THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 23/b
THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (II)
ĐẠI CHÚNG --------------------------------
PHẦN III
Nguồn cội
“Đừng
chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
Trần Hạnh Thu
CHƯƠNG I: TỔ TIÊN (tiếp)
“Ta
có tai, mắt, ta nghe, ta trông; ta có tâm tư ta suy, ta nghĩ; đối với
người xưa có lúc ta thờ như thầy, có lúc ta kính như bạn, cũng có lúc ta
kình địch không chịu, ta theo cái lý nhất quyết không làm tôi tớ cổ
nhân.”
Lương Khải Siêu
***
Lịch
sử là sự tái hiện một cách không (bao giờ) đầy đủ (những) hiện thực đã
qua hay còn có thể gọi là thực tại đã chìm vào quá khứ. Hiện thực đã
qua, sau khi được tái hiện, trở thành một thực tại khách quan ảo, trước
hết là của “cái tôi” quan sát, tìm hiểu, nhận thức và tạo dựng ra cái
thực tại khách quan ảo ấy. Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, tài năng
cũng như quan niệm của (những) “cái tôi” viết sử mà hiện thực đã qua
được tái hiện thành (những) thực tại khách quan ảo như thế này hoặc như
thế kia, có thể nói bản thân lịch sử luôn mang hơi thở của thời đại tạo
ra (hoặc tái tạo ra) nó.
Nguyên
lý Tự Nhiên (tiêu đề Tự Nhiên), tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh
mà thể hiện ra dưới nhiều hình thức khác nhau trong thực tại. Những
hình thức ấy được tạm gọi là (hay chính là) những nguyên lý cơ bản của
tồn tại và vận động. Một trong những nguyên lý cơ bản đó là mọi tồn tại,
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, luôn vận động theo xu thế cân
bằng nội tại (để duy trì tồn tại) và vì thế mà cũng luôn mất cân bằng
nội tại. Chính nguyên lý này đã tạo ra bức tranh sinh sinh diệt diệt,
biến hóa đến bất tuyệt của thế giới các sự vật - hiện tượng. Nếu trong
thế giới tổng thể các sự vật - hiện tượng, nguyên lý ấy được tạm gọi là
nguyên lý cạnh tranh tồn tại thì trong thế giới sinh vật, nó được biết
đến với cái tên là Nguyên lý đấu tranh sinh tồn. Một trong những biểu
hiện cơ bản của đấu tranh sinh tồn là quá trình tiến hóa để thích nghi ở
mọi giống loài. Chủ động thích nghi là kết quả tất yếu của quá trình
phát triển tiến hóa thích nghi, mà một trong những cách thức của nó là
chủ động thích nghi bằng suy nghĩ, nghĩa là quan sát, đánh giá, lựa chọn
phương án tối ưu để thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh luôn biến đổi
của môi trường. Tư duy, nhận thức là kết quả tất yếu, nảy sinh một cách
tự nhiên trên bước đường lâu dài và đầy gian truân của quá trình tiến
hóa thích nghi.
Như
vậy, có thể khẳng định rằng dù Tự Nhiên Tồn Tại không cần đến nhận thức
nhưng tư duy nhận thức là nguyên tắc sống của con người. Để duy trì sự
sống còn, con người không thể không quan sát, tìm hiểu để nhận biết Tự
Nhiên mà biểu hiện cụ thể là Thế giới khách quan.
Không
có nhận thức nếu không có sự quan sát. Nhận thức không thể duy trì và
phát triển được nếu không có sự lưu nhớ (bằng hồi ức, bằng truyền khẩu,
bằng ghi chép), sự rút ra bài học từ quá khứ (kinh nghiệm). Nói cách
khác, nhận thức là quá trình quan sát thực tại để tìm hiểu tự nhiên trên
cơ sở những bài học của quá khứ (nhận thức của quá khứ).
Do
đòi hỏi của đời sống thực tiễn và cũng đồng thời là đòi hỏi phải phát
triển nhận thức mà ngôn ngữ và chữ viết ra đời để ghi nhớ, lưu truyền
những kết quả quan sát, những nhận định, những hiểu biết của trước đó,
của đương thời, cho nhau và lẽ đương nhiên là cho cả hậu thế. Mầm mống
của lịch sử đã có ngay từ buổi bình minh của loài người!
Tóm
lại, lịch sử (về xã hội loài người) là sự tái hiện lại quá khứ, là sự
mô tả lại các sự vật hiện tượng từng hiện hữu trong quá khứ cùng với sự
vận động, biến đổi của chúng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa
chúng, một cách chính yếu, tiêu biểu, điển hình, nghĩa là mô tả toàn cục
quá trình tồn tại của cái quá khứ ấy, vô tình hay cố ý theo nhãn quan,
theo trình độ nhận thức của cái tôi làm công việc tái hiện. Xét cho đến
cùng thì lịch sử là kết quả quan sát và nhận thức hiện thực đã qua của
nhà viết sử.
Nói
đến nhận thức thì có nghĩa là nhận thức tự nhiên hay còn gọi là nhận
thức thế giới khách quan. Chỉ có thể nhận thức được thế giới khách quan hiện thực
trên cơ sở đã nhận thức những nhận thức (tri thức) về thế giới khách
quan của quá khứ.
Vì
những nhận định, giải thích, đánh giá,… trong lịch sử là biểu hiện
trình độ nhận thức của thời đại tạo dựng ra lịch sử ấy cho nên chúng
chưa hẳn đã xác đáng (nhất là lại còn tùy thuộc vào quan niệm thị phi
của cái tôi chép sử), cho nên nhận thức quá khứ thông qua lịch sử là quá
trình đầy cạm bẫy. Vì thế quá trình thẩm định lại lịch sử, nhận thức
lại những nhận thức có sẵn trong lịch sử và thậm chí viết lại lịch sử là
một đòi hỏi thực tế…
Nếu lịch sử là được biểu hiện như thế thì những hình thức như biên niên, biên khảo, ghi chép khảo cổ… đều chỉ là bộ
phận hợp thành của lịch sử, có tính lịch sử, làm tư liệu cho lịch sử.
Sử liệu là sự phản ánh hiện thực lịch sử đã nhuốm màu thị phi.
Có
câu chuyện thế này: tại một hội nghị của các nhà tâm lý học ở
Ghết-tin-ghen, người ta đã thử dựng lên một màn kịch. Trong lúc hội nghị
đang làm việc, có người mặc quần áo của anh hề chạy vào phòng, một
người khác tay cầm súng lục đuổi theo, cuộc xung đột xảy ra và người cầm
súng đã bắn. Sự việc diễn ra trong vòng hai mươi giây. Người ta đề nghị
những người có mặt tường thuật lại. Kết quả là các bản tường thuật đầy
rẫy những sai sót, có cả những điều xuyên tạc, bịa đặt. Cũng cần lưu ý
rằng đại biểu của hội nghị đó là những nhà chuyên môn về quan sát và ghi
chép. Vậy mà họ đã không miêu tả chính xác sự việc. Xem thế đủ biết
việc tái hiện và trình bày lại các biến cố không phải là việc đơn giản,
dễ dàng.
Phải
chăng là không thể xây dựng được một lịch sử vừa khách quan, vừa lột tả
được xác đáng cái tinh thần của các sự kiện, biến cố trong quá khứ, sát
thực so với quá khứ?
Chúng
ta biết rằng xã hội loài người nói chung hay xã hội của một khu vực dân
cư nói riêng, thực chất cũng là bộ phận của tự nhiên, do đó sự vận
động, chuyển hóa, biến đổi của nó cũng phải tuân theo những nguyên lý
chung của tự nhiên. Nhưng sự tồn tại tư duy trong xã hội đã làm cho nó
có những tính chất đặc thù, nên những nguyên lý ấy cũng biểu hiện ra như
những nguyên lý đặc thù mà chỉ ở xã hội loài người mới có. Điều đó giải
thích vì sao mà trước con người quan sát, thiên nhiên hiện ra hồn nhiên
biết bao nhiêu, trong khi trước cái tôi chép sử, hiện thực xã hội hiện
ra lại đẫm màu thị phi đến thế. Con mắt Lão Tử đã thấy xã hội có hai
biểu hiện: Đạo Tự Nhiên và Đức Huyền Diệu.
Như
chúng ta đã nói Đạo Tự Nhiên ấy chính là Nguyên lý Tự Nhiên và Đức
Huyền Diệu chính là quan niệm đúng sai của Đại chúng (trăm họ). Chúng ta
cho rằng ở bất cứ thời đại nào, để quan sát và đánh giá xác đáng, quá
khứ, nghĩa là tái hiện được đến mức độ rất giống với cái “vốn dĩ thế”;
cả về mặt hiện tượng lẫn bản chất của một hiện thực đã qua, thì “cái tôi
chép sử” phải vừa tài năng, vừa đức độ, thấm nhuần được cái Đạo lý của
Tự Nhiên và cái Đức tính của Huyền Diệu, lấy chúng làm cơ sở, nền tảng
để phân biệt thị phi, từ đó mà lựa chọn, nhận diện ra chân lý, vạch ra
được nguyên nhân sinh diệt của mọi sự vật - hiện tượng cũng như mọi sự
thành bại của các mưu đồ đã từng hiện diện, “tung hoành” trong xã hội
loài người. Hai yếu tố đó, Đạo và Đức, ở mỗi thời đại, do tính riêng của
thời đại chi phối mà có thể có những sắc thái khác nhau nhưng cái tinh
thần cốt lõi của chúng là bất biến. Chẳng hạn nói: đối với mọi chế độ
đều phải lấy dân làm gốc, thì đó là một chân lý bất biến, dù một chế độ
nào đó có thừa nhận nó hay “hiểu” được nó hay không. Muốn phán đoán được
tương lai thì trước hết phải hiểu hiện tại, muốn hiểu được hiện tại thì
trước hết phải thuộc những bài học đích đáng rút ra từ quá khứ. Nhưng
muốn có được những bài học đích đáng rút ra từ quá khứ, thì chỉ có cách
duy nhất là nghiên cứu lịch sử. Nghiên cứu lịch sử là quá trình nhận
thức và nhận thức lại lịch sử. Quá trình đó thực chất là một bộ phận
trong toàn bộ quá trình nhận thức Tự Nhiên Tồn Tại của loài người…
Tài
năng và đức độ là hai mặt có thể phân biệt tương đối với nhau được. Hồ
Chí Minh nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó”, là nhờ ở tính phân biệt được ấy.
Nhưng khi xét kỹ hơn, trên cơ sở của Đạo và Đức thì tài năng và đức độ
là hai mặt đan xen nhau, có mối quan hệ khăng khít, keo sơn, không thể
tách biệt được của một sự hoàn thiện: không thể là toàn tài nếu không có
đức và trái lại không thể là toàn đức nếu không có tài; một khi chỉ có
tài thôi thì chưa gọi là tài, một khi chỉ có đức thôi thì chưa gọi là
đức. Người có thực tài là người biết tôn vinh đức, người có chân đức là
người biết trọng dụng tài năng (để làm điều nhân đức). Thi hào Nguyễn Du
đã viết rất hay về “tài”:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài đi với chữ tai một vần”…
Hay ông bà ta đã nói rất thâm thúy về “đức”: “Có đức mặc sức mà ăn”.
Ước
mơ có từ ngàn xưa cho đến ngày nay của con người (và cũng có thể là mục
đích phấn đấu của nhiều cuộc đời chân chính) là sự toàn thiện - toàn
năng. Ước mơ ấy là cháy bỏng, thể hiện ra thành những câu chuyện thần
thánh, bụt tiên và hiển hiện trong tất cả các truyền thuyết lịch sử.
Như
vậy, một cái tôi chép sử lý tưởng phải là con người toàn thiện - toàn
năng, phải là người hội đủ: Thiên lý nhãn, Thuận phong nhĩ và Vạn linh
tâm, được tích hợp lại trước hết nhờ vào việc ôn cố tri tân.
Trong
lịch sử loài người đã từng có nhiều nhà sử học (dù là nghiệp dư!) có
tài năng và đức độ lỗi lạc. Nhờ có họ, nhiều sự kiện, biến cố, nhân vật
của quá khứ được minh oan (hoặc bị vạch trần chân tướng), lịch sử ngày
một đúng với sự thực hơn, sáng tỏ hơn. Họ đã để lại cho hậu thế nhiều
thiên sử bất hủ, nhiều trang anh hùng ca sáng ngời tính nhân văn và biết
bao nhiêu câu chuyện thấm thía về nhân tình thế thái, làm cho biết bao
nhiêu thế hệ say mê với đầy đủ những bi hài, hỉ nộ ái ố. Qua đó, người
đời sau đã nhận thức được nhiều điều về triết học, đã rút ra được nhiều
bài học về luân thường đạo lý, về ý nghĩa của cuộc đời. Và cũng chính vì
lẽ đó mà nhiều công trình lịch sử cũng đồng thời là tác phẩm văn học,
những áng văn chương kiệt tác của nhân loại.
Một trong những người chép sử như vậy là Tư Mã Thiên, một trong những tác phẩm như vậy là “Sử Ký” của ông.
Chúng
ta đã từng được nghe nhiều người kể về thân thế và sự nghiệp cũng như
tác phẩm “Sử ký” của Tư Mã Thiên, nhưng có lẽ, cách kể của Nhữ Thành
(trong lời giới thiệu về cuốn “Sử ký” do chính ông dịch, NXB Văn học,
năm 1988) làm chúng ta “khoan khoái” nhất, và chúng ta cố nhớ lại, dù
không trọn vẹn:
“Đối
với văn hóa thế giới, quyển “Sử ký” của Tư Mã Thiên chiếm một địa vị
đặc biệt. Nó là công trình sử học lớn nhất của Trung Quốc và là một
trong những quyển sử có tiếng nhất của thế giới. Nhưng một điều còn làm
chúng ta ngạc nhiên hơn là công trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại
là một trong những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại (…).
“Sử
ký” là cả một thế giới. Nó làm thỏa mãn tất cả mọi người. Người nghiên
cứu sử tìm thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với một giá
trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên cứu tư tưởng tìm thấy qua “Sử ký” “một
trong những tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại” (đánh giá của “Bách
khoa toàn thư Xô - Viết”, mục “Sử ký”). Người bình thường tìm thấy vô số
những hình tượng điển hình, những câu chuyện hấp dẫn, những con người
đầy sức sống mãnh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại. Và không phải chỉ có
thế. Người nghiên cứu văn học còn tìm thấy ở đây một tâm hồn, một tâm sự
đau xót đầy sức mạnh của thơ trữ tình, “một tập “Ly tao” không vần” như
lời đánh giá của Lỗ Tấn (đại văn hào người Trung Quốc).
Tư
Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 TCN, ở Long Môn, nay là
huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm thái
sử. Đến đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm
là một người học rộng, rất thích học thuyết Lão Trang. Chức sử quan
ngoài việc chép sử còn coi thiên văn, làm lịch, bói toán. “Nghề viết
văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy
cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi
thường”. Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình là cao qúi vì ông
biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một
nước. Trong các sử quan thời trước, cũng có những người dám hy sinh đời
mình để viết sự thật, dù sự thật ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi
Thôi Trữ giết vua Tề thì quan thái sử nước Tề viết: “Thôi Trữ giết vua
của mình là Trang Công”. Quan thái sử bị giết, người em lên thay vẫn
viết như vậy nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên
thay, cũng không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết nữa (…).
Tư
Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn trâu, làm bạn với
những người nông dân bình thường và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi,
ông đã học “Tả Truyện”, “Quốc ngữ”, “Thế bản” và thuộc lòng hầu hết
những bài văn nổi tiếng của thời trước.
Tư
Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai mươi
tuổi, ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này
Tư Mã Thiên sẽ phải viết sử. Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam đến Trường
Giang, vượt sông Hoài, sông Tử, thăm mộ mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê
xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào hang Vũ Đông tìm di tích vua
Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những câu chuyện kể về vua Việt Câu Tiễn. Ông
lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền đến Thái Hồ sưu tầm truyền
thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến bến
Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn
dấu vết mộ vua Thuấn và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên
miền Bắc, vượt sông Vần, sông Tứ đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng
miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất
Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu
Bang để tìm hiểu rõ thời niên thiếu của những con người đã dựng nên nhà
Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của Xuân Thân Quân, đến nước Ngụy
hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An. Sau chuyến đi kéo dài ba
năm ấy, ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu. (…) Có thể
nói trừ miền Quảng Đông, Quảng Tây, còn từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn
Lý Trường Thành, ở đâu cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những
nhà du lịch lớn nhất của thời cổ.
Những
cuộc du lịch đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp
ông thấy được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến cố
lịch sử và cho ông rất nhiều chi tiết điển hình, về đời sống từng người
trong lúc còn hàn vi.
Chính
những cuộc “đi chơi” như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái bao la
hùng vĩ của đất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ
quốc về tất cả mọi mặt để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã
Tồn, một văn sĩ đời sau, nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì
trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Câu nói đó không phải là
quá đáng.
(…)
Năm
110 TCN, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiệu ở Thái Sơn. Tư Mã Đàm trên
đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà rằng:
-
Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối
nghiệp ta làm thái sử. Khi làm thái sử, chớ quên những điều ta muốn bàn,
muốn viết… Hiện nay bốn biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử
mà không chép được rất lấy làm xấu hổ. Con hãy nhớ lấy!
Ông khóc mà vâng lời!
Ba
năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (năm 108 TCN) chuẩn bị viết
bộ “Sử ký”, thực hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là
điều mong ước duy nhất của mình. Từ năm 106 TCN, ông không giao tiếp
với khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt mài biên chép. Như thế
được bảy năm thì xảy ra cái vạ Lý Lăng.
Năm
99 TCN, Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi cầm ba vạn quân đánh Hung Nô. Bấy giờ Lý
Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm ngàn quân vào biên giới
Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu
suốt 10 ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng vì cách xa
biên giới, bị chặn mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không còn
sức chiến đấu, Lăng phải đầu hàng. Vũ Đế nổi giận, muốn giết cả nhà
Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua. Thiên biết Lăng từ hồi hai người
còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng mến phục Lăng là
người can đảm, có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu:
-
Lý Lăng mang năm ngàn quân, thâm nhập vào nước địch đánh nhau với quân
địch mạnh luôn 10 ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền
Vu sợ hãi, đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây, Lăng một mình hăng hái
chiến đấu ở ngoài ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh không
đến, người chết và bị thương chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô hào,
binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy nước mắt giơ nắm tay không xông
vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần cho rằng Lý Lăng có thể sánh
với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại nhưng xem ông ta còn
muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
Ông
hy vọng lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội cho Lý Lăng, không ngờ Vũ
Đế càng giận, cho ông cố ý đề cao Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát
không lập nên công lao gì mà Quảng Lợi lại là anh của Kỳ phu nhân rất
được nhà vua yêu quí. Vũ Đế bèn sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ Chu
xét xử.
Nhân
vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong “Khốc lại truyện”. Có người
trách y: “Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp
luật mà xét; trái lại chỉ lo chiều theo ý nhà vua?”. Đỗ Chu đáp: “Luật
lệnh ở đâu mà ra? Chẳng phải là do nhà vua mà ra đó sao?”. Gặp phải bọn
quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách nào khỏi tội. Bấy giờ có
phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần 50 vạn đồng tiền là chuộc được tội
chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp
bị chém, một người cùng chung cảnh ngộ, ông đã kể lại nỗi cay đắng của
mình. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đuổi sự nghiệp của mình, quên cả
gia sản; nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích không ai nói
hộ một lời, không ai giúp cho một đồng. Kết quả, con người ngang tàng,
hai mươi ba tuổi đầu đi khắp Trung Quốc, nhà học giả lớn nhất của thời
đại, con người ôm cái hoài bão của Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép
vào tội “coi thường nhà vua” và bị thiến!
Đã
mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Nhưng ông thấy rằng nếu
chết đi thì chẳng ai khen mình là tử tiết mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu
hổ mà tự sát. Vả chăng, sự nghiệp chưa tròn, “Sử ký” còn dở dang, lời
dặn của cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói: “Người ta ai cũng có một lần
chết, có cái chết nặng như núi Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng”
và cố gắng gượng sống.
Cái
ấn tượng sống nhục nhã, cô độc đeo đuổi ông cho đến khi chết. Mỗi khi
nghĩ đến cái nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông
không vì thế mà chán nản, trái lại, ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc
sống. Ông thấy rõ hình phạt đó là thử thách đối với những “người trác
việt phi thường”. Ông càng thấy cần phải viết “cho hả điều căm giận”. Và
chính cái hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu rõ cái mặt trái của
xã hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở thành nhà
sử gia vĩ đại của một nhân dân vĩ đại.
(…)
(…)
Hiện
nay, người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông
viết thư trả lời cho Nhâm An năm 53 tuổi (tức năm 93 TCN) và sau đó
không có những tài liệu gì về ông, theo Vương Quốc Duy trong “Thái sử
công hành niên khảo”, có lẽ ông mất năm 60 tuổi (tức năm 86 TCN), cùng
một năm với Vũ Đế.
(…)
“Sử Ký” là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm 5 phần: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia, Liệt truyện.
(…)
(…)
(…).
Mục đích của Bản kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có
tác dụng chi phối cả thiên hạ. Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông,
cũng có những điều đời sau không dám nghĩ đến. Ông chép riêng lịch sử
nước Tần trước Tần Thủy Hoàng thành một Bản kỷ vì trong thời Chiến Quốc,
nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước. Ông làm Bản kỷ
Lữ Hậu mặc dù Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa,
trái lại ông không làm Bản kỷ Huệ Đế mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn
là vua. Đó là vì Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong
tay Lữ Hậu. Đặt một người đàn bà lên địa vị “kỷ cương môt nước” là điều
không một sử gia nào đời sau dám làm, táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ
những trang đẹp nhất mặc dù Hạng Vũ chưa hề làm đế, là kẻ thù của nhà
Hán. Đó cũng là vì ông tôn trọng sự thực khách quan. Hạng Vũ tuy về danh
nghĩa không phải là người làm chủ các chư hầu đánh lại nhà Tần (đó là
địa vị của Nghĩa Đế) nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất trong
việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu, cai trị thiên hạ
trong 5 năm chính là Hạng Vũ (…).
Để
có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ
vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra 10 Biểu
(…).
Những
bản Biểu là những công trình khoa học rất quí, ghi chép năm, tháng,
biến cố, giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự
tương quan của nó về thời gian cũng như về không gian với các sự kiện
khác, đặc biệt ở trong một nước mênh mông, lại phân tán như Trung Quốc
cổ.
Lịch
sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã Thiên
nhận thấy điều đó nên viết 8 Thư dành cho 8 mặt. Điều này cũng biểu hiện
rằng ông có một kiến thức bách khoa. Phần này rất quí về mặt nghiên
cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ,
việc làm lịch, thiên văn… qua các thời đại. Điều làm chúng ta hết sức
ngạc nhiên là ông có những biểu hiện chính xác về mọi mặt và ở đâu ông
cũng có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên “Phong thiện thư”
nói về những việc mê tín, cúng tế của vua chúa với một giọng châm biếm
chua chát. Thiên “Hà cư thư” nói về các con sông ở Trung Quốc. Thiên
“Bình chuẩn thư” nói về kinh tế. Những thiên này viết chính xác đến nỗi
người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các
sách cổ nói về những thiết chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác giả có một
cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện
kinh tế, khoa học, văn hóa đối với lịch sử một nước (…).
Phần
Thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng
hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở…; những người có địa vị lớn trong quí tộc
như các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công, Thiện
Công, và những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình…. Đáng chú ý
nhất là tác giả xếp vào Thế gia hai người thường dân không hề có một
tấc đất phong. Đó là Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch
sử tư tưởng của Trung Quốc, và Trần Thiệp, anh hùng cố nông đã cầm đầu
cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của lịch sử dân tộc Hán. Cách nhìn như
vậy chứng tỏ một tầm mắt khác thường.
Danh
từ “Liệt truyện” là do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên, bao
gồm những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ý
trước hết là phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung
Quốc mà ông là người đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản
khái quát đứng đắn và khoa học (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di,
Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên, một phần liệt truyện là dành cho những
người tai mắt trong xã hội cũ như những danh tướng (Mông Điềm, Lý Quảng,
Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng…).
Điều đáng chú ý ở đây là ông đã nhìn thấy vai trò to lớn của những con
người bình thường, thường không có chức tước gì nhưng có ảnh hưởng vô
cùng sâu rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích
khách, trọng nghĩa khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi
(“Thích khách liệt truyện”, “Du hiệp liệt truyện”). Đó là những nhà tư
tưởng mà tác phẩm của ông đã ghi lại cuộc đời, hành trang và đánh giá
học thuyết (Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh…). Đó là những nhà văn như
Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Như mà ông nêu lên giá trị và nhận xét về nghệ
thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí là những anh hề mà
trong con mắt của ông, lời nói có thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên, một
con người yêu nhân dân và sự thực như Tư Mã Thiên không thể nào quên
những tên sâu mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn “Khốc lại” chỉ lo
a dua nhà vua, tàn sát dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô
số những nhân vật ti tiện mà ông mạt sát bằng những lời phẫn nộ.
Thế
giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy! Qui mô của tác phẩm làm ta ngợp,
bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn học Trung
Quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ. Ở đây có cái biến ảo của
“Nam Hoa Kinh”, có cái rạch ròi của “Hàn Phi Tử”, có cái hoa lệ của “Tả
truyện”, có cái nghiêm khắc của “Xuân Thu”. Nhưng còn một cái nữa mà văn
học từ Hán trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ý thức bám
chắc vào sự thực, không rời cuộc sống dù chỉ nửa bước (…).
Ấn
tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì “Sử ký” chính
là Tư Mã Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.
(…)
(…)
Có
thể nói Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết về lịch sử
của một nước. Trước đấy, ở Trung Quốc chỉ có những người viết lịch sử
một công quốc hay kể lại một vài biến cố quan trọng như “Xuân Thu thượng
thư”. Những bộ sử như “Lịch sử” của Hêrôđốt (490-425 TCN), “Lịch sử đấu
tranh ở Pôlôpône” của Tuy-xi-đút, trong văn học Hi Lạp hay “Chiến tranh
ở Gôlơ” của Xêda trong văn học La Mã, chẳng qua chỉ kể lại một trận
đánh hay một chiến dịch. Quyển
“Lịch sử La Mã” của Titút Livut (69-17 TCN), viết sau “Sử ký”, chỉ là
lịch sử một đô thị. “Sử ký” thì khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân tộc
Trung Hoa kéo dài trên 3000 năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa
bàn mênh mông (…).
Ông
cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt của xã
hội. Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời
đại (…).
Phương
pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ý. Tư Mã Thiên nói: “Tôi chỉ
thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các câu chuyện trong đời chứ có phải
sáng tác đâu”. Câu nói này thể hiện đúng cái quan niệm của tác giả về
sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất cả những tài liệu mà ông đã
dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ sửa đổi tài liệu.
Những nhân vật thời Ân, Chu chính là những nhân vật của “Thượng Thư”,
những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của “Xuân
Thu”, “Quốc Ngữ”, “Tả truyện”, “Chiến Quốc sách”. Lời nói của họ là lời
họ nói trong thực tế theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia
nhà Tần là do chính tay tác giả chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta
cả một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế, biểu, nào văn bia, thư, phú,
bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận dài, tất cả chiếm một phần ba
tác phẩm, trong số đó phần lớn còn sống đến ngày nay vì chúng gắn liền
với số phận của “Sử ký”. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm vì
tài liệu lúc bấy giờ số lớn là tài liệu truyền miệng. Nhưng nói chung,
ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm viết sử này khác xa quan niệm những
nhà viết sử cổ Hi Lạp, La Mã. Các nhà viết sử cổ đại, trừ Tuy-xi-đit,
thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân vật của họ đọc
những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy
tồn tại với tính cách những giả thiết tiêu biểu cho chính kiến của họ.
Chính vì vậy, sử học hiện đại không xem đó là những công trình khoa học,
không ai lấy đó làm cơ sở chính cho sự nghiên cứu La Mã, Hi Lạp cổ.
Trái lại “Sử ký” từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn nhất của cổ sử Trung
Hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của Trung Quốc cổ
cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiều nói: “Một trăm đời sau, các sử
quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ
quyển sách của ông” chính là vì vậy.
Tư
Mã Thiên là người cha của sử học Trung Hoa, nhưng là một người cha khó
bắt chước nhất. Đối với sử học Trung Quốc, ông là người duy nhất nói về
đương thời. Các sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy
đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và lẩn tránh nó. Trái lại, Tư Mã Thiên đã
dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng Vũ đến Vũ Đế, và việc càng
gần ông chép càng rõ. Ông để lại những trang vô cùng sinh động về Cấp
Ám, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế. Ông kết
tội Lữ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau
thương về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín
(Phong thiên thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình chuẩn thư), ngoại
thích lộng hành (Ngụy Kỳ Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc
lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối (Công Tôn Hoằng truyện, Thích
Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và chính ở đây người ta mới
hiểu hết cái tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân cũng như sự
trung thực của một nhà khoa học.
Nhưng
quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói
quyển “Sử ký” viết cho “những người của nó”. Người của nó đây không phải
là một vị ân chủ, một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ý
thức rõ về việc đó cho nên hai ngàn năm sau, đọc “Sử ký” ta thấy nó
sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn ngập cái hào khí của chính
nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông, ta thấy hiện nên rõ rệt sự bất bình
đẳng trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai, sự
giàu có phè phỡn của bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bức tranh
hiện thực về xã hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng
những danh từ trống rỗng. Cố Viêm Võ nói rất đúng: “Người xưa làm sử
không cần bàn luận, nhận xét mà cái ý của tác giả thấy ngay trong việc
trình bày thì chỉ có một mình Thái Sử Công (tức Tư Mã Thiên) làm được mà
thôi”. Cái khó ở đây không ở phương pháp mà ở con tim.
Cũng
vì Tư Mã Thiên không viết tác phẩm theo những khuôn khổ có sẵn về đạo
đức phong kiến nên những nhận xét của ông về lịch sử rất trác việt. Ông
luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá
nhân vật lịch sử. Đặc biệt, khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu
rõ sự gắn bó của nhân vật với số phận của dân chúng. Ông thấy rõ Trần
Thiệp “tài năng ở dưới mức trung bình” nhưng đã làm được một việc oanh
liệt chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích của ông về sự thành công
của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ý nghĩa to lớn. Dưới con
mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường, “tài năng và chí khí
hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như thế”. Về tư cách cá
nhân mà nói, thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên
tướng bách chiến bách thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng
đầu gối, không ai dám ngẩng đầu lên nhìn”. Hạng vũ thương người và trọng
nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không lo làm ăn”, “tham tiền và
ham gái”, ngạo mạn, thô lỗ: “Thấy khách đội mũ nhà nho, Bài Công liền
giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được
thiên hạ. Đó là vì Lưu Bang biết tự kiềm chế mình, lắng nghe theo lòng
dân, luôn luôn chú ý đến dân chúng cho nên dân chúng tin. Đúng như Hàn
Tín nói, Hạng Vũ chỉ có cái nhân của người đàn bà, cái dũng của kẻ thất
phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào tài năng của cá nhân mình, nghi
ngờ tất cả; đã thế lại hiếu sát làm nhân dân thất vọng. Lưu Bang đã
thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài năng của các tướng. Cách nhìn
nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm cho người ta nhớ đến tác phẩm
của Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những nhà sử gia lớn
nhất của thời cổ đại.
Tư
Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình sống mãi trong văn học.
Riêng về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân
loại. Cả một nhân loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các
thành phần, đủ các nghề nghiệp, đủ các tầng lớp. Hình ảnh những chàng
nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những người du thuyết như Tô Tần,
Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh kha, Nhiếp Chính, những
anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm, Hàn Tín, Lý Quảng, những công tử
như Tín Lăng Quân, Mạnh Thường Quân, những bạo chúa như Tần Thủy Hoàng,
Nhị Thế v..v…và vô số những hình ảnh khác là những hình ảnh bất tử.
Những hình ảnh ấy đã du nhập vào kho tàng văn học, làm thành nhân vật
của những truyền kỳ, thoại bản, hý khúc, kịch, thơ, lời nói và hành động
của họ nhờ Tư Mã Thiên nêu lên đã thành tài sản của dân tộc. Đó là môt
điều lạ. Nhưng điều lạ hơn là đời sau có thể tô điểm thêm bớt nhưng
dường như khó lòng dùng năng lực hư cấu của mình để tạo nên một Kinh
Kha, một Hàn Tín, hay một Hạng Vũ khác hẳn hình tượng Tư Mã Thiên đã tạo
ra đã được nhân dân tiếp nhận toàn vẹn. Điều đó không phải là một hiện
tượng thường thấy trong lịch sử văn học.
(…)
Khi
miêu tả một nhân vật lịch sử, các sử gia thường chỉ xét họ trong những
giờ phút họ đóng một vai trò lịch sử, họ chỉ xét nhân vật trong “tư thế
lịch sử” của nó. Nhưng làm như thế tức là cắt xén nhân vật, biểu hiện nó
một cách phiến diện và thậm chí có khi xuyên tạc vì trong những lúc cá
nhân có ý thức về vai trò lịch sử của mình, họ thường đóng kịch. Tư Mã
Thiên không làm như vậy. Ông không chỉ nắm Hàn Tín khi làm thượng tướng
quân của Lưu Bang mà còn nắm Hàn Tín ngay từ khi ăn nhờ, chui qua háng
người ta ở ngoài chợ. Nhờ sống trong nhân dân và đến tận nơi điều tra,
nên ông thấy Trần Bình từ khi chia thịt, thấy Phàn Khoái từ khi bán thịt
chó. Ông chú ý đến Trương Nghi từ khi anh chàng bị đánh gần chết, gãy
hết cả răng, chú ý đến Lưu Bang ngay từ khi ăn quỵt tiền rượu. Tư Mã
Thiên theo dõi một nhân vật và cốt tìm cho được cái bản chất của nó.
Chính vì thế ông không bao giờ bỏ qua những cảnh thiếu thốn, nhục nhã mà
nhân vật đã trải qua, vì ông biết bản chất con người thường lộ ra ở
những lúc ấy. Đối với ông, nhân vật lịch sử vĩ đại đến đâu trước hết
cũng là một người bình thường. Khổng Khâu trước khi được tôn sùng như
một vị thánh cũng chỉ là một người mong muốn được làm quan, phiêu bạt đi
tìm công danh, mấy lần suýt theo những kẻ mà ông gọi là loạn thần, tặc
tử. Trong khi theo dõi nhân vật, ông không chạy theo sự kiện mà cốt tìm
được cái quyết định tính cách của con người. Ông thấy tính cách con
người do nhiều yếu tố quyết định. Có khi nó là một thiên hướng từ nhỏ.
Nhân vật Trương Thang điển hình cho bọn quan lại tàn ác, lúc nhỏ giữ nhà
để chuột ăn mất thịt bị cha đánh đòn. Thang bắt được chuột làm một bản
án kết tội chuột. “Người cha xem thấy lời văn quả là một tay quan lại
coi ngục sành sỏi, cả kinh”. Có khi nó là kết quả của nghề nghiệp, giáo
dục. Lữ Bất Vi, một thương nhân giàu, thấy Tử Trương con vua Tần làm con
tin ở Triệu thì nói: “Món hàng này có thể bán được đây”. Y xuất tiền
bạc quảng cáo cho hàng và cuối cùng được lãi to: làm tể tướng nước Tần.
Ông thấy cái điều làm một vĩ nhân khác con người tầm thường là ở chỗ họ
có một hoài bão lớn ngay trong những cảnh ngộ cùng khốn nhất. Ông lắng
nghe chàng cố nông Trần Thiệp đang cày bỗng dừng lại nói với các bạn
cày: “Sau này phú quý chớ quên nhau”; ông chú ý đến cậu bé Hạng Vũ học
kiếm chẳng thành nhưng đòi “học cách đánh lại vạn người”. Một khi tìm
được tính cách của nhân vật, ông cố gắng tìm những câu nói điển hình và
những hành động điển hình để làm cho hình tượng càng nổi bật (…). Chẳng
hạn những nhân vật như Cáp Nhiếp, Phàn Ư Kỳ trong “Thích khách liệt
truyện” nói không quá hai câu, nhưng đủ làm người ta thấy rõ cái phong
thái trọng nghĩa khinh tài và lòng căm thù chồng chất của họ đối với nhà
Tần (…).Để miêu tả thái độ ngạo mạn của Vũ Đế, chỉ cần một chi tiết:
“Nhà vua có khi ngồi xổm ở bên giường để tiếp đại tướng quân Vệ Thanh”.
Để miêu tả sự suồng sã của Lưu Bang, chỉ cần một chi tiết nhỏ: “Chu
Xương có lần vào tâu, thấy Cao Tổ đang ngồi ôm gái, Xương chạy ra, Cao
Tổ đuổi theo cưỡi lên cổ hỏi: Ta là vị vua như thế nào? Xương ngẩng đầu
lên đáp: Bệ hạ là ông vua Kiệt, Trụ. Nhà vua liền cười ha hả”. Một chi
tiết như vậy cũng đủ làm cho ngàn năm sau không ai có thể bênh vực cho
Vũ Đế và Cao Tổ về việc quí trọng kẻ sĩ.
Một
khi đã nêu lên tính cách chủ đạo của nhân vật, tác giả không bao giờ
dừng lại để bàn bạc, trái lại ông trình bày dồn dập những sự việc điển
hình tự bản thân nó đủ sức thuyết phục hùng hồn hơn mọi lý luận. Đó là
then chốt của phương pháp tự sự của ông mà đời sau không ai bắt chước
được. “Bản kỷ Hạng Vũ” chẳng hạn, viết với lối văn khô khan của biên
niên sử. Ở đây chỉ có sự kiện và năm tháng. Nhưng vì biết rút từ sự kiện
ra cái làm thành cá tính của Hạng Vũ và thời đại Hạng Vũ cho nên chính
cái lối trình bày đơn giản khách quan này lại lôi cuốn người đọc hơn mọi
thứ từ chương.
(…)
(…)
Chính
cái phương pháp tự sự bậc thầy, công phu và chu đáo vô cùng đã làm cho
nhân vật sống một cách trọn vẹn, hoàn toàn khách quan, không có sự can
thiệp của tác giả, và cũng do đó, đời sau không thể nào thay đổi được.
Sự thực vốn hùng hồn hơn lời nói và khi các sự thực đã xếp thành hệ
thống nguy nga thì tự nó sẽ nói lên tiếng nói của chân lý.
Phải
chăng vì thế mà tác giả vắng mặt? Không, tác giả luôn luôn có mặt. Hình
ảnh của Tư Mã Thiên rất rõ ở từng trang, tâm sự của ông hiện lên như
một tiếng đàn tuy rất khẽ nhưng rất rền trong bản hợp tấu vĩ đại. (…)
“Sử
ký” là một tác phẩm khó nhưng rất hay. Nó làm cho người đọc say mê và
giáo dục họ rất nhiều. Nhưng vì nội dung phong phú, cách diễn đạt kín
đáo nên phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấy hết cái hay của nó…”.
Câu
chuyện kể của Nhữ Thành, được chúng ta nhớ lại hầu như… nguyên văn. Một
bộ não hay quên mà nhớ được như thế, kể cũng có thể được gọi là siêu
phàm. Người đời sau đọc lại cuốn sách dịch “Sử ký Tư Mã Thiên” rồi đối
chiếu tài liệu, sẽ tấm tắc khen chúng ta; và rồi sau đó, không chóng thì
chầy, chân tướng của chúng ta cũng sẽ lộ ra: đồ nói láo để cầu danh. Vì
vậy, để trừ hậu họa, chúng ta xin nói rõ thêm rằng khi nói là nhớ lại,
có người nhìn thấy chúng ta tủm tỉm cười!...
Ối!
Chúng ta đang ở đâu thế này? Chúng ta dừng chân, ngơ ngác nhìn ra xung
quanh và dần nhớ lại mọi chuyện. Miên man với những vấn đề của lịch sử,
hình như chúng ta đã đi “lố” quá xa cái đích mà chúng ta muốn đến. Và
đúng thế thật, bên vệ đường, dưới một cái bảng panô quảng cáo, có vẽ
hình một cô gái mặc “hai mảnh” đẹp tuyệt trần đang ở tư thế nhảy cẫng
lên, với dòng chữ to đùng: “Tài trợ cho cuộc thi hoa hậu hoàn vũ là niềm
tự hào”, là một bảng nhỏ hơn ghi dòng chữ: “Công viên Ngũ Hành - còn 7
đơn vị khoảng cách” và một mũi tên chỉ hướng ngược lại…
***
Thế
là chúng ta đã về tới thuở bình minh của Tổ quốc, đứng đâu đó ở vùng
trung du Bắc Bộ, dưới một cơn mưa tầm tã. Nhờ “thủ” sẵn áo mưa nên chúng
ta không cần phải lo lắng đến chiếc vé khứ hồi đang nằm sâu trong túi
áo. Chỉ ngài ngại cái hoàn cảnh đơn độc giữa um tùm cây cỏ của miền
trung du thời sơ sử mà nghe thông báo ở bến Vượt Thời Gian là rất thường
xuyên xuất hiện các loài dã thú như cọp, beo, gấu, lợn lòi, bò tót…
chưa kể trăn, rắn, rết…
Sơ sử nước ta có lẽ bắt đầu từ thời Hồng Bàng. Theo truyện "Hồng Bàng thị" thì trong Lĩnh Nam Chích Quái thì:
"Long Quân lấy Âu Cơ
rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng; qua sáu
bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai,
mới đem về nhà nuôi... Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước làm 15 bộ (còn gọi là quận) là Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận.
Chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn tướng võ, văn là
lạc hầu, võ là lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi
là mỵ nương, trăm quan gọi là bồ chính, thần bộc, nữ lệ gọi là xảo xứng
(còn gọi là nô tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi
là phụ đạo. Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi".
Bộ tộc Bách Việt có nguồn gốc từ nước Xích Quỷ do Lạc Long Quân lập nên, từ khi phân tán thì trở thành nhiều bộ tộc khác nhỏ hơn, hay gọi chung tộc là Bách Việt. Trích Lĩnh Nam Chích Quái:
- "Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm (có chỗ viết là uống), lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cầy bằng dao, trồng bằng lửa. Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong rừng rú. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu. Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân."
Quốc hiệu được xem như đầu tiên của nước ta là "Văn lang", có kinh đô đặt ở Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Nước Văn Lang của bộ tộc Lạc Việt hình thành trên vùng bình nguyên bao gồm đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mã và đồng bằng sông Lam.
Thục Phán – vua của người Âu Việt (nước Tây Âu), sau khi chiếm được Văn Lang đã sáp nhập vào đất của mình tạo thành Âu Lạc, nước Âu Lạc có lãnh thổ từ phía nam sông Tả Giang (Quảng Tây, Trung Quốc) kéo xuống dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh).
...
Mưa
tầm tã làm hạn chế tầm nhìn và trong cái tầm nhìn đã bị thu hẹp đáng kể
ấy, chúng ta chẳng thấy một ai cả, chẳng thấy một cái gì cả ngoài thiên
nhiên hoang dã. Trên là bầu trời mờ đục, bốn bề là mưa gió giăng màn,
dưới loang loáng là nước, tràn nước lũ. Hình như chúng ta đã may mắn “đổ
bộ” trên một triền đồi dù không cao lắm nhưng nước chưa lấn tới được.
Biết đi đâu bây giờ trong lúc mưa tuôn nước đổ này? Chẳng đi đâu sất vì
cũng chẳng biết đường nào mà đi. Dưới làn nước ngập kia ắt hẳn phải có
những con đường mòn, nhưng làm sao xác định được chúng? Thôi, khôn ngoan
nhất lúc này là chờ đợi vì vé khứ hồi còn có giá trị đến hết ngày mai.
Ngày mai, chúng ta tha hồ mà “bôn ba” trong xứ sở này và đến lúc đó,
chúng ta sẽ đi tìm tổ tiên để yết kiến cũng chưa muộn. Nghĩ đoạn, chúng
ta tìm một cây cổ thụ để tạm lánh, và loay hoay, chúng ta thấy một cây
to, có chạc ba để làm chỗ ngủ qua đêm rất tiện, tránh được hiểm nguy từ
những loài thú đi săn mồi ban đêm. Quanh thân nó là chằng chịt dây leo
có thể lợi dụng để làm thang lên rất tuyệt. Ý niệm về nhà sàn, nhà treo
đã nảy sinh ra trong não người Đông Nam Á cổ đại như thế nào nhỉ?...
Nơi
đến cuối cùng của con tàu tốc hành về Quá Khứ là trung tâm xứ sở Địa
Đàng, nơi có ngọn Kim Tự Tháp mà đỉnh của nó quanh năm tuyết phủ trắng
xóa, dưới ánh mặt trời lấp lánh như pha lê. Hành khách trên tàu hầu như
đều đi tới đó, còn một số đi đến Ai Cập cổ đại, một số thì đến Ấn Độ
thời kỳ văn minh Môhenjô Đarô - Harappa (khoảng thiên niên kỷ III đến II
TCN), cũng có vài người ghé vùng hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử để
tận mắt xem Ngu Công dời núi, chỉ có chúng ta là hành khách duy nhất
muốn thăm thú chốn này. Trên bản đồ lịch sử cổ đại thế giới thì đây chỉ
được thể hiện như một chấm rất nhỏ, ít người chú ý tới, cho nên nó cũng
không có tên trong danh mục các điểm dừng của con tàu tốc hành mà chúng
ta đi. Để đến được đây, chúng ta đã phải mua vé đi Đại Lục Mẫu và dùng
một chiêu thức cũ rích nhưng cực kỳ hiệu quả mà chúng ta đã học được ở
thời hiện đại: đút lót. Lúc đầu chúng ta chọn một viên ngọc kha khá
trong hành trang để “kính biếu” cho ông trưởng tàu. Ông ta nhăn mặt cười
khẩy: “Anh định chơi khăm tôi đấy à? Đây mà là ngọc thì toàn bộ sỏi đá,
thậm chí là mảnh thủy tinh vỡ trên hành tinh này đều là ngọc hết. Thôi
đi! Tàu không đỗ ở đó được đâu. Đó là nguyên tắc, ông đừng có mà giở
trò!...”. Nói thế rồi ông trưởng tàu đáng kính bỏ đi, nhưng chúng ta có
linh cảm là dù ở đâu, ánh mắt của ông ta cũng chốc chốc dõi theo chúng
ta. Có một lần, ông ta đứng ở phía xa, thơ thẩn một mình và chúng ta đã
không bỏ lỡ cơ hội; thoăn thoắt tiến đến gần khẩn cầu: “Thưa ngài, tôi
biết là về nguyên tắc, tàu tốc hành không được đỗ ở đó, nhưng mong ngài
thông cảm giúp tôi, cho tàu chạy chậm lại ở đó để tôi nhảy xuống, khi
quay về cũng chạy chậm lại để tôi nhảy lên, được như thế là tôi đội ơn
ngài. Xin ngài vui lòng nhận trước một nửa tấm chân tình của tôi”. Nói
vừa xong câu đó thì đồng thời chúng ta cũng nhanh như chớp và khéo léo
“thảy” một xấp tiền mới cáu cạnh lọt vào túi ông ta. Xấp tiền khá nặng,
thế mà hình như ông trưởng tàu không cảm giác được. Ông ta lẳng lặng
quay đi làm chúng ta chưng hửng. Tuy vậy chúng ta cũng kịp nói với theo:
“Toàn Euro cả đấy!”. Và nụ cười thoáng qua trên khóe miệng của ông ta
làm chúng ta yên lòng.
Chính vị trưởng tàu đã “đạp” chúng ta xuống triền đồi này. Cú đạp tuy hơi đau nhưng sung sướng!...
Leo
lên tụt xuống vài ba lần rồi chúng ta cũng “chễm chệ” được trên chạc
ba. Đây là nơi hội lại của ba nhánh lớn nằm theo phương gần ngang so với
mặt đất, rất thuận tiện cho việc nằm ngồi nghỉ ngơi. Điều bất ngờ là
phần mặt trên của cả ba nhánh cây khá vạm vỡ này, quanh vùng ba chạc đều
nhẵn thín. Chắc rằng chỗ này đã là nơi “trú ngụ” quen thuộc của ai đó
trước chúng ta, là “trạm quan sát” trong những cuộc săn bắt của họ…
Ở
độ cao này gió có vẻ nhiều và mạnh hơn làm cho trận mưa tầm tã trở nên
dạt dào, từng lúc, từng lúc tạt tới tấp vào mặt chúng ta. Lúc này, khi
đã yên vị rồi, chẳng còn việc gì làm ngoài việc nhìn mưa và chờ đợi,
chúng ta mới chợt nhận ra hương vị của nước mưa thời thượng cổ: thơm tho
và dịu ngọt lạ lùng. Tuổi thơ sau những lần chạy nhảy nghịch đùa khắp
đầu làng cuối xóm dưới trưa nắng chang chang, chúng ta lại uống ừng ực
từng gáo nước mưa múc từ trong lu ra. Những gáo nước mát lịm và ngọt
ngào ấy, sau bao nhiêu năm tháng cuộc đời, vẫn đậm đà trong trí nhớ. Ấy
vậy mà thứ nước ngọt trời cho ấy vẫn không ngọt bằng thứ nước ngọt trời
cho của thời hồng hoang. Đồ ăn thức uống được chế biến ra trong sự vỗ về
của thứ nước như thế này chắc là tuyệt lắm. Ước gì được ăn một bữa cơm
với tổ tiên! Lòng chúng ta bỗng thấy đói cồn cào…
Trời
ngả về chiều rất nhanh. Cơn mưa dồn trút ào lên một đỗi nữa rồi đột
ngột ngớt hẳn. Tiếng sấm rền từ đâu đó xa xôi vọng về nghe vang và thanh
chứ không đục và trầm như tiếng sấm ở thế kỷ XXI, làm chúng ta có cảm
giác không gian của thời này có vẻ rỗng rang hơn, khoáng đạt hơn của
thời mà “công nghệ thông tin” đang trị vì…
Mưa
đã tạnh và gió cũng chỉ còn thoang thoảng những làn mỏng. Tiếng sấm
cũng tắt. Chúng ta tự dưng lọt thỏm trong cái yên ắng, tuyệt đối - thứ
yên ắng thường thấy giữa hai cuộc chiến, nhưng chẳng gợn chút đe dọa nào
mà trái lại, tạo nên một khoái cảm vừa yên lành, vừa lâng lâng hơi có
chút rạo rực của một kẻ bươn chải kiếm sống ở những khu ồn ào nhốn nháo
đô hội, có dịp trở về quê hương, đi trên bờ ruộng giữa cánh đồng lúa bao
la, đã chớm vàng báo mùa chín tới, trong một chiều thu hiu gió, dưới
bầu trời xanh cao thoáng đãng.
Nước
cũng đã bắt đầu rút tuy hơi chậm. Tầm mắt của chúng ta đã vươn tới rất
xa. Tịch, vẫn không phát hiện ra một bóng người nào. Vẫn chỉ thấy lênh
láng là nước. Và cảnh sắc đó cứ gợi nhớ về Đồng Tháp Mười ở miền Nam mùa
nước nổi. Phải chăng vùng châu thổ hạ lưu sông Mê Công cùng với khí
tượng thủy văn đặc thù của nó đã là phong cảnh thường thấy của Trung du
Bắc Bộ thời tiền sử, cách đó khoảng 4 - 5 năm ngàn năm về trước mà hôm
nay chúng ta đang thấy tận mắt? Dù sao, có một điều mà chúng ta có thể
khẳng định chắc chắn được đó là: trận mưa vừa rồi là trận mưa lớn nhất
mà chúng ta thấy và cũng là trận mưa sạch nhất mà chúng ta được hưởng
trong đời. Rất có thể chúng ta đến đây vào giai đoạn tàn dư của cuộc
tranh hùng Sơn Tinh - Thủy Tinh, khi Sơn Tinh về cơ bản đã dành thắng
lợi còn Thủy Tinh dù biết rằng đã thua nhưng vì sĩ diện vẫn cứ hậm hực,
tìm đủ mọi cách quấy rối theo kiểu “còn nước còn tát”. Nếu đúng như thế
thì chúng ta đến đây, sớm nhất cũng chỉ có thể là vào khoảng thời gian
cuối đời vua Hùng thứ sáu trở về sau và không muộn hơn đời vua Hùng có ý
định xây thành Cổ Loa (vì chúng ta căng mắt ra mà chẳng thấy thành đó ở
đâu cả!!!)? Không, sự thực chưa hẳn đã là như vậy. Có thể sự thực là
như thế này: chúng ta đã đến thời vua Hùng thứ sáu đang trị vì (như một
tộc trưởng của bộ tộc đứng đầu liên minh các bộ lạc), nhưng lại “đổ bộ” ở
đâu đó ngoài “bãi chiến trường” trung tâm cuộc tranh hùng Sơn Tinh -
Thủy Tinh nên chỉ chứng kiến được trận đánh nhỏ lẻ, có tính
“râu ria” của cuộc tranh hùng ấy. Chính vì thế mà chúng ta cũng đã
không quan sát thấy công cuộc xây dựng Cổ Loa thành đang được tiến hành ở
vùng trung tâm…
Những
ngôi sao đầu tiên đã xuất hiện lấp lánh trên nền trời đỏ sẫm, báo hiệu
một đêm đầy sao. Móc một miếng lương khô được tổng hợp nhờ công nghệ
cao, nhai trệu trạo cho đỡ đói lòng xong, chúng ta lấy ba lô hành trang
làm gối, cởi áo mưa ra làm mền đắp và ngả lưng. Một ngày chộn rộn dù
chẳng nên tích sự gì cũng đã làm chúng ta mệt rã rời và buồn ngủ ghê
gớm. Kệ! Cứ ngủ một giấc cho no, lấy lại sức rồi mai tính!...
Một
người, không biết từ đâu, tự dưng xuất hiện ở phía đàng chân chúng ta.
Hơi sợ, chúng ta cố gắng không nhúc nhích thân mình, cố mở to mắt để
nhìn cho rõ. Đó là một người đàn ông, không béo mà cũng không gầy, có
lưỡng quyền hơi cao; mắt long lanh sáng quắc trên bộ mặt đỏ rực như có
ánh sáng hào quang đâu đó từ phía dưới chiếu hắt lên, trông cao vợi và
phi thực. Người đó ở trần, da thịt au màu đồng đỏ, gân cơ nổi cuộn, săn
chắc. Hình như ông ta không thấy chúng ta, đầu cứ chầm chậm quay qua
quay lại, mắt nhìn chăm chăm ra xa vời, lâu lâu lại lột từng mảng da
trên người, giũ bỏ. Những mảnh da khi đã lột ra khỏi cái thân thể ấy
bỗng trở nên mỏng tang như lụa, nhẹ nhàng rơi xuống, rã ra thành vô vàn
những chấm sáng li ti, lấp lánh đủ màu sắc rồi tan biến vào bóng tối
mênh mông. Việc lột da cứ tái đi diễn lại mãi. Tuy nhiên người đàn ông
chẳng có tỏ vẻ gì là đau đớn khó chịu cả, nét mặt ông vô cảm. Hình như
ông ta không nhận ra sự “có mặt” của chúng ta ở đây.
Một
kẻ nằm im thít, căng thẳng nhìn kẻ kia lặng lẽ lột hết miếng da này đến
miếng da khác với vẻ mặt mông lung và lạnh như tiền, hiện hữu trong một
thứ ánh sáng dịu lạnh như lân tinh giữa đêm tối tĩnh mịch, tạo nên một
cảnh tượng ma quái, liêu trai.
Cảm
giác sợ sệt rồi cũng qua đi, nhường chỗ cho sự tò mò cố hữu. Tự dưng bị
đặt vào tình trạng phải quan sát bất đắc dĩ như thế này giữa thời đại
sâu xa thượng cổ nổi tiếng là uy linh huyền bí, kể cũng oái oăm, nhưng
cũng có phần thi vị. Thật là khoan khoái khi nghĩ đến mai kia, ít nhất
cũng có một câu chuyện kỳ thú về chuyến du hành này để kể cho đám con
nít nghe, trước những đôi mắt tròn xoe và những cái miệng há hốc. Không
hay hoài nghi như người lớn, chúng sẽ tin câu chuyện của chúng ta là có
thật. Trẻ con chúa là cả tin vì chúng không tin nổi người lớn lại có thể
lừa dối chúng!...
Chúng
ta nhìn ngắm rồi cố đoán xem người đàn ông này cụ thể là ai trong cái
đêm tối mông lung này, ở nơi hoang dã này và ở thời đại cổ xưa này.
Khuôn mặt quắc thước cùng với hai tai khá dài gợi cho chúng ta nhớ về
những pho tượng đầu người dãi dầu mưa nắng ở đảo Phục Sinh. Sự hiện hữu
rất thực cùng với vóc dáng chẳng có gì là to lớn phi thường mà còn có vẻ
dung dị của ông ta nói lên rằng ông ta chẳng phải là thần thánh gì.
Nhưng nếu là người thường thì bằng cách nào ông ta lại thoắt hiện ra đây
được, tại sao cứ phải lột da mãi như thế và lại chẳng hề hấn gì?...
Rốt cuộc, chúng ta vẫn chẳng biết người đàn ông này là ai, ở đây nhằm mục đích gì.
Tư
thế nằm bất động khá lâu đã làm chúng ta rất mỏi, hai chân tê dại. Một
cách nhẹ nhàng nhất có thể, chúng ta chầm chậm duỗi một chân ra. Ấy vậy
mà hình như người đàn ông đã phát hiện được cử chỉ ấy bởi chúng ta thấy
ông ta chầm chậm quay đầu lại, cúi mặt xuống và lần đầu tiên nhìn chằm
chằm vào chúng ta. Hai luồng sáng rực từ mắt ông ta chiếu trực diện làm
chúng ta có cảm giác rất chói mắt, cơ thể đột nhiên nóng ran, tim đập
bình bịch đến tức ngực, ngộp thở. Có cái gì đó đè nặng lên toàn bộ cơ
thể làm chúng ta không sao nhúc nhích được. Dù đã cố rướn người lên để
thở, đã cố động đậy chân tay để vùng thoát khỏi tình trạng ngày một ngộp
thở mà không được. Cuối cùng, khi đã ở tình trạng bấn loạn và tức tối
tột độ, chúng ta vung được cánh tay trái ra khỏi ngực mình kèm theo một
tiếng thét vô thức: “Ông là ai?”…
Chúng
ta chồm dậy, thở hồng hộc. Thì ra đã nằm mơ! Trăng tròn vành vạnh ngay
trên đỉnh của vòm trời bao la. Ánh sáng chan hòa của nó rọi xuống chỗ
chúng ta, qua một cành lá đòng đưa nhờ gió, lúc mờ lu lúc vằng vặc. Ánh
trăng rằm thời đại này tươi mát và trong lành làm sao! Ở thế kỷ XXI
chẳng thể tìm đâu ra một đêm thanh ngần như thế này. Loài người, sau mấy
ngàn năm khai phá và tạo dựng theo quan niệm của mình để thỏa lòng thèm
muốn vô độ lượng cũng của chính mình đã làm cho cảnh sắc thiên nhiên
của Trái Đất biến dạng ghê gớm theo hướng tích tụ ngày một nhiều những
ưu phiền và phẫn nộ. Chúng ta luôn dương dương tự đắc nên chỉ thấy mặt
phải mà không thấy được mặt trái của sự sáng tạo, chỉ thấy được biểu
hiện của sự phát triển trong tiến trình lịch sử loài người mà chưa thấy
được những cảnh báo về nguy cơ dẫn đến suy tàn của xã hội loài người.
Biết bao nhiêu nền văn minh đã từng rực rỡ rồi trở nên điêu tàn chỉ vì
sự phát triển thái quá và vô lối từ sự hiểu biết ngây ngô và phiến diện
về Đạo và Đức, đã là những bài học rành rành nhưng chưa ai thuộc?! Tương
lai loài người, khi Đất và Nước đã bị vắt kiệt cùng rồi, sẽ đi về đâu?
Đi về đâu hỡi loài người bi tráng? Đi về đâu, ôi, xứ sở này? Và rồi nữa,
đi về đâu hỡi Thăng Long ngàn năm văn vật, khi cứ phải cố nở to ra chỉ
vì những sở thích mù quáng? Hà Nội đẹp vì cảnh vật. Bản sắc của thiên
nhiên và con người đã đan quyện nhau trong suốt quá trình dài chung sống
và từng bước thăng hoa theo nhịp điệu nội tại của bản thân nó, tương
hợp với thời cuộc đất nước; trở thành một kiến tạo thống nhất, nổi bật
những đường nét nhu mì và hòa hiếu chứ không phải là sự kiêu hãnh phô
trương. Hà Nội là thủ đô của một nước nhỏ bé, nên khiêm nhường và chuộng
hòa bình, đồng thời là biểu tượng gan góc của một dân tộc không đông
nhưng biết cách sống còn trong suốt 4 - 5 ngàn năm vật lộn với thiên tai
và chống giặc ngoại xâm. Hà Nội tuyệt vời bởi nó vốn dĩ là thế, không
cần đến sự thổi phồng khiên cưỡng, sự lắp ghép kềnh càng giả tạo và bởi
vẻ diêm dúa lòe loẹt nào! Trái Đất này là viên ngọc bích long lanh vô
giá của Thái Dương Hệ đâu phải vì nó vĩ đại!
Ông
là ai hỡi người trong mộng? Ông là Kinh Dương Vương, là Lạc Long Quân,
là vua Hùng, hay là hồn thiêng của tổ tiên chúng ta đó?! Ông là rồng
thiêng, rắn linh, lột xác sống đời cho dân tộc Lạc Việt trường tồn, cho
tổ quốc Việt Nam bất tử trong lịch sử loài người?!...
***
Chẳng
làm sao mà ngủ lại được nữa! Chúng ta ngồi đây, trên cái chạc ba cổ thụ
này, nơi tổ tiên chúng ta đã từng trú ngụ, với bao nhiêu suy nghĩ cứ
miên man nối đuôi nhau đổ về không ngớt. Chúng ta yêu đất nước này vì tổ
tiên ông bà của chúng ta ở đây, vì chúng ta được chôn nhau cắt rốn tại
đây và vì thế mà chúng ta có quyền được ca ngợi nó, cũng như mọi người
yêu quê hương họ và có quyền được ca ngợi đất nước họ. Tình yêu đó là
chính đáng, là phù hợp với Đạo Lý và Đức Huyền Diệu!…
Trăng
đã sà xuống và khuất lấp tự lúc nào. Cái tịch mịch của trời đất không
còn nữa. Bóng tối đã nhạt nhòa bởi cái quầng sáng chớm hé ở chân trời
phía đông. Mãi suy tư nên đến bây giờ chúng ta mới chú ý lắng nghe âm
thanh của sự sống. Đó đây đã lác đác tiếng hót chào, gáy sáng của chim
muông, tiếng voi kêu vang vọng, tiếng vượn hú lói chói, tiếng hổ gầm
trầm hùng từ xa đâu đó khắp nơi vang vọng về hòa điệu báo hiệu một ngày
mới, ráo hoảnh nhờ nắng và gió. Ấy vậy mà không phải vậy. Một ngày mới
sáng trong đã không xuất hiện. Thiên nhiên đã không chiều theo ý chúng
ta. Chẳng biết vì sao mà mây đen ùn ùn kéo về vần vũ trước sự bất lực
của vầng sáng phương đông. Trời vừa mới hửng lên ngon trớn đã đột ngột u
ám. Lại một cơn mưa như trút nữa đây! Qua một đêm, nước vẫn chưa kịp
rút hết. Mặt đất vẫn còn loang lổ nước như một tấm da báo, đang khấp
khởi đón bình minh, chợt trở nên ỉu xìu trước mối đe dọa bị nhấn chìm
lần nữa. Thời tiết của thời đại này chuyển biến bất ngờ đến lạ lùng.
Nhưng dù sao thì chúng ta cũng chứng kiến được một thực trạng là ở đây
nhiều nước quá. Từ vùng lưng chừng đồi này nhìn xuống, ra xa, thấy sông,
hồ đan xen, không thể không làm nhà sàn, nhà treo, nhà thuyền được. Tổ
tiên của chúng ta đã thích nghi được với khu vực tuy dồi dào về nguồn
thức ăn nhờ thiên nhiên ưu đãi nhưng đồng thời muốn như thế phải chịu
được cuộc sống chung đụng với sông nước đan giăng, với thường xuyên bão
dông, thác lũ, lụt lội và hơn thế nữa, sau này, là nạn ngoại xâm từ
phương Bắc. Quá trình thích nghi để sống còn và đi tìm hạnh phúc ấy của
tổ tiên chúng ta đã để lại cho đời sau những trang sử đầu tiên hết sức
chói lọi của thời kỳ khai hoang bờ cõi, đắp thành Tổ Quốc từ Đất và
Nước, đó là: Huyền thoại về nguồn gốc con rồng cháu tiên từ một “đồng
bào” - kết quả của mối tình thuận vợ thuận chồng Âu - Lạc; là bản anh
hùng ca Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc cứu nước; là công cuộc trị thủy
cam go được tạc lại thành biểu tượng truyền kỳ hào sảng Sơn Tinh - Thủy
Tinh…
Mây
ùn về nhanh thế, tưởng sẽ phải nổi lên cuồn cuộn, nào ngờ nó dàn trải
ra như một tấm nệm bông dày cộm phủ kín bầu trời. Kiểu này làm sao mà
hình thành nên một cơn mưa như trút được? Thà cứ trút ào đi một cái rồi
tạnh hoảnh chứ cứ tầm tã lúc nhặt lúc khoang như hôm qua thì… thương cho
chúng ta quá! Tốn một mớ tiền hơi “bị” nhiều để về đây leo lên cây ngồi
ngắm mưa rõ ràng là chả hiệu quả tí nào! Mặc lại áo mưa và thu xếp hành
trang xong, chúng ta cứ lưỡng lự mãi, không biết có nên “chào tạm biệt”
cái chạc ba này không nữa? Nếu trời chỉ âm u thôi mà không mưa, trong
khi chúng ta ở lại đây thì sẽ bỏ lỡ cơ hội đi diện kiến tổ tiên để hỏi
cho ra lẽ nhiều điều, nhất là sự tích về Cổ Loa thành. Nhưng nếu chúng
ta đi về phía vùng loang lổ da báo ấy mà bị trời mưa như hôm qua thì
chắc chắn là sẽ bị chìm ngỉm ngay khi nước dâng cao vì chúng ta… không
biết bơi! (Nghĩ mà thẹn với tổ tiên!)…
Rồi
thì mưa cũng bắt đầu lác đác và vì thế mà tình trạng lưỡng lự cũng chấm
dứt. Chúng ta ngồi phịch trở lại, bước vào cuộc chờ đợi mới và thở dài
ngao ngán!
Mưa
lác đác rồi dần trở nên rả rích và lại tầm tã, tuy không bằng sự tầm tã
của ngày hôm qua. Trời mát đến hơi lạnh. Thời tiết này hao hao với thời
tiết của vùng Nam Bộ - Việt Nam thời hiện đại với một năm gồm hai mùa
mưa, nắng và không qua mùa đông. Nghĩ ra, chúng ta thấy mình thật đáng
trách: cắm đầu cắm cổ về đây mà không chịu xem ngày, chọn tháng để phải
ngồi thu lu trên cây giữa mưa tuôn như thế này. Nguy cơ về một cuộc hành
trình vô tích sự đã manh nha thành hiện thực. Chiều nay chúng ta đã
phải theo tàu vượt thời gian trở về mất rồi!...
Mưa
vẫn nhạt nhòa và nước ngày một lênh láng. Vùng này khá cao mà nhiều
nước thế thì ở những vùng đồng bằng châu thổ còn nhiều nước đến cỡ nào
nữa? Và vào những khoảng thời gian như thế này, con người tiền sử ngụ cư
ở đó chắc là khó khăn lắm rồi chứ nói chi đến trồng trọt - chăn nuôi?
Có
lẽ, chốn dung thân thuở ban đầu của vượn người là rừng rú, về sau, vượn
người rồi đến người vượn đã chọn hang động làm nơi “thường trú”. Đó
chính là những ngôi nhà thiên nhiên an toàn nhất để tránh thiên tai. Gọi
là “thường trú” vì không phải và cũng không thể ngày nào cũng ở hang
động. Cuộc sống lang thang kiếm ăn có khi là dài ngày đã không cho phép
người tối cổ thực hiện được điều đó. Không những thế, sự phát triển dân
số của giống loài buộc những bộ phận người phải sống tách rời ngày một
xa rừng núi, phải tìm cách thích nghi với điều kiện sống mới. Quan sát
thiên nhiên, học hỏi thiên nhiên và sáng tạo, dần dà con người đã bỏ lối
sống hang động với kiếm ăn chủ yếu là săn bắt - hái lượm sang lối sống
định cư ở đồng bằng với kiếm ăn chủ yếu bằng trồng trọt - chăn nuôi. Lúc
đó, chắc là họ đã biết xếp đá, đắp đất, kết cây, đan lá… làm ra những
cái “hang nhân tạo” để trú ngụ mà sau này được gọi là “nhà”…
Sự
tưởng tượng làm chúng ta thấy vui vui: nếu công cuộc khai hoang thời
nay chủ yếu là phá núi mở rừng, cải tạo đồi trọc thì thời xa xưa là tiến
về đồng bằng và ra ven biển. Sự lan tỏa dân cư từ miền ngược xuống miền
xuôi Bắc Bộ, bắt đầu là từ Lạc Long Quân, về mặt hình thức, có thể được
hình dung ra từ cuộc lan tỏa dân cư từ Bắc vào Nam bắt đầu vào cuối thế
kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII. Đến đây, chúng ta chợt nhớ đến bài thơ nổi
tiếng của tướng Huỳnh Văn Nghệ. Nó thế này:
“Ai ra ngoài Bắc ta theo với
Thăm lại non sông, giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”
…
Sự
lan tỏa dân cư bao giờ cũng có hướng ưu tiên (nghĩa là có lựa chọn) đến
khu vực cho là “dễ sống” hơn. Do đó sự lan tỏa dân cư ở vùng này đồng
thời cũng làm xuất hiện sự quần tụ dân cư ở vùng khác. Theo phỏng đoán,
đã có một bộ phận dân cư mà biểu tượng là Kinh Dương Vương, tách ra từ
cộng đồng Bách Việt, dần dần đến định cư tại các vùng cao và trung du
Bắc Bộ, hòa hợp với dân bản địa mà hình thành nên người Lạc Việt. Sự
quần cư mới hình thành và phát triển đến thời Lạc Long Quân thì xuất
hiện nổi trội quá trình lan tỏa dân cư xuống những vùng thấp hơn, tìm
cách sống thích nghi với sông nước chằng chịt, lũ lụt quanh năm. Quá
trình thích nghi và thích nghi ngày một tốt hơn để sống còn và cải thiện
đời sống tốt hơn ấy đã hoàn toàn tự nhiên đặt ra vấn đề cần giải quyết
mang tính cốt lõi: trị thủy. Nếu trị thủy thành công thì vùng đồng bằng
màu mỡ sẽ hứa hẹn những mùa lúa nước bội thu!...
Ôi,
những con đê dọc theo những dòng sông miền Bắc, nơi chứng kiến biết bao
nhiêu cuộc chia ly, tương phùng, biết bao nhiêu cuộc hò hẹn trai gái;
nơi mà biết bao mồ hôi nước mắt con người đổ xuống để giữ gìn đồng lúa
ruộng khoai, để bảo toàn cuộc sống làng xã, đã hình thành nên từ bao
đời? Chúng ta không biết điều đó nhưng có lẽ chúng là kết quả của ý niệm
nảy sinh từ thời kỳ đầu dựng nước và được bồi đắp liên tục qua từng thế
hệ!...
Thui
thủi trong mưa với những dòng suy tưởng mê man, đến đây, lòng chúng ta
bỗng dưng bừng sáng: một hoang tưởng về Cổ Loa thành hiện lên, rõ mồn
một. Vì là hoang tưởng nên không phải là sự thực lịch sử nhưng một câu
chuyện không có thực đôi khi vẫn hàm chứa chân lý. Người ta nói ảo thuật
là bịp bợm nhưng lại là sự bịp bợm có lý. Chúng ta nói thêm: một khi
không phát hiện ra bất cứ xảo thuật nào đằng sau một trò ảo thuật thì đó
phải là sự thật, chỉ có đức tin mới nói được nó là bịp bợm!
Tạm
tin rằng Địa Đàng đã từng hiện hữu trên Trái Đất này và nền văn minh
Địa Đàng đã tan biến vào đúng giai đoạn cực thịnh của nó. Tuy vậy, nền
văn minh ấy đã kịp truyền bá phần nào ra khắp thế giới, trong đó có dải
đất mà sau này là lãnh thổ Việt Nam. Trên dải đất này, con người nguyên
thủy đã có mặt rất sớm ở rải rác các nơi. Ở đây, qua di tích khảo cổ có
được cho đến nay, có thể thấy rằng trước thời Kinh Dương Vương, cũng đã
từng xuất hiện những trung tâm văn hóa nổi trội (còn gọi là văn minh?)
với qui mô và sức lan tỏa ở chừng mực nhất định (bị hạn chế bởi địa
hình, bởi thiên tai thường gặp ở những miền duyên hải).
Cũng
có thể thấy được, do đặc tính của lối sống man khai hồi đó đem lại mà
sự chung cư còn mang nặng tính “mẫu tử”, huyết thống, bầy đàn; tính xã
hội còn chưa bộc lộ hoặc đang manh nha, cho nên sự hiện diện của các
vùng có con người sinh sống như là những lãnh thổ xác định còn chưa
thành hình hoặc đã hình thành nhưng còn mờ nhạt, sơ khai, manh mún, theo
cảm tính bản năng chứ chưa dựa trên một ý thức rõ ràng. Chính cuộc cách
mạng trong trồng trọt (phát hiện ra cây lúa nước và lấy nó làm nguồn
lương thực chủ yếu) cùng với quá trình phát triển và tương tác giữa các
lực lượng dân cư của khu vực đã dần làm xuất hiện hình thái sống quần tụ
dân cư đông đúc, định cư ổn định, lâu dài và từ đó mà cũng hình thành ý
thức về cộng đồng xã hội, về chủ quyền lãnh thổ.
Không
có gì đặc biệt, chưa kể đến những tác động từ môi trường thiên nhiên,
với những nguyên nhân từ sự đan xen của các quá trình giao lưu, trao đổi
văn hóa, từ sự lan tỏa và hội tụ dân cư… mà xảy ra hiện tượng có những
trung tâm văn hóa (nền văn minh) chựng lại, thậm chí là thui tàn đi,
đồng thời xuất hiện những trung tâm văn hóa mới, kế thừa và phát triển
nổi trội trở thành nền văn minh. Có khả năng tại khu vực khoảng vùng Cực
Nam Trung Quốc ngày nay đã từng xuất hiện và tồn tại một nền văn minh
Bách Việt và ở thời gian phát triển nào đó, nó đã là một trung tâm lan
tỏa dân cư. Quá trình lan tỏa dân cư của cộng đồng dân cư Bách Việt đã
làm một bộ phận dân cư của nó dần tràn xuống xa hơn nữa về phương Nam,
đến phần đất thuộc Bắc Việt Nam ngày nay, sinh cơ lập nghiệp, hòa hợp
với dân cư bản địa để từ đó xuất hiện dân tộc Lạc Việt, thủy tổ của
người Việt chúng ta. Từ đó, những yếu tố văn minh Bách Việt đã hòa quyện
với văn minh bản thổ - một nền tảng văn minh lâu đời hơn, có tính cách
cội nguồn của chính văn minh Bách Việt, đã làm hình thành nên một nền
móng văn minh cho văn minh Văn Lang rực rỡ sau này.
Dựa
vào các truyền thuyết lịch sử, chúng ta có thể hình dung ra quá trình
khai mở và dựng nước của tổ tiên gồm ba giai đoạn; là:
- Thời kỳ Kinh Dương Vương: Đây là thời kỳ hình thành những cụm dân cư, sinh sống chủ yếu ở những vùng cao và trung du Bắc Bộ.
-
Thời kỳ Lạc Long Quân (cũng như tên gọi Kinh Dương Vương), chúng ta coi
Lạc Long Quân là tên gọi chung để chỉ một thời kỳ lịch sử). Đặc trưng
của thời kỳ này là chế độ mẫu quyền (Âu Cơ) chuyển sang chế độ phụ
quyền. Sự phát triển về mọi mặt của thời kỳ trước như mức sống, trình độ
canh tác, dân số… đã làm cho thời kỳ này mang một đặc trưng nữa là quá
trình di dân xuống định cư ở các vùng thấp trũng hơn, các vùng đồng bằng
hạ lưu các con sông và ven biển, thích nghi với đời sống sông nước bằng
những kỹ năng đầu tiên đã đúc kết được trước đó.
Có
thể rằng khoảng cuối thời kỳ Lạc Long Quân, các bộ lạc đã hình thành từ
lâu và cũng đã xảy ra các cuộc đấu tranh nhằm khuất phục nhau giữa các
bộ lạc.
-
Thời kỳ các vua Hùng: Vua Hùng đời thứ nhất nổi lên như người đứng đầu
bộ lạc hùng mạnh nhất, đã thuần phục được tất cả các bộ lạc, thống nhất
thành một khối gọi là liên minh các bộ lạc mà những người trưởng các bộ
lạc đó, dưới trướng vua Hùng, được gọi là Lạc Tướng hoặc Lạc Hầu. Tất cả
các khu vực lãnh thổ bộ lạc được liên kết lại thành một lãnh thổ duy
nhất được đặt tên là Văn Lang - Tổ Quốc của mọi người Lạc Việt thuở đầu
tiên, của mọi người Việt Nam ngày nay. (Cũng có thể là đời vua Hùng thứ
nhất chỉ là người khởi xướng quá trình thống nhất các bộ lạc nhưng sự
nghiệp chưa hoàn thành mà phải đợi đến đời vua Hùng thứ hai hay thứ ba.
Nhưng nếu có thế thì ở đây, đối với chúng ta chẳng có gì quan trọng!).
Chúng
ta tin rằng sau khi dựng nước và đặt tên nước là Văn Lang. Các vua Hùng
cũng như cộng đồng dân cư Lạc Việt đã có được những điều kiện rất thuận
lợi, những tiềm lực mới to lớn trong công cuộc lao động và sáng tạo để
đưa đời sống vươn nhanh lên tầm cao mới cả về vật chất lẫn tinh thần.
Có
thể nói sự lan tỏa dân cư và cùng với nó là sự giao hòa văn minh đã như
một luồng sinh khí mới, tạo nên một sức sống mới và nửa sau thời kỳ
Kinh Dương Vương đã xây dựng được những cơ sở vững chắc cho bước phát
triển mạnh mẽ hơn ở thời Lạc Long Quân với quá trình mở rộng địa bàn dân
cư ra đều khắp khu vực đồng thời với quá trình chuyển hóa hình thái
kinh tế xã hội từ bộ tộc lên bộ lạc, tiền thân của nước Văn Lang và nhà
nước cộng đồng các bộ lạc sau này - thời các vua Hùng.
Sau
khi thu phục được các bộ lạc, thống nhất dân cư theo hình thức liên
kết, liên minh các bộ lạc, định hình lãnh thổ chung (trên cơ sở tập hợp
các vùng đất sở hữu riêng đã xác nhận của từng bộ lạc), lập nên nước Văn
Lang, các vua Hùng ở những đời đầu, cùng cả dân tộc đưa đất nước tiến
nhanh đến phú cường và đạt đến cực thịnh vào đời vua Hùng thứ sáu. Có
thể đoán quá trình này có tính thần kỳ và thành quả của nó đã là nguyên
nhân chủ yếu làm nên chiến thắng thần tốc của quân dân ta trước quân xâm
lược nhà Ân, một đội quân cực mạnh thời bấy giờ. Ước chừng ba mươi mấy
thế kỷ sau, quân dân ta đã lập lại chiến tích này chỉ bằng một trận
quyết chiến chiến lược do hoàng đế Quang Trung, một thiên tài quân sự
của nước ta chỉ huy, đại phá 30 vạn quân xâm lược nhà Thanh, vào xuân Kỷ
Dậu (năm 1789).
Phải
chăng hiện thực của thời kỳ đầu các vua Hùng dựng nước và giữ nước đã
từng là như thế và đã được truyền kỳ bằng thiên anh hùng ca Phù Đổng
Thiên Vương? Phù Đổng Thiên Vương chỉ có thể là con đẻ của một đất nước
đầy tiềm lực, có thể chế nhà nước mang tính dân chủ cao độ, có một quốc
sách trăm họ vi binh - toàn dân đánh giặc. Phù Đổng Thiên Vương chính là
biểu tượng của một đội quân hùng hậu được huy động nhanh chóng từ quốc
sách nói trên, được trang bị đầy đủ phương tiện chiến tranh như ngựa
chiến, giáp sắt, roi sắt… và được nuôi nấng, cấp dưỡng kịp thời vể mọi
mặt nhờ sự đóng góp, ủng hộ của toàn dân đã và đang sung sức. Hình tượng
Phù Đổng Thiên Vương sau khi đại phá giặc Ân, cưỡi Long Mã bay về trời
(xung thiên), thực ra cũng là nói đến cái quan niệm toàn dân vi binh:
cái đội quân dân binh vô địch vì được toàn dân ủng hộ ấy, sau khi đánh
tan quân xâm lược lại nhanh chóng giải tán “ai về nhà nấy” tiếp tục làm
ăn sinh sống. Các đời sau đã phong cho anh hùng Phù Đổng đủ mọi danh
xưng cao quí (Vương, Thánh, Thần) thực ra chính là tôn vinh Nhân Dân Vĩ
Đại! Ngay từ trang đầu của lịch sử nước nhà, tổ tiên ta đã để lại bài
học chí lý về giữ nước, đó là: phải làm cho nước mạnh; nước mạnh là nhờ
có sức dân mạnh, muốn có sức dân mạnh thì phải làm cho dân được sung
túc, ấm no và đoàn kết thành một khối cùng chung ý chí, nghĩa là dân
giàu và đoàn kết thì nước mạnh; muốn dân giàu và đoàn kết thì phải thực
hiện dân chủ và tự do theo nguyện vọng và ý chí của toàn dân tộc; và để
làm được như thế thì những thế lực điều hành đất nước phải tài năng,
thấm nhuần tư tưởng lấy dân làm gốc; trên cơ sở nhận thức rằng nhân dân
là nền tảng, là nội dung và cũng chính là người chủ đích thực của đất
nước, quyết định vận mệnh của đất nước. “Quan nhất thời, dân vạn đại”,
ông bà ta nói thế và rất đúng! “Bèo thì trôi đi, nước cũng trôi đi, chỉ
còn dòng sông ở lại với… nước mới và bèo mới!”, chúng ta nói thế và đã
không thêm được chút hay ho nào ở đây mà còn gây ra cái cảm giác… buồn
tênh quá!)…
Sau
khi đánh bại quân xâm lược nhà Ân, khắc phục và hàn gắn vết thương
chiến tranh, vua Hùng lại cùng dân chúng tiếp tục sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước còn dở dang của mình. Đất nước tiếp tục cường thịnh!
Ở
những giai đoạn phát triển trước, từ khoảng cuối thời kỳ Lạc Long Quân,
chuyển tiếp đến lúc này, đã xuất hiện những công việc trị thủy nhưng
chỉ có tính nhỏ lẻ, cục bộ chứ chưa thành hệ thống. Có thể phỏng đoán
rằng vào giai đoạn này, khi sự phát triển đã đạt đến mức độ mà mặt trái
của nó làm nảy sinh ra những đòi hỏi mới, bức thiết về quốc kế dân sinh,
thì để duy trì sự thịnh vượng và tiếp tục phát triển hơn nữa, cần phải
tìm ra những biện pháp mới, những hoạch định mới, những cách thức và kỹ
thuật mới trong trồng trọt chăn nuôi cũng như trong lao động - sản xuất
nói chung, chẳng hạn như phân bố lại dân cư, tận dụng hiệu quả đất đai,
khai hoang những vùng đất mới…
Đối
với một khu vực mà sông ngòi chằng chịt, nước nổi mênh mang, năm nào
cũng bão giông, lũ lụt như chúng ta “từng thấy” thì để ổn định dân cư
ngày một đông về số lượng, cần phải có biện pháp gì? Chúng ta tin rằng
nhiệm vụ được đặt ra đầu tiên trong tình hình mới ấy phải là trị thủy và
trị thủy phải được nâng lên thành một quốc sách, thành một kế hoạch có
tính qui mô, rộng khắp, có hệ thống.
Để
sống chung được với nước, lũ, lụt lội thì phải tìm cách thích nghi theo
chu kỳ biến động của chúng và tiến tới chế ngự được chúng để thích nghi
là tiến trình tất yếu trong hoạt động sống của mọi cư dân vùng sông
nước trên thế giới nói chung và của tổ tiên ta nói riêng.
Công
việc thủy lợi đã có từ lâu, phát triển dần từ nhỏ lẻ, manh mún đến ngày
một lớn, có tính tự giác và sự hợp tác. Đến giai đoạn đầu thời các vua
Hùng, trước yêu cầu bức bách do mặt trái của sự phát triển xã hội đặt ra
mà cách thức làm thủy lợi cho đến lúc đó không còn đủ sức đáp ứng cho
đời sống của lực lượng dân cư nữa. Cần phải có một phương thức làm thủy
lợi mới, chế ngự và điều tiết được nước ở qui mô rộng khắp, có tính hệ
thống, thống nhất toàn vùng. Chúng ta tạm gọi phương thức làm thủy lợi
mới ấy là “công cuộc trị thủy”. Công cuộc trị thủy là công tác thủy lợi
được đặt ra ở tầm “quốc sách”, việc thực hiện có tính kế hoạch, triệt để
nên cũng lâu dài và là sự nghiệp của toàn dân, thu hút vô vàn công sức.
Vì
những lẽ nên trên mà chúng ta cho rằng một công cuộc trị thủy với qui
mô to lớn và rộng khắp so với trước đó chỉ có thể được đặt ra vào thời
các vua Hùng; khi trình độ nhận thức cũng như sự phát triển của nhân tài
vật lực đã đạt đến độ chín muồi, thấy được tầm quan trọng cũng như khả
năng thực hiện được một sự nghiệp như vậy.
Suy
tư chồng chất suy tư, hoang tưởng kế tiếp hoang tưởng và đến đây, giữa
cảnh mưa tuôn nước nổi này, một hoang tưởng mới lại ra đời.
Sự
lan tỏa dân cư về vùng sông nước đồng bằng, nổi trội bắt đầu từ thời
Lạc Long Quân, đến đầu thời các vua Hùng; đã tạo nên sự biến đổi về phân
bố dân cư, làm trung tâm của sự quần cư cũng dịch chuyển theo hướng đó.
Có thể là đến đời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đại thắng giặc Ân,
trước tình hình phát triển mới của đất nước, vấn đề dời đô đã được đặt
ra và đó chính là nguyên nhân của việc xây dựng Cổ Loa thành.
Nơi
xây dựng Cổ Loa thành, trước đó chắc là vùng đất tương đối cao. Tuy
nhiên cần phải bồi đắp nhân tạo cao hơn nữa để khắc phục hẳn tình trạng
nước lụt. Hình dáng ban đầu của Cổ Loa thành có thể chỉ như một quả đồi
có tre mọc xung quanh tạo nên bức lũy để chống sạt lở. Đó cũng chính là
hình ảnh chung nhất của làng mạc Bắc Bộ Việt Nam sau này! Ôi, lũy tre
làng, mấy ai còn thấy được cái công lao bất diệt của nó đối với dân tộc
Việt! Nhưng hàng năm, tình trạng sạt lở vẫn cứ xảy ra do nước lũ xói mòn
mạnh mẽ làm tốn rất nhiều công sức tu bổ. Tình hình ấy đòi hỏi phải có
một phương kế khắc phục, tạo nên sự bền vững lâu dài cho Cổ Loa thành,
khi mà nó đã là Trung tâm điều hành đất nước, có vai trò là kinh đô của
nước Văn Lang. Phải chăng là từ kinh nghiệm được kế thừa từ quan sát,
nhận thức thực tại, từ suy nghĩ sáng tạo mà tổ tiên chúng ta đã có ý
tưởng qui hoạch bảo vệ Cổ Loa thành bằng cách be bờ, đắp đất, trồng tre
tạo thành lúc đầu là một lươn đất, sau là nhiều lươn đất kế tiếp nhau
bao quanh nhằm phòng chống lũ lụt từ xa? Đúng là như vậy vì sự hoang
tưởng của chúng ta được xây dựng nên từ bài viết của Quang Khải trong
tạp chí “Thế giới mới” số 807, năm 2008. Theo Quang Khải thì nước ta,
vào khoảng vài ba thế kỷ trước và đầu công nguyên, đã có đê điều khoanh
vùng. Ngay cả nhiều người Trung Hoa thời đó, đến nước ta đã chứng kiến
cảnh tượng ấy mà thư tịch cổ của họ còn lưu lại. “Giao châu” chép:
“Huyện Phong Châu đã có đê để đề phòng nước sông Long Môn (sông Đà)”.
(Nguyễn Văn Siêu dẫn trong bản điều trần về đê viết ngày 20-10-1852, Tự
Đức thứ 5). “Hán Thư quận huyện chí” chép: “Phía tây bắc quận Long Biên
đã có đê để giữ nước sông”. Vào thế kỷ III trước Công Nguyên, trong nông
nghiệp nước ta đã có công cụ bằng đồng, sắt và cày bừa bằng trâu, bò.
Nhiều người cho rằng vùng Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) còn dấu vết của
cả một chuyên ngành trồng dâu, nuôi tằm tiền sử. Vào buổi đầu Công
nguyên, quân xâm lược nhà Hán không thể đóng trụ sở của bộ máy đô hộ ở
thành Luy Lâu (Dâu) được nếu không có đê bao bọc trong điều kiện tự
nhiên của lũ sông Hồng và sông Thái Bình hàng năm nước ngập vài ba
thước. Vào thế kỷ IX, Cao Biền (nhà Đường phong làm tiết độ sứ, quan đô
hộ nước ta) đã huy động dân An Nam (tên nhà Đường đặt cho nước ta lúc
đó) đắp đê bao quanh thành Đại La (Hà Nội ngày nay): đê dài 125 trượng 8
thước (khoảng 8500 m), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 8m), chân đê rộng 2
trượng. Dấu vết của công trình vẫn còn lưu đến ngày nay. Thiên tai, hạn
hán lũ lụt được ghi chép trong lịch sử nước ta sau khi Lý Công Uẩn dời
đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Nhiều lần nước lũ tràn ngập cả kinh thành
(năm Mậu Ngọ, 1078), tràn đến cửa Đại Hưng (năm Tân Sửu, 1121)… Năm
1077, nhà Lý đắp đê sông Như Nguyệt (sông Cầu), đê dài 64.380 bộ (khoảng
30 km). Hai mươi năm sau, theo sử chép, “năm Quí Mùi (1103) hiệu Long
Phù Nguyên Hòa thứ 3, mùa xuân tháng giêng (nhà Lý) xuống chiếu cho
trong và ngoài kinh thành đều đắp đê ngăn nước” (Việt sử lược). Sử còn
chép: “Năm Mậu Tý (1108), niên hiệu Long Phù thứ 8, mùa xuân tháng 2,
đắp đê gấp bội thời Bắc thuộc, theo Nguyễn Văn Siêu: “Nhân sinh đẻ ngày
càng nhiều, làng mạc nhiều như sao sa, như quân cờ bày chứ không như
ngày trước cứ tìm chỗ cao mà ở. Năm 1218 (Mậu Thân), Trần Thái Tông
xuống chiếu đắp đê Đỉnh Nhĩ, “đắp suốt từ đầu nguồn cho đến của biển để
giữ nước lụt tràn ngập”… Theo “Việt sử thông giám chương mục” thì “Năm
Ất Mão (1255), vua sai Lưu Miễu bồi đắp đê sông ở xứ Thanh Hóa. Mùa hạ
tháng 4, cho chọn các tân quan, làm Hà đê. Chánh, phó sứ ở các lộ khi
nào rỗi việc đồng ruộng thì đốc thúc quân lính đắp đê để phòng lụt”. Vào
thời ấy, chỉ riêng đê sông Hồng đã được mô tả: “Ở bên kia sông Phú
Lương (sông Hồng) đều có đê ngăn nước. Một con đê chạy dài từ sông Việt
Trì, sông Lô, sông Đại Lũng đến cửa Mạch, cửa Ninh Cơ thì dứt, mỗi bên
đê cao 3 trượng, rộng 5 trượng” (theo “An Nam Chí nguyện”). Trong việc
bồi trúc đê điều, nhà Trần huy động toàn dân tham gia, ngay cả sử còn kể
rằng vào năm 1315, nước sông lên to, vua Trần Minh Tông thân chinh đi
xem hộ đê. Lúc đó, quan ngự sử can: “Bệ hạ nên chăm sửa sang Đức Chính,
đắp đê là việc nhỏ, đi xem làm gì?”. Quan Hành Khiển (tương đương Tể
tướng) Trần Khắc Chung đáp lại: “Phàm dân gặp lũ lụt, người làm vua phải
lo cấp cứu chứ sửa sang Đức Chính không gì to bằng việc ấy”. Nhà vua
nghe lời Đức Chung. Từ năm Giáp Thân (1464), dưới triều Lê Thánh Tông,
bắt đầu có công trình qui mô là đắp đê ngăn ngập mặn ở vùng biển, gọi là
đê Hồng Đức. Điển hình là hai dải đê Hồng Đức vùng biển Ninh Bình: một
dải từ phía Bắc Thần Phù đến bờ Nam cửa Cồn, phía ngoài có kè đá để
chống sóng; một dải khác chạy từ xã Côi Trì, huyện Yên Mô đến xã Hồng
Hải, huyện Yên Khánh. Đến triều Lê, bắt đầu việc đắp đê sông Tô Lịch,
“đắp từ Cồn Trát đến Công Xuyên để trừ thủy họa”. Sông Tô Lịch xưa thông
với sông Đáy, sông Đáy thông với sông Hồng. Phân tranh Lê - Mạc, Trịnh -
Nguyễn liên miên làm cho công việc đê điều, trị thủy bị ngưng trệ.
Quang Trung là ông vua trọng nông, đã ra kế hoạch đắp lại đê sông Nhị
nhưng chưa kịp thực hiện. “Dĩ nông vi bản” (lấy nông nghiệp làm gốc) là
một quốc sách đã được nhận biết từ lâu trong thời quân chủ. Một triều
đại muốn tồn tại lâu dài không thể không quan tâm tới điều ấy. Năm 1803,
Nguyễn Ánh vừa lên ngôi, quan lại Bắc Hà đã tâu: “Thế nước sông Nhị lên
rất mạnh, đê Tả Hữu thuộc Tây Sơn, Kinh Bắc, Sơn Nam, thượng và hạ
nhiều chỗ vỡ lở, xin cho dân sửa đắp ngay đề chống lụt mùa thu. Thủy đạo
các trấn nhiều nơi ứng tắc, xin bệ hạ cho trấn thần tùy thế “khơi vét”
(theo “Đại Nam thực lục chính biên”). Năm đó, Gia Long đã chuẩn cho đắp 7
đoạn đê mới trong các tỉnh nói trên, triều đình chi hết 80.100 quan
tiền… Riêng thời Minh Mạng, đê mới được đắp ở Bắc hà nhiều hơn dưới bất
cứ triều nào khác của nhà Nguyễn. Triều Minh Mạng cũng tiến hành nhiều
biện pháp khơi sông thoát lũ, điển hình là sông Đuống được người phương
Tây gọi là con sông đào lớn nhất xứ ta thời ấy…
Có
thể nói, xuyên suốt quá trình tồn tại của dân tộc Việt cho đến tận ngày
nay là hai công trình dựng nước và giữ nước đầy hy sinh gian khổ nhưng
cũng thật chói lọi vẻ vang. Hệ thống đê điều đường xá có được hôm nay là
thành quả của hàng ngàn thế hệ, được đắp nên từ công sức máu xương của
hết đời này đến đời khác. Khởi đầu của công cuộc tạo dựng vĩ đại này đã
được tiến hành ngay từ thời còn phôi thai của dân tộc Việt, còn trứng
nước của giang sơn Việt, và đó là việc be bờ đắp lũy Cổ Loa. Cuộc sống
đã nảy sinh yêu cầu phải chấp nhận sống chung với lũ lụt, phải định cư
lâu dài được ở miền sông ngòi chằng chịt, nước nổi mênh mang hàng năm đã
tự nhiên làm hình thành nên ý tưởng trong tổ tiên chúng ta về việc xây
thành đắp lũy nhằm chế ngự, điều dẫn nước. Có lẽ công dụng nguyên thủy,
thuở ban sơ của việc xây thành, lũy trên trái đất này của con người chỉ
nhằm đấu tranh chống lại thiên nhiên hoang dã, chế ngự thiên tai, cụ thể
hơn là nhằm trị thủy khi đã chuyển sang lối sống lấy trồng trọt chăn
nuôi, lấy nông nghiệp làm phương thức sống chủ yếu…
Ý
tưởng là một chuyện nhưng việc thực hiện ý tưởng lại là chuyện khác.
Việc xây đắp một bờ đất bao quanh như vậy không phải là công việc của
một ngày, cũng không phải là công việc của một năm mà có thể là vài năm
hoặc thậm chí là nhiều năm. Và nếu chỉ là sự đào đắp đất đơn giản thì cứ
qua mỗi mùa lũ lụt, công việc chưa kịp hoàn thành lại bị phá hỏng nhiều
chỗ đến mức trầm trọng. Quả thực, thời gian đầu xây đắp Cổ Loa thành là
rất khó khăn, ý tưởng qui hoạch có nguy cơ không thực hiện được nhưng
rồi thần Kim Quy hiện lên mách bảo cho vua Hùng bí quyết để thành công.
Bí
quyết đó là gì? Đồ rằng thần Kim Quy đã thì thầm đại khái thế này: tức
nước thì vỡ bờ, lấy cứng làm giáp làm cốt để trụ vững, lấy mềm làm thịt
làm thân để che chắn. Và vua Hùng đã hiểu ra được: phải kết hợp giữa đất
và đá, đá xếp dưới làm móng như yếm rùa, đất đắp thành đê như thân rùa
và đá đắp lên mặt đê như mai rùa rồi trồng tre như chân rùa để làm lũy,
đi đôi với việc đó phải tạo thế thoát cho nước cường. Từ đó việc xây
thành Cổ Loa tiến triển thuận lợi và có cấu trúc xoắn trôn ốc hết sức
độc đáo.
Có
thể là một sự khập khểnh nhưng cấu trúc ba vòng thành xoắn trôn ốc cứ
gợi cho chúng ta man mác nhờ về thái cực; thần Kim Quy và Long Mã (con
ngựa của Thánh Gióng!) cứ gợi nhớ đến Hà Đồ, Lạc Thư. Phải chăng quan
niệm lưỡng phân lưỡng hợp đã có từ thời Lạc Long Quân và đến thời kỳ các
vua Hùng ở những thời đầu tiên đã xuất hiện Hà Đồ, Lạc Thư kiểu như mô
tả ở hình 27? Phải chăng chúng cũng đã từng là nguồn cảm hứng trong việc
tạo nên vóc dáng Cổ Loa thành? Chẳng có một chút xíu bằng chứng nào!
Hầu hết mọi thứ đã chìm nghỉm rất sâu trong đại dương thời gian và dù
chúng ta đã “lặn” được đến độ sâu ấy thì cũng đành bất lực ngồi trên
chạc ba, không phát hiện ra thứ gì cả vì… trời mưa tầm tã và nước nổi
quá xá cỡ!
Dù
sao đi nữa việc xây dựng Cổ Loa thành thuở ban đầu không nhằm vào mục
đích quân sự mà chủ yếu chỉ là để chế ngự lũ lụt, phòng ngự cho Kinh đô.
Đó chính là công trình trị thủy có qui mô lớn đầu tiên của dân tộc ta.
Có thể cho rằng Cổ Loa thành là biểu tượng bi hùng của công cuộc trị
thủy thời các vua Hùng ở những đời đầu. Các vua Hùng đời sau trên cơ sở
đó đã bồi đắp, tu bổ, cải tạo để nó mang thêm chức năng thành lũy phòng
thủ về mặt quân sự…
Chúng
ta giật bắn mình khi sực nhớ đến thời điểm phải theo tàu vượt thời gian
trở về với hiện tại thực. Vì mãi suy nghĩ nên không biết bao nhiêu thời
gian đã trôi qua; vì trời mịt mờ quá nên cũng không biết vẫn còn là
buổi sáng hay đã là buổi chiều. Chúng ta vội vàng lục túi để biết chắc
là chiếc vé khứ hồi vẫn còn đó và điều quan trọng hơn là vẫn còn đó xấp
tiền Euro mới cáu cạnh, cái một nửa còn lại mà chúng ta phải “kính biếu”
khi gặp lại trưởng tàu. Rồi chúng ta tụt nhanh xuống đất, chạy thục
mạng đến địa điểm đã hẹn trước. Thà cứ đến đó sớm rồi chờ đợi cho chắc
ăn kẻo lỡ chuyến, ở lại đây thành tổ tiên của vợ con và bạn bè thì thật
chẳng ra thể thống gì! Cầu trời không “đụng độ” phải lão hổ, báo, hay
lão đười ươi, gấu… nào!
May
mắn làm sao! Con tàu cũng vừa liệng xuống. Nó không dừng hẳn lại mà chỉ
có một bàn tay thò ra túm lấy cổ áo của chúng ta kéo lên. Thật hú vía!
Tuy không thỏa mãn bao nhiêu nhưng cuộc hành trình đã kết thúc có hậu:
chúng ta đã lên tàu trở về!
Nhận xét
Đăng nhận xét