từ 6-12 lượng vàng).
Có nhiều cách để số tù nhân này đi phép, mà thông thường nhất là chúng sẽ nhận được giấy mời ra toà để bổ sung hồ sơ thẩm vấn hoặc làm nhân chứng chẳng hạn. Xe cai tù chở chúng ra khỏi nhà tù đàng hoàng, nhưng không chở đến toà án (làm gì có chuyện tòa hỏi cung hay xử), mà dừng ở một điểm nào đó theo thoả thuận, thả chúng xuống; để đến giờ hẹn sẽ lại rước, đưa trở lại về Chí Hoà. Cũng có thể đó là giấy tù nhân mang bệnh nặng, phải đưa ra bệnh viện ngoài Chí Hoà để khám; tất nhiên cũng do xe của nhà tù Chí Hoà đưa đi chở về...
Có tên còn liên lạc trước với bọn đàn em bên ngoài để bọn này chuẩn bị sẵn xe cộ, phương tiện, sau đó mới mua một giấy phép 12 tiếng. Lọt ra ngoài, chúng lập tức tiến hành một vụ ăn hàng trót lọt. Xong, lại vào tù nghỉ ngơi dưỡng sức, hưởng chiến lợi phẩm.
Những vụ án này, bọn cảnh sát điều tra bên ngoài dù có tài thánh như Sherlock Holmes sống lại cũng không cách nào tim ra thủ phạm - ai mà tưởng tượng ra nổi một tên tù đang bị nhốt trong tù lại có thể gây án bao giờ".
Tuy nhiên, việc mua "giấy phép" để đi cướp chi là chuyện cho vui nhằm đỡ ngứa nghề, còn kỳ thực nguồn lợi chính của các "đại ca" trong khám Chí Hoà lúc ấy lại là buôn bán ma tuý.
Vào lúc cao điểm, nhà giam Chí Hoà có khoảng 2.000 tù hình sự thì cũng gần như có chừng ấy con nghiện. Vì vậy, bán ma tuý, thuốc phiện trong tù đem lại cho các "ông trùm" nguồn lợi cực lớn, có khi lên đến 400.000 - 500.000 đồng/ngày. Nguồn lợi quá khổng lồ khiến chúng không ngần ngại vây bè kết cánh để giữ độc quyền bán ma tuý ở các buồng giam và tranh giành lãnh địa, hạ bệ nhau nhằm ngoi lên làm ông "trùm", tha hồ thu lợi.
Hai tay ba dao
Cũng vì vậy, "chiến tranh" trong khám Chí Hoà vẫn nổ ra thường xuyên. Tuy hành lang các dãy buồng giam luôn mở ra trong giờ hành chính, nhưng những tên "âm binh mắt ma" (chỉ bọn giang hồ chưa có số má gì) ở khu AB đó bao giờ dám đổ xuống khu BC nằm ngay kề bên; bọn ở khu ED cũng đừng khi nào dại mò qua khu FG coi chừng mang hoạ.
Ngay cả những đàn anh hạng gộc như Cương Võ sĩ (ở khu ED) hay Lâm chín ngón (ở khu FG) có thể tha hồ đi lại bên trong trại giam hình bát giác này, ung dung tự tại trong khu do chúng cầm đầu; những hễ ra khỏi khu của minh đều luôn phải có ít nhất vài ba đàn em thân tín đi cùng làm vệ sĩ - nều không, coi chúng ăn dao lúc nào không biết!
Mỗi khi lâm trận, những tên du đãng có số má này hầu hết đều hai tay nắm chắc 2 con dao. Thêm con dao thứ ba giắt ngang lựng, phòng khi con dao trên tay bị đối phương đoạt mất hoặc đánh rơi. Cũng vì vậy, hỗn danh thời "hai tay ba dao" bắt nguồn từ đó.
Thêm, rất nhiều tay du đãng ở trong khám Chí Hoà hổi đầu những năm 1970 còn tự trang bị một thứ vũ khí khác: Quyển Kinh Thánh đạo Công giáo. Sách thánh dĩ nhiên không thể đừng để đâm chém, nhưng có thể dùng phòng thân - chẳng phải để cầu Chúa che chở bảo vệ (nếu quả có Chúa, chắc người cũng không dễ gì bảo vệ cho những đại ca xã hội đen!), mà do cuốn Kinh Thánh có kích cỡ vừa vặn với túi áo trên, được linh mục ở tiểu giáo đường nằm trong khuôn viên khám Chí Hoà sẵn sàng phát không cho bất cứ ai muốn xin. Sách khá dầy, nhất là bìa sách cứng, có khả năng ngăn chặn mũi dao nhọn đâm ngay tim. Và, có lẽ linh mục không khỏi vui mừng vì có nhiều con chiên (nhiều kẻ chưa hề là tín đồ đạo Thiên chúa) nay tự nhiên muốn nghiên cứu sách Thánh!
Phân chia lãnh địa
Để tránh những xung đột không cần thiết, dần dần những đại ca trong khám cũng tự phân chia lãnh địa, "rừng nào cọp nấy": Lâm chín ngón độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Cương Võ sĩ khu BC, Việt Parker khu ED, Y Cà-lết khu AH, Chương khùng được một minh khai thác "hàng trắng" toàn khám...
Xin lướt qua những nhân vật chính liên quan bài viết này để bạn đọc biết tại sao bọn họ lại được "ăn trên ngổi trốc" như vậy.
Lâm chín ngón vốn là "sát thủ", cánh tay phải của Đại Cathay từng ngồi trại Cửu Sừng ở tận Phú Quốc (thành tích không để mấy ai đạt); thời gian chuyển qua nhà lao Gia Định dám thay mặt giới giang hồ kẹp cổ, rút cây viết đang giắt trong túi áo "tướng cướp cô độc" Điền Khắc Kim đâm vào trán hắn, sau lại từng cầm đầu đám tù hình sự" vượt ngục (nhưng không thành). Nhờ vậy, không chỉ độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Lâm còn kiêm độc quyền cung cấp "hàng đen" cho toàn trại giam Chí Hoà.
Chương khùng là tên giang hồ có số mã đã lâu, nhưng nổi tiếng nhất là khi cầm đầu hàng chục tên thuộc giới xã hội đen đang bị giam trong Chí Hoà xông vào cướp thùng đựng tiền của đám tù nhân Triều phu gốc người Hoa đang bị giam trong khu AB. Thùng tiền được 4 võ sĩ cao thủ cũng người Hoa, nghe đâu thuê từ tận Hồng Kông qua chia nhau đứng ở 4 góc thùng để bảo vệ. Trong cuộc hỗn chiến này, Chương khùng bị chém trọng thương, tuy vụ cướp không thành những cũng đủ giúp hắn thành danh.
Cương Võ sĩ tên thật Vũ Đình Cương, vốn là một võ sĩ quyền Anh có đẳng cấp, từng nhiều lần thượng đài khắp miền Trung, miền Nam và cả Campuchia. Hơn nữa, Cương lại là em ruột Sơn Đảo, một trong những trùm ma tuý của miền Nam lúc ấy. Anh em Sơn, Cương vốn là dân gốc Bắc di cư, nhà ở khu Ngã ba Ông Tạ, chuyên làm giò chả. Cả hai anh em từ hồi nhó lúc nào cũng hai tay hai chày giã giò nên có bắp săn chắc, cứng rắn như cua gạch.
Năm 1970, Cương bị bắt vì tội danh buôn bán ma tuý. Xộ khám Chí Hoà, nhờ danh tiếng cá nhân và nhất là danh tiếng từ anh ruột, Cương được đám giang hồ tại đây phong làm "đại ca của các đại ca" toàn quyền cắt đất, sai phái lâu la dưới trướng. Khi các băng nhóm trong trại bất hoà, xích mích, chi cần Cương đứng ra giàn xếp, nói vài câu là tất cả đều răm rắp tuân phúc, đố ai dám cãi.
Thanh toán giang hồ
Khoảng giữa năm 1972, không hiểu sao đám con nghiện ở trong khám Chí Hoà bỗng đâm ra khoái thuốc phiện hơn thích ma tuý.
Nhờ vậy Lâm chín ngón ngày càng ăn nên làm ra. Cứ "đến hẹn lại lên", thuốc phiện từ bên ngoài được đàn em đóng thành từng bánh dẹt lớn, nhét vào thùng gỗ hai đáy chứa đồ thăm nuôi, gửi vào cho Lâm. Cai tù thừa biết nhưng làm ngơ để được chia phần (tỉ lệ 30% lợi nhuận) - với tù nhân khác, đồ thăm nuôi gửi vào hộp kem đánh răng cũng phải xé đôi, kẹo bóc từng viên; bánh tét phải cắt làm tư... riêng với nghi can nghiện ma tuý thậm chí phải lột hết quần áo, chổng mông để chúng khám xem có nhét thuốc giấu trong hậu môn hay không.
Mang thùng đồ thăm nuôi vào, Lâm bửa ngăn đáy lấy thuốc phiện ra, cắt thành miếng nhó phân phối cho các buồng giam thu lời.
Theo lời Lâm chín ngón kể, vào thời kỳ "hoàng kim" mỗi tuần riêng cá nhân hắn có thể lãi năm - bảy trăm ngàn (cỡ 25-30 lượng vàng) như không.
Vậy là bỗng dưng hàng trắng "ế độ". Thu nhập của Chương khùng rớt thảm hại.
"Vai mang bị bạc kè kè
Nói quấy nói quá chúng nghe rần rần"
Giờ đây không tiền tự nhiên quân binh rơi rụng dần, đàn em cũng chẳng mấy đứa ngó ngàng tới. Chương khùng tức tối lớn tiếng chửi bới om sòm, doạ "cho biết tay" những đứa nào dám bỏ hắn qua phò Lâm chín ngón.
Nghe Chương khùng chửi bới, một tay ngang cơ khác là Năm Lượng (trước thuộc đảng cướp "Con Cua Vàng" khét tiếng miền Tây Nam Bộ, sau về làm quân sư cho Đại Cathay) ngứa lỗ tai, đổ thêm dầu vào lửa, thách: "Mày chỉ được cái đánh võ mồm. Thừa biết thằng nào hạ bệ mày rổi, ngon đừng đến nó thử coi!"
Bị khích tướng, Chương khùng nổi cơn... khùng. Hắn lấy bộ đồ võ màu đen mặc vô cho oai, uống một hồi 3 viên Renoval để thêm "khí thế" hầm hầm tuyên bố "Tao đi tìm thằng Lâm nói chuyện phải quấy!" te te qua khu FG...
Đang đánh bóng chuyền ở sân khu FG, nghe đàn em cấp báo, Lâm chín ngón ngưng ngay ván đang đấu dở, đợi sẵn đối thủ. Vừa thấy mặt Chương khùng, Lâm chặn đầu hỏi trước: "Chương! Nghe nói mày đòi dẹp không cho tao bán thuốc trong khu FG nữa, có đúng vậy không?"
Đang hăng máu, vả lại trưóc mắt nhiều đàn em, Chương khùng ưỡn ngực: "Đúng! Tao bảo dẹp! Mày bảnh thì chơi lại tao coi!"
Đang sẵn ly nước cầm trong tay uống mới được phân nửa, Lâm chín ngón không thèm lên tiếng đáp trả mà quăng luôn cả ly lẫn nước vào mặt Chương khùng, đồng thời vung tay nhào tới.
Quá bất ngờ trước phản ứng mạnh của Lâm chín ngón, nhưng Chương khùng cũng kịp nghiêng đầu né ly nước. Chiếc ly thuỷ tinh đập vô tường mé sau đánh "chát", miểng văng tung tóe. Nói ngay tình, nếu đấu tay đôi có lẽ Chương khùng khó đánh lại Lâm chín ngón: tuy chiều cao tương đương (đều cùng khoảng 1,70m), nhưng Lâm chín ngón nặng cân hơn, thân hình chắc nịch; thêm đàn em Lâm Chín ngón kéo tới khá đông (khu FG là "địa bàn" của Lâm) nên Chương khùng tỉnh người hẳn, nghĩ đến... "tam thập lục vi kế tẩu nhi thượng sách" (36 kế, chạy là tốt nhất).
Vậy là khí thế tự nhiên biến đâu mất sạch, cả 3 viên Renoval cũng không thấy ép-phê, Chương khùng vội vàng bỏ chạy. Tuy nhiên cơn giận vẫn chưa nguôi, hắn tức đến chảy nước mắt. Thoát ra khỏi khu FG, Chương khùng tim đến đàn anh cầu cứu.
Lúc này một số đàn anh đang tụ tập trong khu BC tán dóc. Thấy Chương khùng vừa chạy qua vừa khóc, Cương ngăn lại hỏi chuyện. Không lẽ thú thật mình không dám chơi tay đôi với Lâm chín ngón, cũng không dám nói mọi chuyện do mình gây sự trước, Chương khùng tủi thân miệng mếu máo bịa chuyện: "Thằng Lâm ỷ đông kéo đàn em đòi xử tôi, cấm không cho tôi bán ma tuý nữa!"
Lâu nay ranh giới đã chia, địa bàn đã rõ, rừng nào cop nấy mà nay Lâm chín ngón toan "phá lệ" qua mặt mình, Cương Võ sĩ nổi máu yêng hùng, không thêm hỏi thêm, dẫn một tốp có đến nữa tá đàn anh chị kéo sang khu FG để "hỏi tội thằng Lâm". Chương khùng cũng tháp tùng...
Phần Lâm chín ngón, dù đã đuổi được Chương khùng nhưng cơn giận bừng bừng vẫn chưa nguôi. Không đâm được đối thủ, hắn đang nện nắm đấm thình thình vô tường buồng giam 3 F4, doạ "luộc thằng Chương" thì một tên đàn em chạy vào thở hổn hển, cấp báo: "Anh Lâm coi chừng! Anh Cương đang dẫn một toán người qua tìm anh đó. Có cả Chương khùng trong nhóm".
Hai ba tên rút dao lá lúa (trong khám Chí Hoà tuyệt đối cấm mang dao vào, nên "dao" thường là mảnh tôn hay thép thùng phuy mài bén ngọt, đầu sắc nhọn) dúi vào tay Lâm: "Anh cầm theo đề phòng thân!"
Lâm đón lưỡi dao gần nhất của một đàn em là Hùng Be, giắt vào lưng quần, bảo "Một dao đủ rồi" và lập tức chạy ra ngoài phòng nghênh tiếp.
Khi hai bên đã đứng đối diện, Cương Võ sĩ đứng lại, không thèm hỏi đầu đuôi câu chuyện mà lên giọng đại ca, lớn tiếng hạch hỏi: "Lâm, ở đây mày với tao ai là đàn anh?" Rồi, không kịp chờ Lâm trả lời, Cương đã tung ngay một cú đấm thôi sơn vào mặt đối thủ.
Nhờ cánh giác đề phòng trước, Lâm nghiêng đầu kịp né tránh cú đấm thẳng của tay võ sĩ quyền Anh nhà nghề, tuy nhiên nắm tay của Cương phớt qua tóc Lâm chỉ trong đường tơ kẽ tóc. Đòn ra quá mạnh nhưng không trúng đích khiến Cương mất đà, thân hình nhào về phía trước, đầu hơi chúi xuống.
Trong giới giang hồ hồi ấy có câu "bị một cái tát, coi như không ngoi đầu lên nổi" huống hồ ăn nguyên cú đấm. Máu nóng bốc lên, lại giận Cương không thèm hỏi chuyện mình mà vội hạch sách lên giọng, nhân lúc Cương đang mất đà, Lâm tay trái nắm cổ áo địch thủ nhấc lên, cùng lúc tay phải quay lại rút dao sau lưng, nhằm ngay ngực đối thủ đâm mạnh...
Tất cả mọi việc diễn biến chỉ trong chớp mắt, không ai kịp can ngăn, cũng không ai kịp nhận ra sự việc. Chỉ nghe Cương "hự" lên một tiếng rồi ôm ngực nằm vật ra sân khi Lâm vừa buông tay trái, trong lúc Lâm vẫn vung cánh tay phải định đâm tiếp.
Có tiếng ai đó kêu lên: "Anh Lâm đừng đâm nữa!" Lâm chín ngón mới như sực tỉnh, vội buông dao rớt đánh "cạch" xuống nền xi-măng: Nhát dao duy nhất đã đâm trúng ngay tim Cương, khiến tay võ sĩ quyền Anh tắt thở tại chỗ, tuy đầu mũi dao nhọn, nhỏ nên máu không thấm ra nhiều.
Mặt tái mét, Lâm chín ngón cũng bất ngờ trước sự việc xảy ra, nhắn lại cả bọn đàn em đừng ngơ ngác trước khi bị dẫn xuống khu biệt giam Điện Ảnh trong khám Chí Hoà - tên gọi chính thức là khu ĐA, chuyên giam giữ tù nhân trong khám vi phạm kỷ luật, hoặc mới từ các trại giam khác chuyển qua, để dằn mặt và hành hạ. Tù chữ ĐA, các tù nhân cả chính trị lẫn hình sự đều 'chế" thành Điện Ảnh - coi như vừa thanh minh, vừa xin lỗi kẻ quá cố: "Tôi không cố ý, tại anh Cương... Thôi, anh em thắp cho anh mấy nén nhang giúp tôi...".
Sơn Đảo báo thù
Giống em ruột, Vũ Đình Sơn tức Sơn Đảo cũng xuất thân từ một võ sĩ có hạng thuộc võ đường Hổ Bạch An, Tân Bình.
Lờn lên, Sơn rủ rê mấy đứa em ruột là Cương, Hoàng Bệu, Tiềm lao vào con đường buôn bán ma tuý; nhờ vậy anh em nhà Sơn Đảo đều giáu lên khá nhanh.
Có tiền, Sơn bỏ ra báo trợ cho lò võ mà mình đã theo học, xây dựng nguyên một phòng tập cho đám chiến hữu ngay trong trại linh dù Hoàng Hoa Thám cũng không mấy xa Ngã ba Ông Tạ - địa bàn hoạt động chính của y.
Cử chỉ hào phóng này đã được đám sĩ quan, binh lính thuộc binh chủng nhảy dù, một trong những lực lượng con cưng của chế độ cũ đáp lại bằng cách sẵn sàng đỡ lưng cho Vũ Đình Sơn trong các vụ làm ăn trong bóng tối. Trong số những kẻ "đỡ lưng" cho Sơn có thể kể đôi tên có máu mặt: Trung tá Lê Quang Lương, Trung tá Be (Ban 2 Dù), Thiếu tá Dương (Lữ đoàn 3 Dù), Trung uý Nguyên (tuy cấp hàm nhỏ nhưng là con đỡ đầu của Tướng Cao Văn Viên)...
Được hậu thuẫn mạnh, chẳng bao lâu Vũ Đình Sơn đã trở thành kẻ cung cấp ma tuý cho cả một khu vực rộng lớn dọc hai trục đường chính là Trương Minh Ký, Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ dọc xuống Trần Quốc Thảo) và Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng 8). Ngoài ra, trên hai trục đường này còn có hàng chục tiệm hút, sòng bài thuộc quyền quản lý của gia đình Vũ Đình Sơn.
Năm 1965, Sơn bị bắt, lãnh án 5 năm tù, bị đầy ra Côn Đảo. Cũng có một số tù nhân hình sự khác bị đầy ra Côn Đảo, những riêng Vũ Đình Sơn có biệt danh Sơn Đảo, có lẽ nhờ nguyên bộ tạ hắn mang từ Côn Đảo về, tặng lại cho khám Chí Hoà để bất cứ tù nhân nào muốn tập thể lực tuỳ nghi sử dụng. Và cũng nhờ vậy, uy tín và thế lực của Sơn Đảo ngày càng mạnh lên trong giới giang hồ Sài Gòn.
Nghe tin em ruột bị Lâm chín ngón đâm chết trong khám Chí Hoà, Sơn Đảo lồng lộn lên. Hắn tuyên bố: "Sẽ lấy mạng thằng Lâm bằng bất cứ giá nào!"
Đối tượng đầu tiên được Sơn Đảo nhắm đến nhờ "báo thù" là Tuấn Đả. Tuấn Đả quê xã Hồ Hải, quận Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Nổi tiếng trong giới giang hồ Nam Trung phần, khi bị bắt giam tại quân lao Nha Trang, Tuấn Đả từng đâm lòi ruột Sơn trắng, sếp sòng quân lao này để tiếm quyền. Thời gian này có thuận lợi là Tuấn Đả còn bị nhốt ở khu Điện Ảnh cũng với Lâm chín ngón.
Máu liều Tuấn Đả có thừa, những chơi tay đôi khó nắm phần thắng Lâm chín ngón. Sơn Đảo nghĩ cách tuồn "chó lửa" (súng) từ bên ngoài vào cho Tuấn Đả. Nhưng hai lần súng đã được nguỵ trang rất tinh vì (và cả mua chuộc đám giám thị trại giam) để gửi vào, cả hai lần Tuấn Đả đều trả lại không nhận.
Lý do, khi từ quân lao Nha Trang chuyện vào Chí Hoà, Tuấn Đả bị đám đàn anh tại đây cô lập, suýt đánh hội đồng bởi e ngại “truyền thống” lật đổ của hắn; khi đó Lâm chín ngón đã chủ động đứng ra bảo lãnh khiến Tuấn Đả cảm kích (về sau, đến năm 1974 Tuấn Đả cũng bị đưa ra Côn Đảo, biệt giam trong chuồng Cọp 7, khu C, mãi đến sau ngày giải phóng).
Con bài Hoàng Đầu lâu
Mối thù vẫn nung nấu, nhưng phải mất đến gần một năm trời, Sơn Đảo mới tìm được kẻ thay cho Tuấn Đả: Gã tên Nguyễn Văn Hoàng, biệt danh Hoàng Đầu lâu, do sau lưng có xăm hình chiếc đầu lâu to đùng nằm trên hai ống xương bắt chéo trông rất dễ sợ.
Nói về võ nghệ, cả trại giam Chí Hoà để không ai sánh kịp Hoàng Đầu lâu. Với tứ đẳng huyền đai Taekwondo, khi còn ở ngoài đời, Hoàng đã từng hạ gục hàng chục cao thủ cả Việt lẫn Miên trên sân đấu.
Biết vợ con Hoàng đang sống khó khăn từ khi chồng, cha bị bắt, Sơn Đảo bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố nhỏ đem tặng, tiếp đó sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai. Đồng tiền đi trước luôn là đồng tiền khôn, Hoàng Đầu lâu nghe vợ nói lại được Sơn Đảo giúp đỡ, Hoàng gật đầu hứa giúp Sơn Đảo trả thù...
Khốn nỗi, trong giới giang hồ, Hoàng Đầu lâu chỉ thuộc hạng chiếu dưới, án tù lại nhẹ nên khó thể ngồi cùng mâm vời Lâm chín ngón (vẫn đang ở biệt giam) để có cơ hội tiếp cận và hạ sát đối thủ.
Để tao cơ hội cho Hoàng, Sơn Đảo tốn công vach nguyên một kế hoach chi tiết nhằm giúp Hoàng Đầu lâu tăng án, "được" vào biệt giam, đồng thời nâng uy tín trong giới giang hồ chớ không vì thế mà gây xích mích với bất cứ dân chơi nào khác.
Số là, khi ấy trong đám cai ngục Chí Hoà có tay trung sĩ Cách, cháu ruột gọi phó giám thị trại bằng cậu. Ỷ thế có chỗ dựa lưng, trung sĩ Cách luôn tìm cách ăn chặn, phá phách đồ thăm nuôi của tù nhân khiến tất cả tù nhân đều căm ghét, tuy nhiên không ai đám ra tay vì đụng tới nhân viên công lực ắt án sẽ không hề nhẹ chút nào. Mãi tới một hôm, sau khi nghe đám đàn anh ta thán, Hoàng Đầu lâu xung phong "Để em mần thịt nó!"
Vậy là trong kỳ thăm nuôi tới, khi Trung sĩ Cách đang xăm soi hũ thịt rim, bẻ đôi từng cái bánh để khám xét thì một tên tù trật tự (thường là bọn tù hình sự án nhẹ, giúp việc cho đám giám thị) đến gần, nói nhỏ vào tai hắn: "Thưa Trung sĩ, có người muốn gập riêng Trung sĩ!" Cách chưa kịp quát như kiểu thường ngày: "Thằng nào muốn gặp tao thì tới đây mà gặp!" tên cò mồi đã dặm thêm: "Nghe nói có chuyện làm ăn lớn; muốn gặp riêng Trung sĩ".
Tưởng đâu sáp vô được món bở, hối lộ chi đây, Trung sĩ Cách bỏ ngang việc khám xét, rời khu thăm nuôi, theo tên cò mồi đi vào phía trong.
Cánh cửa phòng thăm nuôi vừa khép lại, Hoàng Đầu lâu bước ra ngay. Hôm đó, hắn mặc chiếc áo phông rộng thùng thình che kín thanh mã tấu giắt sau lưng, mặt đằng đằng sát khí. Vừa thấy bản mặt hung dữ của Hoàng; linh tính Trung sĩ Cách mách báo điềm chẳng lành, hoảng quá quay ngoắt người định vội vàng tháo lui nhưng không kịp...
Nhanh như chớp, Hoàng Đầu lâu đứng chặn ngang cửa ra vào, rút thanh mã bén ngọt, chẳng nói chẳng rằng nhắm ngay mặt đối thủ vót ngược lên. Trung sĩ Cách vội lớn tiếng kêu cứu, ngả người hất đầu ra phía sau, thì nguyên lỗ mũi của hắn bị lưỡi dao cắt bay mất, máu tuôn xối xả.
Nghe tiếng kêu cứu, bọn giám thị vội tông cửa chạy vào, một mặt khống chế Hoàng Đầu lâu, một mặt đưa Trung sĩ Cách và chiếc mũi đã bị đứt kia vào bệnh viện cấp cứu, phải mất mười mấy mũi kim khâu dính lỗ mũi trở lại vị trí cũ.
Với "chiến tích" này, Hoàng Đầu lâu nghiễm nhiên một bước trở thành "dân chơi thự thiệt" được giới giang hồ trong khám Chí Hoà trọng nể. Trong khi đó, tội nặng thêm, Hoàng Đầu lâu bị tống xuống khu biệt giam. Ở ngoài, Sơn Đảo lo lót tiền cho bọn giám thị, cai tù.
Kết quả là hai tháng sau, Hoàng Đầu lâu ôm giỏ đồ của mình chuyển sang ở chung một buồng biệt giam với Lâm chín ngón.
Hoàng Đầu lâu bị hạ thủ
Lúc này Lâm đã được chuyển từ khu Điện Ảnh lên phòng biệt giam ở OG thuộc khu FG. Dãy OG đặc biệt tối hù, do các phòng không quay ra phía sân chung như tất cả những phòng O (tức nằm ở tầng trệt) khác, mà quay ngược lại. Dù bị biệt giam, những các "đại ca" vẫn có đực quyền hơn bọn "âm binh mắt ma" tầm thường: Lâm chín ngón được phép mang theo một đệ tử để sai vặt, đó là "Lí Lắc" đâu chưa đến tuổi thành niên.
Chuyển qua ở chung phòng với Lâm chín ngón, Hoàng Đầu lâu trước hết đánh đòn "khủng bố tinh thần": cởi trần trùng trục phô chiếc đầu lâu nhe nanh, cả ngày hắn hết gồng mình lại xuống tấn đấm bình bình vào tường, tiếp đó tung cước đá loạn xà ngầu đủ các kiểu, các thế vào cột nhà bằng bê-tông. Thế mà tay chân hắn vẫn cứ trơ trơ chẳng hề trày xước, hề hấn gì! Quả là cao thủ Taekwondo có khác!
Kinh nghiệm sống và những lời thì thào to nhỏ trong giới giang hồ đã giúp Lâm thừa biết Hoàng Đầu lâu định làm gì tiếp. Khốn nỗi cùng nằm chung trong một phòng biệt giam, muốn trốn tránh cũng chẳng có ngóc ngách nào để trốn tránh. Lâm thở dài, toan tính âm mưu và âm thầm chuẩn bị...
Bắn tin ra ngoài, Lâm nhờ đàn em kiếm một chiếc quai đeo ba-lô hinh chữ X bằng inox, bẻ ra, nhận vào trái bí đỏ chuyển vào khám Chí Hoà cho Lâm. Chờ lúc Hoàng Đầu lâu ra khỏi phòng, Lâm đập bẻ trái bí, lấy thanh inox ra, mài xuống sàn xi-măng, biến thành một lưỡi dao mỏng dính và nhọn hoắt, bén ngọt không khác gì dao cạo.
Lại có tin Hoàng Đầu lâu mới nhận được một tờ giấy do Sơn Đảo gửi vào, nhắn tin cần tiến hành gấp công việc mà hắn đã nhận lời khiến Lâm chín ngón càng nóng lòng như lửa đốt.
Lâm nhờ một tù nhân có vai vế nhất tại khám Chí Hoà khi ấy là Tướng Lam Sơn, nguyên là giám đốc Trung tâm huấn luyện sĩ quan Thủ Đức, giúp cho một việc. Tướng Lam Sơn phải xộ khám vì tội bắn chết quản gia, tuy ở tù nhưng được đối xử rất đặc biệt: ở khu AH (khu dành cho số tù nhân mặc quần áo màu trắng, được gọi "công vụ" như trông coi thứ viên của khám, làm công tác hướng nghiệp...) nhưng ông ta cả ngày tá tá muốn làm gì thì làm, được cả quản đốc, giám thị lẫn số tù hình sự vị nể, muốn mua gì cũng có thể gửi giám thị mua giúp.
Lâm nhờ Tướng Lam Sơn mua cho mình một chai rượu Cognac hiệu Remi Martin. Xong, Lâm kêu Lí Lắc chuẩn bị mồi, tối khuya mời Hoàng Đầu lâu đối ẩm. Trong tù, được đàn anh chiếu cố, lại có rượu tây nhâm nhi, Cognac đàng hoàng, thì còn gì thú bằng.
Thế là Hoàng Đầu lâu cứ thế nốc rượu tì tì mà không hề nghĩ đến hậu quả, trong khi Lâm chỉ nhấm nháp, đưa hơi chờ đợi...
Đến nửa đêm, chai rượu vừa cạn cũng là lúc Hoàng Đầu lâu say mèm hết biết trời đất, nằm lăn ra ngáy khò khò. Lúc này Lâm mới lôi con dao inox bén ngọt ra, cứ thế nhằm đối thủ mà đâm không biết bao nhiêu nhát cho đến khi Hoàng Đầu lâu tắt thở, máu chảy lênh láng. Lí Lắc thì quá sợ, chỉ biết trố mắt ngó đàn anh hành động, chân tay run bần bật như thằn lằn đứt đuôi.
Thấy đối thủ đã chết hẳn, Lâm chín ngón mới ra đứng ở cửa phòng lớn tiếng gọi giám thị. Đêm khuya vắng lặng, tiếng Lâm như vang to hơn hắn: "Giám thị, tôi đâm chết Hoàng Đầu lâu rồi".
Ngay cả giám thị trại giam lúc mới nghe cũng chưa hẳn tin lời Lâm nói là sự thật...
Lâm chín ngón lại bị tống vào khu Điện Ảnh.
Bên ngoài, Sơn Đảo thêm một phen lồng lộn bực tức. Bao nhiêu công lao nuôi dưỡng Hoàng Đầu lâu, việc gần đến đích bỗng biến thành nước lã đổ ra sông hết sạch. Hắn tiếp tục nghĩ kế quyết trả thù, bằng bất cứ giá nào cũng phải giết bằng được Lâm chín ngón.
Tuy nhiên Sơn Đảo chưa kịp nghĩ ra kế trả thù thì Lâm chín ngón đã bị chuyển ra biệt giam ngoài Côn Đảo đầu vào đầu tháng 4-1975; còn chính hắn bị một đàn em là Y Cà-lết, tên thật Phạm Bá Y, giết chết do tranh giành em út, và tiếp đó là miền Nam được hoàn toàn giải phòng...

Giang hồ Sài Gòn

Tác giả: Vũ Quang Hùng

Chương IV: Dân chơi tại khu chuồng cọp Côn Đảo-

Chuồng cọp trại 7 Côn Đảo thuộc dạng “chuồng cọp kiểu Mỹ”, mới xây sau năm Mậu Thân (cűng với trại 6).
“Chuồng cọp kiểu Mỹ” được xây quãng cuối những năm 1960 bằng bê-tông cốt thép, lợp mái tôn - để phân biệt với chuồng cọp kiểu Pháp ở các trại 2, 3, 4 với vách đá dầy, âm u.
Thời gian ấy, Mỹ xây hai trại giam ở Côn Đảo: trại 6 dành cho tù nhân nữ, và trại 7 dành cho tù nhân nam.
Trại 7 gồm có tám khu, được đặt tên theo các chữ cái A-B, C-D, E-F và G-H. Cứ hai khu nằm kề nhau, có tường bao quanh, cửa qua lại thường xuyên bị khóa. Tất cả các khu tuy nằm chung trong một khuôn viên lớn, thực ra mỗi khu đều biệt lập: Có giám thị riêng, ban trật tự riêng, sân tắm nắng riêng, giếng nước riêng...
Mỗi khu gồm khoảng 40 phòng, mỗi phòng diện tích đều bằng nhau, dài rộng cỡ 2,5 x 2 m, bình thường nhốt hai người, nhưng cüng có lúc nhồi nhét ba, bốn, thậm chí năm người.
Trại 7 dùng để nhốt số can phạm chính trị, chống chào cờ, chống kỷ luật.
Riêng khu C chủ yếu dùng nhốt tội phạm hình sự từng có nhiều thành tích.
Khu kỷ luật của Chuồng cọp
Nói chủ yếu vì tại khu này trên 90% là tù thường phạm du đãng nổi tiếng đâm thuê chém mướn từng thành danh trong xã hội đen và khi vô tù lại tiếp tục đánh lộn, gây rối, thậm chí giết người, mà theo “dân chơi” là toán “thú dữ” và “có vằn có vện”. Thêm vào đó là số ít tù thường phạm được làm an ninh, trật tự... tại đảo nếu vi phạm nội qui, kỷ luật cűng bị nhốt vào khu C, thường chỉ trong một thời gian ngắn, gọi là để trừng trị.
Ngoài ra, còn có nhiều tù chính trị mới từ đất liền ra đảo chống chào cờ bị đưa vào khu C coi như một hình thức “dằn mặt” cho sợ. Ai chịu nổi sẽ được chuyển qua các khu khác, ai chịu không nổi sẽ phân phối về các trại khổ sai - thường anh em tù chính trị bị tạm nhốt tại khu C chỉ trong thời gian trên dưới một tháng sẽ được phân loại để dời khỏi nơi đây.
Riêng tôi và anh bạn cùng bị bắt chung một vụ, anh Lê Văn Châu, được “chiếu cố” nhốt luôn tại khu C từ khi mới bước chân ra Côn Đảo từ giữa năm 1973 cho đến ngày được giải phóng (Có lẽ vì anh Châu khi trước là sĩ quan quân đội nguỵ đóng tại Côn Đảo sau lại theo cách mạng, còn tôi do lần ở tù trước bị giam tại đảo khi được thả về viết nhiều bài đăng trên báo Tin Sáng lên án chuyện nhà tù Côn Đảo; hơn nữa vụ án của chúng tôi cűng khá đặc biệt).
Cần nói thêm, mãi về sau, đâu khoảng đầu năm 1975, có thêm hai người tù chính trị nữa cũng “thường trú” luôn tại khu C.
Người thứ nhất là ông Trịnh Văn Cẩn tức Tư Cẩn (sau 30-4-75 làm Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Cửu Long), khi ở tù lấy bí danh Tám Lô. Khi đó ông làm Bí thư của số tù nhân ngoài Côn Đảo, được anh em lén lắp ráp cho một radio để nắm tình hình, chẳng may bị lộ, bọn giám thị tống ông vô khu C.
Người thứ nhì là anh Võ Văn Giáo. Anh làm y tá chăm sóc tù nhân tại các khu chuồng cọp - thực ra anh được phân công làm nhiệm vụ này để nắm tình hình, trao đổi liên lạc giữa anh em tù nhân. Nhưng anh bị bọn cai tù phát hiện, và cüng bị đưa luôn vào khu C trại 7.
Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rành những tù hình sự vốn nổi tiếng bị nhốt tại khu C cùng với tôi.
Trước hết phải kể đến Biện Thành Huệ tức Huệ Râu, vốn là trung sĩ quân cảnh (nguỵ), bảo kê cho các bar và vũ trường quanh khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, đã bắn chết một lính Mỹ say rượu. Huệ lớn tuổi nhất trong đám, lại nhờ “thành tích” bắn chết Mỹ nên được cả đám nể vì. Rồi Tuấn Đả, tay anh chị nổi đình đám nhất tại các tỉnh Nam Trung Phần (từ Qui Nhơn đến Phan Thiết) dám đâm lòi ruột Sơn trắng ở quân lao Nha Trang để giành chức “đại ca”; Lâm Chín ngón với hai án tù chung thân (do giết hai “đại ca” trong tù là võ sĩ quyền anh Vũ Đình Cường và Hoàng Đầu lâu), Khương Đại, Hải Méo, Hùng Be... Cư ngụ ngắn ngày tại khu C có “tướng cướp cô độc” Điền Khắc Kim, và Nam Lương vốn thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” miền Tây Nam Bộ, sau làm “quân sư” cho Đại Cathay (Điền Khắc Kim trở về đất liền để ra toà xử án, còn Nam Lương hình như được thả).
Có điều lạ là trong khi những tù hình sự “thường thường bậc trung” hay gây sự, chửi bới tù chính trị thì số “đại ca” lại có phần vị nể chúng tôi, giao hảo khá thân mật, đối xử rất phải đạo, tư cách đàng hoàng.
Coi khu đặc biệt này tất nhiên củng phải là những nhân vật đặc biệt. Ngoài giám thị (thường chỉ loáng thoáng có mặt trong giờ hành chính), người trực tiếp chỉ huy khu C từ việc nhỏ tới việc lớn (như mở cửa đóng cửa các phòng để tù nhân luân phiên ra tắm nắng và đổ thùng cầu, chửi mắng và đánh đập tù nhân, đi tuần trên các song sắt vốn là trần cúa chuồng cọp...) là một tù hình sự quân phạm (quân đội nguỵ phạm tội hình sự) tên Kim Sang. Ai củng gọi hắn là Sang lai, bởi hắn lai Miên, da như đồng hun, cao lớn, vạm vỡ. Đặc biệt Sang lai có đôi mắt vàng ệch, mà hắn thường khoe nhờ ăn nhiều gan “Việt Cộng” mắt mới ngả màu như vậy (!). Sang lai hễ mở miệng là chửi bới văng tục, kể cả với tù hình sự. Riêng đối với các “đại ca” cỡ Huế Râu, Lâm Chín ngón, Tuấn Đả hắn tuy có đôi chút nể nang nhưng khi nổi nóng lên cüng chửi thề tuốt luốt.
Các phòng trong khu chuồng cọp được bố trí thành hai dãy đối diện nhau, cửa bằng sắt, chỉ có lỗ thông gió nhỏ bỏ vừa chiếc dĩa để đưa cơm và thức ăn ra vào mỗi bữa. Phía sau phòng, trên cao, có một khoảng trống song sắt hết sức kiên cố để phòng bớt ngột ngạt. Trên phòng không xây kín mà là song sắt chạy dài, có lối đi: Khi nào cần đàn áp, giám thị và an ninh trật tự chỉ việc từ phía trên rải vôi bột xuống, đố tù nhân tránh thoát. Cách lớp song sắt phía trên này khoảng 1,5-2 mét là mái tôn.
Tù nhân ở trong phòng bị đóng cửa suốt ngày đêm, chỉ được mở khóa ra sân mỗi ngày khoảng một giờ để “tắm nắng” theo từng nhóm phòng.
Điều cần tranh thủ làm chính trong khoảng thời gian “tắm nắng” này là rửa thùng cầu - mỗi phòng đều có một thùng cầu đóng bằng gỗ, trét nhựa đường; tù nhân đi cầu, đi tiêu trong đó để giờ tắm nắng mang ra đổ, rửa, úp phơi khô - và tắm, giặt. Với các “đại ca”, có khi được bọn trật tự khu cho ưu tiên, tắm nắng khoảng 1g30-2 giờ, đi qua đi lại, vung tay vung chân cho dãn gân cốt.
Cũng như những khu khác trong trại 7, mỗi “chuồng cọp” tại đây gồm một bể xi-măng chiếm phân nửa diện tích. Mỗi phòng thường nhốt hai người, một nam trên bể, một nằm dưới sàn. Các phòng thường uyên bị xáo trộn, đổi người qua lại (có lẽ để tránh bàn chuyện vượt ngục), cho nên trong suốt khoảng hai năm nằm tại khu C, tôi gần như ở chung với tất cả số tội phạm hình sự. Cũng nhờ đó, tôi nắm được khá nhiều tư liệu về anh em giang hồ hồi trước 1975 để sau này có nhiều dịp thể hiện trên mặt báo.
Với khoảng 40 phòng, khu C thường giam giữ trên dưới 80 tù nhân. Như trên đã nói, trần các phòng, ngay phía dưới mái tôn là hàng song sắt để bọn trật tự coi khu có thể đi lại trên đó. Cũng vì vậy, người ở trong phòng nếu nói lớn tiếng, các phòng chung quanh và đối diện (tổng cộng khoảng 12-15 phòng) đều có thể nghe được.
Không rõ tại các chuồng cọp khác, anh em tù học và dạy học những gì, riêng tại khu C, thời gian tôi ở chung với anh Giáo, anh dạy tôi chữ Hán (anh vốn làm nghề thấy thuốc Bắc, viết chữ Hán rất đẹp, biết cả kiểu chữ thảo) và châm cứu. Còn tôi dạy anh tiếng Pháp và toán trung học đệ nhị cấp. Tôi tự học tiếng Anh và tiếng Pháp, thời gian này học từ vựng trong tự điển là chính. Chúng tôi cũng dạy nhau những bài thơ, bài hát về cách mạng hoặc những bài thơ hay mà mới chỉ một trong hai người thuộc.
Còn khi bị nhốt chung phòng với anh em tù thường phạm, anh em dạy tôi... đánh lộn. Đúng là đánh lộn chớ không phải võ, vì hầu hết anh em không phải võ sư hay võ sĩ gì cả, mà chỉ chuyên đánh lộn với các thế võ “sát thủ” theo kiểu học mót, miễn sao thắng được đối thủ. Thôi thì đủ cả: bẻ tay, bẻ chân, khóa cổ, giật cùi chỏ, lên đầu gối, móc mắt, vặn tóc... Và lại muốn học bài bản củng không thể vì không gian chuồng cọp quá hẹp không thể đi quyền hoặc tung những đòn cước liên hoàn. Thực ra tôi học đánh lộn cho qua thời gian, vận động thân thể và để “ông thấy vui” là chính.
Phần tôi, tôi củng dạy anh em học văn hóa: tiếng Pháp, tiếng Anh tuỳ người muốn học; nếu không, tôi đọc truyện Kiều, kể chuyện võ hiệp, qua đó phân tích cho anh em nghe cái hay cái đẹp của văn chương; những hành động trọng nghĩa khinh tài, đối xử phải đạo của giới võ lâm. Được cái trí nhớ tôi cũng khá tốt, tôi kể tương đối hấp dẫn nên anh em rất thích nghe. Vả lại trong tù vốn chẳng có gì để giải trí nên kể chuyện dài nhiều tập được coi là một thú tiêu khiển “giết thời gian” mà ai nấy đều thích và gọi là “quay phim”.
Tôi còn nhớ những bộ truyện dài như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, nhất là các tập võ hiệp của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, Lộc đỉnh ký... tôi đều phải kể trên dưới một tháng mới xong. Mà thời gian kể mỗi ngày hầu như cố định: Sau khi đóng của phòng biệt giam buổi tối túc 6 giờ, đến khi giới nghiêm túc 9 giờ.
Cứ sau khi ăn cơm chiều xong được một lát, các phòng biệt giam bị khóa hết, tôi nằm ngửa, vận “nội công” vào ngực, bắt đầu “quay phim” - nếu không, các phòng gần đó thế nào cüng nhắc nhở, thúc giục cho bằng được.
Thực ra, không cần nhớ nguyên văn 100% câu chuyện, chỉ cần trên 50% là được rồi. Tả tình, tả cảnh, tả người tôi tha hồ thêm thắt, dậm mắm dậm muối, thậm chí... bịa đại. Các thế võ cũng vậy: Đố ai phân biệt được Võ Tòng đã “Ngọc hoàn bộ uyên ương cước”, “liên hoàn tam cước” hay “kim kê độc lập cước” khi nghe kể “Võ Tòng nhảy vọt lên, vung hai chân liên tục vun vút tung đòn chân nọ chưa kịp thu về chân kia đã đá ra, chỉ nghe tiếng gió rít lên cũng đủ biết công lực mạnh biết chừng nào, tốc độ đã nhanh biết chừng nào và trước khi Võ Tòng hạ thân mình xuống đất trở lại đã đá tổng cộng chân phải 7 cước còn chân trái 6 cước”. Và họa có trời mới kiểm chứng nổi có đúng là Trương Vô Kỵ sử dụng thế võ phi thân đẹp mặt chân truyền của phái Võ Đang “thế vân tung” hay đã biến thành “vân long tam hiện” khi nghe lời kể “Vô Kỵ lập tức dậm chân, thân hình bay bổng, lộn ba vòng trên không trông không khác nào con rồng bay trong đám mây ẩn ẩn hiện hiện, thân pháp khinh linh khiến ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi khâm phục, đến nỗi có người lè lưỡi quá dài hai ngày sau mới rụt vô lại được”.
Có khi nghe bịa đại vậy rồi tưởng tượng ra còn sướng hơn cả đọc sách, nhất là khi ngồi một mình giữa bốn bức tường trong biệt giam chuồng cọp.
Giữa giờ, tôi tự cho mình được quyền “nghỉ giải lao” tuỳ ý, khi nào cảm thấy mệt, thường là lúc câu chuyện đang hấp dẫn. Thế là anh em tù nhân nào có quà do người nhà gởi thăm nuôi đều nhờ số tù trật tự (không bị giam vô biệt giam mà tự do đi lại phía bên trong trại) mang qua “bồi dưỡng” cho tôi. Số tù trật tự này cũng rất khoái nghe tôi kể chuyện.
Tôi còn nhớ, sau khi kể xong Lộc đỉnh ký, tôi bỏ ra nguyên một buổi tối phân tích nhân vật chính Vi Tiểu Bảo. Vì thính giả hầu hết là dân chơi, tôi nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa khí giang hồ của gã họ Vi: Làm gì thì làm, lừa đảo ai thì lừa đảo, nhưng một khi đã kết nghĩa anh em (chớ chưa nói đến đã nhận làm sư phụ như Trần Cận Nam; Cửu Nạn sư thái hay vua Khang Hy) thì không bao giờ tráo trở; lại hết lòng cứu giúp chẳng hạn đối với Tang Kết (dù chỉ là kết nghĩa bất đắc dĩ) hay Dương Dật Chi; và hễ đã hứa là lấy chữ tín làm đầu, không hề lật lọng bao giờ. Thêm làm gì thì làm, gã họ Vi luôn “chơi đẹp” với bất cứ ai.
Chính nhờ kể chuyện, học và tự học, anh em giang hồ trở nên thân quen, có cảm tình với tôi. Tôi nhớ khi tôi chẳng may bị liệt chân, một tay du đãng tại khu C là Hùng Be chuyên cõng tôi ra tắm nắng.
Cũng chính nhờ vậy, thời gian dường như trôi qua nhanh hơn đối với anh em tù nói chung, với anh em bị nhốt trong chuồng cọp nói riêng.
Do khu C chủ yếu nhốt tù hình sự, nên mọi tin tức về tình hình chính trị bên ngoài, nếu anh em tù chính trị ở các khu khác có nắm được, cũng ít khi thông báo tới đây. Và lại, đường dây liên lạc của anh em tù chính trị cũng rất khó thâm nhập khu C.
Đêm 30 - 4 tại khu C
Những ngày cuối tháng 4-1975, nằm trong khu C, chúng tôi (lúc ấy tôi đang nhốt chung phòng với anh Võ Văn Giáo) vẫn chưa hay biết một chút nào về tình hình chiến sự bên ngoài.
Chúng tôi chỉ ghi nhận hai điều là: Thứ nhất là cả bọn trật tự khu, kể luôn Sang lai, cũng đều bị cấm ra khỏi khu C (trước giờ chúng thường được đặc cách cho ra khỏi khu, khỏi trại - trừ ban đêm - để dạo phố Côn Đảo, mua đồ ăn thức uống, thăm bạn bè...). Sau này tôi mới đoán chừng có lẽ bọn giám thị sợ số trật tự nắm được tình hình bất lợi cho bọn chúng sẽ nói lại với anh em tù chính trị. Thứ hai, tuy nằm trong trại biệt giam nhưng vẫn nghe tiếng máy bay gầm rú, hình như lên xuống liên tục tại sân bay Côn Đảo. Mãi đến sau ngày giải phóng, tôi mới nghe kể lại, vào ngày 28 hoặc 29 - 4 gì đó, trong số máy bay lên xuống có một trực thăng từ đất liền bay ra, thả xuống ngay giữa thị trấn Côn Đảo mảnh vải lớn có hàng chữ ghi nội dung vắn tắt Sài gòn đã thất thủ, mạnh ai nên tự tìm đường nấy trốn.
Khoảng tám giờ tối 30 -4, chúng tôi nghe văng vẳng hình như bên phía mấy khu khác của trại 7 có tiếng thông báo, nhưng tiếng được tiếng mất. Lúc ấy chân phải tôi bị liệt, đi lại rất khó khăn, nên anh Giáo bàn với tôi, tôi ráng đứng trụ để anh leo lên vai tôi, hóng tai ra ngoài nghe thử (như đã mô tả, phía sau mỗi chuồng cọp đều có khoảng trống nhỏ thông hơi với nhiều song sắt. Tù nhân thường đòng đòng nhau cố đưa miệng qua khoảng trống này để thông báo tình hình cho nhau). Tuy nhiên anh Giáo dù dỏng tai cố nghe, vẫn tiếng được tiếng mất không rõ anh em nói những gì.
Bọn tù thường phạm bị những tiếng nói vang vang kia quấy phá, cộng thêm nỗi bực tức vì bị nhốt cả tuần nay khiến chúng lớn tiếng chửi thề và hăm dọa. Tôi không tiện ghi hết những lời thô tục của bọn chúng, chỉ xin nói đại khái “Câm họng cho ông ngủ” “Ngày mai ông sẽ cho biết tay” “Bộ chúng mày hết muốn sống rồi hay sao”, v.v... Những tiếng chửi thề và lời lẽ hung hăng của chúng chứng tỏ quả thật chúng không hay biết gì về những diễn biến của thời cuộc bên ngoài. Tất cả những sự ồn ào, nhộn nhạo này khiến chúng tôi không thể nào nhắm mắt nổi. Anh Giáo và tôi suy đoán đỉ thứ, nhưng không hề nghĩ rằng miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng vào lúc ấy.
Đến khoảng quá nửa đêm, những tiếng ồn ào ngày càng vang lên từ xa xa, mơ hồ hình như có tiếng la “Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!” Anh Giáo và tôi còn đang bán tín bán nghi thì tiếng ồn ào càng lúc càng lại gần, càng rõ hơn. Rồi, chúng tôi không dám tin ở tai mình, và ngay cả mắt mình nữa: Tiếng loảng xoảng mở cửa khu C, rất nhiều người ùa vào. Có tiếng ai đó hỏi “Anh em tù chính trị ở phòng nào?”. Chúng tôi vừa lên tiếng đã thấy khóa phòng mở toang...
Từ đó cho đến tận mấy ngày sau, tôi như sống trong giấc mơ. Mọi diễn biến quá nhanh khiến tôi không kịp suy nghĩ, trí óc cứ bồng bềnh, phiêu lãng tận đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ lập tức tôi được dìu ra bệnh xá, thuốc men, ăn uống chăm sóc tối đa. Trong khi những anh em tù chính trị mới được thả ra tung tăng đi lại khắp Côn Đảo, dự mít-tinh, giữ trật tự, bắt bọn giám thị tống vô trại giam... thì tôi nằm bẹp một chỗ, những anh em quen biết tới thăm hỏi, quà cáp liên tục.
Tôi còn nhớ rõ, vừa khi ấy Côn Đảo hình như bắt được một tàu đánh cá hay sao đó, đem lên không biết bao nhiêu cá ngừ và cá thu mang nướng, rời bắt được vích (rùa biển) nấu cà-ri, giết heo, mổ bò, thức ăn dồi dào không cách nào ăn hết, ăn cho bỏ những ngày chỉ toàn cá khô mục đắng nghét hoặc mắm kho lõng bõng nước. Đã thế, số anh em nằm bệnh xá còn được chăm sóc đặc biệt bằng cách làm thịt một chú cẩu gọi là để “bồi dưỡng”.
Nằm chữa và dưỡng bệnh, tôi nghe kể vô số chuyện thú vị về Côn Đảo những ngày đầu giải phóng. Nào giám thị trưởng Nguyễn Văn Thà tức Ba Thà bắn súng vào đầu tự sát ngay tại nhà riêng. Nào Chín Khương, trưởng ban chuyên môn tại Côn Đảo (ban giám thị chuyên theo dõi, đàn áp và đánh đập tù chính trị), dùng thuyền nhỏ chạy tuốt ra hòn Bãi Cạnh nhưng bị anh em đuổi theo bắt được, nhốt vô chuồng cọp (đúng là ác giả ác báo!)... Rồi chuyện bọn địch có chỉ thị ném vô mỗi chuồng cọp một trái lựu đạn để tiêu diệt hết anh em, nhưng nhờ cha xứ nhà thờ Côn Đảo, một đại úy địa phương quân (ngụy), và một giám thị tốt bụng nên âm mưu độc ác này đã không thể thực hiện...
Riêng số tù hình sự ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi bẵng đi quên không hỏi đến và cũng không nghe ai nói đến. Thực ra, vào thời điểm lịch sử như vậy, nào ai để ý tới chuyện lặt vặt của mấy anh chàng du đãng đang bị nhốt?
Bản thân tôi, như đã nói, như sống trong giấc mơ cho đến ngày có hai chiếc tàu của hải quân Trung Quốc cập bến Côn Đảo để chở tù chính trị về đất liền. Sức chứa mỗi tàu chỉ khoảng 150 người, mà tù chính trị tại Côn Đảo lên tới hơn 5.000 người thì làm sao chở hết. Cho nên, trên hai chuyến tàu đầu tiên rời đảo chỉ ưu tiên cho những anh chị em bệnh tật, già yếu, trong đó có tôi.
Tàu thả neo tại Vũng Tàu, ngay bên cảng Rạch Dừa, xe hơi đón anh chị em về Sài gòn. Nhưng khi mới giải phóng, cầu Cỏ May bị đánh sập chưa sửa kịp nên phải “tăng-bo” qua khúc sông này. Vì vậy, số ít anh chị em do bệnh quá nặng hoặc đi lại khó khăn được đưa vô bệnh viện Vũng Tàu điều trị, chờ thuyên giảm mới về Sài gòn sau. Số này chỉ đâu khoảng hơn 20 người, và do đó tôi tiếp tục vô nằm bệnh viện Vũng Tàu...
Số phận của tù nhân du đãng trong Chuồng cọp
Mãi sau này, gặp lại Huế Râu, Hùng Be tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi mới nghe kể lại tình hình của khu C ngay sau ngày giải phóng.
Tù chính trị trong khu C được thả ra, còn số tù hình sự đương nhiên vẫn bị nhốt trong Chuồng cọp. Mọi sinh hoạt của số tù nhân này vẫn diễn ra bình thường, có điều ngay qua ngày hôm sau, anh em tù hình sự mà cầm đầu là các “đại ca” bắt Sang lai trả món nợ máu. Họ hoà một chén gồm phân và nước tiểu, bắt Sang lai quì xuống, ra điều kiện: Hoặc hắn phải uống hết chén nước rất mất vệ sinh đó, hoặc chịu bề hội đồng (nghĩa là xúm nhau đánh cho thừa sống thiếu chết). Sang lai hết khóc lóc lại lạy như tế sao van xin tha tội, nhưng cuối cùng không còn cách nào khác đánh ục một hơi hỗn hợp trong chén!
Rồi có lẽ do anh em tù chính trị quá lo “đại sự”, chỉ đối phó với bọn giám thị trại giam và vô số công việc hành chánh khác mà quên phắt số tù hình sự này và mặc kệ bọn họ muốn làm gì thì làm. Vậy là bọn họ chia thành hai “trường phái”: Một cứ mặc kệ, sống tà tà chờ mọi chuyện tới đâu thì tới. Huế Râu, Lâm Chín ngón thuộc nhóm này. Một nhân cơ hội tranh tối tranh sáng rủ nhau phá kho tang vật, cướp bóc đồ đạc, lên núi tim cách kết bè trốn về đất liền. Tuấn Đả, Khương Đại, Hải Méo cầm đầu nhóm này.
Kết quả nhóm thứ hai phá được kho tang vật, lấy đi khá nhiều tiền bạc, đồng hồ, nữ trang... mà tù nhân buộc phải ký gởi tại kho một khi vừa bước chân lên Côn Đảo. Cướp được đồ, bọn chúng hí hửng trốn vào rừng núi Côn Đảo. Nhưng Côn Đảo vốn hẹp, chỗ đâu mà trốn? Lại nữa vô núi đào đâu ra thực phẩm, nước uống? Đóng thuyền kết bè nào phải ngày một ngày hai? Chẳng mấy lúc, bọn chúng lần lượt bị bắt sạch không còn một mống. Và theo chế độ quân quản khi ấy, tất cả bọn chúng đều bị mang ra xử bắn.
Nhóm thứ nhất gần như sau đó đều được xét thả tự do, trừ Lâm Chín ngón do mang hai án tù chung thân nên tiếp tục bị ở tù, bị đưa ra ngoài Bắc nhốt chung với 12 viên tướng chế độ cũ để học tập cải tạo.
Mãi hơn 10 năm sau, Lâm Chín ngón mới được thả về. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau...
Mãi tới bây giờ, thỉnh thoảng trong những giác mơ tôi vẫn thấy mình bồng bềnh nằm trong chuồng cọp khu C trại 7 Côn Đảo cùng sống chung với số tù hình sự, có lẽ do những hình ảnh này đã ăn sâu vào tiềm thức, chiếm một vị trí nhất định nào đó trong bộ nhớ của tôi, không có cách nào xóa sạch.

Giang hồ Sài Gòn

Tác giả: Vũ Quang Hùng

Chương V: Tôi ở tù chung với Điền Khắc Kim-

Tôi ở tù chung với Điền Khắc Kim tại chuồng cọp khu C trại 7, Côn Đảo, một thời gian ngắn khoảng đầu đầu năm 1974.
Tôi bị giam ở khu C đâu khoảng vài tháng thì Điền Khắc Kim mới từ đất liền ra đảo. Dĩ nhiên hắn lập tức được tống vào khu C.
Tôi nhớ đi chung với Kim khi ấy có một số tay tù thường phạm sừng sỏ khác, mà nổi cộm hơn cả là Biện Thành Huệ và Năm Lương. Huệ được gọi “Huệ Râu” đầu gấu khu Chi Lăng (quanh sân bay Tân Sơn Nhất), nổi đình đám nhờ dám bắn chết quân cảnh Mỹ; còn Năm Lương thường gọi “Lương già” là một trong các quân sư của Đại cathay. Số này đều được đặc cách, người một phòng, kể cả Điền Khắc Kim. Tình cờ, phòng giam bọn họ gần ngay phòng giam tôi nên mỗi khi tôi “quay phim” tất cả đều nghe được và tỏ ra thích thú.
Tất nhiên, chỉ giờ tắm nắng tôi mới gặp Kim. Thấy hầu hết tù hình sự thường phạm gọi tôi bằng anh; xưng em; hắn hỏi tuổi tôi, và khi biết tôi lớn hơn hắn đến 4 tuổi, Kim gọi anh xưng em ngọt sớt.
Tôi còn nhớ Kim dáng người tầm thước, chỉ ngang cỡ tôi (1,63m), ốm nhách, da ngăm đen tai tái, cặp lông mày rậm và hơi xếch.
Kim có óc tưởng tượng khá phong phú. Tới nhớ có một lần, đổ thùng cầu, tắm giặt xong, hắn khoác tay tôi đi qua đi lại cho giãn gân cốt, nói đủ thứ chuyện. Bỗng hắn báo: “Anh có biết lúc này em ước gì không?” - tất nhiên tôi không biết, Kim tiếp - “Em ước gì trời tự nhiên thiệt lạnh, biển đóng thành nước đá, anh em mình cứ thế chạy riết một hơi về đất liền (!)”
Có hôm, đang đi dao, Kim dừng lại, bảo tôi: “Em chỉ cho anh coi cái này, thằng Thiệu (tổng thống miền Nam khi ấy) cũng chưa được coi bao giờ”,” vừa nói vừa kéo lưng quần chỉ cho tôi xem vết thẹo còn đỏ hỏn ngay phía dưới rún.
Nhân đó hắn kể tôi nghe: “Đây là vết thẹo em bị bắn khi bị vây bắt bên quận 4, trúng đạn bị thương khá nặng mà vẫn trốn thoát, không bị bắt.”
Và theo lời hắn, nào có chỉ là huyền thoai, tài ba gì ghê gớm, chẳng qua nhờ ăn may: “Em núp ngay sau gốc cây, thấy bọn cảnh sát tìm kiếm ở đâu đâu mà tức cười. Chắc chúng tưởng em phải bỏ chạy và đã chạy xa rồi. Đúng ra em cũng phải làm vậy, nhưng ngặt vết thương nặng quá nên không thể bỏ chạy nổi, ai dè thành hên!”
Kim còn nói thêm, lúc bị bắt trở lại, hắn khai thiệt núp ngay sau gốc cây, bọn cảnh sát không tin; vả lại, nếu đúng vậy, hóa ra cảnh sát biến thành một lũ ngốc (!) thể nào cũng bị cấp trên rủa cho te tua, nên buộc hắn phải “phịa” chuyện nhảy xuống kênh chạy trốn.
Chớ theo Kim “Anh nghĩ thử xem, vết thương như vầy sao em dám nhảy xuống kênh quận 4, dơ hết cỡ, thế nào chẳng nhiễm trùng; và làm sao lội nước nổi, bơi nổi với mớ ruột lòi cả ra ngoài?”
Cũng vậy, Kim kể tôi nghe tiếp về vụ hắn trốn thoát khi bị bắt, lúc được đưa qua bệnh viện Sài gòn để trị bệnh. Biết Kim là tên tù có biệt tài vượt ngục, cảnh sát phái một nhân viên theo canh giữ 24/24, mặc dù Kim đã bị còng một tay vào thành giường. Ấy thế mà ban đêm, Kim không những trốn thoát, mà còn còng tay tên cảnh sát vô thành giường thay cho mình! Chính qua vụ này, báo chí lúc ấy thổi phồng Kim quá đáng, coi như hắn có tài xuất quỉ nhập thần.
Thật ra, chẳng phải quỉ thần gì, bởi theo lời Kim kể: “Bị còng tay vô thành giường, em buồn chán, cả ngày nằm ngủ. Ngủ suốt ngày khiến ban đêm không ngủ nổi nữa, hai mắt cứ thao láo. Ngược lại, gã cảnh sát canh chừng em đương nhiên phải thức cả ngày, nên khỏang nửa khuya hắn gục xuống ngủ say như chết. Thấy thời cơ đã đến, cái thứ còng răng ai đã bị qua rồi thì lạ gì: Chịu khó bóp hết răng còng - em ốm nhách, cỡ tay nhỏ nên ráng chịu đau chút xíu là xong - lấy bắt cứ thứ gì, thường là cọng chiếu, cài ngang là kéo ra cái rột. Thoát còng, em đã định chuồn êm, nhưng thấy gã cảnh sát ngủ vùi chợt nảy ý nghĩ vui vui, lấy còng còng tay hắn vô thành giường trước khi chuồn...”
Có lần, cũng trong giờ tắm nắng, vui miệng tôi hôi Kim trong những lần “làm án” có kỷ niệm nào “để đời” hay không. Kim không do dự: “Có đấy. Một lần nửa đêm về sáng, em “đột vòm”, lọt vô một căn nhà ở Cư xá Đô thành. Thông thường, việc làm đầu tiên của em khi vô nhà là mở sẵn cửa chính, khép hờ, đề phòng khi bị phát hiện vọt cho lẹ. Nhà có chiếc xe gắn máy mới tinh, thấy bắt thèm. Em lục túi quần áo của tay chủ nhà treo trên móc áo kiếm tiền. Ai dè trong túi ngoài tiền bạc, giấy tuỳ thân của chủ nhà lại còn có đầy đủ giấy tờ xe và luôn cả chìa khóa. Vậy là em chỉ việc mở cửa, dắt xe, ung dung lên xe dong tuốt, chưa khi nào ăn hàng ngon bằng bữa ấy!”
Có lần, vui miệng, tôi hỏi Kim “Nếu có một ngày nào đó, Kim vào một ngôi nhà “ăn” hàng, ai dè phát hiện chủ nhà lại là tôi, Kim tính sao?” Hắn cười vui vẻ, đáp ngay khỏi suy nghĩ: “Em kêu anh dậy, anh em tụi mình đi nhậu!”
Tuy vậy, Điền Khắc Kim không được những tay giang hồ cộm cán mấy nể trọng.
Số tù hình sự nổi tiếng như Lâm Chín ngón, Chương khùng, Việt Parker, Hùng be... sau này kể tôi nghe chuyện tù thường phạm chém Trung sĩ Cách ở Chí Hoà, khiến những tay giang hồ nổi đình đám khi ấy đang bị nhốt tại đây đều được chuyển qua trại giam Gia Định. Vừa qua Gia Định, tên tù đang làm thư ký trại giam này, có vẻ nhơn nhơn tự đắc, hất mặt hỏi: “Tụi mày biết tao là ai không? Tao là Điền Khắc Kim đây!” Lâm Chín ngón liền “đại diện” cả bọn nhào tới, một tay chộp cổ Kim kẹp nách (Lâm to con, khoẻ, cao 1,70 m), tay kia nhanh nhẹn rút cây viết bi trong túi áo Kim, đâm vào đầu Kim. Viết bị đâm trúng chiếc sẹo ngang trán - chính là vết đạn Kim bị bọn cảnh sát bắn trúng trong một trận đấu súng - trợt ngang...
Những tay giang hồ này chê Kim không dám đâm chém, dưới trướng lại không có đệ tử, nên gọi hắn là “tướng cướp cô độc”.
Trong thời gian ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi để ý thấy các đàn anh Huệ Râu, Lương già cũng chỉ đối xử với Kim như đàn em, và Kim đối với những tay này cũng không hé dám tỏ ra “trên cơ”, thậm chí ngang cơ bao giờ”.
Cả bọn trật tự coi khu, tuy phần nào nể Kim, nhưng rõ ràng chỉ coi hắn thuộc loại có số má, nhưng chưa phải đại ca gì ghê gớm lắm (như đối xử với cỡ Huệ Râu, và sau này là Lâm Chín ngón, Tuấn Đả, Khương đại).
Tiếc rằng thời gian Kim ở Côn Đảo không bao lâu, vì chỉ khoảng trên dưới một tháng sau hắn lại được đưa về đất liền để điều tra về một vụ án khác. Về sau nghe nói ở Côn Đảo về, Kim bị nhốt ở Vị Thanh, và đã vượt ngục tại đây...

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32