"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều
vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!" -Albert Einstein
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy
cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu
Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng
để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn
người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không
đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh
"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to
lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng
quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng
ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực
lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy
mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói
khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
“Chiến
tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội,
Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến
ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn,
to đẹp hơn!” Hồ Chí Minh "Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ" Phạm Khắc Hòe
PHẦN III
Ngỡ tưởng từ đây đất nước sẽ im tiếng súng, dân tộc Việt sẽ được sống trong hòa bình, yên ổn làm ăn, "xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Nhưng không, dân tộc Việt còn phải đi nốt chặng đường trường chinh bất khuất vô song mà đầy tự hào, mã thượng và tuyệt đẹp của mình.
Theo tư liệu mà chúng ta góp nhặt trên mạng internet thì thế kỷ 20 đã
chứng kiến một sự kiện nhân đạo và chính nghĩa hiếm có:
Quân đội và nhân dân Việt Nam đã tự cứu mình và đồng thời cứu nhân dân
Cam-pu-chia anh em thoát khỏi
họa diệt chủng, thực hiện hồi sinh một dân tộc.
Pol Pot năm 1978
Ieng Sary
Tháng 2-1963, tại đại hội lần thứ hai của Đảng Công nhân Cam-pu-chia
(trước tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia), Pôn Pốt (PolPot)
được chọn kế vị đồng chí Tu Sa-mút, đã bị sát hại trước đó, trở thành
Tổng Bí thư của đảng. Từ đây, việc tiếm quyền trong đảng của Pôn Pốt
hoàn tất. Tháng 7-1963, Pôn Pốt và hầu hết thành viên ủy ban trung ương
rời Phnôm Pênh để thành lập một căn cứ tại tỉnh Ra-ta-na-ki-ri phía Đông
Bắc Cam-pu-chia. Pôn Pốt và đồng bọn trưởng thành từ nhóm sinh viên tại
Pa-ri nắm quyền kiểm soát Trung ương đảng, loại bỏ các cựu binh lớn
tuổi, những người tích cực ủng hộ sự nghiệp cách mạng ở cả ba nước trên
bán đảo Đông Dương. Tháng 9-1966, chúng bí mật đổi tên đảng thành Đảng
Cộng sản Cam-pu-chia, những đảng viên cấp thấp của đảng không được thông
báo về điều này và các đảng viên cũng không biết cho tới nhiều năm sau.
Trong rừng rậm Cam-pu-chia, chúng bắt đầu thực hiện những mưu đồ mang
nặng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan.
Quyền lực tối cao trong tập đoàn phản động ở Cam-pu-chia tập trung hầu
hết vào 5 tên: "anh Cả" Pôn Pốt (Sa-lốt Sa), Tổng Bí thư từ năm 1963 tới
khi chết; "anh Hai" Nuôn Chia (Long Bun-ruốt), "cánh tay phải" của Pôn
Pốt; "anh Ba" Iêng Xa-ri, anh em đồng hao của Pôn Pốt; “anh Tư" Khiêu
Xam-phon; "anh Năm" Tà Mốc (Chờ-hít Chờ-hun). Pôn Pốt sinh năm 1928 tại tỉnh Kông-pông Thom. Năm 1953, y tham gia Mặt
trận Việt Minh, nhưng không chú trọng đến công việc chung, chỉ mưu đồ
chia rẽ nội bộ, tranh quyền lãnh đạo trong Đảng Nhân dân Cách mạng
Cam-pu-chia. Ngày 17-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc ở
Cam-pu-chia. Tập đoàn phản động do Pôn Pốt đứng đầu lập nên nhà nước
Cam-pu-chia Dân chủ. Ngày 20-5-1975, Thường vụ Trung ương đảng Pôn Pốt
họp quyết định 3 chủ trương lớn: Làm trong sạch nội bộ nhân dân; xác
định Việt Nam là kẻ thù số 1, là kẻ thù truyền kiếp; xây dựng xã hội mới
của Cam-pu-chia không chợ, không tiền, không trường học, không đô thị,
không trí thức, không tôn giáo… Ngày 1-2-1978, y nói rõ trong Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương đảng của y: “Chiến tranh giữa ta và Việt Nam là
lâu dài, có tính chất gặm nhấm, ta không đánh nó trước thì sẽ không
thắng… Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm
diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10-15-20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy
sinh 2 triệu người Cam-pu-chia để tiêu diệt 60 triệu người Việt Nam.
Phải đưa chiến tranh sang đất nó”.
Khơ me đỏ nhí đã rành chuyện giết người
Cũng như những chiến binh nhí khác, Sayon Soeun được Khmer Đỏ dạy rằng,
bất cứ ai – dù là gia đình hay bạn bè, đều có thể là kẻ thù. Ảnh: New
Jersey Hills
Theo CNN, Pol Pot ôm mộng tạo ra một xã hội
nông nghiệp không tưởng, trong đó tiền, quan hệ gia đình, tôn giáo, giáo
dục, sở hữu tài sản và ảnh hưởng nước ngoài không tồn tại. Để thực hiện
tham vọng của mình, vài ngày sau khi tiếp quản Phnom Penh, chính quyền
Pol Pot đã buộc 2 triệu người phải rời khỏi thủ đô và các thành phố để
đến các vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Bussiness Insider
Tại các công trường lao động khổ sai ở những vùng nông thôn, người dân
phải tự đào hố chôn mình vì có thể bị xử tử vì bị nghi là phản động,
gián điệp hay đơn giản bị cuốc bổ vào đầu chỉ vì bị coi là lười lao động
hay bị bỏ đói. Trong ảnh là một hố chôn người tập thể được khai quật ở
Campuchia sau ngày giải phóng 7/1/1979. Ảnh: Ibtimes
Binh lính Khmer Đỏ. Ảnh: DPA
Một trong những bức ảnh tố cáo tội ác chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia. Ảnh: TTXVN
Ngày 30/4/1977, quân Pol Pot đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An
Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất của ta, bắn pháo
vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ
Việt Nam. Ảnh: TTXVN
Nuôn Chia sinh năm 1926 tại tỉnh Bát-tam-bang, là một người gốc Hoa.
Khi tập đoàn Pôn Pốt thành lập Cam-pu-chia Dân chủ, y được người
Cam-pu-chia biết đến với tên gọi "anh Hai", “nhà tư tưởng” thiết kế mô
hình nhà nước, đồng thời là nhà đạo diễn “cánh đồng chết”. Nuôn Chia
được Pôn Pốt giao phụ trách công tác đảng và an ninh quốc gia từ năm
1960 khi y giữ chức Phó tổng Bí thư Trung ương đảng. An ninh quốc gia ở
đây chủ yếu là trừ khử những “thành phần chống phá cách mạng trong và
ngoài đảng”. Khi tập đoàn Pôn Pốt giành được chính quyền năm 1975, Nuôn
Chia được làm Chủ tịch Quốc hội, có lúc làm Thủ tướng trong một tháng
khi Pôn Pốt tạm nghỉ. Chính Nuôn Chia trực tiếp chỉ đạo quản tù tra tấn
và hành quyết những cán bộ bị tình nghi chống lại Pôn Pốt bị giam cầm ở
nhà tù Tuôl Sleng. Iêng Xa-ri sinh năm 1925 tại tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Năm 1957, y
tham gia Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia, giữ các chức vụ chủ chốt
trong Thành ủy Phnôm Pênh và Trung ương Đảng. Năm 1963, Iêng Xa-ri được
chỉ định vào Bộ Chính trị giữ vị trí thứ tư trong đảng đã đổi tên. Từ
năm 1970 đến 1975, y là "cố vấn đặc biệt" bên cạnh Quốc vương Nô-rô-đôm
Xi-ha-núc khi ở Bắc Kinh. Sau ngày 17-4-1975, Iêng Xa-ri giữ chức Phó
thủ tướng phụ trách đối ngoại trong chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ, cùng
với Pôn Pốt, Iêng Xa-ri đã gây ra nạn diệt chủng khủng khiếp đối với
nhân dân Cam-pu-chia. Khiêu Xam-phon sinh năm 1931, trong một gia đình nông dân, cha là
người Khơ-me, mẹ người Hoa. Sau cuộc đảo chính tháng 3-1970, y tuyên bố
ủng hộ Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia do Hoàng thân Nô-rô-đôm
Xi-ha-núc đứng đầu, được cử làm Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng
và Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng trong Chính phủ Vương
quốc đoàn kết dân tộc Cam-pu-chia do Pen Nút làm Thủ tướng. Năm 1976, y
là Chủ tịch Đoàn chủ tịch Nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ. Khiêu Xam-phon
được coi là kiến trúc sư của Cam-pu-chia Dân chủ.
Xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba
Chúc, Tri Tôn, An Giang) cách biên giới Việt Nam - Campuchia 3.500m. Từ
ngày 18/4 - 30/4/1978, chính quyền Khmer Đỏ đã đưa quân vào tàn sát
người dân nơi đây một cách man rợ. 3.157 người dân Ba Chúc bị giết hại.
Trong ảnh là quân Pol Pot đang sát hại người dân. Bức ảnh này được lưu
giữ trong nhà truyền thống Sư đoàn Bộ binh 330 - Sư đoàn chủ lực giải
phóng Ba Chúc khỏi Pol Pot.
Quân Pol Pot đi tới đâu cũng
giết người hàng loạt, dã man không bút nào tả hết, chúng cướp bóc tài
sản, đốt phá nhà cửa, tàn sát không thương tiếc. Trong ảnh là xác người
dân Ba Chúc bị Pol Pot thảm sát.
Những cái chết đau thương của người dân vô tội Ba Chúc được ghi lại, trưng bày trong khu lưu niệm tại Ba Chúc hiện nay.
Quân Pol Pot tàn sát dã man không thương tiếc dân thường, người già, phụ nữ hay trẻ em.
Đình chùa vốn là nơi tôn nghiêm
mà cái ác tránh phạm tới. Nhưng trong vụ thảm sát Ba Chúc, người dân
chạy vào chùa Phi Lai mong tìm chỗ trú ẩn, thì bị quân Pol Pot giết hại
gần 300 người.
Những đống xương người chết được cất giữ tại nhà mồ tạm dựng sau chùa Phi Lai.
Nhóm xương sọ (đã trở thành di vật) đều bị sứt mẻ do bị đạn bắn vào đầu hoặc đạn xuyên phá.
Xương, hộp sọ của những nạn nhân thảm sát Ba Chúc.
Khi người dân chạy vào chùa Tam
Bửu tạm trú, quân Pol Pot đã nã pháo, lựu đạn vào khiến hàng trăm người
bị chết, máu của họ bắn lên bức tường chùa. Hiện nay, vết máu được bảo
quản trong khu di tích về thảm sát Ba Chúc.
Tà Mốc, tên thật là Chơ-hít Chờ-hun, sinh năm 1926 trong một gia đình
nông dân tại tỉnh Ta-keo, miền Nam Cam-pu-chia. Trước năm 1975, y là ủy
viên Quân ủy Trung ương, thường vụ Trung ương Đảng của tập đoàn phản
động Pôn Pốt. Tháng 7-1975, Pôn Pốt triệu tập đại hội các bí thư khu ủy
để thống nhất quân đội và phân định lại ranh giới. Cam-pu-chia được chia
ra làm 7 khu và Tà Mốc phụ trách khu Tây Nam. Năm 1977, Tà Mốc lên nắm
chức vụ Tổng Tư lệnh quân đội và đóng vai trò chủ đạo trong một loạt vụ
thanh trừng và gây ra nhiều vụ thảm sát. Là “anh Năm” trong lực lượng
Pôn Pốt, Tà Mốc đóng vai trò quan trọng trong nạn diệt chủng khiến hàng
triệu người chết. Đối với Việt Nam, tập đoàn phản động do Pôn Pốt đứng đầu đã có những
biểu hiện phản bội ngay khi hai nước đang tiến hành cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Từ cuối năm 1971 đã có những cuộc đụng độ giữa lực lượng vũ trang của
bọn Pôn Pốt với Quân tình nguyện Việt Nam. Rất nhiều kho vũ khí của ta
bị quân của Pôn Pốt đến lấy trộm, nhiều cán bộ, chiến sĩ đi công tác lẻ,
hoặc đơn vị nhỏ đi công tác sâu trong đất Cam-pu-chia, bị chúng bí mật
thủ tiêu. Đến cuối năm 1972, chúng yêu cầu Quân tình nguyện Việt Nam ở
các vùng, các địa phương Cam-pu-chia rút hết về nước. Đến cuối năm 1973,
quân ta về nước hết. Năm 1975, khi Việt Nam vừa thống nhất đất nước, bè
lũ Pôn Pốt đã cho quân tiến công đánh sang các đảo, biên giới đất liền
Tây Nam đất nước ta. Ngày 3-5-1975, quân Pôn Pốt đổ bộ lên đảo Phú Quốc
và đã bị quân và dân ta trừng trị đích đáng, buộc phải rút chạy. Ngày
10-5-1975, quân Pôn Pốt lại đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt đi và thủ tiêu
500 dân thường. Những tháng ngày sau đó, chúng tiếp tục mở rộng chiến
tranh xâm lấn ra trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của ta.
Cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ Nuon Chea trong một phiên xử của ECCC tại Phnom Penh năm 2008 - Ảnh: AFP
Chân dung Ta Mok
Nhưng tại sao bè lũ Pônpốt - Iêng Xary
tự nhiên đi làm cái việc trái với đạo lý tự nhiên, vô cùng tàn bạo,
khùng điên bậc nhất nhân loại là giết chóc đến mức diệt chủng chính dân
tộc của mình như vậy?
Muốn
trả lời câu hỏi đó một cách suôn sẻ, phải hướng về Mao Trạch Đông, tên
đồ tể số một của nhân loại trong thế kỷ XX, kẻ vô cùng đam mê quyền lực
và muốn xây dựng ở Trung Quốc một "đế quốc CNXH" hùng mạnh bằng những cách ngu muội nhất.
Các triều đạiTrung Quốc , từ hàng ngàn năm trước, với
tư tưởng Đại Hán đã không ngừng tham vọng mở rộng lãnh thổ quốc gia bằng
cách xâm lược, bành trướng sang lãnh thổ của đất nước khác, với sức
mạnh về nhiều mặt như : Kinh tế, Văn Hóa, Quân sự… hòng biến các nước
láng giềng trở thành của mình hoặc trở thành “vệ tinh” chịu sự chi phối
của “thiên triều” và lệ thuộc vào họ.
Nói về Mao Trạch Đông, báo "Đại kỷ nguyên viết: "...Ông ta cao giọng: “Thà lấy cỏ của Chủ nghĩa Xã hội, không lấy mạng của Chủ nghĩa Tư bản”.
Trong 26 năm cầm quyền, nền kinh tế Trung Quốc bại hoại, nhân dân sống
tạm cho qua ngày, hàng chục triệu người dân bị chết đói. Điều này có lẽ
suốt các thời đại trong lịch sử Trung Quốc, hoặc bất kể một quốc gia
trên thế giới nào khác, cũng tuyệt không thể có.
Ông Mao Trạch Đông xem thường giáo dục, chửi rủa tri thức là “cục phân”, đại đa số tri thức bị sỉ nhục hoặc dày vò cho đến chết. Ông ta tuyên bố “chế độ giáo dục phải rút ngắn lại, phải làm cách mạng giáo dục”. Vào thời “Cách mạng Văn hóa“, giáo dục bậc cao của Trung Quốc hoàn toàn bị triệt tiêu, giáo dục trung và tiểu học cũng hoàn toàn hoang phế.
Cách mạng kiểu Mao tóm lại là: Lấy nông
dân thay cho trí thức, lấy văn mù thay cho văn nhân, nếu ta nói không
bằng ngươi thì ta không cần nói nữa mà dùng vũ lực, kẻ nào thắng kẻ đó
chuyên chính, ta là lưu manh mặt dày tâm đen thì còn sợ ai.
Lý Nhuệ, một thư ký của ông Mao Trạch Đông tiết lộ, khẩu hiệu “Mao Chủ tịch vạn tuế”
có từ năm 1950. Vào năm đó khi ông ta phê duyệt khẩu hiệu chào mừng
ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã tự mình bổ sung thêm vào, hơn chục năm sau
thì khẩu hiệu này phổ biến khắp Trung Quốc.
Ông Mao Trạch Đông và ĐCSTQ tự xưng là tin vào “Chủ nghĩa Duy vật“,
nhưng hành động lại tự mâu thuẫn, khiến người ta phải dở khóc dở cười.
Ví như vừa ca lên một câu rằng xưa nay không tồn tại Chúa cứu thế, không
có thần thánh, nhưng lại ngay lập tức lại tung hô ta chính là thần
thánh của nhân dân!".
Cựu Chủ tịch Mao Trạch Đông được
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phong là sư tổ, từng có bài thơ «Thấm
viên xuân – Tuyết» thể hiện sự xem thường các bậc đế vương trong lịch
sử. Các vua chúa như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Tống
Thái Tổ, thậm chí Thành Cát Tư Hãn, tất cả đều không đáng để ông ta để
mắt đến.
Khởi đầu từ năm 1949, Mao Trạch Đông làm
‘hoàng đế’ được 27 năm, tàn sát hơn 60 triệu người Trung Quốc. Ông ta
dùng thủ đoạn để cướp chính quyền. Là kẻ điên cuồng với quyền lực, Mao
Trạch Đông đã có âm mưu lại có cả dương mưu, lừa gạt dân chúng và khống
chế các đối thủ trong Đảng, độc tài cho đến tận hơi thở cuối cùng.
Mao Trạch Đông vượt qua cả Hitler về vai trò đồ tể. Từ năm 1958 đến năm 1962,
chính sách Đại Nhảy Vọt của ông ta đã làm chết tới 45 triệu người – làm
cho nó trở thành giai đoạn có nhiều người bị giết nhất từng được ghi
nhận.
Nhà sử học Frank Dikötter, tác giả cuốn Mao’s Great Famine, (tạm dịch:
Nạn đói lớn của Mao) vừa mới cho đăng bài báo trên trang History Today,
tóm tắt sự kiện đã xảy ra: "Mao nghĩ rằng ông có thể đẩy đất nước của mình qua mặt các đối thủ bằng
cách xua nông dân trên khắp cả nước vào những công xã nhân dân có quy
mô cực kì hoành tráng Công ăn việc làm, nhà cửa, đất đai, đồ đạc và sinh
kế của người dân đều do công xã cung cấp. Trong các bếp ăn tập thể,
thực phẩm - được phân phối bằng thìa, tùy theo đức hạnh của từng người –
đã trở thành vũ khí được sử dụng để buộc người dân phải tuân theo mọi
chỉ thị của đảng. Vì động cơ lao động đã không còn, thay vào đó, ép buộc
và bạo lực được sử dụng để buộc người nông dân đói khát phải làm việc
trên những công trình thủy lợi được quy hoạch chẳng ra làm sao, trong
khi đồng ruộng bị bỏ hoang.
Thảm họa khủng khiếp đã xảy ra. Từ các số liệu thống kê dân số được công
bố, các nhà sử học đã ngoại suy ra rằng, hàng chục triệu người đã bị
chết đói. Nhưng đến nay, nhờ những báo cáo tỉ mỉ của Đảng trong giai
đoạn diễn ra nạn đói, người ta mới biết quy mô thật sự của thảm hoạ…
Hồ sơ đồ sộ và chi tiết này kể cho ta nghe câu chuyện kinh hoàng, trong
đó Mao xuất hiện như một trong những kẻ giết người hàng loạt lớn nhất
trong lịch sử nhân loại, ông ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của ít
nhất 45 triệu người, đấy là mới nói trong giai đoạn từ năm 1958 đến
1962".
Mao Trạch Đông (1893-1976) kẻ giết nhiều người nhất thế giới. Ảnh: fee.org/ internet
Mặt khác, âm mưu thâm độc của đảng cộng sản Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam - Á đã có từ thời Mao Trạch Đông.
Sưu tầm được bài trên mạng "Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua": Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956, Chủ tich Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải trở thành quốc gia
hàng đầu về phát triển văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghiệp…Không
thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành
cường quốc số một trên thế giới” Sau đó, tháng 9 năm 1959, tại Hội nghị của Quân uỷ trung ương, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta”. Cũng như sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về
Đông Dương, những người lãnh đạo Trung Quốc sau Hiệp định Pari tháng 1
năm 1973 về Việt Nam, muốn duy trì nguyên trạng ở miền nam Việt Nam. “Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc”
của chủ tịch Mao Trạch Đông viết năm 1939 do hiệu sách Tân Hoa thư điếm
(Dực Nam) tái bản tháng 6 năm 1949. Trong đó có đoạn viết: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại
Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ
phận của lãnh thổ Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu,
quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Nêpan và Hương
Cảng. Pháp chiếm An Nam…”.
Đường
vẽ chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những
vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị
nước ngoài “chiếm mất” bao gồm: một phần lớn đất vùng Viễn Đông và Trung
Á của Liên Xô (số 1, 17, 18), Át Xam (số 6), Xích Kim (số 4), Butan (số
5), Miến Điện (số 7), Nêpan (số 3), Thái Lan (số 10), Việt Nam (số 11),
Lào, Campuchia…
Ngay từ năm 1936, chủ tịch Mao Trạch Đông
kể chuyện với nhà báo Mỹ Etga Xnâu ở Diên An về thời trẻ của mình, đã
bộc lộ ý nghĩ sau khi đọc một cuốn sách nhỏ nói đến việc Nhật chiếm
Triều Tiên và Đài Loan, việc mất “chủ quyền” Trung Hoa ở Đông Dương,
Miến Điện và nhiều nơi khác: “Đọc xong, tôi lấy làm thất vọng đối
với tương lai đất nước tôi và tôi bắt đầu nhận thức rằng bổn phận của
mọi người là phải đóng góp cứu nước”. (Ét-ga Xnâu: Ngôi sao đỏ trên đất Trung Hoa, Nhà xuất bản Pen-guyn, Lân đơn, 1972, tr. 159) Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do
chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng
sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939 có viết: “Các nước đế quốc sau khi đánh bại
Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều
Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến
Điện, Butan, Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…” Ý đồ bành trướng của những người lãnh
đạo Trung Quốc đặc biệt lộ rõ ở câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông
trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm
1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á”. Mao Trạch Đông còn khẳng định
trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản
Trung Quốc, tháng 8 năm 1965: “Chúng ta phải giành cho được Đông
Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia
và Singapo…Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng
sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được
Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở
vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên
Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. Về việc sử dụng lực lượng Hoa
kiều, ý đồ của Bắc Kinh đã được thể hiện rõ nhất trong ý kiến của bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị: “Singapore có trên 90% là người Trung
Quốc, trong số dân hơn 1 triệu người thì hơn 90 vạn là người Trung
Quốc. Cho nên Singapore hoàn toàn trở thành một quốc gia do người Trung
Quốc ở đó tổ chức”. Những người lãnh đạo Trung Quốc âm mưu
nắm Việt Nam để nắm toàn bộ bán đảo Đông Dương, mở đường đi xuống Đông
Nam châu Á. Trong cuộc gặp giữa đại biểu bốn đảng cộng sản Việt Nam,
Trung Quốc, Inđônêxia và Lào tại Quảng Đông tháng 9 năm 1963, thủ tướng
Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không
có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con
đường mới xuống Đông Nam châu Á”. Để làm suy yếu và nắm lấy Việt Nam, họ
ra sức phá sự đoàn kết giữa ba nước ở bán đảo Đông Dương, chia rẽ ba
nước với nhau, đặc biệt là chia rẽ Lào và Campuchia với Việt Nam. Đồng
thời họ cố lôi kéo các nước khác ở Đông Nam châu Á đối lập với Việt Nam,
vu khống, bôi xấu, hòng cô lập Việt Nam với các nước trên thế giới. Những người cầm quyền Bắc Kinh rêu rao
cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Đầu năm 1974, với sự đồng tình của Mỹ, họ đánh chiếm quần đảo Hoàng
Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam để từng bước kiểm soát biển Đông,
khống chế Việt Nam và toàn bộ Đông Nam châu Á, đồng thời khai thác tài
nguyên phong phú ở vùng biển Đông. Những năm 1960 Những người lãnh đạo Trung Quốc ra sức tập hợp lực lượng ở
các khu vực Á, Phi, Mỹ latinh để nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế
giới” và chống Liên Xô. Để đạt mục tiêu đó, từ năm 1963 họ ráo riết vận
động họp 11 đảng cộng sản, trong đó có 8 đảng ở Đông Nam châu Á hòng lập
ra một thứ “Quốc tế cộng sản” mới do họ khống chế, xây dựng cái gọi là
“trục Bắc Kinh- Giacacta-Phnông Pênh-Bình Nhưỡng-Hà Nội”, thông qua
Inđônêxia vận động triệu tập “Hội nghị các lực lượng mới trỗi dậy”
(CONEFO) để thành lập một tổ chức quốc tế đối lập với Liên hợp quốc;
đồng thời vận động tổ chức Hội nghị Á-Phi lần thứ hai (dự định họp ở
Angiê năm 1965). Nhưng những người lãnh đạo Trung Quốc đã không thành
công trong các kế hoạch đen tối này. Đó là vì họ đi ngược lại lợi ích
của cách mạng thế giới là tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong
trào độc lập dân tộc, dân chủ, vì họ vấp phải đường lối độc lập tự chủ
trước sau như một của Việt Nam. Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một
cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động
chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền” theo công thức của chủ
tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà
chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên
Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết
tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt
Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược
của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, nước Việt Nam
phải là một nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc
Trung Quốc. Trái lại, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu
mạnh, có đường lối độc lập tự chủ và đường lối quốc tế đúng đắn là một
cản trở lớn cho chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc,
trước hết là cho chính sách bành trướng của họ ở Đông Nam châu Á. Đó là
nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế cách mạng Việt
Nam, mỗi khi Việt Nam đánh thắng đế quốc thì họ lại buôn bán, thoả hiệp
với đế quốc trên lưng nhân dân Việt Nam; vì sao từ chỗ giấu mặt chống
Việt Nam họ đã chuyển sang công khai thù địch với Việt Nam và đi tới
trắng trợn tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chiến lược quốc tế ngày nay của những người
lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính
chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã
hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô vanh nước lớn, những
người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Pháp đến Hội nghị Giơnevơ cũng nhằm đạt
được một cuộc ngừng bắn theo kiểu Triều Tiên để cứu đội quân viễn chinh
Pháp, chia cắt Việt Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương. Rõ ràng lập trường của Trung Quốc khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại rất phù hợp với lập trường của Pháp.
“Chính quyền vươn lên từ nòng súng” — Mao Trạch Đông
đẩy học thuyết đấu tranh vốn có của chủ nghĩa cộng sản lên đến một đỉnh cao mới
trong thực nghiệm chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc: “bạo chính”, nô dịch nhân
dân bằng khủng bố.
Chủ tịch Mao Trạch Đông và Đảng cộng sản thao túng truyền thông nhằm phục vụ mục đích của mình
Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu
tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện đại vào ngày 1 tháng 10 năm 1949.
Lợi dụng vị trí là một nước viện trợ quân
sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam,
đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên thế yếu với Việt
Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm phán trực
tiếp với Pháp để thoả thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về
vấn đề Đông Dương. Đáng chú ý là cuộc tiếp xúc lần thứ ba ngày
17 tháng 6 năm 1954, thủ tướng Chu Ân Lai gặp trưởng đoàn đại biểu Pháp
G.Biđô, đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính chất cơ bản, có hại
cho nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia: Trung Quốc có thể chấp
nhận Việt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và
Chính phủ bù nhìn Bảo Đại), công nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính
phủ Vương quốc Campuchía, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của Cính phủ kháng
chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham gia Hội nghị Giơnevơ,
và đưa ra vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện Việt Nam
phải rút khỏi Lào và Campuchia. Những điểm mà những người lãnh đạo Trung
Quốc đã thoả thuận với Pháp rất phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh-Mỹ
đưa ra ngày 29 tháng 6 năm 1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa
Chu Ân Lai và Măngđét Phranxơ. Từ tháng 5 năm 1954, đoàn đại biểu Trung
Quốc đưa ra phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến giữa hai miền Việt
Nam, và còn muốn Việt nam nhân nhượng nhiều hơn nữa, thậm chí muốn Việt
Nam bỏ cả thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và đường số 5 (đường nối
liền Hà Nội với Hải Phòng): “Đánh giá (phương án vĩ tuyến 16) khó
có thể thoả thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự
do, ở gần đấy cho Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa
thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự…”. Sau Điện Biên Phủ, rõ ràng là với sự giúp
đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là của Trung Quốc, quân và dân
Việt Nam có khả năng giải phóng cả nước, nhưng giải pháp mà Đoàn đại
biểu Trung Quốc đã thoả thuận với Đoàn đại biểu Pháp ở Giơnevơ không
phản ảnh so sánh lực lượng trên chiến trường, cũng không đáp ứng đầy đủ
những yêu cầu chính trị của giải pháp do Đoàn đại biểu Việt Nam đề ra.
“…
Cuốn sách này là nỗ lực cuối cùng ghi lại chính xác các sự kiện đối với
những hành động tàn nhẫn mà tôi đã mục kích ở Việt Nam. Sách cũng bày
tỏ những hy vọng của tôi về xứ sở mà tôi sinh ra, vốn vẫn tiềm tàng khả
năng là một đất nước vĩ đại thực sự. Thật là chán nản khi thấy những
hành vi tàn ác, vô nhân đạo vẫn tiếp tục mang danh nghĩa tổ quốc tôi,
mang danh nghĩa đất nước mà tôi mến yêu, nơi tôi ra đời, một đất nước đã
cho tôi quá nhiều… Nếu như chúng ta có thể hình dung ra một tương lai
nhân bản hơn và nỗ lực để nó trở thành hiện thực thì đó chính là niềm hy
vọng cho hòa bình trên thế giới”.
“…
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ long trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người
sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có
thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được
tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Quyền được sống là quyền trước tiên, Quyền
được sống bị tước đoạt một cách phi pháp thì nói đến hàng trăm, hàng
ngàn quyền khác của con người là điều vô nghĩa, là đạo đức giả…”.
Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong
giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những
người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5
năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy
vọt” với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong
một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân. Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà
hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ
tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất
là ở Đông Nam châu Á và Nam Á.
Xuất phát từ đường lối đối nội, đối
ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích
của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói
riêng và Đông Dương nói chung.
Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không
thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu
10 năm chưa được thì phải 100 năm”.
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình dọa:“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”.
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”
“Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”,
“tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh
co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở
Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và ngụy quyền
Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô
Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai
đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm
đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ
sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã
lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
Những người cầm quyền Bắc Kinh bên trong thì ra sức củng cố quyền lãnh đạo của
chủ tịch Mao Trạch Đông, ổn định tình hình, đẩy mạnh sản xuất, bên ngoài thì thi
hành mọi biện pháp để đẩy nhanh quá trình nhích lại gần đế quốc Mỹ nhằm ngoi lên
địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ và giải quyết vấn đề
Đài Loan. Họ mưu toan dùng con bài Việt Nam để đạt mục tiêu đối ngoại đó.
Theo hiệp định Pari về Việt Nam, Mỹ phải rút hết đội quân viễn chinh của Mỹ
ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân
dân Việt Nam, thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai
quân đội và ba lực lượng chính trị, và các bên Việt Nam cùng thành lập một Chính
phủ liên hiệp ba thành phần ở miền Nam Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối
độc lập, tự chủ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam, là thắng
lợi của phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Đó là thất
bại của sự mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam giữa chính quyền Níchxơn
và những người lãnh đạo Trung Quốc thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải
Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền Nam Việt Nam như sau:“ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu
tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không
phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù
Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu
để như vậy đâu…
Miền Bắc có thể ủng hộ về chính trị cho
miền Nam, giúp miền Nam đề ra các chính sách nhưng chủ yếu là bồi dưỡng
tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam…Khi ăn chắc, miền Bắc có
thể giúp quân sự cho miền Nam, nghĩa là khi hoàn toàn chắc chắn không
xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà không cho ai biết.
Nhưng nói chung là không giúp.”
Như vậy, khi không cản được nhân dân
miền Nam Việt Nam “đồng khởi” thì họ cho rằng hình thức chiến đấu ở miền
Nam là đánh du kích, đánh nhỏ từng đơn vị trung đội, đại đội.Làm chủ vận mệnh của mình, nhân dân Việt
Nam đã đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam tiến lên vững mạnh.
Cuối năm 1963, chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm sụp đổ, “chiến
tranh đặc biệt” của Mỹ phá sản hoàn toàn. Đầu những năm 1960, trong khi ngăn cản
nhân dân Việt Nam đẩy mạnh chiến đấu chống Mỹ, những người lãnh đạo Bắc
Kinh giơ cao cùng một lúc hai chiêu bài chống đế quốc Mỹ và chống Liên
Xô, nhưng trên thực tế họ tiếp tục hoà hoãn với đế quốc Mỹ ở châu Á,
đánh lạc hướng cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân thế giới để thực
hiện mưu đồ chống Liên Xô, xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa, nắm quyền
“lãnh đạo cách mạng thế giới”, chuẩn bị tích cực cho việc hoà hoãn và
câu kết với đế quốc Mỹ. Trong những cuộc hội đàm với phía Việt Nam
năm 1963, họ tìm cách thuyết phục Việt Nam chấp nhận quan điểm của họ là
phủ nhận hệ thống xã hội chủ nghĩa và mở cho họ “một con đường” xuống
Đông Nam châu Á. Cũng trong năm 1963, những người lãnh đạo Trung Quốc
đưa ra cái gọi là Cương lĩnh 25 điểm về đường lối chung của phong trào
cộng sản quốc tế và đề nghị triệu tập cái gọi là hội nghị 11 đảng cộng
sản, thực tế là để nắm vai trò “lãnh đạo cách mạng thế giới” và lập một
“Quốc tế cộng sản” mới do Bắc Kinh khống chế. Nhằm mục đích này, họ còn hứa hẹn viện trợ ồ
ạt để lôi kéo Việt Nam. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu
Bình thông báo với lãnh đạo Viẹt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc sẽ
viên trợ 1 ti nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên
Xô. Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn: “Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt
biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi
nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là
không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình.
Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung
Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 216). Sau đó bằng nhiều cách, phía
Trung Quốc làm cho Mỹ hiểu rõ câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông và yên
tâm rằng: “người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người”.
Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với
tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét
Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A.
Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn: “Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam
thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng
trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người
Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam
càng tốt” (Mô-ha-mét Hát-xe-nen Hây-can: “Những tài liệu từ Cai-rô” Nhà xuất bản Phia-ma-ri-ông, Paris, 1972, tr. 238).
Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói
với Tổng bí thư Lê
Duẩn và Thủ
tướng Phạm Văn Đồng:
“Ở miền Nam Việt Nam cần ngừng (chiến đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi,
hai năm càng tốt”. Cách mạng miền Nam nên “chia làm hai bước . Gộp lại làm một,
người Mỹ không chịu đâu. Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có
mấy chục vạn quân”.
Họ hằn học nhìn thắng lợi của nhân dân Việt Nam, cho nên, từ khi nhân
dân Việt Nam giành được toàn thắng, họ càng ngày càng công khai và điên
cuồng thực hành một chính sách thù địch toàn diện và có hệ thống chống
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Đây là một văn kiện tuyệt mật của Quân ủy trung ương Đảng Cộng Sản
Trung Quốc do Lê Xuân Thành, sinh ngày 20-3-1949 tại Quảng Đông Trung
Quốc cung khai.
Thành là công an của Trung Quốc, trú quán tại 165 đường Hồng Ký, khu
Tuyên Vũ, thành phố Bắc Kinh. Tháng 3 năm 1973 chạy sang Việt Nam làm
gián điệp. Ngày 30-3-1973 bị bắt ở xã Ngư Thủy, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình. Trong văn kiện đó có một đoạn như sau: “…Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. … Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem
tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi
cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể
buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. … Vẽ bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng
trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…”
Để Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung
Quốc, những người cầm quyền Bắc Kinh ra sức ngăn cản mọi hành động thống
nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ Việt
Nam chống Mỹ. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế: “Cần phải thành lập Mặt trận thống
nhất thế giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt
trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1956). Đi đôi với việc phá hoại mọi hành động
thống nhất ủng hộ Việt Nam, họ gây khó khăn rất lớn cho việc vận chuyển
hàng viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác quá cảnh đất
Trung Quốc và tìm cách điều chỉnh sự viện trợ đó để hạn chế khả năng
đánh lớn của nhân dân Việt Nam, đặc biệt trong các mùa khô. Ở Campuchia, từ trước năm 1965, những người
cầm quyền Trung Quốc đã trắng trợn vu cáo Việt Nam hy sinh lợi ích của
cách mạng Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương, mặc dù sự
thật rõ ràng là chính họ đã bán rẻ những lợi ích đó. Từ năm 1965, họ nắm
Pôn Pốt, thúc đẩy y cùng đồng bọn tiến hành đấu tranh vũ trang chống
chính quyền Xihanúc đang liên minh với các lực lượng kháng chiến Việt
Nam và Lào. Nửa cuối năm 1969, sau khi Lon Non lên làm thủ tướng, những
người cầm quyền Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Lon Non là Quân giải
phóng miền Nam Việt Nam phải rút khỏi các căn cứ ở Campuchia và không
được dùng cảng Xihanucvin vào việc vận chuyển hậu cần. Chính trong thời
gian này, bè lũ Pôn Pốt Iêngxary cũng đòi Quân giải phóng miền Nam Việt
Nam rút khỏi các căn cứ ở Campuchia. Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam
tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừa nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1
năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc đàm phán
với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi
chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng: “Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”. Từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, ngày khai mạc
Hội nghị Pari đến trung tuần tháng 10 năm 1968, bộ máy tuyên truyền của
Bắc Kinh không đưa một tin nào về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ,
nhưng lại nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam cần giải quyết số phận cuộc
đấu tranh của mình “không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường”,
thậm chí còn đe doạ rằng: “nếu miền Nam Việt Nam không được bảo đảm thì
cuối cùng sẽ đưa đến chỗ mất toàn bộ Việt Nam”. Ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo
Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và
yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném
bom miền Bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt Nam “nên
để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán
mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”. Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng
với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam, đây chính
là cái mà tướng Mỹ M. Taylơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo
Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhằm làm suy yếu Việt
Nam, có lợi cho chính sách bành trướng của họ. Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại
thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt
Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt
Nam lựa chọn: “Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải
cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ
của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ
của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”.
Chủ tịch Hồ Chí mInh và Mao Trạch Đông
Đối với việc giải quyết vấn đề Lào tại Giơnevơ năm 1961-1962, họ còn
chủ trương chia nước Lào theo chiều ngang thành hai vùng: vùng giải
phóng ở phía bắc, vùng do nguỵ quyền Viêng Chăn kiểm soát ở phía nam. Đó
là một âm mưu thâm độc nhằm buộc lực lượng cách mạng Lào phải lệ thuộc
vào Trung
Quốc và cô lập cách mạng miền nam ViệtNam. Nhưng những nhà lãnh đạo cách mạng Lào kiên quyết giữ vững đường lối
riêng của mình, lực lượng kháng chiến Lào ngày càng giành nhiều thắng
lợi buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1962 công
nhận nền trung lập của Lào và nhận có đại biểu của Mặt trận Lào yêu nước
trong Chính phủ liên hiệp thứ hai ở Lào.
Sau khi thuyết phục và gây sức ép yêu cầu Đảng ta từ bỏ Liên Xô đi theo
Trung Quốc không được, Đặng Tiểu Bình rất bực bội. Buổi ông ta rời Hà
Nội, Bác và mấy đồng chí đến tiễn tại nhà khách. Lúc Bác tới ông Đặng
đang ngồi trên ghế, nhưng khi thấy Bác vào ông ta không đứng dậy theo
phép lịch sự. Mấy đồng chí đi theo Bác không ngờ lại có chuyện đó, trong
khi chưa biết xử trí ra sao thì thấy Bác nhanh nhẹn bước tới chỗ ông
Đặng ngồi, một tay chìa ra bắt tay ông Đặng, một tay vỗ nhẹ mấy cái vào
vai ông ta rồi từ từ kéo ông ta đứng đậy. Tất nhiên là ông Đặng phải
đứng lên theo.
Cần phải nói thêm kẻo một số bạn trẻ không rõ, đối với người Việt Nam
(và Trung Quốc), chỉ có những bậc bề trên, hoặc nhiều tuổi hơn mới được
quyền vỗ nhẹ vào vai người được coi như bậc dưới hoặc ít tuổi hơn. Hành
động nhỏ này thể hiện rõ bản lĩnh, nghệ thuật ứng xử tuyệt vời của Hồ
Chí Minh"...
Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ
Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những
người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ: “Lần này nếu các đồng chí chấp nhận
bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng
lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ
của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền
Nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng
và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”. Đe dọa cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ
đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung
Quốc đối với Việt Nam. Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho
Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim
ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa,
tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói: “Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?”. Thực tế họ đã giảm kim ngạch viện trợ năm 1970 hơn 50% so với năm 1968. Sự thật là không phải đến năm 1968 những
người lãnh đạo Bắc Kinh mới dùng vấn đề viện trợ để ép Việt Nam. Tháng 4
năm 1966, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói
với một nhà lãnh đạo Việt Nam rằng năm 1964 “đồng chí Mao Trạch Đông
có phê bình chúng tôi là quá nhiệt tâm đối với vấn đề Việt Nam. Bây giờ
chúng tôi mới thấy rõ đồng chí Mao nhìn xa”. Phía Việt Nam đã trả lời:“Sự
nhiệt tình của một nước xã hội chủ
nghĩa đói với một nước xã hội chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần
quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu
các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3
triệu người … Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn
giữ
vững tinh thần quốc tế vô sản”. Từ tháng 11 năm 1968, Bộ Ngoại giao Trung
Quốc đã ra tuyên bố tỏ ý muốn nối lại các cuộc đàm phán Trung Mỹ ở
Vácsava và cùng với Mỹ ký một thoả thuận cùng tồn tại hoà bình. Tiếp đó
phía Trung Quốc đã tích cực đáp ứng những tín hiệu của phía Mỹ. Sau khi
lên làm tổng thống, Níchxơn báo cho phía Trung Quốc là các cuộc thảo
luận giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tiến hành ở Trung Quốc. Phía Trung
Quốc đã trả lời là “ bản thân Níchxơn có thể đến Bắc Kinh hoặc cử một
phái viên đến để thảo luận về vấn đề Đài Loan” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách
mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 11). Thông báo cho phía Việt Nam biết cuộc đi
thăm Bắc Kinh lần thứ nhất của Kítxinhgiơ, ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn
đại biểu cấp cao Trung Quốc đã nói: “Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất
trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kítxinhgiơ. Kítxinhgiơ nói rằng Mỹ
gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài
Loan. Mỹ nói có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài
Loan. Đối với Trung Quốc, vấn đề rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam là
vấn đề số 1. Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên hợp quốc là vấn đề số 2”. Phía Trung Quốc dùng “củ cà rốt”
viện trợ: nếu năm 1968 vì phản đối Việt Nam đàm phán với Mỹ họ đã giảm
kim ngạch viện trợ cho Việt Nam thì năm 1971 và năm 1972, để lôi kéo
Việt Nam đi vào chiều hướng của Bắc Kinh thoả hiệp với Mỹ, họ đã dành
cho Việt Nam viện trợ cao nhất của họ so với những năm trước đó. Đây
cũng là thủ đoạn nhằm che đậy sự phản bội của họ nhằm xoa dịu sự công
phẩn của nhân dân Việt Nam. Đi đôi với tăng thêm viện trợ là sự thúc
ép liên tục để Việt Nam chấp nhận giải pháp của Mỹ. Ngày 18 tháng 7 năm
1971, phía Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam phương án bốn điểm
của Mỹ: rút quân và thả tù binh Mỹ trong 12 tháng kể từ ngày 1 tháng 8
năm 1971, ngừng bắn toàn Đông Dương và giải pháp theo kiểu Giơnevơ năm
1954. Về rút quân, “vì thể diện” Mỹ muốn để lại một số cố vấn kỹ thuật; về chính trị “Mỹ không muốn bỏ Nguyễn Văn Thiệu cũng như không muốn bỏ Xirích Matắc” Trong cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 11 năm 1971 họ nói: “Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải
quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ,
việc đánh đổ nguỵ quyền Sài Gòn là lâu dài”. Sau khi Níchxơn kết thúc chuyến đi thăm
Trung Quốc, Kítxinhgiơ nói với các nhà báo ngày 1 tháng 3 năm 1972 rằng
từ nay Níchxơn và bản thân y “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam” (Me-vin và Béc -na Can-bê: Kít-xinh-giơ. Nhà xuất bản Lít-tơn Brao, Tô-rông-tô, 1974, tr.283). Từ tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom lại và
thả mìn phong toả các cảng miền bắc Việt Nam và đánh phá ác liệt miền
Nam Việt Nam nhằm đối phó với cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm
1972 của nhân dân Việt Nam, cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Nguyễn Văn
Thiệu.Bước phiêu lưu quân sự này chính là hậu quả rõ ràng của sự đồng loã giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Níchxơn. Và ngày 5 tháng 12 năm 1972, đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn chuyển tới phía Việt Nam lời đe doạ của Kitxinhgiơ: “Đàm phán đã đến lúc có hậu quả
nghiêm trọng: Bắc Việt Nam đòi Mỹ hoặc trở lại hiệp định cũ, hoặc nhận
một hiệp định xấu hơn: Mỹ không thể chấp nhận cả hai điều kiện đó. Nếu
Việt Nam cứ giữ lập trường đó thì đàm phán đứt quãng và Mỹ sẽ có mọi
hành động bảo vệ nguyên tắc của mình”. Trước sự câu kết của Bắc Kinh với
Oasinhtơn phản bội nhân dân Việt Nam , nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường
đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ và tin tưởng vào thắng lợi của mình. Khi phía Trung Quốc thông báo với phía
Việt Nam rằng trong chuyến thăm Trung Quốc, Níchxơn cũng sẽ cùng những
người lãnh đạo Trung Quốc bàn về vấn đề Việt Nam, những người lãnh đạo
Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Việt Nam là của chúng tôi; các đồng
chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam . Các đồng chí đã nhận sai
lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”. Khi phía Trung Quốc thông báo chuyến đi thăm Trung Quốc của Níchxơn, những người lãnh đạo Việt Nam nói: “Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, nhân
dân Việt Nam phải thắng. Tới đây, đế quốc Mỹ có thể đánh phá trở lại
miền bắc ác liệt hơn nữa, nhưng nhân dân Việt Nam không sợ, nhân dân
Việt Nam nhất định thắng”. Bất chấp mọi sức ép của Bắc Kinh và
Oasinhtơn, nhân dân Việt Nam không những không nhân nhượng về những vấn
đề có tính nguyên tắc, mà còn trừng trị đích đáng đế quốc Mỹ về những
tội ác của chúng và cuối cùng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam
ngày 27 tháng 1 năm 1973. Dư luận còn nhớ bọn đế quốc và phản động
đã gây ra cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lật đổ chính phủ của
ông hoàng Nôrôđôm Xihanúc, đưa lon Non lên cầm quyền. Lon Non vốn là
người Campuchia gốc Hoa, lại là người của Mỹ, cho nên những người lãnh
đạo Trung Quốc muốn dùng y và bỏ rơi ông Xihanúc. Tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại
giao Trung quốc nói với đại sứ Việt Nam: “Xihanúc không có lực lượng. Việt Nam cần ủng hộ Lon Non; Trung Quốc đón Xihanúc nhưng vẫn quan hệ tốt với đại sứ quán của PhnômPênh “.
29/01/1979: Đặng và Carter ký thỏa thuận lịch sử
Theo
giáo sư sử học Nayan Chanda trong sách "Brother Enemy, The War after
the War", NXB Harcourt Brace Jovanovich xuất bản năm 1986 và nhiều trí
thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu khác thì Hoa Kỳ chính là quốc gia duy
nhất trên thế giới gần như ủng hộ công khai cuộc xâm lược Việt Nam của
Trung Quốc; trái với lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một
mối đe dọa cho hòa bình và ổn định", tuyên bố của Mỹ về cuộc xâm lăng
của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc tấn công Việt Nam
là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia", "Việt Nam ráng chịu",
"Việt Nam gieo gió gặt bão". Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia trên
thế giới đều phản đối mạnh mẽ hành động thô bạo của Trung Quốc, sự cô
lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa
của Bắc Kinh khi đó.
Bức
ảnh này chụp buổi lễ tiễn Pol Pot tại Bắc Kinh ngày 22 tháng 10 năm
1977- là hình ảnh cuối cùng của Pol Pot khi ông ta đang nắm quyền trước
khi bị đẩy vào các khu rừng nhiệt đới hơn hai năm sau đó vào ngày 07
tháng 1 năm 1979. Với hình ảnh Pol Pot mỉm cười vẫy tay ở phía trước,
Đặng Tiểu Bình ở bên trái và Hoa Quốc Phong ở phía trước. Giữa Hoa và
Pol Pot là Ieng Sary, Bộ trưởng ngoại giao và cũng là em (anh) rể của
ông ta . Trong khi Việt Nam chú thích bức ảnh này này như là chuyển thăm
của Pol Pot tới Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình đã vắng mặt trong ngày tổ chức
lễ đón Pol Pot. Việt Nam đã sử dụng bức ảnh chính thức này của Trung
Quốc vào mục đích tuyên truyền để chứng minh sự thông đồng giữa Khmer Đỏ
và Bắc Kinh.
Trong
chuyến thăm Trung Quốc, Pol Pot (bên trái) đã nhận được sự ủng hộ của
Đặng Tiểu Bình cho sự “thành công” của “Kampuchea Dân chủ” trong (việc
xây dựng) một thiết chế xã hội “phi giai cấp” và trong cuộc chiến chống
lại Việt Nam. Ảnh lưu hành chính thức của Trung Quốc (không ghi thời
điểm chụp).
Đại
sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Campuchia, Sun Hua, bên trái, cùng
với Ieng Sary nâng cốc chúc mừng nhau tại Phnom Penh – Bức ảnh không ghi
ngày tháng được Quân đội Việt Nam tìm thấy trong các tài liệu lưu trữ
trong tháng 1 năm 1979 bị Khmer Đỏ bỏ lại khi họ chạy trốn khỏi Phnom
Penh.
Pol
Pot, bên trái phía trước, đi với phái đoàn Trung Quốc do Uông Đông Hưng
(phía trước, bên phải) trong chuyến thăm của phái đoàn này đến
Kampuchea Dân chủ vào ngày 05 Tháng Mười Một 1978. Khieu Samphan và Noun
Chea đi theo phía sau. Trong chuyến thăm này, diễn ra hai tháng trước
khi những người này chạy trốn xe tăng Việt Nam để vào rừng, Pol Pot được
cho là đã yêu cầu viện trợ quân sự khẩn cấp từ Trung Quốc, nhưng yêu
cầu này đã bị từ chối.
Ieng
Sary, Pol Pot, và Son Sen (trái sang phải) cùng nhau tại Bình Nhưỡng.
Bức ảnh không đề ngày này đã được các nhà báo thu thập được sau một cuộc
tấn công (của Việt Nam) vào các căn cứ của Khmer Đỏ.
Ngay sau khi nổ ra cuộc đảo chính ở
PhnômPênh và ông Xihanúc tới Bắc Kinh, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang
Trung Quốc thuyết phục những người lãnh đạo Trung Quốc nên ủng hộ ông
Xihanúc, đồng thời trực tiếp biểu thị với ông Xihanúc sự ủng hộ mạnh mẽ
của Việt Nam đối với ông ta và lực lượng kháng chiến Khơme. Ngày 23 tháng 3 năm 1970, ông Xihanúc
công bố bản tuyên cáo 5 điểm lên án cuộc đảo chính của Lon Non và kêu
gọi nhân dân Campuchia đoàn kết chống đế quốc Mỹ và bè lũ Lon Non. Ngày 25 tháng 3 năm 1970, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố hoàn toàn ủng hộ bản Tuyên cáo đó. Ngày 7 tháng 4 năm 1970, Chính phủ Trung
Quốc mới ra tuyên bố ủng hộ Tuyên cáo của ông Xihanúc. Tuy vậy, họ tiếp
tục có những cuộc tiếp xúc bí mật với chính quyền Lon Non. Chỉ sau khi Níchxơn đưa quân Mỹ xâm lược
Campuchia, gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trên thế giới và ngay
cả ở Mỹ, Chính phủ Trung Quốc mới cắt đứt quan hệ với chính quyền Lon
Non ngày 5 tháng 5 năm 1970. Trong lúc tìm cách nắm trọn vấn đề
Campuchia, những người lãnh đạo Trung Quốc còn mưu toan nắm con đường
vận chuyển quân sự qua ba nước Đông Dương. Trong mấy năm liền cho đến
năm 1972, họ đề nghị giúp làm đường và vận chuyển hàng phục vụ chiến
trường từ miền bắc đến miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia trên con
đường mòn Hồ Chí Minh và hứa cung cấp cho Việt Nam đủ xe, người lái và
khoảng 20 vạn quân nhân Trung Quốc để bảo đảm công việc này. Ý đồ của họ
là qua đó nắm toàn bộ vấn đề Đông Dương để buôn bán với Mỹ và chuẩn bị
bàn đạp đi xuống Đông Nam châu Á. Tất nhiên phía Việt Nam không chấp
nhận đề nghị đó. Nếu trước đây họ ngấm ngầm chia rẽ nhân dân
ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nhằm cô lập Việt Nam thì trong thời
kỳ này họ bắt đầu dùng bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary để phá hoại cách mạng ba
nước Đông Dương, tích cực chuẩn bị biến Campuchia thành bàn đạp để tiến
công Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, từ đó bành trướng xuống
Đông Nam châu Á sau này.
Họ đã phơi trần bộ mặt ghê tởm của kẻ phản bội: phản bội nhân dân Việt
Nam cũng như phản bội nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, chủ tịch Mao Trạch Đông
nói với Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng:“Ở miền Nam Việt Nam cần ngừng (chiến
đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt”. Cách mạng miền
Nam nên “chia làm hai bước . Gộp lại làm một, người Mỹ không chịu đâu.
Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có mấy chục vạn
quân”. Thủ tướng Chu Ân Lai thì nói: “Trong một thời gian chưa có thể nói dứt
khoát là 5 năm hay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì
càng tốt; tranh thủ thời gian đó mà nhân dân miền Nam Việt Nam, Lào,
Campuchia thực hiện hoà bình, trung lập một thời gian”. Những người cầm quyền Bắc Kinh còn khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam, đừng rút lui khỏi Đông Nam châu Á”. (Theo tướng A. Hai-gơ, báo Mỹ Người hướng dẫn khoa học cơ đốc, ngày 20 tháng 6 năm 1979.) Thâm độc hơn nữa, họ tìm cách lôi kéo nhiều
tướng tá và quan chức nguỵ quyền Sài Gòn hợp tác với họ, thậm chí cho
người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào những ngày cuối
của chế độ Sài Gòn để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy
của quân và đan miền Nam Việt Nam. Từ năm 1973, những người cầm quyền Trung
Quốc tăng cường những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những
tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, nhằm làm yếu những cố gắng của nhân
dân Việt Nam trong cuộc đấu trang giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò,
khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình để nhanh chóng khôi phục và
phát triển kinh tế. Ngày 26 tháng 12 năm 1973, phía Việt Nam đề nghị mở
cuộc đàm phán để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, nhằm sử dụng phần biển thuộc Việt Nam phục
vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18 tháng 1 năm 1974 phía Trung
Quốc trả lời chấp thuận đề nghị trên, nhưng họ đòi không được tiến hành
việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ
tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc
Bộ”, vì việc đưa nước thứ ba vào thăm dò “không có lợi cho sự phát triển
kinh tế chung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”. Đó chỉ là
một lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy cuộc đàm phán về
đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ từ tháng 8
đến tháng 11 năm 1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với
thái độ trịch thượng nước lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về
vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ tháng 10 năm
1977 nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt
Nam để duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Trung.
Những
hố chôn tập thể người dân vô tội bị bọn diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary
sát hại, được phát hiện sau ngày giải phóng 7/1/1979 tại “Cánh đồng
chết” Choeung Ek, Campuchia. (Ảnh: TTXVN)
Pháo binh ta bảo vệ biên giới Tây Nam tháng 9/1977. Ảnh: TTXVN
Bộ đội ta truy kích lính Pôn Pốt bảo vệ biên giới Tây Nam cuối năm 1978. Ảnh: Vũ Xuân Bân
Hơn nữa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tức là
một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn
đề vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh
quân nguỵ Sài Gòn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận
lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành
động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam
từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông. Sau Hiệp định Pari về Việt Nam, theo lệnh
của Bắc Kinh, bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary thi hành một chính sách hai mặt
đối với Việt Nam: vừa dựa vào Việt Nam vừa chống Việt Nam. Mặt khác, bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary tìm mọi
cách chống Việt Nam. Chúng vu cáo Việt Nam ký kết Hiệp định Pari là
“phản bội Campuchia một lần nữa” để kích động hận thù dân tộc, gây tâm
lý chống Việt Nam và kiếm cớ thanh trừng những người Campuchia không tán
thành đường lối của chúng. Nhiều lần chúng tổ chức những vụ đánh phá,
cướp bóc kho tàng, vũ khí, tiến công bệnh viện và nơi trú quân của Quân
giải phóng miền Nam Việt Nam đặt trên đất Campuchia. Bằng những thủ đoạn rất thâm độc, kể cả
việc thủ tiêu bí mật những cán bộ cách mạng chân chính, chúng ra sức củng cố
vị trí trong Đảng, nắm toàn bộ quyền lực để biến Đảng cộng sản Campuchia
thành một đảng phụ thuộc Bắc Kinh. Về phần những người cầm quyền Trung
Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt
Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ
không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu,
lệ thuộc Trung Quốc. Họ muốn Việt Nam bị chia cắt lâu dài,
nhưng nhân dân Việt Nam đã đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng hoàn
toàn miền nam và thống nhất nước nhà. Năm 1975, khi chào mừng nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc cũng nói “sẽ
tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự
nghiệp chính nghĩa nhằm củng cố thành quả thắng lợi, thống nhất và xây
dựng Tổ Quốc của nhân dân Việt nam”. Thật ra đây chỉ là lời tuyên bố
giả dối để che dấu sự hằn học của họ đối với sự thắng lợi lịch sử của
nhân dân Việt Nam đang làm nức lòng tất cả những lực lượng cách mạng và
tiến bộ trên toàn thế giới, che giấu những kế hoạch đen tối của họ nhằm
chống lại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Giấu mặt chống Việt Nam không đạt kết quả
mong muốn, những người cầm quyền Trung Quốc quay ra công khai chống Việt
Nam bằng mọi thủ đoạn, kể cả bằng đe dọa vũ lực và dùng vũ lực. Ở phía tây nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh,
sau khi tập trung 19 sư đoàn bộ binh (trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh)
đến sát biên giới Việt Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1978, bè lũ Pôn pốt –
lêng xa ry đã xử dụng những sư đoàn tinh nhuệ nhất của chúng, có xe tăng
và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh
(cách Sài gòn 100 km, với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh,
mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm yếu Việt Nam để
quân Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía bắc.
Một nhóm trong đội thanh niên xung kích ĐHSP Hà Nội 1 trên đường trở về sau chuyến đi biên giới năm 1979 (Ảnh: Mạnh Thường).
Xe tăng Trung Quốc bị bộ đội ta bắn cháy trong cuộc chiến tranh biên giới (Ảnh: Mạnh Thường).
Ở phía bắc, những người cầm quyền Trung
Quốc đã huy động 60 vạn quân, gồm nhiều quân đoàn và sư đoàn độc lập,
nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu
pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các quân khu của Trung
Quốc, điên cuồng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày 17 tháng 2
năm 1979 trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1000 km. Quân của bọn phản
động Trung Quốc đi đến đâu là tàn sát dân thường, kể cả phụ nữ, trẻ sơ
sinh, phá hủy triệt để các bản làng, chùa chiền, nhà thờ, trường học,
vườn trẻ, bệnh viện, nông trường, lâm trường v.v.. Chúng đã hành động
với sự man rợ của một đạo quân ăn cướp thời trung cổ kết hợp với những
thủ đoạn tinh vi của các đội quân xâm lược của đế quốc ngày nay. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc
chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới
lên án và một bộ phân nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm
1979 họ đã buộc phải tuyên bố rút quân, và sau đó đã phải nhận ngồi đàm
phán với phía Việt Nam. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt
Nam, mặc dù được nguỵ trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách
của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính
Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc.
Nhà Xuất Bản Sự Thật
Cuốn sách Sự thật về quan hệ
Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua là một văn kiện quan trọng của
Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công bố ngày 4
tháng 10 năm 1979 nhằm vạch trần bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh đối với nước ta trong suốt một thời gian dài. Cuốn sách này gồm toàn văn bản văn kiện nói trên. Hà Nội /Tháng 10 năm 1979/Nhà Xuất Bản Sự Thật.
Khi một đoàn khách du lịch đến
thăm Bảo tàng Diệt chủng Tuol Sleng, nơi trước kia từng là trường học
sau đó chuyển thành nhà tù và trung tâm tra tấn dưới thời Khơ me Đỏ,
người hướng dẫn viên dừng lại và hỏi có ai trong đoàn đến từ Trung Quốc
không?
Khi không thấy cánh tay nào giơ lên, anh
tiếp tục kể về vai trò của chính quyền Trung Quốc trong nạn diệt chủng
do Khơ me Đỏ gây ra từ năm 1975-1979, khiến ít nhất 1.7 triệu người
Campuchia thiệt mạng.
Sau đó người hướng dẫn viên giải thích vì sao anh hỏi xem có ai trong đoàn đến từ Trung Quốc không: “Vì
người Trung Quốc rất tức giận khi tôi nói rằng chính vì chính quyền
Trung Quốc nên Pol Pot mới có thể giết hại nhiều người như vậy. Họ nói
đó không phải sự thật và: “Giờ chúng ta là bạn rồi, đừng nói về quá
khứ.””
Trong một phát biểu trên truyền hình vào tháng 3/2015, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói: “Là
lãnh đạo của một quốc gia, khi thừa kế thành quả từ những người tiền
nhiệm, họ cũng cần phải gánh vác trách nhiệm về những tội ác của thế hệ
trước". Đối chiếu với phát biểu đó, một số nhà sử học độc lập từ
Trung Quốc đã nhấn mạnh vai trò của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ)
trong tội ác diệt chủng tại Campuchia thời Khơ me Đỏ. Nhà sử học Zhang
Lifan phát biểu: “Chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền những
việc mà họ thấy có lợi và tránh né những vấn đề mà họ có thể bị chỉ
trích, bằng cách kiểm duyệt truyền thông và cấm xuất bản sách”.
Theo bài viết của tác giả Dan Levin trên Thời báo New York, trong thập
niên 70, ông Mao Trạch Đông muốn tạo dựng một nước chư hầu trong thế
giới các nước đang phát triển để đối chọi với sự ảnh hưởng của Mỹ và
Liên Xô.Ra
sức mua chuộc và bức hại Việt Nam, muốn biến Việt Nam thành kẻ thần
phục,thành tên lính xung kích của mình để dần khống chế, lấn chiếm cả
Đông Nam - Á không được, lũ cầm quyền Trung Quốc quay sang sử dụng con
bài Pol Pot – Ieng Sary. Trong một cuộc phỏng vấn, ông Andrew Mertha, tác giả cuốn sách “Brothers
in Arms: China’s Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979,” (tạm dịch: “Huynh
đệ sát cánh: Viện trợ của Trung Quốc cho Khmer Đỏ, 1975-1979”) cho biết:
“Để chứng tỏ là một thế lực đang trỗi dậy, chính quyền Trung Quốc cần thiết lập vây cánh, và họ chọn Campuchia.” Theo
ông Mertha, Giám đốc chương trình Nghiên cứu Trung Quốc và châu Á Thái
Bình Dương tại Đại học Cornell, Trung Quốc đã cung cấp ít nhất 90% viện
trợ nước ngoài cho Khơ me Đỏ, từ lương thực và thiết bị xây dựng đến xe
tăng, máy bay và trọng pháo. Thậm chí khi Khơ me Đỏ đang tàn sát người
dân Campuchia thì các kỹ sư Trung Quốc và các cố vấn quân sự tiếp tục
đào tạo đồng minh Cộng sản này ở Campuchia. Ông nói: “Nếu không có trợ giúp của chính quyền Trung Quốc thì chính quyền Khơ me Đỏ đã không thể tồn tại được 1 tuần.”. Theo lời khai của cựu viên chức Khơ me Đỏ, Youk Chhang, một người còn
sống sót thời diệt chủng và từng là giám đốc Trung tâm Tài liệu
Campuchia, thì: “Các cố vấn Trung Quốc đã ở đây, sát cánh
cùng Khơ me Đỏ, từ cai ngục đến các lãnh đạo cao nhất. Nhưng chính quyền
Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận và xin lỗi về điều này.” Theo tờ
The Diplomat, các học giả cho rằng có khoảng 5.000 cố vấn và kỹ thuật
viên của Trung Quốc có mặt tại Campuchia thời điểm đó để hỗ trợ chính
quyền Khơ me Đỏ. Lao Mong Hay, cựu giám đốc của Viện Dân chủ Khmer tại Phrom Penh nói: “Trung
Quốc nợ người dân Campuchia một lời xin lỗi. Họ đã ủng hộ Khơ me Đỏ
trước và trong khi nắm chính quyền bất kể điều gì xảy ra với người dân
Campuchia.” Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã viện trợ 1 tỷ USD cho
Khơ me Đỏ trước năm 1979 và thêm 1 tỷ USD nữa sau năm 1979 để họ đánh
lại quân Việt Nam ở Campuchia.
Năm nay tròn 25 năm ngày quân đội Việt Nam triệt thoái khỏi Campuchia. Hơn 39.000 binh lính VN đã thiệt mạng trong khoảng mười năm can thiệp ở Campuchia. Liên Hợp Quốc từng cho phép chính quyền Khmer Đỏ sau khi bị sụp đổ được giữ ghế ở LHQ. Trung Quốc không ủng hộ nhiều cho phiên tòa xét xử Khmer Đỏ, theo nhà nghiên cứu người CampuchiaNguyên nhân của diệt chủng đã được thế giới phân tích kỹ, phần lớn
chuyên gia cho rằng chính quyền Pol Pot đã nóng vội thực thi Chủ nghĩa
Cộng sản một cách cực đoan và bạo lực. Mong muốn của chính quyền Khơ me
Đỏ là hoàn thành Chủ nghĩa Cộng sản “trong sạch” trong vài ba năm, tiêu
diệt hết những gì khác biệt. Dù vậy nguồn gốc phải xuất phát từ những
học thuyết và tư tưởng ảnh hưởng đến Pol Pot từ ban đầu.
Thực tế, Pol Pot là người tôn thờ Mao Trạch Đông. Đầu năm 1965, Pol Pot
đến thăm Trung Quốc 4 lần để đích thân nghe Mao Trạch Đông thuyết giảng.
Có lẽ đó là một mớ hổ lốn lý luận cách mạng vô sản và cách hiểu sai
nghĩa những câu nói của Lão Tử. Chẳng hạn, Lão Tử từng nói: "Dứt thánh
bỏ trí dân lợi gấp trăm, dứt nhân bỏ nghĩa dân lại hiếu từ, dứt xảo bỏ
lợi, không có trộm giặc", "Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì
không làm cho dân khôn lanh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu, thuần phác,
dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu", và: "Chính lệnh rõ ràng thì dân kiêu bạc", hay: "Dân không sợ chết thì sao
lại dùng tử hình dọa dân? Nếu làm cho dân luôn sợ chết mà có kẻ nào phạm
pháp ta cũng bắt được và giết hết thì ai còn dám phạm pháp nữa?". Ngay từ tháng 11/1965, Pol Pot đã ở Trung Quốc 3 tháng để đàm luận với
các lãnh đạo Trung Quốc về các lý thuyết như “quyền lực chính trị lớn
lên từ nòng súng”, “đấu tranh giai cấp”, “chuyên chính vô sản” v.v… Sau
đó, những điều này đã trở thành cơ sở cho cách thức Pol Pot cai trị
Campuchia. Sau khi quay trở về Campuchia, Pol Pot đổi tên đảng của mình
thành Đảng Cộng sản Campuchia và dựng lên các cơ sở cách mạng theo mô
hình quây tròn các thành phố khỏi các vùng nông thôn của ĐCSTQ. Có thể
coi Trung Quốc đã ‘xuất khẩu’ những ‘Cách mạng văn hóa’, ‘Đại nhảy vọt’
sang đất nước Campuchia dưới thời Khơ me Đỏ. Sau chiến thắng của Đảng Cộng sản Campuchia năm 1975, Pol Pot đã vội vã
bắt đầu thiết lập Chủ nghĩa xã hội — một thiên đường trong xã hội loài
người — không có khác biệt giai cấp, không có cách biệt giữa thành thị
và nông thôn, không có tiền tệ và thương mại. Cuối cùng thì, các gia
đình đã bị xé nát và thay thế bằng các đội lao động nam và các đội lao
động nữ. Tất cả đều phải làm việc và ăn chung, và mặc các bộ quần áo
đồng phục cách mạng màu đen hoặc quần áo bộ đội. Các cặp vợ chồng chỉ
được gặp nhau một tuần một lần khi được duyệt. Tuyên bố rằng đất nước
bắt đầu lại từ đầu và gọi là “Năm số 0”, Pol Pot đã cách ly người dân
khỏi thế giới và biến các thành phố trở lên hoang vắng, loại bỏ tiền tệ
và sở hữu cá nhân, loại bỏ tôn giáo và thiết lập các hợp tác xã nông
thôn. Bất cứ ai bị coi là trí thức đều bị giết, ngay cả những người đeo
kính hoặc biết ngoại ngữ. Các bệnh viện và các bác sỹ cũng bị xóa sổ.
Ảnh: Lính Trung Quốc bị quân dân Việt Nam
bắt năm 1979. Nguồn Internet
ĐCSTQ không chỉ ảnh hưởng đến Khơ me Đỏ về tư tưởng mà còn các biện pháp
thực thi bạo lực. Các nhà tù thời Khơ me Đỏ nổi tiếng các hình thức tra
tấn và giết người vô tội vạ. Những ít người biết rằng chính các “các
chuyên gia và các kỹ thuật viên chuyên nghiệp” của chính quyền Trung
Quốc đã truyền dạy cho Khơ me Đỏ tất cả các cách tra tấn này. Trung Quốc
thậm chí còn đào tạo những người chụp ảnh để chuyên chụp ảnh các tù
nhân trước lúc họ bị giết chết để lưu lại làm hồ sơ hoặc là để giải trí.
Các hình thức tra tấn khủng khiếp còn được ĐCSTQ tiếp tục khai thác
trong nhà tù ở chính đất nước họ trong nhiều năm về sau.
Rõ ràng là, nếu tội ác diệt chủng của Khơ me Đỏ mà không dựa vào các lý
thuyết và hỗ trợ vật chất của ĐCSTQ, thì nó đã không thể thực hiện được.
Như vậy Trung Quốc đã đóng vai trò lớn trong việc 1,7 triệu người dân
Campuchia bị giết hại dã man, một trong những vụ tàn sát lớn nhất của
thế kỷ 20.
Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh - Tháng 6/1964
Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt, người lấy "dĩ bất biến, ứng vạn biến" làm phương châm hành động.
***
Tức nước vỡ bờ, ngay từ năm 1975, trong đất nước Cam-pu-chia đã nhóm
lên những ngọn lửa phản kháng. Bắt đầu từ chính những cán bộ, đảng viên
trong hàng ngũ của Pôn Pốt, sau đó, lan dần sang các tầng lớp công nhân,
trí thức, nông dân. Từ năm 1975 đến 1978, không chịu nổi chế độ hà khắc
của bọn Pôn Pốt, nhân dân Cam-pu-chia ở nhiều vùng nổi dậy chống lại
chúng. Các phong trào tự phát nổi lên với các khẩu hiệu: “Đòi lật đổ
chính quyền xã, huyện”, “Hòa bình rồi, đừng chiến tranh nữa” ở Kông-pông
Thom, Xiêm Riệp, “Đòi cho tự lập gia đình”, “Bãi bỏ hôn nhân tập thể”,
“Cải thiện đời sống cho chúng tôi” ở vùng Tây Nam Cam-pu-chia, “Đừng
giết người Chàm” ở Kông-pông Chàm, “Đòi tự do đi lại”, “Đòi đoàn kết dân
tộc”, “Đòi cứu nguy cho Quốc vương Xi-ha-núc”, “Yêu cầu quốc tế can
thiệp” ở Phnôm Pênh... Nhưng càng đấu tranh, nhân dân Cam-pu-chia càng
bị đàn áp, giết chóc, số người ly khai ra rừng lánh nạn đến hơn 10 vạn. Trong hàng triệu người Cam-pu-chia phản kháng chế độ Pôn Pốt, sự phản
kháng của những người là lãnh đạo đảng các cấp, chỉ huy quân đội, đảng
viên của chế độ Pôn Pốt mang ý nghĩa đặc biệt. Chính họ là những người
nhen lại ngọn lửa cách mạng ở đất nước Cam-pu-chia, những người xác định
con đường cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, lãnh đạo
nhân dân Cam-pu-chia hồi sinh đất nước, xây dựng xã hội mới.
Chủ
tịch Mao Trạch Đông tiếp đón cấp lãnh đạo Khmer Đỏ tại Bắc Kinh, từ
trái: Mao Trạch Đông, Pol Pot và Ieng Sary. Khmer Đỏ rập khuôn theo Mao,
được hậu thuẫn và viện trợ tối đa của Bắc Kinh, đã tiến chiếm Nam Vang
17.04.1975 khởi đầu một chế độ diệt chủng với 2 triệu người chết, trong
đó không ít nạn nhân là người Việt, người Chăm Islam trong khoảng thời
gian từ 1975-1979. [nguồn: photo AFP]
Pol Pot gặp gỡ Đặng Tiểu Bình, tháng 9/1977, tại Bắc Kinh. (Ảnh: Internet)
Bộ trưởng Quốc Phòng Khmer Đỏ Son
Sen (giữa), đứng bao quanh bởi các cố vấn Trung Quốc 1977 [nguồn: Trung
tâm Tài liệu Cambodia].
Cán bộ Khmer Đỏ Um Sarun đứng giữa, cùng với
các cố vấn quân sự Trung Quốc, đám cố vấn TQ cũng mặc pyjama đen cổ
quấn khăn rằn và hiện diện rất kín đáo [nguồn: Trung tâm Tài liệu
Cambodia]
Ngày
17 tháng 4 năm 1975, lực lượng Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh tiến vào thủ
đô Campuchia, đánh dấu bước ngoặt quyết định của nội chiến.
Tháng 6-1977, ông Hun Xen, một cán bộ chỉ huy trung đoàn, ly khai quân
Pôn Pốt, dẫn đầu 16 người chạy sang Việt Nam. Cũng trong năm 1977, nhiều
cán bộ Cam-pu-chia các tỉnh Đông Bắc chạy sang Gia Lai, Kon Tum. Đó là
số cán bộ tập kết ra miền Bắc, về nước thấy sự phản đảng của bọn Pôn Pốt
nên chạy trở lại Việt Nam, gồm đồng chí Bu Thoong, Xoi Keo, Đi Phin…
Các ông Pen Gút, Hưu Xem, Phách Xem, Pen Ủng, đoàn của ông Úc Bun-xươn
chạy sang Tây Ninh; ông Chăn Ven, ông Xim Sông chạy sang Quân khu 9.
Tiếp đó là các ông Hêng Xom-rin, Chia Xim. Đến gần cuối năm 1978, đã có
107 người là lãnh đạo từ cấp trung đoàn tới cấp quân khu Cam-pu-chia
chống chế độ Pôn Pốt sang Việt Nam.
Được sự giúp đỡ tận tình của Việt Nam, những người ly khai chế độ Pôn
Pốt mà hầu hết là đảng viên Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia tiến
hành tập hợp lực lượng, xây dựng đường lối giải phóng nhân dân
Cam-pu-chia. Từ ngày 26 đến 29-11-1978, ban tổ chức Đại hội Ủy ban Trung
ương Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tại Trường Công an
Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh), có 108 đại biểu gồm: Đoàn cán bộ tập kết ra
miền Bắc năm 1954 rồi ở lại Việt Nam công tác có 42 người, đoàn Quân khu
Đông: 35 người, đoàn sang từ tháng 6-1977: 16 người, đoàn Đông Bắc: 11
người, nhân sĩ: 4 người. Đại hội đã bầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn
kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia gồm 15 người, do ông Hêng Xom-rin làm
Chủ tịch, ông Chia Xim làm Phó chủ tịch và ông Rua Xa-may làm Tổng thư
ký. Ngày 2-12-1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia ra
mắt. Buổi lễ ra mắt tổ chức ở vùng Snun, tỉnh Kra-chê, vừa được giải
phóng khá rầm rộ. Có đại diện của các tiểu đoàn và đội công tác vũ trang
của bạn, hàng trăm người Cam-pu-chia có đại diện các giai cấp, tôn
giáo, dân tộc, tầng lớp nhân dân ở Cam-pu-chia đến dự. Khi thấy Đoàn chủ
tịch mặt trận xuất hiện, có cả nhà sư mặc áo cà sa, mọi người dự lễ đều
quỳ xuống vái lạy rất trọng thị. Ai cũng tỏ lòng phấn khởi có người
lãnh đạo, nhất định nhân dân Cam-pu-chia sẽ thoát khỏi ách diệt chủng do
bọn Pôn Pốt-Iêng Xa-ri gây nên.
Thủ
tướng Hun Sen thời trẻ (giữa) tại Việt Nam. Ông từng là trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 21 Khmer Đỏ. Được trưng bày tại Nhà Văn
hoá xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước - Ảnh: Hữu Khoa
Làm nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Cam-pu-chia trên đất Việt
Nam là những người đảng viên chân chính của Đảng Nhân dân Cách mạng
Cam-pu-chia. Ngày 4 và 5-1-1979, các đảng viên cũ của Đảng Nhân dân Cách
mạng Cam-pu-chia tập trung về trạm 66B, cư xá Mỹ cạnh dinh Độc Lập, ở
TP Hồ Chí Minh để tiến hành đại hội khôi phục lại đảng, bầu ra Ban Chấp
hành Trung ương mới và công nhận đảng viên của đảng. Cũng tại đại hội
này, Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia cử ra Chủ tịch nước và thành
phần Chính phủ để về ra mắt nhân dân Cam-pu-chia ngay khi đất nước được
giải phóng, tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III, gồm 62 đại biểu. Đại
hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 7 người: Pen Xô-van làm Tổng
Bí thư, các đồng chí Hêng Xom-rin, Chia Xim làm Ủy viên thường vụ, các
đồng chí Hun Xen, Bu Thoong, Văn Son, Chăn Xi làm Ủy viên Trung ương. Từ đây, cách mạng Cam-pu-chia có lực lượng lãnh đạo. Đó là những con
người được tôi luyện trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kinh
qua chiến tranh gian khổ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, trung thành
với lợi ích của dân tộc và nhân dân, nắm vững xu thế phát triển của thời
đại, có tinh thần quốc tế, tin tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam, đoàn kết
chặt chẽ với nhân dân Việt Nam. Sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối
của các nhà lãnh đạo cách mạng ly khai chế độ Pôn Pốt đã tập hợp được
nhân dân Cam-pu-chia, những người đã sống uất hận trong chế độ diệt
chủng vùng lên đấu tranh, sát cánh cùng quân và dân Việt Nam lật đổ tập
đoàn phản động Pôn Pốt cùng chế độ quái thai do chúng dựng lên. Ngày 3-11-1978, được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng nổi dậy chống
lại chế độ Pôn Pốt-Iêng Xa-ri tiến công căn cứ Sê-rê-ca của quân Pôn
Pốt ở phía Tây Bắc Đầm Be (Công-pông Chàm). Sau một giờ chiến đấu, lực
lượng nổi dậy làm chủ căn cứ, tiêu diệt hơn 100 tên, thu một kho vũ khí,
đạn dược và đồ dùng quân sự. Phong trào nổi dậy chống lại chế độ diệt
chủng Pôn Pốt-Iêng Xa-ri lan rộng khắp cả nước, không chỉ lớn về quy mô
mà còn có bước chuyển mới về tổ chức và phương thức đấu tranh. Đã có sự
phối hợp giữa các lực lượng, giữa thành thị với nông thôn; đã biết kết
hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa nổi
dậy của quần chúng với binh biến của binh lính.
Tháng 11-1978, tại Quân khu Đông, lực lượng nổi dậy hoạt động mạnh ở
các huyện Cam-chơ-rích, Tơ-nang Khơ-mun (Công-pông Chàm). Tại Quân khu
Đông Bắc, hàng trăm nhân dân vùng Siêng-pạng (Stung Treng) và vùng
Bô-keo (Ra-ta-na-ki-ri) nổi dậy chống lại việc bắt thanh niên đi lính
cho Pôn Pốt. Nhiều truyền đơn kêu gọi nhân dân khu Đông và Đông Bắc cùng
đồng bào cả nước đoàn kết, đấu tranh đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn
Pốt-Iêng Xa-ri, phản đối việc chính quyền Pôn Pốt-Iêng Xa-ri gây chiến
tranh biên giới với Việt Nam, đòi xây dựng nước Cam-pu-chia hòa bình,
độc lập, tự do, hạnh phúc. Cuối tháng 11, đầu tháng 12-1978, phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân Cam-pu-chia phát triển ngày càng mạnh mẽ và giành nhiều thắng
lợi. Đầu tháng 12-1978, lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh Môn-đôn-ki-ri
đánh chiếm một căn cứ địch, diệt hơn 100 tên, thu nhiều súng đạn và
lương thực. Tiếp đó, nhân dân hai huyện Sơ-lông và Crô-chơ-mia
(Công-pông Chàm) nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số xã. Ở Quân khu 203
và Quân khu Đông Bắc, nổ ra nhiều vụ binh biến của binh lính.
Sau Chiến tranh Việt Nam,
Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tranh chấp và xung đột
biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung
đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi giải phóng Sài Gòn.
Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc,
sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở
đảo Thổ Chu.
Tức giận vì hành vi gây hấn của Khmer Đỏ, Hà Nội phản công giành lại
các đảo này.
Trong lúc quân và dân ta đang nỗ lực giải quyết nhiều công việc trọng
đại sau chiến tranh, từ đầu tháng 5-1975 đến cuối năm 1978, tập đoàn
phản động Pol Pot - Ieng Sary đã mở nhiều cuộc tấn công xâm lấn vào sâu
lãnh thổ nước Việt Nam, đưa quân chiếm một số đảo ở vùng biển Tây Nam,
thảm sát dân thường dọc biên giới Tây Nam, xâm phạm thô bạo độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp
quốc tế, gây tổn hại cho mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Campuchia.
Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài
sản của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta một mặt chỉ đạo các quân khu, địa
phương, đơn vị tăng cường chuẩn bị lực lượng và thế trận, kiên quyết đập
tan các cuộc tiến công xâm lược của địch; mặt khác, kiên trì chủ trương
xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, tìm cách cứu vãn hòa bình,
nhiều lần đề nghị đàm phán với Chính phủ Campuchia Dân chủ nhằm giải
quyết những bất đồng. Song, tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sary không
những cự tuyệt, khước từ mọi thiện chí của ta mà còn đẩy mạnh hoạt động
chống phá, xâm lược Việt Nam. Đỉnh điểm là ngày 23-12-1978, quân Pol
Pot huy động 10/19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công
trên toàn tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam.
Bộ đội C5 lực lượng vũ trang tỉnh An Giang đánh trả quân Pol Pot xâm lược năm 1978. Ảnh tư liệu
Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam
và Trung Quốc
đang xấu đi. Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn
Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực
lượng vũ trang Khmer Đỏ. Tiếp
theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh
nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập quy mô lớn
vào Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977,
quân chính quy Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một
số vùng ở tỉnh An Giang
và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào
ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm
nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh),
đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất
tích. Để trả đũa, ngày 31 tháng 12 năm 1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân
dân Việt Nam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới
rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, mang theo một số nhân vật quan
trọng bên phía Campuchia, trong đó có cả Thủ tướng tương lai Hun Sen.
Cuộc tấn công này được xem là lời "cảnh cáo" cho Khmer Đỏ. Phía Việt
Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự
dọc biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn. Ngày
1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản của Pol Pot họp bàn chủ
trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị
quyết của họ có ghi: "Chỉ
cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài
ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2
triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam".
Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa
phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 5–20 km
{ Thanh niên xung phong Thành phố tham gia chiến đấu trên chiến trường
biên giới Tây Nam, năm 1978 (Nguồn: Tư liệu Trung tâm Thông tin Triển
lãm).}
Nguyễn Ngọc Chiến và đồng đội năm 1978 (Ảnh Phóng viên Báo QĐND)
Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc
vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Từ năm 1975 cho
tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong
các cuộc tấn công dọc biên giới.
Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua
đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không
chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hợp Quốc không có biện pháp gì
phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây
hấn của Khmer Đỏ. Việt Nam phải chuyển sang sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc xung đột. Từ tháng 12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, hơn 30 vạn thường dân
Việt Nam phải tản cư vào sâu trong nội địa, bỏ hoang 6 vạn ha đất sản
xuất. Theo cuốn "Cuộc chiến tranh bắt buộc" của Đại tá Quân đội Nhân dân
Việt Nam Nguyễn Văn Hồng, trong các trận đánh dọc biên giới trong giai
đoạn này, Việt Nam bị thương vong 8.500 bộ đội, trong đó số chết là gần
3.000 người. Ngày
13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc,
Khmer Đỏ đã huy động 19 trong 23 sư đoàn (khoảng 80.000 đến 100.000
quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Ba sư đoàn
đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào
Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư
đoàn đánh Trà Phô, Tà Teng (xã Phú Mỹ huyện Giang Thành tỉnh Kiên
Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt
chủng đối với người Việt, như đã làm với người Khmer.
Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến,
đồng thời tiêu hao sinh lực của quân Khmer đỏ. Các hướng tiến quân của
Khmer Đỏ bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên
bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị
chiếm. Theo thống kê từ Việt Nam, từ tháng 6-1977 đến tháng 12-1978, họ
đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác. Theo Tạp chí Time,
quân Việt Nam tiến hành các cuộc không kích và giao tranh trên bộ, đánh
vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer
Đỏ trước khi quân Việt Nam bắt đầu chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 17
ngàn quân Khmer Đỏ. Tới
đầu tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam được hỗ trợ bởi một số tiểu
đoàn Khmer thân Việt Nam đã kiểm soát một vùng đệm dọc biên giới trong
lãnh thổ Campuchia, từ Mimot đến Snuol ở các tỉnh Kampong Cham và
Kratié. Ở phía Bắc, quân Việt Nam cũng kiểm soát một vùng rộng thuộc
lãnh thổ Campuchia dọc theo đường 19.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân,
quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi
quân Khmer Đỏ. Sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc
tấn công nhằm đánh bật các Trung đoàn 23 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn
13 thuộc Sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ
13 sát biên giới. Tuy nhiên chiến cuộc chưa chấm dứt, quân đội Việt Nam
quyết định mở cuộc tấn công phòng ngừa vào Campuchia.
Hàng trăm binh sĩ Khmer Đỏ bị quân ta bắt khi
chúng xâm lấn biên giới Việt Nam ở 2 huyện Bảy Núi và Tịnh Biên, tỉnh An
Giang 19/1/1978
Quân tình nguyện Việt Nam và trẻ em Campuchia. Ảnh: Tư liệu.
Sau
khi đánh tan sức kháng cự của quân Khmer Đỏ, các lực lượng Việt
Nam thuộc Quân khu 5 nhanh chóng hành tiến theo đường 19, sư đoàn 309
quét sạch tỉnh Ratanakiri, phía Bắc tỉnh Mondolkiri và tiến vào phía Bắc
tỉnh Stung Treng. Sư đoàn 307 tiến theo đường 19, dùng cầu phao vượt
sông Srepok và sông Mekong. Tới ngày 1 tháng 1 năm 1979, lực lượng Quân
khu 5 tiến dọc sông Mekong chiếm được Stung Treng. Cùng thời gian, Sư đoàn 5 thuộc Quân khu 7 tiến từ hướng đông, cùng
Sư đoàn 303 tiến theo hướng tây bắc từ Snuol cùng đánh vào Kratié do Sư
đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 phòng thủ. Các sư
đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong
cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 bị tập
kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33,
sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa.
Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và
suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn. Tuy nhiên, sau khi không chặn được
quân Việt Nam, quân Khmer Đỏ phải rút lui, và tới ngày 29 tháng 12,
thành phố Kratié
rơi vào tay quân đội Việt Nam. Cùng lúc, Sư đoàn 302 tiến về phía Tây
đã chiếm được Kampong Cham. Sau đó, hai Sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại
đánh chiếm thị xã Chhlong
do Sư đoàn 603 Khmer Đỏ chống giữ. Ngày 4 tháng 1, họ chiếm được
Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông
Mekong coi như bị mất. Sáng ngày 31 tháng 12, được pháo binh bắn yểm trợ, xe tăng và bộ binh
Quân đoàn 3 Việt Nam tiến công và nhanh chóng đánh tan 5 sư đoàn quân
Khmer Đỏ trên toàn tuyến phòng thủ dọc theo biên giới ở tỉnh Kampong
Cham. Tới cuối ngày, trừ sở chỉ huy quân Khmer Đỏ, toàn bộ các cứ điểm
còn lại thất thủ, quân Khmer Đỏ rút chạy về thị trấn Kampong Cham ở bờ
tây sông Mekong, bị quân Việt Nam truy kích ráo riết. Không
quân Việt Nam cũng tham chiến, tấn công vào tuyến phòng thủ của Khmer
Đỏ và ném bom phá hủy một sân bay mà từ đó máy bay T-28
Khmer Đỏ xuất kích ném bom vào các toán quân tiền phương Việt Nam. Sáng
ngày 1 tháng 1 năm 1979, sau khi tập hợp lại lực lượng, Quân đoàn 3
đánh chiếm sở chỉ huy Khmer Đỏ sau một giờ giao chiến quyết liệt. Tướng
Kim Tuấn hạ lệnh cho các đơn vị dưới quyền truy quét và tiêu diệt các
lực lượng Khmer Đỏ còn sót lại. Tới ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 320 đã tiến
tới bờ đông của bến phà Kampong Cham bên bờ sông Mekong. Tại đây sư đoàn
dừng lại, rồi dùng 2 đại đội xe bọc thép mở đường, đánh về phía nam
chiếm thủ phủ tỉnh Prey Veng.
Pônpốt - Pol Pot (/pɒl pɒt/; Khmer: ប៉ុល ពត; 19/05/1925 – 15/04/1998)
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia;
Thủ tướng Chính phủ Campuchia Dân chủ
Kẻ chủ mưu tàn sát dân tộc Campuchia và trực tiếp gây ra cuộc chiến tranh
biên giới Tây - Nam, giết hại đồng bào Việt Nam tại biên giới.
Biệt danh anh Cả Khmer Đỏ
Người Khmer gốc Hoa
Nuon Chea (Khmer: នួន ជា; 07/07/1926).
Phó tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia;
Biệt danh anh Hai Khmer Đỏ
Người Khmer gốc Hoa, tên tiếng Hoa là Lau Ben Kon 劉平坤 Lưu Bình Khôn
Ieng Sary (Khmer: អៀង សារី; 24/10/1925 – 14/03/2013)
Phó Thủ tướng; Bộ trưởng Ngoại giao chế độ Khmer đỏ
Biệt danh anh Ba Khmer Đỏ
Tên khác là Thạch Rẹm, Kim Trang. Con ông Thạch Trân (Kim Riem -
người Khmer Nam Bộ) và bà Trần Thị Lợi (người Việt lai Hoa), sinh ở xã
Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Ta Mok 塔莫 (Khmer: តាម៉ុក; tên lúc nhỏ Chhit Choeun 切春 Thiết Xuân, 1926 – 21/07/2006)
Tổng Tư lệnh mặt trận Đông - Nam quân đội Khmer đỏ.
Tổng tư lệnh quân đội
Biệt danh anh Tư, Đồ Tể
Người Khmer gốc Hoa. Tên tiếng Hoa là Ta Mok 塔莫 Tháp Mạc, có thể là cách gọi của 莫爺 Mạc Gia, ông Mạc, (thằng) cha họ Mạc.
Khieu Samphan (tiếng Khmer: ខៀវ សំផន; sinh năm 1931)
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Campuchia Dân chủ
Biệt danh anh Năm
Người Khmer gốc Hoa. Tên tiếng Hoa là 乔森潘 Kiều Sâm Phan.
Duch (sinh 17 tháng 11 năm 1942)
Chỉ huy nhà tù Tuol Sleng giết hại 16.000 tù nhân Campuchia
Người Khmer gốc Hoa, tên tiếng Hoa là Khang Khek Ieu, Kaing Guek Eav
康克由 Khang Khắc Do hoặc 江玉耀 Giang Ngọc Diệu (កាំង ហ្គេកអ៊ាវ), còn gọi là
Đồng chí D[e]uch (មិត្តឌុច); hay Hang Pin
Nhà mồ Ba Chúc, thuộc xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang Thiết giáp chở quân M-113 - thiết vận xa M-113 Xe tăng lội nước Type-63, do Trung quốc chế tạo, tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85. A-37 Dragonfly là máy bay cường kích phản lực hạng nhẹ 2 động cơ với tổ bay hai người. Trực thăng quân sự đa năng Bell UH-1 Iroquois UH-1 Huey UH-1A 61-K
(tiếng Nga: 37-мм автоматическая зенитная пушка образца 1939 года
(61-К)) là một loại pháo phòng không có cỡ nòng 37 mm do Liên Xô sản
xuất từ năm 1939
Trong
thời gian đó, ngày 28 tháng 12, ở hạ lưu đồng bằng sông Mekong,
lực lượng Khmer Đỏ thuộc Quân khu Đông Nam mở cuộc tấn công phòng ngừa
dọc biên giới. Quân Khmer Đỏ tiêu diệt một số đơn vị Quân khu 9 bảo vệ
biên giới và chiếm một vùng rộng lãnh thổ Việt Nam dọc theo kênh Vĩnh
Tế. Cuộc tấn công này làm cho tình hình Quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Hữu An
trở nên rất khó khăn. Quân Khmer Đỏ đã chiếm được khu vực đầu cầu mà
Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 9 định dùng để tiến vào Campuchia,
đồng thời giành được một chiến lũy tự nhiên cản đường tiến của quân Việt
Nam. Sau khi nhận được sự chấp thuận từ Bộ chỉ huy, sáng ngày 31 tháng 12,
sư đoàn 4 của Quân khu 9 và Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 phối thuộc mở
cuộc phản công. Sau 24 giờ giao tranh kịch liệt, quân Việt Nam đã đánh
lui quân Khmer Đỏ khỏi bờ tây kênh Vĩnh Tế.
Chiều ngày 1 tháng 1, được pháo binh và không quân yểm trợ, Lữ đoàn
công binh 219 thuộc Quân đoàn 2 bắc cầu phao vượt sông. Sư đoàn 304 và
Lữ đoàn xe bọc thép 203 mở đường tiến vào đất Campuchia. Tới trưa ngày 3
tháng 1, Quân đoàn 2 và Quân khu 9 đã tiêu diệt hoặc đánh tan tất cả
các lực lượng Khmer Đỏ ở hạ lưu sông Mekong dọc biên giới. Sở chỉ huy
Quân khu Tây Nam của Khmer Đỏ phải rút về Takéo. Sau ba ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, Quân đoàn 4 với sự
yểm trợ của không quân, trực thăng, pháo binh, hải quân, thiết giáp...
quân Việt Nam đánh bật được quân Khmer Đỏ khỏi các vị trí Năm Căn, Hòa Hội
dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các Sư đoàn 703, 340, 221 của
Khmer Đỏ phải rút về thành lập một tuyến phòng thủ mới tại Svay Rieng, tập trung ở cầu Don So. Được 15 xe tăng và xe bọc thép mở đường, cùng với pháo 105mm, 155mm
bắn yểm trợ, Sư đoàn 7 của Quân đoàn 4 mở cuộc tấn công vào quân Khmer
Đỏ ở Don So. Tuy nhiên sau hai ngày giao chiến với nhiều tổn thất, Sư
đoàn 7 vẫn chưa chọc thủng được tuyến phòng phủ của Khmer Đỏ. Tới đêm
ngày 1 tháng 1, tướng Hoàng Cầm hạ lệnh cho Sư đoàn 7 tung hết lực lượng
dự bị vào trận. Quân
Khmer Đỏ kháng cự dữ dội, nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh,
quân Khmer Đỏ đã bị mất tinh thần, hơn nữa, do phải chấp nhận một trận
đánh quy ước với một địch thủ có hoả lực, quân số và kinh nghiệm chiến
trường trội hơn quá nhiều, nên quân Khmer Đỏ bị tan rã. Tuyến phòng thủ
Svay Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân Khmer Đỏ phải rút về Prey
Veng và Neak Luong, chỉ để lại một số đơn vị đánh cầm chân Quân đoàn 4. Tới
ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam đánh tan các sư đoàn chủ lực
của Khmer Đỏ án ngữ các trục đường số 1, 7 và 2 ở lối vào Phnom Penh.
Chiều ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 7 chiếm được cầu Don So và tới ngày 4
tháng 1 đã làm chủ toàn bộ vùng phía đông sông Mekong. Tới ngày 5 tháng
1, Sư đoàn 7 tiến đến Neak Luong.
Ngày 6 tháng 1, các đơn vị Việt Nam vượt sông Mekong qua ngả Neak
Luong và bắc Kompong Cham. Chín sư đoàn quân Việt Nam làm thành hai gọng
kìm tiến vào Phnom Penh từ phía Đông Nam và phía Bắc: Sư đoàn 7 và Sư
đoàn 2 di chuyển theo quốc lộ 1, Sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn
phía nam và Sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Một toán đặc công nhảy dù
xuống Phnom Penh để giải cứu Hoàng thân Sihanouk nhưng bị Khmer Đỏ phát hiện và tiêu diệt hết, chỉ duy nhất một người sống sót. Tại Kompong Cham, Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn
cũng giao tranh quyết liệt với quân Khmer Đỏ để vượt sông. Quân Khmer
Đỏ thiết lập trận địa phòng ngự dọc bờ tây sông Mekong với nhiều ổ súng máy, súng cối
bắn trùm lên mặt sông để ngăn thuyền chở quân Việt Nam đổ bộ. Xa hơn
một chút, quân Khmer Đỏ bố trí xe tăng, xe bọc thép, pháo 105mm, 122mm
và 155mm để bắn vào quân Việt Nam đang tập trung ở bờ đông sông Mekong.
Đêm ngày 5 tháng 1, một toán quân gồm lính trinh sát, công binh và bộ
binh định vượt qua bờ sông chiếm một đầu cầu nhỏ, nhưng quân Khmer Đỏ
đánh bật họ lại. Tướng Kim Tuấn
quyết định dùng hỏa lực áp đảo bắn vào trận địa phòng thủ của quân
Khmer Đỏ, rồi cho thả khói mù, dùng thuyền chuyển quân sang bờ tây. Mặc
dù rất nhiều thuyền bị trúng đạn của quân Khmer Đỏ, Quân đoàn 3 cuối
cùng cũng đã thiết lập được một đầu cầu. Một đại đội xe lội nước vượt
sông và tỏa ra để đánh vào thị trấn; 2 tiểu đoàn bộ binh cũng vượt được
sông, đến 8:30 sáng, Kampong Cham thất thủ.
Điểm danh đồng đội
Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danh Những thằng lính ở miền xa rất trẻ Hãy sắp hàng vào để nghe tao kể. Chuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhau A! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầu Tiến một bước, nếu thấy còn chỗ trống Đừng băn khoăn nếu có thằng hi sinh và thằng... chạy trốn Còn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhau Hãy vì nhau mà đừng để lòng sầu Bởi cái chết chẳng thể nào tự đến Đêm vượt Mê-kông có thằng nào ngờ tới bến Nhưng vẫn qua rồi lại... vẫn qua Thằng Vinh, thằng Hùng, thằng Dũng đi xa Cho những Thắng, những Thân vào đội ngũ Khi ở Sài Gòn bọn đỏ đen bày trò ăn thua đủ Thì tụi mình nhịn khát hành quân Có thằng mới từ thành phố lên khóc vì rộp bàn chân Lâu cũng quen và tự chê mình yếu đuối Giặc bao vây mỗi thằng được dành dăm quả cối Vài trái B.40 và hàng ngàn đạn AK Bình yên thì xa và chiến tranh thì gần trong ngón tay cò súng Vì chẳng thể bỏ nhau nên tụi mình mưu dũng Hết khói đạn rồi điểm mặt vẫn đủ tên Có thể có thằng cho đó là điều hên Mà số phận chẳng thằng nào biết được Cha mẹ nhớ thương con, người yêu nhớ người yêu - phía trước Còn tụi mình nhớ nhất số quân Mất hay còn chỉ là một dấu chân Trên bãi cát băng từ của cô nhân viên điện toán Tụi mình sống với nhau có phút nào thấy chán Những gương mặt phong trần mà rất đỗi dễ thương Lính 76, lính 78, lính 80 rồi cũng bình thường Cũng là lính với trái tim tràn nỗi nhớ Hãy để chỗ sâu lắng trong tim trong những thằng xanh cỏ Tụi mình còn mắc nợ đời, mắc nợ với nhau Hành quân điểm danh không có trực ban báo cáo Không có Có, không có Vắng, chỉ có tiếng cười Rồi tụi mình ôm nhau cho rõ mặt bạn đời Dẫu có đứa chưa từng ôm một người con gái Chưa từng yêu nên nói chuyện tình yêu: nói đại Thằng nào không tin cứ về thành phố kiểm tra Bị phát hiện bèn mở miệng cười khà: - Tao không biết thì rồi tao sẽ biết Và mầy hi sinh không còn thời gian để biết Ai sẽ tiếc thương mầy ngoài đồng đội, mẹ cha Điểm danh xong hãy uống ít đế và ca Những bài lý mênh mông mùa nước lớn Xuống câu xề trầm hơn tiếng nấc Và khua bình-tông khi hát nhạc trẻ, nhạc già Hát múa cho đã đi rồi vào uống trà Để chống ngủ vì đêm còn phải gác Tụi mình sinh ra vào thời trận mạc Nên núi rừng bè bạn có sao đâu Nên sương gió tụi mình dãi dầu Mặc áo lính phải sống cho ra là lính
Ni-mít, tháng 3-1981
Tác giả: Phạm Sĩ Sáu
Ngay trong sáng ngày 6 tháng 1, lực lượng đột kích Phnom Penh, gồm
Trung đoàn 28 của Sư đoàn 10 và các đơn vị phối thuộc, dẫn đầu bởi 6 xe lội nước và một số xe thiết giáp M-113
vượt sông, tổng cộng lực lượng lên đến 120 xe quân sự. Lực lượng đột
kích vừa hành quân vừa giao chiến với các ổ phục kích của quân Khmer Đỏ,
tới chiều tối đã tới bờ sông Tonglé Sap và tổ chức đánh vượt sông để tiến vào Phnom Penh. Trong
khi đó, ngày 6 tháng 1 năm 1979, những đơn vị đầu tiên của Sư
đoàn 7 Quân đoàn 4 được 1 tiểu đoàn UFNSK hỗ trợ chiếm được bờ phía đông
của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia
trong khi rút lui vội vã đã không kịp thiết lập công sự phòng thủ.
Trong đêm, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, Trung đoàn 113
cùng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông,
tiến chiếm bờ phía tây của bến phà. Ngày 7 tháng 1, toàn bộ đội hình
Quân đoàn 4 tiến hành vượt sông. Do sự tan rã nhanh chóng của lực lượng
phòng thủ biên giới và sự chủ quan của Pol Pot, quân đội Việt Nam tiến
vào Phnom Penh từ Neak Luong mà không gặp sức chống cự đáng kể nào. Trưa
ngày 4 tháng 1, Quân đoàn 4 đã có thể bắt tay với Quân đoàn 3 ở ngoại ô
phía bắc Phnom Pênh. Tuy nhiên Quân đoàn 3 đã đến muộn, không kịp chặn
đường Chính phủ Polpot rút chạy khỏi Phnom Penh. Việc quân Việt Nam tiến quá nhanh khiến cho Khmer Đỏ chỉ kịp sơ tán bộ máy lãnh đạo. Son Sen
chạy xuyên qua mặt trận ngược về phía Việt Nam để tập hợp tàn quân của
các sư đoàn thuộc quân khu miền Đông. Pol Pot, Nuon Chea và Khieu
Samphan được vài xe Jeep chở quân bảo vệ chạy về Pursat.
Ieng Sary chạy về Battambang trên một chuyến xe lửa đặc biệt chở vài
trăm nhân viên Bộ ngoại giao. Việc rút lui khẩn khiến nhiều Bộ khác cùng
hàng ngàn nhân viên không được thông báo về cuộc rút lui. Các chuyến xe
tiếp theo sơ tán Phnom Penh bị tắc nghẽn bởi quá nhiều người tìm cách
bỏ chạy. Như vậy với việc ban lãnh đạo sơ tán, khoảng 40 ngàn dân chúng
và binh lính Khmer Đỏ tại Phnom Penh, cũng như các đơn vị quân phòng thủ
các mục tiêu lân cận bị bỏ mặc tự thân vận động. Ngày 7 tháng 1, quân Việt Nam chiếm sân bay Kampong Chonang và bắt được mười máy bay A-37, ba C-123K, sáu C-47, ba Alouette III
cùng một số T-28. Ngoài ra Khmer Đỏ cũng bỏ lại hàng trăm xe tăng và xe
bọc thép, rất nhiều đạn dược và lương thực dự trữ chiến lược mà họ không kịp mang theo. Ngày
8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia do Heng Samrin làm Chủ
tịch đã được thành lập với sự hậu thuẫn của Việt Nam. Ở
phía Bắc, các sư đoàn của Quân đoàn 3 cũng tiến xuống Phnom Penh, sau
đó Sư đoàn 320 theo quốc lộ 4 xuống bình định các tỉnh phía nam. Các sư
đoàn còn lại theo các quốc lộ 5 và 6 tiến về hướng Tây và hướng Bắc. Họ
gặp sức chống cự đáng kể của quân Khmer Đỏ tại Battambang và Siem Reap. Tại mặt trận phía nam, từ An
Giang,
quân Việt Nam bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3 tháng 1 năm 1979 và tấn
công theo hai hướng. Hướng thứ nhất, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 8 tiến về
phía Tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 5 tháng 1 năm 1979, trong khi lực
lượng Quân khu 9 tiến đánh Takéo, sư đoàn 325 bắt đầu hành tiến theo
hướng Tây Bắc. Lực lượng Khmer Đỏ của Quân khu Tây Nam do Ta Mok
chỉ huy khét tiếng cuồng tín đã chuẩn bị công sự phòng thủ ở Tuk Meas
trên đường 16, ở khoảng giữa biên giới và Chhuk.
Phải mất hai ngày giao chiến, Sư đoàn 325 mới có thể đánh tan tuyến
phòng ngự của Khmer Đỏ và chiếm được khu vực Tuk Meas. Cùng lúc đó tướng
Nguyễn Hữu An cũng tung Sư đoàn 8 theo hướng tây để đánh chiếm quận lỵ
Kampong Trach, nằm ở giao điểm với đường quốc lộ ven biển.
Đó
là một cuộc chiến mà quân đội Việt Nam, lúc đầu được triển khai như
những vị cứu tinh nhưng ngay sau đó lại bị xem là những kẻ xâm lược,
đã trả một cái giá cao ngất về nhân mạng trong một cuộc chiến du
kích tàn khốc kéo dài cả chục năm.
Việt
Nam bắt đầu đưa quân vào Campuchia vào cuối tháng 12 năm 1978 để lật
đổ Pol Pot. Hai triệu người Campuchia đã chết dưới tay Khmer Đỏ.
Việt
Nam không muốn lãng quên hoàn toàn cuộc chiến với Campuchia, ông Nhân
nói, mà Việt Nam chỉ muốn nhớ cuộc chiến này như là một cuộc tấn
công thần tốc, thắng lợi để lật đổ Pol Pot.
Nắm quyền chỉ huy trực tiếp trung đoàn xung kích 24, tướng Nguyễn Hữu
An dẫn trung đoàn tiến từ Tuk Meas về Chhuk. Các quân xa của Việt Nam
gồm xe tăng hạng nặng, xe tải và trọng pháo di chuyển khó khăn trên
đường đất và ruộng lúa nên đã bị quân Khmer Đỏ phục kích phá hủy một số
xe và pháo, sở chỉ huy của tướng An cũng bị tổn thất và tạm thời mất
liên lạc với các lực lượng còn ở phía sau. Tới chiều ngày 7 tháng 1, lực
lượng xung kích đã ra đến đường số 3, và trong quá trình tiến công đã
đánh tan sư đoàn quân Khmer Đỏ phòng ngự Chhuk. Trong hai ngày 4, 5 tháng 1 năm 1979, từ đảo Phú Quốc, hai phân đội
Hải quân Việt Nam gồm một số tàu tuần tiễu loại lớn của Mỹ, hai tàu khu
trục Petya của Nga, cùng nhiều tàu chiến nhỏ chuẩn bị chuyển Lữ đoàn Hải
quân 101 và 126 đổ bộ. Hải quân cũng lập trận địa pháo 130mm ở mũi đảo
Phú Quốc để yểm trợ cho lực lượng đổ bộ. Sẩm tối ngày 6 tháng 1, toán quân đặc công gồm 87 người bí mật đổ bộ
và tấn công chiếm một trận địa pháo Khmer Đỏ bảo vệ bờ biển, cùng lúc,
pháo 130mm bắt đầu bắn phá các vị trí quân Khmer Đỏ. Lập tức các thuyền
tuần tiễu loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream
và các bến cảng nhỏ tấn công vào Hải quân Việt Nam. Sau một trận giao
chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, Hải quân Việt Nam
đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng một tàu của Việt
Nam cũng bị trúng đạn, khiến nhiều thủy thủ bị thương vong. Số tàu phóng lôi
Khmer Đỏ chạy thoát khỏi cuộc hải chiến và các cuộc không kích của
không quân Việt Nam, đến ngày 16 tháng 1 lại bị Hải quân Việt Nam chặn
đánh trong vịnh Thái Lan và bị tiêu diệt gần hết. Tối
ngày 7 tháng 1, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 tiến hành đổ bộ ở chân núi
Bokor, nằm ở khoảng giữa thị xã Kampot và cảng Sihanoukville.
Lữ đoàn đổ bộ được toàn bộ 3 tiểu đoàn và số xe lội nước, xe bọc thép,
nhưng do thủy triều lên cao, không có đủ chỗ triển khai đội hình, nên
không đổ bộ được số xe tải, và đến tối, 3 tiểu đoàn nữa theo dự định
cũng sẽ đổ bộ lại phải rút ra ngoài.
Người
lính Nguyễn Thành Nhân ở hàng ngồi thứ hai từ trái qua
Theo kế hoạch, lực lượng Hải quân đánh bộ phải triển khai một lực
lượng lớn, theo vùng ven biển đánh chiếm cùng lúc hai cây cầu quan trọng
và giao điểm Veal Renh dẫn về bán đảo Kampong Som.
Tuy nhiên, một chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ do nóng vội, đã tập
hợp tiểu đoàn của mình, chở trên 12 xe tăng và xe bọc thép tiến về
Sihanoukville trước khi trời sáng. Đơn vị này bị một lực lượng lớn Khmer
Đỏ vây đánh từ chiều, qua đêm đến suốt ngày hôm sau và cuối cùng bị
tiêu diệt gần như hoàn toàn. Đến đêm ngày 7 tháng 1, Hải quân mới đổ bộ
thêm được 3 tiểu đoàn của Lữ đoàn 126 và 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 101 lên
bãi biển, nhưng số xe tải phải đến ngày 8 tháng 1 mới lên bờ được. Sư đoàn 304 vốn được dùng làm dự bị để tham gia đánh về Phnom Penh,
nhưng do Quân đoàn 3 và 4 đã đánh được Phnom Penh từ ngày 7 tháng 1, nên
tướng An dùng sư đoàn này để nhanh chóng giải cứu lực lượng lính thủy
đánh bộ và đánh chiếm Sihanoukville. Dẫn đầu bởi một đơn vị xe M-113,
Trung đoàn 66 của sư đoàn, kế tiếp là Trung đoàn 9 hành quân suốt đêm
ngày 9. Ngày
9 tháng 1, Trung đoàn 66 sau khi gặp lực lượng Hải quân đánh bộ,
chuẩn bị giao chiến: không lặp lại sai lầm của Hải quân, Trung đoàn 66
tổ chức chiếm cao điểm xung quanh thành phố trước khi phối hợp với hải
quân đánh bộ đánh vào thành phố. Sau khi đánh tan được Sư đoàn 230
Campuchia, quân Việt Nam chiếm được Kampot.
Trung đoàn 9 không đến kịp vì một cây cầu sụp đổ khi xe tăng dẫn đầu
trung đoàn đi qua. Khi Trung đoàn 9 và Lữ đoàn xe tăng 203 đến thành phố
thì Kampot đã rơi vào tay quân Việt Nam, nên lực lượng này được đưa đi
đánh quân cảng Ream. Được sự trợ lực của pháo hải quân bắn từ bến cảng
lên, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hải cảng Kampong Som.
Tuy nhiên, vì không chuẩn bị kịp về tiếp liệu, quân Khmer Đỏ đã có thể
phản công chiếm lại Kampong Som ngày 14 tháng 1, nhưng quân Việt Nam tái
chiếm lại vào ngày hôm sau. Hướng
thứ hai, Quân khu 9 phụ trách, tiến về phía Bắc đánh chiếm hai thị xã
Tan và Takéo. Các sư đoàn Khmer Đỏ trấn giữ quân khu Tây Nam như Sư đoàn
2, 210, 230, 250, bị tan rã và rút lui vào rừng. Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi. Đến ngày 17 tháng 1 thị xã cuối cùng là Ko Kong
rơi vào tay quân đội Việt Nam và chính quyền mới của Campuchia. Cho tới
cuối tháng 3, quân đội Việt Nam coi như chiếm được hết những thành phố
và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia và tiến sát tới biên giới Thái Lan.
Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu, gây ra
nhiều thương vong cho quân đội Việt Nam đồn trú tại Campuchia. Trên chiến trường Campuchia, vì quân Việt Nam tiến quá nhanh chóng, nên
quân Khmer Đỏ chỉ bị tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đã
tập trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá.
Lực lượng quân đội tình nguyện Việt Nam phản kích quân Pol Pot. (Ảnh: TTXVN)
Một nạn nhân bị tra tấn đến chết trong nhà tù Toul Sleng.
Xương người và sọ người được cất giữ đền tưởng niệm nạn nhân bị Khmeđỏ thảm sát tại Ba Chúc
Sau
khi Quân đoàn 4 chiếm được Phnom Penh, các đơn vị của Quân đoàn
3, Quân khu 5 và Quân khu 7 cũng vượt sông Mekong tiến chiếm và bình
định lãnh thổ phía bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sap. Quân Khmer Đỏ đã cố
gắng kháng cự gần tỉnh Battambang nhưng cũng chỉ có thể làm chậm đà tiến
quân của Việt Nam. Họ đã phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ tiếp tục đánh
du kích. Quân
đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng
duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi
Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà
Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được
tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định
1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang
tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành
quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4. Ngày
8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện
cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung
đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được
đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66 được lệnh vượt
lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap
ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe
tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100 km chỉ
trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc
đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội
hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời
tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra
nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và
chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày
10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo
chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và
Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.
Tro
cốt của những ngườ lính Việt Nam cũng được đem về nước khi Việt Nam
rút quân khỏi Campuchia
Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100 km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan
50 km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu
5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe
M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam
Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và
chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó. Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn
di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy
chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên
giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên
đường đi khoảng 40 km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer
Đỏ phục kích. Mặc dù lực lượng phục kích bị đè bẹp,
chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe
bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm
sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam
hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979,
Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía
bắc với Trung Quốc. Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4
nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km.
Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc
Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn
lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về
đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân
đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21
tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng,
quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn
Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du
kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan. Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4,
quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol
Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng
núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng
tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn
4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công
quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng,
nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi
họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn,
đốt rừng... Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach.
Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh
đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng
1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh
thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị
trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần
lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm
nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư
đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp. Để tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn
công làm bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330
đã bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm
thị xã Pursat
để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn
cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9
phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong,
rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3,
từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach. Vì
đây là một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một
tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì
hoả lực thua kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung
nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4
năm 1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối
cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của
Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Tasanh sát biên giới Thái Lan.
Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
Quân
đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng
duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi
Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà
Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được
tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định
1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang
tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành
quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4. Ngày
8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện
cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung
đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được
đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66 được lệnh vượt
lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap
ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe
tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100 km chỉ
trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc
đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội
hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời
tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra
nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và
chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày
10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo
chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và
Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi.
Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100 km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan
50 km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu
5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe
M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam
Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và
chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó. Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn
di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy
chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên
giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên
đường đi khoảng 40 km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer
Đỏ phục kích. Mặc dù lực lượng phục kích bị đè bẹp,
chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe
bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm
sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam
hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979,
Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía
bắc với Trung Quốc. Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4
nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km.
Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc
Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn
lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về
đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân
đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21
tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng,
quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn
Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du
kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan. Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4,
quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol
Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng
núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng
tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn
4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công
quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng,
nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi
họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn,
đốt rừng... Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach.
Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh
đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng
1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh
thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị
trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần
lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm
nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư
đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp. Để tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn
công làm bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330
đã bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm
thị xã Pursat
để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn
cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9
phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong,
rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3,
từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach. Vì
đây là một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một
tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì
hoả lực thua kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung
nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4
năm 1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối
cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của
Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Tasanh sát biên giới Thái Lan.
Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích.
Campuchia được giải phóng khỏi chế độ diệt chủng ngày 7-1-1979 - Ảnh tư liệu
Giữa tháng 3, quân Việt Nam mở chiến dịch mới đánh chiếm căn cứ
Tasanh, nằm ở phía nam Pailin. Tới 28 tháng 3, căn cứ này thất thủ,
khiến cho "đại sứ quán" Trung Quốc đóng tại đây phải sơ tán về vùng núi
cao. Ban lãnh đạo Khmer Đỏ tại đây cũng bỏ chạy, bỏ lại một phần tài
liệu, xe cộ, vũ khí, lương thực dự trữ và 3.000 tấn đạn dược. Các đơn vị của Việt Nam bắt đầu phân nhiệm để hành quân bình định.
Nhiều sư đoàn thiện chiến đã bị hao hụt nặng được rút về nước. Những sư
đoàn tân lập được gửi qua tăng cường hay thay thế. Phía Việt Nam cho
biết, tới cuối tháng 1 năm 1979, quân Việt Nam đã có tới 8.000 thương
vong. Về phía quân Khmer Đỏ dù bị thiệt hại nặng vẫn còn khoảng 30.000
quân có còn khả năng quấy phá, phục kích, gây mất ổn định khiến Việt Nam
phải duy trì một lực lượng quân sự lớn tại Campuchia. Ngày
5 tháng 1 năm 1979, 66 đại biểu Campuchia được triệu tập họp ở
Mimot để bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Đảng này
lấy lại tên Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia có từ thời 1951. Pen
Sovann, một cán bộ Campuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, được đề cử giữ
chức chủ tịch đảng. Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou
Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth. Ngày 8 tháng 1 năm 1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom
Penh đã được giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân
Campuchia. Một Hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ
tịch. Khoảng mười ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam,
hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia. Tới mùa xuân 1981, hiến pháp
mới của Campuchia được thông qua, sau đó là cuộc bầu cử toàn quốc để
chọn ra 117 đại biểu quốc hội. Hun Sen được bầu làm Bộ trưởng Ngoại
giao, Heng Samrin làm Chủ tịch nước. Ba sư đoàn mới được thành lập và
đặt dưới Bộ Quốc phòng, nhưng an ninh vẫn được duy trì chủ yếu dựa vào
sự hiện diện của 180.000 quân Việt Nam (mà lực lượng chủ chốt là Quân
đoàn 4) do thượng tướng Lê Đức Anh chỉ huy. Chính
quyền mới của Campuchia chỉ được một số nước thuộc khối xã hội chủ
nghĩa công nhận. Chính phủ của Pol Pot tiếp tục được các nước phương
Tây, Trung Quốc và khối ASEAN công nhận và vẫn là thành viên Liên hiệp quốc. Campuchia bị mất, Thái Lan
trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung Quốc có thể giúp đỡ
cho Khmer Đỏ tiếp tục cuộc chiến. Sau khi họp xong với Ieng Sary, Đặng Tiểu Bình
bí mật cử Cảnh Biểu, Ủy viên Bộ Chính trị, cùng Thứ trưởng ngoại giao
Hàn Niệm Long sang Bangkok hội đàm với Thủ tướng Thái Kriangsak Chomanan
tại căn cứ không quân Utapao.
Sau khi Việt Nam liên minh với Liên Xô và tấn công Campuchia, Thái Lan
không còn giữ thái độ trung lập nữa, Kriangsak đồng ý để Trung Quốc dùng
lãnh thổ Thái Lan tiếp tế cho Khmer Đỏ. Thủ tướng Thái Kriangsak cũng tìm kiếm hỗ trợ từ Washington nhằm ngăn
ngừa Hà Nội. Để biểu thị sự ủng hộ Thái Lan, Hoa Kỳ chuyển giao cho
Thái số lượng đạn dược trị giá $11.3 triệu dollar tồn kho tại Thái từ
thời chiến tranh Việt Nam.
Chính quyền Carter cũng hứa hẹn thúc đẩy việc chuyển giao chiến đấu cơ
F-5E và các loại vũ khí hiện đại khác mà Thái đã đặt mua, và tăng lượng
vũ khí bán cho Thái từ mức 30 triệu dollar một năm lên 50 triệu. Tuy
vậy, trong trường hợp chiến tranh nổ ra, quân Thái vẫn không phải là đối
thủ của Việt Nam. Với lực lượng 141.000 quân, số lượng quân Thái chỉ
bằng 1/4 quân Việt Nam, và họ không có được kinh nghiệm chiến đấu như
quân Việt Nam. Việt Nam hy vọng có thể nhanh chóng truy quét và tiêu diệt tàn quân
Khmer Đỏ trước khi mùa khô 1979-1980 kết thúc, nhưng tàn quân Khmer Đỏ
đã phân tán rải rác trong các trại tị nạn dọc biên giới Thái
Lan-Campuchia. Tổ chức cứu trợ khẩn cấp Campuchia
của Mỹ, dựa vào đại sứ quán Mỹ tại Bangkok, đã nuôi dưỡng và hỗ trợ
Khmer đỏ để tiếp tục chống lại chính phủ mới của Campuchia do Việt Nam
hậu thuẫn. Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực thế giới
đã cung cấp lương thực cho 20.000 đến 40.000 lính Khmer đỏ. Suốt một
thập kỷ sau đó, cơ quan tình báo quân đội Mỹ đã giúp Khmer đỏ do thám
qua vệ tinh, đồng thời các lực lượng đặc nhiệm của Mỹ và Anh hướng dẫn
quân Khmer đỏ đặt hàng triệu quả mìn bộ binh khắp miền Tây Campuchia Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng dùng quyền của mình ở Liên Hiệp quốc để giữ
ghế đại diện cho Khmer Đỏ. Chính quyền Pol Pot dù chỉ còn là một nhóm
du kích trong rừng nhưng lại được coi là đại diện hợp pháp duy nhất của
người dân Campuchia.
Đại tướng Phạm Văn Trà (thứ tư từ trái sang) trong một lần đi kiểm tra
tình hình đảo Thổ Chu - Ảnh tư liệu gia đình đại tá Đào Phúc Lâm,
nguyên đảo trưởng Thổ Chu
Đọc cuốn sách Đời chiến sĩ của đại tướng Phạm Văn Trà, chúng tôi cứ ám
ảnh mãi bởi một câu chuyện bi thương nhắc lại trong hồi ký của ông: “Với tâm trạng rất buồn, anh Ba Trung (phó tư lệnh Quân khu 9, chỉ
huy trưởng chiến dịch giải phóng các đảo thuộc vùng biển Tây Nam)
truyền đạt nhiệm vụ mà như tâm sự, như giãi bày một phẫn uất: “Tình hình
xấu quá rồi. Quân Pol Pot đã chiếm một số đảo của ta hơn một tháng nay.
Chúng tàn sát đồng bào ta rất dã man. Được Tư lệnh Quân khu phân công
trực tiếp giải quyết tình hình các đảo, vừa rồi tôi đã sử dụng một lực
lượng của quân khu, có hải quân tăng cường đổ bộ bí mật lên đảo Thổ Chu,
bất ngờ tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Pol Pot, bắt 300 tên. Nhưng điều
đáng buồn là khi ta giải phóng đảo, quân Pol Pot đã sát hại trên 500 bà
con ta sinh sống lâu đời ở đây”.
Trung Quốc tích cực hỗ trợ Khmer Đỏ với ngân khoản 80 triệu dollar hàng năm, và vận động Hoa Kỳ viện trợ cho các phe đối lập.
Hoa Kỳ tiếp tục tiến hành cấm vận kinh tế với Việt Nam, và từ khi quân
Việt Nam tiến vào Phnom Penh, hủy bỏ đàm phán bình thường hóa quan hệ
với Việt Nam. Các khoản viện trợ cho Việt Nam và chính quyền Phnom Penh
đều bị ngưng lại. Hoa Kỳ và đồng minh gây áp lực để cả Ngân hàng phát
triển châu Á (Asian Development Bank) và Ngân hàng thế giới (World Bank) ngưng các khoản vay cho Việt Nam và Campuchia.
Tổng thống Richard Nixon bắt tay với thủ tướng Chu Ân Lai tại Sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh
Thái Lan
đồng ý cho lực lượng Khmer Đỏ thiết lập căn cứ tại vùng biên giới. Để
hỗ trợ Khmer Đỏ, liên minh không chính thức giữa Trung Quốc và Thái Lan
đã thiết lập một tuyến đường bí mật trên đất Thái tiếp tế cho Khmer Đỏ.
Tàu Trung Quốc chở vũ khí đạn dược đến các cảng Sattahip và Klong Yai,
từ đó, quân đội Thái chuyển hàng đến cho các trại đóng quân của Khmer
Đỏ dọc theo biên giới Thái Lan - Campuchia. Sứ quán Trung Quốc tại
Bangkok phối hợp với các thương gia người Thái gốc Hoa cùng quân đội
Thái chịu trách nhiệm cung cấp lương thực, thuốc men, và hàng dân dụng
cho Khmer Đỏ. Đổi lại, Trung Quốc trả phí vận chuyển cho quân đội Thái
và cho phép quân đội Thái giữ lại một phần vũ khí. Trung Quốc cũng
chuyển giao cho Thái công nghệ chế tạo vũ khí chống tăng với điều kiện
một phần sản lượng sẽ được chuyển cho Khmer Đỏ. Ngoài
hỗ trợ khổng lồ mà Bắc Kinh dành cho Khmer Đỏ, Trung Quốc cũng
cung cấp viện trợ cho các phe phái đối lập khác ở Campuchia như KPNLF.
Nhờ đó, lực lượng quân sự của các phái này có lúc đã phát triển lên gần
30 ngàn. Lực lượng Việt Nam vừa phải chống lại Khmer Đỏ, vừa phải chống
lại quân đội của các phe phái đối lập này. Nhờ có sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các căn cứ do Thái Lan
cung cấp, từ tình trạng chỉ còn là những nhóm du kích hồi cuối năm
1979, đến cuối năm 1980 lực lượng Khmer Đỏ đã hồi phục sức mạnh, với
quân số tăng lên khoảng 20.000 tới 40.000. Đến cuối năm 1981, chiến
tranh du kích của Khmer Đỏ thực hiện tại Campuchia đã lan rộng mạnh mẽ
tại những khu vực rộng lớn. Được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8 tháng 1 năm 1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin
làm Chủ tịch đã được thành lập. Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia về
danh nghĩa là đảng cầm quyền tại Campuchia. Nhưng tổ chức này mới được
thành lập nên chưa đủ sức bảo vệ chính phủ mới khỏi trước sức mạnh quân
sự của Khmer Đỏ.
Hàng ngàn công chức và kỹ thuật viên Việt Nam đã được đưa sang
Campuchia để khôi phục hệ thống điện, nước ở Phnom Penh, đưa hệ thống
đường sắt vào hoạt động trở lại. Các bệnh viện và trạm xá được mở lại
với các bác sĩ dân y và quân y Việt Nam cùng một số bác sĩ Campuchia còn
sống sót qua thời Khmer Đỏ. Hàng trăm người Campuchia được gửi sang
Việt Nam học các khóa cấp tốc về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, ngân hàng,
ngoại thương, và an ninh. Từ năm 1979 đến giữa năm 1985, quân đội Việt Nam thực hiện các chiến
dịch quân sự truy quét đánh phá các căn cứ của Khmer Đỏ. Tháng 1 năm
1980, chiến dịch quân sự nhằm vào Khmer Đỏ tại Phnom Chhat bắt đầu. Các
cuộc đụng độ giữa các lực lượng NCR và quân Việt Nam cũng diễn ra và lan
sang cả lãnh thổ Thái Lan. Thời gian này, Khmer Đỏ bắt đầu tái xâm nhập
Campuchia từ Thái Lan với khoảng 3-4 ngàn quân. Khi mùa mưa tới, Khmer
Đỏ đã tái tổ chức lực lượng, chỉ huy và huấn luyện, bắt đầu các cuộc
giao tranh quy mô nhỏ như đánh du kích, phục kích, pháo kích quấy rối. Lực
lượng Việt Nam và chính phủ Phnom Phênh tiếp tục truy đuổi và
giáng những đòn nặng nề vào các nhóm chống đối. Năm 1982, trong một
chiến dịch dữ dội nhất kể từ khi quân Việt Nam tiến vào lật đổ Khmer Đỏ,
sư đoàn 7 Việt Nam đánh vào trại Sokh San của KPNLF, buộc họ phải bỏ
chạy vào Thái Lan. Tới tháng 7 năm 1982, Việt Nam tuyên bố sẽ rút quân
từng phần khỏi Campuchia đơn phương và vô điều kiện. Ngay lập tức, các
lực lượng đối lập tăng cường các hoạt động quân sự. Quân Khmer Đỏ tăng
cường hoạt động vũ trang tại các tỉnh Kampot, Takeo, Kampong Cham và
Kampong Thom
Sự yếu ớt của quân đội chính phủ Phom Penh khiến họ không thể chống đỡ
được sự trỗi dậy của Khmer Đỏ. Tình hình quân sự tại Campuchia trong năm
1983 trở nên xấu đi, buộc Việt Nam phải ngừng việc rút quân khỏi
Compuchia. Tương quan lực lượng năm 1984 là Việt Nam có khoảng 180 ngàn quân tại
Campuchia, so với khoảng 17 ngàn quân của KPNLF, và khoảng 30-50 ngàn
quân Khmer Đỏ và khoảng 5 ngàn quân thuộc lực lượng Sihanouk.
Tuyến phòng thủ Svay Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979.
Càng tiến sâu vào Campuchia, tội ác của bè lũ Pol Pot càng hiện rõ trước
mắt. Ông Đinh Trọng Vinh cùng những đồng đội không khỏi ứa nước mắt căm
phẫn.
Ông Lục Văn Vĩnh và 5 người con ở bản Nà Lỏng, xã Ngọc Khê, huyện Trùng
Khánh (tỉnh Cao Bằng) tham gia lực lượng vũ trang trong cuộc chiến đấu
bảo vệ biên giới phía Bắc. Ảnh: Tạ Hải/TTXVN
Tới
mùa khô năm 1984 - 1985, Việt Nam huy động khoảng 60 ngàn quân
cho chiến dịch tấn công quyết định nhằm triệt hạ các căn cứ của Khmer Đỏ
nằm gần Thái Lan, cùng với hàng chục ngàn dân công Campuchia xây đường
và mở rộng các sân bay dã chiến tại khu vực biên giới. Cuối tháng 12 năm
1984, khoảng 1.000 quân Việt Nam đánh hạ căn cứ Nong Samet. Tháng 1 năm
1985, khoảng 4.000 quân Việt Nam, với hơn 30 xe tăng và xe bọc thép hỗ
trợ, đánh vào căn cứ Ampil của lực lượng Mặt trận Nhân dân Giải phóng
Quốc gia Campuchia
(KPNLF) với 5.000 quân phòng ngự và triệt hạ hoàn toàn căn cứ này sau
36 giờ. Quân Việt Nam và quân chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia cũng
mở chiến dịch tấn công căn cứ lớn có gần 10.000 quân Khmer Đỏ đóng giữ
tại Phnom Malai,
nơi mà họ từng định đánh chiếm năm 1982 nhưng bất thành, và đã triệt hạ
căn cứ này sau 2 ngày giao tranh. Chiến dịch mùa khô năm 1984-85 là
chiến dịch lớn chưa từng có của Việt Nam kể cả về quy mô, thời gian và
mức độ thành công. Sau các chiến dịch 1984-85 của Việt Nam, lực lượng đối lập bị nhiều
tổn thất. Liên quân KPNLF và Khmer Đỏ ước tính đã bị mất khoảng 1/3 lực
lượng do thương vong và đào ngũ.
Liên minh này mất toàn bộ các căn cứ trên đất Campuchia, trong đó có
thủ đô lâm thời đặt tại một ngôi làng có tên Phum Thmei trong rừng sát
biên giới Thái Lan. Khmer Đỏ rút một phần về Thái Lan, một phần chia nhỏ
và ẩn trong nội địa. Hai phe Sihanouk và Son Sann rút hẳn vào trong
lãnh thổ Thái Lan. Chiến dịch truy quét quy mô lớn kéo dài 5 tháng của
Việt Nam đã chấm dứt hy vọng lật ngược tình thế của Khmer Đỏ và KPNLF.
Kể từ cuối năm 1985, các lực lượng này về cơ bản không thể là mối đe
dọa lớn đối với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia được nữa. Ngày 16 tháng 8 năm 1985, thông cáo của cuộc họp các bộ trưởng ngoại
giao ba nước Đông Dương tại Phnom Penh tuyên bố Việt Nam sẽ rút quân
hoàn toàn khỏi Campuchia, quá trình rút quân sẽ hoàn thành năm 1990. Tháng 06 năm 1988, trên cơ sở trưởng thành của quân đội Campuchia và với sự thỏa thuận của giữa Việt Nam và Campuchia,
Việt Nam đã rút toàn bộ chuyên gia dân sự và đến tháng 9 năm 1989, Việt
Nam rút toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về
nước. Sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút hết, lúc đầu phía Campuchia
có lúng túng trước các hoạt động giành dân, chiếm đất của Khmer Đỏ và
đồng minh nhưng dần dần Campuchia vươn lên làm chủ tình hình, kiểm soát
trên 90% lãnh thổ.
Trong
ảnh, một tổ hỏa lực của Trung đoàn 567 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh
Cao Bằng) phục kích tiêu diệt cánh quân Trung Quốc tấn công TX Cao Bằng
(nay là TP Cao Bằng) tháng 2/1979. Ảnh: Trần Mạnh Thường/TTXVN.
Nhà
cửa, đường phố ở thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Tuyên (nay
là Hà Giang) bị đạn pháo của địch tàn phá trong ngày 8 và 9/3/1979. Ảnh:
Ngọc Quán/TTXVN.
Năm 1992-1993, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc Campuchia
(UNTAC - United Nations Transitional Authority in Cambodia) tạm thời
quản lý Campuchia. Trong
thời kỳ đóng quân tại Campuchia, quân đội và chuyên gia Việt Nam đã
giúp hàng chục vạn, hàng triệu dân tiều tụy đói khát, trở về quê cũ,
khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường học, chùa chiền. Nhân dân
Campuchia đã dấy lên một cao trào quần chúng hồi sinh từng người, từng
gia đình, từng thôn ấp và hồi sinh toàn dân tộc.
Quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp những người dân này sửa lại
nhà, ai không còn nhà thì dựng lại nhà, làm sạch giếng cho người dân
Campuchia uống, nhường gạo cho người dân Campuchia ăn, khôi phục và sửa
chữa lại trường học. Lực lượng ngành y của Việt Nam đi cùng bộ đội thời
bấy giờ thì chữa bệnh cho người dân Campuchia. Dần dần trường lớp, làng
mạc, bệnh viên, trường học… được khôi phục lại. Bộ quốc Phòng đã chỉ đạo
hành động theo từng giai đoạn. Theo đó, giai đoạn đầu do người dân
Campuchia chưa có gì, Việt Nam sẽ thực hiện “Việt Nam làm giúp
Campuchia”- nghĩa là đánh giặc cũng Việt Nam, giúp dân sản xuất cũng
Việt Nam, xây dựng chính quyền cũng Việt Nam (bởi khi đó chính quyền của
Campuchia đã bị Khmer Đỏ phá hủy). Khi người dân Campuchia đã có cơ sở,
Việt Nam chuyển sang khẩu hiệu “Ta, bạn cùng làm”. Giai đoạn ba là “Bạn
làm ta giúp”- nghĩa là người dân Campuchia đã đủ khả năng, người dân
Campuchia yêu cầu tới đâu Việt Nam giúp tới đó. Cuối cùng, khi người dân
Campuchia thực sự lớn mạnh thì Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện về
nước để người dân Campuchia tự đảm đương.
Phóng
viên Isao Takano (đeo kính) của báo Akahata – Nhật Bản đi đưa tin tại
thị xã Lạng Sơn những ngày đầu của cuộc chiến đấu. Anh hy sinh vào trưa
ngày 7/3/1979, tại đầu đường Quang Trung, Chi Lăng, Lạng Sơn. Ảnh: Minh
Đạo/TTXVN
Việt Nam và Campuchia từ trong kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có tình đoàn kết chiến đấu. Tuy nhiên,
khi kháng chiến chống Mỹ vừa kết thúc, tập đoàn Khmer đỏ liền phản bội.
Chúng đã đưa quân đánh sang biên giới Việt Nam gây xung đột rồi phát
triển thành chiến tranh tổng lực. Xuất phát từ đâu mà Pol Pot trở mặt
như vậy?Chúng ta hãy đọc bản nghị quyết ra hồi tháng 6/1977 của tập đoàn Pol
Pot: “Duôl (An Nam) sau chiến tranh còn gặp nhiều khó khăn chồng chất,
kinh tế kiệt quệ, chính trị thì nội bộ mâu thuẫn, ở miền Nam chính quyền
chưa vững, tàn quân và tổ chức chính trị chống đối của Thiệu còn nhiều,
đang hoạt động phá hoại…
Về quân sự, Duôl có quân đội mạnh, có
kinh nghiệm chiến đấu, trang bị phương tiện nhiều, song sau khi thống
nhất thì tinh thần quân đội sút kém…. Tuy mạnh về quân sự nhưng yếu về
chính trị, đang gặp nhiều khó khăn nên không đủ sức mạnh đánh lại chúng
ta…Về chiến lược thì bị kiềm chế, không dám tấn công sâu qua đất nước
Kampuchia…”
Thiếu tướng Bùi Cát Vũ trong thiên ký sự
Đường vào Phnom Penh kể rằng, ông đã đọc được bản nghị quyết của tập
đoàn Pol Pot. Ông có nó từ một sĩ quan Campuchia.
***
Trong
khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đang dồn sức tiêu diệt Khơ me đỏ, bảo vệ
biên giới Tây - Nam của Tổ quốc mình đồng thời cứu dân tộc Căm - Pu -
Chia khỏi nạn diệt chủng, thì bất thình lình, không có tuyên chiến chính
thức, ban lãnh đạo Trung Quốc, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, xua quân xâm
lược dọc tuyến biên giới Việt - Trung. Tại sao Trung Quốc lại hành động
bất chấp đạo lý và điên rồ đến như vậy? Mọi biến cố đều có nguyên nhân
sâu xa và duyên cớ trực tiếp của nó. Nhưng nói ngay, dù nguyên nhân nào
và duyên cớ nào, dù có giải thích này nọ hay ngụy biện cỡ nào thì Việt
Nam, một nước nhỏ bé vừa qua cuộc chiến tranh khốc liệt chống Mỹ giành độc lập và đang tiếp tục chiến đấu cứu thoát dân tộc Cămpuchia khỏi
nạn diệt chủng, cũng thuộc về chính nghĩa, còn Đặng Tiểu Bình và bè lũ
bá quyền nước lớn là thuộc về phi nghĩa. Chính vì vậy, thực chất của
cuộc chiến tranh Việt Trung theo cách gọi của ViệtNam là "chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc, 1979" hay "cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc", còn theo cách gọi dối trá của Trung Quốc là "chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam" (Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến)
(trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười
năm từ năm 1979 đến năm 1989), bởi vì cho đến bây giờ họ vẫn cho là chỉ
chống trả cuộc tấn công của Việt Nam.
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương
và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà
Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc
Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng
quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền
Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến
tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành
chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước. Và hơn thế nữa, Hà Nội muốn
trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm
trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa
Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa
thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự
phản bội. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: "Bề
ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình,
nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta". Năm 1974, Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa trong sự làm ngơ của Hoa Kỳ. Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn
nêu ra vấn đề Hoàng Sa, phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm nhà
lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Lê Duẩn
thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống
Liên Xô của Trung Quốc, ông cũng phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng
"chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng
sản châu Á".
Ông rút ngắn thời gian thăm Trung Quốc và rời nước này mà không tổ chức
tiệc đáp lễ Trung Quốc theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận
chung, không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc
viếng thăm. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ
không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một
Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".
Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn
bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện
trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.
Rạng
sáng ngày 17.2.1979, Bắc Kinh bất ngờ xua hàng vạn quân tấn công đồng
loạt 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
(gồm Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh).
Quân dân các tỉnh biên giới đã anh dũng đứng lên đánh trả quân địch.
Trong ảnh là hình mang tính biểu tượng của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 - người chiến sỹ cầm súng B41 đứng bên cột mốc biên giới Lạng Sơn - Trung Quốc. Nguồn ảnh: TTXVN.
Mặc
dù phải đối phó với hơn nửa triệu quân xâm lược (ước tính đến 600.000
người), nhưng quân dân Việt Nam vẫn kiên cường kháng cự ở khắp các tỉnh,
thành biên giới và đánh bại hàng vạn quân địch. Ảnh: Một chiến sỹ cầm
trên tay khẩu CKC đang trông giữ tù binh Trung Quốc. Nguồn ảnh:
Wikipedia.
Với
kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kèm theo đó
là lợi thế thông thổ địa hình, dũng cảm chiến đấu và hợp đồng tác chiến
tốt, phía ta đã bắt được rất nhiều tù binh địch. Nguồn ảnh: Wikimedia.
Một phóng viên của ta bị thương trong quá trình tham gia tác nghiệp đang được đồng đội đưa về tuyến sau. Nguồn ảnh: Gettyimg.
Có
không ít những công nhân, nông dân địa phương tại khu vực xảy ra giao
tranh sẵn sàng ghi danh xung phong cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Nguồn ảnh: Gettyimg.
Mặc
dù có trang thiết bị hạn chế, đặc biệt là thiếu nghiêm trọng các vũ khí
hạng nặng, các vũ khí chống tăng nhưng lực lượng công an vũ trang và
dân quân tự vệ của ta vẫn ngoan cường đối đầu và tiêu diệt nhiều xe tăng
địch trong cuộc chiến này. Nguồn ảnh: Wpress.
Hình
ảnh một người lính không rõ thuộc công an vũ trang hay dân quân tự vệ
mình trần, vác trên vai khẩu B-41 đang lên chốt cùng đồng đội. Do đây là
khu vực biên giới hẻo lánh, cuộc chiến lại xảy ra quá bất ngờ và chỉ
kết thúc sớm nên không có nhiều tư liệu được lưu giữ lại cho đến ngày
nay, vậy nên những bức ảnh như thế này là vô giá. Nguồn ảnh: Wpress.
Bộ đội ta tiến vào Cao Bằng, ảnh chụp ngày 25.2.1979, khoảng 1 tuần sau khi cuộc chiến nổ ra. Nguồn ảnh: Infonet.
Lực
lượng công an vũ trang trên đường tuần tra bằng ngựa dọc tuyến biên
giới. Sau năm 1979 lực lượng Công an Vũ trang Việt Nam mới được chuyển
về quản lý dưới quyền của Bộ Quốc Phòng và đổi tiên thành lực lượng Bộ
đội Biên phòng. Trước đó, do chỉ là lực lượng công an được đặt dưới sự
chỉ đạo của Bộ Công An nên lực lượng này không có đủ vũ khí, khí tài và
trang thiết bị cần thiết cho một cuộc xung đột lớn như ở biên giới phía
bắc năm 1979. Nguồn ảnh: VNmilitary.
Thời
điểm quân Trung Quốc xâm lược, đại bộ phận đơn vị quân chủ lực của ta
đang tập trung đối phó với quân Khmer Đỏ gây hấn dọc biên giới Tây Nam.
Cuối tháng 2.1979, lực lượng không quân vận tải của Việt Nam và không
quân Liên Xô sử dụng máy bay không vận hàng nghìn bộ đội chủ lực ra Bắc
tiếp viện cho lực lượng bảo vệ biên giới phía Bắc. Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ
Lệnh
tổng động viên toàn quốc được ban bố sáng 5.3.1979 thì chiều cùng ngày
Trung Quốc tuyên bố rút quân và rêu rao cái gọi là "dạy cho Việt Nam một
bài học". Về phía ta, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố
cho Trung Quốc rút quân. Tuy nhiên, quân Trung Quốc thể hiện thái độ đối
nghịch, tàn phá nhiều làng mạc, bệnh viện, trường học trước khi rút
toàn bộ quân vào ngày 18.3. Nguồn ảnh: TSVN.
Trận
chiến kéo dài 30 ngày đã hủy diệt 4/6 thị xã dọc biên giới Việt Nam,
hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ
em. 400.000 gia súc bị giết, hoa màu bị tàn phá, một nửa trong số 3,5
triệu dân 6 tỉnh biên giới mất nhà cửa, tài sản. Về phía Trung Quốc bị
diệt 62.500 tên, 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép
(hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng
nặng bị phá hủy… Nguồn ảnh: TGVH.
Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc
thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng
xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó
Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống
nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng
của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu
bá quyền" Việt Nam và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước
Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với
Trung Quốc. Ngày 1/11/1977, tờ Nhân dân Nhật báo,
cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc, trong một bài xã luận
đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời
coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 30/7/1977, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa phát biểu: "Chúng
tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia... và
sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền
Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ
ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ
lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể".
Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều
hồi hương, tháng 5 năm 1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một
phần viện trợ (72 trong số 111 công trình viện trợ) không hoàn lại đã ký
cho Việt Nam và rút bớt chuyên gia về nước. Ngày 29/6/1978 Việt Nam gia
nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. Tháng 7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết
viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. Ngày
3/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có
những thoả thuận về quốc phòng như một hiệp ước về "phòng thủ chung" có
nghĩa là "tham khảo ý kiến chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an
ninh quốc phòng của cả hai nước". Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung
Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979,
đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bị cắt.
Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8/1978, Việt Nam có
4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng
lên đến 5.000-8.000. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới
(máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật
chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường
biển. Liên Xô cũng tăng cường áp lực lên Trung Quốc với mục đích đạt được
sự kéo dài Hiệp định Xô – Trung có giới hạn 30 năm về quan hệ Liên minh,
Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày 14/2/1950 (hết
hạn vào ngày 15/2/1979). Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình
tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc
tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân Quân Giải
phóng Nhân dân Trung Quốc trên tổng số quân thường trực chiến đấu là 3,6
triệu người, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn Hồng quân. Tháng 5/1979 trên biên giới Liên Xô - Trung Quốc xảy ra một xung đột
quân sự nghiêm trọng có sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu.
Cũng trong tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận
Cam Ranh. Ít lâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ
cánh xuống Cam Ranh.
Chiến sĩ Đoàn 368 pháo binh tỉnh Hoàng Liên Sơn dội bão lửa trừng trị quân địch, ngày 10/3/1979. Ảnh: Phùng Triệu /TTXVN
Từ 9h15 sáng ngày 20/2/1979, chiến sĩ Đại đội 10, Tiểu đoàn 3
bộ đội Lạng Sơn tổ chức tấn công, chiếm lại đồi Chậu Cảnh và đồi Cây
Xanh (cao điểm 409), thuộc xã Tam Lung, huyện Văn Lãng (tỉnh Lạng Sơn),
bị địch chiếm đóng từ ngày 17/2/1979. Ảnh: Hà Việt/TTXVN
Chiến sĩ tiểu đoàn pháo binh mặt trận Hà Tuyên sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Các chiến sĩ Đại đội 39, Đoàn 313 Hà Tuyên tổ chức tiêu diệt
các ụ súng của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh ta chiếm điểm
cao. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Các chiến sĩ chuẩn bị khí tài chiến đấu trên mặt trận Hà Tuyên. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 3 pháo binh, Đoàn M68 Hà Tuyên chuẩn bị đợt chiến đấu mới. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Nhà cửa của đồng bào bản Hạ, xã Phương Độ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên bị đạn pháo địch tàn phá. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Dân quân huyện Văn Quán, tỉnh Lạng Sơn vừa bám trụ chiến
đấu, vừa tổ chức vận chuyển đạn kịp thời đến trận địa phục vụ bộ đội
pháo binh tiêu diệt địch, ngày 27/2/1979. Ảnh: Hà Việt /TTXVN
Các nữ chiến sĩ tự vệ Lâm trường Bản Phiệt, huyện Mường
Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc tỉnh Lào Cai) bám trụ chiến đấu,
phối hợp với bộ đội địa phương đánh lui nhiều đợt tấn công của địch.
Ảnh: Nguyễn Trân/TTXVN
Bác sĩ cứu chữa vết thương cho các học sinh trường Phổ
thông cơ sở xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Tuyên bị trúng mảnh
đạn pháo trong khi đang vui chơi. Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN
Xe tăng địch bị quân ta đánh lật nhào trong đợt 17/2/1979. Ảnh: Mạnh Thường/TTXVN
Chiến sĩ biên phòng Ngô Duy Nhung cứu sống kịp thời cháu bé này từ trong đống đổ nát. Ảnh: Ngô Đình Phước /TTXVN
Chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn M123 bộ đội Lạng Sơn
chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt hàng trăm tên địch tại đồi Không Tên trong
2 ngày 17-18/2/1979. Ảnh: Long Sơn/TTXVN
Chiến sĩ đoàn X tải đạn lên điểm tựa Hà Tuyên. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN
Dân quân xã Mẫu Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn bám trụ
trong 7 ngày đêm, vận chuyển hàng chục tấn đạn dược, lương thực tiếp tế
cho bộ đội đánh địch. Ảnh: Long Sơn/TTXVN
Chiến sĩ xe tăng Trung đội 1, Đại đội 2, Đoàn 407 truy kích quân địch ở thị xã Lạng Sơn. Ảnh: Thế Thuần/TTXVN
Khu nhà lắp ghép 4 tầng của cán bộ, công nhân tại thị xã Lào
Cai, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc tỉnh Lào Cai) bị địch dùng mìn đánh
phá. Ảnh: Phùng Triệu/TTXVN
Xe tăng địch bị bộ đội ta tiêu diệt tại Cao Bằng. Ảnh: Mạnh Thường/TTXVN
Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến
lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn
với Việt Nam để thăm dò khả năng tương trợ của Liên Xô, sau khi Việt Nam
gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978)
có giá trị trong 25 năm, trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự.
Nếu thỏa ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy
Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc,
nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng
đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô.
Về phía Liên Xô, nguy cơ bị cô lập về ngoại giao sau khi quan hệ
Trung Quốc - Hoa Kỳ trở nên nồng ấm khiến Moskva buộc phải tìm cách tăng
cường quan hệ đối với Việt Nam. Viện trợ kinh tế của Liên Xô cho Việt
Nam tăng đều từ năm 1975 đến 1979
từ 450 triệu USD lên 1,1 tỷ USD, viện trợ quân sự cũng tăng mạnh do sự
kiện xung đột Việt Nam Campuchia (từ 125 triệu USD năm 1977 lên 600
triệu năm 1978 và 890 triệu năm 1979). Năm 1975, sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ bác bỏ đề nghị đàm phán xây
dựng mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại nước này âm mưu
áp đảo Campuchia và lôi kéo Campuchia vào một Liên bang Đông Dương. Khmer Đỏ
tìm đến Trung Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung
Quốc từng ủng hộ Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt
những năm 1960 và không nhiệt tình ủng hộ họ chống Lon Nol. Trung Quốc
đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố rằng chính phủ mới sẽ được dẫn
dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ do nước này cần một đồng
minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc quan hệ Việt -
Trung ngày càng xấu đi, đồng thời Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ bành
trướng ở Đông Dương nên cần phải ngăn chặn "nguy cơ bá quyền của Việt
Nam". Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao
Mỹ vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của
chính phủ Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc, “[Ngoại trưởng Trung
Quốc] Hoàng Hoa lưu ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số
lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ
lâu những kế hoạch cho một Liên bang Đông Dương”. Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố "kiên
quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can
thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia". Đại
sứ quán Trung Quốc ở Phnom Penh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện
trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của
Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ
luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến Campuchia thành vệ tinh
của Trung Quốc.
Tù binh Trung Quốc bị áp giải trong cuộc chiến
Tù binh TQ bị bắt
Dân binh Trung Quốc trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng
4.000 lính Trung Quốc tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến.
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các
nước láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh
thổ thuộc đế quốc Khmer đã bị các quốc
gia láng giềng như Thái Lan, Việt Nam chiếm từ thế kỷ 18 trở về trước.
Hành động này bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc được khơi dậy từ thời Pháp
thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk, Lon Nol và sau
này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì đã
tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung
đột lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các
vùng lãnh thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet
và Surin,
bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài
tranh chấp biên giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng
Khmer Serei chống Khmer Đỏ sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để
tấn công Khmer Đỏ.
Đáp lại, Khmer Đỏ cũng hỗ trợ những người cộng sản Thái Lan thiết lập
"Angka Siam" chống đối chính quyền Thái Lan, và huấn luyện lực lượng này
từ các tỉnh tỉnh Sisaket, Buriram và tỉnh Surin trên biên giới Thái.
Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng
5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu
và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978
khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục
nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn
là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn
quân sự. Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn
xếp quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, song Trung Quốc im lặng. Bên
cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung
Quốc và Campuchia, Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia
để tấn công Việt Nam.
Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;
cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa; và cố gắng của
Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông Dương
được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự
hỗn xược của Việt Nam. Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh
viện trợ kinh tế cho Việt Nam, cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.
Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và
ký kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2
năm 1976.
Tháng 2 năm 1976, trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng
quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen, Trung Quốc đã
đồng ý viện trợ quân sự cho Campuchia 226 triệu nhân dân tệ (tương đương
1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978). Chính sách ngoại giao của Trung
Quốc với khu vực Đông Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường
quan hệ với khối ASEAN
vốn ở thế đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt
bỏ viện trợ của nước này đối với các đảng cộng sản ở đông nam Á.
Tháng 2 năm 1977, Trung Quốc nói với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung
cấp viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến
tranh.
Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977, Pol Pot có chuyến thăm tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước. Ngày 20/11/1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc. Trong cuộc hội đàm giữa
Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến những tranh
chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc
nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình bộc lộ ngày càng rõ. Lê
Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông
qua việc "chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam".
Lê Duẩn cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia
Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới
Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm. Cuối cùng, giống như chuyến
thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở
tiệc đáp lễ Trung Quốc.
Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng
tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam.
Trong chuyến thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không
một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc
và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi". Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần "phải
chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt Nam là tay sai
của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á,
thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không
đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á,
xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa". Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng
yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt
Nam - Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng
1 năm 1978, bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnom Penh
và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ,
bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh
Siêu cũng tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công
nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự với
Việt Nam. Ngày 17/6/1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở
Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh
phải dời về nước. Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo
của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam".
Ngày 4/11/1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu
nghị và hợp tác), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông
Đông Hưng sang Campuchia để bày tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với
Campuchia. Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R. Sardesai, từ năm 1975-1978,
Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca,
súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy
đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng
10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn
luyện quân đội Polpot". Theo Marish Chandona, tháng 7 năm 1977,
Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, nhưng đến tháng 1 năm 1978, Campuchia có 25
sư đoàn.
Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả Campuchia cũng như Trung
Quốc đều lên một đỉnh mới. Cùng lúc căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc lên
cao thì ở biên giới phía tây nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với
sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm
lấn miền Nam Việt Nam.
Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến
tranh biên giới Việt Nam - Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào
Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học"
(lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân
đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.
Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp
tiến hành. Sau khi Phnompenh thất thủ, ngày 27/1/1979 tờ Nhân dân Nhật
báo có bài viết, trong đó có đoạn: "Sự thất thủ của Phnom Penh không có
nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu" và "vấn đề Campuchia
đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một
điểm không thể nào quay trở lại được nữa".
Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền
lực nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan
hệ khó khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ
hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12
năm 1978, tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình
trực tiếp, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt Nam bài học".
Tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng
Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội
đàm với Thủ tướng Thái Lan
Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung Quốc
sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau
hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện
cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại
hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.
Tù binh Trung Quốc bị 2 nữ chiến sĩ của ta dẫn giải về hậu cứ.
Tên tù binh Trung Quốc viết lời khai.
Xe tăng của Trung Quốc bị bắn cháy ở Bản Sậy huyện Hòa An, Cao Bằng.
Chiến sỹ ta đứng trên xác xe tăng Trung Quốc bị bắn nát trên đồi Nà Toong.
Xe tăng Trung Quốc bị ta bắt sống
Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức
thuận lợi cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du
sang Mỹ, cùng với việc ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học",
Trung Quốc tỏ ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ
cũng im lặng tán thành. Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu
cho Việt Nam vào cuối năm 1978, vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu
của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp viện trợ bổ sung, cũng khiến dự
trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt trong thời điểm quyết định
khi quân Trung Quốc tấn công.
Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal của chính quyền Carter
viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời
khuyến khích ngầm Trung Quốc, và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc
tình hình tại vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan
sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên
tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến về hướng biên giới phía nam
với Việt Nam. Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, hoạt động vũ
trang mang tính khiêu khích tại biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày
càng nghiêm trọng. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục
của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày
15/2/1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam
năm 1978 là 583 vụ, trong tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2 năm 1979
là 230 vụ. Không những vậy, Trung Quốc còn cho trên 100 lượt máy bay xâm
phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng
biển Việt Nam. Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần
ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm biên giới Việt
Nam tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Ngày 10/9/1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam
Sa (Hoàng Sa và Trường Sa). Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thăm
Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn
đầu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn
nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa trong chuyến thăm
Trung Quốc, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần
đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24/9/1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình
tuyên bố phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc
hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ
hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn đề. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu. Ngày 10/11/1975, Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến Bộ
Ngoại giao Trung Quốc công hàm nhắc lại tuyên bố ngày 24/9 của Đặng Tiểu
Bình và đề nghị ngưng tuyên truyền liên quan đến tranh chấp về các quần
đảo nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc thương thảo. Tuy nhiên trong
công hàm trả lời ngày 24/12/1975, Bộ ngoại giao Trung Quốc bác bỏ đề
nghị này. Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cộng hòa miền Nam Việt
Nam tuyên bố Việt Nam sẽ giành quyền bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp
giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm
cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ với
tuyên bố này. Ngày 30/7/1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: "Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) mà không cần phải thương lượng gì hết". Ngày 7/10/1977, Việt Nam và Trung Quốc có cuộc họp đàm phán về biên
giới. Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đề nghị đăng ký thảo luận về quần
đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, trưởng đoàn đàm
phán Trung Quốc Hàn Niệm Long từ chối. Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề
biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái
phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu
19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và
Trường Sa. Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam. Trước năm 1975,
có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15%
sống ở phía bắc vĩ tuyến 17 và 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt
Nam. Cho
đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương
từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị.
Ngày 30/4/1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ "sự
quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt", hứa
hẹn "sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội
vàng". Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước.
Sau đó, tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung
Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam –
Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại
tại biên giới. Do có quá nhiều người Hoa xin nhập cảnh vào Trung Quốc,
nước này đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính
thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần
có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận
những "nạn kiều người Hoa" đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ
không nhận về "người Việt gốc Hoa", hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam.
Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan
hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Việt Nam
Theo
hồi ký của tướng Châu Đức Lễ, tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu,
tháng 9 năm 1978, tại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng
Nhân dân Trung Quốc
diễn ra một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt
Nam chiếm đóng". Mối quan tâm ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên
giới. Đề xuất đầu tiên tại cuộc họp muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào
một trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, Cao Bằng, Việt Nam giáp với
Quảng Tây, Trung Quốc. Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam
sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cần có một cuộc
tấn công tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn
công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng
hơn. Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào.
Tháng
2/1979, Đặng Tiểu Bình đưa 200.000 binh lính của Đảng Cộng sản Trung
Quốc (ĐCSTQ) sang xâm lược Việt Nam. Trong vòng một tháng, hơn 20.000
binh lính Trung Quốc tử trận, bị thương vô số, sau cùng đã thất bại thảm
hại và phải rút quân về. Nguyên nhân của cuộc chiến này bắt nguồn từ
việc ĐCSTQ dung túng cho Khmer Đỏ thảm sát 1/4 dân số Campuchia, trong
đó có cả kiều bào Trung Quốc và Việt Nam. Vì để bảo vệ người dân Việt
Nam tại Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa quân đến Campuchia,
quét sạch Khmer Đỏ và giải cứu người dân Campuchia thoát khỏi địa ngục.
Sau đó, ĐCSTQ đã đưa quân tiến đánh Việt Nam, trả đũa Việt Nam đã tiêu
diệt Khmer Đỏ.
Hoa Quốc Phong (trái) và Đặng Tiểu Bình
Thượng tướng Hứa Thế Hữu, kẻ
cầm đầu quân đội Trung Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới
phía Bắc Việt Nam tháng 2/1979 (Ảnh tư liệu)
Xe tăng của Trung Quốc xâm lược
tiến vào địa phận Lạng Sơn của Việt Nam trong Chiến tranh biên giới
1979, một trong vô số hình ảnh vạch trần cái gọi là "Chiến tranh tự vệ
chống Việt Nam" mà Bắc Kinh rêu rao. (Ảnh tư liệu: Sina)
Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore.
Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước này rằng
Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.
Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới Việt Nam -
Trung Quốc. Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trong
phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần. Ngày 8 tháng 12 năm
1978, Quân ủy Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra chỉ thị cho các
Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10
tháng 1 năm 1979 để thực hiện chiến dịch tấn công Việt Nam.
Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân
Trung Quốc "phản công" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát ngôn
viên của Tân Hoa xã nói: "Các
lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên
không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không
muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là một đường biên
giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến đủ
mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ
chặt chẽ biên giới của tổ quốc." Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không
rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật
đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia - một đồng minh của Trung Quốc và là
một trong những chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20. Về sau, một số nhà sử
học suy đoán rằng cuộc chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại
hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của
Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Những người khác cho rằng Đặng Tiểu
Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng
cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.
Thám báo Trung Quốc bị bắt khi đột nhập vào Việt Nam
Trước Ải Nam Quan
Lính TQ vượt sông tràn vào VN
Đạn pháo Trung Quốc tàn phá Cao Bằng.
Bệnh viện Trùng Khánh ( Cao Bằng) đổ nát
Lính TQ phá đường tàu.
Nữ dân quân Móng Cái, Quảng Ninh sẵn sàng giáng trả địch
Quân dân Hà Nội sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc
Và họ phải đền tội
Người chết ngổn ngang trên núi Lão Sơn
Tù binh TQ- bài học mà Đặng Tiểu Bình muốn dạy Việt Nam là thế này chăng?
Theo Carl Thayer, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh:
sau khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi
cộng đồng người Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc
coi là kẻ thù, rồi lại tấn công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của
Bắc Kinh. Trung Quốc muốn "dạy cho Việt Nam một bài học" vì đã thách
thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh
việc xâm lấn Việt Nam để "bình định vùng biên giới" sau nhiều năm căng
thẳng với các xung đột ngày càng nhiều, Trung Quốc phải hành động để
chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ.
Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về phía nam của Trung Quốc.
Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những kế hoạch tiến xuống
Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ khí, thuốc men
và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng,
đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế
Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc
làm thế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất
phục. Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979,
Trung Quốc thực hiện
hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam
tại biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân
Việt Nam, và đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới.
Các cuộc tấn công nhỏ này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng
Trung Quốc tập trung tại biên giới ngày càng đông. Không có tài liệu gì
về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt Nam. Dấu hiệu đầu tiên của
chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường sắt Hữu Nghị nối liền
hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978.
Đến cuối tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc
(khoảng 225.000 quân), đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700
máy bay chiến đấu và máy bay ném bom - 1/5 lực lượng không quân Trung
Quốc - đã được đưa đến các sân bay gần biên giới. Các động thái leo
thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam đề cập tại cuộc họp của
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 2 năm 1979. Từ ngày 9 đến ngày 12/2/1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình
hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy
chung. Ngày 16/2/1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của
cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp nước này.
Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc
chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn
chế về thời gian và không gian.
Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại
biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng,
Việt Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần
dân chúng sẵn sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại
thời điểm đó vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc
vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa
phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ chiến tranh và sẽ phản đối chiến
tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu Bình chỉ một tuần trước
khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962
với Ấn Độ, cộng với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân
sự này "giới hạn về không gian và thời gian", khiến Hà Nội tin tưởng họ
có khả năng cầm chân quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới. Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu
là dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ
ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân
quân tại các tỉnh biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham
gia chiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại
đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương. Hà Nội giữ
lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng
bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến leo thang. Trong
hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân đội Việt
Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc
hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình
nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường
hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng
Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai
bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết
trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã
chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị
trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt. Cùng
ngày, một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do đại tướng
G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội
hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Nhóm chuyên gia của
Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấn cho bộ tư lệnh lực lượng
Phòng không – Không quân còn Đại tướng G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng
tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút
quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng.
Quân TQ trên chiến hào 1 điểm cao, có lẽ vừa qua 1 trận đánh, xác chết được chùm chăn dưới hào
Quân TQ băng vào hàng rào
Quân TQ chuẩn bị bắn
Chúng củng cố công sự
Hình như quân TQ đang vượt sông Kỳ Cùng????
Không rõ lính TQ bắt ai???
Ngày 5/11/1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong chuyến
đi ngày Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt - Xô ngày
3/11/1978 là mối đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi
thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối
nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ
quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt
Nam. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp
quân sự đối phó với Việt Nam. Các nước ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột
Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Trung Quốc là "nhân tố không ổn định
đối với hoà bình khu vực". Tuy nhiên, vì Việt Nam nghiêng về phía Liên
Xô nên các nước ASEAN nhận thấy cần phải nhích lại gần Trung Quốc hơn
nữa. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho
phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia
và trở về.
Theo Nayan Chanda, liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con
đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một
cái then chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia.
Sau đó, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật.
Về mặt ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng
12 năm 1978, trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng
Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong
kế hoạch tấn công Việt Nam.
Tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung
Quốc, nếu xảy ra, sẽ nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự
quốc tế.
Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn
công Việt Nam với mong muốn có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ.
Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các
ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm
nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động". Đặng
Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh
chóng. Trong chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, Đặng đã chuẩn bị
tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự
trừng phạt như đã loan báo. Hai
tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại
sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng A. Gromyko
là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt
Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT
mà Liên Xô rất mong muốn. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1 năm 1979, phía Trung Quốc liên tiếp có
nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược,
lên án Việt Nam chiếm đóng Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân
chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng
Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm
dứt viện trợ cho Việt Nam. Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung
Quốc công khai tuyên bố: "Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô",
"Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục", cuộc tiến công của Trung
Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học". Trước
thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn
Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin thì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản "tuyên bố chiến tranh với Việt Nam". Ngày 7 tháng 2,
Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với thông cáo
chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc quân
đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia
yêu hòa bình "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man
này".
Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm hiệp ước Trung-Xô về vấn đề Mông Cổ
và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước hợp tác Trung-Xô, Đặng Tiểu
Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam. Ngay khi cuộc chiến nổ ra, Hoa Kỳ tuyên bố giữ vị trí trung lập và
kêu gọi "sự rút quân lập tức của Việt Nam khỏi Campuchia và Trung Quốc
khỏi Việt Nam", nói rằng "việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam là sự tiếp nối của việc Việt Nam xâm lược Campuchia".
Nhưng theo đánh giá của Nayan Chanda, Hoa Kỳ đã là quốc gia phương Tây
duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc; trái với
lời lên án việc Việt Nam tiến đánh Khmer Đỏ là "một mối đe dọa cho hòa
bình và ổn định trong khu vực", tuyên bố của Mỹ về cuộc tấn công của
Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc thâm nhập biên giới
Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia".
Ngoài Hoa Kỳ thì đa số các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hành
động quân sự của phía Trung Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới
chính sách ngoại giao bước đầu mở cửa của Bắc Kinh khi đó.
1 tốp lính thông tin TQ bị quân Vn tiêu diệt, còn lại chiến lợi phẩm Quân TQ đang thu dọn xác chết
1 lính Tq vừa bắn xong quả B41 1 tên sĩ quan TQ cầm khẩu k54 Các cuộc chiến đấu dữ dội
2 lính TQ đứng gác ở 1 căn nhà Pháp ở Lào Cai 1 lính TQ bị bắn trúng mặt khi đang dùng răng giật chốt lựu đạn chày Không biết tên lính này đang bắn khẩu súng gì? Nơi tập trung đạn dược quân TQ
1 tổ nấu ăn của TQ
Lính TQ đang chiến đấu, 1 tên bị thương đang sờ hòm lựu đạn Quân TQ bắt 3 người, không rõ họ là bộ đội hay dân quân???
Quân TQ đang tấn công 1 hang, có lẽ có người dân trú ẩn
Ngày 18 tháng 2, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam: "Việc
Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc
Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà
bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy
tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những
nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng
vạch trần trước toàn thế giới chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở Đông
Nam Á".
Liên Xô viện dẫn hiệp định ký với Việt Nam, thúc giục Trung Quốc "ngừng
trước khi quá muộn" và đòi Trung Quốc rút quân lập tức và toàn bộ.
Trong thời gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô
đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành động man rợ bất chấp
đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt "cuộc chiến tranh
xâm lược", và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô
đối
với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Liên Xô - Việt Nam.
Ngoài ra, Liên Xô không có hành động can thiệp quân sự mà chỉ hỗ trợ
vận chuyển bằng hàng không, triển khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam
và tăng cường gửi cố vấn và chuyên gia quân sự sang Việt Nam nhằm tránh
đổ vỡ quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc.
Liên Xô cũng cảnh báo Trung Quốc về việc đặt các lực lượng vũ trang Xô
Viết ở Siberi vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu số 1 đồng thời cung cấp
cho Việt Nam các thông tin quân sự thu được từ vệ tinh do thám. Bản thân
chính quyền Hà Nội, vốn giữ chiến thuật phòng thủ trong cuộc chiến,
cũng từ chối sự tham gia của các phi công Liên Xô vào các trận đánh.
Đặng Tiểu Bình thăm Hoa Kỳ ngày 29/01/1979, không lâu trước khi cho quân đánh Việt Nam. Ảnh: AP
Đặng Tiểu Bình, Tổng thống Jimmy Carter cùng quan chức đại diện của hai
nước Mỹ-Trung trong cuộc hội đàm tại Washington. Ảnh tư liệu.
Trong
cuốn hồi ký của mình, Brzezinski đã kể lại rằng lãnh đạo Trung Quốc đã
nói về quyết định tấn công Việt Nam với thái độ rất “bình tĩnh, quả quyết và chắc chắn”.
Theo đó, Đặng đã thông báo với phía Mỹ rằng để ngăn chặn sự bành trướng
của Liên Xô, Trung Quốc cho rằng cần phải có những biện pháp hạn chế
tham vọng và dạy cho Việt Nam “một bài học thích đáng”
5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979,
lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào
Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng
và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh
và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ
nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm
bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh
Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân
đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía tây có sở chỉ huy
tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất
do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng
thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của
quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu.
Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực
dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là
Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.
Quân dân địa phương phối hợp chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979
Lính TQ tấn công Bát Xát Lính TQ chiếm Doanh trại QĐNDVN tại Cao Bằng
Pháo hạng nặng và bộ binh xuất phát, tấn công Lạng Sơn
Ở Cao Bằng, sáng 16/2, tất cả các Đồn trưởng Biên phòng đều được
triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh. Sáng hôm sau họ tìm về đơn vị
triển khai chiến đấu khi… Trung Quốc đã tấn công rồi.
Bộ đội và dân quân ta bị TQ bắt làm tù binh
Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ
17/2, nói rằng: Cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một
vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường
Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ
kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực
lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa
phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 Trung đoàn.
Lính TQ tấn công Lai Châu
Nữ
tù binh Việt Nam bị hảm hiếp, sau đó đốt cháy thủ tiêu. Cảnh này chúng
tôi đã nhìn thấy trên chiến trường, và những chứng nhân
tường thuật lại trong cuộc chiến tranh biên giới VN-TQ. Nguồn: Tài
liệu Huỳnh Tâm.
Xe bọc thép Trung Cộng thuộc Trung đoàn 55, đang làm nhiệm vụ thảm sát
trại nữ tù binh Việt Cộng. Những tù binh còn sống họ khai thác tình
dục, đối sử bất lương, mỗi khi có bệnh nhân, bác sĩ không quan tâm, cai tù lạnh
nhạt. Họa sĩ Thiết Huyết, loan tải trên Lịch sử diễn đàn Trung Quốc.
Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất
cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc
vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại
còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa
trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã
mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng
thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ
suối, các cây cầu để ngăn chặn lực lượng tiếp viện của Việt Nam từ phía
sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường
dây điện thoại để cô lập sở chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo. Tiến
nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc
độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần quá lạc hậu
phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng.
Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các
hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự
tinh nhuệ có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc
phải chịu thương vong lớn.
Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người
của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ
Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất
diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa
khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông
Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.
Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt
nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao
Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn
bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh
Trung Quốc.
Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây
nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn
12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với
lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã
chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối
cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi
được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa
chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất Đđộc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao
Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút
quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn. Đến 21 tháng 2,
Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa.
Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm
thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến
sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam,
cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư
đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng
ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến
tranh hạn chế" và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được
xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi
rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn
hơn, và gây khó hiểu cho Việt Nam. Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak
của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt Nam.
Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra
Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí, khí tài bay tới Hà Nội. Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này.
Sau khi thị sát chiến trường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt
Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo
phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức
và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn
vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu
trong hậu phương địch. Phi
đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã tiến hành không vận Quân đoàn
2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn. Ngày
25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân
dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực
lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và
sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979,
quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị
trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để.
Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có
chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất
chậm và bị thiệt hại nặng. Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai
thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung
Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.
Phụ nữ, trẻ em và dân quân Việt Nam bị Trung Cộng thảm sát trong
ngoài động Thạnh Sơn. Nguồn: Lịch sử diễn đàn Trung Quốc.
Quân Trung Cộng
không tha bất cứ già trẻ, giật sập cửa động, dùng khí độc, chất hóa học thả xuống
các lỗ thông hơi giết sạch mọi người trong động. Nguồn: Lịch sử diễn đàn
Trung Quốc.
Hai lính TQ, Dương Minh (Yang Ming-杨明)
và Hoàng (Huang-黄)
chính tay họ cắt xén thân thể của nữ tù binh Việt Nam. Nguồn: tài liệu Huỳnh
Tâm.
Trại nữ tù binh
tại Bác Lý Hà. Lịch sử diễn đàn Trung Quốc loan tải.
Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm.
Một nữ tù binh Việt Nam còn mặc quần áo bệnh xá, bị lính Trung Quốc hãm
hiếp tập thể,chúng đang gọi điện báo cho đồng bọn đến tiếp tục cưỡng
dâm. Người nữ tù binh này được giải vây và cứu thoát. Ảnh: NF3.86.
Thi thể của nữ tù binh Việt Nam bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, sau
đó cắt lấy bộ ngực, bộ ngũ tạng, đôi bắp đùi chân tay để ăn thịt. Thi
thể tại hiện trường đang nằm trên băng ca cứu thương của bệnh xá Tập
đoàn 25. Ảnh:
Nữ tù binh Việt Nam, sau khi bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, và ức
bách cho đến chết, áo ngược bị xé rách toang từng mảnh, cho thấy cự
tuyệt thất vọng, thi thể vứt bỏ tại bìa rừng núi 227, cách bệnh xá Tập
đoàn 25, 2 km. Ảnh: NF3.86
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2.
Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng,
và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6
giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng
và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ
Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện.
Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu
đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung
Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư
đoàn 3 chống trả 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo,
tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến
xã Cao Lâu huyện Cao Lộc.
Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi
trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị
trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư
đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ
hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung
Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt
đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế
trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao
417 bị chọc thủng. Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung,
nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc
vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã
dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh.
Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà
có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung
Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn
162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng
loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt
sông Kỳ Cùng,
chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của
sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía
tây nam thị xã.
Đến đây, phía Việt Nam đã điều động các sư đoàn chủ lực có xe tăng,
pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải
phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327,
338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân
đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân
đoàn 14.
Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc.
Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh",
"chiến thắng" và bắt đầu rút quân.
Ngày 6 tháng 3 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều
kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị này khẳng định: "Trong
khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh
giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu
chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa (...) Không được một
chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là
thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (...) luôn luôn sẵn sàng chuẩn
bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược (...) cần giương cao
chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa
bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ
Việt Nam". Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố rằng để thể hiện "thiện chí hòa bình", Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số
nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát
ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng,
khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và
20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng
hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.
Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có
hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại
các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn,...
Sư đoàn 337
của Việt Nam, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh
Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung
Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại
Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân
Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.
Ngày 16 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố mình chiến thắng,
nhưng xung đột vũ trang tại biên giới Việt - Trung phải mất một thời
gian dài nữa và phải tốn không ít máu xương của cả hai phía nữa mới chấm
dứt hẳn. Đánh giá thiệt hại sau cuộc chiến, tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân
của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500
người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo
tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số
này phía Trung Quốc là trên 20.000).
Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000
quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.Tướng
Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc,
tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi
con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000. Một nguồn khác của Trung
Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng
21.000 bị thương. Theo tuyên bố của Việt Nam, kết quả chiến đấu của họ như sau:
Mặt trận Lạng Sơn: diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng,
thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn,
tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn (có hơi khác
biệt so với ký sự Sư đoàn Sao Vàng).
Mặt trận Cao Bằng: diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng,
thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu
đoàn.
Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai): diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá
hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt
hại nặng 4 tiểu đoàn.
Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: diệt 14.000 lính Trung
Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh
thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn.
Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt
Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn
toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41
nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa
màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp.
Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương
tiện sinh sống. Để được Liên Xô tăng cường viện trợ, từ 27 tháng 3 năm
1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh.
Về phía Trung Quốc, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này
khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế. Khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979, Trung Quốc
tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam". Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2
lãnh thổ có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra.
Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn,
quân Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng
có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc
chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến
đánh Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Trung Quốc nối lại đàm phán
về vấn đề biên giới. Cuộc đàm phán Việt – Trung lần ba diễn ra vào năm
1979 với hai vòng đàm phán. Trong vòng đàm phán thứ nhất phía Việt Nam
cho rằng, trước hết cần vãn hồi hòa bình, tạo không khí thuận lợi để
giải quyết những vấn đề khác. Đoàn Việt Nam đưa ra phương án ba điểm để
giải quyết vấn đề biên giới: chấm dứt chiến sự, phi quân sự hóa biên
giới; khôi phục giao thông, vận tải bình thường trên "cơ sở tôn trọng
đường biên giới lịch sử mà các Hiệp định Trung - Pháp năm 1887 và 1895
đã thiết lập". Phía Trung Quốc kiên quyết từ chối những đề nghị của Việt
Nam, đưa ra đề nghị tám điểm của mình, bác bỏ việc phi quân sự hóa biên
giới, đề nghị giải quyết các vấn đề lãnh thổ trên "cơ sở những công ước
Trung - Pháp" chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các
Hiệp định đó đưa lại. Trung Quốc cũng đòi Việt Nam thừa nhận các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "một bộ phận không thể tách rời của lãnh
thổ Trung Quốc"; Việt Nam phải rút quân ra khỏi Trường Sa, thay đổi
chính sách với Lào và Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia. Trung Quốc
cũng yêu cầu Việt Nam nhận lại những người Hoa đã ra đi. Trong quan hệ
với các nước khác: "Không bên nào sẽ tham gia bất cứ khối quân sự nào
chống bên kia, cung cấp căn cứ quân sự hoặc dùng lãnh thổ và các căn cứ
các nước khác chống lại phía bên kia"; "Việt Nam không tìm kiếm bá quyền
ở Đông Dương hay ở bất cứ nơi nào" làm điều kiện để tiến hành thương
lượng.
Vị trí và lực lượng của Hải quân nhân dân Việt Nam trong trận chiến bảo vệ Trường Sa 14-3-1988
Tàu HQ-604 dưới làn đạn tàn ác của kẻ thù
Tàu HQ-505 ủi bãi bảo vệ Cô Lin
Dưới họng súng của Trung Quốc, chiến sỹ hải quân Việt Nam đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho chủ quyền của Tổ quốc
Đảo Len Đao, hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió
Vòng đàm phán thứ hai được tổ chức tại Bắc Kinh từ ngày 8/6/1979.
Đoàn đại biểu Việt Nam đề nghị hai bên cam kết không tiến hành các hoạt
động thám báo và trinh sát dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của nhau;
không tiến hành bất cứ hoạt động tiến công, khiêu khích vũ trang nào,
không nổ súng từ lãnh thổ bên này sang bên kia, cả trên bộ, trên không,
trên biển; không có bất cứ hành động gì uy hiếp an ninh của nhau. Việt
Nam cũng đưa ra những quan điểm của mình về "chống bá quyền" với ba nội
dung chính: Không bành trướng lãnh thổ dưới bất cứ hình thức nào, chấm
dứt ngay việc chiếm đoạt đất đai của nước kia, không xâm lược, không
dùng vũ lực để "trừng phạt" hoặc để "dạy bài học"; không can thiệp vào
quan hệ của một nước với nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nước khác, không áp đặt tư tưởng, quan điểm, đường lối của mình cho
nước khác; không liên minh với các thế lực phản động khác chống lại hòa
bình, độc lập dân tộc. Trong vòng đàm phán này, Trung Quốc chủ yếu chỉ
trích Việt Nam về việc "buộc" Trung Quốc phải thực hiện "chiến tranh tự
vệ", đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quan hệ hai nước và lập
trường tại khu vực, không tập trung giải quyết thực chất vấn đề biên
giới. Đầu năm 1980, Trung Quốc đơn phương đình chỉ vòng ba, không nối
lại đàm phán. Việt Nam liên tiếp gửi công hàm yêu cầu họp tiếp vòng ba,
nhưng Trung Quốc làm ngơ. Trong những năm 1979-1982, Việt Nam nhiều lần
đề nghị nối lại các cuộc đàm phán đã bị Trung Quốc đơn phương bỏ dở,
nhưng Trung Quốc vẫn một mực khước từ.
Từ tháng 3/1979 đến hết tháng 9/1983, Trung Quốc đã cho lực lượng vũ
trang xâm nhập biên giới Việt Nam 48.974 vụ, trong đó xâm nhập biên giới
trên bộ 7.322 vụ có nổ súng, khiêu khích; xâm nhập vùng biển 28.967 vụ;
xâm nhập vùng trời biên giới 12.705 vụ (với hơn 2.000 tốp máy bay).
Trung Quốc bắn pháo thường xuyên vào các vùng dân cư, tiếp tục lấn
chiếm đất đai, xâm canh, xâm cư, di chuyển, đập phá cột mốc, dựng bia,
chôn mộ trong đất Việt Nam. Tính đến tháng 3/1983, Trung Quốc còn chiếm
giữ 89 điểm của Việt Nam.
Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm
giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền
kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, lên cao vào các năm 1984-1985.
Trong tháng 5 - tháng 6 năm 1981, quân Trung Quốc mở cuộc tấn công vào
đồi 400 (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn) ở huyện Cao Lộc, Lạng
Sơn,
xa hơn về phía tây, quân Trung Quốc cũng vượt biên giới đánh vào các vị
trí quanh đồi 1688 ở tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu
với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng.
Ngày 1/2/1984, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang cùng
đoàn cán bộ cao cấp đã đến thăm cao điểm 400 (mà Trung Quốc đặt tên là
Pakhason) để động viên quân đội.
Tới năm 1984, quân Trung Quốc lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn
công lớn vào Lạng Sơn. Đặc biệt tại Hà Tuyên, trong tháng 4 - tháng 7
năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà
Giang mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Quân Trung Quốc chiếm một số ngọn
đồi thuộc dải đồi này, giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi
nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù
quân đông hơn nhiều.
Các nhà quan sát nước ngoài ghi nhận từ tháng 7/1980 đến tháng
8/1987, dọc biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã xảy ra 6 cuộc xung đột vũ
trang lớn vào các tháng 7/1980, tháng 5/1981, tháng 4/1983, tháng
6/1985, tháng 12/1986 và tháng 1/1987. Theo tuyên bố của Ngoại Trưởng
Trung Quốc Ngô Ngọc Khiêm trong buổi họp báo ở Singapore ngày 29/1/1985,
trong năm 1985, Trung Quốc đã điều thêm 8 sư đoàn bộ binh cùng gần 20
sư đoàn tại chỗ áp sát biên giới Việt – Trung; đồng thời, triển khai hơn
650 máy bay chiến đấu, ném bom các sân bay gần biên giới. Còn theo Báo
Nhật Bản Sankei Shimbun ra ngày 14/1/1985, Trung Quốc đã đưa số máy bay
đến gần biên giới Việt - Trung lên gần 1.000 chiếc. Đài BBC ngày
6/2/1985 cho biết: Trung Quốc có 400.000 quân đóng dọc biên giới Việt –
Trung. Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế của Trung Quốc số 2/1982 lý giải mục đích của việc bố trí một lực lượng lớn quân đội ở sát biên giới với Việt Nam "là
để kìm giữ một phần binh lực của Việt Nam ở tuyến biên giới phía Bắc,
do đó làm lợi cho cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Campuchia".
Trung Quốc cũng thường xuyên khiêu khích vũ trang, lấn chiếm, phá hoại
phòng tuyến bảo vệ biên giới, tung gián điệp, thám báo, biệt kích vào
nội địa, kích động các dân tộc thiểu số dọc biên giới Việt Trung ly
khai, xây dựng cơ sở vũ trang, gây phỉ. Từ cuối năm 1980, Trung Quốc hỗ
trợ Fulro và tàn quân Polpot, lập căn cứ ở Đông Bắc Campuchia, lập hành
lang Tây Nguyên- Campuchia –Thái Lan. Trong các ngày 22/2/1980, 27/2/1980 và 2/3/1980 tại vùng biển Tây Nam
quần đảo Hoàng Sa, Hải quân Trung Quốc bắt giữ một số thuyền đánh cá
của ngư dân hai tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và Nghĩa Bình. Từ năm 1979 đến
năm 1982, diễn ra các sự kiện đáng chú ý như Tổng cục Hàng không Dân
dụng Trung Quốc công bố một thông cáo quy định "bốn vùng nguy hiểm" ở
Tây Nam đảo Hải Nam, trong đó có vùng trời của quần đảo Hoàng Sa và buộc
máy bay dân dụng của các nước khác phải bay qua đây vào những giờ do
Trung Quốc quy định; thành lập lữ đoàn Hải quân đầu tiên ở đảo Hải Nam
(12/1979); cho máy bay ném bom H-6 của Hải quân Trung Quốc thực hiện
cuộc tuần tra trên không đầu tiên ở quần đảo Trường Sa (1/1980); năm
1982, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí
viếng thăm quần đảo Hoàng Sa và tàu hải quân của Trung Quốc, Việt Nam đã
đụng độ ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 15/4/1987, Trung Quốc đã ra tuyên bố lên án quân đội Việt Nam
chiếm đóng đảo đá Ba Tiêu thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cho rằng
mục đích của Việt Nam khi triển khai quân đội một cách bất hợp pháp ở
đảo Ba Tiêu là để chiếm hữu thềm lục địa gần đó và mở đường cho việc
khai thác dầu trong tương lai. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút khỏi Ba
Tiêu và 9 hòn đảo khác, bảo lưu quyền thu hồi các đảo này vào một thời
điểm thích hợp. Từ ngày 15/5 đến ngày 6/6/1987, Hải quân Trung Quốc diễn
tập lớn và tổ chức các cuộc nghiên cứu hải dương học ở khu vực quần đảo
Trường Sa. Tháng 1/1988, một lực lượng lớn tàu chiến của Trung Quốc
hoạt động xâm chiếm tại bãi đá Chữ Thập và Châu Viên, xây nhà, cắm cờ
Trung Quốc trên hai đảo này. Ngày 26/2/1987, lực lượng của Trung Quốc đã
đổ bộ lên hai đảo san hô trong quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3 năm
1988 xảy ra Hải chiến Trường Sa
giữ Việt Nam và Trung Quốc gần cụm đảo Sinh Tồn, khiến 3 tàu vận tải
của Việt Nam bị bắn chìm, 20 người chết và 74 người khác bị mất tích.
Trong năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, xây
dựng hệ thống nhà giàn. Tháng 5/1988, tờ Nhật báo Quân đội Nhân dân
thuộc quân đội Trung Quốc có bài viết, trong đó tuyên bố: Hiện nay Hải
quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền
trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý. Các ngày 17 và 23, 26 tháng 3 năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã liên
tục gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh, đề nghị Trung Quốc cử đại diện
đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần
đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và
quần đảo Hoàng Sa; đề nghị hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng
độ để không làm tình hình xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp
Quốc về tình trạng tranh chấp giữa hai bên song phía Trung Quốc vẫn
tiếp tục chiếm giữ các nơi đã chiếm được và khước từ thương lượng, giữ
quan điểm về "chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với quần đảo
Nam Sa" (Trường Sa).
Ngày 13/4/1988, Quốc hội Trung Quốc khóa VI đã phê chuẩn thành lập
Khu hành chính Hải Nam, có địa giới hành chính rộng lớn trên biển Đông,
bao trùm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng
4/1988, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa và sáp nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam -
Trung Quốc. Từ tháng 1/1989 đến tháng 9/1990, Trung Quốc liên tục có các
hành động như: đặt bia chủ quyền trên các đảo đã chiếm được; tập trận,
khảo sát khoa học trong lãnh hải quần đảo Trường Sa.
Lính Trung Quốc đe dọa phóng viên chụp hình
Những năm 1982, 1983 và 1984, tại diễn đàn đàm phán bình thường hóa
quan hệ Xô – Trung ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Trung Quốc nêu vấn đề
quân đội Việt Nam ở Campuchia, đề nghị Liên Xô phải thúc đẩy Việt Nam
rút quân ra khỏi Campuchia, coi việc Liên Xô tiếp tục ủng hộ quân đội
Việt Nam tại Campuchia là trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hóa
quan hệ Trung - Xô.
Cuộc chiến năm 1979 cho Trung Quốc thấy sự lạc hậu của vũ khí cũng
như chiến thuật mà quân đội nước này sử dụng, do đó, sau cuộc chiến là
bắt đầu của một cuộc cải cách và hiện đại hóa mạnh đối với Quân giải
phóng Trung Quốc, ngày nay công cuộc hiện đại hóa này vẫn tiếp tục. Ảnh
hưởng trực tiếp có thể thấy là ngân sách dành cho quốc phòng của Trung
Quốc tăng từ 15% năm 1978 lên 18% năm 1979.
Quan hệ xấu với Trung Quốc đã làm Việt
Nam đã phải trả một cái giá rất đắt.
Việc Trung Quốc duy trì áp lực quân sự tại vùng biên giới trong suốt
mười năm sau đó buộc Việt Nam cũng phải duy trì lực lượng phòng thủ lớn ở
biên giới và miền Bắc. Cùng với việc bị sa lầy với chiến sự dai dẳng ở
Campuchia mà Trung Quốc muốn kéo dài, Việt Nam bị cô lập trong mười năm
đó trên trường quốc tế.
Nền kinh tế yếu kém và bị Mỹ cấm vận phải căng ra duy trì một lực lượng
quân đội lớn, và phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau năm
1979, tình hình kinh tế miền Bắc Việt Nam tệ hại đi rất nhiều so với
thời kỳ trước đó. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển mạnh từ năm 1978
do công cuộc cải tổ kinh tế của Đặng Tiểu Bình. 7 năm sau chiến tranh
biên giới, Việt Nam bắt đầu thời kì Đổi Mới. Sau khi Liên Xô tan rã và
Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước
chính thức được bình thường hóa.
***
Đến
đây, cuộc trường chinh dài dặc đi đòi độc lập dân tộc của dân tộc Việt
trên con đường đầy gian lao và thấm đẫm biết bao máu xương mới thực sự
kết thúc. Sau khi sự nghiệp cứu nước hoàn thành, dân tộc Việt lại bước
vào công cuộc kiến thiết, xây dựng Tổ Quốc ngày một giàu mạnh. Có thể
coi đây là cuộc trường chinh mới, cũng đầy khó khăn gian khổ tuy không
tốn máu xương, với tên gọi "xây dựng thành công Chủ Nghĩa Xã Hội". Con
đường này chắc dài lắm, vì cho đến nay, hàng chục năm qua rồi mà hình
bóng xã hội thiên đường ấy chưa thấy tăm hơi đâu. Và bất giác chúng ta
tự hỏi: chúng ta đã "định hướng Chủ Nghĩa Xã Hội"....đúng chưa?
Theo
hiểu biết chúng ta thì mục đích đầu tiên, trực tiếp và duy nhất của
Nguyễn Tất Thành (tên thời trẻ của Hồ Chí Minh) khi ông ra đi "tìm đường
cứu nước" là tìm cách đánh đuổi Thực dân Pháp xâm lược, giành lại chủ
quyền Dân Tộc. Chỉ thế thôi!
Tình
hình thực tế thời bấy giờ cho thấy sự xâm lược của thực dân gắn liền
với quần chúng thuộc địa bị nô dịch, bị áp bức bóc lột thậm tệ. Cho nên
việc đánh đuổi thực dân cũng đồng thời thực hiện được mục đích thứ hai
là giải phóng nô dịch, xóa bỏ bóc lột, xây dựng một xã hội dân giàu nước
mạnh. Thực ra đó là hai cuộc cách mạng độc lập nhau nhưng cùng chiều.
Trong bối cảnh đó, Lênin đã soạn thảo những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa. Tác phẩm ngắn gọn, vô cùng quan trọng này đã củng
cố những nguyên tắc mácxít về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Những
luận cương đó đã được Đại hội II Quốc tế Cộng sản thông qua và coi là
cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản trong
tình hình lúc bấy giờ. Mười hai luận điểm trong Luận cương toát lên 5 tư tưởng chiến lược lớn: Một là,
đặt vấn đề dân tộc đi đôi với vấn đề thuộc địa; quyền tự quyết của các
dân tộc gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa phải đi đến công
nhận, thực hiện quyền độc lập tự chủ chứ không chỉ có tự trị văn hóa. Hai là,
chỉ rõ trách nhiệm trọng đại của các Đảng Cộng sản ở các nước đế quốc
là phải ủng hộ, giúp đỡ một cách tích cực nhất đối với phong trào giải
phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Ba là, khẳng định
các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc không những có nhiệm vụ giải phóng
khỏi ách thống trị của nước ngoài, mà còn phải đấu tranh chống lại các
lực lượng phản động ở ngay trong nước mình, những lực lượng đó thường là
đồng minh của đế quốc thực dân. Bốn là, đề ra một nhiệm vụ lớn
của cách mạng thế giới là sự đoàn kết chặt chẽ giữa phong trào giải
phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức với các nước đã làm cách mạng XHCN
thành công. Năm là, Quốc tế III đóng vai trò bộ tham mưu chung
của cách mạng thế giới, nước Nga xô viết là ngọn cờ đầu, căn cứ địa,
thành trì của cách mạng thế giới.
Trần Phú - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương
Trần
Phú sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay
thuộc xã huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nguyên quán của ông ở làng Đông
Thái, xã An Đồng, tổng Việt Yên, (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ,
tỉnh Hà Tĩnh).
Cha
Trần Phú là Trần Văn Phổ, từng đỗ Giải nguyên. Thời gian ông làm Giáo
thụ Tuy An đã sinh ra Trần Phú tại đây. Mẹ ông là bà Hoàng Thị Cát,
người làng Tùng Anh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trần Phú là con thứ 7
trong gia đình.
Ngày
19/4/1908, khi đang là Tri huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), do không chịu
được sự đè nén, áp bức, nhục mạ của công sứ Pháp Dodey Besra và bất lực
trước tình cảnh nhân dân đói khổ, lầm than, Trần Văn Phổ đã thắt cổ tự
sát tại công đường. Do nghèo khổ và buồn phiền, 2 năm sau đó, mẹ ông
cũng qua đời ngày 27/11/1910.
Trần
Phú cùng với người em út là Trần Ngọc Danh từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị
sống với người chị gái Trần Ngọc Quang và anh trai Trần Đường, về sau
được một người dì ruột là cung nương Hoàng Thị Khương mang về giao cho
con trai mình là Thái Thường Tự Khanh Phạm Hoàng San và vợ là Phan Thị
Yến (làm việc ở Toà Khâm sứ Huế) nuôi dưỡng, và cho ăn học tại Trường
tiểu học Pháp - Việt Đông Ba rồi Trường Quốc học Huế. Tại Trường Quốc
học Huế, ông được theo học cụ Võ Liêm Sơn một nhà giáo yêu nước.
Năm
1922, Trần Phú đỗ đầu kỳ thi Thành chung (học vị cao nhất theo hệ Pháp
đào tạo tại Việt Nam lúc bấy giờ) lúc 18 tuổi, rồi về dạy học tại trường
Tiểu học Pháp - Việt Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An).
Thời
gian dạy học ở Vinh, vốn có ảnh hưởng tinh thần dân tộc của cha, Trần
Phú có những tiếp xúc đầu tiên với chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, ông
cùng một số bạn bè như Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn, Tôn
Quang Phiệt... thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hưng Nam, rồi lại
đổi ra Việt Nam Cách mạng Đảng.
Năm
1926, với bí danh Lý Quý, Trần Phú đại diện Việt Nam Cách mạng Đảng
sang Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất với Việt Nam Cách mạng
Thanh niên. Tại Quảng Châu, ông tham gia một số lớp huấn luyện về lý
luận và chính trị, được kết nạp vào Cộng sản Đoàn, và được cử về nước
hoạt động. Tháng 12 năm 1926, ông về đến Vinh, tham gia cải tổ Việt Nam
Cách mạng Đảng theo đường lối và tổ chức của Việt Nam thanh niên cách
mạng.
Một
thời gian sau, ông bị lộ, được tổ chức bố trí sang Quảng Châu để hoạt
động với bí danh Lý Viết Hoa. Mùa xuân năm 1927, Trần Phú được Nguyễn Ái
Quốc cử sang học tại trường Đại học Đông Phương (Liên Xô) với bí danh
Likvey (Hhkbch). Tại đây, chi bộ những người Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông được chỉ định làm bí thư chi bộ này.
Năm
1928, Trần Phú là đại biểu dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. Khi đó, tại
quê nhà, ngày 11 tháng 10 năm 1929, ông bị tòa án Nam triều ở Nghệ An xử
án vắng mặt cùng với một số đồng chí của mình.
Tấm
biển trên căn hầm tại ngôi nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội
ghi: Tại đây đồng chí Trần Phú đã viết bản "Luận cương về cách mạng tư
sản dân quyền" của Đảng
Tháng
4 năm 1930, Trần Phú về nước và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung
ương Lâm thời của Đảng (tháng 7), sau đó ít lâu vào Ban Thường vụ Trung
ương. Ông được giao soạn thảo Luận cương Chính trị về vấn đề cách mạng
tư sản dân quyền ở Đông Dương.
Tháng
10 năm 1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở
Hương Cảng (Trung Quốc) đã thông qua bản Luận cương Chính trị và bầu Ban
Chấp hành Trung ương chính thức, ông được bầu Tổng Bí thư đầu tiên của
Đảng.
Tháng
3 năm 1931, với bí danh Anh Năm, Trần Phú chủ trì Hội nghị Trung ương
lần thứ 2 tại Sài Gòn bàn việc chấn chỉnh Đảng sau đợt khủng bố của thực
dân Pháp. Hội nghị khẳng định: "Đảng [Cộng sản Việt Nam] là đảng tiền
phong của giai cấp vô sản, Đảng chiến đấu cho lợi ích sống còn của dân
tộc, cho quyền lợi các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, nhưng không phải
là đảng của Công Nông. Kiên quyết chống tả khuynh, chống hữu khuynh".
Hội nghị đã vạch ra nghị quyết về nhiệm vụ hiện tại của Đảng, nghị quyết
về tổ chức của Đảng, nghị quyết về cổ động tuyên truyền. Tại hội nghị
này, một quyết định về "Tổ chức ra cộng sản thanh niên Đoàn là một nhiệm
vụ thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề
cần kíp của Đảng phải giải quyết". Đây được xem là tiền đề để hình thành
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về sau này. Theo Sophie Quinn-
Judge, tác giả cuốn "Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết đến" (Hochiminh:
The missing years), mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương với Hồ Chí
Minh lúc đó đã xuống dốc rất nhiều. Hồ Chí Minh lúc đó bị chỉ trích vì
người ta bắt đầu xem ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia.
Ngay
sau Hội nghị, do sự phản bội của Ngô Đức Trì, ngày 19 tháng 4 năm 1931,
Trần Phú bị thực dân Pháp bắt tại nhà số 66 đường Champagne (đường Lý
Chính Thắng hiện nay), Sài Gòn.
Biết
ông là cán bộ cao cấp, chính quyền thực dân tìm cách dụ dỗ và tra tấn
để khai thác thông tin. Nhưng với chí khí kiên cường, ông không bị khuất
phục, dù bị đày ải nhiều lần. Ngày 6 tháng 9 năm 1931, ông qua đời tại
Nhà thương Chợ Quán ở tuổi 27 với lời nhắn nhủ bạn bè "Hãy giữ vững chí
khí chiến đấu".
Anh chị em tù chính trị ở khám lớn Sài Gòn năm 1931 đã làm thơ:
Trần Phú anh ơi đã thác rồi
Thác mà như thế đẹp gương soi Bao phen sóng gió đâu sờn dạ Mấy trận đòn tra chẳng hở môi Giọt máu anh hùng giờ tơi tả Trái tim vô sản vẫn không rời
Tuy anh đã thác gương còn sáng Thác được như anh sáng suốt đời
Sau
khi ông qua đời, người thân ông vào Sài Gòn, tìm cách đưa thi hài ông
ra chôn cất tại nghĩa trang Chợ Quán Sài Gòn (nay là thuộc khu vực công
viên Lê Thị Riêng). Năm 1998, người cháu ruột của ông đã tìm cách tìm
lại ngôi mộ của ông thông qua ký ức được kể lại và ngoại cảm. Ngày 4
tháng 1 năm 1999, phần mộ được cho rằng của ông đã được phát hiện. Ngày
12 tháng 1 năm 1999, hài cốt của Trần Phú được di dời về an táng tại quê
hương Đức Thọ, Hà Tĩnh. Mộ của ông được đặt trên ngọn đồi cao thuộc xã
Tùng Ảnh, phía trước mộ là hàng chữ "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".
Luận cương Lênin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định việc lựa
chọn con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc (tên thời trẻ của Hồ Chí Minh), bởi lẽ: Đây là văn bản
chính thức đầu tiên bênh vực cho các nước thuộc địa, các dân tộc “nhược
tiểu”. Những tư tưởng cơ bản trong Luận cương có nhiều điểm phù
hợp với tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt là sự đau xót trước nỗi
thống khổ của quần chúng lao động khắp thế giới và sự quan tâm đến vấn
đề giải phóng các dân tộc thuộc địa cũng như tinh thần đoàn kết của quần
chúng lao động trong đấu tranh. Chính điều này đã làm cho Nguyễn Ái
Quốc phấn khởi và tin theo, dứt khoát đi theo Quốc tế III. Dưới ánh sáng
Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, tinh thần yêu
nước, tinh thần dân tộc cần phải gắn bó chặt chẽ với tinh thần quốc tế
vô sản và vấn đề độc lập dân tộc của Việt Nam cần phải gắn bó khăng khít
với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Người đã tìm thấy ở Luận cương của
Lênin con đường giải phóng đất nước và nhân dân mình. Nguyễn Ái Quốc đã
rút ra kết luận quan trọng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Có thể khẳng định, Luận cương của Lênin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Như vậy, chính Luận cương của Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn
bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính
trị của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ngày
nay chúng ta đều thấy "định hướng XHCN" không phải là con đường duy
nhất tiến lên dân giàu nước mạnh! Tiến lên dân giàu nước mạnh mục đích
không nhiều thì ít, là nỗ lực có xu thế hầu như tất yếu của hầu hết các
thể chế, các chính quyền nhà nước trên thế giới. Nguyên do, thứ nhất là
vì lẽ sống còn, thứ hai là vì có như thế mới phù hợp với nguỵen lý tồn tại của tự nhiên ! Các nước Trung
Quốc, Triều Tiên...có định hướng XHCN không, nếu có định hướng thì sao
lạ thế? Còn Singapore và các nước Bắc Âu...thì sao?
Có lẽ con đường định hướng tiến lên dân giàu nước mạnh duy nhất đúng là con đường xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà thực chất là của dân, do dân và vì dân. Và lúc đó, nên vứt bỏ nhãn mác "định hướng XHCN" đi vì thừa, không cần thiết nữa!
***
Về
phụng sự “dưới trướng” một lãnh tụ thiên tài, kiệt xuất thường là những
cá nhân có năng lực nổi trội, có biệt tài xuất chúng. Hồ Chí Minh đã có
được một tập thể những con người ưu tú như vậy, chẳng hạn là: Trần Phú,
Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà… Một lãnh tụ thiên tài
và một tập thể lãnh đạo tài giỏi, hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc cũng là một trong những nguyên nhân quyết định cho sự thành công
vang dội trong cuộc kháng chiến cứu nước ngót 30 năm của Cách mạng Việt
Nam. Trong niềm vui và tự hào khôn xiết của cả Dân tộc là niềm vui và tự
hào khôn xiết của cả tập thể ấy vì đối với họ, đúng như câu thơ Trần Văn Trà đã viết:
“Ra đi hai bàn tay trắng
Khi về một dải giang sơn”
Tuy
nhiên hai câu thơ đó làm cho chúng ta ngậm ngùi nhớ về nhiều con người
hữu danh cũng như vô danh đã gục ngã, đã khuất trên dọc đường trường
chinh ấy, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông thực sự đã “ra đi hai bàn
tay trắng” để giành lại giang sơn cho dân tộc Việt, nhưng ông đã không
có mặt trong ngày Toàn Thắng.
Trần Văn Trà
(15 tháng 9 năm 1919 – 20 tháng 4 năm 1996) là một nhà quân sự và chính
trị gia người Việt Nam. Ông là Thượng tướng của Quân đội nhân dân Việt
Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Trong Chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, ông là Tư lệnh Quân
Giải phóng miền Nam và Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh , Chủ tịch Ủy
ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định .
Ngay
từ năm 1960, Hồ Chí Minh đã tiên đoán rằng chậm nhất là 15 năm nữa,
miền Nam sẽ được giải phóng, Nam - Bắc sẽ xum họp một nhà và thường trực
trong ông một mong ước tột cùng là đến ngày đó ông sẽ vào thăm hỏi đồng
bào Miền Nam. Mong ước đó đã không bao giờ thành hiện thực: Hồ Chí Minh
từ trần vào ngày 2-9-1969 (đúng vào ngày Quốc Khánh của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng Hòa - cuộc đời của những thiên tài thường hay có những điểm
kỳ lạ mà chỉ có thể giải thích được bằng con đường tâm linh).
Hồ
Chí Minh chưa bao giờ kể về đời mình, chắc rằng không phải ông “làm
cao” mà có lẽ ông định sau khi thống nhất nước nhà, thực sự mãn nguyệt
rồi, lúc đó ông sẽ kể? Hay là vì điều này: Hồ Chí Minh là một vĩ nhân và
những bậc vĩ nhân thường phải hội đủ hai mặt: danh tiếng “nổi như cồn”
đồng thời cuộc đời có nhiều uẩn khúc? Và phải chăng địa linh nhân kiệt
hun đúc nên vĩ nhân, anh hùng và đồng thời cũng bày ra sự trái ngược ấy
để vĩ nhân, anh hùng đi vào lịch sử, bất tử ở đó với những câu chuyện
truyền kỳ đượm sắc thái lung linh, huyền thoại liên quan đến thân thế,
sự nghiệp họ?
Trong
chính sử, điều rõ ràng là ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có
phó bảng Nguyễn Sinh Sắc lấy vợ là Nguyễn Thị Loan, sinh được ba người
con: Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Sinh Cung. Cả ba
người con ấy sau này đều không lấy vợ (hay chồng) nên cũng không có con.
Lịch sử không nói đến thân phụ của Nguyễn Sinh Sắc là ai và cũng không
cho biết Nguyễn Sinh Sắc là con một. Lịch sử về thân thế dòng họ Nguyễn
Sinh, cơ bản chỉ có vậy. Người ta có cảm giác một dòng họ đột ngột được
sinh ra từ trời đất, duy trì được 2 đời rồi tuyệt nhiên trở về trời đất,
mất hút. Thật kỳ lạ!
Nguyễn Sinh Sắc (chữ Nho: 阮生色, còn gọi là Nguyễn Sinh Huy (阮生輝); sách báo thường gọi bằng tên cụ Phó bảng; cụ Sắc, 1862 – 27 tháng 11, 1929) là cha ruột của Chủ tịch nước Việt Nam đầu tiên – Hồ Chí Minh.
Ngưỡng
mộ và kính phục Hồ Chí Minh, trong một thời gian dài, chúng ta đã cố
gắng tìm hiểu nguồn gốc, dòng họ của Nguyễn Sinh Cung (tên lúc còn nhỏ
của Hồ Chí Minh), từ Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ ông, trở về trước và
không thu được một manh mối thực sự đáng tin nào. Đành rằng ở Nam Đàn,
Nghệ An cũng có một dòng họ Nguyễn Sinh, và cũng có thông tin kiểu “rỉ
tai, truyền khẩu” rằng Nguyễn Sinh Sắc là con em ruột thịt của dòng họ
này. Nhưng vì thông tin đó tỏ ra manh mún, mờ nhạt và hơn nữa ẩn chứa
nhiều mâu thuẫn nên rất khó lòng mà tin được. Thời Nguyễn Sinh Sắc so
với ngay thời nay vẫn là một quá khứ “rất gần”, so với thời Hồ Chí Minh
còn sống, còn gần hơn nữa. Sao trong thực tế lịch sử thấy mối quan hệ
giữa cha con Nguyễn Sinh Sắc với dòng họ Nguyễn Sinh có vẻ hời hợt,
thiếu mật thiết? Chưa từng nghe Hồ Chí Minh có chú, bác ruột. Điều đó
phải chăng vì Nguyễn Sinh Sắc là con trai một? Nếu thế sao không thấy
Nguyễn Sinh Sắc lập bàn thờ, ít ra là thờ cha mẹ mình theo truyền thống
dân tộc Việt. Tại sao lúc về già, Nguyễn Sinh Sắc giã từ con cái (ông
Khiêm, bà Thanh), rời bỏ quê hương bản quán, hành phương Nam, đến Cao
Lãnh - Đồng Tháp xa xôi hành nghề bốc thuốc và hoạt động yêu nước rồi
mất tại đó?
Dứt
khoát thông tin “rỉ tai, truyền khẩu” nói trên chưa xuất hiện khi ông
Khiêm, bà Thanh và Hồ Chí Minh còn sống, vì không ai trong số họ, như
mọi người dân Việt khác lại vô cớ chối bỏ dòng họ, ông bà mình. Nếu lúc
đó đã có thông tin đó thì nó phải là sự thực, có tính công khai và phải
có rất nhiều người biết, còn không, chỉ là một sự vu khống. Mà ai lúc đó
dám mở miệng vu khống? Có thể nghĩ rằng đó là một thông tin thất thiệt,
mãi về sau mới được tung ra và đơn giản là chỉ vì một ước muốn háo danh
thầm kín nào đó chăng?
Như
vậy, nếu suy luận của chúng ta có lý thì họ Nguyễn Sinh của Nguyễn Sinh
Sắc và dòng họ Nguyễn Sinh ở Nam Đàn - Nghệ An chỉ là một sự trùng hợp
ngẫu nhiên, còn không, nó phải hàm chứa một uẩn khúc nào đó. Để giải tỏa
cái uẩn khúc đó thì trước tiên phải trả lời được câu hỏi: Nguyễn Sinh
Sắc thực sự là ai, tại sao lại mang họ Nguyễn Sinh? Theo một bài viết (theo
tác giả, "Đây là những lời truyền miệng nhân gian, cho nên cùng lắm,
chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà, nếu không khó tính lắm,
ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử.") của giáo sư Trần Quốc Vượng, là một trong những nhà khảo cổ học và nghiên cứu sử Việt Nam hàng đầu: "Nhưng
đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ. Hồ. Mà
vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng
là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại,
Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài
này.
Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy
không phải là thuộc dòng máu mủ của họ. Nguyễn Sinh làng này. Mà là con
của một người khác: ông đồ nho - cử nhân - Hồ Sĩ Tạo.
Cử
nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử
cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn
thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn
Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ
giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính
phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ
Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở
Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ
nhà văn lớn Đặng Thái Mai - người một thời làm Viện trưởng viện Văn Học
- là Hồ Thị Toan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng
đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có
thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã
Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là
một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có "phường hát ả đào".
Nhà họ Hà có cô con gái tên là
Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là
múa Đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà
dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô
Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc (như Đặng Trần Côn viết
mở đầu khúc Chinh Phụ Ngâm "hồng nhan đa truân" - gái má hồng nhiều nỗi
truân chuyên. Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong
truyện Kiều "chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau", "rằng hồng nhan tự
thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu"). Vả ở thời ấy, dưới chế độ
quân chủ nho giáo, lấy Tứ Dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người
ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng ("xướng ca vô
loài"). Cô Đèn Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi
vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông
cử Hồ Sĩ Tạo. "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" là lẽ thường theo tâm
lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân - tài tử - giai nhân. "Trai tài
gái sắc" mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng "không chồng mà chửa". Mà ông
cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng
nề, sỉ nhục hạng gái "chửa hoang", hạng "gian phu dâm phụ". Để tránh
nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm "thầy đồ" được
hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính...
Lúc
bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao
mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai - Nguyễn Sinh Thuyết - và
người con trai này cũng đã có vợ). Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn
Sinh Nhậm đến điều đình, "cho không" cô Hy làm vợ kế ông này - như một
người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ - mong ém
nhém việc cô gái đã "to bụng".
Công việc
rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới, có cheo cẩn thận.
Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc
thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông
dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi,
lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn "của thừa", "người ăn ốc (ông cử
Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)". "Miệng tiếng thế gian xì xầm", ai
mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời "nói ra, nói vào", lời
chì chiết của nàng dâu - vợ anh Thuyết - vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm
điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở
riêng với bà vợ kế.
Chỉ ít tháng sau, bà vợ
kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh
Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông,
con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng "tiếng bấc, tiếng chì"
hơn trước, vì ngoài việc bố chồng "rước của tội, của nợ", "lấy đĩ làm
vợ" thì nay còn nỗi lo": người con trai này - được ông nhận làm con -
lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì
của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời
vua Tự Đức thứ 16 (1863).
Vì trọng tuổi,
lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau
đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn,
về ở với người anh gọi là "cùng cha khác mẹ" mà thật ra là "khác cả cha
lẫn mẹ", cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ
muốn tống cổ cái thằng "em hờ" của chồng này đi cho "rảnh nợ".
Không
cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về
vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm
thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của
cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu
cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.
May
có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó,
xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác,
lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi
Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu
lòng - Hoàng Thị Loan - mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn
nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ở
riêng.
Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc
gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ - làng Chùa - hơn là với làng Sơn
"quê nội", quê cha "hờ". Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị
Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông cả Đạt)
đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành - sau này
là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên
ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê "ngoại". Khi cụ tú Hoàng (Hoàng Xuân
Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà
đồ (tú) Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.
Qua
giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu
cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng "học điền", ruộng công của làng
Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học
thêm - chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi
(1895), ông thi trượt.
Nhờ sự vận động gửi
gấm của ông Hồ Sĩ Tạo - người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc - với các
quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi
như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. (Ai cũng
biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm Giám sinh phải là con
cháu của những gia đình có thế lực, gọi là "danh gia tử đệ". Nếu không
có sự "can thiệp" của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm
sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một
"cử chỉ đẹp" với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc - đổi
tên là Nguyễn Sinh Huy - đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc
Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.
Ngày
22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh
đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng
chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh ngày nay) trở thành con trai út.
Nguyễn
Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc
dùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng
và được "vinh quy bái tổ" về làng.
Theo
thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội - dù là quê
nội danh nghĩa - tức là làng Sen - Kim Liên. Hội đồng Hương lý và dân
xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh
đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về
làng.
Thế là buộc lòng ông phải về "quê
nội". Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh
Côn - Hồ Chí Minh ngày sau - về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn
hướng về quê ngoại là cái gì "đích thực" và gắn bó với tuổi tho ông.
Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.
Nhưng
gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên.
Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô Huế nhận chức quan
(1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907, ông bị
đổi đi tri huyện Bình Khê ... Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan),
khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài gòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ
ông về làng Sen trở lại nữa.
Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.
Người
ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua
Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái "bí mật" về cội
nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái
đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông
sang Quỳnh Đôi nhận họ.
Còn Nguyễn Sinh Côn
- Nguyễn Tất Thành - có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở
làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa,
khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gụi với làng Sen! Hay là sau đó nữa
chả nhẽ không khi nào cụ phó bảng hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không
kể với ông về "bí mật" của gốc tích phụ thân mình?
Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - biết hay không biết chuyện này...
Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa.
Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.
Sau
cách mạng tháng tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai
thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam - từ trí thức đến người dân
quê - lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí
Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi "về với Các Mác, Lê-nin" năm
1969.
Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh - còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và
biết làm sao được khi cụ Hồ - tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức
của người Ấn Độ - đã trở thành "huyền thoại" (myth). Huyền thoại Hồ Chí
Minh được hình thành trong vô thức dân gian (popular inconscience) mà
Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được
hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần cận cụ Hồ. Nghĩa
là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa (mystified).
Ngay
sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi!) về
Sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng
tháng Tám. Và Sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau
nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù
là với hậu ý (arrière-pensée) không ưa gì cụ Hồ.
Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.
Trở
lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng:
Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực
của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
Và
dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau
cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh - tỉnh
Nghệ An - cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen "quê
nội".
Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi.
Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với
quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải
làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?
Tôi
không muốn có bất cứ kết luận "khoa học" gì về bài viết này. Vì nó
không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời
truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái
"mặc cảm" của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán
Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng
quê...".
Thế
rồi, như một sự tình cờ dễ chịu, mới đây, chúng ta có trong tay một
cuốn sách cũ có tựa đề: “Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười” do nhà nghiên cứu Thượng Hồng chủ biên (NXB Thanh niên, 2005), và
hơn nữa, đọc được bài “Địa linh tam giác hợp, nhân kiệt nhị tộc giao”
của Nguyễn Thế Kỷ trong tạp chí “Thế giới mới” số 818, năm 2009. Đọc hai
bản văn đó, trong lòng chúng ta trỗi dậy một niềm vui khôn tả. Thì ra
trong dân gian miền Trung và Nam Việt Nam, từ lâu đã lưu truyền câu
chuyện về thân thế, gốc gác dòng họ của phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (cũng
là của Chủ tịch Hồ Chí Minh) và câu chuyện đó rất giàu sự thực. Chưa cần
nói đến nội dung, chỉ cần nhìn thấy chân dung truyền thần của Võ Duy
Dương thôi, thì ngay lập tức chúng ta đã mường tượng đến khuôn mặt của
thanh niên Nguyễn Ái Quốc được chụp trong dịp hội nghị thành lập Đảng
Cộng sản Pháp; khuôn mặt của Lyn ở Mátxcơva, khuôn mặt của Tống Văn Sơ ở
Trung Quốc và khuôn mặt Hồ Chí Minh cùng bộ râu của ông trong ngày
Tuyên ngôn Độc Lập tại Hà Nội. Giống nhau “ghê gớm”, chỉ có khác là mắt
Hồ Chí Minh cực sáng như có tia sáng phát ra từ bên trong và sâu thẳm
nỗi niềm.
Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.
Theo
Nguyễn Thế Kỷ thì Vũ Kỳ, người từng là thư ký của Hồ Chí Minh, lúc còn
sống đã nói với ông rằng: Hồ Chí Minh thường nhắc nhiều đến Quảng Ngãi;
khi bàn đến việc kết nghĩa giữa hai tỉnh với nhau, nhiều người hỏi tại
sao Nghệ An phải kết nghĩa với Quảng Ngãi chứ không phải tỉnh nào khác,
Hồ Chí Minh chỉ cười, và Vũ Kỳ còn nói: “Chuyện Bác (tức Hồ Chí Minh)
nói về Quảng Ngãi, về Nghĩa Hành thì dài lắm, sâu nặng lắm, đợi đến khi
nước nhà thống nhất, Bắc Nam xum họp, Bác mới nói được và sẽ về thăm
làng Đại An, Quảng Ngãi và về Đồng Tháp Mười viếng mộ cụ Phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc, Thiên Hộ Dương…”
Tại
Đồng Tháp, nơi Võ Duy Dương tụ nghĩa chống Pháp, từ lâu trong dân gian
đã xôn xao lời đồn “Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là con ông Thiên Hộ Dương”.
Trong
bài viết của mình, Nguyễn Thế Kỷ còn kể rằng thạc sĩ Võ Kim Chi và Võ
Duy Ngô có đưa cho ông xem bản phả đồ phả hệ sơ lược của dòng họ Võ thì
thấy:
Võ Duy Ninh - Tổng trấn Gia Định có hai con là Võ Duy Lập và Võ Duy Ngọc.
Võ Duy Ninh và Hoàng Diệu là hai bạn thân cùng xuất phát từ Hưng Yên.
Khi thành Gia Định thất thủ và Võ Duy Ninh tuẫn tiết (sử gia Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, tác giả cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, đã viết về danh sĩ Võ Duy Ninh: "Ông là vị tướng lãnh cao cấp hy sinh đầu tiên trong Nam thời giặc Pháp cướp nước ta"),
thì Võ Duy Lập lập
tức đứng ra chiêu mộ hàng ngàn người lập ấp, cùng Trương Định, Thủ khoa
Huân tiếp tục chống Pháp. Nhờ chiêu mộ được hàng ngàn hộ dân nên ông
được triều đình Huế phong chức Thiên Hộ Vương. Người Nam bộ nói Vương
thành Dương nên tên Lập dần bị quên đi. Từ đó người ta gọi ông là Võ Duy
Dương, Thiên Hộ Dương. Sau khi thất thủ ở căn cứ Đồng Tháp Mười, Võ Duy
Dương vượt thoát vòng vây, cải trang đánh lừa mật thám Pháp, ra được
Phan Thiết - Bình Thuận, rồi từ đó lần về quê ở Đại An - Hành Thuận -
Nghĩa Hành… Sau lên chợ chùa mai danh ẩn tích. Võ Duy Dương có 5 người
con là Võ Cường, Võ Kỳ, Võ Sắc, Võ Thị Thắm, Võ Thị Lan. Khi Võ Sắc lên 4
tuổi thì được cha Võ Duy Dương tìm cách đưa ra Nghệ An gửi gắm ông
Hoàng Đường. Hoàng Đường là người có quan hệ ruột thịt với Tổng Trấn
Hoàng Diệu, cũng từ Hưng Yên vào dạy học ở Nghệ An. Để tránh mọi hệ lụy
trước sự dò la của mật thám Pháp, Hoàng Đường đã cố gắng cho Võ Sắc có
cha mới và người này có họ là Nguyễn Sinh. Từ đó Võ Sắc trở thành Nguyễn
Sinh Sắc. Sau này, Hoàng Đường đã gả con gái đầu là Hoàng thị Loan cho
Nguyễn Sinh Sắc (Nếu ông Hoàng Đường biết Nguyễn Sinh Sắc là đứa con rơi của "Cô đèn" Hà Thị Hy, thì dù là yêu quí cũng khó mà gả Hoàng Thị Loan cho Nguyễn Sinh Sắc!). Sự tác hợp này chính là cái duyên “Nhân kiệt nhị tộc
giao”, sinh ra Nguyễn Sinh Cung để rồi Nguyễn Sinh Cung hóa thân thành
một đại anh hùng của dân tộc Việt, thành danh nhân của thế giới với cái
tên Hồ Chí Minh bất hủ.
Nhưng
tại sao lại là Hồ Chí Minh? Cái tên đó được chọn tình cờ hay có ẩn ý?
Chúng ta tin rằng một con người ôm ấp nhiều nỗi niềm và tư duy một cách
sâu sắc như thế không bao giờ làm những điều tình cờ.Sự
thật lịch sử là có những người con của dòng họ Võ Duy đã từ Quảng Ngãi
vào định cư ở Gia Định từ thời Thiệu Trị và Tự Đức. Năm 1842 (Thiệu Trị
năm thứ 2), trong số 16 người đỗ cử nhân ở cuộc thi hương tại Gia Định
có Võ Duy Quang (ngụ ở huyện Bình Dương). Năm 1848 (Tự Đức năm thứ
nhất), thi hương tại Gia Định có 20 người đỗ cử nhân, trong đó có Võ Duy
Hiền (ngụ huyện Bình Dương). Năm 1852 (Tự Đức năm thứ 5), trong số 13
người đỗ cử nhân tại kỳ thi hương ở Gia Định có Võ Duy Hương (ngụ huyện
Bình Dương). Thời ấy huyện Bình Dương thuộc Gia Định thành. Võ Duy Hương
là con ruột của Võ Duy Thành, mà Võ Duy Thành chính là anh ruột của Võ
Duy Ninh (Thành và Ninh lúc bấy giờ đều là quan của triều đình Huế).
Tuy
nhiên, điều rất lạ là trong suốt quãng thời gian đó và cho đến tận ngày
Võ Duy Ninh tuẫn tiết, không thấy bất cứ một trang sách báo còn lưu lại
nào, không có bất cứ một dòng sử liệu nào nhắc đến cái tên Võ Duy Dương
cũng như mối quan hệ giữa Võ Duy Ninh và Võ Duy Dương, mặc dù Võ Duy
Dương đã xuất hiện ở Nam Bộ, muộn nhất cũng vào năm 1857. Phải chăng lúc
đó Võ Duy Lập đã đổi tên họ thành Nguyễn Duy Dương và chỉ sau khi triều
đình phong cho chức Thiên Hộ Vương thì người ta mới biết gốc tích họ Võ
Duy của ông mà từ đó gọi là Võ Duy Dương?
Chúng
ta không có dịp được tận mắt xem gia phả họ Võ Duy nên xin đặt thêm câu
hỏi: Vậy thân phụ Võ Duy Ninh là ai? Trong phả đồ, phả hệ sơ lược của
dòng họ Võ Duy chỉ thấy bắt đầu từ Võ Duy Ninh và điều đáng chú ý hơn cả
là, đúng thật, Võ Duy Lập còn có tên là Nguyễn Duy Dương.
Tại
sao Võ Duy Lập lại “thích” họ Nguyễn Duy? Có lẽ nào dòng họ Võ Duy là
từ dòng họ Nguyễn Duy, hay nói cho đúng hơn nữa là từ họ Nguyễn cải sang
và từ ai đó mà Võ Duy Lập đã biết được điều (có thể là tuyệt mật) đó?
Chúng ta đoán sự cải họ là tuyệt mật vì sống dưới triều Nguyễn, chẳng có
động cơ nào để phải làm như thế. Chúng ta biết rằng khi triều Tây Sơn
bị đánh đổ, dưới sự truy sát trả thù khốc liệt của Nguyễn Ánh, nhiều
người có liên quan mật thiết với triều Tây Sơn đã phải cải họ, đổi tên,
mai danh ẩn tích để sống còn (như trường hợp “Sinh Đào tử Đinh” mà chúng
ta đã kể). Vậy, nếu dòng họ Võ Duy thực tế được cải sang từ họ Nguyễn
và phải giữ kín như một điều tuyệt mật liên quan đến sống còn thì dòng
họ này phải có quan hệ rất mật thiết với triều Tây Sơn, thậm chí là có
mối thân tộc với dòng họ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn
Lữ.
Bây
giờ, chúng ta sẽ tập trung cao độ vào sự suy tưởng để “đoán mò” những
ẩn ý sau những danh xưng nổi bật mà Nguyễn Sinh Cung đã chọn cho mình mà chúng ta
biết. Rõ ràng, cái tên Nguyễn Sinh Cung nếu có một ẩn ý nào đó thì chỉ
có thể là ẩn ý của vợ chồng Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Trong
hồi ký “Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác” của Lê Thiết Hùng, một
vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có kể là theo lời ông Nguyễn
Sinh Khiêm (anh ruột Nguyễn Sinh Cung, quen gọi là Cả Khiêm) thì một
bận, ông Giải San (Phan Bội Châu) muốn đưa Nguyễn Sinh Cung sang Nhật
cùng với một số thanh niên khác. Trước mặt ông Đặng Thái Thân vừa thay
mặt Hội, vừa như bậc cha chú, Nguyễn Sinh Cung trân trọng nói đại ý:
Cháu rất quí trọng tấm lòng yêu nước thương nòi của các bác, nhưng con
đường đi của các bác thì cháu không thể theo được, cháu sẽ tìm con đường
đi khác.
Chuyện
đó cho thấy ngay từ thời niên thiếu, Nguyễn Sinh Cung đã cảm nhận được
sự bế tắc của cuộc giải phóng dân tộc do các nhà cách mạng tiền bối tiến
hành. Do đó, Nguyễn Sinh Cung đã nung nấu đi tìm một con đường cứu nước
khác, đúng đắn nhất, muốn thế, trước hết phải xuất bôn, tự mình quan
sát, tìm hiểu trực tiếp thế giới. Để tỏ rõ sự quyết chí của mình, ngay
từ những bước đi đầu tiên tới Phan Thiết trong cuộc hành trình vạn dặm
và dài lâu, Nguyễn Sinh Cung đã đổi tên thành Nguyễn Tất Thành. Tất
Thành là phải thành công, chắc chắn thành công, nếu chưa thành công thì có nghĩa là khát vọng mãnh liệt vào sự thành công!
Vào đến Sài Gòn, khi
bước chân xuống một tàu buôn Pháp nhận vai phụ bếp, chính thức rời Tổ
quốc đi vòng quanh thế giới, Nguyễn Tất Thành lại đổi tên thành Nguyễn
Văn Ba. Cái tên này giản dị và thông thường quá, khó mà có một ẩn ý nào.
Nhưng chúng ta, vốn là những kẻ “cứng đầu cứng cổ”, vẫn cố “nghĩ ngợi”
một phen.
Tại
sao lại là Ba? Ngoài người anh ruột là Cả Khiêm, Tất Thành còn có người
chị ruột là bà Nguyễn Thị Thanh - Hai Thanh. Vậy có thể gọi Tất Thành
là Ba Thành. Ba có nghĩa là người anh em thứ ba chăng? Có thể suy diễn
Ba là bôn ba, nhưng suy diễn đến thế thì e quá lố mất rồi! Trong cuộc
sống thường ngày, người dân Nam Bộ thường dùng cách xưng hô theo thứ rất
giản dị mà cũng thân mật như: Anh Hai (người Bắc gọi là anh Cả), Chị
Ba, Ông Tư… Đặt tên là Ba chắc chỉ hàm ý như vậy thôi. Thế còn tại sao
lại đổi từ Sinh thành Văn? Khi lớn lên không lẽ Nguyễn Sinh Cung không
một lần thắc mắc về dòng họ nội của mình? Chắc rằng, như sau này chúng
ta thấy, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã biết rất rõ quê hương bản quán bên
nội của mình là ở Quảng Ngãi, có thể cả bên ngoại là ở Cao Lãnh - Đồng
Tháp hoặc Bình Dương - Gia Định. Tuy nhiên có lẽ ông không biết tung
tích mẹ và người cha Nguyễn Duy Dương của mình, hoặc tin rằng cha mình
đã mất. Hơn nữa, có thể Nguyễn Sinh Sắc cũng biết mối quan hệ rất gần
gũi, mật thiết của dòng họ nội với ba anh em nhà Tây Sơn (mà chúng ta đã
giả định). Những thông tin này chẳng lẽ Nguyễn Sinh Cung không biết?
Sách “Tây Sơn lương tướng ngoại truyện” của tiến sĩ Nguyễn Trọng Trì
(1854-1922), viết về lai lịch, tư chất, sự nghiệp công huân, phẩm hàm
của 14 vị võ tướng Tây Sơn, trong đó có 8 vị quê ở Nghĩa - Bình (Quảng
Ngãi - Bình Định) là:
Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết
Đô đốc Đặng Văn Long
Đô đốc Nguyễn Văn Lộc
Tướng quân Lê Văn Hưng
Tướng quân Lê Văn Trung
Tướng quân Phạm Cầu Chính
Tướng quân Võ Đình Tú
Tướng quân Đặng Xuân Phong
Chưa kể nữ đô đốc Bùi Thị Xuân và có thể còn thêm vài người nữa…
Phải
chăng Võ Duy Lập, một con người khí phách, đã cải họ trở lại từ Võ
thành Nguyễn và Nguyễn Tất Thành, một con người đang quyết chí, đã cải
họ lót từ Sinh thành Văn vì nguyên nhân (mà chúng ta đã giả định) này?
Khi
hoạt động trên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc.
Ái Quốc chính là sự bày tỏ nỗi niềm nhớ thương, tình yêu nồng nàn đối
với Tổ Quốc của một con người ra đi tìm đường cứu nước biền biệt mà vẫn
mịt mù sương khói.
Năm
1920, tiếp xúc được với “Những luận cương” của Lênin đăng trên báo
“Nhân đạo” ở Pari, Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên: “…Đây là con đường giải
phóng chúng ta!”, và: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Tháng
6-1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật sang nước Nga-Xôviết. Tại đây ông lấy bí
danh là Lyn. Ẩn ý của bí danh này, theo chúng ta, là sự ngưỡng mộ Cách
mạng Tháng Mười, khâm phục Lênin và tự nhận là học trò của Lênin.
Cuối
năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Châu, mang một cái tên mới: Lý
Thụy. Ẩn ý của Lý Thụy là gì? Theo tự điển, nghĩa của từ "thụy" là viên
ngọc, tốt lành, điềm lành ngủ, tên cúng cơm. Khi dùng nó đặt tên cho ai
đó thì có nghĩa: đa tài, đại cát, thành công. Thế còn họ Lý? Chúng
ta biết rằng Nguyễn Ái Quốc là một người hết mực yêu nước thương nòi,
đã tìm hiểu đến am tường lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đồng
thời cũng rất tự hào về dân tộc Việt của mình. Thời xa xưa, dân tộc Việt
có ba vị anh hùng tạo được 3 mốc son không thể phai mờ trong lòng con
cháu hôm nay và mai sau, đó là:
-
Lý Bí: Lý Bí là người đã phất cờ khởi nghĩa, kháng chiến đánh tan ách
đô hộ và sự xâm lược của nhà Lương (Trung Quốc), giành lại độc lập thực
sự cho đất nước sau thời Văn Lang, Âu Lạc và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân,
“có ý mong xã tắc được bền vững muôn đời” (Đại Việt sử ký). Ông là người
Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế (Nam Đế). Ông cũng bãi bỏ lịch Trung
Hoa, đặt niên hiệu riêng là Thiên Đức, đúc tiền riêng… tỏ rõ ý thức tự
chủ dân tộc, công khai phủ nhận quyền bá chủ thiên hạ của triều đại
phong kiến phương Bắc.
-
Lý Công Uẩn: Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là
Thuận Thiên. Công lao lớn nhất của ông đối với dân tộc Việt là dời đô từ
Hoa Lư về thành Đại La, trở lại với nơi đắc thế, địa linh nhân kiệt để
hình thành nên một kinh đô Thăng Long mà ngày nay là Hà Nội ngàn năm văn
vật, với bản hùng văn “Chiếu dời đô” vang vọng non sông.
-
Lý Thường Kiệt: là vị tướng lừng danh của triều đại nhà Lý, người trực
tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lăng lần thứ hai của nhà
Tống - Trung Quốc (Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi lần thứ nhất do
Lê Hoàn thực hiện) và giành thắng lợi với hai chiến công hiển hách: đại
phá thành Ung Châu, đại phá quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt.
Cũng chính tại phòng tuyến này, bài thơ “Nam quốc sơn hà…” bất hủ của
Lý Thường Kiệt đã vang lên dõng dạc và đanh thép. Bài thơ đó cũng chính
là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt - Việt Nam.
Đền thờ vua Lý Nam Đế - xã Văn Lương
Đặc biệt, Văn Lương có tên làng cổ là
Văn Lang nổi tiếng với những câu chuyện cười hài hước, di sản được nhiều
người biết đến. Nơi đây, tại động Khuất Lão (Khuất Liêu) gò Cổ Bồng -
Rừng Cấm xã Văn Lương địa danh đã gắn liền với lịch sử dân tộc đó là
cuộc khởi nghĩa Lý Bôn (Lý Bí) năm 541 - 548 chống quân xâm lược nhà
Lương. Sau khi lên ngôi Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế và lấy tên nước là
Vạn Xuân. Năm 548 Vua Lý Nam Đế băng hà, điện mộ được thờ tại gồ Cổ Bồng
- Rừng Cấm nay thuộc khu 2 xã Văn Lương
Cổng chùa Cổ Pháp, nay thuộc làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh, nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời bé. Ảnh tư liệu
Tượng đài vua Lý Thái Tổ, một trong những công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội
Phải chăng Nguyễn Ái Quốc chọn họ Lý là vì thế?
Năm
1933, Lý Thụy lại đổi thành Tống Văn Sơ. Sơ có thể là sơ khởi, sơ khai,
thuở ban sơ, sơ kỳ… Còn chữ Tống, nếu suy diễn kiểu như trên thì phải
nghĩ ngay đến nhà Tống bên Trung Quốc. Nếu tạm bỏ chữ Văn đi thì chúng
ta có Tống Sơ. Nếu Tống Sơ ám chỉ về thời kỳ đầu của nhà Tống thì chỉ có
thể là thời Bắc Tống (960-1127). Nhưng tại sao Lý Thụy, một người Việt
Nam yêu nước chân chính lại chọn cái tên nhắc đến một triều đại Trung
Quốc đã đem quân xâm lược nước ta đến 2 lần, và suy diễn như vậy có phải
là quá hồ đồ không?
Mùa
xuân năm 1940, Nguyễn Ái Quốc từ nước Nga Xôviết về tới Côn Minh, lấy
bí danh là Hồ Quang (nhà báo). “Quang” phải chăng là quang đãng, sáng
sủa? Tháng 7-1942, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc Tế Cộng Sản, bản
báo cáo gồm 17 trang có ký tên người dịch là Lý Tuấn. “Tuấn” ở đây có
thể gợi nhớ đến Trần Quốc Tuấn và “Lý Tuấn” có thể hiểu là “Lý - Trần”,
hai thời đại kế tiếp nhau cực kỳ hào hùng trong công cuộc chống ngoại
xâm của dân tộc Việt?
Sau
đó, cũng trong năm 1942, Nguyễn Ái Quốc đổi tên lần cuối cùng thành Hồ
Chí Minh. Trải qua một cuộc hành trình dài đăng đẳng, bôn ba khắp chốn,
vượt qua bao gian nguy, vượt qua những năm tháng đau buồn bởi sự nghi kỵ
trong nội bộ của phong trào Quốc Tế Vô Sản, đến đây, Nguyễn Ái Quốc đã
thấy rõ được con đường tất yếu phải đi để cứu dân cứu nước, thấy rõ được
thời cơ đang đến, thấy rõ được tương lai sáng lạn của công cuộc giải
phóng dân tộc mà mình suốt đời theo đuổi đã ở rất gần. Chính vì vậy mà
Ái Quốc đã chuyển thành Chí Minh. Chí Minh là hoàn toàn minh bạch (về
chí khí), hoàn toàn sáng tỏ (về nhận thức) và hoàn toàn sáng lạn (về
công cuộc cách mạng). (Có một sự kiện đáng lưu ý: Hầu Chí Minh, thiếu
tướng Quốc Dân Đảng là người trực tiếp thả Hồ Chí Minh ra khỏi tù theo
lệnh Tưởng Giới Thạch vào năm 1943, tuy nhiên Nguyễn Ái Quốc đã mang tên
Hồ Chí Minh vào tháng 8-1942, tức là trước khi bị bắt. Nếu cho rằng ông
đã mượn tên như một sự hàm ơn thì phải đổi lại thời điểm đặt tên đã ghi
trong lịch sử).
Còn
họ Hồ thì mang ý nghĩa gì đây? Chúng ta nhớ lại rằng trước khi băng hà,
vua Quang Trung đã căn dặn Trần Quang Diệu phải khẩn trương dời đô từ
Phú Xuân ra Nghệ An. Có thể Nghệ An là khu vực mà dưới nhãn quan quân sự
của Quang Trung, có địa thế công - thủ về mặt chiến lược ưu việt hơn
Phú Xuân. Có thể là vì cả điều này: lòng dân Nghệ An luôn sắt son hướng
về triều đại Quang Trung - Tây Sơn. Trước đây, mỗi lần ra Bắc, vào Nam,
Quang Trung - Nguyễn Huệ đều dừng chân ở đất Nghệ An, nhất là trước khi
ra Thăng Long đại phá quân Thanh, ông đã dừng chân ở Nghệ An để tuyển
thêm một lực lượng quân sĩ đáng kể và được nhân dân, các bô lão trong
vùng nhiệt thành ủng hộ. Và vì cả điều này nữa: Nghệ An là đất tổ của
dòng họ Hồ tại Việt Nam mà họ Hồ lại là họ gốc của ba anh em Nguyễn
Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Vậy, nếu phỏng đoán rằng dòng họ Võ Duy có
liên quan một cách “thân bằng quyến thuộc” với dòng họ ba anh em nhà Tây
Sơn là đúng, thì cũng phải cho rằng việc chọn họ Hồ của Nguyễn Ái Quốc
là hành động lấy lại họ gốc của mình.
Chúng ta đoán rằng ẩn ý của cái tên Hồ Chí Minh là như vậy.
Đến
đây, dựa vào những tư liệu lịch sử có được cùng với những suy diễn võ
đoán của mình, chúng ta đã thấy tạm đủ để tạo dựng nên truyền thuyết
lịch sử, huyền thoại về một cuộc tích tụ nên một nhân vật tinh hoa của
hồn thiêng dân tộc Việt từ khí thiêng sông núi nước Việt. Trước hết, đã
là truyền thuyết, huyền thoại thì phải có hư có thực, có huyền có chân,
do đó mà cũng có đúng có sai. Duy có một điều hoàn toàn tin cậy được là
chúng ta làm việc này với cái tâm chân thực, trong sáng nhất và coi đó
như là một nhiệm vụ thiêng liêng trong cuộc hành trình tìm kiếm những
viên ngọc của lịch sử đã từng tồn tại trong thế giới loài người.Theo "Sử họ Hồ Việt Nam" của Hồ Bá Hiền thì: "Viễn Tổ xa xưa của họ Hồ là Vua Ngu Thuấn cách đây
khoảng 43 thế kỷ rồi đến Hồ Công (Ngu Vĩ Mãn) khoảng hơn 30 thế kỷ
trước. Vì vậy khi Hồ Quý Ly lên ngôi, lập ra triều đại nhà Hồ đã đặt
Quốc hiệu nước ta là Đại Ngu. Ngu đây theo danh từ cổ là sự yên vui (Hồ
Quý Ly muốn xây dựng đất nước ta thành một nước thịnh trị, yên vui theo
gương một vua hiền thời thượng cổ Trung quốc mà người Trung Hoa xưa nay
vẫn tôn thờ). Nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi có câu đối “Cổ nguyệt môn cao
hệ xuất thần minh Ngu Đế trụ”nghĩa là họ Hồ gốc từ vua Ngu Thuấn. (Phụ
lục I sẽ nói kỹ về vua Ngu Thuấn và ngài Ngu Vĩ Mãn) I. Nguồn gốc sự
nghiệp Nguyên tổ: Theo Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) của các sử thân
nhà Lê (NXB KHXH 1971 - Tập II trang 224): “Tổ tiên họ Hồ là Hồ Hưng Dật
vốn người Chiết Giang, thời Hậu Hán Ngũ Quý sang làm Thái thú Châu
Diễn, sau nhà ở hương Bào Đột rồi làm trại chủ” (Chú ý: Quốc sử ghi là
sang làm,không ghi là được cử sang. Vì lúc này nước ta đã độc lập tự chủ
(sau Ngô Quyền xưng vương năm 939 nên bọn phong kiến Trung Quốc không
thể cử Ngài sang đươc).
Theo “Hồ tông thế phả” phần nói về Nguyên Tổ Hồ Hưng Dật (dịch nghĩa-đại
ý):
“Đức Nguyên Tổ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người Vũ Lâm -Tích Giang - Phúc
Kiến thời Ngũ Đại còn gọi là Ngũ Quý hậu Hán Ẩn Đế là Nho thần sang
nước ta thời hậu Ngô (1)làm Thái thú lộ (2) Diễn Châu, đến thời nước ta
có loạn 12 sứ quân, Ngài lui về làm trại chủ hương Bào Đột (Bào Trạch)
nay là Bào Giang Về sau các chi phái phồn thịnh, các người họ Hồ trong
châu đều là con cháu của Ngài….”. Còn chúng ta kể: Trên
đất nước Trung Hoa trong giai đoạn cuối thời kỳ “Ngũ đại, Thập quốc”,
đầu thời Bắc Tống, tồn tại tình trạng chia cắt, cát cứ trầm trọng, chiến
tranh thôn tính lẫn nhau xảy ra triền miên. Ở những nơi có chiến tranh,
thây người chết đầy đường, ruộng đồng bỏ hoang, cảnh vật tiêu điều, có
khi cả ngàn dặm cũng không thấy bóng người. Đời sống nhân dân Trung Quốc
lúc bấy giờ vô cùng khốn khổ, nhiều người, nhiều gia đình đã phải rời
bỏ quê hương bản quán đi xa, ly tán, chạy trốn chiến tranh, lang thang đây đó
tìm nơi nương náu, tìm chốn dung thân.
Vào
khoảng thời gian từ năm 960-980 có một bầu đoàn thê tử họ Hồ, do trưởng
họ là trạng nguyên (đang bị triều đình truy đuổi vì có những hành động
chống đối) Hồ Hưng Dật dẫn dắt, từ vùng
Triết Giang - Trung Quốc ra khơi, dong buồm lánh nạn xuống phương Nam và
đã cập vào bờ biển Nghệ An. Người Việt ở xứ Nghệ vốn mang bản tính nhân
hậu, bao dung từ ngàn xưa thời các vua Hùng của dân tộc Việt, đã sẵn
lòng dung nạp, cưu mang đoàn người. Đoàn người Trung Quốc ấy chính là
gốc gác họ Hồ bên cạnh nhiều dòng họ khác của dân tộc Việt, chung sống
hòa thuận trên đất nước Việt. Dần dần, giọt máu họ Hồ tan hòa vào dòng
máu người Việt, lan tỏa ra Thanh Hóa, cả những nơi khác nữa và con em họ
Hồ sau này đã trở thành con em của dân tộc Việt, đấu tranh cho quyền
lợi dân tộc Việt. Nhiều người trong số họ đã có công lao đối với dân tộc
Việt.
Vào
thời Việt Nam xảy ra nạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, có một vài người họ
Hồ ở Nghệ An do bị bắt làm tù binh hoặc đơn thuần là mưu sinh đã xuất
hiện tại xứ Quảng Nam - Đàng Trong khai khẩn đất hoang, định cư, lạc
nghiệp.
Những
người họ Hồ ấy đã phải cải sang họ khác để dễ bề làm ăn, sinh sống. Chủ
yếu là cải sang họ Nguyễn và trong số này có cụ tổ bốn đời của anh em
nhà Tây Sơn, đồng thời cũng có (hoặc cũng là) cụ tổ của một võ tướng họ
Nguyễn của phong trào Tây Sơn, người mà sau này trở thành cái gốc xuất
phát của dòng họ Võ Duy (?). Vị tướng này phải trạc tuổi anh em nhà Tây Sơn
để có con trạc tuổi con đầu Nguyễn Huệ là Nguyễn Quang Toản (vua Cảnh
Thịnh) hoặc có thể lớn hơn một chút để cho ra đời Võ Duy Ninh vào năm
1804 và trước đó là Võ Duy Thành. (Năm 1792, khi Quang Trung mất, Quang
Toản mới 10 tuổi!).
Như
vậy vị võ tướng nói trên chính là ông nội của anh em nhà Võ Duy. Khi
triều Cảnh Thịnh bị tiêu diệt, thân phụ của anh em Võ Duy Thành, Võ Duy
Ninh đã phải mai danh ẩn tích, cải họ thành Võ Duy (không biết miếu hiệu
của Quang Trung là Thái Tổ Vũ Hoàng Đế có liên quan gì đến việc cải họ
thành Võ Duy này không? Vì Vũ, nói trại đi để kiêng húy thành Võ).
Võ
Duy Ninh sinh năm 1804 tại làng Đại An, xã Hành Thuận, huyện Nghĩa
Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, tổ quán của Võ Duy Ninh là ở Bình
Định. Nghe đâu cụ tổ năm đời của Võ Duy Ninh là Võ Hữu Man. (Có thể là
Hồ Hữu Man cải thành Nguyễn Hữu Man, rồi sau này, khi triều Tây Sơn sụp
đổ, trong cuộc lùng sục đàn áp trả thù những người theo Tây Sơn của
Nguyễn Ánh, con cháu đã sửa lại thành họ Võ. Rất tiếc dòng họ Võ này có
gia phả nhưng đã bị thiêu hủy vào năm 1972). Hữu Man là người Đàng Ngoài
vào khai khẩn lập nghiệp tại Cù Lâm Nam (thôn Nam Tượng, xã Nhơn Tân,
huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định; hiện nay Nam Tượng chỉ là một thôn nhỏ
với mươi nóc nhà, sau lưng là núi Thơm, trước mặt là núi Hòn Giang, bên
trái là núi An Tượng, bên phải là sông Côn, cách làng Kiên Mỹ (quê hương
Nguyễn Huệ) 12 km, xa xa về phía trước mặt là núi chàng Lía). Có thể
cha của Võ Duy Ninh đã ra Quảng Ngãi lánh nạn rồi lấy vợ và sống ẩn dật ở
đó, hoặc cũng là sự thường tình xưa nay, trên con đường binh nghiệp của
mình, ông đã có vợ bé ở làng Đại An? Năm 30 tuổi (năm Giáp Ngọ - 1834,
Minh Mạng thứ 15), ông đỗ cử nhân tại Huế, là một trong 11 vị khoa bảng
đầu tiên của đất Quảng Ngãi. Ngay sau khi đỗ cử nhân, Võ Duy Ninh được
triều đình Huế giao cho nhiều trọng trách: Hành tẩu Bộ Lại (năm 1834),
Bố chánh Hưng Yên (năm 1847), Hữu Tham tri Bộ Lại (năm 1852), Phó Chủ
khảo trường thi hương Thanh Hóa (năm 1850), Quan duyệt quyển khoa thi
Hội năm Bính Thìn (năm 1856). Tháng 7-1858 (tức năm Mậu Ngọ - Tự Đức thứ
11), trước tình hình Thực dân Pháp lăm le đánh Đà Nẵng và các tỉnh Nam
Kỳ, triều đình Huế đã điều động Võ Duy Ninh vào giữ chức Hộ đốc thành
Gia Định, sau thăng lên chức Tổng trấn Định Biên. Ông là một vị quan bản
lĩnh, hiểu biết về quân sự và có đức độ nên được quân sĩ dưới quyền nể
phục, dân chúng địa phương tôn kính.
***
Không
biết hình sông thế núi, vị trí địa lý của đất nước ta như thế nào đó mà
ngay từ thời tiền sử cho đến gần đây (khoảng cuối thế kỷ XX) đất nước
ta thường xuyên bị các cường quốc ngoại bang nhòm ngó, xâm lược, hết
phương bắc đến phương tây. Và hình như dân tộc ta ngay từ đầu phải sinh
tồn trong một vùng sông nước có những thuận lợi nhưng cũng nhiều khó
khăn như lũ lụt, bão dông...nên cũng được tôi luyện thành một dân tộc
hiền hòa mà yêu tự do, nhưng cũng thông minh, tài trí, dũng cảm, bền
gan, chống chọi trước thiên tai, địch họa, đoàn kết một lòng (với quan
niệm"Đồng bào", với câu ca dao khuyên: "Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy
rằng khác giống như chung một giàn"). Từ đó, dân tộc chúng ta được hun
đúc nên một tinh thần bền bỉ đấu tranh, kiên cường, bất khuất, một
truyền thống chống giặc ngoại xâm vô cùng tự hào và đã không chịu khuất
phục trước bất cứ lũ ngoại xâm nào vì "Không có gì quí hơn Đôc Lập, Tự
Do" (Lời Hồ Chí Minh). Chúng ta đã từng ba lần đại thắng quân Nguyên, đế
quốc mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, đã từng đánh bại các tập đoàn
phong kiến Trung Hoa, Đã từng kháng chiến thắng lợi trước Thực dân Pháp
và Đế quốc Mỹ, những cường quốc sừng sỏ trong thời đại ngày nay. Nếu
chiến thắng Điện Biên Phủ chói lọi của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng
đồng thời là phát súng mở đầu cho quá trình phá tan Chủ nghĩa Thực dân
cũ thì Chiến dịch Hồ Chí Minh hào hùng cũng đồng thời là phát súng chí
mạng của quá trình kết liễu Chủ nghĩa Thực dân mới.
Cho
đến nay, nếu quan sát trong phạm vi hẹp thì cuộc kháng chiến 9 năm
chống Pháp và cuộc kháng chiến 21 năm chống Mỹ, kể cả cuộc chiến tranh
biên giới Tây - Nam và cuộc chiến tranh biên giới phìa Bắc là bốn cuộc
chiến tranh chống xâm lược giành thắng lợi hết sức lừng lẫy và cực kỳ
chói lọi của dân tộc ta ( cũng có thể gộp lại hai cuộc chiến tranh đầu
làm một, hai cuộc chiến tranh sau là một, tổng cộng làm hai cuộc chiến
tranh). Nhưng nếu quan sát trrong phạm vi rộng lớn hơn, nghĩa là từ thời
Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta cho đến năm 1992 (tức 134
năm, ngót 1,5 thế kỷ), có thể coi dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải tiến
hành duy nhất một cuộc đấu tranh kháng chiến trường kỳ, cả chính trị
lẫn vũ trang, vô cùng khó khăn gian khổ, máu chảy đầu rơi, có tính truyền kỳ, toàn dân tộc, cả tổ tiên, thế hê nối tiếp thế
hệ, đồng lòng lên đường cứu nước và đã giành được thắng lợi cuối cùngvô cùng oanh
liệt, vô
cùng vĩ đại, vô cùng vẻ vang, vô cùng linh thiêng, vô cùng thần thánh!
Đó là cuộc đấu tranh chống xâm lược vĩ đại, trường chinh qua nhiều thế hệ và có tính tâm linh, toàn thể dân tộc, cả giang sơn bờ cõi, cả hồn thiêng sông núi, đều đồng lòng đứng lên quyết chiến. trong đó điểm hội tụ, tinh hoa cho tinh thần ấy chính là Hồ Chí Minh.
Bài thơ báng súng
Ta lại viết bài thơ trên báng súng Con lớn lên đang viết tiếp thay cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Người hôm nay viết tiếp người hôm qua.
Thơ chiền đấu giục giã lòng chiến sĩ Miền Nam ơi chưa thể nghỉ bàn tay Ta quyết liệt trên tuyến đầu chống Mỹ Như năm xưa anh dũng bắn đầu Tây.
Ta đâu có thích gì máu đổ Thích gì nghe đạn nổ bom rơi Ta chiến đấu vì không cam cúi cổ Không khom lưng cho giặc Mỹ chém ngang người.
Hai mươi năm chưa hề im tiếng súng Đây nước sôi lửa bỏng đất miền Nam Đất anh dũng nuôi lớn người anh dũng Ôi Trường sơn ôi Cửu Long giang
Rừng Điện Biên tiếng pháo gầm chưa dứt Nghe hôm nay ấp Bắc trời rung Ta sẽ đánh cho quân thù tan xác Như lá vàng tan tác dưới bàn chân.
Súng đã quyết trả lời với súng Mũi chông tre quyết chống mũi giày đinh. Ta chiến đấu vì ta tha thiết sống Hỡi ai tin giặc Mỹ muốn hòa bình.
Hòa bình Mỹ: moi gan em nhỏ Thiêu sống con, cắt cổ mẹ cha Hòa bình Mỹ: phá rừng đốt lúa Bom na-pan giội lửa mái nhà.
Ta nếm đủ thứ "hòa bình chó sói" Nên rừng tre đã hóa mũi tầm vông Nên ngọn gió đã hóa thành bão nổi Cả miền Nam đã hóa một hầm chông.
Ta lại viết bài thơ trên báng súng Hai mươi năm súng kết cùng thơ Thơ ta thét tiếng kêu căm giận Súng ta cầm giữ lấy ước mơ
Đi đi lên tay ghì chặt súng Đi đi lên giải phóng miền Nam! Trên đỉnh núi tung bay cờ chiến thắng Cờ ta bay như lửa đỏ xóm làng.
(1964. Tg Hoàng Trung Thông)
Tượng đài Thánh Gióng, biểu tượng lòng yêu nước
Sau
đây, dựa vào tài liệu trên mạng, chúng ta sẽ sơ phác lại hoạt cảnh thời
đoạn đầu Pháp xâm chiếm nước ta và lòng yêu nước nồng nàn cũng như tinh
thần đấu tranh phản kháng vô cùng anh dũng, bất khuất của họ (chứ không
phải cuả triều đình Huế yêu hèn, bạc nhược). Qua đó chúng ta cũng cố
gắng xây dựng tiếp phần kết một truyền thuyết về một người đại anh hùng
dân tộc, người như hiện thân của khì thiêng sông núi, của nòi giống tổ
tiên về giúp sức, dẫn dắt dân tộc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh
thần thánh chống xâm lược.
Từ thế kỷ 19, hầu hết các thị trường của
Pháp ở Ấn Độ và Trung Hoa đều bị Anh Cát Lợi chiếm hoặc phong toả. Thị
trường lớn của Pháp ở Trung Hoa là Vân Nam bị chận đường thông thương ở
Hương Cảng từ năm 1842 (sau khi Anh thắng Tàu trong trận “nha phiến”),
nên Pháp phải tìm đường khác từ Thái Bình Dương vào Vân Nam. Sông Cửu
Long bất lợi, vì vậy phải tính việc dùng sông Hồng Hà.
Lúc đầu, Pháp chỉ muốn được quyền sử
dụng các sông kể trên, nhưng sau khi chiến tranh với Việt Nam thì thấy
triều đình nhà Nguyễn quá yếu hèn và thị trường Việt Nam cũng trở nên
rất quan trọng, vì thế Pháp muốn chiếm trọn để đô hộ và khai thác.
Lợi
dụng các mối quan hệ đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh, Pháp và Tây Ban Nha
đã viện cớ Nhà Nguyễn cấm đạo Thiên Chúa và bắt bớ, giết hại nhiều giáo
sĩ, giáo dân để tiến hành cuộc chiếm cứ nước Việt.
Sau một thời gian thăm dò và chuẩn bị,rạng sáng 1-9-1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân
Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Liên quân Pháp – Tây Ban Nha gồm 14 tàu chiến được trang bị vũ khí thuộc
loại hiện đại nhất, các khẩu đại bác đều là loại có sức công phá lớn và
khả năng sát thương cao, mở đầu cuộc tấn công xâm lược.
Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858
Chỉ trong ngày đầu nổ súng, hầu hết những đồn phòng thủ của ta ở phía
đông sông Hàn đều bị hạ. Sáng hôm sau (2-9-1858), địch tiếp tục pháo
kích tấn công thành Điện Hải và đổ quân đánh chiếm khu vực phía tây. Lực
lượng quân triều đình vừa đánh, vừa lui dần, lập phòng tuyến phía tây
nam Hòa Vang để ngăn địch. Diễn biến của trận đánh cho thấy địch không
thể phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật để tấn công ồ ạt, mà đã
bị chặn ngay ở cửa biển Đà Nẵng. Đây là kết quả của sức kháng cự quyết
liệt của lực lượng đồn trú dưới sự chỉ huy của một triều đình lúc đó còn
toàn vẹn sinh lực, với quyết tâm cao và khối đoàn kết toàn dân.
Đánh
chiếm được Sơn Trà,
liên quân Pháp – Tây Ban Nha tiến vào nội địa, đánh tan phòng tuyến
bằng ụ đất, rào tre của quân Việt ở xã Mỹ Thị, rồi tràn sang chiếm xã
Cẩm Lệ. Tướng Lê Đình Lý bị trọng thương rồi mất trong trận chiến này.
Sau khi Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn
trọng thương, rồi hy sinh, Tự Đức đã cử Thống chế Chu Phúc Minh lên làm
Tổng đốc quân vụ thay Lê Đình Lý. Sau đó, Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương,
võ tướng số một của ta, đang làm Kinh lược sứ Nam Kỳ ra chỉ huy mặt
trận Đà Nẵng, thay cho Chu Phúc Minh.
Bộ sưu tập 11 khẩu súng thần công thành Điện Hải được đề nghị công nhận là báu vật quốc gia
Ngày 10 tháng 10 năm 1859, Nguyễn Tri Phương gửi báo cáo về
Huế, trong đó ông mô tả về tình hình lực lượng quân Pháp và quân triều
đình:
- Quân Pháp có vũ khí tinh xảo, súng đạn đầy đủ khi đánh.
- Quân Triều đình ở Quảng Nam có hơn 7.000
người thì bỏ trốn, bị sa thải, bệnh hoạn hoặc dùng để sai phái đã hết
quá nửa, chỉ còn 3.200 người tại ngũ.
Trước tình thế đó, là một võ quan có tài thao lược,
ngay từ đầu Nguyễn Tri Phương đã đánh giá tình hình một cách đúng đắn và
đề ra một phương lược phòng thủ và đánh địch năng động, thích hợp. Ông
chủ trương không tiến công địch chính diện để tránh sức mạnh hỏa lực của
địch, mà bao vây chặn địch ngoài mé biển, tăng cường phục kích địch,
không cho chúng tiếp xúc với dân, thực hiện “vườn không, nhà trống”, cô
lập và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ.
Thành Điện Hải sau những đợt oanh tạc bằng đại bác vào sáng 1-9-1858 - Ảnh tư liệu
Suốt
5 tháng giao tranh, cái đói, cái bệnh, cái nóng bức... đã khiến liên
quân mệt mỏi và hao mòn. Mặc dù được giáo sĩ Pellerin khuyên nên đem
quân ra chiếm Bắc Kỳ, vì ở đó có giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo, và
những người còn tôn phù Nhà Lê nổi lên góp sức, nhưng sau khi cân nhắc,
tướng De Genouilly không tán thành.
Ngày 2 tháng 2 năm 1859, chỉ để lại một phần ba số quân (khoảng 1.000
người) và 6 tàu chiến, bàn giao cho Đại tá Faucon nắm giữ, còn bao nhiêu
De Genouilly cho rút hết vào Nam, mở mặt trận mới ở Gia Định
Cho
đến hết năm 1858, quân địch vẫn không sao mở rộng được địa bàn chiếm
đóng, phá vỡ thế phòng thủ của ta, để thực hiện chiến lược đánh nhanh,
thắng nhanh.
Tương quan lực lượng tại Đà Nẵng lúc này đã thay
đổi, tạo thế thuận lợi cho ta. Lại thêm yếu tố thời tiết và khí hậu khắc
nghiệt ở nơi đây làm cho quân địch khốn đốn, gần như bị tước mất sức
chiến đấu. Một chỉ huy quân Pháp ở đây đã thú nhận: “trên mảnh đất nóng
cháy này, các binh sĩ của ta gục ngã, cầm không nổi khí giới”. Những
toán viện binh sau đó cũng bị tiếp tục hao mòn vì bệnh dịch và khí hậu
oi bức, cộng thêm sự căng thẳng thần kinh do các cuộc tập kích hàng đêm
vào các cứ điểm của quân triều đình và dân binh.
Kết
cục, sau 18 tháng đánh chiếm Đà Nẵng (từ 1-9-1858 đến 23-3-1860), Page -
thiếu tướng Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha - được lệnh của
Chính phủ Pháp rút hết quân ra khỏi Đà Nẵng để đưa sang hỗ trợ cho chiến
trường Trung Quốc. Trước khi rút quân, Page ra lệnh đốt hết các đồn
trại ở Sơn Trà, An Hải, Điện Hải, Trà Úc và đành phải để lại một nghĩa
địa và hàng trăm nấm mồ quân xâm lược nằm rải rác trên bán đảo Sơn Trà.
Đây là nghĩa địa quân xâm lược duy nhất còn tồn tại đến ngày nay ở nước
ta.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, thì Liên quân Pháp – Tây Ban Nha
đã bị cầm chân và bị thiệt hại, cho nên đây chính là một khởi đầu thắng lợi lớn, nhưng duy nhất trong hơn một phần tư thế kỷ (1858–1884) chống ngoại xâm của quân và dân Việt Nam
Tàu Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858
Phó Đô đốc De Genouilly đã viết thư về Pháp rằng:
Chính phủ bị đánh lừa về bản chất của cuộc đi đánh lấy nước Nam Kỳ (Việt Nam);
người ta trình bày rằng việc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng
thôi, nho nhỏ thôi; thực ra, nó không dễ, cũng không nhỏ... Người ta
(...) cho rằng dân chúng sẽ nổi lên hưởng ứng, thật ra... trái hẳn lại
với sự dự đoán đó... Người ta báo cáo rằng quân đội Việt
không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân... thì
không đau ốm và không tàn tật... Trên bộ thì không hành quân lớn được,
dù là chỉ hành quân ngăn ngắn mà thôi; binh lính không chịu đựng nổi...
Trích báo cáo của De Genouilly đề ngày 4 tháng 1 năm 1859:
Chúng ta đang xuống dốc đến kiệt quệ ở Đà Nẵng. Mọi phương tiện cải thiện tình hình bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu.
Hơn 10 ngày sau (15 tháng 1), viên tướng này gửi tiếp một báo cáo nữa, để nói rõ số lính chết vì bị bệnh kiết lỵ
lên đến mức đáng sợ. Trong số 800 lính bộ binh, chỉ còn nhiều nhất là
500 người có thể cầm khí giới, nhưng không đủ sức để mở một cuộc hành
quân...
Võ
Duy Ninh có vợ là người huyện An Nhơn - Bình Định. Họ sinh được 2 người
con trai, người con đầu tên Ngọc, người thứ hai tên Lập.
Võ
Duy Lập được sinh ra tại Hành Thuận, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi vào năm
1827. Là hậu duệ của một võ tướng, ông thích võ hơn văn, tuy học văn rất
giỏi nhưng không ứng thí vì không thích chốn quan trường. Ông học võ từ
rất sớm và ngay từ thuở nhỏ đã được tặng biệt danh Ngũ Linh Dương nhờ
một lúc cử được 5 trái linh (mỗi trái 60 cân) trong một kỳ thi võ. Ở tuổi thanh niên, dáng
vóc ông to lớn, mạnh mẽ và rất giỏi võ nghệ. Ông cũng thường giao du
với những thanh niên có lòng yêu nước cùng lứa và cả lớp đàn anh như:
Trương Định, Trương Gia Mô, Nguyễn Thông, Âu Dương Lân, thủ khoa Bùi Hữu
Nghĩa…
Trong
khoảng những năm từ 1840 đến 1845, có lần Võ Duy Lập đã theo cha mình
là Võ Duy Ninh vào Gia Định như một chuyến được ngao du và với mục đích
là thăm thú bà con họ hàng đang sống và làm ăn ở đó (vì trước đó đã có
một bộ phận dòng họ Võ Duy từ Quảng Ngãi vào định cư tại huyện Bình
Dương - Gia Định). Trong thời gian thăm thú Gia Định, Võ Duy Lập gặp một
người con gái (có thể là do mai mối) tên là Trương Gia Hương, thuộc
dòng dõi thế gia rất nổi tiếng ở Gia Định, Bến Tre và Bình Thuận. Nàng
là em họ của cử nhân Trương Gia Hội, là cô họ của Trương Gia Mô, nhà
cách mạng đồng thời với Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cũng là người sau
này dẫn lối cho Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Năm
1910, một thanh niên tên Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) cầm
thư giới thiệu của cha là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đến gặp ông ở
làng Hà Thủy, tổng Đa Phước, tỉnh Bình Thuận. Được sự gửi gắm của bạn,
lại thấy Tất Thành có chí hướng, nên ông viết thư giới thiệu Thành với
ông Hồ Tá Bang
- một trong các sĩ phu sáng lập viên của Liên Thành Thương Quán và
trường Dục Thanh ở Phan Thiết. Sau đó, ông Hồ Tá Bang đã cho người ra
đón Nguyễn Tất Thành vào dạy học tại Trường Dục Thanh. Tháng 3 năm 1911,
ông Hồ Tá Bang và Trần Lê Chất đưa Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn để tìm
cách sang Pháp.
Sau
chuyến đi này, Võ Duy Lập về quê, lấy Trương Gia Hương làm vợ, vợ ông
sinh đứa con đầu lòng, đặt tên là Võ Duy Cung. Năm 1858, bà sinh người
con thứ hai, đặt tên là Võ Duy Phụng.
Năm
1857, hưởng ứng chính sách khai hoang, chiêu dân lập ấp của triều đình
Huế (mà người trực tiếp phát động phong trào là Nguyễn Tri Phương), Võ
Duy Lập cùng bạn bè và những người có chí tang bồng xuôi thuyền vượt biển
vào Nam, đến đất Ba Giồng, Tiền Giang ven Đồng Tháp Mười, khai khẩn. Vì
là cuộc đi khai khẩn vùng đất mới có thể gặp rừng thiêng nước độc nên Võ
Duy Lập đã để vợ con ở lại quê nhà (lúc này vợ ông đã cấn thai người
con thứ hai), và có thể vì lý do không muốn ai biết mình là con của vị
quan lớn Võ Duy Ninh nên ông cũng đổi họ thành Nguyễn Duy Dương (thậm
chí là Nguyễn Văn Dương, trở về họ gốc).
Khi
được biết Võ Duy Ninh đã vào Gia Định nhận chức Hộ đốc, Lập có đến ra mắt
cha mình. Người cha biết được cuộc khẩn hoang, lập ấp của con ở đất Ba
Giồng, nhưng không biết được Lập đã đổi họ tên. Chính lần gặp gỡ này đã
cho Nguyễn Duy Dương biết cha mình được phái vào Nam mộ quân ở các tỉnh
Long - Tường - An – Hà (Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên), tăng
cường phòng thủ cho Gia Định thành. Từ đây, ngoài việc vận động dân ở
các địa phương, nhất là dân các tỉnh miền Trung tụ về làm hình thành nên
khu vực định cư mới ở đất Ba Giồng, Nguyễn Duy Dương còn phải nhanh
chóng chiêu mộ lập nên một đội nghĩa binh, tích cực rèn chí, luyện gan
theo lời cha dặn.
Ngày
Pháp đánh Gia Định thành, Nguyễn Duy Dương kéo số dân binh ít ỏi của
mình đến trợ chiến quân triều đình. Sau khi thành Gia Định thất thủ, ông
cùng số dân binh đó trở về lại Ba Giồng, xây dựng Lý Nhơn thành căn cứ
địa, quyết tâm chống Pháp. Nghe tin cha tuẫn tiết, ông đã bí mật lặn lội
đến Phước Lý chịu tang, đồng thời bí mật vận động được một số binh lính
triều đình ở đó theo về cùng ông tiếp tục chiến đấu, trả thù cho cha.
Như đã kể, Bị cầm chân ở Đà Nẵng, tướng Charles Rigault de
Genouilly buộc phải thay đổi kế hoạch, là rút đi hai phần ba số quân
(tức 2000 người) và 8 trong số 14 chiến thuyền ở mặt trận này để vào
đánh chiếm Gia Định.
Trận thành Gia định
hay còn gọi Trận Gia Định là một trận chiến diễn ra vào rạng sáng ngày
17 tháng hai năm 1859, giữa liên quân Pháp và Tây Ban Nha với quân đội
vương quốc Đại Nam. Kết quả quân đội Đại Nam thất bại và thành Gia Định
cùng các đồn lũy quân sự khác dọc sông Lòng Tàu bị liên quân Pháp và Tây
Ban Nha san phẳng.
Theo thư ngày 29 tháng 1 năm 1859 của viên tướng này gửi Bộ trưởng Hải quân Pháp ở Paris, thì "Sài Gòn
nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân
lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng
mệt nhọc. Sài Gòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế
sống một phần nhờ gạo Sài Gòn. Đến tháng Ba thì thuyền chở thóc gạo, sẽ
kéo buồm từ Sài Gòn ra Huế. Chúng tôi quyết chặn thóc gạo đó lại...".
Quân Pháp tấn công thành Gia Định.
Như
vậy, việc Pháp chọn mặt trận thứ hai ở Sài Gòn, cũng không nằm ngoài
mục đích muốn chiếm đóng và tìm kiếm lợi lộc từ nước Việt. Và nếu không
thể "đánh nhanh, thắng nhanh" ở Đà Nẵng được, thì Sài Gòn quả là một
địa bàn thuận lợi hơn Hà Nội,
bởi ở đây có một hệ thống sông rạch chằng chịt, nhiều sản vật, nhiều
của cải và nhiều lúa gạo nhất Đại Nam. Cho nên, De Genouilly mong muốn
chiếm lĩnh Sài Gòn để có thể "vừa lập nghiệp, vừa phòng thủ", "vừa hành
binh, vừa lưu thông thương mại dễ dàng". Ngoài việc cắt đứt con đường
tiếp tế lương thực cho Huế như đã ghi trên, thực dân Pháp sẽ có thêm
điều kiện thuận lợi để thực hiện ý đồ làm chủ lưu vực sông Mê Kông, và
xa hơn nữa là phía Bắc...
Ngày 10 tháng 2, đại bác Pháp bắn vào Vũng Tàu.
Ngày 11 tháng 2, đoàn tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ.
Sau đó, quân Pháp vừa đi vừa tháo gỡ những chướng ngại vật trên sông và
triệt phá 12 đồn trại của quân Việt ở hai bên bờ, nên mãi tới chiều 15
tháng 2, quân Pháp mới đến được ụ Hữu Bình.
Tức thì, cuộc đấu pháo đã diễn ra dữ dội suốt đêm. Quân Việt dùng
thuyền nhỏ chở đầy thuốc súng và rơm khô, định dùng kế hoả công nhưng bị
quân Pháp biết, sai người lén đốt trước.
Sáng sớm hôm sau, tức ngày 16 tháng 2,
bảy tàu chiến Pháp dàn trận rồi ra sức bắn phá cho đến khi quân Việt
phải bỏ chạy và quân Pháp xông lên chiếm được pháo đài. Và ngày hôm sau
nữa (17 tháng 2), các tàu chiến Pháp đã có mặt trước thành Gia Định.
Nhờ cho hai tàu nhỏ vào rạch Thị Nghè
thám thính, cộng thêm sự chỉ dẫn của giáo sĩ Lefèbvre, nên các sĩ quan
Pháp đã hiểu khá rõ lực lượng và cách bố phòng của thành Gia Định.
Ngày 17-2-1859, khoảng 4 giờ sáng, liên
quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công vào góc Đông Nam thành Gia Định (trực
diện đường Tôn Đức Thắng - Đinh Tiên Hoàng và dọc mạn đường Lê Duẩn hiện
nay). Phía Pháp có hai trung đoàn bộ binh với hơn 2.000 quân, trong đó
có 1.000 lính pháp, 550 lính Tây Ban Nha, 450 lính Philippines và tám
tàu chiến, hai tàu vận tải, hàng chục đại bác. Phía quân nhà Nguyễn ở
trong thành Gia Định với quân số hơn 2.000, đại bác có 200 khẩu súng
thần công, thuốc súng 80.000 kg, nhiều bạc nén, thóc đủ nuôi một vạn
quân trong một năm.
Tướng Charles Rigault de Genouilly - , chỉ huy quân đội Pháp tấn công Gia Định năm 1859. Hình chụp khoảng năm 1870.
Tàu chiến Pháp
từ rạch Thị Nghè và sông Sài Gòn bắn đại bác cấp tập vào thành nhằm phủ
đầu quân hộ thành. Quân bộ binh tràn lên vây thành. Quân hộ thành bắn
đạn nổ, phóng lao, ném đá, đổ dầu nóng, phun lửa xuống chặn quân Pháp.
Quân Pháp sử dụng đại bác bắn thẳng vào cửa thành, đưa chất nổ áp sát để
phá thành. Cửa cổng thành phía Đông bằng gỗ dày nhưng không chịu được
sức công phá của đại bác (loại nòng pháo có rãnh, đạn có các tút, đầu
đạn nổ khi chạm mục tiêu) nên bị phá vỡ, đồng thời giặc Pháp cho lính bộ
binh bắc thang trèo vào thành. Pháo trên thành dội xuống tàu địch đậu ở
phía rạch Thị Nghè (Thảo Cầm Viên ngày nay) nhưng súng thần công của
nhà Nguyễn lúc đó bắn đạn tròn làm bằng gang bỏ đầu nòng, nhồi thuốc và
đốt bằng dây mồi nên có tầm bắn ngắn, sức công phá yếu, độ sai lạc lớn
cho nên không bắn chìm được chiếc tàu nào. Súng của binh lính nhà Nguyễn
cũng lạc hậu, thao tác rất chậm cho nên không địch lại được các loại
súng hiện đại của quân đội Pháp khi đó. Hơn 800 quân Pháp-Tây Ban Nha do
Trung tướng Rigault de Genouilly tràn vào thành và một trận chiến xáp
lá cà trong thành đã diễn ra ác liệt. Bằng tất cả vũ khí có trong tay,
quân nhà Nguyễn đã giữ thành đến quá trưa (giữ thành được 11 tiếng đồng
hồ), độ chừng lúc gần 2 giờ chiều, quân Pháp mới làm chủ được thành.
Phía liên quân Pháp-Tây Ban Nha bị chết và bị thương ngót trăm người.
Còn phía bên quân nhà Nguyễn hy sinh rất nhiều, có tài liệu ghi rằng
chết cả vài trăm người, chủ yếu do pháo, thuốc nổ. TướngVõ Duy Ninh bị
trọng thương
Thần công thành Gia Định, đang được trưng bày tại Lăng Ông Bà Chiểu.
Để bảo toàn lực lượng, quân nhà Nguyễn buộc phải bỏ thành rút lui, để
lại trong thành hầu hết đại bác, đạn dược, tất cả thóc gạo và hơn trăm
chiến thuyền gỗ trên sông Thị Nghè. Đề đốc Trần Tri, bố chánh Vũ Thực,
lãnh binh Tôn Thất Năng mang quân lui về ụ Tây Thái. Tướng Võ Duy Ninh
được binh lính cõng về làng Phước Lý thuộc Tổng Phước Lộc (huyện Tân
Bình xưa).Kho thóc cháy hai năm còn bốc khói.
Sau khi tỉnh dậy, biết tin quân Pháp đã chiếm được thành Gia Định, ông
đã rút gươm tự sát vào đêm 17-2-1859. Bộ tướng của ông là án sát Lê Từ
cũng tự vẫn. Pháp chiếm được hơn 200 khẩu pháo, 20.000 vũ khí cầm tay
như súng, súng ngắn và kiếm, 100 tấn đạn dược, 80.000 tấn gạo và 130.000
franc tiền mặt. Tổng thiệt hại vật chất ước tính vào khoảng 20 triệu
franc khi đó.
Ngay sau khi chiếm được thành, tướng
Pháp De Genouilly có ý định giữ lại tòa thành để làm căn cứ đồn trú lâu
dài cho đội quân viễn chinh vì cấu trúc tòa thành theo kiểu Vauban phù
hợp với tác chiến châu Âu. Nhưng sau đó quân nhà Nguyễn liên tục tấn
công, quấy rối, phần muốn trả thù cho chủ tướng, phần muốn giành lại
thành để khỏi mang trọng tội với vua. Phía Pháp chống đỡ rất vất vả
trước sự kháng cự liên tục của quân và dân Việt, bị tiêu hao lực lượng
khá nặng nề. Trong một báo cáo gửi về Bộ Hải quân Pháp ở Paris, tướng De
Genouilly đã than rằng: “Bây giờ tôi không biết bằng cách gì và đến
chừng nào cái sự việc Nam Kỳ này mới được giải quyết” và “Không thể
không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh ở xứ này còn khó hơn cuộc chiến
tranh với Trung Hoa” (sách Địa chí văn hóa TP.Hồ Chí Minh).
Binh lính nhà Nguyễn và binh lính Tây Ban Nha
Ngày
18-3-1859, sau một tháng chiếm được thành, tướng De Genouilly quyết
định cho phá thành. Quân Pháp đã đặt 32 khối mìn cho nổ tung toàn bộ
ngôi thành và đốt phá kho tàng, san phẳng dinh thự bên trong. Người ta
truyền miệng rằng kho thóc thành Gia Định cháy mãi đến hai năm mà khói
còn nghi ngút.
Phá tan thành Gia Định xong, De Genouilly chỉ để lại một số
quân đóng giữ ở đồn Nam (đồn Hữu Bình), còn bao nhiêu rút hết xuống các
tàu chiến.
Ngày 20 tháng 4 năm 1859,
viên tướng trên giao quyền cho Đại tá hải quân Jauréguibery chiếm giữ
Gia Định, rồi lui tàu trở lại mặt trận Đà Nẵng, vì lúc này quân Pháp ở
đó đang bị nguy khốn vì thương vong và dịch bệnh..
Mặc dù thất bại trong việc giữ thành nhưng rõ ràng đây là trận chiến vô
cùng oanh liệt, cùng với trận đánh pháo đài Phước Thắng (Vũng Tàu) mở
màn cho những năm tháng trường kỳ kháng chiến của người dân Nam Bộ.
Tướng Võ Duy Ninh là vị tướng cao cấp đầu tiên của nhà Nguyễn, cũng là
của đất nước hy sinh anh dũng trong cuộc chiến. Trận chiến đấu này và tấm gương
hy sinh anh dũng của Võ Duy Ninh đã tác động rất lớn dẫn đến những hoạt
động kháng Pháp sau này của Nguyễn Trung Trực (1839-1868), Thiên Hộ
Dương (1827-1866), Thủ Khoa Huân (1830-1875), Trương Định (1820-1864)…
Sau khi tướng Võ Duy Ninh mất, con trai ông là Võ Duy Lập gia nhập nghĩa
quân của Trương Công Định, tiếp tục chống Pháp, trở thành người anh
hùng nghĩa quân. Ông khai sinh ra chiến khu Đồng Tháp Mười, chiến đấu
trong năm năm tới ngày hy sinh (1866), được nghĩa quân tôn phong là
“Thiên Hộ Vương”(người miền Nam gọi Vương thành Dương), trở thành huyền thoại tượng trưng sự bất khuất ngoan
cường của người dân Nam Bộ chống thực dân Pháp xâm lược.
Tàu chiến của lực lượng viễn chinh Pháp và Tây
Ban Nha từ sông Sài Gòn bắn vào thành Gia Định (tranh của Antoine Léon
Morel-Fatio).
Cũng
trong khoảng thời gian này, Quản cơ Trương Công Định đem quân bản bộ
của mình (gồm lính đồn điền và nông dân được chiêu mộ) về Lý Nhơn, hợp
sức với người bạn trẻ Nguyễn Duy Dương gấp rút xây dựng thành một căn cứ
địa vững chắc, rồi lấy đó làm bàn đạp, nhanh chóng xuất quân trở lại
Gia Định tổ chức đánh phục kích tiêu hao lực lượng quân Pháp.
Sau
đó, khi Nguyễn Tri Phương (được triều đình Huế cử vào thay Tôn Thất
Hiệp, chỉ huy cuộc kháng Pháp ở Gia Định) kêu gọi quân dân hợp sức chống
giặc (tập trung chủ yếu vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa, đồn này rộng
300m, dài 1000m, chia làm 5 khu ngăn cách nhau bằng bờ rào gỗ, rào tre,
đào hào cắm chông, 150 cỗ đại bác các loại, bắn bằng đạn gang được bố
trí trên mặt thành), thì các toán quân “ứng nghĩa”, trong đó có quân của
Quản cơ Trương Công Định và của Nguyễn Duy Dương, đều qui tụ về Chí
Hòa, đầu quân dưới sự chỉ huy của ông. Chính trong dịp này, Quản cơ
Trương Công Định được triều đình thăng lên chức Phó lãnh binh, còn
Nguyễn Duy Dương được phong chức Thiên Hộ (chức này cũng như một chức võ
quan có lực lượng dân binh riêng hàng ngàn người, cai quản một khu vực
dân cư khoảng ngàn gia đình)).
GS. Trần Văn Giàu viết:
"Tuy có chủ trương "vừa công vừa thủ", nhưng không hơn gì Tôn Thất
Hiệp, Thống tướng Nguyễn Tri Phương vẫn án binh bất động, chỉ khác một
điều là ông tập trung sức lực quân dân (khoảng 30.000 người) không phải
vào việc đánh mà vào việc xây dựng Đại đồn Chí Hòa nhằm bao vây địch
chặt chẽ hơn, tính không cho địch bung ra rộng hơn nữa...(Để rồi) Đại
đồn xây dựng gần một năm với công sức của mấy vạn quân và dân, chỉ bảo
vệ được hơn một ngày thì mất!. Đại đồn Chí Hòa, biểu hiện chiến lược
phòng thủ tai hại của tướng Nguyễn Tri Phương...".
Qua Chí Hòa hoài cổ
Tiện bước qua thăm cảnh Chí Hòa
Đây nơi chiến địa buổi can qua.
Đống xương vô định sương vùi lấp,
Giọt máu hy sanh cỏ nhuộm lòa.
Cứu nước chẳng nề thân sống thác,
Liều mình không quản sức xông pha!
Người xưa, cảnh cũ nay còn nhớ?
Tang hải buồn thay nỗi nước nhà!
Sài Sơn P.H.C (Phụ nữ tân văn số 28 ngày 7 tháng 11 năm 1929)
Quân Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa
Cũng
trong khoảng thời gian này, Quản cơ Trương Công Định đem quân bản bộ
của mình (gồm lính đồn điền và nông dân được chiêu mộ) về Lý Nhơn, hợp
sức với người bạn trẻ Nguyễn Duy Dương gấp rút xây dựng thành một căn cứ
địa vững chắc, rồi lấy đó làm bàn đạp, nhanh chóng xuất quân trở lại
Gia Định tổ chức đánh phục kích tiêu hao lực lượng quân Pháp.
Sau
đó, khi Nguyễn Tri Phương (được triều đình Huế cử vào thay Tôn Thất
Hiệp, chỉ huy cuộc kháng Pháp ở Gia Định) kêu gọi quân dân hợp sức chống
giặc (tập trung chủ yếu vào việc xây dựng đại đồn Chí Hòa, đồn này rộng
300m, dài 1000m, chia làm 5 khu ngăn cách nhau bằng bờ rào gỗ, rào tre,
đào hào cắm chông, 150 cỗ đại bác các loại, bắn bằng đạn gang được bố
trí trên mặt thành), thì các toán quân “ứng nghĩa”, trong đó có quân của
Quản cơ Trương Công Định và của Nguyễn Duy Dương, đều qui tụ về Chí
Hòa, đầu quân dưới sự chỉ huy của ông. Chính trong dịp này, Quản cơ
Trương Công Định được triều đình thăng lên chức Phó lãnh binh, còn
Nguyễn Duy Dương được phong chức Thiên Hộ (chức này cũng như một chức võ
quan có lực lượng dân binh riêng hàng ngàn người, cai quản một khu vực
dân cư khoảng ngàn gia đình)).
Đến
đây, họ tên Võ Duy Lập đã mất hút từ lâu và đến tên Lập cũng chẳng ai
còn nhớ nữa. Võ Duy Lập, con Tổng trấn Võ Duy Ninh coi như đã bặt vô âm
tín. Ngay cả đối với bà con họ hàng ruột thịt của Võ Duy Ninh ngụ tại
Bình Dương cũng coi như thế. Mối liên hệ giữa Võ Duy Lập và Thiên hộ
Nguyễn Duy Dương đã hoàn toàn bị xóa sạch. Thậm chí, cái họ Nguyễn Duy
cũng rất ít người biết vì trong đời sống hàng ngày, không ai gọi tên họ
cả mà chỉ gọi tên, kèm theo thứ tự anh em trong gia đình (người miền Nam
không gọi người con đầu là “cả” mà là “hai”), hoặc kèm theo chức vụ,
phẩm hàm… Ví dụ đối với Nguyễn Duy Dương, người ta chỉ gọi: Dương, Ba
Dương (vì có anh hai là Ngọc), Năm Linh, Thiên Hộ Dương. Chỉ có những
người thân tín nhất, theo sát ông nhất, vào sinh ra tử cùng ông, mới
biết Thiên hộ Dương chính là con trai của quan Tổng trấn Võ Duy Ninh, từ
đó mà suy ra họ của ông phải là Võ Duy, thế thôi chứ không hề hay biết
Dương cũng là Lập.
Sau
khi đại đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương cùng quân triều đình
rút chạy. Phó lãnh binh Trương Công Định và Thiên Hộ Dương cũng rút quân
về Lý Nhơn. Tại đây Trương Công Định cùng Nguyễn Duy Dương và Âu Dương
Lân cắt máu ăn thề kết làm huynh đệ sống chết có nhau và bàn tính phương
kế liên kết chống Pháp. Dù căn cứ địa Lý Nhơn đã được bố trí, tạo dựng
vững vàng nhưng thấy tập trung quân vào một chỗ là hạ sách nên Trương
Công Định để lại một phần quân số tăng cường cho Thiên Hộ Dương ở lại Lý
Nhơn, rồi cùng Âu Dương Lân dẫn hơn một ngàn nghĩa binh về Gò Công, xây
dựng căn cứ địa, củng cố lực lượng và tích cực chiêu mộ thêm nghĩa
binh. Lực lượng của Trương Công Định nhanh chóng lớn mạnh, và cùng với
Thiên hộ Dương, tiếp tục gây cho giặc Pháp nhiều thiệt hại, làm cho
chúng mất ăn mất ngủ.
Ngày
5-6-1862, Triều đình Huế bạc nhược ký hòa ước (thực chất là hàng ước!)
dâng ba tỉnh miền Đông (gồm Biên hòa, Gia Định, Định Tường) và đảo Côn
Lôn cho Thực dân Pháp. Tháng 9-1862, triều đình Huế ra lệnh cho Trương
Công Định và Nguyễn Duy Dương phải bãi binh, điều Trương Công Định đi
lãnh nhiệm vụ mới ở An Giang. Trương Công Định cưỡng lệnh, giương cao
ngọn cờ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” tiếp tục chống Pháp. Lực lượng Thiên
Hộ Dương tiếp tục đi theo ngọn cờ được nhân dân suy tôn đó.
Trong
những tháng ngày rong ruổi dẫn dân binh đi “ứng nghĩa”, hộ chiến cho
quân triều đình ở Gia Định và bước đầu xây dựng căn cứ Lý Nhơn, Nguyễn
Duy Dương đem lòng yêu một người con gái ở Gia Định và coi nàng như vợ
bé. Việc kết giao giữa hai người trong thời buổi loạn lạc, lòng người
khó dò, là việc cần được giấu kín nên trong số những người tâm phúc nhất
của Thiên Hộ Dương cũng rất ít người biết được tường tận, còn hầu như
là chỉ biết mơ mơ hồ hồ, và dù có biết thì họ cũng có ý thức không mảy
may tiết lộ ra ngoài.
(Về
truyền thuyết người vợ bé của Thiên Hộ Dương, có nhiều câu chuyện còn
lan truyền trong dân gian rất đáng được quan tâm, suy nghĩ.
Chuyện thứ nhất:
Ngày
xưa, ở thôn Hòa An (phủ Tân Thành, An Giang) có một ông bá hộ ăn ở nhân
hậu. Gia đình ông hiếm hoi, chỉ có một người con gái. Nàng duyên dáng,
mặn mà, đã đến tuổi cập kê nhưng chưa chịu lấy chồng. Giống tính cha, dù
là con nhà khá giả song nàng sống chan hòa với bà con tá điền và thường
hay giúp đỡ những người nghèo khó. Nàng rất yêu hoa, thường thơ thẩn
trong vườn hoa trước nhà, nên mọi người gọi nàng là Bướm.
Một
hôm, có một đoàn thương lái lỡ đường, ghé nhà xin bữa cơm. Trong đoàn
có một thanh niên diện mạo khôi ngô, vạm vỡ, cốt cách oai phong của một
vị tướng. Thấy đây không phải là đám lái buôn bình thường, ông bá hộ bèn
mời vào nhà thết đãi tử tế và gọi nàng Bướm ra hầu rượu.
Cơm
nước xong, chàng thanh niên ấy mở lời cảm ơn và xin hoàn lại tiền bữa
ăn. Ông bá hộ ngăn lại, đoạn bảo nàng Bướm lấy ra một túi bạc và nói:
-
Theo chỗ lão xét đoán thì ngài không phải là lái buôn mà là tráng sĩ
đang lo việc dân việc nước. Xin cho lão được góp phần nhỏ mọn này.
Sau một thoáng ngạc nhiên, người thanh niên thú thực:
-
Quả thật là cụ tinh đời. Chúng tôi là nghĩa quân của ngài Thiên Hộ… Tôi
xin thay mặt nghĩa quân nhận số bạc và hết sức cảm ơn nghĩa cử hào hiệp
của cụ.
- Chẳng hay quí danh tráng sĩ là chi?
- Dạ, tên tôi là Kiều, họ Nguyễn.
-
Té ra tráng sĩ là ngài Đốc binh Kiều. Thật là vạn hạnh cho lão. Nghe
tiếng tráng sĩ đã lâu, hôm nay lão mới được diện kiến. Bây giờ lão có
một đề nghị này: số là lão chỉ có mỗi một mụn con gái đây, nhiều thanh
niên trong vùng ngấp nghé nhưng nó chưa ứng đám nào; xin tráng sĩ nhận
làm thê thiếp cho nó có dịp nâng khăn sửa túi bậc anh hùng.
Người thanh niên vội nói:
-
Thưa lão gia, tôi xin cảm ơn lòng tốt của lão gia một lần nữa. Nhưng về
việc này thì cho tôi xin thất lễ vì tôi đã có hiền thê ở nhà. Hơn nữa,
chốn lửa đạn có nữ nhi kề bên e bất tiện.
Ông bá hộ nài nỉ mãi làm người thanh niên không thể từ chối được nữa và hôm đó được coi như ngày đính ước.
Từ
đó, nàng Bướm tự coi mình là gái đã có chồng. Ít lâu sau, được tin Đốc
binh Kiều tử trận ở Gò Tháp, nàng lặng lẽ chít khăn tang, lập bàn thờ
chồng rồi cứ thế sống thủ tiết với chồng chưa cưới cho đến lúc qua đời.
Tấm
lòng nhân hậu và trung trinh tiết liệt của nàng được dân quanh vùng
ngợi ca và con rạch chảy qua vườn nhà nàng được gọi là rạch Bà Bướm từ
thuở đó.
Câu
chuyện này làm bật ra câu hỏi: phải chăng trường hợp có vợ bé của Thiên
Hộ Dương đã xảy ra tương tự như thế hoặc đó chính là câu chuyện có xuất
phát trực tiếp từ trường hợp có thực của Thiên Hộ Dương vì Nguyễn Kiều
chưa chắc là Nguyễn Tấn Kiều - Đốc binh Kiều mà chỉ là một cái tên che
đậy tung tích? Rất tiếc là cho đến nay, chưa ai biết đích xác họ và quê
quán cụ thể của Đốc binh Kiều. Dân gian thường gọi ông là Lê Công Kiều,
Trần Phú Kiều hoặc Nguyễn Tấn Kiều nhưng phổ biến nhất là quan lớn
Thượng. Tương truyền ông gốc miền Trung, vào Nam sinh sống ở huyện Kiến
Đăng, tỉnh Định Tường.
Câu chuyện thứ hai:
Ông
Nguyễn Văn Biểu gốc người làng Tân Phú, tổng Kiến Phong, huyện Kiến
Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), là
con thứ tám trong một gia đình nông dân. Lúc nhỏ có theo học võ nghệ và
chữ nho. Tương truyền, ông có vóc người cao lớn, rất khỏe, da đen, môi
chì, tướng tá bặm trợn, trông rất dữ dằn.
Đến
khi trưởng thành, ông cùng người anh thứ bảy là Nguyễn Văn Phương theo
người cậu về làng Mỹ Thọ (thuộc huyện Cao Lãnh) để kiếm việc làm.
Lúc
đầu ông sinh sống bằng cách làm mướn và theo người cậu đóng cối xay đi
bán dạo. Thấy ông khỏe mạnh lại làm lụng siêng năng, trông tướng dữ mà
té ra tính tình nhân hậu nên một gia đình khá giả, có nhiều ruộng đất ở
Rạch Miễu, cũng thuộc làng Mỹ Thọ, kêu gả con gái cho. Từ đó, ông Biểu
thôi đi làm mướn, quay sang trông nom ruộng đất cho nhà vợ.
Khi
được tin Thiên Hộ Dương kéo quân về lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ chống
Pháp, ông liền từ giã vợ con lên đường gia nhập hàng ngũ nghĩa quân.
Nhờ khỏe mạnh, giỏi võ, gan dạ và một lòng trung thành nên được Thiên Hộ
Dương chọn làm chỉ huy đội phòng vệ. Vì thế mọi người lúc bấy giờ
thường gọi ông là Phòng Biểu hay Phòng Tám (vì ông thứ tám). Từ đó,
tiếng tăm ông vang dội khắp vùng Cao Lãnh.
Trong
suốt thời gian theo nghĩa quân, trải qua bao trận mạc, lúc nào ông cũng
tỏ ra là người chỉ huy có tài, dốc lòng hy sinh cho đại cuộc. Thiên Hộ
Dương rất tin cậy ông và ông trở thành người hộ vệ thân tín bên cạnh vị
chủ tướng.
Khi
Đốc binh Kiều nắm binh quyền thay Thiên Hộ Dương tiếp tục chống Pháp ở
Đồng Tháp Mười thì Phòng Biểu trở thành cánh tay đắc lực của Đốc binh
Kiều trong việc cố gắng xây dựng lại căn cứ và củng cố lại lực lượng
nghĩa quân. Trong một trận đánh, Đốc binh Kiều bị thương nặng rồi hy
sinh. Sau khi chôn cất đâu đó Đốc binh Kiều, ông Phòng Biểu rút quân qua
Sình Lớn, về cố thủ ở ngã ba Thông Bình (Tân Thành). Mặc dù quân số ít,
vũ khí thiếu thốn, thô sơ và bị Pháp tập trung càn quét liên miên, ông
vẫn cùng nghĩa quân chiến đấu cầm cự kéo dài suốt bốn năm liền. Tuy
nhiên, vì lực lượng ngày một hao mòn, thấy không thể duy trì được nữa
nên ông ra lệnh giải tán nghĩa quân. Riêng ông phiêu bạt rày đây mai đó.
Pháp
và tay sai truy lùng tìm bắt ông ráo riết nhưng không có kết quả. Chúng
bèn quay sang tìm cách bắt con cháu ông để bức ông ra hàng. Túng thế,
ông phải cải họ người con trai duy nhất của ông từ họ Nguyễn sang họ Võ
và giao cho bà Nguyễn Thị Chung là cháu gái của ông (lúc bấy giờ đã theo
chồng về ở rạch Cái Da, xã Nhị Mỹ) trông nom giúp.
Ông
Phòng Biểu tiếp tục sống đời ẩn dật đến năm 1914 thì mất, thọ 84 tuổi.
Phần mộ của ông hiện ở xóm Giồng, rạch Cao Miên, thuộc xã An Bình, huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Câu
chuyện thứ hai này bật ra câu hỏi: người con trai duy nhất của ông
Phòng Biểu lớn lên rồi ra sao và sao ông Phòng Biểu không đổi họ cho con
từ Nguyễn sang bất cứ họ nào khác mà phải là họ Võ? Hay phải chăng đứa
con trai đó chính là con của Thiên Hộ Dương có với người vợ bé và đã gửi
gắm lại cho gia đình ông Phòng Biểu, một trong những thủ hạ thân tín
nhất của mình? Có thể nào cha vợ của Phòng Biểu cũng là cha vợ của Thiên
Hộ Dương và vợ bé của Thiên Hộ Dương là chị ruột của vợ Phòng Biểu?
Câu chuyện thứ ba được lan truyền trong dân gian vùng Bình Cách:
Ông
Năm Linh (tức Ngũ Linh Dương?) người miền Trung, võ nghệ cao cường,
tính tình cương trực, hay làm việc nghĩa, giao du rộng, …, vào Nam lập
nghiệp. Lúc Tây xâm lược Nam Kỳ, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng, quyên
góp lúa gạo, mua súng đạn đánh Tây, được nhiều người hưởng ứng. Bá hộ
Học (Trần Văn Học) là điền chủ giàu có nhất nhì trong vùng chẳng những
ủng hộ lúa gạo mà còn bán ruộng lấy tiền bạc mua súng đạn ủng hộ nghĩa
quân. Để khích lệ người anh hùng có chí lớn, bá hộ Học đem đứa con gái
duy nhất là Trần Thị Vàng (bà Bảy Vàng) gả cho ông Năm Linh. Từ khi về
với ông Năm Linh, dù là gái đưa chứ không phải là vợ chính thức có cưới
hỏi, nhưng bà Bảy Vàng chẳng những một lòng chung thủy mà còn giúp chồng
nhiều việc trong công cuộc quốc sự. Khi ông Năm Linh cùng nghĩa quân
rút vào Đồng Tháp Mười, bà cũng theo chồng để lo việc tiếp tế lương thực
nuôi quân. Đến khi Đại đồn Tháp Mười thất thủ, ông Năm Linh theo ghe
bầu về Huế cầu viện, bà ở lại nuôi con chờ chồng. Khi ông Năm Linh bị
chết ngoài biển, bà Bảy Vàng nghe tin, buồn rầu mà mất.
Câu
hỏi đặt ra cho câu chuyện này là: ông bá hộ Học phải chăng cũng là ông
bá hộ ở câu chuyện thứ nhất? Phải chăng bà Bảy Vàng đã quá yêu người anh
hùng mà tình nguyện đi theo nghĩa quân và đã có với người anh hùng một
đứa con gái?
Câu chuyện thứ tư là theo lời kể của Võ Quế (85 tuổi vào năm 1989), cháu nội của Võ Duy Dương:
Trong
thời gian ở Nam Kỳ, Võ Duy Dương có lấy vợ hai và đã sinh hạ được hai
người con trai tên là Võ Châu và Võ Phong. Nhưng tên tuổi và quê quán
của bà này thì chưa xác định được. Sau khi Võ Duy Dương qua đời, có một
người đàn bà ở trong Nam ra Huế tâu với triều đình về hoạt động chống
Pháp và gia đình của Võ Duy Dương trong Nam. Sau đó bà này tìm đến dòng
tộc của Võ Duy Dương ở Nhơn Tân (An Nhơn, Bình Định), sống một thời gian
rồi qua đời tại đây. Hiện nay mộ của bà vẫn nằm chung trong khu mộ gia
đình họ Võ dưới chân núi Thơm. Ngôi mộ này được gọi là mộ của bà Đồng
Nai (vì bà là người xứ Đồng Nai, tức miền Nam).
Câu
hỏi đặt ra ở đây là: Phải chăng bà Đồng Nai chính là Trần Thị Vàng và
bà này đã mang người con gái của bà với Võ Duy Dương ra Bình Định, đến
nhà bà vợ cả rồi nghe tin Võ Duy Dương đã chết thì buồn rầu ngã bệnh mà
mất? Phải chăng người con gái đó lại là Võ Thị Thắm (tên đổi lại từ Võ
Châu)? Còn Võ Phong chính là Võ Sắc, con trai của Võ Duy Dương với một
người vợ thứ nữa? Vậy, có thể Thiên Hộ Dương khi hoạt động đã có 2 người
vợ thứ? Chuyện nhiều vợ ngày xưa là thường tình! Cũng có thể người vợ
thứ sinh thành ra Võ Sác chính là Trương Gia Hương còn bà vợ cả tên là
Phạm Thị Liệu, người thôn Tráng Long cùng huyện nay thuộc xã Nhơn Tân?
Hay bà Liệu cũng chỉ là vợ thứ sau này của ông Thiên Hộ, khi ông từ Nam
ra mới tác hợp?)
Sau
hàng ước của triều đình Huế, lực lượng quân triều đình rút khỏi 3 tỉnh
miền Đông làm cho sức mạnh kháng Pháp bị suy giảm đáng kể. Sự quay lưng
của triều đình Huế đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp rảnh tay đàn áp
quân ứng nghĩa. Biết không thể lung lạc được Trương Công Định và Nguyễn
Duy Dương, quân Pháp tập trung lực lượng, với sự tham gia cúc cung, chỉ
đường mách lối của đám tay sai phản dân hại nước người Việt, tổ chức
hành quân đánh chiếm, quyết tâm tiêu diệt cuộc kháng chiến do Trương
Công Định lãnh đạo.
Trong
tháng 1-1863, nghĩa quân tổ chức chiến đấu, cản phá có hiệu quả các
cuộc hành quân càn quét của địch bằng những trận đột kích, phục kích,
tập kích chớp nhoáng… trên địa bàn khắp 3 tỉnh miền Đông. Quân Pháp bị
tiêu hao nhiều binh lực, buộc phải dừng cuộc tiến công, chia nhau đóng
giữ những nơi hiểm yếu.
Sau
khi đã có thêm viện binh, Thực dân Pháp tập trung đánh vào Gò Công -
Căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến do Trương Công Định chỉ huy. Mở đầu
cuộc tiến công, quân Pháp đánh Gò Đen, Đồng Sơn, Vĩnh Lợi (là hệ thống
tiền đồn bảo vệ căn cứ). Ngày 26-2-1863, đại binh Pháp tiến về Trại Lá
(Bến Chùa). Trương Công Định khéo léo tổ chức các trận đánh ngăn chặn,
tiêu hao địch, đồng thời bí mật tổ chức cho đại bộ phận lực lượng vượt
ra khỏi vòng vây. Khi quân Pháp lọt được vào đại bản doanh thì nghĩa
quân đã rút đi tự bao giờ.
Rời
căn cứ Gò Công, Trương Công Định cùng toàn bộ nghĩa quân bí mật trở lại
căn cứ Lý Nhơn, hợp binh với Thiên hộ Dương, tiếp tục tổ chức đánh du
kích chống Pháp. Với một căn cứ Lý Nhơn chắc chắn không thể trụ vững
đánh lâu dài trước một đội quân viễn chinh và tay sai đông đảo, được
trang bị vượt trội hơn hẳn về vũ khí. Do đó trong thời gian này, Trương
Định và Thiên Hộ Dương cùng các bộ tướng thân tín bàn thảo và quyết định
tạo dựng 2 căn cứ mới để tránh bị co cụm và tạo khả năng phát triển
thêm lực lượng nghĩa binh. Căn cứ thứ nhất dự định thành lập tại khu vực
giữa làng Tân Phước và Kiểng Phước thuộc đất Gò Công. Đó là nơi cây lá
rậm rạp bên hữu ngạn sông Soài Rạp nên cũng được dân chúng gọi nôm na là
vùng “Đám lá tối trời”.
Chuyện xảy ra cách đây hơn một thế kỷ, vào khoảng 1861-1864. Vùng « Đám
lá tối trời », một nơi âm độc con người khó sống, lại là một chiến khu
rất tốt. Từ căn cứ này, kháng chiến quân của Trương-Công-Định phóng ra
những cuộc tấn công chớp nhoáng rồi rút theo chiến thuật « tam khoái »
(Ba mau : đi quân mau, đánh phá mau, rút về mau)
Nguyễn Liên Phong – một người
thân Pháp, tác giả cuốn Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (1909) – từng
ca tụng ông:
Tiếng đồn Đám Lá Tối Trời Có ông Trương Định trải phơi gan vàng Hiền vi cơ chưởng nan minh Lưỡi gươm đâm bụng liều mình như chơi Nên hư số hệ ở trời Khá đem thành bại luận người hùng anh.
Căn cứ thứ hai được dự định xây dựng trong Đồng
Tháp Mười mênh mông, lấy Gò Tháp làm vị trí trung tâm (và đây cũng được
xác định là căn cứ chính). Thiên Hộ Dương, với tài tổ chức, xây dựng
căn cứ ở Lý Nhơn mà chính Trương Công Định đã công nhận, trở thành nhân
vật chính khẩn trương tạo dựng căn cứ địa Gò Tháp và đồng thời cũng là
người lãnh đạo nghĩa quân ở căn cứ này. Đi đôi với việc đó, Thiên Hộ
Dương đã cử người tâm phúc đi các tỉnh Định Tường, An Giang, Hà Tiên,
Vĩnh Long, Cà Mau, để vận động quyên góp tiền bạc, mua súng đạn. Đến
giữa năm 1863, ông giao trọng trách này cho bạn mình tên là Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân,
người tâm phúc và cũng là trợ thủ đắc lực của ông. (Đến giữa năm 1864,
đám quan lại trung quân mù quáng, răm rắp chấp hành Hiệp ước 1862 đã bắt
giam Thủ khoa Huân tại Châu Đốc rồi giao cho thực dân Pháp trước áp lực
của chúng. Thực dân Pháp sau đó đã xử tử ông. Khẩu khí và khí phách của
hàng loạt văn thân như Thủ khoa Huân vẫn còn vang vọng đến tận ngày
nay, qua lời thơ của Mai Xuân Thưởng:
Cửa trường tiếng dạ miệng còn hơi
Cờ nghĩa treo lên đã ngất trời
Đạo trọng vua tôi mình dám quản
Oán hờn người Pháp có đâu vơi
(Đúng là bất khuất, đúng là anh hùng!)
(Vào năm Minh Mạng thứ 11 (Canh Dần 1830) tại Làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường ( xã Hòa Tịnh , huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang)
có gia đình ông Hương cả Nguyễn Hữu Cẩm sinh được một con trai đặt tên
là Nguyễn Hữu Huân. Lúc còn nhỏ Nguyễn Hữu Huân có tính hào hiệp, khảng
khái và thông minh xuất chúng.
Năm Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý 1852) Nguyễn Hữu Huân thi đỗ Thủ khoa (đứng
đầu bảng danh sách Cử nhân) kỳ thi Hương tại trường thi Gia Định. Tên
gọi Thủ Khoa Huân bắt đầu từ đó.
Từ 1855- 1859, Thủ Khoa Huân được bổ nhiệm giữ chức Giáo thụ ở phủ Kiến An (Tân Hiệp, Châu Thành hiện nay).
Tháng 5/ 1859, Nguyễn Hữu Huân bỏ chức giáo thụ chiêu mộ nghĩa binh
cùng với các sĩ phu yêu nước khác như Trương Định, Trần Thiện Chánh, Lê
Huy chống Pháp, được triều đình phong chức Phó Quản đạo.
Căn cứ vào bài thơ Vịnh Thủ Khoa Huân:
. . . " Ba phen chống chọi mười năm trọn,
Trăm trận gian nan một phút cùng".
( Kỷ yếu KHXH số 4 trang 85 và Văn chương yêu nước Nam bộ trang 306)
Cuộc đời hoạt động của cụ Thủ Khoa Huân gồm 10 năm kháng chiến chống
Pháp chia làm 3 giai đoạn, 5 năm bị đi đày biệt xứ và 3 năm bị quản thúc
tại Chợ Lớn....
Chân dung Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân)
... Năm 1873, phong trào
kháng chiến chống Pháp của Cụ Nguyễn Hữu Huân lan ra khắp các tỉnh Mỹ
Tho, Tân An, Chợ Lớn, được sự hưởng ứng của các thủ lĩnh nghĩa quân ở
các địa phương. Lần này, Thủ Khoa Huân học tập và đúc rút kinh nghiệm
của Trương Định tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền kháng chiến cấp
thôn xã ở các địa bàn Mỹ Tho, Tân An.
Ngày 15/3/1874 triều đình Tự Đức đã ký hoà ước Giáp Tuất công nhận toàn
bộ Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Với tình hình này, Cụ Nguyễn Hữu Huân
thấy không còn con đường nào khác là phải có vũ khí, súng đạn, lương
thực mới có thể đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi các tỉnh Nam Kỳ.
Cụ về quê, bán hết ruộng đất mà Ông Cha để lại đồng thời vận động quyên
góp trong nhân dân yêu nước và được nhân dân hưởng ứng rất đông. Số
tiền vận động được, Cụ giao cho nhóm Trường Phát (Hoa Kiều) đi Trung
Quốc mua vũ khí, đạn dược.
Ngày 15/11/1874, Cụ về
chiếm giữ Bình Cách cùng Âu Dương Lân huy động lực lượng. Bọn Pháp đem
quân đánh, Cụ chống cự không lại, rút chạy về Chợ Gạo. Tại đây, Cụ đã bị
tên đốc binh Hương điềm chỉ cho quân của Tổng đốc Trần Bá Lộc đến bắt
vào ngày 15/5/1875 và giam Cụ trong ngục tại Mỹ Tho. Bọn chúng ra sức
chiêu dụ đầu hàng, hứa hẹn ban bổng lộc, chức tước, Cụ một mực không
cộng tác với giặc ngoại xâm.
Đến ngày 19/5/1875 (14/4 năm Ất Hợi) chúng đem Cụ về xử chém tại làng
Tịnh Hà, bên đầu cầu Cai Lộc (bây giờ là Cầu Hoà Tịnh, giáp ranh giữa xã
Mỹ Tịnh An và xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), chấm dứt
giai đoạn kháng chiến chống Pháp lần thức ba (1872- 1875) của Cụ Nguyễn
Hữu Huân.
Sau 3 lần khởi
nghĩa không thành công, ngày 19 tháng 5 năm 1875, Cụ bị xử chém tại quê
nhà. Nghĩa nước, tình dân, Thủ Khoa Huân đã trả xong khi ông vừa tròn 45
tuổi.
Mai Xuân Thưởng (1860–1887), lúc nhỏ tên là Mai Văn Siêu, là sĩ phu và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ 19 ở Bình Định (Việt Nam). Ông
là người thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây
Sơn, tỉnh Bình Định). Cha ông là Mai Xuân Tín, từng làm Bố chính tỉnh
Cao Bằng; mẹ là bà Huỳnh Thị Nguyệt, con một nhà quyền quý trong làng.
Đầu
tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), nổ ra cuộc phản công của phe chủ
chiến ở Kinh thành Huế, khi ấy ở Bình Định đang diễn ra kỳ thi Hương.
Đến khi nghe tin Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị,
xuống dụ Cần vương, mấy nghìn sĩ tử liền bỏ thi, trở về quê tụ nghĩa. Ở
lại thi tiếp, chỉ còn 8 người và tất cả đều trúng tuyển cử nhân,
trong số đó có Mai Xuân Thưởng. Thi đỗ xong, Mai Xuân Thưởng trở về quê
Phú Lạc chiêu mộ nghĩa sĩ, lập căn cứ ở Hòn Sưng (nay thuộc thôn Phú
Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn).
Khi
ấy, nguyên Tổng đốc Đào Doãn Địch sau khi về Bình Định truyền hịch Cần
Vương, cũng đã chiêu mộ được khoảng 600 nghĩa quân rồi đóng quân ở thôn
Tùng Giản (nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước). Kể từ đó (cho đến
năm 1887), phong trào Cần Vương ở Bình Định diễn ra rất sôi nổi, và lan
nhanh ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên.
Tháng 9 năm đó (1885), Đào Doãn Địch lâm bệnh mất, Trước đây, khi Mai Xuân Thưởng ứng nghĩa, được Đào Doãn Địch
phong làm Tán tương quân vụ; nay trước khi mất, ông cử Mai Xuân Thưởng
lên làm Nguyên soái thay mình. Sau khi làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, Mai
Xuân Thưởng cho xuất quân và giao chiến với đối phương nhiều trận tại
Cẩm Vân, Thủ Thiện, Hòn Kho (Tiên Thuận)...
Đền thờ anh hùng Mai Xuân Thưởng tại núi Hoành Sơn (xã Bình Phú, Gia Lai)
ẢNH: BẢO TÀNG QUANG TRUNG
Nhận
thấy lực lượng của Mai Xuân Thưởng ngày càng lớn mạnh, và đã gây nhiều
thiệt hại cho mình. Soái phủ Sài Gòn liền điều Thiếu tá De Lorme đem
pháo thuyền án ngữ biển Quy Nhơn. Đồng thời sai Trần Bá Lộc mang quân từ
Khánh Hòa đánh ra, Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh vào. Nhờ pháo binh
yểm trợ, hai cánh quân này nhanh chóng gặp nhau tại Bình Định, rồi cùng
tiến lên Phú Phong mặc sức tàn phá.
Trong Luận án Tiến sĩ sử học của Phan Văn Cảnh cho rằng:
vào
ngày 21 tháng 4 năm 1887,
Trần Bá Lộc đã cho quân bao vây căn cứ Hầm Hô, Linh Đổng và cuối cùng,
đã chiếm được căn cứ, bắt được một số nghĩa quân, trong đó có mẹ Mai
Xuân Thưởng. Tuy nhiên, đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử
một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc,
giải vây cho những người bị bắt, trong đó, có bà mẹ Mai Xuân Thưởng.
Sau khi giải vây, Mai Xuân Thưởng cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt
núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phủ Quý (ranh
giới giữa Bình Định và Phú Yên) thì bị phục binh Trần Bá Lộc đón bắt
hết.
Và theo báo cáo do Tirant thiết lập ngày 11 tháng 6 năm 1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), thì:
"Có
ba đợt hành quyết: ngày 1 tháng 6 có năm người, trong đó có Lê Khanh;
ngày 7 tháng 6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền;
ngày 12 tháng 6 có chín người và ngày 13 tháng 6 có một người. Tổng cộng
có 27 người bị hành quyết, trong đó có một vài người là thủ lĩnh lớn
nhất của phong trào Bình Định-Phú Yên".
Được
Việt gian mật báo, ngày 25-9-1863, quân Pháp bất ngờ bao vây tập kích
Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, chọc thủng vòng vây, nghi binh
đánh lạc hướng địch. Một bộ phận nghĩa quân theo Trương Định bí mật rút
về vùng “Đám lá tối trời”, bộ phận còn lại theo Thiên Hộ Dương bí mật
rút vào Đồng Tháp Mười. Người đời sau, may mắn đã ghi tạc được lời nói
lúc bấy giờ của ông Thiên Hộ: “Tôi sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn nấp, chờ
đợi thời cơ để quật trả một trận mới… Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu
gọi của nhân dân”.
Một bài thơ của ông:
Chết nào có sợ, chết như chơi,
Chết bởi vì dân, chết bởi thời.
Chết hiếu chi nài xương thịt nát,
Chết trung bao quản cổ đầu rơi.
Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa,
Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời.
Thà chịu chết vinh hơn sống nhục
Chết nào có sợ, chết như chơi. )
Được
Việt gian mật báo, ngày 25-9-1863, quân Pháp bất ngờ bao vây tập kích
Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, chọc thủng vòng vây, nghi binh
đánh lạc hướng địch. Một bộ phận nghĩa quân theo Trương Định bí mật rút
về vùng “Đám lá tối trời”, bộ phận còn lại theo Thiên Hộ Dương bí mật
rút vào Đồng Tháp Mười. Người đời sau, may mắn đã ghi tạc được lời nói
lúc bấy giờ của ông Thiên Hộ: “Tôi sẽ rút lui về Tháp Mười ẩn nấp, chờ
đợi thời cơ để quật trả một trận mới… Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu
gọi của nhân dân”.
Khoảng
cuối năm 1862, khi còn ở căn cứ Lý Nhơn, Thiên Hộ Dương, từ một nguồn
tin bí mật, biết được người thiếu nữ mà ông coi là vợ bé đã sinh hạ cho
ông một người con trai. Ông bèn đặt tên con là Nguyễn Duy Sác (ám chỉ
rừng sác, nơi có căn cứ Lý Nhơn?).
Nhận
thấy rằng cuộc chiến đấu chống Pháp sẽ ngày càng ác liệt, có thể sống
nay chết mai, nên Thiên Hộ Dương cử người thuộc hạ thân tín nhất trong
hàng thân tín, bí mật đi gặp người vợ trẻ của ông để chu cấp, dặn dò kỹ
lưỡng, phòng khi có biến, bị tai ương đe dọa thì biết đi đâu, gặp ai để
mà nhờ cậy. Người hầu cận thân tín này về sau đã hy sinh trong chiến đấu
nên thông tin về người vợ bé của Thiên Hộ Dương cũng trở nên nhạt nhòa
huyễn hoặc.
Vừa
chân ướt chân ráo đến Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương tức tốc tiếp tục
xây dựng căn cứ qui mô hơn, kiên cố hơn để tạo nên một khu vực có sức đề
kháng mạnh mẽ. Ông đặt đại bản doanh tại Gò Tháp, xây dựng đồn Trung ở
đó, với nhiều trạm gác ở bốn phía và đài quan sát trên đỉnh gò. Ngoài
đồn Trung, ông còn dựng thêm 3 đồn chính án ngữ 3 “con đường gạo”: Đồn
Tiền trên đường Cái Nứa, Đồn Tả trên đường Mộc Hóa hướng Gò Bắc Chiêng,
đồn Hữu trên đường Cần Lố, khoảng từ 200 - 300 quân trấn giữ một đồn.
Năm
1864, nghe tin đồn Thiên Hộ Dương chiêu binh khởi nghĩa ở Đồng Tháp
Mười, nhiều bậc quân tử, mã thượng, tinh thông võ nghệ, nổi tiếng trong
dân dã kéo thuộc hạ tới đầu quân. Trong đó, có những người như: hai anh
em Hùynh Lực, Huỳnh Thất (lưu dân gốc Quảng Nam ở Đồng Nai), Thủ Chiến,
Phòng Biểu, Nhiêu Bá, Nhiêu Chấn (là chiến hữu của anh em họ Huỳnh, ở
Mộc Hóa), đặc biệt có bốn người là: Trần Công Thuận, Nguyễn Thanh Long,
Ngô Tấn Đức, Trương Văn Rộng đến từ Cai Lậy mà sau này lừng lẫy với danh
thơm: “Tứ Kiệt Cai Lậy” (ngày nay vẫn còn miếu thờ tứ kiệt ở thị trấn
Cai lậy, tỉnh Tiền Giang và nhân dân vẫn gìn giữ, nhang khói quanh năm)…
(“Tứ Kiệt Cai Lậy”:
Ông Nguyễn Thanh Long (Năm Long), còn
gọi là Đề Long, sinh năm Canh Thìn 1820 tại nơi mà ngày nay gọi xóm Cầu
Ván, ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy. Khi ông rời nhà đi kháng
chiến, thì người chị cả của ông là bà Hai An bị tên Việt gian Trần Bá
Lộc bắt giam, đòn roi đến chết; em kế là Sáu Quang cũng bị chúng tra
khảo dã man rồi đày ra Côn Đảo.
Ông Trần Công Thận, tự Phượng, chưa rõ
năm sinh, nguyên quán xóm Võng, làng Mỹ Trang, nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã
Long Khánh, huyện Cai Lậy. Ông có 9 người con. Khi ông hy sinh thì người
con thứ tư là Trần Quang Thanh, đương chức Quản Đạo. Giặc Pháp cho rằng
ông là người cầm đầu, nên gọi là Ngươn Soái.
Lăng Tứ Kiệt hiện tọa lạc đường 30/4, phường 1, TX. Cai Lậy. Ảnh: QUẾ NGÂN
Ông Trương Văn Rộng, chưa rõ năm sinh,
quê quán xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành và ông Ngô Tấn Đước, chưa rõ
năm sinh, quê quán xóm Vuông, huyện Cai Lậy.
Với lòng yêu nước nồng nàn và căm thù
giặc sâu sắc, Bốn ông liền tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Võ Duy
Dương khởi xướng và lãnh đạo. Can trường và đảm lược, Bốn ông đã cùng
với nghĩa quân chiến đấu chống giặc Pháp hết sức anh dũng, lập nên nhiều
chiến công oai hùng.
Cả Bốn ông đều nổi tiếng võ nghệ cao
cường, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị, da màu đồng đen, sức
khỏe phi thường. Có lần gặp nguy khốn, Bốn ông “phi thân” lên nóc nhà
chạy vùn vụt, khiến giặc chẳng làm gì được. Bốn ông đều xuất thân từ
nông dân.
Năm 1868, khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương thất bại, Bốn ông đứng ra chiêu
tập nghĩa quân, chọn vùng Cái Bè, Cai Lậy làm địa bàn hoạt động. Nhân
dân huyện Cai Lậy vốn có tinh thần đấu tranh bất khuất đã nô nức tham
gia cuộc kháng chiến.
Chiến công hiển hách nhất của nghĩa quân Tứ Kiệt là trận tấn công thành Mỹ Tho và trận tấn công đồn Cai Lậy.
Lúc 3 giờ ngày 1/5/1868, lợi dụng đêm tối, quân Pháp đang ngủ say, nghĩa
binh leo tường vào giết tên trưởng kho, rồi đốt cháy kho lương thực của
Pháp, tạo tiếng vang lớn, khiến quân Pháp rất lo sợ.
Khu đền thờ trong Lăng Tứ Kiệt.
Đêm 24 rạng 25/12/1870, nhân lúc phần
lớn lính Pháp kéo về Mỹ Tho mừng lễ Noel, chỉ để lại 25 tên lính mã tà,
nghĩa quân Tứ Kiệt bất ngờ tấn công đồn Cai Lậy, bắt và giết tên Việt
gian Bếp Hữu, đốt rụi trại lính, rồi rút về căn cứ an toàn.
Bị tổn thất nặng nề, thực dân Pháp huy
động hơn 1.200 quân, gom từ các vùng lân cận: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công và
Vĩnh Long, quyết đàn áp dân chúng và triệt hạ các căn cứ của nghĩa
quân.
Vốn rất tàn bạo, gian xảo và có nhiều
kinh nghiệm trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lại có đầy đủ quyền
hành và binh lực trong tay, tên Trần Bá Lộc tổ chức nhiều cuộc càn quét
quy mô lớn để tìm bắt Bốn ông và tiêu diệt nghĩa quân.
Lực lượng nghĩa quân đã chống trả quyết
liệt, nhưng do sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân buộc phải
tan rã và cả Bốn ông đều sa vào tay giặc.
Dụ dỗ Bốn ông suốt 45 ngày không thành, ngày 14/2/1871 (nhằm ngày 25
tháng Chạp năm Canh Ngọ) giặc Pháp đem Bốn ông xử chém tại pháp trường,
cạnh bờ sông Ba Rài (nay là chợ Cá). Chúng bắt hàng ngàn người dân đến
xem.)
Cũng
trong năm 1864, khi giặc Pháp đánh vào “Đám lá tối trời”, Trương Công
Định hy sinh, các bộ tướng dưới quyền và hầu hết số nghĩa quân còn lại
đã vượt thoát được vòng vây, như đã hẹn trước, bí mật lần về Đồng Tháp
Mười theo Thiên Hộ Dương tiếp tục chống Pháp. Trong số nhiều chỉ huy
nghĩa quân của Trương Định đến được Đồng Tháp Mười, có : Đốc binh Dương,
Trần Kỳ Phong, Thống Bình, Thương Chấn, Thống Đa, Quản cơ Văn, Quản cơ
Là (Bùi Quang Diệu)…
Nhờ
đó lực lượng nghĩa quân của Thiên hộ Dương lớn lên nhanh chóng, thực sự
trở thành trung tâm kháng chiến mới, thu hút hầu hết lực lượng chống
Pháp ở Nam Kỳ vào những năm 1864 - 1866.
Ngay
những tháng cuối năm 1864, nghĩa quân của Thiên Hộ Dương đã bắt đầu
tăng cường hoạt động chiến đấu, tuy nhiên chủ yếu là tổ chức đánh du
kích, tiêu hao sinh lực địch, giữ vững thế phòng ngự. Sang năm 1865,
nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động, tổ chức những trận đánh lớn hơn,
tấn công những đồn bốt quan trọng của địch như Mỹ Trà, Mỹ Quí, Cái Bè,
Thủ Thừa, gây cho địch nhiều tổn thất về người và vũ khí. Nhất là tại
hướng Cái Bè, Mỹ Quí, nghĩa quân đã có lúc chọc thủng phòng tuyến địch.
Năm
1865, nghĩa quân Thiên Hộ Dương thực sự đã gây cho Pháp và tay sai
nhiều khốn đốn. Nhân dân Nam Kỳ, đặc biệt là nhân dân miền Tây, ngày
càng ủng hộ, ngày càng tích cực đóng góp khí giới, lương thực cho nghĩa
quân. Tuy đã xuất hiện xu thế và triển vọng nhưng thời gian là quá ngắn
để cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương bùng lên, lan tỏa rộng khắp thành
cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa.
Ngày
14-4-1866, thực dân Pháp huy động một lực lượng áp đảo, hơn hẳn nghĩa
quân, gồm hơn 1.000 lính viễn chinh với nhiều tàu chiến và đại bác, chưa
kể lực lượng mã tà (ngụy quân), chia ra làm 3 đạo đồng loạt tiến công
căn cứ Đồng Tháp Mười theo 3 hướng Cần Lố, Cái Nứa và Gò Bắc Chiêng.
Nghĩa
quân trong các đồn Sa Tiền, Ấp Lý, Tiến đã chống trả rất quyết liệt
nhưng dưới tầm công phá mãnh liệt của đại bác địch, họ yếu dần đi, buộc
phải bỏ đồn, lần lượt rút ra, về phía sau. Dù chiếm được các đồn đó
nhưng địch đã phải chịu thiệt hại nặng.
Đạo
quân Pháp thứ ba, sau khi chiếm được đồn Gò Bắc Chiêng thì không còn
sức tiến sâu hơn, phải chờ viện binh tới để đánh đồn Tả.
Đồn
Tả lúc này có 350 nghĩa quân, 40 khẩu đại bác, do Thiên hộ Dương đích
thân chỉ huy. Nghĩa quân chiến đấu từ trưa đến chiều tối thì hết đạn,
phải bỏ đồn, tản về phía sau.
Khi địch chiếm được đồn Trung thì nghĩa quân đã rút đi hết. Tuy nhiên chúng không đám tiến sâu hơn và cũng không dám ở lại đồn.
Căn
cứ kháng chiến Gò Tháp đến ngày 18-4-1866 coi như không còn nữa. Lực
lượng nghĩa quân Thiên Hộ Dương dần tan rã, tứ tán: nhóm của Tứ Kiệt Cai
Lậy rút về Thuộc Nhiêu (Cai Lậy), tiếp tục lập mặt trận đánh Pháp, nhóm
trong đó có anh em họ Huỳnh thì kéo về với Quản cơ Trần Văn Thành ở
Láng Linh (Châu Đốc), riêng nhóm của Đốc binh Kiều thì ở lại bám trụ,
tiếp tục chiến đấu. Sau một thời gian ngắn, khi Đốc binh Kiều hy sinh
thì nhóm này cũng tan rã. Ngọn cờ kháng chiến chống Pháp của nhân dân
Nam Kỳ lúc này được nhân dân miền Tây đón nhận và tiếp tục giương cao. Trong dân gian còn lưu truyền bài thơ ca ngợiĐốc binh Kiều như sau:
"Vì nước quên mình bởi chữ trung,
Thương dân chi sá chốn sình bùn,
Mấy năm Đồng Tháp danh vang dội,
Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,
Hai thước im lìm nơi thạch động,
Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,
Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,
Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng."
Vì
sao khởi nghĩa Thiên Hộ Dương đã có lúc bật dậy khá mạnh như thế nhưng
vẫn phải chịu thất bại cay đắng? Có thể cho rằng cuộc kháng chiến đó đều
khiếm khuyết cả 3 yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nếu có một chút
thiên thời nào thì triều đình Huế cũng đã chặn đứng mất rồi. Căn cứ địa
Gò Tháp đúng là có tính lợi hại, nghĩa là nếu biết vận dụng địa hình,
áp dụng cách đánh phù hợp với địa hình đó thì nó có lợi, còn không nó sẽ
trở nên tai hại. Đồng Tháp Mười vào mùa khô là một vùng tương đối bằng
phẳng, làm cho hiệu quả công phá bằng đại bác được phát huy tối đa. Dùng
đồn trại cố thủ, khi đồn vỡ thì mất luôn cả thế đứng, đành phải chạy
dài. Muốn duy trì cuộc chiến đấu lâu dài ở căn cứ Đồng Tháp, thì phải
kết hợp giữa cố thủ trong đồn và vận động chiến bên ngoài trên cơ sở lấy
chiến tranh du kích làm nền tảng: rút nhưng không chạy dài, tiến mà
địch không hay, đánh xuất kỳ bất ý, kết hợp đánh từ trong ra, đánh từ
ngoài vào (không cần phân biệt đâu là trong, đâu là ngoài), nếu cần bảo
toàn lực lượng thì dứt khoát phá đồn, rút ngay; thậm chí bỏ luôn căn cứ
(vì đâu cũng là căn cứ!)…
Muốn làm được điều đó thì phải có đủ nhân hòa,
vì chỉ khi có đủ nhân hòa mới tạo ra địa lợi và thậm chí trong chừng
mực nào đó là cả thiên thời. Cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (và
trước đó là của Trương Định) cũng như các cuộc nổi lên đánh Pháp khác ở
Nam Kỳ - Lục Tỉnh là hoàn toàn chính nghĩa, nhưng chúng chưa đủ thời
gian (hay chưa thể) để trở nên hoàn toàn sáng tỏ, nên chưa kịp bám rễ
sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân thì đã sớm bị tiêu diệt, đánh bại.
Mặt khác hàng ngũ chỉ huy nghĩa quân hầu hết là những dân binh nghĩa
hiệp trưởng thành lên qua trận mạc nên họ thiếu hẳn kiến thức về nghệ
thuật quân sự. Đến cả những người chỉ huy xuất thân từ quân đội chính
qui của triều đình cũng bị lối đánh máy móc lạc hậu với những vũ khí cổ
lỗ, lấy thành quách làm nơi phân định thắng bại, luôn bị cuốn hút vào
lối đánh trận tuyến của quân đội viễn chinh, thiện chiến, có vũ khí đầy
đủ và hiện đại hơn hẳn. Ngay Nguyễn Tri Phương vẫn lẩn quẩn với cách
đánh lạc hậu đó thì còn nói tới ai? Đại đồn Chí Hòa to thế, có quân đông
thế mà chỉ “đùng một phát” là thất thủ. Thật quá rõ! Sự dũng cảm tuyệt
vời của nghĩa quân, sự bất khuất của các thủ lĩnh nghĩa quân, là không
thể phủ nhận được. Nhưng như thế thôi chưa đủ. Cần phải có một lãnh tụ
có tài năng kiệt xuất, biết qui tụ bốn phương về một mối, biết lôi kéo
quần chúng về mình, đánh lâu dài để ngày một tỏ rõ chính nghĩa, tiến
hành một cuộc chiến tranh toàn diện chống quân xâm lược.
Ngày
nay, khi nhìn lại thời kỳ ấy, chúng ta thấy cái tinh thần lăn xả đánh
giặc, “vì nước quên thân” mà bất chấp tất cả của các sĩ phu, hào kiệt,
dân binh, là bất hủ, nhưng cũng có cả cái cảm giác quặn thắt, bùi ngùi xót thương, tiếc nuối,
dâng ngập cõi lòng.
Con
người Thiên Hộ Dương và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo đã được nhân
dân Nam Kỳ lúc bấy giờ nói riêng và cả nước nói chung kính phục, mến mộ
và tôn vinh, chúng ta sẽ mượn lời của những chiến hữu của Thiên Hộ
Dương, từng theo Thiên Hộ Dương vào sinh ra tử nói về ông:
Huỳnh Trung Thu, cháu nội Huỳnh Thất có để lại di bút, nội dung có đoạn:
“…
Ngài
Thiên Hộ Dương dũng lược vô song, được nhân dân vùng Nam Kỳ - Lục tỉnh
tôn thờ và ngưỡng mộ. Đâu đâu cũng gọi ngài là “quan lớn”, mặc dầu ngài
không hề thích làm quan.
Dòng họ Huỳnh chúng tôi đời đời tôn thờ ngài Võ và nguyện theo gương ngài…”.
Đây là một đoạn trong di bút của Huỳnh Kim Trọng, cha của Huỳnh Trung Thu:
“Trước
lúc lâm chung, cha tôi (Huỳnh Thất) còn căn dặn con cháu: “Dòng họ ta
tuy không sinh ra ở miền Nam Kỳ - Lục tỉnh này, nhưng đã coi như đây là
quê hương. Bởi miền Trung có công sinh, thì nơi này có công nuôi dưỡng,
hun đúc cho ta thành người. Vậy các con phải xem đây là đất tổ, là ngôi
nhà chung. Điều quan trọng nữa mà các con phải ghi lòng, tạc dạ, đó là
nghĩa vụ phải thờ cúng ông Thiên Hộ Võ Duy Dương, người mà ta coi như
người anh em ruột thịt của mình, người chủ tướng kính yêu của cả quê
hương lục tỉnh này… Nay ông đã ra người thiên cổ mà không còn ai thờ
phượng. Vậy các con hãy giữ bài vị với mấy chữ “Võ Duy Dương vị quốc
vong thân” này để thờ như thờ cha vậy…
Nguyện hương hồn người vị quốc vong thân
Sinh vi tướng, tử vi thần
Xin gia hộ chúng dân an lạc”.
Ông Ba Đương, người thân cận của Thiên Hộ Dương ở chiến khu Đồng Tháp, có để lại thủ bút như sau:
“Cuộc
đời tôi may mắn gặp được người họ Võ, đồng hương Nghĩa Hành, Quảng
Ngãi. Tôi vốn là một nông dân, tưởng suốt đời sẽ mãi mãi là dân đen bị
áp bức, chỉ khi gặp được ông Võ thì mọi thứ mới đổi thay. Chính Võ gia
đã cứu gia đình tôi, nhân dân tôi…”.
Sau
khi căn cứ Gò Tháp vỡ lở, thực dân Pháp loan tin hai vị, chủ tướng
Thiên Hộ Dương và phó tướng Đốc binh Kiều đã bị giết chết. Đốc binh Kiều
hy sinh là điều có thật, nhưng trường hợp ông Thiên Hộ thì mờ mịt hơn
nhiều. Pháp nói Thiên Hộ Dương đã bỏ xác cùng nhiều nghĩa quân khi chiến
khu Đồng Tháp Mười thất thủ, nhưng không trưng ra được bằng chứng. Sau
đó chúng lại tung tin Thiên Hộ Dương đã bị một tên cướp biển là Lý Sen
giết chết tại cửa biển Thần Phù, khi ông định vượt biển ra Bình Thuận.
Tung tin như thế để "an dân", nhưng Pháp vẫn tổ chức lùng sục ráo riết
vì chính Pháp cũng không biết đích xác. Như vậy, tin đó cũng chỉ
có thể là tin giả do chính ông Thiên Hộ bày ra để đánh lừa mật thám
Pháp.
Đền thờ Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều
Dư
luận xã hội hồi đó nói chung đều thừa nhận Thiên Hộ Dương đã chết và vì
ông là một người cô độc, không có bất cứ người thân nào ở cạnh nên sau
khi chết, mồ mả của ông cũng không có người chăm sóc, nhang khói. Vì vậy
mà có câu hò não ruột và đầy thương cảm đối với một người anh hùng:
Ai về Đồng Tháp mà coi
Mả ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng…
Sự thực thì ở Gò Tháp chỉ có mộ Đốc binh Kiều. Khắp Nam Kỳ - Lục tỉnh chẳng nơi nào có mộ Thiên Hộ Dương.
Thế
thì sau khi căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười bị tan vỡ, Thiên Hộ Dương
đã anh dũng hy sinh hay còn sống? Ông Trương Hiếu Nghĩa, người xã Cần
Đăng, An Giang có viết:
“Theo
ông ngoại tôi kể lại thì xưa, lúc ông Quản Thành khởi nghĩa ở Láng
Linh, ông tôi có theo ngài Cố quản để đánh Tây. Thời gian này, ông ngoại
tôi có liên lạc với ngài Nhiêu Chấn, vốn là một quan triều đình ở An
Giang trấn, sau bỏ theo ngài Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười để đánh
Tây.
Có
lúc ông Võ Duy Dương về An Giang trấn để bắt liên lạc với nghĩa quân
Láng Linh và với ông Thủ khoa Huân nhưng không thành. Sau nghe nói ngài
Võ Duy Dương rời Đồng Tháp Mười trở về quê ở Quảng Ngãi ngoài miền
Trung.
Đây là những việc tôi biết khá chính xác nên ghi lại để người sau nhớ”.
Vậy
thì Thiên Hộ Dương, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Đồng Tháp Mười vẫn
còn sống và đã vượt thoát sự truy lùng của Pháp để trở về ẩn náu tại
quê nhà. Nhiều nhà nghiên cứu sử ngày nay, qua những tài liệu quan trọng
thu thập được, qua những nhân chứng đáng tin cậy tiếp xúc được, đều
thừa nhận như vậy.
Và chúng ta tiếp tục xây dựng truyền thuyết của mình:
Nghe
tin chồng mình, Thiên Hộ Dương đã bị sát hại, người vợ trẻ vô cùng đau
đớn. Từ nay, nàng đã mất người chồng mà nàng tôn thờ, kính phục.
Mật
thám Pháp và tay sai trong khi tích cực dò la tung tích của Thiên Hộ
Dương (xem thực sự còn sống hay đã chết và ở đâu) cũng cố gắng xác định
danh tính và chỗ ở của người phụ nữ mà theo nguồn tin phong phanh, là vợ
lẽ của ông.
Để
bảo vệ giọt máu đào của Thiên Hộ Dương, người phụ nữ xinh đẹp, tuổi đời
còn rất trẻ và đáng thương, nghe theo lời dặn xưa kia của chồng mình,
đã bế con lần tìm đến gặp một người ở Bình Dương, vùng đất định cư ở
phía nam của dòng họ Võ Duy. Vị thân tộc, sau khi nghe người phụ nữ
trình bày, lần đầu tiên mới biết Thiên Hộ Dương chẳng phải ai xa lạ:
chính là Võ Duy Lập. Tuy nhiên sau đó ông luôn giấu kín điều này vì có
thể gây nguy hại khó lường.
Vị
thân tộc nghe xong câu chuyện, đã khẩn trương thu xếp; bí mật tổ chức
đưa vợ con ông Thiên Hộ Dương ra Hòa Đa - Bình Thuận, lúc này vẫn là
“đất riêng” của triều đình Huế nên cũng tương đối an toàn hơn, tìm gặp
một người họ Trương, thân tộc bên vợ cả của ông Thiên Hộ.
Thân
tộc họ Võ và thân tộc họ Trương định tìm cách đưa hai mẹ con ra Nghĩa
Hành - Quảng Ngãi. Nhưng người phụ nữ xin ở lại vì chồng thì chết rồi,
thân gái dặm trường mù mịt quá. Hai người kia nghe thấy có lý, nhưng nếu
người phụ nữ không đi thì cũng phải gửi đứa con ra ngoài đó, vừa đảm
bảo an toàn cho nó, vừa đưa nó về với dòng tộc quê hương. Người phụ nữ
tuy buồn khổ nhưng cũng đành chấp nhận. Nàng nghĩ rằng mai kia, khi sóng
yên biển lặng, sẽ còn có dịp ra đó thăm con.
Tuy
nhiên, việc gửi đứa bé ra Quảng Ngãi chưa hẳn đã hay, vì nếu mật thám
Pháp dò biết được quê của Thiên Hộ Dương ở Nghĩa Hành và vợ con ông đang
sống ở đó thì rất có thể đứa bé phải chịu vạ lây. (Đến lúc này mật thám
Pháp vẫn chưa biết quê Thiên Hộ Dương ở đâu. Ngay cả triều đình Huế,
mãi đến năm Tự Đức thứ 32, tức năm 1879, trong một sắc phong mới thấy
nói đến tổ quán Võ Duy Dương ở Quảng Ngãi). Hơn nữa, Thiên Hộ Dương mất
rồi (họ nghĩ thế), gửi đứa bé về đó có được sống trong tình bao bọc
không, hay là bị hắt hủi, hoặc cũng có thể người vợ cả của ông không còn
ở Nghĩa Hành nữa mà đã lẳng lặng về quê mẹ chồng (vợ Võ Duy Ninh) đâu
đó ở An Nhơn - Bình Định tá túc, tránh sự rủi ro. Suy đi tính lại, họ
cho rằng gửi đứa bé ra Nghệ An, nhờ gia đình danh sư Hoàng Đường cưu
mang là hợp tình hợp lý hơn cả, vì Hoàng Đường có quan hệ ruột thịt với
Hoàng Diệu, Hoàng Diệu là bạn thân của Võ Duy Ninh, trong khi đó Hoàng
Đường cũng là bạn tâm giao của Trương Gia Hội, mà Trương Gia Hội vừa là
anh họ vợ, vừa là bạn thân của Võ Duy Dương.
Thế
là đứa bé được đưa về Nghệ An. Gia đình Hoàng Đường đã mở rộng vòng tay
yêu thương đón nhận và nuôi dạy đứa bé nên người. Cái tên Sác được dân
địa phương đọc trại ra, hiểu là Sắc; cái họ Nguyễn Duy được đổi thành
Nguyễn Sinh để tuyệt đối không cho dính dáng gì đến ông Thiên Hộ nữa. Từ
đó cậu bé mang một họ tên mới: Nguyễn Sinh Sắc (họ Nguyễn sinh ra
Sắc?). Có thể rằng, trước khi chuyển họ Nguyễn Duy sang Nguyễn Sinh,
trong thực tế đã có một sự dàn xếp bí mật nào đó để danh chính ngôn
thuận, Nguyễn Duy Sắc trở thành con em ruột thịt thuộc dòng họ Nguyễn
Sinh. Chính sự dàn xếp bí mật này đã làm cho tông tích của Nguyễn Sinh
Sắc trở thành uẩn khúc, khó hiểu đối với chúng ta.
Sinh
Sắc lớn lên được ông Hoàng Đường gả con gái là Hoàng Thị Loan cho. Họ
tác hợp và sinh ra người con mà cả dân tộc Việt đang mỏi mòn chờ đợi:
Nguyễn Sinh Cung, người mà sau này trở thành vị đại anh hùng dân tộc có
tên Hồ Chí Minh.
Sau
khi gửi gắm đứa con, người vợ bé của Thiên Hộ Dương trở về bản quán (có
thể là ở đâu đó thuộc Định Tường mà cụ thể có thể là ở …, theo như cách
gọi ngày nay là Cao Lãnh - Đồng Tháp, còn Gia Định chỉ là tạm cư). Năm
tháng qua đi, người thiếu phụ trẻ và xinh đẹp ấy đã ở vậy, lặng lẽ sống đến cuối đời thường tình như bao người phụ nữ khác. Câu
chuyện thầm kín của nàng đã không một lần được thổ lộ. Người dân địa
phương không thể ngờ được nàng đã từng làm vợ một vị anh hùng nổi tiếng
khắp Nam Kỳ - Lục Tỉnh, người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp
kiên cường ở Đồng Tháp Mười. Tuy nhiên, khả năng nhiều hơn là sau khi
gửi con đi và nghĩ rằng ông Thiên Hộ đã hy sinh, nàng quá đau buồn nên
lâm bệnh, mất sớm.
Truyền thuyết kể tiếp:
Trong
trận tấn công tổng lực của quân Pháp vào căn cứ Đồng Tháp Mười, Thiên
Hộ Dương bị thương nặng khi trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chiến đấu ở đồn
Tả. Một vài thuộc hạ tâm phúc nhất khiêng ông ra khỏi đồn về phía sau
rồi bí mật tìm đường thoát khỏi vòng cuộc chiến, đưa đến một cơ sở tuyệt
đối tin cậy để chữa trị. Trong thời gian chữa trị, Thiên Hộ Dương đã
định quyên sinh một phen bởi quá đau buồn trước sự thất bại của cuộc
kháng chiến, trước tin tức các chiến hữu cùng mình vào sinh ra tử đã hy
sinh, nhất là sự hy sinh của Đốc binh Kiều và tin thủ khoa Nguyễn Hữu
Huân - bạn chiến đấu và trợ thủ đắc lực của nghĩa quân Đồng Tháp bị bắt.
Tuy nhiên, nhờ có sự ngăn chặn kịp thời của một thuộc tín tâm phúc túc
trực nên cuộc quyên sinh bất thành. Sự kiện này xảy ra vào tháng
10-1866. Thuộc tín này cũng chính là bạn chiến hữu trong số các bạn bè
chiến hữu theo ông rời quê hương vượt biển vào Nam đi khai hoang lập ấp
năm 1857.
(Có
thể rằng sau khi căn cứ địa Đồng Tháp Mười thất thủ, một cánh nghĩa
quân do Võ Duy Dương chỉ huy rút về phía đông và bị Pháp chặn đánh. Trận
đánh lớn giữa hai bên diễn ra mấy ngày liền tại vùng Cái Thia thuộc
quận Cái Bè và Thiên Hộ Dương bị thương nặng trong trận này. Cánh quân
này tiếp tục rút về Mỹ Tho, Cai Lậy, sang Cao Lãnh, lên Ba Thằng Minh,
rồi Gò Bắc Chiêng. Tại đây, cánh quân này đã hợp được với cánh nghĩa
quân rút về phía tây (lên Hồng Ngự - Lăng Xăng - Thông Bình) do Nguyễn
Văn Cẩn chỉ huy và một vài toán nhỏ khác của Trương Tấn Minh, Phòng
Biểu… chỉ huy.
Ở
đó, nghĩa quân đã củng cố lại lực lượng nhưng chỉ huy chung và trực
tiếp không còn là Thiên Hộ Dương nữa mà là một nhân vật khác. Tuy nhiên,
để giữ vững tinh thần nghĩa quân và cũng nhằm cố gắng phát triển lực
lượng về sau mà những thủ lĩnh nghĩa quân lúc này đã thống nhất ý kiến
và loan tin rằng Thiên Hộ Dương vẫn trực tiếp cầm quân chiến đấu.
Củng
cố lực lượng xong, nghĩa quân của Thiên Hộ Dương tích cực bố trí lại
thế trận, chọn những cách đánh linh hoạt hơn. Trung tâm kháng chiến được
chuyển về khu vực tổng Cầu An Hạ ở Bắc Đức Hòa, liền với Trảng Bàng -
Tây Ninh. Thủ lĩnh nghĩa quân cũng đã tìm gặp Trương Quyền (còn gọi là
Trương Tuệ, con Trương Định), thủ lĩnh phong trào kháng chiến tại đây để
bàn bạc phối hợp và liên minh với Poucombo, một thủ lĩnh kháng chiến
khác, người Khơ-me.
Mở
màn cuộc liên minh Việt - Khơme này là chiến thắng Tây Ninh vào ngày
7-6-1866. Nghĩa quân tiêu diệt tại trận 12 quân Pháp, trong đó có chủ
tỉnh Tây Ninh là Larclauze và viên thiếu úy Le Sage. Ngày 14-6-1866,
Marchaise, trung tá thủy quân lục chiến Pháp, chỉ huy 150 lính với hai
cỗ đại bác tìm diệt nghĩa quân. Trong lúc lội qua rạch Dinh, đội hình
quân Pháp bị lọt ổ phục kích. Bằng cung nỏ, gươm giáo và một ít súng
trường, nghĩa quân đã dũng cảm đánh giáp lá cà, giết chết Marchaise và
nhiều lính Pháp, số còn lại bỏ chạy tán loạn.
Hai
chiến thắng đó đã tạo được tiếng vang lớn, làm nức lòng những người yêu
nước. Về tinh thần chiến đấu của nghĩa quân thời kỳ đó, một học giả
người Pháp tên là Paulin Vial có viết: “Người An Nam với vũ khí thô sơ
chống với súng carbine, họ cứ việc nhào vô và đánh với một nghị lực mù
quáng, chứng tỏ rằng họ can đảm và quyết tâm một cách phi thường…”.
Ngày 24-6-1866, nghĩa quân lại tấn công đồn Thuận Kiều và Trảng Bàng.
Ngày
27-6-1866, Pháp điều một lực lượng mạnh gồm 200 lính Pháp, 100 lính mã
tà và một pháo thuyền do thiếu tá Rosse chỉ huy đến bao vây căn cứ Cầu
An Hạ. Nghĩa quân chủ động đánh mở ra ba mặt. Tuy nhiên, do tương quan
lực lượng và vũ khí quá chênh lệch, dù đã kháng cự quyết liệt nhưng cuối
cùng cũng phải chịu thiệt hại nặng ở ấp Bình Thủy, Ba Hầm và Bình Điền.
Nguyễn Văn Tài, một trong số những thủ lĩnh nghĩa quân bị bắt. Căn cứ
địa kháng chiến bị san bằng. Nghĩa quân phải rút lên Tây Ninh. Từ ngày 2
đến ngày 11-7-1866, liên quân Việt - Khơme còn chạm trán với quân Pháp
trong các trận: Trà Vang (Tây Ninh), Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng, Long
Trì (Tân An), Bình Thới)…
Sau
một thời gian khá dài chữa trị vết thương, Thiên Hộ Dương dần bình phục
nhưng sức khỏe của ông đã giảm sút nhiều, không được như trước nữa. Ông
và thuộc tín bắt đầu lần mò theo dọc sông Vàm Nao nghe ngóng và tìm
hiểu tình hình. Lúc này, Thiên Hộ Dương lấy tên mới là Võ Qua. Truyền
khẩu riết rồi Qua thành Quá, nên cuối cùng gọi là Võ Quá. Võ Quá cũng đã
ghé Lý Nhơn và Gò Công. Tình hình cho Võ Quá thấy phong trào kháng
chiến ở ba tỉnh miền Đông, trước sự đàn áp của địch đã lắng hẳn xuống.
Các anh hùng hào kiệt từng là chiến hữu của ông, số thì ngã xuống, số bị
cầm tù, số còn lại thì đã dồn sang 3 tỉnh miền Tây tiếp tục chống Pháp.
Ở ba tỉnh miền Đông, bộ máy cai trị của Pháp đã được củng cố ngày một
mạnh. Như vậy việc gầy dựng lại từ đầu một đội ngũ nghĩa quân đủ mạnh để
nổi dậy khởi nghĩa một lần nữa là điều vô vọng, nếu may lắm không bị
tiêu diệt ngay từ trứng nước thì trước sau gì cũng lại chuốc lấy thất
bại. Thời thế đã đổi thay! Không còn cách nào khác, Võ Quá quyết định
trở về quê hương bản quán, muốn thế trước hết là phải ra Bình Thuận. Ông
cùng thuộc tín theo thuyền dọc sông Vàm Nao ra biển…
Bàu
Trắng, Mũi Né, Bình Thuận là nơi mà ngày xưa dân đi biển từ Ngũ Quảng
vào và từ Nam Kỳ - Lục Tỉnh ra thường dùng làm nơi cặp thuyền (đóng vai
trò như một trạm trung chuyển). Võ Quá và thuộc tín đặt bàn chân đầu
tiên lên đất Bình Thuận khi theo thuyền từ Nam ra chính là tại chốn này.
Vừa
bước chân lên bờ là hai người khẩn trương đến ngay một địa chỉ ở Hòa Đa
nhưng đã không gặp được người họ Trương nọ (có thể lúc đó người họ
Trương nọ đang ở đâu đó trên chặng đường Bình Thuận - Nghệ An để thực
hiện cái công việc ân tình mà bạn bè đã gửi gắm!). Võ Quá dò hỏi người
xung quanh và chỉ biết mơ hồ rằng: cũng chưa lâu lắm, có một người phụ
nữ bồng một đứa con khoảng 4 tuổi ra đây, được mấy bữa thì cô ta đi đâu
không rõ, hình như là ra Trung, đến Quảng Ngãi, còn người họ Trương thì
nghe nói có việc ở quê phải về gấp và chưa thấy trở lại. Cho rằng nấn ná
ở lại chỉ vô ích và nhất là dễ lộ chuyện nên Võ Quá quyết định bỏ đi.
Từ đây, Võ Quá và thuộc tín - đồng thời cũng là bạn chiến hữu chí cốt,
sau khi giao ước và hứa hẹn với nhau xong thì chia tay, tìm đường, kẻ
trước người sau, ai về quê nấy.
Võ
Quá không về Quảng Ngãi mà ghé Bình Định, về tổ quán ở An Nhơn tá túc.
Lúc này Võ Quá đã chuyển thành Võ Bông. Sau bao nhiêu năm xa cách, Võ
Duy Lập, mà bây giờ là Võ Bông đã đoàn tụ với vợ con tại đây. Võ Bông đã
kể cho vợ nghe nhiều điều bí mật trong quãng đời hoạt động tại Nam Kỳ
của ông, kể cả việc ông có đứa con riêng mà không biết đang ở phương
trời nào. Để phù hợp với cái tên hiện tại là Võ Bông, ông đã cải lại họ
hai người con trai của mình, bỏ chữ Duy đi, để rồi: Võ Duy Cung thành Võ
Tường và Võ Duy Phụng thành Võ Ký, thêm Nguyễn Duy Sác thành Võ Sác, Võ
Châu thành Võ Thị Thắm. Sau này ông còn có thêm 1 người con gái nữa,
được đặt tên là Võ Thị Lan…
Ẩn
mình ở Bình Định một thời gian, Võ Bông trở về Nghĩa Hành, Quảng Ngãi,
nơi chôn nhau cắt rốn của ông và cũng là nơi chôn cất di hài người cha
của ông. Trước đó khá lâu, vợ con ông đã về đó để lo nhang khói mồ mả,
thờ phượng cho người cha tiết nghĩa - Tổng trấn Võ Duy Ninh (hiện nay mộ
phần vị Tổng trấn này vẫn được bảo lưu tại làng Đại An, xã Hành Thuận,
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi). Về đến quê cha thì cái tên Võ Bông
đã hóa thành Võ Sen. Nếu ghép hai cái tên đó lại thì sẽ có được một…
Bông - Sen. Ở Đồng Tháp Mười xưa kia, dù là bao la mùa khô hay mênh mông
mùa nước nổi, bao giờ cũng hiển hiện sen và tràm. Đặc biệt, hoa sen đã
trở thành biểu tượng bất tử về sự thuần khiết của tâm hồn con người chân
phác và của đất trời hoang vắng ở xứ sở đó. Chắc hẳn trong lòng ông
Thiên Hộ không bao giờ nguôi ngoai được nỗi niềm thương nhớ về một vùng
dung dị mà khoáng đạt, hiền lành mà kiên trung, nơi ông đã từng lăn lộn,
vẫy vùng, anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược để trả thù cho cha,
báo đền cho nước, cùng với các chiến hữu và những “dân ấp, dân lân, mến
nghĩa làm quân chiêu mộ”; nơi mà ông đã có thêm một mối tình phu - phụ
với người thiếu nữ có tên là Sen (hoặc cũng có thể là Bông). Như là thể
hiện của sự cảm ứng huyền linh, sau này, trong văn học sử Việt Nam có
hai câu thơ được đặt vào vị trí rất trang trọng, ngầm mách bảo rằng có
thể coi hai cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất và lần thứ hai là
một cuộc kháng chiến duy nhất có tính truyền đời truyền kiếp rất thiêng
liêng mà cũng thật lạ lùng:
“Tháp Mười đẹp nhất Bông Sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
(Kể
thêm: ngôi làng ôm ấp quãng đời thơ ấu của Hồ Chí Minh cũng có tên là
Sen. Hòa Đa, thủ phủ của tỉnh Bình Thuận có tên xưa kia làLiên
Thành (nghĩa là: thành hoa sen). Ở đây, tháng 3-1906 xuất hiện tổ chức
Liên Thành Thương quán, hoạt động kinh tế nhằm gây quỹ cho phong trào
Duy Tân; tháng 5-1906 xuất hiện Liên Thành Thư xã nhằm truyền bá sách
báo có nội dung yêu nước, mở mang dân trí. Đó là kết quả vận động của
các nhà yêu nước Bình Thuận, trong đó hạt nhân gồm Nguyễn Trọng Lợi,
Nguyễn Quí Anh (hai người con của Nguyễn Thông), Trương Gia Mô, Hồ Tá
Bang và một số người khác. Xa xưa hơn nữa, ít ra cũng cả ngàn năm, ngay
trong kinh thành Thăng Long đã xuất hiện biểu tượng trác tuyệt về hoa
sen: Chùa Một Cột. Phải chăng đó là kiến tạo từ hồi ức đã khắc tạc không
thể phai mờ trong tâm trí dân tộc Việt về một thời xa xưa hơn nữa, khi
mà một vùng rộng lớn bao gồm cả Thăng Long còn mênh mang nước nổi với
bát ngát những đầm sen, và phải chăng bông sen đã là đặc trưng của những
vùng duyên hải nước ngập lầy lội tràn lan?
Và
phải chăng hoa sen cũng đã từng được coi là một biểu tượng của sự thơm
tho, thanh khiết của nền văn minh sông Hồng thời cổ đại?).
Võ
Sen về sinh quán nhưng không về làng Đại An sum họp với vợ con mà về ở
đâu đó tại Chợ Chùa. Thiên Hộ Nguyễn Duy Dương - Võ Duy Lập, vĩnh viễn
mai danh ẩn tích. Trong phả đồ có ghi ông mất vào năm 1923.
Sau
này, trên bước đường hành phương nam, phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (còn có
tên là Nguyễn Sinh Huy) có ghé lần lượt qua Nghĩa Hành - Quảng Ngãi thăm
quê cha đất tổ, ghé Hòa Đa - Bình Thuận, nơi xưa kia đã ly biệt mẹ
mình. Đích đến cuối cùng của ông là Cao Lãnh - Đồng Tháp. Ông hoạt động
yêu nước và hành nghề bốc thuốc ở đây cho đến cuối đời. Phải chăng Phó
bảng Nguyễn Sinh Sắc đến sống ở Cao Lãnh - Đồng Tháp còn với mục đích
sâu xa là muốn về quê mẹ để tìm hiểu tung tích người mẹ đồng thời cũng
thăm lại nơi người cha của mình đã khai hoang lập ấp, về chiến trường
xưa để tìm hiểu cuộc chiến đấu chống Pháp của người cha mà ông nghĩ rằng
đã hy sinh anh dũng tại đó?
Ngày
nay, bên đường Phạm Hữu Lầu, gần cầu Cái Tôm, cách trung tâm thị xã Cao
Lãnh 1 km có khuôn viên rộng khoảng 1 mẫu, đó chính là khu mộ của Phó
bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của vị đại anh hùng Hồ Chí Minh.
Chúng
ta đã kể xong câu chuyện về lịch sử cần cù như chú dã tràng xe cát. Đó là những tóm tắt cô đọng nhất
mà chúng ta thu lượm được trên mạng. Người ta cho đó là công việc rỗi
hơi, chán phè, vô tích sự. Không ai ép buộc chúng ta cả mà chúng ta làm điều đó chỉ
vì thích và yêu. Nói thực lòng, mấy ai yêu nước mà không thấu hiểu lịch sử
nước mình. Còn mù tịt về lịch sử nước nhà mà nói yêu nước, thì phải chăng chỉ là "chót lưỡi, đầu môi"? Có đúng không, kể sử
cũng là yêu nước?
Vì si mê khiến chúng ta nói dài, nói dai (nhưng không nói dại!). Dù
sao thì cũng cố lên chút nữa, nói vắn tắt vài điều nữa để kết thúc câu
chuyện cho có đầu đuôi mà yên tâm, thỏa nguyện lên đường, mở cuộc hành
trình mới.
***
Đứng
đây, trên cái vị thế cao vút và lồng lộng gió ngàn này, dự định ban đầu
của chúng ta là thực hiện chương trình “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”
thật xúc tích, thật ngắn gọn như một chương trình “mini” với đôi ba bài
ngợi ca Thăng Long - Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật của nước Việt Nam
trường tồn mà chúng ta vô vàn yêu mến và xiết bao tự hào, như là một lời
chào tạm biệt đối với Tổ Quốc trước khi bước vào một cuộc bôn ba vô
tiền khoáng hậu (có lẽ thế!) mà chúng ta đã sửa soạn xong hành trang.
Nào ngờ cái chương trình chia tay dự định là “ngắn thôi” ấy lại dàn trải
thậm thượt đến tận lúc này cũng chưa dứt, đến mất luôn cả cảm giác về
sự trôi của thời gian. Chúng ta đã không thể khẳng định được thời gian
trôi qua nhanh hay chậm và đã bao lâu rồi: một năm hay mười năm, một thế
kỷ hay đã vài thiên niên kỷ? Hay thời gian đã đứng lại từ lâu vì quanh
chúng ta lúc nào cũng như lúc nào, luôn biêng biếc màu xanh của núi
rừng, của trời biển? Cũng có thể cả thời gian lẫn chúng ta cùng vùn vụt
trôi đi để chúng ta chỉ có thể cảm giác được hiện tại mà thôi?..Ôi, Việt
Nam, hình thể như nàng tiên đội nón quai thao, đang múa thắt đáy lưng
ong bên bờ biển Thái Bình Dương muôn năm lộng gió, sao mà đáng yêu đến
thế?...
Thú
thực, cũng như mọi con dân hết mực yêu thương quê hương, đất nước mình,
chúng ta không bao giờ muốn rời xa Tổ Quốc. Nhưng cuộc hành trình vĩ
đại (đi tìm cái gì đó) còn quá nhiều dang dở nên buộc chúng ta không còn
cách nào khác là đành phải chia lìa, tạm biệt Tổ Quốc một thời gian.
Tuy nhiên, trong cuộc bôn ba muôn dặm, không ai có thể biết được điều gì
đang chờ đợi phía trước. Nếu chẳng may gặp rủi ro, có thể vĩnh viễn
chúng ta không còn bao giờ gặp lại Tổ Quốc mình nữa. Chính điều lo lắng
này đã làm cho cuộc chia tay trở nên sướt mướt, da diết, lê thê giãi bày
và tràng giang đại hải kể lể. Hình như những cuộc chia ly thấm đẫm tình
yêu thương bao giờ cũng kéo dài, khó dứt. Dù sao thì chúng ta đã có một
cuộc chia ly dài lâu nhất thế giới tự cổ chí kim.
Dài
thế mà cũng chưa nói cạn được nỗi niềm. Cũng là một điều lạ: muốn kể về
lịch sử Thăng Long - Hà Nội thì không thể không kể về lịch sử dựng nước
và giữ nước Việt Nam và ngược lại, không thể hiểu được lịch sử Việt Nam
nếu không kể ra lịch sử tồn tại của Thăng Long - Hà Nội. Rốt cuộc, kể
chuyện lịch sử Thăng Long - Hà Nội thì phải kể luôn cả lịch sử Việt Nam,
muốn kể lịch sử Việt Nam thì không thể không kể đến quá trình đấu tranh
chế ngự thiên nhiên, chống cự giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, mà quá
trình đó lại được bắt đầu bằng công cuộc trị thủy và đánh tan giặc Ân ở
khu vực Cổ Loa, vùng được coi là “tổ quán” của Thăng Long - Hà Nội. Muốn
kể về cuộc đấu tranh “ngàn đời” chống ngoại xâm của dân tộc Việt mà
không kể đến lịch sử chiến tranh thế giới hoặc ngược lại thì thật là
phiến diện, gây khó hiểu và thậm chí là không thể… kể được. Đó cũng là
lý do khiến chúng ta phải đứng chôn chân đến tê cứng trên đỉnh Trường
Sơn đại ngàn này.
Chúng
ta thanh minh như thế để mãn nguyện và… thôi, không thanh minh tiếp
nữa, kẻo lại làm cho cái sự lỡ lê thê lại càng… lê thê thêm, sướt mướt
thêm…
Tuy
nhiên đó không phải là kết quả đấu tranh chống cộng sản thắng lợi của
hệ thống các nước phe Tư bản chủ nghĩa. Bản thân quan niệm Tư bản chủ
nghĩa về kinh tế - xã hội cũng có những cực đoan và giáo điều của nó.
Chính vì vậy mà ở các nước tư bản chủ nghĩa luôn xảy ra khủng hoảng kinh
tế như một căn bệnh mãn tính, chỉ có thể chữa trị như một giải pháp
tình thế mà chưa có bài thuốc chữa trị rốt ráo, tổng quát. Nhờ có các
cuộc khủng hoảng ấy, đồng thời trước tình hình thế giới sau chiến tranh
thế giới thứ hai đã có nhiều biến đổi, nhất là phong trào đấu tranh
giành độc lập của các nước thuộc địa dâng cao mạnh mẽ; mà các nhà nghiên
cứu kinh tế tư sản đã đưa ra nhiều học thuyết để nỗ lực phân tích
nguyên nhân cũng như tìm biện pháp khắc phục nhằm chấm dứt suy thoái
kinh tế. Xu thế giải quyết khủng hoảng của các nhà kinh tế tư sản là
trước sau gì cũng phải hướng tới khống chế cạnh tranh mù quáng ở tầm vĩ
mô, khống chế độc quyền, tăng khả năng điều tiết vĩ mô của chính quyền
nhà nước bằng biện pháp kinh tế và cả bằng mệnh lệnh trong trường hợp
cần thiết, nghĩa là tăng cường sự quản lý điều hành tập trung cho nhà
nước. Như thế, từ một nền kinh tế tự do cạnh tranh mù quáng, qua thời
gian, để sống còn, nền kinh tế đó cũng dần phải giảm bớt tính tự do mù
quáng của nó và trong chừng mực nhất định, tăng tính kế hoạch và chỉ đạo
tập trung nhà nước. Rõ ràng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã mặc nhiên
ngày một nhích đến gần hơn với phương thức điều hành kinh tế của chủ
nghĩa xã hội. Vì như chúng ta biết, đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa là có tính kế hoạch cao độ, tập trung quản lý điều hành trong tay
nhà nước (một cách duy ý chí, bất chấp qui luật cung cầu).
Ngày
nay, hầu hết và có thể là ở tất cả các nước, dù mang nhãn mác nào, tư
sản hay cộng sản, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa đều có nền kinh
tế mang bản chất na ná nhau và nếu dựa trên lập trường của chủ nghĩa
cộng sản “chính thống” thì đều là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, không
thể chối cãi được dù có biện minh giỏi cách mấy đi chăng nữa.
Các
nền kinh tế đã như thế thì các quan niệm chính trị cũng bớt hẳn đối
đầu. Vấn đề nóng bỏng trước đây, sự đối đầu đến mức tưởng như một mất
một còn giữa cộng sản và tư sản, giữa Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ
nghĩa, đến đây, đã không còn đặt ra (công khai) nữa.
Nước
Nga, kế thừa cái nền tảng đạo đức vô sản đẹp đẽ của Liên Bang Xô Viết,
đang trở thành mẫu mực trong quan hệ quốc tế. Nước Mỹ năm 2009, sau khi
Barack Obama, người Mỹ da đen đầu tiên lên làm tổng thống, đã có những
biến đổi làm yên lòng thế giới: hữu nghị hơn, cởi mở hơn, cao thượng
hơn.
Có
một câu chuyện thú vị liên quan đến Tổng thống Obama. Chính phủ mới của
Mỹ thực hiện các chính sách như: nắm giữ phần lớn cổ phiếu của các ngân
hàng, điều khiển ngành công nghiệp ô tô, tìm cách quốc hữu hóa lĩnh vực
chăm sóc y tế… đã làm cho một số nghị sĩ đảng Cộng Hòa công khai chỉ
trích tổng thống Obama đang thực hiện những chính sách mang tính chất xã
hội chủ nghĩa. Vấn đề này ngay lập tức diễn ra trên khắp nước Mỹ. Công
ty truyền thông chuyên thực hiện các cuộc thăm dò dư luận có uy tín của
nước Mỹ là Rasmussen Reports lập tức quyết định tiến hành cuộc thăm dò ý
kiến có qui mô toàn quốc với câu hỏi: “Giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội, hệ thống nào tốt hơn?”. Kết quả công bố ngày 9-4-2009 cho
thấy chỉ có 53% người Mỹ trưởng thành tin rằng chủ nghĩa tư bản tốt hơn;
20% tin rằng chủ nghĩa xã hội tốt hơn và 27% phân vân không biết chọn
hệ thống nào. Đây là kết quả gây ngạc nhiên cho chính những người thực
hiện, bởi trong cuộc khảo sát cũng do họ thực hiện vào cuối tháng
12-2008, có đến 70% người Mỹ trưởng thành ủng hộ nền kinh tế thị trường
tự do (một cách hiểu khác về chủ nghĩa tư bản). Mặc dù kết quả cho thấy
đa số người Mỹ vẫn ủng hộ chủ nghĩa tư bản, nhưng 53% là một tỷ lệ được
cho là quá thấp trong một quốc gia luôn coi chủ nghĩa tư bản là chìa
khóa phát triển để được như Mỹ ngày nay.
Câu chuyện kể cũng thú vị đấy chứ?
Có
thể đoán rằng; thế giới đang bước vào thời kỳ hòa dịu và hợp tác hòa
bình, các nước dần xích lại gần nhau hơn nữa và cùng chung sống
trong bầu không khí bình đẳng, tương trợ, và tôn trọng lẫn nhau. Xu thế
này chắc chắn cũng làm cho chủ nghĩa khủng bố lụi tàn dần.
Cuối
cùng, chúng ta hy vọng rằng trong tương lai không xa, trên thế giới sẽ
không còn bất cứ loại vũ khí hóa học nào, bất cứ thứ vũ khí hạt nhân
nào. Nhưng trước hết, vũ khí hạt nhân, cái biểu tượng về trí tuệ siêu
việt đáng tự hào và đồng thời cũng là biểu tượng mù quáng và độc ác đáng
hổ thẹn của loài người phải bị tiêu hủy ngay lập tức và không có quyền
được xuất hiện trở lại.
Tuy
nhiên, cái tương lai không xa ấy chắc vẫn còn… xa vời lắm! Vào cuối
tháng 5-2011, trong một chuyến công du qua nước Anh, tổng thống Obama đã
phát biểu trước hai viện Quốc hội Anh: “Mỹ, Anh đang bước vào một giai
đoạn quan trọng mới và ngày nay là thời đại mà Mỹ và Châu Âu phải giữ
vai trò lãnh đạo thế giới”.
Lời
phát biểu gây sốc đó không hề làm chúng ta ngạc nhiên. Obama vẫn chưa
thoát được lối tư duy kẻ cả, hợm hĩnh thường thấy ở những chính khách
“tai to mặt lớn” của những nước lớn! Mặt
khác, nhìn sang láng giềng, nước Trung Quốc, một "đại ca" cộng sản, với
quan niệm "đại nhảy vọt" đầy lầm lạc của mình, đã trở thành đại đế
quốc, đang ngày đêm chạy đua vũ trang, âm mưu độc chiếm biển Đông, thực
hiện dã tâm thôn tính cả Đông Nam Á, khuynh đảo thế giới. Do vậy, khả
năng bao lực ở biển Đông đang nóng lên từng ngày, bùng nổ chiến tranh
bất cứ lúc nào. Chúng
ta không thể không đặt câu hỏi: ngòi nổ chiến tranh thế giới thứ ba có
bao giờ lại là biển Đông và Trung Quốc chính là kẻ châm ngòi hay không? Đối
với chúng ta Trung Quốc chưa bao giờ là nước cộng sản. Cộng sản gì mà
làm cuộc "Đại cách mạng văn hóa" vô cùng quái dị, làm chết một cách oan
uổng hàng chục triệu con người như vậy? Cộng sản gì mà có tinh thần quốc
tế vô sản kỳ quặc, đầy vụ lợi và ích kỷ như vậy? Đối
với Việt Nam, Trung Quốc bao giờ cũng là một kẻ láng giềng thâm hiểm,
khổng lồ mà cư xử không mã thượng. Hàng ngàn năm nay, Trung Quốc luôn
thường trực ý chí thôn tính và đồng hóa dân tộc Việt. Phải luôn đề cao ý
thức cảnh giác, không cho chúng thực hiện ý đồ ấy. Hãy dõng dạc và đanh
thép nói như Hồ Chí Minh khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp năm
1964: "KHÔNG BAO GIỜ!".
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
Nhận xét
Đăng nhận xét