THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 32* (Phần III) (Anh hùng)(Lưu rồi)

 

PHẦN III:     NGUỒN CỘI 

" Đi đi con!
Trong khinh khi may nhớ nước non
Mà ôn lại cho đừng quên lịch sử
Bốn ngàn năm rồi, Việt Nam bất tử
Dằng dặc đoạn trường chống giặc ngoại xâm
Biết mấy đau thương, biết mấy anh hùng
Ghi tạc địa cầu bao chiến công hiển hách..."
Trần Hạnh Thu
"Lịch sử hoài thai chân lý, nó có thể kháng cự với thời gian, có thể dìm đi những việc cũ, nó là dấu tích của thời xa xưa, là gương soi của đương đại, là lời giáo huấn cho thế hệ sau."
Cervantes (Tây Ban Nha)

"Lịch sử là bằng chứng của thời đại, là ngọn lửa của chân lý, là sinh mệnh của kí ức, là thầy giáo của cuộc sống và là sứ giả của cổ nhân."
Cicero (La Mã)

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”

Trần Hạnh Thu
.

.

CHƯƠNG XI (XXXII): ANH HÙNG


Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn

Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn


"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!"
-Albert Einstein
 
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh

"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
 
“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” 
                                                          Hồ Chí Minh

"Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ"
                                                          Phạm Khắc Hòe

 

                                                                              PHẦN III

 

            Ngỡ tưởng từ đây đất nước sẽ im tiếng súng, dân tộc Việt sẽ được sống trong hòa bình, yên ổn làm ăn, "xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Nhưng không, dân tộc Việt còn phải đi nốt chặng đường trường chinh bất khuất vô song mà đầy tự hào, mã thượng và tuyệt đẹp của mình.


Theo tư liệu mà chúng ta góp nhặt trên mạng internet thì thế kỷ 20 đã chứng kiến một sự kiện nhân đạo và chính nghĩa hiếm có: Quân đội và nhân dân Việt Nam đã tự cứu mình và đồng thời cứu nhân dân Cam-pu-chia anh em thoát khỏi họa diệt chủng, thực hiện hồi sinh một dân tộc. 
 
                                                
                                                                    Pol Pot năm 1978
 
                                                 
 
                                                                           Ieng Sary

      Tháng 2-1963, tại đại hội lần thứ hai của Đảng Công nhân Cam-pu-chia (trước tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia), Pôn Pốt (PolPot) được chọn kế vị đồng chí Tu Sa-mút, đã bị sát hại trước đó, trở thành Tổng Bí thư của đảng. Từ đây, việc tiếm quyền trong đảng của Pôn Pốt hoàn tất. Tháng 7-1963, Pôn Pốt và hầu hết thành viên ủy ban trung ương rời Phnôm Pênh để thành lập một căn cứ tại tỉnh Ra-ta-na-ki-ri phía Đông Bắc Cam-pu-chia. Pôn Pốt và đồng bọn trưởng thành từ nhóm sinh viên tại Pa-ri nắm quyền kiểm soát Trung ương đảng, loại bỏ các cựu binh lớn tuổi, những người tích cực ủng hộ sự nghiệp cách mạng ở cả ba nước trên bán đảo Đông Dương.    Tháng 9-1966, chúng bí mật đổi tên đảng thành Đảng Cộng sản Cam-pu-chia, những đảng viên cấp thấp của đảng không được thông báo về điều này và các đảng viên cũng không biết cho tới nhiều năm sau. Trong rừng rậm Cam-pu-chia, chúng bắt đầu thực hiện những mưu đồ mang nặng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan.
 
Quyền lực tối cao trong tập đoàn phản động ở Cam-pu-chia tập trung hầu hết vào 5 tên: "anh Cả" Pôn Pốt (Sa-lốt Sa), Tổng Bí thư từ năm 1963 tới khi chết; "anh Hai" Nuôn Chia (Long Bun-ruốt), "cánh tay phải" của Pôn Pốt; "anh Ba" Iêng Xa-ri, anh em đồng hao của Pôn Pốt; “anh Tư" Khiêu Xam-phon; "anh Năm" Tà Mốc (Chờ-hít Chờ-hun). 
Pôn Pốt sinh năm 1928 tại tỉnh Kông-pông Thom. Năm 1953, y tham gia Mặt trận Việt Minh, nhưng không chú trọng đến công việc chung, chỉ mưu đồ chia rẽ nội bộ, tranh quyền lãnh đạo trong Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia. Ngày 17-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc ở Cam-pu-chia. Tập đoàn phản động do Pôn Pốt đứng đầu lập nên nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ. Ngày 20-5-1975, Thường vụ Trung ương đảng Pôn Pốt họp quyết định 3 chủ trương lớn: Làm trong sạch nội bộ nhân dân; xác định Việt Nam là kẻ thù số 1, là kẻ thù truyền kiếp; xây dựng xã hội mới của Cam-pu-chia không chợ, không tiền, không trường học, không đô thị, không trí thức, không tôn giáo… Ngày 1-2-1978, y nói rõ trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng của y: “Chiến tranh giữa ta và Việt Nam là lâu dài, có tính chất gặm nhấm, ta không đánh nó trước thì sẽ không thắng… Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10-15-20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Cam-pu-chia để tiêu diệt 60 triệu người Việt Nam. Phải đưa chiến tranh sang đất nó”
 
                                 
                                                Khơ me đỏ nhí đã rành chuyện giết người
                                             Hồi ức kinh hoàng của những sát nhân nhí dưới thời Khmer Đỏ - Ảnh 2.  
   Cũng như những chiến binh nhí khác, Sayon Soeun được Khmer Đỏ dạy rằng, bất cứ ai – dù là           gia đình hay bạn bè, đều có thể là kẻ thù. Ảnh: New Jersey Hills
 
                                   
Theo CNN, Pol Pot ôm mộng tạo ra một xã hội nông nghiệp không tưởng, trong đó tiền, quan hệ gia đình, tôn giáo, giáo dục, sở hữu tài sản và ảnh hưởng nước ngoài không tồn tại. Để thực hiện tham vọng của mình, vài ngày sau khi tiếp quản Phnom Penh, chính quyền Pol Pot đã buộc 2 triệu người phải rời khỏi thủ đô và các thành phố để đến các vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Bussiness Insider
 
                               
Tại các công trường lao động khổ sai ở những vùng nông thôn, người dân phải tự đào hố chôn mình vì có thể bị xử tử vì bị nghi là phản động, gián điệp hay đơn giản bị cuốc bổ vào đầu chỉ vì bị coi là lười lao động hay bị bỏ đói. Trong ảnh là một hố chôn người tập thể được khai quật ở Campuchia sau ngày giải phóng 7/1/1979. Ảnh: Ibtimes 
 
                               
                                                   Binh lính Khmer Đỏ. Ảnh: DPA
 
                               
     Một trong những bức ảnh tố cáo tội ác chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia. Ảnh: TTXVN
 
                              
 Ngày 30/4/1977, quân Pol Pot đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất của ta, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: TTXVN
 
Nuôn Chia sinh năm 1926 tại tỉnh Bát-tam-bang, là một người gốc Hoa. Khi tập đoàn Pôn Pốt thành lập Cam-pu-chia Dân chủ, y được người Cam-pu-chia biết đến với tên gọi "anh Hai", “nhà tư tưởng” thiết kế mô hình nhà nước, đồng thời là nhà đạo diễn “cánh đồng chết”. Nuôn Chia được Pôn Pốt giao phụ trách công tác đảng và an ninh quốc gia từ năm 1960 khi y giữ chức Phó tổng Bí thư Trung ương đảng. An ninh quốc gia ở đây chủ yếu là trừ khử những “thành phần chống phá cách mạng trong và ngoài đảng”. Khi tập đoàn Pôn Pốt giành được chính quyền năm 1975, Nuôn Chia được làm Chủ tịch Quốc hội, có lúc làm Thủ tướng trong một tháng khi Pôn Pốt tạm nghỉ. Chính Nuôn Chia trực tiếp chỉ đạo quản tù tra tấn và hành quyết những cán bộ bị tình nghi chống lại Pôn Pốt bị giam cầm ở nhà tù Tuôl Sleng.
Iêng Xa-ri sinh năm 1925 tại tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Năm 1957, y tham gia Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia, giữ các chức vụ chủ chốt trong Thành ủy Phnôm Pênh và Trung ương Đảng. Năm 1963, Iêng Xa-ri được chỉ định vào Bộ Chính trị giữ vị trí thứ tư trong đảng đã đổi tên. Từ năm 1970 đến 1975, y là "cố vấn đặc biệt" bên cạnh Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-núc khi ở Bắc Kinh. Sau ngày 17-4-1975, Iêng Xa-ri giữ chức Phó thủ tướng phụ trách đối ngoại trong chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ, cùng với Pôn Pốt, Iêng Xa-ri đã gây ra nạn diệt chủng khủng khiếp đối với nhân dân Cam-pu-chia.
Khiêu Xam-phon sinh năm 1931, trong một gia đình nông dân, cha là người Khơ-me, mẹ người Hoa. Sau cuộc đảo chính tháng 3-1970, y tuyên bố ủng hộ Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia do Hoàng thân Nô-rô-đôm Xi-ha-núc đứng đầu, được cử làm Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng trong Chính phủ Vương quốc đoàn kết dân tộc Cam-pu-chia do Pen Nút làm Thủ tướng. Năm 1976, y là Chủ tịch Đoàn chủ tịch Nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ. Khiêu Xam-phon được coi là kiến trúc sư của Cam-pu-chia Dân chủ.
                            
                                Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 1
Xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang) cách biên giới Việt Nam - Campuchia 3.500m. Từ ngày 18/4 - 30/4/1978, chính quyền Khmer Đỏ đã đưa quân vào tàn sát người dân nơi đây một cách man rợ. 3.157 người dân Ba Chúc bị giết hại. Trong ảnh là quân Pol Pot đang sát hại người dân. Bức ảnh này được lưu giữ trong nhà truyền thống Sư đoàn Bộ binh 330 - Sư đoàn chủ lực giải phóng Ba Chúc khỏi Pol Pot.
                               Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 2
Quân Pol Pot đi tới đâu cũng giết người hàng loạt, dã man không bút nào tả hết, chúng cướp bóc tài sản, đốt phá nhà cửa, tàn sát không thương tiếc. Trong ảnh là xác người dân Ba Chúc bị Pol Pot thảm sát.
                               Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 3
Những cái chết đau thương của người dân vô tội Ba Chúc được ghi lại, trưng bày trong khu lưu niệm tại Ba Chúc hiện nay. 
                   Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 4
Quân Pol Pot tàn sát dã man không thương tiếc dân thường, người già, phụ nữ hay trẻ em.
                              Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 5
Đình chùa vốn là nơi tôn nghiêm mà cái ác tránh phạm tới. Nhưng trong vụ thảm sát Ba Chúc, người dân chạy vào chùa Phi Lai mong tìm chỗ trú ẩn, thì bị quân Pol Pot giết hại gần 300 người.
              Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 6
Những đống xương người chết được cất giữ tại nhà mồ tạm dựng sau chùa Phi Lai.
                        Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 7
Nhóm xương sọ (đã trở thành di vật) đều bị sứt mẻ do bị đạn bắn vào đầu hoặc đạn xuyên phá. 
Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 8
     Xương, hộp sọ của những nạn nhân thảm sát Ba Chúc. 
                                 Những hình ảnh về tội ác man rợ của Pol Pot trên đất An Giang ảnh 9

Khi người dân chạy vào chùa Tam Bửu tạm trú, quân Pol Pot đã nã pháo, lựu đạn vào khiến hàng trăm người bị chết, máu của họ bắn lên bức tường chùa. Hiện nay, vết máu được bảo quản trong khu di tích về thảm sát Ba Chúc. 

 
Tà Mốc, tên thật là Chơ-hít Chờ-hun, sinh năm 1926 trong một gia đình nông dân tại tỉnh Ta-keo, miền Nam Cam-pu-chia. Trước năm 1975, y là ủy viên Quân ủy Trung ương, thường vụ Trung ương Đảng của tập đoàn phản động Pôn Pốt. Tháng 7-1975, Pôn Pốt triệu tập đại hội các bí thư khu ủy để thống nhất quân đội và phân định lại ranh giới. Cam-pu-chia được chia ra làm 7 khu và Tà Mốc phụ trách khu Tây Nam. Năm 1977, Tà Mốc lên nắm chức vụ Tổng Tư lệnh quân đội và đóng vai trò chủ đạo trong một loạt vụ thanh trừng và gây ra nhiều vụ thảm sát. Là “anh Năm” trong lực lượng Pôn Pốt, Tà Mốc đóng vai trò quan trọng trong nạn diệt chủng khiến hàng triệu người chết.
     Đối với Việt Nam, tập đoàn phản động do Pôn Pốt đứng đầu đã có những biểu hiện phản bội ngay khi hai nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
     Từ cuối năm 1971 đã có những cuộc đụng độ giữa lực lượng vũ trang của bọn Pôn Pốt với Quân tình nguyện Việt Nam. Rất nhiều kho vũ khí của ta bị quân của Pôn Pốt đến lấy trộm, nhiều cán bộ, chiến sĩ đi công tác lẻ, hoặc đơn vị nhỏ đi công tác sâu trong đất Cam-pu-chia, bị chúng bí mật thủ tiêu. Đến cuối năm 1972, chúng yêu cầu Quân tình nguyện Việt Nam ở các vùng, các địa phương Cam-pu-chia rút hết về nước. Đến cuối năm 1973, quân ta về nước hết. Năm 1975, khi Việt Nam vừa thống nhất đất nước, bè lũ Pôn Pốt đã cho quân tiến công đánh sang các đảo, biên giới đất liền Tây Nam đất nước ta. Ngày 3-5-1975, quân Pôn Pốt đổ bộ lên đảo Phú Quốc và đã bị quân và dân ta trừng trị đích đáng, buộc phải rút chạy. Ngày 10-5-1975, quân Pôn Pốt lại đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt đi và thủ tiêu 500 dân thường. Những tháng ngày sau đó, chúng tiếp tục mở rộng chiến tranh xâm lấn ra trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của ta. 
 
                               Cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ Noun Chea chết ở tuổi 93 - Ảnh 1.  
Cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ Nuon Chea trong một phiên xử của ECCC tại Phnom Penh năm 2008 - Ảnh: AFP 
                                            
                                                                   Chân dung Ta Mok
 
Nhưng tại sao bè lũ Pônpốt - Iêng Xary tự nhiên đi làm cái việc trái với đạo lý tự nhiên, vô cùng tàn bạo, khùng điên bậc nhất nhân loại là giết chóc đến mức diệt chủng chính dân tộc của mình như vậy?
Muốn trả lời câu hỏi đó một cách suôn sẻ, phải hướng về Mao Trạch Đông, tên đồ tể số một của nhân loại trong thế kỷ XX, kẻ vô cùng đam mê quyền lực và muốn xây dựng ở Trung Quốc một "đế quốc CNXH" hùng mạnh bằng những cách ngu muội nhất.
       Các triều đại Trung Quốc , từ hàng ngàn năm trước, với tư tưởng Đại Hán đã không ngừng tham vọng mở rộng lãnh thổ quốc gia bằng cách xâm lược, bành trướng sang  lãnh thổ của đất nước khác, với sức mạnh về nhiều mặt như : Kinh tế, Văn Hóa, Quân sự… hòng biến các nước láng giềng trở thành của mình hoặc trở thành “vệ tinh” chịu sự chi phối của “thiên triều” và lệ thuộc vào họ.
     Nói về Mao Trạch Đông, báo "Đại kỷ nguyên viết: "...Ông ta cao giọng: “Thà lấy cỏ của Chủ nghĩa Xã hội, không lấy mạng của Chủ nghĩa Tư bản”. Trong 26 năm cầm quyền, nền kinh tế Trung Quốc bại hoại, nhân dân sống tạm cho qua ngày, hàng chục triệu người dân bị chết đói. Điều này có lẽ suốt các thời đại trong lịch sử Trung Quốc, hoặc bất kể một quốc gia trên thế giới nào khác, cũng tuyệt không thể có.

Ông Mao Trạch Đông xem thường giáo dục, chửi rủa tri thức là “cục phân”, đại đa số tri thức bị sỉ nhục hoặc dày vò cho đến chết. Ông ta tuyên bố “chế độ giáo dục phải rút ngắn lại, phải làm cách mạng giáo dục”. Vào thời “Cách mạng Văn hóa“, giáo dục bậc cao của Trung Quốc hoàn toàn bị triệt tiêu, giáo dục trung và tiểu học cũng hoàn toàn hoang phế.

Cách mạng kiểu Mao tóm lại là: Lấy nông dân thay cho trí thức, lấy văn mù thay cho văn nhân, nếu ta nói không bằng ngươi thì ta không cần nói nữa mà dùng vũ lực, kẻ nào thắng kẻ đó chuyên chính, ta là lưu manh mặt dày tâm đen thì còn sợ ai.

Lý Nhuệ, một thư ký của ông Mao Trạch Đông tiết lộ, khẩu hiệu “Mao Chủ tịch vạn tuế” có từ năm 1950. Vào năm đó khi ông ta phê duyệt khẩu hiệu chào mừng ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã tự mình bổ sung thêm vào, hơn chục năm sau thì khẩu hiệu này phổ biến khắp Trung Quốc.

Ông Mao Trạch Đông và ĐCSTQ tự xưng là tin vào “Chủ nghĩa Duy vật“, nhưng hành động lại tự mâu thuẫn, khiến người ta phải dở khóc dở cười. Ví như vừa ca lên một câu rằng xưa nay không tồn tại Chúa cứu thế, không có thần thánh, nhưng lại ngay lập tức lại tung hô ta chính là thần thánh của nhân dân!".
                            
Cựu Chủ tịch Mao Trạch Đông được Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phong là sư tổ, từng có bài thơ «Thấm viên xuân – Tuyết» thể hiện sự xem thường các bậc đế vương trong lịch sử. Các vua chúa như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Tống Thái Tổ, thậm chí Thành Cát Tư Hãn, tất cả đều không đáng để ông ta để mắt đến.
Khởi đầu từ năm 1949, Mao Trạch Đông làm ‘hoàng đế’ được 27 năm, tàn sát hơn 60 triệu người Trung Quốc. Ông ta dùng thủ đoạn để cướp chính quyền. Là kẻ điên cuồng với quyền lực, Mao Trạch Đông đã có âm mưu lại có cả dương mưu, lừa gạt dân chúng và khống chế các đối thủ trong Đảng, độc tài cho đến tận hơi thở cuối cùng.
  
Mao Trạch Đông vượt qua cả Hitler về vai trò đồ tể. Từ năm 1958 đến năm 1962, chính sách Đại Nhảy Vọt của ông ta đã làm chết tới 45 triệu người – làm cho nó trở thành giai đoạn có nhiều người bị giết nhất từng được ghi nhận.
         Nhà sử học Frank Dikötter, tác giả cuốn Mao’s Great Famine, (tạm dịch: Nạn đói lớn của Mao) vừa mới cho đăng bài báo trên trang History Today, tóm tắt sự kiện đã xảy ra:
      "Mao nghĩ rằng ông có thể đẩy đất nước của mình qua mặt các đối thủ bằng cách xua nông dân trên khắp cả nước vào những công xã nhân dân có quy mô cực kì hoành tráng Công ăn việc làm, nhà cửa, đất đai, đồ đạc và sinh kế của người dân đều do công xã cung cấp. Trong các bếp ăn tập thể, thực phẩm - được phân phối bằng thìa, tùy theo đức hạnh của từng người – đã trở thành vũ khí được sử dụng để buộc người dân phải tuân theo mọi chỉ thị của đảng. Vì động cơ lao động đã không còn, thay vào đó, ép buộc và bạo lực được sử dụng để buộc người nông dân đói khát phải làm việc trên những công trình thủy lợi được quy hoạch chẳng ra làm sao, trong khi đồng ruộng bị bỏ hoang.

Thảm họa khủng khiếp đã xảy ra. Từ các số liệu thống kê dân số được công bố, các nhà sử học đã ngoại suy ra rằng, hàng chục triệu người đã bị chết đói. Nhưng đến nay, nhờ những báo cáo tỉ mỉ của Đảng trong giai đoạn diễn ra nạn đói, người ta mới biết quy mô thật sự của thảm hoạ…

Hồ sơ đồ sộ và chi tiết này kể cho ta nghe câu chuyện kinh hoàng, trong đó Mao xuất hiện như một trong những kẻ giết người hàng loạt lớn nhất trong lịch sử nhân loại, ông ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất 45 triệu người, đấy là mới nói trong giai đoạn từ năm 1958 đến 1962".
 
             Mao Trạch Đông (1893-1976) kẻ giết nhiều người nhất thế giới. Ảnh: fee.org/ internet
 
Mặt khác, âm mưu thâm độc của đảng cộng sản Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam - Á đã có từ thời Mao Trạch Đông.
     Sưu tầm được bài trên mạng "Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua":
     Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956, Chủ tich Mao Trạch Đông đã nói:Chúng ta phải trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghiệp…Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thế giới
     Sau đó, tháng 9  năm 1959, tại Hội nghị của Quân uỷ trung ương, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta”.
     Cũng như sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, những người lãnh đạo Trung Quốc sau Hiệp định Pari tháng 1 năm 1973 về Việt Nam, muốn duy trì nguyên trạng ở miền nam Việt Nam. “Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc” của chủ tịch Mao Trạch Đông viết năm 1939 do hiệu sách Tân Hoa thư điếm (Dực Nam) tái bản tháng 6 năm 1949. Trong đó có đoạn viết:Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Nêpan và Hương Cảng. Pháp chiếm An Nam…”. 
 
                                                   

Đường vẽ chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài “chiếm mất” bao gồm: một phần lớn đất vùng Viễn Đông và Trung Á của Liên Xô (số 1, 17, 18), Át Xam (số 6), Xích Kim (số 4), Butan (số 5), Miến Điện (số 7), Nêpan (số 3), Thái Lan (số 10), Việt Nam (số 11), Lào, Campuchia…

Ngay từ năm 1936, chủ tịch Mao Trạch Đông kể chuyện với nhà báo Mỹ Etga Xnâu ở Diên An về thời trẻ của mình, đã bộc lộ ý nghĩ sau khi đọc một cuốn sách nhỏ nói đến việc Nhật chiếm Triều Tiên và Đài Loan, việc mất “chủ quyền”  Trung Hoa ở Đông Dương, Miến Điện và nhiều nơi khác:Đọc xong, tôi lấy làm thất vọng đối với tương lai đất nước tôi và tôi bắt đầu nhận thức rằng bổn phận của mọi người là phải đóng góp cứu nước”. (Ét-ga Xnâu: Ngôi sao đỏ trên đất Trung Hoa, Nhà xuất bản Pen-guyn, Lân đơn, 1972, tr. 159)
      Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939 có viết:Các nước đế quốc sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…”
       Ý đồ bành trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt lộ rõ ở câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963:Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á”.
         Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965:Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”.
      Về việc sử dụng lực lượng Hoa kiều, ý đồ của Bắc Kinh đã được thể hiện rõ nhất trong ý kiến của bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị:Singapore có trên 90% là người Trung Quốc, trong số dân hơn 1 triệu người thì hơn 90 vạn là người Trung Quốc. Cho nên Singapore hoàn toàn trở thành một quốc gia do người Trung Quốc ở đó tổ chức”. 
      Những người lãnh đạo Trung Quốc âm mưu nắm Việt Nam để nắm toàn bộ bán đảo Đông Dương, mở đường đi xuống Đông Nam châu Á. Trong cuộc gặp giữa đại biểu bốn đảng cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Inđônêxia và Lào tại Quảng Đông tháng 9 năm 1963, thủ tướng Chu Ân Lai nói:Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á”.
      Để làm suy yếu và nắm lấy Việt Nam, họ ra sức phá sự đoàn kết giữa ba nước ở bán đảo Đông Dương, chia rẽ ba nước với nhau, đặc biệt là chia rẽ Lào và Campuchia với Việt Nam. Đồng thời họ cố lôi kéo các nước khác ở Đông Nam châu Á đối lập với Việt Nam, vu khống, bôi xấu, hòng cô lập Việt Nam với các nước trên thế giới.
Những người cầm quyền Bắc Kinh rêu rao cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đầu năm 1974, với sự đồng tình của Mỹ, họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam để từng bước kiểm soát biển Đông, khống chế Việt Nam và toàn bộ Đông Nam châu Á, đồng thời khai thác tài nguyên phong phú ở vùng biển Đông.
      Những năm 1960 Những người lãnh đạo Trung Quốc ra sức tập hợp lực lượng ở các khu vực Á, Phi, Mỹ latinh để nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế giới” và chống Liên Xô. Để đạt mục tiêu đó, từ năm 1963 họ ráo riết vận động họp 11 đảng cộng sản, trong đó có 8 đảng ở Đông Nam châu Á hòng lập ra một thứ “Quốc tế cộng sản” mới do họ khống chế, xây dựng cái gọi là “trục Bắc Kinh- Giacacta-Phnông Pênh-Bình Nhưỡng-Hà Nội”, thông qua Inđônêxia vận động triệu tập “Hội nghị các lực lượng mới trỗi dậy” (CONEFO) để thành lập một tổ chức quốc tế đối lập với Liên hợp quốc; đồng thời vận động tổ chức Hội nghị Á-Phi lần thứ hai (dự định họp ở Angiê năm 1965). Nhưng những người lãnh đạo Trung Quốc đã không thành công trong các kế hoạch đen tối này. Đó là vì họ đi ngược lại lợi ích của cách mạng thế giới là tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc, dân chủ, vì họ vấp phải đường lối độc lập tự chủ trước sau như một của Việt Nam. Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền” theo công thức của chủ tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
      Những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, nước Việt Nam phải là một nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc. Trái lại, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu mạnh, có đường lối độc lập tự chủ và đường lối quốc tế đúng đắn là một cản trở lớn cho chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, trước hết là cho chính sách bành trướng của họ ở Đông Nam châu Á. Đó là nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế cách mạng Việt Nam, mỗi khi Việt Nam đánh thắng đế quốc thì họ lại buôn bán, thoả hiệp với đế quốc trên lưng nhân dân Việt Nam; vì sao từ chỗ giấu mặt chống Việt Nam họ đã chuyển sang công khai thù địch với Việt Nam và đi tới trắng trợn tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
      Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. 
      Pháp đến Hội nghị Giơnevơ cũng nhằm đạt được một cuộc ngừng bắn theo kiểu Triều Tiên để cứu đội quân viễn chinh Pháp, chia cắt Việt Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương.
      Rõ ràng lập trường của Trung Quốc khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại rất phù hợp với lập trường của Pháp.

“Chính quyền vươn lên từ nòng súng” — Mao Trạch Đông đẩy học thuyết đấu tranh vốn có của chủ nghĩa cộng sản lên đến một đỉnh cao mới trong thực nghiệm chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc: “bạo chính”, nô dịch nhân dân bằng khủng bố.
Chủ tịch Mao Trạch Đông và Đảng cộng sản thao túng truyền thông nhằm phục vụ mục đích của mình
Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
 
                                   Không có mô tả ảnh.
 
Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện đại vào ngày 1 tháng 10 năm 1949.

Lợi dụng vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam, đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên thế yếu với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm phán trực tiếp với Pháp để thoả thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về vấn đề Đông Dương.
      Đáng chú ý là cuộc tiếp xúc lần thứ ba ngày 17 tháng 6 năm 1954, thủ tướng Chu Ân Lai gặp trưởng đoàn đại biểu Pháp G.Biđô, đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính chất cơ bản, có hại cho nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia: Trung Quốc có thể chấp nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Campuchía, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Cính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham gia Hội nghị Giơnevơ, và đưa ra vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt Nam phải rút khỏi Lào và Campuchia.
Những điểm mà những người lãnh đạo Trung Quốc đã thoả thuận với Pháp rất phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh-Mỹ đưa ra ngày 29 tháng 6 năm 1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa Chu Ân Lai và Măngđét Phranxơ.
     Từ tháng 5 năm 1954, đoàn đại biểu Trung Quốc đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến giữa hai miền Việt Nam, và còn muốn Việt nam nhân nhượng nhiều hơn nữa, thậm chí muốn Việt Nam bỏ cả thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và đường số 5 (đường nối liền Hà Nội với Hải Phòng):Đánh giá (phương án vĩ tuyến 16) khó có thể thoả thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đấy cho Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự…”.
      Sau Điện Biên Phủ, rõ ràng là với sự giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là của Trung Quốc, quân và dân Việt Nam có khả năng giải phóng cả nước, nhưng giải pháp mà Đoàn đại biểu Trung Quốc đã thoả thuận với Đoàn đại biểu Pháp ở Giơnevơ không phản ảnh so sánh lực lượng trên chiến trường, cũng không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu chính trị của giải pháp do Đoàn đại biểu Việt Nam đề ra.

“… Cuốn sách này là nỗ lực cuối cùng ghi lại chính xác các sự kiện đối với những hành động tàn nhẫn mà tôi đã mục kích ở Việt Nam. Sách cũng bày tỏ những hy vọng của tôi về xứ sở mà tôi sinh ra, vốn vẫn tiềm tàng khả năng là một đất nước vĩ đại thực sự. Thật là chán nản khi thấy những hành vi tàn ác, vô nhân đạo vẫn tiếp tục mang danh nghĩa tổ quốc tôi, mang danh nghĩa đất nước mà tôi mến yêu, nơi tôi ra đời, một đất nước đã cho tôi quá nhiều… Nếu như chúng ta có thể hình dung ra một tương lai nhân bản hơn và nỗ lực để nó trở thành hiện thực thì đó chính là niềm hy vọng cho hòa bình trên thế giới”.
“… Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ long trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Quyền được sống là quyền trước tiên, Quyền được sống bị tước đoạt một cách phi pháp thì nói đến hàng trăm, hàng ngàn quyền khác của con người là điều vô nghĩa, là đạo đức giả…”.

Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt”  với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân.
     Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông Nam châu Á và Nam Á.

     Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.

     Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:  “Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”.

     Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình dọa: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”.

        Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”

“Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và ngụy quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.

  Những người cầm quyền Bắc Kinh bên trong thì ra sức củng cố quyền lãnh đạo của chủ tịch Mao Trạch Đông, ổn định tình hình, đẩy mạnh sản xuất, bên ngoài thì thi hành mọi biện pháp để đẩy nhanh quá trình nhích lại gần đế quốc Mỹ nhằm ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ mưu toan dùng con bài Việt Nam để đạt mục tiêu đối ngoại đó.

Theo hiệp định Pari về Việt Nam, Mỹ phải rút hết đội quân viễn chinh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị, và các bên Việt Nam cùng thành lập một Chính phủ liên hiệp ba thành phần ở miền Nam Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam, là thắng lợi của phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Đó là thất bại của sự mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam giữa chính quyền Níchxơn và những người lãnh đạo Trung Quốc thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải

     Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền Nam Việt Nam như sau:     “ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu để như vậy đâu…

      Miền Bắc có thể ủng hộ về chính trị cho miền Nam, giúp miền Nam đề ra các chính sách nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam…Khi ăn chắc, miền Bắc có thể giúp quân sự cho miền Nam, nghĩa là khi hoàn toàn chắc chắn không xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà không cho ai biết. Nhưng nói chung là không giúp.”

      Như vậy, khi không cản được nhân dân miền Nam Việt Nam “đồng khởi” thì họ cho rằng hình thức chiến đấu ở miền Nam là đánh du kích, đánh nhỏ từng đơn vị trung đội, đại đội. Làm chủ vận mệnh của mình, nhân dân Việt Nam đã đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam tiến lên vững mạnh. Cuối năm 1963, chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm sụp đổ, “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ phá sản hoàn toàn.
      Đầu những năm  1960, trong khi ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh chiến đấu chống Mỹ, những người lãnh đạo Bắc Kinh giơ cao cùng một lúc hai chiêu bài chống đế quốc Mỹ và chống Liên Xô, nhưng trên thực tế họ tiếp tục hoà hoãn với đế quốc Mỹ ở châu Á, đánh lạc hướng cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân thế giới để thực hiện mưu đồ chống Liên Xô, xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa, nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế giới”, chuẩn bị tích cực cho việc hoà hoãn và câu kết với đế quốc Mỹ.
     Trong những cuộc hội đàm với phía Việt Nam năm 1963, họ tìm cách thuyết phục Việt Nam chấp nhận quan điểm của họ là phủ nhận hệ thống xã hội chủ nghĩa và mở cho họ “một con đường” xuống Đông Nam châu Á. Cũng trong năm 1963, những người lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cái gọi là Cương lĩnh 25 điểm về đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế và đề nghị triệu tập cái gọi là hội nghị 11 đảng cộng sản, thực tế là để nắm vai trò “lãnh đạo cách mạng thế giới” và lập một “Quốc tế cộng sản” mới do Bắc Kinh khống chế. Nhằm mục đích này, họ còn hứa hẹn viện trợ ồ ạt để lôi kéo Việt Nam. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thông báo với lãnh đạo Viẹt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc sẽ viên trợ 1 ti nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên Xô. 
      Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn:Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 216).
       Sau đó bằng nhiều cách, phía Trung Quốc làm cho Mỹ hiểu rõ câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông và yên tâm rằng: “người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người”.

      Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A. Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn:Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam càng tốt” (Mô-ha-mét Hát-xe-nen Hây-can: “Những tài liệu từ Cai-rô” Nhà xuất bản Phia-ma-ri-ông, Paris, 1972, tr. 238).

Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
“Ở miền Nam Việt Nam cần ngừng (chiến đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt”. Cách mạng miền Nam nên “chia làm hai bước  . Gộp lại làm một, người Mỹ không chịu đâu. Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có mấy chục vạn quân”.
Họ hằn học nhìn thắng lợi của nhân dân Việt Nam, cho nên, từ khi nhân dân Việt Nam giành được toàn thắng, họ càng ngày càng công khai và điên cuồng thực hành một chính sách thù địch toàn diện và có hệ thống chống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Đây là một văn kiện tuyệt mật của Quân ủy trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc do Lê Xuân Thành, sinh ngày 20-3-1949 tại Quảng Đông Trung Quốc cung khai.
Thành là công an của Trung Quốc, trú quán tại 165 đường Hồng Ký, khu Tuyên Vũ, thành phố Bắc Kinh. Tháng 3 năm 1973 chạy sang Việt Nam làm gián điệp. Ngày 30-3-1973 bị bắt ở xã Ngư Thủy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Trong văn kiện đó có một đoạn như sau:
“…Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay.
… Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay.
… Vẽ bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” 

Để Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc, những người cầm quyền Bắc Kinh ra sức ngăn cản mọi hành động thống nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.
       Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế:Cần phải thành lập Mặt trận thống nhất thế giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1956).
       Đi đôi với việc phá hoại mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam, họ gây khó khăn rất lớn cho việc vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác quá cảnh đất Trung Quốc và tìm cách điều chỉnh sự viện trợ đó để hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, đặc biệt trong các mùa khô.
       Ở Campuchia, từ trước năm 1965, những người cầm quyền Trung Quốc đã trắng trợn vu cáo Việt Nam hy sinh lợi ích của cách mạng Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương, mặc dù sự thật rõ ràng là chính họ đã bán rẻ những lợi ích đó. Từ năm 1965, họ nắm Pôn Pốt, thúc đẩy y cùng đồng bọn tiến hành đấu tranh vũ trang chống chính quyền Xihanúc đang liên minh với các lực lượng kháng chiến Việt Nam và Lào. Nửa cuối năm 1969, sau khi Lon Non lên làm thủ tướng, những người cầm quyền Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Lon Non là Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phải rút khỏi các căn cứ ở Campuchia và không được dùng cảng Xihanucvin vào việc vận chuyển hậu cần. Chính trong thời gian này, bè lũ Pôn Pốt Iêngxary cũng đòi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam rút khỏi các căn cứ ở Campuchia.
        Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừa nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc đàm phán với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng:Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”.
      Từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, ngày khai mạc Hội nghị Pari đến trung tuần tháng 10 năm 1968, bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh không đưa một tin nào về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ, nhưng lại nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam cần giải quyết số phận cuộc đấu tranh của mình “không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường”, thậm chí còn đe doạ rằng: “nếu miền Nam Việt Nam không được bảo đảm thì cuối cùng sẽ đưa đến chỗ mất toàn bộ Việt Nam”.
 Ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt Nam “nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”.
      Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam, đây chính là cái mà tướng Mỹ M. Taylơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhằm làm suy yếu Việt Nam, có lợi cho chính sách bành trướng của họ.
Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt Nam lựa chọn:
Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”.

                                  Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị Việt - Trung

                                                   Chủ tịch Hồ Chí mInh và Mao Trạch Đông 

Đối với việc giải quyết vấn đề Lào tại Giơnevơ năm 1961-1962, họ còn chủ trương chia nước Lào theo chiều ngang thành hai vùng: vùng giải phóng ở phía bắc, vùng do nguỵ quyền Viêng Chăn kiểm soát ở phía nam. Đó là một âm mưu thâm độc nhằm buộc lực lượng cách mạng Lào phải lệ thuộc vào Trung 

Quốc và cô lập cách mạng miền nam ViệtNam. Nhưng những nhà lãnh đạo cách mạng Lào kiên quyết giữ vững đường lối riêng của mình, lực lượng kháng chiến Lào ngày càng giành nhiều thắng lợi buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1962 công nhận nền trung lập của Lào và nhận có đại biểu của Mặt trận Lào yêu nước trong Chính phủ liên hiệp thứ hai ở Lào.

Sau khi thuyết phục và gây sức ép yêu cầu Đảng ta từ bỏ Liên Xô đi theo Trung Quốc không được, Đặng Tiểu Bình rất bực bội. Buổi ông ta rời Hà Nội, Bác và mấy đồng chí đến tiễn tại nhà khách. Lúc Bác tới ông Đặng đang ngồi trên ghế, nhưng khi thấy Bác vào ông ta không đứng dậy theo phép lịch sự. Mấy đồng chí đi theo Bác không ngờ lại có chuyện đó, trong khi chưa biết xử trí ra sao thì thấy Bác nhanh nhẹn bước tới chỗ ông Đặng ngồi, một tay chìa ra bắt tay ông Đặng, một tay vỗ nhẹ mấy cái vào vai ông ta rồi từ từ kéo ông ta đứng đậy. Tất nhiên là ông Đặng phải đứng lên theo. 

Cần phải nói thêm kẻo một số bạn trẻ không rõ, đối với người Việt Nam (và Trung Quốc), chỉ có những bậc bề trên, hoặc nhiều tuổi hơn mới được quyền vỗ nhẹ vào vai người được coi như bậc dưới hoặc ít tuổi hơn. Hành động nhỏ này thể hiện rõ bản lĩnh, nghệ thuật ứng xử tuyệt vời của Hồ Chí Minh"...

Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ:Lần này nếu các đồng chí chấp nhận bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”.
       Đe dọa cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.
        Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa, tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói: “Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?”. Thực tế họ đã giảm kim ngạch viện trợ năm 1970 hơn 50% so với năm 1968.
      Sự thật là không phải đến năm 1968 những người lãnh đạo Bắc Kinh mới dùng vấn đề viện trợ để ép Việt Nam. Tháng 4 năm 1966, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với một nhà lãnh đạo Việt Nam rằng năm 1964 “đồng chí Mao Trạch Đông có phê bình chúng tôi là quá nhiệt tâm đối với vấn đề Việt Nam. Bây giờ chúng tôi mới thấy rõ đồng chí Mao nhìn xa”.
Phía Việt Nam đã trả lời: “Sự nhiệt tình của một nước xã hội chủ nghĩa đói với một nước xã hội  chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3 triệu người … Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.
       Từ tháng 11 năm 1968, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra tuyên bố tỏ ý muốn nối lại các cuộc đàm phán Trung Mỹ ở Vácsava và cùng với Mỹ ký một thoả thuận cùng tồn tại hoà bình. Tiếp đó phía Trung Quốc đã tích cực đáp ứng những tín hiệu của phía Mỹ. Sau khi lên làm tổng thống, Níchxơn báo cho phía Trung Quốc là các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tiến hành ở Trung Quốc. Phía Trung Quốc đã trả lời là “ bản thân Níchxơn có thể đến Bắc Kinh hoặc cử một phái viên đến để thảo luận về vấn đề Đài Loan” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 11).
      Thông báo cho phía Việt Nam biết cuộc đi thăm Bắc Kinh lần thứ nhất của Kítxinhgiơ, ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc đã nói: “Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kítxinhgiơ. Kítxinhgiơ nói rằng Mỹ gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài Loan. Mỹ nói có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài Loan. Đối với Trung Quốc, vấn đề rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề số 1. Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên hợp quốc là vấn đề số 2”.
       Phía Trung Quốc dùng “củ cà rốt” viện trợ: nếu năm 1968 vì phản đối Việt Nam đàm phán với Mỹ họ đã giảm kim ngạch viện trợ cho Việt Nam thì năm 1971 và năm 1972, để lôi kéo Việt Nam đi vào chiều hướng của Bắc Kinh thoả hiệp với Mỹ, họ đã dành cho Việt Nam viện trợ cao nhất của họ so với những năm trước đó. Đây cũng là thủ đoạn nhằm che đậy sự phản bội của họ nhằm xoa dịu sự công phẩn của nhân dân Việt Nam.
      Đi đôi với tăng thêm viện trợ là sự thúc ép liên tục để Việt Nam chấp nhận giải pháp của Mỹ. Ngày 18 tháng 7 năm 1971, phía Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam phương án bốn điểm của Mỹ: rút quân và thả tù binh Mỹ trong 12 tháng kể từ ngày 1 tháng 8 năm 1971, ngừng bắn toàn Đông Dương và giải pháp theo kiểu Giơnevơ năm 1954. Về rút quân, “vì thể diện” Mỹ muốn để lại một số cố vấn kỹ thuật; về chính trị “Mỹ không muốn bỏ Nguyễn Văn Thiệu cũng như không muốn bỏ Xirích Matắc”
      Trong cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 11 năm 1971 họ nói:Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ nguỵ quyền Sài Gòn là lâu dài”.
       Sau khi Níchxơn kết thúc chuyến đi thăm Trung Quốc, Kítxinhgiơ nói với các nhà báo ngày 1 tháng 3 năm 1972 rằng từ nay Níchxơn và bản thân y “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam” (Me-vin và Béc -na Can-bê: Kít-xinh-giơ. Nhà xuất bản Lít-tơn Brao, Tô-rông-tô, 1974, tr.283).
      Từ tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom lại và thả mìn phong toả các cảng miền bắc Việt Nam và đánh phá ác liệt miền Nam Việt Nam nhằm đối phó với cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm 1972 của nhân dân Việt Nam, cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.  Bước phiêu lưu quân sự này chính là hậu quả rõ ràng của sự đồng loã giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Níchxơn.
Và ngày 5 tháng 12 năm 1972, đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn chuyển tới phía Việt Nam lời đe doạ của Kitxinhgiơ:Đàm phán đã đến lúc có hậu quả nghiêm trọng: Bắc Việt Nam đòi Mỹ hoặc trở lại hiệp định cũ, hoặc nhận một hiệp định xấu hơn: Mỹ không thể chấp nhận cả hai điều kiện đó. Nếu Việt Nam cứ giữ lập trường đó thì đàm phán đứt quãng và Mỹ sẽ có mọi hành động bảo vệ nguyên tắc của mình”.
      Trước sự câu kết của Bắc Kinh với Oasinhtơn phản bội nhân dân Việt Nam , nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ và tin tưởng vào thắng lợi của mình.
       Khi phía Trung Quốc thông báo với phía Việt Nam rằng trong chuyến thăm Trung Quốc, Níchxơn cũng sẽ cùng những người lãnh đạo Trung Quốc bàn về vấn đề Việt Nam, những người lãnh đạo Việt Nam đã thẳng thắn nói:Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam . Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”.
       Khi phía Trung Quốc thông báo chuyến đi thăm Trung Quốc của Níchxơn, những người lãnh đạo Việt Nam nói:Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, nhân dân Việt Nam phải thắng. Tới đây, đế quốc Mỹ có thể đánh phá trở lại miền bắc ác liệt hơn nữa, nhưng nhân dân Việt Nam không sợ, nhân dân Việt Nam nhất định thắng”.
       Bất chấp mọi sức ép của Bắc Kinh và Oasinhtơn, nhân dân Việt Nam không những không nhân nhượng về những vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn trừng trị đích đáng đế quốc Mỹ về những tội ác của chúng và cuối cùng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27 tháng 1 năm 1973.
       Dư luận còn nhớ bọn đế quốc và phản động đã gây ra cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lật đổ chính phủ của ông hoàng Nôrôđôm Xihanúc, đưa lon Non lên cầm quyền. Lon Non vốn là người Campuchia gốc Hoa, lại là người của Mỹ, cho nên những người lãnh đạo Trung Quốc muốn dùng y và bỏ rơi ông Xihanúc. Tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Trung quốc nói với đại sứ Việt Nam:Xihanúc không có lực lượng. Việt Nam cần ủng hộ Lon Non; Trung Quốc đón Xihanúc  nhưng vẫn quan hệ tốt với đại sứ quán của PhnômPênh “.

                                DengCarter                                         29/01/1979: Đặng và Carter ký thỏa thuận lịch sử

  Theo giáo sư sử học Nayan Chanda trong sách "Brother Enemy, The War after the War", NXB Harcourt Brace Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố của Mỹ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc tấn công Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", "Việt Nam ráng chịu", "Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô bạo của Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
 
 
 Bức ảnh này chụp buổi lễ tiễn Pol Pot tại Bắc Kinh ngày 22 tháng 10 năm 1977- là hình ảnh cuối cùng của Pol Pot khi ông ta đang nắm quyền trước khi bị đẩy vào các khu rừng nhiệt đới hơn hai năm sau đó vào ngày 07 tháng 1 năm 1979. Với hình ảnh Pol Pot mỉm cười vẫy tay ở phía trước, Đặng Tiểu Bình ở bên trái và Hoa Quốc Phong ở phía trước. Giữa Hoa và Pol Pot là Ieng Sary, Bộ trưởng ngoại giao và cũng là em (anh) rể của ông ta . Trong khi Việt Nam chú thích bức ảnh này này như là chuyển thăm của Pol Pot tới Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình đã vắng mặt trong ngày tổ chức lễ đón Pol Pot. Việt Nam đã sử dụng bức ảnh chính thức này của Trung Quốc vào mục đích tuyên truyền để chứng minh sự thông đồng giữa Khmer Đỏ và Bắc Kinh.
 
 Trong chuyến thăm Trung Quốc, Pol Pot (bên trái) đã nhận được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình cho sự “thành công” của “Kampuchea Dân chủ” trong (việc xây dựng) một thiết chế xã hội “phi giai cấp” và trong cuộc chiến chống lại Việt Nam. Ảnh lưu hành chính thức của Trung Quốc (không ghi thời điểm chụp). 
 
  Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Campuchia, Sun Hua, bên trái, cùng với Ieng Sary nâng cốc chúc mừng nhau tại Phnom Penh – Bức ảnh không ghi ngày tháng được Quân đội Việt Nam tìm thấy trong các tài liệu lưu trữ trong tháng 1 năm 1979 bị Khmer Đỏ bỏ lại khi họ chạy trốn khỏi Phnom Penh.
 
                                 Pol Pot, bên trái phía trước, đi với phái đoàn Trung Quốc do Uông Đông Hưng (phía trước, bên phải) trong chuyến thăm của phái đoàn này đến Kampuchea Dân chủ vào ngày 05 Tháng Mười Một 1978. Khieu Samphan và Noun Chea đi theo phía sau. Trong chuyến thăm này, diễn ra hai tháng trước khi những người này chạy trốn xe tăng Việt Nam để vào rừng, Pol Pot được cho là đã yêu cầu viện trợ quân sự khẩn cấp từ Trung Quốc, nhưng yêu cầu này đã bị từ chối.
 
 Pol Pot, bên trái phía trước, đi với phái đoàn Trung Quốc do Uông Đông Hưng (phía trước, bên phải) trong chuyến thăm của phái đoàn này đến Kampuchea Dân chủ vào ngày 05 Tháng Mười Một 1978. Khieu Samphan và Noun Chea đi theo phía sau. Trong chuyến thăm này, diễn ra hai tháng trước khi những người này chạy trốn xe tăng Việt Nam để vào rừng, Pol Pot được cho là đã yêu cầu viện trợ quân sự khẩn cấp từ Trung Quốc, nhưng yêu cầu này đã bị từ chối.
 
 Ieng Sary, Pol Pot, và Son Sen (trái sang phải) cùng nhau tại Bình Nhưỡng. Bức ảnh không đề ngày này đã được các nhà báo thu thập được sau một cuộc tấn công (của Việt Nam) vào các căn cứ của Khmer Đỏ.

Ngay sau khi nổ ra cuộc đảo chính ở PhnômPênh và ông Xihanúc tới Bắc Kinh, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang Trung Quốc thuyết phục những người lãnh đạo Trung Quốc nên ủng hộ ông Xihanúc, đồng thời trực tiếp biểu thị với ông Xihanúc sự ủng hộ mạnh mẽ của Việt Nam đối với ông ta và lực lượng kháng chiến Khơme.
        Ngày 23 tháng 3 năm 1970, ông Xihanúc công bố bản tuyên cáo 5 điểm lên án cuộc đảo chính của Lon Non và kêu gọi nhân dân Campuchia đoàn kết chống đế quốc Mỹ và bè lũ Lon Non.
       Ngày 25 tháng 3 năm 1970, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố hoàn toàn ủng hộ bản Tuyên cáo đó.
       Ngày 7 tháng 4 năm 1970, Chính phủ Trung Quốc mới ra tuyên bố ủng hộ Tuyên cáo của ông Xihanúc. Tuy vậy, họ tiếp tục có những cuộc tiếp xúc bí mật với chính quyền Lon Non.  Chỉ sau khi Níchxơn đưa quân Mỹ xâm lược Campuchia, gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trên thế giới và ngay cả ở Mỹ, Chính phủ Trung Quốc mới cắt đứt quan hệ với chính quyền Lon Non ngày 5 tháng 5 năm 1970.       Trong lúc tìm cách nắm trọn vấn đề Campuchia, những người lãnh đạo Trung Quốc còn mưu toan nắm con đường vận chuyển quân sự qua ba nước Đông Dương. Trong mấy năm liền cho đến năm 1972, họ đề nghị giúp làm đường và vận chuyển hàng phục vụ chiến trường từ miền bắc đến miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia trên con đường mòn Hồ Chí Minh và hứa cung cấp cho Việt Nam đủ xe, người lái và khoảng 20 vạn quân nhân Trung Quốc để bảo đảm công việc này. Ý đồ của họ là qua đó nắm toàn bộ vấn đề Đông Dương để buôn bán với Mỹ và chuẩn bị bàn đạp đi xuống Đông Nam châu Á.   Tất nhiên phía Việt Nam không chấp nhận đề nghị đó.
       Nếu trước đây họ ngấm ngầm chia rẽ nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nhằm cô lập Việt Nam thì trong thời kỳ này họ bắt đầu dùng bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary để phá hoại cách mạng ba nước Đông Dương, tích cực chuẩn bị biến Campuchia thành bàn đạp để tiến công Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, từ đó bành trướng xuống Đông Nam châu Á sau này.
        Họ đã phơi trần bộ mặt ghê tởm của kẻ phản bội: phản bội nhân dân Việt Nam cũng như phản bội nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
       Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Ở miền Nam Việt Nam cần ngừng (chiến đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt”. Cách mạng miền Nam nên “chia làm hai bước  . Gộp lại làm một, người Mỹ không chịu đâu. Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có mấy chục vạn quân”.
Thủ tướng Chu Ân Lai thì nói: “Trong một thời gian chưa có thể nói dứt khoát là 5 năm hay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì càng tốt; tranh thủ thời gian đó mà nhân dân miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia thực hiện hoà bình, trung lập một thời gian”.
      Những người cầm quyền Bắc Kinh còn khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam, đừng rút lui khỏi Đông Nam châu Á”. (Theo tướng A. Hai-gơ, báo Mỹ Người hướng dẫn khoa học cơ đốc, ngày 20 tháng 6 năm 1979.)
      Thâm độc hơn nữa, họ tìm cách lôi kéo nhiều tướng tá và quan chức nguỵ quyền Sài Gòn hợp tác với họ, thậm chí cho người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào những ngày cuối của chế độ Sài Gòn để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và đan miền Nam Việt Nam.
        Từ năm 1973, những người cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, nhằm làm yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trang giải phóng hoàn toàn miền Nam.
        Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế. Ngày 26 tháng 12 năm 1973, phía Việt Nam đề nghị mở cuộc đàm phán để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, nhằm sử dụng phần biển thuộc Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18 tháng 1 năm 1974 phía Trung Quốc trả lời chấp thuận đề nghị trên, nhưng họ đòi không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc Bộ”, vì việc đưa nước thứ ba vào thăm dò “không có lợi cho sự phát triển kinh tế chung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”. Đó chỉ là một lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy cuộc đàm phán về đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với thái độ trịch thượng nước lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ tháng 10 năm 1977 nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam để duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Trung.
 
                                Những hố chôn tập thể người dân vô tội bị bọn diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary sát hại, được phát hiện sau ngày giải phóng 7/1/1979 tại “Cánh đồng chết” Choeung Ek, Campuchia. (Ảnh: TTXVN)
 Những hố chôn tập thể người dân vô tội bị bọn diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary sát hại, được phát hiện sau ngày giải phóng 7/1/1979 tại “Cánh đồng chết” Choeung Ek, Campuchia. (Ảnh: TTXVN)
 
                                 Bài 2: Thực hiện quyền tự vệ chính đáng
                  Pháo binh ta bảo vệ biên giới Tây Nam tháng 9/1977. Ảnh: TTXVN 
Bộ đội ta truy kích lính Pôn Pốt bảo vệ biên giới Tây Nam cuối năm 1978. Ảnh: Vũ Xuân Bân
 
Hơn nữa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tức là một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân nguỵ Sài Gòn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông.
Sau Hiệp định Pari về Việt Nam, theo lệnh của Bắc Kinh, bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary thi hành một chính sách hai mặt đối với Việt Nam: vừa dựa vào Việt Nam vừa chống Việt Nam.
        Mặt khác, bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary tìm mọi cách chống Việt Nam. Chúng vu cáo Việt Nam ký kết Hiệp định Pari là “phản bội Campuchia một lần nữa” để kích động hận thù dân tộc, gây tâm lý chống Việt Nam và kiếm cớ thanh trừng những người Campuchia không tán thành đường lối của chúng. Nhiều lần chúng tổ chức những vụ đánh phá, cướp bóc kho tàng, vũ khí, tiến công bệnh viện và nơi trú quân của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đặt trên đất Campuchia. Bằng những thủ đoạn rất thâm độc, kể cả việc thủ tiêu bí mật những cán bộ cách mạng chân chính, chúng ra sức củng cố vị trí trong Đảng, nắm toàn bộ quyền lực để biến Đảng cộng sản Campuchia thành một đảng phụ thuộc Bắc Kinh.
Về phần những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc.
       Họ muốn Việt Nam bị chia cắt lâu dài, nhưng nhân dân Việt Nam đã đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất nước nhà.
        Năm 1975, khi chào mừng nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc cũng nói “sẽ tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa nhằm củng cố thành quả thắng lợi, thống nhất và xây dựng Tổ Quốc của nhân dân Việt nam”. Thật ra đây chỉ là lời tuyên bố giả dối để che dấu sự hằn học của họ đối với sự thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam đang làm nức lòng tất cả những lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới, che giấu những kế hoạch đen tối của họ nhằm chống lại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
       Giấu mặt chống Việt Nam không đạt kết quả mong muốn, những người cầm quyền Trung Quốc quay ra công khai chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn, kể cả bằng đe dọa vũ lực và dùng vũ lực.
        Ở phía tây nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh, sau khi tập trung 19 sư đoàn bộ binh (trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh) đến sát biên giới Việt Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1978, bè lũ Pôn pốt – lêng xa ry đã xử dụng những sư đoàn tinh nhuệ nhất của chúng, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh (cách Sài gòn 100 km, với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm yếu Việt Nam để quân Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía bắc.  
 
                    Một nhóm trong đội thanh niên xung kích ĐHSP Hà Nội 1 trên đường trở về
                     sau chuyến đi biên giới năm 1979 (Ảnh: Mạnh Thường).
 
 Xe tăng Trung Quốc bị bộ đội ta bắn cháy trong cuộc chiến tranh biên giới (Ảnh: Mạnh Thường).
 
Ở phía bắc, những người cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân, gồm nhiều quân đoàn và sư đoàn độc lập, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, điên cuồng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1000 km. Quân của bọn phản động Trung Quốc đi đến đâu là tàn sát dân thường, kể cả phụ nữ, trẻ sơ sinh, phá hủy triệt để các bản làng, chùa chiền, nhà thờ, trường học, vườn trẻ, bệnh viện, nông trường, lâm trường v.v.. Chúng đã hành động với sự man rợ của một đạo quân ăn cướp thời trung cổ kết hợp với những thủ đoạn tinh vi của các đội quân xâm lược của đế quốc ngày nay.
      Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới lên án và một bộ phân nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979 họ đã buộc phải tuyên bố rút quân, và sau đó đã phải nhận ngồi đàm phán với phía Việt Nam.
        Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dù được nguỵ trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc.

viet nam trung quoc
Nhà Xuất Bản Sự Thật
Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua là một văn kiện quan trọng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công bố ngày 4 tháng 10 năm 1979 nhằm vạch trần bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh đối với nước ta trong suốt một thời gian dài. Cuốn sách này gồm toàn văn bản văn kiện nói trên.  
Hà Nội /Tháng 10 năm 1979/Nhà Xuất Bản Sự Thật. 
      Khi một đoàn khách du lịch đến thăm Bảo tàng Diệt chủng Tuol Sleng, nơi trước kia từng là trường học sau đó chuyển thành nhà tù và trung tâm tra tấn dưới thời Khơ me Đỏ, người hướng dẫn viên dừng lại và hỏi có ai trong đoàn đến từ Trung Quốc không?

      Khi không thấy cánh tay nào giơ lên, anh tiếp tục kể về vai trò của chính quyền Trung Quốc trong nạn diệt chủng do Khơ me Đỏ gây ra từ năm 1975-1979, khiến ít nhất 1.7 triệu người Campuchia thiệt mạng.

      Sau đó người hướng dẫn viên giải thích vì sao anh hỏi xem có ai trong đoàn đến từ Trung Quốc không: “Vì người Trung Quốc rất tức giận khi tôi nói rằng chính vì chính quyền Trung Quốc nên Pol Pot mới có thể giết hại nhiều người như vậy. Họ nói đó không phải sự thật và: “Giờ chúng ta là bạn rồi, đừng nói về quá khứ.””
Trong một phát biểu trên truyền hình vào tháng 3/2015, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói:  “Là lãnh đạo của một quốc gia, khi thừa kế thành quả từ những người tiền nhiệm, họ cũng cần phải gánh vác trách nhiệm về những tội ác của thế hệ trước". Đối chiếu với phát biểu đó, một số nhà sử học độc lập từ Trung Quốc đã nhấn mạnh vai trò của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong tội ác diệt chủng tại Campuchia thời Khơ me Đỏ. Nhà sử học Zhang Lifan phát biểu: “Chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền những việc mà họ thấy có lợi và tránh né những vấn đề mà họ có thể bị chỉ trích, bằng cách kiểm duyệt truyền thông và cấm xuất bản sách”.
      Theo bài viết của tác giả Dan Levin trên Thời báo New York, trong thập niên 70, ông Mao Trạch Đông muốn tạo dựng một nước chư hầu trong thế giới các nước đang phát triển để đối chọi với sự ảnh hưởng của Mỹ và Liên Xô. Ra sức mua chuộc và bức hại Việt Nam, muốn biến Việt Nam thành kẻ thần phục,thành tên lính xung kích của mình để dần khống chế, lấn chiếm cả Đông Nam - Á không được, lũ cầm quyền Trung Quốc quay sang sử dụng con bài Pol Pot – Ieng Sary.
     Trong một cuộc phỏng vấn, ông Andrew Mertha, tác giả cuốn sách “Brothers in Arms: China’s Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979,” (tạm dịch: “Huynh đệ sát cánh: Viện trợ của Trung Quốc cho Khmer Đỏ, 1975-1979”) cho biết: “Để chứng tỏ là một thế lực đang trỗi dậy, chính quyền Trung Quốc cần thiết lập vây cánh, và họ chọn Campuchia.” Theo ông Mertha, Giám đốc chương trình Nghiên cứu Trung Quốc và châu Á Thái Bình Dương tại Đại học Cornell, Trung Quốc đã cung cấp ít nhất 90% viện trợ nước ngoài cho Khơ me Đỏ, từ lương thực và thiết bị xây dựng đến xe tăng, máy bay và trọng pháo. Thậm chí khi Khơ me Đỏ đang tàn sát người dân Campuchia thì các kỹ sư Trung Quốc và các cố vấn quân sự tiếp tục đào tạo đồng minh Cộng sản này ở Campuchia. Ông nói: “Nếu không có trợ giúp của chính quyền Trung Quốc thì chính quyền Khơ me Đỏ đã không thể tồn tại được 1 tuần.”.
     Theo lời khai của cựu viên chức Khơ me Đỏ, Youk Chhang, một người còn sống sót thời diệt chủng và từng là giám đốc Trung tâm Tài liệu Campuchia, thì: “Các cố vấn Trung Quốc đã ở đây, sát cánh cùng Khơ me Đỏ, từ cai ngục đến các lãnh đạo cao nhất. Nhưng chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận và xin lỗi về điều này.” Theo tờ The Diplomat, các học giả cho rằng có khoảng 5.000 cố vấn và kỹ thuật viên của Trung Quốc có mặt tại Campuchia thời điểm đó để hỗ trợ chính quyền Khơ me Đỏ.
Lao Mong Hay, cựu giám đốc của Viện Dân chủ Khmer tại Phrom Penh nói: “Trung Quốc nợ người dân Campuchia một lời xin lỗi. Họ đã ủng hộ Khơ me Đỏ trước và trong khi nắm chính quyền bất kể điều gì xảy ra với người dân Campuchia.” Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã viện trợ 1 tỷ USD cho Khơ me Đỏ trước năm 1979 và thêm 1 tỷ USD nữa sau năm 1979 để họ đánh lại quân Việt Nam ở Campuchia.


                                 Quân Việt Nam ở Campuchia
               Năm nay tròn 25 năm ngày quân đội Việt Nam triệt thoái khỏi Campuchia.

                     Bộ đội Việt Nam tại Campuchia

Hơn 39.000 binh lính VN đã thiệt mạng trong khoảng mười năm can thiệp ở Campuchia.
                              Các lãnh đạo Khmer Đỏ
       Liên Hợp Quốc từng cho phép chính quyền Khmer Đỏ sau khi bị sụp đổ được giữ ghế ở LHQ.

                   Xét xử Khmer Đỏ

Trung Quốc không ủng hộ nhiều cho phiên tòa xét xử Khmer Đỏ, theo nhà nghiên cứu người Campuchia
 
     Nguyên nhân của diệt chủng đã được thế giới phân tích kỹ, phần lớn chuyên gia cho rằng chính quyền Pol Pot đã nóng vội thực thi Chủ nghĩa Cộng sản một cách cực đoan và bạo lực. Mong muốn của chính quyền Khơ me Đỏ là hoàn thành Chủ nghĩa Cộng sản “trong sạch” trong vài ba năm, tiêu diệt hết những gì khác biệt. Dù vậy nguồn gốc phải xuất phát từ những học thuyết và tư tưởng ảnh hưởng đến Pol Pot từ ban đầu.
    Thực tế, Pol Pot là người tôn thờ Mao Trạch Đông. Đầu năm 1965, Pol Pot đến thăm Trung Quốc 4 lần để đích thân nghe Mao Trạch Đông thuyết giảng. Có lẽ đó là một mớ hổ lốn lý luận cách mạng vô sản và cách hiểu sai nghĩa những câu nói của Lão Tử. Chẳng hạn, Lão Tử từng nói: "Dứt thánh bỏ trí dân lợi gấp trăm, dứt nhân bỏ nghĩa dân lại hiếu từ, dứt xảo bỏ lợi, không có trộm giặc", "Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì không làm cho dân khôn lanh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu, thuần phác, dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu", và: "Chính lệnh rõ ràng thì dân kiêu bạc", hay:  "Dân không sợ chết thì sao lại dùng tử hình dọa dân? Nếu làm cho dân luôn sợ chết mà có kẻ nào phạm pháp ta cũng bắt được và giết hết thì ai còn dám phạm pháp nữa?".   
      Ngay từ tháng 11/1965, Pol Pot đã ở Trung Quốc 3 tháng để đàm luận với các lãnh đạo Trung Quốc về các lý thuyết như “quyền lực chính trị lớn lên từ nòng súng”, “đấu tranh giai cấp”, “chuyên chính vô sản” v.v… Sau đó, những điều này đã trở thành cơ sở cho cách thức Pol Pot cai trị Campuchia. Sau khi quay trở về Campuchia, Pol Pot đổi tên đảng của mình thành Đảng Cộng sản Campuchia và dựng lên các cơ sở cách mạng theo mô hình quây tròn các thành phố khỏi các vùng nông thôn của ĐCSTQ. Có thể coi Trung Quốc đã ‘xuất khẩu’ những ‘Cách mạng văn hóa’, ‘Đại nhảy vọt’ sang đất nước Campuchia dưới thời Khơ me Đỏ.
      Sau chiến thắng của Đảng Cộng sản Campuchia năm 1975, Pol Pot đã vội vã bắt đầu thiết lập Chủ nghĩa xã hội — một thiên đường trong xã hội loài người — không có khác biệt giai cấp, không có cách biệt giữa thành thị và nông thôn, không có tiền tệ và thương mại. Cuối cùng thì, các gia đình đã bị xé nát và thay thế bằng các đội lao động nam và các đội lao động nữ. Tất cả đều phải làm việc và ăn chung, và mặc các bộ quần áo đồng phục cách mạng màu đen hoặc quần áo bộ đội. Các cặp vợ chồng chỉ được gặp nhau một tuần một lần khi được duyệt. Tuyên bố rằng đất nước bắt đầu lại từ đầu và gọi là “Năm số 0”, Pol Pot đã cách ly người dân khỏi thế giới và biến các thành phố trở lên hoang vắng, loại bỏ tiền tệ và sở hữu cá nhân, loại bỏ tôn giáo và thiết lập các hợp tác xã nông thôn. Bất cứ ai bị coi là trí thức đều bị giết, ngay cả những người đeo kính hoặc biết ngoại ngữ. Các bệnh viện và các bác sỹ cũng bị xóa sổ.

                      Ảnh: Lính Trung Quốc bị quân dân Việt Nam bắt năm 1979. Nguồn Internet
 
      ĐCSTQ không chỉ ảnh hưởng đến Khơ me Đỏ về tư tưởng mà còn các biện pháp thực thi bạo lực. Các nhà tù thời Khơ me Đỏ nổi tiếng các hình thức tra tấn và giết người vô tội vạ. Những ít người biết rằng chính các “các chuyên gia và các kỹ thuật viên chuyên nghiệp” của chính quyền Trung Quốc đã truyền dạy cho Khơ me Đỏ tất cả các cách tra tấn này. Trung Quốc thậm chí còn đào tạo những người chụp ảnh để chuyên chụp ảnh các tù nhân trước lúc họ bị giết chết để lưu lại làm hồ sơ hoặc là để giải trí. Các hình thức tra tấn khủng khiếp còn được ĐCSTQ tiếp tục khai thác trong nhà tù ở chính đất nước họ trong nhiều năm về sau.
 
Rõ ràng là, nếu tội ác diệt chủng của Khơ me Đỏ mà không dựa vào các lý thuyết và hỗ trợ vật chất của ĐCSTQ, thì nó đã không thể thực hiện được. Như vậy Trung Quốc đã đóng vai trò lớn trong việc 1,7 triệu người dân Campuchia bị giết hại dã man, một trong những vụ tàn sát lớn nhất của thế kỷ 20. 

                                          Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh - Tháng 6/1964

         Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt, người lấy "dĩ bất biến, ứng vạn biến" làm phương châm hành động. 

   *** 
 

      Tức nước vỡ bờ, ngay từ năm 1975, trong đất nước Cam-pu-chia đã nhóm lên những ngọn lửa phản kháng. Bắt đầu từ chính những cán bộ, đảng viên trong hàng ngũ của Pôn Pốt, sau đó, lan dần sang các tầng lớp công nhân, trí thức, nông dân. Từ năm 1975 đến 1978, không chịu nổi chế độ hà khắc của bọn Pôn Pốt, nhân dân Cam-pu-chia ở nhiều vùng nổi dậy chống lại chúng. Các phong trào tự phát nổi lên với các khẩu hiệu: “Đòi lật đổ chính quyền xã, huyện”, “Hòa bình rồi, đừng chiến tranh nữa” ở Kông-pông Thom, Xiêm Riệp, “Đòi cho tự lập gia đình”, “Bãi bỏ hôn nhân tập thể”, “Cải thiện đời sống cho chúng tôi” ở vùng Tây Nam Cam-pu-chia, “Đừng giết người Chàm” ở Kông-pông Chàm, “Đòi tự do đi lại”, “Đòi đoàn kết dân tộc”, “Đòi cứu nguy cho Quốc vương Xi-ha-núc”, “Yêu cầu quốc tế can thiệp” ở Phnôm Pênh... Nhưng càng đấu tranh, nhân dân Cam-pu-chia càng bị đàn áp, giết chóc, số người ly khai ra rừng lánh nạn đến hơn 10 vạn.
     Trong hàng triệu người Cam-pu-chia phản kháng chế độ Pôn Pốt, sự phản kháng của những người là lãnh đạo đảng các cấp, chỉ huy quân đội, đảng viên của chế độ Pôn Pốt mang ý nghĩa đặc biệt. Chính họ là những người nhen lại ngọn lửa cách mạng ở đất nước Cam-pu-chia, những người xác định con đường cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, lãnh đạo nhân dân Cam-pu-chia hồi sinh đất nước, xây dựng xã hội mới.
 
                                   
Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón cấp lãnh đạo Khmer Đỏ tại Bắc Kinh, từ trái: Mao Trạch Đông, Pol Pot và Ieng Sary. Khmer Đỏ rập khuôn theo Mao, được hậu thuẫn và viện trợ tối đa của Bắc Kinh, đã tiến chiếm Nam Vang 17.04.1975 khởi đầu một chế độ diệt chủng với 2 triệu người chết, trong đó không ít nạn nhân là người Việt, người Chăm Islam trong khoảng thời gian từ 1975-1979. [nguồn: photo AFP]
 
                                 https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiRvBmeFOAS7w9rfa8qbR_WdglU4b4jVMW5XzFrzyJZq_DQrjzdXxhJetdkW_CYpych8GolIxztOu17MKFYtZo8tXycVZzZSCtUnZNpqf8wzHavAgt7MVP1io6MECLVyqh7zfQbcvScy9Iq/s1600/65.png 
                       Pol Pot gặp gỡ Đặng Tiểu Bình, tháng 9/1977, tại Bắc Kinh. (Ảnh: Internet)
 
                                co_van_tq-can_bo_khmer_1 
Bộ trưởng Quốc Phòng Khmer Đỏ Son Sen (giữa), đứng bao quanh bởi các cố vấn Trung Quốc 1977 [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia].
 
                               co_van_tq-can_bo_khmer_2
Cán bộ Khmer Đỏ Um Sarun đứng giữa, cùng với các cố vấn quân sự Trung Quốc, đám cố vấn TQ cũng mặc pyjama đen cổ quấn khăn rằn và hiện diện rất kín đáo [nguồn: Trung tâm Tài liệu Cambodia]
 
                                 
 
 Ngày 17 tháng 4 năm 1975, lực lượng Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh tiến vào thủ đô Campuchia, đánh dấu bước ngoặt quyết định của nội chiến.
 
Tháng 6-1977, ông Hun Xen, một cán bộ chỉ huy trung đoàn, ly khai quân Pôn Pốt, dẫn đầu 16 người chạy sang Việt Nam. Cũng trong năm 1977, nhiều cán bộ Cam-pu-chia các tỉnh Đông Bắc chạy sang Gia Lai, Kon Tum. Đó là số cán bộ tập kết ra miền Bắc, về nước thấy sự phản đảng của bọn Pôn Pốt nên chạy trở lại Việt Nam, gồm đồng chí Bu Thoong, Xoi Keo, Đi Phin… Các ông Pen Gút, Hưu Xem, Phách Xem, Pen Ủng, đoàn của ông  Úc Bun-xươn chạy sang Tây Ninh; ông Chăn Ven, ông Xim Sông chạy sang Quân khu 9. Tiếp đó là các ông Hêng Xom-rin, Chia Xim. Đến gần cuối năm 1978, đã có 107 người là lãnh đạo từ cấp trung đoàn tới cấp quân khu Cam-pu-chia chống chế độ Pôn Pốt sang Việt Nam.
     Được sự giúp đỡ tận tình của Việt Nam, những người ly khai chế độ Pôn Pốt mà hầu hết là đảng viên Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia tiến hành tập hợp lực lượng, xây dựng đường lối giải phóng nhân dân Cam-pu-chia. Từ ngày 26 đến 29-11-1978, ban tổ chức Đại hội Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tại Trường Công an Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh), có 108 đại biểu gồm: Đoàn cán bộ tập kết ra miền Bắc năm 1954 rồi ở lại Việt Nam công tác có 42 người, đoàn Quân khu Đông: 35 người, đoàn sang từ tháng 6-1977: 16 người, đoàn Đông Bắc: 11 người, nhân sĩ: 4 người. Đại hội đã bầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia gồm 15 người, do ông Hêng Xom-rin làm Chủ tịch, ông Chia Xim làm Phó chủ tịch và ông Rua Xa-may làm Tổng thư ký. Ngày 2-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia ra mắt. Buổi lễ ra mắt tổ chức ở vùng Snun, tỉnh Kra-chê, vừa được giải phóng khá rầm rộ. Có đại diện của các tiểu đoàn và đội công tác vũ trang của bạn, hàng trăm người Cam-pu-chia có đại diện các giai cấp, tôn giáo, dân tộc, tầng lớp nhân dân ở Cam-pu-chia đến dự. Khi thấy Đoàn chủ tịch mặt trận xuất hiện, có cả nhà sư mặc áo cà sa, mọi người dự lễ đều quỳ xuống vái lạy rất trọng thị. Ai cũng tỏ lòng phấn khởi có người lãnh đạo, nhất định nhân dân Cam-pu-chia sẽ thoát khỏi ách diệt chủng do bọn Pôn Pốt-Iêng Xa-ri gây nên.

                               Không có mô tả ảnh.
Thủ tướng Hun Sen thời trẻ (giữa) tại Việt Nam. Ông từng là trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 21 Khmer Đỏ. Được trưng bày tại Nhà Văn hoá xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước - Ảnh: Hữu Khoa
 
Làm nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Cam-pu-chia trên đất Việt Nam là những người đảng viên chân chính của Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia. Ngày 4 và 5-1-1979, các đảng viên cũ của Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia tập trung về trạm 66B, cư xá Mỹ cạnh dinh Độc Lập, ở TP Hồ Chí Minh để tiến hành đại hội khôi phục lại đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới và công nhận đảng viên của đảng. Cũng tại đại hội này, Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia cử ra Chủ tịch nước và thành phần Chính phủ để về ra mắt nhân dân Cam-pu-chia ngay khi đất nước được giải phóng, tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III, gồm 62 đại biểu. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 7 người: Pen Xô-van làm Tổng Bí thư, các đồng chí Hêng Xom-rin, Chia Xim làm Ủy viên thường vụ, các đồng chí Hun Xen, Bu Thoong, Văn Son, Chăn Xi làm Ủy viên Trung ương.

      Từ đây, cách mạng Cam-pu-chia có lực lượng lãnh đạo. Đó là những con người được tôi luyện trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kinh qua chiến tranh gian khổ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, trung thành với lợi ích của dân tộc và nhân dân, nắm vững xu thế phát triển của thời đại, có tinh thần quốc tế, tin tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Việt Nam. Sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của các nhà lãnh đạo cách mạng ly khai chế độ Pôn Pốt đã tập hợp được nhân dân Cam-pu-chia, những người đã sống uất hận trong chế độ diệt chủng vùng lên đấu tranh, sát cánh cùng quân và dân Việt Nam lật đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt cùng chế độ quái thai do chúng dựng lên.

      Ngày 3-11-1978, được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng nổi dậy chống lại chế độ Pôn Pốt-Iêng Xa-ri tiến công căn cứ Sê-rê-ca của quân Pôn Pốt ở phía Tây Bắc Đầm Be (Công-pông Chàm). Sau một giờ chiến đấu, lực lượng nổi dậy làm chủ căn cứ, tiêu diệt hơn 100 tên, thu một kho vũ khí, đạn dược và đồ dùng quân sự. Phong trào nổi dậy chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt-Iêng Xa-ri lan rộng khắp cả nước, không chỉ lớn về quy mô mà còn có bước chuyển mới về tổ chức và phương thức đấu tranh. Đã có sự phối hợp giữa các lực lượng, giữa thành thị với nông thôn; đã biết kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa nổi dậy của quần chúng với binh biến của binh lính.
 
Tháng 11-1978, tại Quân khu Đông, lực lượng nổi dậy hoạt động mạnh ở các huyện Cam-chơ-rích, Tơ-nang Khơ-mun (Công-pông Chàm). Tại Quân khu Đông Bắc, hàng trăm nhân dân vùng Siêng-pạng (Stung Treng) và vùng Bô-keo (Ra-ta-na-ki-ri) nổi dậy chống lại việc bắt thanh niên đi lính cho Pôn Pốt. Nhiều truyền đơn kêu gọi nhân dân khu Đông và Đông Bắc cùng đồng bào cả nước đoàn kết, đấu tranh đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt-Iêng Xa-ri, phản đối việc chính quyền Pôn Pốt-Iêng Xa-ri gây chiến tranh biên giới với Việt Nam, đòi xây dựng nước Cam-pu-chia hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc.

      Cuối tháng 11, đầu tháng 12-1978, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Cam-pu-chia phát triển ngày càng mạnh mẽ và giành nhiều thắng lợi. Đầu tháng 12-1978, lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh Môn-đôn-ki-ri đánh chiếm một căn cứ địch, diệt hơn 100 tên, thu nhiều súng đạn và lương thực. Tiếp đó, nhân dân hai huyện Sơ-lông và Crô-chơ-mia (Công-pông Chàm) nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số xã. Ở Quân khu 203 và Quân khu Đông Bắc, nổ ra nhiều vụ binh biến của binh lính.

Sau Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi giải phóng Sài Gòn. 

   Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu. Tức giận vì hành vi gây hấn của Khmer Đỏ, Hà Nội phản công giành lại các đảo này. 
 

Trong lúc quân và dân ta đang nỗ lực giải quyết nhiều công việc trọng đại sau chiến tranh, từ đầu tháng 5-1975 đến cuối năm 1978, tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sary đã mở nhiều cuộc tấn công xâm lấn vào sâu lãnh thổ nước Việt Nam, đưa quân chiếm một số đảo ở vùng biển Tây Nam, thảm sát dân thường dọc biên giới Tây Nam, xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, gây tổn hại cho mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Campuchia.

Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta một mặt chỉ đạo các quân khu, địa phương, đơn vị tăng cường chuẩn bị lực lượng và thế trận, kiên quyết đập tan các cuộc tiến công xâm lược của địch; mặt khác, kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, tìm cách cứu vãn hòa bình, nhiều lần đề nghị đàm phán với Chính phủ Campuchia Dân chủ nhằm giải quyết những bất đồng. Song, tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sary không những cự tuyệt, khước từ mọi thiện chí của ta mà còn đẩy mạnh hoạt động chống phá, xâm lược Việt Nam. Đỉnh điểm là ngày 23-12-1978, quân Pol Pot huy động 10/19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam.

Dấu ấn trong chặng đường 80 năm của Quân đội ta - Bài 3:  Chiến đấu bảo vệ biên giới, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế

Bộ đội C5 lực lượng vũ trang tỉnh An Giang đánh trả quân Pol Pot xâm lược năm 1978. Ảnh tư liệu

Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang xấu đi. Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang Khmer Đỏ.
Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập quy mô lớn vào Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính quy Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích. Để trả đũa, ngày 31 tháng 12 năm 1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, mang theo một số nhân vật quan trọng bên phía Campuchia, trong đó có cả Thủ tướng tương lai Hun Sen. Cuộc tấn công này được xem là lời "cảnh cáo" cho Khmer Đỏ. Phía Việt Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn.
Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản của Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 5–20 km

                     
{ Thanh niên xung phong Thành phố tham gia chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam, năm 1978 (Nguồn: Tư liệu Trung tâm Thông tin Triển lãm).}

                               Nguyễn Ngọc Chiến và đồng đội năm 1978
                   Nguyễn Ngọc Chiến và đồng đội năm 1978 (Ảnh Phóng viên Báo QĐND)

Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới. Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hợp Quốc không có biện pháp gì phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây hấn của Khmer Đỏ. Việt Nam phải chuyển sang sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc xung đột.
Từ tháng 12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, hơn 30 vạn thường dân Việt Nam phải tản cư vào sâu trong nội địa, bỏ hoang 6 vạn ha đất sản xuất. Theo cuốn "Cuộc chiến tranh bắt buộc" của Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Văn Hồng, trong các trận đánh dọc biên giới trong giai đoạn này, Việt Nam bị thương vong 8.500 bộ đội, trong đó số chết là gần 3.000 người.
Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động 19 trong 23 sư đoàn (khoảng 80.000 đến 100.000 quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Tà Teng (xã Phú Mỹ huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người Khmer.

Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời tiêu hao sinh lực của quân Khmer đỏ. Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm. Theo thống kê từ Việt Nam, từ tháng 6-1977 đến tháng 12-1978, họ đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác. Theo Tạp chí Time, quân Việt Nam tiến hành các cuộc không kích và giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ trước khi quân Việt Nam bắt đầu chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 17 ngàn quân Khmer Đỏ.
Tới đầu tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam được hỗ trợ bởi một số tiểu đoàn Khmer thân Việt Nam đã kiểm soát một vùng đệm dọc biên giới trong lãnh thổ Campuchia, từ Mimot đến Snuol ở các tỉnh Kampong Cham và Kratié. Ở phía Bắc, quân Việt Nam cũng kiểm soát một vùng rộng thuộc lãnh thổ Campuchia dọc theo đường 19. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khmer Đỏ. Sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc tấn công nhằm đánh bật các Trung đoàn 23 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 13 thuộc Sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ 13 sát biên giới. Tuy nhiên chiến cuộc chưa chấm dứt, quân đội Việt Nam quyết định mở cuộc tấn công phòng ngừa vào Campuchia.

                                Chuyện làm phim về Khmer Đỏ: Hãy để những hình ảnh khủng khiếp này nói lên sự thật - Ảnh 2.  

Hàng trăm binh sĩ Khmer Đỏ bị quân ta bắt khi chúng xâm lấn biên giới Việt Nam ở 2 huyện Bảy Núi và Tịnh Biên, tỉnh An Giang 19/1/1978                        

                               Chiến tranh biên giới Tây Nam: Thế giới còn nợ Việt Nam lời xin lỗi

Quân tình nguyện Việt Nam và trẻ em Campuchia. Ảnh: Tư liệu.

Sau khi đánh tan sức kháng cự của quân Khmer Đỏ, các lực lượng Việt Nam thuộc Quân khu 5 nhanh chóng hành tiến theo đường 19, sư đoàn 309 quét sạch tỉnh Ratanakiri, phía Bắc tỉnh Mondolkiri và tiến vào phía Bắc tỉnh Stung Treng. Sư đoàn 307 tiến theo đường 19, dùng cầu phao vượt sông Srepok và sông Mekong. Tới ngày 1 tháng 1 năm 1979, lực lượng Quân khu 5 tiến dọc sông Mekong chiếm được Stung Treng.
Cùng thời gian, Sư đoàn 5 thuộc Quân khu 7 tiến từ hướng đông, cùng Sư đoàn 303 tiến theo hướng tây bắc từ Snuol cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 phòng thủ. Các sư đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa. Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn. Tuy nhiên, sau khi không chặn được quân Việt Nam, quân Khmer Đỏ phải rút lui, và tới ngày 29 tháng 12, thành phố Kratié rơi vào tay quân đội Việt Nam. Cùng lúc, Sư đoàn 302 tiến về phía Tây đã chiếm được Kampong Cham. Sau đó, hai Sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại đánh chiếm thị xã Chhlong do Sư đoàn 603 Khmer Đỏ chống giữ. Ngày 4 tháng 1, họ chiếm được Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông Mekong coi như bị mất.
Sáng ngày 31 tháng 12, được pháo binh bắn yểm trợ, xe tăng và bộ binh Quân đoàn 3 Việt Nam tiến công và nhanh chóng đánh tan 5 sư đoàn quân Khmer Đỏ trên toàn tuyến phòng thủ dọc theo biên giới ở tỉnh Kampong Cham. Tới cuối ngày, trừ sở chỉ huy quân Khmer Đỏ, toàn bộ các cứ điểm còn lại thất thủ, quân Khmer Đỏ rút chạy về thị trấn Kampong Cham ở bờ tây sông Mekong, bị quân Việt Nam truy kích ráo riết.
Không quân Việt Nam cũng tham chiến, tấn công vào tuyến phòng thủ của Khmer Đỏ và ném bom phá hủy một sân bay mà từ đó máy bay T-28 Khmer Đỏ xuất kích ném bom vào các toán quân tiền phương Việt Nam. Sáng ngày 1 tháng 1 năm 1979, sau khi tập hợp lại lực lượng, Quân đoàn 3 đánh chiếm sở chỉ huy Khmer Đỏ sau một giờ giao chiến quyết liệt. Tướng Kim Tuấn hạ lệnh cho các đơn vị dưới quyền truy quét và tiêu diệt các lực lượng Khmer Đỏ còn sót lại. Tới ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 320 đã tiến tới bờ đông của bến phà Kampong Cham bên bờ sông Mekong. Tại đây sư đoàn dừng lại, rồi dùng 2 đại đội xe bọc thép mở đường, đánh về phía nam chiếm thủ phủ tỉnh Prey Veng.   

                                       anh cả Pônpốt - Pol Pot (/pɒl pɒt/; Khmer: ប៉ុល ពត; Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia;<br />Thủ tướng Chính phủ Campuchia Dân chủ,<br />kẻ chủ mưu tàn sát dân tộc Campuchia và trực tiếp gây ra cuộc chiến tranh<br />biên giới Tây - Nam, giết hại đồng bào Việt Nam tại biên giới.
                       Pônpốt - Pol Pot (/pɒl pɒt/; Khmer: ប៉ុល ពត; 19/05/1925 – 15/04/1998)
  • Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia;
  • Thủ tướng Chính phủ Campuchia Dân chủ
  • Kẻ chủ mưu tàn sát dân tộc Campuchia và trực tiếp gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây - Nam, giết hại đồng bào Việt Nam tại biên giới.
  • Biệt danh anh Cả Khmer Đỏ
  • Người Khmer gốc Hoa
                                          anh Hai Nuon Chea Khmer: នួន ជា Lau Ben Kon 劉平坤 Lưu Bình Khôn
                                                Nuon Chea (Khmer: នួន ជា; 07/07/1926).
  • Phó tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia;
  • Biệt danh anh Hai Khmer Đỏ
  • Người Khmer gốc Hoa, tên tiếng Hoa là Lau Ben Kon 劉平坤 Lưu Bình Khôn
                                           anh ba Ieng Sary Khmer: អៀង សារី - Phó Thủ tướng; Bộ trưởng Ngoại giao chế độ Khmer đỏ<br /> Thạch Rẹm, Kim Trang. Con ông Thạch Trân (Kim Riem - người Khmer Nam Bộ) và bà Trần Thị Lợi (người Việt lai Hoa)
                                     Ieng Sary (Khmer: អៀង សារី; 24/10/1925 – 14/03/2013)
  • Phó Thủ tướng; Bộ trưởng Ngoại giao chế độ Khmer đỏ
  • Biệt danh anh Ba Khmer Đỏ
  • Tên khác là Thạch Rẹm, Kim Trang. Con ông Thạch Trân (Kim Riem - người Khmer Nam Bộ) và bà Trần Thị Lợi (người Việt lai Hoa), sinh ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
                                               Ta Mok 塔莫 Khmer: តាម៉ុក; tên lúc nhỏ Chhit Choeun- Tổng Tư lệnh mặt trận Đông - Nam quân đội Khmer đỏ.
          Ta Mok 塔莫 (Khmer: តាម៉ុក; tên lúc nhỏ Chhit Choeun 切春 Thiết Xuân, 1926 – 21/07/2006)
  • Tổng Tư lệnh mặt trận Đông - Nam quân đội Khmer đỏ.
  • Tổng tư lệnh quân đội
  • Biệt danh anh Tư, Đồ Tể
  • Người Khmer gốc Hoa. Tên tiếng Hoa là Ta Mok 塔莫 Tháp Mạc, có thể là cách gọi của 莫爺 Mạc Gia, ông Mạc, (thằng) cha họ Mạc.
                                           Khieu Samphan(tiếng Khmer: ខៀវ សំផន
                                   Khieu Samphan (tiếng Khmer: ខៀវ សំផន; sinh năm 1931)
  • Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Campuchia Dân chủ
  • Biệt danh anh Năm
  • Người Khmer gốc Hoa. Tên tiếng Hoa là 乔森潘 Kiều Sâm Phan.
                                 Duch hoặc 康克由 Khang Khắc Do Khang Khek Ieu, Kaing Guek Eav 江玉耀  Giang Ngọc Diệu (កាំង ហ្គេកអ៊ាវ), còn gọi là Đồng chí D[e]uch (មិត្តឌុច); hay Hang Pin Chỉ huy nhà tù Tuol Sleng giết hại 16.000 tù nhân Campuchia
                                                       Duch (sinh 17 tháng 11 năm 1942)
  • Chỉ huy nhà tù Tuol Sleng giết hại 16.000 tù nhân Campuchia
  • Người Khmer gốc Hoa, tên tiếng Hoa là Khang Khek Ieu, Kaing Guek Eav 康克由 Khang Khắc Do hoặc 江玉耀 Giang Ngọc Diệu (កាំង ហ្គេកអ៊ាវ), còn gọi là Đồng chí D[e]uch (មិត្តឌុច); hay Hang Pin
                                  Nhà mồ Ba Chúc, thuộc xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang
                            Nhà mồ Ba Chúc, thuộc xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang
                                Thiết giáp chở quân M-113 - thiết vận xa M-113
                                         Thiết giáp chở quân M-113 - thiết vận xa M-113
                               Xe tăng lội nước Type-63, do Trung quốc chế tạo, tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.
Xe tăng lội nước Type-63, do Trung quốc chế tạo, tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.
                              A-37 Dragonfly là máy bay cường kích phản lực hạng nhẹ 2 động cơ với tổ bay hai người
        A-37 Dragonfly là máy bay cường kích phản lực hạng nhẹ 2 động cơ với tổ bay hai người.
                              trực thăng quân sự đa năng Bell UH-1 Iroquois UH-1 Huey UH-1A
                          Trực thăng quân sự đa năng Bell UH-1 Iroquois UH-1 Huey UH-1A
                              61-K (tiếng Nga: 37-мм автоматическая зенитная пушка образца 1939 года (61-К)) là một loại pháo phòng không có cỡ nòng 37 mm do Liên Xô sản xuất từ năm 1939
61-K (tiếng Nga: 37-мм автоматическая зенитная пушка образца 1939 года (61-К)) là một loại pháo phòng không có cỡ nòng 37 mm do Liên Xô sản xuất từ năm 1939

Trong thời gian đó, ngày 28 tháng 12, ở hạ lưu đồng bằng sông Mekong, lực lượng Khmer Đỏ thuộc Quân khu Đông Nam mở cuộc tấn công phòng ngừa dọc biên giới. Quân Khmer Đỏ tiêu diệt một số đơn vị Quân khu 9 bảo vệ biên giới và chiếm một vùng rộng lãnh thổ Việt Nam dọc theo kênh Vĩnh Tế. Cuộc tấn công này làm cho tình hình Quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Hữu An trở nên rất khó khăn. Quân Khmer Đỏ đã chiếm được khu vực đầu cầu mà Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 9 định dùng để tiến vào Campuchia, đồng thời giành được một chiến lũy tự nhiên cản đường tiến của quân Việt Nam.
Sau khi nhận được sự chấp thuận từ Bộ chỉ huy, sáng ngày 31 tháng 12, sư đoàn 4 của Quân khu 9 và Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 phối thuộc mở cuộc phản công. Sau 24 giờ giao tranh kịch liệt, quân Việt Nam đã đánh lui quân Khmer Đỏ khỏi bờ tây kênh Vĩnh Tế. Chiều ngày 1 tháng 1, được pháo binh và không quân yểm trợ, Lữ đoàn công binh 219 thuộc Quân đoàn 2 bắc cầu phao vượt sông. Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe bọc thép 203 mở đường tiến vào đất Campuchia. Tới trưa ngày 3 tháng 1, Quân đoàn 2 và Quân khu 9 đã tiêu diệt hoặc đánh tan tất cả các lực lượng Khmer Đỏ ở hạ lưu sông Mekong dọc biên giới. Sở chỉ huy Quân khu Tây Nam của Khmer Đỏ phải rút về Takéo.
Sau ba ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, Quân đoàn 4 với sự yểm trợ của không quân, trực thăng, pháo binh, hải quân, thiết giáp... quân Việt Nam đánh bật được quân Khmer Đỏ khỏi các vị trí Năm Căn, Hòa Hội dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các Sư đoàn 703, 340, 221 của Khmer Đỏ phải rút về thành lập một tuyến phòng thủ mới tại Svay Rieng, tập trung ở cầu Don So.
Được 15 xe tăng và xe bọc thép mở đường, cùng với pháo 105mm, 155mm bắn yểm trợ, Sư đoàn 7 của Quân đoàn 4 mở cuộc tấn công vào quân Khmer Đỏ ở Don So. Tuy nhiên sau hai ngày giao chiến với nhiều tổn thất, Sư đoàn 7 vẫn chưa chọc thủng được tuyến phòng phủ của Khmer Đỏ. Tới đêm ngày 1 tháng 1, tướng Hoàng Cầm hạ lệnh cho Sư đoàn 7 tung hết lực lượng dự bị vào trận.
Quân Khmer Đỏ kháng cự dữ dội, nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh, quân Khmer Đỏ đã bị mất tinh thần, hơn nữa, do phải chấp nhận một trận đánh quy ước với một địch thủ có hoả lực, quân số và kinh nghiệm chiến trường trội hơn quá nhiều, nên quân Khmer Đỏ bị tan rã. Tuyến phòng thủ Svay Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân Khmer Đỏ phải rút về Prey Veng và Neak Luong, chỉ để lại một số đơn vị đánh cầm chân Quân đoàn 4.
Tới ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam đánh tan các sư đoàn chủ lực của Khmer Đỏ án ngữ các trục đường số 1, 7 và 2 ở lối vào Phnom Penh. Chiều ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 7 chiếm được cầu Don So và tới ngày 4 tháng 1 đã làm chủ toàn bộ vùng phía đông sông Mekong. Tới ngày 5 tháng 1, Sư đoàn 7 tiến đến Neak Luong.
       Ngày 6 tháng 1, các đơn vị Việt Nam vượt sông Mekong qua ngả Neak Luong và bắc Kompong Cham. Chín sư đoàn quân Việt Nam làm thành hai gọng kìm tiến vào Phnom Penh từ phía Đông Nam và phía Bắc: Sư đoàn 7 và Sư đoàn 2 di chuyển theo quốc lộ 1, Sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn phía nam và Sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Một toán đặc công nhảy dù xuống Phnom Penh để giải cứu Hoàng thân Sihanouk nhưng bị Khmer Đỏ phát hiện và tiêu diệt hết, chỉ duy nhất một người sống sót.
Tại Kompong Cham, Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn cũng giao tranh quyết liệt với quân Khmer Đỏ để vượt sông. Quân Khmer Đỏ thiết lập trận địa phòng ngự dọc bờ tây sông Mekong với nhiều ổ súng máy, súng cối bắn trùm lên mặt sông để ngăn thuyền chở quân Việt Nam đổ bộ. Xa hơn một chút, quân Khmer Đỏ bố trí xe tăng, xe bọc thép, pháo 105mm, 122mm và 155mm để bắn vào quân Việt Nam đang tập trung ở bờ đông sông Mekong. Đêm ngày 5 tháng 1, một toán quân gồm lính trinh sát, công binh và bộ binh định vượt qua bờ sông chiếm một đầu cầu nhỏ, nhưng quân Khmer Đỏ đánh bật họ lại. Tướng Kim Tuấn quyết định dùng hỏa lực áp đảo bắn vào trận địa phòng thủ của quân Khmer Đỏ, rồi cho thả khói mù, dùng thuyền chuyển quân sang bờ tây. Mặc dù rất nhiều thuyền bị trúng đạn của quân Khmer Đỏ, Quân đoàn 3 cuối cùng cũng đã thiết lập được một đầu cầu. Một đại đội xe lội nước vượt sông và tỏa ra để đánh vào thị trấn; 2 tiểu đoàn bộ binh cũng vượt được sông, đến 8:30 sáng, Kampong Cham thất thủ.

Điểm danh đồng đội 
 
 Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danh 
Những thằng lính ở miền xa rất trẻ 
Hãy sắp hàng vào để nghe tao kể. 
Chuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhau 
A! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầu 
Tiến một bước, nếu thấy còn chỗ trống 
Đừng băn khoăn nếu có thằng hi sinh và thằng... 
chạy trốn 
Còn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhau 
Hãy vì nhau mà đừng để lòng sầu 
Bởi cái chết chẳng thể nào tự đến  
Đêm vượt Mê-kông có thằng nào ngờ tới bến 
Nhưng vẫn qua rồi lại... vẫn qua 
Thằng Vinh, thằng Hùng, thằng Dũng đi xa 
Cho những Thắng, những Thân vào đội ngũ 
Khi ở Sài Gòn bọn đỏ đen bày trò ăn thua đủ 
Thì tụi mình nhịn khát hành quân 
Có thằng mới từ thành phố lên khóc vì rộp bàn chân 
Lâu cũng quen và tự chê mình yếu đuối 
Giặc bao vây mỗi thằng được dành dăm quả cối 
Vài trái B.40 và hàng ngàn đạn AK 
Bình yên thì xa và chiến tranh thì gần trong ngón tay cò súng 
Vì chẳng thể bỏ nhau nên tụi mình mưu dũng 
Hết khói đạn rồi điểm mặt vẫn đủ tên 
Có thể có thằng cho đó là điều hên 
Mà số phận chẳng thằng nào biết được 
Cha mẹ nhớ thương con, người yêu nhớ người yêu - phía trước 
Còn tụi mình nhớ nhất số quân 
Mất hay còn chỉ là một dấu chân 
Trên bãi cát băng từ của cô nhân viên điện toán 
Tụi mình sống với nhau có phút nào thấy chán 
Những gương mặt phong trần mà rất đỗi dễ thương 
Lính 76, lính 78, lính 80 rồi cũng bình thường 
Cũng là lính với trái tim tràn nỗi nhớ 
Hãy để chỗ sâu lắng trong tim trong những thằng xanh cỏ 
Tụi mình còn mắc nợ đời, mắc nợ với nhau 
Hành quân điểm danh không có trực ban báo cáo 
Không có Có, không có Vắng, chỉ có tiếng cười 
Rồi tụi mình ôm nhau cho rõ mặt bạn đời 
Dẫu có đứa chưa từng ôm một người con gái 
Chưa từng yêu nên nói chuyện tình yêu: nói đại 
Thằng nào không tin cứ về thành phố kiểm tra 
Bị phát hiện bèn mở miệng cười khà: 
- Tao không biết thì rồi tao sẽ biết 
Và mầy hi sinh không còn thời gian để biết 
Ai sẽ tiếc thương mầy ngoài đồng đội, mẹ cha 
Điểm danh xong hãy uống ít đế và ca 
Những bài lý mênh mông mùa nước lớn 
Xuống câu xề trầm hơn tiếng nấc 
Và khua bình-tông khi hát nhạc trẻ, nhạc già 
Hát múa cho đã đi rồi vào uống trà 
Để chống ngủ vì đêm còn phải gác 
Tụi mình sinh ra vào thời trận mạc 
Nên núi rừng bè bạn có sao đâu 
Nên sương gió tụi mình dãi dầu 
Mặc áo lính phải sống cho ra là lính 
        
 Ni-mít, tháng 3-1981 
 
                                Tác giả: Phạm Sĩ Sáu
 
Ngay trong sáng ngày 6 tháng 1, lực lượng đột kích Phnom Penh, gồm Trung đoàn 28 của Sư đoàn 10 và các đơn vị phối thuộc, dẫn đầu bởi 6 xe lội nước và một số xe thiết giáp M-113 vượt sông, tổng cộng lực lượng lên đến 120 xe quân sự. Lực lượng đột kích vừa hành quân vừa giao chiến với các ổ phục kích của quân Khmer Đỏ, tới chiều tối đã tới bờ sông Tonglé Sap và tổ chức đánh vượt sông để tiến vào Phnom Penh.
Trong khi đó, ngày 6 tháng 1 năm 1979, những đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 được 1 tiểu đoàn UFNSK hỗ trợ chiếm được bờ phía đông của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vã đã không kịp thiết lập công sự phòng thủ. Trong đêm, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, Trung đoàn 113 cùng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông, tiến chiếm bờ phía tây của bến phà. Ngày 7 tháng 1, toàn bộ đội hình Quân đoàn 4 tiến hành vượt sông. Do sự tan rã nhanh chóng của lực lượng phòng thủ biên giới và sự chủ quan của Pol Pot, quân đội Việt Nam tiến vào Phnom Penh từ Neak Luong mà không gặp sức chống cự đáng kể nào. Trưa ngày 4 tháng 1, Quân đoàn 4 đã có thể bắt tay với Quân đoàn 3 ở ngoại ô phía bắc Phnom Pênh. Tuy nhiên Quân đoàn 3 đã đến muộn, không kịp chặn đường Chính phủ Polpot rút chạy khỏi Phnom Penh.
Việc quân Việt Nam tiến quá nhanh khiến cho Khmer Đỏ chỉ kịp sơ tán bộ máy lãnh đạo. Son Sen chạy xuyên qua mặt trận ngược về phía Việt Nam để tập hợp tàn quân của các sư đoàn thuộc quân khu miền Đông. Pol Pot, Nuon Chea và Khieu Samphan được vài xe Jeep chở quân bảo vệ chạy về Pursat. Ieng Sary chạy về Battambang trên một chuyến xe lửa đặc biệt chở vài trăm nhân viên Bộ ngoại giao. Việc rút lui khẩn khiến nhiều Bộ khác cùng hàng ngàn nhân viên không được thông báo về cuộc rút lui. Các chuyến xe tiếp theo sơ tán Phnom Penh bị tắc nghẽn bởi quá nhiều người tìm cách bỏ chạy. Như vậy với việc ban lãnh đạo sơ tán, khoảng 40 ngàn dân chúng và binh lính Khmer Đỏ tại Phnom Penh, cũng như các đơn vị quân phòng thủ các mục tiêu lân cận bị bỏ mặc tự thân vận động.
Ngày 7 tháng 1, quân Việt Nam chiếm sân bay Kampong Chonang và bắt được mười máy bay A-37, ba C-123K, sáu C-47, ba Alouette III cùng một số T-28. Ngoài ra Khmer Đỏ cũng bỏ lại hàng trăm xe tăng và xe bọc thép, rất nhiều đạn dược và lương thực dự trữ chiến lược mà họ không kịp mang theo.
Ngày 8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập với sự hậu thuẫn của Việt Nam.
Ở phía Bắc, các sư đoàn của Quân đoàn 3 cũng tiến xuống Phnom Penh, sau đó Sư đoàn 320 theo quốc lộ 4 xuống bình định các tỉnh phía nam. Các sư đoàn còn lại theo các quốc lộ 5 và 6 tiến về hướng Tây và hướng Bắc. Họ gặp sức chống cự đáng kể của quân Khmer Đỏ tại Battambang và Siem Reap.
       Tại mặt trận phía nam, từ An Giang, quân Việt Nam bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3 tháng 1 năm 1979 và tấn công theo hai hướng. Hướng thứ nhất, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 8 tiến về phía Tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 5 tháng 1 năm 1979, trong khi lực lượng Quân khu 9 tiến đánh Takéo, sư đoàn 325 bắt đầu hành tiến theo hướng Tây Bắc. Lực lượng Khmer Đỏ của Quân khu Tây Nam do Ta Mok chỉ huy khét tiếng cuồng tín đã chuẩn bị công sự phòng thủ ở Tuk Meas trên đường 16, ở khoảng giữa biên giới và Chhuk. Phải mất hai ngày giao chiến, Sư đoàn 325 mới có thể đánh tan tuyến phòng ngự của Khmer Đỏ và chiếm được khu vực Tuk Meas. Cùng lúc đó tướng Nguyễn Hữu An cũng tung Sư đoàn 8 theo hướng tây để đánh chiếm quận lỵ Kampong Trach, nằm ở giao điểm với đường quốc lộ ven biển. 
 
image
Đó là một cuộc chiến mà quân đội Việt Nam, lúc đầu được triển khai như những vị cứu tinh nhưng ngay sau đó lại bị xem là những kẻ xâm lược, đã trả một cái giá cao ngất về nhân mạng trong một cuộc chiến du kích tàn khốc kéo dài cả chục năm.
 
image
Khmer Đỏ đã đẩ̀y hàng triệu người dân Campuchia đến chỗ chết
Việt Nam bắt đầu đưa quân vào Campuchia vào cuối tháng 12 năm 1978 để lật đổ Pol Pot. Hai triệu người Campuchia đã chết dưới tay Khmer Đỏ.

image
Việt Nam không muốn lãng quên hoàn toàn cuộc chiến với Campuchia, ông Nhân nói, mà Việt Nam chỉ muốn nhớ cuộc chiến này như là một cuộc tấn công thần tốc, thắng lợi để lật đổ Pol Pot.
 
Nắm quyền chỉ huy trực tiếp trung đoàn xung kích 24, tướng Nguyễn Hữu An dẫn trung đoàn tiến từ Tuk Meas về Chhuk. Các quân xa của Việt Nam gồm xe tăng hạng nặng, xe tải và trọng pháo di chuyển khó khăn trên đường đất và ruộng lúa nên đã bị quân Khmer Đỏ phục kích phá hủy một số xe và pháo, sở chỉ huy của tướng An cũng bị tổn thất và tạm thời mất liên lạc với các lực lượng còn ở phía sau. Tới chiều ngày 7 tháng 1, lực lượng xung kích đã ra đến đường số 3, và trong quá trình tiến công đã đánh tan sư đoàn quân Khmer Đỏ phòng ngự Chhuk.
Trong hai ngày 4, 5 tháng 1 năm 1979, từ đảo Phú Quốc, hai phân đội Hải quân Việt Nam gồm một số tàu tuần tiễu loại lớn của Mỹ, hai tàu khu trục Petya của Nga, cùng nhiều tàu chiến nhỏ chuẩn bị chuyển Lữ đoàn Hải quân 101 và 126 đổ bộ. Hải quân cũng lập trận địa pháo 130mm ở mũi đảo Phú Quốc để yểm trợ cho lực lượng đổ bộ.
Sẩm tối ngày 6 tháng 1, toán quân đặc công gồm 87 người bí mật đổ bộ và tấn công chiếm một trận địa pháo Khmer Đỏ bảo vệ bờ biển, cùng lúc, pháo 130mm bắt đầu bắn phá các vị trí quân Khmer Đỏ. Lập tức các thuyền tuần tiễu loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream và các bến cảng nhỏ tấn công vào Hải quân Việt Nam. Sau một trận giao chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, Hải quân Việt Nam đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng một tàu của Việt Nam cũng bị trúng đạn, khiến nhiều thủy thủ bị thương vong. Số tàu phóng lôi Khmer Đỏ chạy thoát khỏi cuộc hải chiến và các cuộc không kích của không quân Việt Nam, đến ngày 16 tháng 1 lại bị Hải quân Việt Nam chặn đánh trong vịnh Thái Lan và bị tiêu diệt gần hết.
Tối ngày 7 tháng 1, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 tiến hành đổ bộ ở chân núi Bokor, nằm ở khoảng giữa thị xã Kampot và cảng Sihanoukville. Lữ đoàn đổ bộ được toàn bộ 3 tiểu đoàn và số xe lội nước, xe bọc thép, nhưng do thủy triều lên cao, không có đủ chỗ triển khai đội hình, nên không đổ bộ được số xe tải, và đến tối, 3 tiểu đoàn nữa theo dự định cũng sẽ đổ bộ lại phải rút ra ngoài.

image
Người lính Nguyễn Thành Nhân ở hàng ngồi thứ hai từ trái qua


image
Ngày nay, nhiều người ở Campuchia vẫn muốn quên rằng Việt Nam đã cứu đất nước của họ khỏi cuộc cách mạng tàn ác của Pol Pot.
Cứ mỗi vài tháng, một hội cựu chiến binh tham chiến ở Campuchia lại gặp gỡ ở Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Theo kế hoạch, lực lượng Hải quân đánh bộ phải triển khai một lực lượng lớn, theo vùng ven biển đánh chiếm cùng lúc hai cây cầu quan trọng và giao điểm Veal Renh dẫn về bán đảo Kampong Som. Tuy nhiên, một chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ do nóng vội, đã tập hợp tiểu đoàn của mình, chở trên 12 xe tăng và xe bọc thép tiến về Sihanoukville trước khi trời sáng. Đơn vị này bị một lực lượng lớn Khmer Đỏ vây đánh từ chiều, qua đêm đến suốt ngày hôm sau và cuối cùng bị tiêu diệt gần như hoàn toàn. Đến đêm ngày 7 tháng 1, Hải quân mới đổ bộ thêm được 3 tiểu đoàn của Lữ đoàn 126 và 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 101 lên bãi biển, nhưng số xe tải phải đến ngày 8 tháng 1 mới lên bờ được.
Sư đoàn 304 vốn được dùng làm dự bị để tham gia đánh về Phnom Penh, nhưng do Quân đoàn 3 và 4 đã đánh được Phnom Penh từ ngày 7 tháng 1, nên tướng An dùng sư đoàn này để nhanh chóng giải cứu lực lượng lính thủy đánh bộ và đánh chiếm Sihanoukville. Dẫn đầu bởi một đơn vị xe M-113, Trung đoàn 66 của sư đoàn, kế tiếp là Trung đoàn 9 hành quân suốt đêm ngày 9.
Ngày 9 tháng 1, Trung đoàn 66 sau khi gặp lực lượng Hải quân đánh bộ, chuẩn bị giao chiến: không lặp lại sai lầm của Hải quân, Trung đoàn 66 tổ chức chiếm cao điểm xung quanh thành phố trước khi phối hợp với hải quân đánh bộ đánh vào thành phố. Sau khi đánh tan được Sư đoàn 230 Campuchia, quân Việt Nam chiếm được Kampot. Trung đoàn 9 không đến kịp vì một cây cầu sụp đổ khi xe tăng dẫn đầu trung đoàn đi qua. Khi Trung đoàn 9 và Lữ đoàn xe tăng 203 đến thành phố thì Kampot đã rơi vào tay quân Việt Nam, nên lực lượng này được đưa đi đánh quân cảng Ream. Được sự trợ lực của pháo hải quân bắn từ bến cảng lên, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hải cảng Kampong Som. Tuy nhiên, vì không chuẩn bị kịp về tiếp liệu, quân Khmer Đỏ đã có thể phản công chiếm lại Kampong Som ngày 14 tháng 1, nhưng quân Việt Nam tái chiếm lại vào ngày hôm sau.
Hướng thứ hai, Quân khu 9 phụ trách, tiến về phía Bắc đánh chiếm hai thị xã Tan và Takéo. Các sư đoàn Khmer Đỏ trấn giữ quân khu Tây Nam như Sư đoàn 2, 210, 230, 250, bị tan rã và rút lui vào rừng.
Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi. Đến ngày 17 tháng 1 thị xã cuối cùng là Ko Kong rơi vào tay quân đội Việt Nam và chính quyền mới của Campuchia. Cho tới cuối tháng 3, quân đội Việt Nam coi như chiếm được hết những thành phố và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia và tiến sát tới biên giới Thái Lan. Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu, gây ra nhiều thương vong cho quân đội Việt Nam đồn trú tại Campuchia.
      Trên chiến trường Campuchia, vì quân Việt Nam tiến quá nhanh chóng, nên quân Khmer Đỏ chỉ bị tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đã tập trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá.

Lực lượng quân đội tình nguyện Việt Nam phản kích quân Pol Pot. (Ảnh: TTXVN)

         3 

 Một nạn nhân bị tra tấn đến chết trong nhà tù Toul Sleng.


                                  Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
Xương người và sọ người được cất giữ đền tưởng niệm nạn nhân bị Khmeđỏ thảm sát tại Ba Chúc

Sau khi Quân đoàn 4 chiếm được Phnom Penh, các đơn vị của Quân đoàn 3, Quân khu 5 và Quân khu 7 cũng vượt sông Mekong tiến chiếm và bình định lãnh thổ phía bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sap. Quân Khmer Đỏ đã cố gắng kháng cự gần tỉnh Battambang nhưng cũng chỉ có thể làm chậm đà tiến quân của Việt Nam. Họ đã phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
Quân đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định 1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4.
Ngày 8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66 được lệnh vượt lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100 km chỉ trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày 10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.

image
Đài tưởng niệm những người lính Việt Nam ở Phnom Penh
image
Tro cốt của những ngườ lính Việt Nam cũng được đem về nước khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia

Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100 km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan 50 km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu 5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó.
      Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên đường đi khoảng 40 km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer Đỏ phục kích. Mặc dù lực lượng phục kích bị đè bẹp, chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía bắc với Trung Quốc.
      Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4 nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km. Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21 tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan.
Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng, nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn, đốt rừng...
Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach. Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng 1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp.
Để tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330 đã bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xã Pursat để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9 phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong, rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3, từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach.
Vì đây là một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì hoả lực thua kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4 năm 1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Tasanh sát biên giới Thái Lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
 
 Quân đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định 1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4.
Ngày 8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66 được lệnh vượt lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100 km chỉ trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày 10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.
 
Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100 km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan 50 km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu 5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó.
      Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên đường đi khoảng 40 km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer Đỏ phục kích. Mặc dù lực lượng phục kích bị đè bẹp, chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía bắc với Trung Quốc.
      Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4 nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km. Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21 tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan.
Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng, nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn, đốt rừng...
Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach. Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng 1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp.
Để tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330 đã bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xã Pursat để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9 phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong, rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3, từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach.
Vì đây là một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì hoả lực thua kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4 năm 1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Tasanh sát biên giới Thái Lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.

                       Kí ức đau thương về vụ thảm sát 500 người Việt của Khmer Đỏ
                    Campuchia được giải phóng khỏi chế độ diệt chủng ngày 7-1-1979 - Ảnh tư liệu
 
Giữa tháng 3, quân Việt Nam mở chiến dịch mới đánh chiếm căn cứ Tasanh, nằm ở phía nam Pailin. Tới 28 tháng 3, căn cứ này thất thủ, khiến cho "đại sứ quán" Trung Quốc đóng tại đây phải sơ tán về vùng núi cao. Ban lãnh đạo Khmer Đỏ tại đây cũng bỏ chạy, bỏ lại một phần tài liệu, xe cộ, vũ khí, lương thực dự trữ và 3.000 tấn đạn dược.
Các đơn vị của Việt Nam bắt đầu phân nhiệm để hành quân bình định. Nhiều sư đoàn thiện chiến đã bị hao hụt nặng được rút về nước. Những sư đoàn tân lập được gửi qua tăng cường hay thay thế. Phía Việt Nam cho biết, tới cuối tháng 1 năm 1979, quân Việt Nam đã có tới 8.000 thương vong. Về phía quân Khmer Đỏ dù bị thiệt hại nặng vẫn còn khoảng 30.000 quân có còn khả năng quấy phá, phục kích, gây mất ổn định khiến Việt Nam phải duy trì một lực lượng quân sự lớn tại Campuchia.
Ngày 5 tháng 1 năm 1979, 66 đại biểu Campuchia được triệu tập họp ở Mimot để bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Đảng này lấy lại tên Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia có từ thời 1951. Pen Sovann, một cán bộ Campuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, được đề cử giữ chức chủ tịch đảng. Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth.
Ngày 8 tháng 1 năm 1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom Penh đã được giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia. Một Hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng mười ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia.
Tới mùa xuân 1981, hiến pháp mới của Campuchia được thông qua, sau đó là cuộc bầu cử toàn quốc để chọn ra 117 đại biểu quốc hội. Hun Sen được bầu làm Bộ trưởng Ngoại giao, Heng Samrin làm Chủ tịch nước. Ba sư đoàn mới được thành lập và đặt dưới Bộ Quốc phòng, nhưng an ninh vẫn được duy trì chủ yếu dựa vào sự hiện diện của 180.000 quân Việt Nam (mà lực lượng chủ chốt là Quân đoàn 4) do thượng tướng Lê Đức Anh chỉ huy.
Chính quyền mới của Campuchia chỉ được một số nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa công nhận. Chính phủ của Pol Pot tiếp tục được các nước phương Tây, Trung Quốc và khối ASEAN công nhận và vẫn là thành viên Liên hiệp quốc.
Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung Quốc có thể giúp đỡ cho Khmer Đỏ tiếp tục cuộc chiến. Sau khi họp xong với Ieng Sary, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Cảnh Biểu, Ủy viên Bộ Chính trị, cùng Thứ trưởng ngoại giao Hàn Niệm Long sang Bangkok hội đàm với Thủ tướng Thái Kriangsak Chomanan tại căn cứ không quân Utapao. Sau khi Việt Nam liên minh với Liên Xô và tấn công Campuchia, Thái Lan không còn giữ thái độ trung lập nữa, Kriangsak đồng ý để Trung Quốc dùng lãnh thổ Thái Lan tiếp tế cho Khmer Đỏ.
Thủ tướng Thái Kriangsak cũng tìm kiếm hỗ trợ từ Washington nhằm ngăn ngừa Hà Nội. Để biểu thị sự ủng hộ Thái Lan, Hoa Kỳ chuyển giao cho Thái số lượng đạn dược trị giá $11.3 triệu dollar tồn kho tại Thái từ thời chiến tranh Việt Nam. Chính quyền Carter cũng hứa hẹn thúc đẩy việc chuyển giao chiến đấu cơ F-5E và các loại vũ khí hiện đại khác mà Thái đã đặt mua, và tăng lượng vũ khí bán cho Thái từ mức 30 triệu dollar một năm lên 50 triệu. Tuy vậy, trong trường hợp chiến tranh nổ ra, quân Thái vẫn không phải là đối thủ của Việt Nam. Với lực lượng 141.000 quân, số lượng quân Thái chỉ bằng 1/4 quân Việt Nam, và họ không có được kinh nghiệm chiến đấu như quân Việt Nam.
       Việt Nam hy vọng có thể nhanh chóng truy quét và tiêu diệt tàn quân Khmer Đỏ trước khi mùa khô 1979-1980 kết thúc, nhưng tàn quân Khmer Đỏ đã phân tán rải rác trong các trại tị nạn dọc biên giới Thái Lan-Campuchia.
Tổ chức cứu trợ khẩn cấp Campuchia của Mỹ, dựa vào đại sứ quán Mỹ tại Bangkok, đã nuôi dưỡng và hỗ trợ Khmer đỏ để tiếp tục chống lại chính phủ mới của Campuchia do Việt Nam hậu thuẫn. Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực thế giới đã cung cấp lương thực cho 20.000 đến 40.000 lính Khmer đỏ. Suốt một thập kỷ sau đó, cơ quan tình báo quân đội Mỹ đã giúp Khmer đỏ do thám qua vệ tinh, đồng thời các lực lượng đặc nhiệm của Mỹ và Anh hướng dẫn quân Khmer đỏ đặt hàng triệu quả mìn bộ binh khắp miền Tây Campuchia
Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng dùng quyền của mình ở Liên Hiệp quốc để giữ ghế đại diện cho Khmer Đỏ. Chính quyền Pol Pot dù chỉ còn là một nhóm du kích trong rừng nhưng lại được coi là đại diện hợp pháp duy nhất của người dân Campuchia.


Đại tướng Phạm Văn Trà (thứ tư từ trái sang) trong một lần đi kiểm tra tình hình đảo Thổ Chu - Ảnh tư liệu gia đình đại tá Đào Phúc Lâm, nguyên đảo trưởng Thổ Chu

Đọc cuốn sách Đời chiến sĩ của đại tướng Phạm Văn Trà, chúng tôi cứ ám ảnh mãi bởi một câu chuyện bi thương nhắc lại trong hồi ký của ông:
“Với tâm trạng rất buồn, anh Ba Trung (phó tư lệnh Quân khu 9, chỉ huy trưởng chiến dịch giải phóng các đảo thuộc vùng biển Tây Nam) truyền đạt nhiệm vụ mà như tâm sự, như giãi bày một phẫn uất: “Tình hình xấu quá rồi. Quân Pol Pot đã chiếm một số đảo của ta hơn một tháng nay. Chúng tàn sát đồng bào ta rất dã man. Được Tư lệnh Quân khu phân công trực tiếp giải quyết tình hình các đảo, vừa rồi tôi đã sử dụng một lực lượng của quân khu, có hải quân tăng cường đổ bộ bí mật lên đảo Thổ Chu, bất ngờ tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Pol Pot, bắt 300 tên. Nhưng điều đáng buồn là khi ta giải phóng đảo, quân Pol Pot đã sát hại trên 500 bà con ta sinh sống lâu đời ở đây”.
 
Trung Quốc tích cực hỗ trợ Khmer Đỏ với ngân khoản 80 triệu dollar hàng năm, và vận động Hoa Kỳ viện trợ cho các phe đối lập. Hoa Kỳ tiếp tục tiến hành cấm vận kinh tế với Việt Nam, và từ khi quân Việt Nam tiến vào Phnom Penh, hủy bỏ đàm phán bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Các khoản viện trợ cho Việt Nam và chính quyền Phnom Penh đều bị ngưng lại. Hoa Kỳ và đồng minh gây áp lực để cả Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank) và Ngân hàng thế giới (World Bank) ngưng các khoản vay cho Việt Nam và Campuchia.
 
                                
       Tổng thống Richard Nixon bắt tay với thủ tướng Chu Ân Lai tại Sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh

Thái Lan đồng ý cho lực lượng Khmer Đỏ thiết lập căn cứ tại vùng biên giới. Để hỗ trợ Khmer Đỏ, liên minh không chính thức giữa Trung Quốc và Thái Lan đã thiết lập một tuyến đường bí mật trên đất Thái tiếp tế cho Khmer Đỏ. Tàu Trung Quốc chở vũ khí đạn dược đến các cảng Sattahip và Klong Yai, từ đó, quân đội Thái chuyển hàng đến cho các trại đóng quân của Khmer Đỏ dọc theo biên giới Thái Lan - Campuchia. Sứ quán Trung Quốc tại Bangkok phối hợp với các thương gia người Thái gốc Hoa cùng quân đội Thái chịu trách nhiệm cung cấp lương thực, thuốc men, và hàng dân dụng cho Khmer Đỏ. Đổi lại, Trung Quốc trả phí vận chuyển cho quân đội Thái và cho phép quân đội Thái giữ lại một phần vũ khí. Trung Quốc cũng chuyển giao cho Thái công nghệ chế tạo vũ khí chống tăng với điều kiện một phần sản lượng sẽ được chuyển cho Khmer Đỏ.
Ngoài hỗ trợ khổng lồ mà Bắc Kinh dành cho Khmer Đỏ, Trung Quốc cũng cung cấp viện trợ cho các phe phái đối lập khác ở Campuchia như KPNLF. Nhờ đó, lực lượng quân sự của các phái này có lúc đã phát triển lên gần 30 ngàn. Lực lượng Việt Nam vừa phải chống lại Khmer Đỏ, vừa phải chống lại quân đội của các phe phái đối lập này.
Nhờ có sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các căn cứ do Thái Lan cung cấp, từ tình trạng chỉ còn là những nhóm du kích hồi cuối năm 1979, đến cuối năm 1980 lực lượng Khmer Đỏ đã hồi phục sức mạnh, với quân số tăng lên khoảng 20.000 tới 40.000. Đến cuối năm 1981, chiến tranh du kích của Khmer Đỏ thực hiện tại Campuchia đã lan rộng mạnh mẽ tại những khu vực rộng lớn.
Được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8 tháng 1 năm 1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập. Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia về danh nghĩa là đảng cầm quyền tại Campuchia. Nhưng tổ chức này mới được thành lập nên chưa đủ sức bảo vệ chính phủ mới khỏi trước sức mạnh quân sự của Khmer Đỏ.

Hàng ngàn công chức và kỹ thuật viên Việt Nam đã được đưa sang Campuchia để khôi phục hệ thống điện, nước ở Phnom Penh, đưa hệ thống đường sắt vào hoạt động trở lại. Các bệnh viện và trạm xá được mở lại với các bác sĩ dân y và quân y Việt Nam cùng một số bác sĩ Campuchia còn sống sót qua thời Khmer Đỏ. Hàng trăm người Campuchia được gửi sang Việt Nam học các khóa cấp tốc về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, ngân hàng, ngoại thương, và an ninh.
Từ năm 1979 đến giữa năm 1985, quân đội Việt Nam thực hiện các chiến dịch quân sự truy quét đánh phá các căn cứ của Khmer Đỏ. Tháng 1 năm 1980, chiến dịch quân sự nhằm vào Khmer Đỏ tại Phnom Chhat bắt đầu. Các cuộc đụng độ giữa các lực lượng NCR và quân Việt Nam cũng diễn ra và lan sang cả lãnh thổ Thái Lan. Thời gian này, Khmer Đỏ bắt đầu tái xâm nhập Campuchia từ Thái Lan với khoảng 3-4 ngàn quân. Khi mùa mưa tới, Khmer Đỏ đã tái tổ chức lực lượng, chỉ huy và huấn luyện, bắt đầu các cuộc giao tranh quy mô nhỏ như đánh du kích, phục kích, pháo kích quấy rối.
Lực lượng Việt Nam và chính phủ Phnom Phênh tiếp tục truy đuổi và giáng những đòn nặng nề vào các nhóm chống đối. Năm 1982, trong một chiến dịch dữ dội nhất kể từ khi quân Việt Nam tiến vào lật đổ Khmer Đỏ, sư đoàn 7 Việt Nam đánh vào trại Sokh San của KPNLF, buộc họ phải bỏ chạy vào Thái Lan. Tới tháng 7 năm 1982, Việt Nam tuyên bố sẽ rút quân từng phần khỏi Campuchia đơn phương và vô điều kiện. Ngay lập tức, các lực lượng đối lập tăng cường các hoạt động quân sự. Quân Khmer Đỏ tăng cường hoạt động vũ trang tại các tỉnh Kampot, Takeo, Kampong Cham và Kampong Thom Sự yếu ớt của quân đội chính phủ Phom Penh khiến họ không thể chống đỡ được sự trỗi dậy của Khmer Đỏ. Tình hình quân sự tại Campuchia trong năm 1983 trở nên xấu đi, buộc Việt Nam phải ngừng việc rút quân khỏi Compuchia.
Tương quan lực lượng năm 1984 là Việt Nam có khoảng 180 ngàn quân tại Campuchia, so với khoảng 17 ngàn quân của KPNLF, và khoảng 30-50 ngàn quân Khmer Đỏ và khoảng 5 ngàn quân thuộc lực lượng Sihanouk.
Tuyến phòng thủ Svay Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979.
Càng tiến sâu vào Campuchia, tội ác của bè lũ Pol Pot càng hiện rõ trước mắt. Ông Đinh Trọng Vinh cùng những đồng đội không khỏi ứa nước mắt căm phẫn.
 
                              
 Ông Lục Văn Vĩnh và 5 người con ở bản Nà Lỏng, xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng) tham gia lực lượng vũ trang trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ảnh: Tạ Hải/TTXVN
 
Tới mùa khô năm 1984 - 1985, Việt Nam huy động khoảng 60 ngàn quân cho chiến dịch tấn công quyết định nhằm triệt hạ các căn cứ của Khmer Đỏ nằm gần Thái Lan, cùng với hàng chục ngàn dân công Campuchia xây đường và mở rộng các sân bay dã chiến tại khu vực biên giới. Cuối tháng 12 năm 1984, khoảng 1.000 quân Việt Nam đánh hạ căn cứ Nong Samet. Tháng 1 năm 1985, khoảng 4.000 quân Việt Nam, với hơn 30 xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ, đánh vào căn cứ Ampil của lực lượng Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia (KPNLF) với 5.000 quân phòng ngự và triệt hạ hoàn toàn căn cứ này sau 36 giờ. Quân Việt Nam và quân chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia cũng mở chiến dịch tấn công căn cứ lớn có gần 10.000 quân Khmer Đỏ đóng giữ tại Phnom Malai, nơi mà họ từng định đánh chiếm năm 1982 nhưng bất thành, và đã triệt hạ căn cứ này sau 2 ngày giao tranh. Chiến dịch mùa khô năm 1984-85 là chiến dịch lớn chưa từng có của Việt Nam kể cả về quy mô, thời gian và mức độ thành công.
Sau các chiến dịch 1984-85 của Việt Nam, lực lượng đối lập bị nhiều tổn thất. Liên quân KPNLF và Khmer Đỏ ước tính đã bị mất khoảng 1/3 lực lượng do thương vong và đào ngũ. Liên minh này mất toàn bộ các căn cứ trên đất Campuchia, trong đó có thủ đô lâm thời đặt tại một ngôi làng có tên Phum Thmei trong rừng sát biên giới Thái Lan. Khmer Đỏ rút một phần về Thái Lan, một phần chia nhỏ và ẩn trong nội địa. Hai phe Sihanouk và Son Sann rút hẳn vào trong lãnh thổ Thái Lan. Chiến dịch truy quét quy mô lớn kéo dài 5 tháng của Việt Nam đã chấm dứt hy vọng lật ngược tình thế của Khmer Đỏ và KPNLF. Kể từ cuối năm 1985, các lực lượng này về cơ bản không thể là mối đe dọa lớn đối với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia được nữa.
Ngày 16 tháng 8 năm 1985, thông cáo của cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ba nước Đông Dương tại Phnom Penh tuyên bố Việt Nam sẽ rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia, quá trình rút quân sẽ hoàn thành năm 1990.
Tháng 06 năm 1988, trên cơ sở trưởng thành của quân đội Campuchia và với sự thỏa thuận của giữa Việt Nam và Campuchia, Việt Nam đã rút toàn bộ chuyên gia dân sự và đến tháng 9 năm 1989, Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về nước. Sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút hết, lúc đầu phía Campuchia có lúng túng trước các hoạt động giành dân, chiếm đất của Khmer Đỏ và đồng minh nhưng dần dần Campuchia vươn lên làm chủ tình hình, kiểm soát trên 90% lãnh thổ.
                              
Trong ảnh, một tổ hỏa lực của Trung đoàn 567 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng) phục kích tiêu diệt cánh quân Trung Quốc tấn công TX Cao Bằng (nay là TP Cao Bằng) tháng 2/1979. Ảnh: Trần Mạnh Thường/TTXVN.
 
                              
Nhà cửa, đường phố ở thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang) bị đạn pháo của địch tàn phá trong ngày 8 và 9/3/1979. Ảnh: Ngọc Quán/TTXVN.

Năm 1992-1993, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc Campuchia (UNTAC - United Nations Transitional Authority in Cambodia) tạm thời quản lý Campuchia.
Trong thời kỳ đóng quân tại Campuchia, quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp hàng chục vạn, hàng triệu dân tiều tụy đói khát, trở về quê cũ, khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường học, chùa chiền. Nhân dân Campuchia đã dấy lên một cao trào quần chúng hồi sinh từng người, từng gia đình, từng thôn ấp và hồi sinh toàn dân tộc. Quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp những người dân này sửa lại nhà, ai không còn nhà thì dựng lại nhà, làm sạch giếng cho người dân Campuchia uống, nhường gạo cho người dân Campuchia ăn, khôi phục và sửa chữa lại trường học. Lực lượng ngành y của Việt Nam đi cùng bộ đội thời bấy giờ thì chữa bệnh cho người dân Campuchia. Dần dần trường lớp, làng mạc, bệnh viên, trường học… được khôi phục lại. Bộ quốc Phòng đã chỉ đạo hành động theo từng giai đoạn. Theo đó, giai đoạn đầu do người dân Campuchia chưa có gì, Việt Nam sẽ thực hiện “Việt Nam làm giúp Campuchia”- nghĩa là đánh giặc cũng Việt Nam, giúp dân sản xuất cũng Việt Nam, xây dựng chính quyền cũng Việt Nam (bởi khi đó chính quyền của Campuchia đã bị Khmer Đỏ phá hủy). Khi người dân Campuchia đã có cơ sở, Việt Nam chuyển sang khẩu hiệu “Ta, bạn cùng làm”. Giai đoạn ba là “Bạn làm ta giúp”- nghĩa là người dân Campuchia đã đủ khả năng, người dân Campuchia yêu cầu tới đâu Việt Nam giúp tới đó. Cuối cùng, khi người dân Campuchia thực sự lớn mạnh thì Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện về nước để người dân Campuchia tự đảm đương.  
 
                                 
Phóng viên Isao Takano (đeo kính) của báo Akahata – Nhật Bản đi đưa tin tại thị xã Lạng Sơn những ngày đầu của cuộc chiến đấu. Anh hy sinh vào trưa ngày 7/3/1979, tại đầu đường Quang Trung, Chi Lăng, Lạng Sơn. Ảnh: Minh Đạo/TTXVN
 
Việt Nam và Campuchia từ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có tình đoàn kết chiến đấu. Tuy nhiên, khi kháng chiến chống Mỹ vừa kết thúc, tập đoàn Khmer đỏ liền phản bội. Chúng đã đưa quân đánh sang biên giới Việt Nam gây xung đột rồi phát triển thành chiến tranh tổng lực. Xuất phát từ đâu mà Pol Pot trở mặt như vậy? Chúng ta hãy đọc bản nghị quyết ra hồi tháng 6/1977 của tập đoàn Pol Pot: “Duôl (An Nam) sau chiến tranh còn gặp nhiều khó khăn chồng chất, kinh tế kiệt quệ, chính trị thì nội bộ mâu thuẫn, ở miền Nam chính quyền chưa vững, tàn quân và tổ chức chính trị chống đối của Thiệu còn nhiều, đang hoạt động phá hoại…
Về quân sự, Duôl có quân đội mạnh, có kinh nghiệm chiến đấu, trang bị phương tiện nhiều, song sau khi thống nhất thì tinh thần quân đội sút kém…. Tuy mạnh về quân sự nhưng yếu về chính trị, đang gặp nhiều khó khăn nên không đủ sức mạnh đánh lại chúng ta…Về chiến lược thì bị kiềm chế, không dám tấn công sâu qua đất nước Kampuchia…”
Thiếu tướng Bùi Cát Vũ trong thiên ký sự Đường vào Phnom Penh kể rằng, ông đã đọc được bản nghị quyết của tập đoàn Pol Pot. Ông có nó từ một sĩ quan Campuchia.
 
***
 
Trong khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đang dồn sức tiêu diệt Khơ me đỏ, bảo vệ biên giới Tây - Nam của Tổ quốc mình đồng thời cứu dân tộc Căm - Pu - Chia khỏi nạn diệt chủng, thì bất thình lình, không có tuyên chiến chính thức, ban lãnh đạo Trung Quốc, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, xua quân xâm lược dọc tuyến biên giới Việt - Trung. Tại sao Trung Quốc lại hành động bất chấp đạo lý và điên rồ đến như vậy? Mọi biến cố đều có nguyên nhân sâu xa và duyên cớ trực tiếp của nó. Nhưng nói ngay, dù nguyên nhân nào và duyên cớ nào, dù có giải thích này nọ hay ngụy biện cỡ nào thì Việt Nam, một nước nhỏ bé vừa qua cuộc chiến tranh khốc liệt chống Mỹ giành độc lập và đang tiếp tục chiến đấu cứu thoát dân tộc Cămpuchia khỏi nạn diệt chủng, cũng thuộc về chính nghĩa, còn Đặng Tiểu Bình và bè lũ bá quyền nước lớn là thuộc về phi nghĩa. Chính vì vậy, thực chất của cuộc chiến tranh Việt Trung theo cách gọi của ViệtNam là "chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc, 1979" hay "cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc", còn theo cách gọi dối trá của Trung Quốc là "chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam" (Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989), bởi vì cho đến bây giờ họ vẫn cho là chỉ chống trả cuộc tấn công của Việt Nam.
 
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước. Và hơn thế nữa, Hà Nội muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.
       Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: "Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta". Năm 1974, Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa trong sự làm ngơ của Hoa Kỳ.
Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu ra vấn đề Hoàng Sa, phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm nhà lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, ông cũng phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng "chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á". Ông rút ngắn thời gian thăm Trung Quốc và rời nước này mà không tổ chức tiệc đáp lễ Trung Quốc theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung, không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược". Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.

Rạng sáng ngày 17.2.1979, Bắc Kinh bất ngờ xua hàng vạn quân tấn công đồng loạt 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (gồm Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh). Quân dân các tỉnh biên giới đã anh dũng đứng lên đánh trả quân địch. Trong ảnh là hình mang tính biểu tượng của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 - người chiến sỹ cầm súng B41 đứng bên cột mốc biên giới Lạng Sơn - Trung Quốc. Nguồn ảnh: TTXVN.

Mặc dù phải đối phó với hơn nửa triệu quân xâm lược (ước tính đến 600.000 người), nhưng quân dân Việt Nam vẫn kiên cường kháng cự ở khắp các tỉnh, thành biên giới và đánh bại hàng vạn quân địch. Ảnh: Một chiến sỹ cầm trên tay khẩu CKC đang trông giữ tù binh Trung Quốc. Nguồn ảnh: Wikipedia.

Với kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kèm theo đó là lợi thế thông thổ địa hình, dũng cảm chiến đấu và hợp đồng tác chiến tốt, phía ta đã bắt được rất nhiều tù binh địch. Nguồn ảnh: Wikimedia.

Một phóng viên của ta bị thương trong quá trình tham gia tác nghiệp đang được đồng đội đưa về tuyến sau. Nguồn ảnh: Gettyimg.

Có không ít những công nhân, nông dân địa phương tại khu vực xảy ra giao tranh sẵn sàng ghi danh xung phong cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Nguồn ảnh: Gettyimg.

Mặc dù có trang thiết bị hạn chế, đặc biệt là thiếu nghiêm trọng các vũ khí hạng nặng, các vũ khí chống tăng nhưng lực lượng công an vũ trang và dân quân tự vệ của ta vẫn ngoan cường đối đầu và tiêu diệt nhiều xe tăng địch trong cuộc chiến này. Nguồn ảnh: Wpress.

Hình ảnh một người lính không rõ thuộc công an vũ trang hay dân quân tự vệ mình trần, vác trên vai khẩu B-41 đang lên chốt cùng đồng đội. Do đây là khu vực biên giới hẻo lánh, cuộc chiến lại xảy ra quá bất ngờ và chỉ kết thúc sớm nên không có nhiều tư liệu được lưu giữ lại cho đến ngày nay, vậy nên những bức ảnh như thế này là vô giá. Nguồn ảnh: Wpress.

Bộ đội ta tiến vào Cao Bằng, ảnh chụp ngày 25.2.1979, khoảng 1 tuần sau khi cuộc chiến nổ ra. Nguồn ảnh: Infonet.

Lực lượng công an vũ trang trên đường tuần tra bằng ngựa dọc tuyến biên giới. Sau năm 1979 lực lượng Công an Vũ trang Việt Nam mới được chuyển về quản lý dưới quyền của Bộ Quốc Phòng và đổi tiên thành lực lượng Bộ đội Biên phòng. Trước đó, do chỉ là lực lượng công an được đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Công An nên lực lượng này không có đủ vũ khí, khí tài và trang thiết bị cần thiết cho một cuộc xung đột lớn như ở biên giới phía bắc năm 1979. Nguồn ảnh: VNmilitary.

Thời điểm quân Trung Quốc xâm lược, đại bộ phận đơn vị quân chủ lực của ta đang tập trung đối phó với quân Khmer Đỏ gây hấn dọc biên giới Tây Nam. Cuối tháng 2.1979, lực lượng không quân vận tải của Việt Nam và không quân Liên Xô sử dụng máy bay không vận hàng nghìn bộ đội chủ lực ra Bắc tiếp viện cho lực lượng bảo vệ biên giới phía Bắc. Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Lệnh tổng động viên toàn quốc được ban bố sáng 5.3.1979 thì chiều cùng ngày Trung Quốc tuyên bố rút quân và rêu rao cái gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học". Về phía ta, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho Trung Quốc rút quân. Tuy nhiên, quân Trung Quốc thể hiện thái độ đối nghịch, tàn phá nhiều làng mạc, bệnh viện, trường học trước khi rút toàn bộ quân vào ngày 18.3. Nguồn ảnh: TSVN.

Trận chiến kéo dài 30 ngày đã hủy diệt 4/6 thị xã dọc biên giới Việt Nam, hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. 400.000 gia súc bị giết, hoa màu bị tàn phá, một nửa trong số 3,5 triệu dân 6 tỉnh biên giới mất nhà cửa, tài sản. Về phía Trung Quốc bị diệt 62.500 tên, 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy… Nguồn ảnh: TGVH.

 
Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.
      Ngày 1/11/1977, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc, trong một bài xã luận đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 30/7/1977, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa phát biểu: "Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia... và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể". 
 
Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ (72 trong số 111 công trình viện trợ) không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút bớt chuyên gia về nước. Ngày 29/6/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. Ngày 3/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có những thoả thuận về quốc phòng như một hiệp ước về "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham khảo ý kiến ​​chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an ninh quốc phòng của cả hai nước". Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bị cắt.
Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8/1978, Việt Nam có 4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến 5.000-8.000. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.
     Liên Xô cũng tăng cường áp lực lên Trung Quốc với mục đích đạt được sự kéo dài Hiệp định Xô – Trung có giới hạn 30 năm về quan hệ Liên minh, Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày 14/2/1950 (hết hạn vào ngày 15/2/1979). Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trên tổng số quân thường trực chiến đấu là 3,6 triệu người, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn Hồng quân.
Tháng 5/1979 trên biên giới Liên Xô - Trung Quốc xảy ra một xung đột quân sự nghiêm trọng có sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu. Cũng trong tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Ít lâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh xuống Cam Ranh. 
                                 
Chú thích ảnh 
Chiến sĩ Đoàn 368 pháo binh tỉnh Hoàng Liên Sơn dội bão lửa trừng trị quân địch, ngày 10/3/1979. Ảnh: Phùng Triệu /TTXVN
Chú thích ảnh
Từ 9h15 sáng ngày 20/2/1979, chiến sĩ Đại đội 10, Tiểu đoàn 3 bộ đội Lạng Sơn tổ chức tấn công, chiếm lại đồi Chậu Cảnh và đồi Cây Xanh (cao điểm 409), thuộc xã Tam Lung, huyện Văn Lãng (tỉnh Lạng Sơn), bị địch chiếm đóng từ ngày 17/2/1979. Ảnh: Hà Việt/TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ tiểu đoàn pháo binh mặt trận Hà Tuyên sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Các chiến sĩ Đại đội 39, Đoàn 313 Hà Tuyên tổ chức tiêu diệt các ụ súng của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh ta chiếm điểm cao. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Các chiến sĩ chuẩn bị khí tài chiến đấu trên mặt trận Hà Tuyên. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 3 pháo binh, Đoàn M68 Hà Tuyên chuẩn bị đợt chiến đấu mới. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Nhà cửa của đồng bào bản Hạ, xã Phương Độ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên bị đạn pháo địch tàn phá. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Dân quân huyện Văn Quán, tỉnh Lạng Sơn vừa bám trụ chiến đấu, vừa tổ chức vận chuyển đạn kịp thời đến trận địa phục vụ bộ đội pháo binh tiêu diệt địch, ngày 27/2/1979. Ảnh: Hà Việt /TTXVN
Chú thích ảnh
Các nữ chiến sĩ tự vệ Lâm trường Bản Phiệt, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc tỉnh Lào Cai) bám trụ chiến đấu, phối hợp với bộ đội địa phương đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Ảnh: Nguyễn Trân/TTXVN
Chú thích ảnh
 Bác sĩ cứu chữa vết thương cho các học sinh trường Phổ thông cơ sở xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Tuyên bị trúng mảnh đạn pháo trong khi đang vui chơi. Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN
Chú thích ảnh
Xe tăng địch bị quân ta đánh lật nhào trong đợt 17/2/1979. Ảnh: Mạnh Thường/TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ biên phòng Ngô Duy Nhung cứu sống kịp thời cháu bé này từ trong đống đổ nát. Ảnh: Ngô Đình Phước /TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn M123 bộ đội Lạng Sơn chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt hàng trăm tên địch tại đồi Không Tên trong 2 ngày 17-18/2/1979. Ảnh: Long Sơn/TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ đoàn X tải đạn lên điểm tựa Hà Tuyên. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chú thích ảnh
Dân quân xã Mẫu Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn bám trụ trong 7 ngày đêm, vận chuyển hàng chục tấn đạn dược, lương thực tiếp tế cho bộ đội đánh địch. Ảnh: Long Sơn/TTXVN
Chú thích ảnh
Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN
Chú thích ảnh 
Khu nhà lắp ghép 4 tầng của cán bộ, công nhân tại thị xã Lào Cai, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc tỉnh Lào Cai) bị địch dùng mìn đánh phá. Ảnh: Phùng Triệu/TTXVN
Chú thích ảnh
Xe tăng địch bị bộ đội ta tiêu diệt tại Cao Bằng. Ảnh: Mạnh Thường/TTXVN
Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn với Việt Nam để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978) có giá trị trong 25 năm, trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự. Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.
      Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng cường quan hệ đối với Việt Nam. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979 từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự kiện xung đột Việt Nam Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600 triệu năm 1978 và 890 triệu năm 1979).
       Năm 1975, sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ bác bỏ đề nghị đàm phán xây dựng mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại nước này âm mưu áp đảo Campuchia và lôi kéo Campuchia vào một Liên bang Đông Dương. Khmer Đỏ tìm đến Trung Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung Quốc từng ủng hộ Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt những năm 1960 và không nhiệt tình ủng hộ họ chống Lon Nol. Trung Quốc đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố rằng chính phủ mới sẽ được dẫn dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ do nước này cần một đồng minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc quan hệ Việt - Trung ngày càng xấu đi, đồng thời Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ bành trướng ở Đông Dương nên cần phải ngăn chặn "nguy cơ bá quyền của Việt Nam". Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của chính phủ Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc, “[Ngoại trưởng Trung Quốc] Hoàng Hoa lưu ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ lâu những kế hoạch cho một Liên bang Đông Dương”. Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố "kiên quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia". Đại sứ quán Trung Quốc ở Phnom Penh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến Campuchia thành vệ tinh của Trung Quốc. 
 
                                   
                                              Tù binh Trung Quốc bị áp giải trong cuộc chiến
 
                                  Kết quả hình ảnh cho biên giới 1979 
                                                                    Tù binh TQ bị bắt
 
                                   
 Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Trung Quốc tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến.
 
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các nước láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh thổ thuộc đế quốc Khmer đã bị các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Việt Nam chiếm từ thế kỷ 18 trở về trước. Hành động này bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc được khơi dậy từ thời Pháp thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk, Lon Nol và sau này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì đã tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung đột lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các vùng lãnh thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet và Surin, bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài tranh chấp biên giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng Khmer Serei chống Khmer Đỏ sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để tấn công Khmer Đỏ. Đáp lại, Khmer Đỏ cũng hỗ trợ những người cộng sản Thái Lan thiết lập "Angka Siam" chống đối chính quyền Thái Lan, và huấn luyện lực lượng này từ các tỉnh tỉnh Sisaket, Buriram và tỉnh Surin trên biên giới Thái.
       Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự. Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, song Trung Quốc im lặng. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia, Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam.
        Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn xược của Việt Nam. Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh viện trợ kinh tế cho Việt Nam, cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.
     Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976. Tháng 2 năm 1976, trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen, Trung Quốc đã đồng ý viện trợ quân sự cho Campuchia 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978). Chính sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của nước này đối với các đảng cộng sản ở đông nam Á. Tháng 2 năm 1977, Trung Quốc nói với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấp viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh.
        Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977, Pol Pot có chuyến thăm tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước.      Ngày 20/11/1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông qua việc "chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam". Lê Duẩn cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc đáp lễ Trung Quốc. 
 
Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi".
       Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa".
Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng 1 năm 1978, bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnom Penh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu cũng tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự với Việt Nam. Ngày 17/6/1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam". Ngày 4/11/1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng sang Campuchia để bày tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Campuchia. 
        Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R. Sardesai, từ năm 1975-1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn luyện quân đội Polpot". Theo Marish Chandona, tháng 7 năm 1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, nhưng đến tháng 1 năm 1978, Campuchia có 25 sư đoàn. Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả Campuchia cũng như Trung Quốc đều lên một đỉnh mới. Cùng lúc căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía tây nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam.
      Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.
Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành. Sau khi Phnompenh thất thủ, ngày 27/1/1979 tờ Nhân dân Nhật báo có bài viết, trong đó có đoạn: "Sự thất thủ của Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu" và "vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa".
     Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt Nam bài học".
     Tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.
 
Tù binh Trung Quốc  bị 2 nữ chiến sĩ của ta dẫn giải về hậu cứ.
Tên tù binh Trung Quốc viết lời khai.
Xe tăng của Trung Quốc bị bắn cháy ở Bản Sậy huyện Hòa An, Cao Bằng.

Chiến sỹ ta đứng trên xác xe tăng Trung Quốc bị bắn nát trên đồi Nà Toong.
Xe tăng Trung Quốc bị ta bắt sống

Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công.
      Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam với Việt Nam.      Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, hoạt động vũ trang mang tính khiêu khích tại biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15/2/1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, trong tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2 năm 1979 là 230 vụ. Không những vậy, Trung Quốc còn cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam. Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm biên giới Việt Nam tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
      Ngày 10/9/1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa). Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24/9/1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn đề. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu.
      Ngày 10/11/1975, Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố ngày 24/9 của Đặng Tiểu Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến tranh chấp về các quần đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương thảo. Tuy nhiên trong công hàm trả lời ngày 24/12/1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề nghị này.
       Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
      Ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố này.
        Ngày 30/7/1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) mà không cần phải thương lượng gì hết".
Ngày 7/10/1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên giới. Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối.
        Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
      Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam. Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Ngày 30/4/1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ "sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt", hứa hẹn "sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng". Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước. Sau đó, tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại tại biên giới. Do có quá nhiều người Hoa xin nhập cảnh vào Trung Quốc, nước này đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những "nạn kiều người Hoa" đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ không nhận về "người Việt gốc Hoa", hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam
 
Theo hồi ký của tướng Châu Đức Lễ, tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, tháng 9 năm 1978, tại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc diễn ra một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng". Mối quan tâm ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới. Đề xuất đầu tiên tại cuộc họp muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, Cao Bằng, Việt Nam giáp với Quảng Tây, Trung Quốc. Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cần có một cuộc tấn công tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn. Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào.
 

                               
Tháng 2/1979, Đặng Tiểu Bình đưa 200.000 binh lính của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sang xâm lược Việt Nam. Trong vòng một tháng, hơn 20.000 binh lính Trung Quốc tử trận, bị thương vô số, sau cùng đã thất bại thảm hại và phải rút quân về.
Nguyên nhân của cuộc chiến này bắt nguồn từ việc ĐCSTQ dung túng cho Khmer Đỏ thảm sát 1/4 dân số Campuchia, trong đó có cả kiều bào Trung Quốc và Việt Nam. Vì để bảo vệ người dân Việt Nam tại Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa quân đến Campuchia, quét sạch Khmer Đỏ và giải cứu người dân Campuchia thoát khỏi địa ngục. Sau đó, ĐCSTQ đã đưa quân tiến đánh Việt Nam, trả đũa Việt Nam đã tiêu diệt Khmer Đỏ.


                                  Hoa Quốc Phong (trái) và Đặng Tiểu Bình
Hoa Quốc Phong (trái) và Đặng Tiểu Bình

                                  Thượng tướng Hứa Thế Hữu, kẻ cầm đầu quân đội Trung Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2/1979 (Ảnh tư liệu)
Thượng tướng Hứa Thế Hữu, kẻ cầm đầu quân đội Trung Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2/1979 (Ảnh tư liệu)

                                   Xe tăng của Trung Quốc xâm lược tiến vào địa phận Lạng Sơn của Việt Nam trong Chiến tranh biên giới 1979, một trong vô số hình ảnh vạch trần cái gọi là Chiến tranh tự vệ chống Việt Nam mà Bắc Kinh rêu rao. (Ảnh tư liệu: Sina)
Xe tăng của Trung Quốc xâm lược tiến vào địa phận Lạng Sơn của Việt Nam trong Chiến tranh biên giới 1979, một trong vô số hình ảnh vạch trần cái gọi là "Chiến tranh tự vệ chống Việt Nam" mà Bắc Kinh rêu rao. (Ảnh tư liệu: Sina)
 

Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước này rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

      Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra chỉ thị cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10 tháng 1 năm 1979 để thực hiện chiến dịch tấn công Việt Nam.

      Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân Trung Quốc "phản công" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn viên của Tân Hoa xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt chẽ biên giới của tổ quốc."       Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia - một đồng minh của Trung Quốc và là một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.
 
Thám báo Trung Quốc bị bắt khi đột nhập vào Việt Nam
Trước Ải Nam Quan
Lính TQ vượt sông tràn vào VN
Đạn pháo Trung Quốc tàn phá Cao Bằng.
Bệnh viện Trùng Khánh ( Cao Bằng) đổ nát
Lính TQ phá đường tàu. 
Nữ dân quân Móng Cái, Quảng Ninh sẵn sàng giáng trả địch
Quân dân Hà Nội sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc
Và họ phải đền tội
Người chết ngổn ngang trên núi Lão Sơn
 
 
Theo Carl Thayer, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Trung Quốc muốn "dạy cho Việt Nam một bài học" vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ.
Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía nam của Trung Quốc. Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những kế hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làm thế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục.
 Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc thực hiện hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam. Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978. Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc (khoảng 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979. Từ ngày 9 đến ngày 12/2/1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung. Ngày 16/2/1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp nước này. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian.
 
Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại thời điểm đó vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ chiến tranh và sẽ phản đối chiến tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu Bình chỉ một tuần trước khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962 với Ấn Độ, cộng với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân sự này "giới hạn về không gian và thời gian", khiến Hà Nội tin tưởng họ có khả năng cầm chân quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới.
       Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân tại các tỉnh biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương. Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến leo thang.
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân đội Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.
Cùng ngày, một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do đại tướng G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấn cho bộ tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân còn Đại tướng G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng.
 
 
 
                     [​IMG]
 
Quân TQ trên chiến hào 1 điểm cao, có lẽ vừa qua 1 trận đánh, xác chết được chùm chăn dưới hào
                     [​IMG] 
                                                      Quân TQ băng vào hàng rào 
                                [​IMG]
                                       
Quân TQ chuẩn bị bắn
                        [​IMG]
 
                                                                 Chúng củng cố công sự
                        [​IMG]
 
                                              Hình như quân TQ đang vượt sông Kỳ Cùng????
  
                        [​IMG]  
                                                            Không rõ lính TQ bắt ai???
 
     Ngày 5/11/1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong chuyến đi ngày Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt - Xô ngày 3/11/1978 là mối đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam. Các nước ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Trung Quốc là "nhân tố không ổn định đối với hoà bình khu vực". Tuy nhiên, vì Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô nên các nước ASEAN nhận thấy cần phải nhích lại gần Trung Quốc hơn nữa. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. Theo Nayan Chanda, liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái then chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia.
       Sau đó, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật. Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam.
      Tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung Quốc, nếu xảy ra, sẽ nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam với mong muốn có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động". Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Trong chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, Đặng đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo.
Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng A. Gromyko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.
Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1 năm 1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam chiếm đóng Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: "Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô", "Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục", cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học". Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin thì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản "tuyên bố chiến tranh với Việt Nam".
Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia yêu hòa bình "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man này".
Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung-Xô về vấn đề Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung-Xô, Đặng Tiểu Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam.
       Ngay khi cuộc chiến nổ ra, Hoa Kỳ tuyên bố giữ vị trí trung lập và kêu gọi "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc khỏi Việt Nam", nói rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia". Nhưng theo đánh giá của Nayan Chanda, Hoa Kỳ đã là quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định trong khu vực", tuyên bố của Mỹ về cuộc tấn công của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc thâm nhập biên giới Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hành động quân sự của phía Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.


                     [​IMG]
                            1 tốp lính thông tin TQ bị quân Vn tiêu diệt, còn lại chiến lợi phẩm
                     [​IMG]
                                                       Quân TQ đang thu dọn xác chết
                         [​IMG]
                                                      1 lính Tq vừa bắn xong quả B41 
                                        [​IMG]
                                                        1 tên sĩ quan TQ cầm khẩu k54
                             [​IMG]
                                                        Các cuộc chiến đấu dữ dội
                                                   [​IMG]
                                       2 lính TQ đứng gác ở 1 căn nhà Pháp ở Lào Cai
                   [​IMG]
                      1 lính TQ bị bắn trúng mặt khi đang dùng răng giật chốt lựu đạn chày
                   [​IMG]
                         
Không biết tên lính này đang bắn khẩu súng gì?
                    [​IMG]
                                  
Nơi tập trung đạn dược quân TQ
                     [​IMG]
                                                                 1 tổ nấu ăn của TQ
                             [​IMG]
                Lính TQ đang chiến đấu, 1 tên bị thương đang sờ hòm lựu đạn
                      [​IMG]
                       Quân TQ bắt 3 người, không rõ họ là bộ đội hay dân quân???
                    [​IMG]
                     Quân TQ đang tấn công 1 hang, có lẽ có người dân trú ẩn
Ngày 18 tháng 2, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam: "Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á". Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với Việt Nam, thúc giục Trung Quốc "ngừng trước khi quá muộn" và đòi Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành động man rợ bất chấp đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt "cuộc chiến tranh xâm lược", và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Liên Xô - Việt Nam. Ngoài ra, Liên Xô không có hành động can thiệp quân sự mà chỉ hỗ trợ vận chuyển bằng hàng không, triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam và tăng cường gửi cố vấn và chuyên gia quân sự sang Việt Nam nhằm tránh đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc. Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về việc đặt các lực lượng vũ trang Xô Viết ở Siberi vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu số 1 đồng thời cung cấp cho Việt Nam các thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân chính quyền Hà Nội, vốn giữ chiến thuật phòng thủ trong cuộc chiến, cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh. 
 
                                  Chiến tranh biên giới 1979: Trung Quốc dâng căn cứ ở Biển Đông cho Mỹ để tìm kiếm sự ủng hộ - Ảnh 3. 
Đặng Tiểu Bình thăm Hoa Kỳ ngày 29/01/1979, không lâu trước khi cho quân đánh Việt Nam. Ảnh: AP
 
                                 Chiến tranh biên giới 1979: Trung Quốc dâng căn cứ ở Biển Đông cho Mỹ để tìm kiếm sự ủng hộ - Ảnh 6. 
 Đặng Tiểu Bình, Tổng thống Jimmy Carter cùng quan chức đại diện của hai nước Mỹ-Trung trong cuộc hội đàm tại Washington. Ảnh tư liệu.
Trong cuốn hồi ký của mình, Brzezinski đã kể lại rằng lãnh đạo Trung Quốc đã nói về quyết định tấn công Việt Nam với thái độ rất “bình tĩnh, quả quyết và chắc chắn”. Theo đó, Đặng đã thông báo với phía Mỹ rằng để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô, Trung Quốc cho rằng cần phải có những biện pháp hạn chế tham vọng và dạy cho Việt Nam “một bài học thích đáng”
     5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.
 
                                  Quân dân địa phương phối hợp chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979
Quân dân địa phương phối hợp chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979
                                   
                                                             Lính TQ tấn công Bát Xát
                                  
                                       Lính TQ chiếm Doanh trại QĐNDVN tại Cao Bằng
                               
                                 Pháo hạng nặng và bộ binh xuất phát, tấn công Lạng Sơn
Ở Cao Bằng, sáng 16/2, tất cả các Đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh. Sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi… Trung Quốc đã tấn công rồi.
                               
Bộ đội và dân quân ta bị TQ bắt làm tù binh
Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17/2, nói rằng: Cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 Trung đoàn.
                                   
                                                           Lính TQ tấn công Lai Châu

                                
Nữ tù binh Việt Nam bị hảm hiếp, sau đó đốt cháy thủ tiêu. Cảnh này chúng tôi đã nhìn thấy trên chiến trường, và những chứng nhân tường thuật lại trong cuộc chiến tranh biên giới VN-TQ. Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm.
                                
Xe bọc thép Trung Cộng thuộc Trung đoàn 55, đang làm nhiệm vụ thảm sát trại nữ tù binh Việt Cộng. Những tù binh còn sống họ khai thác tình dục, đối sử bất lương, mỗi khi có bệnh nhân, bác sĩ không quan tâm, cai tù lạnh nhạt. Họa sĩ Thiết Huyết, loan tải trên Lịch sử diễn đàn Trung Quốc.

  Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn lực lượng tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập sở chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần quá lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự tinh nhuệ có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.
     Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất Đđộc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn.        Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến tranh hạn chế" và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn, và gây khó hiểu cho Việt Nam. Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt Nam. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí, khí tài bay tới Hà Nội.
Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Sau khi thị sát chiến trường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.
Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã tiến hành không vận Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn.
Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.

                                     
Phụ nữ, trẻ em và dân quân Việt Nam bị Trung Cộng thảm sát trong ngoài động Thạnh Sơn. Nguồn: Lịch sử diễn đàn Trung Quốc.
                                      
Quân Trung Cộng không tha bất cứ già trẻ, giật sập cửa động, dùng khí độc, chất hóa học thả xuống các lỗ thông hơi giết sạch mọi người trong động. Nguồn: Lịch sử diễn đàn Trung Quốc.
Hai lính TQ, Dương Minh (Yang Ming-) và Hoàng (Huang-) chính tay họ cắt xén thân thể của nữ tù binh Việt Nam. Nguồn: tài liệu Huỳnh Tâm.
                                 Trại nữ tù binh tại Bác Lý Hà. Lịch sử diễn đàn Trung Quốc loan tải. Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm.
                            Trại nữ tù binh tại Bác Lý Hà. Lịch sử diễn đàn Trung Quốc loan tải. 
                      Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm.


Một nữ tù binh Việt Nam còn mặc quần áo bệnh xá, bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể,chúng đang gọi điện báo cho đồng bọn đến tiếp tục cưỡng dâm. Người nữ tù binh này được giải vây và cứu thoát. Ảnh: NF3.86.


Thi thể của nữ tù binh Việt Nam bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, sau đó cắt lấy bộ ngực, bộ ngũ tạng, đôi bắp đùi chân tay để ăn thịt. Thi thể tại hiện trường đang nằm trên băng ca cứu thương của bệnh xá Tập đoàn 25. Ảnh:


Nữ tù binh Việt Nam, sau khi bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, và ức bách cho đến chết, áo ngược bị xé rách toang từng mảnh, cho thấy cự tuyệt thất vọng, thi thể vứt bỏ tại bìa rừng núi 227, cách bệnh xá Tập đoàn 25, 2 km. Ảnh: NF3.86
 
 
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện. Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng. Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
      Đến đây, phía Việt Nam đã điều động các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.
       Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân.
      Ngày 6 tháng 3 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị này khẳng định: "Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa (...) Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (...) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược (...) cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam". Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố rằng để thể hiện "thiện chí hòa bình", Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.
     Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn,...

Sư đoàn 337 của Việt Nam, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.
     Ngày 16 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố mình chiến thắng, nhưng xung đột vũ trang tại biên giới Việt - Trung phải mất một thời gian dài nữa và phải tốn không ít máu xương của cả hai phía nữa mới chấm dứt hẳn.
       Đánh giá thiệt hại sau cuộc chiến, tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000). Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.Tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000. Một nguồn khác của Trung Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng 21.000 bị thương.
Theo tuyên bố của Việt Nam, kết quả chiến đấu của họ như sau:

  • Mặt trận Lạng Sơn: diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác biệt so với ký sự Sư đoàn Sao Vàng).
  • Mặt trận Cao Bằng: diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.
  • Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.
  • Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: diệt 14.000 lính Trung Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn.
Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Để được Liên Xô tăng cường viện trợ, từ 27 tháng 3 năm 1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh. Về phía Trung Quốc, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế.       Khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam". Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, quân Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam.
       Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Trung Quốc nối lại đàm phán về vấn đề biên giới. Cuộc đàm phán Việt – Trung lần ba diễn ra vào năm 1979 với hai vòng đàm phán. Trong vòng đàm phán thứ nhất phía Việt Nam cho rằng, trước hết cần vãn hồi hòa bình, tạo không khí thuận lợi để giải quyết những vấn đề khác. Đoàn Việt Nam đưa ra phương án ba điểm để giải quyết vấn đề biên giới: chấm dứt chiến sự, phi quân sự hóa biên giới; khôi phục giao thông, vận tải bình thường trên "cơ sở tôn trọng đường biên giới lịch sử mà các Hiệp định Trung - Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập". Phía Trung Quốc kiên quyết từ chối những đề nghị của Việt Nam, đưa ra đề nghị tám điểm của mình, bác bỏ việc phi quân sự hóa biên giới, đề nghị giải quyết các vấn đề lãnh thổ trên "cơ sở những công ước Trung - Pháp" chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các Hiệp định đó đưa lại. Trung Quốc cũng đòi Việt Nam thừa nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc"; Việt Nam phải rút quân ra khỏi Trường Sa, thay đổi chính sách với Lào và Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia. Trung Quốc cũng yêu cầu Việt Nam nhận lại những người Hoa đã ra đi. Trong quan hệ với các nước khác: "Không bên nào sẽ tham gia bất cứ khối quân sự nào chống bên kia, cung cấp căn cứ quân sự hoặc dùng lãnh thổ và các căn cứ các nước khác chống lại phía bên kia"; "Việt Nam không tìm kiếm bá quyền ở Đông Dương hay ở bất cứ nơi nào" làm điều kiện để tiến hành thương lượng.
 
Vị trí và lực lượng của Hải quân nhân dân Việt Nam trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 14-3-1988
Vị trí và lực lượng của Hải quân nhân dân Việt Nam trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 14-3-1988
Tàu HQ-604 dưới làn đạn tàn ác của kẻ thù
Tàu HQ-604 dưới làn đạn tàn ác của kẻ thù

Tàu HQ-505 ủi bãi bảo vệ Cô Lin
Tàu HQ-505 ủi bãi bảo vệ Cô Lin
Dưới họng súng của Trung Quốc, chiến sỹ hải quân Việt Nam đã chiến đấu đến hoi thở cuối cùng cho chủ quyền của Tổ quốc
Dưới họng súng của Trung Quốc, chiến sỹ hải quân Việt Nam đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho chủ quyền của Tổ quốc
Đảo Len Đao, hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió
Đảo Len Đao, hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió
 
Vòng đàm phán thứ hai được tổ chức tại Bắc Kinh từ ngày 8/6/1979. Đoàn đại biểu Việt Nam đề nghị hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động thám báo và trinh sát dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của nhau; không tiến hành bất cứ hoạt động tiến công, khiêu khích vũ trang nào, không nổ súng từ lãnh thổ bên này sang bên kia, cả trên bộ, trên không, trên biển; không có bất cứ hành động gì uy hiếp an ninh của nhau. Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm của mình về "chống bá quyền" với ba nội dung chính: Không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ hình thức nào, chấm dứt ngay việc chiếm đoạt đất đai của nước kia, không xâm lược, không dùng vũ lực để "trừng phạt" hoặc để "dạy bài học"; không can thiệp vào quan hệ của một nước với nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho nước khác; không liên minh với các thế lực phản động khác chống lại hòa bình, độc lập dân tộc. Trong vòng đàm phán này, Trung Quốc chủ yếu chỉ trích Việt Nam về việc "buộc" Trung Quốc phải thực hiện "chiến tranh tự vệ", đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quan hệ hai nước và lập trường tại khu vực, không tập trung giải quyết thực chất vấn đề biên giới. Đầu năm 1980, Trung Quốc đơn phương đình chỉ vòng ba, không nối lại đàm phán. Việt Nam liên tiếp gửi công hàm yêu cầu họp tiếp vòng ba, nhưng Trung Quốc làm ngơ. Trong những năm 1979-1982, Việt Nam nhiều lần đề nghị nối lại các cuộc đàm phán đã bị Trung Quốc đơn phương bỏ dở, nhưng Trung Quốc vẫn một mực khước từ.
       Từ tháng 3/1979 đến hết tháng 9/1983, Trung Quốc đã cho lực lượng vũ trang xâm nhập biên giới Việt Nam 48.974 vụ, trong đó xâm nhập biên giới trên bộ 7.322 vụ có nổ súng, khiêu khích; xâm nhập vùng biển 28.967 vụ; xâm nhập vùng trời biên giới 12.705 vụ (với hơn 2.000 tốp máy bay).
      Trung Quốc bắn pháo thường xuyên vào các vùng dân cư, tiếp tục lấn chiếm đất đai, xâm canh, xâm cư, di chuyển, đập phá cột mốc, dựng bia, chôn mộ trong đất Việt Nam. Tính đến tháng 3/1983, Trung Quốc còn chiếm giữ 89 điểm của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, lên cao vào các năm 1984-1985. Trong tháng 5 - tháng 6 năm 1981, quân Trung Quốc mở cuộc tấn công vào đồi 400 (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn) ở huyện Cao Lộc, Lạng Sơn, xa hơn về phía tây, quân Trung Quốc cũng vượt biên giới đánh vào các vị trí quanh đồi 1688 ở tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng. Ngày 1/2/1984, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang cùng đoàn cán bộ cao cấp đã đến thăm cao điểm 400 (mà Trung Quốc đặt tên là Pakhason) để động viên quân đội. Tới năm 1984, quân Trung Quốc lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn công lớn vào Lạng Sơn. Đặc biệt tại Hà Tuyên, trong tháng 4 - tháng 7 năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Quân Trung Quốc chiếm một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù quân đông hơn nhiều.
 
Các nhà quan sát nước ngoài ghi nhận từ tháng 7/1980 đến tháng 8/1987, dọc biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã xảy ra 6 cuộc xung đột vũ trang lớn vào các tháng 7/1980, tháng 5/1981, tháng 4/1983, tháng 6/1985, tháng 12/1986 và tháng 1/1987. Theo tuyên bố của Ngoại Trưởng Trung Quốc Ngô Ngọc Khiêm trong buổi họp báo ở Singapore ngày 29/1/1985, trong năm 1985, Trung Quốc đã điều thêm 8 sư đoàn bộ binh cùng gần 20 sư đoàn tại chỗ áp sát biên giới Việt – Trung; đồng thời, triển khai hơn 650 máy bay chiến đấu, ném bom các sân bay gần biên giới. Còn theo Báo Nhật Bản Sankei Shimbun ra ngày 14/1/1985, Trung Quốc đã đưa số máy bay đến gần biên giới Việt - Trung lên gần 1.000 chiếc. Đài BBC ngày 6/2/1985 cho biết: Trung Quốc có 400.000 quân đóng dọc biên giới Việt – Trung. Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế của Trung Quốc số 2/1982 lý giải mục đích của việc bố trí một lực lượng lớn quân đội ở sát biên giới với Việt Nam "là để kìm giữ một phần binh lực của Việt Nam ở tuyến biên giới phía Bắc, do đó làm lợi cho cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Campuchia". Trung Quốc cũng thường xuyên khiêu khích vũ trang, lấn chiếm, phá hoại phòng tuyến bảo vệ biên giới, tung gián điệp, thám báo, biệt kích vào nội địa, kích động các dân tộc thiểu số dọc biên giới Việt Trung ly khai, xây dựng cơ sở vũ trang, gây phỉ. Từ cuối năm 1980, Trung Quốc hỗ trợ Fulro và tàn quân Polpot, lập căn cứ ở Đông Bắc Campuchia, lập hành lang Tây Nguyên- Campuchia –Thái Lan.
       Trong các ngày 22/2/1980, 27/2/1980 và 2/3/1980 tại vùng biển Tây Nam quần đảo Hoàng Sa, Hải quân Trung Quốc bắt giữ một số thuyền đánh cá của ngư dân hai tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và Nghĩa Bình. Từ năm 1979 đến năm 1982, diễn ra các sự kiện đáng chú ý như Tổng cục Hàng không Dân dụng Trung Quốc công bố một thông cáo quy định "bốn vùng nguy hiểm" ở Tây Nam đảo Hải Nam, trong đó có vùng trời của quần đảo Hoàng Sa và buộc máy bay dân dụng của các nước khác phải bay qua đây vào những giờ do Trung Quốc quy định; thành lập lữ đoàn Hải quân đầu tiên ở đảo Hải Nam (12/1979); cho máy bay ném bom H-6 của Hải quân Trung Quốc thực hiện cuộc tuần tra trên không đầu tiên ở quần đảo Trường Sa (1/1980); năm 1982, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí viếng thăm quần đảo Hoàng Sa và tàu hải quân của Trung Quốc, Việt Nam đã đụng độ ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa.

      Ngày 15/4/1987, Trung Quốc đã ra tuyên bố lên án quân đội Việt Nam chiếm đóng đảo đá Ba Tiêu thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cho rằng mục đích của Việt Nam khi triển khai quân đội một cách bất hợp pháp ở đảo Ba Tiêu là để chiếm hữu thềm lục địa gần đó và mở đường cho việc khai thác dầu trong tương lai. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút khỏi Ba Tiêu và 9 hòn đảo khác, bảo lưu quyền thu hồi các đảo này vào một thời điểm thích hợp. Từ ngày 15/5 đến ngày 6/6/1987, Hải quân Trung Quốc diễn tập lớn và tổ chức các cuộc nghiên cứu hải dương học ở khu vực quần đảo Trường Sa. Tháng 1/1988, một lực lượng lớn tàu chiến của Trung Quốc hoạt động xâm chiếm tại bãi đá Chữ Thập và Châu Viên, xây nhà, cắm cờ Trung Quốc trên hai đảo này. Ngày 26/2/1987, lực lượng của Trung Quốc đã đổ bộ lên hai đảo san hô trong quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3 năm 1988 xảy ra Hải chiến Trường Sa giữ Việt Nam và Trung Quốc gần cụm đảo Sinh Tồn, khiến 3 tàu vận tải của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người chết và 74 người khác bị mất tích. Trong năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, xây dựng hệ thống nhà giàn. Tháng 5/1988, tờ Nhật báo Quân đội Nhân dân thuộc quân đội Trung Quốc có bài viết, trong đó tuyên bố: Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý.
Các ngày 17 và 23, 26 tháng 3 năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã liên tục gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh, đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để không làm tình hình xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình trạng tranh chấp giữa hai bên song phía Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm giữ các nơi đã chiếm được và khước từ thương lượng, giữ quan điểm về "chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với quần đảo Nam Sa" (Trường Sa).
 
Ngày 13/4/1988, Quốc hội Trung Quốc khóa VI đã phê chuẩn thành lập Khu hành chính Hải Nam, có địa giới hành chính rộng lớn trên biển Đông, bao trùm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 4/1988, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sáp nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam - Trung Quốc. Từ tháng 1/1989 đến tháng 9/1990, Trung Quốc liên tục có các hành động như: đặt bia chủ quyền trên các đảo đã chiếm được; tập trận, khảo sát khoa học trong lãnh hải quần đảo Trường Sa.
 
 
                        
                              Lính Trung Quốc đe dọa phóng viên chụp hình      

Những năm 1982, 1983 và 1984, tại diễn đàn đàm phán bình thường hóa quan hệ Xô – Trung ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Trung Quốc nêu vấn đề quân đội Việt Nam ở Campuchia, đề nghị Liên Xô phải thúc đẩy Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia, coi việc Liên Xô tiếp tục ủng hộ quân đội Việt Nam tại Campuchia là trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hóa quan hệ Trung - Xô.
        Cuộc chiến năm 1979 cho Trung Quốc thấy sự lạc hậu của vũ khí cũng như chiến thuật mà quân đội nước này sử dụng, do đó, sau cuộc chiến là bắt đầu của một cuộc cải cách và hiện đại hóa mạnh đối với Quân giải phóng Trung Quốc, ngày nay công cuộc hiện đại hóa này vẫn tiếp tục. Ảnh hưởng trực tiếp có thể thấy là ngân sách dành cho quốc phòng của Trung Quốc tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979.
       Quan hệ xấu với Trung Quốc đã làm Việt Nam đã phải trả một cái giá rất đắt. Việc Trung Quốc duy trì áp lực quân sự tại vùng biên giới trong suốt mười năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì lực lượng phòng thủ lớn ở biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị sa lầy với chiến sự dai dẳng ở Campuchia mà Trung Quốc muốn kéo dài, Việt Nam bị cô lập trong mười năm đó trên trường quốc tế. Nền kinh tế yếu kém và bị Mỹ cấm vận phải căng ra duy trì một lực lượng quân đội lớn, và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau năm 1979, tình hình kinh tế miền Bắc Việt Nam tệ hại đi rất nhiều so với thời kỳ trước đó. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển mạnh từ năm 1978 do công cuộc cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình. 7 năm sau chiến tranh biên giới, Việt Nam bắt đầu thời kì Đổi Mới. Sau khi Liên Xô tan rã và Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước chính thức được bình thường hóa.
 
***
 
Đến đây, cuộc trường chinh dài dặc đi đòi độc lập dân tộc của dân tộc Việt trên con đường đầy gian lao và thấm đẫm biết bao máu xương mới thực sự kết thúc. Sau khi sự nghiệp cứu nước hoàn thành, dân tộc Việt lại bước vào công cuộc kiến thiết, xây dựng Tổ Quốc  ngày một giàu mạnh. Có thể coi đây là cuộc trường chinh mới, cũng đầy khó khăn gian khổ tuy không tốn máu xương, với tên gọi "xây dựng thành công Chủ Nghĩa Xã Hội". Con đường này chắc dài lắm, vì cho đến nay, hàng chục năm qua rồi mà hình bóng xã hội thiên đường ấy chưa thấy tăm hơi đâu. Và bất giác chúng ta tự hỏi: chúng ta đã "định hướng Chủ Nghĩa Xã Hội"....đúng chưa?
Theo hiểu biết chúng ta thì mục đích đầu tiên, trực tiếp và duy nhất của Nguyễn Tất Thành (tên thời trẻ của Hồ Chí Minh) khi ông ra đi "tìm đường cứu nước" là tìm cách đánh đuổi Thực dân Pháp xâm lược, giành lại chủ quyền Dân Tộc. Chỉ thế thôi!
Tình hình thực tế thời bấy giờ cho thấy sự xâm lược của thực dân gắn liền với quần chúng thuộc địa bị nô dịch, bị áp bức bóc lột thậm tệ. Cho nên việc đánh đuổi thực dân cũng đồng thời thực hiện được mục đích thứ hai là giải phóng nô dịch, xóa bỏ bóc lột, xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh. Thực ra đó là hai cuộc cách mạng độc lập nhau nhưng cùng chiều.
Trong bối cảnh đó, Lênin đã soạn thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Tác phẩm ngắn gọn, vô cùng quan trọng này đã củng cố những nguyên tắc mácxít về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Những luận cương đó đã được Đại hội II Quốc tế Cộng sản thông qua và coi là cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản trong tình hình lúc bấy giờ. Mười hai luận điểm trong Luận cương toát lên 5 tư tưởng chiến lược lớn: Một là, đặt vấn đề dân tộc đi đôi với vấn đề thuộc địa; quyền tự quyết của các dân tộc gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa phải đi đến công nhận, thực hiện quyền độc lập tự chủ chứ không chỉ có tự trị văn hóa. Hai là, chỉ rõ trách nhiệm trọng đại của các Đảng Cộng sản ở các nước đế quốc là phải ủng hộ, giúp đỡ một cách tích cực nhất đối với phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Ba là, khẳng định các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc không những có nhiệm vụ giải phóng khỏi ách thống trị của nước ngoài, mà còn phải đấu tranh chống lại các lực lượng phản động ở ngay trong nước mình, những lực lượng đó thường là đồng minh của đế quốc thực dân. Bốn là, đề ra một nhiệm vụ lớn của cách mạng thế giới là sự đoàn kết chặt chẽ giữa phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức với các nước đã làm cách mạng XHCN thành công. Năm là, Quốc tế III đóng vai trò bộ tham mưu chung của cách mạng thế giới, nước Nga xô viết là ngọn cờ đầu, căn cứ địa, thành trì của cách mạng thế giới.
 
                                          Trần Phú - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương
 Trần Phú sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay thuộc xã huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nguyên quán của ông ở làng Đông Thái, xã An Đồng, tổng Việt Yên, (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).

Cha Trần Phú là Trần Văn Phổ, từng đỗ Giải nguyên. Thời gian ông làm Giáo thụ Tuy An đã sinh ra Trần Phú tại đây. Mẹ ông là bà Hoàng Thị Cát, người làng Tùng Anh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trần Phú là con thứ 7 trong gia đình.

Ngày 19/4/1908, khi đang là Tri huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), do không chịu được sự đè nén, áp bức, nhục mạ của công sứ Pháp Dodey Besra và bất lực trước tình cảnh nhân dân đói khổ, lầm than, Trần Văn Phổ đã thắt cổ tự sát tại công đường. Do nghèo khổ và buồn phiền, 2 năm sau đó, mẹ ông cũng qua đời ngày 27/11/1910.

Trần Phú cùng với người em út là Trần Ngọc Danh từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị sống với người chị gái Trần Ngọc Quang và anh trai Trần Đường, về sau được một người dì ruột là cung nương Hoàng Thị Khương mang về giao cho con trai mình là Thái Thường Tự Khanh Phạm Hoàng San và vợ là Phan Thị Yến (làm việc ở Toà Khâm sứ Huế) nuôi dưỡng, và cho ăn học tại Trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba rồi Trường Quốc học Huế. Tại Trường Quốc học Huế, ông được theo học cụ Võ Liêm Sơn một nhà giáo yêu nước.

Năm 1922, Trần Phú đỗ đầu kỳ thi Thành chung (học vị cao nhất theo hệ Pháp đào tạo tại Việt Nam lúc bấy giờ) lúc 18 tuổi, rồi về dạy học tại trường Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An).

Thời gian dạy học ở Vinh, vốn có ảnh hưởng tinh thần dân tộc của cha, Trần Phú có những tiếp xúc đầu tiên với chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, ông cùng một số bạn bè như Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn, Tôn Quang Phiệt... thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hưng Nam, rồi lại đổi ra Việt Nam Cách mạng Đảng.

Năm 1926, với bí danh Lý Quý, Trần Phú đại diện Việt Nam Cách mạng Đảng sang Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất với Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại Quảng Châu, ông tham gia một số lớp huấn luyện về lý luận và chính trị, được kết nạp vào Cộng sản Đoàn, và được cử về nước hoạt động. Tháng 12 năm 1926, ông về đến Vinh, tham gia cải tổ Việt Nam Cách mạng Đảng theo đường lối và tổ chức của Việt Nam thanh niên cách mạng.

Một thời gian sau, ông bị lộ, được tổ chức bố trí sang Quảng Châu để hoạt động với bí danh Lý Viết Hoa. Mùa xuân năm 1927, Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc cử sang học tại trường Đại học Đông Phương (Liên Xô) với bí danh Likvey (Hhkbch). Tại đây, chi bộ những người Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông được chỉ định làm bí thư chi bộ này.

Năm 1928, Trần Phú là đại biểu dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. Khi đó, tại quê nhà, ngày 11 tháng 10 năm 1929, ông bị tòa án Nam triều ở Nghệ An xử án vắng mặt cùng với một số đồng chí của mình.

Tấm biển trên căn hầm tại ngôi nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội ghi: Tại đây đồng chí Trần Phú đã viết bản "Luận cương về cách mạng tư sản dân quyền" của Đảng

Tháng 4 năm 1930, Trần Phú về nước và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời của Đảng (tháng 7), sau đó ít lâu vào Ban Thường vụ Trung ương. Ông được giao soạn thảo Luận cương Chính trị về vấn đề cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương.

Tháng 10 năm 1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng (Trung Quốc) đã thông qua bản Luận cương Chính trị và bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức, ông được bầu Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

Tháng 3 năm 1931, với bí danh Anh Năm, Trần Phú chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 2 tại Sài Gòn bàn việc chấn chỉnh Đảng sau đợt khủng bố của thực dân Pháp. Hội nghị khẳng định: "Đảng [Cộng sản Việt Nam] là đảng tiền phong của giai cấp vô sản, Đảng chiến đấu cho lợi ích sống còn của dân tộc, cho quyền lợi các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, nhưng không phải là đảng của Công Nông. Kiên quyết chống tả khuynh, chống hữu khuynh". Hội nghị đã vạch ra nghị quyết về nhiệm vụ hiện tại của Đảng, nghị quyết về tổ chức của Đảng, nghị quyết về cổ động tuyên truyền. Tại hội nghị này, một quyết định về "Tổ chức ra cộng sản thanh niên Đoàn là một nhiệm vụ thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề cần kíp của Đảng phải giải quyết". Đây được xem là tiền đề để hình thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về sau này. Theo Sophie Quinn- Judge, tác giả cuốn "Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết đến" (Hochiminh: The missing years), mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương với Hồ Chí Minh lúc đó đã xuống dốc rất nhiều. Hồ Chí Minh lúc đó bị chỉ trích vì người ta bắt đầu xem ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia.

Ngay sau Hội nghị, do sự phản bội của Ngô Đức Trì, ngày 19 tháng 4 năm 1931, Trần Phú bị thực dân Pháp bắt tại nhà số 66 đường Champagne (đường Lý Chính Thắng hiện nay), Sài Gòn.

Biết ông là cán bộ cao cấp, chính quyền thực dân tìm cách dụ dỗ và tra tấn để khai thác thông tin. Nhưng với chí khí kiên cường, ông không bị khuất phục, dù bị đày ải nhiều lần. Ngày 6 tháng 9 năm 1931, ông qua đời tại Nhà thương Chợ Quán ở tuổi 27 với lời nhắn nhủ bạn bè "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".

Anh chị em tù chính trị ở khám lớn Sài Gòn năm 1931 đã làm thơ:

                                    Trần Phú anh ơi đã thác rồi

Thác mà như thế đẹp gương soi
Bao phen sóng gió đâu sờn dạ
Mấy trận đòn tra chẳng hở môi
Giọt máu anh hùng giờ tơi tả
Trái tim vô sản vẫn không rời

Tuy anh đã thác gương còn sáng
Thác được như anh sáng suốt đời

Sau khi ông qua đời, người thân ông vào Sài Gòn, tìm cách đưa thi hài ông ra chôn cất tại nghĩa trang Chợ Quán Sài Gòn (nay là thuộc khu vực công viên Lê Thị Riêng). Năm 1998, người cháu ruột của ông đã tìm cách tìm lại ngôi mộ của ông thông qua ký ức được kể lại và ngoại cảm. Ngày 4 tháng 1 năm 1999, phần mộ được cho rằng của ông đã được phát hiện. Ngày 12 tháng 1 năm 1999, hài cốt của Trần Phú được di dời về an táng tại quê hương Đức Thọ, Hà Tĩnh. Mộ của ông được đặt trên ngọn đồi cao thuộc xã Tùng Ảnh, phía trước mộ là hàng chữ "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".  

Luận cương Lênin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định việc lựa chọn con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc (tên thời trẻ của Hồ Chí Minh), bởi lẽ: Đây là văn bản chính thức đầu tiên bênh vực cho các nước thuộc địa, các dân tộc “nhược tiểu”. Những tư tưởng cơ bản trong Luận cương có nhiều điểm phù hợp với tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt là sự đau xót trước nỗi thống khổ của quần chúng lao động khắp thế giới và sự quan tâm đến vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa cũng như tinh thần đoàn kết của quần chúng lao động trong đấu tranh. Chính điều này đã làm cho Nguyễn Ái Quốc phấn khởi và tin theo, dứt khoát đi theo Quốc tế III. Dưới ánh sáng Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc cần phải gắn bó chặt chẽ với tinh thần quốc tế vô sản và vấn đề độc lập dân tộc của Việt Nam cần phải gắn bó khăng khít với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Người đã tìm thấy ở Luận cương của Lênin con đường giải phóng đất nước và nhân dân mình. Nguyễn Ái Quốc đã rút ra kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Có thể khẳng định, Luận cương của Lênin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.  
Như vậy, chính Luận cương của Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ngày nay chúng ta đều thấy "định hướng XHCN" không phải là con đường duy nhất tiến lên dân giàu nước mạnh! Tiến lên dân giàu nước mạnh mục đích không nhiều thì ít, là nỗ lực có xu thế hầu như tất yếu của hầu hết các thể chế, các chính quyền nhà nước trên thế giới. Nguyên do, thứ nhất là vì lẽ sống còn, thứ hai là vì có như thế mới phù hợp với nguỵen lý tồn tại của tự nhiên ! Các nước Trung Quốc, Triều Tiên...có định hướng XHCN không, nếu có định hướng thì sao lạ thế? Còn Singapore và các nước Bắc Âu...thì sao?
 Có lẽ con đường định hướng tiến lên dân giàu nước mạnh duy nhất đúng là con đường xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà thực chất là của dân, do dân và vì dân. Và lúc đó, nên vứt bỏ nhãn mác "định hướng XHCN" đi vì thừa, không cần thiết nữa!
 
***
Về phụng sự “dưới trướng” một lãnh tụ thiên tài, kiệt xuất thường là những cá nhân có năng lực nổi trội, có biệt tài xuất chúng. Hồ Chí Minh đã có được một tập thể những con người ưu tú như vậy, chẳng hạn là: Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà… Một lãnh tụ thiên tài và một tập thể lãnh đạo tài giỏi, hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng là một trong những nguyên nhân quyết định cho sự thành công vang dội trong cuộc kháng chiến cứu nước ngót 30 năm của Cách mạng Việt Nam. Trong niềm vui và tự hào khôn xiết của cả Dân tộc là niềm vui và tự hào khôn xiết của cả tập thể ấy vì đối với họ, đúng như câu thơ Trần Văn Trà đã viết:
                           “Ra đi hai bàn tay trắng
                           Khi về một dải giang sơn”
 
Tuy nhiên hai câu thơ đó làm cho chúng ta ngậm ngùi nhớ về nhiều con người hữu danh cũng như vô danh đã gục ngã, đã khuất trên dọc đường trường chinh ấy, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông thực sự đã “ra đi hai bàn tay trắng” để giành lại giang sơn cho dân tộc Việt, nhưng ông đã không có mặt trong ngày Toàn Thắng.
                                           
Trần Văn Trà (15 tháng 9 năm 1919 – 20 tháng 4 năm 1996) là một nhà quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là Thượng tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương. Trong Chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh , Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định .
Ngay từ năm 1960, Hồ Chí Minh đã tiên đoán rằng chậm nhất là 15 năm nữa, miền Nam sẽ được giải phóng, Nam - Bắc sẽ xum họp một nhà và thường trực trong ông một mong ước tột cùng là đến ngày đó ông sẽ vào thăm hỏi đồng bào Miền Nam. Mong ước đó đã không bao giờ thành hiện thực: Hồ Chí Minh từ trần vào ngày 2-9-1969 (đúng vào ngày Quốc Khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa - cuộc đời của những thiên tài thường hay có những điểm kỳ lạ mà chỉ có thể giải thích được bằng con đường tâm linh).
Hồ Chí Minh chưa bao giờ kể về đời mình, chắc rằng không phải ông “làm cao” mà có lẽ ông định sau khi thống nhất nước nhà, thực sự mãn nguyệt rồi, lúc đó ông sẽ kể? Hay là vì điều này: Hồ Chí Minh là một vĩ nhân và những bậc vĩ nhân thường phải hội đủ hai mặt: danh tiếng “nổi như cồn” đồng thời cuộc đời có nhiều uẩn khúc? Và phải chăng địa linh nhân kiệt hun đúc nên vĩ nhân, anh hùng và đồng thời cũng bày ra sự trái ngược ấy để vĩ nhân, anh hùng đi vào lịch sử, bất tử ở đó với những câu chuyện truyền kỳ đượm sắc thái lung linh, huyền thoại liên quan đến thân thế, sự nghiệp họ?
Trong chính sử, điều rõ ràng là ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có phó bảng Nguyễn Sinh Sắc lấy vợ là Nguyễn Thị Loan, sinh được ba người con: Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Sinh Cung. Cả ba người con ấy sau này đều không lấy vợ (hay chồng) nên cũng không có con. Lịch sử không nói đến thân phụ của Nguyễn Sinh Sắc là ai và cũng không cho biết Nguyễn Sinh Sắc là con một. Lịch sử về thân thế dòng họ Nguyễn Sinh, cơ bản chỉ có vậy. Người ta có cảm giác một dòng họ đột ngột được sinh ra từ trời đất, duy trì được 2 đời rồi tuyệt nhiên trở về trời đất, mất hút. Thật kỳ lạ!
 
Nguyễn Sinh Sắc (chữ Nho: 阮生色, còn gọi là Nguyễn Sinh Huy (阮生輝); sách báo thường gọi bằng tên cụ Phó bảng; cụ Sắc, 1862 – 27 tháng 11, 1929) là cha ruột của Chủ tịch nước Việt Nam đầu tiên – Hồ Chí Minh.
  Ngưỡng mộ và kính phục Hồ Chí Minh, trong một thời gian dài, chúng ta đã cố gắng tìm hiểu nguồn gốc, dòng họ của Nguyễn Sinh Cung (tên lúc còn nhỏ của Hồ Chí Minh), từ Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ ông, trở về trước và không thu được một manh mối thực sự đáng tin nào. Đành rằng ở Nam Đàn, Nghệ An cũng có một dòng họ Nguyễn Sinh, và cũng có thông tin kiểu “rỉ tai, truyền khẩu” rằng Nguyễn Sinh Sắc là con em ruột thịt của dòng họ này. Nhưng vì thông tin đó tỏ ra manh mún, mờ nhạt và hơn nữa ẩn chứa nhiều mâu thuẫn nên rất khó lòng mà tin được. Thời Nguyễn Sinh Sắc so với ngay thời nay vẫn là một quá khứ “rất gần”, so với thời Hồ Chí Minh còn sống, còn gần hơn nữa. Sao trong thực tế lịch sử thấy mối quan hệ giữa cha con Nguyễn Sinh Sắc với dòng họ Nguyễn Sinh có vẻ hời hợt, thiếu mật thiết? Chưa từng nghe Hồ Chí Minh có chú, bác ruột. Điều đó phải chăng vì Nguyễn Sinh Sắc là con trai một? Nếu thế sao không thấy Nguyễn Sinh Sắc lập bàn thờ, ít ra là thờ cha mẹ mình theo truyền thống dân tộc Việt. Tại sao lúc về già, Nguyễn Sinh Sắc giã từ con cái (ông Khiêm, bà Thanh), rời bỏ quê hương bản quán, hành phương Nam, đến Cao Lãnh - Đồng Tháp xa xôi hành nghề bốc thuốc và hoạt động yêu nước rồi mất tại đó?
Dứt khoát thông tin “rỉ tai, truyền khẩu” nói trên chưa xuất hiện khi ông Khiêm, bà Thanh và Hồ Chí Minh còn sống, vì không ai trong số họ, như mọi người dân Việt khác lại vô cớ chối bỏ dòng họ, ông bà mình. Nếu lúc đó đã có thông tin đó thì nó phải là sự thực, có tính công khai và phải có rất nhiều người biết, còn không, chỉ là một sự vu khống. Mà ai lúc đó dám mở miệng vu khống? Có thể nghĩ rằng đó là một thông tin thất thiệt, mãi về sau mới được tung ra và đơn giản là chỉ vì một ước muốn háo danh thầm kín nào đó chăng?
Như vậy, nếu suy luận của chúng ta có lý thì họ Nguyễn Sinh của Nguyễn Sinh Sắc và dòng họ Nguyễn Sinh ở Nam Đàn - Nghệ An chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, còn không, nó phải hàm chứa một uẩn khúc nào đó. Để giải tỏa cái uẩn khúc đó thì trước tiên phải trả lời được câu hỏi: Nguyễn Sinh Sắc thực sự là ai, tại sao lại mang họ Nguyễn Sinh? Theo một bài viết (theo tác giả, "Đây là những lời truyền miệng nhân gian, cho nên cùng lắm, chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà, nếu không khó tính lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử.") của giáo sư Trần Quốc Vượng, là một trong những nhà khảo cổ học và nghiên cứu sử Việt Nam hàng đầu: 
"Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ. Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.
Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của họ. Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho - cử nhân - Hồ Sĩ Tạo.
Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai - người một thời làm Viện trưởng viện Văn Học - là Hồ Thị Toan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có "phường hát ả đào".
 
Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa Đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc (như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc Chinh Phụ Ngâm "hồng nhan đa truân" - gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều "chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau", "rằng hồng nhan tự thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu"). Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy Tứ Dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng ("xướng ca vô loài"). Cô Đèn Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân - tài tử - giai nhân. "Trai tài gái sắc" mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng "không chồng mà chửa". Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái "chửa hoang", hạng "gian phu dâm phụ". Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm "thầy đồ" được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính...
Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai - Nguyễn Sinh Thuyết - và người con trai này cũng đã có vợ). Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, "cho không" cô Hy làm vợ kế ông này - như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ - mong ém nhém việc cô gái đã "to bụng".
Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới, có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn "của thừa", "người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)". "Miệng tiếng thế gian xì xầm", ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời "nói ra, nói vào", lời chì chiết của nàng dâu - vợ anh Thuyết - vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.
Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng "tiếng bấc, tiếng chì" hơn trước, vì ngoài việc bố chồng "rước của tội, của nợ", "lấy đĩ làm vợ" thì nay còn nỗi lo": người con trai này - được ông nhận làm con - lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).
 
Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là "cùng cha khác mẹ" mà thật ra là "khác cả cha lẫn mẹ", cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng "em hờ" của chồng này đi cho "rảnh nợ".
Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.
May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng - Hoàng Thị Loan - mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ở riêng.
 
Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ - làng Chùa - hơn là với làng Sơn "quê nội", quê cha "hờ". Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành - sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê "ngoại". Khi cụ tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ (tú) Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.
 
Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng "học điền", ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm - chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.
Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo - người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc - với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm Giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là "danh gia tử đệ". Nếu không có sự "can thiệp" của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một "cử chỉ đẹp" với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc - đổi tên là Nguyễn Sinh Huy - đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.
Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ngày nay) trở thành con trai út.
Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được "vinh quy bái tổ" về làng.
Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội - dù là quê nội danh nghĩa - tức là làng Sen - Kim Liên. Hội đồng Hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.
Thế là buộc lòng ông phải về "quê nội". Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn - Hồ Chí Minh ngày sau - về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì "đích thực" và gắn bó với tuổi tho ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.
Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô Huế nhận chức quan (1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi tri huyện Bình Khê ... Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài gòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa.
Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.
Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái "bí mật" về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.
Còn Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành - có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gụi với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ phó bảng hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về "bí mật" của gốc tích phụ thân mình?
Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - biết hay không biết chuyện này...
Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa.
Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.
Sau cách mạng tháng tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam - từ trí thức đến người dân quê - lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi "về với Các Mác, Lê-nin" năm 1969.
Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ - tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ - đã trở thành "huyền thoại" (myth). Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian (popular inconscience) mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần cận cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa (mystified).
Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi!) về Sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và Sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý (arrière-pensée) không ưa gì cụ Hồ.
 
Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.
Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh - tỉnh Nghệ An - cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen "quê nội".
Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?
Tôi không muốn có bất cứ kết luận "khoa học" gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái "mặc cảm" của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê...".
Thế rồi, như một sự tình cờ dễ chịu, mới đây, chúng ta có trong tay một cuốn sách cũ có tựa đề: “Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười” do nhà nghiên cứu Thượng Hồng chủ biên (NXB Thanh niên, 2005), và hơn nữa, đọc được bài “Địa linh tam giác hợp, nhân kiệt nhị tộc giao” của Nguyễn Thế Kỷ trong tạp chí “Thế giới mới” số 818, năm 2009. Đọc hai bản văn đó, trong lòng chúng ta trỗi dậy một niềm vui khôn tả. Thì ra trong dân gian miền Trung và Nam Việt Nam, từ lâu đã lưu truyền câu chuyện về thân thế, gốc gác dòng họ của phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (cũng là của Chủ tịch Hồ Chí Minh) và câu chuyện đó rất giàu sự thực. Chưa cần nói đến nội dung, chỉ cần nhìn thấy chân dung truyền thần của Võ Duy Dương thôi, thì ngay lập tức chúng ta đã mường tượng đến khuôn mặt của thanh niên Nguyễn Ái Quốc được chụp trong dịp hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Pháp; khuôn mặt của Lyn ở Mátxcơva, khuôn mặt của Tống Văn Sơ ở Trung Quốc và khuôn mặt Hồ Chí Minh cùng bộ râu của ông trong ngày Tuyên ngôn Độc Lập tại Hà Nội. Giống nhau “ghê gớm”, chỉ có khác là mắt Hồ Chí Minh cực sáng như có tia sáng phát ra từ bên trong và sâu thẳm nỗi niềm. 
 
                                                   
                                                      Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.
Theo Nguyễn Thế Kỷ thì Vũ Kỳ, người từng là thư ký của Hồ Chí Minh, lúc còn sống đã nói với ông rằng: Hồ Chí Minh thường nhắc nhiều đến Quảng Ngãi; khi bàn đến việc kết nghĩa giữa hai tỉnh với nhau, nhiều người hỏi tại sao Nghệ An phải kết nghĩa với Quảng Ngãi chứ không phải tỉnh nào khác, Hồ Chí Minh chỉ cười, và Vũ Kỳ còn nói: “Chuyện Bác (tức Hồ Chí Minh) nói về Quảng Ngãi, về Nghĩa Hành thì dài lắm, sâu nặng lắm, đợi đến khi nước nhà thống nhất, Bắc Nam xum họp, Bác mới nói được và sẽ về thăm làng Đại An, Quảng Ngãi và về Đồng Tháp Mười viếng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Thiên Hộ Dương…”
Tại Đồng Tháp, nơi Võ Duy Dương tụ nghĩa chống Pháp, từ lâu trong dân gian đã xôn xao lời đồn “Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là con ông Thiên Hộ Dương”.
Trong bài viết của mình, Nguyễn Thế Kỷ còn kể rằng thạc sĩ Võ Kim Chi và Võ Duy Ngô có đưa cho ông xem bản phả đồ phả hệ sơ lược của dòng họ Võ thì thấy:
Võ Duy Ninh - Tổng trấn Gia Định có hai con là Võ Duy Lập và Võ Duy Ngọc. Võ Duy Ninh và Hoàng Diệu là hai bạn thân cùng xuất phát từ Hưng Yên. Khi thành Gia Định thất thủ và Võ Duy Ninh tuẫn tiết (sử gia Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, tác giả cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, đã viết về danh sĩ Võ Duy Ninh: "Ông là vị tướng lãnh cao cấp hy sinh đầu tiên trong Nam thời giặc Pháp cướp nước ta"), thì Võ Duy Lập lập tức đứng ra chiêu mộ hàng ngàn người lập ấp, cùng Trương Định, Thủ khoa Huân tiếp tục chống Pháp. Nhờ chiêu mộ được hàng ngàn hộ dân nên ông được triều đình Huế phong chức Thiên Hộ Vương. Người Nam bộ nói Vương thành Dương nên tên Lập dần bị quên đi. Từ đó người ta gọi ông là Võ Duy Dương, Thiên Hộ Dương. Sau khi thất thủ ở căn cứ Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương vượt thoát vòng vây, cải trang đánh lừa mật thám Pháp, ra được Phan Thiết - Bình Thuận, rồi từ đó lần về quê ở Đại An - Hành Thuận - Nghĩa Hành… Sau lên chợ chùa mai danh ẩn tích. Võ Duy Dương có 5 người con là Võ Cường, Võ Kỳ, Võ Sắc, Võ Thị Thắm, Võ Thị Lan. Khi Võ Sắc lên 4 tuổi thì được cha Võ Duy Dương tìm cách đưa ra Nghệ An gửi gắm ông Hoàng Đường. Hoàng Đường là người có quan hệ ruột thịt với Tổng Trấn Hoàng Diệu, cũng từ Hưng Yên vào dạy học ở Nghệ An. Để tránh mọi hệ lụy trước sự dò la của mật thám Pháp, Hoàng Đường đã cố gắng cho Võ Sắc có cha mới và người này có họ là Nguyễn Sinh. Từ đó Võ Sắc trở thành Nguyễn Sinh Sắc. Sau này, Hoàng Đường đã gả con gái đầu là Hoàng thị Loan cho Nguyễn Sinh Sắc (Nếu ông Hoàng Đường biết Nguyễn Sinh Sắc là đứa con rơi của "Cô đèn" Hà Thị Hy, thì dù là yêu quí cũng khó mà gả Hoàng Thị Loan cho Nguyễn Sinh Sắc!). Sự tác hợp này chính là cái duyên “Nhân kiệt nhị tộc giao”, sinh ra Nguyễn Sinh Cung để rồi Nguyễn Sinh Cung hóa thân thành một đại anh hùng của dân tộc Việt, thành danh nhân của thế giới với cái tên Hồ Chí Minh bất hủ.
 
Nhưng tại sao lại là Hồ Chí Minh? Cái tên đó được chọn tình cờ hay có ẩn ý? Chúng ta tin rằng một con người ôm ấp nhiều nỗi niềm và tư duy một cách sâu sắc như thế không bao giờ làm những điều tình cờ.Sự thật lịch sử là có những người con của dòng họ Võ Duy đã từ Quảng Ngãi vào định cư ở Gia Định từ thời Thiệu Trị và Tự Đức. Năm 1842 (Thiệu Trị năm thứ 2), trong số 16 người đỗ cử nhân ở cuộc thi hương tại Gia Định có Võ Duy Quang (ngụ ở huyện Bình Dương). Năm 1848 (Tự Đức năm thứ nhất), thi hương tại Gia Định có 20 người đỗ cử nhân, trong đó có Võ Duy Hiền (ngụ huyện Bình Dương). Năm 1852 (Tự Đức năm thứ 5), trong số 13 người đỗ cử nhân tại kỳ thi hương ở Gia Định có Võ Duy Hương (ngụ huyện Bình Dương). Thời ấy huyện Bình Dương thuộc Gia Định thành. Võ Duy Hương là con ruột của Võ Duy Thành, mà Võ Duy Thành chính là anh ruột của Võ Duy Ninh (Thành và Ninh lúc bấy giờ đều là quan của triều đình Huế).
Tuy nhiên, điều rất lạ là trong suốt quãng thời gian đó và cho đến tận ngày Võ Duy Ninh tuẫn tiết, không thấy bất cứ một trang sách báo còn lưu lại nào, không có bất cứ một dòng sử liệu nào nhắc đến cái tên Võ Duy Dương cũng như mối quan hệ giữa Võ Duy Ninh và Võ Duy Dương, mặc dù Võ Duy Dương đã xuất hiện ở Nam Bộ, muộn nhất cũng vào năm 1857. Phải chăng lúc đó Võ Duy Lập đã đổi tên họ thành Nguyễn Duy Dương và chỉ sau khi triều đình phong cho chức Thiên Hộ Vương thì người ta mới biết gốc tích họ Võ Duy của ông mà từ đó gọi là Võ Duy Dương?
Chúng ta không có dịp được tận mắt xem gia phả họ Võ Duy nên xin đặt thêm câu hỏi: Vậy thân phụ Võ Duy Ninh là ai? Trong phả đồ, phả hệ sơ lược của dòng họ Võ Duy chỉ thấy bắt đầu từ Võ Duy Ninh và điều đáng chú ý hơn cả là, đúng thật, Võ Duy Lập còn có tên là Nguyễn Duy Dương.
Tại sao Võ Duy Lập lại “thích” họ Nguyễn Duy? Có lẽ nào dòng họ Võ Duy là từ dòng họ Nguyễn Duy, hay nói cho đúng hơn nữa là từ họ Nguyễn cải sang và từ ai đó mà Võ Duy Lập đã biết được điều (có thể là tuyệt mật) đó? Chúng ta đoán sự cải họ là tuyệt mật vì sống dưới triều Nguyễn, chẳng có động cơ nào để phải làm như thế. Chúng ta biết rằng khi triều Tây Sơn bị đánh đổ, dưới sự truy sát trả thù khốc liệt của Nguyễn Ánh, nhiều người có liên quan mật thiết với triều Tây Sơn đã phải cải họ, đổi tên, mai danh ẩn tích để sống còn (như trường hợp “Sinh Đào tử Đinh” mà chúng ta đã kể). Vậy, nếu dòng họ Võ Duy thực tế được cải sang từ họ Nguyễn và phải giữ kín như một điều tuyệt mật liên quan đến sống còn thì dòng họ này phải có quan hệ rất mật thiết với triều Tây Sơn, thậm chí là có mối thân tộc với dòng họ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.
Bây giờ, chúng ta sẽ tập trung cao độ vào sự suy tưởng để “đoán mò” những ẩn ý sau những danh xưng nổi bật mà Nguyễn Sinh Cung đã chọn cho mình mà chúng ta biết. Rõ ràng, cái tên Nguyễn Sinh Cung nếu có một ẩn ý nào đó thì chỉ có thể là ẩn ý của vợ chồng Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Trong hồi ký “Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác” của Lê Thiết Hùng, một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có kể là theo lời ông Nguyễn Sinh Khiêm (anh ruột Nguyễn Sinh Cung, quen gọi là Cả Khiêm) thì một bận, ông Giải San (Phan Bội Châu) muốn đưa Nguyễn Sinh Cung sang Nhật cùng với một số thanh niên khác. Trước mặt ông Đặng Thái Thân vừa thay mặt Hội, vừa như bậc cha chú, Nguyễn Sinh Cung trân trọng nói đại ý: Cháu rất quí trọng tấm lòng yêu nước thương nòi của các bác, nhưng con đường đi của các bác thì cháu không thể theo được, cháu sẽ tìm con đường đi khác.
Chuyện đó cho thấy ngay từ thời niên thiếu, Nguyễn Sinh Cung đã cảm nhận được sự bế tắc của cuộc giải phóng dân tộc do các nhà cách mạng tiền bối tiến hành. Do đó, Nguyễn Sinh Cung đã nung nấu đi tìm một con đường cứu nước khác, đúng đắn nhất, muốn thế, trước hết phải xuất bôn, tự mình quan sát, tìm hiểu trực tiếp thế giới. Để tỏ rõ sự quyết chí của mình, ngay từ những bước đi đầu tiên tới Phan Thiết trong cuộc hành trình vạn dặm và dài lâu, Nguyễn Sinh Cung đã đổi tên thành Nguyễn Tất Thành. Tất Thành là phải thành công, chắc chắn thành công, nếu chưa thành công thì có nghĩa là khát vọng mãnh liệt vào sự thành công!
  
 Vào đến Sài Gòn, khi bước chân xuống một tàu buôn Pháp nhận vai phụ bếp, chính thức rời Tổ quốc đi vòng quanh thế giới, Nguyễn Tất Thành lại đổi tên thành Nguyễn Văn Ba. Cái tên này giản dị và thông thường quá, khó mà có một ẩn ý nào. Nhưng chúng ta, vốn là những kẻ “cứng đầu cứng cổ”, vẫn cố “nghĩ ngợi” một phen.
Tại sao lại là Ba? Ngoài người anh ruột là Cả Khiêm, Tất Thành còn có người chị ruột là bà Nguyễn Thị Thanh - Hai Thanh. Vậy có thể gọi Tất Thành là Ba Thành. Ba có nghĩa là người anh em thứ ba chăng? Có thể suy diễn Ba là bôn ba, nhưng suy diễn đến thế thì e quá lố mất rồi! Trong cuộc sống thường ngày, người dân Nam Bộ thường dùng cách xưng hô theo thứ rất giản dị mà cũng thân mật như: Anh Hai (người Bắc gọi là anh Cả), Chị Ba, Ông Tư… Đặt tên là Ba chắc chỉ hàm ý như vậy thôi. Thế còn tại sao lại đổi từ Sinh thành Văn? Khi lớn lên không lẽ Nguyễn Sinh Cung không một lần thắc mắc về dòng họ nội của mình? Chắc rằng, như sau này chúng ta thấy, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã biết rất rõ quê hương bản quán bên nội của mình là ở Quảng Ngãi, có thể cả bên ngoại là ở Cao Lãnh - Đồng Tháp hoặc Bình Dương - Gia Định. Tuy nhiên có lẽ ông không biết tung tích mẹ và người cha Nguyễn Duy Dương của mình, hoặc tin rằng cha mình đã mất. Hơn nữa, có thể Nguyễn Sinh Sắc cũng biết mối quan hệ rất gần gũi, mật thiết của dòng họ nội với ba anh em nhà Tây Sơn (mà chúng ta đã giả định). Những thông tin này chẳng lẽ Nguyễn Sinh Cung không biết? Sách “Tây Sơn lương tướng ngoại truyện” của tiến sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922), viết về lai lịch, tư chất, sự nghiệp công huân, phẩm hàm của 14 vị võ tướng Tây Sơn, trong đó có 8 vị quê ở Nghĩa - Bình (Quảng Ngãi - Bình Định) là:
Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết
Đô đốc Đặng Văn Long
Đô đốc Nguyễn Văn Lộc
Tướng quân Lê Văn Hưng
Tướng quân Lê Văn Trung
Tướng quân Phạm Cầu Chính
Tướng quân Võ Đình Tú
Tướng quân Đặng Xuân Phong
Chưa kể nữ đô đốc Bùi Thị Xuân và có thể còn thêm vài người nữa…
Phải chăng Võ Duy Lập, một con người khí phách, đã cải họ trở lại từ Võ thành Nguyễn và Nguyễn Tất Thành, một con người đang quyết chí, đã cải họ lót từ Sinh thành Văn vì nguyên nhân (mà chúng ta đã giả định) này?
Khi hoạt động trên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc. Ái Quốc chính là sự bày tỏ nỗi niềm nhớ thương, tình yêu nồng nàn đối với Tổ Quốc của một con người ra đi tìm đường cứu nước biền biệt mà vẫn mịt mù sương khói.
Năm 1920, tiếp xúc được với “Những luận cương” của Lênin đăng trên báo “Nhân đạo” ở Pari, Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên: “…Đây là con đường giải phóng chúng ta!”, và: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật sang nước Nga-Xôviết. Tại đây ông lấy bí danh là Lyn. Ẩn ý của bí danh này, theo chúng ta, là sự ngưỡng mộ Cách mạng Tháng Mười, khâm phục Lênin và tự nhận là học trò của Lênin.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Châu, mang một cái tên mới: Lý Thụy. Ẩn ý của Lý Thụy là gì? Theo tự điển, nghĩa của từ "thụy" là viên ngọc, tốt lành, điềm lành ngủ, tên cúng cơm. Khi dùng nó đặt tên cho ai đó thì có nghĩa: đa tài, đại cát, thành công.  Thế còn họ Lý? Chúng ta biết rằng Nguyễn Ái Quốc là một người hết mực yêu nước thương nòi, đã tìm hiểu đến am tường lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đồng thời cũng rất tự hào về dân tộc Việt của mình. Thời xa xưa, dân tộc Việt có ba vị anh hùng tạo được 3 mốc son không thể phai mờ trong lòng con cháu hôm nay và mai sau, đó là:
- Lý Bí: Lý Bí là người đã phất cờ khởi nghĩa, kháng chiến đánh tan ách đô hộ và sự xâm lược của nhà Lương (Trung Quốc), giành lại độc lập thực sự cho đất nước sau thời Văn Lang, Âu Lạc và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, “có ý mong xã tắc được bền vững muôn đời” (Đại Việt sử ký). Ông là người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế (Nam Đế). Ông cũng bãi bỏ lịch Trung Hoa, đặt niên hiệu riêng là Thiên Đức, đúc tiền riêng… tỏ rõ ý thức tự chủ dân tộc, công khai phủ nhận quyền bá chủ thiên hạ của triều đại phong kiến phương Bắc.
- Lý Công Uẩn: Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Công lao lớn nhất của ông đối với dân tộc Việt là dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, trở lại với nơi đắc thế, địa linh nhân kiệt để hình thành nên một kinh đô Thăng Long mà ngày nay là Hà Nội ngàn năm văn vật, với bản hùng văn “Chiếu dời đô” vang vọng non sông.
 - Lý Thường Kiệt: là vị tướng lừng danh của triều đại nhà Lý, người trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lăng lần thứ hai của nhà Tống - Trung Quốc (Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi lần thứ nhất do Lê Hoàn thực hiện) và giành thắng lợi với hai chiến công hiển hách: đại phá thành Ung Châu, đại phá quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Cũng chính tại phòng tuyến này, bài thơ “Nam quốc sơn hà…” bất hủ của Lý Thường Kiệt đã vang lên dõng dạc và đanh thép. Bài thơ đó cũng chính là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt - Việt Nam.
Đền thờ vua Lý Nam Đế - xã Văn Lương 
Đặc biệt, Văn Lương có tên làng cổ là Văn Lang nổi tiếng với những câu chuyện cười hài hước, di sản được nhiều người biết đến. Nơi đây, tại động Khuất Lão (Khuất Liêu) gò Cổ Bồng - Rừng Cấm xã Văn Lương địa danh đã gắn liền với lịch sử dân tộc đó là cuộc khởi nghĩa Lý Bôn (Lý Bí) năm 541 -  548 chống quân xâm lược nhà Lương. Sau khi lên ngôi Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế và lấy tên nước là Vạn Xuân. Năm 548 Vua Lý Nam Đế băng hà, điện mộ được thờ tại gồ Cổ Bồng - Rừng Cấm nay thuộc khu 2 xã Văn Lương
                                                    
Cổng chùa Cổ Pháp, nay thuộc làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh,
nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời bé.
Ảnh tư liệu
       Tượng đài vua Lý Thái Tổ, một trong những công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội
Phải chăng Nguyễn Ái Quốc chọn họ Lý là vì thế?
Năm 1933, Lý Thụy lại đổi thành Tống Văn Sơ. Sơ có thể là sơ khởi, sơ khai, thuở ban sơ, sơ kỳ… Còn chữ Tống, nếu suy diễn kiểu như trên thì phải nghĩ ngay đến nhà Tống bên Trung Quốc. Nếu tạm bỏ chữ Văn đi thì chúng ta có Tống Sơ. Nếu Tống Sơ ám chỉ về thời kỳ đầu của nhà Tống thì chỉ có thể là thời Bắc Tống (960-1127). Nhưng tại sao Lý Thụy, một người Việt Nam yêu nước chân chính lại chọn cái tên nhắc đến một triều đại Trung Quốc đã đem quân xâm lược nước ta đến 2 lần, và suy diễn như vậy có phải là quá hồ đồ không?
Mùa xuân năm 1940, Nguyễn Ái Quốc từ nước Nga Xôviết về tới Côn Minh, lấy bí danh là Hồ Quang (nhà báo). “Quang” phải chăng là quang đãng, sáng sủa? Tháng 7-1942, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc Tế Cộng Sản, bản báo cáo gồm 17 trang có ký tên người dịch là Lý Tuấn. “Tuấn” ở đây có thể gợi nhớ đến Trần Quốc Tuấn và “Lý Tuấn” có thể hiểu là “Lý - Trần”, hai thời đại kế tiếp nhau cực kỳ hào hùng trong công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc Việt?
Sau đó, cũng trong năm 1942, Nguyễn Ái Quốc đổi tên lần cuối cùng thành Hồ Chí Minh. Trải qua một cuộc hành trình dài đăng đẳng, bôn ba khắp chốn, vượt qua bao gian nguy, vượt qua những năm tháng đau buồn bởi sự nghi kỵ trong nội bộ của phong trào Quốc Tế Vô Sản, đến đây, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ được con đường tất yếu phải đi để cứu dân cứu nước, thấy rõ được thời cơ đang đến, thấy rõ được tương lai sáng lạn của công cuộc giải phóng dân tộc mà mình suốt đời theo đuổi đã ở rất gần. Chính vì vậy mà Ái Quốc đã chuyển thành Chí Minh. Chí Minh là hoàn toàn minh bạch (về chí khí), hoàn toàn sáng tỏ (về nhận thức) và hoàn toàn sáng lạn (về công cuộc cách mạng). (Có một sự kiện đáng lưu ý: Hầu Chí Minh, thiếu tướng Quốc Dân Đảng là người trực tiếp thả Hồ Chí Minh ra khỏi tù theo lệnh Tưởng Giới Thạch vào năm 1943, tuy nhiên Nguyễn Ái Quốc đã mang tên Hồ Chí Minh vào tháng 8-1942, tức là trước khi bị bắt. Nếu cho rằng ông đã mượn tên như một sự hàm ơn thì phải đổi lại thời điểm đặt tên đã ghi trong lịch sử).
 Còn họ Hồ thì mang ý nghĩa gì đây? Chúng ta nhớ lại rằng trước khi băng hà, vua Quang Trung đã căn dặn Trần Quang Diệu phải khẩn trương dời đô từ Phú Xuân ra Nghệ An. Có thể Nghệ An là khu vực mà dưới nhãn quan quân sự của Quang Trung, có địa thế công - thủ về mặt chiến lược ưu việt hơn Phú Xuân. Có thể là vì cả điều này: lòng dân Nghệ An luôn sắt son hướng về triều đại Quang Trung - Tây Sơn. Trước đây, mỗi lần ra Bắc, vào Nam, Quang Trung - Nguyễn Huệ đều dừng chân ở đất Nghệ An, nhất là trước khi ra Thăng Long đại phá quân Thanh, ông đã dừng chân ở Nghệ An để tuyển thêm một lực lượng quân sĩ đáng kể và được nhân dân, các bô lão trong vùng nhiệt thành ủng hộ. Và vì cả điều này nữa: Nghệ An là đất tổ của dòng họ Hồ tại Việt Nam mà họ Hồ lại là họ gốc của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Vậy, nếu phỏng đoán rằng dòng họ Võ Duy có liên quan một cách “thân bằng quyến thuộc” với dòng họ ba anh em nhà Tây Sơn là đúng, thì cũng phải cho rằng việc chọn họ Hồ của Nguyễn Ái Quốc là hành động lấy lại họ gốc của mình. 
Chúng ta đoán rằng ẩn ý của cái tên Hồ Chí Minh là như vậy.
Đến đây, dựa vào những tư liệu lịch sử có được cùng với những suy diễn võ đoán của mình, chúng ta đã thấy tạm đủ để tạo dựng nên truyền thuyết lịch sử, huyền thoại về một cuộc tích tụ nên một nhân vật tinh hoa của hồn thiêng dân tộc Việt từ khí thiêng sông núi nước Việt. Trước hết, đã là truyền thuyết, huyền thoại thì phải có hư có thực, có huyền có chân, do đó mà cũng có đúng có sai. Duy có một điều hoàn toàn tin cậy được là chúng ta làm việc này với cái tâm chân thực, trong sáng nhất và coi đó như là một nhiệm vụ thiêng liêng trong cuộc hành trình tìm kiếm những viên ngọc của lịch sử đã từng tồn tại trong thế giới loài người.Theo "Sử họ Hồ Việt Nam" của Hồ Bá Hiền thì: "Viễn Tổ xa xưa của họ Hồ là Vua Ngu Thuấn cách đây khoảng 43 thế kỷ rồi đến Hồ Công (Ngu Vĩ Mãn) khoảng hơn 30 thế kỷ trước. Vì vậy khi Hồ Quý Ly lên ngôi, lập ra triều đại nhà Hồ đã đặt Quốc hiệu nước ta là Đại Ngu. Ngu đây theo danh từ cổ là sự yên vui (Hồ Quý Ly muốn xây dựng đất nước ta thành một nước thịnh trị, yên vui theo gương một vua hiền thời thượng cổ Trung quốc mà người Trung Hoa xưa nay vẫn tôn thờ).
 Nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi có câu đối “Cổ nguyệt môn cao hệ xuất thần minh Ngu Đế trụ”nghĩa là họ Hồ gốc từ vua Ngu Thuấn. (Phụ lục I sẽ nói kỹ về vua Ngu Thuấn và ngài Ngu Vĩ Mãn)
I. Nguồn gốc sự nghiệp Nguyên tổ: Theo Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) của các sử thân nhà Lê (NXB KHXH 1971 - Tập II trang 224): “Tổ tiên họ Hồ là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang, thời Hậu Hán Ngũ Quý sang làm Thái thú Châu Diễn, sau nhà ở hương Bào Đột rồi làm trại chủ” (Chú ý: Quốc sử ghi là sang làm,không ghi là được cử sang. Vì lúc này nước ta đã độc lập tự chủ (sau Ngô Quyền xưng vương năm 939 nên bọn phong kiến Trung Quốc không thể cử Ngài sang đươc). Theo “Hồ tông thế phả” phần nói về Nguyên Tổ Hồ Hưng Dật (dịch nghĩa-đại ý): “Đức Nguyên Tổ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người Vũ Lâm -Tích Giang - Phúc Kiến thời Ngũ Đại còn gọi là Ngũ Quý hậu Hán Ẩn Đế là Nho thần sang nước ta thời hậu Ngô (1)làm Thái thú lộ (2) Diễn Châu, đến thời nước ta có loạn 12 sứ quân, Ngài lui về làm trại chủ hương Bào Đột (Bào Trạch) nay là Bào Giang Về sau các chi phái phồn thịnh, các người họ Hồ trong châu đều là con cháu của Ngài….”.

       Còn chúng ta kể: 
Trên đất nước Trung Hoa trong giai đoạn cuối thời kỳ “Ngũ đại, Thập quốc”, đầu thời Bắc Tống, tồn tại tình trạng chia cắt, cát cứ trầm trọng, chiến tranh thôn tính lẫn nhau xảy ra triền miên. Ở những nơi có chiến tranh, thây người chết đầy đường, ruộng đồng bỏ hoang, cảnh vật tiêu điều, có khi cả ngàn dặm cũng không thấy bóng người. Đời sống nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ vô cùng khốn khổ, nhiều người, nhiều gia đình đã phải rời bỏ quê hương bản quán đi xa, ly tán, chạy trốn chiến tranh, lang thang đây đó tìm nơi nương náu, tìm chốn dung thân.
Vào khoảng thời gian từ năm 960-980 có một bầu đoàn thê tử họ Hồ, do trưởng họ là trạng nguyên (đang bị triều đình truy đuổi vì có những hành động chống đối) Hồ Hưng Dật dẫn dắt, từ vùng Triết Giang - Trung Quốc ra khơi, dong buồm lánh nạn xuống phương Nam và đã cập vào bờ biển Nghệ An. Người Việt ở xứ Nghệ vốn mang bản tính nhân hậu, bao dung từ ngàn xưa thời các vua Hùng của dân tộc Việt, đã sẵn lòng dung nạp, cưu mang đoàn người. Đoàn người Trung Quốc ấy chính là gốc gác họ Hồ bên cạnh nhiều dòng họ khác của dân tộc Việt, chung sống hòa thuận trên đất nước Việt. Dần dần, giọt máu họ Hồ tan hòa vào dòng máu người Việt, lan tỏa ra Thanh Hóa, cả những nơi khác nữa và con em họ Hồ sau này đã trở thành con em của dân tộc Việt, đấu tranh cho quyền lợi dân tộc Việt. Nhiều người trong số họ đã có công lao đối với dân tộc Việt.
Vào thời Việt Nam xảy ra nạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, có một vài người họ Hồ ở Nghệ An do bị bắt làm tù binh hoặc đơn thuần là mưu sinh đã xuất hiện tại xứ Quảng Nam - Đàng Trong khai khẩn đất hoang, định cư, lạc nghiệp.
Những người họ Hồ ấy đã phải cải sang họ khác để dễ bề làm ăn, sinh sống. Chủ yếu là cải sang họ Nguyễn và trong số này có cụ tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn, đồng thời cũng có (hoặc cũng là) cụ tổ của một võ tướng họ Nguyễn của phong trào Tây Sơn, người mà sau này trở thành cái gốc xuất phát của dòng họ Võ Duy (?). Vị tướng này phải trạc tuổi anh em nhà Tây Sơn để có con trạc tuổi con đầu Nguyễn Huệ là Nguyễn Quang Toản (vua Cảnh Thịnh) hoặc có thể lớn hơn một chút để cho ra đời Võ Duy Ninh vào năm 1804 và trước đó là Võ Duy Thành. (Năm 1792, khi Quang Trung mất, Quang Toản mới 10 tuổi!).
Như vậy vị võ tướng nói trên chính là ông nội của anh em nhà Võ Duy. Khi triều Cảnh Thịnh bị tiêu diệt, thân phụ của anh em Võ Duy Thành, Võ Duy Ninh đã phải mai danh ẩn tích, cải họ thành Võ Duy (không biết miếu hiệu của Quang Trung là Thái Tổ Vũ Hoàng Đế có liên quan gì đến việc cải họ thành Võ Duy này không? Vì Vũ, nói trại đi để kiêng húy thành Võ).
 
                                             Khúc bi tráng trận chiến thành Gia Ðịnh 17-2 ảnh 2
 
Võ Duy Ninh sinh năm 1804 tại làng Đại An, xã Hành Thuận, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, tổ quán của Võ Duy Ninh là ở Bình Định. Nghe đâu cụ tổ năm đời của Võ Duy Ninh là Võ Hữu Man. (Có thể là Hồ Hữu Man cải thành Nguyễn Hữu Man, rồi sau này, khi triều Tây Sơn sụp đổ, trong cuộc lùng sục đàn áp trả thù những người theo Tây Sơn của Nguyễn Ánh, con cháu đã sửa lại thành họ Võ. Rất tiếc dòng họ Võ này có gia phả nhưng đã bị thiêu hủy vào năm 1972). Hữu Man là người Đàng Ngoài vào khai khẩn lập nghiệp tại Cù Lâm Nam (thôn Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định; hiện nay Nam Tượng chỉ là một thôn nhỏ với mươi nóc nhà, sau lưng là núi Thơm, trước mặt là núi Hòn Giang, bên trái là núi An Tượng, bên phải là sông Côn, cách làng Kiên Mỹ (quê hương Nguyễn Huệ) 12 km, xa xa về phía trước mặt là núi chàng Lía). Có thể cha của Võ Duy Ninh đã ra Quảng Ngãi lánh nạn rồi lấy vợ và sống ẩn dật ở đó, hoặc cũng là sự thường tình xưa nay, trên con đường binh nghiệp của mình, ông đã có vợ bé ở làng Đại An? Năm 30 tuổi (năm Giáp Ngọ - 1834, Minh Mạng thứ 15), ông đỗ cử nhân tại Huế, là một trong 11 vị khoa bảng đầu tiên của đất Quảng Ngãi. Ngay sau khi đỗ cử nhân, Võ Duy Ninh được triều đình Huế giao cho nhiều trọng trách: Hành tẩu Bộ Lại (năm 1834), Bố chánh Hưng Yên (năm 1847), Hữu Tham tri Bộ Lại (năm 1852), Phó Chủ khảo trường thi hương Thanh Hóa (năm 1850), Quan duyệt quyển khoa thi Hội năm Bính Thìn (năm 1856). Tháng 7-1858 (tức năm Mậu Ngọ - Tự Đức thứ 11), trước tình hình Thực dân Pháp lăm le đánh Đà Nẵng và các tỉnh Nam Kỳ, triều đình Huế đã điều động Võ Duy Ninh vào giữ chức Hộ đốc thành Gia Định, sau thăng lên chức Tổng trấn Định Biên. Ông là một vị quan bản lĩnh, hiểu biết về quân sự và có đức độ nên được quân sĩ dưới quyền nể phục, dân chúng địa phương tôn kính. 

***
 
Không biết hình sông thế núi, vị trí địa lý của đất nước ta như thế nào đó mà ngay từ thời tiền sử cho đến gần đây (khoảng cuối thế kỷ XX) đất nước ta thường xuyên bị các cường quốc ngoại bang nhòm ngó, xâm lược, hết phương bắc đến phương tây. Và hình như dân tộc ta ngay từ đầu phải sinh tồn trong một vùng sông nước có những thuận lợi nhưng cũng nhiều khó khăn như lũ lụt, bão dông...nên cũng được tôi luyện thành một dân tộc hiền hòa mà yêu tự do, nhưng cũng thông minh, tài trí, dũng cảm, bền gan, chống chọi trước thiên tai, địch họa, đoàn kết một lòng (với quan niệm"Đồng bào", với câu ca dao khuyên: "Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống như chung một giàn"). Từ đó, dân tộc chúng ta được hun đúc nên một tinh thần bền bỉ đấu tranh, kiên cường, bất khuất, một truyền thống chống giặc ngoại xâm vô cùng tự hào và đã không chịu khuất phục trước bất cứ lũ ngoại xâm nào vì "Không có gì quí hơn Đôc Lập, Tự Do" (Lời Hồ Chí Minh). Chúng ta đã từng ba lần đại thắng quân Nguyên, đế quốc mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, đã từng đánh bại các tập đoàn phong kiến Trung Hoa, Đã từng kháng chiến thắng lợi trước Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, những cường quốc sừng sỏ trong thời đại ngày nay. Nếu chiến thắng Điện Biên Phủ chói lọi của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng đồng thời là phát súng mở đầu cho quá trình phá tan Chủ nghĩa Thực dân cũ thì Chiến dịch Hồ Chí Minh hào hùng cũng đồng thời là phát súng chí mạng của quá trình kết liễu Chủ nghĩa Thực dân mới.
Cho đến nay, nếu quan sát trong phạm vi hẹp thì cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và cuộc kháng chiến 21 năm chống Mỹ, kể cả cuộc chiến tranh biên giới Tây - Nam và cuộc chiến tranh biên giới phìa Bắc là bốn cuộc chiến tranh chống xâm lược giành thắng lợi hết sức lừng lẫy và cực kỳ chói lọi của dân tộc ta ( cũng có thể gộp lại hai cuộc chiến tranh đầu làm một, hai cuộc chiến tranh sau là một, tổng cộng làm hai cuộc chiến tranh). Nhưng nếu quan sát trrong phạm vi rộng lớn hơn, nghĩa là từ thời Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta cho đến năm 1992 (tức 134 năm, ngót 1,5 thế kỷ), có thể coi dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải tiến hành duy nhất một cuộc đấu tranh kháng chiến trường kỳ, cả chính trị lẫn vũ trang, vô cùng khó khăn gian khổ, máu chảy đầu rơi, có tính truyền kỳ, toàn dân tộc, cả tổ tiên, thế hê nối tiếp thế hệ, đồng lòng lên đường cứu nước và đã giành được thắng lợi cuối cùngvô cùng oanh liệt, vô cùng vĩ đại, vô cùng vẻ vang, vô cùng linh thiêng, vô cùng thần thánh!
Đó là cuộc đấu tranh chống xâm lược vĩ đại, trường chinh qua nhiều thế hệ và có tính tâm linh, toàn thể dân tộc, cả giang sơn bờ cõi, cả hồn thiêng sông núi, đều đồng lòng đứng lên quyết chiến. trong đó điểm hội tụ, tinh hoa cho tinh thần ấy chính là Hồ Chí Minh.

Bài thơ báng súng 

Ta lại viết bài thơ trên báng súng
Con lớn lên đang viết tiếp thay cha
Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua.

Thơ chiền đấu giục giã lòng chiến sĩ
Miền Nam ơi chưa thể nghỉ bàn tay
Ta quyết liệt trên tuyến đầu chống Mỹ
Như năm xưa anh dũng bắn đầu Tây.

Ta đâu có thích gì máu đổ
Thích gì nghe đạn nổ bom rơi
Ta chiến đấu vì không cam cúi cổ
Không khom lưng cho giặc Mỹ chém ngang người.

Hai mươi năm chưa hề im tiếng súng
Đây nước sôi lửa bỏng đất miền Nam
Đất anh dũng nuôi lớn người anh dũng
Ôi Trường sơn ôi Cửu Long giang

Rừng Điện Biên tiếng pháo gầm chưa dứt
Nghe hôm nay ấp Bắc trời rung
Ta sẽ đánh cho quân thù tan xác
Như lá vàng tan tác dưới bàn chân.

Súng đã quyết trả lời với súng
Mũi chông tre quyết chống mũi giày đinh.
Ta chiến đấu vì ta tha thiết sống
Hỡi ai tin giặc Mỹ muốn hòa bình.

Hòa bình Mỹ: moi gan em nhỏ
Thiêu sống con, cắt cổ mẹ cha
Hòa bình Mỹ: phá rừng đốt lúa
Bom na-pan giội lửa mái nhà.

Ta nếm đủ thứ "hòa bình chó sói"
Nên rừng tre đã hóa mũi tầm vông
Nên ngọn gió đã hóa thành bão nổi
Cả miền Nam đã hóa một hầm chông.

Ta lại viết bài thơ trên báng súng
Hai mươi năm súng kết cùng thơ
Thơ ta thét tiếng kêu căm giận
Súng ta cầm giữ lấy ước mơ

Đi đi lên tay ghì chặt súng
Đi đi lên giải phóng miền Nam!
Trên đỉnh núi tung bay cờ chiến thắng
Cờ ta bay như lửa đỏ xóm làng.

(1964. Tg Hoàng Trung Thông)
 
                                Tượng đài Thánh Gióng - Báo Cao Bằng điện tử

                      Tượng đài Thánh Gióng, biểu tượng lòng yêu nước


Sau đây, dựa vào tài liệu trên mạng, chúng ta sẽ sơ phác lại hoạt cảnh thời đoạn đầu Pháp xâm chiếm nước ta và lòng yêu nước nồng nàn cũng như tinh thần đấu tranh phản kháng vô cùng anh dũng, bất khuất của họ (chứ không phải cuả triều đình Huế yêu hèn, bạc nhược). Qua đó chúng ta cũng cố gắng xây dựng tiếp phần kết một truyền thuyết về một người đại anh hùng dân tộc, người như hiện thân của khì thiêng sông núi, của nòi giống tổ tiên về giúp sức, dẫn dắt dân tộc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh thần thánh chống xâm lược.

Từ thế kỷ 19, hầu hết các thị trường của Pháp ở Ấn Độ và Trung Hoa đều bị Anh Cát Lợi chiếm hoặc phong toả. Thị trường lớn của Pháp ở Trung Hoa là Vân Nam bị chận đường thông thương ở Hương Cảng từ năm 1842 (sau khi Anh thắng Tàu trong trận “nha phiến”), nên Pháp phải tìm đường khác từ Thái Bình Dương vào Vân Nam. Sông Cửu Long bất lợi, vì vậy phải tính việc dùng sông Hồng Hà.

Lúc đầu, Pháp chỉ muốn được quyền sử dụng các sông kể trên, nhưng sau khi chiến tranh với Việt Nam thì thấy triều đình nhà Nguyễn quá yếu hèn và thị trường Việt Nam cũng trở nên rất quan trọng, vì thế Pháp muốn chiếm trọn để đô hộ và khai thác.

Lợi dụng các mối quan hệ đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh, Pháp và Tây Ban Nha đã viện cớ Nhà Nguyễn cấm đạo Thiên Chúa và bắt bớ, giết hại nhiều giáo sĩ, giáo dân để tiến hành cuộc chiếm cứ nước Việt.

Sau một thời gian thăm dò và chuẩn bị, rạng sáng 1-9-1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Liên quân Pháp – Tây Ban Nha gồm 14 tàu chiến được trang bị vũ khí thuộc loại hiện đại nhất, các khẩu đại bác đều là loại có sức công phá lớn và khả năng sát thương cao, mở đầu cuộc tấn công xâm lược.

                                

                                               Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858

Chỉ trong ngày đầu nổ súng, hầu hết những đồn phòng thủ của ta ở phía đông sông Hàn đều bị hạ. Sáng hôm sau (2-9-1858), địch tiếp tục pháo kích tấn công thành Điện Hải và đổ quân đánh chiếm khu vực phía tây. Lực lượng quân triều đình vừa đánh, vừa lui dần, lập phòng tuyến phía tây nam Hòa Vang để ngăn địch. Diễn biến của trận đánh cho thấy địch không thể phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật để tấn công ồ ạt, mà đã bị chặn ngay ở cửa biển Đà Nẵng. Đây là kết quả của sức kháng cự quyết liệt của lực lượng đồn trú dưới sự chỉ huy của một triều đình lúc đó còn toàn vẹn sinh lực, với quyết tâm cao và khối đoàn kết toàn dân. 

Đánh chiếm được Sơn Trà, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tiến vào nội địa, đánh tan phòng tuyến bằng ụ đất, rào tre của quân Việt ở xã Mỹ Thị, rồi tràn sang chiếm xã Cẩm Lệ. Tướng Lê Đình Lý bị trọng thương rồi mất trong trận chiến này.

Sau khi Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn trọng thương, rồi hy sinh, Tự Đức đã cử Thống chế Chu Phúc Minh lên làm Tổng đốc quân vụ thay Lê Đình Lý. Sau đó, Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, võ tướng số một của ta, đang làm Kinh lược sứ Nam Kỳ ra chỉ huy mặt trận Đà Nẵng, thay cho Chu Phúc Minh.

                     

      Bộ sưu tập 11 khẩu súng thần công thành Điện Hải được đề nghị công nhận là báu vật quốc gia                        

Ngày 10 tháng 10 năm 1859, Nguyễn Tri Phương gửi báo cáo về Huế, trong đó ông mô tả về tình hình lực lượng quân Pháp và quân triều đình:

- Quân Pháp có vũ khí tinh xảo, súng đạn đầy đủ khi đánh.

- Quân Triều đình ở Quảng Nam có hơn 7.000 người thì bỏ trốn, bị sa thải, bệnh hoạn hoặc dùng để sai phái đã hết quá nửa, chỉ còn 3.200 người tại ngũ.

Trước tình thế đó, là một võ quan có tài thao lược, ngay từ đầu Nguyễn Tri Phương đã đánh giá tình hình một cách đúng đắn và đề ra một phương lược phòng thủ và đánh địch năng động, thích hợp. Ông chủ trương không tiến công địch chính diện để tránh sức mạnh hỏa lực của địch, mà bao vây chặn địch ngoài mé biển, tăng cường phục kích địch, không cho chúng tiếp xúc với dân, thực hiện “vườn không, nhà trống”, cô lập và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ.

                                

          Thành Điện Hải sau những đợt oanh tạc bằng đại bác vào sáng 1-9-1858 - Ảnh tư liệu

Suốt 5 tháng giao tranh, cái đói, cái bệnh, cái nóng bức... đã khiến liên quân mệt mỏi và hao mòn. Mặc dù được giáo sĩ Pellerin khuyên nên đem quân ra chiếm Bắc Kỳ, vì ở đó có giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo, và những người còn tôn phù Nhà Lê nổi lên góp sức, nhưng sau khi cân nhắc, tướng De Genouilly không tán thành.

Ngày 2 tháng 2 năm 1859, chỉ để lại một phần ba số quân (khoảng 1.000 người) và 6 tàu chiến, bàn giao cho Đại tá Faucon nắm giữ, còn bao nhiêu De Genouilly cho rút hết vào Nam, mở mặt trận mới ở Gia Định
  
Cho đến hết năm 1858, quân địch vẫn không sao mở rộng được địa bàn chiếm đóng, phá vỡ thế phòng thủ của ta, để thực hiện chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh.

 Tương quan lực lượng tại Đà Nẵng lúc này đã thay đổi, tạo thế thuận lợi cho ta. Lại thêm yếu tố thời tiết và khí hậu khắc nghiệt ở nơi đây làm cho quân địch khốn đốn, gần như bị tước mất sức chiến đấu. Một chỉ huy quân Pháp ở đây đã thú nhận: “trên mảnh đất nóng cháy này, các binh sĩ của ta gục ngã, cầm không nổi khí giới”. Những toán viện binh sau đó cũng bị tiếp tục hao mòn vì bệnh dịch và khí hậu oi bức, cộng thêm sự căng thẳng thần kinh do các cuộc tập kích hàng đêm vào các cứ điểm của quân triều đình và dân binh.

Kết cục, sau 18 tháng đánh chiếm Đà Nẵng (từ 1-9-1858 đến 23-3-1860), Page - thiếu tướng Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha - được lệnh của Chính phủ Pháp rút hết quân ra khỏi Đà Nẵng để đưa sang hỗ trợ cho chiến trường Trung Quốc. Trước khi rút quân, Page ra lệnh đốt hết các đồn trại ở Sơn Trà, An Hải, Điện Hải, Trà Úc và đành phải để lại một nghĩa địa và hàng trăm nấm mồ quân xâm lược nằm rải rác trên bán đảo Sơn Trà. Đây là nghĩa địa quân xâm lược duy nhất còn tồn tại đến ngày nay ở nước ta.
 
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, thì Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã bị cầm chân và bị thiệt hại, cho nên đây chính là một khởi đầu thắng lợi lớn, nhưng duy nhất trong hơn một phần tư thế kỷ (1858–1884) chống ngoại xâm của quân và dân Việt Nam
 
                                  
                                                  Tàu Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858

Phó Đô đốc De Genouilly đã viết thư về Pháp rằng:

Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy nước Nam Kỳ (Việt Nam); người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ... Người ta (...) cho rằng dân chúng sẽ nổi lên hưởng ứng, thật ra... trái hẳn lại với sự dự đoán đó... Người ta báo cáo rằng quân đội Việt không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân... thì không đau ốm và không tàn tật... Trên bộ thì không hành quân lớn được, dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi...

Trích báo cáo của De Genouilly đề ngày 4 tháng 1 năm 1859:

Chúng ta đang xuống dốc đến kiệt quệ ở Đà Nẵng. Mọi phương tiện cải thiện tình hình bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu.

Hơn 10 ngày sau (15 tháng 1), viên tướng này gửi tiếp một báo cáo nữa, để nói rõ số lính chết vì bị bệnh kiết lỵ lên đến mức đáng sợ. Trong số 800 lính bộ binh, chỉ còn nhiều nhất là 500 người có thể cầm khí giới, nhưng không đủ sức để mở một cuộc hành quân...

Võ Duy Ninh có vợ là người huyện An Nhơn - Bình Định. Họ sinh được 2 người con trai, người con đầu tên Ngọc, người thứ hai tên Lập.
Võ Duy Lập được sinh ra tại Hành Thuận, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi vào năm 1827. Là hậu duệ của một võ tướng, ông thích võ hơn văn, tuy học văn rất giỏi nhưng không ứng thí vì không thích chốn quan trường. Ông học võ từ rất sớm và ngay từ thuở nhỏ đã được tặng biệt danh Ngũ Linh Dương nhờ một lúc cử được 5 trái linh (mỗi trái 60 cân) trong một kỳ thi võ. Ở tuổi thanh niên, dáng vóc ông to lớn, mạnh mẽ và rất giỏi võ nghệ. Ông cũng thường giao du với những thanh niên có lòng yêu nước cùng lứa và cả lớp đàn anh như: Trương Định, Trương Gia Mô, Nguyễn Thông, Âu Dương Lân, thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa…
Trong khoảng những năm từ 1840 đến 1845, có lần Võ Duy Lập đã theo cha mình là Võ Duy Ninh vào Gia Định như một chuyến được ngao du và với mục đích là thăm thú bà con họ hàng đang sống và làm ăn ở đó (vì trước đó đã có một bộ phận dòng họ Võ Duy từ Quảng Ngãi vào định cư tại huyện Bình Dương - Gia Định). Trong thời gian thăm thú Gia Định, Võ Duy Lập gặp một người con gái (có thể là do mai mối) tên là Trương Gia Hương, thuộc dòng dõi thế gia rất nổi tiếng ở Gia Định, Bến Tre và Bình Thuận. Nàng là em họ của cử nhân Trương Gia Hội, là cô họ của Trương Gia Mô, nhà cách mạng đồng thời với Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cũng là người sau này dẫn lối cho Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Năm 1910, một thanh niên tên Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) cầm thư giới thiệu của cha là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đến gặp ông ở làng Hà Thủy, tổng Đa Phước, tỉnh Bình Thuận. Được sự gửi gắm của bạn, lại thấy Tất Thành có chí hướng, nên ông viết thư giới thiệu Thành với ông Hồ Tá Bang - một trong các sĩ phu sáng lập viên của Liên Thành Thương Quán và trường Dục Thanh ở Phan Thiết. Sau đó, ông Hồ Tá Bang đã cho người ra đón Nguyễn Tất Thành vào dạy học tại Trường Dục Thanh. Tháng 3 năm 1911, ông Hồ Tá Bang và Trần Lê Chất đưa Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn để tìm cách sang Pháp.
Sau chuyến đi này, Võ Duy Lập về quê, lấy Trương Gia Hương làm vợ, vợ ông sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Võ Duy Cung. Năm 1858, bà sinh người con thứ hai, đặt tên là Võ Duy Phụng.
Năm 1857, hưởng ứng chính sách khai hoang, chiêu dân lập ấp của triều đình Huế (mà người trực tiếp phát động phong trào là Nguyễn Tri Phương), Võ Duy Lập cùng bạn bè và những người có chí tang bồng xuôi thuyền vượt biển vào Nam, đến đất Ba Giồng, Tiền Giang ven Đồng Tháp Mười, khai khẩn. Vì là cuộc đi khai khẩn vùng đất mới có thể gặp rừng thiêng nước độc nên Võ Duy Lập đã để vợ con ở lại quê nhà (lúc này vợ ông đã cấn thai người con thứ hai), và có thể vì lý do không muốn ai biết mình là con của vị quan lớn Võ Duy Ninh nên ông cũng đổi họ thành Nguyễn Duy Dương (thậm chí là Nguyễn Văn Dương, trở về họ gốc).
Khi được biết Võ Duy Ninh đã vào Gia Định nhận chức Hộ đốc, Lập có đến ra mắt cha mình. Người cha biết được cuộc khẩn hoang, lập ấp của con ở đất Ba Giồng, nhưng không biết được Lập đã đổi họ tên. Chính lần gặp gỡ này đã cho Nguyễn Duy Dương biết cha mình được phái vào Nam mộ quân ở các tỉnh Long - Tường - An – Hà (Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên), tăng cường phòng thủ cho Gia Định thành. Từ đây, ngoài việc vận động dân ở các địa phương, nhất là dân các tỉnh miền Trung tụ về làm hình thành nên khu vực định cư mới ở đất Ba Giồng, Nguyễn Duy Dương còn phải nhanh chóng chiêu mộ lập nên một đội nghĩa binh, tích cực rèn chí, luyện gan theo lời cha dặn.
Ngày Pháp đánh Gia Định thành, Nguyễn Duy Dương kéo số dân binh ít ỏi của mình đến trợ chiến quân triều đình. Sau khi thành Gia Định thất thủ, ông cùng số dân binh đó trở về lại Ba Giồng, xây dựng Lý Nhơn thành căn cứ địa, quyết tâm chống Pháp. Nghe tin cha tuẫn tiết, ông đã bí mật lặn lội đến Phước Lý chịu tang, đồng thời bí mật vận động được một số binh lính triều đình ở đó theo về cùng ông tiếp tục chiến đấu, trả thù cho cha.

Như đã kể, Bị cầm chân ở Đà Nẵng, tướng Charles Rigault de Genouilly buộc phải thay đổi kế hoạch, là rút đi hai phần ba số quân (tức 2000 người) và 8 trong số 14 chiến thuyền ở mặt trận này để vào đánh chiếm Gia Định.

 Trận thành Gia định hay còn gọi Trận Gia Định là một trận chiến diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng hai năm 1859, giữa liên quân Pháp và Tây Ban Nha với quân đội vương quốc Đại Nam. Kết quả quân đội Đại Nam thất bại và thành Gia Định cùng các đồn lũy quân sự khác dọc sông Lòng Tàu bị liên quân Pháp và Tây Ban Nha san phẳng.

Theo thư ngày 29 tháng 1 năm 1859 của viên tướng này gửi Bộ trưởng Hải quân Pháp ở Paris, thì "Sài Gòn nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng mệt nhọc. Sài Gòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế sống một phần nhờ gạo Sài Gòn. Đến tháng Ba thì thuyền chở thóc gạo, sẽ kéo buồm từ Sài Gòn ra Huế. Chúng tôi quyết chặn thóc gạo đó lại...".

                                 Trận thành Gia Định, 1859 – Wikipedia tiếng Việt

                                                 Quân Pháp tấn công thành Gia Định.

Như vậy, việc Pháp chọn mặt trận thứ hai ở Sài Gòn, cũng không nằm ngoài mục đích muốn chiếm đóng và tìm kiếm lợi lộc từ nước Việt. Và nếu không thể "đánh nhanh, thắng nhanh" ở Đà Nẵng được, thì Sài Gòn quả là một địa bàn thuận lợi hơn Hà Nội, bởi ở đây có một hệ thống sông rạch chằng chịt, nhiều sản vật, nhiều của cải và nhiều lúa gạo nhất Đại Nam. Cho nên, De Genouilly mong muốn chiếm lĩnh Sài Gòn để có thể "vừa lập nghiệp, vừa phòng thủ", "vừa hành binh, vừa lưu thông thương mại dễ dàng". Ngoài việc cắt đứt con đường tiếp tế lương thực cho Huế như đã ghi trên, thực dân Pháp sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện ý đồ làm chủ lưu vực sông Mê Kông, và xa hơn nữa là phía Bắc... 

Ngày 10 tháng 2, đại bác Pháp bắn vào Vũng Tàu. 

Ngày 11 tháng 2, đoàn tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ. Sau đó, quân Pháp vừa đi vừa tháo gỡ những chướng ngại vật trên sông và triệt phá 12 đồn trại của quân Việt ở hai bên bờ, nên mãi tới chiều 15 tháng 2, quân Pháp mới đến được ụ Hữu Bình. Tức thì, cuộc đấu pháo đã diễn ra dữ dội suốt đêm. Quân Việt dùng thuyền nhỏ chở đầy thuốc súng và rơm khô, định dùng kế hoả công nhưng bị quân Pháp biết, sai người lén đốt trước.

Sáng sớm hôm sau, tức ngày 16 tháng 2, bảy tàu chiến Pháp dàn trận rồi ra sức bắn phá cho đến khi quân Việt phải bỏ chạy và quân Pháp xông lên chiếm được pháo đài. Và ngày hôm sau nữa (17 tháng 2), các tàu chiến Pháp đã có mặt trước thành Gia Định.

Nhờ cho hai tàu nhỏ vào rạch Thị Nghè thám thính, cộng thêm sự chỉ dẫn của giáo sĩ Lefèbvre, nên các sĩ quan Pháp đã hiểu khá rõ lực lượng và cách bố phòng của thành Gia Định.

Ngày 17-2-1859, khoảng 4 giờ sáng, liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công vào góc Đông Nam thành Gia Định (trực diện đường Tôn Đức Thắng - Đinh Tiên Hoàng và dọc mạn đường Lê Duẩn hiện nay). Phía Pháp có hai trung đoàn bộ binh với hơn 2.000 quân, trong đó có 1.000 lính pháp, 550 lính Tây Ban Nha, 450 lính Philippines và tám tàu chiến, hai tàu vận tải, hàng chục đại bác. Phía quân nhà Nguyễn ở trong thành Gia Định với quân số hơn 2.000, đại bác có 200 khẩu súng thần công, thuốc súng 80.000 kg, nhiều bạc nén, thóc đủ nuôi một vạn quân trong một năm. 

                                                  

    Tướng Charles Rigault de Genouilly - , chỉ huy quân đội Pháp tấn công Gia Định năm 1859. Hình chụp khoảng năm 1870.                                              

 Tàu chiến Pháp từ rạch Thị Nghè và sông Sài Gòn bắn đại bác cấp tập vào thành nhằm phủ đầu quân hộ thành. Quân bộ binh tràn lên vây thành. Quân hộ thành bắn đạn nổ, phóng lao, ném đá, đổ dầu nóng, phun lửa xuống chặn quân Pháp. Quân Pháp sử dụng đại bác bắn thẳng vào cửa thành, đưa chất nổ áp sát để phá thành. Cửa cổng thành phía Đông bằng gỗ dày nhưng không chịu được sức công phá của đại bác (loại nòng pháo có rãnh, đạn có các tút, đầu đạn nổ khi chạm mục tiêu) nên bị phá vỡ, đồng thời giặc Pháp cho lính bộ binh bắc thang trèo vào thành. Pháo trên thành dội xuống tàu địch đậu ở phía rạch Thị Nghè (Thảo Cầm Viên ngày nay) nhưng súng thần công của nhà Nguyễn lúc đó bắn đạn tròn làm bằng gang bỏ đầu nòng, nhồi thuốc và đốt bằng dây mồi nên có tầm bắn ngắn, sức công phá yếu, độ sai lạc lớn cho nên không bắn chìm được chiếc tàu nào. Súng của binh lính nhà Nguyễn cũng lạc hậu, thao tác rất chậm cho nên không địch lại được các loại súng hiện đại của quân đội Pháp khi đó. Hơn 800 quân Pháp-Tây Ban Nha do Trung tướng Rigault de Genouilly tràn vào thành và một trận chiến xáp lá cà trong thành đã diễn ra ác liệt. Bằng tất cả vũ khí có trong tay, quân nhà Nguyễn đã giữ thành đến quá trưa (giữ thành được 11 tiếng đồng hồ), độ chừng lúc gần 2 giờ chiều, quân Pháp mới làm chủ được thành. Phía liên quân Pháp-Tây Ban Nha bị chết và bị thương ngót trăm người. Còn phía bên quân nhà Nguyễn hy sinh rất nhiều, có tài liệu ghi rằng chết cả vài trăm người, chủ yếu do pháo, thuốc nổ. TướngVõ Duy Ninh bị trọng thương                       

                  
      Thần công thành Gia Định, đang được trưng bày tại Lăng Ông Bà Chiểu.

Để bảo toàn lực lượng, quân nhà Nguyễn buộc phải bỏ thành rút lui, để lại trong thành hầu hết đại bác, đạn dược, tất cả thóc gạo và hơn trăm chiến thuyền gỗ trên sông Thị Nghè. Đề đốc Trần Tri, bố chánh Vũ Thực, lãnh binh Tôn Thất Năng mang quân lui về ụ Tây Thái. Tướng Võ Duy Ninh được binh lính cõng về làng Phước Lý thuộc Tổng Phước Lộc (huyện Tân Bình xưa). Kho thóc cháy hai năm còn bốc khói.

Sau khi tỉnh dậy, biết tin quân Pháp đã chiếm được thành Gia Định, ông đã rút gươm tự sát vào đêm 17-2-1859. Bộ tướng của ông là án sát Lê Từ cũng tự vẫn. Pháp chiếm được hơn 200 khẩu pháo, 20.000 vũ khí cầm tay như súng, súng ngắn và kiếm, 100 tấn đạn dược, 80.000 tấn gạo và 130.000 franc tiền mặt. Tổng thiệt hại vật chất ước tính vào khoảng 20 triệu franc khi đó.

Ngay sau khi chiếm được thành, tướng Pháp De Genouilly có ý định giữ lại tòa thành để làm căn cứ đồn trú lâu dài cho đội quân viễn chinh vì cấu trúc tòa thành theo kiểu Vauban phù hợp với tác chiến châu Âu. Nhưng sau đó quân nhà Nguyễn liên tục tấn công, quấy rối, phần muốn trả thù cho chủ tướng, phần muốn giành lại thành để khỏi mang trọng tội với vua. Phía Pháp chống đỡ rất vất vả trước sự kháng cự liên tục của quân và dân Việt, bị tiêu hao lực lượng khá nặng nề. Trong một báo cáo gửi về Bộ Hải quân Pháp ở Paris, tướng De Genouilly đã than rằng: “Bây giờ tôi không biết bằng cách gì và đến chừng nào cái sự việc Nam Kỳ này mới được giải quyết” và “Không thể không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh ở xứ này còn khó hơn cuộc chiến tranh với Trung Hoa” (sách Địa chí văn hóa TP.Hồ Chí Minh).

                                    Trận thành Gia Định năm 1859 - Hình Ảnh Lịch Sử - Bộ sưu tập Hình Ảnh Lịch  Sử Việt Nam và Thế Giới 

                                       Binh lính nhà Nguyễn và binh lính Tây Ban Nha 

Ngày 18-3-1859, sau một tháng chiếm được thành, tướng De Genouilly quyết định cho phá thành. Quân Pháp đã đặt 32 khối mìn cho nổ tung toàn bộ ngôi thành và đốt phá kho tàng, san phẳng dinh thự bên trong. Người ta truyền miệng rằng kho thóc thành Gia Định cháy mãi đến hai năm mà khói còn nghi ngút.

Phá tan thành Gia Định xong, De Genouilly chỉ để lại một số quân đóng giữ ở đồn Nam (đồn Hữu Bình), còn bao nhiêu rút hết xuống các tàu chiến.

Ngày 20 tháng 4 năm 1859, viên tướng trên giao quyền cho Đại tá hải quân Jauréguibery chiếm giữ Gia Định, rồi lui tàu trở lại mặt trận Đà Nẵng, vì lúc này quân Pháp ở đó đang bị nguy khốn vì thương vong và dịch bệnh..

Mặc dù thất bại trong việc giữ thành nhưng rõ ràng đây là trận chiến vô cùng oanh liệt, cùng với trận đánh pháo đài Phước Thắng (Vũng Tàu) mở màn cho những năm tháng trường kỳ kháng chiến của người dân Nam Bộ. Tướng Võ Duy Ninh là vị tướng cao cấp đầu tiên của nhà Nguyễn, cũng là của đất nước hy sinh anh dũng trong cuộc chiến. Trận chiến đấu này và tấm gương hy sinh anh dũng của Võ Duy Ninh đã tác động rất lớn dẫn đến những hoạt động kháng Pháp sau này của Nguyễn Trung Trực (1839-1868), Thiên Hộ Dương (1827-1866), Thủ Khoa Huân (1830-1875), Trương Định (1820-1864)…

Sau khi tướng Võ Duy Ninh mất, con trai ông là Võ Duy Lập gia nhập nghĩa quân của Trương Công Định, tiếp tục chống Pháp, trở thành người anh hùng nghĩa quân. Ông khai sinh ra chiến khu Đồng Tháp Mười, chiến đấu trong năm năm tới ngày hy sinh (1866), được nghĩa quân tôn phong là “Thiên Hộ Vương”(người miền Nam gọi Vương thành Dương), trở thành huyền thoại tượng trưng sự bất khuất ngoan cường của người dân Nam Bộ chống thực dân Pháp xâm lược.

                               

Tàu chiến của lực lượng viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha từ sông Sài Gòn bắn vào thành Gia Định (tranh của Antoine Léon Morel-Fatio).

Cũng trong khoảng thời gian này, Quản cơ Trương Công Định đem quân bản bộ của mình (gồm lính đồn điền và nông dân được chiêu mộ) về Lý Nhơn, hợp sức với người bạn trẻ Nguyễn Duy Dương gấp rút xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc, rồi lấy đó làm bàn đạp, nhanh chóng xuất quân trở lại Gia Định tổ chức đánh phục kích tiêu hao lực lượng quân Pháp.
Sau đó, khi Nguyễn Tri Phương (được triều đình Huế cử vào thay Tôn Thất Hiệp, chỉ huy cuộc kháng Pháp ở Gia Định) kêu gọi quân dân hợp sức chống giặc (tập trung chủ yếu vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa, đồn này rộng 300m, dài 1000m, chia làm 5 khu ngăn cách nhau bằng bờ rào gỗ, rào tre, đào hào cắm chông, 150 cỗ đại bác các loại, bắn bằng đạn gang được bố trí trên mặt thành), thì các toán quân “ứng nghĩa”, trong đó có quân của Quản cơ Trương Công Định và của Nguyễn Duy Dương, đều qui tụ về Chí Hòa, đầu quân dưới sự chỉ huy của ông. Chính trong dịp này, Quản cơ Trương Công Định được triều đình thăng lên chức Phó lãnh binh, còn Nguyễn Duy Dương được phong chức Thiên Hộ (chức này cũng như một chức võ quan có lực lượng dân binh riêng hàng ngàn người, cai quản một khu vực dân cư khoảng ngàn gia đình)).
GS. Trần Văn Giàu viết: 
"Tuy có chủ trương "vừa công vừa thủ", nhưng không hơn gì Tôn Thất Hiệp, Thống tướng Nguyễn Tri Phương vẫn án binh bất động, chỉ khác một điều là ông tập trung sức lực quân dân (khoảng 30.000 người) không phải vào việc đánh mà vào việc xây dựng Đại đồn Chí Hòa nhằm bao vây địch chặt chẽ hơn, tính không cho địch bung ra rộng hơn nữa...(Để rồi) Đại đồn xây dựng gần một năm với công sức của mấy vạn quân và dân, chỉ bảo vệ được hơn một ngày thì mất!. Đại đồn Chí Hòa, biểu hiện chiến lược phòng thủ tai hại của  tướng Nguyễn Tri Phương...".
                              Qua Chí Hòa hoài cổ
                            Tiện bước qua thăm cảnh Chí Hòa
                            Đây nơi chiến địa buổi can qua.
                            Đống xương vô định sương vùi lấp,
                            Giọt máu hy sanh cỏ nhuộm lòa.
                            Cứu nước chẳng nề thân sống thác,
                           Liều mình không quản sức xông pha!
                            Người xưa, cảnh cũ nay còn nhớ?
                           Tang hải buồn thay nỗi nước nhà!
Sài Sơn P.H.C (Phụ nữ tân văn số 28 ngày 7 tháng 11 năm 1929)
 
                       Đại đồn Chí Hòa - kỳ 1: Trận chiến không thể quên - Ảnh 4.
                                               Quân Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa
Cũng trong khoảng thời gian này, Quản cơ Trương Công Định đem quân bản bộ của mình (gồm lính đồn điền và nông dân được chiêu mộ) về Lý Nhơn, hợp sức với người bạn trẻ Nguyễn Duy Dương gấp rút xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc, rồi lấy đó làm bàn đạp, nhanh chóng xuất quân trở lại Gia Định tổ chức đánh phục kích tiêu hao lực lượng quân Pháp.
Sau đó, khi Nguyễn Tri Phương (được triều đình Huế cử vào thay Tôn Thất Hiệp, chỉ huy cuộc kháng Pháp ở Gia Định) kêu gọi quân dân hợp sức chống giặc (tập trung chủ yếu vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa, đồn này rộng 300m, dài 1000m, chia làm 5 khu ngăn cách nhau bằng bờ rào gỗ, rào tre, đào hào cắm chông, 150 cỗ đại bác các loại, bắn bằng đạn gang được bố trí trên mặt thành), thì các toán quân “ứng nghĩa”, trong đó có quân của Quản cơ Trương Công Định và của Nguyễn Duy Dương, đều qui tụ về Chí Hòa, đầu quân dưới sự chỉ huy của ông. Chính trong dịp này, Quản cơ Trương Công Định được triều đình thăng lên chức Phó lãnh binh, còn Nguyễn Duy Dương được phong chức Thiên Hộ (chức này cũng như một chức võ quan có lực lượng dân binh riêng hàng ngàn người, cai quản một khu vực dân cư khoảng ngàn gia đình)).
Đến đây, họ tên Võ Duy Lập đã mất hút từ lâu và đến tên Lập cũng chẳng ai còn nhớ nữa. Võ Duy Lập, con Tổng trấn Võ Duy Ninh coi như đã bặt vô âm tín. Ngay cả đối với bà con họ hàng ruột thịt của Võ Duy Ninh ngụ tại Bình Dương cũng coi như thế. Mối liên hệ giữa Võ Duy Lập và Thiên hộ Nguyễn Duy Dương đã hoàn toàn bị xóa sạch. Thậm chí, cái họ Nguyễn Duy cũng rất ít người biết vì trong đời sống hàng ngày, không ai gọi tên họ cả mà chỉ gọi tên, kèm theo thứ tự anh em trong gia đình (người miền Nam không gọi người con đầu là “cả” mà là “hai”), hoặc kèm theo chức vụ, phẩm hàm… Ví dụ đối với Nguyễn Duy Dương, người ta chỉ gọi: Dương, Ba Dương (vì có anh hai là Ngọc), Năm Linh, Thiên Hộ Dương. Chỉ có những người thân tín nhất, theo sát ông nhất, vào sinh ra tử cùng ông, mới biết Thiên hộ Dương chính là con trai của quan Tổng trấn Võ Duy Ninh, từ đó mà suy ra họ của ông phải là Võ Duy, thế thôi chứ không hề hay biết Dương cũng là Lập.
Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương cùng quân triều đình rút chạy. Phó lãnh binh Trương Công Định và Thiên Hộ Dương cũng rút quân về Lý Nhơn. Tại đây Trương Công Định cùng Nguyễn Duy Dương và Âu Dương Lân cắt máu ăn thề kết làm huynh đệ sống chết có nhau và bàn tính phương kế liên kết chống Pháp. Dù căn cứ địa Lý Nhơn đã được bố trí, tạo dựng vững vàng nhưng thấy tập trung quân vào một chỗ là hạ sách nên Trương Công Định để lại một phần quân số tăng cường cho Thiên Hộ Dương ở lại Lý Nhơn, rồi cùng Âu Dương Lân dẫn hơn một ngàn nghĩa binh về Gò Công, xây dựng căn cứ địa, củng cố lực lượng và tích cực chiêu mộ thêm nghĩa binh. Lực lượng của Trương Công Định nhanh chóng lớn mạnh, và cùng với Thiên hộ Dương, tiếp tục gây cho giặc Pháp nhiều thiệt hại, làm cho chúng mất ăn mất ngủ.
Ngày 5-6-1862, Triều đình Huế bạc nhược ký hòa ước (thực chất là hàng ước!) dâng ba tỉnh miền Đông (gồm Biên hòa, Gia Định, Định Tường) và đảo Côn Lôn cho Thực dân Pháp. Tháng 9-1862, triều đình Huế ra lệnh cho Trương Công Định và Nguyễn Duy Dương phải bãi binh, điều Trương Công Định đi lãnh nhiệm vụ mới ở An Giang. Trương Công Định cưỡng lệnh, giương cao ngọn cờ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” tiếp tục chống Pháp. Lực lượng Thiên Hộ Dương tiếp tục đi theo ngọn cờ được nhân dân suy tôn đó.
Trong những tháng ngày rong ruổi dẫn dân binh đi “ứng nghĩa”, hộ chiến cho quân triều đình ở Gia Định và bước đầu xây dựng căn cứ Lý Nhơn, Nguyễn Duy Dương đem lòng yêu một người con gái ở Gia Định và coi nàng như vợ bé. Việc kết giao giữa hai người trong thời buổi loạn lạc, lòng người khó dò, là việc cần được giấu kín nên trong số những người tâm phúc nhất của Thiên Hộ Dương cũng rất ít người biết được tường tận, còn hầu như là chỉ biết mơ mơ hồ hồ, và dù có biết thì họ cũng có ý thức không mảy may tiết lộ ra ngoài.
(Về truyền thuyết người vợ bé của Thiên Hộ Dương, có nhiều câu chuyện còn lan truyền trong dân gian rất đáng được quan tâm, suy nghĩ.
Chuyện thứ nhất:
Ngày xưa, ở thôn Hòa An (phủ Tân Thành, An Giang) có một ông bá hộ ăn ở nhân hậu. Gia đình ông hiếm hoi, chỉ có một người con gái. Nàng duyên dáng, mặn mà, đã đến tuổi cập kê nhưng chưa chịu lấy chồng. Giống tính cha, dù là con nhà khá giả song nàng sống chan hòa với bà con tá điền và thường hay giúp đỡ những người nghèo khó. Nàng rất yêu hoa, thường thơ thẩn trong vườn hoa trước nhà, nên mọi người gọi nàng là Bướm.
Một hôm, có một đoàn thương lái lỡ đường, ghé nhà xin bữa cơm. Trong đoàn có một thanh niên diện mạo khôi ngô, vạm vỡ, cốt cách oai phong của một vị tướng. Thấy đây không phải là đám lái buôn bình thường, ông bá hộ bèn mời vào nhà thết đãi tử tế và gọi nàng Bướm ra hầu rượu.
Cơm nước xong, chàng thanh niên ấy mở lời cảm ơn và xin hoàn lại tiền bữa ăn. Ông bá hộ ngăn lại, đoạn bảo nàng Bướm lấy ra một túi bạc và nói:
- Theo chỗ lão xét đoán thì ngài không phải là lái buôn mà là tráng sĩ đang lo việc dân việc nước. Xin cho lão được góp phần nhỏ mọn này.
Sau một thoáng ngạc nhiên, người thanh niên thú thực:
- Quả thật là cụ tinh đời. Chúng tôi là nghĩa quân của ngài Thiên Hộ… Tôi xin thay mặt nghĩa quân nhận số bạc và hết sức cảm ơn nghĩa cử hào hiệp của cụ.
- Chẳng hay quí danh tráng sĩ là chi?
- Dạ, tên tôi là Kiều, họ Nguyễn.
- Té ra tráng sĩ là ngài Đốc binh Kiều. Thật là vạn hạnh cho lão. Nghe tiếng tráng sĩ đã lâu, hôm nay lão mới được diện kiến. Bây giờ lão có một đề nghị này: số là lão chỉ có mỗi một mụn con gái đây, nhiều thanh niên trong vùng ngấp nghé nhưng nó chưa ứng đám nào; xin tráng sĩ nhận làm thê thiếp cho nó có dịp nâng khăn sửa túi bậc anh hùng.
Người thanh niên vội nói:
- Thưa lão gia, tôi xin cảm ơn lòng tốt của lão gia một lần nữa. Nhưng về việc này thì cho tôi xin thất lễ vì tôi đã có hiền thê ở nhà. Hơn nữa, chốn lửa đạn có nữ nhi kề bên e bất tiện.
Ông bá hộ nài nỉ mãi làm người thanh niên không thể từ chối được nữa và hôm đó được coi như ngày đính ước.
Từ đó, nàng Bướm tự coi mình là gái đã có chồng. Ít lâu sau, được tin Đốc binh Kiều tử trận ở Gò Tháp, nàng lặng lẽ chít khăn tang, lập bàn thờ chồng rồi cứ thế sống thủ tiết với chồng chưa cưới cho đến lúc qua đời.
Tấm lòng nhân hậu và trung trinh tiết liệt của nàng được dân quanh vùng ngợi ca và con rạch chảy qua vườn nhà nàng được gọi là rạch Bà Bướm từ thuở đó.
Câu chuyện này làm bật ra câu hỏi: phải chăng trường hợp có vợ bé của Thiên Hộ Dương đã xảy ra tương tự như thế hoặc đó chính là câu chuyện có xuất phát trực tiếp từ trường hợp có thực của Thiên Hộ Dương vì Nguyễn Kiều chưa chắc là Nguyễn Tấn Kiều - Đốc binh Kiều mà chỉ là một cái tên che đậy tung tích? Rất tiếc là cho đến nay, chưa ai biết đích xác họ và quê quán cụ thể của Đốc binh Kiều. Dân gian thường gọi ông là Lê Công Kiều, Trần Phú Kiều hoặc Nguyễn Tấn Kiều nhưng phổ biến nhất là quan lớn Thượng. Tương truyền ông gốc miền Trung, vào Nam sinh sống ở huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường.
Câu chuyện thứ hai:
Ông Nguyễn Văn Biểu gốc người làng Tân Phú, tổng Kiến Phong, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), là con thứ tám trong một gia đình nông dân. Lúc nhỏ có theo học võ nghệ và chữ nho. Tương truyền, ông có vóc người cao lớn, rất khỏe, da đen, môi chì, tướng tá bặm trợn, trông rất dữ dằn.
Đến khi trưởng thành, ông cùng người anh thứ bảy là Nguyễn Văn Phương theo người cậu về làng Mỹ Thọ (thuộc huyện Cao Lãnh) để kiếm việc làm.
Lúc đầu ông sinh sống bằng cách làm mướn và theo người cậu đóng cối xay đi bán dạo. Thấy ông khỏe mạnh lại làm lụng siêng năng, trông tướng dữ mà té ra tính tình nhân hậu nên một gia đình khá giả, có nhiều ruộng đất ở Rạch Miễu, cũng thuộc làng Mỹ Thọ, kêu gả con gái cho. Từ đó, ông Biểu thôi đi làm mướn, quay sang trông nom ruộng đất cho nhà vợ.
Khi được tin Thiên Hộ Dương kéo quân về lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ chống Pháp, ông liền từ giã vợ con lên đường gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Nhờ khỏe mạnh, giỏi võ, gan dạ và một lòng trung thành nên được Thiên Hộ Dương chọn làm chỉ huy đội phòng vệ. Vì thế mọi người lúc bấy giờ thường gọi ông là Phòng Biểu hay Phòng Tám (vì ông thứ tám). Từ đó, tiếng tăm ông vang dội khắp vùng Cao Lãnh.
Trong suốt thời gian theo nghĩa quân, trải qua bao trận mạc, lúc nào ông cũng tỏ ra là người chỉ huy có tài, dốc lòng hy sinh cho đại cuộc. Thiên Hộ Dương rất tin cậy ông và ông trở thành người hộ vệ thân tín bên cạnh vị chủ tướng.
Khi Đốc binh Kiều nắm binh quyền thay Thiên Hộ Dương tiếp tục chống Pháp ở Đồng Tháp Mười thì Phòng Biểu trở thành cánh tay đắc lực của Đốc binh Kiều trong việc cố gắng xây dựng lại căn cứ và củng cố lại lực lượng nghĩa quân. Trong một trận đánh, Đốc binh Kiều bị thương nặng rồi hy sinh. Sau khi chôn cất đâu đó Đốc binh Kiều, ông Phòng Biểu rút quân qua Sình Lớn, về cố thủ ở ngã ba Thông Bình (Tân Thành). Mặc dù quân số ít, vũ khí thiếu thốn, thô sơ và bị Pháp tập trung càn quét liên miên, ông vẫn cùng nghĩa quân chiến đấu cầm cự kéo dài suốt bốn năm liền. Tuy nhiên, vì lực lượng ngày một hao mòn, thấy không thể duy trì được nữa nên ông ra lệnh giải tán nghĩa quân. Riêng ông phiêu bạt rày đây mai đó.
Pháp và tay sai truy lùng tìm bắt ông ráo riết nhưng không có kết quả. Chúng bèn quay sang tìm cách bắt con cháu ông để bức ông ra hàng. Túng thế, ông phải cải họ người con trai duy nhất của ông từ họ Nguyễn sang họ Võ và giao cho bà Nguyễn Thị Chung là cháu gái của ông (lúc bấy giờ đã theo chồng về ở rạch Cái Da, xã Nhị Mỹ) trông nom giúp.
Ông Phòng Biểu tiếp tục sống đời ẩn dật đến năm 1914 thì mất, thọ 84 tuổi. Phần mộ của ông hiện ở xóm Giồng, rạch Cao Miên, thuộc xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Câu chuyện thứ hai này bật ra câu hỏi: người con trai duy nhất của ông Phòng Biểu lớn lên rồi ra sao và sao ông Phòng Biểu không đổi họ cho con từ Nguyễn sang bất cứ họ nào khác mà phải là họ Võ? Hay phải chăng đứa con trai đó chính là con của Thiên Hộ Dương có với người vợ bé và đã gửi gắm lại cho gia đình ông Phòng Biểu, một trong những thủ hạ thân tín nhất của mình? Có thể nào cha vợ của Phòng Biểu cũng là cha vợ của Thiên Hộ Dương và vợ bé của Thiên Hộ Dương là chị ruột của vợ Phòng Biểu?
Câu chuyện thứ ba được lan truyền trong dân gian vùng Bình Cách:
Ông Năm Linh (tức Ngũ Linh Dương?) người miền Trung, võ nghệ cao cường, tính tình cương trực, hay làm việc nghĩa, giao du rộng, …, vào Nam lập nghiệp. Lúc Tây xâm lược Nam Kỳ, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng, quyên góp lúa gạo, mua súng đạn đánh Tây, được nhiều người hưởng ứng. Bá hộ Học (Trần Văn Học) là điền chủ giàu có nhất nhì trong vùng chẳng những ủng hộ lúa gạo mà còn bán ruộng lấy tiền bạc mua súng đạn ủng hộ nghĩa quân. Để khích lệ người anh hùng có chí lớn, bá hộ Học đem đứa con gái duy nhất là Trần Thị Vàng (bà Bảy Vàng) gả cho ông Năm Linh. Từ khi về với ông Năm Linh, dù là gái đưa chứ không phải là vợ chính thức có cưới hỏi, nhưng bà Bảy Vàng chẳng những một lòng chung thủy mà còn giúp chồng nhiều việc trong công cuộc quốc sự. Khi ông Năm Linh cùng nghĩa quân rút vào Đồng Tháp Mười, bà cũng theo chồng để lo việc tiếp tế lương thực nuôi quân. Đến khi Đại đồn Tháp Mười thất thủ, ông Năm Linh theo ghe bầu về Huế cầu viện, bà ở lại nuôi con chờ chồng. Khi ông Năm Linh bị chết ngoài biển, bà Bảy Vàng nghe tin, buồn rầu mà mất.
Câu hỏi đặt ra cho câu chuyện này là: ông bá hộ Học phải chăng cũng là ông bá hộ ở câu chuyện thứ nhất? Phải chăng bà Bảy Vàng đã quá yêu người anh hùng mà tình nguyện đi theo nghĩa quân và đã có với người anh hùng một đứa con gái?
Câu chuyện thứ tư là theo lời kể của Võ Quế (85 tuổi vào năm 1989), cháu nội của Võ Duy Dương:
Trong thời gian ở Nam Kỳ, Võ Duy Dương có lấy vợ hai và đã sinh hạ được hai người con trai tên là Võ Châu và Võ Phong. Nhưng tên tuổi và quê quán của bà này thì chưa xác định được. Sau khi Võ Duy Dương qua đời, có một người đàn bà ở trong Nam ra Huế tâu với triều đình về hoạt động chống Pháp và gia đình của Võ Duy Dương trong Nam. Sau đó bà này tìm đến dòng tộc của Võ Duy Dương ở Nhơn Tân (An Nhơn, Bình Định), sống một thời gian rồi qua đời tại đây. Hiện nay mộ của bà vẫn nằm chung trong khu mộ gia đình họ Võ dưới chân núi Thơm. Ngôi mộ này được gọi là mộ của bà Đồng Nai (vì bà là người xứ Đồng Nai, tức miền Nam).
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Phải chăng bà Đồng Nai chính là Trần Thị Vàng và bà này đã mang người con gái của bà với Võ Duy Dương ra Bình Định, đến nhà bà vợ cả rồi nghe tin Võ Duy Dương đã chết thì buồn rầu ngã bệnh mà mất? Phải chăng người con gái đó lại là Võ Thị Thắm (tên đổi lại từ Võ Châu)? Còn Võ Phong chính là Võ Sắc, con trai của Võ Duy Dương với một người vợ thứ nữa? Vậy, có thể Thiên Hộ Dương khi hoạt động đã có 2 người vợ thứ? Chuyện nhiều vợ ngày xưa là thường tình! Cũng có thể người vợ thứ sinh thành ra Võ Sác chính là Trương Gia Hương còn bà vợ cả tên là Phạm Thị Liệu, người thôn Tráng Long cùng huyện nay thuộc xã Nhơn Tân? Hay bà Liệu cũng chỉ là vợ thứ sau này của ông Thiên Hộ, khi ông từ Nam ra mới tác hợp?)
Sau hàng ước của triều đình Huế, lực lượng quân triều đình rút khỏi 3 tỉnh miền Đông làm cho sức mạnh kháng Pháp bị suy giảm đáng kể. Sự quay lưng của triều đình Huế đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp rảnh tay đàn áp quân ứng nghĩa. Biết không thể lung lạc được Trương Công Định và Nguyễn Duy Dương, quân Pháp tập trung lực lượng, với sự tham gia cúc cung, chỉ đường mách lối của đám tay sai phản dân hại nước người Việt, tổ chức hành quân đánh chiếm, quyết tâm tiêu diệt cuộc kháng chiến do Trương Công Định lãnh đạo.
Trong tháng 1-1863, nghĩa quân tổ chức chiến đấu, cản phá có hiệu quả các cuộc hành quân càn quét của địch bằng những trận đột kích, phục kích, tập kích chớp nhoáng… trên địa bàn khắp 3 tỉnh miền Đông. Quân Pháp bị tiêu hao nhiều binh lực, buộc phải dừng cuộc tiến công, chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu.
Sau khi đã có thêm viện binh, Thực dân Pháp tập trung đánh vào Gò Công - Căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến do Trương Công Định chỉ huy. Mở đầu cuộc tiến công, quân Pháp đánh Gò Đen, Đồng Sơn, Vĩnh Lợi (là hệ thống tiền đồn bảo vệ căn cứ). Ngày 26-2-1863, đại binh Pháp tiến về Trại Lá (Bến Chùa). Trương Công Định khéo léo tổ chức các trận đánh ngăn chặn, tiêu hao địch, đồng thời bí mật tổ chức cho đại bộ phận lực lượng vượt ra khỏi vòng vây. Khi quân Pháp lọt được vào đại bản doanh thì nghĩa quân đã rút đi tự bao giờ.
Rời căn cứ Gò Công, Trương Công Định cùng toàn bộ nghĩa quân bí mật trở lại căn cứ Lý Nhơn, hợp binh với Thiên hộ Dương, tiếp tục tổ chức đánh du kích chống Pháp. Với một căn cứ Lý Nhơn chắc chắn không thể trụ vững đánh lâu dài trước một đội quân viễn chinh và tay sai đông đảo, được trang bị vượt trội hơn hẳn về vũ khí. Do đó trong thời gian này, Trương Định và Thiên Hộ Dương cùng các bộ tướng thân tín bàn thảo và quyết định tạo dựng 2 căn cứ mới để tránh bị co cụm và tạo khả năng phát triển thêm lực lượng nghĩa binh. Căn cứ thứ nhất dự định thành lập tại khu vực giữa làng Tân Phước và Kiểng Phước thuộc đất Gò Công. Đó là nơi cây lá rậm rạp bên hữu ngạn sông Soài Rạp nên cũng được dân chúng gọi nôm na là vùng “Đám lá tối trời”. 
                        image 70 Gò Công Xưa – Đám Lá Tối Trời Nơi Âm Binh Xuất Hiện 
 Chuyện xảy ra cách đây hơn một thế kỷ, vào khoảng 1861-1864. Vùng « Đám lá tối trời », một nơi âm độc con người khó sống, lại là một chiến khu rất tốt. Từ căn cứ này, kháng chiến quân của Trương-Công-Định phóng ra những cuộc tấn công chớp nhoáng rồi rút theo chiến thuật « tam khoái » (Ba mau : đi quân mau, đánh phá mau, rút về mau)
Nguyễn Liên Phong – một người thân Pháp, tác giả cuốn Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (1909) – từng ca tụng ông:
                                  Tiếng đồn Đám Lá Tối Trời
                                           Có ông Trương Định trải phơi gan vàng
                                           Hiền vi cơ chưởng nan minh
                                           Lưỡi gươm đâm bụng liều mình như chơi
                                           Nên hư số hệ ở trời
                                           Khá đem thành bại luận người hùng anh.
 
Căn cứ thứ hai được dự định xây dựng trong Đồng Tháp Mười mênh mông, lấy Gò Tháp làm vị trí trung tâm (và đây cũng được xác định là căn cứ chính). Thiên Hộ Dương, với tài tổ chức, xây dựng căn cứ ở Lý Nhơn mà chính Trương Công Định đã công nhận, trở thành nhân vật chính khẩn trương tạo dựng căn cứ địa Gò Tháp và đồng thời cũng là người lãnh đạo nghĩa quân ở căn cứ này. Đi đôi với việc đó, Thiên Hộ Dương đã cử người tâm phúc đi các tỉnh Định Tường, An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long, Cà Mau, để vận động quyên góp tiền bạc, mua súng đạn. Đến giữa năm 1863, ông giao trọng trách này cho bạn mình tên là Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, người tâm phúc và cũng là trợ thủ đắc lực của ông. (Đến giữa năm 1864, đám quan lại trung quân mù quáng, răm rắp chấp hành Hiệp ước 1862 đã bắt giam Thủ khoa Huân tại Châu Đốc rồi giao cho thực dân Pháp trước áp lực của chúng. Thực dân Pháp sau đó đã xử tử ông. Khẩu khí và khí phách của hàng loạt văn thân như Thủ khoa Huân vẫn còn vang vọng đến tận ngày nay, qua lời thơ của Mai Xuân Thưởng:
               Cửa trường tiếng dạ miệng còn hơi
               Cờ nghĩa treo lên đã ngất trời
Đạo trọng vua tôi mình dám quản
               Oán hờn người Pháp có đâu vơi
                    (Đúng là bất khuất, đúng là anh hùng!)
 
  (Vào năm Minh Mạng thứ 11 (Canh Dần 1830) tại Làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường ( xã Hòa Tịnh , huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) có gia đình ông Hương cả Nguyễn Hữu Cẩm sinh được một con trai đặt tên là Nguyễn Hữu Huân. Lúc còn nhỏ Nguyễn Hữu Huân có tính hào hiệp, khảng khái và thông minh xuất chúng.

        Năm Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý 1852) Nguyễn Hữu Huân thi đỗ Thủ khoa (đứng đầu bảng danh sách Cử nhân) kỳ thi Hương tại trường thi Gia Định. Tên gọi Thủ Khoa Huân bắt đầu từ đó.

        Từ 1855- 1859, Thủ Khoa Huân được bổ nhiệm giữ chức Giáo thụ ở phủ Kiến An (Tân Hiệp,  Châu Thành hiện nay).

  Tháng 5/ 1859, Nguyễn Hữu Huân bỏ chức giáo thụ chiêu mộ nghĩa binh cùng với các sĩ phu yêu nước khác như Trương Định, Trần Thiện Chánh, Lê Huy chống Pháp, được triều đình phong chức Phó Quản đạo.
 
Căn cứ vào bài thơ Vịnh Thủ Khoa Huân:

. . . " Ba phen chống chọi mười năm trọn,

Trăm trận gian nan một phút cùng".

( Kỷ yếu KHXH số 4 trang 85 và Văn chương yêu nước Nam bộ trang 306)

            Cuộc đời hoạt động của cụ Thủ Khoa Huân gồm 10 năm kháng chiến chống Pháp chia làm 3 giai đoạn, 5 năm bị đi đày biệt xứ và 3 năm bị quản thúc tại Chợ Lớn....

                                               

                                          Chân dung Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân)

... Năm 1873, phong trào kháng chiến chống Pháp của Cụ Nguyễn Hữu Huân lan ra khắp các tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, được sự hưởng ứng của các thủ lĩnh nghĩa quân ở các địa phương. Lần này, Thủ Khoa Huân học tập và đúc rút kinh nghiệm của Trương Định tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền kháng chiến cấp thôn xã ở các địa bàn Mỹ Tho, Tân An.

         Ngày 15/3/1874 triều đình Tự Đức đã ký hoà ước Giáp Tuất công nhận toàn bộ Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Với tình hình này, Cụ Nguyễn Hữu Huân thấy không còn con đường nào khác là phải có vũ khí, súng đạn, lương thực mới có thể đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi các tỉnh Nam Kỳ.

         Cụ về quê, bán hết ruộng đất mà Ông Cha để lại đồng thời vận động quyên góp trong nhân dân yêu nước và được nhân dân hưởng ứng rất đông. Số tiền vận động được, Cụ giao cho nhóm Trường Phát (Hoa Kiều) đi Trung Quốc mua vũ khí, đạn dược.

 Ngày 15/11/1874, Cụ về chiếm giữ Bình Cách cùng Âu Dương Lân huy động lực lượng. Bọn Pháp đem quân đánh, Cụ chống cự không lại, rút chạy về Chợ Gạo. Tại đây, Cụ đã bị tên đốc binh Hương điềm chỉ cho quân của Tổng đốc Trần Bá Lộc đến bắt vào ngày 15/5/1875 và giam Cụ trong ngục tại Mỹ Tho. Bọn chúng ra sức chiêu dụ đầu hàng, hứa hẹn ban bổng lộc, chức tước, Cụ một mực không cộng tác với giặc ngoại xâm.

         Đến ngày 19/5/1875 (14/4 năm Ất Hợi) chúng đem Cụ về xử chém tại làng Tịnh Hà, bên đầu cầu Cai Lộc (bây giờ là Cầu Hoà Tịnh, giáp ranh giữa xã Mỹ Tịnh An và xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), chấm dứt giai đoạn kháng chiến chống Pháp lần thức ba (1872- 1875) của Cụ Nguyễn Hữu Huân. 

         Sau 3 lần khởi nghĩa không thành công, ngày 19 tháng 5 năm 1875, Cụ bị xử chém tại quê nhà. Nghĩa nước, tình dân, Thủ Khoa Huân đã trả xong khi ông vừa tròn 45 tuổi. 
 
Mai Xuân Thưởng  (1860–1887), lúc nhỏ tên là Mai Văn Siêu, là sĩ phu và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ 19 ở Bình Định (Việt Nam). Ông là người thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha ông là Mai Xuân Tín, từng làm Bố chính tỉnh Cao Bằng; mẹ là bà Huỳnh Thị Nguyệt, con một nhà quyền quý trong làng.
 
 Đầu tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), nổ ra cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế, khi ấy ở Bình Định đang diễn ra kỳ thi Hương. Đến khi nghe tin Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần vương, mấy nghìn sĩ tử liền bỏ thi, trở về quê tụ nghĩa. Ở lại thi tiếp, chỉ còn 8 người và tất cả đều trúng tuyển cử nhân, trong số đó có Mai Xuân Thưởng. Thi đỗ xong, Mai Xuân Thưởng trở về quê Phú Lạc chiêu mộ nghĩa sĩ, lập căn cứ ở Hòn Sưng (nay thuộc thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn).
 
Khi ấy, nguyên Tổng đốc Đào Doãn Địch sau khi về Bình Định truyền hịch Cần Vương, cũng đã chiêu mộ được khoảng 600 nghĩa quân rồi đóng quân ở thôn Tùng Giản (nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước). Kể từ đó (cho đến năm 1887), phong trào Cần Vương ở Bình Định diễn ra rất sôi nổi, và lan nhanh ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên.
 
Tháng 9 năm đó (1885), Đào Doãn Địch lâm bệnh mất, Trước đây, khi Mai Xuân Thưởng ứng nghĩa, được Đào Doãn Địch phong làm Tán tương quân vụ; nay trước khi mất, ông cử Mai Xuân Thưởng lên làm Nguyên soái thay mình. Sau khi làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, Mai Xuân Thưởng cho xuất quân và giao chiến với đối phương nhiều trận tại Cẩm Vân, Thủ Thiện, Hòn Kho (Tiên Thuận)...
 
                                 Anh hùng Mai Xuân Thưởng muốn khôi phục nhà Tây Sơn?- Ảnh 1.

       Đền thờ anh hùng Mai Xuân Thưởng tại núi Hoành Sơn (xã Bình Phú, Gia Lai)

                               ẢNH: BẢO TÀNG QUANG TRUNG

 
Nhận thấy lực lượng của Mai Xuân Thưởng ngày càng lớn mạnh, và đã gây nhiều thiệt hại cho mình. Soái phủ Sài Gòn liền điều Thiếu tá De Lorme đem pháo thuyền án ngữ biển Quy Nhơn. Đồng thời sai Trần Bá Lộc mang quân từ Khánh Hòa đánh ra, Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh vào. Nhờ pháo binh yểm trợ, hai cánh quân này nhanh chóng gặp nhau tại Bình Định, rồi cùng tiến lên Phú Phong mặc sức tàn phá.
 
Trong Luận án Tiến sĩ sử học của Phan Văn Cảnh cho rằng: 

vào ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc đã cho quân bao vây căn cứ Hầm Hô, Linh Đổng và cuối cùng, đã chiếm được căn cứ, bắt được một số nghĩa quân, trong đó có mẹ Mai Xuân Thưởng. Tuy nhiên, đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, trong đó, có bà mẹ Mai Xuân Thưởng. Sau khi giải vây, Mai Xuân Thưởng cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phủ Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thì bị phục binh Trần Bá Lộc đón bắt hết. 
 
Và theo báo cáo do Tirant thiết lập ngày 11 tháng 6 năm 1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), thì:
 
 "Có ba đợt hành quyết: ngày 1 tháng 6 có năm người, trong đó có Lê Khanh; ngày 7 tháng 6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền; ngày 12 tháng 6 có chín người và ngày 13 tháng 6 có một người. Tổng cộng có 27 người bị hành quyết, trong đó có một vài người là thủ lĩnh lớn nhất của phong trào Bình Định-Phú Yên".
Được Việt gian mật báo, ngày 25-9-1863, quân Pháp bất ngờ bao vây tập kích Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, chọc thủng vòng vây, nghi binh đánh lạc hướng địch. Một bộ phận nghĩa quân theo Trương Định bí mật rút về vùng “Đám lá tối trời”, bộ phận còn lại theo Thiên Hộ Dương bí mật rút vào Đồng Tháp Mười. Người đời sau, may mắn đã ghi tạc được lời nói lúc bấy giờ của ông Thiên Hộ: “Tôi sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn nấp, chờ đợi thời cơ để quật trả một trận mới… Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân”.
 
Một bài thơ của ông:
Chết nào có sợ, chết như chơi,
Chết bởi vì dân, chết bởi thời.
Chết hiếu chi nài xương thịt nát,
Chết trung bao quản cổ đầu rơi.
Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa,
Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời.
Thà chịu chết vinh hơn sống nhục
Chết nào có sợ, chết như chơi. )  
Được Việt gian mật báo, ngày 25-9-1863, quân Pháp bất ngờ bao vây tập kích Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, chọc thủng vòng vây, nghi binh đánh lạc hướng địch. Một bộ phận nghĩa quân theo Trương Định bí mật rút về vùng “Đám lá tối trời”, bộ phận còn lại theo Thiên Hộ Dương bí mật rút vào Đồng Tháp Mười. Người đời sau, may mắn đã ghi tạc được lời nói lúc bấy giờ của ông Thiên Hộ: “Tôi sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn nấp, chờ đợi thời cơ để quật trả một trận mới… Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân”.
Khoảng cuối năm 1862, khi còn ở căn cứ Lý Nhơn, Thiên Hộ Dương, từ một nguồn tin bí mật, biết được người thiếu nữ mà ông coi là vợ bé đã sinh hạ cho ông một người con trai. Ông bèn đặt tên con là Nguyễn Duy Sác (ám chỉ rừng sác, nơi có căn cứ Lý Nhơn?).
Nhận thấy rằng cuộc chiến đấu chống Pháp sẽ ngày càng ác liệt, có thể sống nay chết mai, nên Thiên Hộ Dương cử người thuộc hạ thân tín nhất trong hàng thân tín, bí mật đi gặp người vợ trẻ của ông để chu cấp, dặn dò kỹ lưỡng, phòng khi có biến, bị tai ương đe dọa thì biết đi đâu, gặp ai để mà nhờ cậy. Người hầu cận thân tín này về sau đã hy sinh trong chiến đấu nên thông tin về người vợ bé của Thiên Hộ Dương cũng trở nên nhạt nhòa huyễn hoặc.
Vừa chân ướt chân ráo đến Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương tức tốc tiếp tục xây dựng căn cứ qui mô hơn, kiên cố hơn để tạo nên một khu vực có sức đề kháng mạnh mẽ. Ông đặt đại bản doanh tại Gò Tháp, xây dựng đồn Trung ở đó, với nhiều trạm gác ở bốn phía và đài quan sát trên đỉnh gò. Ngoài đồn Trung, ông còn dựng thêm 3 đồn chính án ngữ 3 “con đường gạo”: Đồn Tiền trên đường Cái Nứa, Đồn Tả trên đường Mộc Hóa hướng Gò Bắc Chiêng, đồn Hữu trên đường Cần Lố, khoảng từ 200 - 300 quân trấn giữ một đồn.
Năm 1864, nghe tin đồn Thiên Hộ Dương chiêu binh khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, nhiều bậc quân tử, mã thượng, tinh thông võ nghệ, nổi tiếng trong dân dã kéo thuộc hạ tới đầu quân. Trong đó, có những người như: hai anh em Hùynh Lực, Huỳnh Thất (lưu dân gốc Quảng Nam ở Đồng Nai), Thủ Chiến, Phòng Biểu, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn (là chiến hữu của anh em họ Huỳnh, ở Mộc Hóa), đặc biệt có bốn người là: Trần Công Thuận, Nguyễn Thanh Long, Ngô Tấn Đức, Trương Văn Rộng đến từ Cai Lậy mà sau này lừng lẫy với danh thơm: “Tứ Kiệt Cai Lậy” (ngày nay vẫn còn miếu thờ tứ kiệt ở thị trấn Cai lậy, tỉnh Tiền Giang và nhân dân vẫn gìn giữ, nhang khói quanh năm)…

(“Tứ Kiệt Cai Lậy”:

Ông Nguyễn Thanh Long (Năm Long), còn gọi là Đề Long, sinh năm Canh Thìn 1820 tại nơi mà ngày nay gọi xóm Cầu Ván, ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy. Khi ông rời nhà đi kháng chiến, thì người chị cả của ông là bà Hai An bị tên Việt gian Trần Bá Lộc bắt giam, đòn roi đến chết; em kế là Sáu Quang cũng bị chúng tra khảo dã man rồi đày ra Côn Đảo.

Ông Trần Công Thận, tự Phượng, chưa rõ năm sinh, nguyên quán xóm Võng, làng Mỹ Trang, nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy. Ông có 9 người con. Khi ông hy sinh thì người con thứ tư là Trần Quang Thanh, đương chức Quản Đạo. Giặc Pháp cho rằng ông là người cầm đầu, nên gọi là Ngươn Soái.

                          Lăng Tứ Kiệt hiện tọa lạc đường 30/4, phường 1, TX. Cai Lậy. Ảnh: QUẾ NGÂN  

               Lăng Tứ Kiệt hiện tọa lạc đường 30/4, phường 1, TX. Cai Lậy. Ảnh: QUẾ NGÂN

Ông Trương Văn Rộng, chưa rõ năm sinh, quê quán xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành và ông Ngô Tấn Đước, chưa rõ năm sinh, quê quán xóm Vuông, huyện Cai Lậy.

 Với lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc, Bốn ông liền tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Võ Duy Dương khởi xướng và lãnh đạo. Can trường và đảm lược, Bốn ông đã cùng với nghĩa quân chiến đấu chống giặc Pháp hết sức anh dũng, lập nên nhiều chiến công oai hùng. 

Cả Bốn ông đều nổi tiếng võ nghệ cao cường, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị, da màu đồng đen, sức khỏe phi thường. Có lần gặp nguy khốn, Bốn ông “phi thân” lên nóc nhà chạy vùn vụt, khiến giặc chẳng làm gì được. Bốn ông đều xuất thân từ nông dân.

Năm 1868, khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương thất bại, Bốn ông đứng ra chiêu tập nghĩa quân, chọn vùng Cái Bè, Cai Lậy làm địa bàn hoạt động. Nhân dân huyện Cai Lậy vốn có tinh thần đấu tranh bất khuất đã nô nức tham gia cuộc kháng chiến.

Chiến công hiển hách nhất của nghĩa quân Tứ Kiệt là trận tấn công thành Mỹ Tho và trận tấn công đồn Cai Lậy.

 Lúc 3 giờ ngày 1/5/1868, lợi dụng đêm tối, quân Pháp đang ngủ say, nghĩa binh leo tường vào giết tên trưởng kho, rồi đốt cháy kho lương thực của Pháp, tạo tiếng vang lớn, khiến quân Pháp rất lo sợ.

                          Khu đền thờ trong Lăng Tứ Kiệt. 

                                                   Khu đền thờ trong Lăng Tứ Kiệt.

Đêm 24 rạng 25/12/1870, nhân lúc phần lớn lính Pháp kéo về Mỹ Tho mừng lễ Noel, chỉ để lại 25 tên lính mã tà, nghĩa quân Tứ Kiệt bất ngờ tấn công đồn Cai Lậy, bắt và giết tên Việt gian Bếp Hữu, đốt rụi trại lính, rồi rút về căn cứ an toàn.

Bị tổn thất nặng nề, thực dân Pháp huy động hơn 1.200 quân, gom từ các vùng lân cận: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công và Vĩnh Long, quyết đàn áp dân chúng và triệt hạ các căn cứ của nghĩa quân.

Vốn rất tàn bạo, gian xảo và có nhiều kinh nghiệm trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lại có đầy đủ quyền hành và binh lực trong tay, tên Trần Bá Lộc tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn để tìm bắt Bốn ông và tiêu diệt nghĩa quân.

Lực lượng nghĩa quân đã chống trả quyết liệt, nhưng do sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân buộc phải tan rã và cả Bốn ông đều sa vào tay giặc.

Dụ dỗ Bốn ông suốt 45 ngày không thành, ngày 14/2/1871 (nhằm ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ) giặc Pháp đem Bốn ông xử chém tại pháp trường, cạnh bờ sông Ba Rài (nay là chợ Cá). Chúng bắt hàng ngàn người dân đến xem.)

Cũng trong năm 1864, khi giặc Pháp đánh vào “Đám lá tối trời”, Trương Công Định hy sinh, các bộ tướng dưới quyền và hầu hết số nghĩa quân còn lại đã vượt thoát được vòng vây, như đã hẹn trước, bí mật lần về Đồng Tháp Mười theo Thiên Hộ Dương tiếp tục chống Pháp. Trong số nhiều chỉ huy nghĩa quân của Trương Định đến được Đồng Tháp Mười, có : Đốc binh Dương, Trần Kỳ Phong, Thống Bình, Thương Chấn, Thống Đa, Quản cơ Văn, Quản cơ Là (Bùi Quang Diệu)…
Nhờ đó lực lượng nghĩa quân của Thiên hộ Dương lớn lên nhanh chóng, thực sự trở thành trung tâm kháng chiến mới, thu hút hầu hết lực lượng chống Pháp ở Nam Kỳ vào những năm 1864 - 1866.
Ngay những tháng cuối năm 1864, nghĩa quân của Thiên Hộ Dương đã bắt đầu tăng cường hoạt động chiến đấu, tuy nhiên chủ yếu là tổ chức đánh du kích, tiêu hao sinh lực địch, giữ vững thế phòng ngự. Sang năm 1865, nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động, tổ chức những trận đánh lớn hơn, tấn công những đồn bốt quan trọng của địch như Mỹ Trà, Mỹ Quí, Cái Bè, Thủ Thừa, gây cho địch nhiều tổn thất về người và vũ khí. Nhất là tại hướng Cái Bè, Mỹ Quí, nghĩa quân đã có lúc chọc thủng phòng tuyến địch.
Năm 1865, nghĩa quân Thiên Hộ Dương thực sự đã gây cho Pháp và tay sai nhiều khốn đốn. Nhân dân Nam Kỳ, đặc biệt là nhân dân miền Tây, ngày càng ủng hộ, ngày càng tích cực đóng góp khí giới, lương thực cho nghĩa quân. Tuy đã xuất hiện xu thế và triển vọng nhưng thời gian là quá ngắn để cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương bùng lên, lan tỏa rộng khắp thành cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa.
Ngày 14-4-1866, thực dân Pháp huy động một lực lượng áp đảo, hơn hẳn nghĩa quân, gồm hơn 1.000 lính viễn chinh với nhiều tàu chiến và đại bác, chưa kể lực lượng mã tà (ngụy quân), chia ra làm 3 đạo đồng loạt tiến công căn cứ Đồng Tháp Mười theo 3 hướng Cần Lố, Cái Nứa và Gò Bắc Chiêng.
Nghĩa quân trong các đồn Sa Tiền, Ấp Lý, Tiến đã chống trả rất quyết liệt nhưng dưới tầm công phá mãnh liệt của đại bác địch, họ yếu dần đi, buộc phải bỏ đồn, lần lượt rút ra, về phía sau. Dù chiếm được các đồn đó nhưng địch đã phải chịu thiệt hại nặng.
Đạo quân Pháp thứ ba, sau khi chiếm được đồn Gò Bắc Chiêng thì không còn sức tiến sâu hơn, phải chờ viện binh tới để đánh đồn Tả.
Đồn Tả lúc này có 350 nghĩa quân, 40 khẩu đại bác, do Thiên hộ Dương đích thân chỉ huy. Nghĩa quân chiến đấu từ trưa đến chiều tối thì hết đạn, phải bỏ đồn, tản về phía sau.
Khi địch chiếm được đồn Trung thì nghĩa quân đã rút đi hết. Tuy nhiên chúng không đám tiến sâu hơn và cũng không dám ở lại đồn.
Căn cứ kháng chiến Gò Tháp đến ngày 18-4-1866 coi như không còn nữa. Lực lượng nghĩa quân Thiên Hộ Dương dần tan rã, tứ tán: nhóm của Tứ Kiệt Cai Lậy rút về Thuộc Nhiêu (Cai Lậy), tiếp tục lập mặt trận đánh Pháp, nhóm trong đó có anh em họ Huỳnh thì kéo về với Quản cơ Trần Văn Thành ở Láng Linh (Châu Đốc), riêng nhóm của Đốc binh Kiều thì ở lại bám trụ, tiếp tục chiến đấu. Sau một thời gian ngắn, khi Đốc binh Kiều hy sinh thì nhóm này cũng tan rã. Ngọn cờ kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ lúc này được nhân dân miền Tây đón nhận và tiếp tục giương cao.
Trong dân gian còn lưu truyền bài thơ ca ngợi Đốc binh Kiều  như sau:

"Vì nước quên mình bởi chữ trung,
Thương dân chi sá chốn sình bùn,
Mấy năm Đồng Tháp danh vang dội,
Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,
Hai thước im lìm nơi thạch động,
Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,
Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,
Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng."
Vì sao khởi nghĩa Thiên Hộ Dương đã có lúc bật dậy khá mạnh như thế nhưng vẫn phải chịu thất bại cay đắng? Có thể cho rằng cuộc kháng chiến đó đều khiếm khuyết cả 3 yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nếu có một chút thiên thời nào thì triều đình Huế cũng đã chặn đứng mất rồi. Căn cứ địa Gò Tháp đúng là có tính lợi hại, nghĩa là nếu biết vận dụng địa hình, áp dụng cách đánh phù hợp với địa hình đó thì nó có lợi, còn không nó sẽ trở nên tai hại. Đồng Tháp Mười vào mùa khô là một vùng tương đối bằng phẳng, làm cho hiệu quả công phá bằng đại bác được phát huy tối đa. Dùng đồn trại cố thủ, khi đồn vỡ thì mất luôn cả thế đứng, đành phải chạy dài. Muốn duy trì cuộc chiến đấu lâu dài ở căn cứ Đồng Tháp, thì phải kết hợp giữa cố thủ trong đồn và vận động chiến bên ngoài trên cơ sở lấy chiến tranh du kích làm nền tảng: rút nhưng không chạy dài, tiến mà địch không hay, đánh xuất kỳ bất ý, kết hợp đánh từ trong ra, đánh từ ngoài vào (không cần phân biệt đâu là trong, đâu là ngoài), nếu cần bảo toàn lực lượng thì dứt khoát phá đồn, rút ngay; thậm chí bỏ luôn căn cứ (vì đâu cũng là căn cứ!)… 
Muốn làm được điều đó thì phải có đủ nhân hòa, vì chỉ khi có đủ nhân hòa mới tạo ra địa lợi và thậm chí trong chừng mực nào đó là cả thiên thời. Cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (và trước đó là của Trương Định) cũng như các cuộc nổi lên đánh Pháp khác ở Nam Kỳ - Lục Tỉnh là hoàn toàn chính nghĩa, nhưng chúng chưa đủ thời gian (hay chưa thể) để trở nên hoàn toàn sáng tỏ, nên chưa kịp bám rễ sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân thì đã sớm bị tiêu diệt, đánh bại. Mặt khác hàng ngũ chỉ huy nghĩa quân hầu hết là những dân binh nghĩa hiệp trưởng thành lên qua trận mạc nên họ thiếu hẳn kiến thức về nghệ thuật quân sự. Đến cả những người chỉ huy xuất thân từ quân đội chính qui của triều đình cũng bị lối đánh máy móc lạc hậu với những vũ khí cổ lỗ, lấy thành quách làm nơi phân định thắng bại, luôn bị cuốn hút vào lối đánh trận tuyến của quân đội viễn chinh, thiện chiến, có vũ khí đầy đủ và hiện đại hơn hẳn. Ngay Nguyễn Tri Phương vẫn lẩn quẩn với cách đánh lạc hậu đó thì còn nói tới ai? Đại đồn Chí Hòa to thế, có quân đông thế mà chỉ “đùng một phát” là thất thủ. Thật quá rõ! Sự dũng cảm tuyệt vời của nghĩa quân, sự bất khuất của các thủ lĩnh nghĩa quân, là không thể phủ nhận được. Nhưng như thế thôi chưa đủ. Cần phải có một lãnh tụ có tài năng kiệt xuất, biết qui tụ bốn phương về một mối, biết lôi kéo quần chúng về mình, đánh lâu dài để ngày một tỏ rõ chính nghĩa, tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện chống quân xâm lược.
Ngày nay, khi nhìn lại thời kỳ ấy, chúng ta thấy cái tinh thần lăn xả đánh giặc, “vì nước quên thân” mà bất chấp tất cả của các sĩ phu, hào kiệt, dân binh, là bất hủ, nhưng cũng có cả cái cảm giác quặn thắt, bùi ngùi xót thương, tiếc  nuối, dâng ngập cõi lòng.
Con người Thiên Hộ Dương và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo đã được nhân dân Nam Kỳ lúc bấy giờ nói riêng và cả nước nói chung kính phục, mến mộ và tôn vinh, chúng ta sẽ mượn lời của những chiến hữu của Thiên Hộ Dương, từng theo Thiên Hộ Dương vào sinh ra tử nói về ông:
Huỳnh Trung Thu, cháu nội Huỳnh Thất có để lại di bút, nội dung có đoạn:
“…
Ngài Thiên Hộ Dương dũng lược vô song, được nhân dân vùng Nam Kỳ - Lục tỉnh tôn thờ và ngưỡng mộ. Đâu đâu cũng gọi ngài là “quan lớn”, mặc dầu ngài không hề thích làm quan.
Dòng họ Huỳnh chúng tôi đời đời tôn thờ ngài Võ và nguyện theo gương ngài…”.
Đây là một đoạn trong di bút của Huỳnh Kim Trọng, cha của Huỳnh Trung Thu:
“Trước lúc lâm chung, cha tôi (Huỳnh Thất) còn căn dặn con cháu: “Dòng họ ta tuy không sinh ra ở miền Nam Kỳ - Lục tỉnh này, nhưng đã coi như đây là quê hương. Bởi miền Trung có công sinh, thì nơi này có công nuôi dưỡng, hun đúc cho ta thành người. Vậy các con phải xem đây là đất tổ, là ngôi nhà chung. Điều quan trọng nữa mà các con phải ghi lòng, tạc dạ, đó là nghĩa vụ phải thờ cúng ông Thiên Hộ Võ Duy Dương, người mà ta coi như người anh em ruột thịt của mình, người chủ tướng kính yêu của cả quê hương lục tỉnh này… Nay ông đã ra người thiên cổ mà không còn ai thờ phượng. Vậy các con hãy giữ bài vị với mấy chữ “Võ Duy Dương vị quốc vong thân” này để thờ như thờ cha vậy…
Nguyện hương hồn người vị quốc vong thân
Sinh vi tướng, tử vi thần
Xin gia hộ chúng dân an lạc”.
Ông Ba Đương, người thân cận của Thiên Hộ Dương ở chiến khu Đồng Tháp, có để lại thủ bút như sau:
“Cuộc đời tôi may mắn gặp được người họ Võ, đồng hương Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Tôi vốn là một nông dân, tưởng suốt đời sẽ mãi mãi là dân đen bị áp bức, chỉ khi gặp được ông Võ thì mọi thứ mới đổi thay. Chính Võ gia đã cứu gia đình tôi, nhân dân tôi…”.
Sau khi căn cứ Gò Tháp vỡ lở, thực dân Pháp loan tin hai vị, chủ tướng Thiên Hộ Dương và phó tướng Đốc binh Kiều đã bị giết chết. Đốc binh Kiều hy sinh là điều có thật, nhưng trường hợp ông Thiên Hộ thì mờ mịt hơn nhiều. Pháp nói Thiên Hộ Dương đã bỏ xác cùng nhiều nghĩa quân khi chiến khu Đồng Tháp Mười thất thủ, nhưng không trưng ra được bằng chứng. Sau đó chúng lại tung tin Thiên Hộ Dương đã bị một tên cướp biển là Lý Sen giết chết tại cửa biển Thần Phù, khi ông định vượt biển ra Bình Thuận. Tung tin như thế để "an dân", nhưng Pháp vẫn tổ chức lùng sục ráo riết vì chính Pháp cũng không biết đích xác. Như vậy, tin đó cũng  chỉ có thể là tin giả do chính ông Thiên Hộ bày ra để đánh lừa mật thám Pháp.
                          Description: C:\Users\pc\Desktop\1a.gif 
                                          Đền thờ Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều
Dư luận xã hội hồi đó nói chung đều thừa nhận Thiên Hộ Dương đã chết và vì ông là một người cô độc, không có bất cứ người thân nào ở cạnh nên sau khi chết, mồ mả của ông cũng không có người chăm sóc, nhang khói. Vì vậy mà có câu hò não ruột và đầy thương cảm đối với một người anh hùng:
Ai về Đồng Tháp mà coi
Mả ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng…
Sự thực thì ở Gò Tháp chỉ có mộ Đốc binh Kiều. Khắp Nam Kỳ - Lục tỉnh chẳng nơi nào có mộ Thiên Hộ Dương.
Thế thì sau khi căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười bị tan vỡ, Thiên Hộ Dương đã anh dũng hy sinh hay còn sống? Ông Trương Hiếu Nghĩa, người xã Cần Đăng, An Giang có viết:
“Theo ông ngoại tôi kể lại thì xưa, lúc ông Quản Thành khởi nghĩa ở Láng Linh, ông tôi có theo ngài Cố quản để đánh Tây. Thời gian này, ông ngoại tôi có liên lạc với ngài Nhiêu Chấn, vốn là một quan triều đình ở An Giang trấn, sau bỏ theo ngài Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười để đánh Tây.
Có lúc ông Võ Duy Dương về An Giang trấn để bắt liên lạc với nghĩa quân Láng Linh và với ông Thủ khoa Huân nhưng không thành. Sau nghe nói ngài Võ Duy Dương rời Đồng Tháp Mười trở về quê ở Quảng Ngãi ngoài miền Trung.
Đây là những việc tôi biết khá chính xác nên ghi lại để người sau nhớ”.
Vậy thì Thiên Hộ Dương, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Đồng Tháp Mười vẫn còn sống và đã vượt thoát sự truy lùng của Pháp để trở về ẩn náu tại quê nhà. Nhiều nhà nghiên cứu sử ngày nay, qua những tài liệu quan trọng thu thập được, qua những nhân chứng đáng tin cậy tiếp xúc được, đều thừa nhận như vậy.
Và chúng ta tiếp tục xây dựng truyền thuyết của mình:
Nghe tin chồng mình, Thiên Hộ Dương đã bị sát hại, người vợ trẻ vô cùng đau đớn. Từ nay, nàng đã mất người chồng mà nàng tôn thờ, kính phục.
Mật thám Pháp và tay sai trong khi tích cực dò la tung tích của Thiên Hộ Dương (xem thực sự còn sống hay đã chết và ở đâu) cũng cố gắng xác định danh tính và chỗ ở của người phụ nữ mà theo nguồn tin phong phanh, là vợ lẽ của ông.
Để bảo vệ giọt máu đào của Thiên Hộ Dương, người phụ nữ xinh đẹp, tuổi đời còn rất trẻ và đáng thương, nghe theo lời dặn xưa kia của chồng mình, đã bế con lần tìm đến gặp một người ở Bình Dương, vùng đất định cư ở phía nam của dòng họ Võ Duy. Vị thân tộc, sau khi nghe người phụ nữ trình bày, lần đầu tiên mới biết Thiên Hộ Dương chẳng phải ai xa lạ: chính là Võ Duy Lập. Tuy nhiên sau đó ông luôn giấu kín điều này vì có thể gây nguy hại khó lường.
Vị thân tộc nghe xong câu chuyện, đã khẩn trương thu xếp; bí mật tổ chức đưa vợ con ông Thiên Hộ Dương ra Hòa Đa - Bình Thuận, lúc này vẫn là “đất riêng” của triều đình Huế nên cũng tương đối an toàn hơn, tìm gặp một người họ Trương, thân tộc bên vợ cả của ông Thiên Hộ.
Thân tộc họ Võ và thân tộc họ Trương định tìm cách đưa hai mẹ con ra Nghĩa Hành - Quảng Ngãi. Nhưng người phụ nữ xin ở lại vì chồng thì chết rồi, thân gái dặm trường mù mịt quá. Hai người kia nghe thấy có lý, nhưng nếu người phụ nữ không đi thì cũng phải gửi đứa con ra ngoài đó, vừa đảm bảo an toàn cho nó, vừa đưa nó về với dòng tộc quê hương. Người phụ nữ tuy buồn khổ nhưng cũng đành chấp nhận. Nàng nghĩ rằng mai kia, khi sóng yên biển lặng, sẽ còn có dịp ra đó thăm con.
Tuy nhiên, việc gửi đứa bé ra Quảng Ngãi chưa hẳn đã hay, vì nếu mật thám Pháp dò biết được quê của Thiên Hộ Dương ở Nghĩa Hành và vợ con ông đang sống ở đó thì rất có thể đứa bé phải chịu vạ lây. (Đến lúc này mật thám Pháp vẫn chưa biết quê Thiên Hộ Dương ở đâu. Ngay cả triều đình Huế, mãi đến năm Tự Đức thứ 32, tức năm 1879, trong một sắc phong mới thấy nói đến tổ quán Võ Duy Dương ở Quảng Ngãi). Hơn nữa, Thiên Hộ Dương mất rồi (họ nghĩ thế), gửi đứa bé về đó có được sống trong tình bao bọc không, hay là bị hắt hủi, hoặc cũng có thể người vợ cả của ông không còn ở Nghĩa Hành nữa mà đã lẳng lặng về quê mẹ chồng (vợ Võ Duy Ninh) đâu đó ở An Nhơn - Bình Định tá túc, tránh sự rủi ro. Suy đi tính lại, họ cho rằng gửi đứa bé ra Nghệ An, nhờ gia đình danh sư Hoàng Đường cưu mang là hợp tình hợp lý hơn cả, vì Hoàng Đường có quan hệ ruột thịt với Hoàng Diệu, Hoàng Diệu là bạn thân của Võ Duy Ninh, trong khi đó Hoàng Đường cũng là bạn tâm giao của Trương Gia Hội, mà Trương Gia Hội vừa là anh họ vợ, vừa là bạn thân của Võ Duy Dương.
Thế là đứa bé được đưa về Nghệ An. Gia đình Hoàng Đường đã mở rộng vòng tay yêu thương đón nhận và nuôi dạy đứa bé nên người. Cái tên Sác được dân địa phương đọc trại ra, hiểu là Sắc; cái họ Nguyễn Duy được đổi thành Nguyễn Sinh để tuyệt đối không cho dính dáng gì đến ông Thiên Hộ nữa. Từ đó cậu bé mang một họ tên mới: Nguyễn Sinh Sắc (họ Nguyễn sinh ra Sắc?). Có thể rằng, trước khi chuyển họ Nguyễn Duy sang Nguyễn Sinh, trong thực tế đã có một sự dàn xếp bí mật nào đó để danh chính ngôn thuận, Nguyễn Duy Sắc trở thành con em ruột thịt thuộc dòng họ Nguyễn Sinh. Chính sự dàn xếp bí mật này đã làm cho tông tích của Nguyễn Sinh Sắc trở thành uẩn khúc, khó hiểu đối với chúng ta.
Sinh Sắc lớn lên được ông Hoàng Đường gả con gái là Hoàng Thị Loan cho. Họ tác hợp và sinh ra người con mà cả dân tộc Việt đang mỏi mòn chờ đợi: Nguyễn Sinh Cung, người mà sau này trở thành vị đại anh hùng dân tộc có tên Hồ Chí Minh.
Sau khi gửi gắm đứa con, người vợ bé của Thiên Hộ Dương trở về bản quán (có thể là ở đâu đó thuộc Định Tường mà cụ thể có thể là ở …, theo như cách gọi ngày nay là Cao Lãnh - Đồng Tháp, còn Gia Định chỉ là tạm cư). Năm tháng qua đi, người thiếu phụ trẻ và xinh đẹp ấy đã ở vậy, lặng lẽ sống đến cuối đời thường tình như bao người phụ nữ khác. Câu chuyện thầm kín của nàng đã không một lần được thổ lộ. Người dân địa phương không thể ngờ được nàng đã từng làm vợ một vị anh hùng nổi tiếng khắp Nam Kỳ - Lục Tỉnh, người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp kiên cường ở Đồng Tháp Mười. Tuy nhiên, khả năng nhiều hơn là sau khi gửi con đi và nghĩ rằng ông Thiên Hộ đã hy sinh, nàng quá đau buồn nên lâm bệnh, mất sớm.
Truyền thuyết kể tiếp:
Trong trận tấn công tổng lực của quân Pháp vào căn cứ Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương bị thương nặng khi trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chiến đấu ở đồn Tả. Một vài thuộc hạ tâm phúc nhất khiêng ông ra khỏi đồn về phía sau rồi bí mật tìm đường thoát khỏi vòng cuộc chiến, đưa đến một cơ sở tuyệt đối tin cậy để chữa trị. Trong thời gian chữa trị, Thiên Hộ Dương đã định quyên sinh một phen bởi quá đau buồn trước sự thất bại của cuộc kháng chiến, trước tin tức các chiến hữu cùng mình vào sinh ra tử đã hy sinh, nhất là sự hy sinh của Đốc binh Kiều và tin thủ khoa Nguyễn Hữu Huân - bạn chiến đấu và trợ thủ đắc lực của nghĩa quân Đồng Tháp bị bắt. Tuy nhiên, nhờ có sự ngăn chặn kịp thời của một thuộc tín tâm phúc túc trực nên cuộc quyên sinh bất thành. Sự kiện này xảy ra vào tháng 10-1866. Thuộc tín này cũng chính là bạn chiến hữu trong số các bạn bè chiến hữu theo ông rời quê hương vượt biển vào Nam đi khai hoang lập ấp năm 1857.

(Có thể rằng sau khi căn cứ địa Đồng Tháp Mười thất thủ, một cánh nghĩa quân do Võ Duy Dương chỉ huy rút về phía đông và bị Pháp chặn đánh. Trận đánh lớn giữa hai bên diễn ra mấy ngày liền tại vùng Cái Thia thuộc quận Cái Bè và Thiên Hộ Dương bị thương nặng trong trận này. Cánh quân này tiếp tục rút về Mỹ Tho, Cai Lậy, sang Cao Lãnh, lên Ba Thằng Minh, rồi Gò Bắc Chiêng. Tại đây, cánh quân này đã hợp được với cánh nghĩa quân rút về phía tây (lên Hồng Ngự - Lăng Xăng - Thông Bình) do Nguyễn Văn Cẩn chỉ huy và một vài toán nhỏ khác của Trương Tấn Minh, Phòng Biểu… chỉ huy.
Ở đó, nghĩa quân đã củng cố lại lực lượng nhưng chỉ huy chung và trực tiếp không còn là Thiên Hộ Dương nữa mà là một nhân vật khác. Tuy nhiên, để giữ vững tinh thần nghĩa quân và cũng nhằm cố gắng phát triển lực lượng về sau mà những thủ lĩnh nghĩa quân lúc này đã thống nhất ý kiến và loan tin rằng Thiên Hộ Dương vẫn trực tiếp cầm quân chiến đấu.
Củng cố lực lượng xong, nghĩa quân của Thiên Hộ Dương tích cực bố trí lại thế trận, chọn những cách đánh linh hoạt hơn. Trung tâm kháng chiến được chuyển về khu vực tổng Cầu An Hạ ở Bắc Đức Hòa, liền với Trảng Bàng - Tây Ninh. Thủ lĩnh nghĩa quân cũng đã tìm gặp Trương Quyền (còn gọi là Trương Tuệ, con Trương Định), thủ lĩnh phong trào kháng chiến tại đây để bàn bạc phối hợp và liên minh với Poucombo, một thủ lĩnh kháng chiến khác, người Khơ-me.
Mở màn cuộc liên minh Việt - Khơme này là chiến thắng Tây Ninh vào ngày 7-6-1866. Nghĩa quân tiêu diệt tại trận 12 quân Pháp, trong đó có chủ tỉnh Tây Ninh là Larclauze và viên thiếu úy Le Sage. Ngày 14-6-1866, Marchaise, trung tá thủy quân lục chiến Pháp, chỉ huy 150 lính với hai cỗ đại bác tìm diệt nghĩa quân. Trong lúc lội qua rạch Dinh, đội hình quân Pháp bị lọt ổ phục kích. Bằng cung nỏ, gươm giáo và một ít súng trường, nghĩa quân đã dũng cảm đánh giáp lá cà, giết chết Marchaise và nhiều lính Pháp, số còn lại bỏ chạy tán loạn.
Hai chiến thắng đó đã tạo được tiếng vang lớn, làm nức lòng những người yêu nước. Về tinh thần chiến đấu của nghĩa quân thời kỳ đó, một học giả người Pháp tên là Paulin Vial có viết: “Người An Nam với vũ khí thô sơ chống với súng carbine, họ cứ việc nhào vô và đánh với một nghị lực mù quáng, chứng tỏ rằng họ can đảm và quyết tâm một cách phi thường…”.
Ngày 24-6-1866, nghĩa quân lại tấn công đồn Thuận Kiều và Trảng Bàng.
Ngày 27-6-1866, Pháp điều một lực lượng mạnh gồm 200 lính Pháp, 100 lính mã tà và một pháo thuyền do thiếu tá Rosse chỉ huy đến bao vây căn cứ Cầu An Hạ. Nghĩa quân chủ động đánh mở ra ba mặt. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng và vũ khí quá chênh lệch, dù đã kháng cự quyết liệt nhưng cuối cùng cũng phải chịu thiệt hại nặng ở ấp Bình Thủy, Ba Hầm và Bình Điền. Nguyễn Văn Tài, một trong số những thủ lĩnh nghĩa quân bị bắt. Căn cứ địa kháng chiến bị san bằng. Nghĩa quân phải rút lên Tây Ninh. Từ ngày 2 đến ngày 11-7-1866, liên quân Việt - Khơme còn chạm trán với quân Pháp trong các trận: Trà Vang (Tây Ninh), Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng, Long Trì (Tân An), Bình Thới)…
Sau một thời gian khá dài chữa trị vết thương, Thiên Hộ Dương dần bình phục nhưng sức khỏe của ông đã giảm sút nhiều, không được như trước nữa. Ông và thuộc tín bắt đầu lần mò theo dọc sông Vàm Nao nghe ngóng và tìm hiểu tình hình. Lúc này, Thiên Hộ Dương lấy tên mới là Võ Qua. Truyền khẩu riết rồi Qua thành Quá, nên cuối cùng gọi là Võ Quá. Võ Quá cũng đã ghé Lý Nhơn và Gò Công. Tình hình cho Võ Quá thấy phong trào kháng chiến ở ba tỉnh miền Đông, trước sự đàn áp của địch đã lắng hẳn xuống. Các anh hùng hào kiệt từng là chiến hữu của ông, số thì ngã xuống, số bị cầm tù, số còn lại thì đã dồn sang 3 tỉnh miền Tây tiếp tục chống Pháp. Ở ba tỉnh miền Đông, bộ máy cai trị của Pháp đã được củng cố ngày một mạnh. Như vậy việc gầy dựng lại từ đầu một đội ngũ nghĩa quân đủ mạnh để nổi dậy khởi nghĩa một lần nữa là điều vô vọng, nếu may lắm không bị tiêu diệt ngay từ trứng nước thì trước sau gì cũng lại chuốc lấy thất bại. Thời thế đã đổi thay! Không còn cách nào khác, Võ Quá quyết định trở về quê hương bản quán, muốn thế trước hết là phải ra Bình Thuận. Ông cùng thuộc tín theo thuyền dọc sông Vàm Nao ra biển…
Bàu Trắng, Mũi Né, Bình Thuận là nơi mà ngày xưa dân đi biển từ Ngũ Quảng vào và từ Nam Kỳ - Lục Tỉnh ra thường dùng làm nơi cặp thuyền (đóng vai trò như một trạm trung chuyển). Võ Quá và thuộc tín đặt bàn chân đầu tiên lên đất Bình Thuận khi theo thuyền từ Nam ra chính là tại chốn này.
Vừa bước chân lên bờ là hai người khẩn trương đến ngay một địa chỉ ở Hòa Đa nhưng đã không gặp được người họ Trương nọ (có thể lúc đó người họ Trương nọ đang ở đâu đó trên chặng đường Bình Thuận - Nghệ An để thực hiện cái công việc ân tình mà bạn bè đã gửi gắm!). Võ Quá dò hỏi người xung quanh và chỉ biết mơ hồ rằng: cũng chưa lâu lắm, có một người phụ nữ bồng một đứa con khoảng 4 tuổi ra đây, được mấy bữa thì cô ta đi đâu không rõ, hình như là ra Trung, đến Quảng Ngãi, còn người họ Trương thì nghe nói có việc ở quê phải về gấp và chưa thấy trở lại. Cho rằng nấn ná ở lại chỉ vô ích và nhất là dễ lộ chuyện nên Võ Quá quyết định bỏ đi. Từ đây, Võ Quá và thuộc tín - đồng thời cũng là bạn chiến hữu chí cốt, sau khi giao ước và hứa hẹn với nhau xong thì chia tay, tìm đường, kẻ trước người sau, ai về quê nấy.
Võ Quá không về Quảng Ngãi mà ghé Bình Định, về tổ quán ở An Nhơn tá túc. Lúc này Võ Quá đã chuyển thành Võ Bông. Sau bao nhiêu năm xa cách, Võ Duy Lập, mà bây giờ là Võ Bông đã đoàn tụ với vợ con tại đây. Võ Bông đã kể cho vợ nghe nhiều điều bí mật trong quãng đời hoạt động tại Nam Kỳ của ông, kể cả việc ông có đứa con riêng mà không biết đang ở phương trời nào. Để phù hợp với cái tên hiện tại là Võ Bông, ông đã cải lại họ hai người con trai của mình, bỏ chữ Duy đi, để rồi: Võ Duy Cung thành Võ Tường và Võ Duy Phụng thành Võ Ký, thêm Nguyễn Duy Sác thành Võ Sác, Võ Châu thành Võ Thị Thắm. Sau này ông còn có thêm 1 người con gái nữa, được đặt tên là Võ Thị Lan… 
Ẩn mình ở Bình Định một thời gian, Võ Bông trở về Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, nơi chôn nhau cắt rốn của ông và cũng là nơi chôn cất di hài người cha của ông. Trước đó khá lâu, vợ con ông đã về đó để lo nhang khói mồ mả, thờ phượng cho người cha tiết nghĩa - Tổng trấn Võ Duy Ninh (hiện nay mộ phần vị Tổng trấn này vẫn được bảo lưu tại làng Đại An, xã Hành Thuận, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi). Về đến quê cha thì cái tên Võ Bông đã hóa thành Võ Sen. Nếu ghép hai cái tên đó lại thì sẽ có được một… Bông - Sen. Ở Đồng Tháp Mười xưa kia, dù là bao la mùa khô hay mênh mông mùa nước nổi, bao giờ cũng hiển hiện sen và tràm. Đặc biệt, hoa sen đã trở thành biểu tượng bất tử về sự thuần khiết của tâm hồn con người chân phác và của đất trời hoang vắng ở xứ sở đó. Chắc hẳn trong lòng ông Thiên Hộ không bao giờ nguôi ngoai được nỗi niềm thương nhớ về một vùng dung dị mà khoáng đạt, hiền lành mà kiên trung, nơi ông đã từng lăn lộn, vẫy vùng, anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược để trả thù cho cha, báo đền cho nước, cùng với các chiến hữu và những “dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”; nơi mà ông đã có thêm một mối tình phu - phụ với người thiếu nữ có tên là Sen (hoặc cũng có thể là Bông). Như là thể hiện của sự cảm ứng huyền linh, sau này, trong văn học sử Việt Nam có hai câu thơ được đặt vào vị trí rất trang trọng, ngầm mách bảo rằng có thể coi hai cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất và lần thứ hai là một cuộc kháng chiến duy nhất có tính truyền đời truyền kiếp rất thiêng liêng mà cũng thật lạ lùng:
“Tháp Mười đẹp nhất Bông Sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
(Kể thêm: ngôi làng ôm ấp quãng đời thơ ấu của Hồ Chí Minh cũng có tên là Sen. Hòa Đa, thủ phủ của tỉnh Bình Thuận có tên xưa kia là  Liên Thành (nghĩa là: thành hoa sen). Ở đây, tháng 3-1906 xuất hiện tổ chức Liên Thành Thương quán, hoạt động kinh tế nhằm gây quỹ cho phong trào Duy Tân; tháng 5-1906 xuất hiện Liên Thành Thư xã nhằm truyền bá sách báo có nội dung yêu nước, mở mang dân trí. Đó là kết quả vận động của các nhà yêu nước Bình Thuận, trong đó hạt nhân gồm Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quí Anh (hai người con của Nguyễn Thông), Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang và một số người khác. Xa xưa hơn nữa, ít ra cũng cả ngàn năm, ngay trong kinh thành Thăng Long đã xuất hiện biểu tượng trác tuyệt về hoa sen: Chùa Một Cột. Phải chăng đó là kiến tạo từ hồi ức đã khắc tạc không thể phai mờ trong tâm trí dân tộc Việt về một thời xa xưa hơn nữa, khi mà một vùng rộng lớn bao gồm cả Thăng Long còn mênh mang nước nổi với bát ngát những đầm sen, và phải chăng bông sen đã là đặc trưng của những vùng duyên hải nước ngập lầy lội tràn lan?
Và phải chăng hoa sen cũng đã từng được coi là một biểu tượng của sự thơm tho, thanh khiết của nền văn minh sông Hồng thời cổ đại?).
Võ Sen về sinh quán nhưng không về làng Đại An sum họp với vợ con mà về ở đâu đó tại Chợ Chùa. Thiên Hộ Nguyễn Duy Dương - Võ Duy Lập, vĩnh viễn mai danh ẩn tích. Trong phả đồ có ghi ông mất vào năm 1923.
Sau này, trên bước đường hành phương nam, phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) có ghé lần lượt qua Nghĩa Hành - Quảng Ngãi thăm quê cha đất tổ, ghé Hòa Đa - Bình Thuận, nơi xưa kia đã ly biệt mẹ mình. Đích đến cuối cùng của ông là Cao Lãnh - Đồng Tháp. Ông hoạt động yêu nước và hành nghề bốc thuốc ở đây cho đến cuối đời. Phải chăng Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đến sống ở Cao Lãnh - Đồng Tháp còn với mục đích sâu xa là muốn về quê mẹ để tìm hiểu tung tích người mẹ đồng thời cũng thăm lại nơi người cha của mình đã khai hoang lập ấp, về chiến trường xưa để tìm hiểu cuộc chiến đấu chống Pháp của người cha mà ông nghĩ rằng đã hy sinh anh dũng tại đó?
Ngày nay, bên đường Phạm Hữu Lầu, gần cầu Cái Tôm, cách trung tâm thị xã Cao Lãnh 1 km có khuôn viên rộng khoảng 1 mẫu, đó chính là khu mộ của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của vị đại anh hùng Hồ Chí Minh.

Chúng ta đã kể xong câu chuyện về lịch sử cần cù như chú dã tràng xe cát. Đó là những tóm tắt cô đọng nhất mà chúng ta thu lượm được trên mạng. Người ta cho đó là công việc rỗi hơi, chán phè, vô tích sự. Không ai ép buộc chúng ta cả mà chúng ta làm điều đó chỉ vì thích và yêu. Nói thực lòng, mấy ai yêu nước mà không thấu hiểu lịch sử nước mình. Còn mù tịt về lịch sử nước nhà mà nói yêu nước, thì phải chăng chỉ là "chót lưỡi, đầu môi"? Có đúng không, kể sử cũng là yêu nước?

Vì si mê khiến chúng ta nói dài, nói dai (nhưng không nói dại!). Dù sao thì cũng cố lên chút nữa, nói vắn tắt vài điều nữa để kết thúc câu chuyện cho có đầu đuôi mà yên tâm, thỏa nguyện lên đường, mở cuộc hành trình mới.  

***
Đứng đây, trên cái vị thế cao vút và lồng lộng gió ngàn này, dự định ban đầu của chúng ta là thực hiện chương trình “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” thật xúc tích, thật ngắn gọn như một chương trình “mini” với đôi ba bài ngợi ca Thăng Long - Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật của nước Việt Nam trường tồn mà chúng ta vô vàn yêu mến và xiết bao tự hào, như là một lời chào tạm biệt đối với Tổ Quốc trước khi bước vào một cuộc bôn ba vô tiền khoáng hậu (có lẽ thế!) mà chúng ta đã sửa soạn xong hành trang. Nào ngờ cái chương trình chia tay dự định là “ngắn thôi” ấy lại dàn trải thậm thượt đến tận lúc này cũng chưa dứt, đến mất luôn cả cảm giác về sự trôi của thời gian. Chúng ta đã không thể khẳng định được thời gian trôi qua nhanh hay chậm và đã bao lâu rồi: một năm hay mười năm, một thế kỷ hay đã vài thiên niên kỷ? Hay thời gian đã đứng lại từ lâu vì quanh chúng ta lúc nào cũng như lúc nào, luôn biêng biếc màu xanh của núi rừng, của trời biển? Cũng có thể cả thời gian lẫn chúng ta cùng vùn vụt trôi đi để chúng ta chỉ có thể cảm giác được hiện tại mà thôi?..Ôi, Việt Nam, hình thể như nàng tiên đội nón quai thao, đang múa thắt đáy lưng ong bên bờ biển Thái Bình Dương muôn năm lộng gió, sao mà đáng yêu đến thế?... 
Thú thực, cũng như mọi con dân hết mực yêu thương quê hương, đất nước mình, chúng ta không bao giờ muốn rời xa Tổ Quốc. Nhưng cuộc hành trình vĩ đại (đi tìm cái gì đó) còn quá nhiều dang dở nên buộc chúng ta không còn cách nào khác là đành phải chia lìa, tạm biệt Tổ Quốc một thời gian. Tuy nhiên, trong cuộc bôn ba muôn dặm, không ai có thể biết được điều gì đang chờ đợi phía trước. Nếu chẳng may gặp rủi ro, có thể vĩnh viễn chúng ta không còn bao giờ gặp lại Tổ Quốc mình nữa. Chính điều lo lắng này đã làm cho cuộc chia tay trở nên sướt mướt, da diết, lê thê giãi bày và tràng giang đại hải kể lể. Hình như những cuộc chia ly thấm đẫm tình yêu thương bao giờ cũng kéo dài, khó dứt. Dù sao thì chúng ta đã có một cuộc chia ly dài lâu nhất thế giới tự cổ chí kim.
Dài thế mà cũng chưa nói cạn được nỗi niềm. Cũng là một điều lạ: muốn kể về lịch sử Thăng Long - Hà Nội thì không thể không kể về lịch sử dựng nước và giữ nước Việt Nam và ngược lại, không thể hiểu được lịch sử Việt Nam nếu không kể ra lịch sử tồn tại của Thăng Long - Hà Nội. Rốt cuộc, kể chuyện lịch sử Thăng Long - Hà Nội thì phải kể luôn cả lịch sử Việt Nam, muốn kể lịch sử Việt Nam thì không thể không kể đến quá trình đấu tranh chế ngự thiên nhiên, chống cự giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, mà quá trình đó lại được bắt đầu bằng công cuộc trị thủy và đánh tan giặc Ân ở khu vực Cổ Loa, vùng được coi là “tổ quán” của Thăng Long - Hà Nội. Muốn kể về cuộc đấu tranh “ngàn đời” chống ngoại xâm của dân tộc Việt mà không kể đến lịch sử chiến tranh thế giới hoặc ngược lại thì thật là phiến diện, gây khó hiểu và thậm chí là không thể… kể được. Đó cũng là lý do khiến chúng ta phải đứng chôn chân đến tê cứng trên đỉnh Trường Sơn đại ngàn này.
Chúng ta thanh minh như thế để mãn nguyện và… thôi, không thanh minh tiếp nữa, kẻo lại làm cho cái sự lỡ lê thê lại càng… lê thê thêm, sướt mướt thêm…
Tuy nhiên đó không phải là kết quả đấu tranh chống cộng sản thắng lợi của hệ thống các nước phe Tư bản chủ nghĩa. Bản thân quan niệm Tư bản chủ nghĩa về kinh tế - xã hội cũng có những cực đoan và giáo điều của nó. Chính vì vậy mà ở các nước tư bản chủ nghĩa luôn xảy ra khủng hoảng kinh tế như một căn bệnh mãn tính, chỉ có thể chữa trị như một giải pháp tình thế mà chưa có bài thuốc chữa trị rốt ráo, tổng quát. Nhờ có các cuộc khủng hoảng ấy, đồng thời trước tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai đã có nhiều biến đổi, nhất là phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa dâng cao mạnh mẽ; mà các nhà nghiên cứu kinh tế tư sản đã đưa ra nhiều học thuyết để nỗ lực phân tích nguyên nhân cũng như tìm biện pháp khắc phục nhằm chấm dứt suy thoái kinh tế. Xu thế giải quyết khủng hoảng của các nhà kinh tế tư sản là trước sau gì cũng phải hướng tới khống chế cạnh tranh mù quáng ở tầm vĩ mô, khống chế độc quyền, tăng khả năng điều tiết vĩ mô của chính quyền nhà nước bằng biện pháp kinh tế và cả bằng mệnh lệnh trong trường hợp cần thiết, nghĩa là tăng cường sự quản lý điều hành tập trung cho nhà nước. Như thế, từ một nền kinh tế tự do cạnh tranh mù quáng, qua thời gian, để sống còn, nền kinh tế đó cũng dần phải giảm bớt tính tự do mù quáng của nó và trong chừng mực nhất định, tăng tính kế hoạch và chỉ đạo tập trung nhà nước. Rõ ràng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã mặc nhiên ngày một nhích đến gần hơn với phương thức điều hành kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Vì như chúng ta biết, đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là có tính kế hoạch cao độ, tập trung quản lý điều hành trong tay nhà nước (một cách duy ý chí, bất chấp qui luật cung cầu).
Ngày nay, hầu hết và có thể là ở tất cả các nước, dù mang nhãn mác nào, tư sản hay cộng sản, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa đều có nền kinh tế mang bản chất na ná nhau và nếu dựa trên lập trường của chủ nghĩa cộng sản “chính thống” thì đều là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, không thể chối cãi được dù có biện minh giỏi cách mấy đi chăng nữa.
Các nền kinh tế đã như thế thì các quan niệm chính trị cũng bớt hẳn đối đầu. Vấn đề nóng bỏng trước đây, sự đối đầu đến mức tưởng như một mất một còn giữa cộng sản và tư sản, giữa Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa, đến đây, đã không còn đặt ra (công khai) nữa.
Nước Nga, kế thừa cái nền tảng đạo đức vô sản đẹp đẽ của Liên Bang Xô Viết, đang trở thành mẫu mực trong quan hệ quốc tế. Nước Mỹ năm 2009, sau khi Barack Obama, người Mỹ da đen đầu tiên lên làm tổng thống, đã có những biến đổi làm yên lòng thế giới: hữu nghị hơn, cởi mở hơn, cao thượng hơn.
Có một câu chuyện thú vị liên quan đến Tổng thống Obama. Chính phủ mới của Mỹ thực hiện các chính sách như: nắm giữ phần lớn cổ phiếu của các ngân hàng, điều khiển ngành công nghiệp ô tô, tìm cách quốc hữu hóa lĩnh vực chăm sóc y tế… đã làm cho một số nghị sĩ đảng Cộng Hòa công khai chỉ trích tổng thống Obama đang thực hiện những chính sách mang tính chất xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này ngay lập tức diễn ra trên khắp nước Mỹ. Công ty truyền thông chuyên thực hiện các cuộc thăm dò dư luận có uy tín của nước Mỹ là Rasmussen Reports lập tức quyết định tiến hành cuộc thăm dò ý kiến có qui mô toàn quốc với câu hỏi: “Giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, hệ thống nào tốt hơn?”. Kết quả công bố ngày 9-4-2009 cho thấy chỉ có 53% người Mỹ trưởng thành tin rằng chủ nghĩa tư bản tốt hơn; 20% tin rằng chủ nghĩa xã hội tốt hơn và 27% phân vân không biết chọn hệ thống nào. Đây là kết quả gây ngạc nhiên cho chính những người thực hiện, bởi trong cuộc khảo sát cũng do họ thực hiện vào cuối tháng 12-2008, có đến 70% người Mỹ trưởng thành ủng hộ nền kinh tế thị trường tự do (một cách hiểu khác về chủ nghĩa tư bản). Mặc dù kết quả cho thấy đa số người Mỹ vẫn ủng hộ chủ nghĩa tư bản, nhưng 53% là một tỷ lệ được cho là quá thấp trong một quốc gia luôn coi chủ nghĩa tư bản là chìa khóa phát triển để được như Mỹ ngày nay.
Câu chuyện kể cũng thú vị đấy chứ?
Có thể đoán rằng; thế giới đang bước vào thời kỳ hòa dịu và hợp tác hòa bình, các nước dần xích lại gần nhau hơn nữa và cùng chung sống trong bầu không khí bình đẳng, tương trợ, và tôn trọng lẫn nhau. Xu thế này chắc chắn cũng làm cho chủ nghĩa khủng bố lụi tàn dần.
Cuối cùng, chúng ta hy vọng rằng trong tương lai không xa, trên thế giới sẽ không còn bất cứ loại vũ khí hóa học nào, bất cứ thứ vũ khí hạt nhân nào. Nhưng trước hết, vũ khí hạt nhân, cái biểu tượng về trí tuệ siêu việt đáng tự hào và đồng thời cũng là biểu tượng mù quáng và độc ác đáng hổ thẹn của loài người phải bị tiêu hủy ngay lập tức và không có quyền được xuất hiện trở lại.
Tuy nhiên, cái tương lai không xa ấy chắc vẫn còn… xa vời lắm! Vào cuối tháng 5-2011, trong một chuyến công du qua nước Anh, tổng thống Obama đã phát biểu trước hai viện Quốc hội Anh: “Mỹ, Anh đang bước vào một giai đoạn quan trọng mới và ngày nay là thời đại mà Mỹ và Châu Âu phải giữ vai trò lãnh đạo thế giới”.
Lời phát biểu gây sốc đó không hề làm chúng ta ngạc nhiên. Obama vẫn chưa thoát được lối tư duy kẻ cả, hợm hĩnh thường thấy ở những chính khách “tai to mặt lớn” của những nước lớn!
Mặt khác, nhìn sang láng giềng, nước Trung Quốc, một "đại ca" cộng sản, với quan niệm "đại nhảy vọt" đầy lầm lạc của mình, đã trở thành đại đế quốc, đang ngày đêm chạy đua vũ trang, âm mưu độc chiếm biển Đông, thực hiện dã tâm thôn tính cả Đông Nam Á, khuynh đảo thế giới. Do vậy, khả năng bao lực ở biển Đông đang nóng lên từng ngày, bùng nổ chiến tranh bất cứ lúc nào.
Chúng ta không thể không đặt câu hỏi: ngòi nổ chiến tranh thế giới thứ ba có bao giờ lại là biển Đông và Trung Quốc chính là kẻ châm ngòi hay không?
Đối với chúng ta Trung Quốc chưa bao giờ là nước cộng sản. Cộng sản gì mà làm cuộc "Đại cách mạng văn hóa" vô cùng quái dị, làm chết một cách oan uổng hàng chục triệu con người như vậy? Cộng sản gì mà có tinh thần quốc tế vô sản kỳ quặc, đầy vụ lợi và ích kỷ như vậy?
Đối với Việt Nam, Trung Quốc bao giờ cũng là một kẻ láng giềng thâm hiểm, khổng lồ mà cư xử không mã thượng. Hàng ngàn năm nay, Trung Quốc luôn thường trực ý chí thôn tính và đồng hóa dân tộc Việt. Phải luôn đề cao ý thức cảnh giác, không cho chúng thực hiện ý đồ ấy. Hãy dõng dạc và đanh thép nói như Hồ Chí Minh khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp năm 1964: "KHÔNG BAO GIỜ!".
 
(Hết chương XXXII và hết phần III)   
 

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156