THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 32* (Phần II) (Anh hùng)(Lưu rồi)

PHẦN III:     NGUỒN CỘI 

" Đi đi con!
Trong khinh khi may nhớ nước non
Mà ôn lại cho đừng quên lịch sử
Bốn ngàn năm rồi, Việt Nam bất tử
Dằng dặc đoạn trường chống giặc ngoại xâm
Biết mấy đau thương, biết mấy anh hùng
Ghi tạc địa cầu bao chiến công hiển hách..."
Trần Hạnh Thu
"Lịch sử hoài thai chân lý, nó có thể kháng cự với thời gian, có thể dìm đi những việc cũ, nó là dấu tích của thời xa xưa, là gương soi của đương đại, là lời giáo huấn cho thế hệ sau."
Cervantes (Tây Ban Nha)

"Lịch sử là bằng chứng của thời đại, là ngọn lửa của chân lý, là sinh mệnh của kí ức, là thầy giáo của cuộc sống và là sứ giả của cổ nhân."
Cicero (La Mã)

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”

Trần Hạnh Thu
.

.

CHƯƠNG XI (XXXII): ANH HÙNG


Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn

Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn


"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!"
-Albert Einstein
 
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh

"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
 
“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” 
                                                          Hồ Chí Minh

"Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ"
                                                          Phạm Khắc Hòe

   

                                                                PHẦN II

Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị: Các đơn vị quân sự chịu thương vong lớn, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị bộc lộ và bị triệt phá, thương vong cao hơn hẳn những năm trước. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Tình thế chiến trường yên tĩnh hơn giúp Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thời gian bổ sung lại những thiệt hại lớn trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại.
Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa (tình trạng miền Nam tồn tại song song hai chính quyền), bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Lực lượng quân Giải phóng suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại được.
Cuộc tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã gây căng thẳng quá mức trong xã hội Mỹ, kinh tế giảm sút, gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội... mà vẫn không dứt điểm được đối phương. Chiến tranh kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc. Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến này. Các chính trị gia trong Quốc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi hủy bỏ ủy quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng. 
Theo Wikipeđia:
Chiến dịch Phụng Hoàng (1968-1975) là chiến dịch tình báo, ám sát bí mật trong Chiến tranh Việt Nam được tiến hành bởi Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa (CIO) với sự phối hợp của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA). Chương trình này được hoạch định với mục đích phát hiện và "vô hiệu hóa" – bắt giam, chiêu hàng, giết, hoặc kiềm chế – các cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGP) nằm vùng, những người tuyển dụng và đào tạo cơ sở cho quân Giải phóng tại các xã ấp miền Nam Việt Nam, cũng đồng thời là những người hỗ trợ các nỗ lực đấu tranh vũ trang. Đầu tiên, chương trình được chỉ đạo bởi Evan J. Parker, sau đó bởi Ted Shackley cùng các cấp phó Thomas Clines, Donald Gregg và Richard Secord. 
Tuy ban đầu chương trình được CIA khởi xướng, nhưng sau đó nó được chuyển giao cho Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khi trở thành một phần của chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh", chiến dịch này được chuyển thành một chương trình của Quân lực Việt Nam Cộng hòa với sự hỗ trợ của cố vấn quân sự Mỹ. Chiến dịch Phụng Hoàng được chính thức phê chuẩn ngày 1 tháng 7 năm 1968 bởi sắc lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, mặc dù trước đó nó đã tồn tại không chính thức. Tổng thống Thiệu đã chính thức công bố chương trình này chỉ ít lâu sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (QGP). Tuy nhiên ông không nói cho truyền thông biết rằng Phượng Hoàng chính là sự mở rộng chương trình Phượng Hoàng của Mỹ. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã công khai hóa sự cần thiết của chương trình này nhằm chống lại những cơ sở ngầm của Quân Giải phóng, và yêu cầu dân chúng trợ giúp bằng cách cung cấp những thông tin cần thiết
Theo thống kê của Hoa Kỳ, chương trình này và những nỗ lực tương tự từ 1965 đến 1972 đã "vô hiệu hóa" 81.740 người bị nghi ngờ đã hoạt động, đưa tin tức và ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, trong đó khoảng từ 26.000 cho tới 41.000 người đã bị giết. Theo một nguồn tin, đa số những người mà Hoa Kỳ thống kê chỉ là thường dân bị bắt giết oan, nó đã gây ra sự căm phẫn cho dân thường đến mức tạo thêm mối nguy hại nhiều hơn là thành tích

Tại miền Nam Việt Nam những năm trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, mạng lưới chính quyền của MTGP bí mật phát triển, có ảnh hưởng rộng rãi đối với quần chúng nhân dân. Mạng lưới này được Hoa Kỳ gọi là "cơ sở Việt Cộng" (VCI – Viet Cong infrastructure), hay mạng lưới "cơ sở cách mạng" (theo các tài liệu Việt Nam), cung cấp sự kiểm soát và chỉ đạo đấu tranh chính trị cũng như quân sự của MTGP tại các làng xóm tại miền Nam Việt Nam.

Mạng lưới các cơ sở cách mạng này cấp lương thực và vật dụng cho các lực lượng vũ trang địa phương hoặc các lực lượng từ các căn cứ gần biên giới; cung cấp thông tin tình báo, dẫn đường cho Quân Giải phóng từ miền Bắc vào; động viên nhân lực địa phương trợ giúp cho du kích và bộ đội chủ lực, tiến hành thu thuế, và tuyển mộ các thanh niên địa phương cho các lực lượng võ trang của quân Giải phóng.

Hệ thống kể trên đã hoạt động ở miền Nam từ nhiều năm và thành thạo trong các phương pháp hoạt động bí mật. Chương trình Phụng Hoàng được Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa phát triển nhằm phá hủy hệ thống cơ sở cách mạng kể trên. Khác với các nỗ lực quân sự, Phụng Hoàng là hoạt động mang tính truy bắt của Cảnh sát quốc gia và được chỉ đạo bởi các Ủy ban Phượng Hoàng bao gồm đại diện phía dân sự và các tổ chức quân sự bao gồm cứu tế xã hội, các cơ quan tình báo và tuyên truyền. Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa thực thi những điều luật riêng biệt áp dụng cho tội xúi giục chống đối và yêu cầu các công dân ủng hộ bằng cách cung cấp thông tin.

Chương trình Phụng hoàng bắt đầu hoạt động từ cuối năm 1966. Ngày 20 tháng 12 năm 1967, Hoa Kỳ mới chính thức hỗ trợ với phương thức, thu thập tin tức, và trắc nghiệm. 
Ở những vùng mà Việt Nam Cộng hòa không kiểm soát được chặt chẽ thì lực lượng quân Giải phóng hoạt động mạnh. Lực lượng du kích tiến hành cảnh cáo, bắt giữ hoặc ám sát những người phục vụ cho quân đội Mỹ và các chỉ điểm viên trung thành với chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Riêng năm 1969, theo tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ William E. Colby, có hơn 6.000 người phục vụ cho Mỹ - VNCH bị ám sát, và 15.000 người bị thương. Trong số những người thiệt mạng có 90 viên chức xã và xã trưởng, 240 viên chức ấp và ấp trưởng, 229 người tản cư và 4.350 thường dân.

Hệ thống nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam một đối thủ có kinh nghiệm và tổ chức chặt chẽ, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cần phải có các chuyên gia chiến tranh chính trị (political warfare) để đối phó. Trong hai năm 1967 và 1968, nỗ lực phối hợp tình báo (dựa chủ yếu vào các hoạt động của CIA) chống lại các cơ sở cách mạng được chủ trì bởi Tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ - tướng William Westmoreland. Đây là chương trình hợp tác quân sự và dân sự mang tên "Phối hợp và Khai thác tình báo" (Intelligence Coordination and Exploitation – ICEX) với nhiệm vụ là giúp đỡ và hỗ trợ chính phủ Miền Nam đương đầu với các mạng lưới cơ sở này. Lúc đầu, chương trình này (ICEX) nhận được rất ít chú ý và ủng hộ của chính quyền Nam Việt Nam. Chỉ khoảng vài chục đối tượng của Mặt trận Dân tộc nằm vùng bị bắt giữ mỗi tháng bởi các hành động đột kích và bắt bớ chủ yếu do các đơn vị CIA.

Thành phần tham gia là các viên chức hội đồng xã, trưởng xóm, cảnh sát địa phương và lực lượng dân vệ. Khi có tin từ địa phương chỉ điểm thì quân đội được báo cáo để đối phó. Theo Hoa Kỳ, riêng năm 1968 sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, hơn 13.000 cán bộ nằm vùng bị bắt hoặc giết qua chiến dịch Phụng hoàng.

Chương trình Phụng Hoàng là nỗ lực sử dụng các nguồn tin tình báo, tiêu diệt các cá nhân trong mạng lưới nằm vùng. Một biện pháp của quân đội Mỹ nhằm vào mạng lưới cơ sở là bố ráp và truy lùng: quân đội bao vây một làng nghi vấn có Mặt trận Dân tộc hoạt động, sau đó tra hỏi rồi dời dân chúng đi nơi khác. Một số chiến dịch cũng dùng các biện pháp quân sự ví dụ như phục kích quân Giải phóng ở khoảng trống giữa các thôn ấp.

Trên giấy tờ, những cán bộ Mặt trận Dân tộc bị bắt giữ, đối xử như tội phạm hình sự, bị xử án và tù đày (hoặc hành hình), hoặc bị thuyết phục để ly khai hàng ngũ những người Cộng sản và quy hàng chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều người bị giết trong các cuộc đọ súng, đột kích hoặc bị hành hình tức khắc.

Tới năm 1969, khi chương trình Phụng Hoàng mất đi tính bí mật và thu hút sự chú ý của báo chí, CIA dần rút khỏi chương trình này. Các tổ chức bí mật của Mỹ được thế chân bởi các cố vấn tình báo quân sự Mỹ (quá trình này phát triển cùng tiến trình "Việt Nam hóa chiến tranh") và chú trọng vào huấn luyện, tổ chức nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa để duy trì áp lực với hệ thống cơ sở của Mặt trận Dân tộc. Các lực lượng chủ yếu được giao phó là Bảo an và Cảnh sát đặc biệt. Tháng 1 năm 1970, có khoảng 450 cố vấn quân sự Mỹ hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong khuôn khổ chương trình Phụng Hoàng. Sang năm 1972 thì Chiến dịch Phụng Hoàng được giao cho Cảnh sát Quốc gia điều hành. Cũng năm đó, cố vấn Mỹ rút khỏi vị trí trong Kế hoạch Phụng Hoàng. Một số rời sang các chương trình bình định nông thôn.

Cho đến thời điểm quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, kết quả của chương trình Phụng Hoàng không đều khắp, thậm chí khá khiêm tốn. Theo báo cáo của Hoa Kỳ, tổng kết thời gian 1968-1972, chiến dịch này đã giết 26.000 người, bắt 34.000 người (trong số đó 22.000 quy hàng), tức là trung bình mỗi năm có 12.000 người bị giết hoặc bị bắt Kết quả nảỳ rõ ràng chỉ ảnh hưởng không đáng kể tới số lượng của quân Giải phóng (hơn 300.000 người vào năm 1968 và mỗi năm lại tuyển mộ thêm vài chục nghìn người).

Trong thời gian diễn ra chiến dịch Phượng Hoàng, CIA bị tố cáo là đã sử dụng các hình thức tra tấn một cách có hệ thống. Theo lời K. Barton Osborn, một sĩ quan tình báo quân đội tham gia chiến dịch thì đã có nhiều hình thức tra tấn dã man như đóng đinh vào tai người bị hỏi cung cho tới chết, trích điện vào chỗ kín của đàn ông và đàn bà... Trong suốt 18 tháng viên sĩ quan này tham gia chiến dịch, anh ta không thấy bất cứ người nào còn có thể sống sót sau quá trình hỏi cung. Để lấy lại thể diện, CIA cũng đã tiến hành một cuộc điều tra toàn diện về những khai nhận của Osborn và bác bỏ một số chi tiết nhỏ trong lời nói của sĩ quan này nhưng về toàn cục sự tàn bạo của cả chương trình là không thể chối bỏ.

Không chỉ đích thân thực hiện, các viên chức CIA còn huấn luyện cho các đơn vị địa phương của Việt Nam Cộng hòa những hình thức khủng bố (bao gồm ám sát, tra tấn, tống tiền và các "kỹ thuật" khác) để đối phó với cán bộ nằm vùng, việc này giúp các viên chức Mỹ đẩy những phần việc họ không thể làm một cách hợp pháp cho các lực lượng nước ngoài.

Có ý kiến thậm chí còn cho rằng mục tiêu chính của các quan chức Sài Gòn trong chiến dịch Phượng Hoàng là tiền bởi CIA treo thưởng 11.000 USD cho mỗi cán bộ nằm vùng bị bắt sống, với những người bị giết chết số tiền này bị giảm một nửa. Tham gia chiến dịch ám sát này còn có những người từng là tội phạm hoặc những cựu Việt Cộng được CIA chiêu hàng và trả tiền, theo lời một người trong số này thì chỉ cần thu thập vài xác chết để lấy tiền là họ có thể sống thoải mái. Một số sĩ quan địa phương thậm chí còn bắt những người vô tội để hoàn thành "chỉ tiêu" (quota) của CIA hoặc nhận hối lộ của những người bị bắt để thả họ.

Trong cuốn sách "Vấn đề tra tấn: Thẩm vấn của CIA, từ Chiến tranh lạnh tới cuộc chiến chống khủng bố" của Alfred McCoy xuất bản năm 2006, CIA đã sử dụng các biện pháp tra tấn một cách có hệ thống. Barton Osborn, một sĩ quan tình báo quân đội tham gia chiến dịch Phượng Hoàng, kể rằng, trong số hình thức tra tấn dã man có gí điện vào cơ quan sinh dục người bị hỏi cung, đóng đinh vào tai cho đến chết... Osborn tham gia chiến dịch suốt 18 tháng, nhưng không thấy người nào sống sót sau khi bị hỏi cung. Vì lính biệt kích SEAL thường dùng dao găm KA-BAR để giết người theo kiểu man rợ, nên KA-BAR được gọi là dao đồ tể

Phía Hoa Kỳ cho là nhờ có chiến dịch Phượng Hoàng, tính đến tháng 6 năm 1970, đã có 91% trên tổng số 10,944 ấp được coi là an ninh hay tương đối an ninh, và 7.2% đang còn tranh chấp, và chỉ có 1,4% được coi như là do Việt Cộng kiểm soát. Những con số đó theo họ đã chứng tỏ một "sự suy giảm ảnh hưởng của hạ tầng cơ sở Việt Cộng" (HTCSVC). Hoa Kỳ cho rằng Chiến dịch Phụng Hoàng đã đạt hiệu quả, nên khi quân Giải phóng mở Chiến dịch Xuân - Hè 1972 và Chiến dịch Mùa xuân năm 1975 thì nguồn nhân lực chủ yếu không còn là cư dân địa phương nữa mà là các đơn vị hành quân từ miền Bắc vào. Tuy nhiên quan điểm này ngày nay đã được xem xét kỹ lại, vì việc quân Giải phóng thay đổi hình thái đấu tranh từ nổi dậy địa phương sang hoạt động quân sự chỉ thuần túy là quyết định rút ra từ kết quả của Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, cùng với việc cán cân lực lượng đang thay đổi rõ rệt. Khi khối chủ lực của quân Giải phóng ngày càng lớn mạnh, trang bị tốt hơn (có cả xe tăng, đại bác) thì việc chuyển dần sang đánh chính quy là điều đương nhiên, và đánh du kích không còn là ưu tiên hàng đầu nữa. Bên cạnh đó, trong quá trình diễn tiến của các chiến dịch năm 1972 và 1975, lực lượng dân sự tại miền Nam đã đóng vai trò quan trọng giúp lực lượng quân sự giành quyền kiểm soát tại khắp các địa phương chứ không hề biến mất như phía Hoa Kỳ vẫn nghĩ.

Theo số liệu của quân Giải phóng, năm 1966, dân quân du kích trên toàn miền Nam có 301.354 người, năm 1967 là 302.638 người, đầu năm 1975 con số này là 296.984 người Như vậy, chiến dịch Phượng Hoàng gần như không làm suy giảm số lượng dân quân du kích của quân Giải phóng hoạt động tại miền Nam như phía Hoa Kỳ tuyên bố.

Thực tế, chương trình Phụng Hoàng còn gây hậu quả xấu lâu dài cho Hoa Kỳ - VNCH vì nó tạo ra sự bất bình trong dân chúng. Chương trình này nguy hiểm ở chỗ nó bị sử dụng để đàn áp những người bất đồng quan điểm với chính phủ VNCH bất kể họ là Việt Cộng hay không. Nó cũng góp phần đáng kể cho sự nhũng loạn của hệ thống hành chính, khi nhiều quan chức địa phương đe dọa người dân hoặc tha bổng người bị bắt để đòi hối lộ.

Thậm chí một số chuyên viên quân sự cho rằng chương trình Phụng Hoàng mang lại tác động tích cực cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng hơn là gây tác hại. Việc tù đày, tra tấn rất nhiều người mà phần nhiều là những người chỉ hoạt động ở tầng thấp (thậm chí có thể chỉ là dân thường bị oan) - khiến dân chúng nhiều khi quay sang hợp tác với Mặt trận Giải phóng, còn Việt Nam Cộng hòa thì ngày càng bị một bộ phận lớn dân chúng xa lánh. Có ý kiến còn cho rằng, chương trình này gây mất lòng dân chúng hơn bất kỳ hành động nào khác của quân đội viễn chinh Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Chương trình Phụng Hoàng thường được gọi bằng cái tên "chiến dịch ám sát", và bị chỉ trích là một ví dụ tiêu biểu của những hành động tàn bạo, xâm phạm nhân quyền mà CIA và các tổ chức của nó đã tiến hành. Theo thống kê của Mỹ, trong năm 1969, 19.534 người bị coi là Việt Cộng đã bị "vô hiệu hóa" (từ sử dụng trong chương trình Phụng Hoàng): 6.187 người bị giết, 8.515 bị bắt, 4.832 người về theo chương trình chiêu hồi. Tới năm 1971, William Colby đưa ra con số người bị giết trong chương trình này là 20.857. Con số của chính quyền Sài Gòn còn cao hơn rất nhiều: 40.994. Cá biệt, một nhóm dưới sự chỉ đạo của Karl Sherrick và Gary Leroy giết tới 23 người trong một tháng. Các đơn vị của hai người này chịu trách nhiệm về 200 cái chết trong các đợt hành động của họ. Tuy nhiên, chỉ có dưới 10% số nạn nhân của chương trình Phượng Hoàng đã thực sự là mục tiêu của chương trình này. Phần còn lại bị gán là cơ sở của Mặt trận Dân tộc sau khi họ đã bị giết hại. Các nỗ lực của các tỉnh trưởng nhằm đạt chỉ tiêu giao phó cũng dẫn đến sự phóng đại con số thống kê bằng cách tính cả các vụ bắt giữ người không theo Mặt trận Dân tộc, bắt giữ nhiều lần một đối tượng, và đưa cả số người chết từ các hoạt động quân sự vào kết quả chương trình Phụng Hoàng.

Ngoài ra, cơ sở để định đoạt một đối tượng có phải là du kích nằm vùng hay không cũng rất thiếu cụ thể. Trong nhiều trường hợp, người này vu khống người kia là Việt Cộng để mượn tay quân đội Mỹ giết kẻ mình thù oán.

                        Tập tin:Phong Nhi massacre 3.jpg

Một phụ nữ 21 tuổi đang hấp hối sau khi bị lính Thủy quân Lục chiến Nam Triều (Hàn Quốc) cắt vú tại làng Phong Nhi, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 1968. Được chụp và chú thích bởi Hạ sĩ J. Vaughn thuộc Trung đội Delta-2, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Các bức ảnh này hiện được lưu trữ tại Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA).
 
Ngày 8-2-1968, R. Kenedy (em trai cố tổng thốngKennedy) đã đọc một bài diễn văn. Có đoạn: “Đối phương của chúng ta đang tự do đánh phá trên khắp miền Nam Việt Nam và cuối cùng họ đã phá vỡ chiếc mặt nạ ảo tưởng mà chúng ta đã dùng để che dấu tình hình thực sự của chúng ta, thâm chí đối với chính chúng ta”.
Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu.
Nói về thất bại của Mỹ, rõ ràng hơn là trích dẫn lời nói của chính Giônsơn trong hồi ký của ông ta: “Kết thúc năm 1968, sau nhiều năm tiến hành cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thực sự không tin mình có thể sống sót nếu ở lại Nhà Trắng một nhiệm kỳ nữa, vì tình hình đen tối của chúng ta (tức Mỹ) ở Việt Nam đã làm tôi phải căng thẳng suốt 1.886 đêm, ít khi được ngủ trước 2 giờ sáng”
Cơlipphớt được Giônsơn bổ nhiệm làm Bộ trưởng quốc phòng thay Mắc Namara từ ngày 1-3-1968, kể: “Tôi sửng sốt khi nhận ra rằng chúng ta không có kế hoạch quân sự nào để thắng cuộc chiến. Chúng ta trông đợi cuối cùng địch sẽ kiệt quệ trầm trọng vì bị tiêu hao đến độ rồi họ sẽ đầu hàng. Và đấy là chính sách của chúng ta trong cuộc chiến tranh”, “thế rồi tôi trình bày quan điểm cá nhân của tôi cho tổng thống Giônsơn rằng tôi thấy rõ ràng là một đường lối mà Hoa Kỳ nên áp dụng là rút khỏi Việt Nam. Hoa Kỳ chính là kẻ thất bại thực sự”.
Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Johnson thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang, đàm phán. Johnson cách chức Bộ trưởng quốc phòng McNamara và tướng Westmoreland, tổng chỉ huy quân Mỹ tại Việt Nam, bản thân ông cũng tuyên bố sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo.
  Kết quả là ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến, chính phủ Hoa Kỳ buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường, và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tân tổng thống Richard M. Nixon, thắng cử vì hứa chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về nước và đàm phán với Quân Giải phóng. Chiến lược Chiến tranh cục bộ được kỳ vọng sẽ đem lại chiến thắng cho Mỹ giờ bị loại bỏ. Vấn đề của Mỹ bây giờ không còn là chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế nào.
Sự thật lịch sử do tác động to lớn của cuộc tổng tiến công và nổi dậy tạo ra được Trần Văn Trà tóm lược cũng trong “Tết Mậu Thân - chiến công hiển hách” như sau:
“Tiến công và nổi dậy tại chiến trường kết hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại giao và tất nhiên, kết quả của đấu tranh ngoại giao tùy thuộc hiệu quả chiến đấu tại chiến trường. Sau đợt I, gần 2 tháng sấm sét ở các đô thị miền Nam, tổng thống Mỹ cách chức Tư lệnh quân Mỹ Oétmolen và thay thế bằng Abram, phụ tá của Oétmolen; Chiến lược “Tìm và diệt” bị thay thế bằng chiến lược “Quét và giữ” phù hợp với chủ trương “Việt Nam hóa” và xuống thang chiến tranh. Ngày 31-3-1968, Giônsơn ra lệnh cho không quân hạn chế oanh tạc miền Bắc Việt Nam, tuyên bố: “Tôi sẽ không tìm cách và sẽ không chấp nhận việc Đảng đề cử tôi” (ra tranh cử Tổng Thống) và ngỏ ý với ta thương lượng hòa bình. Ngày 3-4, ta trả lời chấp nhận và hai bên bắt đầu trao đổi chọn địa điểm các cuộc họp cũng như thành phần các bên hòa đàm. Mỗi ngày trong chiến tranh không phải đi qua nhanh chóng và thường là cả trăm, cả ngàn người phải ngã xuống. Thế mà phải sau đợt II rồi đợt III, ngày 1-11-1968, Mỹ mới phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam và ngày 13-11, Bộ Ngoại giao Mỹ ra tuyên bố một cách lắt léo: “Hoa Kỳ tán thành họp 2 phía: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa (Ngụy quyền) một bên, Bắc Việt nam với bất kỳ ai một bên”. Thật là đến lúc buộc phải ngậm bồ hòn mà nhận đối thủ còn cố tránh tiếng, nói “bất kỳ ai”, nếu ai đó không phải là người đã tung ra những đòn hiểm hóc nhớ đời. Ngày 10-12-1968, phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đến Pari để dự cuộc đàm phán hòa bình 4 bên”.
 
                              

Lời hô “Nhằm thẳng quân thù, bắn” của Nguyễn Viết Xuân đã trở thành khẩu hiệu tiến công trên các trận địa pháo phòng không của bộ đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ .






Liên quan đến chiến dịch “Sấm rền” của Mỹ có biết bao nhiêu câu chuyện về tinh thần chiến đấu hy sinh, kiên cường bất khuất đến phi thường của quân dân miền Bắc Việt Nam. Tiêu biểu cho cái tinh thần ấy là tiếng hô dõng dạc của Nguyễn Viết Xuân trên trận địa pháo cao xạ trong chiến đấu dưới sự đánh phá của máy bay Mỹ: “Nhắm thẳng quân thù mà bắn!”; là những khẩu hiệu của một thời khói lửa: “Tiếng hát át tiếng bom”, “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”… Trong vô số những câu chuyện đó, có một câu chuyện hết sức kỳ lạ: câu chuyện đứng vững một cách bền bỉ của cầu Hàm Rồng dưới mưa bom bão đạn của không lực Mỹ và đã trở thành biểu tượng của sự gan góc.
Ngay từ đầu, cầu Hàm Rồng (ở địa phận tỉnh Thanh Hóa) đã là mục tiêu quan trọng phải oanh kích của máy bay Mỹ vì đường giao thông huyết mạch 1A và đường xe lửa dọc theo biển Đông, theo hướng Bắc - Nam đều qua cây cầu thép này. Năm 1965 có 277 lần chiếc cất cánh đi đánh phá cầu Hàm Rồng, năm 1966 có 135 lần chiếc, năm 1967 là 204 lần chiếc. Hơn 1.250 tấn bom đã được thả xuống đó với 8 chiếc máy bay đã bị bắn rơi, nhưng cầu Hàm Rồng tuy có bị hư hại song vẫn cứ đứng trơ trơ ra đó và vẫn sử dụng được. Người ta có cảm giác rằng hình như đó là một mục tiêu không thể tiêu diệt nổi.
Thiếu tướng David C. Richardson, tư lệnh lực lượng đặc nhiệm 77 nói: “Đối phương từ lâu đã xây dựng nhiều đường vòng quanh cầu Hàm Rồng và chiếc cầu này đã giảm hẳn tầm quan trọng đối với nỗ lực cấm vận của Mỹ. Vì lý do đó, tôi liệt chiếc cầu này vào loại mục tiêu không được đánh và chỉ thỉnh thoảng mới thông qua những trận oanh tạc nó. Đối với các phi công của lực lượng đặc nhiệm 77 thì tầm quan trọng tâm lý của cây cầu đó đã vượt xa tầm quan trọng chiến thuật của nó. Mọi liên đội không quân Tây - Thái Bình Dương đều muốn được cái vinh dự đánh sập cầu Hàm Rồng và nó gây cho các phi công sự kích thích thực sự…!”.
Tháng 11-1966, đô đốc Richardson đồng ý cho thử lần cuối cùng đối với cầu Hàm Rồng, trước khi về nước. Người ta đã hy vọng chứa chan vào những báo cáo đầu tiên sau trận đánh về các cột khói, bụi che lấp mục tiêu đã mở ra khả năng là chiếc cầu tượng trưng của mạng lưới giao thông ở Bắc - Việt Nam cuối cùng rồi cũng bị hủy diệt. Đại tá Bill Houser đã vội vã trình cho Richardson một bản báo cáo lạc quan của phi công và kêu lên: “Chúng tôi đánh trúng cầu rồi!”. Nhưng thật không may cho ông này, những bức ảnh chụp sau đó cho thấy cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững.
 
                                  Cầu Hàm Rồng cũ
                                               Cầu Hàm Rồng cũ

Trong suốt thời kỳ chiến đấu chống lại âm mưu phá cầu Hàm Rồng, quân và dân Thanh Hóa đã tiêu diệt 117 máy bay của địch
                                  cầu Hàm Rồng, chiến thằng, anh hùng, Ngô Thị Tuyển, nét duyên, cô gái, dân quân, Yên Vực, Thanh Hóa
Cuộc chiến tranh kéo dài đã phá hoại cầu Hàm Rồng không biết bao nhiêu lần. Đến năm 1955, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương khôi phục lại đường xe lửa, đường ô tô, đường sông… giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Tháng 1-1968, Mỹ tiến hành 5 cuộc đánh phá nữa vào chiếc cầu này. Ngày 28-1, những quả bom 900 kg đã rơi trúng cầu, mặt cầu bị 2 lỗ, trụ cầu ở đầu phía đông bị hư hại và đường lên cầu ở phía tây bị tắc. Nhưng cầu Hàm Rồng vẫn không sập và đến ngày 8-2-1968 nó lại được đưa vào sử dụng.
Theo W. Cagle thì đại tá W. B. Muncie có đưa ra một cách giải thích kỳ bí về sự bất diệt của cầu Hàm Rồng như thế này: Quả đất này gồm hai bán cầu khổng lồ hình elíp gắn với nhau bằng bản lề lò xo đâu đó ở dưới đáy vùng Nam - Đại Tây Dương, còn phía bên kia thì gài chắc bằng cầu Hàm Rồng; nếu như cầu này bị phá hủy thì thế giới sẽ bị bật mở, người và vật sẽ bị quăng cả vào đó và thế cân bằng của Vũ Trụ bị đảo lộn. Đó chính là nguyên nhân làm cho cầu Hàm Rồng trở thành một mục tiêu ở Bắc - Việt Nam mà không ai có thể tiêu diệt được…
Bước ngoặt bi kịch đối với cuộc đời binh nghiệp của đại tướng Oétmolen “bắt đầu từ một thung lũng nhỏ mang tên Khe Sanh”“kết thúc bằng cú Tết Mậu Thân năm 1968”.
Khe Sanh nằm trên một cao nguyên, mỗi bề gần 10km, thuộc miền núi phía tây tỉnh Quảng Trị, gần chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và Tà Cơn. Các tướng tá Mỹ trực tiếp điều khiển chiến tranh xâm lược Việt Nam đều nhất trí cho rằng Khe Sanh là vị trí chiến lược hết sức quan trọng, vừa có thể ngăn chặn sự xâm nhập từ Bắc vào Nam qua giới tuyến quân sự tạm thời (vĩ tuyến 17), vừa có thể là tấm bình phong che chở an toàn cho khu vực phía Đông đường 9. Năm 1964, sang Nam - Việt Nam đảm nhận quyền chỉ huy lực lượng Mỹ, Oétmolen liền đi thị sát Khe Sanh và lập tực cho đó là vị trí lý tưởng để ngăn chặn Việt Cộng xâm nhập từ Bắc vào hoặc từ Lào sang theo đường 9; là “cái mỏ neo” ở phía Tây của hệ thống phòng thủ phía Nam khu phi quân sự và là bàn đạp cho các cuộc hành quân trên bộ để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Bỏ Khe Sanh tức là bỏ mất tất cả những lợi thế đó, cũng là chấp nhận cho Việt cộng đưa chiến tranh vào vùng dân cư ven biển tỉnh Quảng Trị và tạo ra một hành lang dọc bờ biển cho Việt Cộng tiến xuống phía Nam. Bởi tầm quan trọng như thế nên Khe Sanh được Mỹ chú tâm xây dựng thành một khu vực phòng thủ cực mạnh với lực lượng đồn trú tới 6.000 quân do đại tá Đêvít Laođơ chỉ huy, có đầy đủ xe, pháo và ngoài ra còn được 16 khẩu pháo 175 mm (có hỗn danh là “Vua chiến trường”) của lục quân Mỹ đặt ở căn cứ 241 cùng 20.000 quân trên tuyến phòng thủ đường 9, đặc biệt là được một lực lượng không quân hiện đại to lớn yểm trợ, chi viện.
Với Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968, quân và dân ta đã thực hiện thành công đòn nghi binh chiến lược, thu hút, giam chân, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào các đô thị trên toàn miền Nam. Thắng lợi đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. 
 
                       Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh: Đòn nghi binh chiến lược cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968  
 Quân Giải phóng tiến công căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN                              
 
                       phao-binh.jpg
                      chien thang Duong 9 - khe sanh buoc tien vuot bac ve nghe thuat quan su hinh anh 1
                       chien thang Duong 9 - khe sanh buoc tien vuot bac ve nghe thuat quan su hinh anh 3
                        chien thang Duong 9 - khe sanh buoc tien vuot bac ve nghe thuat quan su hinh anh 3
                        chien thang Duong 9 - khe sanh buoc tien vuot bac ve nghe thuat quan su hinh anh 11 
Lính thủy đánh bộ Mỹ xô nhau chạy đến máy bay trên đường băng ở căn cứ Khe Sanh để tháo chạy. Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN
                         chien thang Duong 9 - khe sanh buoc tien vuot bac ve nghe thuat quan su hinh anh 14
               KHE SANH 1968 | Nỗi Sợ Hãi Tột Cùng Của LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ MỸ Khi Bị Quân  Giải Phóng Vây Hãm
Tháng 12-1967, Oétmolen nhận được tin tình báo phát hiện 2 sư đoàn bộ binh và 2 trung đoàn pháo cùng xe tăng quân Bắc - Việt Nam tập trung quanh Khe Sanh. Ông ta nhận định sắp có cuộc tiến công của Việt Cộng nhằm chiếm khu vực này và các điểm tựa khác dọc đường 9 từ Đông Hà sang Lào. Bị ám ảnh, Oétmolen còn cho rằng Việt Cộng định biến Khe Sanh thành một “Điện Biên Phủ” thứ hai, do đó đã yêu cầu nhà sử học công tác trong Bộ tư lệnh là đại tá Rimơ Ácgô nghiên cứu Điện Biên Phủ và các trận bao vây trên thế giới để so sánh với Khe Sanh nhằm kiện toàn công tác phòng ngự cho nó. Ácgô cho biết, qua nghiên cứu thì sở dĩ quân phòng ngự thất bại là do mất hết mọi thế chủ động. Theo Oétmolen thì quân Mỹ ở Khe Sanh có lợi thế hơn nhiều so với quân Pháp ở Điện Biên Phủ bởi được chi viện dồi dào bằng máy bay và pháo binh từ phía ngoài và Mỹ có đầy đủ khả năng chở quân ứng cứu kịp thời bằng đường không để giành thế chủ động đánh bại đối phương. Trước khi trận đánh xảy ra, Oétmolen còn cho chuyển toàn bộ các máy dò điện tử định dùng kéo dài hàng rào Mắc Namara sang Lào, về bố trí xung quanh Khe Sanh.
Sau khi đã dồn những nỗ lực quan trọng cho Khe Sanh với tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, Oétmolen “tin tưởng Khe Sanh có thể đứng vững trong lịch sử như một tấm gương cổ điển về thách thức đánh bại một lực lượng bao vây đông hơn nhiều lần bằng việc sử dụng hỏa lực có phối hợp”.
Tại Oasinhtơn, bị sự suy diễn theo chiều hướng coi Khe Sanh như một Điện Biên Phủ của các tướng lĩnh Mỹ chi phối, Giônsơn cũng quan tâm đặc biệt đến Khe Sanh, theo dõi sát sao diễn biến tình hình ở đó trên một sa bàn trận địa đặt trong tầng hầm Nhà Trắng và đòi các tướng lĩnh phải có lời cam kết bằng máu không được để mất khu vực phòng thủ đó.
Trong một cuộc họp Ban tham mưu của mình, Oétmolen tuyên bố: “Chúng ta sẽ không bị đánh bại ở Khe Sanh. Tôi sẽ không tha thứ cho ai nói hoặc suy nghĩ điều ngược lại”.
Giữa lúc liên quân Lào - Việt đang truy quét quân địch ở Nậm Bạc thì ngày 20-1-1968, quân Giải phóng bất ngờ tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh. Sau khi làm chủ quận lỵ Hướng Hóa, đêm 31-1, quân Giải phóng tiêu diệt cứ điểm Huội San và ngày 7-2, diệt cụm cứ điểm Làng Vây, làm cho Tà Cơn bị hở sườn phía tây. Quân Giải phóng chọc thủng luôn tuyến phòng thủ tây đường 9 của địch, làm chủ đoạn đường đó từ biên giới Việt - Lào đến Cà Tu, mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Cơn. Lính thủy đánh bộ Mỹ trong Tà Cơn phản kích ra liên tục, nhưng đều bị đánh bại, đành phải cố thủ trong công sự, chờ viện binh.
Từ khoảng giữa tháng 2 trở đi, máy bay chiến thuật Mỹ trung bình mỗi ngày xuất kích 300 lần chiếc, ném 35.000 tấn bom, máy bay chiến lược B52 trong gần 2 tuần thả 75.000 tấn bom xuống quanh Khe Sanh. Trong những ngày Khe Sanh bị bao vây, trung bình mỗi ngày, đại bác 175 mm của lục quân Mỹ bắn đến 1.500 quả đạn. Lượng bom đạn dội xuống dày đặc đó làm cho quân tướng Mỹ - Ngụy ở Khe Sanh cũng phải kinh hoàng. Oétmolen nhìn nhận đó là “một cuộc phô trương hỏa lực khủng khiếp… một trong những trận ném bom nặng nề nhất, tập trung nhất trong lịch sử chiến tranh”. Thế nhưng quân Giải phóng vẫn anh dũng siết chặt vòng vây Tà Cơn từ hai hướng Tây và Nam. Cuối tháng 2-1968, các đường hào vây lấn của quân Giải phóng chỉ còn cách tiền duyên địch khoảng 50 m…
Mãi đến tháng 4-1968, quân Mỹ - Ngụy gồm sư đoàn kỵ binh không vận số 1, ba tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn biệt động ngụy mới tổ chức được hai cuộc hành quân “Ngựa bay” và “Lam Sơn 207” để giải tỏa Khe Sanh. Trong những ngày này, Mỹ dùng máy bay chiến thuật ném bom chỉ cách Trung tâm Tà Cơn có 400 m, còn máy bay chiến lược B52 thì phong tỏa vòng ngoài từ 2 đến 3 km. Những cuộc giao tranh ác liệt đã diễn ra ở các khu vực: điểm cao 471, 400, 542, 479, Động Ché Riên, làng Khoai, làng Vây, xung quanh Tà Cơn. Bị đánh thiệt hại nặng nhưng Mỹ - Ngụy cũng chiếm được một số vị trí có lợi. Vòng vây Tà Cơn của quân Giải Phóng bị nới lỏng, địch thay được quân (lúc này hình thái phòng ngự của Mỹ ở Khe Sanh vẫn lấy Tà Cơn làm trung tâm và nơi đây được tăng cường lực lượng, gồm 2 trung đoàn lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn kỵ binh không vận). Tuy nhiên toàn bộ hướng Tây - Tà Cơn vẫn bị trống, Mỹ không chiếm được vị trí khống chế nào.
Sau khi mặt trận Khe Sanh được tăng cường sư đoàn 308 và trung đoàn 246, quân Giải phóng mở hàng loạt trận tiến công chiếm lại làng Cát, Động Ché Riên, cắt đường 9 đoạn từ Rào Quán đến Cu Bốc, đẩy địch ở Tà Cơn vào thế cô lập.
Ngày 1-6-1968, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ mở cuộc hành quân “Xcốtlen” đánh ra khu vực Tà Ri, Tà Quan, Húc Cốc Giang, Pa Trang nhằm thu hút lực lượng quân Giải phóng đang vây hãm Tà Cơn ra đối phó, đồng thời đóng thêm các chốt bảo vệ phía Đông và Nam đường 9. Cuộc hành quân này, ngay từ đầu đã bị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn tại Húc Cốc Giang. Ở phía Tây - Tà Cơn, trung đoàn 246 quân Giải phóng tiếp tục kiềm chế, đánh tiêu hao địch ở các điểm cao 832, 845, 689. Lực lượng vây hãm Tà Cơn ngày một siết chặt vòng vây. Một loạt các vị trí án ngữ phía Tây - Tà Cơn và dọc đường 9 bị quân Giải phóng tiến công tiêu diệt. Đường bộ bị cắt đứt, đường không bị khống chế mạnh mẽ, Tà Cơn có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước tình hình đó, quân Mỹ phải dừng cuộc hành quân “Xcốtlen”, co lực lượng về giữ đường 9, khu Nam - Tà Cơn và điều 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ về giữ Đông Hà, Cửa Việt đang bị quân Giải phóng uy hiếp.
                            
                    Quân đội ta pháo kích vào căn cứ Mỹ, Khe Sanh năm 1968. Ảnh: Pháp luật TP.HCM.  
 
Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân Giải phóng trên toàn tuyến đường 9, đặc biệt là ở Tà Cơn, ngày 26-6-1968, Oétmolen tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Một cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi Tà Cơn của quân Mỹ - Ngụy đã diễn ra dưới làn đạn truy kích mãnh liệt của đối phương. Mãi đến ngày 15-7-1968, quân Mỹ - Ngụy mới rút hết được ra khỏi Khe Sanh.
Sau 170 ngày đêm tiến công, vây hãm, bám trụ kiên cường, quân Giải phóng đã cắm lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam - Việt Nam lên trung tâm căn cứ Khe Sanh chứng tỏ ý chí, tinh thần quả cảm và nghệ thuật quân sự Việt Nam đã thắng đế quốc Mỹ. Quân Giải phóng đã tiêu diệt 17.000 địch, trong đó có 13.000 quân Mỹ, bắn rơi và phá hủy 400 máy bay các loại, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa, đập tan một mảng lớn và trọng yếu của tuyến phòng thủ đường 9.
Cuộc chiến đấu ở Khe Sanh là một thử thách phi thường đối với quân đội nhân dân Việt Nam trước một đội quân chính qui, trang bị hiện đại bậc nhất, có ưu thế áp đảo về sức mạnh hỏa lực của cường quốc số 1 thế giới là đế quốc Mỹ, hơn nữa còn đánh cho đội quân hùng mạnh ấy phải chịu thua, rút chạy hỗn loạn, làm cho “cả thế giới như vừa chứng kiến một câu chuyện thần kỳ: Quân giải phóng miền Nam vây hãm một lực lượng lớn quân Mỹ ở Khe Sanh ròng rã 170 ngày đêm và cuối cùng thắng chúng… Hai tiếng Khe Sanh ngân cao và vang xa mãi như tiếng kèn chiến thắng hùng tráng của thời kỳ mới trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước” (Xã luận báo “Nhân dân” số ra ngày 27-6-1968).
Đối với đế quốc Mỹ, đây là lần đầu tiên những đơn vị tinh nhuệ của quân đội Mỹ bị bao vây lâu ngày nhất trong lịch sử chiến tranh và mặc dù đã dùng hết sức mạnh áp đảo của phi pháo, xe tăng để giải vây vẫn không chống cự nổi, cuối cùng để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn đã phải tháo chạy dưới làn mưa đạn của đối phương, làm cho “uy tín nước Mỹ suy sụp, Mỹ rốt cuộc bị mất thể diện” (Tin điện hàng ngày, 28-6-1968), bởi vì: “Sự rút lui khỏi căn cứ Khe Sanh không phải đơn giản chỉ là bỏ rơi một điểm xung yếu mà là sự bỏ rơi cả một ảo tưởng và một chính sách được tất cả cố gắng chiến tranh của Mỹ dựng lên. Cái chiến lược “Tìm và diệt” cũng tan ra tro như pháo đài xi măng cốt thép ở Khe Sanh…” (Tin điện hàng ngày, 30-6-1968).
                        
Tại cứ điểm 31, binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH
 
Trong cuốn hồi ký “Một quân nhân tường trình” (A soldier reports) của mình, Oétmolen có viết: “Không có sự kiện nào trên chiến trường Việt Nam gây ra nhiều điều dèm pha, phỉ báng của công chúng Mỹ đối với cách thức tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam bằng quyết định đứng trụ lại và chiến đấu ở Khe Sanh.”
***
Với mục đích buộc Hoa Kỳ ngồi vào bàn đàm phán và tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, trong khi chiến sự ở Khe Xanh đang diễn ra ác liệt, thì quân Giải phóng lại bất ngờ tung ra trận Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương. Đây là một sự kiện gây chấn động trên thế giới và có một vai trò bước ngoặt trong cuộc chiến tranh này.
Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi mà quân đội Mỹ tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam hoạch định một chiến dịch nhằm gây tiếng vang lớn ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị") – Lê Duẩn, nhằm buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
                           Lính Mỹ cáng đồng đội bị thương trên một con phố đổ nát của Huế. Ảnh: Philip Jones Griffiths.
Thủy quân lục chiến Mỹ cứu thương trong chiến sự Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968
Bị Quân giải phóng bao vây tiêu diệt, lính thủy đánh bộ Mỹ tranh nhau lên máy bay rút chạy khỏi Khe Sanh, Quảng Trị (tháng 7/1968) Ảnh: Tư liệu TTXGP

Trong thực tế, vào tháng 1 năm 1968, tình báo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã thu thập được các tài liệu nói về cuộc tổng tấn công sắp tới của Quân Giải phóng. Tuy vậy, họ cho rằng đây chỉ là tài liệu do đối phương tung ra để làm nghi binh và không đáng tin cậy. William Westmoreland, tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam, nhận định Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tấn công vào mùa khô với các trọng điểm là Thừa Thiên, Quảng Trị và Khe Sanh. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này.
Mười ngày sau khi mở cuộc tấn công mạnh vào Khe Sanh (20-1-1968) nhằm thu hút số lớn lực lượng Mỹ - Ngụy vào vùng hẻo lánh nhưng quan trọng này, vào đêm 30 rạng sáng ngày 31-1-1967, quân dân miền Nam mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, đánh vào 5 trong 6 thành phố lớn, 37 thị xã trong 44 tỉnh lỵ ở miền Nam và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, căn cứ địch, giáng đòn sấm sét xuống đầu Mỹ - Ngụy. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn và làm tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cũng như gây chấn động dư luận thế giới. Cuộc tổng công kích này được tiến hành làm 3 đợt: đợt I diễn ra từ 30-1-1968 đến 28-3-1968, đợt II từ 5-5-1968 đến 18-6-1968, đợt III từ 17-8-1968 đến 30-8-1968.

                                     


                              
Những người dân bị sát hại và lính Bắc Việt hy sinh trong cuộc chiến. 
                                     
    
                                    
Những người Lính VNCH bảo vệ TP Sài Gòn năm Mậu Thân 1968                      

                                     

                                                   Biệt Động Quân đang giao tranh tại TP Sài Gòn
               

                        
Không có mô tả ảnh.

      
Những người lính miền Nam Việt Nam chạy đến chỗ ẩn núp trong cuộc giao tranh        vào              sáng sớm tại Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 5 tháng 5 năm 1968. (Ảnh AP / Eddie Adams)

                                                 Không có mô tả ảnh.

một chiến sĩ Biệt động SG rơi vào tay g.i ặ.c trong chiến dịch Mậu Thân, đăng trên tạp chí Life ngày 12 tháng 1 năm 1968



                                 Trận Bà Chiêm, Tây Ninh, ngày 2/1/1968, quân giải phóng đã tiêu diệt tểu đoàn 3, lữ 1, sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Trận Bà Chiêm, Tây Ninh, ngày 2/1/1968, quân giải phóng đã tiêu diệt tểu đoàn 3, lữ 1, sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ. (Ảnh tư liệu TTXVN)
                                 Nữ du kích Dầu Tiếng trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)
      Nữ du kích Dầu Tiếng trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)
 

                                
Vào lúc 6 giờ 15 phút ngày 31/1/1968, lá cờ của Liên minh các lực lượng dân chủ và Hoà bình Việt Nam được kéo lên cột cờ toà Tỉnh trưởng Thừa Thiên-Huế. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Vào lúc 6 giờ 15 phút ngày 31/1/1968, lá cờ của Liên minh các lực lượng dân chủ và Hoà bình Việt Nam được kéo lên cột cờ toà Tỉnh trưởng Thừa Thiên-Huế. (Ảnh tư liệu TTXVN)

                               
Các chiến sỹ giải phóng quân chuẩn bị tiến vào Huế (1968). (Ảnh tư liệu TTXVN)

             Các chiến sỹ giải phóng quân chuẩn bị tiến vào Huế (1968). (Ảnh tư liệu TTXVN)

                              Xe tăng Mỹ bị quân giải phóng đánh, chiếm những ngày đầu 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)

        Xe tăng Mỹ bị quân giải phóng đánh, chiếm những ngày đầu 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)
                                  Chiến sỹ giải phóng quân Trị Thiên, Huế nghiên cứu sa bàn chuẩn bị đánh tiểu đoàn 7 thiết giáp Nguỵ ở Tam Thai, Huế ngày 31/1/1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)

  
Chiến sỹ giải phóng quân Trị Thiên, Huế nghiên cứu sa bàn chuẩn bị đánh tiểu đoàn 7 thiết giáp         Nguỵ ở Tam Thai, Huế ngày 31/1/1968. (Ảnh tư liệu TTXVN)
                   

Quân giải phóng, lực lượng biệt động, đặc công nhận nhiệm vụ và tuyên thệ trước giờ xuất kích Tổng tấn công Sài Gòn xuân Mậu Thân 1968

Lính BĐQ-VNCH và người lính Mỹ với đạn và súng đầy trên mình

                     

                          Quân đội ta tiến vào thành nội Huế Tết Mậu Thân, ngày 2/2/1968.
                      

Bức ảnh này đã gây chấn động cả thế giới. Trong sự kiện Tết Mậu Thân 1968, tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cầm súng bắn thẳng vào đầu một chiến sĩ đặc công đã bị bắt. Vụ việc được ký giả Eddie Adams nhanh tay chụp được. Sau này, Adams giành giải Pulitzer trong năm 1969.

                                     


Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 hay còn được gọi là Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện ghi hằn dấu ấn không thể nào quên vào trong lòng những người dân Mỹ, đặc biệt là những người yêu chuộng hòa bình và những tổ chức, cá nhân phản chiến. Nguồn ảnh: History.
                           
Trước đó, người dân nước Mỹ chỉ biết tới chiến tranh Việt Nam qua những bài báo, những đoạn phim tài liệu được "định hướng" một cách khéo léo khiến người dân Mỹ vẫn tin rằng cuộc chiến Việt Nam chỉ đơn giản là một chuyến "du lịch tới miền rừng rậm nhiệt đới", đúng như lời các sỹ quan tuyên truyền của Mỹ "quảng cáo" khi họ chiêu mộ thanh niên Mỹ gia nhập quân đội để tham chiến ở Việt Nam. Nguồn ảnh: History.
                                   

 Đến khi chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968 nổ ra, người dân Mỹ mới "bàng hoàng" nhận ra rằng "chuyến du lịch" mà quân đội Mỹ hay nhắc tới ám chỉ cuộc chiến ở Việt Nam lại là một chuyến đi không khác nào "du lịch mạo hiểm" đối với cả người Mỹ và những người Việt Nam bản địa. Cuộc chiến này dữ dội hơn rất nhiều lần những gì người Mỹ tưởng tượng. Nguồn ảnh: History.

                                  

Khi đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam dự định đánh một trận lớn, gây tiếng vang, "Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị" (lời Tổng bí thư Lê Duẩn). Và sự thật là chúng ta đã đánh một trận rất lớn, không những làm tung tóe ra các khả năng chính trị mà còn làm "tung tóe" cả xã hội Mỹ thời điểm bấy giờ. Nguồn ảnh: History.
                                 

Chiến dịch Mậu Thân nổ ra đúng lúc trình độ khoa học kỹ thuật của các "nhà đài" ở Mỹ đạt đến đỉnh cao nhất với công nghệ truyền hình trực tiếp ngay từ hiện trường. Những hình ảnh thảm khốc về cuộc chiến tranh Việt Nam xưa nay vốn vẫn bị giới truyền thông Mỹ cố gắng hạn chế đăng tải nay đã được lột tả một cách trần trụi qua các đoạn phim truyền hình trực tiếp từ hiện trường, đưa tới cho khán giả Mỹ và toàn thế giới những hình ảnh thật nhất, chưa hề qua kiểm duyệt. Nguồn ảnh: History.
                              

Những phóng viên chiến trường lão làng, gạo cội của Mỹ được trang bị áo giáp và mũ sắt không kém gì một binh lính chuyên nghiệp, tuy nhiên vũ khí của họ lại là chiếc máy quay, máy ảnh đã khiến cả nước Mỹ chao đảo khi nhận ra sự tàn bạo mà Mỹ đang mang tới đất nước Việt Nam. Nguồn ảnh: Vietnam.
                                        
Bên cạnh việc đưa tin về cuộc chiến Mậu Thân, rất nhiều phóng viên chiến trường trên thế giới cũng đều đổ xô đến chiến trường Nam Việt Nam lúc bấy giờ với hy vọng sẽ có được những thước phim, những bức ảnh để đời để thăng tiến cho sự nghiệp của mình. Chính vì vậy, ngày càng nhiều hình ảnh khốc liệt của cuộc chiến được đưa về không chỉ Mỹ mà còn nhiều nước khác trên thế giới với đội ngũ phóng viên thường trú ở Việt Nam tăng lên theo cấp số nhân mỗi ngày. Nguồn ảnh: Pythua.

                     

Những hình ảnh đẫm máu của binh lính Mỹ và chư hầu trên chiến trường Việt Nam được truyền tải trực tiếp về nước Mỹ với tần xuất ngày càng dày đặc, lượng người theo dõi ngày càng lớn và ngay cả những kênh truyền hình chuyên về... quảng cáo của Mỹ cũng chèn thêm những giờ phát sóng đưa tin về cuộc chiến này để thu hút thêm lượng người xem đã gây nên một cuộc đại khủng hoảng truyền thông về chiến tranh Việt Nam trên ngay chính nước Mỹ. Nguồn ảnh: Vietnamwar.

                              

Có thể nói, đúng như lời của Tổng bí thư Lê Duẩn, cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 đã khiến cả nước Mỹ "tung tóe" với hàng chục vạn người xuống đường biểu tình, những thanh niên đến tuổi nhập ngũ đốt thẻ quân dịch, những ông bố bà mẹ xuống đường biểu tình để con cái không phải ghi danh tới chiến trường Việt Nam còn quốc hội Mỹ phải xem xét lại cuộc chiến này. Nguồn ảnh: Moyers.

                                 
ây cũng có thể coi là lần đầu tiên quân giải phóng tấn công và chiến đấu với lính Mỹ trong môi trường tác chiến đô thị - một yếu tố khá khác biệt so với các cuộc đụng độ trước đây giữa Mỹ và bộ đội Việt Nam. Nguồn ảnh: Pinterest.
                                 

Với ưu thế bất ngờ, quân giải phóng và du kích miền Nam Việt Nam đã khiến đối phương chịu thương vong lớn. Thương vong của Mỹ ở miền Nam Việt Nam năm 1968 lớn hơn tất cả các năm khác trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguồn ảnh: Pinterest.
                                

Mặc dù có quân số đông, phương tiện khí tài áp đảo nhưng do quân Mỹ chưa hề được chuẩn bị trước, các đơn vị lục quân được điều phối không hiệu quả, chỗ cần thì thiếu quân, chỗ không cần lại thừa quân số. Nguồn ảnh: Pinterest.
                                

Lối tác chiến trong đô thị cũng khiến quân Mỹ loay hoay đối phó, thậm chí chúng phải sử dụng tới đạn hơi cay để "lùa" quân giải phóng ra khỏi nơi ẩn nấp. Nguồn ảnh: Pinterest.
                              
Lính Mỹ di tản ra khỏi Đại sứ quán Mỹ ở Sài gòn sau khi khu vực này bị biệt động quân chiếm. Do thiếu quân, Quân Cảnh Mỹ cũng phải cầm súng chiến đấu. Nguồn ảnh: Pinterest.
                               

Tại nhiều nơi, quân Mỹ thậm chí còn bắn nhầm nhau gây thương vong lớn do hiệp đồng không rõ ràng. Nguồn ảnh: Pinterest.
                               

 
Các loại hoả lực hạng nặng cũng tỏ ra yếu thế khi tác chiến trong môi trường đô thị khiến quân đội Mỹ phải loay hoay đối phó do đã quen chiến đấu dưới sự yểm trợ của hoả lực hạng nặng. Nguồn ảnh: Pinterest.
                              


Vào thời kỳ này, hoả lực phi pháo và lựu pháo về cơ bản là không đủ công nghệ để có thể yểm trợ cho các mục tiêu trong đô thị do cần độ chính xác quá cao. Nguồn ảnh: Pinterest.

                   


                     


                     


                       


                      


                                    


                                  


                      


                       


                      


                                 


                                 


                    


                    

                      Trên đây là những hình ảnh đau thương bởi chiến tranh. Để có được ngày hôm nay dân tộc ta đã trải qua quá nhiều mất mát          
  
                                   
Lính cứu hỏa tìm cách vào toà nhà đài phát thanh SG bị vc phá hoại đang bốc cháy , cạnh đó là tử thi chiến sĩ vc 

Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân là một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi nhiều ngôi mộ tập thể chôn tử thi trong chiến trận Huế được phát hiện. Việc phát hiện hố chôn xảy ra khi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và đóng ở Huế một tháng, sau đó bị triệt thoái trước sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Hoa Kỳ..

Một số nhà chức trách Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cùng một số nhà báo coi hố chôn tập thể là một trong những chứng cứ để kết luận Quân giải phóng miền Nam đã thực hiện cuộc thanh toán quy mô lớn ở Huế và vùng phụ cận trong 4 tuần chiếm đóng. Có nguồn cho rằng các vụ giết người này là có chủ trương nhằm thanh trừng cả một tầng lớp trong xã hội miền Nam. Nguồn khác, trong đó có nhóm phản chiến thì khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh. Nguồn từ phía quân Giải phóng thì ghi nhận họ đã chôn nhiều thường dân chết do hỏa lực hạng nặng của Mỹ cùng với binh sĩ tử trận của chính họ

Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng lúc tấn công bất thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên miền Nam Việt Nam – trong đó có Sài Gòn và Huế.

Với mục đích giành giật chủ quyền tại Huế, trận chiến 28 ngày giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra và kết quả là 40% thành phố bị phá hủy, 116.000 người mất nhà ở. Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu khoảng 4.400 lính thương vong, trong khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng tổn thất trên 4.000 quân. Cũng trong cuộc tái chiếm này, quân đội Mỹ đã sử dụng tối đa vũ khí hạng nặng như bom napalm, đại bác, pháo xe tăng và súng không giật cỡ lớn. Trong số 17.134 ngôi nhà tại Huế, 9.776 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 3.169 bị hư hỏng nặng; số thường dân thiệt mạng theo ước tính đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa là 3.776 người. Tài liệu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho biết họ đã chôn cất khoảng 2.000 nạn nhân do bom đạn tại các khu mộ tập thể cùng với binh sĩ tử trận của chính họ.

                            
                      Một thiếu nữ đang cầm di ảnh của nạn nhân trong vụ thảm sát                                  
                      
          Cải táng các thi hài khai quật trong các hố chôn tập thể sau trận Tết Mậu Thân
 
 Theo Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu VNCH khu vực Thừa Thiên, trong 22 địa điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2.326 sọ người. Sau tết, các gia đình kê khai có người chết hoặc mất tích là 4.000 gia đình. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân được họ xác định là đã bị mất tích, bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống. Võ Văn Bằng, quan chức VNCH, Trưởng ban Cải táng nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: "Các hố cách nhau. Mỗi hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, người thì nằm, người thì ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng..."

Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:

"Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
  • Tổng số dân sự tử vong: 7.600 – chết lẫn mất tích
  • Chiến trường: – 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
  • Nạn nhân trong những ngôi mộ tập thể:
1.173 – số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
809 – số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3–7 năm 1969
428 – số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) – tháng 9 năm 1969
300 – số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969
100 – số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969
1.946 – mất tích (tính đến năm 1970)"
Theo soạn giả Matthew White ghi lại trong cuốn sách "Tàn khốc: 100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại" thì vụ thảm sát ở Huế năm 1968 được ông trích dẫn từ các nguồn khác nhau cho rằng đã có 2.800 người chết và 3.000 người mất tích

Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter viết:

"...tại địa điểm trường trung học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris [phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa."
 50 năm qua, rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chứng minh, khẳng định sự việc “thảm sát ở Huế năm 1968” là sản phẩm của sự dối trá, bịp bợm. Đáng chú ý, trong cuốn Kinh tế chính trị về nhân quyền Tập I, hai Giáo sư A.N Chomski (A.N Chôm-sky) và E.Herman (E.Héc-man) đã dành phần Thảm sát tại Huế năm 1968 để phân tích, chỉ rõ sự thật về sự kiện ngụy tạo nêu trên đã được cố tình dựng lên như thế nào. Báo Nhân Dân xin trích đăng nội dung này.
“Điều cơ bản liên quan chuyện hoang đường về cuộc thảm sát ở Huế là việc cho rằng, sau khi chiếm đóng thành phố trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968, theo kế hoạch được xác định trước và từ “sổ đen” ghi tên người làm việc cho chính phủ hoặc coi là “kẻ thù giai cấp”, Việt cộng đã bắt giữ và giết hại hàng nghìn người dân. Những tài liệu chủ yếu đẩy tới câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính quyền Sài Gòn đưa ra tháng 4-1968, một tài liệu được phái đoàn Mỹ phổ biến tháng 11-1969, một bản phân tích của D.Pike (D.Pi-cơ - sĩ quan tâm lý chiến làm việc tại Phòng Thông tin Mỹ - USIS) ra đời năm 1970. Hai báo cáo của chính quyền Sài Gòn và D.Pike gây ra nghi ngờ vì dựa trên nguồn tin, vai trò của chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng của vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn cả là các tài liệu này đã không được điều tra kỹ lưỡng.
... Mùa thu năm 1969, xuất hiện một “tài liệu lấy được” và đáng chú ý đây là tài liệu vốn đã có trong hồ sơ 19 tháng nhưng không được chú ý; tài liệu cho biết kẻ địch “tự nhận” trong chiến dịch ở Huế họ đã giết 2.748 người. Rồi tài liệu này trở thành nguồn thông tin chủ yếu để dựa vào đó, câu chuyện về thảm sát ở Huế được dựng lên. Nên nói thêm là vào lúc tài liệu được tiết lộ cho báo chí, tháng 11-1969, D.Pike đang có mặt ở Sài Gòn với nhiệm vụ tạo ra vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ E.Bunker (E.Băng-cơ). D.Pike nhận ra rằng, các phóng viên Mỹ rất thích tài liệu này cho nên ông đã cung cấp cho họ. Ông cũng biết không có phóng viên nào hiểu được tiếng Việt, vì thế các tài liệu được dịch, xây dựng lại sao cho phù hợp với yêu cầu về một vụ thảm sát.  
Ngoài “tài liệu lấy được”, vấn đề có tính thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Tuy nhiên, các bằng chứng này lại không đủ thuyết phục như những tài liệu được sắp xếp nêu trên. Một điều rất hệ trọng nữa là vấn đề số đông thường dân đã bị giết chết bởi các trận pháo kích bừa bãi của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam trong khi họ tiến công chiếm lại Huế. Như nhà nhiếp ảnh chiến trường D.D Duncan (D.D Đun-can) đã mô tả thì cuộc tái chiếm này là “nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát”. Nhà nhiếp ảnh P.J Griffiths (P.J Gơ-ri-phít) thì cho biết, hầu hết nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ” nhưng về sau lại được coi là “nạn nhân từ vụ thảm sát của Việt cộng”.
Đáng lưu ý là các phóng viên độc lập không được phép có mặt ở hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi có các hố chôn, dù đã nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một phóng viên nói chuyện với một lính thủy quân lục chiến từng có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên kể rằng, phóng viên được đến đó là người đáng tin cậy, được lựa chọn cẩn thận, các thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét dấu vết tại hiện trường chứng tỏ việc chôn lấp có sử dụng xe ủi đất (phương tiện mà phía Việt cộng không có). Có lẽ chỉ các bác sĩ phương Tây được xem xét các mồ chôn. Bác sĩ người Ca-na-đa, A.Vennema (A.Ven-ne-ma) cho biết, số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông xem xét là 68 người, hầu hết đã bị thương và mặc quân phục, nhưng được báo cáo lên tới 477 người, tức là đã bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn thổi phồng lên gấp bảy lần...
Có thể cũng có những trường hợp bị áp bức dồn nén, người thân bị giết hại, có những người sống dưới chính quyền ngụy khi tham gia hoạt động quản tù binh đã bộc phát trả thù cá nhân. Lợi dụng cá biệt này, bộ máy tuyên truyền của Ngụy cho khuếch trương coi đây như là chỉ đạo của cách mạng nhằm giết hại người tham gia chế độ Sài Gòn. 
Lịch sử đã lùi vào quá khứ. Trong chiến tranh bom đạn, chết chóc, đau thương  không thể tránh khỏi. Mậu Thân 1968 ở Huế là một bức tranh như thế. Chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan về hoàn cảnh chiến tranh cho đúng thực tế. Khép lại quá khứ để hướng đến tương lai, đừng vì hận thù, mặc cảm mà khơi lại vết thương. 
Theo thượng tướng Trần Văn Trà (trong bài viết “Tết Mậu Thân - Chiến công hiển hách” của ông) thì trận tổng công kích ấy “là một sự kiện lịch sử lớn, là một cái mốc chiến lược quan trọng của cuộc chiến tranh thần thánh (của nhân dân Việt Nam)”, nó thực sự hiển hách dù “Rất tiếc rằng những công tác chuẩn bị theo kế hoạch này không được liên tục tiến hành trong những năm, 1966-1967 theo yêu cầu thiết thân của chiến trường vì trên cho rằng hãy tập trung lo đánh Mỹ đã. Vì vậy, đến khi có Nghị quyết Bộ chính trị quyết định tổng công kích - tổng khởi nghĩa thì chiến trường như bị bất ngờ, vội vàng giở lại kế hoạch cũ và khẩn trương duyệt lại mọi mặt, tiếp tục hoàn thành một khối lượng công tác lớn lao trong vòng 3 tháng… Lực lượng Đảng lãnh đạo và tổ chức quần chúng nội thành còn yếu, Trung ương cục phải điều động từ các tỉnh đồng bằng để tăng cường trực tiếp những nơi quan trọng… Có một trục trặc “kỹ thuật” trong việc hợp đồng chiến lược: ở chiến trường Trị Thiên và khu 5 (bao gồm Tây Nguyên) đánh trước chiến trường B2 (gồm Nam Trung Bộ và Nam Bộ) 24 tiếng đồng hồ. Sở dĩ như vậy vì B2 theo âm lịch cũ… còn khu 5 và Trị Thiên được Trung ương trực tiếp chỉ đạo thì theo âm lịch mới tại Hà Nội đã tính toán lại cho đúng hơn… Với 24 tiếng đồng hồ ấy, địch đã kịp thời thông báo đi khắp nơi để phòng bị, chống lại cuộc tiến công… trọng điểm số 1 là thủ đô Sài Gòn của Ngụy, đáng lý được giành ưu tiên đã không còn hoàn toàn, và tất nhiên có gây thêm khó khăn cho người tiến công về mặt chiến thuật. Về hợp đồng chiến lược, trong toàn miền nổ súng trước sau một ít ngày vẫn là một cuộc hợp đồng tuyệt diệu. Chúng ta đã đưa cuộc chiến tranh vào khắp hậu phương địch, vào tận hang ổ đầu não của Mỹ - Ngụy”. Cũng theo Thượng tướng Trần Văn Trà, do “lực lượng đã bị tiêu hao không bổ sung kịp thời kể cả quân số lẫn đạn dược, Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền đã ra lệnh kết thúc thời kỳ Tổng công kích tổng khởi nghĩa mà không tổ chức đợt IV nữa”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt năm 1968; bắt đầu từ Tết Mậu Thân của quân dân miền Nam đã thu được chiến quả:
- Giết, làm bị thương và bắt sống 63000 tên địch (có hơn 23000 tên Mỹ và chư hầu), làm tan rã hàng chục vạn quân Ngụy.
- Bắn rơi, phá hủy, làm khoảng 6000 máy bay các loại.
- Phá hủy, làm hỏng 13500 xe quân sự (có hơn 7000 xe tăng và xe bọc thép).
- San bằng, bức rút, bức hàng hơn 1500 đồn bốt và chi thu quân sự.
- Giành quyền làm chủ hoàn toàn nhiều xã, ấp gồm hơn 2 triệu dân (riêng miền Tây lúc đó đã giành quyền làm chủ 88 xã và gần 2000 ấp và với 1,5 triệu dân).
Đặc biệt, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đó đã đánh gục hoàn toàn ý chí leo thang chiến tranh của chính quyền Giônsơn. Trong bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào miền Nam ngày 4-2-1968 có đoạn: “Thắng lợi đầu xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi. Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai.” 
Tổng thống Giônsơn “bị kinh ngạc vì cuộc tiến công Tết của địch và bối rối vì trận Khe Sanh”, đã “tỏ ra mệt mỏi và tư thế bắt đầu chao đảo” (Một quân nhân tường trình). Còn Oétmolen, trong nỗi ám ảnh về một Điện Biên Phủ ở Khe Sanh, lại choáng váng bởi đòn tổng tấn công bất ngờ Tết Mậu Thân của Việt Cộng, đã hốt hoảng, mất bình tĩnh tới mức đòi có ngay thêm 206.000 quân trong khi các lực lượng sẵn sàng tác chiến của Mỹ đã bị “vét tận đáy” và nông nổi tới mức đề nghị sử dụng cả bom nguyên tử chiến thuật là điều không thể thực hiện được trong cuộc chiến tranh mà quân lực hai bên xen kẽ nhau, không phân rõ trận tuyến, càng không thực hiện được về mặt chính trị. Thế là Giônsơn cay đắng cách chức luôn Oétmolen, xuống thang chiến tranh và sau đó rút lui khỏi chính trường Mỹ. Báo chí Mỹ, trước kia ca ngợi Oétmolen bao nhiêu thì lúc này lại chỉ trích bấy nhiêu, chê là “một người cầm quân hữu dũng vô mưu”, “làm cả một việc rất trái khoáy” là điều  động lính thủy đánh bộ chuyên tác chiến ở vùng đồng bằng ven biển “lên tận vùng núi rừng nhiệt đới, căng nọc ra ăn đạn pháo của quân đội Bắc Việt”. Báo chí Mỹ còn nhận xét mỉa mai, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ có một vị đại tướng “ngày 28-4-1967 vừa được Quốc hội Mỹ long trọng tuyên dương công trạng thì đến ngày 23-3-1968 đã bị cách chức tư lệnh chiến trường và phải ra điều trần trước Quốc hội”, đồng thời “một Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nước Mỹ phải “tự cách chức” giữa lúc chiến tranh đang tiếp diễn”.
Sau này, trong hồi ký của mình, Oétmolen tìm cách đổ vấy rằng vì Lầu Năm Góc và Nhà Trắng mà ông ta thua trận, và còn nói: “Tôi không có gì phải ân hận. Tôi là người mà ai cũng nhòm ngó. Cuộc chiến tranh đã làm mất lòng dân khá nhiều; không cần phải nói, rất nhiều điều của cuộc chiến đó được qui cho tôi. Là một người lính thì phải chuẩn bị đương đầu với sự gian khổ của chiến tranh. Ở cương vị tôi, tôi đã gánh lấy vết nhơ của nó”.
Tháng 1-1969, khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống Mỹ, Níchxơn (Nixon) đã có những lời lẽ hào nhoáng: “Tại đâu hòa bình còn mong manh, chúng ta sẽ làm cho hòa bình được củng cố. Tại đâu hòa bình chỉ tạm thời, chúng ta hãy làm cho hòa bình được vĩnh viễn!”. Nhưng đó thật ra chỉ là lời nói dối trơ tráo nhất của một con “diều hâu” khét tiếng chống cộng và đầy quỷ quyệt, có những thủ đoạn hết sức nhơ nhuốc, mà điển hình là vụ Oatơghết (đặt máy nghe trộm điện thoại đối với nhiều nhà báo và viên chức nhà nước; tổ chức lấy cắp tài liệu về kế hoạch vận động tranh cử của đối thủ; bị phát giác năm 1974).
Có lẽ cuộc tàn phá ghê sợ của không quân Mỹ ở Tôkiô và các thành phố lớn trên đất Nhật Bản bằng bom cháy và nhất là bằng 2 quả bom nguyên tử vẫn còn gây nỗi phấn khích trong tâm hồn và đồng thời cũng muốn bắt chước Aixenhao dọa dùng bom nguyên tử (đã đạt được hiệu quả) trong cuộc chiến Triều Tiên mà Níchxơn có lần đã nói với một người thân cận: “Tôi gọi nó là lý luận thằng điên… Tôi sẽ cho Bắc - Việt Nam thấy tôi có thể làm mọi thứ để kết thúc cuộc chiến tranh. Người ta sẽ rỉ vào tai Cộng sản: lạy chúa, đừng để ông ta cáu, ông ta đang nằm trên nút bấm nguyên tử… Thế là chỉ hai ngày sau, ông Hồ sẽ đến Pari thỉnh cầu hòa bình!”.
Với lối suy nghĩ ngạo mạn kiểu “anh chị găngxtơ” như thế nên từ khi Níchxơn lên cầm quyền, chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục kéo dài, thương lượng vẫn cứ dùng dằng mãi. Ở miền Nam - Việt Nam, Níchxơn chủ trương “Việt Nam hóa “ chiến tranh, nghĩa là tích cực xây dựng quân đội ngụy Sài Gòn ngày một mạnh lên để rút dần quân Mỹ, tích cực viện trợ phương tiện chiến tranh một cách dồi dào cho chính quyền Sài Gòn, mở lại cuộc đánh phá bằng không quân Mỹ ra Bắc - Việt Nam; bí mật đánh phá sang cả Camphuchia để truy quét Việt cộng (có sự thông đồng ngầm của quốc vương Sihanúc mà quốc hội Mỹ không hề hay biết!).
Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nixon gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Người Mỹ muốn gọi tiến trình đó là "Phi Mỹ hóa chiến tranh" nhưng phía Việt Nam Cộng hòa phản đối vì gọi như vậy chẳng khác gì thừa nhận rằng đây là cuộc chiến của người Mỹ. Cuối cùng hai bên đồng ý gọi việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam là Việt Nam hóa chiến tranh. Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tướng Nguyễn Cao Kỳ, thừa nhận có những đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu không tốt vì trước kia họ ỷ lại vào quân Mỹ quá lâu nhưng nếu để cho họ tự lực, họ sẽ phải chiến đấu vì sự tồn vong của họ.
        
Việt Nam hóa chiến tranh hay Đông Dương hóa chiến tranh là chiến lược của Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Richard Nixon trong Chiến tranh Việt Nam, được áp dụng từ ngày 8 tháng 6 năm 1969 trên toàn Đông Dương nhằm từng bước chuyển trách nhiệm chiến đấu cho Việt Nam Cộng hòa và Quân lực Việt Nam Cộng hòa để Mỹ rút dần quân về nước; nhưng vẫn giữ được miền Nam Việt Nam, và cả bán đảo Đông Dương trong tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
 
       Tại Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (1970). Từ trái sang phải: Các vị Xihanúc, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng, Xuphanuvông.   Hội nghị là cột mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tình đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Thành công của Hội nghị là làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đoàn kết giữa ba dân tộc của đế quốc Mỹ. Trên thực tế, liên minh chiến đấu Việt Nam, Lào, Campuchia đã hình thành và ngày càng được củng cố vững chắc. Đó là một thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta.    
                              
                             Lon Nol khi là tổng thống cộng hòa Khmer
 Trong khi Sihanouk ra nước ngoài công du vào tháng 3 năm 1970, thì tại Phnom Penh đã bùng nổ một cuộc bạo động chống lại Việt Nam. Ngày 12 tháng 3, Lon Nol và Sirik Matak hạ lệnh đóng cửa cảng Sihanoukville, nơi vận chuyển vũ khí lậu tới tay Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời ban hành tối hậu thư yêu cầu tất cả lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam phải rút khỏi đất Campuchia trong vòng 72 giờ hoặc phải đối mặt với hành động quân sự

Chiến dịch Lam Sơn 719 hay Cuộc Hành quân Hạ Lào (cách gọi của Việt Nam Cộng hòa) hay Chiến dịch đường 9 - Nam Lào (cách gọi của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam, do Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ. Mục tiêu của chiến dịch là phá vỡ hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (QGP) tại Lào và cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh tại thị trấn Tchepone (Xê-pôn) nằm cách biên giới Việt-Lào 42 km về phía Tây.

Chiến dịch này còn là một thử nghiệm về khả năng Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam, một thử nghiệm về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và năng lực hoạt động độc lập một cách hiệu quả của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Mùa Xuân năm 1971, quân và dân ta với sự phối hợp của quân và dân Lào anh em, bằng một đòn phản công chiến lược sắc sảo, đã bẻ gãy cuộc hành quân đầy tham vọng mang tên "Lam Sơn 719", làm nên một chiến thắng lẫy lừng. Chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào đã giáng một đòn chí mạng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam bước vào cuộc tiến công chiến lược năm 1972; đồng thời tạo đà đưa Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến toàn thắng.

                                 Bộ đội phối hợp với dân quân chống lầy cho xe tăng trên đường vào chiến dịch Ðường 9 - Nam Lào. Ảnh: Lương Nghĩa Dũng (TTXVN)

   Bộ đội phối hợp với dân quân chống lầy cho xe tăng trên đường vào chiến dịch Ðường 9 - Nam Lào. Ảnh: Lương Nghĩa Dũng (TTXVN)
                               
                                 Đòn giáng chí mạng vào chiến lược
 rong chiến dịch này, bộ đội ta chuẩn bị hỏa lực mạnh chưa từng có, ngoài phòng không thì pháo binh, xe tăng cũng rất mạnh. Ảnh: Lương Nghĩa Dũng (TTXVN)
     Từ sau khi Norodom Sihanouk bị lật đổ năm 1971, chính quyền Lon Nol thân Mỹ đã không cho lực lượng quân Giải phóng tiếp tục sử dụng cảng Sihanoukville để nhận hàng. Về mặt chiến thuật, đây là một đòn nặng đối với nỗ lực của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do 70% hàng quân sự cho miền cực nam đã được chuyển đến qua cảng này. Cú đòn tiếp theo vào hệ thống hậu cần đặt tại Campuchia đã được thực hiện vào mùa xuân và mùa hè năm 1970, khi quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa vượt qua biên giới và tấn công các khu căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trong chiến dịch Campuchia.
     Kể từ sau cuộc đảo chính ở Campuchia (ngày 18-3-1970), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương (BCH T.Ư) Ðảng nhận định, địch sẽ triển khai những bước phiêu lưu quân sự mới dọc theo hành lang Trung - Hạ Lào và Ðông Bắc Campuchia; đồng thời phán đoán địch sẽ đánh phá quyết liệt tuyến vận tải chiến lược 559 để ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền bắc, cô lập cách mạng miền nam. Ngay từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (QÐNDVN) đã bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo sát sao việc chuẩn bị chiến trường ở khu vực Ðường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm đó, Binh đoàn 70 được thành lập tại khu vực này. Do dự đoán đúng âm mưu, thủ đoạn của địch nên khi quân đội Sài Gòn tung lực lượng đánh ra khu vực Ðường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: Nhất thiết phải thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thấu triệt tinh thần đó, Quân ủy Trung ương đã quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Ðường 9 - Nam Lào, đồng thời chỉ thị cho toàn quân kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự này. Ngày 4-2-1971, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Mặt trận Ðường 9 - Nam Lào (gọi tắt là BTL 702).
 
                                
                                             Phía VNCH Hành quân bằng Thiết giáp M113
 
  Chiến dịch phản công Ðường 9 - Nam Lào là một chiến dịch có quy mô sử dụng lực lượng, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất cho đến thời điểm đó. Bộ Tổng Tư lệnh đã tập trung cho chiến dịch này một lực lượng hùng hậu với năm sư đoàn bộ binh: 308,304, 320, 324, 2 và một số đơn vị tại chỗ của B4, B5, Ðoàn 559; bốn trung đoàn pháo binh; bốn trung đoàn Cao xạ, ba trung đoàn Công binh, ba tiểu đoàn Tăng - Thiết giáp; một số tiểu đoàn đặc công…
     Tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải phóng trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Cũng có thể Quân Giải phóng hạn chế hoạt động để việc rút quân của Mỹ diễn ra nhanh hơn.
Tình hình miền Nam tương đối yên lặng trong các năm 1969–1971. Quân Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. Quân Giải phóng sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, được xem là vùng trung lập, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh mở Chiến dịch Campuchia để chấm dứt tình trạng đó.
Sự yên tĩnh trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức tiến hành bình định nông thôn. Rút kinh nghiệm từ năm 1968, lãnh đạo Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc chống lại cơ cấu đấu tranh chính trị của quân Giải phóng ở vùng nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Hoa Kỳ. Theo tuyên bố của Mỹ, trong thời kỳ này, chỉ riêng năm 1969, khoảng 6.000 người đã chết và 15.000 người bị thương bởi hoạt động của lực lượng du kích. Trong số những người thiệt mạng có 90 quan chức xã và xã trưởng, 240 quan chức ấp và ấp trưởng, 229 người tản cư và 4.350 thường dân. Với lý do "bảo vệ dân thường chống lại những hoạt động đe dọa và khủng bố của cộng sản", Chiến dịch Phượng hoàng với sự giúp đỡ của CIA, đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tính tới năm 1972, Hoa Kỳ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ quân Giải phóng, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết.
 
                                                     
                  Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa thuộc Tiểu đoàn 1 Cơ giới tại Mặt trận Đường 9 Nam Lào
 
Các nỗ lực của chiến dịch Phượng hoàng chủ yếu diễn ra bằng các biện pháp khủng bố, ám sát, thủ tiêu. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen được tình báo Mỹ huấn luyện và được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản, tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Những người cộng sản hoặc thân cộng sản nếu không tiện bắt thì ám sát. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Trong ngắn hạn, các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn rõ rệt cho phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên về dài hạn, những vụ xử tử, ám sát dân thường lại khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa càng bị người dân xa lánh, khiến chương trình bình định dần dần bị chặn lại.
Trong thời kỳ này, viện trợ của Hoa Kỳ dồi dào nên đời sống của dân chúng trong các thành phố lớn trở nên tốt hơn và nó làm cho dân nông thôn đổ về thành phố để kiếm sống dễ hơn. Tuy nhiên, viện trợ dồi dào khiến tình trạng tham nhũng trong chính quyền và quân đội lên cao. Trong quân đội rất phổ biến kiểu "lính ma": khai khống quân số đơn vị để sĩ quan lĩnh phần lương dôi ra nhưng thực tế không có quân chiến đấu. Đây là giai đoạn mà nạn tham nhũng hoành hành trong giới lãnh đạo quân đội Việt Nam Cộng hòa với những tai tiếng về buôn lậu, ăn cắp quân nhu và tiền viện trợ quân sự. Sau hàng loạt cuộc điều tra tham nhũng, mà đặc biệt là cuộc điều tra tại Quỹ tiết kiệm Quân đội do tướng Nguyễn Văn Hiếu thực hiện trong 5 tháng và được công bố trên truyền hình ngày 14/7/1972, hàng loạt sĩ quan, trong đó có 2 tướng lĩnh là Tổng trưởng Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ và Trung tướng Lê Văn Kim cùng với 7 đại tá bị cách chức. Quỹ tiết kiệm Quân đội bị buộc phải giải tán. Vì vụ án này, ông Hiếu đã làm mếch lòng các tướng lĩnh tham nhũng, tổng thống Thiệu cũng ra lệnh hạn chế điều tra khiến ông Hiếu nản lòng và xin chuyển sang công tác chỉ huy tác chiến. Nhiều người cũng cho rằng đây là lý do cái chết bí ẩn của tướng Hiếu vào tháng 4/1975.
Những điều trên đã gây ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bị nhiều người chỉ trích vì không thể kiểm soát nổi tình trạng tham nhũng và lạm quyền kinh tế. Tình trạng tham nhũng trong quân đội phổ biến đến nỗi các sĩ quan, binh lính còn đem cả quân trang quân dụng, vũ khí và lương thực bán cho Quân Giải phóng, và thậm chí "tặng" luôn cả xe tải cho "đối tác" sau mỗi lần giao dịch.
Một vấn đề lớn nữa của Việt Nam hóa chiến tranh là khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhất nhất theo các tiêu chuẩn Mỹ thì họ cũng quen kiểu đánh nhau tốn tiền như quân Mỹ, và sức chiến đấu của quân đội phụ thuộc lớn vào viện trợ của Mỹ. Viện trợ mà giảm thì ảnh hưởng rõ rệt đến sức chiến đấu của quân đội, điều này góp phần giải thích tại sao quân đội này mau chóng sụp đổ trong năm cuối cùng của cuộc chiến.
Sau khi quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thất bại trong việc đánh phá căn cứ của Quân Giải phóng tại biên giới Việt Nam - Campuchia, tiếp tế từ miền Bắc đã nối thông từ Lào đến Đông Bắc Campuchia và đổ vào các khu căn cứ Tây Ninh. Do đó, nếu không tiêu diệt được đầu não Quân Giải phóng đã ở sâu trong nội địa Campuchia thì phải tìm cách cắt tiếp tế từ Lào. Tháng 2 năm 1971, 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự yểm trợ của 10.000 lính Mỹ và không quân Hoa Kỳ, tiến hành chiến dịch Lam Sơn 719: đánh từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị cắt ngang sang Hạ Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. 
 
                                
                                   M41 Walker Bulldog, xe tăng chiến đấu chính của QLVNCH
 
 Bấy giờ theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, quân đội Sài Gòn đã có thêm 400.000 người sau lệnh tổng động viên 18 đến 38 tuổi (1968-1969), nâng tổng số quân lên 1.000.000 người (cuối năm 1970) và trong vòng trên dưới 3 năm, Mỹ chuyển giao cho quân Sài Gòn khoảng 1 triệu vũ khí cá nhân, 46.000 quân xa, 1.100 máy bay gồm cả trực thăng. Sau quá trình "chuyển giao" trên, Mỹ và Sài Gòn muốn chứng tỏ sự "trưởng thành của quân đội Việt Nam Cộng hòa" đã mở cuộc hành quân quy mô do binh lính Sài Gòn đảm nhiệm nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.

Lực lượng của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa trong cuộc hành quân này gồm có:

  • Quân lực Việt Nam Cộng hòa: tổng cộng khoảng 31 ngàn quân, bao gồm 10 ngàn quân hỗ trợ tuyến sau (quân y, vận tải, liên lạc), gồm:
    • 3 sư đoàn: Sư đoàn Dù (gồm 3 lữ đoàn 1,2,3), Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Sư đoàn 1 Bộ binh. Trong đó, Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được đánh giá là 2 sư đoàn thiện chiến nhất của Việt Nam Cộng hòa.
    • 3 lữ đoàn: Liên đoàn 1 Biệt động quân, trung đoàn 4 và trung đoàn 5 - sư đoàn bộ binh số 2
    • 4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: trung đoàn 17, 11, 7, 4 (trang bị xe tăng M-41)
    • 13 tiểu đoàn pháo binh

Như vậy những lực lượng mạnh nhất của QLVNCH đã tập trung tại đây (trừ lữ đoàn Biệt kích dù số 81 là đơn vị tổng trù bị chiến lược đang đóng ở Đông Nam Bộ).

  • Quân đội Mỹ: ban đầu có khoảng 10 ngàn quân, gồm:
    • 12 tiểu đoàn bộ binh: 5 tiểu đoàn thuộc sư đoàn dù 101, 4 tiểu đoàn lữ 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal
    • 8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ pháo từ 155 đến 203 mm)
    • 1.200 máy bay: 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 máy bay ném bom chiến lược B-52.

Trong quá trình chiến dịch, do tổn thất cao nên Mỹ tiếp tục bổ sung lực lượng. Khi cao nhất - ngày 10/3/1971, quân Mỹ đã tăng tổng số quân từ 9.000 dự kiến lên đến 15.000, điều động 5 tiểu đoàn thiết giáp (tăng hơn dự kiến 1 tiểu đoàn) và 4 tiểu đoàn pháo binh (tăng hơn dự kiến 1 tiểu đoàn) để hỗ trợ trực tiếp; điều động khẩn cấp 3 lữ đoàn bộ binh trong 2 ngày 23 và 24 tháng 2 năm 1971 từ Thừa Thiên ra vùng Quán Ngang, Mai Lộc, điểm cao 241, Khe Sanh (tức là Lữ đoàn 11 bộ binh Mỹ, 2 lữ đoàn dù thuộc Sư đoàn 101 dù Mỹ) và thêm 4 tiểu đoàn pháo binh (tăng hơn dự kiến 2 tiểu đoàn) để bảo vệ phía sau. Đây là không kể hơn 300 máy bay lên thẳng được điều thêm để phục vụ cho cơ động và vận chuyển lực lượng.

  • Ngoài ra còn có 2 binh đoàn Quân đội Hoàng gia Lào với khoảng 4.000 quân (thuộc 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33)

Theo Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổng lực lượng Mỹ-VNCH trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 21 tiểu đoàn pháo binh, trang bị gồm 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay các loại.

    Ngày 21-1-1971, khi Mỹ còn chưa mở cuộc hành quân thì các Sư đoàn Quân Giải phóng đóng ở Nam Lào nhận được lệnh: "Triển khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch đổ bộ trong khu vực từ Bản Đông đến Sê Pôn. Nhiệm vụ của Sư đoàn là diệt nhiều sinh lực địch, bắn rơi nhiều máy bay, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển chiến lược...". Ngày 31-1-1971, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận đường 9 Nam Lào: "Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh". Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này".
   Đầu tháng 2 năm 1971, 17.000 quân (sau tăng lên 21.000) VNCH vượt biên giới với Lào đi theo đường 9 và hướng về trung tâm hậu cần của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Tchepone (Xê-pôn). Chiến dịch Lam Sơn 719, cuộc tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh và cuộc thử nghiệm lớn chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đã bắt đầu.
 
                                
Tại cứ điểm 31, binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH   
 
     Phương pháp mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chọn để đánh bại cuộc xâm lấn là: Trước hết, pháo phòng không được sử dụng để cô lập các căn cứ hỏa lực ở phía bắc. Các vị trí vòng ngoài sẽ bị giã suốt ngày đêm bằng pháo, tên lửa, và súng cối. Tuy các căn cứ hỏa lực của QLVNCH được trang bị pháo, nhưng các khẩu pháo của họ thường dưới tầm các khẩu pháo Liên Xô cỡ 122 mm và 130 mm của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, việc hỗ trợ của không quân thì không hiệu quả do Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ngụy trang kỹ các trận địa pháo. Do vậy các khẩu pháo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam này chỉ cần đứng một chỗ và nã đạn vào các vị trí này. Vành phòng thủ mà đáng ra đã có thể được thiết lập bằng cách sử dụng B-52 chiến thuật đã bị vô hiệu hóa bởi các chiến thuật đánh gần của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tiếp theo, các cuộc tấn công tập trung bằng bộ binh với yểm trợ bằng pháo và tăng sẽ kết thúc việc đánh chiếm.
    Chiến dịch Ðường 9 - Nam Lào diễn ra trên một khu vực có chiều rộng gần 60 km, chiều dài gần 100 km chạy dọc theo Ðường 9 kéo dài từ Ðông Hà (Quảng Trị) cho đến Sê-pôn (Lào), trong đó khu vực tác chiến tập trung chủ yếu từ Bản Ðông đến Lao Bảo. Trải qua hơn 50 ngày đêm liên tục tiến công quân địch (từ ngày 31-1 đến 23-3), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 20 nghìn quân địch, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo..., bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí và thiết bị chiến tranh khác.
      Kết quả cuộc hành quân bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng bị tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cuộc hành quân còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho tàng hậu cần nhưng về cơ bản đã không làm hại gì được cho hệ thống tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Quân Giải phóng miền Nam. Tướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, nhận định quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đánh vào điểm mạnh nhất của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam. Theo tướng Alexander Haig, lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, đó là một thảm họa do đánh giá sai lầm đối phương. Vào thời điểm đó quá trình Việt Nam hóa chiến tranh đang diễn ra thuận lợi nên người Mỹ ép Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải ra trận để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh mà thiếu sự yểm trợ không quân của Hoa Kỳ. Người Mỹ "đã ném Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuống nước lạnh và họ đã chết chìm ở đó". Đáng lẽ phải khắc phục sai lầm thì người Mỹ tiếp tục rút quân do sức ép chính trị mà Tổng thống Nixon chịu đựng quá lớn.
      Sau các cuộc hành quân bất thành của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh vào Campuchia và Hạ Lào, đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã hồi phục sau Mậu Thân và lại tung ra một đợt tổng tiến công lớn nữa.
      Tháng 3 năm 1972 quân Giải phóng đã tung ra một cuộc tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa xuân năm 1972. Đây là đòn đánh để kết hợp với nỗ lực ngoại giao, nhằm làm thoái chí Hoa Kỳ, buộc họ rút hẳn ra khỏi cuộc chiến. Tuy rằng tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực Quân Giải phóng đã kiểm soát vững chắc.
       Đây là cuộc tiến công chiến lược gồm các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa trên ba hướng chiến lược quan trọng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Trong suốt quá trình diễn ra cuộc chiến tranh, chưa bao giờ quân Giải phóng lại phát động một cuộc tiến công ồ ạt dưới sự hỗ trợ của các lực lượng được trang bị tốt đến như vậy, cuộc tiến công này mạnh hơn bất cứ những gì mà Việt Nam Cộng hòa có thể tập trung lại được vào mùa xuân năm 1972.
 
                                  
                            Binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được căn cứ Lolo
 
 Cuộc tấn công năm 1972 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã không nhận được sự ủng hộ từ 2 đồng minh chủ chốt là Trung Quốc và Liên Xô do 2 quốc gia chỉ mong muốn kết thúc nhanh 1 thỏa ước hòa bình với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tại Paris. Liên Xô đã cắt giảm viện trợ, còn Trung Quốc thì thậm chí còn gây sức ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để buộc họ ngừng chiến đấu. Tuy thế các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn quyết tâm khởi động một chiến dịch quy mô nhằm đánh bại triệt để Việt Nam hóa chiến tranh, giành lợi thế trên bàn đàm phán ở Paris.
     Trong 2 tháng đầu, quân Giải phóng liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ phải gấp rút điều động lực lượng không quân và hải quân tới chi viện để ngăn đà tiến của quân Giải phóng, đồng thời viện trợ khẩn cấp nhiều vũ khí cho Việt Nam Cộng hòa để bổ sung cho thiệt hại trước đó.
Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh, chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum.
     Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, Quân Giải phóng tiến công theo đường 13 để đánh chiếm thị xã An Lộc trong trận An Lộc, dùng xe tăng và pháo binh tấn công dữ dội. Quân lực Việt Nam Cộng hòa quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B-52 đánh phá ác liệt các khu vực tập kết của Quân Giải phóng và gây thiệt hại lớn. Chiến trận xảy ra rất dữ dội tại thị xã, thương vong của hai bên và của dân chúng rất cao. Cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy nổi thị xã phải rút đi và sau 3 tháng chiến sự đi vào ổn định. Lần đầu tiên tại vùng Đông Nam Bộ, xe tăng T-54 và PT-76 của Quân Giải phóng đã xuất hiện, cho thấy hệ thống tiếp tế của Quân Giải phóng đã hoàn chỉnh vì đã có thể đưa được xe tăng vào đến tận chiến trường phía nam.
 
                                             
     Đặc công Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phá nổ kho đạn tại Khe Sanh, 23 tháng 3 năm 1971
 
Nửa thế kỷ đã trôi qua, cho dù tiếp cận từ lập trường, quan điểm chính trị nào đi chăng nữa thì cũng phải thừa nhận một sự thật khách quan, đó là Chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào 1971 đã tạo ra một trong những bước ngoặt quan trọng trong so sánh tương quan lực lượng và thế chiến lược trên chiến trường có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ của Việt Nam, mà cả ba nước Ðông Dương. Chiến thắng này cũng cho thấy bước phát triển về tổ chức và nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giá trị của chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào đã vượt ra ngoài khuôn khổ chiến thắng của một chiến dịch, và trở thành dấu mốc cho bước hồi phục lực lượng và phát triển về trình độ tác chiến của quân đội ta, kể từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, mở ra khả năng tổ chức những trận đánh lớn trên chiến trường miền nam.

Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, Quân Giải phóng đã chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
Đến lúc đó, việc giữ vững vùng chiếm được và tái chiếm vùng đã mất tại Quảng Trị đã thành vấn đề chính trị thể hiện ý chí và bản lĩnh của cả hai bên và là thế mạnh để đàm phán tại Hội nghị Paris. Hoa Kỳ để tỏ rõ ý chí của mình bằng cách từ ngày 16 tháng 4 năm 1972 ném bom trở lại miền Bắc với cường độ rất ác liệt: dùng máy bay B-52 rải thảm bom xuống Hải Phòng, đem hải quân thả thủy lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.
Tại chiến trường Quảng Trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đem hết quân dự bị ra quyết tái chiếm thị xã Quảng Trị với sự hỗ trợ tối đa bằng máy bay B-52 của Hoa Kỳ. Quân Giải phóng quyết tâm giữ vững khu vực thành cổ Quảng Trị của thị xã. Chiến sự cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp một mẩu đất rất nhỏ không dân đã bị tàn phá hoàn toàn. Sau gần 3 tháng đánh nhau quyết liệt, Quân Giải phóng không giữ nổi và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chiếm được thành cổ và thị xã Quảng Trị. Nhưng, dù có hỗ trợ của không quân Mỹ, Việt Nam Cộng hòa không thể tái chiếm thị xã Đông Hà và các vùng đã mất khác.
Sau chiến dịch, Quân Giải phóng nắm giữ thêm 10% lãnh thổ miền Nam, có thêm các bàn đạp quân sự, và thị xã quan trọng Lộc Ninh đã trở thành thủ đô mới của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Đến cuối năm 1972, chiến trường đi đến bình ổn vì hai bên đã kiệt sức không thể phát triển chiến sự được nữa.
Mặc dù chiến dịch không đem đến lợi thế rõ rệt về quân sự nhưng đã làm xã hội Hoa Kỳ quá mệt mỏi. Dư luận Mỹ và thế giới thúc ép chính quyền phải đạt được một nền hòa bình bằng thương lượng theo đúng cam kết giải quyết chiến tranh trong nhiệm kỳ tổng thống của họ. Đến cuối năm 1972, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đạt được thỏa hiệp cơ bản những ý chính của Hiệp định Paris, và đầu năm 1973, Hoa Kỳ rút hẳn quân viễn chinh khỏi cuộc chiến, chỉ để lại cố vấn quân sự.

                                    THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ - KÍ ỨC VỌNG VỀ

                                 
                                                           Thành cổ Quảng Trị ngày nay
Số bom đạn trút xuống Thành cổ trong 81 ngày đêm lên tới 328 nghìn tấn, tương đương sức mạnh của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945.

                                 
Có những thời điểm, quân địch bắn tới 5.000 quả đạn, phá tan những bức tường dày tới 12m của Thành cổ. Người ta ước tính, tại Quảng Trị, một chiến sĩ ta phải hứng chịu 100 quả bom và 200 quả đạn pháo mỗi ngày.


Những nụ cười vô tư, tươi tắn - điều không tưởng nhưng luôn hiện hữu trên khuôn mặt của các chiến sĩ trẻ.

Đứng trước sức mạnh vượt trội hoàn toàn của kẻ địch, những người lính cụ Hồ vẫn luôn dũng cảm chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất quê hương. Họ phần lớn là các chàng trai trẻ tuổi đôi mươi, nhưng tất cả đều quyết hy sinh mà không chịu đầu hàng. 

 

Ngay trong nghịch cảnh, phẩm chất và vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng vẫn được bộc lộ một cách tối đa. Đây là bức hình thể hiện sự lạc quan yêu đời của người lính trẻ - giữa bom rơi đạn lạc, các anh vẫn cắt tóc cho nhau. 

  
Để đáp ứng nhu cầu phục vụ chiến đấu, Đại đội 1, tiểu đoàn 25 vận tải, sư đoàn 320B đã lĩnh nhiệm vụ vận chuyển nhu yếu phẩm và đạn dược từ bên ngoài vào Thành cổ, bất chấp sức ném bom khủng khiếp của địch. Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhưng cái giá phải trả là sự ra đi mãi mãi của 1/3 đại đội.


Các chiến sĩ quân giải phóng nhận những suất cơm trưa được vận chuyển dưới làn mưa bom bão đạn của quân địch.


Hình ảnh hai cha con người dân địa phương không quản ngại gian lao đưa các chiến sĩ vào Thành cổ chiến đấu. 

Những cựu chiến binh sau này từng kể lại, khi bộ đội xin giúp đỡ, người vùng này ai cũng tự nguyện hiến tặng: từ máy xát gạo, thuyền đánh cá cho tới máy bơm, các thùng nhiên liệu. Nhiều người còn nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó...”.


 

Với tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân, các chiến sĩ quân giải phóng đã bảo vệ kiên cường từng tấc đất trong Thành cổ. Đây là tấm hình chụp lại niềm vui vô bờ bến của những người lính trẻ khi chiếm được một cứ điểm của địch ở Thành cổ.

 
Cuối cùng, sau 81 ngày đêm, quân giải phóng đã bảo vệ thành công tòa Thành cổ, đẩy lui đội quân xâm lược hơn 5 vạn người với vũ khí hiện đại vượt trội. 
Quan trọng hơn, chiến thắng ở Quảng Trị đã phá tan âm mưu gây sức ép cho ta trên bàn đàm phán ở Paris của địch. Song, để có được chiến thắng cuối cùng, khoảng 18.000 người con yêu nước đã ngã xuống vĩnh viễn.
                                                                                             
                                    Một trận chiến bên trong thành cổ Quảng Trị, năm 1972. (Ảnh: Đoàn Công Tính)
Một trận chiến bên trong thành cổ Quảng Trị, năm 1972. (Ảnh: Đoàn Công Tính)
thanh-co-quang-tri-5-286.jpg 
Lính thành cổ Quảng Trị 1972.
                                    
  thanh-co-quang-tri-6.jpg 
Bộ đội anh dũng chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị.
thanh-co-quang-tri-7.jpg 
Trận chiến ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị.
ttxvn-thanh-co-quang-tri-6220526.jpg 

Các chiến sỹ giải phóng sau một trận đánh tại Thành cổ Quảng Trị. (Ảnh: TTXVN) .

                                  Giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ năm ...

Các chiến sĩ giải phóng dũng cảm đánh phá đồn địch trên điểm cao 365 (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)_Ảnh: TTXVN  

Cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai để cứu nước kết thúc bằng một chiến dịch tổng tiến công thắng lợi tuyệt đẹp. Lần dở lại lịch sử Dân Tộc, chúng ta thấy cuộc tổng tiến công ấy hiện lên như một cơn sóng thần cuồng nộ vô địch, cuốn trôi hết bè lũ cướp nước và bán nước ra biển Đông một cách chớp nhoáng theo đúng nghĩa đen, tạc vào sử xanh đến ngàn thu như một kiệt tác ca khúc khải hoàn của Dân Tộc.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh giải phóng đất nước trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên xây dựng đất nước hùng cường trong độc lập, thống nhất và tự do. Thắng lợi đó là sản phẩm tổng hợp của nhiều nguyên nhân trong đó có vai trò quan trọng của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng này. 

Ngày 27-1-1973, mặc dù Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết, nhưng trên thực tế đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược đối với Việt Nam. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (1973) đã khẳng định: Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng; tư tưởng chỉ đạo vẫn là nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công; phương hướng chiến lược của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là “ta phải mạnh trên cả ba mặt trận để thắng địch, buộc địch thi hành Hiệp định, đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn”. Sau Hội nghị, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh khởi thảo kế hoạch chiến lược trình Bộ Chính trị, tháng 4-1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định thành lập “Tổ trung tâm”, gồm đồng chí Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến; Võ Quang Hồ và Lê Hữu Đức - Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, do đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp phụ trách. Sau những cuộc trao đổi, thảo luận, bản dự thảo kế hoạch chiến lược được “Tổ trung tâm” chỉnh lý, bổ sung lần thứ năm với tên gọi "Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam sau vài ba lần thay đổi so sánh lực lượng", mang bí số 133/TG1, hoàn thành ngày 16-5-1974. Tiếp đó, ngày 18-7-1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc với “Tổ trung tâm”, chỉ đạo xây dựng kế hoạch cơ bản thành hai bước: Bước một, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định, làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường; bước hai, tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Căn cứ vào thực tế chiến trường, ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính trị, đặc biệt là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và lắng nghe ý kiến của các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội, “Tổ trung tâm” tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh bản đề cương kế hoạch chiến lược. Bản đề cương này hoàn thành vào ngày 26-8-1974, mang tên "Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam".

Ngày 30-9-1974, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị thảo luận tình hình miền Nam và bản dự thảo kế hoạch chiến lược do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị. Hội nghị dành 2 ngày đầu để nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày tình hình miền Nam và kế hoạch tác chiến chiến lược. Tiếp đó, đồng chí Lê Trọng Tấn báo cáo Dự thảo kế hoạch chiến lược quyết tâm hoàn thành sự nghiệp giải phóng trong hai năm 1975 – 1976; trong đó, tập trung vào kế hoạch chiến lược năm 1975. Ngày 8-10-1974, phát biểu kết thúc phiên họp lần thứ nhất, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn… Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”. Trên cương vị là Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định quyết tâm: Toàn quân sẽ kiên quyết thực hiện bằng được nhiệm vụ lịch sử mà đồng chí Bí thư thứ Nhất thay mặt Đảng trao cho quân đội.

Nắm bắt và thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc bước vào giai đoạn chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô rộng lớn hơn, nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến hết sức mau lẹ.  Quân địch ở Đông Nam Bộ tuy số lượng đông, nhưng bị căng kéo, kìm giữ khắp nơi. Trước tình hình đó, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm bàn đạp tiến công Sài Gòn.

Ngày 10-8, Fo (Gerald R. Ford) lên làm tổng thống Mỹ, có nói: “Những cam kết hiện tại nào Hoa Kỳ đã đưa ra trước đây mà còn giá trị, thì chính quyền của tôi sẽ hoàn toàn tôn trọng”. Nhưng thời thế đã đổi thay. Tháng 11-1974, trong cuộc bầu cử Quốc hội, phe Dân chủ thắng lớn, giành được 34 ghế Hạ viện và 3 ghế Thượng viện. Kết quả này giúp cho Đảng Dân chủ trở thành đa số áp đảo với tỷ lệ 291 - 144 tại Hạ viện và 61 - 39 tại Thượng viện. Người Mỹ đã quá chán ghét cuộc chiến tranh Việt Nam, sẵn sàng từ bỏ nó và cố quên đi càng sớm càng tốt cái chương nhớp nhúa và hổ thẹn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
                                                       Tiến công Phước Long.
Tình hình đó trong nội bộ nước Mỹ đã dẫn tới trận đánh Phước Long như là một hành động thăm dò của Bắc - Việt Nam đối với phản ứng của Mỹ. Trận đánh mở màn ngày 13-12-1974. Thị xã Phước Long bị thất thủ gần như ngay từ đầu. Ngày 7-1, toàn bộ tỉnh Phước Long đã do quân Giải phóng kiểm soát. Đại tá Xămmơ (Harry Summers) đã nhận xét ngắn gọn về ý nghĩa trận đánh này như sau: “Trận đánh nhỏ ít được biết đến ở Phước Long là một trong những trận đánh mang tính chất quyết định nhất, vì nó đánh dấu việc Mỹ từ bỏ đồng minh cũ của mình… trước sự vi phạm trắng trợn Hiệp định Pari, và nó được thiết kế một cách có tính toán kỹ lưỡng để vi phạm trắng trợn như vậy rõ ràng là nhằm thăm dò thái độ của Mỹ. Tổng thống Fo giới hạn một cách nhu nhược sự phản ứng của mình chỉ trong một công hàm ngoại giao. Miền Bắc - Việt Nam đã được bật đèn xanh cho việc chinh phục miền Nam - Việt Nam”.
 
Quân đội SG phòng thủ ở đâu?!
 
Trên thực tế, Hà Nội nhận được các tin tình báo nói rằng tàu sân bay Intơprai (USS Enterprise) của Mỹ và các lực lượng hộ tống đã rời Philippin tiến gần tới Việt Nam và sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ ở Ôkinaoa đã được đặt trong tình trạng báo động. Có một số hoạt động tại căn cứ hải quân Mỹ ở vịnh Subic (Philippin) có thể là dấu hiệu người Mỹ quay trở lại. Sau này vị tình báo chiến lược, hoạt động đơn tuyến của Bắc - Việt Nam là Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Tôi đã nói rằng người Mỹ sẽ không đánh đâu. Mặc dù người Mỹ có một vài hành động, nhưng đó là những hành động trống rỗng. Tôi đã báo cáo với Hà Nội rằng người Mỹ sẽ không bao giờ trở lại nữa, thế nhưng vẫn có những hoài nghi. Hà Nội lại cho thử một trận đánh nữa ở Buôn Mê Thuột để xem người Mỹ có can thiệp hay không. Chỉ đến khi đó, Hà Nội mới tin điều tôi nói là đúng…”.
Trong lúc Chiến dịch Đường 14 - Phước Long được triển khai và đang trên đà thắng lợi, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp đợt hai tại “Nhà con rồng” Bộ Quốc phòng, quyết định: Chọn hướng tiến công chính Tây Nguyên, mục tiêu then chốt là Buôn Ma Thuột để mở màn cho cuộc tiến công chiến lược năm 1975.
Sự lựa chọn này xuất phát từ phương châm tác chiến của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đó là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chỗ yếu trước, đánh chỗ mạnh sau. Mưu kế của Đại tướng là bày ra một hình thế giàn trận chiến lược - bày binh bố trận nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để tạo thế phá vỡ Tây Nguyên. Tiếp đó, Đại tướng cùng với lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã quyết định đưa Quân đoàn 4 vào Bắc Đồng Nai, Quân đoàn 2 vào Huế. Hai quân đoàn này đóng ở các địa bàn này đã buộc địch phải đưa Sư đoàn lính dù và Sư đoàn lính thủy đánh bộ - tổng dự bị chiến lược ra để giữ hai khu vực chiến lược quan trọng là Huế và Sài Gòn, có như vậy địch mới để sơ hở Tây Nguyên.

So với toàn bộ chiến trường miền Nam lúc bấy giờ, Tây Nguyên là nơi địch yếu hơn cả. Nhưng Tây Nguyên chỉ thực sự yếu khi bị cô lập với các chiến trường khác. Bởi vậy, việc kìm giữ các sư đoàn cơ động tổng dự bị chiến lược của địch là một bộ phận hợp thành quan trọng trong việc cài thế của ta. Hơn nữa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn Tây Nguyên làm mục tiêu chủ yếu, vì đây vừa có núi, vừa có cao nguyên, lại nằm trên đường chiến lược Hồ Chí  Minh. Ở Tây Nguyên, Đại tướng chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá vì Plâycu và Kon Tum địch còn tương đối mạnh và thường xuyên phòng bị; ngược lại, Buôn Ma Thuột địch sơ hở và ít quân, chủ yếu là hậu cứ. Điểm trúng “huyệt” đó, toàn bộ Tây Nguyên và ven biển miền Nam Trung Bộ sẽ bị rung chuyển, phá thế bố phòng của địch. Ngoài ra, để tạo cho Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột mọi điều kiện thuận lợi giành chiến thắng một cách chắc chắn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tăng cho Tây Nguyên 2 sư đoàn, đưa tổng quân số ở đây lên tới 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, lại có sự phối hợp của Sư đoàn 3 Sao vàng Quân khu 5 và sự hỗ trợ của Đoàn 559. Đến đây, Tây Nguyên trở thành một quân đoàn mạnh.

Ngày 4-3-1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. Ngày 10-3-1975, quân ta tiến công và giải phóng Buôn Ma Thuột. Sáng ngày 16-3-1975, địch ở Tây Nguyên rút chạy. Chiến thắng Buôn Ma Thuột và chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi không những tăng cường thế và lực cho ta mà còn xuất hiện thời cơ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân tích tình hình: “Điểm trúng huyệt chí tử của địch ở Buôn Ma Thuột gây cho địch chấn động về chiến lược, buộc địch bỏ Tây Nguyên thì phải nhanh chóng đánh Huế và Đà Nẵng. Nếu ở đấy chúng phải rút lui chiến lược thì phải cấp tốc đánh thẳng vào Sài Gòn”.

Cuộc rút lui chiến lược của VNCH khỏi Tây Nguyên sau này còn được gọi là "thảm kịch đường số 7". Chúng ta sẽ kể chút ít về nó:

Ngày 11.3.1975, ngay khi Ban Mê Thuột (BMT) thất thủ, đồng thời trước sức ép của Quân giải phóng (QGP) tại các mặt trận khác dội về, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đã triệu tập Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng Văn Quang đến Phủ đầu rồng để bàn về việc tái phối trí lại lực lượng. Tại cuộc họp này, dường như đã tiên đoán được những khó khăn to lớn mà Việt Nam công hòa (VNCH) đang phải đương đầu, Nguyễn Văn Thiệu thông báo quyết định: "Với khả năng và lực lượng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng".

Ngày 14.3.1975, trước khả năng phản kích giành lại Buôn Mê Thuột (BMT) đã gần như tan thành mây khói, TT Nguyễn Văn Thiệu cùng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH và trung tướng Trần Văn Quang - Cố vấn an ninh quốc gia đã bay ra Cam Ranh. Tại đây họ đã nghe Thiếu tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Tư lệnh Quân đoàn 2 phúc trình về tình hình chiến sự tại Quân khu 2. 

Trong cuộc họp, Thiếu tướng Phạm Văn Phú báo cáo tổng quát diễn biến chiến sự tại Tây Nguyên những ngày trước đó. Để có thể khôi phục và giữ được cao nguyên, tướng Phú thỉnh cầu xin thêm máy bay cho Sư đoàn 6 không quân, bổ sung quân số bị tổn thất, tăng viện từ 1 đến 2 lữ đoàn dù để phòng giữ Kon Tum, Pleiku và sau đó dùng để phản kích chiếm lại các vùng đã mất. Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận đề nghị của tướng Phú. Ông ta tuyên bố: "Không! Không thể có quân tăng viện, không có quân bổ sung. Quân viện bị cúp, đạn và tiền đều thiếu. Chúng ta đang bị tấn công mạnh ở khắp mọi nơi chứ không riêng ở QK2. Địch đánh mạnh hơn năm 1968, hơn cả năm 1972. Kon Tum, Plây Cu người ít, kinh tế không có, để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, ở đấy điều kiện tiếp tế thuận lợi hơn".

Kết luận lại, TT Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Phạm Văn Phú tổ chức rút quân về đồng bằng, tái phối trí lại lực lượng với yêu cầu cố gắng bảo toàn đến mức cao nhất các lực lượng chủ lực của quân đoàn.

Về hướng rút quân, Đại tướng Cao Văn Viên lưu ý về những nguy hiểm khó lường khi rút theo đường 19, ông ta nhắc lại thảm họa đã xảy ra đối với Binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp trên đường 19 năm 1954.

                        Hàng trăm xe quân sự của địch cùng xe dân sự ùn tắc trên đường 7.

                    Hàng trăm xe quân sự của địch cùng xe dân sự ùn tắc trên đường 7.

Sau khi thảo luận nhiều lần về việc chọn đường rút quân, Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh đã quyết định rút theo đường số 7 (ngày nay là QL 25) vì họ cho rằng, con đường đó tuy xấu nhưng gây được bất ngờ cho đối phương. Theo tính toán của các tướng lĩnh VNCH, các đơn vị Quân giải phóng đang tập trung vây đánh trung đoàn 53, căn cứ B50 ở Buôn Ma Thuột và lo đối phó với cuộc phản kích của sư đoàn 23 tại Phước An nên phải mất ba đến năm ngày mới có thể điều quân đến do đường sá rất xấu, cơ động khó khăn. Còn Sư đoàn 968 nếu có đuổi theo cũng phải hành quân bộ, đánh vuốt đuôi và sẽ bị Liên đoàn 25 Biệt động quân (BĐQ) cản hậu chặn đánh. Thời gian đó đủ để phần lớn lực lượng Quân đoàn 2 VNCH về được Tuy Hòa. 

13 giờ chiều 15 tháng 3, cuộc di tản của Quân đoàn 2 VNCH chính thức bắt đầu trong sự cập rập, vội vã. Thiết đoàn 19 và Liên đoàn 6 BĐQ mở đường từ Pleiku đi Phú Túc. Tiếp đó là bộ phận còn lại của Bộ tư lệnh Quân đoàn II, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, các đơn vị bộ binh, hậu cần, kỹ thuật...Trong hai ngày đầu cuộc di tản diễn ra đúng theo kế hoạch. Sáng 16 tháng 3, khi đội thiết giáp đi đầu trong đoàn xe quân sự dài đến hơn 2.000 chiếc đã đến Cheo Reo (bây giờ là TX Ayun Pa) an toàn và bắt đầu di chuyển xuống Củng Sơn thì toán cuối của đoàn xe này mới ra khỏi thị xã Pleiku.

Tuy nhiên, có ba vấn đề mà các tướng lĩnh QLVNCH không lường tính hết. Đó là: số lượng người, phương tiện tham gia vào cuộc "rút lui chiến lược", chất lượng đường số 7 và phản ứng của phía Quân giải phóng. 

Khi tin rút bỏ Cao Nguyên lan rộng, các sĩ quan, binh sĩ VNCH cùng các công chức hệ thống chính quyền địa phương hai tỉnh Kon Tum, Pleiku đã lập tức bỏ đơn vị, bỏ nhiệm sở để lo cho gia đình "di tản". Vì vậy, mỗi quân nhân phải kèm thêm vài người dân, trong đó có rất nhiều người già, trẻ em đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chiến đấu khi có tình huống xảy ra. Bên cạnh đó, số phương tiện của dân sự đi theo đoàn quân "rút lui chiến lược" đó cũng rất đông đảo. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự đã có khoảng hơn 2000 phương tiện giao thông dân sự đã tham gia vào cuộc rút quân "vĩ đại" này và gây rất nhiều khó khăn cho quá trình điều phối hành quân. Về con đường số 7 vốn là một con đường bỏ hoang từ lâu không được duy tu, bảo dưỡng. Vì vậy, đường hẹp, chất lượng mặt đường xấu, đặc biệt các cây cầu trên con đường này đều nhỏ, hẹp và có trọng tải nhỏ. Trong khi đó, năng lực của công binh Quân đoàn 2 VNCH rất hạn chế. Đối với Quân giải phóng, kế hoạch rút quân của Quân đoàn 2 VNCH khỏi Tây Nguyên là không quá bất ngờ. Khi vạch kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên họ đã tính đến khả năng này. Bất ngờ duy nhất mà Nguyễn Văn Thiệu và Phạm Văn Phú tạo ra được là cuộc di tản này được tiến hành quá nhanh.

Đến chiều 15 tháng 3, khi cánh quân đi đầu của thiết đoàn 19 đã qua Cheo Reo, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây nguyên mới được tin quân VNCH bắt đầu rút khỏi Pleiku và Kon Tum. Quyết không để Quân đoàn 2 VNCH bảo toàn được nguyên vẹn lực lượng về tới đồng bằng ven biển, một kế hoạch chặn đánh và truy kích lập tức được hình thành. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định sử dụng toàn bộ Sư đoàn BB 320, Tiểu đoàn xe tăng 2 (Trung đoàn 273), Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn cao xạ 593 và hai Tiểu đoàn quân địa phương ở Phú Yên vào trận đánh này. 

20 giờ tối 16. 3, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 (Sư đoàn BB 320) được lệnh hành quân cắt rừng suốt đêm với nhiệm vụ lập một chốt chặn ở phía Nam thị xã Cheo Reo để chặn đứng cuộc rút lui của đối phương. Theo sát họ là đội hình chính của Trung đoàn 64 hành quân trên 110 xe ô tô các loại được huy động cùng các lực lượng khác. Sáng 17 tháng 3, tốp xe tăng, thiết giáp đi đầu của Thiết đoàn 19 và Liên đoàn 6 Biệt động quân VNCH đã chạm súng với Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 QGP tại đèo Tuna, cách Cheo Reo 4 km về Đông và bị chặn lại ở đây. Đoàn xe di tản khổng lồ ứ lại tại Cheo Reo.

Sáng 18 tháng 3, toàn bộ Trung đoàn 64 (Sư đoàn BB 320) đã triển khai xong các chốt chặn tiếp theo phía hạ lưu đèo Tuna. Trung đoàn 48 (thiếu) của sư đoàn này và Trung đoàn 9 (Sư đoàn BB 968) đã bao vây Cheo Reo từ ba mặt. Trưa ngày 18, Chuẩn tướng Phạm Văn Tất điều Liên đoàn 25 BĐQ đang làm nhiệm vụ cản hậu vượt lên trước cùng với Lữ đoàn 2 Thiết kỵ mở cuộc công kích cuối cùng để mở đường. Cũng thời điểm đó, các đơn vị pháo binh của trung đoàn 675 bắt đầu pháo kích các vị trí đóng quân tạm thời của VNCH trong thị xã Cheo Reo và 3 trung đoàn bộ binh Quân giải phóng bắt đầu tấn công.Mặc dù đã bị Sư đoàn 320 chặn đánh tơi tả ở Cheo Reo, gần một vạn binh lính, sĩ quan địch thương vong, trên 500 xe quân sự phá hỏng, nhưng trưa 19/3/1975, hơn hai vạn quân địch và gần 2.000 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng bọc thép vẫn tìm cách rút lui xuống đồng bằng. Do phán đoán đúng tình hình, nên khi địch bắc cầu dã chiến cho mũi quân đầu tiên với 5 xe bọc thép vượt sông Nhau từ Củng Sơn sang đường 5 đã bị bộ đội ta chặn đánh tại Trường Lạc, xã Sơn Thành, huyện Tuy Hòa 1 ngay trong buổi chiều hôm đó. Phía trước bị chặn, phía sau bị tiến công, các lực lượng VNCH tranh đường của nhau để chạy. Trong sự hỗn loạn, mọi cố gắng ổn định lại tình hình và tổ chức kháng cự của các chỉ huy VNCH trở nên vô vọng.

Cuối cùng, các đơn vị QLVNCH bị vây tại Cheo Reo chấm dứt kháng cự.

Kết quả, chỉ một số ít binh lính VNCH về đến Tuy Hòa. Số còn lại ngoài một số bị diệt có gần 17.000 người bị phía Quân giải phóng bắt làm tù binh, trong đó có 779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng. Số vũ khí phương tiện bị phá hủy và bắt sống cũng cực kỳ lớn: 17.183 súng các loại, trong đó có 79 khẩu pháo từ 105 mm trở lên; hơn 2.000 xe quân sự, trong đó có 207 xe tăng và xe bọc thép; 44 máy bay bị bắn rơi, 110 chiếc khác bị thu và phá hủy.

Như vậy, từ cuộc "rút lui chiến lược" đã biến thành "thảm kịch đường số 7" - Tây Nguyên hoàn toàn thất thủ, báo hiệu sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chế độ VNCH một ngày không xa.

                    
Trực thăng UH-1 làm nhiệm vụ tìm cứu
                                                                      "Di tản"?!                      
Binh lính sư đoàn 23 BB ra hàng tại Buôn Ma Thuột.
            
Rút chạy khỏi Huế.
                                                                               Thu gom vũ khí, chiến lợi phẩm.

Leon Daniel (phải) là người đã đánh bức điện thông báo Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30-4 David Kennerly (trái) là nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer, bạn của TT Ford, người đã có mặt trên chiếc máy bay trực thăng Mỹ bị tàn quân Ngụy bắn khi tháo chạy ngoài khơi Đà Nẵng.
 
Tinh thần chiến đấu thì rệu rã, phán đoán chiến lược thì sai lầm, nên khi bị đánh trúng chỗ hiểm, quân tướng Sài Gòn ở Tây Nguyên nói riêng và ở toàn Nam - Việt Nam nói chung trở nên hoảng loạn, liên tiếp phạm thêm những sai lầm chết người khác. Hệ thống phòng ngự Tây Nguyên vỡ lở nhanh chóng. Ngày 16-3, quân Sài Gòn rút chạy khỏi Kon Tum và Plâycu theo đường số 7. Quân Giải phóng truy kích, cắt đường số 7 diệt quân tháo chạy rồi tiếp tục phát triển xuống Khánh Dương, diệt lực lượng sư đoàn 23 địch… Ngày 17-3, quân Giải phóng đã cơ bản đánh bại cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Mê Thuột.
Trong thời gian đó, sư đoàn dù quân Sài Gòn ở Đà Nẵng đang rút về Sài Gòn và thay thế bằng sư đoàn lính thủy đánh bộ; đồng thời xuất hiện hiện tượng cho thấy quân Sài Gòn có thể bỏ từ bắc Huế đến sông Thạch Hãn, bắt đầu thực hiện kế hoạch co cụm chiến lược lớn trên toàn miền Nam. Đây là một bước suy sụp mới rất nghiêm trọng của quân ngụy Sài Gòn.
Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương họp tại Hà Nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị lên Bộ Chính trị: “Hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm nay (1975)”. Tiếp đó, trong vòng 7 ngày từ 18-3 đến 25-3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân tích và đề đạt với Bộ Chính trị: Không cần đợi giải phóng xong Huế mới bắt đầu tấn công Đà Nẵng, phải đánh Đà Nẵng ngay, ở hướng Sài Gòn lực lượng ta đã đủ, yêu cầu trong tháng 5 phải giải quyết xong Sài Gòn.

Những nhận định và đề xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cơ sở quan trọng để ngày 23-3-1975, Bộ Chính trị nhận định: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay. Bộ Chính trị quyết định: Quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (5.1975)”. Hội nghị đã đi đến nhất trí hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch 2 năm 1975-1976 ngay trong 1975. Như thế cuộc tiến công dự định chiến lược lúc ban đầu phải được nâng lên thành cuộc tổng tiến công chiến lược.

Những nhà quan sát bi quan nhất cũng không thể nào ngờ sự tan tác nhanh đến thế của quân đội Sài Gòn - một quân đội mà các nhà phân tích quân sự xếp vào hàng thứ tư trên thế giới về binh lực và trang bị vũ khí: giữa tháng 3, bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, cuối tháng 4 mất Huế - Đà Nẵng, giữa tháng 4 mất hết các tỉnh miền Trung…

Từ sự chỉ đạo sắc bén của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, bằng sự phối hợp tiến công đồng loạt giữa các mũi, các hướng trên toàn mặt trận, đến 15 giờ ngày 29-3-1975, quân ta đã làm chủ căn cứ liên hợp Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà. Thắng lợi này góp phần quan trọng đập tan một lực lượng quân sự lớn và bộ máy kìm kẹp của địch trên toàn bộ địa bàn Quân khu 1 của địch, đẩy chúng vào thế thất bại hết sức nghiêm trọng không thể cứu vãn, thúc đẩy thế tiến lên tất thắng của quân và dân ta.

Cùng với chiến thắng ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu làm kế hoạch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Trong các dự thảo văn kiện kế hoạch, cơ quan ghi “nhanh chóng, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, khi báo cáo Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu phải sửa ngay là “thần tốc”. Ngày 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Bức điện thảo bằng tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã trở thành văn kiện lịch sử, cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ ngày đêm xốc tới giải phóng miền Nam hoàn thành ước nguyện của cả dân tộc Việt Nam sau hơn 20 năm chiến đấu lâu dài gian khổ.

                                             

Những viên đạn ấy được bắn từ những khẩu pháo này.

                                                            Quân Giải phóng tiến vào Pleiku.
Tiến quân vào Đà Nẵng
 
                                                 Xe tăng QGP ở cửa Thuận An-Huế
                                                        Xe tăng QGP trên QL1
                                                Bộ đội và nhân dân làm ngầm vượt sông Mỹ Chánh.
Xe tăng Quân Giải phóng vượt sông.
 Tiến công binh chủng hợp thành.
Trẻ con Việt Nam được thế giới nhìn như đám cô nhi lăn lóc trở thành chất xúc tác cho cái bệnh di tản sau khi Nha Trang sụp đổ. Những người quản lý các viện mồ côi ở Sài Gòn để lộ ý muốn của họ cho đám trẻ con đi. Điều này tức khắc trở thành thời cơ tuyên truyền không chỉ riêng cho những người thực tâm giúp đỡ trẻ em. Những kẻ mỉa mai, ích kỷ đã tìm thấy thời điểm ngon lành. Trong bọn này phải liệt Martin vào đấy. Vào một lúc không được kín đáo, Martin đã nói với một người trong đám thân tín rằng, vấn đề di tản trẻ con là đòn tuyên truyền tuyệt diệu. Viên đại sứ cảm thấy việc làm rùng beng tối đa chương trình di tản trẻ em giúp vào việc lái dư luận quốc hội Mỹ nghiêng về phía Sài Gòn. Mọi âm mưu đã thành công. Chiều ngày 3-4, một chiếc DC.8 đã chở 85 trẻ mồ côi và một số nhà báo chọn lọc từ Nam Việt Nam đi Mỹ.


Những em bé này đã chết cho cái gọi là "đòn tuyên truyền tuyệt diệu" của Martin.
Chiếc C5A đã hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất sáng sớm ngày 4-4. Nó quá lớn đến nỗi có vẻ chậm chạp trong khi bay. Công nhân bốc xuống hàng chục tấn thiết bị quân sự cho cái quân đội khốn khổ. Người ta sắp đặt cho nó cất cánh trưa hôm ấy với chuyến hàng chính thức là trẻ mồ côi và những người Mỹ, danh nghĩa là đi theo chăm sóc trẻ. Các nhà báo được ân cần mời ra Tân Sơn Nhất để chụp hình và phỏng vấn đám trẻ lên phi cơ. Chiếc C5A thuộc loại máy bay khổng lồ trên trời. Một số ít may mắn kiếm được ghế ngồi còn tuyệt đại đa số khoảng gần 400 trẻ em phải chui xuống dưới các dây chằng hàng. Cuối cùng cái cửa sổ khổng lồ cũng được đóng lại. Nó được đài không lưu báo là trống chỗ để di chuyển ra đầu đường băng. Phanh nhả ra. 4 động cơ phản lực khổng lồ rít lên. Chiếc máy bay lấy đà rồi cất cánh.

4 giờ 45 phút chiều hôm đó, máy bay ra đến biển Đông ở độ cao 4 dặm. Nó tiếp tục nâng độ cao lên 8 dặm mới ổn định đường bay. Lúc bấy giờ, trong máy bay hành khách còn bị chằng dây an toàn. Phần đông người lớn nắm tay nhau thành trò vui. Một số người cất tiếng hát. Bỗng nhiên, cánh cửa máy bay văng mất, sức hút của gió cuốn đi những vật gì không được cột chặt trong máy bay, kể cả mấy đứa trẻ sơ sinh. Chiếc máy bay cố tìm cách quay lại Tân Sơn Nhất. 20 phút sau, phi công không sao giữ được máy bay ổn định nên quyết định hạ cánh khẩn cấp. Chiếc phản lực khổng lồ chạm xuống một cái gò trên ruộng lúa, lướt qua con rạch rồi sựng lại trong đám ruộng kề đó, cách Tân Sơn Nhất không đầy 2 dặm. Lửa bùng cháy và khói làm cho số lớn người trên máy bay bị thiệt mạng.
Di tản.
Ngày 9-4, quân Giải phóng đánh Xuân Lộc - một cứ điểm trọng yếu án ngữ đường tiến tới Sài Gòn do sư đoàn 18 là sư đoàn tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn trấn giữ. Đây là trận đánh lớn cuối cùng của cả cuộc chiến tranh. Phía VNCH từng cho rằng Xuân Lộc như "cánh cửa thép" chặn Quân Giả phóng tiến về Sài Gòn từ phía đông. Lê Đức Thọ đã nói: “Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra”. Còn Văn Tiến Dũng thì nói: “Kế hoạch tấn công Xuân Lộc chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch… Trận chiến ác liệt và đẫm máu từ những ngày đầu tiên. Các sư 6, 7, 341 của ta phải tiến công trong thành phố nhiều lần nhưng gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của trung đoàn 43 địch quân. Các đơn vị pháo của ta đã xử dụng nhiều hơn cơ số đạn dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép của ta bị hạ…” (Đại thắng Mùa Xuân). Trần Văn Trà cũng nói: “…vào cuối ngày 10 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng. Địch phản công điên cuồng…” (Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm).
Trước khi lâm trận, chuẩn tướng Lê Minh Đảo của quân ngụy Sài Gòn tuyên bố: “Đánh một trận cho thế giới biết tiếng!”
Tướng X. Smith, Trưởng phòng Tùy viên Quân sự (DAO), tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, cảm phục và ca ngợi trận Xuân Lộc:
“Chiến trường Long Khánh chứng tỏ quyết tâm bảo vệ đất nước của quân đội VNCH và họ đã anh dũng chiến đấu chống lại địch quân đông gấp nhiều lần”
Theo wikipedia, Chiến dịch Xuân Lộc hay Trận Xuân Lộc, tên đầy đủ là "Chiến dịch tiến công tuyến phòng thủ Xuân Lộc - Long Khánh", là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch diễn ra trong khoảng 9-20 tháng 4 năm 1975 giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH).
Trận này là một mốc quan trọng của quá trình tiến tới sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, vì Xuân Lộc là khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa - Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu) của QLVNCH để phòng giữ cửa ngõ phía đông của Sài Gòn.
Với mục đích thăm dò khả năng quân sự và phản ứng của Mỹ, trung tuần tháng 12 năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng biện pháp nghi binh để quân Sài Gòn tập trung lực lượng bảo vệ Tây Ninh, bất ngờ tập kích các cứ điểm Bù Đăng, Đồng Xoài, khai thông đường 14, chớp thời cơ mở chiến dịch đánh chiếm Phước Long.
                                  1
                           Quân đoàn 4/CSBV do Thiếu tướng Hoàng Cầm chỉ huy.
                        Phóng Đồ Kế Hoạch Điều Quân Mặt Trận Xuân Lộc (Trần Đỗ Cẩm) (Tại mặt trận Ngã ba Dầu Giây, chính xác là Chi đoàn 2/5/TK của Đại úy Vũ Đình Lưu)
                  Phóng Đồ Kế Hoạch Điều Quân Mặt Trận Xuân Lộc (Trần Đỗ Cẩm)
        (Tại mặt trận Ngã ba Dầu Giây, chính xác là Chi đoàn 2/5/TK của Đại úy Vũ Đình Lưu)

Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 7, 9 với xe tăng và pháo tầm xa tấn công tỉnh Phước Long do Sư đoàn 5 bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trấn giữ. Phước Long lọt vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 6 tháng 1 năm 1975 trong khi Việt Nam Cộng hòa không thể huy động đủ lực lượng để chiếm lại. Trước sự tấn công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ phản ứng lấy lệ bằng những tuyên bố ngoại giao.
Đánh giá Mỹ sẽ không can thiệp, Bộ Chính trị Đảng Lao động và Bộ Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Mở màn với chiến dịch Tây Nguyên sử dụng các Sư đoàn 316, 10, 320, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 198 Đặc công, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã nghi binh, khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa tin rằng họ sẽ tấn công thị xã Pleiku. Tuy nhiên, vào 02h00 sáng ngày 10/3/1975, Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 198 Đặc công bất ngờ đánh úp thị xã Ban Mê Thuột. Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh và Liên đoàn Biệt Động quân số 21 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giữ thị xã bị tiêu diệt. 2 trung đoàn còn lại của Sư đoàn 23 Bộ binh mang số hiệu 44, 45 được trực thăng vận từ Pleiku đến tái chiếm Ban Mê Thuột, đổ bộ lọt vào trận địa của Sư đoàn 10 chờ sẵn và bị tiêu diệt nốt. 6 Liên đoàn Biệt Động quân đóng ở Pleiku hoảng sợ, cùng với lệnh bỏ Tây Nguyên của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nên đã rút chạy theo đường số 7 để rồi bị Sư đoàn 320 truy kích tiêu diệt 5 trong 6 Liên đoàn. Toàn bộ lực lượng chủ lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên Tây Nguyên mất sạch.
 
                                              
                                                    Thiếu tướng VNCH Lê Minh Đảo
Ông được đánh giá là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp Sư đoàn có khả năng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, từng là Tư lệnh chiến trường Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Sau sự kiện 30 tháng 4, ông ra lệnh giải tán đơn vị, rồi tìm cách về Cần Thơ, sau đó quay lại Sài Gòn. Đến ngày 9 tháng 5 năm 1975, ông ra trình diện chính quyền mới. Ông trải qua 17 năm trong các trại cải tạo và là tướng Việt Nam Cộng hòa có thời gian đi cải tạo lâu nhất. Sau khi đến Mỹ năm 1993, ông làm việc quản lý một nhà hàng cho đến khi nghỉ hưu.
                                            
                                               Tướng Frederick Carlton Weyand
 Frederick Carlton Weyand (15 tháng 9 năm 1916 - 10 tháng 2 năm 2010)  là một vị tướng trong Quân đội Hoa Kỳ. Weyand là chỉ huy cuối cùng của các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1972 đến năm 1973, và từng là Tham mưu trưởng thứ 28 của Quân đội Hoa Kỳ từ năm 1974 đến 1976
                                       
                        xuanloc11
                              300px-drva
                               lastbattle2
                                           bombvietnam1967vc1
                                 arvnsoldier4
                                 arvn_soldier2
                 
                       xuanloc_battle41 
                          
Chiến xa CSBV bị bắn hạ tại Xuân Lộc
Chiến lợi phẩm của CSBV bị tịch thu
BỨC ẢNH NÀY ĐĂNG TRÊN TUẦN BÁO ĐỨC DER SPIEGEL MÔ TÃ CẢNH LÍNH VNCH ĐANG CANH GIỬ CÁC TÙ BINH CSBV TẠI MẶT TRẬN XUÂN LỘC THÁNG 4.1975 . TÔI ĐÃ ĐẶT TỰA CHO BỨC ẢNH NÀY LÀ "NHỮNG NGƯỜI LÍNH VÀ TÙ BINH CỦA HỌ ĐANG NGHĨ GÌ ? "

ẢNH NÀY VÀ ẢNH TRÊN ĐỀU CHỤP CÁC TÙ BINH NÀY NHƯNG Ở GÓC CẠNH KHÁC NHAU
Tù binh CSBV tại Xuân Lộc tháng Tư 1975

Mất Tây Nguyên, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục ra lệnh rút Sư đoàn 1 Nhảy dù và Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến về bảo vệ Sài Gòn. Lực lượng Vùng 1 Chiến thuật dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng bị thiếu 2 sư đoàn trù bị thiện chiến nhất lập tức bị Quân đoàn 2 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gồm các Sư đoàn 304, 324, 325 tiến công. Sư đoàn 1, 2, 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt và làm tan rã.
Sau ngày 2/4/1975, Vùng 2 Chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa chỉ còn lại tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, nên được sát nhập vào Vùng 3 Chiến thuật. Phan Rang và Xuân Lộc trở thành hai cửa ngõ để Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn bằng quốc lộ 1 và 20. Xuân Lộc là một vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba của hai Quốc lộ 1 và 20, cửa ngõ từ miền Trung, miền Cao nguyên vào Sài Gòn chỉ cách nhau 80. Do đó Xuân Lộc được coi như vòng đai ngoài bảo vệ phi trường Biên Hòa và Sài Gòn.
 
                  
Những cột khói được tạo ra từ bom Mỹ sau các cuộc oanh tạc ở trận An Lộc 1972. Loạt ảnh do phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng thông tấn Magnum thực hiện. Ảnh: Magnumphotos.com
Trận An Lộc là trận chiến tại An Lộc. Đây là đợt 2 trong Chiến dịch Hè 1972 mà Việt Nam Cộng hòa gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa” trong Chiến tranh Việt Nam. Đợt 1 là cuộc tấn công Quảng Trị và Thừa Thiên thuộc Quân khu I của Việt Nam Cộng hòa vào hạ tuần tháng 3. Đợt 2 là mở mặt trận Bình Long thuộc Quân khu 3 vào thượng tuần tháng 4. Và đợt 3 là cuộc tấn công Kontum và Pleiku thuộc Cao nguyên Trung phần Quân khu 2 vào trung tuần tháng 4 theo chiến lược “đốt giai đoạn”.

An Lộc là chiến địa tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn quân Cộng sản tiến về thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay quân đội cộng sản ngày 7 tháng 4 năm 1972.

                                 anloc_pic6
Đợt tấn công đầu tiên do Sư đoàn 9 Quân đội Nhân dân Việt Nam khai pháo. Vì tin rằng sẽ chiếm được An Lộc, cùng ngày hôm đó tại Paris, Nguyễn Thị Bình đại sứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại hòa đàm Paris tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
Rạng sáng ngày 5 tháng 4/1972, vào lúc bình minh, Bộ Chỉ Huy hành quân hạ quyết tâm: “Phải chiếm An Lộc trước ngày 20 tháng 4/1972, nghĩa là phải đè nặng áp lực tối đa lên một vùng hơn 100 km nằm về phía Bắc Saigon, để cầm chân một số lớn lực lượng nòng cốt của địch tại đây.”
 
                      anloc10
 
Giữa lúc chiến trường Lộc Ninh vẫn diễn ra ác liệt, một cánh quân khác của sư đoàn 9, đơn vị được coi là thiện chiến nhất trong số 4 sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt tham chiến tại Bình Long, bất ngờ tấn công vào tỉnh lỵ An Lộc từ 3 giờ chiều ngày 6 tháng 4/1972, nhằm chặn đường tiếp viện cho Lộc Ninh. 
Đoạn đường từ An Lộc đi Lộc Ninh bị gián đoạn hoàn toàn, chỉ có thể liên lạc bằng điện thoại. Trận thế của quân Cộng Sản đã bắt đầu hình thành.
Ngày 8/4/1972, Lộc Ninh hoàn toàn thuộc quân đội Mặt trận Giải phóng kiểm soát.
Chỉ trong vòng 3 ngày giao tranh, tại Lộc Ninh, thống kê có 2.150 bộ đội tử thương, tương đương quân số của một trung đoàn. Phía Việt Nam Cộng Hòa có 600 binh sĩ chết, cùng với 30 xe tăng và một pháo đội 105 ly bị mất. Kể từ đây, An Lộc bó mình trong vòng đai phòng thủ, không có lấy một chiến xa nào để đối đầu với địch quân có đến cả một trung đoàn thiết giáp.
 
                         Xe tăng T-54 bị bom phá hủy trong trận An Lộc trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Xuân Hè trong chiến tranh Việt Nam – NVA T-54 tank was destroyed by bomb in battle of An Loc , Easter Offensive in Vietnam war

Xe tăng T-54 bị bom phá hủy trong trận An Lộc trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Xuân Hè trong chiến tranh Việt Nam – NVA T-54 tank was destroyed by bomb in battle of An Loc , Easter Offensive in Vietnam war

                         anloc18
Ngày 12 tháng 4/1972, Bộ Tư Lệnh Cộng Sản ra khẩu lệnh cho chiến sĩ của họ: “Cán bộ và binh sĩ phải tấn công trên khắp mặt trận. Chắc chắn quân ta sẽ thắng.” Ngay ngày hôm sau 13 tháng 4, xe tăng của họ bắt đầu tiến vào thị xã An Lộc. Những trận đánh bằng xe tăng bắt đầu.
                         anloc1 

Đoàn chiến xa tiến theo đường Ngô Quyền, sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Mạch Văn Trường, Trung Ðoàn Trưởng của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh VNCH.

Khi còn cách Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Mạch Văn Trường 20 mét thì đoàn chiến xa bị khựng lại bởi một loạt đạn M-72 (vũ khí cá nhân dùng để chống xe tăng), xe tăng dẫn đầu bốc cháy, trườn tới mấy thước rồi ngừng hẳn. Bộ đội trong xe nhảy ra, cháy nám, lăn lộn trên lề đường. Các xe tăng còn lại cũng rơi vào ổ phục kích. Trong trận này, có 15 xe đã bị bắn cháy sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh. Ðoàn xe tăng lùi lại để rồi tìm đường khác tiến vào. Tiếng súng vang rền trong phân nửa phía Bắc thị xã An Lộc.
Trong lúc giao tranh ác liệt tiếp tục, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 5 VNCH, đang ngồi trên trực thăng quan sát, bị trúng đạn pháo của bộ đội tử thương. 
Trở lại An Lộc, sau 30 giờ ác chiến đẫm máu bằng đủ mọi hình thức, xáp lá cà, cận chiến bằng lựu đạn, súng dài, súng ngắn thi nhau nổ, trong phân nửa thị xã phía Bắc, hai bên đều bị thiệt hại nặng, và kiệt lực, cần phải nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại. Bộ Tư lệnh Miền giao cho Sư đoàn 7 và Trung đoàn 209 chốt tại Tàu Ô trên đường 13, hạ quyết tâm không cho địch giải cứu An Lộc và bảo vệ 3 huyện mới giải phóng. 
 
                     anloc_VCtank1
Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Dần dần, lực lượng bên trong An Lộc đã có thể khởi lại thế công, dù phải hết sức chật vật. Do bộ đội phải chuyển quân đi chặn lực lượng giải vây nên lực lượng bao vây bị phân tán, quân VNCH ở An Lộc thừa cơ phản kích, mở rộng vòng vây. Vòng bán kính bao vây thị trấn chỉ chừng 500 mét nhưng tới ngày 11 tháng 4/1972, vòng đai kiểm soát được nới rộng thêm hơn 3 km đường bán kính.
Ngày 14 tháng 4 năm 1972 An Lộc vẫn bị xiết chặt trong vòng vây chừng vài cây số vuông. Quân trú phòng không bung ra ngoài được để hoạt động.Tiểu đoàn 6 Dù được trực thăng vận xuống trước để dọn bãi đáp. Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 8 cùng Bộ chỉ huy của Lữ đoàn 1 nhảy dù xuống theo. Sau đó Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại Ðồi Gió trấn giữ đoạn hậu (về sau bị quân giải phóng đánh tả tơi). Còn hai tiểu đoàn kia chia làm hai cánh quân song song tiến vào An Lộc nhưng gặp sự phản kích quyết liệt của quân giải phóng, 2 đơn vị này không tiến vào được An Lộc và cũng đứt liên lạc với nhau.      
Sáng 15 tháng 4, quân giải phóng lại ồ ạt tấn công vào mặt bắc thị xã An Lộc. Một số xe tăng Cộng sản đã chọc thủng phòng tuyến phía Bắc, di chuyển xuống đến nửa phía nam thành phố, nhưng một số xe tăng cũng bị bắn cháy. 
 
                        anloc_VCtank6

Theo tài liệu từ phía quân giải phóng thì:

“Riêng Mặt trận Bình Long ta không dứt điểm được. Giữa tháng 4/1972 địch tập trung cố thủ với 5 Lữ đoàn, lực lương Không quân chi viện tăng gấp nhiều lần trong khi ta bị thương vong hao hụt, sức tiến công giảm sút. Rõ ràng thời cơ dứt điểm Bình Long không còn, ta chuyển sang bao vây cô lập.”

“Trận tấn công Bình Long lần 2 của ta bất thành. Sau 4 ngày đột phá liên tục, 18 trên 25 xe tăng bị cháy hoặc bị hư hỏng nặng…”

Ngày 18 tháng 4/1972, đợt tấn công thứ ba của bộ đội vào An Lộc bắt đầu. Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, chỉ huy toàn bộ lực lượng trú phòng, đã cam kết: “Ngày nào tôi còn, An Lộc còn.”

Thêm 1 số xe tăng Cộng Sản bị hạ gần Bộ chỉ huy của Chuẩn Tướng Hưng. Pháo đài B-52 tiếp tục dội bom chung quanh. Không lực Việt Nam Cộng Hòa dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước một hàng rào phòng không hùng hậu của quân giải phóng, từ đại liên 12.7 ly, các pháo phòng không 37 ly và 100 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA-7 lố nhố trong rừng cao su bao vây An Lộc, không quân VNCH chịu nhiều tổn thất, nhưng cũng chỉ có thể tiếp tế “nhỏ giọt” cho chiến trường.

                      Binh sĩ VNCH đang cứu thương cho đồng đội tại An Lộc

Trận chiế An - Lộc rơi vào tình trạng ác liệt và dằng co...

Tuy nhiên, sau khi mau chóng sắp xếp lại lực lượng, ngày 23 tháng 5/1972, từ rạng sớm cho đến xế chiều, quân miền Bắc lại mở liên tiếp 4 đợt tấn công bằng xe tăng vào các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa tại khu vực Nam và Tây Nam An Lộc, cách thị trấn này từ 1 đến 5 km, nhưng những mũi tiến công của họ không còn sắc bén như lúc đầu, nên 1 lần nữa, họ bị đẩy lui. Sau khi trận đánh này kết thúc, có thêm 13 xe tăng Cộng Sản bị hạ, gồm 5 chiếc T-54 và 8 chiếc PT-76.

Trong lúc này, lực lượng cố thủ tại An Lộc đã rất kiệt quệ, nếu có thể mở thêm 1 đợt tấn công lớn nữa, ắt An Lộc sẽ thất thủ. Tuy nhiên, do những thắng lợi vượt ngoài dự đoán của quân giải phóng ở mặt trận Trị Thiên (chiến dịch Trị Thiên) mà những lãnh đạo cấp cao của quân đội ở Hà Nội quyết định chuyển hướng, không tập trung tấn công ở Đông Nam Bộ nữa mà ưu tiên chuyển quân lính, trang thiết bị và binh khí kỹ thuật hiện đại sang chiến trường Trị Thiên. Không nhận được tiếp liệu đầy đủ, quân giải phóng ở An Lộc gặp nhiều khó khăn.

Theo phía VNCH, Trung Ương Cục R (bộ chỉ huy của toàn thể lực lượng quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam) khẩn báo về Trung Ương Đảng ngoài Bắc về sự thiệt hại nặng nề của các đơn vị tham chiến tại An Lộc. Bản báo cáo này nêu rõ trường hợp điển hình là Trung Ðoàn 209, sau một thời gian trấn giữ ở hai địa danh Bầu Bàng và Tàu Ô đã tan nát. Mỗi đại đội còn không đầy 30 người, và mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 90 so với quân số lúc đầu là 350 người. Cục R cũng than phiền khả năng chiến đấu của Sư đoàn Bình Long quá yếu kém, vì phân nửa lực lượng này là lính Khmer Đỏ, tinh thần kém.

Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông thừa nhận:

“Cộng Sản Bắc Việt đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy hiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn (trên thực tế chỉ có 10.000 chiến sĩ chết và 15.000 bị thương, không đến 30.000 như tướng Minh nói). Mưu đồ của Cộng Sản Bắc Việt mong tiến đánh thủ đô Saigon đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc.”

                                    Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Tướng Lê Văn Hưng gặp lại nhau sau chiến thắng An Lộc 

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Tướng Lê Văn Hưng gặp lại nhau sau chiến thắng An Lộc

Trung tướng QĐNDVN Trần Văn Trà nhận xét về trận An Lộc:

“Trận An Lộc, quân giải phóng đã chịu nhiều bất lợi: hành quân gấp; vũ khí, đạn dược thiếu thốn; công tác tiếp vận kém. Địch có hỏa lực áp đảo do Hoa Kỳ hỗ trợ, đặc biệt là máy bay B-52. Quân giải phóng đã chịu một thiệt hại không nhỏ nhưng từ đó chúng ta đã rút ra được những bài học vô giá cho các chiến dịch sau này, đồng thời cũng nhận ra sự yếu kém của địch nếu không có sự yểm trợ từ hoa lực Hoa Kỳ”.

Chiến dịch Xuân Lộc hay Trận Xuân Lộc, tên đầy đủ là Chiến dịch tiến công tuyến phòng thủ Xuân Lộc - Long Khánh, là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch diễn ra trong khoảng 9 tháng 4 - 20 tháng 4 năm 1975 giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đối đầu Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) với sự hỗ trợ của Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam.

Trận này là một mốc quan trọng của quá trình tiến tới sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, vì Xuân Lộc là khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa - Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu) của QLVNCH để phòng thủ cửa ngõ phía đông của Sài Gòn.

     Trên cơ sở nhận định chiến trường, ngày 3/4/1975, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa cùng với Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ, nguyên chỉ huy MACV (Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam), Frederick Carlton Weyand (sang Việt Nam từ cuối tháng 3 năm 1975), xây dựng phương án thành lập tuyến phòng thủ Xuân Lộc. Ngày 3 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu đã thảo luận với phó đại sứ Hoa Kỳ Lehman và tướng Fredrick C. Weyand về kế hoạch "Nỗ lực tối đa" nhằm giữ vững những phần đất còn lại. Theo đó cần phải lấy Xuân Lộc làm trung tâm phòng ngự, hai bên sườn phải giữ được Tây Ninh và Phan Rang.
                        
         
 Tại đây, phía Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tập trung nhiều đơn vị thiện chiến, gồm có Sư đoàn 18 Bộ binh (với các Trung đoàn 43, 48 và 52 được tăng cường tương đương với quân số của chiến đoàn), lực lượng Địa phương quân ở tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm Trung đoàn 8 (thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh), Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, Liên đoàn 7 Biệt động quân, hai tiểu đoàn pháo binh, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, toàn bộ Lữ đoàn 1 Dù (với các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9) và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù. Sư đoàn 4 Không quân Việt Nam Cộng hòa từ phi trường Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh Sư đoàn 18) và hai viên sĩ quan phụ tá là Đại tá (tư lệnh phó) Lê Xuân Mai và Đại tá Phạm Văn Phúc (Tỉnh trưởng Long Khánh). Mục đích bẻ gãy mũi xung kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong một trận chiến phòng ngự điển hình, tạo thế có lợi chặn đứng đà tiến công của đối phương.



Sau đúng một ngày cầm cự, chịu đựng không nổi trước chiến thuật áp đảo của Quân Giải phóng , sư đoàn 18 VNCH đã bắt đầu triệt thoái khỏi thành phố Xuân Lộc vào ngày 20/4/1975. Sau đó, sư đoàn này được tái tập trung và đóng quân phòng thủ ngay sát nách Sài Gòn về phía Đông, nhưng đã quá muộn màng vì quân Bắc Việt gỡ được nút chận Xuân Lộc và các tuyến quân Nam tiến của họ đã tựa như thế chẻ tre tiến công ào ạt về Sài Gòn khiến cho quân đội miền Nam bị tan rã thành từng mảnh, từng mảnh.


                             Thiếu tướng Lê Minh Đảo tại mặt trận Xuân Lộc 42 năm trước.


       
TUY GẦY GÒ , TRƠ  XƯƠNG THẾ NÀY , ANH LÍNH DÙ VẨN KHÔNG NAO NÚNG !









LÍNH VNCH HÒ REO TRÊN 1 CHIẾC T-54 VỪA BỊ BẮN HẠ Ở XUÂN LỘC . HÀNG CHỬ ĐẦU KHÔNG ĐỌC ĐƯỢC ; SỐ 18 TƯỢNG TRƯNG CHO SĐ 18 ; LK LÀ TỈNH LONG KHÁNH ; 11-4 LÀ NGÀY BẮN HẠ CHIẾC T-54 NÀY .

        Chỉ huy Trung đoàn 3 (Sư đoàn 304) bàn phương án tác chiến trong Chiến dịch Xuân Lộc. (ảnh tư liệu)
 
Về phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, có Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng Cầm chỉ huy gồm Sư đoàn 6 mới được thành lập, Sư đoàn 7 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ với kinh nghiệm chiến đấu dày dặn (đây nguyên là Sư đoàn 312A từ miền bắc hành quân vào nam từ năm 1965, đã đánh bại Sư đoàn 1 Anh Cả đỏ Mỹ tại đường 13, giết chết Trung tướng Mỹ Keith Lincoln Ware, Tư lệnh Sư đoàn này vào hồi 13h00 ngày 13/9/1968). Sư đoàn mạnh nhất của B2 (tức sư 9) phải ở lại phía tây, nên cánh phía đông được phối thuộc Sư đoàn Sông Lam (F341) mới thành lập do Đại tá Trần Văn Trân chỉ huy, một người đã từng là Tư lệnh Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, từng bị quân Mỹ bắt sống năm 1969 trong một chuyến đi công tác (ông bị giam giữ trong suốt 3 năm mà đối phương không dò ra được lai lịch, được thả về trong 1 đợt trao trả tù binh bên sông Thạch Hãn đầu năm 1973).
                           Đại bác của Quân Giải phóng bắn vào sân bay Biên Hòa. (Ảnh tư liệu TTXVN) 

                             Ngày 11/4/1975: Chiến trận ở Xuân Lộc diễn ra ác liệt


Ngày 9 tháng 4 năm 1975, 5 giờ 40, sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam pháo kích các mục tiêu trong thị xã trong vòng một tiếng đồng hồ, sau đó các mũi bộ binh bắt đầu tiến công.
Tại hướng chính từ phía Đông, Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với 8 xe tăng dẫn đầu tấn công về phía căn cứ Sư đoàn 18, khi còn cách khoảng 200 m thì vấp phải sự chống trả quyết liệt của Trung đoàn 43 Bộ binh và Tiểu đoàn 3/4 Địa phương quân Long Khánh, bị thiệt hại nặng, 3 trên 8 xe tăng bị hỏng và khoảng 100 lính miền Bắc bị hạ bởi các súng chống tăng M-72 và máy bay A-37, F-5 của Không lực Việt Nam Cộng hòa, nên chỉ chiếm được một phần hậu cứ của Chiến đoàn 52 (Sư đoàn 18). Đến 12 giờ, hướng này buộc phải ngừng tấn công.
Ở hướng phụ từ phía Bắc, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) đánh thọc sâu vào thị xã, nhưng bị phản kích mạnh nên phải dừng lại bên ngoài sở chỉ huy tiểu khu.
 
                         
               Bộ đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975. (Ảnh: TTXVN)
                        Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc (kỳ 1)
           Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 phát triển tiến công chỉ huy sở Sư đoàn 18 ngụy tại núi Thị-Xuân Lộc (tháng 4-1975). Ảnh tư liệu
 
Đập tan "cánh cửa thép" Xuân Lộc, mở đường tiến vào Sài Gòn. (Ảnh tư liệu)
 
Tại vòng ngoài, Ở hướng quốc lộ 20, Sư đoàn 6 tấn công vào các vị trí chốt giữ của Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa, diệt được 5 chốt trên đoạn đường từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, Trung đoàn 52 phải bỏ Túc Trưng kéo về giữ ngã ba Dầu Giây. Ở hướng Quốc lộ 1, phía đông nam thị xã, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại hai tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa, diệt 7 xe tăng của chiến đoàn 43, 48 (Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa) từ Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện. Các trục lộ chính phía bắc Xuân Lộc đều bị cắt đứt, tuyến phòng thủ ngoại ô thị xã tan vỡ, toàn bộ lực lượng Việt Nam Cộng hòa rút vào trong thị xã Xuân Lộc để cố thủ.
Sáng ngày 10 tháng 4, đúng 5 giờ 30, quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lại pháo kích các mục tiêu trong thị xã. Sau trận pháo kích, Trung đoàn 141 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (lực lượng dự bị của Sư đoàn 7), cùng một tiểu đoàn cao xạ 37 ly và một tiểu đoàn 57 ly, được tăng cường đột phá từ hướng bắc xuống phối hợp với Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 tiếp tục tấn công vào căn cứ Sư đoàn 18. Tuy nhiên, do bị phản kích quyết liệt cùng với hỏa lực mạnh của quân Sài Gòn nên toàn bộ quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không đạt được mục tiêu. Bước sang ngày thứ ba, 11 tháng 4, 7 giờ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam pháo kích trong 70 phút rồi bắt đầu tấn công. Dưới hỏa lực mạng và sự yểm trợ bằng không quân của bên phòng thủ, bên tấn công cũng vẫn không chiếm được các mục tiêu là sở chỉ huy Sư đoàn 18 và hậu cứ Chiến đoàn 43 và 52. Cuộc chiến kéo dài ác liệt, cả hai phía ra sức giành giật từng ngôi nhà, điểm phòng ngự. Sau 3 ngày chiến đấu, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phải chịu thương vong lớn với khoảng 300 người chết, 1000 người bị thương.


    Thiếu tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 trao Quân kỳ quyết thắng cho Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong.      Ảnh: TL
Thiếu tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 trao Quân kỳ quyết thắng cho Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong. Ảnh: TL
                             
Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc. Ảnh tư liệu.
 
                             Bộ binh và xe tăng tiến công trên hướng Tây Nam, TX. Long Khánh.  Ảnh: TL 
   Bộ binh và xe tăng tiến công trên hướng Tây Nam, TX. Long Khánh. Ảnh: TL                  
                           
                                   Bộ đội giải phóng sân bay Xuân Lộc. Ảnh: T.L.

Chiến thắng ở Xuân Lộc, rung chuyển tại Sài Gòn

        Chiến thắng ở Xuân Lộc, rung chuyển tại Sài Gòn


     Qua đến ngày thứ tư, 12 tháng 4, thế trận đôi bên vẫn giằng co. Lữ đoàn1 Nhảy dù gồm các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù, với quân số khoảng 2.000 người, được điều tăng cường cho Xuân Lộc bằng tất cả trực thăng của hai Trung đoàn 3 và 4 Không quân từ Trảng Bom vào trận địa. Hai tiểu đoàn dù đầu tiên đã nhảy xuống để chiếm lại Bảo Định và Quốc lộ 1, nơi hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 6 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đang tập trung tấn công Bộ tư lệnh Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa tại Tân Phong. Một tiểu đoàn dù khác nhảy xuống chiếm lại khu vực vườn cây của cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ. Các tiểu đoàn dù khác nhảy vào Xuân Lộc để giải vây cho các lực lượng Địa phương quân và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Long Khánh. Các pháo đội cũng được trực thăng Chinook chuyển vận đến Bộ Chỉ huy Hành quân Nhảy dù đóng cạnh bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh.
Sau 5 ngày giao chiến, lực lượng phòng thủ tại Xuân Lộc gồm có Sư đoàn 18, các lực lượng địa phương quân, tăng cường Lữ đoàn 1 Dù và 6 khẩu pháo 155 mm tại ngã ba Tân Phong; Trung đoàn 8 bộ binh (Sư đoàn 5), 3 chi đoàn thiết giáp 315, 318, 322 (với hơn 300 xe các loại). Theo tướng Hoàng Cầm, khi đó là tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổng số quân phòng phủ tại Biên Hòa-Xuân Lộc lên tới 25.000, tương đương 2 sư đoàn, 4 trung đoàn và lữ đoàn bộ binh, chiếm 30% quân số của Vùng 3 chiến thuật; 4 thiết đoàn; 8 tiểu đoàn pháo. Ngoài ra, còn có 2 sư đoàn không quân (Sư đoàn 3 và 4) từ Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và cả máy bay từ Trà Nóc dưới Cần Thơ cũng được tung vào yểm trợ cho Xuân Lộc.
Sau 5 ngày tiến công, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hoàn thành được tất cả các mục tiêu đề ra. Sức chống trả cộng với hỏa lực mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa làm thiệt hại nặng lực lượng tấn công (trong ba ngày đầu, Sư đoàn 7 bị thương vong 300 người, Sư đoàn 341 bị thương vong 1200. 9 xe tăng bị bắn cháy 3, hỏng 3. Pháo 85 ly và 57 ly bị hỏng gần hết). Tuy vậy, họ cũng đạt được phần nào mục tiêu khi phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài, cắt đứt trục lộ 1 và 20, làm cho lực lượng của Quân khu 1 và 2 Việt Nam Cộng hòa không thể rút về hỗ trợ cho Xuân Lộc. Toàn bộ lực lượng phòng thủ bị chia cắt thành 3 cụm: Núi Thị (do Trung đoàn 48 chốt giữ), Dầu Giây (Trung đoàn 52), và thị xã Long Khánh (Trung đoàn 43). Bộ chỉ huy Sư đoàn 18 bị uy hiếp, buộc phải dời vị trí về ngã ba Tân Phong.
Phía Việt Nam Cộng hòa đã bắt đầu lạc quan khi cho rằng Quân Giải phóng miền Nam Việt Namkhông thể chiếm được Xuân Lộc. Tình hình tạm lắng vào ngày 14 tháng 4 càng củng cố thêm nhận định của họ. Thậm chí, tướng Lê Minh Đảo còn cho họp báo tại mặt trận, tuyên bố thách thức tướng Hoàng Cầm. Về phía các tướng lĩnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, do thiệt hại nặng và không đạt được các mục tiêu đề ra, họ đã rút ra các khuyết điểm để điều chỉnh chiến thuật tấn công: chuyển từ đánh chiếm sang bao vây cô lập, từ đánh chính diện sang đánh tạt sườn, thay vì đánh chiếm Xuân Lộc thì đi vòng qua thị xã. Tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, đã đến bộ chỉ huy quân đoàn một ngày để cùng bàn cách đánh mới. Khi chiến sự tạm lắng vào ngày 14 chính là khi Quân đoàn 4 đang triển khai lực lượng theo cách đánh này.
Ngày 15 tháng 4, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chuyển hướng tấn công. Pháo 130 ly bắt đầu bắn phá căn cứ không quân Biên Hòa, không cho máy bay từ đây yểm trợ Xuân Lộc. Sư đoàn 6 (sư đoàn phối thuộc của Quân khu 7), được tăng cường Trung đoàn 95, hiệp đồng tấn công Chiến đoàn 52 (gồm Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, và các lực lượng Địa phương quân ở Kiệm Tân, tổng cộng khoảng 2.000 người). Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đánh chiếm được ngã ba Dầu Giây (giao điểm của Quốc lộ 1 và 20) và đoạn cuối đường 20 từ Trúc Tân đến Kiệm Tân, đánh bại nhiều cuộc phản kích từ Trảng Bom đánh ra, uy hiếp sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa đặt tại Trảng Bom. Chiến đoàn 52 Bộ binh cuối cùng đã tan hàng vào đêm 15 tháng 4. Tất cả pháo binh, thiết giáp đều bị hủy diệt sau mấy ngày đêm cầm cự, thiệt hại nặng nề về người. Chín giờ đêm hôm đó, khi hầm chỉ huy của chiến đoàn bị bắn sập, đại tá chiến đoàn trưởng ra lệnh rút quân. Cùng theo ông chỉ còn 200 người sống sót. Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa phải ngừng phản kích cứu nguy cho Xuân Lộc. Cùng ngày hôm đó, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng thời tấn công, đánh lui hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18, diệt một phần Lữ đoàn 1 Dù.
Mất Dầu Giây và đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu và Xuân Lộc bị cô lập và mất vị trí quan trọng, tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa, ra lệnh rút bỏ Long Khánh. Ngày 18 tháng 4, một phần lực lượng ở Xuân Lộc được bốc bằng trực thăng về Biên Hòa - Trảng Bom lập phòng tuyến mới. 9 giờ tối, các tiểu đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa mới tới quốc lộ 1 và gần như toàn bộ giáo dân của xóm đạo Bảo Đình, Bảo Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn 2 bên vệ đường để theo binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đi di tản. Sau đó đoàn người rút lui đã bị phục kích và triệt hạ gần hết.
Lữ đoàn 1 Dù Việt Nam Cộng hòa rút lui sau cùng, chỉ riêng Tiểu đoàn 3 Pháo binh được di chuyển trên đường lộ với Đại đội Trinh sát Dù, còn các tiểu đoàn tác chiến khác đều mở đường bọc sâu trong rừng.
Bốn giờ sáng ngày 21 tháng 4 năm 1975, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh-Phước Tuy, Tiểu đoàn 3 Dù bị 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phục kích gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Pháo Đội C và trung đội trinh sát bảo vệ, hầu hết đều bị thương vong. Cánh quân đi đầu của Tiểu đoàn 9 Dù cũng đụng độ nặng với quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Ngoài những thiệt hại kể trên, cuộc rút quân trên Liên tỉnh lộ 2 coi như hoàn tất, kết quả tốt đẹp.
Sáng 21 tháng 4, những tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Xuân Lộc tan rã. Các lực lượng còn lại rút lui về Sài Gòn lập phòng tuyến mới.

                                 080715-F-9999N-007

                       cbu
Trong Trận Long Khánh (Tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt, tiêu diệt cả Sư đoàn (?) quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của chúng. Cho đến nay hảy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu trả lời chưa được chính xác.Khi sử dụng để đánh nơi tập trung quân cũa CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ 30 m, nhiên liệu rãi tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng, gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau.
 
                              cbubmb

                                     Quà tặng cho Việt Cộng – Trái CBU không ngòi nổ 

      Tại Xuân Lộc, Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng hai quả bom phát quang BLU-82 "Daisy Cutter" 15000-pound, vô số bom tọa độ 500-pound, và cả bom xăng tự tạo, để ném xuống các đơn vị bộ đội ở quanh thị xã. Với vai trò nỗ lực cuối cùng nhằm ngăn chặn bước tiến quân của đối phương, theo Frank Snepp, sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Vùng 3 chiến thuật đã đề nghị Mỹ sử dụng bom B-52 rải thảm lần cuối. Đề nghị này bị tướng Cao Văn Viên từ chối, thay vào đó là gợi ý sử dụng một loại vũ khí khác với sức hủy diệt tương tự. Ngày 21 tháng 4, với sự trợ giúp của kỹ thuật viên DAO (Mỹ), một máy bay C-130 của không lực Việt Nam Cộng hòa đã thả một quả "bom nhiệt áp" CBU-55, loại vũ khí phi hạt nhân tàn bạo nhất trong kho vũ khí của Mỹ, xuống khu vực được cho là sở chỉ huy Sư đoàn 341 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nó đã đốt ôxy trong một vùng rộng 2 mẫu Anh, gây thương vong khá lớn dù không có thống kê chính xác (Hoa Kỳ ước tính nó đã giết chết hơn 250 người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguồn khác ghi nhận con số 811 cả bộ đội và thường dân, nhưng đều không thể kiểm chứng). Đây là lần đầu tiên và cuối cùng loại vũ khí này được sử dụng trong chiến tranh. Đài Hà Nội đã phản đối trong hai ngày liền, cáo buộc Mỹ và Việt Nam Cộng hòa sử dụng vũ khí sinh học bất hợp pháp. Trung Quốc cũng phản ứng dữ dội không kém, miêu tả vụ ném bom như là cuộc 'giết người hàng loạt' và buộc tội Mỹ đã chỉ huy cuộc tấn công. Đây là chỉ trích mạnh mẽ nhất của Trung Quốc đối với Mỹ trong vòng 2 năm - từ khi hai nước bắt đầu quá trình đặt lại quan hệ ngoại giao. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phản ứng ngay và hiệu quả. Trong vòng vài giờ sau vụ ném bom CBU, pháo binh bắn phá sân bay Biên Hòa được tăng cường đến độ các đường băng gần như không thể sử dụng được nữa. Các máy bay phản lực F-5A được rút nhanh về Sài Gòn, còn các máy bay ném bom nhẹ A-37 rút về Cần Thơ.
 Sau hai tuần giao tranh hết sức ác liệt, ngày 22-4, Xuân Lộc rơi vào tay quân Giải phóng. Bên quân lực Việt Nam Cộng hòa có 2.056 chết và bị thương 2.731 bị bắt 48 xe quân sự, 18 khẩu pháo bị phá hủy. Bên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (tính riêng Quân đoàn 4): 460 chết, 1.428 bị thương (theo Hoa Kỳ (ước tính): Toàn bộ các đơn vị 5.000 chết hoặc bị thương). Công phá được Xuân Lộc, các cánh Quân Giải phóng rầm rập tiến về Sài Gòn với khí thế không gì ngăn cản nổi.
 
                               arvnpow 
                   
                                               Tiếp quản Tiểu khu Long Khánh.

Ngày 26-4, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh, đánh vào Sài Gòn, kết thúc 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã sẵn sàng. Cánh quân hướng Đông của quân Giải phóng được lệnh nổ súng trước.
Trong buổi sáng ngày 30-4-1975, các binh đoàn đột kích thọc sâu đã từ các hướng đồng loạt tiến công vào nội đô Sài Gòn và đến trưa thì chiếm xong 5 mục tiêu chủ yếu được xác định là Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất. Người vừa được trao quyền Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bị dẫn đến đài phát thanh đọc lời đầu hàng: “Tôi là Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng; giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam - Việt Nam”.
Đến chiều, thành phố Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng.
Cuộc kháng chiến ròng rã 30 năm, vượt qua biết bao nhiêu khó khăn gian khổ với biết bao nhiêu mất mát hy sinh, chống quân xâm lược hết Thực dân Pháp đến Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng nhằm đổi lại quyền lợi chính đáng là Độc lập, Tự do và Thống nhất nước nhà của dân tộc Việt đã đạt đến thành công! Và những dấu ấn sâu đậm, đóng góp to lớn của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 vẫn sẽ còn mãi!

                          
Sài Gòn ơi ta đã về đây...
Bức ảnh chụp cùng thời điểm với Hai người lính. Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành
                                Bức ảnh “Hai người lính” được nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí ...
                             Bức ảnh Hai người lính. Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành

  Thắng lợi của quân và dân ta trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Trong tình hình đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson đã tuyên bố: Hy vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần “tìm kiếm một nền hòa bình trong danh dự”.

Ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ. Tuy nhiên phải mất 30 ngày, hai bên mới thỏa thuận, thống nhất được địa điểm họp ở Paris theo sáng kiến của Việt Nam.

Trong cuốn Hội nghị Paris về Việt Nam - Nhìn lại, 1968-1973 của Nhà xuất bản Thế giới, các nhân chứng của cuộc đàm phán tại Paris cho biết, sau khi cân nhắc nhiều địa điểm, cuối cùng Việt Nam và Mỹ đã quyết định tiến hành cuộc đàm phán tại thủ đô Paris của Pháp. Đối với Việt Nam, tuy Paris xa xôi và tốn kém nhưng lại là địa bàn thuận lợi để tranh thủ dư luận quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Khó khăn về hậu cần của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam được khắc phục với sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Pháp và cộng đồng người Việt.

                                           Trung tâm các hội nghị quốc tế ở Paris, tên cũ là "Hotel Majestic", địa điểm chính thức của hội nghị về vấn đề Việt Nam.

Trung tâm các hội nghị quốc tế ở Paris, tên cũ là "Hotel Majestic", địa điểm chính thức của hội nghị về vấn đề Việt Nam.
                       Quang cảnh Choisy-le-Roi, thành phố cách trung tâm Paris 15km, nơi đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lưu trú và làm việc từ năm 1968 đến 1973. 
Quang cảnh Choisy-le-Roi, thành phố cách trung tâm Paris 15km, nơi đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lưu trú và làm việc từ năm 1968 đến 1973
                     Trụ sở của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Choisy-le-Roi ở Paris, năm 1968. 
Trụ sở của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Choisy-le-Roi ở Paris, năm 1968.
                     Tòa nhà số 11 phố Darthé, địa điểm diễn ra cuộc họp riêng đầu tiên giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy (đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với Đại sứ Mỹ Averell Harriman.
Tòa nhà số 11 phố Darthé, địa điểm diễn ra cuộc họp riêng đầu tiên giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy (đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với Đại sứ Mỹ Averell Harriman.
                     Biệt thự Fernand Léger ở phố Gif-sur-Yvette, là nơi tiếp khách của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, cũng là nơi họp riêng của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ. 
Biệt thự Fernand Léger ở phố Gif-sur-Yvette, là nơi tiếp khách của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, cũng là nơi họp riêng của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ.
                     Ngôi nhà ở Neuilly-sur-Seine, do đoàn Mỹ thuê, là nơi họp riêng giữa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ.
Ngôi nhà ở Neuilly-sur-Seine, do đoàn Mỹ thuê, là nơi họp riêng giữa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ.
                     Trụ sở của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Verrières-le-Buisson, cách trung tâm Paris 15km. 
 Trụ sở của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Verrières-le-Buisson, cách trung tâm Paris 15km
 
                                   Quang cảnh lễ ký kết chính thức Hiệp định Paris.
Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973 (Ảnh tư liệu)

                       
Ngày 3/6/1968, đông đảo các chính khách và Việt kiều tại Paris ra sân bay Bretigny (Pháp) đón đ/c Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.
                       
Sáng 4/11/1968, Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Trưởng đoàn dẫn đầu đến Paris (Pháp) dự Hội nghị bốn bên về Việt Nam. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.
                                  
Chữ ký của các các bên trong Văn bản Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN.
                       
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đón Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ở Phủ Chủ tịch sau khi ký Hiệp định Paris trở về Việt Nam. Đông đảo đại diện các đoàn ngoại giao đến chúc mừng, chia vui trước thắng lợi lịch sử của nhân dân ta. Ảnh: Tư liệu - TTXVN.
                       
Quang cảnh Cuộc nói chuyện chính giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Đoàn Việt Nam ngồi phía bên phải). Ảnh Tư liệu – TTXVN.
                      
Ngày 9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng viên quốc tế tập trung tại sân bay Bourget đón đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh Tư liệu – TTXVN.
                      
Ngày 25/01/1969, Hội nghị bốn bên về Hòa bình tại Việt Nam chính thức khai mạc phiên toàn thể đầu tiên, gồm 4 đoàn đại biểu: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ảnh:Tư liệu - TTXVN.
                       
Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu - TTXVN.
                      
Thực hiện Hiệp định Hòa bình Paris, trong hai ngày 28 và 29/3/1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: Văn Bảo - TTXVN.

                                Gần 300 hình ảnh, hiện vật về Hiệp định Paris - Cánh cửa hòa bình - Ảnh 8.
Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng các đồng chí đảng viên đảng cộng sản Pháp tại lễ ký kết Hiệp định Paris
 (Ảnh tư liệu: BNG)
Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam, có lẽ chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Paris. Gần 5 năm, với 202 phiên họp công khai và 24 cuộc gặp riêng, đàm phán Paris là cuộc đấu trí giữa hai nền ngoại giao: Việt Nam và Mỹ. Nhìn lại vị thế của Việt Nam kể từ khi bắt đầu bước vào bàn đàm phán đến khi Mỹ đặt bút ký vào Hiệp định Paris, chính thức thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đã có nhiều khác biệt cơ bản. Từ một nước bị giày xéo trong bom đạn, cái mà Việt Nam đem đến bàn đàm phán là một tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý, giành độc lập tự do của cả một dân tộc. Những thắng lợi vang dội trên chiến trường Việt Nam, đặc biệt là cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không” là đòn quyết định buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
 

Lễ cuốn cờ ở Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ tại Sài Gòn để rút quân ra khỏi Việt Nam (ảnh tư liệu)


Ông Võ Văn Sung, Nguyên trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp cho rằng: Thắng lợi của Hiệp định Paris có 2 vế quan trọng. Thứ nhất, đứng về mặt ngoại giao thì phải bàn bạc, làm cho đúng, cho chủ nhà của Hiệp định Paris là Pháp đồng tình với ta, ủng hộ ta. Thứ hai, làm thế nào để nhân dân thế giới đứng về phía ta. Phải nói rằng, trong 12 ngày đêm bầu trời Hà Nội thì rực lửa bắn máy bay, ngày nào ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp cũng gặp đoàn Việt Nam. Ông rất cần thông tin để có thái độ. Trong 12 ngày đêm đó, nước Pháp là mùa đông nhưng không khí hừng hực tất cả. Hừng hực tình cảm của người dân Pháp, hừng hực tình cảm của bà con Việt kiều, tình cảm của bạn bè quốc tế, bạn bè Tây Âu ủng hộ Việt Nam.

                                                    
Lính Mỹ lên máy bay về nước hôm 29/3/1973 dưới sự chứng kiến của các quan sát viên thuộc lực lượng Giải phóng.

Bức ảnh chụp ngày 30/3/1973 khi 55 lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam bằng máy bay C-141 và đáp xuống sân bay Travis, bang California.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình
ký Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.


Hiệp định Paris 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng chứa đựng nhiều phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”, thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.

Hiệp định Paris và việc Mỹ rút khỏi Việt Nam góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia. Giải pháp về Lào gần như đồng thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2/1973. Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4/1975.

Đặc biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Đông Nam Châu Á; quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán; xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.

Hội nghị Paris đã để lại nhiều bài học lớn, trong đó có bài học về ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế - bài học còn nguyên giá trị đối với các quốc gia.

Gần 300 hình ảnh, hiện vật về Hiệp định Paris - Cánh cửa hòa bình - Ảnh 9.
 
Hình ảnh ký kết Hiệp định Paris. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và đại diện hai phái đoàn ta trả lời báo chí trước khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết (ngày 25/1/1973)
Trong bức ảnh chụp ngày 12/4/1973, sĩ quan Daniel Ellberg, đồng bị đơn trong phiên tòa Pentagon Papers (vụ tiết lộ tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ trong đó có thông tin Mỹ bán đứng Việt Nam Cộng hòa để lấy lòng Trung Quốc) đứng cạnh vợ, Patricia, trong lúc nói chuyện với phóng viên.
Trong bức ảnh chụp ngày 31/3/1973, đô đốc John S. McCain Jr. (trái) và con trai là trung úy John S. McCain III hội ngộ tại Jacksonville, Florida.
Việt kiều ở Paris hoan nghênh Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết năm 1973.
Việt kiều ở Paris hoan nghênh Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết năm 1973.
                                  Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy, Cố vấn Lê Đức Thọ gặp gỡ phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Hội nghị Paris năm 1973.
 
Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở 11 phố Darthe. Ảnh tư liệu
                         Dấu ấn đồng chí Lê Đức Thọ với cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris
Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, tiến sĩ Henry Kissinger, hai người tạo ra những huyền thoại ngoại giao về cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Ảnh tư liệu


                       
Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam
 
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong số 8 cuộc chiến tranh của nước Mỹ: 11 năm 1 tháng (cuộc chiến tranh kéo dài đứng hàng thứ hai là cuộc nội chiến Nam - Bắc cũng chỉ có 4 năm). Nhưng cuộc chiến tranh đó đã đem lại lợi ích gì cho nước Mỹ? Chỉ là một con số 0 to tướng nếu không kể những tội ác và những tàn phá mà nó gây ra. Không những thế nó đã làm cho nước Mỹ phải hao người, tốn của ghê gớm và phải chuốc lấy một nỗi hổ thẹn ê chề do tính ngạo mạn, mù quáng gây ra. Chúng ta có thể liệt kê ra những hổ thẹn ấy:
1 - Cường quốc số 1, giàu có nhất thế giới đã thực sự thua trận trước một nước nhược tiểu, nghèo nàn và lạc hậu.
Chỉ vì một não trạng hoảng sợ trước một điều hoang đường là sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á mà Mỹ đã gây ra chiến tranh ở Việt Nam. Và còn vì điều như Allman viết trong “Hai mươi năm dính líu của Mỹ ở Đông Dương: Điều mỉa mai của lịch sử nước Mỹ”, như sau:
“Một sai lầm dai dẳng suốt ¼ thế kỷ của chính sách Mỹ là dựa vào niềm tin không suy suyển về sức mạnh của Mỹ có thể tự tạo ra cho nó tính hợp pháp và làm được tất cả.
Từ Rostow, Achesơn, Dean Rusk đến Kissinger đều có những lời nói như: “Chúng ta là nước hùng mạnh nhất thế giới”, “không một nước châu Á vùng nhiệt đới nào nhỏ bé, nghèo nàn, không phải là người da trắng mà lại không bị gục ngã trước hỏa lực của Mỹ nếu như thời gian ném bom đủ dài, nếu như con số người chết cứ cộng mãi vào đủ lớn”.
Chính quyền Níchxơn là chính quyền cay cú nhất, lồng lộn nhất, điên khùng nhất. Khi đã giở mọi thủ đoạn đấm đá, hù dọa mà “nhân dân Việt Nam quyết không sợ”, chính quyền Níchxơn bèn giở trò bỉ ổi cuối cùng là tìm kiếm xin xỏ sự trợ giúp từ hai đối thủ tiềm tàng của mình là Liên Xô và Trung Quốc. Chính quyền Níchxơn cũng là chính quyền lừa dối trơ tráo, “khủng khiếp” nhất trong lịch sử nước Mỹ; lừa dối đối phương đã đành, còn lừa dối lẫn nhau, lừa dối đồng minh (chính quyền Thiệu), lừa dối nhân dân Mỹ, lừa dối thế giới và tự huyễn hoặc lừa dối chính bản thân mình về khái niệm “danh dự”. Do đó chính quyền Níchxơn đã gặt hái thất bại ê chề nhất, bị nguyền rủa nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ. Níchxơn là một tổng thống phải tự kết thúc sự nghiệp chính trị của mình một cách đáng xấu hổ nhất, nhục nhã nhất trong các đời Tổng thống Mỹ.
Trong tiểu luận “Điều mỉa mai trong lịch sử nước Mỹ”, Niebluer, một nhà thần học đã kết luận: “Điều mỉa mai không phải là đến tận phút chót (của thất bại), nhiều người Mỹ vẫn tưởng là mình đang thắng, mà là gần như một thời gian dài, người ta vẫn tưởng rằng thắng lợi chỉ cần cố gắng một chút là có thể giành lấy… Chúng ta chưa hề bao giờ tiên đoán là nước hùng mạnh nhất trái đất lại phải chịu đựng cái điều ước mơ làm chủ lịch sử và bị cự tuyệt một cách mỉa mai đến như vậy”.
Trong “Mỹ đã kiệt sức vì chiến tranh Việt Nam” (Tuần tin tức, 8-2-1973) có viết: “Sự thất bại đầu tiên và đau đớn nhất trong lịch sử quân sự Mỹ”“Một cuộc chiến tranh không sản sinh ra chiến thắng huy hoàng, không sản sinh ra anh hùng dân tộc, và không sản sinh ra những bài ca rung động lòng người…”.
Theo Don Luce, J. Sonner: “Thất bại của Mỹ ở Việt Nam chủ yếu là do không hiểu biết, không nắm được tư tưởng, ý nghĩa và tính cách của người Việt Nam mà đã dùng vũ lực tàn bạo. Ở Việt Nam, người Mỹ không mù quáng nhưng họ là những người điếc và câm”.
2 - Cuộc chiến tranh Việt Nam làm xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt nhất, nhiều sự bội tín và lừa dối nhất trong chính giới Mỹ, bị toàn thể loài người tiến bộ, kể cả nhân dân Mỹ oán trách, chê cười, nguyền rủa:
Tướng tư lệnh chiến trường Oétmolen, từ một người thận trọng; có phần khiêm tốn, do được tâng bốc lên tận mây xanh, được chính quyền Giônxơn đặt toàn bộ hy vọng vào tài năng ông ta nên cũng được “cưng chiều”, được chu cấp đầy đủ nhất mọi thứ mà ông ta đòi hỏi, đã trở thành kẻ huênh hoang, phát biểu nhiều lời khinh xuất, để rồi mau chóng trở thành kẻ tội đồ, bị chính những người tâng bốc quay lại chửi bới thậm tệ. Ông này không vừa, đổ vấy tất cả trách nhiệm thua trận cho chính phủ Mỹ và như vậy càng làm cho mọi người khinh khi.
3 - Là một nước đứng đầu về sự hùng mạnh, có những lời tuyên ngôn bất hủ như một chân lý sáng ngời, có vai trò cầm cân nảy mực, gìn giữ trật tự thế giới mà lại hành động một cách hoàn toàn trái ngược, tàn ác ở Việt Nam, một đất nước bé nhỏ, chỉ muốn được thống nhất, độc lập, bình đẳng, tự do mưu cầu hạnh phúc mà trước đó cũng như sau này chưa bao giờ động chạm đến quyền lợi của nước Mỹ.
Một người anh Đồng Minh đã dội xuống đầu người em đi theo Đồng Minh tất cả sức mạnh áp đảo về vũ khí, bom đạn (trừ bom nguyên tử), gây ra biết bao nhiêu sự hủy diệt, đau thương tang tóc cho dân thường vô tội ở cả hai phía một cách hoàn toàn vô tích sự, để rồi phải chịu thất bại không thể chối cãi được, phải ký vào cái không muốn ký mà bỏ của chạy lấy người, bỏ đi, mặc cho “đệ tử” bị “nện” chết, không quay lại cứu mà nói đến danh dự thì thật là nực cười!
Tháng 11-1982 ở Mỹ đặt đài tưởng niệm quân nhân Mỹ đã chết trận ở Việt Nam. Số tên người được khắc trên đó là 57.939. Họ là ai trước khi là quân nhân Mỹ? Là con em nhân dân Mỹ! Tại sao họ bị điều động đến một đất nước nhỏ bé cách nước Mỹ nửa vòng trái đất để chết ở đó, và chết để làm gì, chết cho ai? Có phải là họ chết để bảo vệ quê hương họ, cho sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Mỹ không? Chắc rằng đứng trước bức tường tưởng niệm bằng đá hoa cương ấy, không một người Mỹ nào cảm thấy tự hào mà trái lại, chỉ thấy xót thương, tủi nhục.
Sau thắng lợi của hai mùa khô, ta chủ trương mở mặt trận ngoại giao để phối hợp với mặt trận quân sự nhằm tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập trường chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới. Mục tiêu trước mắt là đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom phá hoại miền Bắc. Tháng 3/1968, sau cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân, Giôn-xơn ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, bắt đầu nói đến việc thương lượng và đàm phán với ta.
Có thể là vô tình nhưng bức tường đó đã là một chứng tích của tội ác. Tội ác ấy là do ai gây ra nếu không phải là những tập đoàn lãnh đạo nước Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranh vô nghĩa ở Việt Nam?
Theo Emtơ (Lời phán quyết về Việt Nam) thì cuối năm 1970, tổ chức “Binh lính đoàn kết chống chiến tranh Việt Nam” đã ra tuyên bố:
“Mười năm qua, đất nước chúng ta tham gia vào một cuộc chiến tranh lâu dài, mòn mỏi, tốn kém và thê thảm ở Việt Nam. Phần đông người Mỹ không ủng hộ cuộc chiến tranh đó, ngày càng có thêm nhiều người phản đối, kể cả những binh sĩ đang làm nhiệm vụ. Chúng tôi, những người lính, chúng tôi buộc phải chịu đau khổ nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam thất bại này. Nhiều người trong chúng tôi bị bắt lính trái với ý muốn của chúng tôi, để thực hiện một cuộc chiến tranh không hợp pháp, không đạo đức và không chính nghĩa”.
Ngày 19-4-1971, 2.000 cựu binh sĩ về Oasingtơn gặp Quốc hội, tại nghĩa địa Arlington đã tổ chức rước đuốc phản đối đến Nhà Trắng. Đỉnh cao là lúc các cựu binh sĩ vứt bỏ các huân chương về Việt Nam của họ trên thềm nhà Quốc hội để phản đối chiến tranh… Các cựu chiến binh cũng đã dẫn đầu những đoàn biểu tình tại Oasinhton, vào ngày 24-4 là 300.000 người, ngày 1-5 là 200.000 người, đòi “Chấm dứt chiến tranh hoặc chấm dứt chính phủ”...
Bản thân Kítxingiơ, trong “Những năm ở Nhà Trắng” có viết: “Tôi nhận được những bức thư lời lẽ gay gắt không thể tưởng tượng được của những người xưa kia đã từng là bạn bè, của những công dân đầy giận dữ. Những lời buộc tội như “phi đạo đức”, “lừa bịp” được tung ra bừa bãi, “dã man” là một tính từ được người ta ưa dùng, nhiều chính phủ nước ngoài cũng lớn tiếng chỉ trích. Chính phủ Thụy Điển so sánh chúng ta với bọn Quốc Xã. Không một đồng minh NATO nào ủng hộ chúng ta”.
Một học giả Nhật là Maruyama Shizuo đánh giá: “Khi tôi gọi nó là “chiến tranh bằng không quân”, tôi muốn đề cập đến một tình trạng trong đó lực lượng không quân thay thế lực lượng lục quân và đảm nhận cuộc chiến đấu. Con số bộ binh của Mỹ ở Việt Nam vào cuối tháng 1-1973 còn không quá 25.000. Tuy thế, hồi tháng 12-1972, Mỹ đã mở ra ở Đông Dương một cuộc chiến tranh không quân tàn bạo nhất trong toàn bộ lịch sử loài người”.Hãng UPI công bố ngày 16-1-1973, số bom Mỹ đã ném từ năm 1965 đến năm 1972 là 7.438.052 tấn.
Harrison, Roger Pic và một số nhà nghiên cứu phương Tây khác cho biết: Trong 8 năm, Mỹ đã ném xuống Việt Nam 7.800.000 tấn bom. (Trong đó có B52 đã bay 124.522 lần xuất kích và ném 2.949.000 tấn hay 1/3 tổng số lượng bom).
Với thái độ điên cuồng lồng lộn, việc ném bom và pháo kích từ 300.000 tấn hồi năm 1965 tăng lên trên 1 triệu tấn vào năm 1966. Trên 2 triệu tấn trong mỗi năm từ 1967 đến 1970 (đỉnh cao là 2.966.548 tấn vào năm 1968), và gần bằng ngần ấy trong những năm 1971 và 1972.
Vào năm 1973, Mỹ và Nam - Việt Nam đã sử dụng trên 14 triệu tấn bom và đạn ở Đông Dương.
Người ta dự tính là ở Đông Dương có khoảng 26 triệu hố do bom gây ra, trong đó 21 triệu hố ở miền Nam - Việt Nam. Số bom này đã hất đi khoảng 3.000 triệu mét khối đất. Con số này lớn gấp 10 lần số đất đào lên của 2 công trình kênh đào Suez và Panama cộng lại, và chiếm một diện tích khoảng 13.000 km2 - khoảng 1/3 diện tích miền Nam - Việt Nam hoặc 1/25 diện tích toàn Việt Nam. Gấp 3 lần số lượng 2.057.244 tấn bom mà không quân Mỹ đã ném xuống châu Âu, Bắc Phi và Thái Bình Dương trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, hay nhiều hơn 2 lần số bom mà tất cả các nước tham chiến sử dụng trên tất cả các chiến trường trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai. Gần 12 lần số bom đã ném trong chiến tranh Triều Tiên là 635.000 tấn. Bằng sức nổ của trên 700 quả bom nguyên tử, loại đã thả ở Hiroshima và kể cả 400.000 tấn napan nữa.


                        
                            Cựu chiến binh Việt Nam ném huy chương tại Điện Capitol Hoa Kỳ     
        

Các cựu chiến binh Việt Nam phản đối chiến tranh trong Chiến dịch Dewey Canyon III 


Các cựu chiến binh từng tham dự chiến tranh ở Việt nam vứt bỏ các huân chương, ghi nhận... ở Washington năm 1971.

 

Một nhóm sinh viên nữ tại Đại học California, Berkeley, Mỹ, biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Phần lớn phong trào chống chiến tranh bắt đầu từ các trường đại học với các tổ chức như Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ (SDS). Ảnh: history.com 
                
Cựu binh Barry Romo (thứ 2 từ trái sang) biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam vào những năm 1970.
 
                Ngày nay, không còn nhiều người thường xuyên nhắc đến những tấm gương phản chiến bằng cách tự thiêu. Nhưng câu chuyện của họ vẫn còn vang vọng, đặc biệt trong một thế giới vẫn đang chịu cảnh tang thương, đổ nát vì xung đột vũ trang và bất công. Ảnh: Shutterstock.
Ngày nay, không còn nhiều người thường xuyên nhắc đến những tấm gương phản chiến bằng cách tự thiêu. Nhưng câu chuyện của họ vẫn còn vang vọng, đặc biệt trong một thế giới vẫn đang chịu cảnh tang thương, đổ nát vì xung đột vũ trang và bất công. Ảnh: Shutterstock  

Alice Herz: Ngọn lửa đầu tiên

Vào buổi tối yên tĩnh ngày 16/3/1965, Alice Herz, một cụ bà 82 tuổi gốc Do Thái - Đức, bước đến góc đường Warren và Elmhurst ở thành phố Detroit, bang Michigan. Tại đó, bà dội xăng lên người và châm lửa.

Bà Herz để lại một bức thư với nội dung: “Tôi chọn cái chết rực sáng như một hòa thượng Phật giáo để phản đối việc giết hại những người vô tội tại Việt Nam”.

Bà Herz chạy trốn khỏi nước Đức quốc xã năm 1933 cùng con gái và định cư tại Mỹ, nơi bà trở thành một nhà hoạt động phản đối vũ khí hạt nhân và chủ nghĩa quân phiệt.

Dù sống sót sau vụ tự thiêu, bà qua đời tại bệnh viện sau 10 ngày do bỏng nặng. Con gái bà, Helga Herz, một thủ thư và nhà hoạt động vì hoà bình, tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của mẹ. Bà Helga mất năm 2010, thọ 94 tuổi.

Bà Alice Herz là công dân Mỹ đầu tiên tự thiêu để phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng các hãng tin lớn của Mỹ bỏ qua trường hợp đặc biệt này.

                         Bà Alice Herz. Ảnh: Wikipedia.

                                     Bà Alice Herz. Ảnh: Wikipedia.

Norman Morrison: Mang theo con gái 1 tuổi

“...Ê-mi-ly, con ơi!

Trời sắp tối rồi...

Cha không bế con về được nữa!

Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa

Đêm nay mẹ đến tìm con

Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn

Cho cha nhé

Và con sẽ nói giùm với mẹ:

Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!

Oa-sinh-tơn

Buổi hoàng hôn

Còn mất?

Đã đến phút lòng ta sáng nhất

Ta đốt thân ta

Cho ngọn lửa chói loà

Sự thật”.

(“Ê-mi-ly, con ơi” – Tố Hữu)

Chỉ vài tháng sau đó, vào ngày 2/11/1965, Norman Morrison, 31 tuổi, một tín hữu Quaker (thành viên nhóm Kitô giáo lịch sử của các phong trào tôn giáo chính thức), lái xe tới trụ sở Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington, D.C. Tại đó, dưới cửa sổ tầng ba nơi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đang làm việc, ông Morrison đổ dầu hoả lên người và châm lửa.

Trong một hành động vừa đầy yêu thương vừa bi tráng, ông Morrison mang theo con gái một tuổi tên là Emily. Ông trao bé Emily cho một người qua đường ngay trước khi châm lửa. Nhân chứng kể lại rằng, ông Morrison đứng yên lặng khi lửa bao trùm cơ thể mình.

Là một Kitô hữu sùng đạo và nhà hoạt động hoà bình, ông Morrison tin rằng sự im lặng trước tội ác là đồng lõa. Hành động của ông gây chấn động toàn thế giới.

Tại Việt Nam, nhiều người tiếc thương và kính trọng Norman Morrison – một số trường học và con đường mang tên ông, ví dụ đường Morrison, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, người mà ông Morrison muốn đánh động, cũng thú nhận trong hồi ký năm 1995 mang tên “In Retrospect” (Hồi tưởng) rằng: “Cái chết của Norman Morrison ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn tôi tưởng. Anh ấy đúng, còn tôi đã sai”.

Ông Morrison để lại người vợ Anne Welsh Morrison, một nhà giáo và nhà hoạt động vì hoà bình, và ba con. Bà qua đời năm 2023 ở tuổi 87.

Con gái Emily lớn lên trở thành nhà văn và người vận động xã hội. Sau này, bà Emily viết về gánh nặng tâm lý khi là đứa trẻ trong một vụ tự thiêu bi hùng như vậy, nhưng cũng khẳng định lòng kính trọng đối với sự hy sinh của cha mình.

                            Ông Norman Morrison. Ảnh: Wikipedia.

                                Ông Norman Morrison. Ảnh: Wikipedia.

Roger LaPorte: Im lặng trước trụ sở Liên Hợp Quốc

Chỉ một tuần sau, Roger Allen LaPorte, một thanh niên 22 tuổi thuộc phong trào Công giáo Lao động, đã tự thiêu bên ngoài trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York. Ngày 9/11/1965, tại quảng trường Dag Hammarskjöld, LaPorte ngồi xếp bằng, đổ xăng lên người và tự châm lửa, lửa bùng lên nhưng anh không một tiếng kêu than.

Dù bị bỏng tới 90% cơ thể, anh LaPorte vẫn còn tỉnh đủ lâu để nói với cảnh sát. Khi được hỏi lý do tự thiêu, anh đáp: “Tôi phản đối chiến tranh - tất cả các cuộc chiến tranh”.

Anh LaPorte qua đời vào ngày hôm sau tại bệnh viện Bellevue.

Cộng đồng Công giáo Lao động bàng hoàng. Người sáng lập phong trào, bà Dorothy Day, viết một bài xã luận đầy mâu thuẫn trong Tờ Công giáo Lao động, vừa ngưỡng mộ sự hy sinh của LaPorte, vừa đau buồn vì hành động cực đoan đó.

Gia đình anh, bao gồm cha mẹ và anh trai, từ chối xuất hiện công khai, xin được để tang trong yên lặng.

                            Anh Roger Allen LaPorte. Ảnh: Wikipedia.

                              Anh Roger Allen LaPorte. Ảnh: Wikipedia.

Những ngọn lửa khác

Một số người Mỹ khác cũng chọn cách tự thiêu để phản đối chiến tranh, dù ít được nhắc đến.

Florence Beaumont, 56 tuổi, giáo viên tại bang California, tự thiêu ngày 15/10/1967 trước cửa Tòa nhà Liên bang ở thành phố Los Angeles. Bà tử vong tại chỗ.

Là mẹ hai con và người ủng hộ hoà bình lâu năm, bà Beaumont cảm thấy tuyệt vọng trước sự thờ ơ của chính phủ.

Anh George Winne Jr., sinh viên 23 tuổi tại Đại học California - San Diego (thành phố San Diego, bang California), tự thiêu tại Quảng trường Revelle trong khuôn viên trường vào ngày 10/5/1970. Anh mang theo biểu ngữ: “Nhân danh Chúa, hãy chấm dứt cuộc chiến tranh này”.

Anh Winne Jr. qua đời ngày hôm sau. Một tấm bia nhỏ hiện đánh dấu nơi anh ngã xuống và hằng năm có lễ tưởng niệm.

Anh Kenneth Martin, một thanh niên từ bang North Carolina, tự thiêu ở thành phố Charlotte vào năm 1965. Anh qua đời sau vụ tự thiêu vì biến chứng. Trong thư để lại, anh khẳng định hành động của mình là lời kêu gọi đánh thức lương tri quốc gia.

                          Một người qua đường nhìn chiếc ví mà bà Florence Beaumont để lại (xác bà được che phủ ở phía xa). Ảnh: Times.

          Một người qua đường nhìn chiếc ví mà bà                    Florence Beaumont để lại (xác bà được che phủ ở phía xa). Ảnh: Times.

                 1

Năm 1968, một nhóm nữ sinh của Đại học California - Berkeley, Mỹ, biểu tình để phản đối chiến tranh Việt Nam. Phần lớn phong trào phản chiến bắt nguồn từ trường học. Ảnh: History.com 

 

                1 

Ca sĩ huyền thoại John Lennon sáng tác bài Give Peace a Chance (Hãy cho hòa bình một cơ hội) với nội dung phản đối cuộc chiến. Tháng 10/1969, ông đã hát bài này trước khoảng 500.000 người biểu tình, chống cuộc chiến do Mỹ phát động. Ảnh: Getty

               1

Ngày 15/11/1969, hơn 500.000 người đổ xuống đường phố ở thủ đô Washington DC để tham gia một trong những cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử Mỹ, nhằm lên án hành động quân sự của nước này tại Việt Nam. Ảnh: History.com 

              

           1 

Cựu binh Mỹ phản đối chiến tranh bằng cách ném huy chương và quân phục qua hàng rào trước tòa Quốc hội Mỹ trên đồi Capital. Ảnh: History.com 

              1 

 Ngày 30/4/1970, Richard Nixon, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, tuyên bố cần thêm 150.000 lính tới Việt Nam. Động thái của ông chủ Nhà Trắng tạo nên cuộc biểu tình lớn tại các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Ảnh: History.com 

                      Đoàn người diễu hành trên đường phố Washington DCĐoàn người diễu hành trên đường phố Washington DC yêu cầu chính phủ chấm dứt các hoạt động quân sự tại Việt Nam, tháng 4/1971. Theo History.com, các hoạt động chống cuộc chiến góp phần vào việc Nixon quyết định đưa quân rời Việt Nam tháng 1/1973. Ảnh: Vintage                     

                                 
 
Năm 1968, trong một lần ám sát hụt một tên mật thám, bà Võ Thị Thắng bị bắt, bị tòa tuyên án 20 năm khổ sai. Ngày 2/8/1968, trước Tòa án quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sau khi nghe kết án, bà đã bình tĩnh, tự tin, nở nụ cười và dõng dạc tuyên bố:“Liệu chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”. 

                               
Trong 6 năm ròng rã, bà Võ Thị Thắng đã bị kẻ thù đày đọa, giam cầm, tra tấn hết nhà lao này đến nhà lao khác. Bà được trao trả ở chính sân bay Lộc Ninh trong đợt trao trả cuối cùng theo Hiệp định Paris (Bà Thắng là người đứng thứ ba từ phải sang).

                                
Bà Võ Thị Thắng (bên phải) cùng các bạn tù chính trị nữ trong đợt trao trả tù binh tại Lộc Ninh tháng 4/1974.

                                               
Vào lúc 8h15 phút sáng 22/8, bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ trong bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” nổi tiếng, sau một thời gian lâm bệnh nặng đã qua đời, hưởng thọ 69 tuổi. Tang lễ được cử hành tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng phía Nam (số 5 Phạm Ngũ Lão, phường 3, quận Gò Vấp, TP HCM). Lễ viếng bắt đầu vào lúc 8h30 ngày 23/8. Sau đó, đưa đi an táng tại quê nhà Long An vào sáng thứ hai 25/8.
 
Năm 1973, Giôn Yâng, một tù binh Mỹ, đã nhắc lại điều anh ta từng thấy: “Không thể thấy gì ngoài hố bom và mặt đất đã chết. Mặt đất giống cháo lúa mạch. Không có chim, không có cây, không có người. Không đồng ruộng, không vườn tược. Không có gì cử động. Đó là cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ”.
Theo Milton Leitenberg, khoảng 90.000 tấn chất độc hóa học của Mỹ đã rải xuống Việt Nam. Còn theo Allen Hassan trong tác phẩm “Không thể chuộc lỗi” của ông thì: “Chất da cam được sử dụng như một phương tiện của cuộc chiến tranh sinh hóa tại miền Nam - Việt Nam. Không có loại hóa chất nào gây hại đối với con người một cách nặng nề và dai dẳng hơn nó. Người Mỹ đã phun rải tổng cộng 25 triệu gallon (gần 80 triệu lít) gồm 15 loại hóa chất khai hoang - diệt cỏ khác nhau lên một diện tích gần 3,6 triệu mẫu Anh (tương đương 1,45 triệu hécta) rừng rẫy, làng mạc của Việt Nam, trong đó riêng chất da cam là 11,6 triệu gallon (gần 44 triệu lít)… Chất da cam làm rụng lá và giết chết cả các loại cây gỗ thuộc hàng thiết mộc, nó còn để lại những di chứng âm ỉ, bức bối, chết người trên binh lính của cả hai phía, và cả thường dân Việt Nam, trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ con… Trẻ con sinh ra tiếp tục bị khiếm khuyết, dị dạng bẩm sinh và nhiều di chứng khác, trong đó có ung thư.
Chất da cam có chứa chất cực độc là dioxin, gọi tắt là TCDD. Dioxin là chất sinh ra từ quá trình sản xuất chất diệt cỏ và là loại hóa chất độc hại nhất mà con người từng biết đến (có nhà khoa học cho rằng chỉ cần 85 gam dioxin (lượng này chứa trong một thìa súp) là có thể giết toàn bộ dân số một thành phố khoảng 8 triệu người). Một nhà nghiên cứu người Úc ước tính rằng có khoảng 368 pound (tương đương 167 kg) dioxin đã bị rải xuống Việt Nam trong vòng 6 năm… Hiện còn một lượng lớn dioxin đang nằm trong đất và nước ở Việt Nam”.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Níchxơn tàn bạo, dã man hơn Giônxơn. Mặc dù chỉ có 3 năm nhưng số lượng thuốc nổ thời Níchxơn lớn hơn của 5 năm thời Giônxơn. Tính trung bình hàng tháng thì thời Giônxơn là 59.704 tấn, còn thời Níchxơn là 95.402 tấn (gấp 1,6 lần). Riêng cuộc ném bom “12 ngày đêm” ở Hà Nội, Hải Phòng là 40.000 tấn. Tờ “Bưu điện Oasinhtơn” tháng 4-1972 đã đăng dòng tít: “Một tấn bom trong 1 phút, suốt 3 năm”. Theo Roger Pic: “Mỗi phút cầm quyền, Níchxơn ném xuống hơn 1 tấn bom, ông ta trở thành người đầu tiên từ trên trời cao gây ra những tàn phá hơn bất kỳ một người nào khác trong lịch sử nhân loại…”.
Thế thì tại sao Đế quốc Mỹ thua dân tộc Việt để phải rước lấy nỗi hổ thẹn lớn lao như vậy?
Để trả lời được câu hỏi ấy, trước hết phải trả lời được câu hỏi: Vì sao cuộc chiến tranh ấy lại xảy ra?
Cho dù nhận thức triết học về tự nhiên - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa hoàn hảo, nhưng lý tưởng của nó về một xã hội công bằng, không có cảnh người bóc lột người là thực sự cao đẹp, phù hợp với ước mơ ngàn đời của nhân dân cần lao các dân tộc toàn thế giới. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên bang Xô viết đã có những thành công to lớn, đáng kể nhờ có sáng kiến “Chính sách kinh tế mới” (NEP) của Lênin, người kế thừa xuất sắc C. Mác. Chính sách kinh tế ấy, cùng với quan niệm “Tư bản nhà nước”, dù biện hộ thế nào đi nữa thì bản chất của nó vẫn là: Kinh tế tập trung - bao cấp duy ý chí bắt buộc phải thỏa hiệp với kinh tế hàng hóa - thị trường tự do nhưng mù quáng.



                                   Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ Đà Nẵng được di tản trước khi thành phố này thất thủ.

                     Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ Đà Nẵng

                        được di tản trước khi thành phố này thất thủ.

                                   Từ ngày 28/3, hàng nghìn lính VNCH đã tập trung dọc bãi biển Đà Nẵng.

                        Từ ngày 28/3, hàng nghìn lính VNCH đã tập trung dọc bãi biển Đà Nẵng.

                                   Nhà báo Alan Dawson mô tả Đà Nẵng trong ngày 28/3: "Binh lính rã ngũ nổi loạn, cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong khoái lạc bắn giết và cướp bóc...".

Nhà báo Alan Dawson mô tả Đà Nẵng trong ngày 28/3: “Binh lính rã ngũ nổi loạn, cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong khoái lạc bắn giết và cướp bóc…”.

                                 "...Các tướng tá thì đang hoạch định các chuyến bay để bí mật trốn thoát... Suốt đêm, sự huỷ hoại, vơ vét, trộm cướp và hãm hiếp tiếp diễn. Toà nhà lãnh sự Mỹ, con voi trắng bị lột chỉ còn trơ cái vỏ".

“…Các tướng tá thì đang hoạch định các chuyến bay để bí mật trốn thoát… Suốt đêm, sự huỷ hoại, vơ vét, trộm cướp và hãm hiếp tiếp diễn. Toà nhà lãnh sự Mỹ, con voi trắng bị lột chỉ còn trơ cái vỏ”.

                                 Quân lực VNCH đã để lại rất nhiều loại vũ khí hạng nặng trước khi đào thoát từ bờ biển.

                        Quân lực VNCH đã để lại rất nhiều loại vũ khí hạng nặng trước khi đào thoát từ bờ biển.

                               Theo quan sát của phóng viên quốc tế, hàng chục xe tăng và cả một chiếc máy bay trực thăng đã bị vứt bỏ.

         Theo quan sát của phóng viên quốc tế, hàng chục xe tăng và cả một chiếc máy bay trực thăng đã bị vứt bỏ.

                                Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ Đà Nẵng được di tản trước khi thành phố này thất thủ.

        Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ Đà Nẵng              được di tản trước khi thành phố này thất thủ.

                              Tình cảnh tương tự xảy ra khi Sài Gòn được giải phóng ngày 30/4/1975. Hàng vạn binh lính ở nơi đây đã vứt bỏ quân phục và tìm cách thoát khỏi thành phố.

Tình cảnh tương tự xảy ra khi Sài Gòn được giải phóng ngày 30/4/1975. Hàng vạn binh lính ở nơi đây đã vứt bỏ quân phục và tìm cách thoát khỏi thành phố.

                                                          Binh lính Sài Gòn chen chúc trên một chuyến tàu quân sự rời khỏi Việt Nam.

Binh lính Sài Gòn chen chúc trên một chuyến tàu quân sự rời khỏi Việt Nam.

Ngày 28-4-1975, Thành phố Sài Gòn (sau được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh) đã trở nên vô cùng hỗn loạn và bất an. Những người Mỹ cuối cùng đã ý thức được sự thất bại không thể tránh khỏi và bắt đầu tìm cách đào thoát khỏi miền Nam Việt Nam. Ảnh: Chiến sự ở cửa ngõ Sài Gòn ngày 28-4-1975
Một nhóm binh lính hải quân đánh bộ Mỹ đang chạy trên đường băng mới bị không kích của căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, yểm trợ tốp lính Mỹ cuối cùng đồn trú tại đây lên máy bay đào thoát khỏi Sài Gòn.
Những người dân tìm cách trèo lên bức tường cao 4m của Đại sứ quán Mỹ, hy vọng có thể lên được những chuyến trực thăng cuối cùng chở những tốp lính Mỹ cuối cùng, rời khỏi thành phố sắp bị thất thủ.
Trong ảnh là máy bay trực thăng của lực lượng hải quân đánh bộ Mỹ từ các tàu chiến đỗ ở ngoài khơi bay vào Đại sứ quán Hoa Kỳ đón những binh lính Mỹ cuối cùng rời khỏi “chảo lửa” Việt Nam.
Đây là những tốp người Mỹ cuối cùng, trong đó có không ít ký giả hoặc là ở lại đưa tin về sự kiện lịch sử, hoặc là bị lỡ những chuyến bay trước đó, rời khỏi Sài Gòn ngay trước khi quân giải phóng tiến vào.
Một chiếc trực thăng của quân đội ngụy bị vỡ tan cánh quạt và suýt rơi xuống biển khi đáp xuống tàu chiến Mỹ khiến binh lính hải quân đánh bộ Mỹ rạp người đề phòng những mảnh vỡ của máy bay. Tuy nhiên tai nạn đã không xảy ra.
Ảnh chụp trên tàu chỉ huy chiến dịch sơ tán của Mỹ là tàu đổ bộ LCC-19 USS “Blue Ridge”. Lính hải quân đánh bộ Mỹ đẩy những chiếc trực thăng đang đỗ trên boong xuống biển để giành bãi đáp cho nhiều chiếc máy bay khác đang bay vòng trên không hạ cánh.
Đám đông dân chúng nam Việt Nam, trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ em rời khỏi trực thăng của hải quân đánh bộ Mỹ vừa hạ cánh xuống tàu chỉ huy USS “Blue Ridge”.
Chuyến di tản cuối cùng bằng đường thủy trên con tàu Nam Quan.


Sự phát triển của nền kinh tế Liên Xô sau Cách mạng tháng Mười là tất yếu, nhờ có Chính sách kinh tế mới của Lênin và tinh thần lao động quên mình, sự nhiệt tình của Đại chúng cách mạng Nga đi xây dựng ước mơ - lý tưởng cộng sản, chứ không phải nhờ vào cái gọi là “tính ưu việt” của chế độ xã hội chủ nghĩa. (Chúng ta cho rằng chế độ tốt đẹp nhất mà loài người có thể có là chế độ không đặt nặng vấn đề sở hữu, có thể vừa công hữu vừa tư hữu sao cho phù hợp với từng giai đoạn, tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh xã hội, có thể gọi tên, đặt nhãn mác cho chế độ đó là “xã hội chủ nghĩa” cũng được, nhưng nó phải là sự kế thừa của chế độ tư bản chủ nghĩa và bản chất của nó phải là hoàn toàn do dân và vì dân).
Giai đoạn cuối cùng của công cuộc xây dựng kinh tế Liên Xô sau cách mạng (dần xa rời“Chính sách kinh tế mới” của Lênin!) đã bộc lộ nhiều nhược điểm nhưng chưa đủ để nhận ra sai lầm về sự giáo điều trong phương thức điều hành kinh tế kiểu mới thì chiến tranh thế giới thứ hai đã nổ ra xóa nhòa tất cả. Cái hiện thực tốt đẹp do “duy ý chí” mà có ấy (và nếu không có chiến tranh thì cũng chỉ có thể tồn tại trong một giai đoạn hạn định như sau này đã thực sự xảy ra) đã là tấm gương sáng cho nhiều dân tộc bị đọa đày trên thế giới hướng về.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt nước Đông Âu chịu sự ảnh hưởng của Liên Xô, ở Châu Á thì có Trung Quốc và Bắc - Triều Tiên đã đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Sự hình thành một hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mà khẩu hiện của nó là triệt tiêu tư bản tư nhân, xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất, đã như một sự bành trướng của Cộng sản, làm cho các nước tư bản, đứng đầu là Mỹ vốn dĩ đã căm ghét, hoảng sợ càng thêm căm ghét, hoảng sợ. Chính điều này chứ không phải bất cứ điều gì khác đã làm cho chính giới Mỹ không ký vào bản Hiệp định Giơnevơ, dựng nên chính quyền bù nhìn ở miền Nam - Việt Nam, và từ đó mà gây ra cuộc chiến tranh hết sức tàn khốc ở Việt Nam. Tội ác của Đế quốc Mỹ đối với dân tộc Việt là không thể chối cãi.

Dân tộc Việt làm cách mạng chỉ với một mục đích duy nhất là giành độc lập, thống nhất nước nhà và xây dựng đất nước Việt Nam giàu có, hạnh phúc. Do đó nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, trước tiên là phải đánh đuổi ngoại xâm. (Bản chất của mọi kẻ xâm lược là ngoan cố cho nên một dân tộc bị áp bức muốn tự giải thoát thì chỉ còn cách đứng lên đấu tranh không khoan nhượng với kẻ xâm lược và hầu hết các trường hợp là phải đấu tranh vũ trang). Trong tình hình thế giới lúc bấy giờ, muốn kiên quyết triệt để cách mạng, thì phải nhận thức đấu tranh theo quan niệm của chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Cuộc chiến tranh Việt Nam đã lùi xa và thực tế lịch sử đã cho thấy Cộng sản Việt Nam chẳng bành trướng đi đâu cả. Đông Dương chẳng chịu bất cứ tai họa nào của cộng sản cả. Hơn nữa Cộng sản Việt Nam đã làm một việc hết sức mã thượng là ân tình: cứu Cămpuchia thoát khỏi nạn diệt chủng “Khơme đỏ” Pôn Pốt - Yêngxary.
Có lẽ Shingo Shibata, giáo sư trường đại học tổng hợp Hosei (Tokyo - Nhật), đã nhận định đúng về nguồn gốc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam khi ông viết trong “Những bài học của chiến tranh Việt Nam” như sau:
“Cuộc chiến tranh ở Việt Nam nổ ra đúng vào điểm sâu sắc của những mâu thuẫn nảy sinh ra từ sự xung đột trên qui mô toàn cầu giữa chủ nghĩa xã hội, các phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa đế quốc thế giới, xoay quanh chủ nghĩa đế quốc Mỹ.
Một mặt, bản chất chính trị và quân sự của cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, mang tính chất đế quốc, thực dân mới và mặt khác, nó là cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam giành độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước”.
Dưới đây là những nhận định của chính giới Mỹ vào buổi đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam
Năm 1953, Tổng thống Aixenhao (Eisenhower): “Để mất Việt Nam, mất Đông Dương thì sẽ khó có thể phòng thủ được bán đảo Malaixia. Bằng bất cứ giá nào đi nữa thì cũng phải chặn ngay nó (Cách mạng Việt Nam ) lại. Dù sao cũng còn có rẻ hơn cái giá phải trả sau này”
Tháng 1-1954, cũng Aixenhao: “Mất một nước nào đó ở Đông Nam Á thì cuối cùng sẽ dẫn đến việc mất cả Đông Nam Á rồi mất cả Ấn Độ, Nhật Bản và rút cuộc: làm nguy hại đến sự ổn định và nền an ninh của Châu Âu”.
Ngày 4-4-1954, Aixenhao viết thư cho Sơcxin (Churchill, thủ tướng Anh khi đó): “Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản thì hậu quả cuối cùng tác động đến thế chiến lược toàn cầu của chúng tôi và các ngài, dẫn đến sự thay đổi cán cân lực lượng trên toàn Châu Á và Thái Bình Dương. Điều đó có thể là rất tai hại và tôi biết rằng tôi và cả ngài đều không thể chấp nhận được”.
Ngày 5-10-1961, tổng thống Mỹ lúc này là Kennedy nói: “Hiện có hai nơi bị chiến tranh đe dọa, đó là vùng Đông Nam Á và Béclin… Cuộc khủng hoảng ở Béclin làm cho người ta để ý đến nhiều hơn và hình như Cộng sản muốn làm như vậy. Vì là Cộng sản có thể làm các cường quốc phương Tây đặc biệt chú ý đến Béclin, thì Cộng sản có hy vọng thâu đoạt được thắng lợi ở Đông Nam Á. Phải liên kết mọi hiểm họa ở Đông nam Á với mọi hiểm họa ở Béclin. Vấn đề Cộng hòa Việt Nam đang trở nên trầm trọng thêm vì những sự đột nhập quá đáng của Cộng sản. Dân tộc Mỹ rất quan tâm đến cả hai vấn đề này”.
Ngày 17-7-1963, cũng Kennedy: “Nếu Mỹ rút khỏi cuộc xung đột ở Việt Nam thì sẽ xảy ra sự sụp đổ không những ở miền Nam Việt Nam mà cả ở toàn bộ vùng Đông Nam Á”.

Ngày 26-3-1964, Mắc Namara: “Vai trò của Mỹ ở Nam - Việt Nam là chứng minh trong cuộc thử thách này, thế giới tự do có thể đối phó được với cuộc chiến tranh giải phóng như chúng ta đã từng đối phó có kết quả với Cộng sản ở các mức độ khác”, và “Đông Nam Á có ý nghĩa chiến lược lớn trong cuộc phòng thủ tiền tiêu của Mỹ. Vị trí của nó nằm trên các con đường hàng không và đường biển mà một bên sườn là tiểu lục địa Ấn Độ và sườn bên kia là Úc, Tân Tây Lan và Philippin; khống chế lối vào Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương. Nếu vùng này rơi vào tay cộng sản thì sẽ đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho nền an ninh của Mỹ và cho gia đình các quốc gia tự do, trong đó có chúng ta. Để bảo vệ Đông Nam Á, chúng ta phải đương đầu với cuộc thử thách ở Việt Nam”.

Với quan niệm và quyết tâm của Đế quốc Mỹ như vậy thì trước ý chí đấu tranh không khuất phục của dân tộc Việt trên con đường đi đòi lại quyền tự chủ và thống nhất tổ quốc của mình, chiến tranh là tất yếu. Đó là cuộc đối đầu quyết liệt đến một mất một còn giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa một bên là cả một dân tộc tuy còn nghèo nàn lạc hậu nhưng khao khát giành lại chủ quyền lãnh thổ, thoát kiếp bị nô dịch, và bên kia là đội quân nhà nghề của nước đế quốc đầu sỏ, giàu có số 1, hùng mạnh thuộc hàng nhất nhì thế giới nhưng mang bản chất đánh thuê,  máy móc, thiếu động lực chiến đấu. Nói một cách khác, đó là cuộc đối đầu giữa sức mạnh có tính vô địch của kháng chiến toàn dân cứu nước và sức mạnh có tính hung bạo của đế quốc xâm lược. Cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên vô cùng khốc liệt cũng là điều không thể tránh khỏi.

Tìm hiểu ra nguyên nhân làm xảy ra cuộc chiến tranh Việt Nam thì cũng phần nào thấy được nguyên nhân cơ bản làm cho Mỹ thua (cũng như trước đó đã làm cho Pháp thua): Đế quốc Mỹ thua vì nó đã tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa chống lại cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa và bất khuất, sẵn sàng chết đến người cuối cùng.
Quân xâm lược Mỹ là đội quân chính qui, trang bị đến tận răng, đủ loại phương tiện chiến tranh, có áp đảo về vũ khí, bom đạn hỗ trợ, chi viện tối đa, có thể là đối thủ đáng gờm của bât cứ đội quân nào trong một cuộc chiến tranh phân rõ trận tuyến nhưng trở thành vụng về, bất lực trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, một thế trận mà như Lão Tử nói là “dàn trận mà như không thành hàng, xua đuổi mà không đưa cánh tay ra, tuy có binh khí mà như không dùng binh khí, tuy có địch mà như không chạm trán với địch”. Trong thế trận ấy, quân Mỹ buộc phải khi hành quân càn quét thì tập trung cao độ và khi nghỉ ngơi, phòng ngự cũng phải co cụm cao độ, đã gặp khó khăn, mệt mỏi trong việc “tìm và diệt” mục tiêu, lại còn phải căng thẳng trong việc “quét và giữ” vì luôn trở thành mục tiêu cho đối phương tấn công bất cứ lúc nào. Một khi đội quân xâm lược ngày một tiêu hao và phương châm có tính quyết định đến thắng lợi của nó là đánh mạnh thắng nhanh bị phá sản thì đội quân ấy sẽ bị sa lầy, làm cho tính phi nghĩa của nó ngày càng bộc lộ, do đó mà nó cũng mất dần sự ủng hộ, bị phân hóa, đồng thời lực lượng kháng chiến cứu nước ngày một mạnh lên. Đế quốc Mỹ thua cuộc, phải rút khỏi chiến trường Việt Nam trước hết là do dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất, biết cách đánh giặc, sau đó là nhờ công lao cuộc đấu tranh, phản chiến của nhân dân Mỹ trong lòng nước Mỹ và có cả phần công lao của nhân dân tiến bộ toàn thế giới, trong đó có phần viện trợ vô cùng quí báu của Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Cu Ba là Walfredo Angulo, nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói rất xác đáng: “Khi bảo vệ lợi ích của nhân dân Pháp, Napôlêông là một nhà quân sự có tài, liên tiếp chiến thắng. Nhưng khi ông ta xâm lược Tây Ban Nha và Nga thì ông ta trở thành tướng chiến bại và kết thúc sự nghiệp ở Oatéclô. Cũng vậy, Mắc Namara, Oétmolen và các tướng lĩnh cao cấp khác của Mỹ đều là những người có bản lĩnh cao, những ông tướng học được nhiều kiến thức tại các học viện quân sự nhưng họ đã thất bại vì đã trở thành những công cụ phục vụ chủ nghĩa đế quốc. Đó là một thực tế của thời đại chúng ta… Nhưng cuối cùng, cái quyết định vẫn là con người. Họ tin vào sức mạnh của vũ khí và kỹ thuật, nhưng điều quyết định vẫn là bản chất và mục đích của cuộc chiến tranh”.
Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có lẽ giản dị là như thế thôi. Tuy nhiên nó vẫn mang tính thần kỳ bởi từ đó đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu nổi. Chính Kítxinhgiơ đã viết trong hồi ký của mình một cách băn khoăn: “Những nhà tâm lý học và xã hội học có lẽ ngày nào đó sẽ giải thích cho chúng ta phải suy nghĩ như thế nào đây về cái đất nước xa xôi và đơn điệu ấy, với những ngọn núi và những cánh đồng xanh rì, bên một biển xanh biếc, một đất nước hàng ngàn năm nay đã thu hút những người nước ngoài như một cái nam châm. Những người (nước ngoài) này đến đây để tìm kiếm vinh quang và đã vỡ mộng, đi vào để rồi trở ra với một thất vọng đắng cay. Có gì đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy, để làm cho số người đông như thế, từ các chân trời khác nhau đến để tìm đáp số cho điều bí ẩn và đã bị đẩy lùi với một sự kiên trì man rợ. Sự kiên trì man rợ đó không những đã xua đuổi những cố gắng của những người nước ngoài mà còn làm nguy hại cho cả sự ổn định bên trong của cả nước họ nữa”. 
                Trực thăng di tản trên nóc nhà Sài Gòn
Bức ảnh đi vào lịch sử: đám đông tranh nhau lên trực thăng trên 1 nóc nhà Sài Gòn
                Trèo tường vào tòa đại sứ 
                                   Đám đông trèo tường vào tòa đại sứ              
              CH-46 trên nóc tòa đại sứ 
                                 Một chiếc CH-46 trên nóc tòa đại sứ                
              CH-53 tại tòa đại sứ
Một chiếc CH-53 đang cất cánh từ bãi đỗ xe. Đến buổi tối thì đám lính gác phải huy động tất cả xe hơi bật đèn để chiếu sáng ở đây.
     9 giờ sáng ngày 30.4.1975. Lính dù VNCH đóng tại Hóc Môn kéo chạy về hướng trung tâm thành phố Sài Gòn. Bộ ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Đạt ghi lại những khoảnh khắc lịch sử trong ngày 30.4.1975. 41 năm đã qua nhưng những hình ảnh trên đường phố Sài Gòn ngày đó vẫn khiến nhiều người nhớ mãi.
     “Các cụ già và người đi đường đều tập trung nhìn tôi cầm máy ảnh đứng giữa đường tác nghiệp phóng sự. Trên người tôi lúc ấy dán chữ “Phóng viên” thật to phía trước ngực và phía sau lưng. Chỉ vài phút sau, quân Giải Phóng đi bộ tiến vào”, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đạt cho biết.
Bộ ảnh như thước phim quay chậm lại diễn biến của ngày 30.4.1975 lịch sử, ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Đường phố Sài Gòn, cuộc sống người dân trong khoảnh khắc ấy đã được ghi lại chân thật. Bộ ảnh này đã có mặt trong triển lãm kỷ niệm 35 năm ngày thống nhất đất nước (30.4.1975 – 30.4.2010).
    [CHÙM ẢNH] Sài Gòn, những khoảnh khắc trong ngày 30.4.1975 - ảnh 1 Lần đầu tiên nhìn thấy Bộ Đội Giải Phóng. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30.4.1975 quân giải phóng từ hướng Hóc Môn tiến vào trung tâm Sài Gòn đang đi ngang qua đường Trương Minh Giảng (Lê Văn Sỹ hiện nay) quận 3. Phía trước các anh là lính VNCH cởi áo đi trước. Những anh Bộ Đội năm xưa trong ảnh nếu nhận được ảnh này thì quý biết bao.
                                          May be an image of 2 people and text that says 'hotoby-NguyenDinhDab hoto by Nguyen NguyenDinhDat DinhD Dat DinhDat 10h30 10k3030-4-1975 30- -1975 யய Photo NguyenDat'

 10 giờ 30 sáng ngày 30.4.1975 những người lính VNCH cởi áo lính nhưng còn đeo thẻ bài trên cổ đang di chuyển về hướng trung tâm Sài Gòn. Tất cả đều là con của những người mẹ Việt Nam sinh ra

 
Còn Shingo Shibata, trong tác phẩm đã dẫn, thì viết:
“Lịch sử thế giới chưa từng bao giờ thấy có cuộc chiến tranh xâm lược nào lại bị nhân dân nhiều nước phản đối đến như thế và chưa từng thấy có cuộc chiến tranh nhân dân nào lại được nhân dân các nước đó đoàn kết ủng hộ đến như vậy”.
“Một trong những sự kiện kinh ngạc nhất của thời đại chúng ta là nhân dân Việt Nam, một nước bé nhỏ như vậy, đã có thể chiến đấu nhiều năm trời chống lại cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc lớn nhất và mạnh nhất trong lịch sử, đã chiến đấu cho đến thắng lợi trong cuộc chiến tranh hủy diệt lớn nhất và tệ hại nhất xưa nay chưa từng thấy.
Khi xét đến tổng số bom của các lực lượng Mỹ ném xuống tất cả các mặt trận trong đại chiến thế giới thứ hai là 2 triệu tấn và ném xuống đất Nhật Bản là 161.000 tấn so với 7.438 triệu tấn ném xuống Đông Dương, thì chính sự tồn tại của xã hội Việt Nam và sự tiếp tục sống sót của nhân dân Việt Nam phải được coi như một chuyện thần kỳ của thời đại chúng ta. Hơn thế nữa, thậm chí vượt qua cả điều đó, nhân dân Việt Nam và chính quyền của họ, mặc dù chịu đựng những hy sinh to lớn, vẫn duy trì được một ưu thế chính trị và tinh thần bất biến, uy tín của họ ngày càng tăng cả về quân sự lẫn ngoại giao. Họ luôn luôn giữ thế chủ động chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ và chế độ bù nhìn ở Sài Gòn.
Vì vậy, chúng ta đặt câu hỏi tại sao nhân dân Việt Nam đã có thể làm ra được một chuyện thần kỳ như vậy, một chuyện vô song trong lịch sử? Cố nhiên, khoa học xã hội không thừa nhận những chuyện thần kỳ, vì hiện tượng xã hội cần phải được nghiên cứu và làm sáng tỏ trên quan điểm khoa học”.
“Để giải thích sức chiến đấu của nhân dân Việt Nam, nhiều người đã chỉ ra tinh thần kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, “tinh thần dân tộc” của Việt Nam và “chủ nghĩa dân tộc” của Việt Nam. Rõ ràng là trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Đế quốc Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam đã biểu thị đầy đủ sức mạnh tinh thần ghê gớm của họ, tinh thần hy sinh, chịu đựng và sáng tạo của họ. Họ đã cho chúng ta một tấm gương sáng, vô song về sức mạnh tinh thần của con người, thể hiện đến mức tối đa những khả năng tiềm tàng mà chỉ có những khả năng đó mới có thể thực hiện được một kết quả kỳ diệu như vậy trong những hoàn cảnh khó khăn quá sức tưởng tượng, những thành tựu đó chắc chắn sẽ được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác như một bản anh hùng ca cần được ghi lại trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, câu hỏi của chúng ta là sức mạnh tinh thần đó đã được tạo nên và phát huy hết mức như thế nào?...

Nguyễn Khắc Viện, nhà sử học nổi tiếng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhấn mạnh ý nghĩa của thực tế là suốt mấy ngàn năm, nhân dân Việt Nam đã cần cù và kiên nhẫn xây dựng đê, kênh, rạch, hồ, ao và đắp đê chế ngự lũ lụt, hạn hán và bão, cày cấy ruộng đất của họ như thể bằng máu và mồ hôi của mình. Cuộc đấu tranh này, diễn ra hàng ngày qua bao nhiêu thế kỷ, đòi hỏi phải có tổ chức, và cũng trong suốt hai ngàn năm, người Việt Nam đã phải đánh lui nhiều cuộc xâm lăng của nước ngoài, mỗi lần đều phải huy động tất cả mọi nghị lực…”.

 

[CHÙM ẢNH] Sài Gòn, những khoảnh khắc trong ngày 30.4.1975 - ảnh 5
                               Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 1
Những người lính bộ binh Giải Phóng quân đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
                               Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 2
Chiếc xe tăng 843 cùng những người lính Giải Phóng quân trước sảnh lớn của Dinh Độc Lập. Ảnh: Francoise de Mulder
                               Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 3
Những người lính Giải Phóng đang vui sướng và phất cao lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trên chiếc xe tăng, sau khi đã chiếm được Dinh Độc Lập. Ảnh: Bettman
                                Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 4
Phút thư giãn của những người lính Giải Phóng quân. Mệt mỏi nhưng hạnh phúc, họ thoải mái hút thuốc ngay trong phòng làm việc của Tổng thống miền Nam Việt Nam sau khi đã chiếm giữ dinh Độc lập. Ảnh: Bettman
                                 Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 5
Những người Việt Nam Cộng hòa đầu hàng và đang bị lực lượng Giải Phóng quân giám sát trong khuôn viên Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
                                                     Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 6
Vị Tổng thống cuối cùng của chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đầu hàng quân Giải Phóng trong Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
                                 Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 ảnh 7

Đông đảo người dân Sài Gòn đã kéo về Dinh Độc Lập để chứng kiến mọi chuyện trong ngày 30-4-1975. Ảnh: Francoise de Mulder

Cuối cùng, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ ngót 30 năm của dân tộc Việt chống hai thế lực xâm lăng hùng mạnh, lần lượt là thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ, nói theo Xalăng (Raul Salan), viên tướng Pháp ở Việt Nam lâu nhất và hiểu Việt Nam nhiều nhất, đã từng là Tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp toàn Đông Dương kiêm Cao ủy Pháp ở miền Bắc Việt Nam, trong cuốn “Đông Dương đỏ” của mình thì: “Bí quyết của sức kháng chiến phi thường của nhân dân Việt Nam, phải được tìm kiếm trong tổ chức lao động hợp tác của họ, đã phát triển trong quá trình 4.000 năm đấu tranh với thiên nhiên và truyền thống chiến tranh nhân dân được thể hiện trong những cuộc kháng chiến của họ chống xâm lăng trước đây. Trên cơ sở những nhân tố đó, phải có một lãnh tụ tài giỏi, một tập thể lãnh đạo kiên cường, quả cảm, tiến hành một cuộc cách mạng triệt để, liên tục biết phá vỡ những tổ chức chính quyền và hệ tư tưởng cũ, tổ chức chính quyền mới, đề xướng một hệ tư tưởng mới có khả năng huy động được mọi lực lượng”.
Cuộc chiến tranh Việt Nam đã lùi sâu vào dĩ vãng nhưng những bài học mà nó để lại cho thế giới từ cả hai phía vẫn còn nóng bỏng tính thời sự. Có rất nhiều học giả từ trước đến nay đề cập đến vấn đề này. Jean Christophe Oberg, đã từng là đại sứ Thụy Điển ở Hà Nội, có bài viết chúng ta cho là rất hay. Chúng ta sẽ trích vài đoạn từ đó:
“… Cuộc kháng chiến khốc liệt của dân tộc Việt Nam chống lại một siêu cường quốc giàu có nhất, mạnh nhất thế giới phải được khắc sâu như một bài học không thể quên được đối với tất cả các siêu cường quốc và các nước khác hằng mơ ước đạt tới (siêu cường). Nước Việt Nam, mặc dầu lạc hậu về kinh tế và kỹ thuật, đã chứng minh được rằng một dân tộc nhỏ bé có thể huy động lực lượng và toàn bộ phương tiện cần thiết để không thể bị quật ngã khi nền độc lập của nó bị đe dọa”.
“Đây là bài học có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai, với những lý do khác nhau, chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình, để thực sự bảo vệ được nền độc lập và thống nhất dân tộc mình…”.
“Cuộc chiến tranh của Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc tạo ra một trật tự mới có tính chất bình đẳng hơn giữa các nước lớn, nhỏ và trung bình. Ngày nay, những ai muốn và đòi củng cố nền hòa bình thế giới theo những nguyên lý, những học thuyết của họ, những kẻ đó sẽ phạm sai lầm lớn khi ứng dụng những định lý có tính chất ảo tưởng của họ mà không muốn nhớ lại vực thẳm Việt Nam”.
“Bây giờ có thể chúng ta đã có đầy đủ lý do, mặc dù đã không biết được điều này sớm hơn, suy nghĩ trong chốc lát, để bày tỏ lời ca ngợi hàng triệu người Việt Nam vô danh, với vô vàn đau thương và hy sinh của họ, với giá của máu họ, đã đóng góp để tạo ra một trật tự mới của thế giới, mà trong đó Đông và Tây, Bắc hay Nam sẽ nhận thấy sự cần thiết tương trợ lẫn nhau chung sống hòa bình”.
Trong tác phẩm “Không thể chuộc lỗi” của Allen Hassan, bác sĩ dân sự người Mỹ, từng có mặt tại Nam - Việt Nam năm 1968 làm công việc chữa trị nhân đạo, chúng ta đọc được những đoạn này:
“Nước Mỹ nhớ rất kỹ những gì người khác gây cho họ nhưng lại quên rất nhanh những gì họ đã gây ra cho những người khác. Người chết không thể sống dậy, người tàn tật mãi mãi tàn tật, và nỗi đau mãi mãi là nỗi đau…”.
“Ở Việt Nam, chúng ta tiến hành một cuộc chiến tranh để ngăn chặn Cộng sản, nhưng chiến tranh đã không ngăn chặn được Cộng sản. Chúng ta gây thiệt hại to lớn cho nhân dân Việt Nam và cho chúng ta. Tại Việt Nam, quân đội chúng ta chú trọng đến việc đếm xác chết, nhưng trong những cuộc chiến tranh sau này như ở Irắc, thì lãnh đạo quân sự của chúng ta không còn bận tâm đến việc đếm xem có bao nhiêu thi thể thường dân tử vong nữa. Pascal nói: “Con người không bao giờ làm điều ác một cách hoàn toàn và vui vẻ như khi họ làm điều đó vì một đức tin tôn giáo”. Đã đến lúc phải quan tâm tới khái niệm về nghiệp chướng của người châu Á, theo đó, những điều chúng ta đã gây ra cho thế giới này một lúc nào đó sẽ trở lại với chúng ta…”.
“… Sự hiểu biết sẽ cải hóa và làm con người trở nên nhân bản. Lẽ phải làm cho chúng ta hòa nhã, nhưng thành kiến thì tận diệt mọi khuynh hướng hòa diu và dẫn đến chiến tranh. Nếu như chúng ta không thay đổi cách xử sự và trở lại là một đất nước hòa bình, hào phóng, sâu sắc và chu đáo, thì chúng ta sẽ tiếp tục đặt cược số phận của mình vào một ván bài, để rồi tự hủy hoại chính mình, hủy hoại cả hành tinh với vũ khí hạt nhân, vũ khí giết người hàng loạt, nước và thực phẩm bị nhiễm độc bởi chiến tranh sinh hóa.
Chúng ta chưa chuộc lỗi với những thiệt hại mà bom đạn và hóa chất của chúng ta đã gây ra tại Việt Nam. Tôi hy vọng rằng một ngày nào đó, chúng ta có thể giúp đất nước tươi đẹp này tẩy xóa hết hóa chất độc hại, những bom mìn chưa nổ, và rồi tạ lỗi cùng nhân dân Việt Nam về tất cả những gì chúng ta đã gây nên. Tôi hy vọng là chúng ta sẽ không quá kiêu hãnh và ngạo mạn để có thể thốt lên: “Chúng tôi chân thành xin lỗi!”, bằng tiếng Việt”.
“Theo truyền thống, người Mỹ tán thành và có thiện chí đối với các cuộc chiến tranh giành tự do hoặc các cuộc chiến tranh nhằm thiết lập một thể chế dân chủ. Chúng ta là nền dân chủ đầu tiên của Tân Thế Giới. Sức mạnh và ảnh hưởng của chúng ta lớn hơn bao giờ hết. Nhưng những hành vi quá khích đi cùng sự gây hấn và chinh phục sẽ làm người ta nhận ra sự hung bạo, làm cho người ta chán ghét, ghê tởm bởi những vụ thảm sát thường dân dưới danh nghĩa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Những lời dối trá về sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã đưa những công dân chúng ta đến chiến trường Việt Nam, và những lời cáo giác dối trá về vũ khí giết người hàng loạt đã đưa chúng ta đến với chiến trường Irắc. Không còn nghi ngờ gì nữa, thái độ ngạo mạn của Hoa Kỳ đối với các nước thuộc thế giới thứ ba đang đưa chúng ta vào một vòng tròn vô tận của các cuộc chiến tranh không bao giờ dứt…”.
“Chủ nghĩa khủng bố sẽ dần tiêu tan trên trái đất nếu như các cường quốc, những nước giàu mạnh đối xử với các nước thứ ba và nguyên thủ của họ bằng sự tôn trọng thực sự, và cùng nhau làm việc để đạt được mục tiêu chung. Tôn trọng đức tin của mỗi một dân tộc cũng như lịch sử của họ… Sự cao quí của người Mỹ không phải là sự cao quí của một đức vua hay của một tư lệnh hạm đội, mà là sự cao quí dân chủ rộng mở với bản tính tự nhiên, làm cho hầu hết công dân chúng ta đặc biệt thích làm điều tốt lành”.
“…, nhà khoa học Pháp vĩ đại Louis Pasteur đã nói trong một bài diễn văn ngày 27-12-1892: “Tôi có niềm tin chắc chắn rằng khoa học và hòa bình sẽ chiến thắng sự dốt nát và chiến tranh, rằng các quốc gia sẽ liên kết, không phải để hủy diệt mà là để xây dựng, và rằng tương lai sẽ thuộc về những ai cống hiến hết mình cho nhân loại”.
                                        Những bức ảnh để đời của nghệ sĩ Lâm Hồng Long ảnh 2
 

                                                Bức ảnh đã đi vào tâm trí của nhiều thế hệ,
                                      "Mẹ con ngày gặp lại" của nhà báo Lâm Hồng Long

 

Câu chuyện người tử tù

     Ông Lê Văn Thức sinh năm 1941 tại Châu Thành- Bến Tre. Đây là mảnh đất cách mạng với phong trào Đồng Khởi vào những năm 60 nên ông Thức sớm được anh em đồng chí giác ngộ. Sau khi thi tú tài, ông Thức đã vào căn cứ hoạt động. Ông được kết nạp Đảng năm 1966 rồi những người chỉ huy vận động ông trở lại để đăng lính Cộng hòa với nhiệm vụ của một tình báo viên.“Khi biết tôi bỏ căn cứ để về đăng lính, má tôi bả la dữ lắm. Bả cho rằng tôi không chịu được gian khổ mới bỏ về. Vì không thể nói với má là tôi về để cài cắm trong lòng địch nên tôi chỉ nói với má là má an tâm đi, dù làm công việc gì con cũng không bao giờ để cho má phiền lòng và luôn sống tốt theo lời răn của má”- Ông Thức kể.

       Sau khi đăng lính, ông Thức được chọn đi học trường Sỹ quan bộ binh Thủ Đức rồi trở về làm chỉ huy một trung đội thuộc Tiểu đoàn 3-Trung đoàn 11-sư đoàn 7. Như một sỹ quan mẫn cán, ông từng chỉ huy trung đội đi tuần, càn quét vùng giải phóng. Dĩ nhiên mọi bước đi của trung đội do ông chỉ huy được quân Giải phong bám sát và cùng “hợp đồng tác chiến” nên suốt 6 tháng càn quét, trung đội của ông toàn gặp cảnh vườn không nhà trống. Những trận càn đó đã được chỉ huy quân Việt Nam Cộng hòa đánh giá cao và sau đó, ông Thức được cử tham gia khóa học “huấn luyện tình báo chống chiến tranh du kích" ở Malaysia. Ông Thức kể: “Thời điểm đó chuẩn bị bước vào chiến dịch Mậu Thân, lẽ ra tôi phải ở nhà để tham gia chiến dịch. Nhưng khi biết tôi được kẻ địch đưa đi học các đồng chí chỉ huy động viên tôi đi bởi chiến tranh còn dài, việc đi học sẽ giúp tôi lấy thêm niềm tin và đi sâu hơn vào đội ngũ của kẻ địch. Sau 3 tháng học, tôi về nước thì chiến dịch Mậu Thân đã kết thúc.Tôi với quân hàm Thiếu úy Việt Nam cộng hòa, được điều về làm sĩ quan huấn luyện chiến thuật tại cụm căn cứ quân sự Bình Đức ở Mỹ Tho - cơ quan đầu não của Sư 7”.

      Với vị trí mới, ông Thức có cơ hội tiếp cận khu quân sự Bình Đức để vẽ bản đồ chi tiết của khu căn cứ này. Theo ông Phương Linh- Nguyên cán bộ Binh vận khu 8, người trực tiếp chỉ huy ông Thức cho biết, vào khoảng tháng 5 quân Giải phóng sẽ tấn công Bình Đức và tấm bản đồ đó sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến dịch. Sau hơn một tháng điều nghiên, ông Thức hoàn tất tấm bản đồ và gửi vào hòm thư bí mật. Tuy nhiên, ông Thức không ngờ rằng chỉ vì một sơ suất nhỏ của những người liên lạc, vị trí sỹ quan tình báo quân Giải phóng của ông Thức đã bị lộ. Sau một tuần giao tài liệu, ông Thức bị bắt và di lý về trại tạm giam Mỹ Tho (Tiền Giang). Ông Thức kể: “Khi chúng ném tấm bảo đồ cho tôi xem, tôi biết mình đã bị lộ. Chúng tra tấn tôi nhiều lắm nhưng tôi vẫn không nhận vì ngoài bằng chứng là tấm bản đồ, chúng có gì nữa đâu. Thế nhưng, tháng 4/1968, chúng đưa tôi ra tòa án quân sự, tuyên án tử hình với tội danh "Hoạt động nội tuyến cho Cộng sản". Sau đó tôi được di lý về khám Chí Hòa (Sài Gòn) một thời gian. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, tôi bị đưa ra Côn Đảo giam trong khu dành riêng cho tử tù”.

        Mãi sau này, ông Thức mới biết nguyên nhân mình bị lộ. Người liên lạc đã không sao chép để xóa dấu vết bản đồ mà lại chuyển luôn bản chính qua hòm thư bí mật cho ông Tư Năng - Nguyên Phó ban Binh vận khu 8. Trên đường đưa bản đồ cho Bộ chỉ huy quân Giải Phóng, ông Tư Năng đã bị địch bắn chết. Khám xét hành lý, quân địch đã tìm thấy tấm bản đồ có nét chữ của ông Thức nên mới phát hiện ra: Thiếu úy Lê Văn Thức là Việt cộng nằm vùng. Tuy nhiên do ông Thức không khai nên kẻ địch không lần theo dấu của đường dây tình báo này được và đành tuyên án tử hình ông. Nhưng thời điểm đó, phía quân Giải phóng cũng đang giam giữ một số sỹ quan và các cố vấn quân sự Mỹ nên chúng muốn giữ ông Thức lại để trao đổi con tin.

                                       Lê Văn Thức và bức ảnh nổi tiếng 

                                                           Lê Văn Thức và bức ảnh nổi tiếng

       Tháng 4/1975, không khí của chiến dịch Hồ Chí Minh lan tới Côn Đảo. Bên cạnh sự hân hoan, những người tử tù còn phải đối mặt với nỗi lo khác: Kẻ địch đã đào sẵn những chiếc hầm khổng lồ nhằm thủ tiêu và chôn xác hết những người tử tù, tù chính trị. Nhưng khí thế tiến công mạnh mẽ của quân Giải phóng ở toàn miền Nam khiến cho quân địch khiếp sợ, nhiều cấp chỉ huy tại Côn Đảo đã “bỏ của chạy lấy người”. Bên cạnh đó, đảo nhờ công tác binh vận tốt nên một số binh sỹ đã buông súng, ngả theo hướng cách mang và kế hoạch tàn ác của kẻ địch thất bại. Ngày 1/5 toàn bộ các phân khu trại được mở cửa và Đảo uỷ lâm thời được thành lập, thay mặt cho Chính quyền cách mạng quản lý mọi việc tại Côn Đảo. Ngày 4/5, tàu Hải quân chở quân Giải phóng cập Côn Đảo, chính thức tiếp nhận mảnh đất Côn Đảo về tay chính quyền cách mạng và tổ chức cho những người tù về đất liền.

Ông Thức kể với gần 10 ngàn người tù tại Côn Đảo thì tàu Hải quân không thể chở hết trong một lần. Vì thế Ban chỉ huy tàu ưu tiên cho những người tù già yếu, bệnh tật, phụ nữ hay các các tử tù về trong chuyến đầu tiên. Ông Thức là một trong 36 tử tù còn lại được bước xuống tàu, cùng với khoảng hơn 400 người tù nữa được về đất liền vào tối 4/5. Sáng ngày 5/5 tàu cập cảng Vũng Tàu, tất cả mọi người được đưa vào nghỉ tạm tại Trung tâm huấn luyện cảnh sát ở khu Rạch Dừa (phường 10- TP Vũng Tàu). “Khoảng 10 giờ ngày 5/5, tôi đang chờ để làm thủ tục thì nghe có tiếng loa gọi ai là Lê Văn Thức, ra có người nhà gặp. Tôi bước ra sân và ngỡ ngàng khi thấy má tôi đứng đó. Hơn 7 năm qua, má tưởng tôi đã chết và giờ gặp lại, má chỉ biết khóc. Tôi cũng nghẹn ngào vì tưởng không bao giờ gặp má nữa. Hai má con tôi cứ ôm nhau khóc miết, đâu ngờ có anh nhiếp ảnh nhìn thấy chúng tôi và chụp tấm ảnh đó”- Ông Thức kể.

                     Lê Văn Thức bị tuyên án tử hình tại Toà án quân đội Việt Nam cộng hoà năm 1968

               Lê Văn Thức bị tuyên án tử hình tại Toà án quân đội Việt Nam cộng hoà năm 1968

                                           Lê Văn Thức trong màu áo quân Giải phóng                                                                                              Lê Văn Thức trong màu áo quân Giải phóng 

Còn sau này nhiếp ảnh gia Lâm Hồng Long kể lại: Vào ngày 5/5/1975, được tin có chuyến tàu chở 36 tử tù từ Côn Đảo về đất liền cập bến Rạch Dừa, ông được tòa soạn cử tới để ghi lại sự kiện này. Khi đang đứng trước cổng khu nhà nơi đoàn nghỉ, chợt ông nghe thấy tiếng kêu nghẹn ngào của một bà mẹ: "Thức con ơi! Má cứ tưởng con chết rồi...". Ông vội quay ra nhìn thì thấy một bà mẹ tóc đã bạc đang ôm choàng người thanh niên trẻ và khóc. Người con trai cũng khóc. Cảm động trước tình mẫu tử, nhà nhiếp ảnh nhanh tay bấm liền mấy kiểu. Tấm ảnh đã nhanh chóng được lan truyền khắp thế giới như một biểu trưng hào hùng, sinh động nhất cho thời khắc lịch sử - Thời khắc của đất nước Việt Nam thống nhất.

       Sau ngày gặp mẹ, ông Thức trở về quê, làm việc như một người bình thường. Với mác Thiếu úy ngụy quân, ban đầu ông Thức cũng gặp khó khăn trong công việc nhưng nhờ những người đồng đội cũ, ông Thức được trả lại danh dự của mình. Ông Thức làm cán bộ phòng Công thương - nghiệp huyện Châu Thành một thời gian, sau đó làm Bí thư Đảng ủy xã Tam Phước, làm Huyện ủy viên Châu Thành và nghỉ hưu năm 1991. Suốt bao năm đó, ông hoàn toàn không biết gì về bức ảnh chụp ngày nào. Cũng trong năm 1991, tại Đại hội Nhiếp ảnh quốc tế được tổ chức tại Tây Ban Nha, bức ảnh "Mẹ con ngày hội ngộ" được Liên đoàn nhiếp ảnh quốc tế trao Bằng Danh dự. Từ giải thưởng đó, nhiều người đi tìm hiểu các nhân vật trong bức ảnh và do đó, ông Thức mới biết hai má con mình là nhân vật trong tấm ảnh nổi tiếng.      (cuối D)

***

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dành thắng lợi của dân tộc Việt Nam hiếm có ai trên thế giới tin là hiện thực vì nó mang tính thần thánh. Chúng ta gọi đó là cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc ta. Đã là chiến tranh thần thánh thì phải bao gồm những hành động và những trận đánh mang tính thần thánh. Đọc phần trên chúng ta đã cảm nhận được phần nào. Sau đây chúng ta tiêp tục kể một số nữa trong danh sách đó.

1/Chiến thắng Ấp Bắc (02/01/1963):

Trận Ấp Bắc là một trận đánh quy mô khá lớn diễn ra vào giai đoạn đầu của chiến tranh Việt Nam với kết quả là chiến thắng lớn đầu tiên của quân vũ trang Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa gọi là Việt Cộng) trước đội quân chính quy của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được cố vấn Mỹ chỉ huy. 

Những cuộc giao tranh nhỏ, phát triển trong chiến tranh Việt Nam, đã bắt đầu cuối những năm 1954 với chiến dịch chống cộng của Ngô Đình Diệm. Vào thời điểm đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mong muốn cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, sẽ thống nhất 2 miền Nam Bắc. Vì không muốn quân đội Mỹ chuyển sang can thiệp trực tiếp, nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương tránh giao tranh bằng mọi giá. Nhưng chiến dịch chống cộng của Diệm đã khiến điều này không thể thực hiện được.

Trong những năm 1959-1960, thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam ở miền Nam, nhân dân miền Nam đã vùng lên mạnh mẽ, tiến hành phong trào Đồng khởi, giáng một đòn nặng nề vào chính sách xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm

                                                  

        Trực thăng Mỹ đổ quân. (Nguồn: Internet)

Thất bại liên tiếp trên các chiến trường nên đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Chiến tranh đặc biệt là một hình thức chiến tranh xâm lược gián tiếp, trong đó một cường quốc – tiêu biểu là Hoa Kỳ – sử dụng quân đội của chính quyền tay sai địa phương làm lực lượng tác chiến chủ lực, dưới sự chỉ huy, huấn luyện, trang bị và yểm trợ toàn diện về kỹ thuật, tình báo, hậu cần và không quân. Biện pháp chính của địch là bình định, dồn dân lập ấp chiến lược trên quy mô lớn, áp dụng chiến thuật tân kỳ “trực thăng vận”, “thiết xa vận”. 

Từ giữa năm 1961, địch đã gây nhiều tổn thất cho quân và dân ta nhưng ta đã kịp thời nghiên cứu để có cách ứng phó hiệu quả. Sau những thất bại trong các cuộc càn quét cuối năm 1962, khi phát hiện lực lượng chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trú quân tại Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Tân Phú, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Mỹ và ngụy quân tay sai cấp tốc điều động lực lượng, phương tiện chiến tranh, tổ chức cuộc hành quân càn quét mang mật danh “Đức Thắng 01-63” nhằm tiêu diệt lực lượng của ta.                                                                          

                               

Khẩu đại liên được dùng để bắn rơi 8 máy bay Mỹ trong trận Ấp Bắc. (Nguồn: Internet)

Lực lượng phía VNCH trong trận Ấp Bắc như sau:

  • Bộ binh: 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7, 2 đại đội biệt động quân, 4 đại đội lính bảo an biệt kích, 4 đại đội lính bảo an tỉnh, 3 đại đội dân vệ biệt kích, 1 tiểu đoàn lính dù.
  • Tàu xe: 3 tàu gồm FOM, LCVP, LCM, 13 xe lội nước M113.
  • Máy bay: 2 chiếc B26, 6 chiếc khu trục, 4 chiếc L19, 14 chiếc C47, 20 máy bay trực thăng gồm: 10 chiếc H21, 5 chiếc H34, 5 chiếc UH1A.
  • Pháo, cối: 6 khẩu pháo 105 ly, 4 khẩu cối 106,7 ly.

Bộ chỉ huy hành quân gồm có:

  • Chỉ huy trưởng hành quân đóng tại sân bay Thân Cửu Nghĩa (Chi khu Tân Hiệp) do đại tá Bùi Đình Đạm chỉ huy; cố vấn cuộc hành quân là thiếu tá John Paul Vann, cố vấn của Sư đoàn 7 VNCH.
  • Sau khi trận chiến nổ ra có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn 4, đến vào lúc 9 giờ sáng. Đại tướng Lê Văn Tỵ đến lúc 3 giờ chiều.
  • Chỉ huy trực tiếp mặt trận chính do Thiếu tá Lâm Quang Thơ, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường đóng ở Thuộc Nhiêu (xã Dưỡng Điềm).
  • Thiếu tá Tươi, tỉnh phó nội an, chỉ huy pháo binh đóng ở Lộ 33.
  • Thiếu tá Bách chỉ huy trực thăng đổ bộ đóng ở khu di cư Long Định.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có 2 đại đội bộ binh và khoảng 30 du kích Ấp Bắc. Hầu hết quân số chỉ trang bị súng trường và lựu đạn, vũ khí cỡ lớn duy nhất là 1 khẩu súng cối 60mm làm hoả lực chi viện. Cụ thể:

  • 2 đại đội bộ binh (đại đội 1/tiểu đoàn 514 địa phương quân tỉnh do Đại đội trưởng Mười Điệp chỉ huy, đại đội 1/tiểu đoàn 261 chủ lực Khu do Đại đội trưởng Bảy Đen chỉ huy), 1 trung đội trợ chiến của tiểu đoàn 261, 2 tiểu đội đặc công của đại đội 3 (tiểu đoàn 261), tổ chức thành tiểu đoàn ghép do đồng chí Võ Văn Điều (Hai Hoàng), tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 261 chỉ huy.
  • 1 trung đội bảo vệ căn cứ tỉnh và 2 tổ công binh thủy săn tàu bảo vệ căn cứ.
  • 1 trung đội địa phương quân huyện Châu Thành.
  • Du kích các xã Điềm Hy, Tân Phú, Tân Hội gồm khoảng 30 đồng chí.

Nếu so sánh tương quan lực lượng một cách đơn thuần thì khi bước vào trận chiến, tình thế của Quân giải phóng rất khó khăn. Bởi đây là trận đánh quân đội Sài Gòn chủ động tiến công; trận đánh diễn ra trong một địa bàn hẹp, trống trải, bốn bề là kênh rạch và đường lộ, thuận lợi cho quân Sài Gòn thực hiện thế hợp vây; quân địch chiếm ưu thế hơn hẳn ta về lực lượng (tỷ lệ 6/1), lại áp đảo về vũ khí, trang bị. Quân đội Sài Gòn sử dụng hỏa lực dày đặc của hàng chục khẩu pháo hạng nặng, cối 106,7mm, bom, rốckét, napan... của phi cơ, trong khi Quân giải phóng chỉ có 1 đại liên, 1 súng cối 60mm, còn lại là súng trường, vài khẩu trung liên, một số “Tromblon” (phễu gắn đầu súng trường, dùng đạn mã tử để phóng lựu đạn) và thủ pháo, lựu đạn.

 
                                Chú thích ảnh 
                     Chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ trong trận Ấp Bắc. Ảnh tư liệu/qdnd.vn

Sáng sớm ngày 2/1/1963, nhiều máy bay trinh sát L-19 của Mỹ đã quần lượn trên bầu trời Ấp Bắc, hướng dẫn đường tiến quân cho bộ binh và cơ giới càn quét vào ấp. 2 Đại đội bảo an từ Điền Hy bắt đầu xung phong vào xóm Hội Đồng Vàng, xã Tân Phú nhưng bị chặn đánh và thiệt hại nặng, một số khác bị sa xuống hố chông, cạm bẫy, mìn vướng nổ của du kích.

Cánh quân khác tiến công bằng đường thủy theo kênh Nguyễn Tấn Thành gồm 13 tàu chiến chở 2 Đại đội biệt động quân cũng bị trung đội du kích và 2 đội công binh săn tàu đánh chặn quyết liệt. Bằng thủy lôi tự tạo và hỏa lực bố trí sẵn trong các công sự, hố bắn dọc theo hai bờ kênh, quân Giải phóng đánh chìm 1 tàu và đánh hỏng một số chiếc khác. Đoàn tàu chững lại, sau đó tìm đường tháo lui.
 
Sau đợt tiến công đầu tiên thất bại, quân đội Sài Gòn sử dụng chiến thuật "trực thăng vận", dùng 5 máy bay trực thăng vũ trang loại UH-1A làm nhiệm vụ yểm trợ cho 10 chiếc trực thăng chở quân loại CH-21 đổ 2 Tiểu đoàn bộ binh xuống phía sau ấp, rồi hình thành 2 gọng kìm bao vây lực lượng quân Giải phóng bên trong, trước tiên sẽ dùng một số nhỏ trực thăng đổ bộ xuống trước để thăm dò phản ứng. Phán đoán được ý đồ của đối phương, quân Giải phóng triển khai kế hoạch nghi binh lừa địch, giữ bí mật vị trí, không nổ súng.
 
Quân Giải phóng áp dụng nguyên tắc không bắn máy bay trinh sát và chờ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Sau một hồi thăm dò không thấy quân Giải phóng phản ứng, các máy bay chở quân liên tục đỗ xuống các vị trí đã được tính toán sẵn. Lần lượt ba chiếc trực thăng chiến đấu xuất hiện, bắt đầu bắn súng máy và rocket. Chờ trực thăng tới gần, quân Giải phóng khai hỏa hàng loạt súng tự động và súng trường từ kênh tới. Bằng cách đánh phục kích này, đến trưa ta loại khỏi vòng chiến đấu 5 chiếc trực thăng. Đợt tấn công thứ 2 bằng trực thăng đã thất bại.
 
                               

                                              Trực thăng CH-21 bị hỏng tại trận Ấp Bắc

                                Chú thích ảnh                    

                  Trực thăng của quân đội Mỹ bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc. Ảnh tư liệu/qdnd.vn

 

Các toán quân của Sư đoàn 7 Việt Nam Cộng hòa tiến vào ấp từ phía bắc đã không quay lại để cứu đại đội dự phòng và các tổ lái trực thăng. Đến 12 giờ 15 phút, cuối cùng tiểu đoàn Sài Gòn đến Tân Thới. Rồi trước 13 giờ những chiếc xe thiết giáp M113 tiến lại dần dần trên đồng ruộng. Quân Giải phóng không có vũ khí chống tăng nên không thể chiến đấu chống xe bọc thép M113 có hiệu quả. Để truyền cho các toán quân can đảm đứng lên chống xe bọc thép với vũ khí nhẹ và lựu đạn, các chỉ huy của quân Giải phóng đã lên một bản danh sách những điểm yếu của xe bọc thép: người bắn súng máy trên đỉnh đứng sau giá súng để lộ từ thắt lưng trở lên, hoặc có thể bắn trúng lái xe qua khe ngắm, những chiến sĩ dũng cảm thì có thể tiếp cận rồi ném lựu đạn lên nóc xe. Các chỉ huy cũng đã truyền thụ cho chiến sĩ tập trung bắn vào M113 như đã bắn máy bay. Mỗi tiểu đội hoặc trung đội phải chọn chiếc xe gần nhất rồi bắn tập trung vào đấy, không để hỏa lực bị phân tán.

Khi tốp đi đầu gồm 3 xe thiết giáp M113 đã vào đúng tầm, các loại hỏa lực của quân Giải phóng gồm súng trường, đại liên, súng cối, súng phóng lựu được lệnh đồng loạt phát hỏa, 1 xe M113 bị diệt, một số chiếc khác bị đánh hỏng. Mũi tấn công bằng thiết giáp bị chặn lại.

                                   

                                  Chiến sĩ tiểu đoàn 514 tham gia đánh trận Ấp Bắc. (Nguồn: Internet)

 Khoảng 17h00 ngày 2/1, đợt tiến công mới được thực hiện bằng máy bay vận tải C47 chở Tiểu đoàn nhảy dù số 8 tới ấp Tân Thới. Nhưng phần lớn quân nhảy dù đều rơi vào trận địa mai phục của Đại đội 1 – Tiểu đoàn 514, nhiều lính bị tiêu diệt khi chưa kịp thoát khỏi dù. Số sống sót co cụm cố chống đỡ, chờ quân đến ứng cứu. Cùng lúc đó, ở hướng Đại đội 1 – Tiểu đoàn 216, những chiếc thiết xa M113 còn lại tiếp tục bị chặn đánh. Thấy lực lượng bị thiệt hại nặng và trời đã sắp tối, quân đội Sài Gòn được lệnh rút ra ngoài đóng chốt nghỉ đêm, dự định ngày hôm sau nhận thêm chi viện để tấn công tiếp.

Về phía quân Giải phóng, tuy giành thắng lợi lớn nhưng dự trữ đạn dược cũng đã hao hụt nhiều (trang bị của quân Giải phóng khi đó rất thiếu thốn, dự trữ súng đạn đều ít nên khi bắn phải thật tiết kiệm). Nhận thấy đã đạt mục đích là gây thiệt hại nặng cho địch và đúc kết được nhiều kinh nghiệm tác chiến, lúc 22 giờ cùng ngày, quân Giải phóng theo hàng dọc rút về hướng căn cứ Đồng Tháp Mười. Dân quân địa phương và nông dân Ấp Bắc, Tân Thới đã hỗ trợ bộ đội trong suốt cuộc chiến cũng đi theo một con đường khác về chỗ trú ẩn trong những rừng dừa lân cận. Đi đầu là các toán quân chủ lực của Tiểu đoàn 261 đã chống cự ở Ấp Bắc. Quân địa phương của Tiểu đoàn 514 đi đoạn hậu với một trung đội bảo vệ phía sau. Hàng quân tiếp tục đi đến một chỗ lội qua sông, tiến lên không bị phát hiện và về đến trại đóng quân ở xã Hưng Thạnh (huyện Châu Thành) lúc 7 giờ sáng.
                                  
     Ba chiến sỹ Quân giải phóng đã diệt nhiều lính dù Mỹ trong trận Ấp Bắc (1/1963). (Ảnh: TTXGP)

Sau một ngày chiến đấu, với 5 đợt tấn công bằng những phương pháp tác chiến "tân kì nhất" như thiết xa vận, trực thăng vận, bủa lưới phóng lao... từ nhiều hướng, kể cả đổ bộ đường không bằng nhảy dù, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa đều bị đẩy lùi. Kết quả trong trận này Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 83 người thiệt mạng trên tổng số gần 200 lính thương vong, 3 cố vấn Mỹ bị giết và 16 cố vấn, phi công Mỹ bị thương. Phía Quân Giải phóng chỉ có 18 người chết.

Nhà báo Neil Sheehan viết: "Họ đã làm được nhiều hơn việc thắng một trận, mang về một thắng lợi theo kiểu Việt Nam cũng như tổ tiên họ đã làm từ nhiều thế kỷ. Họ đã chiến thắng quân địch mạnh hơn họ... 350 "Việt cộng" đã giữ vững trận địa và hạ gục một quân đội hiện đại với quân số lớn gấp bốn lần, trang bị xe bọc thép, trọng pháo, trực thăng và máy bay ném bom. Để đối chọi, vũ khí mạnh nhất của họ là một khẩu súng cối nhỏ, cỡ 60 ly, được xem là vô dụng. Họ có 18 người chết và 39 bị thương, thiệt hại tương đối nhẹ trong cuộc chiến mà người Mỹ và những người Việt Nam do họ bảo vệ đã dội vào nhiều nghìn loạt đạn súng thường và súng máy hạng nặng, 600 đạn súng cối, napalm và bom cùng những quà tặng khác chở trên 13 máy bay và 5 trực thăng chiến đấu. Riêng những chiếc Huey đã trút xuống hàng cây Ấp Bắc 8400 viên đạn súng máy và 100 rốc két. Với vũ khí hạng nhẹ, Việt Cộng đã gây gấp bốn lần thiệt hại cho họ, giết được khoảng 80 lính Sài Gòn, làm bị thương hơn 100; ba người Mỹ chết và 8 người khác bị thương, 5 chiếc trực thăng bị bắn hạ. Việt Cộng gây ra những tổn thất ấy mà tiết kiệm đạn dược. Từ những loạt đạn đầu bắn nhau với quân bảo an cho đến những loạt cuối cùng với lính dù, họ chỉ dùng khoảng 5000 đạn súng thường và súng máy."

Cố vấn Mỹ John Paul Vann thì nhận xét sau trận đánh: "Họ [quân Giải phóng] thật dũng cảm, họ đã cho chúng ta một hình ảnh đẹp về bản thân họ ngày hôm nay".

Sách "Từ điển bách khoa về chiến tranh Việt Nam" của Mỹ đã ca ngợi quân Giải phóng ở Ấp Bắc là "những chiến sĩ có quyết tâm cao và được huấn luyện tốt", trong khi đánh giá Quân lực Việt Nam Cộng hòa là "bất tài, hỗn loạn và hèn nhát".

Thất bại của Mĩ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trong trận này không chỉ là một thất bại thuần tuý về chiến thuật mà còn mang ý nghĩa chiến lược, đã làm rung chuyển giới báo chí Mĩ, làm cho nhân dân Mĩ quan tâm hơn đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Nó khiến chính quyền Mỹ ngày càng không tin tưởng vào Ngô Đình Diệm.

                                    

                            Chiến lợi phẩm thu được trong trận Ấp Bắc (1/1963). (Ảnh: TTXGP)

Chiến thắng Ấp Bắc đánh dấu sự chuyển biến về chiến thuật của Quân Giải phóng, cung cấp kinh nghiệm quý trong việc chống lại chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận hiện đại của Mỹ. Chiến thắng của Quân giải phóng tại Ấp Bắc đã đánh dấu sự thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

Thượng tướng Trần Văn Trà cho biết: "Sau trận Ấp Bắc, xe thiết giáp và các loại trực thăng không còn là nỗi kinh hoàng cho mọi người, không còn là bất khả trị nữa. Từng người du kích với khẩu súng trường, từng đơn vị nhỏ với súng liên thanh dám bắn và biết bắn hạ trực thăng theo gương thực tế của các chiến sĩ Ấp Bắc". Trung ương Cục miền Nam phát động cao trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", đẩy mạnh thế chiến lược tiến công, giành được thêm những thắng lợi mới trên chiến trường

Năm 2022, Địa điểm chiến thắng Ấp Bắc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1649/QĐ-TTg (đợt 13).
 
2/ Chiến thắng Núi Thành:
 
Đầu năm 1965, chiến lược Chiến Tranh Đặc Biệt bị phá sản không gì cứu vãn nổi, tác động trực tiếp đến sự tồn vong của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Trước nguy cơ sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Thủy quân lục chiến 9, Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng, đánh dấu sự có mặt chính thức của quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường Miền Nam Việt Nam.
 
                                 Chiến thắng Núi Thành - biểu tượng sáng ngời của tinh thần quyết đánh, quyết thắng 
       Lữ đoàn 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Chu Lai ngày 7-5-1965. Ảnh: The Ohio State University
 
Ngày 7 tháng 5 năm 1965, 6400 lính Mỹ và 24 xe tăng thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 9 đổ bộ lên xã Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là xã Tam Nghĩa và Tam Quang thuộc Núi Thành), triển khai xây dựng căn cứ liên hợp Chu Lai, làm bàn đạp tiến công các căn cứ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Chúng tiến hành khủng bố, đuổi dân 2 xã Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là 2 xã Tam Quang và Tam Nghĩa – Núi Thành) đi nơi khác, lấy đất xây dựng căn cứ Chu Lai, đồng thời triển khai lực lượng chiến đấu, mở nhiều cuộc càn quét nhằm tạo vành đai bảo vệ căn cứ này.
 
Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (Khóa III), ngày 27 tháng 3 năm 1965, đề ra quyết tâm chính trị: Ghìm Mỹ trên chiến trường miền Nam, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ.Với quyết tâm đánh Mỹ, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất, họp tại Lò Gò - Tây Ninh đầu tháng 5 năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam) xác định trước đại hội: Đánh, đánh mạnh, chỉ có đánh, quyết chiến với giặc Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ.
 
                                 Trận Núi Thành - trận đầu thắng Mỹ

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (thứ hai, từ trái sang), Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam chỉ đạo trận Núi Thành (Quảng Nam), tháng 5-1965. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

 
Với tinh thần đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam: Phải đánh tiêu diệt một đơn vị Mỹ để hạ uy thế quân Mỹ ngay từ đầu, tìm hiểu cách đánh của chúng, rút kinh nghiệm đánh Mỹ cho ta và cổ vũ khí thế đánh Mỹ trong toàn khu. Mục tiêu do tỉnh chọn, đơn vị đánh do tỉnh lựa, đánh theo trình độ, trang bị và khả năng của tỉnh...
 
Sau 3 ngày quân Mỹ đổ bộ lên Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là hai xã Tam Nghĩa và Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), ngày 10-5-1965, Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Tỉnh đội Quảng Nam nhanh chóng phát động, chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh ngụy sang đánh cả ngụy lẫn Mỹ. Trước mắt là tiêu diệt cho bằng được một đại đội Mỹ, mục tiêu và đơn vị thực hành trận đánh do tỉnh lựa chọn, quyết định.
 
                                tnb-26659-01-1690365462.jpg
Chiến thắng Núi Thành - biểu tượng sáng ngời của tinh thần quyết đánh, quyết thắng. Ảnh: Báo Quảng Nam.                              
 
Phát hiện Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 9, Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ từ căn cứ Chu Lai đến đóng quân ở Núi Thành (từ ngày 17-5-1965), Tỉnh đội Quảng Nam quyết định chọn Núi Thành làm mục tiêu đánh đòn phủ đầu. Núi Thành là tên quả đồi có hai mỏm chính (mỏm đồi 50, mỏm đồi 49, cách nhau 500m) và một mỏm phụ thuộc thôn Tịnh Tây, xã Kỳ Liên. Tại đây, địch có 180 quân, bố trí thành 3 cụm ở 3 mỏm đồi. Địch xây dựng công sự dã chiến, bố trí hình bậc thang bao quanh các mỏm đồi từ thấp lên cao, xen kẽ với bụi cây. Phía ngoài cùng có hai hàng rào dây thép gai bùng nhùng cao 1m, rộng 1m bảo vệ. Nếu Núi Thành bị tấn công, địch có thể sử dụng trận địa pháo ở Ao Vuông, Chu Lai, pháo hạm tàu và máy bay từ căn cứ Chu Lai chi viện. 

 4/ Chiến dịch mũi tên xuyên: (Màn kịch "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ")

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tiếng Anh: Gulf of Tonkin incident) là một cuộc chạm trán tầm cỡ quốc tế dẫn tới việc Hoa Kỳ tham gia trực tiếp hơn vào cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sự kiện bao gồm hai cuộc đụng độ; sự kiện lần đầu, được chứng minh là đã xảy ra, vào ngày 2 tháng Tám năm 1964, là do quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tiến hành để đáp lại những chiến dịch ngầm của Mỹ ở vùng vịnh. Cuộc đụng độ thứ hai, từng được cho là đã xảy ra vào ngày 4 tháng Tám năm 1964, là giữa tàu của VNDCCH và Hoa Kỳ trong vùng biển vịnh Bắc Bộ. Hoa Kỳ ban đầu đổ lỗi cho VNDCCH cho cả hai sự kiện. Điều tra sau này cho thấy cuộc tấn công lần thứ hai chưa từng xảy ra; báo cáo của hải quân Mỹ đã dựa trên hầu hết các tín hiệu liên lạc đã bị họ diễn giải sai. 

 Mặc dù có người bày tỏ nghi ngờ liên quan đến cuộc

Tương quan lực lượng: phía Mỹ là Đại đội Thủy quân lục chiến (Thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 9 - Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ). Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gồm đại đội 2 (Tiểu đoàn 70 - Tỉnh đội Quảng Nam) và phân đội V16 - Đặc công

23 giờ ngày 25 tháng 5, các mũi đã đưa lực lượng lót sát bên trong hàng rào, nơi cách xa địch nhất là 3m gần nhất là 1m, tất cả sẵn sàng chờ lệnh.

                                Bộ đội địa phương phối hợp với Phân đội Đặc công V16 tinh nhuệ được cử tổ chức tiến công tiêu diệt vị trí Núi Thành do quân Mỹ mới chiếm đóng. 

Bộ đội địa phương phối hợp với Phân đội Đặc công V16 tinh nhuệ được cử tổ chức tiến công tiêu diệt vị trí Núi Thành do quân Mỹ mới chiếm đóng.

 

0 giờ 30 phút ngày 26 tháng 5, sau khi chờ 30 phút không nghe tiếng súng phát lệnh ở cầu An Tân theo hiệp đồng, Đại đội trưởng Võ Thành Năm lệnh cho Trần Ngọc Ảnh- mũi trưởng ở hướng chủ yếu đồng loạt đánh thủ pháo vào các ụ súng ở tuyến hào 1; sau đó, các mũi nổ súng đánh vào tuyến hào 1 và 2 ở hướng bắc- đông bắc và tây- tây nam Đồi 50; sau 15 phút chiến đấu ta đã làm chủ hai tuyến hào này, tiêu diệt một số lính Mỹ, bộ phận lính Mỹ còn lại rút lên tuyến hào 3 sử dụng hỏa lực đại liên, M79 ngăn chặn.

0 giờ 45 phút ngày 26 tháng 5, khi mũi chủ yếu xốc lại đội hình thì ở mũi thứ yếu mũi trưởng Nguyễn Đức Thông chỉ huy phát triển nhanh sang chi viện cho mũi chủ yếu. Sau 20 phút hiệp đồng chiến đấu lần lượt đánh chiếm các mục tiêu, làm chủ Đồi 50. Tình hình ở đồi 49 sau tiếng thủ pháo lệnh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng loạt xung phong, đánh chiếm tiêu diệt toàn bộ lính Mỹ, làm chủ trận địa. Riêng mỏm phụ phía Bắc đồi 50, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã diệt gọn lính Mỹ ngay từ những phút đầu. Sau 30 phút chiến đấu, diệt gọn đại đội Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đóng trên Núi Thành, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ trận địa.

Đồng thời trận địa hỏa lực của Tiểu đoàn 70 bắn khống chế không cho Quân đội Hoa Kỳ còn sống sót chạy về Chu Lai.
                                 h12a-1690365608.jpg 
                                Tượng đài chiến thắng Núi Thành. Ảnh: Báo Công an Nhân dân.

Chiến thắng Núi Thành là sự kiện mở đầu khẳng định mạnh mẽ khả năng thắng Mỹ của quân dân Quân khu 5 cũng như quân dân toàn miền Nam; đồng thời mở ra phong trào thi đua diệt Mỹ với khẩu hiệu “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt” dấy lên trên khắp các chiến trường miền Nam, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Trận chiến đấu diễn ra gần 30 phút, sử dụng kĩ thuật tiềm nhập của đặc công từ 3 hướng. Theo phía Quân Giải phóng, họ đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng gần như toàn bộ đơn vị lính Mỹ trong trận đánh này. Hiện nay, hầu như không có một tài liệu nào ở Mỹ nói về trận đánh, chính thống kê của Hoa Kỳ cũng thống kê 139 người chết.

 
3/ Chiến thắng Vạn Tường:  đòn phủ đầu (18/08/1965):
 
 Cuối năm 1964, đầu năm 1965 đứng trước nguy cơ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, đế quốc Mỹ quyết định đưa quân chiến đấu trên bộ vào miền Nam và thực hiện chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc, tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. 
 
                                            
                         Quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, tháng 3/1965 (Ảnh Bảo tàng Đà Nẵng)
 
Chiến tranh cục bộ là một chiến lược quân sự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (giai đoạn 1965-1968). Nội dung cơ bản của chiến lược này là tận dụng ưu thế hỏa lực, công nghệ và quân số của lực lượng viễn chinh Mỹ để đè bẹp Quân Giải phóng miền Nam, đồng thời điều động lực lượng không quân đánh phá miền Bắc, thiết lập ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên miền Nam Việt Nam thông qua chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đây được đánh giá là giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến.
 
Sau khi đưa một đại đội máy bay F.105 vào Biên Hòa và một tiểu đoàn tên lửa HAWK vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965, tiểu đoàn đầu tiên của lữ đoàn thủy quân lục chiến số 9 của Mỹ đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng. Đến chiều cùng ngày, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn nói trên được không vận từ căn cứ quân sự Mỹ ở Okinawa (Nhật Bản) đáp xuống sân bay Đà Nẵng. Đây là những đơn vị lính thủy đánh bộ đầu tiên của Mỹ được đưa vào miền Nam, trực tiếp tham chiến.
                         Chiến thắng Vạn Tường – Đòn phủ đầu quân viễn chinh Mỹ

                                 Chiến thắng Vạn Tường – Đòn phủ đầu quân viễn chinh Mỹ

 
Quyết giành thắng lợi bằng quân sự, Mỹ đã đẩy nhanh việc đưa ồ ạt quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam. Từ tháng 7 năm 1965 đến cuối năm 1965, các Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ), Sư đoàn kỵ binh không vận 1, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Kị binh không vận 101 (Thiên thần mũi đỏ), Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới), Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11, v.v… cùng hàng vạn tấn phương tiện chiến tranh hiện đại ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam. Hạm đội 7 – hạm đội hùng hậu nhất của Hải quân Mỹ được mệnh danh “chúa tể đại dương” trước kia hướng hoạt động ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào vùng biển Đông Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan, Philíppin, đảo Okinawa, đảo Guam… đều được sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
 
Với lực lượng đông, tinh nhuệ và hiện đại, Vecler – Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân bảo đảm với Tổng thống và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara: “Không có lý do gì chúng ta (Mỹ) lại không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”. Những nhân vật “diều hâu” trong giới cầm quyền Mỹ tin tưởng tuyệt đối rằng “cùng lắm trong vòng 18 tháng (cuối 1966), Mỹ sẽ chiến thắng, lúc đó Việt cộng và Hà Nội sẽ phải chịu thua, chấm dứt kháng chiến. Và, trên bình diện thế giới, chúng ta (Mỹ) sẽ chứng minh được cho các dân tộc thấy rằng chiến tranh cách mạng không đem lại kết quả gì, cuộc khởi nghĩa nào cũng có thể bị tiêu diệt”.
 
Có một điều chắc chắn rằng không ai trong số lính Mỹ trên bãi biển ngày 8-3-1965 nghĩ rằng đó là sự khởi đầu cho một cuộc chiến khốc liệt kéo dài và 10 năm sau, khi Sài Gòn thất thủ, Mỹ rút hết những người lính của họ ra khỏi Việt Nam, đã ghi nhận hơn 540.000 người Mỹ đã từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam và hơn 58.000 thiệt mạng.
 
                         Di tích quốc gia Chiến thắng Vạn Tường-di tich quoc gia ...

                                                         Chiến thắng Vạn Tường-di tich quoc gia ...

 
Năm 1972, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ quyết định tổ chức một cuộc báo cáo điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam từ ngày 9 đến 11-5-1972 xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Giới nghiên cứu cho rằng ở Việt Nam, Mỹ đã gặp phải một đối phương không chịu chấp nhận chế độ thực dân mới, không chịu quỳ gối trước sức mạnh quân sự Mỹ. Ngoài ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, người Việt Nam còn sáng tạo ra một đường lối, chiến lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Neil Sheehan – nhà báo Mỹ, một trong những người phanh phui Tài liệu mật Lầu Năm Góc ra trước công luận đã nhận định rằng: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Thắng lợi của  Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”.
 
Cuối tháng 7 năm 1965, Trung đoàn 1 chủ lực của Quân khu V Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, do Lê Hữu Trữ làm Trung đoàn trưởng và Nguyễn Đình Trọng làm Chính ủy, chỉ huy, sau các trận giao chiến với các đơn vị Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Vùng I trong Chiến dịch Ba Gia (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), đã di chuyển về đóng quân ở khu vực Vạn Tường để chấn chỉnh và bổ sung. Ngày 9 tháng 8 năm 1965, lãnh đạo Quân khu V ra quyết định thành lập các sư đoàn chủ lực. Trung đoàn 1 (còn có tên hiệu là Trung đoàn Ba Gia) được biên chế vào Sư đoàn 2. Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ kiêm Sư đoàn phó.
 
                                                  
      Phía Quân giải phóng tham gia cuộc chiến với quân số chỉ bằng 1/6, nghĩa là chỉ khoảng 1500 người tổng cộng. Bao gồm Trung đoàn Ba Gia của Quân khu 5, Đại đội 21, 31 bộ đội địa phương tỉnh và các lực lượng du kích. Nguồn ảnh: Zraly (KTNN)
 

Nhận được tin báo của lực lượng trinh sát của Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ, đóng quân ở vùng căn cứ Chu Lai, phát hiện có đơn vị chủ lực của ta (Trung đoàn 1 mang tên Ba Gia, đơn vị chủ lực của Liên khu 5) đóng quân tại Vạn Tường (xã Bình Thiện, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), Oétmolen (Westmoreland) liền ra lệnh cho lính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên Ánh sáng sao (Starlite) đánh vào Vạn Tường, nhằm tiêu diệt Trung đoàn 1 Quân giải phóng, gây uy thế cho quân Mỹ. 
 
Thấy rằng trong trận này quân Mỹ hoàn toàn chủ động, lựa chọn chiến trường tác chiến hợp với sở trường để xuất quân. Tại đây, Mỹ có điều kiện thuận lợi sử dụng xe tăng, pháo binh, hải quân, không quân của chiến tranh hiện đại. Theo đó, chúng đưa vào trận đánh Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 cùng lực lượng bổ sung lên đến khoảng 9.000 quân, gồm ban chỉ huy Quân đoàn 7 thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ, 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn bộ binh Việt Nam Cộng hòa, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe lội nước, một số lượng pháo binh và công binh… ngoài ra chúng còn huy động 6 tàu đổ bộ, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay chiến đấu vào cuộc càn quét. 
 
                                   
         Vạn tường được biết tới như cuộc đụng độ quy mô lớn đầu tiên giữa Quân đội Mỹ và Quân giải phóng trên bộ. Nguồn ảnh: Negra (KTNN)
 
Đêm 17-8-1965, hơn chục tàu chiến thuộc Hạm đội 7 - Mỹ đậu thành vòng cung ngoài khơi liên tục bắn đại bác vào thôn Vạn Tường và các điểm cao. Sáng ngày 18-8-1965, một lực lượng lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 6 tàu đổ bộ và pháo hạm cùng hàng trăm máy bay chiến đấu, mở cuộc hành quân phối hợp hải, lục, không quân tiến vào Vạn Tường. Sau khi dùng pháo, máy bay bắn phá dọn đường, quân Mỹ liền chia thành 4 mũi tiến về Vạn Tường: 1 mũi theo đường bộ từ Chu Lai vào, 2 mũi đổ bộ đường biển và 1 mũi đổ bộ đường không. 
 

Với hy vọng sẽ tiêu diệt quân ta trong thời gian ngắn nhất, quân Mỹ từng bước khép chặt vòng vây, dồn quân ta vào Vạn Tường rồi dùng hỏa lực tiêu diệt. Trước tình hình đó, toàn đơn vị thuộc Trung đoàn 1 đã bình tĩnh phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích đánh trả quân địch. Kế hoạch tác chiến của Trung đoàn là cản chậm bước tiến của các cánh quân Mỹ hướng Bắc và Đông Nam, tập trung lực lượng ở hướng Tây Nam dựa vào các hầm sâu và các vị trí chiến đấu ngụy trang kín đáo để diệt cánh quân đổ bộ bằng đường không.

Từ chỗ bị bất ngờ, ta đã giành được thế chủ động tiến công. Các mũi tiến công của quân địch đều vấp phải hệ thống bãi mìn, hố chông, vật cản khiến đội hình địch bị dồn ứ và bị bộ đội ta vận động tới đánh hoặc dùng hỏa lực tiêu diệt. 

Trận đánh kéo dài đến chiều tốì ngày 18, địch bị đánh thiệt hại 4 đại đội. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng những không hợp điểm được tại thôn Vạn Tường theo ý định ban đầu, mà còn có nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn. Hải quân Mỹ pháo kích dữ dội hòng làm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm đội đang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường. Ta tiếp tục tiến công cho đến khi màn đêm buông xuống thì trận đánh kết thúc. Quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 900 tên, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị bắn rơi. Đêm 18 rạng 19 lực lượng ta bí mật rút khỏi Vạn Tường an toàn.

                         Chiến thắng Vạn Tường – Bản anh hùng ca bất diệt

                                        Chiến thắng Vạn Tường – Bản anh hùng ca bất diệt

Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, là mốc son chói lọi phản ánh khí thế cách mạng tiến công, sự mưu trí, kiên cường, dũng cảm, đoàn kết chiến đấu của quân và dân Quảng Ngãi với bộ đội chủ lực Quân khu 5. Nếu như chiến thắng Ấp Bắc mở đầu cho “cao trào diệt ngụy”, thì chiến thắng Vạn Tường lịch sử mở đầu cho “cao trào diệt Mỹ”. Chiến thắng Vạn Tường khẳng định quân và dân ta có khả năng đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lăng, dù chúng có thể đông quân, hùng hậu về vũ khí trang b

tấn công thứ hai từ năm 1964, nhưng phải đến nhiều năm sau đó mới được kết luận rằng vụ việc chưa bao giờ xảy ra. Trong bộ phim tài liệu Sương mù Chiến tranh (The Fog of War) năm 2003, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S. McNamara thừa nhận rằng có một cuộc tấn công vào tàu USS Maddox xảy ra vào ngày 2 tháng Tám, nhưng cuộc tấn công ngày 4 tháng Tám, được Washington dựa vào để cho phép trả đũa VNDCCH, đã chưa bao giờ xảy ra. Năm 1995, McNamara gặp cựu Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp để hỏi chuyện xảy ra vào ngày 4 tháng Tám năm 1964. Ông Giáp nói "Hoàn toàn chẳng có gì xảy ra cả". Ông Giáp cho rằng vụ tấn công chỉ là tưởng tượng.

Thực chất, Sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa bao giờ tồn tại, và nó chỉ là cái tên hoa mỹ mà người Mỹ dựng lên để có cớ ném bom miền Bắc Việt Nam.

Kết quả của hai cuộc đối đầu này là việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Bộ, trao cho Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson quyền hỗ trợ bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào có chính phủ được coi là bị đe dọa bởi "sự xâm lược của cộng sản". Nghị quyết này có vai trò như một sự biện minh hợp pháp cho Johnson để ông triển khai các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và bắt đầu chiến tranh rộng rãi chống lại VNDCCH.

                                   

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ là cú chạm mặt lịch sử trong Chiến tranh Việt Nam, khi lần đầu tiên Hải quân Việt Nam đối đầu trực diện với Hải quân Mỹ trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Thực chất, đây chỉ là một sự kiện do Hải quân Mỹ dựng lên nhằm "danh chính ngôn thuận" mang không quân phá hoại miền Bắc. Nguồn ảnh: History.

                                  

Xảy ra vào các ngày 2.8 và 4.8.1964, hai khu trục hạm của Hải quân Mỹ là USS Maddox và USS Turner Joy đã đi vào vùng biển vịnh Bắc Bộ của Việt Nam và đụng độ với lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam mà cụ thể là biên đội tàu phóng lôi P-4. Ảnh: Khu trục hạm USS Maddox của Hải quân Mỹ. Nguồn ảnh: Wiki.

                                 

Bắt đầu diễn ra từ ngày 1.8.1964 khi khu trục hạm Maddox mang số hiệu 731 tiến qua khu vực Đèo Nga, Hòn Ngư và chính thức tiến vào vùng biển Việt Nam, lực lượng Hải quân Việt Nam gồm các đội tàu phóng lôi đã trực tiếp tiến ra nghênh chiến khi USS Maddox tiến đến vùng biển Thanh Hóa. Nguồn ảnh: History. 

                                 

Một trận hải chiến thực sự đã xảy ra khi chiếc USS Maddox khai hỏa tới 280 viên đạn pháo các loại về phía các tàu phóng lôi của phía ta. Ảnh: Ba tàu phóng lôi của ta được chụp hình lại từ tàu USS Maddox làm "bằng chứng" về việc Hải quân Việt Nam tấn công khu trục hạm Mỹ "bên trong lãnh hải Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.

                               

Đường di chuyển của khu trục hạm USS Maddox trong cuộc hành quân "ngụy tạo hiện trường giả". Dựa trên tấm bản đồ này, có thể thấy rõ ràng rằng Hải quân Mỹ đã trắng trợn đi vào vùng biển Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.

                              

Trong ngày 2.8.1964, khu trục hạm Maddox của Mỹ đã di chuyển tới cách bờ biển Thanh Hóa chỉ 6 hải lý, nghĩa là hơn 10 km, đây là khoảng cách bờ gần nhất mà chiếc Maddox "dám" vào để dựng lên màn kịch của mình. Ảnh: Một tàu phóng lôi của ta di chuyển cạnh chiến hạm Maddox, ngay phía sau tàu phóng lôi là một vệt nước, có vẻ như là một viên đạn hải pháo bắn trượt từ USS Maddox. Nguồn ảnh: Wiki. 

                             

Một tàu phóng lôi P-4. Trong ngày hôm đó, USS Maddox đã phải nhận một vài thiệt hại khá đáng kể khi bị các tàu phóng lôi P-4 tấn công bằng súng 12,7 ly. Tuy nhiên, phía ta không phóng ra bất cứ một quả ngư lôi nào. Nguồn ảnh: Wiki.

                            

Trắng trơn hơn, sau vụ trạm chán ngày 2.8.1964, phía Mỹ còn dựng hẳn lên một màn kịch bịa đặt hoàn toàn rằng vào ngày 4.8.1964, các tàu USS Maddox và USS Turner Joy của Hải quân Mỹ đã bị phía Hải quân Việt Nam tiếp tục tấn công. Nguồn ảnh: Wiki.

                            

Sự thật là không hề có bất cứ cuộc chạm trán nào giữa Hải quân Việt Nam và Hải quân Mỹ vào ngày 4.8.1964 cả, tất cả chỉ là màn kịch mà Mỹ dựng lên từ "A đến Z" để tăng thêm sức thuyết phục khi yêu cầu Quốc hội Mỹ cho phép Không quân nước này ném bom Việt Nam. Ảnh: Khu trục hạm USS Turner Joy của Hải quân Mỹ. Nguồn ảnh: Wiki. 

                           

Bằng chứng là vào năm 2001, khi các tài liệu tối mật trong chiến tranh Việt Nam được giải mật, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã thừa nhận rằng sự kiện vịnh Bắc Bộ lần thứ hai chưa hề xảy ra. Nguồn ảnh: Joy.

                                  

Thêm vào đó, việc giải mật các tài liệu này còn cho thấy, Tổng thống Nixon và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã để cho Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) cố tình dịch sai các bản dịch các tài liệu tình báo từ tiếng Việt ra tiếng Anh. Hơn nữa, báo cáo không đề cập tới cuộc giao chiến ngày 2.8 (Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam) mà chỉ đề cập tới cuộc giao chiến "trong mơ" của tàu chiến Mỹ trong ngày 4.8.1964. Nguồn ảnh: Site. 

                               

Hậu quả là ngay trong ngày 5.8.1964, Mỹ đã tiến hành chiến dịch Mũi Tên Xuyên nhằm ném bom một số cửa biển quan trọng của Việt Nam nhằm mục đích "trả đũa" cho sự kiện vịnh Bắc Bộ. Đây cũng chính là chiến dịch mở đầu cho những cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trong suốt 9 năm sau đó. Nguồn ảnh: ZC. 

                              

Cũng "nhân" sự kiện bịa đặt này, phía Mỹ còn đưa ra một bản nghị quyết mang tên "Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ". Theo đó, Tổng thống Mỹ Johnson lúc bấy giờ sẽ được sử dụng "mọi biện pháp cần thiết" để đẩy lùi "bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào chống lại nước Mỹ". Nguồn ảnh: PA.

                              

Đây cũng chính là cái cớ để Mỹ liên tục leo thang chiến tranh tại Việt Nam cho tới tận năm 1971, khi mà người Mỹ đã đặt một chân ra khỏi Việt Nam, nghị quyết này mới bị chính quyền Tổng thống Nixon xóa bỏ. Nguồn ảnh: ABC. 

 

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra trong năm đầu tiên của chính quyền Johnson. Chính sách ngăn chặn thời Chiến tranh Lạnh sẽ chuẩn bị được áp dụng để ngăn chặn sự sụp đổ của Đông Nam Á vào tay chủ nghĩa cộng sản như thuyết domino đã nêu lên. Sau vụ ám sát Kennedy, Johnson ra lệnh điều thêm lực lượng Hoa Kỳ hỗ trợ chính quyền Sài Gòn, bắt đầu sự hiện diện kéo dài của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á.

 Một chương trình tuyệt mật về các chiến dịch bí mật chống lại miền Bắc Việt Nam, được gọi là Kế hoạch Chiến dịch 34-Alpha, kết hợp với các chiến dịch DESOTO, đã bắt đầu dưới sự quản lý của Cục Tình báo Trung ương (CIA) vào năm 1961. Năm 1964, chương trình được chuyển giao cho Bộ Quốc phòng và do Nhóm Nghiên cứu và Quan sát thuộc Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV-SOG) thực hiện.

 Vào ngày 29 tháng Bảy năm 1964, vào đêm trước khi thực hiện những hoạt động chống lại các cơ sở của VNDCCH trên các đảo Hòn Mê và Hòn Ngư, MACV-SOG đã đưa lén một nhóm các điệp viên bí mật dài hạn vào miền Bắc Việt Nam, và đã nhanh chóng bị bắt giữ. Vào ngày 1 và 2 tháng Tám, các chuyến bay của máy bay chiến đấu-ném bom của Lào do CIA tài trợ (do lính đánh thuê Thái Lan lái) đã tấn công các tiền đồn biên giới ở Tây Nam của Bắc Việt.

Đến ngày 1 tháng Tám, các tàu tuần tra của VNDCCH đang theo dõi tàu Maddox, và một số liên lạc bị chặn để thu nhận cho thấy họ đang chuẩn bị tấn công. Maddox rút lui, nhưng ngày hôm sau, 2 tháng Tám, Maddox, với tốc độ tối đa 28 hải lý, tiếp tục tuần tra thường lệ, và ba tàu phóng lôi P-4 của VNDCCH với tốc độ tối đa 50 hải lý bắt đầu bám theo Maddox.

Khi các tàu phóng lôi đến gần, Maddox bắn ba phát súng cảnh cáo. Các tàu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó tấn công, và Maddox phát thanh vô tuyến điện rằng nó đang bị ba tàu tấn công, đang tiến gần trong vòng 10 hải lý (19 km; 12 mi) với nó, trong khi Maddox ở vị trí 28 hải lý (52 km; 32 mi) cách bờ biển Bắc Việt Nam, tức trong vùng biển quốc tế. 

Hai trong số các tàu phóng lôi đã đến gần trong vòng 5 hải lý (9,3 km; 5,8 mi) cách Maddox và mỗi tàu thả một quả ngư lôi, nhưng không quả nào hoạt động; chúng chỉ cách Maddox khoảng 100 thước Anh (91 m) sau khi Maddox chạy nhanh hơn chúng. Một chiếc P-4 khác trúng một quả đạn pháo 5 inch từ Maddox khiến cho ngư lôi của nó bị trục trặc khi phóng. Bốn máy bay phản lực F-8 Crusader của Hải quân Mỹ phóng từ Ticonderoga và 15 phút sau khi Maddox bắn phát đạn cảnh báo ban đầu, các máy bay tấn công những tàu P-4 đã dừng phóng lôi, tuyên bố một tàu bị đánh chìm và một tàu bị hư hỏng nặng. Maddox chỉ bị hư hại nhẹ từ một đòn đạn 14,5 mm từ súng máy hạng nặng KPV của tàu P-4 vào cấu trúc thượng tầng của nó.

Hành động ban đầu này không bao giờ được báo cáo bởi chính quyền Johnson, thay vào đó khẳng định rằng các tàu Việt Nam nổ súng trước.

 Vào ngày 4 tháng Tám, một cuộc tuần tra khác của DESOTO ngoài khơi bờ biển Bắc Việt Nam do MaddoxTurner Joy phát động sau sự kiện đầu tiên. Trong một buổi tối thời tiết sóng gió và biển động, các tàu khu trục nhận được tín hiệu radar, sonar và radio; họ tin rằng các tín hiệu này báo hiệu một cuộc tấn công khác của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trong khoảng hai giờ (từ khoảng 21:40 đến khoảng 23:35, giờ địa phương), các tàu đã bắn vào các mục tiêu hiển thị trên radar và lái tàu quyết liệt dựa trên các báo cáo điện tử và thị giác về kẻ thù. Ngược lại với tuyên bố của Hải quân Mỹ rằng hai tàu phóng lôi tấn công đã bị đánh chìm, đã không có mảnh vỡ hay thi thể nào của các thủy thủ Việt Nam thiệt mạng, hoặc các bằng chứng vật thể khác có mặt tại hiện trường được cho là đã xảy ra giao tranh.

 Vào lúc 01:27 giờ địa phương (13:27 giờ Washington), Herrick đã gửi một bức điện trong đó ông thừa nhận rằng cuộc tấn công thứ hai có thể đã không xảy ra và thực tế có thể đã không có tàu thuyền nào của Việt Nam trong khu vực. "... Và cuối cùng người ta kết luận rằng gần như chắc chắn cuộc tấn công [ngày 4 tháng Tám] đã xảy ra. Nhưng ngay cả vào thời điểm đó cũng có một số ghi nhận rằng đã có sai số, vì vậy chúng tôi nghĩ rằng khả năng nó có thể xảy ra là rất cao nhưng không hoàn toàn chắc chắn. Và bởi vì nó có khả năng xảy ra cao—và bởi vì kể cả nếu nó không xảy ra, chúng tôi vẫn cảm thấy sâu nặng rằng đáng lẽ ra phải có phản ứng đối với cuộc tấn công đầu tiên, mà chúng tôi chắc chắn là đã xảy ra—Tổng thống Johnson quyết định đáp trả [cuộc tấn công] thứ hai. Tôi nghĩ bây giờ rõ ràng là [cuộc tấn công thứ hai] đã không xảy ra" –Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Robert McNamara.

 

                                                

                                              Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson vào năm 1964

Ngay trước nửa đêm, ngày 4 tháng Tám, Johnson đã gián đoạn truyền hình quốc gia để đưa ra một thông báo trong đó ông miêu tả "một cuộc tấn công của các tàu Bắc Việt Nam nhằm vào hai tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ", MaddoxTurner Joy, và yêu cầu chính quyền thực hiện một phản ứng quân sự. Bài phát biểu của Johnson lặp lại chủ đề "kịch tính hóa Hà Nội/Hồ Chí Minh như kẻ xâm lược và khiến Hoa Kỳ rơi vào thế phòng thủ dễ chấp nhận hơn." Johnson cũng gọi các cuộc tấn công đã diễn ra "trên biển cả", ám chỉ rằng chúng đã xảy ra ở vùng biển quốc tế.

 Trong vòng ba mươi phút sau sự kiện ngày 4 tháng Tám, Johnson đã quyết định tấn công trả đũa (được gọi là "Chiến dịch Mũi tên Xuyên"). Cùng ngày hôm đó, ông đã sử dụng "đường dây nóng" tới Moskva, và đảm bảo với Liên Xô rằng ông không có ý định mở một cuộc chiến tranh quy mô lớn hơn ở Việt Nam. Sáng sớm ngày 5 tháng Tám, Johnson công khai ra lệnh các biện pháp trả đũa với tuyên bố: "Quyết tâm của tất cả người Mỹ trong việc thực hiện cam kết đầy đủ của chúng ta đối với người dân và chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ được nhân đôi bởi sự phẫn nộ này." Một giờ bốn mươi phút sau bài phát biểu của ông, các máy bay được phóng từ các tàu sân bay Hoa Kỳ đã đến các mục tiêu của Bắc Việt Nam. Vào ngày 5 tháng Tám, lúc 10:40, các máy bay này đã ném bom bốn căn cứ tàu phóng lôi và một kho chứa dầu ở Vinh.

                                    Bẻ gãy “Mũi tên xuyên” 

                         Bộ đội pháo Phòng không Trung đoàn 280 bắn máy bay Mỹ ngày 5-8-1964. Ảnh tư liệu.

 

Chiến dịch Mũi Tên Xuyên (tiếng Anh: Operation Pierce Arrow) là chiến dịch không kích trong Chiến tranh Việt Nam do Hải quân Mỹ thực hiện vào ngày 5 tháng 8 năm 1964 nhằm trả đũa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào các ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964. Chiến dịch này đã mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại 9 năm bằng không quân và hải quân quy mô lớn và tàn khốc đối với miền Bắc Việt Nam.

Các máy bay F-8 Crusader, A-1 Skyraider, và A-4 Skyhawk, từ các hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga và USS Constellation trên Biển Đông, đã bay 64 lượt đánh phá các mục tiêu định sẵn tại các vùng phụ cận Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), vùng phụ cận thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh), cửa Lạch Trường (Thanh Hoá) và cửa Gianh (Quảng Bình)... Máy bay Mỹ đã phá hủy hoặc gây thiệt hại 25 tàu tuần tiễu (PT boat) của Hải quân Nhân dân Việt Nam (các quan chức Mỹ cho rằng đây là một nửa số tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam); phá hủy 7 hệ thống phòng không tại Vinh; và làm thiệt hại nặng một kho xăng dầu tại Vinh.

Hai máy bay Hoa Kỳ bị bắn rơi. Một phi công thiệt mạng. Máy bay do trung úy phi công Everett Alvarez lái bị rơi lúc 14h43, do đạn súng máy phòng không 14,5mm của Đại đội 141 do Trung đội phó Trương Thanh Luyện chỉ huy. Everett Alvarez, nhảy dù xuống Hòn Gai và bị bắt làm tù binh. Ông là người đầu tiên trong số khoảng 600 phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam và được trao trả sau khi hiệp định ngừng bắn được ký vào năm 1973.

                                Tháng 8/1964, Hà Nội, miền Bắc Việt Nam - Hình ảnh từ một bộ phim tài liệu Nhật Bản, do một nhà quay phim người Nhật vô tình có mặt tại hiện trường, cho thấy khoảnh khắc Trung úy không quân Everett Alvarez (trái), bị bắt giữ bởi một thủy thủ Bắc Việt. Alvarez, một phi công Hoa Kỳ, đã bị bắn hạ trong cuộc tấn công của quân đội Hoa Kỳ vào các cơ sở đóng tàu của Bắc Việt Nam - Hình ảnh của Bettmann/CORBIS 

Tháng 8/1964, Hà Nội, miền Bắc Việt Nam – Hình ảnh từ một bộ phim tài liệu Nhật Bản, do một nhà quay phim người Nhật vô tình có mặt tại hiện trường ghi lại được, cho thấy khoảnh khắc Trung úy không quân Everett Alvarez (trái), bị bắt giữ bởi một thủy thủ Bắc Việt. Alvarez, một phi công Hoa Kỳ, đã bị bắn hạ trong cuộc tấn công của quân đội Hoa Kỳ vào các cơ sở đóng tàu của Bắc Việt Nam – Hình ảnh của Bettmann/CORBIS 

 

Tiếp theo chiến dịch Mũi Tên Xuyên là các chiến dịch ném bom khác: Chiến dịch Flaming Dart (7 đến 11 tháng 2 năm 1965); Chiến dịch Sấm Rền (2 tháng 3 năm 1965 đến 31 tháng 10 năm 1968); Chiến dịch Linebacker (9 tháng 5 đến 22 tháng 10 năm 1972); và Chiến dịch Linebacker II (18 đến 29 tháng 12 năm 1972).

Tại Việt Nam ngày nay, ngày 5 tháng 8 năm 1964 được kỷ niệm như "ngày đánh thắng trận đầu" của Hải quân nhân dân và Bộ đội Phòng không Việt Nam, và được chọn làm ngày truyền thống của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

 

 5/ Chiến dịch "Sấm rền": 

Chiến dịch Sấm Rền (tiếng Anh: Operation Rolling Thunder) hay Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (theo cách gọi của chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay) là chiến dịch ném bom trong Chiến tranh Việt Nam do Sư đoàn 2 Không quân Mỹ (sau là Lực lượng Không quân số 7), Hải quân Mỹ và Không lực Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến dịch này kéo dài từ ngày 2 tháng 3 năm 1965 đến ngày 1 tháng 11 năm 1968.

Bốn mục tiêu của chiến dịch (phát triển theo thời gian) là:

  • Cứu vãn tinh thần đang sa sút của chính phủ Việt Nam Cộng hòa;
  • Ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngừng hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam;
  • Phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
  • Ngăn chặn dòng quân và hàng hóa chảy vào miền Nam Việt Nam.

Chiến dịch này trở thành trận chiến không quân dữ dội nhất diễn ra trong Chiến tranh Lạnh và là trận chiến khó khăn nhất của không quân Hoa Kỳ kể từ khi Hoa Kỳ thả bom xuống Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Các đồng minh thuộc khối phía Đông viện trợ cho Quân đội nhân dân Việt Nam các loại vũ khí không đối không và đất đối không và Việt Nam bố trí những vũ khí này thành một hệ thống phòng không hiệu quả nhất mà các phi công quân sự Mỹ phải đối mặt.

                                  

                                      Chiến dịch Sấm RềnMột phần của Chiến tranh Việt Nam

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ xem chiến dịch này như là "một công thức cho thất bại". Sau một trong những chiến dịch trên không dài nhất trong lịch sử của bất cứ quốc gia nào, nhiều chuyên gia quân sự Mỹ kết luận rằng chiến dịch Sấm Rền là một thất bại do không đạt được bất kỳ một mục tiêu nào trong các mục tiêu đã đặt ra

Các câu hỏi đặt ra giữa các nhân vật lãnh đạo trong chính phủ và quân đội Mỹ về việc biện pháp nào là tốt nhất để ngăn Hà Nội (được xem là nơi khơi mào của cuộc nổi dậy tại miền Nam) tiếp tục các hành động của mình. Câu trả lời có vẻ là việc sử dụng hỏa lực không quân. Cho đến năm 1964, đa số các quan chức dân sự xung quanh Tổng thống Lyndon B. Johnson chia sẻ ít nhiều với niềm tin của Hội đồng Tham mưu liên quân (Joint Chiefs of Staff - JSC) vào hiệu quả của ném bom chiến lược. Quá trình đưa ra quyết định này liên tục chịu ảnh hưởng bởi mối lo ngại về các hành động phản kháng có thể hoặc sự can thiệp trực tiếp của Liên Xô, Trung Quốc, hoặc cả hai...
 
Vào ngày 2 tháng 3 năm 1965, Chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder) đã được bắt đầu bằng trận không kích của hơn 100 máy bay phản lực thuộc Không quân Mỹ vào một kho đạn tại Xóm Bằng, nằm 10 dặm sâu trong lãnh thổ Bắc Việt Nam. Đồng thời, 60 máy bay cánh quạt của Không quân miền Nam cũng ném bom căn cứ hải quân Quảng Khê, 65 dặm về phía bắc vĩ tuyến 17. 
 
Sáu máy bay của Mỹ đã bị bắn rơi, nhưng chỉ có một phi công bị bắt giữ. Đại úy Hayden J. Lockhart, phi công lái chiếc F-100, đã bị bắn hạ và trở thành phi công đầu tiên thuộc Không quân Mỹ bị bắt làm tù binh của Bắc Việt. Lockhart đã được thả vào năm 1973 theo điều khoản trao trả tù binh chiến tranh của Hiệp định Paris.
 
                               
          Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S. McNamara trình bày kế hoạch "Sấm rền" - 1965
 
Nhà Trắng đã kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của chiến dịch Sấm Rền. Tổng thống Johnson đôi khi còn tự mình lựa chọn các mục tiêu. Trong giai đoạn 1965 – 1968, đã có khoảng 643.000 tấn bom được thả xuống miền Bắc Việt Nam. Tổng cộng gần 900 máy bay của Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch Sấm Rền. Chiến dịch vẫn tiếp tục được duy trì, dù có vài lần bị đình chỉ, cho đến khi Tổng thống Johnson quyết định ngừng nó vào ngày 31/10/1968 vì áp lực chính trị trong nước.  
 
Tính đến 24 tháng 12 năm 1965, Mỹ đã mất 170 máy bay trong chiến dịch (85 máy bay của Không quân, 94 của Hải quân, và 1 của Thủy quân lục chiến). Không lực Việt Nam Cộng hòa cũng mất 8 máy bay. Các phi đội của Không quân đã bay 25.971 lượt, thả 32.063 tấn bom. Hải quân bay 28.168 lượt và thả 11.144 tấn bom. Không lực Việt Nam Cộng hòa đóng góp 682 phi vụ, số bom đã thả không rõ bao nhiêu.  
 
Ngày 5 tháng 4 năm 1966, thám báo Mỹ phát hiện ra rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang xây dựng các vị trí có thể dành cho các khẩu đội tên lửa đất-đối-không (SAM). Không quân và Hải quân Mỹ cùng đệ trình Washington xin phép đánh phá các vị trí trên nhưng đã bị từ chối, vì hầu hết các vị trí trên đều ở gần các khu vực đô thị bị hạn chế. Sự kiện ngày 24 tháng 7, khi một máy bay F-105 bị một tên lửa SA-2 Guideline bắn rơi đã không gây ngạc nhiên. Ba ngày sau đó, Washington đã cho phép một cuộc không kích đánh phá hai địa điểm đặt tên lửa trên. Tuy nhiên, người Mỹ đã rơi vào một cái bẫy tinh vi khi các địa điểm trên hóa ra lại là trận địa giả, bao quanh bởi các trận địa pháo phòng không. Một phi công Mỹ đã miêu tả diễn biến tiếp sau đó "trông như thể ngày tận thế". 6 trong số các máy bay tấn công đã bị bắn rơi trong trận thua này (2 phi công thiệt mạng, 1 mất tích, 2 bị bắt, 1 được cứu  
 
                                  
Các máy bay của hải quân Hoa Kỳ bắn trúng tàu chở dầu viện trợ cho Bắc Việt Nam tháng 7 năm 1965
 
Ngày 29 tháng 6 năm 1966, Johnson cho phép các cuộc không kích đánh phá các kho xăng dầu ở miền Bắc. Giới quân sự Mỹ đã đề nghị những cuộc không kích kiểu này từ đầu chiến dịch, họ tin rằng việc phá hủy trữ lượng xăng dầu của Bắc Việt Nam sẽ làm ngừng trệ các nỗ lực quân sự của nó. Ban đầu, các cuộc không kích có vẻ thành công, phá hủy các kho chứa gần Hà Nội và Hải Phòng và dẫn đến việc CIA tin rằng 70% cơ sở hạ tầng xăng dầu của miền Bắc đã bị phá hủy đổi với cái giá là 43 máy bay bị mất. Tuy nhiên, thành công này đã chỉ là một sự bất tiện nhất thời cho VNDCCH, do Hà Nội đã lường trước một cuộc đánh phá như vậy và đã phân tán hầu hết trữ lượng xăng dầu trong các thùng nhỏ 50-gallon tại suốt dọc chiều dài đất nước. Các cuộc đánh phá xăng dầu bị ngừng lại vào ngày 4 tháng 9 sau khi tình báo Mỹ thừa nhận rằng "chưa có bằng chứng nào cho việc thiếu xăng dầu tại Bắc Việt Nam." 
 
Ngay từ trước khi chiến dịch Sấm Rền bắt đầu, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biết cái gì đang đến. Tháng 2 năm 1965, họ đã ra hướng dẫn cho quân đội và nhân dân "đảm bảo giao thông liên lạc và chuẩn bị cho sự tàn phá trên toàn đất nước, trong đó có cả Hà Nội và Hải Phòng." Hà Nội tuyên bố "một cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc đánh phá trên không... mỗi công dân là một người lính, mỗi làng xóm, phố phường, nhà máy là một pháo đài trên mặt trận chống Mỹ." Tất cả, trừ những gì "thật sự thiết yếu đối với đời sống thủ đô", đều được sơ tán về nông thôn. Đến năm 1967, dân số Hà Nội đã giảm xuống còn một nửa. 
 
Do việc chiếm ưu thế so với quân đội Mỹ là một điều không tưởng, lãnh đạo miền Bắc quyết định áp dụng một chính sách khước từ không gian (air deniability), tập trung bảo vệ các khu vực quan trọng thay vì dàn mỏng lực lượng khắp lãnh thổ. Đầu chiến dịch, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sở hữu khoảng 1500 vũ khí phòng không, hầu hết là pháo cao xạ hạng nhẹ 37 và 57mm. Nhưng sau đó phát triển lên đáng kể, trong đó có cả có các pháo cỡ 85 và 100mm định hướng bằng radar. Dân quân ở các địa phương có nhiệm vụ bắn trả máy bay Mỹ bằng mọi loại vũ khí có được, từ súng 12,7 ly cho tới súng trường bộ binh, cũng tạo nên mối đe dọa đối với máy bay Mỹ khi chúng bay thấp hoặc bổ nhào ném bom (đã có nhiều trường hợp máy bay Mỹ bị bắn hạ bởi vũ khí cá nhân của dân quân) tạo nên một lưới lửa pkòng không hữu hiệu. Trong chiến dịch Sấm Rền, 80% thiệt hại của Mỹ về máy bay là do hỏa lực phòng không.
 
                                  https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/21/U.S._Air_Force_Republic_F-105D_Thunderchief_shot_down_over_North_Vietnam%2C_circa_in_the_mid-1960s.jpg 
                                                      Một máy bay F-105 của Mỹ bị bắn rơi
 
Hỗ trợ hỏa lực pháo phòng không là các máy bay tiêm kích của Không quân Nhân dân Việt Nam, lực lượng mà ban đầu chỉ có 53 máy bay MiG-15 và MiG-17 Fresco. Tuy bị người Mỹ coi là quá cổ lỗ khi so sánh với các máy bay phản lực siêu thanh của họ, Không quân Nhân dân Việt Nam đã sử dụng các chiến thuật hợp lý để biến các điểm yếu của máy bay họ thành các thế mạnh. Các máy bay này có tốc độ đủ cao cho các hoạt động phục kích "đánh và chạy", và cũng cơ động đủ để gây sốc cho cộng đồng phi công chiến đấu Mỹ khi bắn hạ các máy bay F-8 Crusader và F-105 Thần sấm cao cấp hơn nhiều. Phi công Mỹ sau đó đã phải nhanh chóng phát triển chiến thuật mới. Máy bay F-4 Con ma trang bị tên lửa trở thành cơ sở chiến đấu chính của Mỹ.
 
Chỉ riêng sự xuất hiện của máy bay MiG thường cũng đủ hoàn thành nhiệm vụ của họ bằng cách buộc các phi công Mỹ phải vứt bom xuống biển cho nhẹ để còn tự bảo vệ. Năm 1966, loại MiG-21 Fishbed hiện đại hơn do Liên Xô chế tạo, loại có thể chiến đấu ngang sức hơn đối với máy bay Mỹ, đã tham gia cùng MiG-17 và MiG-19. Đến năm 1967, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có một lực lượng gồm 100 máy bay, nhiều chiếc trong số đó đặt tại các sân bay Trung Quốc và nằm ngoài tầm với của các cuộc không kích của Mỹ.
 
Để tránh thiệt hại, nền kinh tế miền Bắc được phân tán. Các nhà máy lớn vốn nằm tại các khu vực tập trung đông dân ở đồng bằng sông Hồng, được chia nhỏ và phân tán vào các hang núi và các làng nhỏ trên khắp vùng nông thôn. Tại vùng cán xoong bị ném bom ác liệt ở miền Trung, có nơi cả làng chuyển vào sống trong các hệ thống hầm ngầm.
 
Nguồn tài nguyên lớn nhất của miền Bắc là nhân dân, những người dân được đốt lửa bằng nhiệt tình dân tộc. Trong năm 1965, 97.000 người đã tình nguyện làm việc cả ngày để khắc phục các thiệt hại do bom Mỹ. Từ 370.000 đến 500.000 người khác làm việc nửa ngày. Khi đường giao thông bị đánh phá, các đoàn tàu hỏa chở hàng được chia nhỏ và chỉ chạy đêm. Người dân tham gia vận chuyển hàng bằng thuyền, xe đạp thồ, xe ba gác, hoặc gùi trên lưng để giữ luồng hàng ra chiến trường. Họ được cổ vũ bởi các khẩu hiệu như "Mỗi cân hàng... là một viên đạn bắn vào đầu những tên giặc lái Mỹ." 
 
                                                       
                                         Vũ khí phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam
 

Do Mỹ tăng cường các cuộc không kích vào đường Trường Sơn và miền Bắc Việt Nam, tháng 2 năm 1965, chính phủ Liên Xô đồng ý viện trợ hệ thống tên lửa phòng không S-75 Dvina (NATO định danh là SAM-2) đời đầu cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sĩ quan Việt Nam được gửi đến Liên Xô để học về hệ thống tên lửa phòng không SA-75 và 10 trung tâm huấn luyện của Lực lượng Phòng không Quốc gia (PVO-Strany) được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam, trở thành nòng cốt của các trung đoàn tên lửa phòng không mới.

Đơn vị SA-75 Dvina đầu tiên triển khai ở Việt Nam là Trung đoàn 236 đặt ở Tây Bắc Hà Nội ven sông Đà. Vào ngày 24 tháng 7 năm 1965, các tiểu đoàn 63 và 64 thuộc trung đoàn 236 đã bắn rơi một chiếc F-4C Phantom của Phi đội tiêm kích chiến thuật số 47 của Không Quân Mỹ (USAF) trên vùng trời Hà Tây - Hòa Bình, các mảnh văng từ tên lửa cũng làm hư hại 3 chiếc F-4 khác. Đó là chiến công đầu tiên của hệ thống phòng không SA-75 Dvina ở Việt Nam.

Do chiến thuật được thay đổi và việc gây nhiễu radar được tăng cường, số máy bay bị SAM bắn hạ giảm theo thời gian. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì trung bình cần 2-3 quả tên lửa để tiêu diệt 1 máy bay giai đoạn đầu và 7-10 tên lửa trong giai đoạn cuối. Tuy nhiên, các con số này không nói lên nhiều về tính hiệu quả của Sấm Rền, do các khẩu đội SAM của Việt Nam không bao giờ thiếu tên lửa dự trữ, bất kể các nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn hệ thống hậu cần.

Trong năm 1967, Không quân Mỹ tiếp tục tổn thất lớn hơn năm 1966. Đã có 362 máy bay của Hoa Kỳ đã bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam. Trong đó, Không quân 208 chiếc, Hải quân mất 142 và Thủy quân lục chiến mất 12 chiếc.

                                 

Chiếc Republic F-105G thuộc Phi đội 333, Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật 355, tháng 8 năm 1968 tại Việt Nam.

Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, để chủ động tìm đánh gây cho địch bất ngờ, Bộ Tư lệnh tên lửa đã đề nghị Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân cho phép thực hiện chiến thuật "cơ động phục kích" trong việc sử dụng tên lửa phòng không SAM-2 để đánh địch. Theo giáo trình của Liên Xô, tên lửa SAM-2 sẽ bố trí ở các trận địa cố định thành thế liên hoàn (nếu thường xuyên di chuyển sẽ làm cho các khối vi điện tử hoạt động thiếu chính xác). Tuy nhiên, trong điều kiện ở Việt Nam, cách bố trí này có nhiều khuyết điểm (Việt Nam không có nhiều hệ thống SAM-2 như Liên Xô để bố trí liên hoàn, nếu bố trí tên lửa ở các vị trí cố định thì dù có bắn rơi được một vài máy bay của địch, nhưng lập tức sẽ bị máy bay Mỹ dùng lực lượng áp đảo đánh hủy diệt).

Trong cả năm 1966, Bộ đội phòng không Việt Nam thành lập mới 4 trung đoàn tên lửa phòng không. Theo các nguồn số liệu Liên Xô, đến tháng 3 năm 1967, các đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam đã tiến hành 445 lần phóng tác chiến, tiêu hao 777 quả đạn tên lửa. Tổng cộng trong các lần phóng đó đã bắn rơi 223 máy bay, tính trung bình 3,48 quả đạn tên lửa/một máy bay Mỹ. Nguy cơ từ tên lửa buộc phi công Mỹ phải chuyển sang bay thấp, ở độ cao này tuy mối đe dọa từ tên lửa phòng không ít hơn nhưng nguy cơ bị pháo phòng không bắn hạ lại tăng lên nhiều. Theo các nguồn số liệu của Liên Xô thì đến tháng 3 năm 1968, pháo phòng không Việt Nam đã bắn hạ 1.532 máy bay các loại của Mỹ.

                                   

                    Một chiếc F-4 của Không quân Hoa Kỳ bị trúng tên lửa SAM-2 của Việt Nam

 

Bộ chỉ huy Không quân và Hải quân Mỹ tin rằng loại tiêm kích F-4 Phantom hiện đại với vũ khí mạnh, radar hiện đại, tính năng tốc độ và tăng tốc cao cùng với những biện pháp chiến thuật mới sẽ đảm bảo cho F-4 Phantom chiếm ưu thế. Nhưng khi đối đầu với MiG-21 gọn nhẹ hơn của Việt Nam, F-4 bắt đầu chịu thất bại liên tiếp. Không quân Việt Nam đã đưa ra các chiến thuật nhằm khắc chế ưu thế của F-4 trong khi phát huy được lợi thế của MiG-21. MiG-21 của Việt Nam thường tấn công đối phương với tốc độ vượt âm, phóng tên lửa từ phía sau mục tiêu và nhanh chóng thoát khỏi sự truy đuổi. Người Mỹ đã khó đưa ra một giải pháp nào đó chống lại chiến thuật này, một chiến thuật đòi hỏi sự chuẩn bị tốt cho phi công và sĩ quan dẫn đường trên mặt đất ở sở chỉ huy. Không quân Nhân dân Việt Nam cũng khai thác tối đa sự phối hợp hoạt động đồng bộ của MiG-21 với MiG-17 trong không chiến. Những chiếc tiêm kích MiG-17 bay ở tầm thấp dưới 3.000m đã đẩy những chiếc F-4 và F-105 từ độ cao thấp lên độ cao trung bình khoảng 5.000 đến 6.000m, nơi những chiếc MiG-21 đang phục kích tấn công đối phương.

Từ tháng 5 tới tháng 12 năm 1966, trong các trận không chiến, Mỹ đã mất 47 máy bay mà chỉ hạ được 12 chiếc của Việt Nam. Đặc biệt, trong tháng 12 năm 1966, nhờ chiến thuật hiệu quả, các phi công Việt Nam đã bắn rơi 14 chiếc F-105 Thunderchief của Mỹ mà không chịu tổn thất nào.

Tuy F-105 đã có 27 chiến thắng trên không, các phi công Việt Nam cũng tuyên bố đã bắn hạ 40 chiếc F-105. Trong trận đánh ngày 2 tháng 1 năm 1967, phi công Mỹ đã làm các phi công Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngạc nhiên khi họ thực thi Chiến dịch Bolo. Dùng các tín hiệu radio, hướng tiếp cận, độ cao, và tốc độ thường dùng của các máy bay mang bom F-105, các máy bay F-4 đã lừa MiG-21 tưởng rằng đó là các con mồi ngon. Kết quả là 7 máy bay MiG bị bắn rơi trong vòng 12 phút khi vừa mới cất cánh..1 phi công Việt Nam tử trận và 6 người khác kịp nhảy dù. Không quân Việt Nam đã quyết định dừng bay MiG-21 cho đến ngày 23 tháng 4 năm 1967 nhằm rút kinh nghiệm, chỉ ra nguyên nhân, bài học và tìm ra phương án đối phó với các chiến thuật mới của không quân Mỹ, sẵn sàng cho các trận đánh tiếp theo. Trong nửa đầu năm 1967, không quân Việt Nam bắn rơi được 15 máy bay Mỹ. Tuy nhiên, các máy bay tiêm kích Việt Nam lại tăng hiệu quả của mình lên (kinh nghiệm chiến đấu có được, cũng như việc chuyển sang các loại máy bay cải tiến như MiG-21PF và MiG-17F trang bị tên lửa có điều khiển R-3s). Nửa đầu năm 1968, trong 40 trận không chiến các phi công Việt Nam đã tiêu diệt 25 máy bay của đối phương.

                                

           Một phi công Mỹ bị quân và dân miền Bắc bắt trong chiến dịch Sấm Rền (Ảnh tư liệu)

Các phi công Việt Nam đã thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của họ trong cả hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối phương. Nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh Vladimir Ilyin đã có bài viết tổng kết về cuộc đối đầu giữa Không quân Nhân dân Việt Nam và Không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, theo đó từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 11 năm 1968, trên bầu trời Việt Nam đã diễn ra 268 trận không chiến, trong các trận đó đã có 244 máy bay Mỹ bị bắn rơi, đổi lại 85 máy bay Việt Nam. Trong số đó có 27 F-4 và 20 MiG-21.

Trong suốt các cuộc không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có 16 phi công đạt đẳng cấp "Ách" (tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), gồm 14 phi công MiG-21 và 2 phi công lái MiG-17. Trong đó người cao nhất là phi công MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công huyền thoại khác là Nguyễn Văn Bảy, còn gọi là "Bảy A", phi công MiG-17, đã bắn hạ 7 máy bay Mỹ (cao nhất trong các phi công lái MiG-17).

Bất kể những nỗ lực ngăn chặn cao nhất của Sấm Rền, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn thực hiện được cuộc tổng tấn công lớn nhất kể từ đầu cuộc chiến, Sự kiện Tết Mậu Thân, trên khắp Nam Việt Nam từ ngày 30 tháng 1 năm 1968. Cuộc tổng tấn công này kết thúc như là một bế tắc chiến thuật đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng nó lại trở thành một thành công chiến lược khi ảnh hưởng ngược lại đối với dư luận quần chúng Mỹ, dư luận này đến lượt nó lại gây ảnh hưởng tới chiến lược chiến tranh của Washington.

Đến mùa xuân năm 1967, Robert McNamara và các lãnh đạo dân sự khác trong chính quyền đã tin rằng cả Sấm Rền và chiến tranh trên bộ tại Nam Việt Nam đều dậm chân tại chỗ.

                               Chiến dịch Sấm Rền" của Mỹ không làm Việt Nam khiếp sợ - 02.03.2020,  Sputnik Việt Nam

         Chiến dịch Sấm Rền" của Mỹ không làm Việt Nam khiếp sợ - 02.03.2020, Sputnik Việt Nam

Chiến dịch ném bom đã không đạt được các mục tiêu và những người vỡ mộng đã liên tục phản đối các khuyến nghị của Hội đồng Tham mưu về việc tăng nhịp độ ném bom và nới lỏng hạn chế mục tiêu. Các tướng lĩnh thấy mình rơi vào vũng lầy do chính mình tạo nên. Họ liên tục tuyên bố rằng chiến dịch có hiệu quả, nhưng cũng liên tục yêu cầu thẩm quyền rộng hơn để làm cho chiến dịch thành công. Đơn giản là không thể dung hòa được các mục đích giới hạn là kết quả của chính sách ngoại giao của Mỹ với mục tiêu toàn thắng của giới quân sự. Bài toán hóc búa khi đó đã trở thành: làm thế nào đánh bại Bắc Việt Nam mà không hủy diệt Bắc Việt Nam.

Ngày 9 tháng 8 năm 1967, Ủy ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services Committee) mở cuộc điều trần về chiến dịch ném bom. Rõ ràng, McNamara, quan chức dân sự duy nhất ra điều trần và người cuối cùng ra trả lời chất vấn của hội đồng, đã là vật tế thần. Vị Bộ trưởng quốc phòng đưa ra các phản đối của mình về một cuộc không chiến bừa bãi và đã bác bỏ thành công các lời buộc tội của các chỉ huy quân sự.  Ông thẳng thắn thừa nhận rằng đã "không có cơ sở nào để tin rằng một chiến dịch ném bom nào hủy diệt Bắc Việt Nam và dân số của nó mà có thể buộc chính phủ Hồ Chí Minh khuất phục."

Tổng thống Johnson đã thấy rõ rằng McNamara đã trở thành một trở ngại cho chính phủ. Tháng 2 năm 1968, McNamara từ chức và được thay thế bởi Clark Clifford, người đã luôn chống đối đề nghị của McNamara về việc ổn định quân số Mỹ tại Nam Việt Nam và chấm dứt chiến dịch Sấm Rền.Tuy nhiên lập trường của McNamara lại ngay lập tức được nối tiếp bởi Ngoại trưởng Dean Rusk, người mà trước đó vẫn ủng hộ chiến dịch ném bom. Rusk đề xuất giới hạn chiến dịch chỉ trong vùng cán xoong miền Trung mà không cần điều kiện tiên quyết và đợi phản ứng của Hà Nội.\Trong vòng vài tháng, cả Clifford cũng bắt đầu có cách nhìn của người mà ông đã thay thế.

                                

        Một khẩu đội Tên lửa SAM-2 của lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam chuẩn bị chiến đấu

Thất vọng vì các thất bại chính trị trong nước và hy vọng rằng Hà Nội sẽ đi vào đàm phán, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom ở phía bắc vĩ tuyến 19. Kết quả của quyết định này là Không quân và Hải quân bắt đầu dồn toàn bộ hỏa lực mà trước đây họ rải khắp miền Bắc xuống khu vực giữa hai vĩ tuyến 19 và 17. Không quân tăng gấp đôi số lượt đánh phá khu vực 1, lên tới hơn 6000 lượt mỗi tháng, tập trung đánh chặn các "điểm cuống họng", cắt đường, và săn xe tải. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đáp lại bằng cách tăng gấp đôi số khẩu đội phòng không tại vùng cán xoong, nhưng hầu hết các khẩu đội SAM vẫn được giữ nguyên ở quanh Hà Nội và Hải Phòng.

Tuy trước đó liên tục tuyên bố rằng sẽ không đàm phán nếu vẫn bị ném bom, nhưng cuối cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đồng ý gặp Mỹ tại Paris để bắt đầu đàm phán. Đáp lại, Tổng thống Johnson tuyên bố lệnh ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 1968, ngay trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Mặc dù việc ngừng ném bom được gắn với tiến triển của đàm phán hòa bình, Hội đồng tham mưu không tin rằng chính phủ sẽ lại mở chiến dịch ném bom do dù tình hình như thế nào. Họ đã đúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huân chương cho Nguyễn Văn Cốc (trung đoàn tiêm kích 921), phi công đã bắn hạ 11 máy bay Mỹ (gồm 2 UAV trinh sát), ông có thành tích không chiến cao nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là phi công MiG-21 thành công nhất thế giới]] Từ tháng 3 năm 1965 đến tháng 11 năm 1968, các máy bay của Không lực Mỹ đã thực hiện 153.784 phi vụ tấn công, Không quân và Thủy quân lục chiến bổ sung thêm 152.399 phi vụ. Ngày 31 tháng 12 năm 1967, Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố rằng trong chiến dịch Sấm Rền đã có 864.000 tấn bom Mỹ ném xuống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, so với 653.000 tấn bom trong suốt Chiến tranh Triều Tiên và 503.000 tấn bom ném xuống mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến lần thứ 2. 

Ngày 1 tháng 1 năm 1968, CIA ước tính rằng thiệt hại vật chất mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chịu lên tới 370 triệu USD, số thương vong đối với dân số Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mỗi tuần là 1.000 người, nghĩa là khoảng 90.000 thương vong trong thời gian 44 tháng, 72.000 trong số đó là dân thường. Còn theo số liệu Cục tác chiến Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong 4 năm đã có 14.000 nhân viên quân sự và 60.000 dân thường thiệt mạng. 

                                    Ảnh hiếm chiến dịch sấm rền Mỹ tiến hành ở VN 1965 - Thế giới - Việt Giải  Trí 

                                         Trong ảnh là người mẹ dùng đòn gánh đưa con đi trú ẩn.

Trong các tình huống hành quân hay chiến đấu, 526 máy bay của Không lực Mỹ, 397 của Hải quân, và 19 của Thủy quân lục chiến đã bị rơi trên miền Bắc Việt Nam hay gần đó, chưa kể số trúng đạn hư hỏng nhưng rơi ngoài biển hay lết về được căn cứ. Trong chiến dịch, trong số 745 phi công bị bắn rơi, Không lực Mỹ ghi nhận 145 người được cứu thoát, 255 bị chết, 222 bị bắt (23 người trong số đó đã chết trong khi bị giam giữ do bị thương nặng hoặc vì bom của Mỹ), và 123 mất tích. Con số thương vong của hải quân và Thủy quân lục chiến khó tìm hơn. Trong 44 tháng, 454 phi công thuộc lực lượng Hải quân Mỹ bị chết, bị bắt, hoặc mất tích trong các chiến dịch kết hợp trên vùng trời miền Bắc Việt Nam và Lào.

 Chiến dịch Sấm Rền đã khởi đầu là một chiến dịch mang tính chất chiến lược và tâm lý, nhưng nó đã nhanh chóng chuyển thành hoạt động ngăn chặn - một nhiệm vụ chiến lược. Sự thất bại chung cuộc có hai nguồn, cả hai đều thuộc về những người hoạch định chính sách cả quân sự lẫn dân sự ở Washington: Trước hết, không nhóm nào có thể hiểu được rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ chịu đựng được sự tàn phá mà họ sẽ gây ra. Thứ hai, lãnh đạo quân sự Mỹ ngay từ đầu đã không đề ra và phát triển được một chiến lược thích hợp với cuộc xung đột, cũng như về sau đã không điều chỉnh được nó. Ngoài ra, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn có lợi thế ở chỗ được viện trợ to lớn từ Trung Quốc và Liên Xô.

6/ Chiến dịch Junction City:

 Từ ngày 22/2 đến 15/4/1967, Quân giải phóng miền nam Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của Mỹ và quân đội Sài Gòn vào chiến khu Dương Minh Châu, thuộc địa bàn phía bắc tỉnh Tây Ninh. Đây là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng, tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm thất bại hoàn toàn ý đồ của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần hai; đồng thời, góp phần làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường miền Nam, đẩy Mỹ và quân đội Sài Gòn ngày càng lâm vào thế bị động.

Dù bị thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965-1966), phải nếm vị đắng tổn thất nặng nề trên chiến trường miền nam, nhưng Mỹ vẫn nung nấu một thắng lợi bằng quân sự để giải quyết cuộc chiến tranh ở miền nam Việt Nam.

Bước vào mùa khô 1966-1967, Mỹ-ngụy rắp tâm mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai bằng nhiều cuộc hành quân lớn nhỏ; trong đó, có cuộc hành quân quy mô lớn nhất, dài ngày nhất mang tên Gianxơn Xity (Junction City), tập trung lực lượng đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). 

                                 

Lực lượng thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến với đoàn xe thồ tiếp lương, tải đạn cho Quân Giải phóng đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity của Mỹ, năm 1967. (Cổng thông tin điện tử Đảng bộ Tây Ninh)

Tham vọng của Mỹ trong cuộc hành quân này là: “Phá hủy căn cứ kháng chiến lớn của quân và dân ta ở bắc Tây Ninh; tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến; tìm diệt một bộ phận chủ lực lớn của ta ở miền Đông (Sư đoàn 9); tạo lá chắn yểm trợ cho quân đội Sài Gòn tiến hành bình định ở phía nam, gỡ thế bị uy hiếp nặng ở Sài Gòn-Chợ lớn; giành một thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định, tạo ra bước ngoặt làm chuyển biến cục diện chung có lợi cho Mỹ và Sài Gòn.

Để thực hiện mục tiêu đặt ra, Mỹ-ngụy đã huy động đại bộ phận quân Mỹ triển khai ở miền Đông Nam Bộ và một phần quân đội Sài Gòn. Lực lượng bao gồm: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9, các lữ đoàn 196, 173 của Mỹ; 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân Quân đội Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh. Ước tính quân số khoảng 45.000 quân và hơn 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại cùng nhiều loại máy bay. Cuộc hành quân diễn ra 3 giai đoạn.  

Giai đoạn 1, Bộ chỉ huy Mỹ tiến hành 2 cuộc hành quân chuẩn bị (Gaxđen và Tucson) để bố trí các lữ đoàn vào rìa phía đông và tây của khu vực hành quân. Giai đoạn 2, quân Mỹ đánh phá khu trung tâm và rìa phía đông chiến khu. Giai đoạn 3, sử dụng 1 lữ đoàn càn quét khu vực giữa thị xã Tây Ninh và suối Đá.

Cụ thể, xét về tương quan lực lượng:

Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa: Tổng số quân và thiết bị quân sự tham chiến là 35.000 quân trong 9 lữ đoàn; 300 trực thăng; 3 phi đoàn máy bay vận tải, hàng trăm xe tăng - xe thiết giáp... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy.

Về phía Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam: Tổng lực lượng bao gồm chủ lực, địa phương quân, du kích các cơ quan là 15.000 bộ đội, được phân chia theo từng tổ chiến đấu, ấp chiến đấu, xã chiến đấu... tinh thần là bám trụ bảo vệ từng cơ quan và địa bàn, sẵn sàng đánh trả khi có điều kiện. Lực lượng chủ lực được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công.

Do tương quan quá chênh lệch, Bộ chỉ huy quân Giải phóng đề ra phương châm: Phải chuẩn bị sẵn sàng, bám trụ vững chắc, phản công kiên quyết, tiến công mạnh mẽ liên tục, kết hợp ba thứ quân đánh nhỏ, đánh vừa và tạo điều kiện đánh lớn, bảo đảm đánh dài ngày, mạnh bạo nhưng chắc thắng; cố gắng tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo vệ cơ quan và kho tàng trong căn cứ.  

Mặc dù vậy, trên cơ sở đánh giá đúng mạnh, yếu của ta và địch, đặc biệt từ kinh nghiệm đánh bại cuộc hành quân Áttơnborơ, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch phản công ở Tây Ninh và giao cho Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh chiến dịch; Thiếu tướng Trần Độ làm Chính ủy; Đại tá Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng.

Lực lượng tham gia đánh địch gồm: Sư đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 1, 2, 3), Trung đoàn bộ binh 16, tiểu đoàn 58 cối 120mm, 3 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 9 đại đội bảo vệ cơ quan, 13 đại đội địa phương và 4.000 du kích.

Giai đoạn I (từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 15 tháng 3 năm 1967) hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là phía bắc tỉnh Tây Ninh, mũi tập trung chính yếu nhắm vào khu vực nằm về phía đông quốc lộ số 22, phía Tây tỉnh lộ số 4 (Tây Ninh đi Cà Tum), áp sát lên biên giới Campuchia. Vùng Tà Đạt là hợp điểm của cuộc hành quân.

Trước đó, từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 21 tháng 2 năm 1967, Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ đánh vào mạn phía tây đường số 22, áp lên biên giới Campuchia, mục đích của cuộc hành quân này là quét dọn vùng sông Vàm Cỏ Đông, lùa đối phương về hướng trung tâm (phía đông đường 22), hình thành bức tường phía tây bởi các chốt chặn Cần Đăng, Tà Xia, Lò Gò, chuẩn bị thế tiến công và bao vây sẵn cho cuộc hành quân Junction City. Theo kế hoạch, các đơn vị dàn quân theo hình móng ngựa để bao vây ba mặt chiến khu này, sau đó một số đơn vị có chiến xa, cơ giới công binh yểm trợ tiến vào giữa để tảo thanh, truy kích. Dàn trận trước tiên là các tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173 Hoa Kỳ, đây là lữ đoàn xung kích trong suốt cuộc hành quân.

Ngày 22 tháng 2 năm 1967, mở màn cho chiến dịch là những trận pháo kích vô cùng ác liệt, ngay sau đó máy bay C-130 chở Lữ đoàn Không vận 173, nhảy dù xuống Cà Tum nằm trên tỉnh lộ số 4, nơi có ngả rẽ qua Bổ Túc, gần biên giới Campuchia (đây cũng là trận nhảy dù quy mô nhất trong Chiến tranh Việt Nam). Tiếp theo là 250 lần chiếc trực thăng chở Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 1 "Anh cả đỏ" đổ bộ xuống Sóc Mới - Rùm Đuôn - An Khắc, nhằm khóa chặt biên giới phía bắc Tây Ninh. Trong lúc đó Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 cùng với Trung đoàn Thiết giáp số 11 của Mỹ từ Tây Ninh, theo đường số 4 tiến lên Đồng Pan, hợp với Lữ đoàn 173 tại Cà Tum, bức tường phía đông đã hình thành.

                                 Cuộc hành quân lớn nhất lại là thất bại lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam - Ảnh 14.

Thất bại của Mỹ trong cuộc hành quân Junction City là sự bế tắc về chiến thuật, chiến lược của Mỹ ở Việt Nam. Với thất bại này, về cơ bản, gọng kìm "tìm diệt" của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai đã bị bẻ gãy.

 

Từ ngày 23 tháng 2 đến 9 tháng 3 năm 1967, các đơn vị Quân Giải phóng tìm cách vượt thoát khỏi vòng vây của quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Về phía Mỹ, sau hơn 10 ngày hành quân của chiến dịch, các tướng lĩnh chỉ huy cũng đã phải thốt lên: Không tìm thấy chủ lực của đối phương ở đâu, không bắt được một lãnh đạo nào của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam... cuộc hành quân chỉ gặp phải toàn cạm bẫy như chông, mìn, lựu đạn gài. Du kích thì lúc ẩn lúc hiện không sao tiêu diệt được, những căn cứ mà binh sĩ Mỹ vào được thì trống rỗng, chỉ tịch thu được những thứ mà đối phương không kịp mang đi. Những khi dừng chân thì bị bắn tỉa, bị ném lựu đạn, bị phóng rocket... bệnh tật cũng bắt đầu hoành hành. Thương vong do cạm bẫy, quấy nhiễu của du kích và bệnh tật của rừng nhiệt đới làm cho lính Mỹ thiệt hại ngày càng tăng, trở nên lo sợ, không còn hăng hái lùng sục nữa. Các kế hoạch tác chiến ban đầu không thực hiện được tốt, việc hợp quân trên vùng trung tâm căn cứ quân Giải phóng không thành công.

Hiểu rõ tình thế những mặt mạnh yếu trong chiến dịch Junction City, lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam (Sư đoàn 9) sau khi phân tán thoát vòng vây đã tập trung lại, luồn sâu vào vùng hậu cứ của cuộc hành quân để tổ chức phản công. Đêm 6 tháng 3, pháo binh Quân Giải phóng bắn phá dữ dội vào cụm đóng quân Tà Xia và Truông Bình Linh. Đêm 10 tháng 3, Quân Giải phóng tập kích vào hai cụm đóng quân Đồng Pan và Bào Cỏ, chọc thủng tuyến đóng quân của một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173 Hoa Kỳ, gần trung tâm của Chiến khu C, cách thị xã Tây Ninh 30 km về hướng đông. Ngoài ra còn có nhiều trận phản công nhỏ lẻ và đặt mìn, phục kích trên các trục tiếp tế quan trọng, làm cho chiến dịch từ chủ động tìm-diệt sang bị động đối phó. Tính đến cuối ngày 11 tháng 3, sau 3 tuần liên tục truy kích, liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đã loại ngoài vòng chiến 744 Quân Giải phóng, tuy nhiên các mục tiêu cơ bản đặt ra vẫn chưa đạt được. Giai đoạn I của chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 3 năm 1967, với một thành tích hoàn toàn không đáng kể và Tướng Jonathan Seaman bị mất quyền chỉ huy, thay bằng Tướng Bruce Palmer, Jr.

                                 Cuộc hành quân lớn nhất lại là thất bại lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam - Ảnh 15.

          Đối với ta, đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ, khẳng định khả năng chiến thắng về quân sự của ta là tất yếu, ta đã tạo được thế và lực cũng như thời cơ để tiến lên chuyển cách mạng miền Nam sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định vào những năm tiếp sau. Nguồn ảnh: TL.

 

Giai đoạn II (từ 18 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1967), hướng tấn công chủ yếu của Chiến dịch Junction City là mạn đông tỉnh lộ số 4, được giới hạn bởi sông Sài Gòn, trọng tâm của chiến dịch nhằm về tuyến biên giới phía Đông Bắc Cà Tum và tuyến thượng nguồn sông Sài Gòn, được B-52 rải thảm không hạn chế.

Tỉnh lộ 4 Tây Ninh đi Cà Tum, bây giờ là bức tường phía tây của chiến dịch, các căn cứ Quản Lợi (Bình Long), Minh Thạnh (Núi Cát), Dầu Tiếng, Suối Đá (Tây Ninh); con đường số 13 huyết mạch kết hợp với các con đường 19, 22, 26 mới được sửa chữa, tạo thế tiến công từ phía đông sang tây. Lực lượng thiện chiến của các Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Sư 4, Sư 9... thì do máy bay trực thăng đổ bộ, hình thành các cụm căn cứ lớn khống chế biên giới Campuchia như Sóc Con Trăng, Đồng Rùm, Ba Vũng...

Khu vực này, trên thực tế là địa bàn xung yếu nằm trong hệ thống huyết mạch chính của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nơi đây vừa là đầu cầu tiếp nhận viện trợ từ miền Bắc, vừa là nơi cất dấu hậu cần, khí tài, quân bị. Nơi đây còn là bàn đạp, để từ đó Quân Giải phóng tiếp cận các chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ.

Bước vào giai đoạn này, sức mạnh quân sự của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa không hề suy giảm, thậm chí có phần gia tăng hơn, nhưng ý chí chiến đấu không còn như đợt ra quân ban đầu nữa. Trong khi đó về phía Quân Giải phóng miền Nam, việc kết thúc giai đoạn I của chiến dịch diễn ra gần đúng với dự kiến ban đầu: bảo đảm tuyệt đối an toàn cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và các ban ngành, đoàn thể..., đặc biệt điều quan trọng bậc nhất là bảo toàn được lực lượng chủ lực của mình, do biết cất giấu kỹ. Do vượt qua được cột mốc thử thách trước sức mạnh Mỹ cộng với kinh nghiệm va chạm thực tiễn trong giai đoạn I, Quân Giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn II với khí thế tự tin hơn và bản lĩnh hơn.

                                          Cuộc hành quân lớn nhất lại là thất bại lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam - Ảnh 1. 

             Cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam diễn ra trong giai đoạn mùa khô 1966-1967,

Ngày 19 tháng 3, Lữ đoàn 173 mở cuộc tấn công vào vị trí của Quân Giải phóng nằm về phía tây của Chiến khu C. Trong đêm đó, tại Bàu Bàng khi Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Mỹ vừa tập kết chuẩn bị tham gia chiến dịch giai đoạn II, đã bị tấn công tại căn cứ. Ngày 20 tháng 3 năm 1967, giao tranh tiếp diễn tại nhiều hướng, theo Mỹ tuyên bố đến ngày này có 1.117 binh sĩ Quân Giải phóng tử thương; phía Hoa Kỳ có 143 tử trận, 659 người bị thương. Đêm 21 rạng sáng ngày 22 tháng 3 năm 1967, Quân Giải phóng tập kích Đồng Rùm sau 2 ngày vị trí này bị phía Mỹ đổ quân chiếm đóng, giao tranh ác liệt nổ ra kéo dài trong 6 giờ liền. Đêm 31 tháng 3, Quân Giải phóng tập kích căn cứ Ba Vũng. Ngoài ra, cụm căn cứ Sóc Con Trăng bị bao vây uy hiếp, làm hạn chế sức đánh phá của căn cứ này. Các vùng hậu cứ của Chiến dịch Junction City cũng bị pháo binh bắn phá như: Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá. Chỉ huy sở của cuộc hành quân trú đóng tại Dầu Tiếng cũng bị pháo kích. Trên toàn mặt trận, sự kháng cự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỏ ra ngày càng mãnh liệt.

Từ 1 tháng 4, quân Mỹ bắt đầu triệt thoái từng bước, đến 15 tháng 4 năm 1967, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa kết thúc giai đoạn II của chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 4, chiến dịch bước sang giai đoạn III, nhưng đã phải nhanh chóng chấm dứt vào ngày 14 tháng 5 sau khi không thu được thêm nhiều kết quả. Chiến dịch Junction City đến đây chính thức kết thúc.

Hoa Kỳ tuyên bố đã có 2.728 quân Giải phóng tử trận, tuy nhiên con số này bị xem là phóng đại, bởi trong suốt cả chiến dịch quân Mỹ chỉ thu được 491 vũ khí cá nhân và 100 vũ khí cộng đồng của quân Giải phóng (chỉ bằng 1/5 con số bộ đội tử trận mà Mỹ tuyên bố) Còn theo thống kê của Việt Nam, toàn chiến dịch quân Giải phóng thương vong khoảng 1.530 người (10,2% quân số), trong đó có 255 chết (1,7% quân số)

                                Cuộc hành quân lớn nhất lại là thất bại lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam - Ảnh 10. 

Choáng váng bởi các đòn tiến công liên tiếp của Quân giải phóng, ngày 13/3/1967, quân Mỹ rút khỏi Kà Tum, Bổ Túc và các chốt trên khu vực Bắc Tây Ninh. 

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 quân địch (chủ yếu là quân Mỹ), phá hủy, phá hỏng 992 xe (có 775 xe tăng và xe thiết giáp), 112 khẩu pháo từ 105mm trở lên, bắn rơi và bắn hỏng 160 máy bay (có 144 trực thăng), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ. Tuy nhiên theo Đại tướng William Westmoreland thì con số thiệt hại của Mỹ là 282 lính chết và khoảng 1.560 bị thương (chưa kể vài trăm thương vong của quân VNCH); 107 thiết vận xa, 57 xe tăng, 28 xe vận tải và 11 khẩu  bị phá hủy hoặc hư hại.

Như vậy, chiến dịch diễn ra trong điều kiện so sánh lực lượng chênh lệch hơn hẳn về phía Mỹ, nhưng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã giành được thắng lợi toàn diện.

Một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong chiến dịch này là ta đã tạo ra được thế trận chiến tranh nhân dân ở địa bàn không có dân để thắng địch. Trong bốỉ cảnh quân địch áp đảo về lực lượng, phi pháo và sức cơ động (chủ lực của ta ít hơn một phần ba lực lượng địch), nhưng ta đã khéo léo tổ chức các cơ quan dân, chính, Đảng thành những đơn vị dân quân du kích, tự vệ để đánh địch rộng khắp. Do vậy, thế trận chiến tranh nhân dân do ta tạo nên ở một địa bàn không có dân là một điều bất ngờ lớn đối với cả quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. 

                                  Cuộc hành quân lớn nhất lại là thất bại lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam - Ảnh 11.                       Không đạt mục tiêu đề ra lại bị tổn thất lớn, từ ngày 4 đến 15/4, địch rút lui từng bước, chấm dứt cuộc hành quân Junction City.


Đồng thời, ở chiến dịch phản công này, quy mô trận đánh của chủ lực ta đã có sự phát triển mới, phổ biến là đánh cấp tiểu đoàn, song đã có những trận đánh vận động tiến công với lực lượng trung đoàn, sư đoàn. 

Cùng với đó, tuy quân địch chủ động mở đầu tiến công, nhưng suốt cả chiến dịch, ta đã giữ vững quyền chủ động đánh địch, chủ động lựa chọn mục tiêu, địa hình mở màn trận đánh, kiên quyết đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.

Cho đến thời điểm này, đối với Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, thất bại trong cuộc hành quân Gianxơn Xity là một thất bại lớn nhất của Mỹ ở miền nam Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận xét: “Cuộc hành quân Gianxơn Xity là một cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ bắc Tây Ninh lại là cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu đỉnh cao sự thất bại của chúng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trong âm mưu tìm diệt của chúng”

Đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ, một lần nữa khẳng định khả năng chiến thắng về quân sự của ta là tất yếu, ta đã tạo được thế và lực cũng như thời cơ để tiến lên chuyển cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới. Đồng thời, những bài học rút ra từ chiến thắng cuộc hành quân Gianxơn Xity đã góp phần quan trọng, tạo ra cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng miền nam tiến lên giành những thắng lợi quyết định.

7/ Trận Ia Drăng

Trận Ia Đăng là một trong những trận đối đầu lớn đầu tiên giữa liên quân (Quân lực Việt Nam cộng hòa và Quân đội Mỹ) với Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trận đánh là một phần trong Chiến dịch Plei Me (năm 1965). Thắng lợi của trận Ia Đrăng là đòn quyết định đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ; đồng thời, thể hiện sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật tác chiến của Quân đội ta trước kẻ thù có tiềm lực quân sự vượt trội; làm thay đổi dòng chảy của cuộc chiến tranh, cổ vũ quân và dân ta giữ vững niềm tin “dám đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ”.

Trận đánh là một phần trong Chiến dịch Plei Me (từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 26 tháng 11 năm 1965) do Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thực hiện để đáp trả lại Chiến dịch Plâyme của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 (từ ngày 19 đến 26 tháng 10 năm 1965). Trận đánh gồm 2 trận đụng độ: trận đụng độ thứ nhất xảy ra trong ba ngày từ 14 tháng 11 tới 16 tháng 11 năm 1965 tại bãi đáp X-Ray ngay chân rặng núi Chu Prông 25 cây số Tây Plei Me; trận đụng độ thứ nhì xảy ra vào ngày 17 tháng 11 tại bãi đáp Albany, nằm gần mạn phía Nam của sông Ia Drang. Tên trận đánh lấy theo tên của Sông Đrăng chảy qua thung lũng phía tây bắc của Plei Me, nơi đó trận đánh diễn ra. "Ia" có nghĩa là "sông" trong tiếng người Thượng.
 
Tây Nguyên thuộc vùng II chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và là mặt trận Tây Nguyên (hay mặt trận B3) với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ cuối năm 1964, Trung đoàn 2 bộ binh và Tiểu đoàn 409 đặc công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiến hành một số trận đánh với 5 tiểu đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) và giành thắng lợi.
 
                                  ia-drang-battle

                                       14/11/1965: Trận Ia Đrăng trong Chiến tranh Việt Nam

 
Đầu năm 1965, Sư đoàn 304 nhận lệnh chuẩn bị xâm nhập Miền Nam để hỗ trợ QGP: Tướng Nguyễn Nam Khánh hồi tưởng: "Đầu năm 1965, Bộ Tổng tham mưu cho gọi tôi và đồng chí Sư đoàn trưởng sư đoàn 304 lên giao nhiệm vụ vào miền Nam chiến đấu." 
 
Tháng 6 năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson phê duyệt áp dụng chiến lược quân sự tìm và diệt ở miền Nam Việt Nam do Westmoreland vạch ra. Quân đội Hoa Kỳ (QĐHK) sẽ làm lực lượng chủ lực để "bẻ gãy xương sống Việt Cộng". Westmoreland thì xem Tây Nguyên là mối đe dọa trước mắt.
 
Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã điều Sư đoàn Không Kỵ số 1 lên án ngữ ở An Khê (Gia Lai), ngăn chặn QĐNDVN hỗ trợ QGP, cắt Tây Nguyên cùng với đồng bằng ven biển. Quân VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ để thực hiện kế hoạch "tìm và diệt" trong chiến lược Chiến tranh cục bộ.
 
Trong bối cảnh đó, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thay đổi chủ trương, hạ quyết tâm mở chiến dịch Plei Me nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để mở rộng và củng cố vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, rèn luyện bộ đội và cơ quan chiến dịch. Qua chiến đấu từng bước tìm hiểu quân Mỹ, đồng thời xây dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ. Thiếu tướng Chu Huy Mân được chỉ định là Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch, Đại tá Nguyễn Chánh và Thượng tá Nguyễn Hữu An làm phó tư lệnh. Huỳnh Đắc Hương giữ chức phó chính ủy, Thượng tá Nam Hà là tham mưu trưởng, Thượng tá Đặng Vũ Hiệp làm Phó chủ nhiệm chính trị. Tài liệu phía QLVNCH ghi các cấp chỉ của Mặt Trận B3 khi xảy ra trận chiến Plei Me là: Tướng Chu Huy Mân kiêm luôn chức Tư lệnh Vùng IV Quân sự, và các cộng sự viên chính Đại tá Quan, Phụ Tá cho Tư lệnh, và Thượng tá Hà Vi Tùng, Tham mưu Trưởng.
 
Để tiến hành chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cử 3 trung đoàn bộ binh (320, 33, 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh phá giao thông và hậu cứ địch. 
 
                                  
Chỗ hiểm đó chính là việc quân giải phóng bắt thóp được chiến thuật trực thăng vận của Mỹ, khi ta có thể đón đoán trước được các khu vực trực thăng Mỹ có thể đổ quân. Những bãi đáp này được Mỹ sử dụng như một cầu không vận để đưa thương binh ra và đưa hàng tiếp tế vào chiến trường. Khi bị chúng ta tấn công vào đây, phía Mỹ hoàn toàn bị động. Nguồn ảnh: Wiki.
 
 
Về sử dụng lực lượng: vây đồn Plei Me do Trung đoàn 33 (thiếu Tiểu đoàn 2), được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Bộ phận đánh viện trên Đường 21 là Trung đoàn 320. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm đánh địch phản kích. Nghi binh ở Đức Cơ do Tiểu đoàn pháo 200. Nghi binh ở Tân Lạc là đại đội địa phương. Hoạt động ở hướng phối hợp là Tiểu đoàn 15 Gia Rai.

Về kế hoạch tác chiến nguyên thủy, dự kiến chiến dịch chia làm 3 đợt:

  • Đợt 1, Trung đoàn 33 sẽ vây lấn Pleime và khiêu chiến quân trú phòng, tạo đủ áp lực để buộc Quân đoàn II phải phái lực lượng phản kích.
  • Đợt 2, Trung đoàn 320 sẽ phục kích và tiêu diệt đoàn quân tiếp cứu.
  • Đợt 3, cả hai Trung đoàn sẽ hiệp lực chiếm cứ và phá hủy Trại.

Kế hoạch dự tính khởi đầu vào tháng 12 năm 1965. Trung đoàn 320 đã hoạt động tại vùng Cao nguyên từ đầu năm; Trung đoàn 33 mới xâm nhập vào tháng 9; Trung đoàn 66 cuối tháng 10 mới sẵn sàng xuất trại lên ̣đường xâm nhập vào Nam, dự tính phải mất hai tháng mới tới chiến trường Cao Nguyên.

Tuy nhiên, khi thấy QĐHK thiết lập bản doanh Sư đoàn 1 Không Kỵ tại An Khê vào tháng 8, Bộ Tư Lệ̣nh Mặt trận B3 lấy quyết định khởi động chiến dịch sớm hơn vào ngày 19 tháng 10 năm 1965 với hai Trung đoàn 320 và 33 mặc dù Trung đoàn 66 chưa có mặt, lợi dụng thời cơ khi lính không kỵ Mỹ chưa sẵn sàng chiến đấu.

Lâu sau này - khoảng năm 2000 - các giới chức quân sự và sử gia QGP chỉnh sửa kế hoạch dự kiến thành ba đợt là chủ yếu đánh quân VNCH để dụ và tiêu diệt quân Mỹ tại Plei Me và rồi Ia Drăng:

  • Đợt 1, vây đồn Plei Me, diệt quân VNCH đi ứng viện;
  • Đợt 2, tiếp tục vây đồn Plei Me buộc quân Mỹ vào tham chiến;
  • Đợt 3, tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt và kết thúc chiến dịch.

Trung đoàn 33 được lệnh tới chiếm trại Plei Me. Plei Me có vị trí quan trọng sát với đường số 19B nối Đức Cơ với thị xã Pleiku và đường 14 nối Phú Nhơn với Buôn Mê Thuột. Phát hiện ra đối phương cơ động, QLVNCH quyết định cho quân chi viện tới Plei Me. Ngày 23 tháng 10 (12 giờ), Chiến đoàn 3 thiết giáp từ Phú Mỹ hành quân lên Plei Me, gồm 3 chi đoàn M-113 và xe tăng; Tiểu đoàn 21 Biệt động quân, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42 và 2 khẩu pháo 105mm.

                                

Ban đầu, phía Tiểu đoàn 9 Quân giải phóng bị bất ngờ và không có chỉ huy do Tiểu đoàn trưởng đang đi gặp Trung đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ, Tham mưu trưởng tiểu đoàn cùng Chính trị viên phó, Chính trị viên trưởng đều không có mặt. Chỉ huy cao nhất lúc này là một trợ lý tác chiến tiểu đoàn. Nguồn ảnh: History.

 

Lúc 16 giờ 30 phút, đầu đội hình lọt vào giữa trận địa phục kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các Tiểu đoàn 634 và 635 xung phong đánh vào giữa đội hình. Đến 18g, trận đánh kết thúc, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận diệt 59 xe tăng, xe bọc thép và 800 quân VNCH, thu 2 pháo 105mm và 6 xe đạn, 40 súng các loại, bắn rơi 2 máy bay.

Ngày 25 tháng 10, sau hai lần vượt qua ổ phục kích, đoàn quân chi viện cũng tiến được vào trại Plei Me. Sau khi quân chi viện vào trại, hai Trung đoàn 320 và 33 được lệnh tháo lui. Trung đoàn 33 rút từ Plei Me về khu vực thung lũng Ia Đrăng, cách 10 km về phía Tây để phòng thủ.

Còn QĐHK bắt đầu cuộc hành quân Long Reach (Trường Chinh) dùng máy bay oanh tạc khu vực và chuẩn bị tìm và diệt địch. Hành quân Long Reach được QĐHK khai triển qua ba cuộc hành quân: All the Way (Lữ đoàn 1 Không kỵ, 27/10-9/11/1965), Silver Bayonet I (Lữ đoàn 3 Không kỵ, 9/11-17/11/1965) và Silver Bayonet II (Lữ đoàn 2 Không kỵ, 18/11-26/11/1965).

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 nhận định:

"Ta đã diệt được một phận quan trọng quân cơ động của ngụy buộc quân Mỹ phải vào tham chiến. Nhiệm vụ bao vây của Plei Me đã hoàn thành. Chủ trương của ta mở bao vây, điều chỉnh lại đội hình. Sử dụng 2 Trung đoàn 320 và 33 sẵn sàng đánh bại các đợt phản kích tiếp theo của địch".

Ngày 29 tháng 10, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chủ động kết thúc đợt 1 chiến dịch, chuyển sang gia đoạn tiếp theo là tập trung lực lượng nhằm tiến công trại Plei Me lần thức hai.

Ngày 10 tháng 11, Lữ đoàn 3 Không kỵ thay thế Lữ đoàn 1 Không kỵ đồng thời nhận được lệnh thực hiện một thế nghi binh bằng các chuyển hướng hành quân sang đôngt nhằm khuyến dụ Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 qui tụ ba trung đoàn vào các vùng tập trung, để chuẩn bị tấn công trại Plêim lần thứ hai ấn định vào ngày 16 tháng 11.

                                 

Dù khá bất ngờ với việc cự ly đổ bộ của địch quá gần và không có chỉ huy, nhưng ngay lập tức Tiểu đoàn 9 đã dàn quân, bố chí trận địa và nổ súng đón lõng những đợt đổ quân tiếp theo của địch khiến chúng hoảng loạn, nghĩ rằng trận địa đã bị phục kích sẵn chứ không hề biết cuộc đụng độ này vốn là "vô tình". Nguồn ảnh: Wiki.

 

Ngày 12 tháng 11, Lữ đoàn 3 Không kỵ nhận được lệnh tiến công vào chân rặng núi Chu Prông. Ngày 13 tháng 11, Đại tá Brown gặp Trung tá Moore và ra lệnh chuẩn bị đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray sáng ngày hôm sau

Một tiểu đoàn không kỵ của Quân đội Hoa Kỳ đổ bộ xuống bờ nam sông Ia Đrăng. Một tiểu đoàn khác đổ bộ xuống cứ điểm 732. Một lữ đoàn không kỵ trấn giữ dọc đường 19B. Ngày 11 tháng 11, một tiểu đoàn quân Mỹ tiếp tục đổ xuống Plei Ngo, cách Plei Me 12 km về phía tây

Ngày 14 tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 1/7 không kỵ Mỹ đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray.

Bộ chỉ huy trận Ia Đrăng đến đóng ở chân núi phía Nam Chư Prông. Lực lượng của họ bao gồm trung đoàn 66 và tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hữu An (chỉ huy trưởng) và Đặng Vũ Hiệp (chính ủy), phối hợp với tiểu đoàn H15 Quân Giải phóng miền Nam đánh nghi binh ở đường 13 (tuy nhiên tài liệu phương Tây lại cho rằng tiểu đoàn H15 cũng tham gia trận đánh). Đối mặt với họ là 3 tiểu đoàn của Quân đội Hoa Kỳ: 1/7 (do trung tá Harold Moore chỉ huy), 2/7 thuộc Lữ đoàn 3 Không kỵ và 2/5 thuộc Lữ đoàn 2 Không kỵ, tổng cộng khoảng hơn 1.000 quân. Cùng thời gian này, Mỹ huy động 1 tiểu đoàn pháo binh lập 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở tây nam Quênh Kla 2 km và đông nam Ia Đrăng 3 km để chi viện cho Lữ đoàn 3.

Như vậy, xét về quân số tác chiến đơn thuần, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ưu thế hơn (1.500 quân so với 1.000 quân). Tuy nhiên quân Mỹ được trang bị hỏa lực rất hùng hậu, trung bình 1 lính Mỹ tại chiến tuyến được 5 lính khác ở tuyến sau hỗ trợ phi pháo, ném bom, tải thương. Trong trận đánh, pháo binh Mỹ bắn 6000 loạt/ ngày, không quân xuất kích 300 phi vụ/ngày (có cả máy bay B-52), từ đó cho phép ước lượng pháo binh Mỹ tham chiến ít nhất 1 tiểu đoàn, không quân Mỹ tham chiến ít nhất 3 tiểu đoàn (chưa kể hàng trăm lượt trực thăng chuyển quân). Như vậy nếu tính cả lực lượng hỗ trợ tuyến sau thì quân Mỹ lại có ưu thế hơn hẳn.

                                   

 Phía ta liên tục đánh kiểu vu hồi từ nhiều hướng, khiến lực lượng địch ở dưới đất phải co cụm lại cùng nhau phòng thủ tới đêm mà không thể rút lui được. Đêm xuống, phía Mỹ sử dụng pháo kích yểm trợ theo tọa độ để bảo vệ lực lượng đang bị bao vây dưới mặt đất. Tới sáng sớm, phía ta tấn công trực diện lực lượng Mỹ đang co cụm khiến quân Mỹ buộc phải gọi bom Napalm thả xuống giữa trận địa hỗn loạn, làm 24 lính Mỹ thiệt mạng và 20 lính Mỹ thương nặng. Nguồn ảnh: All.

 

Ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 1/7 Không kỵ đổ bộ xuống bãi đáp X-ray vị trí cách Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) khoảng 200, với chủ đích "chộp hổ đằng đuôi". Cùng ngày, nhưng ở vị trí khác QĐHK cho đổ bộ hai tiểu đoàn (thiếu một đại đội) cùng một đại đội pháo. Một đơn vị pháo khác tham gia trấn giữ đường 19B. Cuộc đổ bộ này khiến cho Mặt Trận B3 đình chỉ tấn công trại Pleime lần thứ hai và tung hai tiểu đoàn 7 và 9 xử lý với tiểu đoàn Mỹ, trong khi các lực lượng của hai Trung đoàn 32 và 33 án động tại các địa điểm tập trung.

Sau khi hoàn thành trận địa, QĐHK tập trung pháo binh và máy bay trực thăng bắn phá khu vực Bãi X-ray. 10 giờ 48 phút, quân Mỹ dùng 8 trực thăng đổ bộ bộ phận đi đầu (Đại đội Bravo gọi tắt là Đại đội B) do Đại úy John Herren của Tiểu đoàn 1 (109 lính trong đó có tiểu đoàn trưởng trung tá chỉ huy Moore) xuống Bãi X-ray. 35 phút sau, Mỹ tiếp tục đổ đại đội Alpha (gọi tắt là đại đội A) quân số 106 lính do đại úy Tony Nadal chỉ huy. Sau khi nắm được đại đội A, Tiểu đoàn trưởng Moore cho quân chia làm 2 mũi tiến công vào Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 66

Tiểu đoàn 9 bị bất ngờ, tiểu đoàn trưởng đang đi gặp trung đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ. Tham mưu trưởng tiểu đoàn cũng đang đi chuẩn bị chiến trường ở Ban Mê Thuột, chính trị viên phó cũng đang ở sở chỉ huy trung đoàn, chính trị viên trưởng đang ở chỗ Đại đội 12. Chỉ huy cao nhất lúc bấy giờ có một trợ lý tác huấn tiểu đoàn. Tuy bị bất ngờ nhưng binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hoảng loạn và tự tổ chức chiến đấu. Các Đại đội 13, 11 và 12 nghe tiếng súng đã chủ động cơ động đánh vào bên sườn quân địch. Đại đội B của Mỹ bị đánh mạnh ở hai bên sườn.

Đến khoảng 11 giờ, tiểu đoàn trưởng chạy về đến chỗ Đại đội 11 nắm được Đại đội 11 và một bộ phận của Đại đội 12, một khẩu súng cối tiếp tục tổ chức đánh vào quân Mỹ. Trước các đợt phản kích liên tiếp của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, cả hai mũi xung phong của Mỹ đều bị bẽ gãy, phải lui về cụm lại cách Tiểu đoàn 9 hơn 1 km về phía Đông để chống lại. Một trung đội Mỹ bị vây chặt ở ven Bãi đáp X-ray, Trung đội trưởng Henry Herrick bị giết tại trận. Các nỗ lực giải vây bước đầu không thành. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, lực lượng quân Mỹ tại Bãi X-ray được tăng cường Đại đội Charlie (gọi tắt là Đại đội C) do Đại úy Bob Edwards chỉ huy nhằm tăng cường khả năng phòng ngự trước các đợt tập kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Chuẩn tướng Knowles, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ Tiền phương, báo cáo Tướng Kinnard, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ là tiểu đoàn 1/7 không kỵ đụng độ với đối phương, đồng thời xin thêm một tiểu đoàn - 2/5 đến tiếp ứng để ương đầu với hai tiểu đoàn 7 và 9.

                                   

Tới tối ngày 16.11, khi phía Mỹ huy động cả máy bay B-52 rải thảm xuống bãi đổ X-Ray thì cả quân ta và Mỹ đều rút lui an toàn khỏi vùng bị oanh kích. Kết quả là trong những ngày đầu tiên của trận Ia Đrăng, phía Mỹ mất khoảng 200 quân trong đó có 79 lính thiệt mạng, 121 lính bị thương và một số khác mất tích. Nguồn ảnh: Bad.

 

17 giờ, Mỹ gọi phi pháo đánh liên tục vào đội hình Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, các đại đội tự động rút khỏi vị trí (đại đội 11, 12, 15 rút về phía tây bắc suối Khôn Chưa, đại đội 13 rút về hướng Tiểu đoàn 7). Kết quả tiểu đoàn 9 đã đánh bại cuộc tập kích của Mỹ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận họ đã diệt khoảng 150 lính Mỹ, bắn rơi một máy bay chiến đấu.

Cũng vào lúc 17 giờ, đại tá Brown ra lệnh cho tiểu đoàn 2/5 không kỵ trực thăng vận đến Bãi đáp Victor, cách Bãi đáp X-Ray 5 cây số, để sẵn sàng tiếp ứng cho tiểu đoàn 1/7 không kỵ sáng hôm sau.

Lúc 19 giờ, Tướng Kinnard bàn thảo với Tướng Larsen, Tư lệnh First Field Force, sử dụng phóng pháo cơ B-52 oanh tập vùng tiếp cận Bãi đáp X-Ray. Ông được thông báo là Tướng DePuy, trưởng phòng 3 MACV đã phối trí với Tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh Quân đoàn II, đã dự tính dùng B-52 oanh tập vào lúc 16 giờ chiều hôm sau.

Sau khi bị tiểu đoàn 9-QGP đẩy lùi, quân Mỹ cụm lại thành hình vòng quanh Bãi đáp X-Ray, ban đêm dùng máy bay thả đèn dù, dùng pháo binh bắn chặn xung quanh đề phòng tập kích.

Ngày 15 tháng 11, lúc 5 giờ 30 phút, tiểu đoàn 7 thuộc trung đoàn 66 QGP bất ngờ tấn công tiểu đoàn 1/7 Không kỵ QĐHK, lực lượng sử dụng gồm Đại đội 1 và 2 có hai khẩu súng cối 82 mm của Đại đội 15. Tiểu đoàn triển khai cách địch khoảng 150 m, dùng hai khẩu cối 82 mm bắn 14 quả sau đó lệnh cho Đại đội 1 và 2 xung phong. Bộ đội tiểu đoàn 7 Quân Giải phóng miền Nam Việt Namdùng 1 trung đội đột kích với 3 khẩu B-40, 6 RPD, 3 thượng liên, 13 AK vào diệt điện đài và đánh giáp lá cà với quân Mỹ. Sau vài phút rối loạn, quân Mỹ đã đánh trả ác liệt. Phía Mỹ có máy bay trợ chiến bằng bom và tên lửa. Máy bay Mỹ đến thả bom napalm xuống trận địa lúc này đang lẫn lộn cả quân của hai phía. QĐHK thương vong thêm 24 lính chết và 20 bị thương.

Sau trận tập kích, tiểu đoàn 7 rời khỏi trận địa. Trước khi rút, tiểu đoàn lệnh đại đội 1 để lại một trung đội và hai khẩu súng cối để phục kích nếu trực thăng Mỹ xuống lấy xác thì đánh. Trên đường rút, bị máy bay và pháo binh đánh chặn, các đại đội của tiểu đoàn 7 dùng súng bắn rơi tại chỗ 4 chiếc trực thăng.

Lúc 9 giờ 30, đại tá Brown, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Không kỵ, đáp xuống bãi đáp X-Ray để thu xếp chuẩn bị rút tiểu đoàn 1/7 Không kỵ. Việc tấn công bãi X-ray đã khiến cho QGP buộc phải tạm hoãn đánh cứ điểm Plei-me. Tuy nhiên, sau khi sắp xếp lại lực lượng, Plei-me vẫn bị QGP tấn công
 
                                 
Tình thế của Kỵ binh bay Mỹ tại bãi đáp Albany còn khổ hơn khi liên tục bị quân ta tấn công cả ngày lẫn đêm, do bãi đáp có chiến sự quá "nóng", phía Mỹ buộc phải nhượng bộ, rút lui quân về một bãi đáp dự phòng cách đó khoảng 13 km. Đen đủi thay, phía ta đã lên kế hoạch đón lõng địch sẵn ở điểm này. Nguồn ảnh: Peter.
 

Khoảng 12 giờ trưa, tiểu đoàn 2/5 không kỵ tiến vào trận địa, sau khi được trực thăng vận tới bãi đáp Victor, cách X-Ray khoảng 5 cây số, lúc 8 giờ sáng và âm thầm lội bộ tới bãi đáp X-Ray để giải cứu trung đội bị cô lập. Đến khoảng 3 giờ chiều thì trung đội này được giải vây. Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hay biết là tương quan lực lượng đã thay đổi từ 2:2 lên 3:2.

Đúng 4 giờ chiều, bom B-52 trải thảm đợt đầu xuống địa điểm YA8702 (khoảng 7 cây số tây LZ X-Ray) và liên tiếp trong 5 ngày kế tiếp, tại YA8607, YA9007, YA8600 và YA9000 cùng ngày; tại YA8305, YA8505 và YA8400 ngày 16/11; tại YA9201, YA9401 (bãi đáp X-Ray) YA9208 và YA9408 ngày 17/11; tại YA9301, YA8900 và YA8901 ngày 18/11; tại YA9009, YA9209, YA9006 và YA9206 ngày 19/11; tại YA8306, YA8506, YA8303 và YA8503 ngày 20/11. 

Lúc 4 giờ 30 chiều, chuẩn tướng Knowles, Tư lệnh tiền phương Sư đoàn 1 Không kỵ, đáp xuống bãi đáp X-Ray và thông báo sẽ cho Tiểu đoàn 1/7 Không kỵ rút ra khỏi bãi vào ngày hôm sau.
 
Khoảng 5 giờ chiều, thiết đội 1/9 không kỵ tiến vào vùng B-52 oanh tập để thẩm định kết quả của cuộc oanh tập.
 
Khoảng 6 giờ chiều, Tướng Kinnard yêu cần thêm một cuộc oanh tạp B-52 và được cho biết là Tướng Vĩnh Lộc cũng yêu cầu tương tự cho cùng các địa điểm oanh tập.
 
                                 
 Trận đánh này mới thực sự là thảm họa đối với Mỹ khi lực lượng Mỹ trong trận này có tới 155 lính thiệt mạng, 121 lính bị thương trên tổng số 400 lính tham chiến. Đây là thương vong cao nhất trong một ngày mà Mỹ phải hứng chịu trong Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Quân giải phóng trong trận Ia Đrăng. Nguồn ảnh: Peter.
 

Suốt ngày 15, Mỹ cho nhiều lần máy bay hạ cánh xuống lấy xác lính Mỹ nhưng đều bị súng cối bắn nên không dám đỗ xuống. 17 giờ 30 phút ngày 15 tháng 11, Mỹ đổ hai đại đội xuống để chiếm lại trận địa và thu dọn xác chết, bị súng cối bắn cháy thêm hai chiếc trực thăng.

Trận tập kích lần thứ hai của tiểu đoàn 7 diễn ra đêm 15 rạng ngày 16 tháng 11. Tiểu đoàn 7 còn Đại đội 3 và hai khẩu súng cối 82mm chưa tham gia chiến đấu. Căn cứ vào tình hình quân Mỹ cụm lại, cấp trên quyết định dùng lực lượng này và tăng cường thêm Trung đội 1 của Đại đội 1 (đánh bám địch) và hai khẩu súng cối 82 mm tổ chức trận tập kích ngay trong đêm 15. Tuy nhiên lần này quân Mỹ đã tổ chức bố phòng vững chắc hơn nhiều so với đêm trước và liên tục gọi pháo binh bắn phá dữ dội để yểm trợ nên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải nhanh chóng chấm dứt tập kích sau khi chỉ khiến 6 lính Mỹ bị thương.
 
Phía Mỹ-VNCH cho rằng tại chiến trường bãi đáp X-Ray, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không còn súng cao xạ và pháo kích nên phải sử dụng đến chiến thuật "biển người". Tuy nhiên, trên thực tế Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hề sử dụng chiến thuật "biển người". Do việc chiếm lĩnh trận địa trước nên một ổ phục kích có thể tiêu diệt nhiều đám quân Mỹ khác nhau, đồng thời các ổ phục kích cũng có thể hỗ trợ nhau. Mặc dù quân số của Mỹ-VNCH đông hơn nhưng nếu xét về tỷ lệ QGP-Mỹ ở từng cứ điểm thì QGP lại đông hơn do họ đã xé lẻ lực lượng đổ bộ của Mỹ-VNCH. Điều này khiến Mỹ-VNCH lầm tưởng QGP dùng chiến thuật biển người.
 
 

Sáng ngày 16 tháng 11, Moore nhận được lệnh cho rút tiểu đoàn 1/7 không kỵ bằng trực thăng vận, để lại hai tiểu đoàn 2/7 và 2/5 phòng thủ bãi đáp. Chủ ý là khiến cho phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vững tâm vì tương quan lực lượng vẫn là 2:2.

Lúc 8 giờ 25 tối, Tướng DePuy chuẩn bị xong kế hoạch oanh tập B-52 vào trưa ngày hômg sau. Đại tá Brown, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 không kỵ cam đoan là các toán không kỵ có đủ thì giờ tránh ra xa khoảng cách an toàn 3 cây số.
 
Giai đoạn đầu của trận Ia Đrăng chấm dứt với kết quả là 79 lính Mĩ chết và 121 bị thương. Con số này khá khớp với ước tính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rằng họ đã diệt hơn 250 quân địch. Tuy nhiên thương vong của phía Việt Nam thì khá mâu thuẫn. Moore báo cáo quân Mĩ "đếm" được 634 lính Việt Nam chết chưa kể số bị thương (ban đầu ông còn ước tính lên tới 834 nhưng sau đó hạ xuống do thấy vô lý). Còn theo chiến sử Trung đoàn 66 ghi nhận họ có 55 người hy sinh và khoảng 100 bị thương (chiếm 30% quân số của Tiểu đoàn 7).
 
                                
Tổng cộng, trong trận Ia Đrăng phía ta đã loại khỏi cuộc chiến tổng cộng 476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính tử vong và 245 lính bị thương. Con số này là rất lớn khi mà lực lượng Mỹ tham gia trận Ia Đrăng đông gấp nhiều lần quân ta và chúng đã ném tới 5000 tấn bom, bắn hơn 6000 quả đạn pháo một ngày trong trận đánh này. Nguồn ảnh: Peter.
 

Trận đánh ngày 17 tháng 11 (trận Albany):

Do bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh liên tục từ khi mới đặt chân xuống đất nên lực lượng Mỹ đã bị thiệt hại nặng nề, để tránh khu vực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đang uy hiếp và rút lui an toàn, QĐHK trong khu vực còn lại khoảng 400 lính đã rời chỗ cũ sang bãi trống ở ngã ba Làng Tung và Làng Sinh.

Tiểu đoàn 8 Quân Giải phóng còn sung sức nhanh chóng cơ động xuống nhận nhiệm vụ mới mà trung đoàn giao (trên đường đi sẵn sàng chiến đấu vì có thể gặp địch). Tiểu đoàn 8 nhận được lệnh, chiều ngày 16 đã cho bộ đội hành quân ngay về vị trí sở chỉ huy trung đoàn. Tiểu đoàn 1 (sau này là Trung đoàn 33 QGP) hành quân đến trợ chiến nhưng lạc đường. Lực lượng tiểu đoàn 8 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến (đại đội 10) ngoài ra còn được tăng cường một đại đội 12,7 mm (6 khẩu, đạn đầy đủ). Đội hình hành quân theo đội hình chiến dấu tao ngộ sắn sàng chiến đấu cao, đặc biệt khi đi đến ngã ba đường Làng Tung và làng Sinh. Đội hình của Quân Giải phóng xuất phát từ ngày 16/11, đến 5h sáng ngày 17/11 thì tổ chức tấn công. Giai đoạn thứ hai của trận Ia Đrăng bắt đầu.

Sáng ngày 17 tháng 11, hai tiểu đoàn không kỵ của QĐHK được lệnh rút ra khỏi bãi đáp, tiểu đoàn 2/5 tiến về hướng bắc tới bãi đáp Columbus, còn tiểu đoàn 2/7 tiến về hướng tây bắc tới bãi đáp Albany, với chủ đích "chộp hổ đằng đuôi từ một hướng khác". Khi hai tiểu đoàn này lội bộ ra khỏi bãi đáp khoảng 3 cây số, thình lình B-52 trải thảm bom ngay xuống bãi đáp X-Ray và vùng lân cận. Lúc 15 giờ trưa, B-52 oanh tập quang vùng Bãi đáp Albany. Tiếp sau đó một đơn vị không kỵ tiến vào vùng để thẩm định kết quả của cuộc oanh tập. Khi tiến gần tới bãi đáp Albany tiểu đoàn 2/7 phát hiện ra vị trí của Tiểu đoàn 8 ở bờ sông Ia Đrăng và tổ chức tấn công lúc đơn vị này đang nghỉ trưa. Nhưng chính họ lại bị đặc công Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phục kích.

                                 

                                           Hình ảnh lính Mỹ tại Ia Đrăng

 

Theo tài liệu của Quân Giải phóng, khoảng 12 giờ, Đại đội 8 đi đầu đã đến ngã ba không thấy địch, Đại đội 6 đến suối cầu gặp đại đội 1 tiểu đoàn 1, lực lượng ở dây cho biết phía trước có hai trung đội địch đang tiến về hướng Quân Giải phóng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi cho tất cả dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu, đồng thời cho liên lạc báo cho đại đội 8 biết tình hình. Tiểu đoàn tổ chức thành hai thê đội: Thê đội 1 gồm đại đội 6 (thiếu trung đội 3) và Thê đội 2 gồm đại đội 7 và trung đội 3 đại đội 6. Trong vài phút, đại đội 6 đã bí mật triển khai xong thì phát hiện lính Mỹ đang đi về hướng QGP. Khi lính Mỹ vào gần cách QGP khoảng 200m, lính Mỹ đột ngột nổ súng, đại đội trưởng đại đội 6 thấy địch còn ở xa nên không cho đại đội nổ súng đợi đối phương vào gần hơn. Khi còn cách 40 đến 50 mét đại đội trưởng lệnh cho đại liên bắn, trung đội 1 và 2 cũng bắn mạnh vào đội hình lính Mỹ và xung phong. Chỉ trong khoảng 5 phút hai trung đội Mỹ đã bị tiêu diệt hoàn toàn. 12 giờ 7 phút, đội hình chính của lính Mỹ tới cách lực lượng QGP khoảng 300m, lính Mỹ hốt hoảng bắn vào đội hình của QGP. Lực lượng Mỹ đông, nhưng đại đội 6 chiếm địa hình có lợi nên nắm được thế chủ động, đại đội 8 khi nghe tiếng súng cũng cho bộ đội quay lại đánh vào bên sườn quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi chỉ huy đơn vị tiến công vào giữa đội hình quân Mỹ, làm đối phương bị rối loạn và bị cắt rời. Cùng lúc đó tiểu đoàn phó tên Luân của tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đang chỉ huy bộ đội lùng lính Mỹ ở hướng khác nghe súng nổ liền dẫn đơn vị đến phối hợp. Đội hình của lính Mỹ bị các lực lượng QGP khép vòng vây giữa thung lũng Iađrăng. Ở trên không, máy bay lên thẳng, máy bay phản lực quần lượn nhưng không có cách nào cứu nguy được cho đồng lính Mỹ phía dưới vì lực lượng Quân Giải phóng áp sát, đánh gần. Trận đánh đang tiếp diễn thì tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi hy sinh, chính trị viên phó tiểu đoàn cũng bị thương nặng phải đưa ra khỏi trận địa. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 chỉ huy luôn cả hai đơn vị. 

Theo tài liệu của phía Hoa Kỳ, Tiểu đoàn 8 dùng súng máy tấn công cùng bộ đội tiến công bên sườn đội hình đối phương đang tấn công đến gần rồi đột ngột đổi hướng tiến thẳng vào đối phương và triển khai chiến thuật chia cắt và đánh mặt đối mặt với QĐHK. Chiến thuật này khiến các vũ khí hạng nặng của QĐHK không triển khai được và quân của họ không được yểm trợ đầy đủ như mọi khi. Đồng thời các đơn vị của họ bị chia cắt nên lúng túng và không xác định rõ mục tiêu, nhiều khi bắn vào nhóm khác của quân mình. Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được các vị trí cao hơn và dễ dàng phát hỏa vào đội hình của đối phương đang di chuyển. Hậu quả là QĐHK thiệt hại nặng nề. Đại đội A của Tiểu đoàn 2 QĐHK bị chia cắt trong một khu vực trống trải bị mất 50 binh sĩ ngay trong những phút đầu tiên. Trong khi Đại đội C mất 20 người trong những phút đầu. Mọi việc trở nên tồi tệ hơn đối với QĐHK khi Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 33 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cuối cùng cũng đến nơi và tấn công đối phương từ sau lưng. Trước tình hình trên, phía Mỹ phải điều Tiểu đoàn 2/5 tới Bãi Albany để chi viện và yểm trợ cho Tiểu đoàn 2/7 thu dọn xác chết và sơ tán thương vong.
 
                                             Bức ảnh này ghi lại khoảnh khắc một chiến sĩ Giải Phóng Quân bị l.ính M.ỹ  bắt giữ trong trận Ia Đrăng, một trong những trận đánh lớn đầu tiên giữa  Quân

       Bức ảnh này ghi lại khoảnh khắc một chiến sĩ Giải Phóng Quân bị l.ính M.ỹ bắt giữ trong trận Ia      Đrăng,

 
Đến 8 giờ tối ngày 18 tháng 11, trận chiến ở thung lũng Ia Đrăng kết thúc với việc các đơn vị QĐHK rút lui khỏi Bãi đáp Albany. Trận đánh thứ 2 này thực sự là một thảm họa với quân Mỹ: 155 lính bị giết và 121 bị thương, tức hơn 2/3 lực lượng; riêng Đại đội C chịu tổn thất lớn nhất với con số thương vong lên tới 95 người. Đây là thương vong cao nhất trong 1 ngày mà Mỹ phải chịu ở Việt Nam tính đến khi đó. Quân Mỹ tuy vậy vẫn báo cáo giết 403 lính đối phương, nhưng thực tế con số này là không có cơ sở, vì thực tế quân Mỹ trong trận này gần như bị xóa sổ và mất trận địa, không có cách nào để có thể "đếm" được thương vong của đối phương.
 
 Trong ngày 18 tháng 11, vào buổi sáng, Tướng Westmoreland và Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng VNCH, từ Sài G̀òn bay lên Pleiku gặp trung tá Moore và thăm tiểu đoàn 1/7 không kỵ tại trại Hollaway, đồng thời tới bản doanh lữ đoàn 3 không kỵ. Tại đây, hai ông nghe đại tá Brown thuyết trình về trận Ia Drăng và bay trực thăng quan sát chiến trường. Vào buổi chiều hai ông tới thăm các thương bệnh binh tham dự trận Bãi đáp Albany được chữa trị tại bệnh viện ở Qui Nhơn.
 
Trong Hồi ký, tướng Đặng Vũ Hiệp viết:

"...Chúng tôi đi kiểm tra trận địa sau khi ta làm chủ chiến trường, địa hình hàng chục ki-lô mét vuông bị đảo lộn, cây gãy đổ ngổn ngang, không còn đường còn lối. Địch chết thành đống, có chỗ năm, ba tên; xen lẫn vào đó là xác chiến sĩ ta. Nhiều đồng chí nằm đè lên xác lính Mĩ, lưỡi lê còn cắm vào ngực tên địch. Có đồng chí hy sinh tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn bên sườn. Có tổ ba chiến sĩ hy sinh mà phía trước và phía sau các anh có hàng chục xác Mĩ. Có đồng chí hy sinh trên vai còn vác thi thể đồng đội. Nhìn vào trạng thái địch ta như trên không những thấy rõ được tính chất quyết liệt một cách cụ thể, đồng thời thấy được sự hy sinh dũng cảm tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ ta. Về mặt chiến thuật càng thấy rõ nét hoạt động của tổ ba, thậm chí của những bộ phận một, hai đồng chí có rất nhiều tác dụng trong việc đột nhập sâu vào đội hình trung tâm của địch".
 
 Theo tài liệu của Việt Nam Cộng hòa, ở hướng phối hợp tại Đức Cơ, Tiểu đoàn 2/5 (Lữ đoàn 2 Không kỵ) cùng 2 đại đội pháo thiết lập tại bãi đáp Crooks yểm trợ cho Lữ đoàn dù gồm 5 tiểu đoàn của QLVNCH đến trợ chiến. Trung đoàn 320 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nghênh chiến nhưng không gây thiệt hại nặng cho đối phương như ở hai hướng kia; trái lại, bị quân Dù VNCH gây 265 chết (đếm xác), 10 bị bắt và 58 vũ khí tịch thu. Ngày 18 tháng 11, Bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng ra lệnh cho Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo Falcon ở phía tây suối Ia Muer. Thực hiện mệnh lệnh, từ 16 giờ 30 phút ngày 18, hai tiểu đoàn 2 và 3 cùng phân đội súng cối do tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy nổ súng tiến công trận địa pháo Mỹ. Sau ít phút chiến đấu đã có 3 lính Mỹ chết và 13 bị thương, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phá huỷ 3 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu cối 81mm, 5 máy bay trực thăng và bắn rơi 2 chiếc khác; thu 750 viên đạn pháo và 30 viên đạn cối.
 
Trong bốn ngày giao chiến, chỉ với lực lượng bộ binh trang bị nhẹ, "trận đánh sông Drang" của chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến 476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính chết và 245 bị thương. Thương vong của quân Việt Nam được tướng Đặng Vũ Hiệp ghi trong hồi ký là 208 người chết và 146 bị thương (một tài liệu khác ghi nhận Trung đoàn 66 có 157 người chết, bị thương 239, bao gồm 80 người bị thương nhẹ, 71 người bị thương vừa, 88 người bị thương nặng).
 
                                  
Phát súng mở màn trận Ia Đrăng diễn ra vòa ngày 14.11 khi tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ của Mỹ đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray cách vị trí của Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66 Quân giải phóng Việt Nam chỉ khoảng 200 mét. Giao tranh ngay lập tức diễn ra khi trực thăng Mỹ chuẩn bị đáp đất. Nguồn ảnh: S60.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa tuyên bố thiệt hại phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam từ 19-10 đến 26-11 như sau: chết đếm xác 4.254, chết ước tính 2.270 (tổng là 6.524), bị thương 1.293, bị bắt 179, vũ khí cộng đồng 169, vũ khí cá nhân 1.027. Tướng Kinnard thì tuyên bố số liệu này là do chính các bản doanh dã chiến cấp trung đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam báo cáo về trung ương; các báo cáo này bị các đài kiểm thính phía bên QLVNCH nghe ngóng chận bắt được.Ngoài ra báo cáo tổn thất của Bộ Tư lệnh Quân đoàn II bao gồm các tổn thất do 5 ngày bom trải thảm B-52 gây ra, mà phía QGP và Hoa Kỳ không đề cập tới. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho rằng phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không đạt được mục tiêu chiếm cứ trại và tiêu diệt quân tiếp viện và họ báo cáo với cấp trên rằng toàn bộ lực lượng B3 bị đánh tan và đẩy lui qua biên giới Căm Bốt. Tuy nhiên, các phân tích sau này cho thấy con số thiệt hại của Quân Giải phóng mà Mỹ tuyên bố (chết 6.524, bị thương 1.293) là phi lý và phóng đại quá nhiều so với thực tế, bởi con số này còn vượt quá tổng quân số mà quân Giải phóng huy động cho chiến dịch (khoảng 6.600 người).

Ngược lại, theo số liệu của Quân Giải phóng thì thương vong của họ trong toàn chiến dịch (từ 19/10 tới 26/11) là 554 người tử trận và 669 bị thương. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.974 quân địch (trong đó có khoảng 1.700 lính Mỹ), phá huỷ 88 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), 5 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 59 máy bay. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam kết luận họ đã hoàn thành các mục tiêu đề ra trong chiến dịch: đánh thiệt hại nặng 1 lữ đoàn không kỵ tinh nhuệ của Mỹ, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thu được nhiều kinh nghiệm quý báu trong tác chiến chống chiến thuật trực thăng vận của Mỹ, cũng như cách đánh áp sát để hạn chế tối đa ưu thế hỏa lực không quân, pháo binh vượt trội của Mỹ.
 
Sau trận đánh, Trung đoàn 66 đã được tặng thưởng một lúc 2 Huân chương quân công hạng nhất, vì theo lời đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì "do không có huân chương nào cao hơn, vì vậy tặng một lúc 2 huân chương để thưởng công cho thành tích tuyệt vời của Trung đoàn 66". Nhiều chiến sĩ được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ: Đại đội trưởng Đại đội 2 Lê Văn Tam được tặng huân chương chiến công hạng nhì và danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ cấp 3, Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế diệt 8 lính Mĩ (3 bằng dao găm). Trung uý Vũ Đình Dự - Chính trị viên Đại đội 8, Trung úy Đoàn Ngọc Đảnh - Đại đội trưởng Đại đội 7, Thiếu úy Nguyễn Xuân Ngạnh trung đội trưởng, Thiếu úy Vũ Đức Thắng trung đội trưởng, chiến sĩ trẻ Lê Văn Quỳnh (18 tuổi), tiểu đội phó Hà Huy Trọng, Phạm Văn Tiết, Cao Thái Thưởng, Trần Minh Duyên... là những chiến sĩ được cấp trên ghi nhận diệt từ 5-15 lính Mỹ. Đặc biệt Lê Khắc Nga, Lê Văn Điều mỗi người được ghi nhận diệt hơn 20 lính Mỹ, là 2 chiến sĩ đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú đầu tiên ở chiến trường.
 
 Về mặt chiến thuật, trận đánh đã cung cấp cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý về tác chiến chống quân Mỹ, một đối thủ vượt trội về hỏa lực và sức cơ động. Tiêu biểu là chiến thuật "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh", tức áp dụng lối đánh cận chiến áp sát lính Mỹ để vô hiệu hóa hỏa lực pháo binh và không quân của Mỹ. Các tài liệu của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận:
 
 "Lựa chọn cách đánh và đánh thắng địch ngay trận đầu là nét độc đáo của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch. Quân Mỹ mới vào miền Nam tuy có chiếm ưu thế về hỏa lực, sức cơ động nhưng chúng rất chủ quan không đánh giá đúng mình và coi thường đối phương. Mặt khác ta không coi thường địch mà đã chuẩn bị tốt tư tưởng tâm lý cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành thắng lợi.

Sự sắc sảo của nghệ thuật chỉ huy chính là biết khoét sâu vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch để lựa chọn địa hình, lựa chọn cách đánh đúng, giành thắng lợi trong từng trận chiến đấu. Trong chiến dịch này mưu hay của ta là lừa địch, kế giỏi là dụ quân Mỹ vào đúng điểm quyết chiến ta đã chọn; phát huy sở trường đánh gần của ta để làm hạn chế điểm mạnh về hỏa lực, cơ động Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định ta có khả năng đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ".

                                

Có tổng cộng khoảng 400 lính Mỹ hành quân từ bãi đáp Albany về bãi đáp phụ, phía ta có Đại đội 8 thuộc Tiểu đoàn 1 đã hành quân đến bãi đáp phụ trước cả lực lượng Mỹ và một lần nữa hai bên lại bất ngờ chạm trán nhau. Ảnh: Quân giải phóng trong trận Ia Đrăng. Nguồn ảnh: Peter.

Một số thế chiến thuật được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đem ra áp dụng trong toàn trận chiến gồm có: đánh điểm diệt viện, đánh diện diệt điểm, "nắm thắt lưng địch mà đánh", "biển người", "kiểm thủ kích vĩ"...Tuy nhiên, trên thực tế, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hề sử dụng biển người do họ sử dụng ưu điểm của chiến thuật đánh điểm diệt viện, đánh diện diệt điểm nên tỷ lệ QGP-Mỹ ở mỗi cứ điểm có lợi cho QGP. Từ đó, phía Hoa Kỳ luôn có cảm giác số quân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đông hơn trong khi trên thực tế quân số của Mỹ-VNCH lại là bên đông hơn
 

Về mặt chiến lược, trận đánh gây ra một ảnh hưởng sâu rộng về quan điểm chiến tranh của người Mỹ. Ngay tuần lễ sau đó Westmoreland đã đề nghị cho ông thêm 41.500 lính Mỹ với lý do "lực lượng chủ lực Bắc Việt Nam đã thâm nhập vào miền Nam". Những đề nghị này không ngừng tăng lên kể từ tháng 7, và đề nghị mới này đưa số quân Mỹ đến VN lên đến 375.000 người. Bộ trưởng McNamara phải bỏ dở ngay một hội nghị của OTAN ở Paris, khẩn cấp sang Sài Gòn một thời gian 30 giờ để đánh giá lại cuộc chiến. Mac Namara tuyên bố gửi cho ông ta 400.000 quân "không đảm bảo thắng lợi" - "Lính Mỹ trong những cuộc hành quân mỗi tháng bị chết có đến hơn 1.000" và cơ may vào đầu năm 1967 phải "một mức độ cao hơn". Lần đầu tiên Mac Namara nói đến việc Chính phủ có thể "thử cách thương lượng theo giải pháp hoà giải" đồng thời vẫn gửi quân tăng cường "ở một mức độ tối thiểu".

 Bộ trưởng Quốc phòng Israel khi đó sang thăm Việt Nam Cộng hòa đã đóng vai một nhà báo chiến trường đến quan sát chiến dịch Pleime về nói như sau: "Quân đội Mỹ ở Việt Nam đã có đủ những vũ khí và phương tiện mà những người chỉ huy quân sự các nước khác chỉ thấy trong mơ. Thế mà, mỗi khi đối phương đã tiếp nhận giao chiến là trên 90% các trận đánh, quyền chủ động thuộc về họ...".

Tướng Mỹ G. Moore và phóng viên chiến tranh L. Galoway, cả hai đã chiến đấu trong trận Ia Đrăng sau này nhận định rằng: "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".

                                  Chiến thắng Plei Me - bài học trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay 

 Đồng chí Chu Huy Mân (đi đầu), Tư lệnh kiêm Chính ủy trong Chiến dịch Plei Me (năm 1965). Ảnh tư liệu                             

Rõ ràng trận đụng độ đầu tiên với lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm những người đứng đầu quân đội Mỹ tại Việt Nam thay đổi cách nhìn lạc quan về triển vọng "chiến thắng dễ dàng" vốn vẫn được duy trì hồi tháng 7, vốn bắt nguồn từ sự tự tin về ưu thế hỏa lực và công nghệ của "sức mạnh siêu cường" trước đối phương.

Trận đánh được xem đã gây thiệt hại nặng nề nhất cho quân Mỹ kể từ khi tham chiến tại Việt Nam. Chiến thuật “trực thăng vận” coi như phá sản hoàn toàn. Trận đánh này cũng gắn liền với tên tuổi một vị tướng, mà sau này ông trở thành Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (Học viện Lục quân ngày nay) - Thượng tướng, GS Nguyễn Hữu An, người đã được đích thân Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đặt biệt danh “vị tướng của trận mạc”. 

Ông là một trong những vị tướng chiến trường xuất sắc nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, lập nhiều chiến công vang dội nhất, xứng đáng đứng trong hàng ngũ những danh tướng của Việt Nam 

7/ Trận Đồi Thịt Băm:

Trận Đồi Thịt Băm hay trận A Bia là tên gọi của trận chiến giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với Quân đội Mỹ từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5 năm 1969 ở Thừa Thiên (nay thuộc Thừa Thiên – Huế). Trận chiến nổ ra khi Hoa Kỳ tập trung lực lượng gần 2.000 quân dưới sự yểm trợ mạnh của hỏa lực phi pháo để đánh chiếm quả đồi (núi A Bia, phía Mỹ gọi là Cao điểm 937) do 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm giữ.

Trận đánh diễn ra chủ yếu bằng bộ binh: quân Mỹ leo lên đồi cao tấn công đối phương. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng ra sức cố thủ dựa vào địa thế hiểm trở cùng thời tiết khắc nghiệt. Dù được yểm trợ mạnh bởi pháo binh và không quân, các cuộc tấn công của Mỹ đã nhiều lần bị đẩy lùi bởi sự phòng ngự có hiệu quả của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngọn đồi này sau trận đánh đã được lính Mỹ gọi là "Đồi Thịt Băm" - Hamburger Hill, như một cách thể hiện độ khốc liệt và thương vong cao của lính Mỹ. Theo Samuel Zaffiri, tác giả của cuốn Hamburger Hill, quân Mỹ đã chiếm được ngọn đồi sau 10 ngày chiến đấu với số thương vong lên tới 72 người chết và 372 bị thương và lại phải bỏ vị trí này một tháng sau đó.

                                                                 Lính Sư đoàn Không vận 101 của Mỹ đổ bộ lên Đồi Thịt Băm ở thung lũng A Sầu ngày 18/5/1969. 

A Bia là điểm cao đột xuất (937m) nằm giữa vùng rừng núi trùng điệp gần biên giới Việt-Lào (cách 1,9 km). Đỉnh A Bia có ba mỏm đứng thế chân kiềng cao xấp xỉ nhau, cách nhau khoảng 400m. Trước đây Mỹ đã lên A Bia đóng dã ngoại, nay còn nguyên công sự, xung quanh chất đống nhiều vỏ đồ hộp... Đỉnh A Bia bị bom pháo phát quang nham nhở, trơ lại những thân cây khô cháy.

Toàn bộ núi là một dải gồ ghề, hoang dã bao phủ bởi rừng với những tán tre mọc dày đặc cộng vởi cỏ voi cao ngang thắt lưng. Cỏ có khi cao hơn cả một xe bọc thép M-113. Các dân tộc địa phương gọi A Bia là "núi muông thú ẩn mình".

Các trận đánh trên Cao điểm 937 xảy ra tháng 5 năm 1969, là giai đoạn hai của Chiến dịch Apache Snow, một chiến dịch gồm ba giai đoạn nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong khu vực thung lũng A Sầu (A Shau), một mắt xích trong tuyến đường chi viện vào miền Nam Việt Nam. Năm 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành công trong việc đánh chiếm doanh trại của Mỹ trong thung lũng A Shau, tức A Sầu (Trận A Sầu) và thiết lập sự hiện diện tại đây. Sau đó các nỗ lực liên tục của Mỹ nhằm tái chiếm thung lũng đã không thành công. Trung tướng Richard G. Stilwell, chỉ huy của Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, quyết định huy động lực lượng tương đương với hai sư đoàn được hỗ trợ mạnh bởi pháo binh và không quân để hoàn thành nhiệm vụ.

Lực lượng tham chiến tại Đồi 937 gồm 3 tiểu đoàn của Sư đoàn Không vận 101, chỉ huy là Thiếu tướng Melvin Zais. Các tiểu đoàn này đều thuộc Lữ đoàn 3 (chỉ huy bởi Đại tá Joseph Conmy) gồm Tiểu đoàn 3/187 Bộ binh (Trung tá Weldon Honeycutt), Tiểu đoàn 2/501 bộ binh (Trung tá Robert German) và Tiểu đoàn 1/506 bộ binh (Trung tá John Bowers). Hai tiểu đoàn 2/1 và 4/1 thuộc Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho Lữ đoàn 3. Các đơn vị khác tham gia trong chiến dịch bao gồm các Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Thiết đoàn 3 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 5 Lục quân Hoa Kỳ và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Kế hoạch của Đại tá Conmy là dùng 5 tiểu đoàn mở cuộc tấn công vào thung lũng bằng trực thăng vào ngày 10 tháng 5 năm 1969, để tìm kiếm cũng như phá hủy các kho quân nhu của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Kế hoạch tổng thể của cuộc tấn công là Thủy quân lục chiến và các đơn vị trinh sát tiến về phía biên giới Lào, trong khi các đơn vị Việt Nam Cộng hòa (VNCH) cắt đường giao thông qua thung lũng. Tiểu đoàn 2/501 và 1/506 sẽ tiêu diệt đối phương và ngăn chặn các tuyến đường trốn thoát sang Lào. Nếu một tiểu đoàn đụng độ mạnh với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Conmy sẽ hỗ trợ nó bằng trực thăng với một trong các đơn vị khác. Về lý thuyết, với sức cơ động cực mạnh nhờ trực thăng, Sư đoàn 101 có thể phản ứng đủ nhanh để ngăn chặn bất kỳ đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nào. Khi một tiểu đoàn của Hoa Kỳ phát hiện một đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nó sẽ tổ chức đánh chặn cho đến khi một tiểu đoàn tăng cường có thể cắt đường rút lui và dùng hỏa lực vượt trội tiêu diệt đối phương.

                                  

Các tài liệu giải mã cho biết, giới quân sự Mỹ nhận định Quân Giải phóng sẽ không dám đụng độ lâu dài và tin tưởng vào khả năng tiếp viện cực nhanh bằng trực thăng cũng như hỏa lực áp đảo với phi pháo, pháo binh. Trận chiến diễn ra chính xác từ lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 10.5.1969 khi Tiểu đoàn 8 Quân Giải phóng nổ súng tấn công Tiểu đoàn Dù số 3 Mỹ khi lực lượng này của đối phương còn chưa kịp tiếp cận mục tiêu của chúng là Điểm cao 937. Nguồn ảnh: Pinterest.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp sức mạnh thực tế của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Là bậc thầy ngụy trang. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hoàn toàn che giấu các căn cứ của họ khỏi trinh sát trên không của Mỹ. Khi di chuyển, Quân Giải Phóng thường làm vào ban đêm, dọc theo những con đường mòn dưới tán rừng rậm rạp. Quân Giải Phóng thực hiện liên lạc và kiểm soát chủ yếu bằng thư và điện tín, không sử dụng thiết bị điện tử để tránh bị theo dõi. Qua kinh nghiệm trong nhiều cuộc đụng độ lớn hơn cho thấy Quân Giải Phóng thường chỉ giao chiến trong một thời gian ngắn, gây tổn thất lớn nhất có thể cho Mỹ và sau đó nhanh chóng rút đi trước khi phải hứng chịu hỏa lực áp đảo của Mỹ. Chiến đấu kéo dài như tại Đăk Tô hay trận Ia Đrăng là tương đối hiếm. Honeycutt dự đoán tiểu đoàn của ông ta có đủ năng lực để thực hiện một cuộc trinh sát trên Cao điểm 937 mà không cần tăng cường hơn nữa, mặc dù ông ta đã yêu cầu quân dự bị của lữ đoàn, và Đại đội Bravo của mình, sẵn sàng hỗ trợ.

Về phía Quân giải phóng miền Nam Việt Nam:

Sau khi liên tục giao chiến với Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong Chiến dịch Dewey Canyon vào tháng 2, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã di chuyển Trung đoàn 6, 9 và 29 vào khu vực thung lũng A Lưới để tái trang bị, bổ sung thiệt hại.
 

Thung lũng A Lưới nằm về phía tây bắc thành phố Huế khoảng 30 km, được bao bọc với một số điểm cao như Động So (1.100m), Ba Lao (1.400m), A Bia (937m) và Động Ràng... Sông A Ráp và đường 14 chạy dọc chiều dài thung lũng. Phía tây bắc có sông Đáp Lim, A Lưới, nối với Huế bằng đường số 12.

Kế hoạch càn quét A Lưới của Mỹ đã được Bộ tư lệnh Quân khu Trị-Thiên dự kiến từ trước. Do vậy, từ đầu tháng 3 năm 1969 quân khu đã điều Trung đoàn 3 vào chuẩn bị chiến trường sẵn sàng đánh Mỹ. Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới, Chính ủy Nguyễn Xuân Trà cùng đi với trung đoàn.

Chiều ngày 7 tháng 5, Đảng ủy Trung đoàn họp mở rộng và thống nhất chọn một trong các phương án tác chiến do Trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan trình bày.

15 giờ ngày 8 tháng 5, các đơn vị xuất phát hành quân chiếm lĩnh trận địa. Tiểu đoàn 8 được tăng cường Đại đội 14 cối 82mm xây dựng cụm chốt ở A Bia. Tiểu đoàn 7 bố trí ở khu vực các điểm cao 903 và 916. Đại đội 16 cơ động dọc phía tây đường số 14 đoạn A Sầu - A Lưới. Khối hỏa lực còn lại do trung đoàn trực tiếp nắm. Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị, trước mắt có nhiệm vụ chuyển gạo, đạn từ A Rum vào A Lưới. Các chiến sĩ trinh sát bám sát từng mũi tiến quân của Mỹ.

                                  

Bị tấn công trước, binh lính Mỹ rơi vào thế bị động, co cụm lại và "vãi đạn" vào rừng. Trực thăng, phi pháo cùng pháo binh được gọi yểm trợ tới tấp vào những vị trí nghi có các chiến sĩ giải phóng quân. Sau một tiếng đồng hồ giao tranh, phía ta buộc phải rút lui do đã hết lợi thế bất ngờ. Nguồn ảnh: Pinterest. 

Lúc 10 giờ 15 phút ngày 10 tháng 5, Tiểu đoàn 8 do Tiểu đoàn trưởng Đinh Xuân Bài chỉ huy nổ súng tiến công 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn Dù số 3 Mỹ trên các điểm cao 400, 500, cách đông bắc A Bia khoảng 2 km. Đại đội 5 được tăng cường hai cối 82mm, chia làm ba mũi, mũi chính đánh ngang đội hình địch ở "yên ngựa" rồi tỏa ra hai hướng đánh ngược lên các đỉnh 500 và 400, để kết hợp với hai mũi đánh từ phía sau mỏm 500 xuống.

Trên mỏm cao 400, sau khi bí mật tiếp cận mục tiêu, đến giờ nổ súng, tiểu đội 10 tiêu dệt 1 tiểu đội Mỹ, sau đó phát triển xuống "yên ngựa", phối hợp với trung đội 3 đánh ngược lên.

Cùng lúc đó ở mỏm 500, tiểu đội 9 đánh lên đỉnh, nhưng trúng hai quả mìn định hướng Mỹ gài sẵn làm thương vong gần hết. Mũi phát triển từ "yên ngựa" lên cũng bị quân Mỹ từ trên mỏm bắn xuống, đội hình tiến công ở hướng này bị chững lại. Đại đội 5 phải dùng cối 82 ly và B-40 đặt từ đỉnh 400 bắn sang chi viện nhưng vẫn không dứt điểm được. Pháo binh Mỹ dồn dập bắn vào mỏm 400, kết hợp với hai máy bay trực thăng rà sát ngọn cây quét đại liên, thả lựu đạn xung quanh điểm cao 500. Trước tình hình đó, tiểu đoàn 8 lệnh cho đại đội 5 lùi về A Bia tiếp tục xây dựng trận địa chốt. Trận chiến đấu diễn ra không quá một giờ, hàng chục lính Mỹ tử trận. Tiểu đoàn 8 của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam do phân tán lực lượng, không tập trung vào mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy Mỹ đã để quân Mỹ kịp tổ chức chống cự gây nhiều tổn thất.

Ở hướng tiểu đoàn 7, ngay phút đầu ban chỉ huy tiểu đoàn đã tập trung hỏa lực chi viện cho đại đội 1 đánh lên điểm cao 903. Sau khi hàng chục lính Mỹ tử thương. Mỹ đưa 6 máy bay trực thăng lên chi viện và bốc 2 đại đội ở đây về phía nam.

Quân Mỹ biết đã gặp lực lượng chủ lực, tăng cường độ đánh phá và dùng trực thăng vũ trang thay nhau trinh sát khu vực xảy ra chiến sự.

Ngày 11 tháng 5, Honeycutt giao cho 2 đại đội Alpha và Delta do thám phía bắc và tây bắc núi A Bia, trong khi các đại đội Bravo và Charlie tăng cường tại các tuyến đường khác nhau. 13 giờ ngày 11 tháng 5, Mỹ đổ 2 tiểu đoàn xuống các điểm cao 903, 916 và A Bia. Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Trung đoàn trưởng lệnh cho tiểu đoàn 7 để 1 đại đội ém quân tại khu vực 903, 916, còn 3 đại đội cơ động bám sát, tiến công Mỹ.

Khi ra ngoài bãi đáp trực thăng trên sườn núi phía bắc, Đại đội Bravo đã giao tranh dữ dội với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong khu vực 1 km vào cuối ngày. Honeycutt nhanh chóng chỉ đạo máy bay trực thăng vũ trang AH-1 Cobra, trang bị rocket và súng máy hạng nặng để hỗ trợ cho một cuộc tấn công vội vã. Trong rừng rậm, những chiếc Cobra nhầm tiểu đoàn 3/187 Mỹ với một đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nên đã tấn công, giết chết hai người và làm bị thương 35, (gồm cả Honeycutt). Việc bắn lầm này phá vỡ đội hình và sự chỉ huy, và buộc tiểu đoàn 3/187 rút lui vào vị trí phòng thủ đêm. Tuy nhiên, liên lạc xác nhận rằng một lực lượng đáng kể phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có mặt, Honeycutt ước tính là cần tăng cường một trung đội hoặc đại đội.

                                   

Trong ba ngày đầu tiên của trận đánh, các cuộc đụng độ giữa cả hai bên chỉ mang tính thăm dò vị trí của nhau. Phía Mỹ cần biết chính xác vị trí đặt hỏa lực mạnh của Quân Giải Phóng để gọi phi pháo, pháo binh tiêu diệt. Quân Giải Phóng lại chủ trương đánh di động, không đối đầu trực diện nên di chuyển liên tục, chủ yếu tiến hành đụng độ vào ban đêm để tránh được hỏa lực không quân đối phương. Nguồn ảnh: Pinterest. 

Cũng đêm ngày 11, tiểu đoàn đặc công của quân khu tiến công sở chỉ huy lữ đoàn dù 3 Mỹ ở căn cứ Động Tranh. Sáng ngày 12 tháng 5 Mỹ phải đưa tiểu đoàn 2/506 ở A Lê Thiêm về bảo vệ sở chỉ huy lữ đoàn. Mỹ rút tiểu đoàn 2 về Động Tranh, phía bắc A Bia không còn lính chốt giữ. Ban chỉ huy Trung đoàn 3 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định điều tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Vượng chỉ huy hoạt động từ địa đạo Lam Sơn đến khu vực Bãi Ổi. Tiểu đoàn 8 tiếp tục củng cố trận địa chốt.

Cũng trong hai ngày này, Honeycutt điều khiển các đại đội của mình tới các vị trí cho một cuộc tấn công phối hợp ngày 13 tháng 5 nhưng đã thất vọng bởi địa hình khó khăn và sự kháng cự của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Một đơn vị của Đại đội Delta, rơi vào một khe núi dốc lầy lội vào ngày 12 tháng 5, phải chịu đựng tổn thất rất cao trong hai ngày.

Buổi trưa ngày 13 Tháng 5, chỉ huy lữ đoàn Dù, Đại tá Conmy, đã quyết định nó sẽ cắt đứt chi viện của lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam từ Lào và hỗ trợ Honeycutt bằng cách tấn công A Bia từ phía nam. Đại đội Bravo được trực thăng đưa lên Đồi 916, nhưng phần còn lại của tiểu đoàn di chuyển bằng đường bộ, từ một khu vực cách 4 km từ Đồi 937, và cả Conmy và Honeycutt dự kiến Tiểu đoàn 1/506 sẽ sẵn sàng cung cấp hỗ trợ không muộn hơn buổi sáng ngày 15 tháng 5. Mặc dù Đại đội Bravo đã tới Đồi 916 ngày 15 tháng 5, nó đã không tham gia tấn công cho đến ngày 19 tháng 5 do rừng rậm gần như không thể di chuyển.

Lúc 12 giờ trưa ngày 13 tháng 5, đại đội Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát hiện một tốp lính Mỹ trong hố bom dưới "yên ngựa", đang dùng ống nhòm quan sát lên đỉnh A Bia. 20 phút sau nhiều lính Mỹ kéo ra dưới mỏm "yên ngựa". Đợi lính Mỹ dưới hố bom leo lên, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng mìn sát thương cùng với bộ binh tiến lên đánh vào nhóm đi trước, khẩu đội cối 82mm đánh chặn phía sau. Quân Mỹ bỏ chạy theo triền đồi. Đại đội 1 tiểu đoàn 2/501 bị tiêu diệt. Quân Mỹ dùng trực thăng vận 2 đại đội khác đổ xuống chân điểm cao A Bia nhặt xác đồng đội, nhưng trời đã tối nên phải quay về vị trí cũ.

                                   

Lợi dụng hỏa lực mạnh, Mỹ đã gần như dập pháo nát Đồi Thịt Băm trước khi tiến công lên. Trong khi Quân Giải Phóng lại tận dụng hệ thống hầm, hào để bảo toàn lực lượng trước hỏa lực yểm trợ của quân Mỹ. Những cuộc đụng độ trên sườn "đồi thịt băm" diễn ra cực kỳ căng thẳng, Quân Giải Phóng lợi dụng vị trí cao, áp đảo hoàn toàn đối phương, phía Mỹ lợi dụng hỏa lực mạnh, gọi yểm trợ liên tục. Ảnh: Binh lính Mỹ thực hiện hồi sức cấp cứu cho đồng đội. Nguồn ảnh: Pinterest. 

Sau trận chiến đấu của đại đội 6 ở A Bia, phương án tác chiến được khẳng định. Quân Mỹ tiếp tục phản kích lên A Bia và các điểm cao điểm 903, 916. Ban chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tiếp tục sử dụng tiểu đoàn 8 chốt ở A Bia và tiểu đoàn 7 giữ điểm cao 903, đưa tiểu đoàn 9 vào hoạt động ở A Lê Thiêm, A Lê Lốc, đồng thời dùng đặc công liên tục tập kích vào các vị trí đóng quân của Mỹ. Thực hiện chủ trương của trung đoàn, đêm ngày 13 rạng ngày 14 tháng 5, đại đội 20 đặc công tập kích vào sở chỉ huy tiểu đoàn 1/506 ở điểm cao 1078 phá huỷ trận địa pháo 105mm.

Ngày 13 tháng 5, lữ dù 3 Mỹ tổ chức phản kích vào các điểm cao 903 và 916. Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Tăng Văn Miêu và chính trị viên Trần Triền chỉ huy. Trong thế xen kẽ, chiến sĩ tiểu đoàn 7 đã tập kích khiến lính Mỹ phải thường xuyên di chuyển, gọi pháo chi viện tạo nên vành đai hỏa lực xung quanh vị trí trú quân.

Ngày 14 tháng 5, tổ chức phân đội hỏa lực 12 khẩu gồm B-40, B-41, cối 82, cối 60 ly của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bất ngờ đánh vào đội hình của 1 đại đội Mỹ cách điểm cao 916 hai km về phía đông, Sau khi dùng bom, pháo bắn phá dọn đường suốt hai ngày 13 và 14 tháng 5, quân Mỹ sử dụng tiểu đoàn 1/506 chia làm hai mũi tiến công đánh chiếm lên A Bia. Phía đông nam, đợt phản kích của 2 đại đội Mỹ cũng bị đại đội 6 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghìm chân dưới "yên ngựa" bằng những bãi mìn và đạn cối. Khi quân Mỹ vượt được lên "yên ngựa", vào gần tới đỉnh thì bị bộ binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phục kích. Bị đánh gần và bất ngờ, lính Mỹ lùi xuống chân điểm cao, gọi pháo chi viện.

Biết lữ đoàn dù 3 Mỹ đang dồn nỗ lực chiếm A Bia, từ ngày 15 tháng 5 trở đi, tiểu đoàn 8 tranh thủ thời gian giữa hai đợt phản kích đào hầm, phát triển tuyến chốt sang hướng sườn tây bắc điểm cao A Bia nhằm tránh pháo Mỹ từ phía đông bắc bắn tới. Hầm hào được xây dựng nửa nổi, nửa chìm, có hầm ngủ, hầm chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp. Cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc thay nhau lên A Bia giúp tiểu đoàn 8 xây dựng hầm hào. Với hệ thống công sự này, tiểu đoàn 8 nấp mình trong lòng đất đã tránh được bom pháo Mỹ ngày đêm cày nát ngọn đồi, tổ chức phản kích hàng chục đợt tiến công của quân Mỹ. Quân Mỹ với sự hỗ trợ của bom napalm, súng phun lửa, pháo không giật đã tiến rất chậm, mỗi công sự chiếm được đều phải trả giá đắt. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng tổ chức đánh các bãi đáp trực thăng của Mỹ, bắn rơi hoặc bắn hư hỏng nhiều máy bay trực thăng dù chỉ có vũ khí hạng nhẹ và súng phóng lựu.

Sau 3 ngày bị chặn đứng, quân Mỹ thay đổi chiến thuật. Vừa dùng phi pháo đánh ác liệt vào trận địa chốt, vừa dùng lực lượng cấp đại đội đánh vào các điểm cao 916, 900, nhằm bao vây cô lập tiểu đoàn 8, sau đó dùng lực lượng lớn tiến công, đánh chiếm A Bia.

Trưa ngày 15 tháng 5, trực thăng Mỹ đổ 1 đại đội (Đại đội Bravo) thuộc tiểu đoàn 1/506 xuống điểm cao 916, đồng thời tung 2 tiểu đoàn vào hướng điểm cao 900, phối hợp lấn dần sang A Bia, cùng tiểu đoàn 2/501 tổ chức phản kích. Hai bên giành giật nhau suốt hai ngày liền. Quân Mỹ ba lần thay quân, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng vơi dần, hầm hào sụt lở, không kịp củng cố. Các chốt của tiểu đoàn 8 mất dần, nhất là hướng chốt đại đội 8. Tuy vậy phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn giữ được A Bia.

                                   

Tới ngày 16 và 17.5, các trận địa pháo của Mỹ dọc đường số 12 đã dội mưa bom vào vị trí của Quân Giải Phóng, có nhiều bằng chứng ghi nhận phía Mỹ còn sử dụng cả đạn hóa học mặc dù đã bị cấm để tấn công lực lượng quân Giải Phóng đang cố giữ các cao điểm quanh 937 Hill. Mặc dù vậy, trận địa của ta vẫn được giữ vững thêm 2 ngày nữa, nghĩa là tới tận ngày 18.5 phía ta mới rút lui dần do đạn dược và lượng thực đã cạn. Nguồn ảnh: Pinterest.

Tiểu đoàn 8 bị cắt rời khỏi đội hình trung đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý quyết định để đại đội 6 tiếp tục củng cố trận địa, đánh địch từ hướng bắc; rút đại đội 7 ra tăng cường cho chốt ở điểm cao 991, đại đội 5 bổ sung cho chốt đại đội 8, số còn lại làm lực lượng dự bị. Đồng thời tiểu đoàn điện báo cáo về trung đoàn: "Tình hình có khó khăn, thương binh không chuyển được, đạn thiếu, lực lượng cơ động không có. Chỉ có khả năng giữ đến sáng 17 tháng 5. Hướng rút lui phía nam A Bia".

Lữ đoàn dù 3 Mỹ đã bị động đối phó về mặt chiến thuật, từ chỗ chủ động lùng sục tìm diệt phải quay sang đánh chiếm mục tiêu đúng như ý định của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ban chỉ huy trung đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lệnh cho tiểu đoàn 8 tiếp tục giữ A Bia, thu hút đối phương, tạo điều kiện cho hai tiểu đoàn 7 và 9 cùng các đại đội hỏa lực lật cánh sang phía nam A Bia vận động tấn công vào sườn quân Mỹ; trước mắt phải đánh bật đại đội Mỹ ở điểm cao 916 để lập lại thế liên hoàn toàn trung đoàn.

Suốt hai ngày 16 và 17 tháng 5, nhiều trận đánh diễn ra liên tiếp trong khu vực đồi 903, 916 và phía nam A Bia. Ngày 16 tháng 5, trung đoàn tập trung 16 khẩu cối, B-40, B-41 và đại liên 12,7mm tập kích bất ngờ vào đại đội Mỹ ở Động Chuối, 9 giờ ngày 17 tháng 5, đại đội 2 tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công 1 đại đội Mỹ ở điểm cao 916. đánh bật quân Mỹ ở mỏm 1. Quân Mỹ bỏ mỏm 2 chạy dạt xuống chân điểm cao, vấp phải chốt của đại đội 5. Hai giờ chiều ngày 17 tháng 5, nhiều quân Mỹ ở 916 tử trận. Hành lang giữa 916 và A Bia đã khai thông. Đường sang tiểu đoàn 8 lại được mở. Chỉ huy lữ dù 3 chưa hay biết gì về số phận đại đội Mỹ trên điểm cao 916 nên vẫn cho trực thăng đổ quân tiếp ứng cho đại đội này, nên bị đại đội 2 bắn cháy 2 trực thăng và lính đi cùng.

Thời gian này, ở hướng A Bia cũng diễn ra trận chiến đấu ác liệt. Mỹ cố đánh chiếm A Bia để gỡ thể diện và để nhặt xác đồng đội tử trận suốt hai ngày qua. Sau khi cắt rời tiểu đoàn 8 khỏi đội hình Trung đoàn 3, lữ dù 3 Mỹ cùng tiểu đoàn 2/501 và hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1/506 bâu quanh A Bia thay nhau phản kích. Mỹ không dùng chiến thuật "cơn sóng lớn áp đảo đối phương" nữa mà thực hiện chiến thuật "sóng liên hồi" nhằm gây căng thẳng dẫn đến suy sụp về ý chí và tinh thần, buộc phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải mệt mỏi mà rút bỏ A Bia.

Trong hai ngày 16 và 17 tháng 5, các trận địa pháo Mỹ dọc đường số 12 hướng về A Bia trút đạn, bắn cả đạn hóa học gây chảy nước mắt, nước mũi. Trận phản kích cuối cùng trong ngày 17 tháng 5 diễn ra lúc 15 giờ. Quân Mỹ chia làm 4 mũi, dùng đạn hóa học đánh lên A Bia. Đến 16 giờ, 1 đại đội Mỹ được phi pháo yểm trợ lại tiến công lên chốt.

Trong lúc quân Mỹ còn tập trung vào hướng các đại đội 5 và 6 thì đại đội 2, tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công vào sườn trái đội hình phản kích của 1 đại đội Mỹ, hất xuống chân điểm cao. Đợt phản kích cuối cùng của Mỹ lên A Bia trong ngày 17 đã thất bại.

Bị cầm chân suốt 5 ngày, các chỉ huy lữ đoàn Mỹ đã ra lệnh một cuộc tấn công phối hợp hai tiểu đoàn vào 18 tháng 5, với tiểu đoàn 1/506 tấn công từ phía nam và 3/187 tấn công từ phía bắc, cố gắng để cô lập lực lượng đối phương. Đại đội Delta của tiểu đoàn 3/187 được không vận tới gần ngọn đồi, nhưng bị tập kích và thương vong nghiêm trọng, bao gồm tất cả các sĩ quan của mình. Từ một máy bay trực thăng quan sát, chỉ huy tiểu đoàn đã cố gắng phối hợp các đại đội khác vào một cuộc tấn công cuối cùng, nhưng một trận mưa dữ dội làm giảm khả năng yểm trợ không quân và kết thúc trận đánh. Tiểu đoàn 3/187 một lần nữa phải rút lui xuống núi. Ba đại đội của tiểu đoàn 1/506 chiến đấu để giành điểm cao 900, phía nam của đỉnh núi, cũng gặp phải sự kháng cự mạnh.

                                 

Về số lượng thương vong của Mỹ, họ thừa nhận rằng đã có 440 binh sĩ thiệt mạng và bị thương trong cuộc đụng độ ác liệt này. Đó là một con số khá lớn với Quân đội Mỹ, và mặc dù chịu tổn thất nặng nề để chiếm được cao điểm này nhưng đến ngày 5.6 cùng năm phía Mỹ lại rút lui khỏi đây do ngọn đồi này "không có giá trị về mặt quân sự". Nguồn ảnh: Quizly

Bởi thương vong nặng nề trong 1 tuần và chịu áp lực từ sự chú ý không mong muốn báo chí, một số chỉ huy nghiêm túc xem xét việc ngừng các cuộc tấn công. Cả hai tư lệnh quân đoàn và tư lệnh MACV, tướng Creighton W. Abrams, công khai ủng hộ quyết định này. Nhưng các chỉ huy tại chỗ lại cảm thấy sẽ bị bẽ mặt khi phải rút lui bởi một lực lượng đối phương nhỏ bé hơn nhiều. Vậy là Zais quyết định tiếp tục tấn công, tung ba tiểu đoàn mới vào chiến đấu thay thế cho những đơn vị đã thiệt hại nặng. Tiểu đoàn 3/187 thiệt hại nghiêm trọng, với khoảng 320 thiệt mạng và bị thương, chiếm hơn 60% trong số 450 binh sĩ có kinh nghiệm ban đầu. Hai trong số bốn chỉ huy đại đội và 8/12 trung đội trưởng đã thương vong.

Sau 1 tuần chiến đấu, 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu được giao là tiêu diệt một lượng đáng kể lính Mỹ. Như chiến lược chung trong những trận đánh với Mỹ, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không cố gắng giành giật trận địa mà chỉ cố gắng gây thương vong tối đa cho địch trước khi tổ chức rút lui để tránh bị hỏa lực và sức cơ động vượt trội của Mỹ bao vây tiêu diệt. Kế hoạch ban đầu là rút vào đêm 17 nhưng các đơn vị đã hoàn thành tốt và kéo dài thêm được 1 ngày. Đêm 18, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tổ chức rút lui khỏi trận địa núi A Bia, chỉ để lại một bộ phận nhỏ làm nghi binh.

Ngày 19 tháng 5, 2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ đã được không vận vào bãi đáp đông bắc và phía đông nam của núi. Cả hai tiểu đoàn ngay lập tức di chuyển lên núi để tới các vị trí mà từ đó họ sẽ tấn công vào sáng hôm sau. Trong khi đó, tiểu đoàn 1/506 dùng ngày thứ ba liên tiếp để bảo đảm an toàn cho điểm cao 900.

Lữ đoàn 3 đưa ra bốn tiểu đoàn của mình tấn công vào lúc 10 giờ ngày 20 tháng 5, bao gồm cả hai đại đội của 3/187 được tăng cường bởi đại đội Alpha 2/506. Các cuộc tấn công được hỗ trợ bởi 2 giờ không kích và 90 phút nã pháo. Các tiểu đoàn tấn công đồng thời, 12 giờ tiểu đoàn 3/187 lên tới đỉnh. Đơn vị nhỏ làm nhiệm vụ nghi binh còn lại của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam sau khi nổ súng cầm chân quân Mỹ đã rút sang Lào theo đơn vị chính, và Đồi 937 được quân Mỹ nắm giữ vào 17 giờ.

Năm 2011, bà Kan Đơm, nữ du kích người dân tộc Pa Kô kể rằng, có một chuyện mà nhiều người chưa biết về những gì lính Mỹ đã làm với chiến sĩ du kích Cu Lọi khi trận đánh trên ngọn đồi A Bia kết thúc. Anh Cu Lọi tham gia đánh căn cứ A Bia, nhận nhiệm vụ ở lại cản chân quân Mỹ để đồng đội rút lui. Cu Lọi hy sinh, nhưng lính Mỹ đã lấy xác anh, chặt đầu cắm lên cọc, băm thi thể anh ra từng mảnh vụn rải khắp ngọn đồi. Bà Kan Đơm kể: "Lính Mỹ làm vậy là để cho người Pa Kô của mệ nhụt chí không còn dám theo Đảng và Bác Hồ đánh giặc nhưng chúng đã lầm. Từ đó, đồng bào Pa Kô đã gọi đồi A Bia là đồi Băm (băm xác) để khắc ghi trong tim mình sự hy sinh anh dũng của anh Cu Lọi mà quyết tâm đánh giặc đến cùng...".
 
Trong 10 ngày chiến đấu, quân đội Mỹ chịu thiệt hại 72 lính chết và 372 bị thương, vài trực thăng bị bắn rơi hoặc bắn hỏng. Quân Mỹ tuyên bố các tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 29 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có 630 người tử trận (chưa kể số bị thương) khi chiến đấu với quân Mỹ. Con số thiệt hại của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam do Mỹ tuyên bố gây nhiều tranh cãi và bị coi là phóng đại, bởi thực tế quân Mỹ không thể đếm số lính Việt Nam bị chết trong hoàn cảnh chiến trường khi đó (địa hình rừng núi, pháo kích và không quân ném bom dày đặc làm chiến trường rất khó quan sát, bộ binh Việt Nam cũng thường ẩn mình trong các công sự khó bị phát hiện). Trong thực tế, trong suốt trận đánh, quân Mỹ chỉ thu được 89 vũ khí cá nhân và 22 vũ khí cộng đồng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (chỉ bằng 1/6 số lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tử trận mà Mỹ tuyên bố).
Quân Mỹ thương vong hàng trăm binh sĩ nhưng rốt cục chỉ chiếm được một ngọn đồi không có giá trị về quân sự. Thiếu tướng John M. Wright lặng lẽ ra lệnh rút khỏi đồi ngày 5 tháng 6. Các cuộc tranh luận về "Hamburger Hill" diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ, với những lời chỉ trích đặc biệt nghiêm trọng của các thượng nghị sĩ Edward Kennedy, George McGovern, và Stephen M. Young. Edward Kennedy gọi đây là "Cuộc hành quân điên rồ và vô trách nhiệm. Sinh mạng của binh sĩ Mỹ đã bị phung phí chỉ để thể diện nhà binh cho các sĩ quan chỉ huy".
 
                                  
Giới báo chí Mỹ gọi trận chiến này là Đồi Thịt Băm để chỉ sự tổn thất nặng nề mà Quân đội Mỹ đã phải hứng chịu để chiếm lấy một vị trí "không có giá trị quân sự" làm dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ trong dân chúng tại Mỹ. Quốc Hội Mỹ chỉ trích hành vi của các tướng lĩnh quân sự và cho rằng binh lính Mỹ bị mang lên "nướng" trên Đồi Thịt Băm chỉ để "cố đạt được mục tiêu ban đầu để giữ thể diện" cho các sỹ quan chỉ huy. Nguồn ảnh: Pinterest.

Báo chí Mỹ ngày 25 tháng 5 năm 1969 gọi A Bia là "Đồi thịt băm của lính dù Mỹ", lên án quân đội Mỹ ném quân lên vùng núi A Bia chỉ để biến cuộc hành quân "Tuyết rơi trên đỉnh núi" (Apache Snow) thành "Máu rơi trên đỉnh núi". Trong số 27 tháng 6, Tạp chí Life đã công bố những bức ảnh của 241 lính Mỹ thiệt mạng trong một tuần tại Việt Nam, được coi là một bước ngoặt của chiến tranh. Dù chỉ có một phần trong số này là thương vong trên Hamburger Hill, nhiều người Mỹ đã nhận thức rằng tất cả những người chết đều là nạn nhân của "trận đánh điên rồ và vô nghĩa" này.

Tranh cãi về trận Hamburger Hill đã dẫn đến một đánh giá lại chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Như một kết quả trực tiếp, để giữ thương vong không cao quá mức, tướng Abrams ngừng chính sách "áp lực tối đa" chống lại Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trong khi Tổng thống Richard Nixon đẩy nhanh thực hiện chiến lược mới là Việt Nam hóa chiến tranh, và tuyên bố đợt rút quân viễn chinh đầu tiên. Mặc dù trận đánh chỉ ở mức tiểu đoàn, song nó đã trở thành một bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam.

Với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, những kết quả thu được trong trận đánh ở A Bia và đợt hoạt động phản công của Sư đoàn 324 ở vùng thung lũng A Lưới đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào đánh phá "bình định" đang phát triển ở các địa phương. Chiến thắng A Bia đã đi vào trang sử truyền thống đầu tiên của sư đoàn 324 kể từ khi được tổ chức lại và là mốc mở đầu cho giai đoạn khôi phục lại thế trận xuống đồng bằng, lập lại thế ba vùng chiến lược sau Tết Mậu Thân 1968.

8/Chiến dịch Đăk Tô – Tân Cảnh (1967):

Chiến dịch Đăk Tô – Tân Cảnh hay Trận Đăk Tô – Tân Cảnh năm 1967, là một trận đụng độ trực tiếp giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ, diễn ra từ ngày 3 đến 22 tháng 11 năm 1967, tại cứ điểm E42 (còn gọi là đồi Charlie) gần quốc lộ 14, thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay thuộc địa bàn xã Đăk Tô, tỉnh Quảng Ngãi.

Lực lượng tham chiến của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có:

  • Sư đoàn 1 với ba trung đoàn: 66, 174 (trung đoàn trưởng là Anh Hùng Lực lượng Vũ Trang Đàm Văn Ngụy), và 320
  • Trung đoàn bộ binh độc lập 24
  • Trung đoàn pháo 40
  • Tiểu đoàn 304 Kon Tum (bộ đội địa phương Tây Nguyên)

Lực lượng tham chiến của Quân đội Hoa Kỳ gồm có:

  • Sư đoàn 4 bộ binh (do trung tướng William R. Peers chỉ huy sư đoàn kiêm chỉ huy mặt trận Đăk Tô)
  • Lữ đoàn 173 (độc lập, do thiếu tướng Leo H. Schweiter chỉ huy)
  • Một lữ đoàn của Sư đoàn Không Kỵ số 1
  • Các đơn vị không quân hiệp đồng tác chiến

Lực lượng tham chiến của Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm:

  • Lữ đoàn bộ binh 42

Trong trận đánh, do bị đánh trả quyết liệt, quân đội Mỹ đã phải huy động một lượng hỏa lực cực lớn. Pháo binh Mỹ đã bắn yểm trợ 151.900 viên đạn pháo (nhiều hơn lượng đạn pháo mà quân Pháp sử dụng trong trận Điện Biên Phủ). Không quân Mỹ huy động 2.101 phi vụ trực thăng chiến đấu hoặc vận tải, 2.096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ B-52 ném bom rải thảm, ném tổng cộng hơn 10.000 tấn bom. Trung bình mỗi bộ đội Việt Nam phải hứng chịu 25 viên đạn pháo và 1,6 tấn bom do Mỹ ném xuống.

                                TRẬN ĐẮC TÔ TÂN CẢNH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN. - YouTube

Mục tiêu của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là tiêu diệt đáng kể các đơn vị Quân đội Hoa Kỳ đang đóng ở Tây Nguyên để thu hút thêm các đơn vị quân Mỹ khác đến Tây Nguyên là địa bàn rừng núi mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quen thuộc hơn. Nói ngắn gọn, đây là một trận dùng kế "Điệu hổ li sơn" vào thế trận bày sẵn để tiêu diệt. Mục đích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, thu hút lực lượng chủ lực cơ động của đối phương lên Tây Nguyên, tạo điều kiện cho chiến trường Khu 5 và toàn miền chống bình định, sẵn sàng đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ ba của Mỹ – VNCH. Quán triệt nhiệm vụ được giao, ngày 10 tháng 9 năm 1967, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng tiến công Đăk Tô nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực Mỹ, buộc Mỹ phải điều lực lượng cơ động lên Tây Nguyên. Đồng thời  rèn luyện nâng cao khả năng tác chiến tập trung của bộ đội, chú trọng rút kinh nghiệm và xây dựng hoàn thiện chiến thuật "Vận động tiến công kết hợp chốt", nâng cao trình độ tập kích địch phòng ngự ở điểm cao.

Mục tiêu của Quân đội Hoa Kỳ là tìm và diệt các đơn vị đối phương đang hoạt động tại đường 14 và đường 19. Song các đơn vị đó của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ hoạt động nhằm mục đích nghi binh để đối phương không chú ý tới sự di chuyển của Sư đoàn 1 của họ. Dù sao, di chuyển của Sư đoàn 1 vẫn bị quân Mỹ phát hiện nhờ tin tức do một người lính của Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đầu hàng cung cấp.

Địa hình khu vực tiến công chính của chiến dịch là quận Đắc Tô (Kon Tum). Quận lỵ nằm trên ngã ba đường 14 và đường 18, cách thị xã Kon Tum 40 km về phía bắc, đây là vùng thung lũng có bình độ trung bình từ 600 – 700m, chiều dọc từ bắc xuống nam khoảng 9 km, chiều ngang từ đông sang tây khoảng từ 8 km – 9 km. Khu vực tác chiến bị chia cắt thành 2 vùng phía bắc và phía nam bởi con sông Pô Kô và đường 18, có nhiều dãy núi cao có giá trị về chiến thuật mà điển hình là dãy Ngọc Bơ Biêng, nếu bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm khống chế của hỏa lực pháo binh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhìn chung địa hình có lợi cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở thế cao hơn Quân đội Mỹ – VNCH, loại bỏ được khả năng sử dụng cơ giới của Mỹ – VNCH. Mặt khác vì vùng này chưa có các hoạt động quân sự lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nên khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở chiến dịch sẽ tạo được bất ngờ đối với lính Mỹ – VNCH.

Sau khi đã đưa khoảng 55.000 quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, để vừa tiếp tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", vừa giữ ổn định tình hình tạo hậu thuẫn cho cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 1968, tướng Westmoreland tiến hành điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược, âm mưu tập trung lực lượng chuẩn bị mở cuộc phản công lần thứ 3 (mùa khô 1967-1968) trên hướng ở miền Đông Nam Bộ nhằm cải thiện tình hình. Ở Trung Trung Bộ, lính Mỹ – VNCH đánh phá, ngăn chặn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở dọc biên giới Việt – Lào, trọng điểm là ở Pleiku và Kon Tum, tìm diệt chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, phá các căn cứ, hỗ trợ cho bình định dọc miền duyên hải.

                                

Đồi 875 (giữa hình) nằm trong cụm đồi 882, 845 và 875, cách nhau chừng 100 mét. Ta nhử địch chiếm hai ngọn đồi 882 và 845, để địch nghĩ sẽ dễ dàng xoi nốt được đồi 875, không biết rằng đó là cái bẫy tiêu diệt lực lượng Mỹ
Ảnh chụp hôm 4/12/1967 sau khi trận chiến kết thúc 11 ngày

Đầu năm 1967, sau thất bại ở Sa Thầy, quân Mỹ vẫn tiếp tục mở các cuộc hành quân có tính chất ngăn chặn các cuộc tiến công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vào vùng Gia Lai, đường 19, Đức Cơ, Đường 21, Lạc Thiện, Quảng Nhiêu hoặc vào vùng Đắc Tô (Kon Tum). Liên tiếp cả trong mùa mưa, giao tranh giữa 2 bên hầu như không ngớt. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thực hiện được một số trận đánh khá tiêu biểu, bằng vận động tiến công hoặc bằng pháo kích (DKB) vào hậu phương, hậu cứ của Mỹ.

Bước vào mùa khô năm 1967, quân Mỹ – VNCH ở Tây Nguyên (gồm lực lượng của vùng 2 chiến thuật, sư đoàn 22 VNCH và sư đoàn 4 Mỹ) ra sức thăm dò các động thái của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cuối tháng 10 năm 1967, khi phát hiện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đang chuẩn bị mở chiến dịch ở bắc Kon Tum, sư đoàn 4 Mỹ vội vã kết thúc cuộc hành quân Marc Acthur ở phía tây thị xã Pleiku và vùng tây bắc Gia Lai chuyển hướng về vùng rừng núi Đăk Tô. Ngày 2 tháng 11, lữ đoàn 1 của Mỹ đến Đăk Tô, chúng thiết lập sở chỉ huy hành quân tại sân bay và hình thành hai cụm quân: cụm thứ nhất ở khu vực ngã ba đường 14 và đường 18 gồm Trung đoàn 42 VNCH ở Tân Cảnh, quận lỵ Đăk Tô và sân bay Đắc Tô 1. Cụm quân thứ 2 nằm dọc đường 18, cách ngã ba Tân Cảnh 4 km về phía tây, gồm sở chỉ huy hành quân, cụm kho hậu cần của quân Mỹ và sân bay Đắc Tô 2.

Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Đảng ủy mặt trận họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Quân khu 5 giao cho chiến trường (từ sau chiến dịch Sa Thầy (1967)) và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong đông xuân 1967 – 1968. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, ngày 10-9 giữa lúc bộ đội đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, Đảng ủy mặt trận chính thức quyết định mở chiến dịch Đắc Tô nhằm mục đích: "Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, buộc địch phải cơ động lực lượng lên Tây Nguyên càng nhiều càng tốt, để phối hợp chiến trường với toàn miền; Thông qua tác chiến nhằm nhanh chóng nâng cao trình độ đánh tập trung của bộ đội chủ lực, tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội địa phương lên một bước mới."

Bộ tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra phương châm: "Tích cực, chủ động, linh hoạt, tạo thời cơ nhử địch vào thế trận ta đã chuẩn bị sẵn, tiêu diệt từng tiểu đoàn Mỹ phản kích, phản đột kích ứng chiến bằng đường bộ và đổ bộ đường không, tiến tới đánh thiệt hại nặng đơn vị lớn hơn của chúng; thực hiện tiến công liên tục đánh vào toàn bộ đội hình chiến dịch của địch, bao vây chia cắt chiến dịch, đánh cả phía trước và phía sau, đánh vào các căn cứ hành quân chiến dịch của địch, vận dụng chiến thuật linh hoạt, kiên quyết bám trụ, vận dụng cách đánh gần, đánh chồng, đánh bồi của các binh chủng; bố trí đội hình chiến dịch có chiều sâu, có đội dự bị mạnh, có chốt chiến dịch vây hãm và uy hiếp địch buộc chúng phải ra khu quyết chiến để ta đánh tiêu diệt. Phối hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị, tác chiến và địch vận".

Điểm quyết chiến phải đạt ý đồ đánh tiêu diệt có giá trị, giảm bớt hỏa lực cực mạnh của Mỹ, và hạn chế tối đa thương vong. Tất cả những điều ấy đã được Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận phân tích kỹ. Trước hết là, sử dụng Đại đội 1 pháo binh 1 cùng với Tiểu đoàn 6 bộ binh đưa pháo lên chốt ở Ngọc Bờ Biêng. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận khẳng định: Với công sự tốt, hỏa lực mạnh, Tiểu đoàn 6 sẽ trụ bám được ở Ngọc Bờ Biêng, biến nó thành chốt hiểm yếu buộc quân Mỹ phải ra giải tỏa.

                                                    Kontum 1967_11 (42).jpg 

Thiếu tướng William R. Peers, tư lệnh Sư đoàn Bộ binh số 4 và là Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Chiến dịch Đắc Tô (Mỹ gọi là Chiến dịch McArthur).
Bên phía ta là Tướng Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh) và Chính uỷ Trần Thế Môn với 6.000 bộ đội của 4 Trung đoàn: Trung đoàn 320, 66, 174 và Trung đoàn pháo binh 40 và một số đại đội súng cối hỗ trợ cùng với Tiểu đoàn 6 độc lập mang mật danh "Tiểu đoàn Tây Ninh".

Khu vực Cao điểm 875 sẽ làm điểm quyết chiến của chiến dịch, đây là nơi có dải địa hình và các điểm cao nằm ở trung tâm không gian chiến dịch, mà Cao điểm 875 lại là một trong những điểm cao tương đối đột xuất, khống chế các vùng xung quanh; đồng thời cũng là cao điểm xa các trận địa pháo binh Đắk Mót - Plei Cần của Mỹ. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể xây dựng trận địa chốt chắc ở cao điểm này để khi quân Mỹ đổ quân vào sâu, phải lần lên đánh điểm cao, sẽ tạo được thời cơ tiêu diệt. Quá trình hành quân chiến dịch cũng là quá trình Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực (đang phụ trách địa bàn tại chỗ) cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích hoạt động để đánh lạc sự chú ý của địch, giữ bí mật cho hướng chính chiến dịch.

Hướng và khu vực tiến công thứ yếu ở đông bắc Đắc Tô, gồm các điểm cao của dãy Ngọc Lan, Ngọc Sịa, điểm cao 1323, 1030 và quận lỵ Đăk Tô; do trung đoàn 24 (thiếu tiểu đoàn 6), tiểu đoàn 304, 2 đại đội đặc công, 1 đại đội cối, 1 đại đội công binh (thiếu) của tỉnh đảm nhiệm. Có nhiệm vụ đánh vào sau đội hình địch, tiêu diệt từng tiểu đoàn VNCH, từng đại đội Mỹ, dùng lối đánh nhỏ uy hiếp Tân Cảnh, khống chế sân bay Đắc Tô, đường 14 (đoạn nam, bắc Tân Cảnh) nhằm phân tán địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu.

Các hướng nghi binh và phối hợp, ở Gia Lai, do trung đoàn 95, tiểu đoàn 101, 1 tiểu đoàn pháo cối hỗn hợp (6 DKZ 75mm, 4 cối 120mm, 4 cối 82mm) cùng lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm; ở Đắc Lắc do trung đoàn 33 (thiếu), 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội đặc công và 1 đại đội cối 82mm cùng các lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm.

Bộ tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam một mặt cho các đơn vị ở sau lưng đối phương và các hướng khác đẩy mạnh hoạt động để nghi binh, đồng thời lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch hành quân chiếm lĩnh trận địa sớm hơn dự định 3 đến 5 ngày. Ngày 15 tháng 10, các đơn vị trên hướng chủ yếu cơ động vào vị trí tập kết. Ngày 29 tháng 10, các đơn vị ở khu chốt chiến dịch chiếm lĩnh trận địa xong và đến ngày 2, các đơn vị cơ bản đã vào vị trí chiến đấu.

                               

Bắt đầu từ ngày 3 và kết thúc vào ngày 22.11.1967, chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh được coi là một trận đánh thắng ngoạn mục của quân và dân ta trước Quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.

Ngày 2 tháng 11, Quân đội Hoa Kỳ lên Đăk Tô, thiết lập hai trận địa pháo ở Plei Cần và Đắk Mót. Trung đoàn 320 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được lệnh gấp rút chiếm Ngọc Dơ Lang. Khi Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 320) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa hành quân tới Ngọc Dơ Lang thì một tiểu đoàn bộ binh Mỹ cũng đến Ngọc Rinh Rua. 2 bên tranh chấp muốn chiếm điểm cao, nên tình huống chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Tình hình đó thúc đẩy đội hình chiến dịch của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải nhanh chóng chiếm lĩnh và khẩn trương hoàn tất mọi công tác chuẩn bị.

Chiều ngày 3 tháng 11, Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ một tiểu đoàn bộ binh xuống khu đồi tranh phía đông dãy Ngọc Bờ Biêng khoảng 500m và tiến lên trận địa chốt của Đại đội 11, Tiểu đoàn 6. Sư đoàn bộ binh số 4 Hoa Kỳ quyết định tấn công Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trước, dựa vào tin do người lính tù binh từ sư đoàn 1 cung cấp. Lúc này, Sư đoàn 1 đã bố trí trận địa sẵn sàng nhưng bị bất ngờ vì thời điểm đối phương tấn công tới nơi (theo kế hoạch thì Sư đoàn 1 sẽ nổ súng vào ngày 15). Bộ đội đang đào công sự phải bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 320) là đơn vị đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam khai hỏa.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho hai khẩu pháo 75mm bố trí ở Ngọc Bơ Biêng bắn vào sân bay Đắc Tô 2, để khêu ngòi. quân Mỹ phản ứng tức khắc. 10 giờ ngày 3, quân Mỹ đổ 2 đại đội xuống điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang, 2 đại đội xuống Ngọc Non, đồng thời triển khai lực lượng pháo binh nhằm tiến công vào khu chốt của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Ngọc Tăng, Ngọc Bơ Biêng. Qua trinh sát kỹ thuật, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam biết quân Mỹ sẽ dùng lữ đoàn 173 dù và lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 phản kích Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên 2 hướng tây, tây nam Tân Cảnh và sẽ hợp vây tại khu vực điểm cao 875. Bộ tư lệnh lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho các đơn vị khu chốt chiến dịch kiên quyết chặn địch, sư đoàn 1 giữ kín lực lượng, chờ địch vào khu chiến để tiêu diệt.

                                 

Trong trận đánh này, phía Quân giải phóng đã dụ được một lực lượng chủ lực cơ động của Mỹ lên Tây Nguyên hay còn gọi là Cao Nguyên Trung Phần vào thời đó để tiêu diệt. Ảnh: Sân bay Đắk Tô nhìn từ trên cao. Nguồn ảnh: Wiki.

 

15 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11, trên mỏm đồi yên ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đội 7, Đại đội 11, mở màn chiến dịch Đăk Tô bằng trận đánh quyết liệt với hai đại đội Mỹ trước chiến hào đơn vị. Các chiến sĩ nhảy lên chiến hào thu hai súng trường, một súng M79. Đây là những khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên của chiến dịch.

Sáng ngày 4 tháng 11, quân Mỹ ném bom đào, bom napalm và chất độc hóa học ngay từ sáng sớm đến 8 giờ, nhiều đoạn chiến hào của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bị san phẳng. Quân Mỹ bắt đầu tiến công lên chốt, song mỗi lần tiến công đều bị đánh bật trở lại, bộ binh lại gọi không quân giội bom xuống. Suốt ngày quân Mỹ đã tổ chức 8 đợt tiến công để chiếm chốt, Tiểu đội 7 có một số chiến sĩ bị thương vong, nhưng cuối cùng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn giữ được chốt.

Ngày 4 tháng 11, Lữ đoàn 173 và Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 1) quân Mỹ tới Tân Cảnh. Ngày 5 tháng 11, một đại đội bộ binh Mỹ bất ngờ ập đến trận địa chốt thứ hai của Đại đội 11 ở Ngọc Tang. 2 bên dùng lưỡi lê, báng súng, lựu đạn đánh giáp lá cà. Cùng với những trận đánh của bộ binh, đại đội pháo binh 1 đã dùng 2 khẩu sơn pháo 75mm bắn phá Đăk Tô. Trung đội ĐKZ ở Ngọc Tang cùng lúc vừa chặn quân Mỹ tràn xuống, vừa bắn vào sân bay đã gây thiệt hại. Trung đoàn 320 và Trung đoàn 66 chặn đánh quân Mỹ ở Điểm cao 724, 823 và pháo kích vào Ngọc Rinh Rua, tiêu diệt và tiêu hao 3 đại đội Mỹ, bắn rơi 2 trực thăng.

Ngày 6 tháng 11, một số đại đội của Lữ đoàn 173 Quân đội Mỹ chiến đấu với Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. 13 giờ ngày 6/11, Mỹ đổ 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 xuống các điểm cao: 823, 845, 882 ở dãy Ngọc Kom Liệt, hình thành 2 mũi tiến đánh vào sườn sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt N đam. Các chốt chiến thuật của trung đoàn 66 ở khu vực này đánh thiệt hại nặng đại đội D (Delta), bắn rơi 2 máy bay lên thẳng, thu 4 súng và 1 máy vô tuyến. Liền sau đó 2 đại đội của tiểu đoàn 4, trung đoàn 503 Mỹ đổ bộ xuống chân điểm cao 823 và đánh chiếm điểm cao này bị lực lượng trinh sát của trung đoàn 66 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam diệt 60 lính. Trong 2 ngày (6, 7 tháng 11), trung đoàn 66 tổ chức tập kích và pháo kích vào điểm cao 823, buộc tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 503 Mỹ phải bỏ điểm cao này rút về dãy Ngọc Kom Liệt. Cùng thời gian trên, tại Ngọc Dơ Lang, ngày 6, hai đại đội Mỹ từ điểm cao 882 tiến công chốt của đại đội 9 (tiểu đoàn 6) - Quân Giải phóng ở điểm cao 843, lính Mỹ bị diệt 20 lính nhưng chiếm điểm cao. Ngày 7, lính Mỹ từ điểm cao 843 tiến về điểm cao 724 bị đại đội 9 thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn 320 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vận động tiến công, diệt 10 lính, thu 6 súng của đại đội C (Charlie), tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ, số lính Mỹ còn lại co cụm ở điểm cao 724. Sau 3 ngày cho đến ngày 9, các đơn vị quân đội Mỹ đã chiếm được một số vị trí then chốt mà họ muốn ở khu vực có Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

                                  

Tham gia trận đánh này, phía Mỹ có 16.000 quân cùng với pháo binh yểm trợ đã bắn tổng cộng 151.900 quả đạn pháo. Ngoài ra còn có 2101 phi vụ trực thăng vận, 2096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ ném bom bằng B-52, ném tổng cộng 10.000 tấn bom. Nguồn ảnh: Wiki. 

Bộ tư lệnh chiến dịch Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận định cả hai cánh quân Mỹ đều bị chặn đánh, nhưng có khả năng lính Mỹ còn tiến sâu hơn nữa nên lệnh cho trung đoàn 174 hành quân ra khu vực tây nam Lăng Lố Kram chuẩn bị chiến đấu. Chỉ thị cho hướng thứ yếu đánh mạnh vào Đắc Tô - Tân Cảnh và đường 14.

Ngày 8, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 320) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đột kích Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 4) Quân đội Mỹ. Suốt các ngày 8 đến ngày 10 tháng 11, quân Mỹ tấn công mạnh vào vị trí của Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) của đối phương.

Tối 8 tháng 11, tiểu đoàn 4 và đại đội 10 của tiểu đoàn 6, trung đoàn 320 tập kích lính Mỹ ở điềm cao 724; đang hành quân tiếp cận gặp địch di chuyển ra phía tây bộ đội Quân Giải phóng nhanh chóng vận động tiến công, diệt 100 lính, đánh thiệt hại nặng đại đội A và đại đội B của tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 lữ đoàn 1 Mỹ. Để chi viện cho trung đoàn 320 đánh địch, sư đoàn 1 đã tổ chức cối 120mm và ĐKZ 75mm pháo kích vào Ngọc Rinh Rua và điểm cao 823, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 máy bay lên thẳng, diệt 50 tên lính Mỹ. Từ ngày 7 đến 10 tháng 11, tại Ngọc Kom Liệt, do bị Quân Giải phóng tiến công dồn dập nên tiểu đoàn 4 thuộc trung đoàn 503 Mỹ từ điểm cao 823 hành quân về phía tây. Tiểu đoàn 7 của trung đoàn 66 Quân Giải phóng được các chốt trinh sát yểm hộ, vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mỹ này, số còn lại tiếp tục bị tiểu đoàn 8 của trung đoàn 66 tấn công. Theo thống kê của Mỹ, tiểu đoàn 4 của họ thương vong quá nửa trong trận này với 20 chết, 154 bị thương và 2 mất tích. Để đỡ mất mặt, sĩ quan chỉ huy của Mỹ, đại úy Thomas McElwain, đã cố ý báo cáo phóng đại tổn thất của quân Giải phóng: ban đầu quân Mỹ báo cáo có 80 quân Giải phóng tử trận, sau đó con số này bị sửa lại thành 175. Sau này, Thomas McElwain giải thích rằng "Nếu anh mất quá nhiều người bị chết và bị thương, anh phải có cái gì đó để bù đắp cho điều đó" Còn theo báo cáo của quân Giải phóng, trong các trận đánh từ ngày 8 tới 11/11/1967, họ chỉ tổn thất 32 người chết hoặc bị thương

Lữ đoàn 173 quân đội Mỹ sau khi lần lượt đổ quân xuống Cao điểm 823, 845, 882 trên dãy Ngọc Cam Liệt, bắt đầu tiến công vào sườn phải Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, để tiến lên chiếm cao điểm 875. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam liền tập trung từng trung đoàn đánh tiêu diệt trên khu quyết chiến Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang.

Để cứu nguy, 12 giờ ngày 11 tháng 11, 2 đại đội A và B thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 Mỹ từ Ngọc Kom Liệt tiến xuống, nhưng bị tiểu đoàn 8 và đại đội 12,7mm của trung đoàn 66 chặn đánh và tiêu diệt. Quân Giải phóng ước tính quân Mỹ bị thương vong khoảng 400 lính, Quân giải phóng thu 21 súng các loại, 6 vô tuyến điện; Mỹ phải dùng máy bay (cả B52) ném bom thiêu hủy và buổi chiều đổ tiếp tiểu đoàn 2 của trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. 14 giờ cùng ngày, tại Ngọc Dơ Lang, tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ cho 2 đại đội đánh ra phía tây để phối hợp với lực lượng Mỹ ở điểm cao 724, bị tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 320 Quân Giải phóng vận động tiến công diệt gọn đại đội B, tiêu hao nặng đại đội D, diệt 120 tên, số còn lại co về cụm ở điểm cao 724.

                                

      Phía ta hoàn toàn ngược lại, chỉ có 6000 quân với một đại đội súng cối hỗ trợ. Nguồn ảnh: Wiki.

Các trận đánh của 2 trung đoàn 66 và 320 thắng lợi đã chứng minh: với hình thức chiến thuật "chốt kết hợp vận động", bộ đội Quân Giải phóng có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của Mỹ để giành thắng lợi. Đây là trận then chốt đầu tiên của chiến dịch, làm cho quân Mỹ không thực hiện được ý đồ chia cắt chiến dịch. Diễn biến những ngày đầu chiến dịch chứng minh những phán đoán và dự kiến của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là đúng, đã nhử được Lữ đoàn 173 và Sư đoàn 4 Quân đội Mỹ vào "bẫy" ở Đăk Tô.

Trước tình thế Lữ đoàn 173 và Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ bị thiệt hại lớn, Bộ chỉ huy Mỹ phải tung lực lượng dự bị gồm: hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Không Kỵ số 1 và Chiến đoàn Dù 3 VNCH sớm vào vòng chiến. Quân Mỹ tiếp tục đổ quân xuống khu vực Plei Cần và Ngọc Cam Liệt, với ý định chia cắt đội hình của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và sẽ hợp vây chiến dịch ở khu vực Cao điểm 875. Ngày 12, Mỹ dùng B-52 và pháo đánh phá vị trí của các Trung đoàn 66 và 320 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Không quân Mỹ phải dùng mỗi ngày tới 700 lần chiếc máy bay B-52 và máy bay phản lực ném bom xuống Đăk Tô.

Sáng 12 tháng 11, sau khi không quân và pháo binh bắn phá, lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. 10 giờ lính Mỹ phản kích lên điểm cao 882. Tiểu đoàn 3 của trung đoàn 174 xuất kích kết hợp chốt diệt 2 trung đội thuộc đại đội A. Lực lượng còn lại chạy về điểm cao 845. Theo tin trinh sát kỹ thuật của Quân Giải phóng, ngày 12 tháng 11, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn 1 kỵ binh không vận và chiến đoàn dù 3 QLVNCH đã đến thị xã Kon Tum. Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 12 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 tiến ra nam Ngọc Dơ Lang. Bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng nhận định: thế trận của địch đã rối loạn nên quyết định tổ chức lực lượng kiềm chế cánh quân của lữ đoàn 1 sư đoàn 4; diệt cánh quân của lữ đoàn dù 173; dùng ĐKZ và cối 82mm kiềm chế địch ở Ngọc Dơ Lang

Ngày 13, các đơn vị hai phía giáp chiến ở một số nơi, song hỏa lực chủ yếu là do B-52 dội xuống. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa quyết giữ trận địa, vừa kết hợp xuất kích ngắn tiến công để diệt địch. Tiểu đoàn 6 Tây Ninh trên dãy Ngọc Bờ Biêng đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 1 Mỹ. Quân 2 bên có lúc xen kẽ, bộ đội đã bám những công sự, những đoạn hào còn lại, dùng lựu đạn, lưỡi lê, báng súng đánh giáp lá cà.

                               

Với lối đánh nghi binh, luồn lách, cơ động, ào lên tấn công trực diện ở cự ly gần rồi lại rút lui nhanh, quân ta đã khiến phía Mỹ phải vất vả chống đỡ. Nguồn ảnh: Wiki.

Ngày 14, các đơn vị của Lữ đoàn 173 Quân đội Mỹ bị thiệt hại nhiều được lệnh rút về vị trí mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gọi là Điểm cao 845. Vị trí này được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cố tính không đánh trước đó với mục tiêu thu hút đối phương về đó. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng lực lượng của ba Trung đoàn 66, 174 và 320 để tiến đánh Lữ đoàn 173.

Hai ngày 13 và 14 tháng 11, lính Mỹ tiếp tục đánh lên điểm cao 882, tiểu đoàn 8-Quân Giải phóng liên tục đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên Mỹ, thu 6 súng, làm chủ trận địa. Để chi viện cho trung đoàn 174, sư đoàn 1-Quân Giải phóng dùng cối 120mm bắn vào điểm cao 823 tiêu hao nặng đại đội C thuộc tiểu đoàn 4 trung đoàn 503, chặn đứng hỏa lực Mỹ bắn vào điểm cao 882. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến thuật, trung đoàn 174-Quân Giải phóng rút tiểu đoàn 3 và một bộ phận của tiểu đoàn 1 về hai bên sườn điểm cao 875.

Cùng thời gian, từ ngày 12 đến 16 tháng 1, đại đội sơn pháo 75mm - Quân Giải phóng tập kích 4 trận bằng hỏa lực (16 giờ ngày 12, 8 giờ và 15 giờ ngày 15, 8 giờ ngày 16) vào căn cứ tiền phương của sư đoàn 4 Mỹ ở Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô diệt khoảng 350 tên, phá hủy 3 máy bay C130, 4 xe quân sự, 2 kho xăng, 1 kho đạn. Ở hướng đông bắc Đắc Tô, trung đoàn 24-Quân Giải phóng cùng bộ đội tỉnh tiến công quận lỵ Đắc Tô và Tân Cảnh, chặn đánh các toán quân ứng cứu giải tỏa của Mỹ. Điển hình là các trận của trung đoàn 24 ở Ngọc Sịa ngày 14 tháng 11, ở Tân Cảnh ngày 16 tháng 11, trận phục kích của công binh, trinh sát chiến dịch ở Plây Cần (đường 18), của tiểu đoàn 304 ở Võ Định trên đường 14 ngày 14 tháng 11.

Trên hướng Đường 18 và đông bắc Đăk Tô, Trung đoàn 24 chủ lực tại chỗ cùng công binh và bộ đội địa phương Kon Tum đã tiến công vào quận lỵ Đăk Tô, thị trấn Tân Cảnh, chặn đánh đoàn xe vận tải chở quân ứng cứu của Mỹ, buộc quân Mỹ phải phân tán đối phó cả ở phía sau. Nổi bật nhất là trận đánh của trung đoàn 24 ở Ngọc Xia (14 tháng 11), Tân Cảnh (16 tháng 11), Cao điểm 1030, 1423 và Ngọc Van (17, 19 tháng 11) đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn Mỹ, phá hủy nhiều xe quân sự. Vào đêm 12 tháng 11, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng rocket tấn công sân bay Đăk Tô. Ngày 15 tháng 11, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng súng cối phá hủy 2 chiếc C-130 Hercules trên đường băng. Đêm đó Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục dùng súng cối tập kích, bắn trúng một container chất nổ, các vụ nổ dây chuyền đã phá hủy hơn 1.100 tấn đạn dược của Mỹ tại đây.

                                   

Nếu như địa hình rừng núi quá quen thuộc với ta thì đối với binh lính Mỹ, địa hình này là cơn ác mộng khi trực thăng không thể tiếp cận còn binh lính Mỹ rất khó xác định khoảng cách để gọi pháo dội chính xác do bị cây cối che chắn tầm nhìn. Nguồn ảnh: Wiki. 

Sau những cố gắng tiến công chia cắt đội hình đối phương ở khu vực Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang không thành công, Bộ chỉ huy Mỹ buộc phải tìm cách chiếm cho được Cao điểm 875 làm bàn đạp khống chế, thực hiện đòn đánh vu hồi vào sau lưng đội hình chiến dịch củaQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 17 tháng 11, hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Lữ đoàn 173 Quân đội Mỹ bắt đầu tiến công để chiếm Cao điểm 875. Khi quân Mỹ chưa đến 875 đã bị Trung đoàn 66 chặn đánh, diệt từng bộ phận; Tiểu đoàn 2 Quân đội Mỹ tiếp tục tiến lên 875. Nhưng tại đây, Đại đội 7 thuộc Trung đoàn 174 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã bí mật xây dựng cao điểm thành điểm chốt kiên cố. Khi quân Mỹ tiến lên, Đại đội 7 nổ súng chặn đứng được đội hình Mỹ trước chiến hào, một bộ phận xuất kích đánh tạt sườn đã tiêu diệt một số địch. Sư đoàn 1-Quân Giải phóng tổ chức pháo kích trận địa hỏa lực của Mỹ ở nam Ngọc Dơ Lang, điểm cao 530, phá hủy 5 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm. 13 giờ ngày 17 tháng 11, 1 trung đội của đại đội 11, tiểu đoàn 6 Quân Giải phóng phòng ngự ở điểm cao 1338 đã đánh bại 10 đợt phản kích của quân Mỹ, diệt 100 lính Mỹ.

Sáng 18 tháng 11, hai tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 503 Mỹ chia làm 2 mũi tiến công về điểm cao 875; tiểu đoàn 1 Mỹ tiến theo sườn tây bắc điểm cao 882, đến 13 giờ 30 phút bị tiểu đoàn 8 và 1 đại đội của tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 chặn đánh và ghìm chặt tại đây diệt 90 tên, thu 6 súng. Tiểu đoàn 2 Mỹ từ cao điểm 845 tiến chiếm đồi "biệt kích" ở tây bắc điểm cao 875 khoảng 1 km để tạo bàn đạp đánh sang 875. Cùng thời gian, ở đông 875, hai đại đội biệt kích, thám báo từ bãi Le tổ chức tiến công vào điểm cao 875. Từ lúc 8 giờ 30 phút ngày 18 đến 11 giờ ngày 19, đại đội 7 của tiểu đoàn 2-Quân Giải phóng đã chịu đựng hỏa lực phi pháo ác liệt của Mỹ (có cả B52), liên tục đẩy lùi các đợt tiến công của Mỹ, giữ vững 875. Trong lúc lính Mỹ đang tập trung lực lượng đánh lên 875, tiểu đoàn 2 (thiếu đại đội 7) và 1 đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 bí mật vận động tiếp cận đội hình Mỹ từ bên sườn và phía sau. 14 giờ ngày 11, sau khi Quân Giải phóng bắn 30 quả đạn cối vào sở chỉ huy Mỹ, 4 mũi của Quân Giải phóng đồng loạt xung phong vào đội hình lính Mỹ đang tập trung ở đồi Yên Ngựa, dưới chân điểm cao 875. Bị đánh bất ngờ, đội hình Mỹ rối loạn. Chớp thời cơ, đại đội 7 từ điểm cao 875 cũng xuất kích đánh xuống. Đến 17 giờ, phần lớn lính Mỹ bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy bị trúng bom và đạn pháo của Mỹ chết một số. Trận đánh đã loại khỏi vòng chiến 300 tên Mỹ, ta thu 18 súng AR-15 và 6 máy thông tin vô tuyến điện. Sau đó trung đoàn cho đại đội 7 chốt lại tại điểm cao 875, còn trung đoàn rút về phía sau củng cố.

                                

Ngoài ra, phía ta cũng tiến hành nghi binh chiến thuật ở nhiều hướng, đặc biệt là ở những khu vực phía sau lưng địch và sau phòng tuyến của địch, khiến chúng bị hỗn loạn, không thể phán đoán được vị trí của các đơn vị chủ lực của ta để tiến hành đánh lớn. Nguồn ảnh: Wiki 

Ngày 19 tháng 11, lực lượng Quân Giải phóng chốt ở điểm cao 1262 đánh lui 5 đợt phản kích của quân Mỹ, diệt 70 tên Mỹ. Ngày 20 tháng 11, chốt ở điểm cao 1294 diệt 20 tên lính Mỹ.

Không chiếm được cao điểm, quân Mỹ lại cho từng tốp B-52 và phản lực liên tiếp giội bom gần như san phẳng ngọn đồi, rồi lại tiến lên, nhưng lại bị Đại đội 7 đánh bật xuống. Trước chiến hào, quân Mỹ bắn xối xả, lựu đạn Mỹ ném vào chiến hào, bộ đội nhặt ném trả lại. Giao tranh ác liệt gây thương vong lớn cho cả hai bên. Tổ chiến đấu 3 người gồm Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc và Đỗ Văn Chuyên (thuộc đại đội 7) được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận đã đẩy lùi hàng chục đợt phản công chỉ bằng B-40, súng AK và lựu đạn, tiêu diệt được 102 tên Mỹ, lập kỷ lục về thành tích diệt địch của một tổ 3 người trong một trận chiến đấu.

Trên hướng đông bắc Đắc Tô - Tân Cảnh, trung đoàn 24-Quân Giải phóng và lực lượng vũ trang tỉnh Kom Tum đã đánh sâu vào thị xã Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh, đường 14, tiêu diệt nhiều lính Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch. Trong các ngày 17, 18, 19 tháng 11, chiến sự xảy ra ác liệt tại Ngọc Lan: 7 giờ ngày 17, tiểu đoàn 3 dù VNCH tiến công vào chốt của đại đội 7 thuộc tiểu đoàn 5 trung đoàn 24-Quân Giải phóng, bị đánh thiệt hại nặng, Mỹ liền đưa tiểu đoàn 2 vào tiến công, bị 2 đại đội của tiểu đoàn 5-Quân Giải phóng đánh bật xuống chân đồi, diệt hơn 100 lính, số còn lại cụm tại chỗ không dám tiến công. 5 giờ ngày 19, tiểu đoàn 5 bất ngờ tập kích cụm quân Mỹ này, diệt 170 lính. 2 tiểu đoàn dù VNCH bị thiệt hại nặng, QLVNCH đưa tiểu đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 42 lên cứu nguy, nhưng tiểu đoàn 5 đã hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch và rời khỏi khu vực Ngọc Lan.

                                 

Cuộc đụng độ ở cao điểm 875 được Mỹ coi là cuộc đụng độ đẫm máu nhất đối với quân đội nước này trong chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Thậm chí ở Mỹ, trận đụng độ ở cao điểm 875 mà Mỹ gọi là Đồi 875 thậm chí còn nổi tiếng hơn cả chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Ảnh: Mỗi đôi giày tượng trưng cho một binh lính Mỹ đã ngã xuống. Nguồn ảnh: Life.

Ở Gia Lai, Quân Giải phóng đánh 10 trận diệt 189 lính đối phương (có 114 lính Mỹ), bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 7 xe quân sự. Ở Đắc Lắc, Quân Giải phóng đánh 8 trận, diệt 250 lính đối phương (có 150 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 27 máy bay (có 1 chiếc C130), phá hủy 3 khẩu pháo, 2 xe M113, 1 kho đạn, 1 kho xăng.

Ngày 19 tháng 11, trong lúc quân Mỹ đang bị kìm chặt ở khu vực Cao điểm 875, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hạ quyết tâm dùng Trung đoàn 174 từ các hướng đã chuẩn bị sẵn, thực hành trận vận động tiến công tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 2 của Mỹ. Một số lính Mỹ sống sót cụm lại dưới chân cao điểm bị súng cối Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắn diệt. Ngày 20, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phục kích diệt thêm một số tên Mỹ, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng khi đến lấy xác lính Mỹ. Trong tổng số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, 123 lính đã chết và 252 bị thương

Tài liệu Mỹ nhận xét: "Vừa rạng đông, quân địch dùng súng cối bắn vào vị trí đóng quân của Mỹ. Quân Bắc Việt Nam đã xây dựng từ trước một hệ thống hỏa lực với các tuyến bắn phối hợp tinh vi. Họ đã điều khiển hỏa lực để tạo ra một giải bắn có tác dụng thu hút sự chú ý của quân Mỹ, giúp cho một số bộ đội Việt Nam có thể bí mật luồn vào phía sau đội hình quân Mỹ đã ở trên đỉnh đồi. Chiến thuật nghi binh này sẽ còn phát huy hiệu quả trong suốt ngày thứ tư".

                                  

Trong chiến dịch này, các cuộc đụng độ lớn giữa ta và địch chủ yếu chỉ diễn ra trên một vài cao điểm trọng yếu bao gồm cao điểm 882, cao điểm 875, cao điểm 724, cao điểm 823 và cao điểm 1262. Nguồn ảnh: Wiki. 

Ngày 20 tháng 11, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 8, lữ đoàn 1 Mỹ đổ bộ xuống bãi Le và tổ chức 7 lần tiến công lên điểm cao 875 nhưng đều bị đại đội 7-Quân Giải phóng bẻ gãy. Cùng ngày, một máy bay F-100 của Mỹ tới ném bom đồi 875. Viên phi công bị đèn chiếu làm lóa mắt và đã chọn sai hướng tiếp cận khi bổ nhào xuống đồi 875, khiến quả bom rơi trúng vào vị trí mà Tiểu đoàn 2 và 4 Mỹ đang đứng chân, quét sạch gần như toàn bộ sinh lực của Mỹ tại đó. 42 lính Mỹ chết và 45 lính khác bị thương sau vụ ném bom nhầm (trong cả ngày hôm đó quân Mỹ có 72 lính chết và 85 lính bị thương tại đồi 875). Tom Remington, một lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2 đã điên cuồng vồ lấy một điện đài, gọi về căn cứ, gào lên: "Hãy dừng ngay những cái máy bay bỏ mẹ kia. Không được để chúng tiếp tục ném bom. Chúng đang giết hết chúng tôi ở đây".

Phóng viên chiến trường Mỹ tường thuật: "Một đơn vị Mỹ đang chiến đấu giành sự sống và trận dội bom nhầm của một máy bay không quân đã giết chết 20 lính bị thương trước đó. Tám chiếc trực thăng bị bắn hạ khi cố gắng di chuyển những người bị thương khác vào sáng hôm đó. Không có cách nào để đưa những lính bị thương hoặc bất kì ai ra khỏi chiến trường... Cách duy nhất để phân biệt người sống và người chết là khi chứng kiến pháo cối của kẻ thù dội vào. Người còn sống đổ xô không một chút xấu hổ vào những boongke bé nhỏ được đào trên đỉnh đồi, người bị thương thì quằn quại bò tới ẩn nấp sau những bụi cây đổ xuống đất." Một phóng viên Nhật Bản đi cùng Lữ đoàn dù 173 Mỹ đã thuật lại rằng: "Tại cao điểm 875 gần biên giới, bộ đội chính quy Bắc Việt Nam đã đánh những đòn rất dữ dội, xác và ba lô của lính Mỹ tử trận chất cao như núi."

Cho đến 12 giờ ngày 22 tháng 11, đại đội 7 quân Giải phóng vẫn giữ vững chốt. Do dự trữ đạn dược không còn nhiều, chủ trương của Bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng là khi giải quyết xong thương binh, liệt sĩ sẽ bỏ chốt. Thực hiện ý định đó, 18 giờ 40 phút ngày 22, quân Giải phóng bỏ chốt 875, chỉ để 1 trung đoàn 12,7mm và 1 trung đoàn cối 82mm cơ động kiềm chế địch. Quân Mỹ tiến lên đồi chỉ gặp một số hỏa điểm thưa thớt, những cuộc chạm súng lớn đã không xảy ra. Đến 24 giờ, lính Mỹ lên được đỉnh đồi 875 thì Quân Giải phóng đã rút.

Đến ngày 27 tháng 11, lính Quân Giải phóng tại Cao điểm 875 lại diệt gọn một đại đội dù Mỹ, kết thúc chiến dịch Đăk Tô. Bộ chỉ huy Mỹ cho máy bay ồ ạt lên ném bom napalm trong một phạm vi rộng để tiêu hủy trận địa. Ngày 28 tháng 11, lực lượng dự bị của Lữ đoàn 173 cùng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 12 Quân đội Mỹ tới tham chiến, nhưng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chủ động rút lui.

                                 

Những cao điểm này đã phải hứng chịu hàng vạn quả đạn pháo của đối phương, cháy trụi hết cây cối và oằn mình dưới những màn dội bom từ B-52. Mặc dù vậy, phía Quân giải phóng vẫn ngoan cường bám trụ, tiến hành cơ động đánh địch trên địa hình trống trải, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Nguồn ảnh: Tom. 

Chiến dịch Đăk Tô tiêu hao sinh lực lính Mỹ nhiều hơn bất kì trận đánh nào trong cuộc chiến trước đó, nhưng chính quyền Mỹ vẫn tuyên bố đó như một chiến thắng khác, nhằm tăng giá trị cho thông điệp mà Tướng William Westmoreland gửi tới Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Washington vào cuối tháng 11 khi tuyên bố năm 1968 "sẽ là năm kết thúc chiến tranh".

Để có lý do tuyên bố "chiến thắng", tướng Westmoreland tuyên bố quân Mỹ đã giết chết 1.200 binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng một số tương đương bị thương. Tướng John Chaission tuyên bố quân Mỹ đếm được khoảng 1.200 thi thể quân Giải phóng  Thiếu tướng William B. Rossen, Phó chỉ huy MACV thì ước tính rằng phía Việt Nam đã mất từ 1.000 đến 1.400 binh sĩ. Tuy nhiên, con số thiệt hại của bộ đội Việt Nam do các tướng Mỹ đưa ra bị cho là phóng đại, bởi thực tế lính Mỹ chỉ thu giữ được 94 vũ khí cộng đồng và 275 vũ khí cá nhân của đối phương (các tướng Mỹ thường thổi phồng con số thương vong của đối phương để có lý do tuyên bố "chiến thắng"). Sau này, một đại đội trưởng Mỹ đã tố cáo rằng: trong một trận đánh, đại đội anh ta bị thương vong 78 người và báo cáo chỉ tìm thấy 10 quân Giải phóng tử trận, tướng Westmoreland rất tức giận vì quân Mỹ tổn thất nhiều hơn hẳn đối phương, và ông ta đã cố tình sửa lại con số 10 trở thành "475 kẻ địch bị giết", và công bố nó như là báo cáo hoạt động chính thức Và không phải tất cả các chỉ huy Mỹ đều đồng tình với kiểu tuyên bố dối trá đó. Tướng Thủy quân lục chiến John Chaisson phản đối việc tướng Westmoreland tuyên bố phóng đại thương vong của đối thủ: "Đó có phải là một chiến thắng không, khi bạn mất 362 chiến hữu trong ba tuần và chỉ đếm được 1.200 thi thể giả mạo của đối phương?"

                                 

Tổng cộng, trong số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, có 123 lính thiệt mạng tại chỗ và 252 lính bị thương, kèm theo 12 máy bay bị bắn rơi. Nguồn ảnh: Tumblr.                         

Về phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, họ tuyên bố đã đánh 57 trận, có 12 trận phòng ngự, 5 trận vận động tiến công kết hợp chốt, 6 trận vận động tiến công, 15 trận pháo kích, 1 trận phục kích, 1 trận tập kích, 1 trận tiến công thị trấn; loại khỏi vòng chiến 3.000 lính đối phương, trong đó có 2.000 lính Mỹ, phá hỏng nặng 2 sân bay, bắn rơi và phá hủy 38 máy bay (có 3 chiếc C-130), phá hủy 7 xe quân sự (có 2 xe thiết giáp). Toàn chiến dịch, Quân Giải phóng đã loại khỏi vòng chiến 4.570 lính đối phương (có 4.030 lính Mỹ); phá hỏng 3 sân bay, bắn rơi và phá hủy 70 máy bay, phá hủy 18 khẩu pháo, 52 xe quân sự có 16 xe thiết giáp, 2 kho đạn, 3 kho xăng, thu 104 súng các loại và 17 máy vô tuyến điện; diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ) và 6 đại đội (có 2 đại đội Mỹ); đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 173 dù VNCH và lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 Mỹ.

Phóng viên chiến trường Peter Arnett, người đã chứng kiến trận đánh và có những cuộc đàm thoại với John Paul Vann và một số sĩ quan quân đội thẳng thắn, thì kết luận "năm 1967 là màn dựng lên cho ván bài quân đội kết thúc ở Việt Nam vào năm 1968". Quân Mỹ thương vong hàng ngàn người chỉ để chiếm được những ngọn đồi hoang vu không giá trị, trong khi đó Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thì không cố giành giật trận địa mà mục đích chính là tiêu hao quân Mỹ càng nhiều càng tốt. Peter Arnett kết luận: "Chỉ huy Mỹ vẫn còn phân tích Việt Nam theo kiểu Chiến tranh thế giới thứ hai, còn những người cộng sản phân tích tình hình dựa vào cuộc chiến hất cẳng Pháp những năm 1950". Về lâu dài, chiến lược này sẽ khiến quân viễn chinh Mỹ kiệt sức, sa lầy giống như người Pháp trước đó

                                  

Tổng kết toàn chiến dịch, phía Quân giải phóng giành được cả hai chiến thắng về mặt chiến thuật và chiến lược. Phía Mỹ có 4570 lính thiệt mạng, mất 70 máy bay, 3 sân bay bị phá hỏng, 52 xe quân sự trong đó có 16 xe tăng-thiết giáp bị bắn cháy, 2 kho đạn và 3 kho xăng bị phá hủy hoàn toàn. Nguồn ảnh: Flickr.  

                                 

Trận Đăk Tô - 1967, được coi là chiến thắng lớn đối với quân ta khi đã tiêu hao nặng những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ, đây cũng được xếp vào là 1 trong 3 chiến dịch thắng lớn nhất trên địa bàn Tây Nguyên cùng với chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Đăk Siêng năm 1970. Nguồn ảnh: Press.          

Về phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trận Đăk Tô 1967 được coi là một chiến thắng lớn vì đã tiêu hao nặng những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Các đơn vị tham gia chiến dịch đã được Đảng tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất. Xã luận Báo Quân đội nhân dân, ngày 29/11/1967 ghi: "Chiến thắng Đăk Tô đã ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét vàng son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu Đông - Xuân quyết thắng 1967-1968 của miền Nam anh hùng". Đây là một trong 3 chiến dịch trên địa bàn Tây Nguyên trong chiến tranh chống Mỹ được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất: Chiến dịch Plây Me năm 1965, Chiến dịch Đăk Tô 1967 và Chiến dịch Đắk Siêng 1970.

9/Trận đồi không tên:   "1 chọi 20"

Ngày 9-1-2009, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho Tiểu đội vận tải Bùi Ngọc Đủ (thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo binh 84, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2). Đây là sự tôn vinh và ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc của tiểu đội từng đánh lui 15 đợt tiến công của 200 lính thủy đánh bộ Mỹ, tại Đồi không tên - chân dãy núi Cù Đinh, Cam Lộ, Quảng Trị.

Theo lịch sử Trung đoàn 84 và hồ sơ lưu trữ, vào ngày 26-2-1967, Tiểu đội Vận tải Bùi Ngọc Đủ nhận nhiệm vụ bảo vệ kho chứa 3.000 viên đạn H12 và H6, chờ trung đoàn tới tập kích hỏa lực vào căn cứ của Mỹ trên Điểm cao 241. Tiểu đội gồm 10 đồng chí tuổi từ 18 đến 24, do Trung sĩ Bùi Ngọc Đủ, Trung đội phó làm Tiểu đội trưởng, đồng chí Hạ sĩ Đặng Văn Hạng làm Tổ trưởng Đảng và 8 chiến sĩ gồm: Lương Văn Tầm, Nguyễn Hồng Kinh, Lương Văn Thành, Trịnh Đình Tía, Lê Văn Liên, Trương Ngọc Thịnh, Lê Bá Chính, Nguyễn Nhân Nhê. Trong 10 người có 3 chiến sĩ mới nhập ngũ, 7 đồng chí khác là cán bộ, chiến sĩ pháo binh thiện chiến. Tiểu đội được trang bị 4 súng AK, 6 súng trường, gần một nghìn viên đạn, 60 quả lựu đạn… 
 

Rạng sáng ngày 28/2/1967, thủy quân lục chiến Mỹ bất ngờ dùng trực thăng đổ 200 lính biệt kích, thủy quân lục chiến lên khu vực đồi Không Tên nhằm phá hủy kho đạn dược, mà theo đánh giá của Mỹ là cực lớn của quân giải phóng. Một trận đánh không cân sức đã diễn ra quanh con suối La La, ngay dưới chân đồi.

                                 Trận đánh kỷ lục 1 chọi 20 của quân giải phóng trên đồi Không Tên - Ảnh 1.

Khi đi lấy nước dưới suối La La về, Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ ngửi thấy mùi thuốc lá và nghe tiếng nói nhưng không hiểu được. Tiến gần hơn quan sát liền bị bắn xối xả, đồng chí Đủ lập tức bắn lại và hô tiểu đội về vị trí chiến đấu. Bọn địch dàn đội hình bao vây tiểu đội, 15 khẩu trung liên và các loại súng khác của chúng đồng loạt nhả đạn. Chúng hò hét định xông lên, Bùi Ngọc Đủ và Nguyễn Hồng Kinh dùng tiểu liên ghìm chúng lại. Hai quả lựu đạn của Lương Văn Tầm và Bùi Ngọc Đủ nổ ngay giữa đội hình địch. Đồng chí Hạng, đồng chí Tía cùng các chiến sĩ từ hai bên bắn lướt sườn chi viện cho Tầm và Liên ở công sự phía trước...

Dù bị tấn công bất ngờ, nhưng các chiến sĩ quân giải phóng không hề hoảng loạn, nhanh chóng bố trí đội hình chiến đấu, kiên nhẫn chờ cho địch đến thật gần mới đồng loạt nổ súng, vừa tạo ra hiệu suất tác xạ rất cao, vừa gây nên nổi khiếp đảm khủng khiếp cho quân Mỹ, khiến chúng tưởng rằng quân số của ta đông ngang bằng hoặc thậm chí hơn.

Bọn địch không dám ào lên nữa, chúng choáng váng bởi ngay đợt tấn công đầu tiên đã để lại trên trận địa 8 xác chết. Địch điên cuồng gọi pháo binh chi viện, song do cự ly của tiểu đội gần địch nên pháo binh của chúng không phát huy được hiệu quả, đạn đại liên của chúng cũng chỉ lướt trên cao. Địch vẫn như mù trước tài ngụỵ trang của tiểu đội. Yếu tố bất ngờ vẫn còn, các chiến sĩ ta kiên nhẫn đợi giặc vào gần và đánh lui đợt tấn công thứ hai của chúng… Cay cú, quân địch lại gọi pháo binh bắn phá và 4 máy bay phản lực, 2 trực thăng đến không kích… Đến đợt tấn công thứ tư, chiến sĩ Lê Bá Chính bị thương, chiến sĩ Nguyễn Nhân Nhê hy sinh từ đợt tấn công thứ hai. Tiểu đội chỉ còn lại 8 người, vì vậy đồng chí Đủ và đồng chí Hạng phải bắn thêm 2 khẩu súng... 

Biết rằng mình đang bị vây chặt, tất cả mọi ưu thế về quân số, hỏa lực, bố trí binh lực, tính bất ngờ… đều thuộc về địch, quân ta chỉ có ý chí quyết tâm cao và thông thạo địa hình, tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ chia quân thành 3 tổ, mỗi tổ 3 người phụ trách các hướng khác nhau.

Sau những đợt tấn công đầu tiên thất bại, lính biệt kích Mỹ đã phán đoán nhầm rằng quân giải phóng khá đông trên đồi nên gọi pháo binh và không quân cường kích chi viện, dồn dập trút pháo, bom lên các vị trí nghi ngờ có quân ta ẩn nấp.

                                Trận đánh kỷ lục 1 chọi 20 của quân giải phóng trên đồi Không Tên - Ảnh 3.

Đến khoảng 12 giờ trưa, tiểu đội đã bẻ gãy 10 đợt tấn công của địch. Cùng thời gian đó, một chiếc trực thăng bay thấp, cách tiểu đội khoảng 250m, chúng thả những thùng rất to nhưng không có tiếng nổ. Quan sát thấy địch kéo những chiếc thùng ra xa và từng nhóm ra ăn trưa, đồng chí Bùi Ngọc Đủ và Đặng Văn Hạng tranh thủ thời cơ hội ý tổ Đảng và các đồng chí còn lại, rút kinh nghiệm chờ địch vào gần hơn nữa mới bắn nhằm tiết kiệm đạn, nhưng cố gắng không phải đâm lê như những đợt tấn công trước. Đồng thời ngăn cản không cho địch lấy xác làm cho yếu tố tổ chức chiến đấu của chúng thêm rối loạn… Trời nắng nóng, mùi thuốc bom bốc lên khét lẹt rất khó chịu, nước uống thiếu, chỉ còn đủ cho đồng chí bị thương. Đói, khát, nói không ra tiếng, nhưng toàn tiểu đội vẫn xác định quyết tâm bảo vệ kho đạn đến cùng, còn một người cũng đánh. Lực lượng ít, tiểu đội xác định phải xử lý nhanh và linh hoạt… Hội ý xong, mọi người tranh thủ củng cố lại công sự, kiểm tra lại vũ khí trang bị, chuẩn bị chiến đấu tiếp. 

Khoảng 13 giờ chiều, địch mở những đợt tấn công mới, vẫn sử dụng đội hình tấn công như cũ, nhưng chúng dùng hỏa lực tổng hợp nhanh hơn, kết hợp cả pháo binh, máy bay phản lực, trực thăng nhưng số lượng bom đạn nhiều hơn, bộ binh trườn, bò thấp hơn… Song đều bị thất bại trước tinh thần chiến đấu vô cùng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ tiểu đội.

                                Trận đánh kỷ lục 1 chọi 20 của quân giải phóng trên đồi Không Tên - Ảnh 6.

Sau mỗi đợt bắn phá ác liệt, biệt kích địch lại lần lượt tấn công lên ngọn đồi. Cứ sau mỗi đợt tấn công của địch, tiểu đội của Bùi Ngọc Đủ hao mòn dần. Mặc dù bốn mặt bị vây chặt và bắt đầu có thương vong, nhưng những các chiến sĩ ta vẫn chiến đấu cực kỳ có kỷ luật. Nhiều chiến sĩ bị thương nặng nhưng không hề rên la, nhiều chiến sĩ không để đồng đội băng bó mà vẫn chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Có người ở trận đầu đã bị thương đến trận sau tiếp tục dính đạn, nhưng vẫn kiên cường chiến đấu cho đến khi bản thân không thể trụ được nữa, lăn ra bất tỉnh.

Lính Mỹ thay phiên nhau tấn công liên tục, dồn dập khiến các chiến sĩ của ta không có một phút nào được nghỉ ngơi, tất cả họ đều không ăn, không uống, nhịn mọi nhu cầu cá nhân, suốt một ngày trời quần nhau quyết liệt cùng địch trên ngọn đồi Không Tên. Đến cuối buổi chiều, quân địch đã gần như kiệt sức, không còn đủ sức tổ chức tấn công thêm.

Không hề có chi viện, chỉ lợi dụng địa hình địa vật, tận dụng các ụ đất, đá, con suối để ẩn nấp, bố trí hỏa lực một cách thông minh, các chiến sĩ quân giải phóng đã đẩy lui 15 đợt tấn công, của hơn 200 lính thủy quân lục chiến Mỹ được pháo binh và không quân chi viện, bảo vệ thành công kho đạn.

Đến khoảng 18 giờ, trong đợt tấn công thứ 15, phát hiện thấy tên chỉ huy địch lăm lăm súng ngắn trong tay, chiến sĩ Lương Văn Tầm liền đổi tiểu liên lấy súng trường ngắm cho chính xác. Súng nổ, tên sĩ quan địch vật ngửa đầu rồi đổ ụp xuống đất, bọn lính nháo nhác chạy lui... Trời sẩm tối, tiếng súng bộ binh im hẳn, trực thăng, máy bay ném bom cũng về hết, chỉ còn lại các trận địa pháo bắn cầm canh, thì cũng là lúc chỉ huy đại đội đưa lực lượng vào chi viện và chuyển 3.000 quả đạn pháo đi nơi khác an toàn. Quân địch để lại 41 xác chết trên trận địa, lực lượng bị thương chúng chuyển đi hết. Đơn vị thu được nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm. 

                               Trận đánh kỷ lục 1 chọi 20 của quân giải phóng trên đồi Không Tên - Ảnh 5.

Kế hoạch tấn công chớp nhoáng bằng lực lượng biệt kích tinh nhuệ của Mỹ, nhằm vào kho vũ khí quân giải phóng hoàn toàn thất bại, tổn thất 131/200 tên bị thương vong. Quân Mỹ buộc phải rút quân lúc chập tối ngày 28/2/1967, do lo sợ bị ta phản kích khi đêm xuống. Vào ban đêm, hỏa lực pháo binh và không quân của chúng cũng bị mù mắt, không thể chi viện.

Trong 10 người lính chiến đấu trên ngọn đồi Không Tên, 7 chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, 2 chiến sĩ bị thương nặng. Chiến công 1 diệt 20, Tiểu đội 10 người của Bùi Ngọc Đủ trở thành tấm gương cho toàn thể quân dân miền Nam, thi đua tiêu diệt quân Mỹ xâm lược vào thời điểm đó.

Với chiến thắng trên, Tiểu đội Vận tải Bùi Ngọc Đủ đã bảo vệ an toàn 3.000 quả đạn pháo, góp phần quan trọng để Trung đoàn 84 lập nên chiến thắng giòn giã ngày 7-3-1967, phá hủy 21 khẩu pháo, 30 xe vận tải, 5 xe tăng, diệt và làm bị thương hơn 1.000 tên địch. Bên cạnh đó, kỳ tích “1 thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ còn cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội ta trên khắp các mặt trận. Tất cả 10 cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đội đều được tặng thưởng huân chương Chiến công giải phóng. 

10/ Trận đồi Quang Thạnh: vơi khẩu hiệu viết bằng máu: “Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu phải trả bằng máu, quyết trả thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam Triều Tiên sát hại”.

Trước năm 1965 chính phủ Đại Hàn Dân Quốc đã gửi các đơn vị quân y và các võ sư sang tham gia vào các hoạt động giao lưu với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhằm dọn đường cho việc tham gia chính thức vào chiến trường Việt Nam sau này. Từ năm 1965 trở đi lần lượt các đơn vị chiến đấu của Đại Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham chiến. Đó là Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng quân ở Qui Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh “Bạch Mã” đóng ở Phú Yên, Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội An.

So với lực lượng giải phóng quân của ta thì quân Hàn Quốc được huấn luyện rất bài bản và được chọn lựa kỹ càng. Chúng rất thành thạo về các chiến thuật “phản” du kích, kỹ chiến thuật điêu luyện. Được huấn luyện đào tạo theo các giáo trình huấn luyện biệt kích của Mỹ, chúng rất gan lỳ và được đầu độc nặng nề về lòng căm thù chế độ Cộng sản. Ngoài ra ngay cả người Mỹ cũng phải kính nể về trình độ võ thuật của lính Hàn Quốc. Tiêu chuẩn của binh lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải có trình độ cao đăng môn Teakwon-do hoặc Happkido truyền thống của Đại Hàn.

                                Lực lượng lính "Rồng Xanh" của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam 

                             Lực lượng lính “Rồng Xanh” của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam

Lính Hàn Quốc có thể độc lập tác chiến và tự tìm cách duy trì sự sống trong rừng sâu khi bị lạc đơn vị trong chiến đấu một thời gian tương đối lâu. Chúng nghiên cứu quy luật chiến đấu và hoạt động của du kích ta rất kỹ lưỡng và đối phó khá hiệu quả trong thời gian đầu. Chúng tổ chức các đợt càn quét lớn và rộng, đêm đêm chia quân đi phục kích các vị trí nghi ngờ với sự kiên trì và tính kỷ luật cao độ. Khi đi càn chúng luôn luôn đi đầu, trực thăng Mỹ và pháo binh yểm trợ trên đầu và bộ binh Mỹ ủng hộ vòng ngoài.
 
Quân Hàn Quốc hoạt động gần như là độc lập với quân VNCH và không tin tưởng vào đồng minh trong vấn đề tác chiến. Chúng sẵn sàng nổ súng tiêu diệt mà không cần bắn cảnh cáo khi có một dân vệ VNCH đi lạc đường vào khu vực mà chúng chiếm giữ.
 
Quân ta gặp khá nhiều khó khăn và tổn thất khi đối đầu với lính Hàn Quốc. Chúng rất lỳ lợm trong việc phục kích và khủng bố dân trong các vùng chiếm đóng với cách thức hết sức dã man.
Quân đội Hàn Quốc gây ra rất nhiều tội ác man rợ, trời không dung đất không tha như giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn Sơn Tịnh Quảng Ngãi với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng bố răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên bị quân ta tiêu diệt…Điển hình trong số đó là các vụ tại Bình Hòa vào các ngày 3, ngày 5 và ngày 6/12/1966 nhằm trả đũa du kích Quân giải phóng Miền Nam. Trong phi vụ này, lính Nam Triều Tiên đã sát hại 430 người dân thường vô tội, trong đó có 269 phụ nữ, 104 người già, 174 trẻ em, có 3 gia đình đã không còn ai sống sót.
 
Các chiến sĩ ta vào trận với quyết tâm cao cùng với vành khăn tang trắng quấn trên đầu để tưởng nhớ những đồng bào bị giặc sát hại. Và các hoạt động “Khai tử Rồng Xanh ” liên tục diễn ra.
 
                                 Tổng hành dinh của binh sĩ Đại Hàn tại Ninh Hòa trong chiến tranh Việt Nam - South Korean Militar Headquater at Ninh Hoa in Viet Nam war  
                  Tổng hành dinh của binh sĩ Đại Hàn tại Ninh Hòa trong chiến tranh Việt Nam

Vào một ngày giữa năm 1966, như thường lệ lính Hàn Quốc lên trực thăng đi càn khá đông, chúng đổ bộ xuống một cánh đồng mà không biết đã có tiểu đoàn 48 quân giải phóng bố trí trận địa bao vây phục sẵn. Đợi bọn giặc vào thật gần cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch bị bất ngờ chống cự yếu ớt và tháo chạy tìm đường thoát thân. Quyết không để kẻ thù chạy thoát quân ta nhất loạt xung phong truy kích tiêu diệt địch. Cuối trận đánh địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, bỏ lại hơn 200 xác chết, chỉ có một số ít tháo chạy được.
 
Sau đó, nhiều đại đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gọn trong các trận bao vây và phục kích của ta. Địch bắt đầu hoang mang và chùn tay hơn khi đi càn quét.
 
Tuy nhiên, tinh thần của chúng chỉ gục ngã hẳn sau một trận đánh lớn, trận đánh giáng một đòn mạnh vào quân đội Hàn Quốc rung động đến cả Seoul và làm Tổng thống Park Chung Hee phải điên đầu. Đó là trận tấn công một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn “Rồng Xanh” nổi tiếng tàn ác khát máu đóng đóng tại đồi tranh Quang Thạnh tỉnh Quảng Ngãi
 
Sau trận đánh hủy diệt khiến 420 binh lính Hàn Quốc thiệt mạng, 6 tên còn sống sót ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
 
Trận đánh này có ý nghĩa rất lớn, nó củng cố tinh thần cho quân giải phóng, làm hả lòng hả dạ đồng bào Quảng Ngãi nơi quân giặc đã gây ra nhiều tội ác tày trời. Làm tan rã ý chí chiến đấu và sự hung hăng của quân Hàn Quốc đánh thuê. Đặc biệt, trận này không phải là ta phục kích đánh lẻ tẻ mà đánh tiêu diệt xoá xổ một lực lượng cỡ tiểu đoàn trong một căn cứ phòng ngự vững chắc được kết cấu bởi một hệ thống các công sự phòng ngự kèm các lô-cốt cố thủ bao quanh bởi một hệ thống dây kẽm gai gài mìn nhiều tầng được giám sát bảo vệ bởi các tốp lính đi tuần và canh gác cẩn mật.
 
                                Lính Đại Hàn - Binh sĩ Hàn Quốc sư đoàn Bạch Mã đang thẩm tra dân làng ở Bồng Sơn trong chiến tranh Việt Nam - South Korea soldier White Horse division was investigating suspected civils at Bong Son in Viet nam war 
           Lính Đại Hàn – Binh sĩ Hàn Quốc sư đoàn Bạch Mã đang thẩm tra dân làng ở Bồng Sơn trong chiến tranh Việt Nam
 
Mục tiêu của ta đề ra là phối hợp các tiểu đoàn chiến đấu vận động bí mật tiếp cận mục tiêu theo hình thức đặc công. Đến nơi tạo 4 cửa mở ở bốn góc bằng cách gài bộc phá để phá đồng loạt các hàng rào dây kẽm gai sau đó đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt quân địch trong cứ điểm bằng AK, lựu đạn và súng phun lửa kết hợp với DKZ và B-40 ở bên ngoài. Yếu tố bất ngờ đóng vai trò chủ đạo và trận đánh phải sẽ diễn ra vào khoảng 10 giờ tối và phải kết thúc trước càng nhanh càng tốt trước khi trời sáng để đề phòng quân địch ở các căn cứ khác kéo đến tiếp viện và hạn chế hoả lực của phi pháo bắn tiếp cứu
 
Trận đánh bắt đầu đúng như kế hoạch, ta dùng 4 mũi tấn công bí mật tiếp cận từ các hướng, giữa các mũi tấn công luôn luôn đảm bảo liên lạc thông suốt với nhau và với ban chỉ huy trận đánh. Tuy nhiên do rải lộ tiêu không tốt mà một mũi tấn công bị lạc đường mất liên lạc và không đến vị trí tập kết được. Mặc dù chỉ còn ba mũi nhưng ta vẫn quyết định tấn công cứ điểm. Ta đã thành công trong việc bịt mắt bọn đi tuần và bọn gác bên ngoài. 3 mũi bí mật tiếp cận các cửa mở và đã đặt bộc phá xong, chỉ huy trận đánh ra lệnh đồng loạt phát hoả để mở các cửa.
 
Sau những tiếng nổ của bộc phá và DKZ, B-40 cùng lựu đạn. Quân ta nhất loạt xung phong đột phá qua các cửa mở dùng AK bắn xối xả vào các giao thông hào, các ụ phòng ngự có đặt trung liên, và các khu dã chiến cho lính ngủ nửa chìm nửa nổi. Bọn địch bị hoàn toàn bất ngờ , vòng ngoài nhanh chóng bị hoả lực của ta tiêu diệt. Số còn lại lùi vào bên trong vừa phản kích dữ dội vừa tìm cách tập trung lực lượng dựa vào các lô cốt phòng ngự. Nắm được ý đồ của địch, ta vừa tăng cường sức tiến công vừa bao vây chia cắt địch theo từng khu vực để tiêu diệt và gọi hàng.
 
                                Lính Đại Hàn thuộc sư đoàn Mãnh Hổ đang áp giải 10 người bị tình nghi ở Ninh Hòa năm ngày 20 tháng 2 1966 trong chiến tranh Việt Nam - A string of ten blindfolded Viet Cong suspects is led to his base camp by a soldier of the Korean Tiger division on Feb. 20, 1966 in Viet Nam war 
Lính Đại Hàn thuộc sư đoàn Mãnh Hổ đang áp giải 10 người bị tình nghi ở Ninh Hòa năm ngày 20 tháng 2 1966 trong chiến tranh Việt Nam

Mặc dù sức tấn công của ta mạnh ở 3 mũi nhưng do thiếu một mũi tấn công thứ tư cho nên việc chia cắt cô lập địch thành các khu nhỏ để bao vây tiêu diệt triệt để trở nên khó khăn. Quân Hàn Quốc dựa vào các lô-cốt hầm ngầm điên cuồng chống cự bằng trung liên, nhất quyết không đầu hàng. Ta dùng súng phun lửa và lựu đạn tiêu diệt các ụ phòng ngự ngoan cố này.

Đến gần sáng, ta làm chủ phần lớn cứ điểm, căn cứ ngổn ngang xác địch. Do sơ hở, ta để một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ từ bên ngoài đánh vào tiếp cứu và chúng co cụm vào 2 lô-cốt kiên cố nhất ở trên cao, dùng hoả lực chống cự quyết liệt…

Lúc này phi pháo ở bên ngoài bắn vào dữ dội hơn. Do bên trong căn cứ lúc này chủ yếu là quân ta cho nên chỉ huy trận đánh ra lệnh giải quyết số thương binh tử sĩ và rút lui dần vì nếu kéo dài đến sáng sẽ không có lợi.

4 giờ sáng quân ta rút lui an toàn ra khỏi căn cứ đồi tranh Quang Thạnh.

                                   Lính Đại Hàn sư đoàn Mãnh Hổ trong trận đánh ở Bồng Sơn năm 1966 trong chiến tranh Việt Nam - South Korea Capital Tiger Division at Bong Son in Viet Nam war 1966 

Lính Đại Hàn sư đoàn Mãnh Hổ trong trận đánh ở Bồng Sơn năm 1966 trong chiến tranh Việt Nam 

Mặc dù không tiêu diệt được 100% quân số địch, không bắt được tù binh nhưng số mà ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu đủ để xoá sổ tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn Rồng Xanh đóng tại đây. Trận này ta tiêu diệt tại chỗ 420 lính Hàn Quốc (chúng có khoảng 500 tên trong căn cứ).

Đây là một trận đánh lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh qụy Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến Rồng Xanh, giáng một đòn chí tử vào đội quân đánh thuê tàn ác, củng cố tinh thần cho bộ đội khu Năm về khả năng đánh địch trong cứ điểm phòng ngự kiên cố. Âm vang của trận đánh lớn đến nỗi làm lình Hàn Quốc sống sót mất hết tinh thần. Sau trận đánh, sáu tên lính Park Chung Hee ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.

Ở các nơi có bọn Đại Hàn đóng quân, một số đem súng tìm du kích để đầu hàng. Một số thông qua dân nhắn bộ đội giải phóng đừng có bắn chúng, đổi lại chúng sẽ chỉ đi càn lấy lệ

Sau chiến thắng này bà con ta hả lòng hả dạ và yên tâm bám đất ủng hộ du kích kiên quyết không vào các ấp chiến lược do địch cưỡng chế.

11/ Mở đường Trường Sơn:          "...Trường Sơn, đông nắng, tây mưa
                                                       Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình....

                                               (Trích "Nước non ngàn dặm" - Thơ Tố Hữu)

Cái mà ngày này được gọi là đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh hay Đường 559, còn có biệt danh là Đường mòn Hồ Chí Minh hay Đường dây "Ông Cụ",ban đầu có lẽ là những đường mòn thô sơ được thổ dân vùng cao Đông Dương sử dụng cho mục đích mậu dịch thương mại, hoặc là những "thượng đạo" kết nối các hậu cứ kháng chiến của phong trào Cần Vương (1885–1896) đời vua Hàm Nghi. Trong những năm tháng Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), Việt Minh đã có ý tưởng khai phá con đường nội địa Đông Dương để chi viện cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Theo sau sự phân định hai vùng tập kết quân sự tại vĩ tuyến 17 vào năm 1954, mạng lưới đường bị tạm ngưng sử dụng trong khi tình hình chiến sự lắng xuống. Với sự sụp đổ của thỏa thuận tổng tuyển cử toàn quốc vào năm 1956 và chính sách đàn áp cộng sản của chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Sang thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, trước yêu cầu ngày càng cao của tiền tuyến miền nam, nếu chỉ dựa vào những con đường mòn nhỏ hẹp như vậy thì không thể vận chuyển đủ và kịp thời nhân lực, vật lực cho quân và dân miền nam đánh Mỹ; cho nên, việc khai thông, mở rộng hệ thống đường mòn Trường Sơn thật sự cấp thiết. Nhận thức rõ yêu cầu của thực tiễn lịch sử, tháng 5/1959, Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 15 khẳng định: “Đây là một việc làm lớn, có ý nghĩa chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc”

                                Nữ chiến sĩ Trường Sơn trên tuyến đường huyền thoại 

             Những nữ thanh niên xung phong một thời trên tuyến lửa Trường Sơn (Ảnh tư       liệu)                              

Ngày 5/5/1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy T.Ư) quyết định thành lập Phòng Nghiên cứu công tác chi viện quân sự miền nam, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, do Thượng tá Võ Bẩm làm Trưởng phòng, có nhiệm vụ: mở một con đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn từ bắc vào nam để chuyển nhân lực, vật lực từ miền bắc phục vụ cách mạng miền nam cũng như cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Đến ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị T.Ư Đảng quyết định thành lập Đoàn 559, xây dựng tuyến chi viện chiến lược.

Ngày 19/5/1959 trở thành Ngày truyền thống của Đoàn 559 - Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn.

Đi vào hoạt động, Đoàn 559 chọn khe Hó - nằm giữa một thung lũng ở tây nam Vĩnh Linh là địa điểm xuất phát để tiến vào Trường Sơn “soi đường”, lập trạm. Sau một thời gian, ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn. Sau tám ngày đêm vượt qua sông sâu, suối dữ, đèo cao và hệ thống đồn bốt chốt chặn nghiêm ngặt của địch, hàng được bàn giao cho chiến trường Trị Thiên. Đây là dấu mốc có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, vì mỗi khẩu súng, viên đạn đến với chiến trường là thể hiện “ý Đảng”, “lòng dân”.

Trong thư gửi Đoàn 559 nhân dịp Xuân Canh Tý (1960), Tổng Quân ủy đánh giá: “Các đồng chí đã đảm nhận một nhiệm vụ rất vinh quang, góp phần cống hiến rất cụ thể vào sự nghiệp đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc của nhân dân ta... Nhờ có tinh thần yêu nước, cách mạng cao, nên các đồng chí đã vượt khó khăn gian khổ, đạt được những kết quả bước đầu rất tốt đẹp...”.

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã tập trung đánh phá hệ thống giao thông này bằng hàng loạt các chiến dịch bộ binh và không quân. Hàng triệu tấn bom đạn đã được Mỹ ném xuống. Một hệ thống máy móc trinh sát điện tử, được gọi là Hàng rào điện tử McNamara, đã được sử dụng để trinh sát việc vận chuyển và chỉ điểm cho máy bay ném bom. Ngoài ra, quân đội Mỹ còn thường xuyên rải chất độc màu da cam cùng một số loại chất độc diệt cỏ khác để làm trụi rừng cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được Mỹ sử dụng để cản trở giao thông. Bất chấp tất cả những biện pháp tinh vi và đắt đỏ đó, đường Trường Sơn vẫn không bị cắt đứt mà ngày càng trở nên tinh vi và hoàn thiện hơn. Theo Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (National Security Agency), đường Trường Sơn được quân đội Hoa Kỳ coi là "một trong những thành tựu kiến trúc quân sự vĩ đại nhất của thế kỷ 20".

                                100 hình ảnh về "Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại" 

Những ngày đầu tiên khai phá đường Trường Sơn, bộ đội ta đã bí mật vạch tuyến đi qua những vùng núi hiểm trở, cheo leo với khẩu hiệu "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng".

 Năm 1973, trong dịp vào thăm và kiểm tra bộ đội đường Trường Sơn, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đảng phát biểu: “Vinh quang thay Bộ đội Trường Sơn anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại! Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn hãy phát huy truyền thống oanh liệt của quân đội ta để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của con đường chiến lược vẻ vang này trong giai đoạn mới của cách mạng”. 

Chỉ tính riêng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển lần lượt 413.450 tấn vũ khí và hàng hóa các loại, trong đó có cả vũ khí hạng nặng, như: pháo cơ giới, xe tăng,... góp phần quyết định thực hiện thắng lợi chủ trương chiến lược giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Biết rõ đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là con đường chiến lược nối liền nam - bắc, cho nên Mỹ quyết tâm đánh phá. Do đó, đường Trường Sơn đã trở thành chiến trường thử nghiệm chiến lược “chiến tranh ngăn chặn”, “chiến tranh bóp nghẹt” bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với các loại thiết bị, vũ khí hiện đại của nền khoa học - công nghệ cao của Mỹ. Ngày 31/12/1971, Báo Lơ Phi-ga-rô đăng bài viết của học giả Giắc-cơ Rơ-ma, khẳng định: Điều làm cho người ta buồn phiền là đường mòn Hồ Chí Minh không thể phá hủy được... Nước Mỹ đã chi tiêu hàng tỷ đô-la để hòng bóp nghẹt đường mòn Hồ Chí Minh. Nó vẫn tồn tại. Nó là con rắn trăm đầu luôn mọc lại. Không phải là những cái đầu mà chính là những cánh tay của con rắn này luôn mọc lại vì không thể bị chặt đứt cùng một lúc. Còn Cục Tình báo Trung ương Mỹ khẳng định: “Đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành trận đồ bát quái trong rừng rậm”. Nhà báo Pháp Van Giê nhận xét: “Đường mòn Hồ Chí Minh không chỉ là con đường tiếp tế mà còn là biểu tượng của cuộc chiến tranh Việt Nam...”.

                                  Công bố 100 tư liệu và hình ảnh về đường Trường Sơn huyền ... 

Các chiến sĩ của trung đoàn 70 - đơn vị đầu tiên của bộ đội Trường Sơn - đang thồ hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.

Trong giai đoạn kháng chiến Chống Pháp, tiền thân của tuyến đường mòn Hồ Chí Minh sau này gồm bốn tuyến đường chính là:

Tuyến 1: Đường thượng (Tây Trường Sơn): Từ Chu Lễ (Hà Tĩnh) đi bộ vào ga Tân Ấp (Quảng Bình) rồi xuyên tây Quảng Bình vào Khe Sanh qua Quốc lộ 9A đến Ba Lòng là chiến khu của Quảng Trị.

Tuyến 2: Đường Đông Trường Sơn: cũng từ Chu Lễ nhưng có một đoạn đi xe goòng (toa xe lửa nhỏ, đặt trên ray vừa kéo vừa đẩy) vào tới Minh Cầm (nay là Minh Hóa, Quảng Bình) rồi đến vùng đông Quảng Trị, ngược lên Ba Lòng.

Tuyến 3: Từ chiến khu Ba Lòng vào khu 5, đi xuyên lên A Lưới, vào bến Hiên (nay là Đông Giang, Quảng Nam) rồi đi tiếp vào Bình Định.

Tuyến 4: Từ khu V vào Nam Bộ: Từ dốc Chanh (Phú Yên) đi đến hòn Dữ (Khánh Hòa) xuyên qua núi Ba Cụm, đến trạm Mã Đà và sau đó đến trạm Đội Lào (Tà Lu, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).

Một số phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình thức các con đường mòn sơ khai dành cho việc giao thông buôn bán trong vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua đã là một trong những vùng đất có địa hình hiểm trở nhất Đông Nam Á: núi cao, ít dân, rừng rậm nhiệt đới. Trong những năm đầu của Chiến tranh Đông Dương, Việt Minh đã sử dụng hệ thống đường mòn này làm đường nối liền Bắc Nam, một trong các tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền để tránh sự truy quét của quân Pháp. Tháng 5 năm 1958, các lực lượng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao thông tại Sê Pôn (Tchepone), trên đường 9 thuộc địa phận Lào.

                                Gian khổ và khí phách anh hùng của Bộ đội Trường Sơn.

                                                  Bộ đội đi bộ gùi hàng vào Trường Sơn .

Năm 1959, khi xung đột quân sự lên cao giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ Ngô Đình Diệm, chính phủ Hà Nội gửi Đoàn 559 (mới được thành lập vào tháng 5 năm 1959) vào Nam để xây dựng hệ thống đường Trường Sơn với lực lượng gồm một tiểu đoàn giao liên D301 với 440 người. Đoàn trưởng là Thượng tá (sau này là Thiếu tướng) Võ Bẩm (nguyên Cục phó Cục Nông binh thuộc Tổng cục Hậu cần). Đoàn có nhiệm vụ vừa vận chuyển vừa mở đường hành quân. Với phương châm "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" để đảm bảo bí mật tối đa, toàn bộ vũ khí và hàng mang theo đều là các loại cũ từ thời Pháp, thậm chí đoàn còn dùng ván gỗ để khi đi không để lại dấu vết trên đất rừng.

Trong những năm đầu của cuộc xung đột (1960-1964), đường Trường Sơn chủ yếu được dùng để chuyển quân, do hệ thống hạ tầng đường sá trên tuyến còn hạn chế, chưa phát huy được phương tiện cơ giới, nên khi đó việc vận chuyển tiếp viện hậu cần, súng đạn vào Nam chủ yếu là thông qua tuyến đường chi viện trên biển bằng những "con tàu không số" đã thực sự có hiệu quả cao hơn.

                                 Đường Trường Sơn xưa Ảnh tư liệu 

Theo văn bản lịch sử chính thức của cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ ghi lại thì Đường Trường Sơn được quân đội Mỹ coi là “một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20 

Tuyến đường mòn phía Đông Trường sơn có địa hình hiểm trở dốc cao phức tạp, nên từ năm 1961, đoàn 559 tiến hành khảo sát và mở tuyến giao thông của mình sang sườn Tây của dãy Trường Sơn.Một năm sau, đoàn 559 được bổ sung quân số thêm 6.000 người, biên chế thành hai trung đoàn 70 và 71. Con số này không bao gồm các lực lượng chiến đấu với nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường và lực lượng dân công Việt, Lào. Sau các cố gắng của hải quân Mỹ nhằm ngăn chặn hoạt động của miền Bắc trên vùng biển ven bờ bởi Chiến dịch Market Time, hoạt động đường Hồ Chí Minh trên biển bị chững lại một thời gian, thì lúc này đường Trường Sơn đã được hoàn chỉnh hơn, đủ năng lực thực hiện cả hai nhiệm vụ: vừa chuyển quân vừa chuyển Vật chất hậu cần từ miền Bắc vào Nam, đồng thời còn tổ chức được hệ thống kho tàng dọc theo biên giới mà sau được gọi là các "Khu căn cứ" (Base Area), nơi này đến lượt nó lại trở thành các thánh địa cho các lực lượng Quân giải phóng miền Nam dưỡng quân và tái trang bị sau khi thực hiện các hoạt động quân sự bên trong lãnh thổ do đối phương kiểm soát.

Ban đầu, hàng hóa được vận chuyển bằng xe đạp thồ, xe bò. Đến tháng 12 năm 1961, Đoàn vận tải số 3 của Tổng cục Hậu cần đã trở thành đơn vị vận tải sử dụng xe cơ giới đầu tiên của QĐNDVN phục vụ trên đường Trường Sơn. Từ đây, vận tải cơ giới tăng lên nhanh chóng.

Có hai loại đơn vị thuộc Đoàn 559 là: các binh trạm và các đơn vị giao liên. Một binh trạm tương đương với một trung tâm hậu cần cấp trung đoàn, có trách nhiệm bảo vệ một đoạn đường. Trong khi các đơn vị độc lập chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh, công binh và các chức năng đánh tín hiệu thông tin, binh trạm cung cấp các nhu yếu phẩm, dịch vụ hậu cần. Giữa các binh trạm là các trạm giao liên thường đóng cách nhau một ngày đường đi bộ, có trách nhiệm cung cấp lương thực, chỗ trú, y tế, và dẫn đường tới binh trạm tiếp theo.

                                Hình ảnh tuyên thệ, vượt núi băng rừng trên đường Trường Sơn huyền thoại 

Đoàn xe vận tải Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) đưa hàng hóa vào chiến trường, vượt qua trọng điểm ngã 3 Đồng Lộc, Nghệ Tĩnh. 

Đến tháng 4 năm 1965, chỉ huy Đoàn 559 là tướng Phan Trọng Tuệ, quân số đã tăng lên tới 24.000 người, được biên chế trong 6 tiểu đoàn vận tải bằng xe ô tô tải, 2 tiểu đoàn vận tải xe đạp thồ, một tiểu đoàn vận tải đường thủy, 8 tiểu đoàn công binh, và 45 trạm giao liên. Khẩu hiệu của Đoàn 559 khi đó là "Đánh địch mà tiến, mở đường mà đi

Từ năm 1961 - 1964, đoàn 559 đã xây dựng 751 km đường vận tải ô tô, 600 km đường gùi thồ, 300 km đường sông; vận chuyển 10.136 tấn hàng (trong đó giao cho chiến trường 2.912 tấn, chủ yếu là vũ khí đạn dược). Từ tháng 9/1962 - 2/1965, Đoàn 759 chuyển vào chiến trường 4.919 tấn vũ khí đạn dược. Cho đến mùa khô 1964-1965, hệ thống đường Tây Trường Sơn được phát triển thành một mạng lưới của các con đường đất (một số đoạn được rải đá hoặc lót ván gỗ) rộng khoảng 5,5 m, đường cho người đi bộ và xe đạp thồ, bãi đỗ xe tải. Còn có kho chứa, bãi chứa hàng, doanh trại, bệnh viện, và các cơ sở vật chất khác. Tất cả được che giấu khỏi quan sát từ trên không bằng một hệ thống ngụy trang tự nhiên và nhân tạo được mở rộng và củng cố, góp phần tăng năng lực thông xe đáng kể cho toàn tuyến.

                                   

                                                     Một binh trạm trên đường Trường Sơn

Đầu năm 1965, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559. Cuối năm 1965, Đại tá Hoàng Văn Thái (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) được cử làm Tư lệnh và Đại tá Trần Ngọc Giao (Cục trưởng Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần) được cử kiêm nhiệm Phó Tư lệnh. Đại tá Vũ Xuân Chiêm (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) được cử làm Chính ủy Đoàn 559. Đến cuối năm 1966, Đại tá Đồng Sĩ Nguyên (nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) được cử làm Tư lệnh Đoàn 559 cho đến khi Đoàn 559 kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình (1976).

Theo ước lượng của tình báo Mỹ, số quân vào Nam theo đường Trường Sơn là trong năm 1961 là 5.843, năm 1962 là 12.675 (con số thực là 5.300); năm 1963 là 7.693 (thực là 4.700); và năm 1964 là 12.424 (thực là 9.000). Năm 1964, khả năng cung ứng của đường Trường Sơn đã đạt đến từ 20 đến 30 tấn mỗi ngày. Năm 1965, nhờ có các tuyến đường mới mở (trong đó có các tuyến đi qua Campuchia), lượng vật chất hậu cần được chuyển vào Nam trong năm này gần bằng tổng của 5 năm trước.

 Cuối năm 1968, tình báo Mỹ đã có một phát hiện gây sốc, đó là phát hiện về hệ thống đường ống dẫn xăng dầu chạy ở phía tây nam từ Vinh.

Thực sự đó là một tuyến đường ống dẫn xăng dầu đang được triển khai với điểm đầu là từ biên giới Việt - Trung chạy về hướng nam, sẽ vào đến miền Đông Nam Bộ. Nó được xây dựng bắt nguồn từ ý chí và quyết tâm cao độ của tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và trí thông minh, lòng dũng cảm và sự hy sinh lớn lao của cán bộ chiến sĩ ngành xăng dầu Quân đội nhân dân Việt Nam và đặc biệt là của bộ đội xăng dầu Trường Sơn.

Tuyến đường ống xăng dầu chiến lược Bắc - Nam nhằm chi viện cho chiến trường miền Nam: được xuất phát bắt đầu từ hai trạm thuộc biên giới Việt - Trung là Lạng Sơn và Quảng Ninh, hai tuyến đường ống cùng dẫn về trạm Nhân Vực, thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội. Từ đây, được hợp lại thành một đường ống chạy thẳng vào miền Trung qua Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Đến đây tuyến ống được chia làm hai ngả (do bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm xây dựng, bảo vệ và vận hành): một ngả theo đường Đông Trường Sơn đi qua Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, qua Tây Nguyên, vượt Kon Tum, xuống Đắc Nông. Ngả thứ hai lại vượt đèo Mụ Giạ, sang Lào vươn tới hạ Lào, rồi vượt qua biên giới Lào và Campuchia để vào tới Đắc Nông. Trên toàn bộ hệ thống (tuyến ống hai nhánh qua Đông và Tây Trường Sơn) có với chiều dài 1.450 km với tổng cộng 316 trạm bơm đẩy, 101 kho với sức chứa trên 300 nghìn m3. Bộ đội xăng dầu đã tập trung một lực lượng gồm: 9 trung đoàn đường ống, 2 trung đoàn công trình, 1 trung đoàn thông tin, 2 nhà máy cơ khí, 3 tiểu đoàn xe vận tải.

                                              

                     Quân đội nhân dân Việt Nam đang hành quân trên đường Trường Sơn qua Lào.

Đến tháng 3/1975, trước yêu cầu của chiến trường, bộ đội Trường Sơn đã quyết tâm hoàn chỉnh hệ thống đường ống xăng dầu, liên hoàn Đông và Tây Trường Sơn, khẩn trương kéo dài thêm được 596 km đường ống tới tận vùng giải phóng, mà điểm cuối của tuyến ống là Bù Gia Mập, bàn giao cho Cục hậu cần Quân giải phóng tại Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (miền Đông Nam bộ) thuộc địa bàn chiến trường B2.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tuyến đường đã bảo đảm cơ động nhanh chóng 3 quân đoàn, 5 sư đoàn và 2 trung đoàn binh chủng vào chiến dịch, phục vụ hành quân đi các chiến trường 411 nghìn người (cả dân sự)

Trong suốt 7 năm (1968 - 1975), tuyến ống này được xây dựng vận hành, đã nhập vào tuyến hơn 317.000 tấn xăng dầu, đã cấp được 5,5 triệu m3 xăng dầu, cung ứng một nguồn vật chất hậu cần hết sức thiết yếu cho các chiến trường.

Nhìn chung, trải qua 16 năm (1959-1975), kể từ ngày đầu “soi đường”, “mở lối” cho đến khi kết thúc chiến tranh, chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã phải đương đầu với sự ngăn chặn khốc liệt, tàn bạo, bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn, nhiều loại phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ của kẻ thù. Tính đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm. Các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400 km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140 km "đường kín" cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm.

 Tuy nhiên, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, lực lượng chiến đấu, công tác trên đường Trường Sơn suốt bao năm ròng không tiếc tuổi xuân, không tiếc máu xương, vì sự sống của con đường, đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bền bỉ và kiên cường trụ bám trận địa, trụ bám mặt đường, giữ vững mạch máu giao thông, đập tan mọi âm mưu và hành động đánh phá ngăn chặn của quân thù. Nhờ đó, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn không ngừng phát triển, đáp ứng sự chi viện to lớn, toàn diện, liên tục, mạnh mẽ của hậu phương lớn miền bắc cho tiền tuyến lớn miền nam. Những tháng năm rầm trời bom đạn ấy, miền bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của cả chế độ cho miền nam, với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Lớp lớp thanh niên rời ruộng đồng, xưởng máy, trường học, theo tiếng gọi của non sông đất nước, lên đường đánh giặc với ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành”...Tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong việc quyết định mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh.

                                  

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Trong số hơn 20.000 người đã ngã xuống trên chiến trường Trường Sơn, đến nay đã quy tập được hơn một vạn hài cốt về đây.

Tính đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm. Các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400 km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140 km "đường kín" cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm.

Trong 16 năm, tuyến hậu cần chiến lược đường Trường Sơn đã vận chuyển hơn 1 triệu tấn vật chất, vũ khí vào các chiến trường; đưa hơn 2 triệu lượt người hành quân; cơ động 10 lượt sư đoàn, hộ tống hơn 90 đơn vị kỹ thuật vào các chiến trường; cứu chữa gần 1 triệu lượt thương bệnh binh; đưa hơn 500.000 người từ tiền tuyến trở về hậu phương, trong đó có hơn 300.000 thương bệnh binh. 

12/ Đường Hồ Chí Minh Trên biển - những đoàn tàu không số:

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuyến chi viện quân sự chiến lược trên biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con đường huyền thoại của dân tộc, con đường của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Cùng với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ, đường Hồ Chí Minh trên biển đã kết nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, vận chuyển kịp thời, hiệu quả vũ khí và lực lượng, góp phần quan trọng vào Đại thắng mùa Xuân 1975.

Tiền thân đường Hồ Chí Minh trên biển là hải lộ ven bờ do những người trong hàng ngũ Việt Minh ở Nam Bộ thực hiện lần đầu tiên. Năm 1946, lực lượng Việt Minh ở Nam Bộ đã tổ chức chuyến đi của một thuyền đánh cá xuất phát từ Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ra Bắc xin tiếp tế vũ khí. Tàu cập bến trong vùng Việt Minh kiểm soát tại Tuy Hòa, Phú Yên. Những người trên tàu ra Bắc bằng tàu hỏa. Số vũ khí được Quân đội nhân dân Việt Nam cung cấp cũng được chuyển vào Phú Yên bằng tàu hỏa và chất lên thuyền chở vào Bến Tre.

Tháng 7-1959, tiểu đoàn vận tải biển 603 được thành lập, đóng tại cửa biển sông Gianh- Quảng Bình với tên gọi là "Tập đoàn đánh cá Sông Gianh". Thuyền được nguỵ trang giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam. Sau một thời gian tập luyện, thăm dò và chuẩn bị mọi mặt, đêm ba mươi Tết Canh Tý (ngày 27 tháng 1 năm 1960), chuyến tàu đặc biệt đầu tiên xuất phát, gồm 2 tàu và 6 người, do Nguyễn Bất chỉ huy đã đi chuyến vào Khu 5. Nhưng chuyến tàu bị gặp bão, thuyền bị hỏng nặng rồi lại gặp tàu tuần tra của địch, phải thả hàng xuống biển rồi rút lui.

Thời kỳ ban đầu, đoàn tàu gồm các tàu vận tải cỡ nhỏ để thâm nhập vào miền Nam, mặc dù có số hiệu đầy đủ, song để giữ bí mật, các tàu này không sơn số hiệu lên thân tàu. Vì thế, những con tàu này được biết đến với tên gọi chung là "Đoàn tàu Không số".

                                

Khu di tích Bến tàu K15, Đồ Sơn, Hải Phòng, nơi xuất phát của các con tàu không số vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam.

Từ tháng 6 năm 1961 đến tháng 2 năm 1962, những người lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa đã cử năm con thuyền gỗ từ miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí và sau đó trực tiếp vận chuyển vũ khí cũng như dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả dạng tàu đánh cá từ Bắc vào Nam. Những người chỉ huy chủ chốt gồm các ông Phan Văn Nhờ (tức Tư Mau), bà Nguyễn Thị Định, ông Bông Văn Dĩa... Trong số 5 chiếc thuyền gỗ, chiếc thuyền của Bà Rịa đã bị lực lượng tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chặn bắt tại ngoài khơi Cam Ranh. Không phát hiện thấy nghi ngờ, con thuyền này được trả tự do. Sau đó nó bị bão đánh trôi dạt đến đảo Hải Nam. Đây là chiếc thuyền do ông Dương Quang Đông, nguyên Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương trước năm 1945, nguyên là cán bộ hậu cần của Việt Minh tại Khu VIII trong Kháng chiến chống Pháp được giao nhiệm vụ mua sắm. Tuy nhiên, khi di chuyển đến Bà Rịa, ba người cũng đi với ông Đông đã bị quân Việt Nam Cộng hòa bắn chết và tịch thu số tiền mà tổ công tác của ông được tổ chức giao cho để mua thuyền. Nhờ có bà Nguyễn Thị Mười ở Phước Hải, Long Đất đã dồn tiền của trong nhà tổng cộng 10 cây vàng để đóng góp, chiếc thuyền này được mua về và được sử dụng trong chuyến liên lạc, vận chuyển đầu tiên. Tham gia chuyến vượt biển trên con thuyền của Bà Rịa còn có ông Lê Hà, con trai bà Mười, sau này trở thành một trong các thuyền trưởng đầu tiên trên các con tàu không số.

Tháng 10 năm 1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định thành lập tổ chức tuyến hậu cần chiến lược Bắc-Nam trên biển. Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chỉ đạo tổ chức xây dựng tuyến đường này.

Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Văn Thái ký Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759, là nòng cốt của Đoàn tàu không số, sau này trở thành Lữ đoàn 125 thuộc Hải quân nhân dân Việt Nam. Đoàn 759 có trách nhiệm chi viện vũ khí cho miền Nam bằng đường biển. Trung tá Đoàn Hồng Phước được giao nhiệm vụ làm Đoàn trưởng. Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau. Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận nguồn ngân lực và vũ khí, đạn dược, phương tiện quân sự... từ miền Bắc chi viện cho Quân giải phóng miền Nam bằng đường biển.

                                 

            Tàu HQ 671 được công nhận bảo vật quốc gia  (nguồn: Bảo tàng Hải quân). Nguồn: XT.

Đêm 12-10-1962, chiếc tàu "Phương Đông 1" gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chở hơn 30 tấn vũ khí rời bến k15, Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam. Đến sáng ngày 19-10-1962, tàu vào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An) an toàn. Tàu "Phương Đông 1" đã đi vào lịch sử, chính thức khai thông tuyến vận tải quân sự đường biển - Tuyến vận tải chiến lược - Sau chuyến đi thành công của tàu "Phương Đông 1", ba chiếc tàu khác cũng đã cập bến Cà Mau an toàn; cùng với các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình thành các cụm bến đón nhận những chuyến hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Tháng 8/1963, Đoàn 759 được giao cho Quân chủng Hải quân phụ trách và trực tiếp đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, chi viện đường biển cho chiến trường miền Nam. Ngày 24/1/1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển thành Đoàn 125 Hải quân.

Sau một thời gian chuẩn bị và đi chuyến đầu tiên thành công, từ tháng 9 - 12/1962, Đoàn 759 đã tổ chức 4 tàu vỏ gỗ, chuyển được 119 tấn vũ khí, đạn cập bến Bồ Đề (Cà Mau) an toàn. Năm 1963, Đoàn 125 bắt đầu sử dụng cả tàu vỏ sắt và vỏ gỗ, chuyển 23 chuyến vũ khí vào cả 4 bến của Nam Bộ (trong đó có 3 chuyến hàng không tới đích); năm 1964 chuyển được 59 chuyến hàng.

Trong thời gian này tuyến đường Trường Sơn trên bộ (được thành lập từ tháng 5 năm 1959), tuy đã rất khẩn trương tiến hành soi đường, gùi hàng, vũ khí vào chiến trường. Nhưng những năm đầu do địa hình phía Đông Trường Sơn quá hiểm trở, mặt khác lại bị địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, nên hoạt động đã gặp nhiều khó khăn...

Trong khi đó tuyến vận tải trên biển đã nhanh chóng sớm phát huy được hiệu quả, nên thời kỳ đầu (1962 - 1965), những con tàu không số đã kịp thời phát huy hiệu quả, trở thành tuyến chi viện chiến lược chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đã có 89 chuyến tàu chở 4.419 tấn hàng (chủ yếu là vũ khí, đạn dược) chuyển vào Khu 5 và chiến trường Nam Bộ từ tháng 9/1962 đến tháng 2/1965.

                                               Bản sao ben-tau-khong-so-09-3750 

Hải Phòng tự hào là nơi xuất phát của Đường Hồ Chí Minh trên biển, nơi chế tạo những “con tàu không số”, nơi có những con người dũng cảm, chiến đấu quên mình để dệt nên con đường huyền thoại trên Biển Đông

Giai đoạn 1962 - 1965, Đoàn 125 đã tổ chức 89 chuyến tàu, chi viện cho các tỉnh ven biển thuộc chiến trường Khu 5, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ gần 5.000 tấn hàng hóa, chủ yếu là vũ khí, đạn dược.

Từ tháng 2-1965 đến tháng 1-1973 là giai đoạn khó khăn nhất nhưng hết sức hào hùng của tuyến chi viện chiến lược trên biển. Sau sự kiện xảy ra với tàu C143 ở Vũng Rô (Phú Yên), yếu tố bí mật của tuyến chi viện chiến lược trên biển của Việt Nam không còn nữa. Nhưng công việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫn phải tiếp tục, buộc quân Giải phóng phải chuyển hướng vận chuyển từ phương thức trực tiếp sang phương thức gián tiếp. Bằng phương pháp vận chuyển này, trong một năm (từ 1-11-1968 đến 31-10-1969), lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng sông Gianh 21.737 tấn vũ khí. Từ đây, số vũ khí này được chuyển vào Nam theo đường bộ. Ngoài ra, trong giai đoạn này, cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 còn tham gia chiến dịch vận tải VT5 - Vận tải tranh thủ tụt thang (từ tháng 11-1968 đến năm 1969), cùng các lực lượng trong và ngoài quân đội vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu... từ Hải Phòng vào các tỉnh Nam Khu 4, tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược trên bộ (Đoàn 559).

Tính chung, trong 4 năm (1965-1968), tuyến đường trên biển tổ chức được 27 chuyến tàu, song chỉ có 7 chuyến đến đích, giao được 410,4 tấn hàng (chủ yếu cho Nam Bộ), 11 chuyến phải quay trở lại miền Bắc do nhiều nguyên nhân, 6 chuyến phải tự phá hủy tàu để tránh bị địch thu giữ, 3 chuyến bị địch chiếm tàu. Trước tình hình đó, Việt Nam đã tranh thủ sự giúp đỡ của Vương quốc Campuchia, chuyển hướng tổ chức vận chuyển bằng tàu biển quốc tế đưa hàng viện trợ quân sự vào cảng Xihanúcvin, sau đó thuê tàu của quân đội Hoàng gia Campuchia tiếp tế cho chiến trường Nam Bộ và một phần cho chiến trường Tây Nguyên. Bằng cách này, từ 1966-1969, đã có 10 chuyến tàu, chuyển 90.870 tấn hàng cập cảng Xihanúcvin, trong đó có 21.473 tấn vũ khí, đạn dược; chuyển về chiến trường miền Nam được 18.703 tấn.

Từ năm 1971 đến 4/1972, hải quân Mỹ phong tỏa, kiểm soát rất gắt gao trên tuyến biển , khiến hầu hết các chuyến tàu chở vũ khí vào Nam của Đoàn 125 phải quay lại. Ngày 27/7/1971, Quân khu 9 thành lập Đoàn 371 dưới dạng tàu đánh cá hợp pháp. Được tàu của Đoàn 125 hộ tống, dẫn dắt từng chuyến đi qua các vùng biển nguy hiểm, hai năm 1971- 1972, Đoàn 371 đã vận chuyển được 31 chuyến với 520 tấn vũ khí vào Quân khu 9.

Đồng thời với việc đẩy mạnh đưa hàng vào cảng sông Gianh, Quân chủng Hải quân chọn một số tàu và thủy thủ có kinh nghiệm tiếp tục vận chuyển vào Nam theo đường Hồ Chí Minh trên biển.                                

ccb-do-xuan-dan
CCB Đỗ Xuân Đán.   

Tháng 2-1964, ông Đỗ Xuân Đán xung phong nhập ngũ vào Trung đoàn 170 - Quân chủng Hải quân. Tháng 5-1964, ông được điều về Tiểu đoàn K35, thuộc Đoàn 125 (nay là Lữ đoàn 125) - Quân chủng Hải quân. Đầu tháng 9-1964, ông Đán được biên chế về Tàu T100 với nhiệm vụ là pháo thủ ở vị trí số 5 (sau đài chỉ huy). Tháng 12-1965, ông cùng con tàu và đồng đội tập kết tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) để nhận hàng. Đây là chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của ông. Rồi trong một đêm tối trời, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh, Tàu T100 lặng lẽ rời bến K15, nhằm hướng Nam thẳng tiến.

Khi tàu vào đến đảo Hòn Khoai (Cà Mau), lúc đó khoảng 22 giờ đêm và cách bờ 8-10 hải lý thì xuất hiện tàu địch ngăn chặn. Chúng gọi loa, chiếu đèn pha kiểm tra. Trên trời, máy bay C130 thả pháo sáng khiến mặt biển sáng như ban ngày. Tuy vậy, Tàu T100 vẫn bình tĩnh giữ hướng đi, tiến về phía vịnh Thái Lan, tới hải phận quốc tế. Những ngày tiếp theo, Tàu T100 liên tục bị máy bay, tàu chiến địch theo dõi, giám sát nghiêm ngặt. Trong tình thế đó, Tàu T100 được lệnh quay về. Chuyến đi đó, Tàu T100 không vào được bến để trả hàng nhưng đã trở về nơi xuất phát an toàn.

Cuối tháng 4-1966, Tàu T100 lại được lệnh nhận hàng và tiếp tục đi làm nhiệm vụ. Sau 7 ngày, đêm trên biển, Tàu T100 đã đi chệch hướng lên Rạch Già, Cà Mau, thay vì phải đến cửa sông Bồ Đề, Cà Mau để trả hàng. Một tàu tuần tiễu của địch phát hiện Tàu T100 và đuổi theo ngăn chặn. Tàu T100 phát tín hiệu liên lạc lên bờ nhưng vì sóng quá lớn nên lực lượng bờ không thể ra dẫn đường cho tàu cập bến. Lúc này khoảng 3-4 giờ sáng, phía biển Đông chân trời đã hửng, bất ngờ Tàu T100 mắc cạn, chân vịt chém vào vật cứng khiến con tàu rung lên dữ dội và khựng lại. Thuyền trưởng ra lệnh thủy thủ rời tàu. Ông cùng một chiến sĩ báo vụ và pháo thủ số 2 dìu nhau bơi vào bờ và được một đơn vị quân giải phóng đón ở bến. Cả ngày hôm đó, trên trời máy bay địch quần thảo, bắn phá khu vực Tàu T100, ngoài khơi tàu chiến địch bao vây. Con Tàu T100 trúng đạn cháy âm ỉ, đến 20 giờ tối thì con tàu phát nổ. Một cột lửa cao hàng trăm mét dựng đứng, mảnh vỡ bay chém vào cây trên bờ rào rào, toàn bộ con tàu đã vĩnh viễn nằm lại ở biển khơi, 17 cán bộ, chiến sĩ của tàu T100 được cơ sở đón và đưa về cứ an toàn.

Sau Hiệp định Paris, hải quân Mỹ rút đi, tàu vận tải chuyển sang phương thức hoạt động công khai. Từ 1973 đến 1975, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốc toàn bộ lực lượng và phương tiện, sử dụng hàng ngàn lượt chuyến tàu chuyển vũ khí và vật chất các loại vào các chiến trường.

Đoàn 125 được trang bị thêm nhiều tàu mới có trọng tải 100 tấn trở lên. Đoàn 125 đã tham gia cùng ngành Hậu cần vận chuyển từ miền Bắc vào Quảng Bình và Cửa Việt, tạo chân hàng chi viện cho miền Nam qua đường Hồ Chí Minh trên bộ. Trong 2 năm 1973-1974, Đoàn đã huy động 380 lượt tàu, vận chuyển hàng chục ngàn tấn hàng, đưa 2.042 lượt người từ hậu phương vào tiền tuyến và các đảo. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đã sử dụng 140 lượt chuyến tàu, vận chuyển 6.282 tấn vũ khí và vật chất khác, cùng cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ và Khu 5, cơ động bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc. Trong đó, Đoàn 125 đã vận chuyển vào chiến trường 17.473 cán bộ chiến sĩ, 40 xe tăng, 7.786 tấn vũ khí, nhiên liệu, góp phần giải phóng miền Nam, giải phóng Quần đảo Trường Sa và các đảo trên vùng biển Tây Nam.

Thông qua hoạt động vận chuyển và chiến đấu, lực lượng vận tải trên biển nói riêng, Quân chủng Hải quân nói chung, đã có bước trưởng thành vượt bậc:

- Từ những chiếc tàu gỗ đánh cá thô sơ trong những ngày đầu thành lập, đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã có những đội tàu tương đối hiện đại, trọng tải lớn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài tiên tiến, đảm đương nhiệm vụ vận tải và trực tiếp chiến đấu với kẻ thù.

                                  

 Tập thể cán bộ, chiến sỹ tàu VT 41 trước giờ xuất phát tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) chở gần 30 tấn vũ khí đầu tiên vào Cà Mau thành công (1962) - chuyến đi đầu tiên mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Ảnh: BTHQ/TTXVN phát

Dù số lượng vũ khí và hàng hóa mà Đoàn 125 vận chuyển bằng đường Hồ Chí Minh trên biển còn khiêm tốn nhưng đã chi viện đến những chiến trường trọng điểm miền Nam: duyên hải miền Trung, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ - những nơi mà tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn chưa thể vươn tới được.

- Vận tải trên biển tuy gian nan, nguy hiểm nhưng lại có ưu thế về tốc độ, thời gian, hiệu quả; nếu vận chuyển đường bộ mất mấy tháng trời thì vận chuyển đường biển chỉ khoảng hơn một tuần, chi phí vận tải cho mỗi tấn hàng trên biển ít hơn rất nhiều so với vận tải đường bộ. Ngoài ra, vận tải đường biển còn đảm đương sứ mệnh quan trọng, đó là vận chuyển những vũ khí, trang bị đặc biệt (các loại vũ khí trang bị lớn, đặc chủng), có tầm quan trọng sống còn đối với cuộc kháng chiến.

Với những thành tích xuất sắc, Lữ đoàn 125 được Đảng, Nhà nước 2 lần tuyên dương danh hiệu “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Theo dòng thời gian, đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số, gắn liền với tên tuổi, địa danh và biết bao chiến công hiển hách của những anh hùng liệt sĩ, của quân và dân ta vẫn mãi khắc ghi vào lịch sử dân tộc như một con đường huyền thoại - một trong những đỉnh cao của chiến tranh nhân dân Việt Nam, của truyền thống yêu nước, ý chí quật cường và sức sáng tạo; phản ánh khát vọng cháy bỏng độc lập, tự do, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.

                                  z5956189545384_5806e00f656b0ce96a950adcbebcb571.jpg

  Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư Lệnh, một đơn vị đặc nhiệm được thành lập vào tháng 7-1959, có biệt danh là Đoàn 759, lúc đầu là đơn vị nhỏ cỡ tiểu đoàn được tổ chức dưới hình thức “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” thuộc Tổng Cục Hậu cần; đến ngày 23-10-1961, trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tháng 8-1963, Trung ương quyết định giao Đoàn 759 cho Bộ Tư lệnh Hải quân, đổi tên thành Lữ đoàn 125.

Cuộc thử thách đầu tiên là vào đêm 30 Tết, năm 1959. Đoàn 759, dưới mật danh “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”, đã cho 01 “tàu không số” đầu tiên mở đường vào liên lạc để chi viện cho miền Nam.

Lúc 4 giờ chiều, trên bến Sông Gianh (tỉnh Quảng Bình), 10 con người, 5 người tiễn, 5 người xuất phát vào miền Nam. Một bức điện mật đánh đi cho Tỉnh ủy Quảng Nam: Thuyền rời bến 30 Tết. Dự kiến đến sau hai ngày. Đón tại Hòn Chuối, dưới chân đèo Hải Vân. Người ra đón đã đến đúng địa điểm, chờ một tháng ròng mà con tàu biệt vô âm tín. Như vậy là chuyến tàu thứ nhất không thành công.

Trước khi tàu ta bị tàu địch bắt một cách ngẫu nhiên ngoài biển khơi, anh em đã chiến đấu, thủ tiêu hết súng đạn, vứt xuống biển phi tang, 04 thủy thủ đã thành liệt sĩ, 01 người bị địch bắt và tra trấn nhiều năm nhưng không khai báo, mãi đến năm 1974, sau Hiệp định Pa-ri, mới được trở về.
 

Từ chuyến tàu đầu tiên thất bại, Đoàn 759 đã tổ chức rút kinh nghiệm, tính toán cách tổ chức chặt chẽ và thông minh hơn. 

                                Tau khong so tren duong van chuyen vu khi vao mien Nam.jpg 

Tàu không số vận chuyển vũ khí vào Nam, ảnh do không quân Mỹ chụp. Ảnh: Quân chủng Hải quân cung cấp  

Tháng 8-1962, Đoàn 759 nhận bàn giao 4 tàu gỗ từ Xưởng đóng tàu I (Hải Phòng) và tiếp nhận bổ sung cán bộ. Đêm 11-10-1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí đã rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà Mau. Ngày 16-10, tàu vào bến Vàm Lũng (Cà Mau), 30 tấn vũ khí từ hậu phương miền Bắc đã được chiến trường miền Nam tiếp nhận an toàn. Lượt tàu thứ hai, thứ ba và tàu thứ tư tiếp tục vượt biển vào bến Cà Mau. Để đảm bảo bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, những chiếc tàu của Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, xen kẽ, trà trộn vào những đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên biển, tên gọi “Đoàn tàu không số” được ra đời. Bốn chuyến trong hai tháng đã vận chuyển 111 tấn vũ khí cho Khu 9 an toàn.

Đây là một thắng lợi lớn, góp phần củng cố niềm tin và quyết tâm của quân dân miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.                               

                                   z5956187506281_3dede06643a7c0571fe3879c56208237.jpg

 Đây là hồi ức của ông Trần Hữu Điểu: ngày 23/10/1961, lực lượng vận tải quân sự đường biển mang tên Đoàn 759 (tiền thân của Đoàn 125, Lữ đoàn 125 Hải quân anh hùng ngày nay) được thành lập. Từ quá trình trinh sát, trung tuần tháng 8-1962, Quân ủy Trung ương thông qua nghị quyết “Mở đường vận chuyển chiến lược trên biển”. Nhằm che mắt quân địch và để bảo đảm bí mật cho tuyến đường vận tải quân sự đặc biệt này, những chiếc tàu của Đoàn 759 đã cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, còn bộ đội đóng giả làm dân vạn chài để trà trộn, xen lẫn vào những chiếc tàu đánh cá của ngư dân để hoạt động.

Trong khi trò chuyện, những kỷ niệm thời chiến lại ùa về khiến cựu chiến binh Trần Hữu Điểu, phường Đông Lĩnh (TP Thanh Hóa) nhớ đồng đội, nhớ những chuyến tàu bí mật luôn ẩn chứa đầy hiểm nguy. Trong 11 chuyến đi vận chuyển vũ khí, hàng hóa và cán bộ, chiến sĩ cho chiến trường miền Nam, ông Điểu nhớ nhất là chuyến đi cuối cùng. Theo dòng hồi tưởng, ngày 12/4/1972, Tàu 54 đổi phiên hiệu thành Tàu 645 xuất phát từ đảo Hải Nam (Trung Quốc) để tránh sự phát hiện của kẻ thù. Trong chuyến đi này, Tàu 645 vận chuyển 100 tấn vũ khí cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ tiếp ứng cho chiến trường miền Nam. Sau 10 ngày lênh đênh trên biển, ngày 23/4/1972, Tàu 645 đến đảo Phú Quốc và chờ đêm xuống sẽ cập bến ở Cà Mau theo kế hoạch. Thế nhưng đến chập tối, tàu địch xuất hiện, đánh tín hiệu yêu cầu kiểm tra. Quyết không để tàu rơi vào tay địch, thuyền trưởng Lê Hà bình tĩnh chỉ huy các thủy thủ cho tàu quay ra vùng biển quốc tế và ngụy trang làm ngư dân đánh cá.

Sáng 24/4/1972, khi xác định rõ Tàu 645 giả danh tàu đánh cá, quân địch nổ súng bắn uy hiếp với mục tiêu bắt sống toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Trước tình thế vô cùng nguy hiểm, thuyền trưởng Lê Hà quyết định nổ súng chống trả. Tàu 645 trúng một quả đạn pháo lớn, bị hư hỏng nặng, một số chiến sĩ trên tàu hy sinh. Quyết không để con đường vận tải chiến lược bị bại lộ, thuyền trưởng Lê Hà nhanh chóng ra lệnh “nổ bộc phá, phá tàu”. Các đồng chí bị thương và những người không có nhiệm vụ nổ bộc phá chia từng tốp nhỏ để rời tàu. Bơi được một khoảng khá xa thì tôi nghe tiếng tàu nổ dữ dội, trên mặt biển bùng lên ngọn lửa khổng lồ. Tàu đã bị phá hủy, nhưng cả 15 người được lệnh rời tàu đều bị trực thăng của Mỹ trinh sát và bị tàu chiến của Mỹ vây bắt, đưa về trại giam Phú Quốc. Sau gần một năm bị giam cầm, quân địch đã sử dụng rất nhiều hình thức tra tấn dã man nhưng cả 15 cán bộ, chiến sĩ đều không ai khai báo, vì thế quân địch không khai thác được gì. Cho đến khi Hiệp định Pari được ký kết thì chúng tôi được trao trả. Chuyến đi lịch sử ấy, tôi mãi mãi không bao giờ quên được. 

                                  Du kich dong bang Song Cuu Long cat giau vu khi tu tau khong so.jpg 

Du kích ĐBSCL cất giấu vũ khí sau khi vận chuyển từ tàu không số. Ảnh: Quân chủng Hải quân cung cấp

Tháng 5/1964, Tỉnh ủy Phú Yên nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm chọn bến bãi sẵn sàng tiếp nhận khí tài chi viện từ miền Bắc. háng 7/1964, Thường vụ Liên Tỉnh ủy 3 và Phân khu Nam (thuộc Khu 5) tổ chức hội nghị liên tịch ở Suối Phẩn (xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa 1) để chọn bến bãi đón tàu tiếp nhận khí tài. Sau khi xem xét, bàn bạc, đánh giá các yếu tố, hội nghị thống nhất quyết định chọn Vũng Rô làm bến đón tàu vào, vì đây là địa điểm hội tụ được các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Bến Vũng Rô nằm ngay dưới chân đèo Cả, phía đông quốc lộ 1, là bến nước sâu, êm sóng có nhiều hang, gộp đá có thể làm nơi cất giấu nhiều loại khí tài, có những tuyến hành lang an toàn từ Vũng Rô đến Hòa Hiệp, Hòa Xuân và lên căn cứ của Tỉnh ủy Phú Yên, căn cứ Liên Tỉnh ủy 3 và các tỉnh Nam Tây Nguyên. 

                                

Vũng Rô (Phú Yên)- Tại nơi đây tháng 2/1965 xảy ra cuộc chiến đấu không cân sức giữa các thủy thủ tàu 143 Đoàn tàu không số với quân địch khi vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam.

Cuối năm 1964, theo đề nghị của Tỉnh ủy Phú Yên, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định thành lập Đại đội bảo vệ bến Vũng Rô, mật danh K60 do đồng chí Hồ Thanh Bình làm đại đội trưởng, đồng chí Phạm Ân làm chính trị viên.

 Đêm 28/11/1964, bến Vũng Rô tiếp đón chuyến tàu Không số đầu tiên. Từ chiều, bà con đã được gọi vào khu vực vũng Chùa. Mọi người được dẫn đường băng qua dãy núi dưới chân hòn Vọng Phu và mỏm Đá Bia đến đợi sẵn, không ai biết chuyện gì sẽ diễn ra. Theo kế hoạch, đêm 22/11/1964, tàu 41 do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu chỉ huy 18 cán bộ, thủy thủ chở 63 tấn khí tài được lệnh xuất phát từ Hạ Long (Quảng Ninh).

Trong hành trình vượt qua giông tố, khi đi ngang qua vùng biển Ðà Nẵng, máy bay trinh sát của giặc Mỹ phát hiện, nghi ngờ, báo vào bờ và lập tức hai tàu tuần tiễu của địch lao ra kèm song song và chĩa thẳng nòng pháo về phía tàu 41. Nhờ ngụy trang tốt, tàu 41 mang biển hiệu 412 treo cờ nước ngoài đã đánh lừa được địch bỏ mục tiêu. Lúc 23 giờ 50 ngày 28/11/1964, tàu 41 cập bến Vũng Rô. Phút gặp gỡ giữa cán bộ, thủy thủ tàu và lực lượng của ta có mặt tại bến vô cùng xúc động và tràn ngập niềm vui. Tàu chỉ được phép ở lại bến Vũng Rô trong thời gian từ 24 giờ đêm đến 3 giờ sáng phải rời bến. Tuy nhiên, do lượng hàng đến 63 tấn, quá lớn so với khả năng bốc xếp nên tàu 41 phải ngụy trang ở lại bến thêm một ngày, 3 giờ sáng ngày hôm sau bốc xếp xong tàu rời bến. Bình minh biển Vũng Rô sóng vẫn bình yên tươi đẹp như chưa có chuyện gì xảy ra.

Sau thắng lợi chuyến đầu, tàu 41 tiếp tục vào Vũng Rô hai chuyến nữa. Việc tiếp nhận vũ khí từ các chuyến tàu Không số đã được quân, dân Phú Yên tổ chức chu đáo, chặt chẽ. Từ bến Vũng Rô, những con đường mòn bí mật len qua khe núi, đèo dốc, với sự tham gia của hàng nghìn thanh niên xung kích, dân công ngày đêm vận chuyển hàng trăm tấn khí tài về hậu cứ và tỏa đi khắp các chiến trường Nam Trung Bộ, trang bị kịp thời cho những trận đánh lớn, mở rộng vùng giải phóng.

Nho ve doan tau  khong so huyen thoai.png

Tàu 56 do đồng chí Lê Quốc Thân và Trần Ngọc Tuấn chỉ huy chở 44 tấn vũ khí từ cảng Hải Phòng cập bến Lộc An,
tỉnh Bà Rịa, ngày 22/12/1964. Nguồn: Thư viện tỉnh Vĩnh Long

Tháng 2/1965, Bộ Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho tàu C143 do Thuyền trưởng Lê Văn Thêm phụ trách vận chuyển 60 tấn vũ khí vào Lộ Diêu (Bình Định). Sau nhiều ngày vất vả trong hiểm nguy nhưng không thể đưa tàu vào bến, Bộ Tư lệnh Hải quân đã quyết định cho tàu vào Vũng Rô. Ngày 15/2/1965, tàu C143 vào bến Vũng Rô, đến gần 4 giờ, toàn bộ hàng mới bốc hết, tàu quay ra thì tời neo bị hỏng. Sửa chữa xong thì trời sáng, nên tàu C143 đành ở lại, các thủy thủ và du kích chặt cây phủ lên tàu để ngụy trang. Dù vậy, tàu vẫn cứ lù lù như một núi đá nhỏ lạ nhô ra biển. Sáng 16/2/1965, một máy bay của địch từ Quy Nhơn về Nha Trang qua Vũng Rô, tên phi công phát hiện ra “một mỏm đá lạ nhô ra trên vách núi phía tây Vũng Rô”. Ngay lập tức, viên phi công báo cáo về Bộ Chỉ huy Quân đoàn 2 đóng ở Nha Trang. Chỉ ít phút sau, mấy chiếc máy bay các loại của địch đến trinh sát, rồi thả bom xăng xuống “mỏm đá lạ”. Lá ngụy trang cháy hết, lộ ra con tàu nằm trên biển.

Phát hiện chính xác mục tiêu, địch lập tức huy động cả máy bay, tàu chiến và pháo binh, bộ binh tập trung tấn công Vũng Rô, bắt đầu cuộc chiến không cân sức. Lực lượng của ta gồm thủy thủ tàu C143, bộ binh và dân quân du kích kiên cường đánh trả, nhằm bảo vệ đến cùng số vũ khí từ miền Bắc đưa vào. Bọn địch có ý đồ chiếm tàu C143 và thu vũ khí ta cất giấu, nên chỉ thả bom quanh tàu chứ không phá hủy. Biết ý đồ của địch, Chỉ huy trưởng bến Trần Suyền ra lệnh hủy tàu. Nhưng việc hủy tàu cũng không đơn giản, do sức ép của bom đạn, tàu đã bị nghiêng, các cửa đều đóng chặt, không thể vào được trong khoang.

Nhiệm vụ hủy tàu xóa dấu vết được giao cho ông Nguyễn Ngọc Cảnh và Dương Kính, với gói bộc phá 100kg thuốc nổ. Do không thể lên tàu nên ta phải chọn phương pháp ốp bộc phá vào tàu kích nổ. Những mảnh vỡ của con tàu văng lên tận đỉnh núi, nhưng con tàu vẫn chỉ vỡ đôi…

 

Địch tiếp tục điều thêm quân đến, khiến cuộc chiến ngày càng khốc liệt. trước thế địch quá mạnh, quân ta chủ trương phá vòng vây rút lui và hủy số vũ khí còn lại, nhưng vì số lượng khí tài tồn còn quá nhiều, nên không hủy hết. Bọn địch quyết chiếm hang Vàng, bị ta cho nổ tung kho vũ khí khiến nhiều tên bị chết. Sau đó, chúng tổ chức lặn tìm trang bị, vũ khí của ta ở con tàu chìm, tháo dỡ một số bộ phận của tàu mang về Sài Gòn mở triển lãm để rêu rao chiến công thu hồi khí tài do miền Bắc tiếp tế bằng đường biển.

 

                                   

Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn và các đồng đội tàu 43 trong chuyến đi phục vụ Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu. 

 

Từ đây, con đường vận chuyển chiến lược trên biển vốn được xây dựng kỳ công và bí mật, đã bị lộ nhưng sự kiện Vũng Rô đã gây cho kẻ địch một phen kinh hoàng. Đại tá Hải quân Mỹ R.Sorhesdley đã viết: “Vụ Vũng Rô khẳng định điều đã ngờ trong một thời gian dài nhưng chưa có bằng chứng. Số lượng vũ khí lớn bị phát hiện đã chỉ ra, nhiều lô hàng lớn hơn đã được chở đến bằng tàu trước đó. Sự xuất hiện đồng thời các loại vũ khí mới cỡ 7,62mm của địch ở những vùng ven biển khác nói lên một điều chắc chắn là, địch còn sử dụng các vị trí khác nữa để nhận hàng chuyển bằng đường biển”.

 

Phan Vinh - Người anh hùng Quảng Nam

Nguyễn Phan Vinh sinh năm 1933, tại Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam, từng được đi đào tạo chỉ huy tàu phóng lôi ởnước ngoài. Nguyễn Phan Vinh chuyên môn giỏi và bản lĩnh cao. Anh sống hết mình với bạn bè nhưng trong công việc thì rất nghiêm khắc. Phan Vinh là thuyền trưởng giỏi. Anh đã đi 11 chuyến tàu không số chở vũ khí vào Nam với cương vị thuyền phó, rồi thuyền trưởng. Được đơn vị tin tưởng giao trách nhiệm chở các vị lãnh đạo như ông Lê Đức Anh và các tướng lĩnh quân đội vào Nam công tác.

 Tháng 2 năm 1968, trong chiến dịch vận chuyển vũ khí vào Nam cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng chính trị viên Nguyễn Tương chỉ huy với 20 cán bộ thủy thủ đi tàu 235 chở 16 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo, Khánh Hòa ngày 27.2.1968, chiến đấu kiên cường với giặc và hy sinh sau đó. Trước đó, 18 giờ 30 phút ngày 6.2.1968, tàu C235 đã xuất phát rời căn cứ A2 đi Hòn Hèo. Tàu C235 là tàu cao tốc, có 4 máy. Ngày 10.2, khi còn cách bờ 38 hải lý, tàu bị tàu chiến và máy bay địch bám theo không rời. Không thể đi tiếp được, sở chỉ huy ra lệnh cho tàu quay về .

 Hòn Hèo là khu vực hiểm trở thuộc  hai xã Ninh Phước, Ninh Vân (huyện Ninh Hòa - nằm giữa Nha Trang và Vũng Rô ). Bến Hòn Hèo nằm ở khoảng giữa hai cụm núi trọc nhô ra biển, cô độc giữa đồng bằng. Đây là bến hết sức khó vào, luồng hẹp, nhiều đá ngầm, có núi cao bao bọc phía ngoài, không dễ cơ động. Một tài liệu của Pháp viết: “Tàu muốn ra vào Hòn Hèo, thuyền trưởng phải có tay nghề lão luyện trên dưới 20 năm”. Phan vinh chỉ có tay nghề hơn 10 năm, nhưng anh đã cho thuyền vào Hòn Hèo chính xác. Tàu vào Hòn Hẻo rất dễ lộ, nhưng cũng rất bất ngờ với địch, do vậy phải hành động hết sức táo bạo, nhanh chóng và chính xác.

 Sau hai ngày đêm hành trình trên vùng biển quốc tế, ngày 29.2, tàu  235 ở ngang vùng biển Nha Trang. 18 giờ, một máy bay trinh sát của địch bay ngang qua tàu. Tàu ta vẫn tiếp tục hành trình. 22 giờ 20 phút, tàu cách  bờ khoảng 19 hải lý. Phát hiện ra tàu của ta, ba tàu chiến của Mỹ có phiên hiệu Ngọc Hồi, HQ12, HQ617 và 4 tàu khác của quân đội Sài Gòn được điều đến bao vây hòng bắt sống tàu ta. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh ra lệnh tắt hết đèn và tiếp tục hành trình vào bến. Các tàu địch cũng tắt hết đèn đợi tàu ta đi vào vòng vây, chúng tính toán rằng khi tàu chúng đồng loạt bật sáng đèn, tàu nào không bật đèn  tức là “tàu Bắc Việt”. Nhưng Nguyễn Phan Vinh đã thông minh, nhanh trí lợi dụng ngay tình thế này, khôn khéo chỉ huy tàu C235 đi trong màn đêm, luồn  lách qua đội hình tàu địch đang phục kích ở phía ngoài và vào được bến phía xã Ninh Phước. Không gặp được người của bến đón, khoảng 0 giờ 30 phút ngày 1.3, tình hình rất cấp bách, Phan Vinh lệnh cho anh em nhanh chóng thả những bao hàng xuống nước để người của bến sẽ vớt sau. Trong lúc đó ở phía ngoài, các tàu địch vẫn chưa phát hiện được tàu của ta ở chỗ nào. Chúng lặng lẽ trong đội hình vòng vây chờ đợi.

                                            Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh trong ký ức đồng đội - Báo Khánh Hòa điện tử  

                                                    Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh                                    

Thả xong hàng, Phan Vinh điện báo cáo chỉ huy sở “đã thả xong hàng, đang bị tàu địch bao vây”, rồi cho tàu  rời khỏi xã Ninh Phước, chạy ven bờ  về phía xã Ninh Vân để nghi binh, đánh lừa, không cho địch phát hiện chỗ vừa thả hàng. Gần 2 giờ sáng ngày 1.3.1968, các tàu địch ở phía ngoài đồng loạt bật đèn sáng. Khi phát hiện ra tàu ta đang ở gần bờ chúng lập tức nổ súng. Chúng bắn đạn cỡ lớn chặn phía trên bờ để ngăn không cho anh em ta bơi vào bờ chạy thoát và dùng súng nhỏ bắn thẳng vào tàu ta ể không chế với tham vọng bắt sống. Mấy phút sau, máy bay địch đến thả pháo sáng soi rõ cả tàu ta và 7 chiếc tàu của địch. Tàu C235 ở trong tình thế cực kỳ khó khăn, một bên là bờ, phía trước là núi, sau lưng các tàu địch không ngừng nhả đạn. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em vừa chiến đấu vừa điều khiển tàu chạy vào sát bờ. Súng DKZ, 12,5 ly của ta liên tục bắn vào tàu giặc làm cho chúng không dám đến gần. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra ác liệt. Trên tàu đã có 5 người hy sinh, 7 người bị thương. Phan Vinh cũng bị thương ở đầu nhưng anh vẫn chỉ huy chiến đấu. Tay cầm khẩu AK47, anh hô lớn: “Chúng ta sẽ chiến đầu đến hơi thở cuối cùng trên con tàu này. Chuẩn bị phương án hai!”. Phương án hai là phương án phá vòng vây , dùng tốc độ cao của tàu C235, hoặc lao vào quân cảng của địch ở Nha Trang cho nổ tàu phá cảng, hoặc lao vào tàu địch cho nổ bộc phá. Những phương án này đã được anh em thủy thủ trên tàu đã được chuẩn bị tư tưởng từ trước.

Nhưng tàu ta chưa kịp quay hướng ra biển thì khoang máy trúng đạn, máy hỏng, không cơ động được nữa. Phan Vinh quyết định cho anh em bị thương rời tàu và phân công người ở lại đặt kíp nổ phá hủy tàu. Thuyền trưởng Phan Vinh cùng 5 người ở lại đặt kíp nổ phá khoang máy và các vị trí khác, rồi ba người nhanh chóng bơi vào bờ. Phan Vinh cùng thợ máy Ngô Văn Thứ đi kiểm tra lại lần cuối rồi hai người nhảy khỏi tàu. Hơn chục phút sau, mặt biển Hòn Hèo bùng lên một cột lửa không lồ, một tiếng nổ dữ dội chấn động tới tận Nha Trang làm cho cửa kính các ngôi nhà đều rung lên. Sức công phá của thuốc nổ lớn khiến một nửa con tàu văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Nơi này, sau này Lữ đoàn 125 đã xây dựng một Đài tưởng niệm các liệt sĩ tàu C235 đã hy sinh. Nửa con tàu còn lại tan thành những mảnh vụn chìm sâu vào lòng biển.

Hai người rời tàu sau cùng là thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thợ máy Ngô Văn Thứ chốt lại kềm chân địch, không cho chúng đổ bộ lên bờ, hỗ trợ anh em thủy thủ lên trước rút ra xa khỏi khu vực. Gần sáng địch đổ quân xuống lùng sục khắp khu vực tàu C235 nổ. Phan Vinh và Thứ kiên cường chống trả địch bằng AK và lựu đạn, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng chục tên địch. Nhưng vì ít đạn, địch tràn lên rất đông, nên Phan Vinh và Thứ đã cho nổ tại chỗ quả lựu đạn cuối cùng và hai người đã anh dũng hi sinh, để không cho địch bắt sống. Anh  hy sinh  khi vừa trong 35 tuổi. Năm 1970 anh được Nhà nước truy tăng danh Hiệu anh hùng lục lượng vũ trang nhân dân .

  Một sĩ quan Hải Quân Sài Gòn đã viết trên Tạp chí Lướt sóng của Hải quân Sài Gòn thời đó mô tả: “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng Quân lực Việt Nam Cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng (thực tế chỉ có 20 thủy thủ trên tàu C235) gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập tiếp tế cho Mặt trận giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại một dấu viết...”. Đó là không chỉ là lời thú nhận , mà là sự khâm phục của địch về sức chiến đấu quật cường của thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thủy thủ tàu C235 anh hùng.

Các thủy thủ lên bờ, mò mẫn trong đến tối, dìu nhau vượt rừng, leo qua các vách đá để lẫn trốn địch lùng sục, không lương thực, không nước uống khiến 7 người  tàu C235 đều kiệt quệ. 12 ngày sau họ mới bắt được liên lạc với du kích và các đồng chí ở bến đi tìm, nhưng lúc này chỉ còn lại  Vũ Long An, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật, Nguyễn Hồng Phong và Lê Huy Mai. Còn Đoàn Văn Nhi thuyền phó đã  hy sinh và Mai Văn Khung, đi tìm nước uống rồi không trở về nữa, anh em tìm kiếm mãi mà không thấy. Sau này mới biết  Khung bị địch bắt.

 Điều rất buồn là mặc dù hy sinh trên đất liền (hoặc hy sinh trên tàu nhưng đã được đồng đội  đưa vào bờ trước khi cho tàu  nổ), nhưng Nguyễn Phan Vinh và 13 chiến sĩ tàu 235 vẫn không có mộ  ghi tên từng người, mà là mộ vô danh. Câu chuyện về mộ anh hùng Phan Vinh và 13 chiến sĩ trên tàu 235 đến nay vẫn chưa được sáng tỏ.

 Nhưng trong cuốn hồi ký của của liệt sĩ Huỳnh Hường, người của đoàn tàu không số D125 được cử đi đường bộ Trường Sơn vào Hòn Hèo làm nhiệm vụ trinh sát, cùng với bến đón tàu 235. Theo nhật ký của anh lưu tại Bảo tàng Hải Quân, thì chính anh Huỳnh Hường đã tìm kiếm và tự tay chôn cất Nguyễn Phan Vinh và các chiến sĩ hy sinh của tàu 235.

                        Hòn đảo mang tên người anh hùng                                                                            Hòn đảo mang tên người anh hùng

Theo những gì ghi trong nhật ký thì ít nhất liệt sĩ Huỳnh Hường đã trực tiếp tìm thấy và chôn cất ba người gồm Vinh, Thử và máy trưởng Mùi. Không hiểu khi chôn cất đồng đội họ có ghi tên tuổi, đơn vị để chôn theo  không, mà bây giờ không ai tìm thấy? Hay đã viết  tên tuổi, đơn vị vào giấy  chôn theo xác rồi, nhưng lâu ngày bị mưa nắng phai đi nên không ai biết. Anh Huỳnh Hường  đã hy sinh ngày 28.8.1971, biết hỏi ai bây giờ ?

 Cháu Nguyễn Thị Thanh Tuyền, hiện là cán bộ Công ty thí nghiệm điện thuộc Tổng công ty Điện lực miền Trung, Đà Nẵng - là con anh Nguyễn Đức Xử, anh trai thứ 7 của Phan Vinh, kể với tôi: “Chú Nguyễn Phan Vinh sinh ra trong một gia đình truyền thống cách mạng. Sau 9 năm kể từ ngày Nguyễn Phan Vinh lên đường tòng quân nhập ngũ vào quân đội, chú chưa về thăm gia đình lần nào, đầu năm 1963, bà nội mất vì bị địch bắt, bà bị đánh đập dã man sau một trận chống càn quân địch ở quê. Cùng năm ấy, người anh trai của chú là Nguyễn Đức Lân hi sinh trên chiến trường Quảng Nam. Trận chiến không cân sức giữa tàu 235 với tàu địch ở vùng biển Hòn Hèo (xã Ninh Phước, Ninh Vân, Khánh Hòa) tháng 3.1968, chú và 14 đồng đội đã hi sinh. Cuối năm ấy, ông nội cháu - Ông Nguyễn Đức Mẫn là du kích xã Điện Nam cũng hi sinh trong một trận chống địch càn quét tại xã”.

Gia đình Phan Vinh có 2 liệt sĩ và 3  người anh hùng. Bố anh, ông Nguyễn Đức Mẫn, liệt sĩ. Mẹ anh bà Phan Thị Mẫn (lấy tên chồng làm tên mình) là Mẹ Việt Nam Anh hùng. Ông anh thứ 5 của Phan Vinh tên là Nguyễn Đức Lân, liệt sĩ. Người cô ruột Nguyễn Thị Liễu cũng là bà mẹ Việt Nam anh hùng. Còn anh Nguyễn Đức Xử là bộ đội thời chống Pháp, hoạt động ở huyện Điện Bàn. Năm 1954, tập kết ra Bắc ông làm bí thư chi bộ ở Nông trường Sao Vàng, Quảng Bình mấy chục năm liền. Sau giải phóng miền Nam, ông vào Nam, làm giám đốc Công ty Cao su Phú Riềng. Sau đó chuyển về quê làm Giám đốc Xí nghiệp Bao bì xuất khẩu Đà Nẵng. Ông bị bệnh, mất năm 2008. Ông bà Nguyễn Đức Mẫn có 9 người con. Phan Vinh là con út, ở nhà gọi theo thứ tự là Mười Vinh. Trước lúc hy sinh, Phan Vinh là lúc đó đã 34 tuổi, nhưng anh vẫn chưa lấy vợ. Anh bảo đi tàu không số là cảm tử quân rồi, lấy vợ làm gì cho khổ “người ta”. Anh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, và các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công. Ở quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng có một con đường mang tên Phan Vinh và một trường tiểu học mang tên Phan Vinh. Cám ơn cuộc sống đã không quên người cảm tử anh hùng quân ấy. Phan Vinh hy sinh  khi 35 tuổi,

Tên tuổi Nguyễn Phan Vinh sống mãi trong lòng Tổ quốc như hòn đảo mang tên anh. Đảo Phan Vinh là nơi mặt trời đến sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay đảo Phan Vinh đã được xây dựng lại khang trang, tôn cao thêm. Trên đảo có cột mốc chủ quyền Việt Nam. Cây cối xanh tươi mát mẻ. Nhà ở của bộ đội, hội trường lợp ngói khang trang. Hệ thống phong điện, năng lượng mặt trời đã được lắp đặt giúp điều kiện sống trên đảo nhỏ tốt hơn những năm trước rất nhiều. Các trạm thu tín hiệu vệ tinh, truyền hình, sóng điện thoại được phủ góp phần nâng cao đời sống tinh thần lính đảo. Cán bộ chiến sĩ tích cực tăng gia chăn nuôi, gieo trồng, đánh bắt hải sản.      

Trong hội trường của đơn vị Hải quân đảo Phan Vinh, ảnh anh hùng liệt sĩ Phan Vinh được phóng to đang mỉm cười thân mến nhìn đồng đội mỗi ngày...

13/ Những trận đánh nổi tiếng của lực lượng biệt động và bộ đội đặc công:

a- Lực lượng biệt động:

 Biệt động Sài Gòn là danh xưng của lực lượng đặc công quân Giải phóng miền Nam, chuyên làm nhiệm vụ tập kích nhằm vào các cơ sở của quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa cũng như các công trình công cộng trong môi trường đô thị tại Sài Gòn trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Theo Đại tá Nguyễn Đức Hùng (Tư Chung), nguyên Tư lệnh Biệt động Sài Gòn – Gia Định nêu lên trong hồi ký, lực lượng biệt động khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ra đời từ Kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ những đội vũ trang, tự vệ của người dân ở khu vực này từ thời tiền khởi nghĩa và Nam Bộ kháng chiến. Tuy nhiên, có thể nói lực lượng tiền thân chính thức đầu tiên ra đời sau chuyến mạo hiểm vào thành thị sát của Trung tướng Nguyễn Bình, và sau đó là quyết định hợp nhất các nhóm vũ trang trong nội đô để thành lập Ban Công tác Thành vào tháng 3 năm 1946.

                                                     

                     Nữ chiến sĩ biệt động Lê Thị Thu Nguyệt được đồng đội đặt tên là “Chim sắt”

 Sau năm 1954, phần lớn cán bộ hành chính và lực lượng quân sự thuộc chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tập kết ra Bắc. Số còn lại hoặc trở về đời sống dân sự hoặc tiếp tục hoạt động chính trị dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ. Các ban Công tác Thành phố về danh nghĩa đều được giải thể.

Tuy nhiên, sau khi Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho phép lực lượng kháng chiến miền Nam được phép chuyển sang đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị, Quân Giải phóng tại miền Nam tái tập hợp và xây dựng lại lực lượng vũ trang. Trong đó đặc biệt chú trọng phát triển lực lượng vũ trang nội đô, đặc biệt là qua 2 hội nghị quân sự quan trọng của Quân khu Sài Gòn – Gia Định được tổ chức trong tháng 9 và tháng 10 năm 1961. Thông qua những hội nghị này, lực lượng biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định dần được xây dựng lại. Đến năm 1963, 4 đơn vị biệt động cấp quân khu được thành lập, gồm 65, 67, 69 và bộ phận trinh sát hoạt động ở nội thành. Một năm sau, thành lập thêm các đội 66, 68. Biệt động cấp quân khu được thành lập, đánh dấu bước phát triển trong quy mô và hiệu quả của trận chiến trong nội đô với những chiến công vang dội.

                                  

Hiện trường một vụ tấn công của Biệt động Sài Gòn. (Ảnh chụp tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn-Gia Định) 

Trong thời kỳ “Chiến tranh đặc biệt” lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định, trong đó đóng vai trò chủ yếu là lực lượng biệt động đã tiêu diệt quân xâm lược Mỹ nhiều nhất trong toàn miền Nam. Từ những trận chiến đấu nhỏ lẻ như ném lựu đạn, ám sát đã phát triển lên những trận chiến đấu vang dội với kỹ năng chiến thuật tinh vi, điêu luyện như trận đánh cường tập của đội biệt động 159 vào rạp Kinh Đô, nơi có hàng trăm sĩ quan cố vấn Mỹ; đến trận đánh của đội biệt động 65 đánh tàu US Card chở máy bay vũ khí Mỹ; trận đánh khách sạn Caravelle, đặc biệt là trận đánh bằng “mìn nổ chậm” vào cư xá Brink  diệt hàng trăm tên Mỹ…, gây tiếng vang, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị và đặc biệt tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực quân xâm lược.

Từ khi lực lượng biệt động cấp quân khu được xây dựng, đơn vị F100 được thành lập thì quy mô và hiệu quả của các cuộc chiến đấu trong nội thành ngày càng có tiếng vang lớn. Tiêu biểu là trận đánh cường tập vào Đại sứ quán Mỹ ở đường Hàm Nghi - Quận 1, nhằm “dằn mặt” sự leo thang của Mỹ theo Thông điệp đầu năm của Tổng Thống Lyndon B. Johnson ngày 04 tháng 01 năm 1965 “Mỹ phải có mặt ở miền Nam Việt Nam vì an ninh của bản thân nước Mỹ và hòa bình Châu Á” và cũng để đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của miền Bắc ruột thịt khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trận đánh này diệt và làm bị thương 190 quan chức Mỹ, ngụy. Sau trận đánh này, quân Mỹ ở Sài Gòn rơi vào tình trạng khiếp sợ và luôn bất an, khi có tiếng nổ là tháo chạy, tìm nơi ẩn náu. Trong những năm từ năm 1965 đến năm 1967, biệt động Sài Gòn còn có nhiều trận đánh gây tiếng vang lớn, như trận đánh nhà hàng Mỹ Cảnh (6/1965 của đội 67), đánh Tổng nha cảnh sát ngụy (6/1965,) diệt gần 100 tên; trận tập kích vào khách sạn Metropol (12/1965); trận đánh vào cư xá hỗn hợp Victoria (4/1965), tiêu diệt 100 tên địch; pháo kích vào lễ đài ngày Quốc khánh ngụy quyền Sài Gòn (11/1966); tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất (12/1966)…  

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đêm 30 rạng 31 tháng 01 năm 1968 (đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết), lực lượng biệt động Thành đồng loạt tiến công vào các mục tiêu đầu não của bộ máy Mỹ - ngụy: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy, Đài phát thanh, những nơi vốn được coi là “bất khả xâm phạm”.
 
                            

Biệt động Sài Gòn - Biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa Anh hùng cách mạng và sức mạnh lòng dân

Trước giờ G (2 giờ) ngày N (31/1/1968) 3 phút, Đội 5 biệt động Thành là đơn vị đặc biệt tinh nhuệ đã từng tập kích táo bạo nhiều mục tiêu trước đây, gồm 17 người do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy đã nổ súng vào mục tiêu trọng điểm là Dinh Độc Lập từ cổng đường Nguyễn Du, gần đường Huyền Trân Công Chúa. Bị địch phản kích dữ dội, Đội 5 buộc phải triển khai đội hình chiến đấu như bộ binh trên đường Nguyễn Du - Thủ Khoa Huân với quân địch đông gấp nhiều lần. Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt đã diễn ra đến tận sáng mùng 3 Tết, vượt xa kế hoạch 2 giờ là đánh giữ mục tiêu được giao để quân tiếp viện đến. Dù phải dùng “sở đoản”, song với mưu trí và lòng dũng cảm vô song, lực lượng đã tiêu diệt 2 xe jeep Mỹ, diệt gần 50 tên Mỹ - ngụy. Đơn vị 17 người đã có 10 người hy sinh, còn lại bị thương rồi bị bắt vào sáng ngày 3 tháng 1, đến năm 1973 mới trao trả.
 
                                  Trận tập kích vào tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đêm 30, rạng ngày 31/1/1968 đã gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới. Ngày 1/2/1968, hình ảnh Tòa đại sứ Mỹ bị tấn công được đăng trên trang nhất tờ New York Times đã làm bàng hoàng cả nước Mỹ. Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chưa bao giờ người Mỹ lại được nhìn hình ảnh chiến tranh gần và nóng bỏng đến như vậy. (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát) 
 Trận tập kích vào tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đêm 30, rạng ngày 31/1/1968 đã gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới. Ngày 1/2/1968, hình ảnh Tòa đại sứ Mỹ bị tấn công được đăng trên trang nhất tờ New York Times đã làm bàng hoàng cả nước Mỹ. Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chưa bao giờ người Mỹ lại được nhìn hình ảnh chiến tranh gần và nóng bỏng đến như vậy. (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát)
 
Mục tiêu Đại sứ quán Mỹ dù mới được Bộ Tư lệnh Tiền phương II (Cánh Nam - Tây Nam) giao chưa được một tuần, đội biệt động số 11 gồm 16 người do đồng chí Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ huy đã anh dũng chiến đấu, dùng bộc phá đánh thủng một mảng tường, dùng tiểu liên diệt bọn lính gác, đột nhập vào trong khuôn viên, chiếm tầng trệt đến tầng 3 Tòa Đại sứ Mỹ, bắt một số lính Mỹ, thu gom súng đạn. Dù bị phản kích mạnh từ nhiều lực lượng của địch đến ứng cứu, lực lượng biệt động vẫn giữ được mục tiêu 6 giờ; 15 chiến sĩ hy sinh, người chỉ huy - Ngô Thanh Vân (Ba Đen) bị bắt. Đây là trận đánh có tiếng vang xa, làm rung động xã hội Mỹ, làm cho nhân dân Mỹ bàng hoàng và hiểu rõ được thực chất của quân viễn chính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thấy được sự dối trá của chính quyền Mỹ, từ đó tạo nên phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, gây sức ép lên chính quyền của Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson lúc bấy giờ.
 
                                 Chú thích ảnh 
 Lực lượng vũ trang nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã thể hiện sức mạnh, ý chí, quyết tâm cao độ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên những chiến công lịch sử trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Trong ảnh: Quân Giải phóng mặt trận Sài Gòn - Gia Định tuyên thệ, nhận nhiệm vụ trước giờ xuất kích. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Tại mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu ngụy, cụm biệt động 6 - 9 gồm 25 cán bộ chiến sĩ do đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ huy đã tấn công vào cổng số 5 ngã ba Trương Quốc Dung - Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ). Địch sử dụng cả bộ binh, thiết giáp bao vây, cho phi pháo yểm trợ, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Dù trong điều kiện không phải là “sở trường”  của biệt động, nhưng với một lực lượng nhỏ, biệt động Sài Gòn đã tiêu diệt và làm bị thương 100 tên địch, bắn cháy 2 xe GMC. Kết quả, đơn vị biệt động có 10 người hy sinh, 4 người bị bắt và 3 người mất tích.

Tại Đài Phát thanh Sài Gòn, Đội 4 biệt động Thành gồm 14 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Gia Lộc chỉ huy đã đánh chiếm mục tiêu một cách ngoạn mục, chỉ sau 5 phút nổ súng, 10 chiến sĩ Đội 4 đã chiếm lĩnh toàn bộ Đài. Rất đáng tiếc, bộ phận kỹ thuật của ta không vào được để phát sóng Tuyên ngôn của Mặt trận dân tộc giải phóng nên hạn chế tác động của chiến thắng. Sau 4 giờ 31 phút chiếm giữ mục tiêu, vượt xa kế hoạch của Bộ Chỉ huy Phân khu 6 giao, đã tiêu diệt được 38 tên địch, bắn cháy 1 xe bọc thép, 1 xe GMC, song ta cũng có 10 chiến sĩ hi sinh.

                                 Đêm 30, rạng 31/1/1968 (đêm mùng 1, rạng 2 Tết), 12 chiến sĩ Đội biệt động số 3 đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn. Địch dùng cả xe tăng, bộ binh, máy bay đánh giải tỏa liên tục. Đội biệt động đã chiến đấu quả cảm, đến 6h ngày 31/1, 10 người hy sinh, 2 chiến sĩ biệt động cuối cùng buộc phải dùng bộc phá đánh hỏng các thiết bị phát thanh của địch. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)  

Đêm 30, rạng 31/1/1968 (đêm mùng 1, rạng 2 Tết), 12 chiến sĩ Đội biệt động số 3 đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn. Địch dùng cả xe tăng, bộ binh, máy bay đánh giải tỏa liên tục. Đội biệt động đã chiến đấu quả cảm, đến 6h ngày 31/1, 10 người hy sinh, 2 chiến sĩ biệt động cuối cùng buộc phải dùng bộc phá đánh hỏng các thiết bị phát thanh của địch. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tại mục tiêu Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy, Đội 3 biệt động Thành gồm 16 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Lém (Bảy Lớp) chỉ huy cùng đồng chí Mười Lợi, Hai Quốc, gồm 16 chiến sĩ đã chiến đấu ngoan cường trong suốt 4 giờ, diệt 12 tên địch. Kết quả, quân ta có 14 đồng chí hy sinh và 2 người bị bắt.

Tuy có một số đơn vị biệt động như cụm 7 - 8 và đội 90c không tiếp cận được mục tiêu Tổng Nha cảnh sát, Biệt khu Thủ Đô, Nhà lao Chí Hòa và đã phải chịu tổn thất hết sức lớn, song lực lượng biệt động Sài Gòn - Gia Định đã “mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn, gây chấn động lớn” đã lập công đầu  trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Các trận đánh của Biệt động Sài Gòn - Gia Định vào các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh của địch đã gây tiếng vang lớn, làm rung động cả thế giới, tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt, cổ vũ, thôi thúc khí thế chiến đấu của quân và dân ta, xứng đáng là lực lượng đặc biệt, tinh nhuệ của Quân đội ta - Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.

Trong chiến dịch này, lực lượng Biệt động Sài Gòn bị tổn thất khá nặng nề. Thứ nhất là mất nhiều cán bộ có trình độ am hiểu chiến trường và có bản lĩnh chiến đấu; số người bị tử trận, bị bắt ở các mũi tiến công khá lớn. Tổn thất thứ hai là các cơ sở nuôi giấu cán bộ tại chỗ vốn được dày công xây dựng đã bị lộ hàng loạt, quân đội Mỹ và Sài Gòn đã sát hại nhiều cộng sự thân tín của lực lượng Biệt động và gây hệ lụy cho những người liên quan trong gia đình họ.

b- Những trận đánh lẫy lừng của các chiến sĩ đặc công:

Binh chủng đặc công có ngày thành lập (ngày truyền thống binh chủng) là ngày 19 tháng 3 năm 1967 với thành phần tổ chức lực lượng lúc mới thành lập gồm 9 tiểu đoàn đặc công; Trường bổ túc cán bộ và 3 cơ quan.

Tuy ngày thành lập chính thức là năm 1967, nhưng từ Chiến tranh Đông Dương (1946 - 1954), cách đánh "công đồn đặc biệt" ở chiến trường Nam Bộ, cách đánh và tổ chức đặc công đã phát triển nhanh chóng, hình thành ba loại lực lượng gồm Đặc công bộ, Đặc công nước và Đặc công biệt động.

Trong Chiến tranh Đông Dương, Ở chiến trường Nam Bộ, Việt Minh gặp khó khăn do chưa có chiến thuật hữu hiệu và loại vũ khí có đủ sức công phá tường dày của tháp canh. Qua nhiều lần thử nghiệm thắng lợi, đặc biệt là trận đánh đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948 tiêu diệt đồn cầu Bà Kiên, đã mở ra một khả năng mới đánh địch trong vị trí cố thủ vũng chắc. Từ thực tế đánh tháp canh, Việt Minh đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn, làm tiền đề cho chiến thuật đặc công ra đời.

Đêm 21 rạng sáng 23/3/1950, tại chiến trường Biên Hòa, với vũ khí phá tường FT, 50 tổ chiến đấu đã đồng loạt tấn công 50 tháp canh, gây hoang mang lớn cho quân địch. Từ thực tiễn trận đánh này, Tỉnh đội Biên Hòa và Phòng Tham mưu Quân khu 7 đã tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và đặt tên cách đánh đó là "công đồn đặc biệt", gọi tắt là "Đặc công".

Ngày 19/3/1967, trong buổi lễ công bố quyết định thành lập Binh chủng Đặc công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt... Dù bất kỳ nhiệm vụ nào, nhất là những nhiệm vụ đặc biệt, cũng phải hoàn thành cho tốt... Trước mọi khó khăn, dù đặc biệt đến đâu, cũng phải kiên quyết vượt qua và khắc phục bằng được." Từ đó, ngày 19/3/1967 chính thức được xác định là Ngày truyền thống của Bộ đội Đặc công....

 Trong Kháng chiến chống Mỹ, bộ đội đặc công trên các chiến trường đã đánh hàng chục nghìn trận; loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm nghìn quân đối phương (gồm cả Mỹ và đồng minh); tiêu diệt và đánh thiệt hại hàng trăm sở chỉ huy các cấp; phá hủy và phá hỏng hàng nghìn máy bay các loại, 1600 khẩu pháo, 30 giàn tên lửa, 9000 xe quân sự, 2,7 triệu tấn bom đạn, 600 triệu lít xăng dầu; đánh chìm, đánh hỏng 400 tàu xuồng chiến đấu.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, bộ đội đặc công đã đánh đồng loạt vào những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng của đối phương ở hầu khắp các thành phố, thị xã miền Nam, góp phần làm suy sụp tinh thần nước Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh.

Vào đêm ngày 21-22 tháng 1 năm 1971, Đội đặc công 25 và Tiểu đoàn 7 đặc công Phước Long, do đoàn trưởng Tống Viết Dương chỉ huy đã tiến hành một cuộc tập kích ngoạn mục vào căn cứ không quân Pochentong (Campuchia) của quân Lon Nol thân Mỹ. Khoảng 50 lính gác Campuchia tử trận và khoảng 300 bị thương, nhiều xe cơ giới, 69 máy bay (52 chiếc của không quân Lon Nol và 17 chiếc của Không quân Sài Gòn) bị phá hủy hoặc hư hại nặng trong trận này, trong khi phía Việt Nam chỉ tổn thất 3 người tử trận.

Tổng cộng phía Hoa Kỳ ghi nhận có 5 cuộc tấn công vào các sân bay quân sự Mỹ tại Thái Lan là Udorn, Ubon (3 lần) và Utapao. Theo phía Hoa Kỳ cho biết, cuộc tấn công vào Udorn gây hư hỏng nặng cho một C-141, hư hại trung bình một F-4, hư hại nhẹ cho một trực thăng HH-43. Cuộc tấn công vào Ubon phá hủy 2 máy bay C-47 và một xe tải. Tại Utapao, một B-52 bị hư hại trung bình và hai chiếc B-52 khác bị hư hại nhẹ.

 Đầu tháng 3/1968, 30 đặc công Việt Nam cùng 9 lính công binh bắt đầu đợt tấn công căn cứ radar Lima 85 của Mỹ đặt tại Lào. Căn cứ được đặt trên độ cao 1.700 mét, được bao quanh bởi các vách đá, chỉ có một con đường dốc xuống tới một bãi đáp dài 700m. Các đặc công được trang bị súng trường AK-47, súng SKS, thuốc nổ, lựu đạn và 3 ống phóng lựu. 6 giờ tối ngày 11/3, 1 đợt pháo kích hỗ trợ cho nhóm đặc công dọn mìn và mở đường đến căn cứ. Đến 9 giờ tối, các đặc công Việt Nam bắt đầu trèo lên vách đá, chia làm 5 nhóm để đồng thời tấn công từ nhiều phía. Các đặc công Việt Nam đã vào vị trí vào lúc 3 giờ sáng, tiêu diệt lính gác và trạm radar TSQ-81 bằng các ống phóng lựu. Chỉ huy căn cứ là thiếu tá Clarence Barton và nhiều nhân viên kỹ thuật của không lực Mỹ khi chạy ra đã bị đặc công Việt Nam tiêu diệt. Nhóm đặc công chỉ tổn thất 1 người trong khi đã phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh giá trị và tiêu diệt ít nhất 42 quân địch, bao gồm lực lượng Thái Lan, người Mông và các nhân viên quân sự Mỹ. Chỉ có 6 trong 18 nhân viên CIA và phi công Mỹ tại căn cứ là sống sót, sự kiện này được Mỹ giấu kín trong suốt 3 thập kỷ

Từ năm 1965 đến 30-4-1975, bộ đội đặc công Rừng Sác đã đánh 595 trận, diệt 6.200 quân địch; đánh chìm hoặc bắn cháy 365 tàu, xuồng chiến đấu; đánh đắm 133 tàu vận tải từ 800 đến 13.000 tấn và bắn cháy 145 tàu vận tải khác; bắn rơi 29 máy bay trực thăng; phá hủy 200 triệu lít xăng và khí đốt. Đêm ngày 2 rạng ngày 3/12/1973, Đặc công rừng Sác đã có một trận đánh gây tiếng vang lớn trên thế giới với việc phá hủy tổng kho xăng dầu Nhà Bè, thiêu trụi gần 250 triệu lít nhiên liệu, 12 bồn chứa cỡ lớn, một tàu dầu của Hà Lan có trọng tải 12.000 tấn, một cơ sở lọc dầu, một cơ sở trộn nhớt và một khu chứa lương thực cũng bị phá hủy hoàn toàn, thiệt hại tổng cộng 20 triệu USD theo thời giá lúc đó. Trong 15 năm chiến đấu, tổng số hơn 1.000 chiến sĩ đặc công rừng Sác thì có đến 860 đã hy sinh (trong đó 767 người hy sinh từ năm 1966 tới 1975), trong đó có 542 chiến sĩ đến nay vẫn chưa tìm thấy xác. Ngày 23/9/1973, Đoàn 10 - Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Tổng kho Long Bình khi đó là kho dự trữ chiến lược lớn nhất ngoài nước Mỹ của quân đội Hoa Kỳ, xây dựng từ giữa năm 1965 với mục đích phục vụ cho cuộc chiến ở Việt Nam, là nơi chứa hàng trăm nghìn tấn bom, đạn, vũ khí, quân trang... của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Kho được tổ chức phòng thủ chặt chẽ, xung quanh có từ 7 đến 12 lớp hàng rào kết hợp với việc gài mìn, có nhiều lô cốt cách nhau 30–40 m nằm cách lớp rào cuối cùng từ 40 đến 50 m, cây xanh trong khu vực bị phá sạch để không có chỗ ẩn nấp, và thường xuyên có 2.000 sĩ quan, binh lính bảo vệ ở đây. Tuy nhiên, đặc công quân Giải phóng vẫn tấn công thành công nhiều lần, gây cho địch nhiều tổn thất lớn.

Chúngta sẽ kể một số trận đánh lừng lẫy, tiêu biểu:

a-  Gài bom phá nổ kho Long Bình 1972:

ngôi nhà của Đại tá Đỗ Văn Ninh nằm sâu trong ngõ nhỏ sau ngôi chùa Đọ Xá, phường Ninh Xá (thành phố Bắc Ninh) rộn rã tiếng cười. Rót chén trà mời khách, ông kể cho chúng tôi nghe những ký ức chiến tranh. Đó là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, từ trận chiến Tết Mậu Thân 1968, đến Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh… Nhưng ấn tượng nhất trong cuộc đời binh nghiệp với ông chính là trận gài bom phá nổ Tổng kho Long Bình (Đồng Nai) năm 1972.

Đại tá Đỗ Văn Ninh kể lại: “Tổng kho Long Bình nằm trên hướng Đông Bắc Sài Gòn, gồm một dãy 16 quả đồi, nối tiếp nhau theo hình cánh cung, bao quanh thị xã Biên Hòa, có diện tích 24 km2. Phía Tây Nam có sông Đồng Nai, phía Đông Bắc có sông Buông. Sau khi nhận lệnh đột nhập Tổng kho Long Bình, Trung đoàn Đặc Công 113 tổ chức 3 mũi trinh sát (mỗi mũi có 4 đến 5 người) nghiên cứu sơ đồ, địa hình, căn cứ, lực lượng của địch. Sau 3 ngày, các trinh sát nắm bắt được, tại đây Mỹ hình thành 4 khu: Khu A chứa hàng quân tiếp vụ; khu B chứa thiết bị quân sự và thiết bị thông tin liên lạc; khu C đặt Sở Chỉ huy tiểu khu Long Bình; khu D gồm 2 khu kho 50 và 53 chứa đạn. Do tính chất chiến lược đặc biệt quan trọng, tổng kho được bảo vệ nghiêm ngặt. Những tổ trinh sát của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận vào bên trong bởi nhiều hàng rào phức tạp, từ ngoài vào trong, nhất là hàng rào thứ 9. Đây là hàng rào làm bằng loại thép to, chắc và cứng (không thể dùng kéo cắt) được hàn lại với nhau, khác xa so với các loại rào chắn thông thường. Hàng rào này có tên là “mắt cáo”. Các múi hàn tạo ra một góc khoảng 45o, hai thanh thép chắc tạo ra góc ấy cũng chính là điểm tựa để chúng tôi dùng phương pháp đòn bẩy bật múi hàn ra. Khi người chui qua, “mắt cáo” được khép lại như cũ, địch khó phát hiện”.

                              Trận đánh vượt 9 lớp rào kẽm gai tấn công tổng kho Long Bình 

                                  Kho đạn tại Long Bình bốc cháy với cột khói cao hàng trăm mét

Ban ngày các trinh sát nằm trú ẩn trong các căn cứ địch và khi màn đêm buông xuống, họ lại tiếp tục nghiên cứu chi tiết từng kho và cách canh gác, tuần tiễu của địch. Càng vào sâu, tình huống đặt ra càng khó khăn, phức tạp. Điểm cuối cùng là kho tập kết vũ khí, nhưng tất cả các cửa kho, địch khóa bằng một loại khóa đặc biệt. Để giải quyết vấn đề này, Tham mưu phó Đỗ Văn Ninh chỉ huy một mũi trinh sát vào nghiên cứu, tìm cách mở khóa để chiến sỹ ta đưa vũ khí lọt vào trong kho gài đặt đúng vị trí hiểm yếu nhất.

Trên cơ sở nắm chắc tình hình địch, Trung đoàn đặc công 113, do các đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng và Đỗ Văn Ninh, Tham mưu phó Trung đoàn 113 trực tiếp chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm mục tiêu phá hủy bí mật theo 4 bước: Bước 1 cắt rào; bước 2 mở khóa; bước 3 đặt bom nổ chậm; bước 4 rời nhanh khỏi trận địa. Lực lượng tham gia gồm 57 cán bộ, chiến sỹ, chia làm 2 bộ phận trực tiếp đánh nội tuyến và bảo vệ hành lang. Vũ khí trang bị gồm 220 quả bộc phá gắn ngòi nổ hẹn giờ, dụng cụ cưa khóa, mở cửa kho…

Đại tá Đỗ Văn Ninh nhớ lại: “Đêm 12-8-1972, các cán bộ, chiến sỹ tham gia trận đánh do tôi chỉ huy vào khu vực Tổng kho Long Bình. Rất may, đêm đó địch cho mở cửa xả hơi thông gió các dãy kho. Các chiến sỹ của ta nhanh chóng áp sát mục tiêu cài đặt mìn các kho. Đúng 4 giờ sáng ngày 13-8, bộc phá phát nổ. Ở giữa căn cứ Long Bình, những tia chớp xanh lè vọt lên trên nền trời cao rộng, những đám lửa đỏ ngầu, cuồn cuộn bốc lên sáng rực một vùng trời. Cả thị xã Biên Hòa rung lên như động đất. Trong tiếng nổ đanh, giòn của đủ loại bom đạn, quân địch nháo nhác, hoảng loạn và bất lực, chỉ biết nhìn kho dự trữ chiến lược chìm trong biển lửa”• Ngay tối hôm ấy (14-8-1972 ) đài BBC đưa tin: “Phân khu 53 tổng kho Long Bình bị quân cảm tử đặc công Việt cộng luồn sâu đặt mìn, phá huỷ trên 6.000 tấn bom đạn. Trên thực tế vượt rất xa khối lượng mà đối phương thừa nhận.

                                  thanh-do-1649577757.jpg

Kết quả, quân ta phá huỷ 200 kho, 17 dãy nhà, thiêu huỷ 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu, 200 tấn chất nổ, diệt và làm bị thương 300 quân địch. Toàn bộ cán bộ, chiến sỹ ta rút về an toàn trong niềm vui khôn xiết của nhân dân vùng hậu cứ đón những người con chiến thắng trở về.

Chỉ có một đội viên tên Trần Xuân Thưởng, quê Thanh Hoá đi lạc đội hình nên bị địch bắt. Nhưng anh không hề khai báo gì, sau đó chúng đày ra đảo Phú Quốc, đầu năm 1973 được trao trả tại Lộc Ninh.

Sau trận đánh lừng lẫy vào Tổng kho Long Bình, đồng chí Đỗ Văn Ninh cùng với Trung đoàn Đặc Công 113 tham gia nhiều chiến dịch, đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1978, đồng chí Đỗ Văn Ninh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Có 4 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Đoàn Đặc Công 113, tham gia trinh sát điều nghiên ,trực tiếp chỉ huy trận đánh Tổng kho Long Bình năm 1972 , là : Nguyễn Thanh Tùng , Đỗ Văn Ninh,, Ngô Văn Sơn , Hồ Văn Sinh . Người cao tuổi nhất là Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng

b- trận đánh kho xăng Nhà Bè:

Trận đánh kho xăng Nhà Bè (diễn ra vào đêm ngày 2, rạng sáng ngày 3/12/1973) là một trong những trận tập kích vang dội nhất của lực lượng Đặc công Rừng Sác (Đoàn 10). Trận đánh đã phá hủy kho nhiên liệu lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

Đặc công rừng Sác là một trong những lực lượng chiến đấu đặc biệt của quân đội ta trong Chiến tranh Việt Nam với khả năng xuất quỷ nhập thần trên chiến trường. Vào đêm ngày 2, rạng sáng mồng 3.12.1973, Đặc công rừng Sác đã có một trận đánh táo bạo gây tiếng vang chấn động địa cầu với việc tấn công tổng kho xăng dầu Nhà Bè, kho chứa nhiên liệu lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Nguồn ảnh: VietNamNet.

Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1970, Tổng kho xăng dầu Nhà Bè là nơi dự trữ hàng hóa cho ba Tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới lúc bấy giờ là Caltex, Shell và Esso. Trong đó kho của Shell là lớn nhất cung cấp 60% xăng, dầu cho các hoạt động quân sự và dân sự trên toàn miền nam. Nguồn ảnh: Reds.

Do tầm quan trọng đặc biệt này mà kho xăng Nhà Bè được bảo vệ cực kỳ nghiêm ngặt với 12 lớp rào bao bọc bao gồm hàng rào và song sắt. 12 lớp hàng rào là tương đương với số lượng hàng rào Pháp dựng lên để bảo vệ cứ điểm ở Điện Biên Phủ. Ảnh chụp thám không kho xăng Nhà Bè vào năm 1970. Nguồn ảnh: flickr.

Để tránh phải đối đầu với 12 lớp hàng rào thép và hàng chục toán lính canh, các chiến sỹ Đặc công rừng Sác đã mưu trí, tận dụng con sông Soài Rạp ngay bên bờ kho xăng, các chiến sĩ của ta đã thả mình trôi theo theo dòng sông để tiếp cận mục tiêu khó nhằn này. Trong ảnh là kho xăng Nhà Bè trước và sau khi bị tấn công. Nguồn ảnh: flickr.

Sau khi tiếp cận được các kho chính của tổng kho Nhà Bè, tổ chiến đấu với 8 chiến sỹ của Đặc công rừng Sác đã cho kích nổ đồng loạt toàn bộ các khối mìn mà họ mang theo vào lúc 0 giờ 35 phút sáng ngày 3.12.1972 biến kho xăng Nhà Bè thành một biển lửa, sáng rực bầu trời Sài Gòn. Những vụ nổ gián tiếp trong kho xăng đã làm hàng triệu lít nhiên liệu bốc cháy, gây ra phản ứng dây chuyền không thể khống chế được. Nguồn ảnh: Pinterest.

Thiệt hại nặng nhất thuộc về hãng Shell với các bồn xăng cháy liên tục trong suốt 12 ngày đêm. Các hãng khác như Caltex, Esso do lo sợ lửa lan tới sẽ thiêu trụi toàn bộ cơ sở vật chất của mình nên đã phải mở van, xả xăng dầu đổ thẳng ra sông để tránh thảm kịch. Tổng thiệt hại các tập đoàn dầu khí Mỹ phải hứng chịu sau trận đánh táo bạo của Đặc công rừng Sác lên tới hơn 20 triệu USD. Nguồn ảnh: Pinterest.

Hàng loạt các tờ báo lớn ở Sài Gòn cũng như các hãng thông tấn trên thế giới đều đưa tin về vụ tấn công có một không hai của đặc công Việt Nam vào tổng kho xăng dầu Nhà Bè. Lực lượng Đặc công rừng Sác từ đây cũng được cả thế giới biết đến như một trong những lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ nhất thế giới. Ảnh: các chiến sĩ Đặc công rừng Sác trước khi tham gia đánh kho xăng Nhà Bè. Nguồn ảnh: baoquangbinh.vn.

Kho xăng Nhà Bè cháy liên tục trong 12 ngày đêm trước khi ngọn lửa được dập tắt hoàn toàn. Ảnh: cột khói bốc lên ở kho xăng Nhà Bè nhìn từ phía sông Soài Rạp. Nguồn ảnh: Pinterest.

Tổng cộng, các chiến sĩ Đặc công rừng Sác đã thiêu trụi gần 250 triệu lít nhiên liệu, 12 bồn chứa cỡ lớn và một tàu dầu của Hà Lan có trọng tải 12.000 tấn. Một cơ sở lọc dầu, một cơ sở trộn nhớt và một khu chứa lương thực cũng bị phá hủy hoàn toàn, thiệt hại tổng cộng 20 triệu USD. Nguồn ảnh: Baotintuc.

Lực lượng Đặc công rừng Sác với trang bị vũ khí ở mức tối thiểu nhưng với chiến thuật và lối đánh tài tình vẫn có thể luồn sâu đánh hiểm vào các căn cứ được bảo vệ bậc nhất miền Nam Việt Nam khi đó, tạo nên tiếng vang trên toàn thế giới. Nguồn ảnh: Baonghean.

Hình ảnh Đại tá Lê Bá Ước, Chính ủy đoàn 10 Đặc công rừng Sác, người trực tiếp chỉ huy trận đánh vào kho xăng Nhà Bè năm 1973. Về phía ta, có hai trong tám chiến sĩ tham gia trận đánh hi sinh là đồng chí Nguyễn Công Bao và Phạm Văn Tiềm. Theo thông tin ta khai thác được, hai anh đã bị 7 tàu địch vây chặt, chúng bắt được và lôi lên tàu. Khi địch lại gần, hai chiến sĩ đã rút lựu đạn quyết tử khiến hàng chục tên địch thương vong. Nguồn ảnh: Youtube.

c- Trận đánh Utapao:

Anh hùng LLVTND trung tá Bùi Văn Phương - nguyên Đoàn phó kiêm TMT Đoàn Đặc công biệt động 1, Binh chủng Đặc công. Ông sinh năm 1940, tại xã Yên Mỹ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông chính là người đã tham gia trận đánh phá hủy 8 chiếc B52 của Mỹ trên đất Thái Lan năm 1972.
 
Khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2, Bác Hồ đã nhận định: "Mỹ sẽ đưa B52 ra đánh phá miền Bắc…”. Đầu năm 1969, khi về thăm Binh chủng Đặc công, nghe báo cáo kết quả chiến đấu xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đảng đã chỉ thị: “Đặc công phải tiến sâu vào lòng địch, đánh phá các căn cứ, các cơ quan đầu não và phương tiện chiến tranh… Đánh vào hậu cứ ví như ta dùng kim chọc vào mắt địch, tác dụng rất lớn, rất đau…”.
 
                                  ccb1a-1649669318.jpg 
Anh hùng LLVTND, trung tá Bùi Văn Phương (được phong 20.12.1979) - người trực tiếp đánh vào sân bay UTAPAO. Ông cùng Liệt sĩ- Anh hùng LLVTND Vũ Công Đài phá hủy 8 chiếc B52 của Mỹ trên đất Thái Lan năm 1972, riêng ông Phương 5 chiếc. (Ảnh: N.H) do tác giả cung cấp.
 
 
Từ nhận định của Bác và chỉ thị của Tổng Bí thư, tháng 4/1968, Binh chủng Đặc công lần lượt thành lập các đơn vị Đặc tình (Đặc công hoạt động theo phương thức Tình báo) gồm: Đoàn 1A, Đoàn A54 và Đoàn S74 làm nhiệm vụ trên 3 hướng ở ngoại biên, nơi có các sân bay và kho bom đạn của Mỹ đặt trên đất Thái Lan xuất phát đi đánh phá Việt Nam.

Đoàn 1A do đại úy Lê Toàn làm Đoàn trưởng kiêm Chính trị viên (Đồng chí Lê Toàn sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh về Chính trị Binh chủng Đặc công. Ông đã mất gần 10 năm). Đoàn có nhiệm vụ nghiên cứu các mục tiêu là sân bay UBÔN, UĐONvà UTAPAO (gọi tắt là UB, UĐ và UT). Trong đó, UB và UĐ có các loại máy bay tiêm kích bom. Còn UT được Mỹ xây dựng từ năm 1952, đến năm 1968, Mỹ đầu tư xây dựng thành căn cứ không quân chiến lược B52 lớn nhất Đông Nam Á, đặt tại một tỉnh ven biển miền Trung, cách thủ đô Bangkok (Thái Lan) 150km về hướng Tây.

Sau khi thành lập, các đơn vị tuyển nhân sự và tổ chức huấn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho 2 đối tượng.

Đối tượng thứ nhất là tuyển chọn Việt kiều từ Thái Lan đã về nước sinh sống, có nghề nghiệp phù hợp với nhiệm vụ, nhất là đọc thông, viết thạo ngôn ngữ Thái Lan, hiện đang có thân nhân sinh sống hợp pháp ở Thái Lan. Sau đó, các đơn vị tổ chức huấn luyện kỹ, chiến thuật nghiệp vụ tác chiến Đặc công: Cách tạo vỏ bọc, chống phản gián, cách khai thác thông tin, nắm tình hình địa bàn mục tiêu và trở lại Thái Lan nằm vùng hoạt động hợp pháp.

Đối tượng thứ hai là chọn chiến đấu viên gồm những cán bộ chiến sĩ trong binh chủng, có phẩm chất chính trị, sức khỏe tốt, sẵn sàng chịu đựng khó khăn gian khổ và thậm chí cả hy sinh; giỏi đọc bản đồ, địa bàn và đi góc phương vị…

                                Đặc công Việt Nam và những phi vụ đánh B-52 ngay tại sào huyệt - Ảnh 1.

                    Đặc công Việt Nam và những phi vụ đánh B-52 ngay tại sào huyệt

Từ Hà Nội, chúng tôi bí mật hành quân theo đường Trường Sơn vào tận Lộc Ninh, rồi quay ra đến cao nguyên Bô Lô Ven, sau đó mới chuyển sang hướng Tây. Nơi trú quân phải bảo đảm bí mật, an toàn. Đây là nơi gần nhất và thuận lợi nhất khi tiếp cận mục tiêu. Mọi sinh hoạt phải tự túc, tự mua sắm bằng ngoại tệ, kể cả vũ khí.

Sau thời gian ngắn, lực lượng công khai được các cơ sở giúp đỡ nên đã nhanh chóng ổn định việc làm và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Hầu hết, họ làm thợ máy, thợ ô tô… xung quanh mục tiêu.

Từ hậu cứ vào mục tiêu UB là 100km, UT là 300km. Vì vậy chúng tôi phải huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu phù hợp với từng mục tiêu. Ví dụ, để đi góc phương vị không bị lạc khi không có bản đồ, địa bàn, các chiến đấu viên phải xác định phương hướng bằng cách quan sát trăng, sao, cây cối, hướng chảy của sông suối… Thâm nhập vào mục tiêu bằng góc phương vị, chủ yếu phải đi đêm, ban ngày nghỉ ẩn nấp, nhiều khu vực không có chỗ ẩn nấp an toàn, các chiến đấu viên phải đào hầm bí mật, bình quân 24 giờ phải đi được 20km trở lên.

Mỗi lần ra đi làm nhiệm vụ, các chiến đấu viên phải kê khai quân tư trang, viết thư gói vào ba lô, tập trung vào một chỗ để đơn vị quản lý, phòng khi không may. Lúc về, họ được nhận lại.

Về vấn đề ăn thôi cũng rất nan giải. Tất cả đều được cất gọn trên lưng, mang vác ra sao để vừa gọn nhẹ, vừa bảo đảm sức khỏe, vừa bí mật… Qua nhiều lần thử nghiệm, đơn vị đã đi đến cách tối ưu nhất là lấy thóc nếp xay, bỏ trấu, không giã, để nguyên cám, ngâm nước, xóc muối, đồ xôi, phơi khô, rang phồng như kiểu làm cốm, trộn thêm ít đường. Mỗi ngày ăn 2 bát, loại bát B52.

                              Phi Vụ Huyền Thoại Đặc Công Việt Nam Đánh Tan B 52 Trên Đất Thái Lan -  YouTube

Vậy là đi về 1 tháng, chiến đấu viên phải mang 60 bát, cũng nặng tới 10kg, rồi tư trang, súng đạn, tất tần tật gùi trên vai cũng xấp xỉ 30kg. Nước uống thì tùy nghi gặp sông suối đâu uống đó, không mang bi đông để giảm bớt cồng kềnh gây khó chui luồn và nặng thêm 1kg.

Mỗi lần hoàn thành một chuyến đi - về, người sút cân ít nhất cũng là 5kg, có người hao tới 14kg, bởi đói, thiếu ngủ, muỗi, vắt, sốt rét… Không ít lần gặp địch, đơn vị còn tổn thất, thương vong.

Những năm 1970 - 1972, đơn vị đã thực hành nhiều trận chiến đấu vào các mục tiêu UB và UĐ, phá hủy nhiều máy bay và bom đạn, nhưng tổn thất cũng rất lớn. Có trận đi 6 chiến đấu viên, nhưng khi về chỉ còn một. Có trận 2 đồng chí bị bắt. Sau này, khi đất nước thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Thái Lan mới đưa được các anh về nước.

Riêng mục tiêu UT, Mỹ bố phòng cẩn mật, lại quá xa hậu cứ và chưa đưa được người vào làm việc trong sân bay nên không nắm rõ bố phòng, dù đã đi soi đường, trinh sát nhiều lần, nhưng đơn vị chưa thể tổ chức đánh lần nào.

Đầu năm 1972, Mỹ dùng sức mạnh quân sự để ép ta tại Hội nghị Paris và sử dụng UT đánh phá Hà Nội, Hải Phòng… Chúng tôi nhận lệnh từ Hà Nội phải đánh vào UT, không thể chần chừ.

Nếu sử dụng lực lượng từ hậu cứ tập kích, đơn vị không chắc thắng, nên phải sử dụng lực lượng nhỏ đang hoạt động công khai để tiến công. Trung tá Lê Toàn trực tiếp vào giao nhiệm vụ cho Bùi Văn Phương ( người Ý Yên , Nam Định) và Vũ Công Đài là 2 cán bộ đang làm thợ gần đó vào chiến đấu.

Mỗi người nhận từ cơ sở 4 quả thủ pháo loại hợp chất C4, một quả lựu đạn US, một khẩu súng côn Mỹ và 20 viên đạn, mua 2 bộ quần áo.

19h, trời tối, nhưng sân bay sáng rực. Quan sát thấy cả hàng rào kẽm gai dày đặc, khi đột nhập vào kéo nhỏ mang theo không thể cắt nên hai chiến đấu viên phải chui luồn để vượt qua rào. Khi cách 300m, gặp lính và xe tuần tra trong sân bay, 2 đồng chí phải vòng tránh. Nhưng khi vào cách mục tiêu 50m, cả hai đã bị lộ và bị địch truy đuổi. Đồng chí Phương dùng lựu đạn ném, nhưng không nổ.

                               

B-52 bị đặc công Việt Nam phá hủy tại sân bay Utapao.  Ảnh: Tư liệu
B-52 bị đặc công Việt Nam phá hủy tại sân bay Utapao. Ảnh: Tư liệu

Lợi dụng lúc địch đang hỗn loạn, các anh xông thẳng vào khu để B52, cứ nhằm ụ (mỗi máy bay có một ụ che đỡ dày và cao) mà ném thủ pháo vào. Ném hết thủ pháo, máy bay bốc cháy, lúc này, địch bắn pháo sáng và truy đuổi ráo riết. Đồng chí Đài lao ra theo hướng cửa mở, địch đuổi theo bắn, anh hy sinh. Đồng chí Phương chạy vào hướng kho bom, địch không dám bắn theo nên thoát được ra an toàn.

Sau trận đánh, đồng chí Phương báo cáo đánh được 5 chiếc B52, nhưng khi tên giặc lái B52 Mỹ bị bắt tại Hà Nội khai UT bị đánh, thiệt hại 8 B52 và không còn khả năng hoạt động.

Sau đó ít lâu, tôi được cử làm tổ trưởng tổ công tác vào đón đồng chí Phương ra hậu cứ. Mùa mưa, suối sâu, nước chảy mạnh, đồng chí Phương đang sốt rét nặng. Cõng anh qua suối, tôi trượt chân ngã dúi dụi, đầu gối chân trái trật khớp, tay phải chống xuống bị gãy 2 xương cổ tay. Anh Phương ngã đập mặt vào đá bị gãy 2 răng cửa. Từ đó chia tay nhau, anh về nước, tôi ở lại cứ tiếp tục nhiệm vụ cho đến khi cả hai nghỉ hưu vẫn không được gặp nhau.

Hơn 40 năm sau, tháng 4/2018, đại tá Bùi Văn Phương và tôi được mời về Hà Nội dự kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1, anh em gặp lại nhau, ôm lấy nhau mà khóc.

Khi lên phát biểu tại lễ kỷ niệm, anh xúc động nói: “Tôi được tuyên dương Anh hùng, nhưng 8 đồng chí đi chiến đấu cùng tôi hy sinh và nhiều đồng chí bị thương như đồng chí Hòa đây. Thật chẳng có giá nào để so sánh được, các đồng chí ấy cũng xứng đáng… Thương nhất là anh em hy sinh nay vẫn chưa lấy được hài cốt về quê”.

14/ Trận Điện Biên Phủ trên không:

Chiến dịch Linebacker II (tiếng Anh: Operation Linebacker II), còn gọi là Trận mưa bom Giáng Sinh hay Mười hai ngày đêm, hay Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (theo cách chúng ta gọi), là trận không chiến cuối cùng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, diễn ra từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12 năm 1972 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam trong bối cảnh các cuộc hòa đàm Paris hướng đến việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam và lập lại hòa bình đi đến ngõ cụt.

                                 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, ngày 30/12/1972, lực lượng nòng cốt cùng quân và dân Thủ đô đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ vào Hà Nội. Ảnh: TTXVN 

Chiến dịch này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, ngoại trừ điểm khác biệt lớn là lần này Hoa Kỳ sẽ tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 thay vì các máy bay ném bom chiến thuật, mục đích là dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất của họ là pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.

Tuy đã hết sức cố gắng, dã không gặt hái được gì mà còn phải chịu thiết hại hết sức nâng nề, Tổng thống Richard Nixon đã phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch vào ngày 30 tháng 12, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris. Tại đây, Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà trước đó họ đã từ chối ký kết (vì đây là dự thảo có những điều khoản có lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Sau chiến dịch ném bom khí thế, lòng tự hào trong Quân đội nhân dân Việt Nam và người dân tại miền Bắc Việt Nam lên rất cao: họ không chỉ đánh thắng được "thần tượng B-52" mà còn buộc Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris với những nội dung có lợi cho họ, đó là những cơ sở để phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà coi chiến dịch này là một thắng lợi chiến lược to lớn.

                                 Đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 trong trận 12 ngày đêm. (Ảnh: TTXVN) 

Đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 trong trận 12 ngày đêm. (Ảnh: TTXVN) 

 Sau thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch Lam Sơn 719, quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam liên tục mở các cuộc tấn công vào các căn cứ và vị trí chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa qua chiến dịch Xuân Hè 1972, làm thất bại kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhằm giữ thể diện của một siêu cường quân sự và để rút quân trong danh dự, Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch đánh bom lần cuối này với ý định "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá", giảm bớt sự hỗ trợ quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chiến trường miền Nam.

Tại Paris cuối tháng 11 năm 1972, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Để chiều lòng Thiệu, ngày 20/11/1972, cố vấn Henry Kissinger đề nghị sửa đổi 69 điểm trong bản dự thảo Hiệp định, theo đó, Hoa Kỳ muốn "có đi có lại", khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận, vì đề nghị như vậy đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Mỹ, đồng thời sẽ khiến quân Giải phóng gặp rất nhiều khó khăn sau này.

Ngày 23/11/1972, khi gặp Lê Đức Thọ, Henry Kissinger đã đọc bức điện của Nixon ngầm đe dọa ngừng đàm phán, ném bom trở lại. Tuy nhiên ông Lê Đức Thọ đã khẳng khái đáp lại: "Chúng tôi đã đánh nhau với các ông mười mấy năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết; không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu".

Ngày 4 đến 13 tháng 12, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ, gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán.

                                 Xác máy bay B-52 bị bắn rơi ngày 21/12/1972. (Ảnh: TTXVN) 

                                Xác máy bay B-52 bị bắn rơi ngày 21/12/1972. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: "Hãy để một chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp. Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó" (ám chỉ kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh). Đêm 12 tháng 12, Chánh văn phòng Nhà trắng Heizman thừa uỷ quyền của Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger có đoạn viết: "Chúng ta cần tránh làm bất cứ điều gì có vẻ như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa Kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm". Tuy cố tình trì hoãn ở hậu trường, nhưng khi tuyên bố chính thức, Hoa Kỳ đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không chịu "đàm phán nghiêm chỉnh". Do vậy, nhiều tài liệu phương Tây vẫn cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bỏ họp trước, và chiến dịch ném bom của Mỹ là để khiến Việt Nam "biết điều" mà chấp nhận họp lại.  

Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu truởng liên quân - đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối cùng kề hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ: "Điều may mắn của ông là được sử dụng một các cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm". 

Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger (Paris). Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington DC đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. Tối 18 tháng 12, khi Lê Đức Thọ vừa về đến nhà (sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh) thì những trái bom đầu tiên từ B-52 trong Chiến dịch Linebacker II rơi xuống Hà Nội.

7 giờ ngày 30-12-1972 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta kéo dài 12 ngày đêm của đế quốc Mỹ đã thất bại hoàn toàn...

Một trong những nhân tố quan trọng làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 chính là dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng-kết tinh trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong cuộc đụng độ không cân sức với đế quốc Mỹ xâm lược.

                      

            Rồng lửa SAM của quân đội ta trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không. (Ảnh tư liệu) 

Tháng 3-1966, đến thăm Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Mỹ đã đưa B-52 vào chiến trường, liên tiếp gây tội ác với đồng bào ta ở miền Nam. Ngay từ bây giờ, các chú phải nghiên cứu, chuẩn bị đối phó với B-52, vì sớm muộn, Mỹ sẽ dùng loại máy bay này đánh phá miền Bắc... Chúng ta phải quyết tâm bắn rơi máy bay B-52, phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thực hiện chỉ thị của Người, từ giữa năm 1966, Quân chủng PK-KQ đã đưa các đơn vị tên lửa, radar, không quân tiêm kích và nhiều cán bộ tham mưu, kỹ thuật vào Khu 4 nghiên cứu cách đánh máy bay B-52.

Với kinh nghiệm chính trị dày dặn, ngay từ ngày 29/12/1967, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo:

"Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội".

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã chủ động nghiên cứu địch, bộ đội Radar, Bộ đội Tên lửa đã vượt lên mọi khó khăn, ác liệt, vừa cơ động kịp thời, phòng tránh, đánh trả hiệu quả, vừa phát huy tinh thần thông minh, sáng tạo, tích cực phối hợp nghiên cứu “vạch nhiễu tìm thù”, “thử lửa” thành công, xây dựng nên cách đánh B-52. 

 Ngày 24-11-1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thông qua và phê chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng PK-KQ; đồng thời căn dặn: “Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng. Các đồng chí phải nắm địch thật chắc, tuyệt đối không để bị bất ngờ... phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”. Đầu tháng 12-1972, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhận định: “Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội. Quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PK-KQ, phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng”.

Lúc 19 giờ 10 phút ngày 18-12-1972, hệ thống radar của ta bắt được tín hiệu chiếc B-52 đầu tiên hướng về Hà Nội, mở đầu đòn tập kích chiến lược của địch. Sau đó 5 phút, Bộ Tổng Tư lệnh phát lệnh báo động toàn miền Bắc. Cuộc chiến đấu chính thức bắt đầu. Do đánh giá chính xác âm mưu, hành động của địch, có sự chuẩn bị sớm từ trước, lúc 20 giờ 13 phút, Bộ đội Tên lửa bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên (rơi tại Phù Lỗ, Sóc Sơn, Hà Nội). Giáo sư Sử học người Mỹ Weldon A.Brown mô tả: “Trong 12 ngày đêm liên tục, Mỹ đã tiến hành một cuộc ném bom rải thảm mà sự tàn phá đã lớn hơn sự tàn phá của các cuộc ném bom suốt trong cả cuộc chiến tranh từ trước đó cho tới lúc bấy giờ”. Tuy nhiên, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, trải qua 12 ngày đêm chiến đấu, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi tổng cộng 81 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 34 chiếc B-52, bắt sống nhiều giặc lái, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược.

                                  Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – kỳ tích từ sức mạnh tổng hợp toàn dân,  từ thế trận lòng dân – Cổng thông tin Sở Văn Hóa Thể Thao Hà Nội 

Tên lửa SAM-2, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972 được gọi là “Rồng lửa Thăng Long” đã đánh sập uy thế không lực Mỹ

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn thể dân tộc Việt Nam, là chiến thắng của niềm tin và ý chí, của quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới...

Càng cảm phục hơn nữa chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” có tính thần thánh ấy nếu chúng ta biết thêm rằng:

Trước khi diễn ra chiến dịch, B-52 đã nhiều lần bay vào oanh tạc không phận miền Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên máy bay B-52 tham chiến chính là tại Việt Nam, và tại đây nó đã thể hiện sức tàn phá rất ghê gớm. B-52 là vũ khí chủ bài của Không quân chiến lược Mỹ, được thiết kế để đối phó với siêu cường đối thủ là Liên Xô. Máy bay B-52 có kích thước khổng lồ, tầm bay rất xa và lượng bom mang theo rất lớn (hơn 30 tấn bom mỗi chiếc, gấp 15 lần số bom mà máy bay ném bom hạng nặng chủ lực của Mỹ thời thế chiến 2 là B-17 có thể mang theo.

Không quân Mỹ có một thuận lợi đến từ đồng minh của mình. Trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, Israel đã tịch thu được hơn 20 hệ thống SAM-2 nguyên vẹn bị quân Ả Rập bỏ lại khi rút chạy, nhờ vậy Mỹ đã nắm được tường tận chi tiết của hệ thống này. Năm 1969, đến lượt 1 hệ thống radar cảnh giới P-12 của Ai Cập bị Israel bắt giữ nguyên vẹn, toàn bộ kết quả phân tích được chuyển giao cho Mỹ.

                                  

          Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô nổ súng trừng trị máy bay Mỹ. Ảnh: Văn Bảo/TTXVN

Như vậy đến năm 1970, các loại radar phòng không chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam đều đã bị Mỹ nắm bắt, và Mỹ đã chế tạo ra các thiết bị gây nhiễu rất hiệu quả. Như phiên bản B-52D, lúc đầu mang 8 máy gây nhiễu, thì tới tháng 12/1972 đã có tới 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp 3 chiếc B-52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành giải nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn và rộng. Phiên bản B-52G có khoang lắp đặt thiết bị điện tử được mở rộng để lắp hệ thống gây nhiễu mới. B-52G được trang bị 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực và 2 máy thu tần số radar để tạo màn nhiễu dày đặc che toàn bộ máy bay trước hệ thống radar, tên lửa phòng không của đối phương. Các thiết bị này sẽ tự động thu, phân tích tần số sóng radar của đối phương và cung cấp cho sĩ quan điều khiển để lựa chọn phát tần số sóng để chế áp. Theo một số phi công Mỹ, chỉ riêng hệ thống gây nhiễu trên B-52G đã có giá tương đương một chiến đấu cơ F-4D. Ngoài ra, B-52G còn được lắp 4 đạn tên lửa "chim mồi" ADM-20 Quail (chim cút). Khi được phóng, ADM-20 sẽ giả lập tín hiệu giống máy bay B-52 để tạo mục tiêu giả thay cho B-52 nhằm đánh lừa tên lửa của đối phương.

Với vai trò là máy bay ném bom chiến lược, các phi đội B-52 không hoạt động độc lập mà được hộ tống bởi các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66, EC-121 và các chiến đấu cơ F-4, F-105, A-6, A-7 với các thiết bị gây nhiễu chủ động và thụ động đi kèm. Rất nhiều phi đội F-4 đã giả lập tín hiệu nhiễu của B-52 hòng lừa lưới lửa phòng không đối phương. Các máy bay F-4 còn thả các "bom" gây nhiễu gồm hàng triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu), các sợi kim loại gây nhiễu này có thể làm radar không thể nhận diện được các mục tiêu, nặng thì làm trắng xóa màn hình radar (mất hoàn toàn khả năng theo dõi và bám mục tiêu). Các biện pháp gây nhiễu tổng hợp của Mỹ khiến rada của hệ thống phòng không gặp nhiễu, không thể phát hiện và khóa bắn được B-52. Các đài radar nhìn vòng P-12 của các tiểu đoàn tên lửa SAM-2 chỉ thu được các giải nhiễu đậm đặc, có lúc làm trắng xóa cả màn hình.

Để kiểm chứng khả năng của hệ thống gây nhiễu, rạng sáng ngày 16/4/1972, bắt đầu từ 2 giờ 15 phút, Mỹ huy động 20 máy bay B-52 và 170 lần/chiếc máy bay cường kích, ném bom ba trận lớn vào Hải Phòng. 103 nơi trong thành phố bị bom Mỹ tàn phá như các khu phố Thượng Lý, Hạ Lý, Cầu Tre, bến cảng và thôn Phúc Lộc (Kiến Thụy)... Bom Mỹ đã giết và làm bị thương 757 người dân Hải Phòng mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em và cụ già. Hai trung đoàn tên lửa số 238 và 285 đã phóng lên đến 93 quả tên lửa SAM-2 nhưng không diệt được chiếc B-52 nào vì bị gây nhiễu quá nặng.

                              

                                               Boeing B-52H triển lãm cùng vũ khí

Ngoài ra, vũ khí lợi hại là tên lửa chống radar (như loại AGM-45 Shrike, AGM-78 Standard ARM). Tên lửa Shrike sau khi phóng sẽ tìm và "bắt" mục tiêu theo sóng radar, rồi lao thẳng vào gây nổ, là vũ khí chuyên dụng để phá hủy các hệ thống phòng không đối phương. Khi cách rađa vài chục mét thì tên lửa phát nổ lần thứ nhất, văng ra hàng vạn viên bi vuông để phả hủy rađa, tiếp đó phần còn lại lao xuống đất nổ lần thứ 2 để phá hủy nốt. Tại Trung Đông, hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên lửa này phá hủy, khiến lực lượng này mất khả năng chiến đấu.

Với một loạt các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật, không quân Mỹ tự tin rằng hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ không thể chống trả được. Mỹ tin rằng B-52 chỉ có thể bị rơi do thời tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật chứ quyết không thể bị bắn rơi vì hỏa lực của phòng không – không quân Việt Nam, cuộc tập kích của B-52 vào miền Bắc Việt Nam sẽ chỉ như "một cuộc dạo chơi" với tổn thất ở mức tối thiểu.

Ở thời điểm năm 1972, SAM-2 là loại tên lửa phòng không duy nhất có trong trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Được sản xuất vào giữa thập niên 1950, đến thời điểm năm 1972, SAM-2 đã tỏ ra khá lạc hậu, và còn bị lộ bí mật công nghệ cho đối phương (do Israel thu được một số hệ thống SAM-2 của Ai Cập và chuyển cho Mỹ phân tích). Khi đó, Liên Xô đã thay thế loại tên lửa này bằng những hệ thống SAM-4, SAM-5, SAM-6 có tính năng cao hơn nhiều. Tuy nhiên, do chính sách hòa giải với Mỹ nên Liên Xô đã không viện trợ những loại tên lửa mới này cho Việt Nam. Không quân Mỹ sẽ không phải lo phía Việt Nam được trang bị những hệ thống tên lửa phòng không kiểu mới mà Mỹ chưa biết cách khắc chế.

Không có tên lửa phòng không kiểu mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng khá thiếu về số lượng hệ thống tên lửa SAM-2. Toàn bộ lực lượng phòng không Việt Nam vào cuối năm 1972 có khoảng 50 hệ thống SAM-2 (nguồn khác nói rằng có 36 hệ thống sẵn sàng chiến đấu, trong đó chỉ có 23 hệ thống bố trí tại các khu vực mà máy bay Mỹ sẽ đánh phá trong chiến dịch. Con số này chỉ bằng 1/7 số lượng hệ thống phòng không mà quân Ả Rập sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, và càng không đáng kể nếu so với số lượng máy bay Mỹ huy động cho chiến dịch (1.077 máy bay phản lực và 207 chiếc B-52).

                                   

Vệt bom sau khi B-52 rải thảm. 1 nhóm 3 chiếc B-52 có thể tạo ra 1 vệt bom dài 3 km và rộng 1,5 km, gồm chi chít các hố bom

Nhìn chung, Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể trông chờ vào ưu thế vũ khí để chống lại Mỹ, bởi phía Việt Nam yếu thế hơn hẳn cả về công nghệ lẫn số lượng. Để tìm cách chống trả bằng những gì hiện có trong tay, Quân đội Nhân dân Việt Nam phải tìm ra những chiến thuật mới để khắc chế ưu thế về vũ khí của Mỹ.

Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu các biện pháp chống nhiễu, nghiên cứu cách đánh, kiên quyết bắn rơi máy bay chiến lược B-52. Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Quảng Bình, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Hồ Chí Minh nói: "Dù Mỹ có B-57, B-52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Các chú muốn bắt cọp phải vào hang."

Từ cuối năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, trong đó có một bộ phận của tiểu đoàn trinh sát đi cùng các tiểu đoàn tên lửa vào nam Quân khu 4 và tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn theo dõi, nghiên cứu nhận dạng và tìm cách đánh máy bay B-52.

Qua theo dõi trong hai mùa khô năm 1968-1969 và 1969-1970, nhóm cán bộ phát hiện có một loại radar máy bay B-52 không gây nhiễu được. Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ nghiên cứu đề xuất một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: Dùng loại radar không bị máy bay B-52 gây nhiễu ghép nối với đài điều khiển phục vụ tên lửa đánh B-52.

 Tháng 10 năm 1972, tập tài liệu mang tên "Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa" được in, gọi tắt là cuốn "Cẩm nang bìa đỏ", dày 30 trang đánh máy và được bọc ngoài một tờ bìa màu đỏ. Trong cuốn sách là kinh nghiệm phân biệt mục tiêu thật-giả trước màn hiện sóng để bộ đội tên lửa có thể ngắm trúng mục tiêu. 

                                              

                                 Cẩm nang bìa đỏ "Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa", 1972.

Đại tá Nguyễn Văn, chỉ huy 1 trung đoàn tên lửa phòng không, sau chiến tranh đã trả lời một quân nhân Mỹ: "Việc phát triển chiến thuật để đối phó với đối phương vượt trội về công nghệ là nhiệm vụ thường trực. Rốt cuộc, chính Liên Xô cũng phải học tập những chiến thuật của chúng tôi. Về mặt kỹ thuật, người Liên Xô là thầy của chúng tôi, nhưng về mặt thủ thuật, chúng tôi là thầy của họ".

  ***

 Cần phải nói thêm rằng góp công vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn có đội ngũ tình báo Cách mạng hoạt động hết sức tài giỏi và đạt hiệu quả cao trên mặt trận thầm lặng, trong lòng địch. Chúng ta không thể không kể (dù là sơ lượcvà chưa đầy đủ) về những vị anh hùng đó. 

1/ Hoàng Minh Đạo:

Sinh năm 1923 tại TP Móng Cái, Đào Phúc Lộc có cơ duyên gặp đồng chí Tô Hiệu, Bí thư Khu ủy khu B khi trọ học ở Hải Phòng, sớm giác ngộ và đi theo cách mạng khi mới vừa tròn 13 tuổi; được kết nạp Đảng khi mới 16 tuổi. Giai đoạn 1936-1939, Đào Phúc Lộc hoạt động trong phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng.

Chiến công đầu tiên của Đào Phúc Lộc là kịp thời đưa tài liệu của Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế và truyền đơn tuyên truyền của Mặt trận về khu vực mỏ, phục vụ hoạt động đấu tranh. Năm 1940, Đào Phúc Lộc bị địch bắt, tra tấn dã man và bị kết án 2 năm tù, quản thúc tại Móng Cái 5 năm. Tuy nhiên, ông đã bộc lộ khả năng của một chiến sĩ tình báo tài năng, khôn khéo lừa mật thám, vượt biên sang Trung Quốc để bắt liên lạc với tổ chức của Đảng, được đồng chí Trường Chinh trực tiếp giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở đảng ở Móng Cái và thành lập đường dây liên lạc ở hải ngoại để đưa cán bộ của Đảng từ Hải Phòng qua Móng Cái ra nước ngoài hoạt động. Cũng trong giai đoạn này, ông bắt đầu sử dụng tên Hoàng Minh Đạo (Minh Đạo tức “Con đường sáng”).

Năm 1943, ông chủ trì thành lập Huyện bộ Việt Minh Móng Cái, trực tiếp lãnh đạo phong trào ở đây. Từ đó đến năm 1945, ông đã bồi dưỡng, đào tạo cho cách mạng nhiều cán bộ nòng cốt của Quân đội và ngành tình báo. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, tình hình Móng Cái hết sức phức tạp. Đào Phúc Lộc đã cùng các đồng chí của mình kiên trì đấu tranh, hoạt động bí mật, đưa nhiều đầu mối chui vào hàng ngũ Việt Quốc, Việt Cách, giữ vững và phát triển phong trào Việt Minh ở Móng Cái.

                                               

                                                      Hoàng Minh Đạo vào năm 1957

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Chính quyền cách mạng non trẻ phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, nạn đói; vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình hình đó, yêu cầu nắm địch là đặc biệt quan trọng. Ngày 25-10-1945, tại số nhà 18 phố Nguyễn Du, Hà Nội, Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập. Đồng chí Đào Phúc Lộc là Trưởng phòng Tình báo đầu tiên.

 Về sự kiện đặc biệt này, Đại tá Đào An Việt, Phó chủ nhiệm Chính trị Tổng cục II, cho biết: “Việc thành lập Phòng Tình báo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự sáng suốt của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Từ đây, Quân đội ta đã có một cơ quan chuyên trách để nắm địch, giúp trên đánh giá đúng âm mưu, ý đồ của địch để phục vụ kháng chiến, kiến quốc, đặt nền móng cho ngành tình báo quốc phòng xây dựng và trưởng thành, là niềm tự hào của toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong ngành”.

 Tháng 9 năm 1946, Phòng Tình báo Quân ủy hội mở một lớp huấn luyện nghiệp vụ tại Sơn Tây, do Đại tá Lâm Sơn (người Nhật), làm giảng viên về nghiệp vụ tình báo.

Trong thời kỳ chỉ huy và hoạt động tình báo ở miền Bắc, Đào Phúc Lộc đã xây dựng được nhiều cơ sở bí mật, nhiều cộng tác viên của mình trong nội thành Hà Nội, trong số đó có thể kể đến gia đình ba chị em ở nhà số 41 (sau đó là nhà số 36) phố Lò Sũ, Hà Nội. Người chị cả là bà Nguyễn Thị Kíu, em trai là Nguyễn Công Cầu và em gái út là Nguyễn Thị Hiền. Bà Kíu và ông Cầu là hai chủ tiệm bánh kẹo Tùng Hiên nổi tiếng ở Hà Nội và quanh vùng lúc bấy giờ. Phòng Tình báo cài người vào sân bay Gia Lâm để chuẩn bị cho Đội quyết tử vào đánh sân bay, phối hợp với Nha Công an đập tan âm mưu đảo chính, tiêu diệt hang ổ phản động Quốc dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu...

 Theo Đại tá Đào An Việt, chỉ trong một thời gian ngắn trên cương vị Trưởng phòng Tình báo, từ tháng 10-1945 đến tháng 3-1947, đồng chí Đào Phúc Lộc đã tổ chức lực lượng, hình thành và xây dựng ban tình báo ở 26 tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc.

                                 Người đặt nền móng cho ngành tình báo quốc phòng Việt Nam

     Đồng chí Đào Phúc Lộc cùng vợ Hoàng Minh Phụng và con gái Đào Thị Minh Vân năm 1947. Ảnh tư liệu

Cuối năm 1945, lớp huấn luyện đầu tiên do đồng chí trực tiếp hướng dẫn tại số nhà 36 Đại lộ Carreau (nay là số nhà 18 Lý Thường Kiệt), Hà Nội được mở. Tháng 3-1947, đồng chí mở lớp tình báo quân sự đầu tiên tại Tuyên Quang với 48 học viên.

 Từ một liên lạc viên ông trở thành Trưởng phòng tình báo đầu tiên của Quân uỷ hội, ông lần lượt nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Trưởng ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Ủy viên thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 – Bí thư phân khu I Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn.

Trong quá trình hoạt động ở miền Nam, đồng chí cũng tổ chức nhiều lớp học ngắn hạn để bổ sung lực lượng cho ngành tình báo, tập trung vào các nghiệp vụ như tổ chức hoạt động nội thành; nghiên cứu tình hình địch; tổ chức mạng lưới cơ sở; cài người vào sâu trong hàng ngũ địch... Với tầm nhìn chiến lược, tài năng và tư duy sáng tạo, giàu kinh nghiệm, đồng chí đã dày công xây dựng cơ sở lý luận, kế hoạch đào tạo, định hướng phát triển ngành tình báo địch tình-binh vận trở thành những mũi nhọn tiến công đối phương ngay tại sào huyệt của chúng.

Các lớp giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tình báo đã trở thành nơi ươm mầm nhiều hạt giống cách mạng, trở thành những cán bộ nòng cốt cao cấp trong Quân đội, góp phần làm nên những chiến công, thành tích của lực lượng tình báo quốc phòng. Thiếu tướng Cao Pha, nguyên Phó cục trưởng Cục Tình báo, nguyên Phó tư lệnh Binh chủng Đặc công, nguyên Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, từng viết về đồng chí Hoàng Minh Đạo: “Anh đặt nền móng cho những bước đi chập chững ban đầu của ngành (tình báo). Vạn sự khởi đầu nan, công của anh Đạo cả”.

Vào một đêm tháng 12 năm 1969, đoàn công tác của ông trên đường về họp tại trung ương Cục đã sa vào ổ phục kích của địch, ông cùng đồng đội của mình đã hy sinh trên sông Vàm Cỏ Đông. Bí thư Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh đã hai lần chỉ đạo Tư lệnh Phân khu I Tám Lê Thanh tìm kiếm thi hài của ông nhưng không có kết quả.

Ngày 8 tháng 8 năm 1998, lễ truy điệu liệt sĩ Đào Phúc Lộc được tổ chức long trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện di hài của ông được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông lập gia đình hai lần, cả hai người vợ đều là đồng chí, đồng đội của ông. Người vợ đầu là bà Hoàng Minh Phụng, một nữ chiến sĩ tình báo không may mất sớm vì căn bệnh sốt rét ác tính tại chiến khu Việt Bắc, để lại một con gái mới tròn hai tuổi. Họ Hoàng trong bí danh Hoàng Minh Đạo chính là họ của bà Minh Phụng. Người vợ thứ hai sau này là bà Bùi Ngọc Hường, hay còn gọi là chị Sáu Dân, Năm Ngọc, bà sinh cho ông ba người con.

Đào Phúc Lộc được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 10 tháng 8 năm 1998 và truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh năm 1999. 

2/ Phạm Xuân Ẩn:

Một trong những nhà tình báo tiêu biểu cho tài năng và đức độ của Việt Nam là Phạm Xuân Ẩn. Ông hoạt động trong “vỏ bọc” là một nhà báo làm việc cho tạp chí “Time” của Mỹ tại Sài Gòn suốt cuộc chiến tranh mà không bị lộ. Những báo cáo tình báo của Phạm Xuân Ẩn chính xác đến mức Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhận xét rằng “dường như chúng ta có mặt ngay trong phòng tác chiến của Mỹ”. Chiến công của Phạm Xuân Ẩn là rất nhiều, trong đó có những chiến công thực sự lớn lao và hết sức quan trọng. Larry Berman, nhà sử học người Mỹ, tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”; cho rằng Phạm Xuân Ẩn là một trong 20 nhà tình báo xuất sắc nhất thế kỷ XX.

Thông tin trên mạng kể rằng:
Phạm Xuân Ẩn sinh năm 1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong gia đình một viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa. Quê gốc của ông tại Hải Dương. Gia đình ông chuyển đến sống tại Huế khi cụ nội của ông là nghệ nhân kim hoàn được gọi vào Kinh đô để chế tác đồ vàng bạc cho triều đình. Ông nội của Phạm Xuân Ẩn là hiệu trưởng một trường nữ sinh ở Huế, đã được Vua ban Kim khánh. Cha của ông là một kỹ sư công chánh cao cấp tại Sở Công chánh, làm công tác trắc địa trên khắp miềnNam. Ông được sinh tại Nhà thương Biên Hòa, do chính các bác sĩ Pháp đỡ đẻ. Tuy là một viên chức cao cấp, nhưng cha của ông không nhập quốc tịch Pháp.

Thời niên thiếu, ông sống tại Sài Gòn, sau chuyển về Cần Thơ học trường Collège de Can Tho.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông bỏ học và tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong, sau đó học một khóa huấn luyện của Việt Minh về công tác tuyên truyền.

Năm 1947, ông trở về Sài Gòn để chăm sóc cha đang bệnh nặng. Tại đây, ông tổ chức các cuộc biểu tình của sinh viên Sài Gòn, đầu tiên là chống Pháp rồi sau chống Mỹ. Ông làm Thư ký cho Công ty Dầu lửa Caltex cho đến năm 1950.

                                   

                                            Thiếu tướng, anh hùng LLVTND Phạm Xuân Ẩn

Năm 1950, ông vào làm ở Sở thuế quan Sài Gòn. Thực chất lúc này ông được Việt Minh giao nhiệm vụ tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự và quân đội từ Pháp sang ViệtNamvà từ ViệtNamvề Pháp. Đây là những bước đầu hoạt động tình báo đầu tiên của ông, một trong khoảng 14 ngàn điệp báo viên Cộng sản được cài cắm và hoạt động tại miền Nam Việt Nam. Năm 1952, ông ra Chiến khu D và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Ủy viên Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ - giao nhiệm vụ tình báo chiến lược.

Năm 1953 tại rạch Cái Bát, Cà Mau trong rừng U Minh, dưới sự chủ tọa của Lê Đức Thọ (khi này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam), Phạm Xuân Ẩn được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1954 Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay làm bí thư phòng Chiến tranh tâm lý trong Bộ Tổng hành dinh quân đội Liên hiệp Pháp tại Camp Aux Mares (thành Ô Ma). Chính tại đây, ông đã quen biết với Đại tá Edward Lansdale, Trưởng phái bộ quân sự đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế là người chỉ huy CIA tại Đông Dương cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) ở Sài Gòn. Theo hồi ức của một số tướng lĩnh miền Nam Việt Nam, chẳng hạn như trong tư liệu Hồi kí Đỗ Mậu của Đỗ Mậu, nguyên trưởng cơ quan tình báo của miền Nam Việt Nam, thì Edward Lansdale là người trực tiếp vạch kế hoạch cũng như chủ trì việc thực hiện các công tác chủ yếu nhằm tạo uy tín, chỗ đứng cho Ngô Đình Diệm trong thời kì giữa thập niên 50. Khi nhận thấy mức độ khó khăn cũng như khối lượng công việc phải làm quá lớn, Ngô Đình Diệm có ý định từ bỏ chức Thủ tướng, chính Landsdale là người cố vấn cho Diệm không quyết định như vậy.

Năm 1955 theo đề nghị của phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (lúc này đã chính thức thay Pháp đứng ra huấn luyện và xây dựng Quân lực Việt Nam Cộng hòa), Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo các tài liệu về tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Đặc biệt ông cũng tham gia thành lập bộ khung của 6 sư đoàn bộ binh đầu tiên của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mà nòng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính người Việt trong quân đội liên hiệp Pháp trước đây.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo (trong số này có Nguyễn Văn Thiệu, sau này trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa).

Trong công tác tình báo, để có thể đi khắp nơi và tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất, tháng 10 năm 1957, theo sự chỉ đạo của Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương) Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ học ngành báo chí tại Quận Cam, California, trong hai năm (1957-1959) và là người Việt Nam đầu tiên sang học báo chí tại quận Cam 

Tháng 10 năm 1959, Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, ông được Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị Văn hóa Xã hội (thực chất là cơ quan mật vụ trực thuộc Phủ Tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt tấn xã phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc tại đây.

Từ năm 1960 đến giữa năm 1964, ông làm cho Hãng thông tấn Reuters.

Từ năm 1965 đến năm 1976 ông là phóng viên người Việt chính thức duy nhất của tuần báo Time, ngoài ra ông còn là cộng tác viên của các tờ báo khác như The Christian Science Monitor...

Từ khi ở Mỹ về nước cho đến năm 1975, với vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và người của CIA, Phạm Xuân Ẩn đã có được mọi nguồn tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo.

Những tin tức và phân tích tình báo chiến lược của Phạm Xuân Ẩn được bí mật gửi cho bộ chỉ huy quân sự ở miền Bắc thông qua Trung ương cục Miền Nam. Tổng cộng, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về căn cứ 498 báo cáo bao gồm tài liệu nguyên gốc đã được sao chụp, các thông tin mà ông thu lượm cùng phân tích và nhận định của bản thân. Cụ thể là:

Giai đoạn 1961-1965: những bản tài liệu nguyên bản về chiến lược chiến tranh đặc biệt như Tài liệu McGarr; tài liệu Staley, tài liệu Taylor, tài liệu Harkins; tài liệu Ấp chiến lược... Ông gửi về nguyên bản kế hoạch kế hoạch Staley-Taylor. Giai đoạn 1965 - 1968: các kế hoạch liên quan đến chiến lược chiến tranh cục bộ, phục vụ chiến thuật cho Mậu Thân 1968. Giai đoạn 1969 - 1973: những tài liệu liên quan đến chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Giai đoạn 1973 - 1975: hàng trăm bản tin nguyên bản "phục vụ trên hạ quyết tâm giải phóng miềnNam"...

Ông là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA.

                           Kết quả hình ảnh cho Phạm Xuân Ẩn

                                  Phạm Xuân Ẩn và đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến sự kiện xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cổng dinh Độc Lập. Đến thời điểm đó cũng như một vài tháng sau, các đồng nghiệp phóng viên và những người thuộc chính quyền cũ cũng như chính quyền mới vẫn chưa biết ông là một điệp viên cộng sản. Khi đó vợ con của ông đã rời khỏi Việt Nam theo chính sách sơ tán của Mỹ, theo kế hoạch của miền Bắc, ông sẽ được gửi sang Mỹ để tiếp tục hoạt động tình báo. Tuy nhiên, ông đã đề nghị cấp trên cho ngừng công tác do đã hoàn thành nhiệm vụ. Kế hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một năm để quay lại Việt Nam theo đường vòng: Paris - Moskva - Hà Nội - Sài Gòn.

Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trung tá Trần Văn Trung (tức Phạm Xuân Ẩn) cán bộ tình báo thuộc Bộ Tham mưu Miền được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang". Lúc này nhiều người mới chính thức biết ông là một tình báo viên thời chiến.

Tháng 8, 1978 ông ra Hà Nội dự một khóa học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp trong 10 tháng. Ông nói rằng đó là do ông đã "sống quá lâu trong lòng địch". Theo Larry Berman, ông bị nghi kị và bị quản chế tại gia, không được xuất ngoại, bị cấm tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với giới báo chí ngoại quốc do cách suy nghĩ, cư xử "rất Mĩ" của ông cũng như việc ông giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cho đến năm 1986, sự quản chế mới được nới lỏng dần. Trong vòng gần 10 năm, luôn có một nhân viên công an được giao nhiệm vụ canh gác trước cửa nhà ông.

Phạm Xuân Ẩn kể rằng trước đây ông đã từng hai lần cố gắng đưa gia đình ra nước ngoài, nhưng không thành công. Lần thứ nhất thuyền bị hỏng máy. Lần thứ hai thuyền có vẻ đủ sức vượt biển, nhưng thuyền trưởng lại không ra

Năm 1990, Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng cấp Thiếu tướng.

Năm 1997, chính phủ Việt Nam từ chối không cho phép Phạm Xuân Ẩn viếng thăm Hoa Kỳ để dự một hội nghị ở thành phố New York mà ông được mời với tư cách khách đặc biệt

Năm 2002, ông về hưu. Nhưng cho tới sáu tháng trước khi qua đời, Phạm Xuân Ẩn vẫn đóng vai trò như một cộng tác viên của tình báo ViệtNam. Ông tham gia vào việc bình luận và đánh giá các tài liệu của Tổng cục Tình báo (Tổng cục 2, trực thuộc Bộ Quốc phòng).

                      Tập tin:The nha bao cua Pham Xuan An.jpg

                                           Ảnh thẻ Nhà báo Phạm Xuân Ẩn, cấp năm 1965

Chúng ta không muốn nói nhiều và tỉ mỉ đến những chiến công của thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn mà chỉ trích thêm một vài đoạn rất ngắn trong cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:
“Phạm Xuân Ẩn được thưởng huân chương chiến công vì đã có bản báo cáo về Phước Long đề ngày 30-11-1974. Các sách lịch sử Việt Nam so sánh những đóng góp của Phạm Xuân Ẩn trong giai đoạn này ngang với báo cáo nổi tiếng của trùm tình báo Liên Xô, Rishớc Soócgiơ (Richard Sorge), trong đó Soócgiơ khẳng định rằng “Nhật Bản sẽ không mở mặt trận phía Đông”. Nhờ báo cáo này của Rishớc Soócgiơ mà Liên Xô đã yên tâm chuyển các lực lượng quân sự của mình sang phía tây để chặn đứng cuộc tiến quân của quân đội Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Phạm Xuân Ẩn cũng lấy được bản báo cáo bí mật “Nghiên cứu chiến lược”, trong đó nói rằng Quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trong tình trạng cả tinh thần lẫn vật chất đều thấp và rằng máy bay B52 của Mỹ sẽ không trở lại. Tác giả của bản báo cáo mật này chính là tướng Nguyễn Xuân Triển, Giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quân đội (Việt Nam Cộng hòa), đã xác định Buôn Mê Thuột là điểm mong manh, dễ chọc thủng nhất trong hệ thống phòng thủ của Việt Nam Cộng hòa”.
Chúng ta muốn nhấn mạnh đến mặt đức độ của Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn là người đã nhìn thấy rõ được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam, phân biệt đúng đắn bạn thù, cư xử mã thượng, khoan dung hoàn toàn phù hợp với Đức Huyền Diệu và truyền thống nhân hậu của dân tộc Việt. Chúng ta sẽ kể vài tình tiết về khía cạnh này, rút ra cũng từ cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:

Khi Berman đề cập đến vấn đề tiếp tục hoạt động tình báo ở trên đất Mỹ (vì Phạm Xuân Ẩn sau chiến tranh vẫn chưa bị lộ), ông Ẩn coi đó là một ý nghĩ ngông cuồng: “Tôi thực sự không hiểu mọi người muốn tôi làm gì ở đó. Có lẽ họ chờ đợi rằng các nguồn tin của tôi sẽ cập nhật cho tôi về việc Lầu Năm Góc đang nghĩ thế nào, nhưng điều đó là không thể… Hay là tôi có thể báo cáo về tổ chức của phòng tin thời sự ở Los Angeles hoặc ở San Frangcisco”. Nói xong, ông Ẩn nở nụ cười đầy ẩn ý.

Vài thập kỷ sau chiến tranh, Dan Southerland nhớ lại: “Phạm Xuân Ẩn vội vàng chở Trần Kim Tuyến (trùm mật vụ thời Diệm - Nhu) đến địa chỉ đã dặn trước - đến sự tự do. Tôi có thể nói chắc chắn rằng, vào cái ngày cuối cùng ấy của cuộc chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn đã giúp cứu mạng sống của một người từng ra sức chống lại những mục tiêu mà ông Ẩn đang bí mật theo đuổi và phụng sự trong suốt cuộc đời mình. Tôi sẽ luôn nhớ tới ông Phạm Xuân Ẩn về điều đó”. Sau này Trần Kim Tuyến có viết thư cho ông Ẩn bày tỏ sự biết ơn. Ông Ẩn đã nói với Henry Kamm: “Ông ấy cảm ơn tôi và nói với tôi là ông ấy đã hiểu. Tôi đã viết thư trả lời Trần Kim Tuyến rằng tôi không muốn nhìn thấy cảnh các con của ông ấy mồ côi, và tôi cũng đã biết vợ ông Trần Kim Tuyến trong một thời gian dài. Tôi cũng biết Trần Kim Tuyến yêu vợ ông ấy nhiều đến mức nào và cả hai người đều yêu nhau. Ông ấy là một người bạn và chúng tôi đều là người Việt Nam, ông Trần Kim Tuyến đã giúp nhiều cho cả hai bên”.
Nhà báo Bob Shaplan có ghi chép về ngày gặp mặt cuối cùng của ông với Phạm Xuân Ẩn: “Ẩn (nói): quần chúng nhân dân đang cần hòa bình hơn bao giờ hết, chứ họ không muốn tăng cường chính quyền Sài Gòn. Quần chúng không muốn chiến tranh, chỉ muốn hòa hợp dân tộc”. Bản thân Phạm Xuân Ẩn cũng luôn mơ ước về một nước Việt Nam thống nhất, hòa hợp dân tộc.

Vào khoảng một, hai năm đầu của thập niên 1980, Phạm Xuân Ẩn đã nói với Sheehan: “Sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, mọi thứ hồ sơ đều bị đốt hết, từ sách y học đến các tài liệu của chính quyền - giờ thì đã có sự hối tiếc rồi, nhưng quá muộn - nhiều thứ từ Nga giờ đây trở nên không còn phù hợp. Tôi rất tiếc về những điều xảy ra, nhưng tôi không thể ngăn cản được, có lẽ tôi đã ở với phía bên này quá lâu rồi nên tôi biết giá trị của những tài liệu đó. Có những hành động hăng hái một cách thái quá, giống như những con ngựa chiến bị che mắt vậy; nếu anh khuyên họ đừng làm, có lẽ họ lại nghĩ anh là phản cách mạng và đây là một tội lớn. Tôi được sinh ra ở Việt Nam, tôi là người Việt nam, nhưng tôi học được sự văn minh ở nước Mỹ. Đây là điều rắc rối của tôi”.

Có lần Phạm Xuân Ẩn nói: “Đảng dạy tôi những điều về hệ tư tưởng. Từ người Mỹ, tôi học được những điều quan trọng khác về nghề báo và phương pháp tư duy. Đó là điều tôi muốn con mình cũng học được như vậy. Tôi muốn con trai tôi có những người bạn là người Mỹ”. Lần khác, ông Ẩn nói: “Suốt cuộc đời mình, tôi chỉ có hai trách nhiệm. Một là nghĩa vụ của tôi đối với Tổ Quốc. Hai là trách nhiệm của tôi đối với những người bạn Mỹ - những người đã dạy tôi mọi điều từ A đến Z, đặc biệt là nhân dân Mỹ. Mong ước của tôi là: đấu tranh cho đến khi đất nước giành được độc lập và sau đó, lập quan hệ ngoại giao và bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, được như vậy thì tôi có thể mỉm cười mà nhắm mắt xuôi tay bất cứ lúc nào cũng thỏa lòng rồi”. Phạm Xuân Ẩn cũng tin tưởng rằng những người bạn đồng nghiệp Mỹ của ông sẽ hiểu ông: “Họ biết rằng tôi là người luôn luôn giúp đỡ họ và rằng tôi không phải là kẻ thù của họ. Tôi đã đấu tranh cho đất nước tôi, chứ không phải chống lại người Mỹ”.
Vào năm 1989, Morley Safer sang Việt Nam. Ông này cùng trợ lý của mình cùng Phạm Xuân Ẩn ngồi trò chuyện trên tinh thần bạn bè và ba người đã uống hết một chai Uytxki Bạch Mã (White Horse). Trong cuộc trò chuyện đó, Safer có hỏi tại sao cuộc cách mạng (trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội) lại chưa thành công. Ông Ẩn nói: “Có rất nhiều lý do. Nhiều sai lầm đã mắc phải chẳng qua chỉ vì sự dốt nát. Giống như mọi cuộc cách mạng, chúng tôi gọi đó là cuộc cách mạng của nhân dân, nhưng tất nhiên nhân dân là người đầu tiên phải hứng chịu hậu quả… Chừng nào còn những người nằm ngủ trên đường phố, thì chừng đó còn thất bại. Không phải những nhà lãnh đạo là những người độc ác, nhưng tác động hiệu quả của chủ nghĩa gia trưởng và lý thuyết kinh tế đã bị mất niềm tin là như nhau”. Một trong những câu hỏi cuối cùng của Safer là ông Ẩn có cảm thấy hối tiếc điều gì không. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi ghét câu hỏi đó. Tôi đã tự hỏi mình với câu hỏi đó cả ngàn lần. Nhưng câu trả lời còn làm cho tôi ghét hơn. Không! Tôi không có gì phải hối tiếc. Tôi phải làm điều ấy. Tôi yêu nước Mỹ nhưng Mỹ chẳng có quyền gì ở đây. Người Mỹ đã phải ra đi khỏi Việt Nam bằng cách này hay cách khác…”
Phạm Xuân Ẩn qua đời vì bệnh phổi vào ngày 20-9-2006.
Dưới đây là một số những đánh giá về Phạm Xuân Ẩn từ những người từng tiếp xúc, những bạn bè, đồng nghiệp từng cộng tác với ông.
Bruce Palling: “Phạm Xuân Ẩn xứng đáng được coi là một trong những điệp viên vĩ đại nhất của thế kỷ XX”
Stanley Cloud: “Trong thời gian chiến tranh, một đồng nghiệp của chúng tôi đã nói: “Tôi nghĩ, Phạm Xuân Ẩn là một ví dụ hoàn hảo về một xã hội Việt Nam tốt đẹp nhất”. khi đó, tôi cũng đã nghĩ như vậy, và bây giờ tôi vẫn còn nghĩ như vậy”.
Jolynne D`Ornano: “Đặt gia đình sang một bên, ông có hai lòng trung thành - một là đối với đất nước ông, và hai là đối với tình yêu nước Mỹ và những người Mỹ mà ông đã kết bạn. Tôi không nhận thấy bất kỳ sự xung đột nào trong những việc ông đã làm. Ông có thể yêu một đất nước khác vì những điều mà đất nước đó đại diện, nhưng ông vẫn chống lại những chính sách của nước đó, đặc biệt là khi những chính sách ấy đang tàn phá đất nước của ông và dân tộc ông. Theo bản chất của mình, ông không thể chỉ ngồi yên, chẳng làm gì cả và cứ để cho những sự kiện cứ thế diễn ra tự nhiên. Vai trò mà ông đóng trong việc làm nên lịch sử không chỉ cần niềm tin mãnh liệt, mà cần cả sự can đảm ghê gớm, và tôi khâm phục ông đã làm được điều đó”.
Douglas Pike: “Phạm Xuân Ẩn rất sùng bái Nho giáo - riêng về điều này là tôi dám chắc. Ông ấy là người sống rất đạo đức, do vậy ông luôn tự soi mình và hành động trên cơ sở các giá trị của của Nho giáo. Một trong những giá trị này liên quan đến tình bạn. Nho giáo nhấn mạnh sự thủy chung trong tình bạn và ngăn cấm việc khai thác, lợi dụng một người bạn”.
Larry Berman: “Bà Germaine Lộc Swanson nói với tôi rằng: “Phạm Xuân Ẩn là một người yêu nước. Ông ấy trở thành người Cộng sản chẳng qua chỉ là nghĩa vụ”. Thế nhưng, cho dù là những nhà bình luận đã viết gì, Phạm Xuân Ẩn vẫn không lên án sự tham nhũng đã trở nên tràn lan ở Việt nam hoặc lên án chế độ một cách chung chung. Mỗi khi được hỏi, ông chỉ nói lên sự thật, giống cách diễu cợt về “những nhà tư sản đỏ” hoặc “những người cộng sản xanh”. Phạm Xuân Ẩn nói với tôi và với những người khác rằng: “Tôi không đấu tranh để có được những thứ ấy”. Chưa bao giờ Phạm Xuân Ẩn chỉ trích chính phủ. Ông chỉ nói những suy nghĩ của mình về một tầm nhìn khác đối với tương lai”.
Wendy Larsen: “Tôi nghĩ rằng nếu ở trong tình huống đó, có lẽ tôi chỉ thể hiện được một phần trăm sự can đảm mà Phạm Xuân Ẩn đã làm cho đất nước của ông”.
Jul Owings: “Tôi không hề ngạc nhiên khi thấy Phạm Xuân Ẩn trung thành trước hết với Tổ quốc của ông ấy. Chẳng lẽ người Mỹ chúng ta không làm như vậy sao?”
Raymond F. Burghardt (Đại sứ Mỹ tại việt Nam): “Câu chuyện và cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thật không thể nào tin được, nhưng vượt trên tất cả những điều đó, Phạm Xuân Ẩn là một biểu tượng quan trọng của tình hữu nghị mới giữa hai nước chúng ta. Và con trai của Phạm Xuân Ẩn cũng là một người xuất sắc như thế.”
Một bài đăng trên báo “Thanh niên” viết rằng Phạm Xuân Ẩn “đã làm được những điều mà rất ít nhà tình báo khác có thể làm được. Thật dễ hiểu vì sao ông được tổ chức lựa chọn. Nhưng chúng ta sẽ còn phải mất nhiều thời gian để đánh giá một cách chính xác về con người và những điều ông để lại”.

Phạm Xuân Ẩn đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng 11 huân chương các loại và được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

3/ Vũ Ngọc Nhạ:

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Vũ Ngọc Nhạ có nhiều tên gọi như Pièrre Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Ngọc Nhã, Hoàng Đức Nhã, Vũ Đình Long (còn gọi là Hai Long), hay như bí danh Lê Quang Kép. Ngoài ra ông còn được biết với các biệt danh như thầy Hai, thầy Bốn (do bà con Giáo xứ Bình An đặt cho vì ông là thầy giảng đã tu 4 chức), Ông cố vấn (do ông từng được xem là cố vấn của một số quan chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa).

Ông sinh ngày 30 tháng 3 năm 1928 tại xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên). Năm 15 tuổi, Vũ Ngọc Nhạ được bố đưa vào Huế học Trường Trung học Thuận Hóa. Ông tiếp xúc với cách mạng, được giới thiệu vào Mặt trận Việt Minh và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 20-6-1947.

Cuối năm 1946, ông tham gia chiến đấu chống Pháp tái chiếm Đông Dương tại mặt trận Hà Nội. Sau khi Việt Minh rút khỏi Hà Nội, ông trở về Thái Bình, tham gia công tác dân vận của chính quyền Việt Minh tại địa phương, phụ trách khối Công giáo vận, với bí danh là Lê Quang Kép. Năm 1951, để tiện hoạt động trong vùng bị Pháp kiểm soát, ông đã nhờ người em trai làm một chứng minh thư giả mang tên Vũ Ngọc Nhạ.

                                                    

                                                     

                                                      Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ năm 2001

Năm 1952, Vũ Ngọc Nhạ mang tên Vũ Ngọc Kép, có mặt trong đoàn đại biểu quân sự tỉnh Thái Bình đi dự Hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ tại Việt Bắc do Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chủ trì. Cũng tại cuộc Hội nghị này, Vũ Ngọc Nhạ đã nhận nhiệm vụ quan trọng do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp giao phó: “Nhiệm vụ của chú là phải bằng mọi cách để biết được Mỹ đang làm gì, Mỹ sẽ làm gì và Mỹ đã làm gì”.

Từ Dinh Độc Lập, nhà tình báo chiến lược Vũ Ngọc Nhạ đã thiết lập nên mạng lưới tình báo A22, với những cộng sự là người có địa vị cao trong bộ máy chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ. Ông đã trải qua một thời gian bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam và sau đó, do mưu trí và dũng cảm đã thực hiện thành công kế hoạch "chui sâu, luồn cao", trở thành một nhân vật "tâm phúc" của gia đình họ Ngô, giữ vai trò cố vấn của Ngô Đình Diệm.

Sau khi Ngô Đình Diệm bị đảo chính và sát hại, ông đã tiếp cận thành công với những nhóm cầm quyền mới ở Sài Gòn và tiếp tục trở thành cố vấn của hai đời tổng thống tiếp theo là Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh. Những người nắm giữ vai trò cao nhất trên chính trường Sài Gòn, cũng là nguồn cung cấp tin chính xác về tình báo chiến lược trực tiếp cho ông.

Nhờ chiếm được vị trí quan trọng này mà nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ đã lấy được hàng loạt tài liệu chiến lược, sách lược tuyệt mật: từ kế hoạch “Xây dựng ấp chiến lược”, “Kế hoạch Stalay Taylor”… thời Diệm, đến “Kế hoạch bình định nông thôn”, “Kế hoạch Phượng Hoàng”, “Kế hoạch đổ quân của Mỹ”, “Sách lược chiến tranh đặc biệt”… thời Thiệu, để Đảng kịp thời có đối sách lãnh đạo đường lối đấu tranh. 

Nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ và cộng sự của mình trong mạng lưới tình báo A22 đã làm nên một huyền thoại kỳ diệu trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Trong bộ hồ sơ thu được tại Nha Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia ngụy quyền Sài Gòn, có đoạn viết: “Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. Cụm A22 do ông Vũ Ngọc Nhạ đứng đầu phát triển đều đặn và thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc. Cụm phát triển một hệ thống điệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi vào được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hoà. Những tin tức chiến lược mà cảnh sát quốc gia biết họ cung cấp, đều có giá trị giúp cho Hà Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ đối với cuộc chiến tranh”. 

                                Xã hội - Chuyện tình lãng mạn của hai điệp viên hàng đầu Việt Nam 

                               Ông Vũ Ngọc Nhạ (bên phải) và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Năm 1954, Hoàng Minh Đạo, thủ trưởng cơ quan tình báo quân sự đã ra chỉ thị tung một số điệp viên chiến lược vào miền Nam để chuẩn bị cho thời kỳ "hậu Hiệp định Genève". Vũ Ngọc Nhạ là một trong số những điệp viên đó. Ông tạo vỏ bọc là giáo dân Công giáo ngoan đạo, bị Việt Minh kỳ thị vì tôn giáo và xuất thân nên từ bỏ Việt Minh về sống ở quê ngoại tại Phát Diệm, Ninh Bình và tham gia "Tổng bộ tự vệ Phát Diệm" lãnh đạo bởi hai giáo sĩ chống cộng khét tiếng là giám mục Lê Hữu Từ và linh mục Hoàng Quỳnh. Năm 1955, ông cùng vợ và con gái xuống tàu Hải quân Pháp lẫn vào 1 triệu người Công giáo di cư vào Nam. Tại đây ông sử dụng bản lý lịch với cái tên mới Vũ Đình Long với các nội dung đều là thật, trừ một chi tiết giả là "bất mãn với chính sách Công giáo của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên quyết định vào Nam". 

 Sau khi vào Nam, ông xin được một chân đánh máy trong Bộ Công chánh. Trong thời gian này, ông chủ yếu tập trung vào việc xây dựng vỏ bọc an toàn, nên thường xuyên lui tới giáo xứ Bình An và văn phòng Hội cựu tự vệ Công giáo Phát Diệm, qua đó chiếm được cảm tình của linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành người giúp việc cho Giám mục Lê Hữu Từ.

Vũ Ngọc Nhạ được Mười Hương chỉ đạo phải tạo mối quan hệ tốt với giám mục Lê Hữu Từ vì dòng tu của giám mục Từ được cho là có uy tín lớn trong giới Công giáo cũng như đối với Vatican. Đồng thời, căn cứ vào việc linh mục Hoàng Quỳnh là người chứng nhận chức trung úy tự vệ của Phát Diệm của Vũ Ngọc Nhạ, ông Mười Hương cũng yêu cầu ông Nhạ phải tạo quan hệ thân thiết với linh mục Quỳnh để từ đó tiếp cận giám mục Từ. Quan hệ tốt với linh mục Quỳnh và giám mục Từ đã giúp đỡ và bảo vệ Vũ Ngọc Nhạ rất nhiều trong công tác tình báo sau này.

Vào cuối tháng 12 năm 1958, ông bị một nhân viên phản gián của Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung tên là Nguyễn Tư Thái (tự Thái đen) nhận diện nhưng ông vẫn hoạt động tại vùng Thái Bình cho đến cuối năm 1952. Vì lý do này, ông bị Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung bắt giữ và bị giam để chờ xác minh tại trại giam Tòa Khâm, Huế.

Một sơ hở lớn của Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung là tập trung giam giữ khá nhiều tình báo viên tại trại Tòa Khâm. Trong thời gian bị giam giữ tại Tòa Khâm, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối được với một số tình báo viên khác, thậm chí nhận được sự chỉ đạo của lãnh đạo tình báo Mười Hương, khi đó cũng bị giam tại Tòa Khâm. Đồng thời, các tù nhân theo đạo Công giáo như Vũ Ngọc Nhạ lại được Ngô Đình Cẩn cho đi lễ nhà thờ vào chủ nhật. Nắm được điều đó, thượng cấp Mười Hương chỉ đạo cho ông Nhạ tiếp cận, liên lạc với Ngô Đình Cẩn cùng các chức sắc Công giáo bao gồm giám mục Lê Hữu Từ. Giám mục Từ biết được thân thế Phát Diệm và quan hệ với linh mục Hoàng Quỳnh, có ý muốn dùng ông Nhạ tác động lại Ngô Đình Cẩn. Về phía bên kia, họ Ngô cũng muốn dùng ông Nhạ để kết thân với giám mục Từ. Do công tác chuẩn bị tốt, do sự vận động của linh mục Hoàng Quỳnh, cộng với sự may mắn, ông không bị kết tội vì không đủ hồ sơ, nhưng vẫn bị giam giữ một cách không chính thức đến tận giữa năm 1961.

Từ đó, Vũ Ngọc Nhạ đã chuyển phương cách hoạt động, ông xây dựng sự tín nhiệm của "Ông Cố vấn chỉ đạo miền Trung" Ngô Đình Cẩn bằng tờ trình "4 Nguy cơ đe dọa chế độ" viết vào cuối năm 1959. Trong tờ trình ông cố ý viết rằng mình tham khảo ý kiến của giám mục Lê Hữu Từ và một số thành phần giáo dân Công giáo, ngầm bày tỏ rằng ông có quen biết với những cá nhân, lực lượng mà họ Ngô đang muốn tranh thủ. Tờ trình này đã gây được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó cả của Ngô Đình Nhu lẫn Ngô Đình Diệm. Do sự dự đoán chính xác của ông về khả năng xảy ra đảo chính và cuộc đảo chính đã diễn ra sau đó vào ngày 11 tháng 11 năm 1960, các anh em họ Ngô đã chú ý đến ông và nhờ đó ông thoát khỏi sự giam cầm kéo dài trong hơn 2 năm. Tờ trình "4 Nguy cơ đe dọa chế độ" được viết trên cơ sở mối quan hệ giữa giới Công giáo với anh em họ Ngô. Chính yếu tố này đã gây được sự chú ý, cộng với bức bình phong "người giúp việc cho Giám mục Lê Hữu Từ" mà Vũ Ngọc Nhạ được sử dụng như một người liên lạc và cung cấp thông tin giữa anh em họ Ngô với giới Công giáo di cư.

Từ đó, Vũ Ngọc Nhạ bắt đầu có biệt danh ông cố vấn. Ông được anh em Diệm – Nhu vị nể, rồi trở thành người tâm phúc, thường xuyên được bàn bạc những vấn đề cơ mật, được tặng cho danh hiệu "Hoàng Long" là con rồng thứ năm trong gia đình (sau 4 anh em ruột Diệm - Nhu - Thục - Cẩn). Nhờ vào địa vị này cũng như vai trò phụ tá của giám mục Lê Hữu Từ, Vũ Ngọc Nhạ đã tạo được quan hệ với nhiều quan chức Sài Gòn, chức sắc Vatican và Công giáo Mỹ, từ đó thu thập được nhiều tin tình báo có giá trị.

Vào cuối năm 1963, Ngô Đình Nhu giao cho Vũ Ngọc Nhạ nhiệm vụ gặp mặt và vận động sự ủng hộ của chức sắc Công giáo. Vì vậy, ông Nhạ không ở cùng với anh em Diệm - Nhu trong cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, và theo lời của ông, nhờ đó mà thoát khỏi số phận bị giết chết như Diệm - Nhu.

Được xem như một cố vấn cho tướng Thiệu trong lĩnh vực quan hệ với giới Công giáo, ông nhanh chóng trở thành một "Ông cố vấn" lần thứ hai, với sức ảnh hưởng đến chính giới còn mạnh hơn so với thời anh em Diệm - Nhu, nhất là từ sau khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống vào năm 1967. Để khai thác một cách triệt để hơn sức ảnh hưởng và nguồn thông tin lớn, cấp trên của ông đã mở rộng nhiệm vụ của ông thành mạng lưới, rồi cụm tình báo A.22 (vốn là mật danh riêng của ông) do Nguyễn Văn Lê  làm Cụm trưởng, ông làm Cụm phó trực tiếp phụ trách lưới tình báo. Toàn bộ cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, Chỉ huy phó Tình báo quân sự tại miền Nam

                               Vũ Ngọc Nhạ là một trong số điệp viên chiến lược được tung vào miền Nam chuẩn bị cho thời kỳ hậu Hiệp định Genève. Từ vỏ bọc 

Vũ Ngọc Nhạ là một trong số điệp viên chiến lược được tung vào miền Nam chuẩn bị cho thời kỳ hậu Hiệp định Genève. Từ vỏ bọc "cố đạo", ông khéo léo gây dựng quan hệ, tiếp cận quan chức cấp cao của địch, từ đó nắm nhiều tin tức chiến lược.

Các điệp viên này đều được giao nhiệm vụ "chui sâu leo cao" vào những chức vụ quan trọng để có thể thu thập thông tin chiến lược và có thể tác động đến chính quyền. Thành công lớn nhất của Cụm A.22 là cắm được một cơ sở của Lê Hữu Thúy là Huỳnh Văn Trọng (nguyên Bộ trưởng Quốc gia Việt Nam thập niên 1950) vào vị trí Phụ tá tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Huỳnh Văn Trọng dẫn đầu một phái đoàn ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ với hàng loạt tổ chức, cá nhân trong chính phủ và chính giới Hoa Kỳ để thăm dò thái độ của Chính phủ Johnson đối với cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời thu thập được nhiều thông tin tình báo chiến lược.

Bộ hồ sơ của Nha Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia của chính phủ Sài Gòn đã nhận xét về cụm A.22 như sau: "Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. Cụm A.22 hoạt động do Ông Vũ Ngọc Nhạ cầm đầu phát triển đều đặn và thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc. Cụm đã phát triển một hệ thống điệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi vào được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hoà. Những tin tức chiến lược mà Cảnh sát Quốc gia biết họ cung cấp, đều có giá trị giúp cho Hà Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ đối với cuộc chiến tranh.

Vào năm 1969, theo chỉ thị của cấp trên, cụm tình báo A.22 dự định thiết lập một "chính phủ" mới với những vị trí quan trọng trong nội các đều do các cơ sở tình báo của cụm nắm giữ. Ví dụ Huỳnh Văn Trọng dự kiến làm Thủ tướng, Vũ Hữu Duật dự kiến làm Bộ trưởng Chính trị, Vũ Xuân Hoè làm Bộ trưởng Kinh tế, Lê Hữu Thuý làm Bộ trưởng Thông tin chiêu hồi. Tuy nhiên dự tính này không thành do hoạt động điều tra và phản gián của CIA

Tuy tổ chức rất chặt chẽ, nhưng do hoạt động mạnh và có ảnh hưởng đến chính giới cũng như chính quyền Sài Gòn, CIA nhanh chóng phát hiện thấy điều không bình thường của những nhân vật riêng rẽ này, vốn hầu hết đều là những nghi can về tội làm điệp viên và từng bị giam giữ tại trại Tòa Khâm. Do đó, cơ quan CIA đã tiến hành điều tra để phá vỡ cụm tình báo vô cùng nguy hiểm này. Hồ sơ các cựu tù nhân trại Tòa Khâm được giở lại từ giữa năm 1968. Do quy mô, cũng như sức ảnh hưởng quá lớn và tính chất phức tạp của vụ án, mãi hơn một năm sau CIA mới chuyển giao thông tin cho Tổng Nha Cảnh sát điều tra vụ án. Một đơn vị đặc biệt có mật danh S2/B đã được thành lập và đã tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22 vào trung tuần tháng 7 năm 1969. Toàn bộ các điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy (tức Thắng), Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng, hầu hết các cơ sở như phụ tá Huỳnh Văn Trọng, cơ sở giao liên như bà Cả Nhiễm... đều bị bắt giữ. Tuy nhiên, Cụm trưởng Tư Lê đã kịp thời trốn thoát.

Khi vụ án được đưa ra xét xử vào tháng 11 năm 1969, báo giới Sài Gòn đã mệnh danh đây là "Vụ án chính trị của thế kỷ", "Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại".

                                 Cụm tình báo A22 bị đưa ra xét xử vào năm 1969. 

                                       Cụm tình báo A22 bị đưa ra xét xử vào năm 1969.

Nếu bị kết án gián điệp, các thành viên của cụm A.22 có thể bị kết án tử hình. Tuy nhiên cụm tình báo đã đi một nước cờ xoay chuyển tình thế: biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị, lợi dụng mức ảnh hưởng và mối quan hệ sâu rộng, các bằng chứng công khai, cũng như tình thế chính trị bấy giờ để dẫn phiên tòa vào thế bế tắc. Các tình báo viên đã khiến báo giới và dư luận Sài Gòn lúc đó nghĩ rằng vụ bắt bớ này là thủ đoạn đấu đá chính trị của các phe phái trong chính quyền Sài Gòn và cái tội danh "điệp viên, tình báo" chỉ là cái cớ được dựng lên

 Vụ án cụm A.22 từ một thành công về phản gián trở thành một rắc rối lớn về chính trị của CIA. Tòa thánh Vatican và cộng đồng Công giáo di cư cũng cho rằng đây là âm mưu của CIA và Chính quyền Thiệu nhằm phá hoại Công giáo Việt Nam. Để "gỡ rối", CIA đã đề nghị Vũ Ngọc Nhạ khai nhận là mình làm việc cho cơ quan này, đổi lại ông sẽ nhận được lương bổng hậu hĩ cùng với 2 triệu USD trả thêm. Nhưng ông Nhạ đã từ chối

 Nước cờ của cụm tình báo A.22 đã hoàn toàn thành công. Không có ai trong cụm bị kết án tử hình. Do không có bằng chứng thuyết phục để khép vào tội tử hình, tòa án quân sự mặt trận lưu động Vùng 3 đã tuyên án Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hòe án Chung thân khổ sai, những thành viên khác bị kết án từ 5 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, dù sao thì Cụm A.22 cũng đã thực hiện thành công được ý định của mình: giữ được mạng sống các điệp viên, giữ lại được vị thế chính trị để hoạt động khi ra tù, đồng thời gây ra sự nghi kỵ lẫn nhau trong chính trường Việt Nam Cộng hòa

Sự thành công này còn đạt được một kết quả bất ngờ: khi Cụm Tình báo A.22 bại lộ, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa và không muốn tin vào sự thật, còn cho rằng đây là âm mưu của CIA dàn cảnh để triệt hạ người thân tín của mình. Người Mỹ phải đích thân gặp Nguyễn Văn Thiệu và đe doạ: "Nếu ông không ký lệnh bắt Vũ Ngọc Nhạ, ông sẽ mất chức Tổng thống." Trong thời gian Vũ Ngọc Nhạ và các bạn đồng chí bị đày ra Côn Đảo, Thiệu đã thay thế viên Tỉnh trưởng Côn Đảo bằng một người thân tín của mình và ra lệnh phải chăm sóc ông Nhạ chu đáo. Ông còn trao đổi thư từ và gặp mặt trực tiếp với nhiều chức sắc tôn giáo và chính trị gia người Việt lẫn Mỹ. Về phía Vatican, trong buổi lễ ngày 23 tháng 6 năm 1971, Vũ Ngọc Nhạ được giáo hoàng Phaolô VI ca ngợi, ban ơn chết lành và được tặng bằng khen cùng huy chương. Một linh mục khâm sai của Vatican đã đến khám Chí Hoà trao phần thưởng của giáo hoàng cho ông Nhạ vào ngày 25 tháng 6.

                                Ông Vũ Ngọc Nhạ (người thứ 2, trái qua) trong lần họp mặt của Tổng cục tình báo. 

                Ông Vũ Ngọc Nhạ (người thứ 2, trái qua) trong lần họp mặt của Tổng cục tình báo.

 

Cụm tình báo A.22 bị phá vỡ, nhưng hoạt động tích cực của các điệp báo viên khác như Phạm Xuân Ẩn khiến nhiều tin tức nội bộ khác vẫn bị rò rỉ ra ngoài. Điều này càng khiến Nguyễn Văn Thiệu tin rằng Mỹ dàn dựng vu oan cho ông Nhạ và tìm cách đưa ông ra khỏi Côn Đảo về sau.

 Sau khi được trao trả, cuối năm 1973, ông được đưa về Phòng tình báo quân sự để làm công tác xác minh. Đầu năm 1974, sau khi đã kiểm tra thông tin, ông được khôi phục hoạt động bí mật và được công nhận quân hàm Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau năm 1975, toàn bộ Hồ sơ mật về Cụm tình báo chiến lược A.22 của Nha Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia được thu hồi nguyên vẹn. Thậm chí, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, một chỉ huy tình báo cao cấp và là chỉ huy trực tiếp của Vũ Ngọc Nhạ là Đại tá Nguyễn Đức Trí cũng có mặt tại dinh Độc Lập. Tuy nhiên, thân phận thật của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận. Mãi đến năm 1976, ông mới được điều về làm chuyên viên Cục 2 với quân hàm Thượng tá. Năm 1981, ông được thăng quân hàm Đại tá.

Đến năm 1987, thân thế và sự nghiệp của ông mới được công chúng biết tới. Để tôn vinh sự nghiệp hoạt động của ông, năm 1988, Nhà nước Việt Nam phong hàm Thiếu tướng cho Vũ Ngọc Nhạ. Cụm tình báo chiến lược A.22 và Đại tá Lê Hữu Thúy được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

 Ông qua đời lúc 6 giờ 7 phút ngày 7 tháng 8 năm 2002 tại TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi. Phần mộ của ông nay được đặt tại nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, trong khu vực dành riêng cho các tướng lĩnh, gần mộ phần của 2 điệp viên nổi tiếng khác là Phạm Xuân Ẩn và Đặng Trần Đức. Mộ phần của Đại tá Phạm Ngọc Thảo cũng cách đó không xa.

4/ Đặng Trần Đức:  

Đặng Trần Đức (19 tháng 10 năm 1922  26 tháng 3 năm 2004) bí danh Ba Quốc3Q, tên công khai khi hoạt động tình báo tại Sài Gòn trước năm 1975 là Nguyễn Văn Tá, là Thiếu tướng tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Cục trưởng Cục 12, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng Việt Nam, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và Campuchia Trước khi mất, ông là cố vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo và tham gia Ban chỉ đạo Điệp báo Tổng cục.

Ông sinh tại phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai (nay là phường Vĩnh Hưng), thành phố Hà Nội.

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia Việt Minh tại khu Hàng Trống, Hà Nội; được tuyển vào Công an xung phong.

Tháng 5 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng xã Thanh Trì (Hà Nội). Sau khi củng cố chính quyền xã, ông huy động nhân dân lên tham gia cuộc mít tinh ngày 19 tháng 8 tại Nhà hát lớn Hà Nội. Sau đó được điều về Hà Nội làm công an, tham gia phá một số vụ án, trong đó có vụ án phố Ôn Như Hầu. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông là Trung đội trưởng Công an thanh niên xung phong Mặt trận Việt Minh khu Khâm Thiên, Hà Nội.

Năm 1946, Mặt trận Hà Nội vỡ, ông cùng vợ là bà Phạm Thị Thanh về Thanh Hóa. Sau đó được lệnh rút vào Đô Lương (Nghệ An), làm trưởng khu Đức Hòa.

Tháng 5 năm 1949, ông được giao làm nhiệm vụ điệp báo và trở về hoạt động tại Hà Nội. Vợ ông cũng được lệnh về Hà Nội hoạt động nhưng do mới sinh con nên về sau. Tổ chức giới thiệu ông với điệp báo viên Đặng Văn Hàm - từng làm Trưởng ty thương binh tỉnh Ninh Bình - con rể ông Đàm Y. Thời điểm đó ông Đàm Y là quận trưởng của Quận 1 (Hàng Trống) và là thân tín của Tổng trấn Bắc Việt Nghiêm Xuân Thiện. Ông Đặng Văn Hàm sau cũng được đưa vào Nam hoạt động. Sau năm 1975, ông Hàm được thăng quân hàm thiếu tá.

                                                  

                                              

                                                        Thiếu tướng Đặng Trần Đức

Được sự giúp đỡ của cụ Đàm Y, ông che giấu thân phận là Việt Minh, vào làm công an của chế độ Bảo Đại và sau đó xin làm Đồn trưởng công an Từ Sơn (thuộc chính quyền Pháp khi đó), với lý do làm ở vị trí đó ông mới có điều kiện tìm được vợ con.

Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết. Ông được lệnh theo quân Pháp vào Nam tiếp tục hoạt động. Để thuận tiện cho việc hoạt động và xóa lý lịch của mình, hai vợ chồng ông Đàm Y sắp xếp cho Đặng Trần Đức cưới cháu họ của mình là bà Ngô Thị Xuân - có bố làm công chức cho Pháp và theo đạo Thiên Chúa. Cụ ông Đàm Y không có điều kiện được thấy nước nhà thống nhất cũng như thành công của Đặng Trần Đức, cụ mất năm 1974 tại Sài Gòn, nhưng sau này 2 vợ chồng cụ đều được công nhận lại tư cách Điệp báo viên của Tình báo Quốc phòng.

Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết. Ông được lệnh theo quân Pháp vào Nam tiếp tục hoạt động. Để thuận tiện cho việc hoạt động và xóa lý lịch của mình, hai vợ chồng ông Đàm Y sắp xếp cho Đặng Trần Đức cưới cháu họ của mình là bà Ngô Thị Xuân - có bố làm công chức cho Pháp và theo đạo Thiên Chúa. Cụ ông Đàm Y không có điều kiện được thấy nước nhà thống nhất cũng như thành công của Đặng Trần Đức, cụ mất năm 1974 tại Sài Gòn, nhưng sau này 2 vợ chồng cụ đều được công nhận lại tư cách Điệp báo viên của Tình báo Quốc phòng.

Vào Nam, lúc đầu ông được bố trí làm kế toán viên tại Nha Công an Nam phần. Nhờ biết được người Pháp đang có kế hoạch chuyển một số vàng rất lớn về Pháp, ông đã thông tin cho Trưởng ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống là Trần Kim Tuyến. Nhờ đó ông được chuyển về ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa, đặc trách tổ chức việc thu thập thông tin buôn lậu vàng. Sau sự việc này, ông chính thức được điều về Sở Nghiên cứu chính trị - xã hội do Trần Kim Tuyến đứng đầu, với cấp bậc là chuyên viên bậc 3.

Trở thành chuyên viên của Sở Nghiên cứu chính trị, ông Ba Quốc tập trung nghiên cứu tất cả những công việc của cơ quan này và bắt đầu khai thác những gì có thể khai thác. Ông làm việc tận tụy, chu đáo, mẫn cán để tạo lòng tin với Trần Kim Tuyến.

                                            Ông Ba Quốc và gia đình tại Sài Gòn khi đang hoạt động bí mật. 

                                  Ông Ba Quốc và gia đình tại Sài Gòn khi đang hoạt động bí mật. 

 Năm 1956, quân Việt Nam Cộng hòa bắt đầu đánh phá ác liệt các "cơ sở nằm vùng của Việt Cộng". Người chỉ huy trực tiếp của ông là ông Ba Hội cũng bị bắt. Trong bối cảnh đó, Trần Kim Tuyến bất ngờ giao cho ông thực hiện một kế hoạch đặc biệt. Một đặc khu ủy viên Sài Gòn – Gia Định đang hoạt động ở nội thành tên Huỳnh Kim Hiệp đã phản bội, báo tất cả danh sách đặc khu ủy, gồm bí thư và 9 đặc khu ủy viên, nơi ở và các hoạt động hằng ngày của họ. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã kịp thông báo cho bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định lúc đó là ông Nguyễn Văn Linh, người sau này là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và các khu ủy viên kịp thời trốn thoát.

Tháng 5 năm 1959, biết được chính quyền Sài Gòn lên kế hoạch ám sát Hoàng thân Sihanouk, ông đã bố trí cho bom nổ lệch giờ, kịp thời cứu mạng Hoàng thân Sihanouk. Sau vụ việc này, Hoàng thân Sihanouk công khai ủng hộ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Ông cho phép Bộ đội Giải phóng được sử dụng lãnh thổ Campuchia để lập căn cứ, vận chuyển vũ khí, lương thực, đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam.

Năm 1960, sau khi bắt liên lạc được với cơ sở, ông Ba Quốc ngày càng thâm nhập sâu vào Sở Nghiên cứu chính trị và được Trần Kim Tuyến đặc biệt tin tưởng. Trong thời gian này, ông đã phát hiện hồ sơ về 7 ổ gián điệp do Mỹ cài ở miền Bắc. Ông đã chụp ảnh tất cả những hồ sơ này và gửi về căn cứ. Kết quả những ổ gián điệp này đã bị tiêu diệt sạch.

Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, trải qua những năm biến động chính trị của miền Nam, Ba Quốc lại thâm nhập vào Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo. Lúc này ông nằm trong cụm điệp báo H67, ông có lúc leo lên đến trợ lý Cục trưởng Cục Tình báo Quốc nội, kiêm nhiệm Trưởng ban Đoàn thể (phụ trách việc theo dõi hoạt động của các tổ chức chính trị). Ở vị trí này, Ba Quốc được tiếp cận với hầu hết các tài liệu quan trọng trong mạng lưới tình báo của Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1969, xảy ra vụ án gián điệp của Vũ Ngọc Nhạ, mạng lưới tình báo của Hà Nội trong lòng Sài Gòn có nguy cơ bị vỡ, phòng tình báo miền phải rút cụm trưởng H67 về cứ, và tổ chức hội nghị đánh giá lại công tác tình báo. Tuy nhiên ông vẫn chưa bị lộ.

Trong thời kỳ chiến tranh, Đặng Trần Đức đã tìm cách tiếp cận với Phạm Xuân Ẩn, một điệp viên khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang hoạt động dưới vỏ bọc nhà báo, để khai thác tin tức. Cả ông và Phạm Xuân Ẩn đều không biết đối phương là đồng đội cùng chiến tuyến. Cấp trên đã ra lệnh cho ông Đức cắt đứt quan hệ với ông Ẩn, viện cớ ông Ẩn là người của CIA.

Năm 1974, do giao liên bị bắt, trước nguy cơ bị lộ, ông được lệnh rút ra mật cứ, rồi từ đó theo đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc. Về Hà Nội, ông báo cáo tình hình chính trị miền Nam cho Bộ Chính trị, và sau đó được phiên quân hàm Trung đoàn bậc phó tương đương thiếu tá. Tại miền Bắc, ông đoàn tụ với gia đình sau 21 năm cách biệt vì nhiệm vụ.

                               Ông Ba Quốc bên gia đình người vợ ngoài Bắc sau 21 năm xa cách được đoàn tụ. 

              Ông Ba Quốc bên gia đình người vợ ngoài Bắc sau 21 năm xa cách được đoàn tụ 

Khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, ông tiếp tục công tác trong ngành Tình báo quốc phòng và trở thành cán bộ Tình báo. Ông đóng góp rất to lớn vào thành công của lực lượng tình báo trong giai đoạn chiến tranh tây nam. Năm 1977, cụm điệp báo Hà Tiên/Kiên Giang mà ông là cụm trưởng đã móc nối thành công với Heng Samrin - tư lệnh sư đoàn 4 của Khmer Đỏ, nắm được ý đồ của Khmer Đỏ coi "Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp". Từ đó Trung ương Đảng xác định, đây không chỉ là "xung đột biên giới" đơn thuần mà là cuộc chiến tranh Bảo vệ Tổ Quốc. Năm 1978, ông Heng Samrin tiến hành đảo chính không thành công, Việt Nam buộc phải tiến hành biện pháp cứng, phản công trên toàn biên giới tây nam với hơn 25 vạn quân và tiến vào Phnom Penh lật đổ chế độ Khmer Đỏ.

Tháng 11 năm 1978, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu AHLLVTND. Lúc này ông mang quân hàm trung tá.

Sau khi Quân đội Việt Nam tiến quân vào Campuchia, ông là cụm trưởng tình báo địa bàn Koh Kong - phụ trách tình báo quân sự khu vực phía Nam Campuchia.

Sau đó ông công tác tại đoàn 817 - cục 2, đơn vị tình báo chính cho lực lượng quân sự Việt Nam tại Campuchia. Năm 1981, lúc này là thượng tá, ông được giao nhiệm vụ là Đoàn phó Đoàn 817 - phụ trách công tác phản tình báo, bao gồm tiêu diệt và bóc gỡ hệ thống Tình báo của Khmer Đỏ tại Campuchia.

Trong thời kỳ 10 năm ở Campuchia, ông là người tổ chức và chỉ huy Tình báo Việt Nam, phá vỡ các mạng lưới tình báo Khmer Đỏ để lại, triệt phá các kênh ngầm viện trợ cho Khmer Đỏ do liên minh Thái-Mỹ-Trung Quốc đứng đầu, cũng như hỗ trợ đắc lực tin tức tình báo cho Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Năm 1988, trước tình hình biến động tại Đông Âu, khi được cấp trên yêu cầu đánh giá, ông cho rằng CIA sẽ can thiệp để hình thành cái gọi là Xã hội dân chủ ở Liên Xô, nhằm làm sụp đổ chế độ Cộng sản từ bên trong. Ông cũng dự đoán sẽ có 2 cuộc đảo chính diễn ra: đảo chính giả và phản đảo chính, mà cuộc đảo chính thứ 2 mới là thật. Thực tế đã diễn ra đúng với những gì ông nói, ngày 19 tháng 8 năm 1991, bất mãn với Tổng thống Liên Xô - Mikhail Gorbachev, Phó tổng thống, Thủ tướng cùng bộ trưởng Quốc phòng và giám đốc KGB đã huy động quân đội cùng công an giành chính quyền, bộ đội sư đoàn tăng Tamanskaya được lệnh tiến vào Thủ đô, còn đặc nhiệm KGB truy bắt các lãnh đạo phe dân chủ. Tuy nhiên, ngay ngày 20 tháng 8, Boris Yeltsin đã làm cuộc phản đảo chính, kêu gọi nhân dân xuống đường, gây áp lực cho quân đội rút khỏi thủ đô. Đến ngày 21, cuộc đảo chính cơ bản thất bại, Yeltsin bắt đầu nắm quyền lực và đặt nền móng cho sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Nhờ vào đó, nhà nước Việt Nam đã không bị động trước những biến động chính trị ở Đông Âu trong giai đoạn này, một phần dự trữ vàng và ngoại tệ ở Đông Đức và Liên Xô đã được bí mật đưa về nước trước khi thể chế chính trị thay đổi.

                                Chuyện về 2 bà vợ của tướng tình báo bí ẩn nhất Việt Nam ... 

                Nhà tình báo Ba Quốc (bên phải) và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (Ảnh: Tư         liệu).                                                                                  

Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, năm 1990 ông được thăng quân hàm Thiếu tướng, lúc này là đoàn trưởng đoàn 817 và sau đó là Cục trưởng Cục 12, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và Campuchia. Trong giai đoạn này, Cục 12 có những đóng góp rất lớn trong việc giải quyết tình hình Campuchia theo hướng có lợi cho Việt Nam. Cục 12 là đơn vị tình báo đầu tiên, tổ chức được hệ thống giao thông, đưa người trở lại Campuchia sau khi Việt Nam rút quân vào năm 1991. Tháng 9 năm 1997, đồng Thủ tướng Norodom Ranariddh bị lật đổ phải sống lưu vong, và phe thân Việt Nam lên nắm quyền tuyệt đối; đến năm 1998, Khmer Đỏ chính thức tan hàng, Pol Pot chết tháng 4 còn Khieu Samphan đầu hàng quân Hun Sen tháng 12 cùng năm, vấn đề Khmer Đỏ được giải quyết, trong 2 năm biến động này, cục 12 dưới sự chỉ đạo của Đặng Trần Đức (lúc này không còn là cục trưởng) đã thành lập một đơn vị mới đứng chân tại Campuchia để giúp chính quyền thân Việt Nam. Với những thành tích đó, tháng 1 năm 1999, thuộc cấp của ông là Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Tổng cục phó, còn Đặng Trần Đức được Cố vấn Ban chấp hành Trung ương phụ trách Vấn đề Campuchia Lê Đức Anh đề nghị giữ chức Tổng cục trưởng - đứng đầu lực lượng Tình báo Quốc phòng, vì tuổi đã cao, ông từ chối, và tín nhiệm Nguyễn Chí Vịnh giữ chức Tổng cục trưởng, tuy vậy, sau này, ông vẫn còn đóng góp thông qua Ban Chỉ đạo Điệp báo Tổng cục.

Giai đoạn bình thường hóa quan hệ quốc tế, khi còn phụ trách Cục 12 và sau khi về hưu, ông cũng tham mưu và đề xuất với Ban Chỉ đạo Điệp báo Tổng cục trong việc xây dựng lực lượng Tình báo Kinh tế - Công nghệ.

Ông là người duy nhất đi từ tình báo viên trong chiến tranh Việt Nam, trở thành cán bộ tình báo rồi lãnh đạo tình báo quốc phòng sau chiến tranh.

Ông mất hồi 5 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2004 tại Quân y viện 175, thành phố Hồ Chí Minh trong niềm thương tiếc của gia đình, bạn bè và cán bộ chiến sĩ Tổng cục. Ông được an táng tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh bên cạnh những điệp viên xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam như: Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ. Ông được tặng thưởng 15 hân, huy chương các loại.

5/ Phạm Ngọc Thảo:

Phạm Ngọc Thảo có tên khai sinh là Albert Phạm Ngọc Thuần (14 tháng 2 năm 1922 – 17 tháng 7 năm 1965) là một cán bộ tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông hoạt động dưới vỏ bọc là một sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng như là một chính khách có ảnh hưởng lớn trong chính quyền Sài Gòn thời đó. Ông cũng là một thành viên chủ chốt trong 2 cuộc đảo chính ở Việt Nam Cộng hòa vào những năm 1964–1965. Ông mang quân hàm Đại tá của cả hai quân đội đối nghịch trong Chiến tranh Việt Nam là Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Phạm Ngọc Thảo được đích thân Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn chỉ định ở lại miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève, với nhiệm vụ chiến lược là thâm nhập vào hàng ngũ cao cấp của chính quyền Sài Gòn để "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước". Không ai biết rõ "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước" là nhiệm vụ gì, tuy nhiên theo Võ Văn Kiệt, Thảo được quyền tùy cơ ứng biến, hoạt động độc lập, không bị bất cứ một chế định nào, không bị bắt buộc phải báo cáo với một số cấp trên cụ thể nào.

Sau một thời gian tạo vỏ bọc, Thảo đã giành được lòng tin của chính phủ Ngô Đình Diệm, được bổ nhiệm một số chức vụ cao cấp và ông đã sử dụng quyền hạn của mình để phục vụ cho nhiệm vụ tình báo mình được giao. Trong thời gian được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), ông đã thả 2000 tù chính trị trong đó bao gồm nhiều cán bộ cách mạng, và cố ý làm lệch hướng các cuộc càn quét của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ cuối năm 1963, Thảo tham gia nhiều vụ đảo chính với mục đích gây mất ổn định cho chính quyền Sài Gòn và tạo điều kiện cho hoạt động của quân Giải phóng. Tuy nhiên sau cuộc đảo chính bất thành vào năm 1965, ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa truy nã và kết án tử hình. Ông tiếp tục hoạt động bất hợp pháp một thời gian cho đến khi bị bắt, tra tấn và sát hại vào ngày 17 tháng 7 năm 1965.

                                              

                                                             Đại tá Phạm Ngọc Thảo

Thân phận thật của Phạm Ngọc Thảo được giữ kín suốt một thời gian dài sau chiến tranh, chỉ đến năm 1995 ông mới được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nguyên nhân được cho là để bảo đảm an toàn cho gia đình của ông đang sống ở Hoa Kỳ.

Albert Phạm Ngọc Thảo có tên đầy đủ là Albert Phạm Ngọc Thuần, nguyên quán tại Thành phố Cần Thơ (tỉnh Hậu Giang cũ) trong một gia đình Công giáo toàn tòng. Mọi người thường gọi ông là Chín Thảo theo lối gọi Nam Bộ vì ông là thứ 8 trong gia đình có 11 người con. Cha và các anh em của ông đều có tên Phạm Ngọc Thuần, chỉ khác phần tên tiếng tây.

Cha ông là Adrien Phạm Ngọc Thuần (1882–1970), một địa chủ lớn có quốc tịch Pháp. Mẹ ông là bà Martha Nguyễn Thị Giai (1883–1963). Ông Adrien Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Adrien Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học.

Gia đình Phạm Ngọc Thảo có nhiều người tham gia các phong trào yêu nước. Ông nội của Phạm Ngọc Thảo là chí sĩ ái quốc Phạm Ngọc Lành, người ủng hộ, hậu thuẫn cho nhiều phong trào chống Pháp (kể cả Cần Vương). Anh của Phạm Ngọc Thảo, luật sư Gaston Phạm Ngọc Thuần (1914–2002) là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, sau năm 1954 tập kết ra Bắc, làm Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại CHDC Đức. Một anh trai khác là Lucien Phạm Ngọc Hùng là Ủy viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, gia đình Phạm Ngọc Thảo đã đem hết tài sản ra ủng hộ kháng chiến.

Lúc nhỏ ông học một trường tư thục Công giáo nổi tiếng ở Sài Gòn đó là trường Lasan Taberd (Có tài liệu nói học trường Chasseloup Laubat- ngày nay là trường THPT Lê Quý Đôn). Khi học xong tú tài, khác với các anh em khác, ông không sang Pháp du học (do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra) mà ra Hà Nội học, tốt nghiệp Trường kỹ sư công chánh năm 1942 và về làm việc tại Sài Gòn từ năm 1943.

Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, anh cả của ông là Gaston Phạm Ngọc Thuần tham gia Việt Minh ở Vĩnh Long và được cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ. Khi Luật sư Phạm Văn Bạch ra miền Bắc, ông Thuần làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ (trong những năm 60 làm đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Dân chủ Đức). Anh trai thứ bảy Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam. Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông Phạm Ngọc Thảo tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp và quyết định trở về Vĩnh Long theo anh tham gia kháng chiến, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ. Trên đường về, ông bị dân quân Việt Minh bắt hai lần và suýt bị xử bắn do hiểu lầm.

                                Chú thích ảnh 

                                                     Vợ chồng Liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (sau này là Trường Sĩ quan Lục quân I, nay là Đại học Trần Quốc Tuấn) khai giảng. Ông cùng 12 chiến sĩ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá I (tháng 12/1946), ông được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Một lần, ông được giao nhiệm vụ đưa một cán bộ về Nam Bộ. Do người cán bộ này có vẻ ngoài gầy yếu, ông đề nghị người cán bộ này giả vờ bị bệnh lao phổi và cho mình cõng trên lưng, khi đi qua các khu vực do quân Pháp chiếm đóng sẽ khai là hai chú cháu cõng nhau đi tìm thầy thuốc. Như dự đoán, do sợ bệnh lao, những người xét hỏi chỉ khám xét qua loa và hai người đến vùng giải phóng an toàn. Người cán bộ được Phạm Ngọc Thảo hộ tống chính là Lê Duẩn, người có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tình báo của ông sau này.

Sau khi trở về Nam Bộ, ông được giao nhiệm vụ Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ, rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410, Quân khu 9 (có tài liệu nói là tiểu đoàn 404 hoặc tiểu đoàn 307). Việc bổ nhiệm Phạm Ngọc Thảo, một thanh niên con nhà địa chủ Công giáo làm Trưởng phòng Mật vụ, được cho là quyết định rất táo bạo của Lê Duẩn. Trong thời gian này Phạm Ngọc Thảo cũng hướng dẫn về chiến tranh du kích cho các học viên Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim... những người sau này trở thành các tướng lĩnh trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1949, Phạm Ngọc Thảo kết hôn với bà Phạm Thị Nhiệm, cũng là một trí thức tham gia kháng chiến (bà Nhiệm là em ruột giáo sư Phạm Thiều).

Những năm 1952–1953, ông là sĩ quan tham mưu trong một số đơn vị chủ lực của Việt Minh tại miền Tây Nam Bộ.

Sau Hiệp định Genève, các cán bộ của Việt Minh (cả dân sự lẫn quân sự) đều được tập kết ra Bắc. Cũng có nhiều cán bộ Việt Minh đã bí mật ở lại. Riêng trường hợp của Phạm Ngọc Thảo, chính Lê Duẩn đã chỉ thị cho ông không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam để hình thành "lực lượng thứ ba" trong trường hợp Hiệp định Geneve không được đối phương thi hành. Về việc này, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: "Anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho đồng chí Thảo một nhiệm vụ đặc biệt".

Lê Duẩn giới thiệu Phạm Ngọc Thảo với Mai Chí Thọ, lúc ấy là người phụ trách Ban Đặc tình Xứ ủy và hai người khác trong Ban Đặc tình Xứ ủy là Mười Hương và Cao Đăng Chiếm. Ông được giao nhiệm vụ phải thâm nhập vào nội bộ của chính quyền Sài Gòn để hoạt động "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước". Nội dung cụ thể chi tiết của nhiệm vụ này không được rõ, kể cả ông Mai Chí Thọ chỉ biết nhiệm vụ của mình đối với Phạm Ngọc Thảo nhưng không được biết Lê Duẩn giao nhiệm vụ gì cho ông Thảo. Theo lời của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phạm Ngọc Thảo được quyền tùy cơ ứng biến, hoạt động độc lập, tự do hành động, không bị bất cứ một chế định nào, không có trách nhiệm báo cáo bất cứ chuyện gì với bất kỳ ai và có quyền tự do báo cáo thông tin với bất cứ cấp trên nào mà ông Thảo thấy tin tưởng.

                                    Đại tá Phạm Ngọc Thảo - Nhà tình báo hành động huyền thoại của Việt Nam - Bài 1: Nhiệm vụ đặc biệt 

Phạm Ngọc Thảo (thứ hai từ trái sang) trong Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 410 tại miền Tây Nam Bộ năm 1952. Ảnh tư liệu

Tuy ở lại hoạt động ở miền Nam nhưng Đảng không cho phép Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm vào sống ở Sài Gòn, chỉ có Mười Hương là có thể vào Sài Gòn sống hợp pháp vì ông là cán bộ từ ngoài Bắc vào, không ai biết. Do đó, Mười Hương đã bàn bạc cụ thể với Phạm Ngọc Thảo về phương thức hoạt động và trực tiếp liên lạc với Phạm Ngọc Thảo ngay tại Sài Gòn. Ông Mười Hương trở thành "người chỉ huy" Phạm Ngọc Thảo trong thời kỳ đầu, tuy nhiên thời gian này rất ngắn, vì sau đó Mười Hương bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế.

Phạm Ngọc Thảo trở lại Sài Gòn giữa lúc tình hình rất khó khăn, lực lượng Bình Xuyên gây rối khắp nơi. Vì không chịu ký tên vào giấy "hồi chánh" theo quy định của chế độ Việt Nam Cộng hòa đối với những người đã đi theo Việt Minh không tập kết ra Bắc, ông bị đại tá Mai Hữu Xuân, Giám đốc An ninh Quân đội lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Vì vậy, ông không vội tiếp cận với gia đình họ Ngô mà đi dạy học. Vợ ông cũng vậy.

Sau cùng, ông về Vĩnh Long dạy học. Vùng này thuộc giáo phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn quen biết gia đình ông từ lâu. Gia đình ông theo Thiên chúa giáo lâu đời, rất thân thiết với Giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến Thảo vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Ngọc Thảo từng mời Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục vào chiến khu để tranh thủ đồng bào Công giáo ủng hộ kháng chiến. Vì vậy, Giám mục Thục đã bảo lãnh cho ông vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ. Sau này, cũng chính Giám mục Thục đã giới thiệu ông với Ngô Đình Nhu và ông được sắp xếp vào làm việc ở Sở Tài chánh Nam Việt.

Nhờ chính sách "đả thực bài phong", khuyến khích những người theo kháng chiến cũ về với "chính nghĩa quốc gia" của Ngô Đình Diệm, ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1956, ông được phép đưa vợ con ra Sài Gòn sinh sống, làm việc tại ngân hàng quốc gia; rồi được chuyển ngạch quân sự, mang hàm Đại úy "đồng hóa".

Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của ông Huỳnh Văn Lang, Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng Cần Lao.

Sau khi gia nhập đảng Cần Lao, ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên đảng Cần Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa – tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Tờ Bách Khoa qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn tồn tại cho đến năm 1975.

                                  nha-tinh-bao-pham-ngoc-thao                                                       Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo.

Đại tá Thảo còn biết "khai thác" vốn binh pháp Tôn Tử mà Hoàng Đạo Thúy từng dạy để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo... Điều đặc biệt là trong các bài báo này, ông ngầm ca ngợi quân đội Việt Minh và các lực lượng kháng chiến chống Pháp – điều tối kỵ đối với người sống dưới chính quyền Sài Gòn có chính sách chống Cộng triệt để. Chính quyền lúc đó thấy bài viết của ông mang "giọng điệu Cộng sản" nhưng không thể bắt bẻ được vì ông chỉ thuần tuý nêu lên kinh nghiệm cá nhân của mình mặc dù ai cũng ngầm hiểu đấy là "kinh nghiệm" của ai. Hơn nữa, các bài viết của ông được nhiều thành phần độc giả đánh giá cao, trong đó có chính anh em Ngô Đình Diệm. Nhờ đó, Phạm Ngọc Thảo dần dần lọt vào mắt xanh gia đình họ Ngô. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Vĩnh Long, rồi Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Bình Dương.

Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật.                                 

Biết Phạm Ngọc Thảo từng là chỉ huy quân sự Việt Minh, đầu năm 1961 Ngô Đình Diệm đã quyết định thăng ông lên trung tá và cử làm tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre) để trắc nghiệm Chương trình Bình định. Trước khi nhận nhiệm vụ mới, ông đề nghị trực tiếp với Ngô Đình Diệm 3 yêu cầu:

  • Một là ổn định tình hình Bến Tre không phải bằng bạo lực mà là chính trị, vì ông không thể hành động như những quân nhân võ biền khác.
  • Hai, nếu bắt được Việt Cộng, có đủ bằng chứng, cho lập phiên tòa xét xử.
  • Ba, Tỉnh trưởng Bến Tre được đặc cách chỉ báo cáo với Tổng thống, không qua một ban, bộ nào.

Ngô Đình Diệm đã chấp thuận cả ba yêu cầu đó. Về làm Tỉnh trưởng Bến Tre một thời gian, ông đã ký quyết định thả 2.000 tù nhân chính trị đang bị giam giữ (trong đó có ông Võ Viết Thanh, sau này là Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh), liên lạc với bà Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ và lập tòa án trừng trị bọn phản bội, đầu hàng. Chính sách không sử dụng bạo lực của Phạm Ngọc Thảo đã "bật đèn xanh" cho phong trào Đồng khởi sau này.

Nhiều phản ứng của phía chính quyền và quân đội Sài Gòn đều được Phạm Ngọc Thảo bác bỏ với lý do Ngô Đình Diệm thí nghiệm một luận thuyết mới nên phải có thì giờ để kiểm nghiệm. Do có nhiều tố cáo nghi ngờ ông là cán bộ cộng sản nằm vùng, anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu đã ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và cho ông sang Hoa Kỳ học một khóa về chỉ huy và tham mưu. Năm 1962, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống.

Ngày Quốc khánh Việt Nam cộng hòa 26 tháng 10 năm 1961, một cuộc mít-tinh lớn biểu dương lực lượng được tổ chức tại Quảng trường An Hội (khu Vườn Hoa ba con chim câu bây giờ). Đặng Quốc Tuấn (sau này là Tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh đoàn, Giám đốc Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Bến Tre), lúc đó 17 tuổi, đang học đệ tam (lớp 10) cùng với đồng đội tên Thiều có nhiệm vụ phá hoại buổi mít-tinh này. Mỗi ông cầm 1 quả lựu đạn MK2, còn lại 3 quả lựu đạn để ở nhà ông Thiều. Theo bàn bạc, ông Thiều ném lựu đạn trước, ông Tư Tuấn ném tiếp theo, xong chạy về tập kết tại nhà ông Thiều ở thị xã. Tuy nhiên, không có quả lựu đạn nào phát nổ. Hai ông định quay về nhà lấy thêm 3 quả lựu đạn còn lại thì bị bắt.

Một tuần sau khi hai ông bị bắt, ông Thảo có đến gặp ông Tuấn và ông Thiều. Lần đó, một cố vấn Mỹ thẩm vấn, ông Thảo làm phiên dịch. Hỏi: "Tại sao là học sinh mà đi ám sát Tỉnh trưởng ngay tại ngày Quốc khánh? Có phải Cộng sản giao việc không? Ai là người giao việc?". Trả lời: "Do chính quyền độc ác, đàn áp ức hiếp giết hại dân. Chúng tôi học tập gương của Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học đứng lên đấu tranh, không liên quan gì tới Cộng sản, không có ai giao việc cả". Ông Thảo dịch như thế nào ông Tư Tuấn không biết, ông Thảo chỉ nói với hai ông: "Các em còn nhỏ, phải lo chuyện học hành, chính trị là chuyện của người lớn, sau này lớn lên muốn làm gì thì làm". Lần thứ hai, ông Thảo đến hỏi thăm trước khi cả hai bị đưa về Chí Hòa. Hai ông bị kết án mỗi người 20 năm tù, sau đó đưa ra Côn Đảo. Ông Thiều được trao trả năm 1973, thoát ly lên chiến khu, sau giải phóng làm cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, qua đời năm 1984 vì bệnh. Còn ông Tư Tuấn đến ngày giải phóng mới về.

Những năm 1988–1989, bà Phạm Thị Nhiệm – phu nhân ông Thảo định cư ở Mỹ có về thăm tỉnh Bến Tre và An Giang. Bà đã gặp lại Đặng Quốc Tuấn trong chuyến thăm lại Dinh Tỉnh trưởng. Bà Phạm Thị Nhiệm thăm hỏi ông Tuấn rồi bảo gửi cho bà tấm ảnh khi còn là học sinh Kiến Hòa, để về treo bên cạnh ảnh ông Phạm Ngọc Thảo làm kỷ niệm. Bà kể: "Hồi đó, ông Thảo vẫn thường nhắc chúng mày. Lúc bị ném lựu đạn ông Thảo chụp trái lựu đạn đang xì khói, lúng túng không biết xử lý làm sao. Nếu liệng ra bên ngoài thì chết dân, liệng bên phải bên trái thì chết dàn thiếu nhi nhà thờ. Đang không biết làm sao thì thấy khói dần dần mỏng ra, ổng biết lựu đạn lép, nên nắm chặt luôn".

Trong những năm 1962–1963, phong trào Đồng khởi lan rộng. Biết trước sau gì tổng thống Ngô Đình Diệm cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và giáo sư Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu đổi chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ.

Tháng 9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu một cuộc đảo chính. Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ. Để chấm dứt âm mưu đảo chính này, ngày 6 tháng 9 năm 1963, Tổng thống Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin Thảo phản bội, thứ hai là Thảo "không có quân". Thực ra lúc đó Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an,... hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.

                                   

     Đại tá Phạm Ngọc Thảo khi giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre ngày nay). Ảnh: Tạp chí LIFE

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ bởi một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh. Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo được phe đảo chính giao nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh. Theo tài liệu "Làm thế nào để giết một Tổng thống?", Trung tá Phạm Ngọc Thảo nằm trong nhóm các tướng tá, đứng đầu bởi 2 tướng Trần Thiện Khiêm và Đỗ Mậu, chủ trương chỉ thay đổi cơ cấu chế độ mà không làm hại đến tính mạng anh em Diệm – Nhu. Ông được tướng Khiêm giao nhiệm vụ tìm mọi cách để đón và bảo vệ an ninh cho anh em Diệm – Nhu sau khi quân đảo chính kiểm soát được dinh Gia Long. Dù không đón được anh em Diệm – Nhu, những người mà sau đó đã bị giết trong một hoàn cảnh bí ẩn, để tưởng thưởng cho công lao tham gia đảo chính, ông vẫn được thăng lên cấp đại tá, làm tùy viên báo chí trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. Một thời gian sau, ông được cử làm tùy viên văn hóa của Tòa đại sứ Việt Nam tại Mỹ. Sau đó ông được tướng Nguyễn Khánh mời làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân Cách mạng".

Tháng 10 năm 1964, khi Trần Thiện Khiêm được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ, ông được cử làm tùy viên báo chí và quân sự của Sứ quán Việt Nam Cộng Hòa. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay).

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông. Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát.

Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn vì một lý do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19 tháng 2 với tên gọi Chiến dịch Nguyễn Huệ.

                                  

Ảnh của phóng viên Hãng tin Pan-Asia Newspaper Alliance (PANA News, Nhật Bản) chụp Phạm Ngọc Thảo mang lon Đại tá quân đội Sài Gòn lúc chỉ huy cuộc đảo chính ngày 19-2-1965. Ảnh: Tạp chí LIFE

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, Phạm Ngọc Thảo cùng thiếu tướng Lâm Văn Phát, đại tá Bùi Dzinh và trung tá Lê Hoàng Thao đem quân (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh) và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh được Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Mục tiêu quan trọng hàng đầu là bắt sống Nguyễn Khánh đã không thực hiện được. Trong tờ Việt Tiến (in ronéo, phát bí mật) với bút hiệu Lê Minh, đại tá Phạm Ngọc Thảo đã viết: "Chúng tôi vì không muốn đổ máu mà hơn nữa ngay từ phút đầu đã thấy có sự chia rẽ và tranh giành nhau, nên tôi đã cho lệnh chấm dứt cuộc chính biến vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 2 và coi như 20 giờ làm chủ thủ đô đã chấm dứt".

Ngày 20 tháng 2 năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lĩnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã tổ chức hội đồng các tướng lĩnh họp ở Biên Hòa. Các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính và ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ. Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát, Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.

Ngày 21 tháng 2 năm 1965, các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa, quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 22 tháng 2 năm 1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lệnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động (một hình thức trục xuất khỏi nước cho đi lưu vong).

Ngày 25 tháng 2 năm 1965, Nguyễn Khánh rời khỏi Việt Nam.

Ngày 11 tháng 6 năm 1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả lại quyền lãnh đạo quốc gia cho quân đội.

Ngày 14 tháng 6 năm 1965, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia đã được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng).

                                    

        Cuộc đảo chính năm 1965 do Đại tá Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy. Ảnh: Tạp chí LIFE

Sau đó, Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật, lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo "Việt Tiến", mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hòa tới Hố Nai, Thủ Đức; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông bị chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là Sáu Dân (bí danh của Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp.

Ông Võ Văn Kiệt kể lại: "tôi thấy Phạm Ngọc Thảo quá khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu. Nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chính thành công quyết tâm ngăn chặn bàn tay đế quốc Mỹ định đưa quân viễn chinh vào miền Nam, cản trở kế hoạch ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng cuối tháng 5/1965...".

Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài an toàn nhưng ông từ chối.

Sau khi nhậm chức, Nguyễn Văn Thiệu quyết định tìm bắt và giết Phạm Ngọc Thảo để trừ hậu họa. Tướng Lâm Văn Phát đã ra trình diện và chỉ bị cách chức, nhưng đại tá Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh Thanh, Nhơn Trạch, Biên Hòa. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị An ninh Quân đội mai phục sẵn bắt rồi đưa về một suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa thủ tiêu.

Tuy nhiên Phạm Ngọc Thảo không chết mà chỉ bị ngất vì viên đạn chỉ trúng cằm. Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Ông được linh mục Cường, cha tuyên úy của Dòng Nữ tu Đa Minh, Tam Hiệp cứu chữa. Sau đó ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi An ninh quân đội tới truy tìm, nhưng bị phát giác và ông lại bị an ninh quân đội bắt về Nha An ninh Quân đội, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Ông bị Nguyễn Ngọc Loan và thuộc hạ tra tấn dã man và bóp hạ bộ ông cho đến chết vào rạng sáng 17 tháng 7 năm 1965. Khi đó ông mới 43 tuổi.

                                      
           Phạm Ngọc Thảo thời trẻ. Mãi sau này, khi ông được truy phong, người ta mới biết ông là tình báo viên. 

Nguyễn Ngọc Loan (tức Sáu Lèo) được cho là đã sát hại ông lúc đó. Linh mục Nguyễn Quang Lãm (chủ bút Báo Xây dựng), người có tình cảm đặc biệt đối với Phạm Ngọc Thảo, đã che chở, giữ liên lạc và làm tất cả những gì có thể làm được để giúp Phạm Ngọc Thảo. Sau khi Phạm Ngọc Thảo bị giết hại, Báo Xây dựng của cha Lãm đã đăng loạt bài điều tra 40 kỳ về cái chết của ông. Chưa hết, gần 10 năm sau, vào năm 1974, cha Lãm còn viết một loạt bài nhiều kỳ đăng trên Báo Hòa Bình, lại đề cập đến việc ai đã giết Phạm Ngọc Thảo, ai đã bán đứng Phạm Ngọc Thảo. Chính cha Lãm đã trực tiếp gặp Nguyễn Ngọc Loan để hỏi cho ra nhẽ. Tướng Loan chối, bảo rằng không có chuyện đó, rằng ông Thảo chết là do bị thương quá nặng, mình không liên quan đến chuyện bắt bớ ông Thảo. Linh mục Nguyễn Quang Lãm đem lời tướng Loan kể lại cho đàn em và bạn bè Phạm Ngọc Thảo, nhưng không ai tin, "người ta sẵn sàng tin là tướng Loan nói thật, nhưng đó là sự thật ghi trên các phúc trình, báo cáo, biên bản của bác sĩ". Vị linh mục còn viết tiếp: "Tôi biết chắc những người có dụng ý loại trừ Thảo không muốn chuyện bắt bớ kéo dài kéo theo nhiều chuyện lôi thôi. Bởi họ không thể không biết đại tá Phạm Ngọc Thảo rất được cảm tình và sự che chở của nhiều chức sắc cao cấp Công giáo. Nếu Phạm Ngọc Thảo bị giải về Sài Gòn, chờ ngày ra tòa lãnh án thì tất nhiên sẽ có nhiều tiếng nói can thiệp, nhiều áp lực ngay cả do phía tòa đại sứ Mỹ. Vì vậy biện pháp áp dụng là thủ tiêu ngay". Năm 2012, trong một bài báo của báo báo Thanh Niên linh mục Nguyễn Quang Lãm kể lại đã từng hỏi Nguyễn Cao Kỳ: "Hồi đó mọi người đều nói tướng Nguyễn Ngọc Loan tự tay giết chết Phạm Ngọc Thảo. Mà tướng Loan từng là người thân cận của ông?". Nguyễn Cao Kỳ đã trả lời: "Tôi không biết ông Loan có giết ông Thảo hay không, nhưng mọi quyết định đều do ông Thiệu".

Có ý kiến nói rằng Phạm Ngọc Thảo bị Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh giết hại là bởi ông ta không tin Phạm Ngọc Thảo là Đảng viên cộng sản, nếu tin Phạm Ngọc Thảo là Đảng viên cộng sản thì Nguyễn Văn Thiệu sẽ không giết Phạm Ngọc Thảo. Bởi kinh nghiệm từ cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu không cảm thấy lo sợ những người cộng sản bằng một người không cộng sản được Mỹ và Giáo hội Công giáo hậu thuẫn để làm đảo chính lật đổ ông ta.

Những năm ấy, rất ít người biết Phạm Ngọc Thảo là một nhà tình báo, người ta chỉ biết ông là một sĩ quan có khả năng chính trị và ngoại giao. Sau ngày Việt Nam thống nhất, nhiều đồng đội đã vô cùng chua xót khi thấy mộ ông vẫn chỉ là nấm mồ vô danh. Họ đã sưu tầm tư liệu, đề nghị Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,... Rất nhiều nước mắt xúc động, cảm thương của những người chiến binh già đã rơi khi kể lại câu chuyện về ông. Năm 1987, Nhà nước Việt Nam truy tặng ông danh hiệu liệt sĩ, với quân hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và năm loại huân chươngnhững cao quý khác.. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, trên đồi Lạc Cảnh (thành phố Thủ Đức). Mộ ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm Ngọc Thạch, Can Trường...  

                               Phạm Ngọc Thảo - Oanh liệt trong thầm lặng 

                                               Phạm Ngọc Thảo bị sát hại - Ảnh: Tư Liệu

Mãi tới 12 năm sau ngày hòa bình, Nhà nước Việt Nam mới chính thức công nhận liệt sĩ và phong anh hùng cho Phạm Ngọc Thảo. Ông Mười Hương đã nói: "Phong anh hùng 10 lần cho Phạm Ngọc Thảo cũng xứng đáng, nhưng chưa thể được, vì vợ con Thảo đang ở Mỹ. Khi chiếu phim Ván bài lật ngửa, tôi gọi cho ông Trần Độ (lúc ấy làm Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương) bảo hãy cấm cái phim đó đi, đừng làm hại vợ con Phạm Ngọc Thảo". Ông Phạm Xuân Ẩn cũng từng nói sau khi Phạm Ngọc Thảo bị giết chết, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã đề nghị chính quyền Mỹ trục xuất vợ con ông Thảo, lúc đó ở Mỹ có một cuộc vận động bảo vệ vợ con ông Thảo, ngay cả những nhà báo Mỹ chống cộng cũng phản đối sự trục xuất này, vì vậy mà vợ con ông Thảo vẫn bình an vô sự cho đến bây giờ.

Phạm Ngọc Thảo được coi là một trong 4 tình báo viên xuất sắc nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam (3 người kia là Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và Đặng Trần Đức). Một số người còn cho ông là điệp viên xuất sắc nhất bởi 3 đặc điểm chính:

  1. Phạm Ngọc Thảo là tình báo viên hoạt động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Lê Duẩn. Nhiệm vụ của ông không phải là đưa tin mà là tác động đến sự "thay đổi chế độ". Có thể nói tầm quan trọng của Phạm Ngọc Thảo ngang với sức mạnh của một đạo quân.
  2. Khác với các tình báo viên thông thường, Phạm Ngọc Thảo là người có thể tác động trực tiếp đến chính quyền và quân đội. Là sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ông có tác động, thậm chí trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển gây mất ổn định chính quyền Nam Việt Nam những năm 1964-1965.
  3. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái quân đội, Phạm Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không trốn chạy để bảo toàn mạng sống. Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn đến chết, Phạm Ngọc Thảo vẫn không lộ tung tích của mình. Mãi sau này, khi ông được truy phong, người ta mới biết ông là tình báo viên.

Hai ông bà Phạm Ngọc Thảo và Phạm Thị Nhiệm có bảy người con. Vợ ông từng đi dạy học. Vợ và con ông hiện đang ở Hoa Kỳ. Tất cả các con của ông đều học hành thành tài (có người là bác sĩ, đang ở Quận Cam).

Ông Trần Bạch Đằng nhận xét: "các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai". Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: "anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta."

6/ Nguyễn Thị Mỹ Nhung:

Những câu chuyện hoạt động cách mạng năm xưa chưa bao giờ phai mờ trong ký ức của Thượng úy, nữ tình báo, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo). Đó là những chiến công vẻ vang, góp sức vào cuộc Tổng tiến công vang dội mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Năm 16 tuổi, tiểu thư đài các Nguyễn Thị Mỹ Nhung quyết định lựa chọn con đường hoạt động tình báo với bí danh Tám Thảo. Cuộc đời bà là vinh quang, nước mắt với nhiệm vụ bí mật, những cuộc đối trí một mất một còn ngay trong lòng địch.  

Nữ tình báo Tám Thảo tên thật là Nguyễn Thị Mỹ Nhung sinh năm 1932, nguyên cán bộ Cụm tình báo H63, Đoàn J22, Cục Nghiên cứu, Bộ Tổng Tham mưu (nay là Tổng cục II, Bộ Quốc phòng).

                                Nữ tình báo Tám Thảo và những cuộc đấu trí trong lòng địch  - Ảnh 2. 

                                                          Nữ tình báo Tám Thảo ngày trẻ

Bà sinh ra trong gia đình giàu có, là tiểu thư cành vàng lá ngọc. Tuy nhiên, cô tiểu thư kiêu kỳ lại đến với nghề tình báo rất sớm. Năm 16 tuổi, bà "trốn" gia đình tự tìm ra vùng chiến khu và được giao nhiệm vụ lái đò đưa cán bộ qua sông. Người bà thường đưa đón chính là nhà tình báo nổi tiếng Phạm Ngọc Thảo.

Sau thời gian tập sự, bà được tổ chức đưa vào nội thành Sài Gòn làm giao thông viên bí mật.

Năm 1954, khi Hiệp định Geneve được ký kết, bà xin tập kết ra Bắc để gặp người yêu, nhưng ông Mười Hương (chỉ huy trực tiếp cụm tình báo H63 nổi tiếng lúc bấy giờ) thuyết phục bà ở lại. Là một nhà tình báo, điệp viên lão luyện, ông Mười Hương hiểu rõ, cuộc chiến trong Sài Gòn sắp tới có thể sẽ khốc liệt hơn, cần những người thông minh, tài giỏi, yêu nước… Khi nghe cấp trên đề nghị, tiểu thư Mỹ Nhung quyết định: "Vâng, thế em ở lại. Tổ quốc là trên hết".

18 tuổi, sau thời gian nằm vùng chờ đợi trong vai trò một tiểu thư bán vải nức tiếng xinh đẹp ở chợ Bến Thành, Mỹ Nhung được tổ chức đặt bí danh Nguyễn Thị Yên Thảo - Tám Thảo làm giao liên cho tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn.

Từ đây Phạm Xuân Ẩn - Tám Thảo trở thành cặp bài trùng ăn ý thực hiện nhiều "phi vụ" trót lọt. Bằng sự sắc sảo, thông minh và nhạy bén trong xử lý tình huống, chính Tám Thảo là người đưa Phạm Xuân Ẩn ra chiến khu ở Củ Chi để ông gặp gỡ các lãnh đạo và nhận phân công nhiệm vụ. Đặc biệt, những thông tin, tài liệu mật của tướng Ẩn luôn được Tám Thảo đưa về chiến khu một cách trót lọt, an toàn.

Một trong những chiến công xuất sắc của Tám Thảo là vận chuyển 24 cuốn phim Kodak của tướng Ẩn từ nội thành ra Củ Chi vào năm 1961. Nhiệm vụ rất nặng nề bởi nếu bị phát hiện, hậu quả sẽ khôn lường, không chỉ cho tính mạng bản thân mà còn cho tướng Ẩn và cụm tình báo H63. Hơn thế tài liệu trong 24 cuốn phim có giá trị thông tin rất lớn.

Sau khi nhận tài liệu, bà giấu 24 cuốn phim Kodak trong giỏ và vào vai tiểu thư đài các về quê ăn giỗ. Tám Thảo bắt xe đò ra Củ Chi, khi xe chạy tới địa phận Hóc Môn thì bị địch chặn lại, khám xét.

Bình tĩnh, mưu trí, lo lắng trong lòng, nhưng bề ngoài, Tám Thảo tỏ ra "bình thường". Bà lại gần đứng bên tên chỉ huy, chủ động gợi chuyện để thu hút. Bằng tài ăn nói, sự khéo léo bà khiến quân định lơ là, dễ dàng cho bà qua bốt kiểm tra, an toàn giao tài liệu cho tổ chức.

Năm 1966, bà thôi làm giao liên cho tướng Phạm Xuân Ẩn để bước vào nhiệm vụ mới. Cấp trên yêu cầu bà tìm cách lọt vào cơ quan đầu não của địch và làm việc ngay trong lòng địch.

Sau đó, do đặc thù nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu Mỹ Nhung phải tìm cách lọt vào cơ quan đầu não của địch và làm việc ngay trong lòng địch. Với khả năng tiếng Anh lưu loát, bà Tám Thảo xin được vào làm thông dịch trong một cơ quan Hải quân Mỹ. Ở đó, Tám Thảo lần lượt giúp việc, thông dịch cho các đời trưởng phòng, cố vấn tình báo Mỹ. Tranh thủ những thuận lợi, bà tiếp cận tài liệu cung cấp cho kháng chiến.     

Với vỏ bọc "hoàn hảo này", Tám Thảo đã thu thập được nhiều tin tức, tài liệu quan trọng, đặc biệt là sơ đồ, bố trí lực lượng của tổng bộ hải quân ngụy; Tài liệu đánh giá của Mỹ ngụy về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, góp phần giúp lãnh đạo Đảng, Quân ủy Trung ương có những nhận định và xử trí thích hợp để giành chiến thắng trên chiến trường miền Nam.

                                Nữ tình báo Tám Thảo và những cuộc đấu trí trong lòng địch  - Ảnh 3.  

                                Về già, nữ tình báo Tám Thảo vẫn giữ được nhan sắc xinh đẹp.

Trong thời gian này, để giữ mình, che mắt địch, Tám Thảo luôn giữ cái đầu tỉnh táo, khéo léo, cơ trí trong từng tình huống bởi quanh bà là các mật thám, CIA Mỹ lão luyện của Mỹ…

Không chỉ ẩn thân qua mặt địch, với tư chất thông minh và tài ứng biến tài tình, Tám Thảo còn xuất sắc đánh lừa máy kiểm tra nói dối tân tiến của Mỹ.

Bà nhớ lại, ngồi trước máy kiểm tra nói dối, tự nhủ phải bình tĩnh, nên bà ngồi thoải mái trên ghế. Cuộc khảo sát bắt đầu: "Cô người Bắc hay Nam?". "Bắc". "Anh cô tập kết ra Bắc phải không?". "Phải". "Một năm cô gửi mấy lá thư ra Bắc?". Nếu nói không gửi hoặc gửi nhiều quá đều rất nguy hiểm, nên bà quyết định trả lời: "Hai"…

Bà kể lại: "Quá trình kiểm tra, chúng kết hợp quay phim. Tôi cũng đấu trí bằng cách nhớ lại tên các nhân vật trong những bộ phim tôi đã từng xem, không còn quan tâm đến câu hỏi của chúng để tinh thần tỉnh táo cao độ, không bộc lộ một chút lo sợ".

Sau cuộc kiểm tra, quân định hoàn toàn tin tưởng bà. Sau đó ít lâu, Tám Thảo đã lấy được tư liệu đánh giá của ngụy về trận tấn công vào Sài Gòn - Gia Định, góp phần quan trọng vào việc hoạch định chiến lược cho cuộc chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bà Tám Thảo tâm sự: Trong những trường hợp không thể mang tài liệu về nhà, tôi phải nghĩ cách “sao chép” nội dung vào “bộ nhớ” là đầu của mình. Đối với tài liệu tiếng Việt mình dịch sang tiếng Anh và tài liệu tiếng Anh dịch sang tiếng Việt. Mình cứ làm đi làm lại nhiều lần cho nhớ kỹ. Cách làm này rất hiệu quả, nhớ lâu, nhớ chính xác nhưng cũng có lần khiến tôi gặp rắc rối, suýt bị phát hiện. Trong thời gian này, để giữ mình, che mắt địch, bà Tám Thảo luôn giữ cái đầu tỉnh táo, khéo léo, cơ trí trong từng tình huống, bởi quanh bà là các mật thám, CIA lão luyện của Mỹ. 

                           

                                           Dù tuổi đã cao, hàng ngày cô Tám Thảo vẫn dành thời gian đọc sách.

Sau năm 1975, cô tình báo xinh đẹp Tám Thảo chuyển ngành về công tác tại Sở Văn hóa- Thông tin TP HCM. Năm 2002 bà về hưu và sống cuộc sống thầm lặng tại Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.

7/ Lê Hữu Thúy:

Lê Hữu Thúy (1926- 2000) là một tình báo viên chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông nổi tiếng với vụ án cụm tình báo A.22 làm rung động chính trường Sài Gòn vào cuối năm 1969. 

Lê Hữu Thúy còn được gọi là Năm Thúy hay Thắng, hoặc bí danh Lê Thụy. Khi viết báo, ông còn sử dụng nhiều bút danh như Khánh Hà, Nhị Hà, Nhị Hồ...

Ông sinh tại Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, trong một gia đình nhà Nho khá giả xuất thân khoa bảng. Bố mất sớm, mẹ ông nuôi ông và 4 chị em gái. Thuở nhỏ, ông theo học tại trường trung học Alexandre de Rhodes của Nhà chung Thanh Hóa và tốt nghiệp Tú tài. Tại đây, ông làm quen với một linh mục dòng Đa Minh, cha Thiên Phong Bửu Dưỡng, vốn là một giáo sư triết học nổi tiếng tại Hà Nội.

Năm 1945, vốn có tinh thần yêu nước, ông tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền và gia nhập Đoàn thanh niên Cứu quốc, một tổ chức của Mặt trận Việt Minh. Năm 1947, ông công tác tại Ty Công an Thanh Hóa. Do có trình độ học vấn khá, sau khi tham gia kháng chiến một thời gian, ông được cấp trên điều động sang công tác tình báo, được huấn luyện phục vụ cho hoạt động sau này. Năm 1949, ông được bí mật kết nạp Đảng. Tháng 6 năm 1950, ông được lệnh trở về Hà Nội hoạt động với bí danh A.25.

                                              Chuyện về Tổng Cục 2: Lê Hữu Thúy với điệp vụ tuyệt mật ở Côn Đảo 

                                                            Nhà tình báo Lê Hữu Thúy.

Ông theo học bậc Đại học với giáo sư Bửu Dưỡng vừa đi dạy kiếm sống tại trường trung học Nam Đồng của Dòng Chúa Cứu Thế ở Ô Chợ Dừa Hà Nội. Cũng trong thời gian này, từ năm 1951, ông tham gia hoạt động xã hội trong nhóm trí thức mang tên "Chi hội hòa bình" tại Hà Nội và làm quen với Huỳnh Văn Trọng, một cơ sở của ông về sau này, qua sự giới thiệu của linh mục Bửu Dưỡng. Ông cũng bắt đầu viết báo, cộng tác với tuần báo "Đạo binh đức Mẹ", do linh mục Nguyễn Ngà là chủ bút.

Tháng 10 năm 1954, theo chỉ thị của cấp trên, ông di cư vào Nam. Thời gian đầu, với kinh nghiệm viết báo ở Hà Nội, ông tham gia cộng tác viết bài cho báo Đời Mới, chủ bút là Trần Văn Ân. Báo này là cơ quan ngôn luận của Mặt trận Bình dân Nam Việt, năm dưới ảnh hưởng của tướng Bảy Viễn, theo khuynh hướng chống Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Đầu năm 1955, được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Trọng, khi đó là Đổng lý văn phòng cho Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, một người của Đảng Dân xã Hòa Hảo, ông chuyển sang làm công cán ủy viên tại văn phòng Bộ này, trợ lý cho Huỳnh Văn Nhiệm. Cùng năm 1955, ông lập gia đình với bà Ngô Thị Như.

Cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt và làm tan rã lực lượng Bình Xuyên và các giáo phái. Chính phủ liên hiệp đổ, nhờ linh mục Bửu Dưỡng giới thiệu, Lê Hữu Thúy viết bài cộng tác cho báo "Tinh thần" của Nha tổng tuyên úy Công giáo, rồi gia nhập Phong trào Cách mạng Quốc gia, một tổ chức ủng hộ Ngô Đình Diệm. Được sự giới thiệu của Nguyễn Thiệu, Chủ tịch Phong trào tại Đô thành Sài Gòn, ông gia nhập đảng Cần lao Nhân vị để đảm bảo vị thế chính trị trong chính quyền mới.

Trong thời gian sinh hoạt tại Phong trào Cách mạng Quốc gia, ông tiếp cận với một đồng hương Thanh Hóa là ông Võ Văn Trưng, một dân biểu, Ủy viên Trung ương Phong trào, một trong nhưng người thân cận của Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ. Năm 1956, ông làm chủ nhiệm Tuần báo "Sinh lực", do ông Võ Văn Trưng đỡ đầu. Đầu năm 1958, khi Đại tá Đỗ Mậu được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha An ninh Quân đội, nhờ sự tiến cử của Võ Văn Trưng và Nguyễn Thiệu, thậm chí cả của Trần Kim Tuyến, ông được tuyển vào An ninh Quân đội, với cấp bậc Chuẩn úy đồng hóa, về sau được thăng Thiếu úy.

Tuy nhiên, thời gian của ông hoạt động không lâu. Theo một số tài liệu, Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung, do ông Dương Văn Hiếu là Trưởng đoàn, phát hiện kể từ năm 1958, mỗi khi phát hiện hay tình nghi một "điệp viên Cộng sản" hoạt động trong quân đội, thường thông báo cho Nha An ninh Quân đội điều tra để loại trừ, thì chỉ ít lâu sau là những người này đã biến mất. Do đó đã nghi ngờ sự rò rỉ từ Thiếu úy An ninh Quân đội Lê Hữu Thúy và đã bí mật bắt giữ ông vào cuối năm 1959 mà không thông báo cho Nha An ninh Quân đội biết.

Có một điều hết sức đặc biệt khi nhớ đến ông. Đó là, không chỉ lập công khi đang hoạt động mà ngay cả khi đã bị địch bắt, tù đày, ông vẫn có những điệp vụ xuất sắc. 

Trường hợp thứ nhất: 

Từ năm 1960, ông bị chuyển ra Huế và giam giữ chờ xác minh tại trại giam Tòa Khâm. Điều bất ngờ là tại đây cũng tập trung nhiều cơ sở cũ của ông như Nguyễn Xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật, thậm chí có cả cấp trên của ông là ông Mười Hương, và cũng biết rằng, giữa Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Nhu có mâu thuẫn, vì Cẩn như một lãnh chúa miền Trung, độc quyền bắt bớ, thao túng, nhiều lúc phớt lờ chính quyền Sài Gòn do Nhu, Diệm cầm đầu. Nếu Cẩn bị diệt, kho hồ sơ của nhân vật này lọt vào tay bọn đảo chính thì vô cùng nguy hiểm, vì có khoảng 70-80 đồng chí cán bộ của ta sẽ bị lộ. Một khi đốt được số hồ sơ đó, những đồng chí này sẽ thoát tù và tiếp tục vị trí công tác của mình.

Sau khi tính toán kỹ lưỡng, ông tìm cách tiếp cận Lê Văn Dư - Trưởng Ty Công an Thừa Thiên, Giám đốc trại giam. Tên này đang lo sợ, ít khi vào cơ quan, thường ở lại khu tập trung quân sự của Ngô Đình Cẩn. Khi được tin Ngô Đình Diệm bị bắt ở Sài Gòn, ông chớp ngay cơ hội để thủ tiêu số hồ sơ tù cộng sản trên. “Phải đưa ra khỏi văn phòng để đốt”, nghĩ vậy, ông rủ một đồng chí cùng thực hiện. Nhân có cuộc điện thoại của Lê Văn Dư, ông nói với bọn bảo vệ: “Ông Dư ra lệnh đốt hết hồ sơ tù!”. 
“Mệnh lệnh” được chấp hành không chút nghi ngờ vì Cẩn bắt tất cả các thành phần chống đối, không riêng gì cộng sản. Chúng giúp ông đưa hồ sơ ra khỏi nơi bảo vệ, đổ xăng đốt sạch. Nhìn những gốc tích chứng minh các đồng chí của mình là cộng sản đang biến thành tro bụi, ông thấy ngọn lửa cũng reo vui như chính lòng mình vậy.

Việc giam giữ này kéo dài đến năm 1963, khi cuộc đảo chính đã lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông được thả tự do nhờ đã đốt hồ sơ mật tại trại Tòa Khâm để phi tang chứng cứ các điệp viên tại đây.

Do việc ông bị bắt bí mật, ông đã lợi dụng điều này để làm nảy sinh nghi ngờ ông bị bắt do mâu thuẫn bè phái. Lợi dụng mối quan hệ thuộc cấp với Đỗ Mậu (lúc này đã là Thiếu tướng), cộng với việc thủ tiêu, giúp phần nào ông giữ được thế chính trị để hoạt động trở lại. Ông tiếp tục với nghề ký giả, viết bài cho báo Trinh Thám, do Hoàng Hồ làm chủ nhiệm.

                                  Điệp viên Lê Hữu Thúy. 

                                                              Điệp viên Lê Hữu Thúy

Trường hợp thứ hai:

Năm 1966, ông nhận nhiệm vụ phối hợp với Vũ Ngọc Nhạ để xây dựng lá bài chính trị trong chính trường Sài Gòn. Và lá bài chính trị đó chính là Huỳnh Văn Trọng, cố vấn ngoại giao của Tổng thống Việt nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Huỳnh Văn Trọng từng là một bộ trưởng dưới thời Bảo Đại, bị bỏ rơi hoàn toàn dưới thời Đệ nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm nên tỏ ra bất mãn và chỉ làm công việc dạy học cho các nhân viên dân sự Mỹ tại Sài gòn. Sau khi Ngô Đình Diệm tiêu diệt thế lực giáo phái, do sợ liên lụy, Huỳnh Văn Trọng đã vào sống ẩn cư ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế tại Kỳ Đồng. Tuy không còn tiếp tục dạy học cho các nhân viên Tòa đại sứ Hoa Kỳ nhưng Huỳnh Văn Trọng vẫn còn những mối liên lạc cũ tại đây. Chính qua Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy đã khai thác được một số thông tin quan trọng. Dù khả năng xác thực hữu ích rất hạn chế, nhưng cũng đủ để ông xây dựng ảnh hưởng chính trị trong chính giới Sài Gòn.

Năm 1967, ông vào Bộ Thông tin – Chiêu hồi, giữ vị trí Công cán Ủy viên, phụ trách công tác chiêu hồi. Chính tại vị trí này, ông đã thu thập được rất nhiều thông tin góp phần vô hiệu hóa nhiều hồi chánh viên được chính phủ tung trở lại hoạt động cho phía mặt trận Dân tộc Giải phóng

Trong suốt gian đoạn 1965-1968, ông đã thu thập được nhiều thông tin có giá trị về sự dao động chiến lược của Mỹ và việc xuống thang với kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh; phát hiện kịp thời một số cuộc hành quân lớn của Mỹ. Trong công tác chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông đã lập được bản đồ hành quân khu tam giác Bến Lức - Đức Hòa - Chợ Lớn giúp lực lượng Quân Giải phóng có thể đột nhập thuận lợi, an toàn.

Tuy hệ thống điệp báo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức rất chặt chẽ, nhưng do hoạt động mạnh và có ảnh hưởng đến chính giới cũng như chính quyền Sài Gòn, CIA nhanh chóng phát hiện thấy điều không bình thường của những nhân vật riêng rẽ này, vốn hầu hết đều là những nghi can về tội làm điệp viên và từng bị giam giữ tại trại Tòa Khâm. Do đó, cơ quan CIA đã tiến hành điều tra để phá vỡ cụm tình báo vô cùng nguy hiểm này. Hồ sơ các cựu tù nhân trại Tòa Khâm được giở lại từ giữa năm 1968. Do quy mô, cũng như sức ảnh hưởng quá lớn và tính chất phức tạp của vụ án, mãi hơn một năm sau CIA mới chuyển giao thông tin cho Tổng Nha Cảnh sát điều tra vụ án. Một đơn vị đặc biệt có mật danh S2/B đã được thành lập và đã tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22 vào trung tuần tháng 7 năm 1969. Toàn bộ các điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng, hầu hết các cơ sở như phụ tá Huỳnh Văn Trọng, cơ sở giao liên như bà Cả Nhiễm... đều bị bắt giữ. Tuy nhiên, Cụm trưởng Tư Lê đã kịp thời trốn thoát.

Sau khi tuyên án, ông và Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục bị CIA tra khảo tại khu biệt giam tại Đặc ủy tình báo số 3A Bạch Đằng. Theo lời kể của Vũ Ngọc nhạ, quá trình tra khảo khiến sức khỏe của Lê Hữu Thuý bị ảnh hưởng nghiêm trọng, "sốt cao, cả hàm răng sưng tấy, rụng dần [...] Mỗi ngày Thúy nhổ ra cả bát máu mủ". Thông qua một người quen của Nguyễn Cao Kỳ làm nhiệm vụ khám, phát thuốc, Vũ Ngọc Nhạ đã bí mật tuồn một số thuốc men, thực phẩm cho Lê Hữu Thuý và nhờ đó đảm bảo được sức khoẻ của ông. Sau khi tra khảo 4 tháng, cả hai ông được đưa ra thụ án ở Côn Đảo.

Sau khi bị đưa ra thụ án tại Côn Đảo, nhờ sự quen biết, ông được giao làm phụ kế toán cho một tù nhân sắp đến ngày được tự do. Do là một tù nhân làm dịch vụ văn phòng, ông hưởng chế độ không phải ở trại giam, được ở Khu trú 1 do Ban An ninh đảo quản lý, được hưởng một số sinh hoạt tự do hạn chế như giao dịch, đi lại trong khu vực quy định, chơi thể thao, tắm biển...

Thông qua, bà Ngô Thị Như, ông nhận được chỉ thị thu thập tài liệu, chứng cứ về số tù chính trị ở đảo. Thời gian này, Hội nghị bốn bên ở Paris có bàn thảo về việc trao đổi tù chính trị, và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu có ý định khai khống số lượng tù chính trị và lên kế hoạch bí mật thủ tiêu nhiều tù nhân trong đó có các đảng viên cộng sản.

Đầu năm 1973, ông được trung tâm giao nhiệm vụ thu thập tài liệu, chứng cớ về số tù chính trị ở đảo để làm căn cứ cho phái đoàn ta trong Hội nghị Paris. Ngày hai buổi, ông giúp việc cho kế toán trưởng. Từ danh sách thực phẩm, ông nắm được số tù khoảng 20 ngàn, trong đó có 17 ngàn tù chính trị, 3 ngàn tù thường phạm. Nhưng như thế chưa phải là chứng cớ, phải làm sao lấy được tài liệu gốc của chúng thì mới có sức thuyết phục. Đợi cơ hội có nhiều người qua lại, ông lên phòng quản đốc xin thêm người làm kế toán, nhân đó tận mắt quan sát tỉ mỉ vị trí tủ hồ sơ mật, những bản kê khai số liệu có dấu đỏ trên bàn viên chánh văn phòng...
Đến một ngày, lấy cớ phải làm thêm buổi tối để kịp gửi bản kết toán phân phối thực phẩm định kỳ về Nha Cải huấn Sài Gòn, ông được viên kế toán trưởng giao chìa khóa phòng kế toán. Từ phòng này, ông leo qua trần nhà lọt vào phòng quản đốc, lấy được mẫu chìa khóa tủ tài liệu mật. Ít ngày sau, một đồng chí cơ sở làm ở xưởng cơ khí nhà máy điện của đảo đánh cho ông hai chiếc chìa khóa, một của văn phòng kế toán trưởng, một của tủ tài liệu mật ở phòng quản đốc. 
Khi được lệnh của trung tâm, ông thực hiện nhiệm vụ một cách êm xuôi hơn cả sự mong đợi. Ông đã có trong tay văn kiện về hồ sơ số tù cùng 5 bản điện mật liên lạc giữa Sài Gòn và Côn Đảo ghi rõ số tù đất liền gửi ra, số tù chính trị bị chuyển thành thường phạm, số tù chúng định thủ tiêu...
Những tài liệu quan trọng đó đã được các đồng chí của ông chuyển về trung tâm và chúng ta có đầy đủ chứng cớ để vạch mặt chính quyền Thiệu tại Hội nghị Paris, cũng qua đó, dư luận thế giới đã lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh bên bàn Hội nghị của chúng ta. Nguyễn Văn Thiệu khi sang Roma đã bị Giáo hoàng từ chối tiếp (theo công bố của Thiệu, Giáo hoàng đã cam kết với thế giới là Thiệu chỉ giam giữ 5 ngàn tù chính trị Việt cộng).

Sau khi lấy được hồ sơ này, ông lập tức chuyển ngay cho 1 cơ sở là phi công lái trực thăng riêng của Tổng thống Thiệu để chuyển vào đất liền rồi chuyển tiếp về trung tâm. Chính nhờ bộ hồ sơ gốc này mà chứng ta có đầy đủ chứng cớ để vạch mặt chính quyền Thiệu tại Hội nghị Paris về con số 5.000 tù chính trị tại Côn Đảo, đưa ra con số chính xác 17.000 tù chính trị, cả các biện pháp đối phó để che giấu số lượng tù nhân thực ở đảo, buộc phía Việt Nam Cộng hòa phải trao trả toàn bộ số tù chính trị ở Côn Đảo. Vì sự kiện này mà Giáo hoàng Phaolô VI đã từ chối tiếp kiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong chuyến công du đến Vatican.

Không khó gì để phát hiện ra người tuồn thông tin ra ngoài, vì vậy ông bị tra khảo tàn nhẫn. Ngay lập tức, ông bị nhốt ở chuồng bò một thời gian với những cuộc thẩm vấn, với những đòn tra tấn, nhưng trại giam vẫn không tìm được người đưa tin bí mật. Sau đó, nhờ cách biện hộ khôn khéo và địch cũng không có đủ chứng cớ để kết tội, ông thoát được cửa tử một lần nữa.

Tháng 7 năm 1973, ông được phía Việt Nam Cộng hòa trao trả theo quy chế tù binh. Sau khi kiểm tra thông tin, ông được công nhận quân hàm Thượng úy Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, giống như hầu hết các cán bộ tình báo khác, thân phận thực của ông vẫn chưa được xác nhận công khai. Mãi đến năm 1990, ông mới được phục hồi đảng tịch, được thăng vượt cấp từ thượng úy lên Đại tá.

Ngày 29/1/1996, ông Lê Hữu Thúy được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Ông vẫn tiếp tục công việc, viết sách, mặc tuổi già, sức yếu. Ông từ biệt cõi đời vào năm 2000 trong niềm tiếc thương của đồng chí, đồng đội và lớp cán bộ, chiến sỹ kế tiếp sự nghiệp của ông.

8/ Trần Quốc Hương:

Trần Quốc Hương (tên thật là: Trần Ngọc Ban, 20 tháng 12 năm 1924 – 11 tháng 6 năm 2020) là chính trị gia Việt Nam. Ông nguyên là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, là người chỉ huy mạng lưới tình báo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh Việt Nam. 

 Ông có bí danh là Mười Hương, sinh  tại xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình). Có tiếng là tư sản, nhưng cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân, lại mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ. Cậu bé Trần Ngọc Ban được cha cho đi học chữ Nho từ khi còn nhỏ. Thầy dạy của Ban chính là Nguyễn Đức Quỳ - Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, người đã giác ngộ Trần Ngọc Ban và đưa cậu đến với Cách mạng.

Mới 14, 15 tuổi, Ban đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường tiểu học Phủ Lý, Trần Ngọc Ban chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này anh đổi tên là Hương (sau này khi vào Nam công tác, anh mới được gọi là Mười Hương), nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.

                                                 

                                                           Ông Trần Quốc Hương (Mười Hương)

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943, lần lượt hoạt động trong Đoàn Thanh niên Dân chủ, Phản đế và sau đó là Ủy viên Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Ông từng làm việc bên cạnh các lãnh tụ của cách mạng Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh..., từng bị tù đày trong nhà tù Pháp và Việt Nam Cộng hòa.

Hà Nội vừa giành chính quyền thành công, Nguyễn Lương Bằng giao cho Mười Hương việc tổ chức ra báo Cờ giải phóng của Đảng. Mười Hương cũng là một trong những người đóng góp tích cực trong thành công của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ trách vấn đề an ninh bảo vệ.

Năm 1942, ông bị Thực dân Pháp bắt trong cuộc đấu tranh ủng hộ Liên Xô, giam ở Hoả Lò, Hà Nội. Trong tù, ông giữ vững khí tiết của người cách mạng, được anh em và tổ chức tin cậy.

Năm 1943, ra tù ông bắt được liên lạc hoạt động ngay và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), sau khi học xong lớp do Xứ uỷ mở, ông được phân công về làm Tỉnh uỷ viên, Tỉnh uỷ Phúc Yên.

                                              Mười Hương và những huyền thoại để lại - Ảnh 2. 

                            Ông Mười Hương thời còn trẻ - Ảnh: TỰ TRUNG chụp lại tư liệu

Năm 1944, ông được Tổng bí thư Trường Chinh bổ sung vào Ban Công tác đội của Thường vụ Trung ương lo căn cứ địa (ATK) và làm phái viên liên lạc với những đầu mối đặc biệt thuộc Trung ương (các tổ chức văn hoá, Thành uỷ Hà Nội) hay một số thành viên thuộc Đảng xã hội, Đảng cộng sản Pháp (nhóm " Các đồng chí người Âu ” trong quân đội lê dương của Pháp).

Từ tháng 8/1945, ông làm Thư ký, phụ trách Văn phòng của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh; năm 1946, ông trong Ban Công vận Thành uỷ, làm Bí thư Hội Công nhân Cứu quốc Hà Nội và phụ trách Nhà in Tiến Bộ, Báo Cờ giải phóng, Nhà xuất bản Sự thật của Trung ương.

Tháng 12/1946 đến năm 1948, phụ trách căn cứ địa và giao thông liên lạc của Trung ương.

Kháng chiến bùng nổ, Trung ương lập G.L.A (Giao thông-Liên lạc-An toàn khu), đảm trách nhân khẩu báo chí, duy trì thông tin liên lạc từ Trung ương đi các chiến khu. Mười Hương về công tác tại bộ phận này từ năm 1946 đến 1948. Năm 1949, cuộc đời ông rẽ sang một bước ngoặt mới.

Tình cờ một lần ông Trần Hiệu, Phó Giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo gặp Mười Hương và lập tức nhận ra đây chính là người mà ông cần. Trần Hiệu bèn xin Mười Hương về với mình và được Trường Chinh chấp thuận.

Sau một thời gian dài đi biệt phái, lăn lộn dưới các địa phương, Mười Hương nhận được một bức điện của Trung ương với nội dung: "Về ngay Văn phòng Trung ương". Khi đó quân đội viễn chinh Pháp đã bị đánh quỵ tại trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ mang lại hòa bình cho Đông Dương sắp được ký kết. Ông vội vã thu xếp công việc, lên đường trở về chiến khu Việt Bắc. Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp giao nhiệm vụ cụ thể cho Mười Hương. Đích thân Hồ Chí Minh cũng dự cuộc gặp quan trọng này. Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường.

Năm 1949, ông công tác ở Cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu, làm đặc phái viên ở Liên khu 3 và Hà Nội.

Năm 1950, ông được điều động về phụ trách Phòng Điệp báo Nha Công an, sau làm Phó Giám đốc Nha Tình báo Trung ương (tình báo chiến lược).

Năm 1954, ông được điều động vào Nam Bộ làm Ủy viên rồi làm Phó ban Địch tình của Xứ uỷ Nam Bộ.

Khi vào Nam, Mười Hương gặp ngay ông Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh Quân khu 9, từng là bạn tù với nhau trước kia. Ngoài ra, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, ông Lê Toàn Thư cũng tỏ ra tâm đầu ý hợp với Mười Hương khiến ông vững dạ. Ông bắt đầu vào công việc ngay với hai ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm. Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện tình báo, học viên chủ yếu tuyển lựa trong lực lượng công an.

Từ tháng 6/1958, ông bị Đoàn công tác đặc biệt miền Trung của chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế, ông đã khai tên giả là Trần Ngọc Trí và đấu tranh chống lại các thủ đoạn xảo quyệt của địch, do đó Ban Bí thư đã kết luận: "Đồng chí Trần Quốc Hương, tức Mười Hương, là một cán bộ tốt, kiên cường, khôn khéo đối với địch khi bị chúng bắt". Đến tháng 5/1964, ông được trả tự do.

Năm 1965, ông được đưa ra miền Bắc chữa bệnh.

Năm 1966 - 1968, ông được phân công về Bộ Công an phụ trách Cục Kỹ thuật.

Năm 1969 - 1972, ông được điều động lại vào miền Nam làm Ủy viên Ban An ninh miền Nam.

Năm 1972 - 1976, làm Thường vụ Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định.

Ông là cấp trên trực tiếp của các nhà tình báo nổi tiếng: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn. Chính ông cùng Mai Chí Thọ đã quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Hoa Kỳ học báo chí vì thấy Phạm Xuân Ẩn có khiếu hài hước, dễ hòa nhập với tính cách người phương Tây.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, phân công làm Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông tiếp tục được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được phân công làm Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Hà Nội.

Tháng 11/1983, Đồng chí được cử làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Thanh tra Nhà nước.

Cuối năm 1985, làm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, phân công làm Trưởng ban Nội chính Trung ương.

                               Ấn tượng đặc biệt về nhà tình báo huyền thoại Mười Hương qua lời kể của ông Dương Trung Quốc - Ảnh 1. 

                             Cụ Mười Hương và nhà sử học Dương Trung Quốc (ảnh tư liệu).

Tháng 9/1991, ông được Bộ Chính trị quyết định thôi giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương để điều trị bệnh.

Ngày 24 tháng 12 năm 2006, ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

Năm 2004, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản cuốn Trần Quốc Hương - Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải viết về ông.

Ngày 11 tháng 6 năm 2020, ông đã từ trần vào lúc 10h10 phút tại bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến hôm nay, phía đối phương của ông Mười Hương vẫn còn hàng tá câu hỏi về những hoạt động của ông. Và ngay với chúng tôi, những đồng đội, đàn em thân thiết nhất vẫn khó lòng giải mã được con người ông. 

Ngày tang lễ thứ hai của bậc thầy tình báo Trần Quốc Hương, hàng trăm đoàn viếng tang với hàng ngàn đồng đội, có người thật thân thiết, lại cũng có người chỉ được nghe tên.

"Sắt đá tận cùng là người đó, tình cảm hết mức cũng người đó. Quyền biến là người đó mà căn cơ, nguyên tắc cũng là người đó..." - ông Mười Thắng (Nguyễn Minh Trí), cụm trưởng cụm điệp báo A10, tâm sự.

 Ông Mười Thắng còn nhớ rất rõ những lần được gọi từ nội thành Sài Gòn về căn cứ, nơi làm việc của ông Mười Hương ở làng 18 Thanh An, Sông Bé (Bình Dương) mà ông gọi là Ngã ba bông giấy.

Trong nhà lại có cả thư viện với vài trăm đầu sách từ miền Bắc gửi vào, Sài Gòn đưa ra. Không chỉ có Bất khuất - Nguyễn Đức Thuận mà cả Cuốn theo chiều gió - Margaret Michell, cả Sống lại - Tolstoi lẫn Phía Tây không có gì lạ - Remarque, Điệp viên Do Thái - Eli Cohen... Các loại báo chí Sài Gòn cũng nhiều, cũng cập nhật không kém gì nội ô cách 50km đường chim bay.

Nằm trên võng nghiền mấy cuốn sách, nghe suối chảy, tưởng chiến tranh đã lùi xa, Mười Thắng mới càng thấm thía lời căn dặn của thầy Mười Hương: "Tất cả chúng ta đều phải học để hiểu xã hội Sài Gòn, cả văn hóa, cách làm việc, tâm lý, pháp luật, hành chính, người dân... thì mới thống nhất, mới tiếp quản được Sài Gòn. Không làm được vậy thì chỉ có toi".  

Sau này, ông Mười Thắng còn biết đó cũng chính là chìa khóa mà ông Mười Hương đã trao cho điệp viên huyền thoại Phạm Xuân Ẩn: "Học thật giỏi nghiệp vụ, hiểu rõ nền văn hóa Mỹ, tư duy và làm việc như người Mỹ".

Ông nghiên cứu báo chí, chính trường Sài Gòn để tìm ra thêm những người tài có sức ảnh hưởng có lòng yêu nước để giác ngộ, đưa dần vào hoạt động nội tuyến, điệp báo, mà người tiêu biểu chính là họa sĩ Ớt của báo Điện Tín - nhà báo Huỳnh Bá Thành sau này, một trong những người đã có tác động đến quyết định đầu hàng, giữ Sài Gòn nguyên vẹn của tổng thống Dương Văn Minh ngày 30-4-1975.

                                Mười Hương và những huyền thoại để lại - Ảnh 1. 

                       Gia đình ông Phạm Xuân Ẩn viếng ông Mười Hương - Ảnh: TỰ TRUNG

Ai đó nhắc câu ông Ẩn lúc sinh thời hay nói: "Không phải là Mười Hương thì không có Phạm Xuân Ẩn". Đó không chỉ là định hướng đúng đắn và nỗ lực đưa ông Ẩn sang Mỹ học để có thể "suy nghĩ và hành động như Mỹ nhưng vì tự do và thống nhất cho Việt Nam" mà còn là những giọt máu khốc liệt mà ông Mười Hương đã chịu đựng để giữ im lặng tuyệt đối, bảo vệ an toàn cho đồng đội.

"Phạm Xuân Ẩn là tình báo giỏi nhất" - ông Mười Hương tự hào nói vậy. Và để được tự hào về nhau như thế, phía sau là cả một cuộc đời son sắt, thủy chung.

"Ngày ấy tôi được ông Mười Hương huấn luyện tình báo cấp tốc trong vòng một tháng" - ông Mười Nho (đại tá Nguyễn Xuân Mạnh) cười móm mém.

Năm 1955, tình cờ gặp nhau ở cơ sở điệp báo Thừa Thiên khi ông Mười Nho trên đường ra Bắc và ông Mười Hương trên đường vào Nam, ông Mười Hương sốt ruột bảo: "Đợi cậu ra Bắc học về thì chúng tôi thống nhất xong rồi", và ông báo ra Tổng cục Tình báo rằng sẽ đào tạo Mười Nho ngay tại chỗ.

Lớp học một thầy một trò kéo dài suốt một tháng. "Ông dạy tôi nhiều thứ, dù trước đó đã có quá trình hoạt động nội đô. Nhớ nhất ông dạy: làm tình báo, trong môi trường mình và đối phương đôi khi chồng lấn, lẫn lộn, cần nhất phải giữ vững chính nghĩa, lý tưởng của mình.

Trong hoạt động, phải lấy chính trị làm chính chứ không phải thủ đoạn, tranh thủ cơ hội để phân hóa, thuyết phục. Sống thật nhất với con người mình mới chính là vỏ bọc dày nhất, kín đáo nhất. Và nữa: nếu bị bắt, nhất định phải giữ khí tiết, người cách mạng thì không khai báo".

Những bài học ấy theo suốt cuộc đời Mười Nho, để sau này khi ông Mười Hương bị bắt, chính Mười Nho là người đi bắt liên lạc lại với các đầu mối để các tuyến tình báo của Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục hoạt động.

Nhà báo Nguyễn Thế Thanh thì nhắc lời ông căn dặn những năm sau này trong những buổi trò chuyện với báo chí: “Làm báo khó lắm, bây giờ hay bao giờ cũng vậy. Ráng nghe cho tường tận, ghi cho chính xác, viết cho kỹ càng. Đừng sợ sự dọa nạt của những người không tốt”. 

Do có nhiều công lao và thành tích xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Kể thêm về những chiến công của người chỉ huy tình báo chiến lược:

Ông Trần Quốc Hương được coi là người thầy của các nhà tình báo. Nhưng chính ông khiêm tốn nhận mình chỉ là “Cái anh…chỉ trỏ”. Vì các nhà tình báo có khi hoạt động độc lập đơn tuyến bí mật tuyệt đối và họ giỏi giang làm nên nhiều chiến công.

Vai trò của ông - người từng được giao đầu mối phụ trách làm việc với các nhà tình báo. Và chính ông đã hiểu biết sức mạnh của từng người để phát huy họ trong các môi trường phù hợp.

Lúc được “bàn giao” nhận nhà tình báo Lê Hữu Thúy (thường được biết sau này qua cuốn “Điệp viên giữa sa mạc lửa”), ông Mười Hương nhận ra ngay sự giỏi giang sắc sảo của người điệp viên giỏi văn chương, quen nhiều công chức cao cấp, được Ngô Đình Diệm đưa vào như phái viên của Chính phủ bên cạnh lực lượng Hòa hảo, rồi lại vào được cả với Bình Xuyên. Nằm sâu trong hậu trường chính trị miền Nam, Lê Hữu Thúy làm nên nhiều chiến công.

                                 

Ông Mười Hương (hàng đầu, thứ ba từ trái sang) là chỉ huy của những huyền thoại tình báo như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy. Ảnh:  TƯ LIỆU

Chính ông Mười Hương được cử đi tìm người để đưa vào cùng đoàn người di cư vào Nam, và ông đã tìm ra Vũ Ngọc Nhạ lúc đó là cán bộ thị ủy Thái Bình. Khi ở miền Nam, ông Mười Hương nhìn ra mặt mạnh mối quan hệ của Vũ Ngọc Nhạ với chức sắc tôn giáo để chỉ đạo “ông cố vấn”.

Với điệp viên tài năng đặc biệt Phạm Xuân Ẩn thì đóng góp của chỉ huy Mười Hương tài tình ở chỗ nhìn ra rất sớm khả năng “đặc biệt phù hợp với Mỹ” và nghề làm báo của Phạm Xuân Ẩn.

Ông Mười Hương đã có lần nói: “Tôi luôn tự hào về Ẩn. Tôi đánh giá Ẩn còn có điểm hơn cả nhà tình báo vĩ đại Nga Richard Sorge (người đã báo tin chính xác ngày giờ phát xít Đức tấn công Liên Xô, rồi sau bị giết - Người viết). Nhưng Ẩn còn vĩ đại hơn vì hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà bí mật, an toàn”.

Điều tuyệt vời trong nghề - đó là khi Phạm Xuân Ẩn đang học báo chí ở Mỹ thì ở trong nước, ông Mười Hương bị bắt, tra tấn tù đày 6 năm không khai nên giữ được an toàn cho Phạm Xuân Ẩn tiếp tục học tập.

Chính lần bị bắt và tù đày này đã làm ông sau 1975 phải chịu oan sai một thời gian.
Việc bậc thầy tình báo Mười Hương (Trần Quốc Hương) bị vu oan làm tay sai cho Ngô Đình Cẩn sau năm 1975 là một sự kiện lịch sử có thật. Do sự phức tạp của chiến tranh và những hiểu lầm chính trị, ông đã phải trải qua nỗi oan khuất trước khi được các cơ quan chức năng làm sáng tỏ. Sau ngày đất nước thống nhất (30/04/1975), trong quá trình xét lý lịch và sàng lọc cán bộ, một số tài liệu, lời khai và nghi vấn sai lệch đã xuất hiện.
 Do khoảng thời gian dài bị giam cầm tại "hang ổ" của Ngô Đình Cẩn nhưng ông vẫn sống sót một cách kiên cường, một số người đã hiểu lầm hoặc cố tình vu khống rằng ông đã đầu hàng, hợp tác và làm tay sai cho chế độ cũ (cụ thể là phe Ngô Đình Cẩn)
Nhờ sự kiên định và những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, những thông tin vu khống, hiểu lầm về ông Mười Hương đã được tổ chức làm rõ. Ông được minh oan hoàn toàn.
 
Cuộc đời cách mạng của ông bắt đầu từ khi chú bé Trần Ngọc Ban bước vào tuổi 13 cho đến khi trở thành Mười Hương lừng tiếng sau này, ấn tượng xuyên suốt là lòng tin không sứt mẻ mà ông đã gây dựng được với các đồng chí xung quanh.
Mới 15 tuổi, Ban đã bị bắt vào nhà tù thực dân vì một hành động ngây thơ: quay trở lại cất giữ hai lá cờ vừa bị lộ vì... tiếc. Vậy mà vừa được anh trai bảo lãnh, cậu bé Ban đã cầm được thư giới thiệu của những đồng chí đàn anh trung kiên trong tù để tìm đến lãnh đạo trung ương và được phân công vào Ban công tác đặc biệt của Đảng, chuyên công tác tổ chức bảo vệ các lãnh đạo Đảng trong hoạt động bí mật.
Ông Mười Hương không bao giờ giải thích về cơ duyên này, nhưng có một câu chuyện khác nói thay ông: Nghe tin một bạn cùng hoạt động bị bắt, không muốn bị tra tấn đã cắt cổ tự tử, máu chảy tràn trề đang bị giam riêng trong bệnh viện, Mười Hương bèn bắt liên lạc với một chị y tá là cơ sở mật tìm cách vào thăm. Chị gắt: "Vào để chết à?", chàng thanh niên Mười Hương trả lời đầy nhiệt huyết: "Chúng tôi là bạn thân. Có lần anh ấy bán cả sách vở cho tôi tiền ăn lúc khốn khó". Cuộc đột nhập nguy hiểm diễn ra để Mười Hương ứa nước mắt nhét được qua cửa sổ cho bạn vài miếng bánh mì, vài đồng bạc lẻ.
Bản tính trung tín ấy đã lọt vào mắt xanh của các nhà lãnh đạo cách mạng tinh đời. Mười Hương chưa tròn 20 tuổi đã được tin cẩn giao những nhiệm vụ tối quan trọng: tổ chức những "an toàn khu" ngay giữa đô thị Hà Nội, Hải Phòng để các lãnh đạo Đảng họp, một mình một xe đạp chở Tổng bí thư Trường Chinh vào tận trung tâm Hà Nội, bắt liên lạc với sĩ quan Nhật để binh vận ngay trước Sở Mật thám, chuẩn bị cho những cuộc đổi dời trước Cách mạng Tháng Tám; bắt liên lạc vận động những nhà trí thức lớn ủng hộ cách mạng...
Sau này, trong cuộc phân ly của đất nước, nhiệm vụ vào Nam, tổ chức những hoạt động bí mật phục vụ cho mục tiêu thống nhất cũng được giao cho ông.
Năm 1960, Mười Hương bị khai báo, bị bắt và đưa đi giam giữ, tra tấn tại nhà giam Chín Hầm (Huế) do Ngô Đình Cẩn cai quản. Tại đây, ông bị Ngô Đình Nhu "5 lần 7 lượt" đòi thu phục nhưng đều thất bại.
Tại nhà giam Chín Hầm, Mười Hương được trực tiếp Ngô Đình Nhu (người được cho là lý luận sâu sắc, tinh ranh của chính quyền Ngô Đình Diệm) tra khảo. Đánh giá được Mười Hương "khác người", không như những bộ đội khác, Ngô Đình Nhu lên kế hoạch thu phục Mười Hương vào bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm.
Sau nhiều lần tra khảo bằng những lý luận sâu sắc để đấu trí, Ngô Đình Nhu dùng ánh sáng 500kW chiếu thẳng vào mắt Mười Hương nhằm làm rối loạn dây thần kinh, để đo được độ thật của ông. Tuy nhiên, "5 lần 7 lượt" đều thất bại.
Năm 1962, Ngô Đình Nhu buộc phải chuyển Mười Hương về nhà giam tại Sài Gòn để chờ thời cơ tiếp tục thu phục. Trong những lần trực tiếp tra khảo, Ngô Đình Nhu phải thừa nhận Mười Hương là một người cộng sản ngoan cố, nhưng nói nhiều điều phải suy nghĩ. Nếu không thu phục được thì chắc chắn phải thủ tiêu.
Năm 1963, sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình ở Sài Gòn thay đổi rất nhiều. Ông Tám Mỹ (Chính ủy phòng tình báo lúc đó) nhận được lệnh của cấp trên là bằng mọi giá nhân lúc tình hình đảo chính rối ren phải đưa ông Mười Hương ra. Ông Tám Mỹ liên hệ Tư Cang, lúc đó là Cụm trưởng Cụm tình báo A.18 (sau này mới đổi tên thành H.63 năm 1968), hội ý xem có cách nào không.
Lúc đó, ông Tư Cang vào thành trao đổi với Phạm Xuân Ẩn. Ẩn nói địch giam ông Mười Hương trong phòng biệt giam nên giờ chỉ có cách thuyết phục cai ngục. Cách duy nhất là phải chồng thật nhiều tiền cho hắn, cỡ 100.000 đồng. Hồi đó giá một lượng vàng là 3.000 đồng. 100.000 tức là 33 lượng vàng.
Ông Tám Mỹ chạy về kiếm nhà tư sản yêu nước là bà Võ Thị Quê. Bà Quê cho mượn 100.000 đồng. Bà Quê biết ông Mười Hương thành ra thương ông ấy nên mới dám cho vay số tiền lớn như vậy.
Kiếm được tiền rồi thì Phạm Xuân Ẩn vào thuyết phục cai ngục. Ông Ẩn kể có nói với hắn: “Mày chịu làm như vậy, mày sơ hở trong 15 phút thì mày lấy 100.000 tiêu xài, mua xe Mercedes chạy”. Khi Mười Hương ra khỏi cổng nhà tù, chiếc Renault của Phạm Xuân Ẩn đã chờ sẵn và đón đi luôn. Chạy được tầm 2 km về tới ngã tư Bảy Hiền thì sang xe taxi của ông Nguyễn Văn Huỳnh, là giao thông liên lạc của cụm tình báo, ông Huỳnh chở Mười Hương chạy một mạch về xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi.
Ở Củ Chi đã bố trí một đồng chí chờ sẵn và chở về căn cứ Bến Đình. Ông Mười Hương ngồi sau, chạy ngang bốt kiểm tra khỏe re. Mọi việc đều phải gấp rút vì địch truy theo. Quả nhiên, 15 phút sau dưới trung tâm thành phố báo động. Trên cấp cho ông Mười Hương chiếc xe đạp mới, Tư Cang một chiếc, bảo vệ một chiếc. Bảo vệ mang súng trường chạy đằng trước, ông Mười Hương đi giữa, Tư Cang chạy sau cùng.
Lúc đó, ông Mười Hương bịt khăn rằn, mặc áo ngắn tay. Họ đạp xe tầm 50 km đưa ông ấy về Bời Lời ở huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) (lúc đó là căn cứ chính của cụm tình báo A.18 - tiền thân của H.63). Theo lời kể của ông Tư Cang, suốt dọc đường ông Mười Hương đạp xe phấn khởi lắm.
Cuộc tẩu thoát khỏi nhà tù của ông Mười Hương chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 1 ngày.
 
9/ Đinh Thị vân:
 
 Đinh Thị Vân (1916-1995), tên thật Đinh Thị Mậu là một Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Bà là một tình báo viên nổi tiếng trong Kháng chiến chống xâm lược được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bà sinh tại làng Đông An, tổng Cát Xuyên, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường (nay là làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường), tỉnh Nam Định. Bố của bà mất sau khi bà Mậu sinh ra được 6 tháng. Anh em bà được ông nội Đinh Mẫn Cấp nuôi nấng và dạy dỗ.

Năm 1933, bà được 2 người anh cùng cha khác mẹ là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, vận động tham gia hoạt động cách mạng. Bà làm giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng, tham gia tổ chức nhóm "Ái hữu tương tế", nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng hoạt động tại địa phương...

Thời gian này bà lập gia đình với một người cùng quê, từ đó mọi người thường gọi tên bà theo tên chồng là Vân từ đó bà được gọi bằng tên Đinh Thị Vân.

                                                   Chuyện chưa kể về nữ Anh hùng Đinh Thị Vân 

                                           Đại tá tình báo, anh hùng LLVTND Đinh Thị Vân

Năm 1940, người chị dâu cả qua đời, bà nuôi ăn học 2 người cháu ruột là Đinh Xuân Mẫn và Đinh Văn Năng. Cả hai về sau đều tích cực tham gia hoạt động cho Mặt trận Việt Minh.

Tháng 8 năm 1945, với vai trò là cán bộ Việt Minh huyện Xuân Trường, bà tham gia công tác vận động dân chúng tham gia tổng khởi nghĩa ở hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, bà tham gia công tác xây dựng chính quyền mới ở huyện Xuân Trường.

Ngày 30 tháng 6 năm 1946, bà Đinh Thị Vân được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và được cử giữ các chức vụ Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên ban Thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nam Định (1951-1953).

Tháng 6/1954, Trung ương quyết định điều động Đinh Thị Vân lên công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng tham mưu - Bộ Quốc Phòng. Bà được giao nhiệm vụ về Hà Nội hoạt động bí mật trong lòng địch, gây dựng cơ sở, tìm hiểu những ý đồ chiến lược của địch. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình mẹ già yếu, chồng bị đau ốm nhưng vì nhiệm vụ đặc biệt lại phải xa quê hương, xa những người thân yêu nhất để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và quân đội đã tin tưởng giao phó. Mặc dù nghĩa tình sâu nặng nhưng bà đã chủ động đề nghị với lãnh đạo đồng thời cưới vợ cho chồng chăm sóc, lo toan việc nhà tạo điều kiện để mình hoàn thành nhiệm vụ.
Chỉ một thời gian ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy ở nội thành Hà Nội. Chấp hành chỉ thị, bà Vân tìm cách lọt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch trên đường số 5 để xuống Hải Phòng. Nhờ vào các mối quan hệ và công tác vận động, giác ngộ quần chúng chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức quan trọng để cấp trên chỉ đạo thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian “300 ngày tập kết”.
 Hiệp định Geneve được ký kết, đất nước bị chia cắt thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời. Tháng 10/1954, trước ngày quân ta kéo về giải phóng Thủ đô, bà nhận lệnh bí mật vào Nam hoạt động. Để tạo vỏ bọc hợp pháp cho việc di cư vào Nam và phù hợp với hoạt động sau này, bà đã đóng vai “người đi buôn vào Nam kiếm sống”. Từ đó, ngày ngày “dì Sáu di cư” trĩu nặng trên đôi vai gầy gánh guốc đi bán rong khắp ngõ phố Sài Gòn. Từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…
Để hỗ trợ cho hoạt động của bà, cấp trên quyết định thông báo: “Đinh Thị Vân đã phản Đảng, bỏ nhiệm vụ chạy trốn vào Nam. Tuyên án tử hình vắng mặt”. Tin dữ lan truyền quá nhanh, anh em đồng chí, họ hàng, quê hương… đều bàng hoàng, sửng sốt. Thế nhưng đã đánh hoả mù vào cơ quan mật vụ của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bà hoạt động bí mật.

Tháng 8-1959, khi đang hoạt động trong hang ổ Mỹ-ngụy giữa Sài Gòn thì bà bị một tên phản bội chỉ điểm. Bà bị địch bắt và tra khảo về đồng chí Năm Phong, một giao thông viên của Đặc khu ủy. Bọn mật vụ thay nhau tra khảo suốt đêm không nghỉ, hòng làm bà mỏi mệt phải khai ra. Tiếp đó, những trận đòn vùi dập trong Sở mật vụ khiến 10 ngón tay bà sưng húp, không cựa quậy được. Những chiếc đinh bù loong vẫn liên tiếp dội lên người bà. Không moi được gì, chúng đem máy quay điện đến. Bà chỉ còn thấy những tia xanh đỏ lóe lên trước mặt, toàn thân rung lên rồi không biết gì nữa. Ngất đi, tỉnh dậy không biết bao lần nhưng bà không hé răng khai nửa lời khiến bọn mật vụ cay cú trói bà vào ghế.

Địch đổi cách tra tấn. Chúng cho một tên nói năng nhỏ nhẹ đến tâm sự. Nó nói: “Như thế là chúng đánh dì 4 cách rồi, còn 3 cách nữa, ác lắm, con sợ dì không chịu được. Vì vậy dì nên khai đại đi, nếu chúng không lập được hồ sơ về dì thì con sợ chúng đánh dì chết mất”. Bà nghĩ: “Chúng bay còn 3 cách, chứ 30 cách tra tấn nữa, tao cũng không sợ”. Bà lại tiếp tục im lặng khiến tên này không moi được gì.

                                   Chuyện chưa kể về nữ Anh hùng Đinh Thị Vân 

                                                      Bà Vân họp bàn ở miền Đông Nam bộ

Tức giận, địch treo ngược bà lên, đạp văng từ bên này sang bên kia, có lúc quay tít như con quay, đầu óc choáng váng, nước mắt, nước mũi trào ra. Sau chúng giúi đầu bà xuống thùng nước xà phòng, bắt bà uống nước đầy bụng, rồi trói chặt bà vắt lên nắp thành phuy chứa nước bẩn, đưa máy quay điện dí sát vành tai rồi quay mạnh. Bà bị hất nhào đầu xuống nước, toàn thân co giật liên hồi. Khi tỉnh dậy, nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Uy vũ bất năng khuất”, bà thì thầm: “Bác ơi, dẫu cháu có phải chết, cháu cũng sẽ đứng vững, sẽ xứng đáng là người đảng viên của Đảng do Bác sáng lập”. Nghĩ đến các cơ sở đã che giấu cho mình, bà càng có thêm quyết tâm chịu đau, không khai nửa lời.

Sau mấy ngày địch không tra tấn, chúng gọi bà lên và nói: “Nếu thực sự bà chỉ là người buôn bán, thì giấy bút đây, bà viết hai câu: Đả đảo Cộng sản, đả đảo Hồ Chí Minh, chúng tôi sẽ thả bà ngay”. Bà lấy lý do tay đau, với lại Cụ Hồ có bắt bớ gì bà đâu mà bà đả đảo. Nó bảo bà hô bằng miệng cũng được, bà không kìm được, đứng dậy chỉ vào mặt tên chủ sự: “Tổ sư cha cái thằng Ngô Đình Diệm tay sai nhà mày”. Tên chủ sự đạp bà bắn vào chân tường. Bà ngất lịm. Lại những cuộc tra tấn chết đi, sống lại. Bà giật dây chuyền, bông tai ném xuống rồi nghiến răng nói: “Mày cứ quay điện đi, quay nữa đi, quay cho tao chết đi, tao không sợ. Bỏ đây tao quay cho”. Bà bứt dây trói, cầm lấy bình quay tít, người bung khỏi ghế, đầu lao xuống nhà, lịm đi.

Không còn cách nào khai thác, địch đưa bà đến sở thú, nơi chúng có những phương thức tra tấn vô cùng dã man. Bà lấy ghim cài đầu, hì hụi khắc vào tường: “Tôi là Trần Thị Mỹ, quê ở Nam Định, bị bắt ngày 19-8-1959, qua an ninh quân đội, trại Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt. Hôm nay quay về đây, tôi sẵn sàng chết ở đây”. Được mấy hôm, chúng lại bịt mắt, giải bà đến chỗ tên Phan Khanh, một tên cáo già trong tra khảo tù binh. Tên này dẫn chuyện mẹ bà ở Nam Định đã chết trong cải cách ruộng đất, hòng lung lạc bà nhưng không khai thác được gì.

Về sau, lợi dụng chính phủ ngụy quyền liên tục đảo chính, lật đổ lẫn nhau, bà đã thoát ra khỏi nhà tù, tiếp tục gây dựng mạng lưới tình báo. Bà và mạng lưới của bà đã cung cấp sớm cho tổ chức những tin quan trọng như: Việc Mỹ đưa bao nhiên quân vào miền Nam, sự bố trí giữa quân Mỹ và quân ngụy, hỗn hợp quân Mỹ-ngụy; kế hoạch xây dựng nghĩa quân, địa phương quân của địch trên 43 tỉnh, thành miền Nam; chiến dịch “ba mũi tên tìm-diệt” mà Mỹ-ngụy dự định tiến hành; âm mưu của địch trong chiến dịch Gian-sơn Xy-ti với ý đồ đập tan cơ quan đầu não Việt cộng; các thông tin phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta trong Xuân Mậu Thân năm 1968.

                                                 DTV.jpg 

                        Ảnh thẻ căn cước của bà Đinh Thị Vân (1954). Tư liệu của ông Đinh Quang Như (Nam Định)

Phát huy đà thắng lợi của hai mùa khô, cục diện trên toàn miền Nam thay đổi có lợi cho ta. Trung ương quyết định: “Chuyển cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Chủ trương của ta được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà tình báo gọi là kế hoạch “Vụ Mùa”. Bà trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị “Vụ mùa’ ở Sài Gòn, chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên ngoài vào. Tất cả tin tức đều đã được mạng lưới của bà kịp thời báo cáo ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng. Mọi kế hoạch đều được tuyệt đối giữ bí mật tới mức khi “Vụ mùa” đã triển khai mà địch vẫn không hề hay biết.

Địch trở tay không kịp, hoang mang lo sợ, máy bay bay rối loạn trên bầu trời Sài Gòn, xe nha binh chạy đâm bừa vào nhau nhốn nháo. Trong thời điểm ấy, bà Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau những ngày vang dội của cuộc tổng tiên công Mậu Thân, Mỹ Ngụy rất hoang mang lo sợ nên càng lùng sục, bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà Vân phụ trách hóa trang giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng ngày vẫn công khai hoạt động giữa vòng vây của cảnh sát và mật vụ Sài Gòn.

Cho đến khi bà rút khỏi Sài Gòn, địch không hề hay biết về mạng lưới tình báo của bà. Bà đã nêu cao phẩm chất của người đảng viên cộng sản, hy sinh hạnh phúc riêng vì lý tưởng cách mạng.

Tháng 3/1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khoẻ của bà Vân bị giảm sút sau những năm tháng tù đày bị địch tra tấn dã man và hoạt động vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công làm công tác huấn luyện.

Bà cùng những tên tuổi đã trở thành huyền thoại như: Thiếu tướng Vũ Xuân Nhã, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Đại tá Lê Hữu Thúy… góp phần làm nên chiến thắng mùa xuân 30/4/1975, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc.

Với công lao cống hiến cho Đảng và Nhà nước cũng như quân đội, ngày 25/8/1970, bà Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

                                           Bà Đinh Thị Vân (giữa) trong lễ tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970 (Ảnh: Vietnamnet)

         Bà Đinh Thị Vân (giữa) trong lễ tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970 (Ảnh: Vietnamnet)

Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 phố Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, mọi người nơi bà cư trú. Bà Đinh Thị Vân mất ngày 11/12/1995 tại Hà Nội.

Trong lịch sử tình báo quân sự Việt Nam, có một nữ điệp viên chiến lược đã hy sinh hạnh phúc riêng, lấy vợ cho chồng để rồi suốt mấy chục năm âm thầm làm nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng với vai một người lao động bình thường, răng đen, ăn trầu, quanh năm mặc áo bà ba… Vì những cống hiến xuất sắc cho Tổ quốc, bà Đinh Thị Vân xứng đáng trở thành huyền thoại trong ngành tình báo Việt Nam. 

10/ Nguyễn Văn Minh:

Có một viên thượng sĩ “quèn” đó từ năm 1963 đã là nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Có. Với tinh thần làm việc mẫn cán, tận tụy, được nhiều người trong văn phòng quý mến, lại được tân Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên tiếp tục tin dùng, trở thành một trong bốn nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng.

Thông tin đó về sau đã được giải mật. Đó là Đại tá Nguyễn Văn Minh, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, điệp viên mang bí số H3 của Phòng Tình báo B2, với hơn 20 năm sống trong lòng địch.

                                          

                     Đại tá tình báoNguyễn Văn Minh, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân

Đại tá Nguyễn Văn Minh sinh năm 1933, tại Hưng Yên, trong một gia đình thợ thủ công. Lớn lên, ông vào Sài Gòn tìm việc làm, lòng yêu nước đã thôi thúc ông tìm đến với cách mạng. 20 tuổi, ông đã là một công nhân hoạt động bí mật cho Mặt trận Liên Việt giữa lòng Sài Gòn. Đến năm 1959, ông được Quận ủy Thủ Đức cử làm nhiệm vụ tìm cách lọt vào quân đội ngụy quyền Sài Gòn. Năm 1963, lợi dụng sự kiện chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các phe phái ngụy quân, ngụy quyền chèn ép nhau để tranh quyền, đoạt lợi, ông đã tìm cách chui sâu vào hàng ngũ kẻ thù với chức danh nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Có. Không lâu sau đó, Nguyễn Cao Kỳ lật đổ Nguyễn Hữu Có nhưng với vỏ bọc là một nhân viên quân sự mẫn cán, tận tụy với công việc, được nhiều người trong Văn phòng quý mến nên ông được tân Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên tiếp tục tin dùng. Từ đó, H3 trở thành một trong 4 nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng tham mưu trưởng.

Công việc hằng ngày của H3 là tiếp nhận và lưu trữ công văn đi, công văn đến giữa Văn phòng Tổng tham mưu trưởng với các cơ quan, đơn vị trong quân đội ngụy, đặc biệt là trao đổi công văn với Phủ Tổng thống, với các cơ quan Bộ Quốc phòng, các quân đoàn, quân khu.  Công việc này tạo cơ hội để H3 tiếp xúc với các tài liệu tối mật của địch. Chính vì vậy, những tài liệu, tin tức mà H3 cung cấp cho ta rất có giá trị, bảo đảm độ chính xác cao. Làm việc trong môi trường tối mật như vậy, H3 luôn bị các cơ quan mật vụ, an ninh của địch để ý, theo dõi nhưng ông đã tìm ra cách hoạt động để che mắt kẻ thù. Không thể tiến hành sao chụp tài liệu vì nếu làm như thế dễ bị lộ, H3 đã rèn luyện để ghi nhớ, chép lại toàn bộ các công văn ông tiếp xúc hằng ngày rồi chuyển về lưới tình báo do ông Hai Kim phụ trách.

Đến đầu năm 1975, ông đã báo cáo tin quan trọng có tính quyết định để ta củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, đó là tin Mỹ trả lời ngụy quân, ngụy quyền: “Mỹ coi như chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc, Mỹ sẽ không chi viện cho quân ngụy bằng lực lượng chiến đấu của Mỹ”. Cùng với đó, các báo cáo của ông còn phân tích mối tương quan giữa lực lượng địch và viện trợ của Mỹ, giữa viện trợ và mức độ sử dụng bom đạn, phi vụ, cơ động của xe tăng, tàu chiến, việc bố trí binh lực tại các quân khu của quân ngụy…

Trong sự kiện 30/4/1975, khi Quân giải phóng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, chính H3 đã động viên các viên chức trong văn phòng của tướng Cao Văn Viên gìn giữ, niêm phong kho tàng, hồ sơ, bảo toàn tài liệu, máy móc trong văn phòng để bàn giao cho quân giải phóng.

Đồng chí Bảy Vĩnh - cán bộ tình báo - kể lại, khi chỉ huy một bộ phận biệt động bí mật đột nhập vào khu vực cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, đã “đụng” ngay một viên thượng sĩ nhất của văn phòng như đang ngồi chờ đợi.
Viên thượng sĩ “quèn” đó bình tĩnh ở lại văn phòng cho tới 3 giờ chiều, khi mọi việc giao nộp sổ sách cho Quân giải phóng xong xuôi; hệ thống máy tính lưu trữ hồ sơ của hơn một triệu quân đội Sài Gòn, cùng toàn bộ giấy tờ tại Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên được niêm phong không mất một tờ nào, anh ta mới ra về… 
Viên thượng sĩ ấy còn trực tiếp trao chìa khoá, dẫn quân giải phóng tiếp quản tất cả những gì còn lại ở cơ quan đầu não của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. 
Mãi về sau ông Bảy Vĩnh kể lại, trong cuộc gặp mặt những anh em, đồng đội của Phòng Tình báo chiến lược (J22) - Bộ tham mưu quân giải phóng miền Nam, chính Bảy Vĩnh, cụm trưởng Cụm tình báo H67, đã nhận ngay ra viên thượng sĩ nhất “phe địch” mà mình đã gặp khi đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, Và càng ngạc nhiên hơn khi biết, viên thượng sĩ nhất đó mang bí danh H3, một đồng đội của mình cùng hoạt động trong ngành tình báo.
 
Còn với người Mỹ và cơ quan tình báo CIA, mãi về sau, vẫn không hề biết được H3 là ai? Năm 2006, tại Hội thảo quốc tế về “Tình báo trong chiến tranh Việt Nam” do Trung tâm Việt Nam thuộc Đại học Công nghệ Tếch-dớt của Mỹ cùng Trung tâm Nghiên cứu tình báo CIA phối hợp tổ chức, một cựu nhân viên CIA đã nhận định rằng: 
“Đúng là phải có một điệp viên cộng sản từng nằm ngay trong lòng Bộ Tổng Tham mưu (Việt Nam Cộng hòa). Dường như không phải là sĩ quan cao cấp, không phải là tùy tùng thân cận của Tổng thống Thiệu, song chắc chắn nhân vật này đã gửi ra Bộ Chính trị Bắc Việt nhiều tin tình báo chiến lược”. Thông tin đó về sau đã được giải mật. Người đó là điệp viên mang bí số H3 của Phòng Tình báo Miền.
 
                                  diep-vien-1641032984.jpg 
 H.3, người bí mật ở Bộ Tổng tham mưu chế độ cũ đã cung cấp hàng loạt tin tình báo chiến lược, mà đến năm 2006, CIA vẫn không ngừng thắc mắc: Ông là ai? - Ảnh Thế Vinh
 
Giữa “biển giáo, rừng gươm”, một mình hoạt động đơn tuyến, tính mạng lúc nào cũng treo “trên miệng cọp” nhưng với bản lĩnh kiên cường và mưu trí “siêu việt”, H3 đã bình tĩnh hoạt động, hoàn thành tốt chức trách mà quân đội Sài Gòn giao cho, tạo nên “tấm bình phong” an toàn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cách mạng giao phó. 
 
Ở vị trí này, H3 - Nguyễn Văn Minh có điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu tuyệt mật của địch, hàng ngày phải tiếp nhận, sản xuất và giải quyết “hàng lô” công văn đi - công văn đến giữa Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng với các cơ quan, đơn vị trong quân đội; đặc biệt trao đổi công văn với Phủ Tổng thống, các cơ quan Bộ Quốc phòng, các quân khu, quân đoàn... Đây toàn là những tài liệu thuộc hạng tối mật, tuyệt mật của địch.
 
Làm việc trong môi trường như vậy, H3 luôn bị các cơ quan mật vụ, an ninh của địch để ý, theo dõi nên không thể tiến hành sao chụp tài liệu, vì làm như thế dễ bị lộ. Để có thể nắm được nhiều tài liệu của địch, ông khéo léo nhận về mình nhiều phần việc trong số bốn nhân viên văn thư. 
Ngày làm việc cho Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, đêm thức viết lại để báo cho tổ chức. Rất nhiều đêm ông thức trắng báo cáo cho hết các nội dung công văn đã nắm được. Tránh sai sót, thiếu hụt. H3 đã rèn luyện để có trí nhớ tuyệt vời, chép lại toàn bộ các công văn tiếp xúc hằng ngày bằng trí nhớ rồi chuyển về lưới tình báo do nữ đồng chí Hai Kim phụ trách. 
Cách làm này đòi hỏi trí não ông hoạt động không ngơi nghỉ và đôi mắt phải hoạt động quá tải, nên lúc về già mắt ông bị mờ đi rất nhanh…
Những tài liệu, tin tức mà H3 - Nguyễn Văn Minh chuyển về, có giá trị chiến lược, chiến dịch quan trọng mà tình báo cần. Nhiều tài liệu nguyên bản đạt độ tin cậy và chính xác cao, giúp cơ quan chỉ đạo chiến lược của ta hiểu rõ âm mưu ý đồ của địch, như kế hoạch bình định nông thôn, kế hoạch lấn chiếm xóa các vùng giải phóng theo kiểu “lấp lỗ da báo” của địch, đồng thời đánh giá đúng ý đồ của Mỹ sau khi ký Hiệp định Paris năm 1973.
 
                                Ông Nguyễn Văn Minh và Văn phòng Bộ Tổng tham mưu địch, nơi ông hoạt động trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh tư liệu) 
Ông Nguyễn Văn Minh và Văn phòng Bộ Tổng tham mưu địch, nơi ông hoạt động trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh tư liệu)
 
Tin tức của H3 -Nguyễn Văn Minh đưa về giúp trên khẳng định: “Đối với Mỹ không có nửa hòa, nửa chiến, Mỹ chỉ tìm cách xóa ta, nếu ta mạnh, Mỹ chịu thua, nếu ta yếu, Mỹ lấn tới”. 
Ngoài những tin tức có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch nói trên, H3 - Nguyễn Văn Minh còn cung cấp những tin tức về chủ trương mới của quân đội Sài Gòn; theo dõi diễn biến toàn miền; tin địch nhận định về ta; chủ trương đối phó của địch; việc bố trí binh lực giữa các quân khu; việc sử dụng lực lượng tổng trù bị dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, không quân; việc địch tổ chức lại lực lượng sau những lần tổn thất;...
Đặc biệt, những tin tức thu được trong hai năm 1973, 1974 và đầu năm 1975 có giá trị cao, góp phần giải đáp được các yêu cầu điều tra một loạt các vấn đề chiến lược quan trọng trong thời điểm then chốt. 
Khi ta chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, tin tức của H3 - Nguyễn Văn Minh đã giúp trên khẳng định: “Khi ta đánh vào Sài Gòn thì Mỹ không trực tiếp tham chiến trở lại”, “Mỹ coi như chiến tranh ở Việt Nam đối với Mỹ đã kết thúc, Mỹ sẽ không chi viện cho quân đội Sài Gòn bằng lực lượng chiến đấu của Mỹ”. 

Tài liệu do H3 - Nguyễn Văn Minh lấy được từ phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên có giá trị chiến lược hết sức quan trọng để Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chọn giải pháp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trong thời gian ngắn nhất...
Hơn 20 năm hoạt động bí mật giữa lòng địch, H3 - Nguyễn Văn Minh đã tạo cho mình một vỏ bọc ở vị trí cao sâu. Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, H3 - Nguyễn Văn Minh là cơ sở chủ yếu cung cấp được khối lượng lớn tin tức, tài liệu về chiến dịch, chiến lược của địch, góp phần tích cực vào đại thắng Mùa xuân 1975, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.
 
                                   tinh-bao-1641618595.jpg 
 Lưới điệp báo A3 trong một lần gặp mặt. Từ trái sang: Ba Minh (H.3), Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Thị Nguyệt (H.4), Hai Kim (T2). Ảnh: Tư liệu gia đình.
 
H3 - Nguyễn Văn Minh trở thành một trong những điệp viên huyền thoại, khiến kẻ thù kinh ngạc về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần “thép” của ông. Năm 1999, Đại tá Nguyễn Văn Minh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Sau ngày đất nước thống nhất, Đại tá Nguyễn Văn Minh tiếp tục công tác trong quân đội một thời gian rồi nghỉ hưu theo chế độ. Ông sống khiêm nhường, giản dị, gần gũi với mọi người. Tháng 9/2009, điệp viên H3 từ trần trong thanh thản, để lại nỗi tiếc thương khôn nguôi trong tâm trí người thân và đồng đội. Ông là một trong những điệp viên mà khả năng giữ bí mật hoạt động đã trở thành huyền thoại, khiến kẻ thù kinh ngạc về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần “thép” của ông.

11/ Đinh Văn Đê.:

Đinh Văn Đệ hay Ba Đệ (1924 – 2020) là một quân nhân, chính khách Việt Nam Cộng hòa, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Quốc hội Việt Nam Cộng hòa như dân biểu Hạ nghị viện, Phó trưởng khối đối lập, Phó Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra, ông được biết đến là điệp viên tình báo chiến lược của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bí danh U4 thuộc Cụm tình báo VĐ2. Ông được phong cấp hàm thượng úy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cũng như được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

Đinh Văn Đệ sinh tại xã Long Thuận - trước thuộc huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trong một gia đình đạo Cao Đài có truyền thống cách mạng. Sớm mồ côi cha năm 15 tuổi, gia cảnh mẹ góa con côi rất khó khăn nhưng nhờ được bà con giúp đỡ nên ông đã học hết trung học đệ nhất cấp rồi đi dạy học. Sau tháng 8-1945, khi Đinh Văn Đệ theo cách mạng được vài tháng thì thực dân Pháp quay trở lại và ông bị bắt giam một tháng.

                                               

                                                                     Ông Đinh Văn Đệ

Sau khi được thực dân Pháp thả, Đinh Văn Đệ lên Sài Gòn mở quán bán sách rồi mở lớp dạy tư. Năm 1952, Đinh Văn Đệ bị động viên vào Trường sĩ quan trù bị Thủ Đức. Mãn khóa, ông đứng thứ 6 nên được về Bộ Tham mưu Đệ nhất Quân khu (đứng ở tốp 5 thì được ưu tiên về Bộ Tổng tham mưu, từ 6 đến 10 thì về Đệ nhất Quân khu). Viên sĩ quan trẻ, thông minh, nhanh nhẹn Đinh Văn Đệ được thống tướng Lê Văn Tỵ chọn làm trợ lý Tổng tham mưu trưởng, thăng cấp đại úy, sau đó được thăng lên trung tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu trưởng QLVNCH vào giữa năm 1957. Cuối năm 1957, tướng Nguyễn Chánh Thi đảo chính hụt Ngô Đình Diệm, ông bị nghi ngờ là dính líu với lực lượng đảo chính và bị quản thúc hơn một tháng. Nhờ mối quan hệ thân thiết của bố vợ ông với Phan Khắc Sửu nên Ba Đệ được bảo lãnh và sau đó được vào học tại Trường Đại học quân sự Đà Lạt và đỗ thủ khoa.

Tháng 11 năm 1963 nổ ra cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm của Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh đứng đầu. Đinh Văn Đệ được cử làm Thị trưởng Đà Lạt, sau kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Đức, đến năm 1966 thì được thăng cấp đại tá và chuyển sang làm tỉnh trưởng Bình Thuận. Cuối năm 1967, Đinh Văn Đệ từ chức tỉnh trưởng, ứng cử vào Hạ nghị viện, mặc dù bị Nguyễn Văn Thiệu tìm mọi cách đánh trượt, nhưng được sự hậu thuẫn của đông đảo cử tri, ông đã đắc cử ở Đà Lạt và trở thành Phó chủ tịch Hạ nghị viện và Phó trưởng Khối Đối lập.

Kể từ sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm, Ba Đệ bắt đầu được Mỹ để ý. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà trong con người ông bắt đầu có sự chuyển biến tư tưởng mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh giằng xé giữa một bên là lý tưởng quốc gia và bên kia là những người anh em ruột thịt trong hàng ngũ cách mạng (ông có người em trai là Đinh Văn Huệ - sĩ quan tình báo, sau này là Đại tá - Cụm trưởng cụm điệp báo VĐ2).

Cuối năm 1967, khi đang là dân biểu Hạ nghị viện, Phó trưởng khối đối lập, Phó Chủ tịch Hạ viện Sài Gòn thì cuộc đời Đinh Văn Đệ trải qua một bước ngoặt lớn. Thông qua sự giác ngộ và bảo lãnh của ông chú, Ba Đệ được em dâu (vợ Đinh Văn Huệ) móc nối và trở thành cơ sở nội tuyến của mạng lưới tình báo thuộc Đoàn 22-Bộ chỉ huy Miền Nam. Ông được đặc cách phong hàm thượng úy Quân giải phóng miền Nam.

Tổ chức yêu cầu Ba Đệ phải bằng mọi cách nắm cho được chức Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện. Đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi Ba Đệ vốn là người của phe đối lập, là "cái gai" trong con mắt của cả hai đời Tổng thống Diệm và Thiệu. Để đạt được mục đích "trèo cao, chui sâu", lấy được lòng người Mỹ lẫn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Ba Đệ buộc phải thoát ly khỏi phe đối lập và bề ngoài tỏ ra là một người hăng hái chống Cộng. Rồi từ chỗ đối lập với Thiệu, Ba Đệ ngả dần sang phái thân chính quyền. Liên tục trong hai khóa Quốc hội trên danh nghĩa Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện Sài Gòn, Đinh Văn Đệ đã cung cấp cho mạng lưới cách mạng nhiều tin tức quan trọng.

Tháng 1 năm 1975, quân Giải phóng đánh chiếm Phước Long. Đinh Văn Đệ được giao nhiệm vụ tìm hiểu phản ứng của quân đội Sài Gòn sau thất bại này. Thông qua quan hệ với các quan chức cao cấp trong chính phủ Sài Gòn, ông nắm được các thông tin cho thấy quân đội Sài Gòn không có dự định tái chiếm Phước Long nhưng sẽ không kích Lộc Ninh dữ dội, giúp cho quân giải phóng kịp thời chuẩn bị trước ở Lộc Ninh. Trước khi diễn ra chiến dịch Buôn Ma Thuột (3/1975), Đinh Văn Đệ thông qua việc đi thị sát, uỷ lạo quân đội Sài Gòn để tìm hiểu thông tin về hai vấn đề (1) liệu quân đội Sài Gòn có nắm được vị trí của Trung ương Cục Miền Nam và (2) có biết quân Giải phóng đang điều quân để đánh lớn ở Tây Nguyên. Những thông tin do ông cung cấp giúp Quân Giải phóng đoán được ý đồ của đối phương và chủ động tác chiến.

Tháng 3 năm 1975 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu vị Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng này phải thuyết phục sao cho Quốc hội Hoa Kỳ phải mở hầu bao, chìa tay ra cứu vớt kẻ đang hấp hối; phải làm cho Quốc hội Hoa Kỳ thấy được, nếu không viện trợ ngay cho Sài Gòn thì Sài Gòn sẽ sụp đổ. Theo yêu cầu của tổ chức, Ba Đệ phải tận dụng cơ hội này để "thuyết phục" Quốc hội Hoa Kỳ... cắt viện trợ. Vì vậy, ông Đệ đã cố ý trình bày tình hình của Việt Nam Cộng hoà thật u ám, dựng lên một bức tranh đen tối về chiến trường, sự sa sút của quân đội Sài Gòn, sự rối ren của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Những thông tin đó đúng theo yêu cầu của Nguyễn Văn Thiệu, nhưng lại khiến cho Quốc hội Hoa Kỳ tin rằng "Đừng tiếp tục ném tiền qua cửa sổ vô ích" và củng cố thêm quan điểm ngừng tài trợ cho Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 6/4/1975, phái đoàn của Đinh Văn Đệ kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ về nước mà không đạt được kết quả như chính phủ Sài Gòn mong đợi. Hầu hết các thành viên trong đoàn đều đã cảm nhận được sự buông xuôi của Mỹ qua thái độ lạnh nhạt và thờ ơ của Quốc hội Hoa Kỳ.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đinh Văn Đệ công khai thân phận điệp viên, nên không thuộc diện cải tạo. Tuy nhiên, ông vẫn bị nghi ngờ mặc dù dưới sự bảo vệ của Chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh Võ Văn Kiệt, người ta vẫn đối xử với ông như đối với một công chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Năm 1977, ông được phân công công tác ở Trung tâm nghiên cứu dịch thuật và làm ở đây 8 năm, có thời gian từng là quyền giám đốc. Năm 1985, ông xin về hưu.

                                              Ông Đinh Văn Đệ 

                                  Xuất gia theo đạo Cao Đài với thánh danh Thiên Vương tinh

Sau khi nghỉ hưu, ông xuất gia theo đạo Cao Đài, trở thành Đạo trưởng với thánh danh Thiên Vương tinh, công tác tại trụ sở Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại đạo đường Cống Quỳnh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. 

Sau giải phóng miền Nam  năm 1975, rất nhiều người sửng sốt khi thấy ông Đinh Văn Đệ hàng ngày tới làm việc tại cơ quan lãnh đạo của thành phố Hồ Chí Minh.


Ông Đinh Văn Đệ

Có người quá bức xúc liền tới chất vấn các đồng chí lãnh đạo thành phố rằng: Vì sao một người từng làm tới Phó Chủ tịch Hạ viện của chính quyền Sài Gòn, nay lại được tuyển vào làm việc ngay tại cơ quan đầu não của thành phố mới giải phóng.

Ông Võ Văn Kiệt lúc ấy chỉ tủm tỉm cười, nói một câu tiếng Pháp: “Il est communist sans parti” (Ông ấy không phải là đảng viên, nhưng là một người Cộng sản).

Có lần, một nhà báo từ Hà Nội vào xin gặp, ông Đệ đã ưu ái dành cho trọn một buổi chuyện trò. Lúc nhà báo đó ra về, người giúp việc cho cụ nói nhỏ cho tôi đủ nghe: “Lần đầu tiên đấy!”…

“Gia đình chú vốn đã mấy đời theo đạo Cao Đài - cụ bắt đầu câu chuyện với cách xưng hô thân mật - Hồi chú tham gia Nghị viện Sài Gòn, bọn họ cũng chỉ biết gia đình chú toàn là tín đồ đạo Cao Đài, chứ không ai hay biết là chú còn 2 người em trai tập kết ra Bắc, và sau này, có hai em là liệt sĩ.

Khi nhận nhiệm vụ, chú đã bàn với tổ chức rằng cách tốt nhất để đảm bảo tuyệt đối bí mật là sẽ lập một hộp thư liên lạc gồm những thành viên là người ruột thịt của chú. Tổ chức rất tán thưởng ý định đó.

Vậy là một đường dây liên lạc được thiết lập giữa chú với một ông chú ruột và một người em ruột của chú. Chính nhờ sự khôn khéo của tổ chức và các thành viên trong hộp thư mà suốt mấy chục năm hoạt động, các tướng lĩnh, nhân viên của địch xung quanh chú, kể cả các lãnh đạo chóp bu của chính quyền Sài Gòn không hề có ai mảy may nghi ngờ chú là “Việt cộng nằm vùng”.

Chuyện hoạt động tình báo trong bao nhiêu năm thì vô vàn. Bữa nay, chú chỉ tóm tắt đôi ba việc để cháu hiểu thế nào là “tình báo Xa - lông”, “trong đỏ ngoài xanh”…

Chú nói chú còn nhớ sau khi quân ta chiếm Phước Long vào ngày 8/1/1975, vì đây là tín hiệu đầu tiên cho Chiến dịch Hồ Chí Minh sau này, Trung ương Cục miền Nam đã yêu cầu bằng mọi cách phải xác định được sau khi mất Phước Long thì kế hoạch của địch ra sao, liệu chúng có tái chiếm Phước Long hay không?

Lúc này, chú đang giữ chức Chủ tịch UBQP Hạ viện Sài Gòn. Trước đó, tổ chức đã phân tích rằng chức vụ Phó Chủ tịch Hạ viện chỉ là “đuôi trâu”; tình thế cách mạng đang cần nhiều tin tức quân sự, cho nên phải làm thế nào để chú ngồi vào được cái ghế Chủ tịch UBQP thuộc Hạ viện và chú đã gắng sức hoàn thành nhiệm vụ đó.

 Khi nhận được lệnh của T.Ư Cục miền Nam, với tư cách là Chủ tịch UBQP Hạ viện, chú đã khôn khéo kích động một số nghị sĩ về “thất bại cay đắng” tại Phước Long và quả nhiên họ đã lớn tiếng yêu cầu bên Quốc phòng phải điều trần trước Nghị viện.

Ngay sau buổi họp căng thẳng đó, chú mời viên Tổng trưởng Quốc phòng lên phòng chú vỗ về rằng: "Đây chỉ là chuyện thực thi “dân chủ”, tôi rất thông cảm, tuy nhiên để tránh căng thẳng cho những lần sau, anh và các nhân viên hãy thông tin cho tôi trước". Nhận được sự thông cảm của chú, viên Tổng trưởng cảm ơn rối rít, còn bảo: “Đại ca đừng lo, chúng em đã có kế hoạch san bằng Lộc Ninh, Phước Long. Lính của chúng em đã nắm được từng hố cá nhân của Việt cộng…”.

Ngay sau đó, tất cả những “kế hoạch” và “điều trần” của viên Tổng trưởng Quốc phòng đã tới tay T.Ư Cục miền Nam. Nhận được tin tức, Bí thư T.Ư Cục Phạm Hùng đã gửi lời khen ngợi…

Còn chuyện phái đoàn đi Mỹ xin cứu giúp thì chú kể: 

Chú còn nhớ, trong phái đoàn đó ngoài một số chuyên gia, cố vấn của Tổng thống Thiệu, còn có một Phó Chủ tịch Hạ viện, một Chủ tịch UB Đối ngoại và chú là Chủ tịch UBQP.

Trước đó, chú từng giảng dạy tại các lớp quân sự cao cấp và cũng từng được Viện Hàn lâm Hoa Kỳ tặng bằng Viện sĩ danh dự (về vũ khí), cho nên phái đoàn này đã giao cho chú trách nhiệm thuyết trình trước Tổng thống Mỹ G. Ford. Khi đoàn xuống sân bay, đích thân Đại tướng Westmoreland ra đón rất trịnh trọng.

Sau này có người hỏi chú rằng Tổng thống G. Ford tiếp chú ở đâu, như thế nào, hầu như chú không nhớ gì. Vì sao vậy? Vì chú không thể nào quên cái cảm giác khi bước chân trên sảnh Nhà Trắng dẫn tới phòng Tổng thống Mỹ đón, làm việc với phái đoàn.

Trong khoảnh khắc ấy, trong đầu chú căng như sợi dây đàn: vừa làm sao thực hiện được nhiệm vụ của tổ chức giao phải phá vỡ âm mưu đưa quân Mỹ trở lại miền Nam, vừa phải thuyết trình sao cho Tổng thống Mỹ và những người đi cùng không nghi ngờ gì.

Khi đã gần tới phòng đón tiếp, chú mới quyết định chọn nước cờ thuần túy về quân sự và không diễn giải theo hướng “ngoại giao” hoặc tình “hữu nghị”, “chiến hữu”, “đồng minh” mà Tổng thống Thiệu hay đề cập đến trước đó.

Bằng những thông tin mà báo chí đã đăng tải, cộng với một số phát biểu của các quan chức, tướng lĩnh ngụy, cùng những số liệu về lực lượng, vũ khí, chú đã dựng lên một bức tranh mà không kèm theo một lời bình luận nào.

Để kết thúc bài thuyết trình, chú đã thể hiện mình và những người trong phái đoàn, đều là những người hết sức “yêu nước”, rất sợ “mất nước”. Vì vậy, đề nghị Tổng thống và Quốc hội Mỹ phải có quyết định ngay tức thì!

Lúc đó, quan sát Tổng thống Mỹ sau khi đã chứng kiến bức tranh do chú vừa dựng lên, chú thầm đoán rằng trong thâm tâm ông ta cũng không thể nghĩ đến chuyện đưa quân Mỹ trở lại miền Nam.

Quả nhiên ông ta đã không muốn làm mất lòng trực diện với ông bạn Thiệu bằng một câu kết luận:  Xin cảm ơn các quý vị. Tôi sẽ cử ngay một tướng tài ba sang miền Nam Việt Nam nắm thêm tình hình rồi chúng tôi sẽ quyết định sau.

Khi bắt tay chào Tổng thống Mỹ, chú đã phải cố kìm nén nỗi vui mừng, không biểu lộ ra ngoài, vì cộng thêm những dữ liệu khác, chú đã nắm chắc Mỹ sẽ không trở lại. Ngay sau buổi thuyết trình đó, chú đã “bắn tin” về “nhà” rằng Mỹ sẽ không đưa quân trở lại miền Nam…

Trước lúc chia tay, ông Đệ đã tặng nhà báo một cuốn sách nhan đề Nói chuyện Cao Đài do đích thân ông biên soạn dưới pháp danh Thiên Vương Tinh Đinh Văn Đệ. 

12/ Nguyễn Văn Tàu:

Nguyễn Văn Tàu (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928), biệt danh Tư Cang, là một Đại tá tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên cụm trưởng cụm tình báo quân sự H63 hoạt động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà Phạm Xuân Ẩn là điệp viên chính.

Nguyễn Văn Tàu sinh tại Vũng Tàu.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, trong phong trào Thanh niên tiền phong.

Trong giai đoạn 1947–1954, ông là chiến sĩ quân báo của Việt Minh ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông chuyên lừa lính Pháp để lấy tiền và tin tình báo.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đổi tên là Trần Văn Quang và làm trung đội trưởng trinh sát kiêm chính trị viên đại đội đặc công, Sư đoàn 338.

Năm 1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai Trung. Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ. Thời kỳ đầu, H.63 là bộ phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (X6, Phạm Xuân Ẩn) từ Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước ngoài, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý – cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ đạo.

                                                             

                                                Đại Tá Nguyễn Văn Tàu vào tháng 4 năm 2025

Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần, Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5 năm 1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63. Sau chiến tranh, "bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng (với những điệp viên tiêu biểu như: Tư Cang, Hai Trung, Tám Thảo, Mười Nho, Nguyễn Thị Ba,...).

Tháng 11 năm 1973 với quân hàm trung tá, ông và Nguyễn Văn Khiêm - lúc bấy giờ là thượng tá, là hai thành viên của Phòng Tình báo miền (J22) có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá được chọn tập kết ra Bắc học tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn. Sau ông là Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, đơn vị tấn công cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975 , ông được nhận nhiệm vụ chỉ điểm những vị trí đóng quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở trong thành phố Sài Gòn cho quân đoàn 3, phòng trường hợp chính quyền Dương Văn Minh không đầu hàng Quân giải phóng thì sẽ pháo kích, đánh chiếm từng đường phố trong thành phố.

Năm 2005, ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là một trong những cụm trưởng cụm tình báo tiêu biểu và đặc biệt xuất sắc.

Ông từng nói (trích từ một cuộc phỏng vấn): "Muốn vô đơn vị này á (ý chỉ H.63) tình hình phải để trong ngực bốn chữ "Coi như chết rồi".

Ông kể về thời điểm năm 1965, để cứu vãn chế độ Sài Gòn bị lung lay sau những trận đánh vang dội của Quân giải phóng ở Bình Giã (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ), Ba Gia (tỉnh Quảng Ngãi), Đồng Xoài (tỉnh Bình Phước cũ), đế quốc Mỹ đã đổ quân vào miền Nam nước ta. Địa điểm đầu tiên mà Sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ là Đà Nẵng. Sau đó, những đơn vị sừng sỏ khác lần lượt được tung vào chiến trường miền Nam. Trong đó, phía Bắc Sài Gòn có Sư đoàn 1 bộ binh được mệnh danh “Anh cả đỏ” đóng quân tại Lai Khê (Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ) và Sư đoàn 25 bộ binh được mệnh danh “Tia chớp nhiệt đới” đóng quân tại Đồng Dù (Củ Chi); phía Nam Sài Gòn có Lữ đoàn khinh binh 199. Một năm sau, ở vùng xung quanh Sài Gòn, lực lượng cơ động của quân đội Mỹ tham gia những trận đánh lớn có Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11.
Khi đó, ông Tư Cang đang là Thiếu tá, Cụm trưởng Cụm tình báo chiến lược H63 đã nhận chỉ thị từ đồng chí Trần Văn Danh, Phó Tham mưu trưởng chiến trường B2 với nhiệm vụ vào Sài Gòn sống thử 10 ngày để đánh giá xem các cụm trưởng bên mình có sống trong thành được không?
Ngay sau đó, ông đã hóa thân thành một người dân thành phố, từ quần áo, giày, tất đến giấy thông hành (giả) do Ban kỹ thuật cung cấp. Theo con đường Bến Cát, qua Bình Dương, đến Lái Thiêu, từ đó ông thâm nhập vào nội đô.
Đúng một tuần sống tại cơ sở quần chúng ở số nhà 136B đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và trực tiếp cùng Điệp viên Phạm Xuân Ẩn quan sát tình hình; khi trở về căn cứ, ông đã báo cáo với đồng chí Trần Văn Danh rằng: Ở trên thì rừng cây, công sự che chở chúng ta, còn vào thành phố thì quần chúng Nhân dân nuôi nấng, bảo vệ chúng ta. Ông cũng không quên dặn dò các cụm trưởng phải học theo lời Bác Hồ: “Tình báo cũng như mọi việc khác phải dựa vào dân. Vì vậy, tình báo phải cố gắng làm thế nào cho dân giúp sức thì sẽ thành công to”.
 
                                Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu: Tình báo phải dựa vào dân 
                    Theo đại Tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang): làm tình báo, phải biết dựa vào dân
 
Trong thời gian hoạt động tình báo, ông Tư Cang chia sẻ, bản thân không đong đếm hết được bao nhiêu nghĩa tình mà người dân đã dành cho mình. Nhưng có lẽ những lần đến trú ngụ tại gia đình anh Hoàng Nam Sơn ở địa chỉ số 113 Cô Bắc đã để lại trong ký ức của ông nhiều xúc động.
Ông nhớ chính xác vào đêm 4/5/1968 mở màn đợt 2 Xuân Mậu Thân, quân ta tấn công khắp Sài Gòn. Một chiến sĩ ta hy sinh trên đường Đề Thám. Bọn giặc lục soát túi áo người thanh niên, thấy mảnh giấy có ghi số nhà 113 Cô Bắc. Có thể anh là người trước đây quen biết với gia đình anh Sơn. Cảnh sát quốc gia Việt Nam cộng hòa dựa vào đó đã đến bắt chủ hộ là chị Nguyễn Thị Tươi (vợ anh Sơn), dẫn giải về Quận Nhì tra tấn về tội chứa chấp Việt Cộng. Chúng cũng cử mật thám theo dõi xung quanh nhà, nếu thấy người lạ đi vào, chúng sẽ bắt giữ ngay. 
 
Ngày 8/5/1968, ông Tư Cang cần gặp anh Sơn để nắm thêm tin tức làm báo cáo về cấp trên. Ông xuống xe taxi ở góc đường Đề Thám để đi bộ theo vỉa hè tới nhà anh Sơn. Thoạt đầu ông chưa biết bọn Cảnh sát quốc gia Việt Nam cộng hòa, mật thám đã giăng bẫy. Khi trông thấy bà cụ Lê Thị Tám (má ruột chị Tươi, tức má vợ anh Sơn) đang ngồi vá áo trước nhà. Bà cụ ngẩng lên nhìn ông nghiêm nghị, lạ lẫm, khác hẳn với vẻ mừng rỡ như mọi khi. Bà không nói gì nhưng ông lúc đó đoán được có điều chẳng lành nên không rẽ vào nhà, không chào hỏi gì bà cụ mà đi luôn như người lạ trên đường.
Mấy ngày sau, khi gặp anh Sơn ở một điểm hẹn, ông mới biết chuyện vợ anh Sơn bị bắt, bọn mật thám rình rập, đến chuyện bà cụ lo lắng cho ông nên mỗi ngày đều đem rổ quần áo ra trước cửa ngồi may vá, trông về góc đường Đề Thám là nơi ông thường xuất hiện. Chính ánh mắt lạ thường của bà cụ hôm ấy đã cứu ông. 
 
Với ông Tư Cang, đồng bào các xã vùng ven Sài Gòn cũng có tinh thần cách mạng rất cao. Chuyện là, năm 1967, đội vũ trang của Cụm tình báo H63 đóng quân tại ấp Phú An, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi. Đánh hơi thấy có phân đội nhỏ Việt Cộng, sống trong địa đạo, hầm bí mật; lính Mỹ đã huy động một đội xe ủi đất đến triệt phá địa hình, tìm nắp hầm bí mật. Lúc ấy, ông cùng đồng đội đang ở trong hầm, bỗng có một luồng ánh sáng len xuống. Như vậy, cái nắp bí mật bằng gỗ bị xe ủi cán qua làm vênh lên. Bộ binh Mỹ chưa phát hiện vì trời tối.
Ông suy luận, ngày mai chúng cũng rà trở lại. Vì đang nằm trong vòng vây của địch, hơn nữa ban đêm không sửa lại được nắp hầm, ông liền tìm cách gặp một cô nông dân của vùng, nhờ rằng: “Mấy bữa nay, em thấy tụi anh ra sau nhà, đến lõm rừng chồi thì biến mất. Đó là tụi anh chui xuống hầm bí mật. Chiều nay, xe Mỹ cán qua làm vênh nắp hầm. Tụi anh không sửa kịp. Vậy em ra đây anh chỉ cái nắp bí mật, đến khuya tụi anh chui xuống, ở trên em đặt nắp hầm lại cho ngay ngắn rồi ngụy trang kỹ lại giùm”. Cô nông dân chất phác, hiền lành làm đúng theo lời dặn của ông và lần ấy, ông và các anh em đội vũ trang đã thoát hiểm.
Hiện tại dù chiến tranh đã lùi xa, ông Tư Cang vẫn nhắc nhớ lời của danh tướng Trần Hưng Đạo: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước muôn đời". Ông cũng khẳng định, ở thời chiến hay thời bình, sức mạnh của quần chúng Nhân dân luôn là vô địch. 
                                 
 
Mười năm trước, chúng tôi từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, ngồi say sưa nghe Đại tá tình báo nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) kể chuyện... Mười năm sau gặp lại, thật vui mừng vì thấy ông vẫn còn khỏe mạnh, vẫn nghe được điện thoại rành rọt, vẫn cười bảo: “Ừ đến đi, thích nghe chuyện gì thì mình kể”. Ở tuổi 97, ông đầy tếu táo và vẫn giữ nét duyên của một nam thanh niên lãng tử...Nhấp ngụm nước, ông giao kèo: “Nói chuyện 2 tiếng nhé, tí mình còn tiếp khách. Hẹn chúng nó rồi, không tiếp là sau hổng có đứa nào chơi với mình”.
 
“Ẩn (tình báo Phạm Xuân Ẩn) mất năm 2006. Gã nói với mình thế này: “Tôi với anh may mắn thôi, vượt qua hết không bị bắt chứ mình đâu có giỏi gì hơn anh em, mà anh em bị bắt nhiều quá. Tôi với anh giờ này còn sống như vầy, được chăm sóc ở bệnh viện quân y rồi qua đời vì già. Chắc số tử vi của tôi với anh tốt lắm”. Ẩn rất khiêm tốn, rất tốt”, ông mở đầu câu chuyện.

28 năm đi qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc đời hoạt động tình báo của Tư Cang sôi nổi nhất trong khoảng 10 năm, từ 1961 đến 1973. Trong đó, khoảng tháng 4/1962 tới 1971, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang) phụ trách cụm tình báo H.63, cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn (tức Hai Trung).

Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân đội vào trực tiếp xâm lược miền nam Việt Nam. Cấp trên chỉ thị, Nguyễn Văn Tàu khi đó mang hàm Thiếu tá phải vào thành, vì có nhiều diễn biến phức tạp. Năm 1966, ông rời Củ Chi, về ở nhà bà Tám Thảo, bắt đầu cuộc đời tình báo trong nội thành. Nhiệm vụ của ông, là kết nối đường dây với ông Phạm Xuân Ẩn.

Ông miên man trong dòng hồi ức về tình báo Phạm Xuân Ẩn mà ông sử dụng đại từ nhân xưng là “gã”.

“Lần đầu tiên gã gặp mình ở nhà Tám Thảo, gã (Phạm Xuân Ẩn-PV) khoái chí nói: “Thằng cha này ngon ta, ở trong rừng ra mà còn ngon hơn tôi”. Mình biết, gã đã mê mình ngay từ cái nhìn đầu tiên. Sau này, mình thường xuyên cùng đi với Ẩn tiếp xúc với nhà báo, các sĩ quan của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

                                    

                                                          Ảnh tư liệu: Báo Ảnh Việt Nam

Mới đầu lạ mặt, nhiều người hỏi, gã chỉ mình bảo: “Ông là chủ sở cao su Dầu Tiếng, lâu có con chim khướu hay, mang xuống cho”. Ẩn nói tiếng Pháp rất giỏi, ngay cả con chó béc-giê mà ông dắt theo mỗi ngày cũng hiểu mệnh lệnh bằng tiếng Pháp. Nhờ đó, chả ai tin 2 ông rành tiếng Anh, tiếng Pháp kia là Việt cộng”, ông Tư Cang kể một hơi dài.

Kỷ niệm với Phạm Xuân Ẩn thì nhiều vô kể, nhiều phen cũng suýt vỡ tim. Nhưng có nhiệm vụ mà kể lại, ông Tư Cang cứ cười mãi. Năm đó, 2 ông được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ, đưa một cuộn giấy nhỏ chừng bằng ngón tay từ Trung ương Đảng bạn tới tay sĩ quan nước ngoài có vị trí lớn trong chính quyền Sài Gòn. Hai ông lo mất ăn mất ngủ, sợ “tiêu” (bị phát hiện-PV) cả cụm vì không biết tên sĩ quan này có trung thành với Đảng của họ không.

Sau thời gian bàn bạc, may thay, bữa ấy Đại sứ quán có tiệc. Nhận thấy đây là cơ hội “có một không ai”, hai ông hẹn nhau ở nhà hàng Victory, đường Hàm Nghi bàn phương án. Ông Tư Cang nói với Phạm Xuân Ẩn: “Trên chấp nhận cho chúng ta hy sinh, anh nói với vợ anh về Đồng Tháp đi. Còn mai tôi lái xe cho anh đi, tôi giấu súng ở trong, nếu nó bắt anh, xuống bắt tôi thì tôi bắn mấy đứa rồi cùng hy sinh tại sân Đại sứ quán”.

Ông Tư Cang chở Phạm Xuân Ẩn đến điểm hành động, thủ sẵn súng, lòng đầy lo lắng nghĩ phen này tiêu đời là chắc. Hồi sau, ông Tư Cang thấy người bạn mình đi xuống lầu im re. “Trời đất ơi, sao ngon vậy” – ông Tư Cang reo lên. Ông Ẩn leo lên xe bảo: “Anh Tư ơi, làm tình báo 16 năm nay, chưa năm nào chân trái tôi run như hôm nay”. Khi được cấp trên báo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông Tư và ông Ẩn được chỉ đạo cắt liên lạc với tay sĩ quan nhưng cả 2 cũng vẫn luôn cảnh giác vì nếu tên cấp trên kia khai ra thì đi tong cả cụm H63. “Bình phong của Ẩn rất vững”, ông Tư Cang ngưỡng mộ người bạn tình báo của mình. 

                                                        Nguyễn Văn Tàu (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928), biệt danh Tư Cang, quê  tỉnh Bà Riạ-Vũng Tàu cũ, là một Đại tá tình báo của Quân đội nhân dân Việt  Nam, nguyên cụm trưởng cụm tình báo quân sự H63.#5 | ...  

                                                    Tư Cang cụm trưởng cụm tình báo H23 

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cụm tình báo H63 có tất cả 45 người, trong đó có 27 người hy sinh và những người còn lại, ai cũng bị thương. Tư Cang bảo, ông nhiều phen chết hụt. Phen nào cũng nhớ đời nhưng số ông vẫn may không bị bắt hay chết vì bom đạn. Bởi thế, trong những lúc cao hứng kể về cuộc đời làm tình báo của mình và đồng đội, có lúc ông lặng người đi khi thương nhớ “Hai Thương bị cưa chân, Lâm bị địch bắt tại Hóc Môn, tra tấn tại chỗ rồi đưa ra nhà tù Phú Quốc đánh đến chết”.
 
Quay lại chuyện mà ông tếu táo nói mình và Phạm Xuân Ẩn may mắn không bị lộ cụm H63, chúng tôi hỏi: “Điều gì giúp các ông giữ được sự “may mắn” ấy trong suốt những năm tháng hoạt động”, ông lớn giọng, nói đầy khí thế, để giữ cụm H63 đứng vững trước nhiều phen sóng gió, các ông đều có một triết lý sống "coi như đã chết". Tinh thần thép, ý chí sắt đá, sẵn sàng hy sinh là kim chỉ nam hành động, để rồi dù có người bị bắt, đường dây chưa hề bị lộ; dù có những nhiệm vụ muôn phần hiểm nguy có thể bị bắt cả cụm nhưng cũng chưa từng bị đứt đoạn đường dây thông tin.
 
Sau mấy năm hoạt động, những người trong đường dây H63 đều được rút lui. Già nửa năm 1973, cấp trên rút Tư Cang về làm Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền. Sau đó, ông được ra Hà Nội học chính trị với mục tiêu đến năm 1976 trở về giải phóng thành phố. Tư Cang có viết lại cảm xúc khi được Tổng cục Chính trị có chỉ thị gọi về Hà Nội để trở về chiến trường rằng: “Người tôi lâng lâng như trong một giấc mơ đẹp”.
                                 
       Nhân dân Sài Gòn chào mừng chiến thắng, giải phóng Sài Gòn (15/5/1975). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
 
Sau này, ông có hỏi cấp trên gọi ông về miền nam với nhiệm vụ gì, cấp trên nói: “Dương Văn Minh sắp đầu hàng, chúng ta phải chuẩn bị phương án đánh đường phố. Nếu Dương Văn Minh không đầu hàng, thì chúng ta phải đánh bằng pháo binh, biệt động để chiếm lấy thành phố”. Tư Cang rành đường đi lối lại, được giao chỉ huy lữ đoàn đặc công đóng tại Hóc Môn, có nhiệm vụ tấn công vào cơ quan Bộ tổng tham mưu.
 
Ông đã là Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, nhận nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc để cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975. Trong trận chiến đó, hơn 200 chiến sĩ của Lữ đoàn 316 đã đương đầu với hàng nghìn lính ngụy được trang bị vũ khí hiện đại và đã có 52 chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông. 
 
Sáng 30/4/1975, Tư Cang trên cương vị Trung tá Chính ủy Lữ đoàn, ngồi đường hoàng trên chiếc xe con chiến lợi phẩm, trong những người đi đầu tiến về sào huyệt cuối cùng của quân thù. “Không có cách mạng chỉ lối đưa đường, không có Đảng lãnh đạo, thì mình đã thành một con người thuộc thứ hạng nào trong xã hội nô lệ tối tăm! Tôi đưa tay vẫy chào đồng bào mà nước mắt lưng tròng vì cảm xúc”, ông hồi tưởng.
 
Sau này, khi chiếm được Bộ tổng tham mưu, ông phát hiện một danh sách các cán bộ cộng sản quan trọng mà ngụy quyền Sài Gòn điều tra mãi, trong đó thông tin về ông được ghi lại: “Tư Cang, Phó Chính ủy tình báo Miền, người trắng trắng, cao cao, có đặc điểm bắn súng bằng hai tay rất giỏi, yêu thích văn nghệ. Quê quán: Chưa xác định. Gia đình: chưa xác định” và không có ảnh của ông. Bởi vậy, gia đình ông an toàn suốt cuộc chiến, và ông cũng may mắn sống sót đến ngày nay.
 
                                   
      Ông Tư Cang sum họp cùng vợ, con gái, cháu ngoại sau ngày 30/4/1975. (Ảnh: tư liệu gia đình)
 
“Êm giặc… Anh lại về với em”, câu nói của ông dặn vợ trước khi vác ba lô vào rừng để làm nhiệm vụ, cuối cùng phải mất 28 năm, đi qua 2 cuộc kháng chiến mới thành hiện thực. Ngày bừng bừng khí thế tiến về Sài Gòn hôm 30/4/1975, vợ ông đi tìm ông ở cánh đông, còn ông đi vào thành phố từ cánh bắc. Phải tới đêm, sau khi tạm hoàn thành nhiệm vụ, ông tranh thủ chừng tiếng tạt về qua nhà tìm mẹ con Nhồng (tên người con gái của Tư Cang). Bữa cơm lúc 12 giờ đêm hôm ấy là bữa cơm ngon nhất từ trước đến nay ông được ăn, do chính vợ mình nấu. Hôm nay, ông được trút bỏ mọi vai diễn, để được sống thật với những người thân yêu đã vò võ một mình chờ ông về.  
 
13/ Trần Văn Danh (Ba Trần):
 
Trần Văn Danh (1923–2003) bí danh Ba Trần, tên thật là Trần Văn Bá, Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ Điện lực Việt Nam, Anh hùng Lao động (1990), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2022), Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.

Một chuyên gia của CIA hoạt động tại Sài Gòn trước năm 1975 nhận định, ông là một trong bốn nhà tình báo quan trọng hàng đầu của Việt Nam.

 Thiếu tướng Trần Văn Danh sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh éo le, mẹ là người Bến Tre, lên Hóc Môn (Sài Gòn) kiếm sống rồi làm lẽ cho cha ông, một cán bộ Việt Minh . Khi khai sinh, ông lấy theo họ mẹ cũng vì lẽ ấy. Lên 12 tuổi, Trần Văn Danh được cha sai đi rải truyền đơn bí mật, kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương.
                                              
                            Thiếu tướng tình báo Ba Trần – Hai lần được phong danh hiệu Anh hùng.
                                                                                 

Năm 16 tuổi, Trần Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng).

Trần Văn Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu quốc tham gia cướp chính quyền ở Hóc Môn.Tháng 7/1945, ông tham gia tổ chức bí mật Thanh niên Cứu quốc. Trong Cách mạng Tháng Tám-1945, ông tham gia giành chính quyền ở Hóc Môn. 

Pháp quay trở lại xâm lược miền Nam Việt Nam, Trần Văn Bá gia nhập Đội trinh sát của khu 7. Năm 1949, ông được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo tỉnh Thủ-Biên.

Khi kết nạp làm đảng viên Đảng Cộng sản, Trần Văn Bá xin đổi tên thành Trần Văn Danh (bí danh Ba Trần).

Năm 1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên.

Năm 1954, Ba Trần đã trở thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội nổi tiếng với những chiến công đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556.

Nhưng cũng vào thời điểm này thì có lệnh "đình chiến" và Ba Trần được lệnh tập kết ra Bắc.

Ở miền Bắc, Ba Trần học tình báo.

Đến tháng 12/1960, Ba Trần vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu. Năm 1961 được phân công làm Phó tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Miền kiêm Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền do Tư Cang làm phó Trưởng ban.

Lúc đó, lực lượng tình báo của ta bị tổn thất rất nặng. Chính quyền Ngô Đình Diệm với chính sách "tố cộng, diệt cộng" triệt phá, bắn giết và bỏ tù hàng loạt cán bộ tình báo. Vì vậy, Trần Văn Danh và nhiều đồng đội phải bắt tay xây dựng lại lực lượng tình báo.

Ông lợi dụng sự sơ hở của địch và những mâu thuẫn nội bộ trong giới chính quyền, quân đội Sài Gòn đang lúc rối ren, phức tạp để giải cứu các cán bộ tình báo bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại. Sau khi mạng lưới ổn định, ông phát triển cài cắm chiến sĩ tình báo tài giỏi vào các cơ quan đầu não của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà.

                                   Trần Văn Danh - vị tướng tình báo khiêm nhường

                                             Trần Văn Danh - vị tướng tình báo khiêm nhường

Trần Văn Danh là người có công lớn trong việc tổ chức giải cứu đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương) - nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban An ninh T4 giai đoạn 1972-1975.

 Ban tình báo chiến lược thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của chính quyền đầu não Sài Gòn và CIA Mỹ, kịp thời báo cáo, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng.

Tháng 6-1965, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Cục phó Cục Tham mưu Miền, phụ trách Phòng Quân báo, là cơ quan tham mưu địch tình cấp chiến lược, chiến dịch các chiến trường trọng điểm bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, 10 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí đã tuyển chọn những cán bộ tình báo giỏi từ Ban Địch tình, cài cắm vào Phủ Tổng thống, Bộ Tổng Tham mưu, Đặc ủy Trung ương tình báo ngụ y. Các cán bộ tình báo đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của chính quyền Sài Gòn và CIA Mỹ, kịp thời cung cấp cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền nhiều tài liệu, thông tin quan trọng của địch như kế hoạch Mắcca, kế hoạch Hắckin, kế hoạch Mắc Namara, kế hoạch bình định, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, các âm mưu chuyển hướng chiến lược chiến tranh của địch, Kế hoạch quân sự Vùng 4, Kế hoạch quân sự toàn miền Nam, dự thảo kế hoạch năm 1975, kế hoạch dài hạn 1974-1975, dự kiến kế hoạch 1977-1978, báo cáo viện trợ của đế quốc Mỹ, kế hoạch xây dựng không quân, hải quân ngụy… Từ nguồn tin Ban Tình báo chiến lược đã thu thập, khai thác được đã phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo chiến trường của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

Trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” năm 1965, quân đội Mỹ và chư hầu đưa quân vào miền Nam, đẩy cường độ xâm lược lên cao chưa từng có. Trận càn Gianxơn Xity vào căn cứ địa phía Bắc Tây Ninh là cuộc hành quân trên bộ lớn nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, với 45.000 quân, 775 xe tăng - thiết giáp, 160 máy bay các loại, 256 khẩu đại bác gồm 2 sư đoàn, 3 lữ đoàn, 1 trung đoàn tăng và 1 liên đoàn biệt động quân Sài Gòn. Từ công tác tình báo, quân báo, đồng chí Trần Văn Danh nắm chắc các kế hoạch, âm mưu của địch, báo cáo cho lãnh đạo Trung ương Cục chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, di chuyển lực lượng, bảo đảm an toàn và bày thế trận đánh địch, làm thất bại mưu đồ xâm lược và tỏ rõ sức mạnh của lực lượng quân sự của ta ngay từ ngày đầu tiên quân Mỹ đặt chân vào đất Việt Nam. Là Tham mưu phó phụ trách tình báo, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí Trần Văn Danh đã chỉ đạo, tổ chức nắm tình hình các mục tiêu quan trọng như: Dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài Gòn, Biệt khu Thủ đô, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất... chỉ đạo thực hiện cách đánh phối hợp tình báo - đặc công - biệt động đạt hiệu quả cao. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, Quân giải phóng miền Nam triển khai các hoạt động tiếp viện cho chiến trường nước bạn Campuchia, đồng thời bảo vệ “hậu cứ” sau lưng căn cứ địa Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí đã chỉ đạo Đoàn 367 trực thuộc Cục Tham mưu Miền tổ chức thành công trận đánh tập kích vào sân bay Pôchentông, phá hủy 105 máy bay các loại, gần 100 ô tô và toàn bộ thiết bị, khí tài quân sự của sân bay, hơn 95% máy bay và phi công của quân Lonnon bị tiêu diệt. 

Hiệp định Paris được ký kết tháng 3 năm 1973 đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Trại Davis khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn và các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang, đại tá Đặng Văn Thu (Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh (chính là Ba Trần, Phó trưởng đoàn kiêm Trưởng tiểu ban hai bên) cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư...

                                   Những mùa xuân vang dội chiến công của vị tướng hai lần được phong Anh hùng 

Những trận đánh vang dội của lực lượng đặc công, trinh sát, tình báo, biệt động Sài Gòn chiếm căn cứ núi Bà Rá, Bà Đen, Phước Long, hai lần làm nổ tung kho bom thành Tuy Hạ,đốt kho xăng Nhà Bè... đều có công lao rất lớn của người chỉ huy tài ba, Thiếu tướng Trần Văn Danh (tức Ba Trần). 

 Đến Chiến dịch Phước Long (từ đêm 13-12-1974 đến 6-1-1975), đồng chí lại được giao nhiệm vụ chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ đường cho máy bay B-52 cùng các loại máy bay của địch. Lực lượng do đồng chí chỉ huy còn thu hút hỏa lực của Lữ đoàn biệt kích dù 81 của ngụy, kiềm chế Sư đoàn bộ binh 25 ngụy; ngăn chặn không cho địch yểm trợ Phước Long khi ta tiến công. Chiến dịch Phước Long là chiến dịch mà lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh, lại ở ngay gần Sài Gòn, qua đó thăm dò chiến lược khả năng của quân ngụy và giúp ta phát hiện rằng đế quốc Mỹ không dám đưa quân can thiệp trở lại Việt Nam.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Ba Trần có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ trước và bảo vệ an toàn 16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho đại quân miền Bắc tiến vào trung tâm thành phố và ngăn chặn không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ.

Các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động thành dưới sự chỉ huy của Ba Trần đã chiếm và bảo vệ cầu Rạch Chiếc, Sài Gòn, Bình Lợi, Bình Triệu, Bình Điền... trước giờ giải phóng Sài Gòn để quân chủ lực tiến vào.

Gần một giờ đêm 30 tháng 4 năm 1975, ngay giữa Sài Gòn vừa giải phóng, Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã công bố quyết định của Đảng và Nhà nước trong trường hợp đặc biệt: Phong Trần Văn Danh hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố về an ninh quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Năm 1978, ông được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc phân loại hồ sơ của chính quyền Sài Gòn cũ để lại, tình cờ ông phát hiện sơ đồ thiết kế công trình thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai và nhiều công trình thủy điện khác. Tại Hội nghị Thành ủy, ông mạnh dạn trình bày luận điểm của mình về việc khảo sát xây dựng công trình thủy điện Trị An. Võ Văn Kiệt – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy ủng hộ.

 Ngày9 tháng 8 năm 1975, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban quân quản về an ninh và quốc phòng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sài Gòn - Gia Định (nay là Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh). 

                          

      hừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thiếu tướng Du Trường Giang, Phó Tư lệnh Quân khu trao tặ​ng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân cho đại diện gia đình đồng chí Trần Văn Danh

Sau đó, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Năng lượng, ông là người đề ra phương án xây dựng công trình thủy điện Trị An theo phương châm "Nhân dân - Nhà nước cùng làm". Đây là công trình quan trọng, giúp thành phố khắc phục tình trạng thiếu điện trong quá trình công nghiệp hóa.

Võ Văn Kiệt– Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã nói về ông "Là người chỉ huy cương nghị, tổ chức và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử".

Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh viết trong thư chúc mừng: "Đồng chí Ba Danh là người tận tình phục vụ Tổ quốc, có tài năng trong đánh giặc, có tài năng trong xây dựng Tổ quốc XHCN...".

Khi được hỏi: "Với Thiếu tướng, có khi nào gặp phải sự thất bại không?", tướng Trần Văn Danh đáp: "Sao lại không! Tôi không bao giờ tán thành chuyện trăm trận trăm thắng cả. Bởi có thất bại mới có thành công. Và không ít lần chính tôi phải ôm đầu máu, cõng thương binh rút lui về".

Năm 1990, Trần Văn Danh được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều Huân chương như:

Huân chương Quân công hạng Nhất,                                                                                                       Huân chương Lao động hạng Nhất,                                                                                                        Huân chương Kháng chiến hạng Nhất,                                                                                                   Huân chương Độc lập hạng Nhất...

14/ Nguyễn Văn Thương:

Nguyễn Văn Thương (1938–2018) là thiếu tá tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Văn Thương (hay còn gọi với cái tên thân mật là ông Hai Thương) sinh ra và lớn lên tại xã Lộc Hưng, Trảng Bàng, Tây Ninh trong một gia đình cách mạng. Mới 3 tháng tuổi, ông đã được gửi cho một người cô nuôi dưỡng để ba mẹ đi hoạt động cách mạng. Năm lên 8 tuổi, ông nhận được tin mẹ bị bắt, đày đi Côn Đảo rồi hy sinh. Năm 1959, cha ông hy sinh trong một lần hoạt động quân báo.

Tháng 5 năm 1959, Nguyễn Văn Thương quyết định tham gia cách mạng. Năm 1961, ông được chuyển về đơn vị trinh sát và làm bảo vệ cho ông Võ Văn Kiệt (lúc đó là Bí thư thành ủy T4 Sài Gòn – Gia Định). Sau đó, Nguyễn Văn Thương được chuyển sang hoạt động trong ngành tình báo, dưới sự huấn luyện trực tiếp của Mười Nho (đại tá Nguyễn Nho Quý, Trưởng ban tình báo khu Sài Gòn – Chợ Lớn).

                                             

                                                          Nguyễn Văn Thương(Hai Thương)

Trong 10 năm hoạt động chiến đấu từ năm 1959 đến tháng 2 năm 1969, Nguyễn Văn Thương được giao nhiệm vụ giao liên tình báo ở khu vực Bắc Sài Gòn (Sài Gòn – Bến Cát – Bình Dương), đây là thời điểm khó khăn, bởi quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa luôn tỏ ra thận trọng thường xuyên kiểm soát gắt gao trên tuyến hành lang xung yếu này. Nguyễn Văn Thương đã vượt qua khó khăn, gian khổ và nguy hiểm, thực hiện hàng nghìn lần chuyển nhận chỉ thị, tài liệu và đưa đón hàng trăm cán bộ từ ngoài căn cứ vào trong Sài Gòn và từ Sài Gòn ra căn cứ an toàn.

Về nguyên tắc hoạt động, các cụm tình báo phải rất tách biệt nhau, tránh tiếp xúc và các điệp viên không thể biết thủ trưởng các cụm tình báo khác cụm mình đang hoạt động. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thương lại khác, năm 1967 về làm Trưởng mũi giao thông Cụm tình báo A36. Nhiệm vụ chủ yếu là vận chuyển về căn cứ Trung ương Cục miền nam (R) các thông tin do ông Ba Quốc (Anh hùng LLVTND Đặng Trần Đức) lấy được. Ông Ba Quốc đã nhập vai sĩ quan CIA cao cấp suốt 24 năm và nếu Nguyễn Văn Thương khai (khi bị bắt và bị cưa chân), gây tổn thất rất lớn cho cách mạng, ấy là chưa kể đến các đồng chí khác như Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Văn Tàu… cũng có thể sẽ bị lộ vì Thương có mặt ở rất nhiều cụm tình báo chiến lược khác nhau.

 Nguyễn Văn Thương kể: “Ở Cụm A36, ngoài anh Ba Hội làm cụm trưởng, còn có anh Bảy Anh làm cụm phó kiêm bí thư chi bộ. Căn cứ chúng tôi đóng trong một địa đạo phía nam Bến Cát (tỉnh Bình Dương hiện nay) ven sông Sài Gòn, đối diện căn cứ địa đạo Củ Chi (TP Hồ Chí Minh hiện nay). Mỹ mới tung 35 nghìn quân, 700 xe tăng, xe ủi đất và hàng trăm lượt máy bay bỏ bom, hàng nghìn lượt pháo nhằm xóa trắng căn cứ nam Bến Cát trong trận càn Xê-đaphôn. Lúc đó anh Ba Hội đang ở Sài Gòn, anh Bảy Anh không có mặt nên tất cả nhiệm vụ tại mặt trận, tôi phải gánh. Thêm nữa ngoài chuyện bảo vệ cơ quan tình báo của mình, tôi còn được lệnh phải báo cáo tình hình từng ngày và bảo vệ luôn các cơ quan quan trọng của Đảng trong khu vực”.

Những ngày đầu của trận càn Xê-đa-phôn, hầu như tất thảy mọi người trong hầm đều bị chảy máu lỗ tai do sức ép của bom. Khi cây rừng (bị bom đánh gãy) bắt đầu héo úa, máy bay trực thăng bắt đầu được huy động tưới xăng rồi đến phản lực thả bom na-pan đốt cháy tất cả những gì hiện hữu. Nguyễn Văn Thương kể: “Nằm dưới hầm mà nóng đến độ phồng da, nước tiểu cũng không còn để uống, đói vàng mắt nhưng hầu như không ai có thể chui lên mặt đất. Chỉ đến khi chúng tôi tiếp tục khoét sâu hơn nữa vào lòng đất, chui xuống thì mới không bị chết cháy. Đến ngày thứ 16 của trận càn, Mỹ bắt đầu hút nước từ sông Sài Gòn lên bơm vào địa đạo. Tôi báo cáo anh Bảy Anh thì được chỉ đạo chia khúc địa đạo, lấp kín hết các ngách và tập trung vào ngăn giữa, nơi mà cả hai đầu đều được chúng tôi bịt kín. Nhờ vậy mà thoát chết. Rồi khi giặc thả khí độc vào địa đạo, tất thảy mọi người đều im lặng đắp khăn ướt, úp mặt xuống đất nên tuy có bị chảy máu mũi nhưng cũng không ai bị hy sinh. Cũng may là có một luồng gió thổi vào lỗ thông hơi nên khí độc mau tản ra”.

                                 12211111-0809346 

                    Thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Thương bị địch cưa chân 6 lần. (Ảnh: Quỳnh Trần)

Rồi Thương cùng đồng đội trong cơ quan tình báo bắt đầu đi thu gom bom chưa nổ để lấy thuốc về chế mìn tự tạo. Họ dùng thùng gánh nước cắt đôi, lèn thuốc vào, cột thêm sáu trái mìn định hướng ĐH10. Đêm ấy, Thương trèo lên ngọn cây, cột mìn lên theo hướng cho nổ hắt lên cao… Chiều hôm sau, một chiếc trực thăng chở đồ tiếp tế thả xuống đất, quả mìn nổ tung máy bay và làm chết nhiều lính Mỹ đang nhặt đồ hộp phía dưới. Còn các quả mìn khác, đồng đội của Thương gài năm quả, nổ hết bốn làm cháy bốn xe tăng, riêng các loại mìn tự tạo cũng tiêu diệt thêm 12 xe ủi đất và xe bọc thép của giặc. Ông nhớ lại: “Trận đánh đáng nhớ nhất là tiêu diệt toàn bộ một trung đội Mỹ đang tập kết chuẩn bị xăm hầm. Đêm đó, tôi và hai đồng chí tình báo khác cởi trần, mình trét bùn sình y như đặc công thứ thiệt bò tiếp cận trung đội Mỹ đang ăn uống. Chúng tôi cài ba trái mìn ĐH10 ở ba phía rồi bò lui ra. Tôi bắn thẳng một phát B40 vào đội hình địch, đồng đội tôi chập điện cho nổ liên tiếp mìn định hướng làm toàn bộ lính Mỹ nằm rạp chết hết. Tôi bồi thêm một phát B40 nữa rồi mới cùng đồng đội thu gom vũ khí, lương thực của chúng, chui xuống đất an toàn”.

Dù bảo toàn lực lượng, nhưng đồng bào trong vùng bị càn cũng chết rất nhiều vì bom đạn. Cụm tình báo A36 đêm đêm lại bò lên mặt đất, thu gom xác người, rồi chôn cất cẩn thận. Về phía A36 cũng hy sinh hai tình báo viên khi các anh phục kích bắn máy bay lên thẳng. Ấy là vào một buổi chiều khi ba máy bay phun nước cho đám lính Mỹ tắm phía dưới, hai đồng đội của Thương nổ súng liên hồi làm rơi máy bay, và phía dưới đống sắt vụn do máy bay rơi là gần chục xác lính Mỹ bị đè bẹp. Bọn lính sống sót phía dưới đất bắn trả bằng đại liên làm nát cơ thể hai tình báo viên tên là Thơm và Mới.

Đến ngày thứ 26 của trận càn thì Thương được lệnh quay về ấp chiến lược. Cấp trên lệnh: “Nguyễn Văn Thương chỉ huy đưa hết toàn bộ lực lượng cách mạng trong vùng bị càn ở nam Bến Cát, vượt sông về vùng giải phóng ở phía bắc Củ Chi để tránh tổn thất”… Công việc dọn đường, tạo ám hiệu, bố trí bến đón, dự trù thực phẩm, trinh sát để đưa 175 cán bộ của Đảng vượt sông Sài Gòn chiếm mất một tuần của Cụm tình báo A36. Đúng giờ G, chiếc thuyền đầu tiên rời bờ sau khi ca-nô của địch vừa chạy qua, trên thuyền treo đầy lục bình và người chèo thả nhẹ theo con nước để sang vùng giải phóng. Cứ 6 – 7 lượt liên tục như vậy, Thương luôn có mặt trên từng chuyến qua – lại để chở hết 175 cán bộ sang sông một cách êm thấm. Xong việc, anh cười: “Giờ thì tụi Mỹ có càn tới ba năm cũng chỉ là cày xới đất cho chúng ta trồng khoai mì (sắn)”.

Qua trận càn, cấp trên tổng kết lại thấy A36 đã tiêu diệt 12 xe tăng, năm máy bay lên thẳng cùng với thành tích đưa 175 cán bộ quan trọng của ta rút lui an toàn, cho nên trong đợt xét phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm ấy đã đề nghị đưa Nguyễn Văn Thương vào xem xét. (Ngay cả ông Ba Quốc – sau giải phóng – còn khen Thương: “Tao ở trong nội thành mà cũng được chia thành tích với A36. Lúc đó xót xa quá không biết anh em ở nam Bến Cát có “trụ” nổi không, nói chi đến việc chống càn và đưa cán bộ về vùng giải phóng an toàn…”). Cụm trưởng A36 là ông Ba Hội cùng các anh em sát cánh cùng Thương ở nam Bến Cát đều nhất trí cao. Ấy vậy mà khi đưa ra chi bộ để bình xét, Bí thư Chi bộ A36 là ông Bảy Anh phê: “Đồng chí Thương đã không bảo toàn được lực lượng trong đơn vị, để hai đồng chí là Thơm, Mới phải hy sinh. Vậy là chưa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên chưa thể phong Anh hùng”. Thấy chuyện vô lý và xuất phát từ tính bộc trực, Thương lớn tiếng: “Trong chiến đấu làm sao tránh khỏi hy sinh mất mát. Nhiệm vụ chỉ huy ở mặt trận là của đồng chí Bảy Anh cụm phó, nhưng khi ấy đồng chí lại ở biệt bên trong địa đạo Củ Chi. Chiến sự ác liệt như thế mà đồng chí không sang sông đến cùng đơn vị, giao phó hết cho tôi. Tôi phải lăn lộn tìm đường cứu nguy cho 175 cán bộ. Đồng chí Bảy Anh là đại úy, tôi chỉ là trung sĩ, đồng chí Bảy Anh không nên phê phán vô lý như vậy!”. Ông Bảy Anh đề nghị chi bộ bỏ phiếu kín. Hôm ấy, chi bộ A36 có sáu người, trừ Thương ra còn năm thì có bốn phiếu ủng hộ Thương, một phiếu chống. Vài ngày sau, cấp trên nhận điện từ Chi bộ A36: “Đề nghị bồi dưỡng lại, để lần sau cho xứng đáng. Có công lao nhưng tính thanh niên nóng nảy, còn phải xem xét lại”.

Kể lại câu chuyện cách đây đã gần nửa thế kỷ, Nguyễn Văn Thương cười: “Tính thanh niên nóng quá hư chuyện, song tôi không buồn đồng chí bí thư. Có người chửi tôi lúc đó ngu, cứ làm thinh cho xong chuyện… nhưng sau đó vài tuần, tôi quên ngay câu chuyện và lại cùng đồng chí Bảy Anh hoàn thành các nhiệm vụ khác”. Tình báo là một công tác thầm lặng, bên cạnh nhiều đơn vị, cá nhân đã được vinh danh, khen thưởng xứng đáng… thì vẫn có những hy sinh âm thầm và cả những day dứt, thậm chí bi kịch riêng không thể chia sẻ… Vẫn còn những bí mật mà tôi mãi mãi mang theo trong trái tim mình!”.

                                thieu-ta-tinh-bao-9 3 

                          Hình ảnh đời thường của Thiếu tá Thương lúc sinh thời. (Ảnh: Zing)

Ngày 10 tháng 2 năm 1969, sau khi bị bại lộ thân phận do tên Chiến Cá chỉ điểm, lúc này, ông đang chuyển rất nhiều tài liệu mật từ căn cứ về Sài Gòn. Trên đường về, quân Mỹ phát hiện ra ông và cho trực thăng vây bắt. Đến cánh đồng ấp Mỹ Phước (Bình Dương), một số máy bay Mỹ hạ độ cao, cho quân đổ bộ quyết bắt bằng được người tình báo giao liên.
Tuy tìm đủ mọi cách chống trả, nhưng lực lượng của địch quá đông còn ông chỉ có một mình nên đã bị chúng bắt sau khi đánh ngất bằng báng súng.
Bị bắt về Sài Gòn, ông Thương được lính Mỹ dẫn về ngôi biệt thự rất sang trọng có tên Hoa Hồng, ở đây có sẵn một “bóng hồng” xinh đẹp, dịu dàng, mang dáng dấp một thiếu nữ con nhà lành, có học thức chờ đón và chăm sóc ông.
Tại phòng khách, một người lính Mỹ đeo quân hàm Đại tá chỉ cho ông xấp tiền 100.000 USD, chiếc xe hơi, ngôi biệt thự và nói “tất cả những thứ này là của ông, điều kiện duy nhất là thừa nhận ông chính là Nguyễn Văn Thương”.
Không chỉ vậy, nếu ông Thương chịu hợp tác thì chúng sẵn sàng trao cho một bộ quân phục hai bông mai cấp Trung tá trên vai áo.
Sau 100 ngày ở trong ngôi biệt thự, dù dùng tiền, nhà cửa và gái đẹp không thể mua chuộc được ông Thương, quân Mỹ bắt đầu áp dụng “giai đoạn 2” với những màn tra tấn tàn độc, khủng khiếp.
Trong quá trình bị bắt giam, chúng dùng đủ mọi đòn tra tấn dã man để nhằm khai thác thông tin từ ông. “6 lần cưa chân của giặc Mỹ khiến tôi không thể nào quên được. Để bắt đầu cho việc hành hình tôi, chúng trói chặt tôi lên chiếc bàn rồi bẻ gãy hai ngón chân út khiến tôi đau đến tận tim” – Ông Thương nhớ lại.
Khi các vết thương ở bàn chân chưa lành, ông Thương tiếp tục bị quân Mỹ cưa chân. Mỗi lần, bọn chúng cưa một đoạn, chúng cưa bằng gang tay, khi thì chỉ vài cm, khi thì một đoạn.
“Trong nhiều ngày, chúng đã cưa chân tôi 6 lần và đây là quãng thời gian đau đớn khủng khiếp nhất. Mỗi lần chuẩn bị cưa, chúng lại áp dụng nhiều thủ đoạn tra tấn tâm lý kéo dài sự căng thẳng, kéo dài sự đau đớn. Hết đánh lại cưa, cưa xong lại chữa trị cho lành, gần lành chúng lại cưa. Có đợt, cưa xong chúng lại đưa tôi ra làm vật thí nghiệm cho bác sĩ Mỹ thực tập. Cứ như thế, chúng cưa nhiều lần, cưa nhiều đoạn và cho đến lần thứ 6 thì tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân”

Sau nhiều lần mua chuộc không thành, quân đội Mỹ đã đưa Nguyễn Văn Thương ra đập nát hai bàn chân. Sau đó chỉ trong 3 tháng, họ 6 lần cưa 6 đoạn chân của ông.

Hơn 4 năm trong các nhà tù, Nguyễn Văn Thương bị tra tấn đủ mọi cực hình nhưng vẫn một mực trung kiên, giữ vững khí tiết. Khi ở trại giam đảo Phú Quốc ông vẫn tiếp tục đấu tranh, tham gia trong cấp ủy nhà tù. Tấm gương bất khuất, kiên cường của ông đã cổ vũ đồng chí, đồng đội trong nhà tù tích cực hăng hái đấu tranh.

Năm 1973, sau Hiệp định Paris, Nguyễn Văn Thương mới được trở về đoàn tụ với gia đình.

Sau khi ra tù, ông trở lại với cuộc sống thường ngày.

Sau này, ông kể lại: những lần bị quân đội Mỹ tra tấn bằng cách "cưa chân","Tôi cắn răng khi chúng đưa cưa vào. Sau đó thì tôi ngất xỉu. Những lúc đối mặt với kẻ thù, đau đớn đến cỡ nào tôi cũng chịu đựng được vì trong lòng tôi có sức mạnh của Đảng và hình ảnh của ba mẹ, vợ con và đồng đội". Cuối cùng, người đại tá Mỹ phải thốt ra câu: "Tao thua rồi, mày là sinh vật thép".

Ông được thưởng:

Hai huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, một huân chương chiến công giải phóng hạng 3, 14 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Văn Thương được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

                                  Anh hùng Nguyễn Văn Thương bên vợ và con trai. (Ảnh tư liệu)  

                                Anh hùng Nguyễn Văn Thương bên vợ và con trai. (Ảnh tư liệu)

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, ông qua đời tại nhà riêng, hưởng thọ 80 tuổi. Mộ phần của ông được đặt tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. Để tri ân những hi sinh và cống hiến của Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thương,Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương đã dành tặng mộ phần và dịch vụ chăm sóc mộ phần trọn đời cho vợ chồng ông.

15/ Nguyễn Văn Khiêm: 

Nguyễn Văn Khiêm (1924–2023) có bí danh Sáu Trí hay Nguyễn Đức Trí là Thiếu tướng tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông từng là Chuyên viên Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Cụm trưởng Cụm Tình báo A20.

Nguyễn Văn Khiêm sinh ngày 6 tháng 6 năm 1924 tại Bình Luông Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Ông có ông nội ông từng làm quan triều Nguyễn, bố là đảng viên An Nam Cộng sản Đảng. Sau khi có bằng Thành chung, ông bắt đầu tham gia cách mạng.

Năm 1946, Nguyễn Văn Khiêm lập gia đình và có 8 người con với bà Nguyễn Thị Minh, một người bạn từ thuở nhỏ.

                                                  

Năm 1945, Nguyễn Văn Khiêm là thành viên Đội Thanh niên Tiền phong tham gi cướp chính quyền tại địa phương. Sau Cách mạng tháng 8, ông là nhân viên tuyên truyền tại Sài Gòn, Chợ Lớn. Nguyễn Văn Khiêm sau đó gia nhập tiểu đoàn bộ binh Ba Dương ở Tam Kỳ, trong đợt hành quân đến thị xã Tuy Hòa, ông được triệu tập lên Ban tình báo Ủy ban kháng chiến miền Nam và được học khóa bồi dưỡng nghiệp vụ tình báo đầu tiên tại Ngân Sơn. Tháng 10 năm 1946, ông trở lại Miền nam bắt đầu làm cán bộ tình báo và huấn luyện của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, từ năm 1949, ông giữ chức vụ Phó phòng rồi Trưởng ban Quân báo Khu 7 cho đến khi sáp nhập với Phòng Quân báo Nam Bộ do Hoàng Minh Đạo phụ trách. Từ năm 1952 ông làm Trưởng ban Tổng kết, Trưởng ban Quân báo Sài Gòn-Chợ Lớn. Trong thời kỳ này Nguyễn Văn Khiêm sử dụng tên giả là Phạm Duy Hoàng.

Năm 1953, Ban nghiên cứu Xứ ủy ra đời, Nguyễn Văn Khiêm được Thường vụ Đặc khu ủy Phan Kiệm lựa chọn vào nhiệm vụ mới, ông được Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) giao nhiệm vụ nằm vùng trong lòng địch. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tiếp tục ở trong hàng ngũ Nha Công an của Việt Nam Cộng hòa với tên gọi mới là Nguyễn Đức Trí.

Năm 1962, ông bị lộ.Từ tháng 1 năm 1963 đến tháng 8 năm 1965, ông được Phòng Tình báo miền (J22) bổ nhiệm làm Cụm trưởng Cụm Tình báo A20. Tháng 11 năm 1965, ông được rút về làm Phó Phòng Quân báo Bộ Tổng Tham mưu miền (B2) thuộc J22. Về sau, ông được cử giữ chức Trưởng Phòng J22.Từ năm 1968 ông giữ chứ Phó phòng rồi Trưởng phòng Quân báo rồi Trưởng phòng Tình báo của Bộ Tham mưu miền.

Tháng 11 năm 1973, Nguyễn Văn Khiêm có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá được chọn tập kết ra Bắc học tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn. Thượng tá Nguyễn Văn Khiêm và trung tá Nguyễn Văn Tàu là hai thành viên của J22 được cử đi đợt này.                                                                   

Sau hơn 1 năm học bổ túc quân sự cao cấp tại Học viện Quân sự, tháng 3 năm 1975, ông nhận lệnh trở lại miền nam từ Thượng tướng - Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Khiêm được bổ nhiệm làm Phó trưởng Đoàn 22, Bộ Tham mưu miền. Từ ngày 19 tháng 4 năm 1975, ông nhận nhiệm vụ nắm tình hình và trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Thông qua em họ là điệp viên Ba Lễ (Nguyễn Văn Lễ) của Cụm Tình báo A20, Nguyễn Văn Khiêm tiếp cận Đại tá Lộc - một nội gián của Quân Giải phóng trong hàng ngũ nha Cảnh sát của Việt Nam Cộng hòa. Nguyễn Văn Khiêm chỉ thị cho Đại tá Lộc điều động Liên đoàn 316 sao không để lính Cộng hòa cản trở bước tiến của Quân Giải phóng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với danh tính là Đại tá Sáu Trí, sĩ quan của Bộ Tham mưu B2, Nguyễn Văn Khiêm có mặt tại Dinh Độc Lập kịp thời khuyên can khi nhóm Quân Giải phóng muốn bắt nội các chính phủ Việt Nam cộng hòa làm tù binh.

Từ sau năm 1975, Nguyễn Văn Khiêm ông được cử làm Trưởng phòng 76, sau đó là phụ trách Đoàn 1752, Cục Nghiên cứu, Bộ Tổng Tham mưu và đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 7 năm 1982 đến tháng 2 năm 1988, ông là chuyên viên Tổng cục II. Nguyễn Văn Khiêm được phong quân hàm Thiếu tướng vào năm 1990 và nghỉ hưu từ năm 1998.

Ông được khen thưởng:

Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ - cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. 

Nguyễn Văn Khiêm qua đời ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại nhà riêng ở quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và được an táng tại Phúc An Viên, thành phố Thủ Đức.

Sinh thời, có lần ông kể:

"Tình yêu thời chiến đôi khi vụng dại ngây ngô lắm..." Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm - nguyên Trưởng phòng Tình báo Tổng cục II bắt đầu câu chuyện hạnh phúc trăm năm của mình bằng câu nói ấy.

Tình yêu thời chiến đôi khi vụng dại ngây ngô lắm, yêu rành rành ra đó mà thổn thức lắm cũng chẳng dám thổ lộ yêu đương. Để đến khi đêm về thao thức trằn trọc, hễ nhắm mắt vào hình ảnh người con gái đó xuất hiện sáng bừng cả giấc mơ, mới biết trái tim mình đã khắc ghi hình ảnh của người ấy". Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm - nguyên Trưởng phòng Tình báo Tổng cục II bắt đầu câu chuyện hạnh phúc trăm năm của mình bằng câu nói ấy.

Ở cái tuổi 87 khi kể về mối tình đầu và cũng là mối tình cuối của cuộc đời về người vợ tảo tần, sát cánh cùng ông đi qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nụ cười đôn hậu, biết ơn luôn thường trực trên môi ông khiến vợ ông - bà Nguyễn Thị Minh ngồi sát cạnh mỉm cười hạnh phúc, làn da hằn những dấu vết chân chim mưa nắng cuộc đời ửng hồng có phần ngượng nghịu như thiếu nữ 20 ngày nào mới chập chững biết yêu.

Ông kể, ông cũng run rẩy lắm chứ vì sợ nếu cô ấy chẳng có tình cảm gì với mình, nói ra rồi anh em lại khó trò chuyện như xưa. Nhưng chính ông cũng bất ngờ, hạnh phúc tột cùng khi người con gái ấy gật đầu e lệ chấp nhận lời tỏ tình ấy. Ông quay sang nhìn bà trìu mến: "Nếu ngày ấy mình không dũng cảm, để cơ hội tuột khỏi tay, có lẽ sẽ phải ân hận cả đời".

Ông kể, ông cũng run rẩy lắm chứ vì sợ nếu cô ấy chẳng có tình cảm gì với mình, nói ra rồi anh em lại khó trò chuyện như xưa. Nhưng chính ông cũng bất ngờ, hạnh phúc tột cùng khi người con gái ấy gật đầu e lệ chấp nhận lời tỏ tình ấy. Ông quay sang nhìn bà trìu mến: "Nếu ngày ấy mình không dũng cảm, để cơ hội tuột khỏi tay, có lẽ sẽ phải ân hận cả đời".

Đám cưới diễn ra đơn giản, mộc mạc với sự chứng kiến của gia đình hai bên nội ngoại.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước chưa hưởng trọn niềm hân hoan được bao lâu thì lại phải đối mặt với bao nguy cơ khốn khó mới. Cùng lúc đó, phong trào Thanh niên Tiền phong bùng nổ phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ. 

                             Ông Sáu Trí, một huyền thoại tình báo, từ trần

                                               Ông Sáu Trí, một huyền thoại tình báo

Từ bỏ cuộc sống an nhàn của một nhân viên hãng xe hơi của Pháp ở Gò Công - Tiền Giang, ông cùng vợ khăn gói ra Sài Gòn mang theo chí làm trai sẵn sàng xả thân vì đất nước. Bà Minh tâm sự: "Khi ông ấy viết đơn xin nghỉ việc ở hãng xe hơi, ông có hỏi tôi: "Mình đi cùng tôi chứ?" Tôi nhìn sâu vào đôi mắt cương nghị của chồng, bảo: Anh đi bất cứ nơi đâu, em cũng sẵn sàng đi theo anh. Thế nhưng, một buổi tối muộn ở mảnh đất Sài Gòn đầy lạ lẫm, tôi và cô con gái 2 tuổi đầu vẫn ngóng chồng bên mâm cơm đạm bạc, ông lẳng lặng không nói không rằng thi dọn quần áo, tư trang vào chiếc ba lô cũ bạc mầu, ôm hôn cô con gái bé bỏng đầy lưu luyến, sau đó quay lưng toan bước đi không nói một lời. Tôi chạy theo chồng, hỏi anh bỏ rơi mẹ con em sao?. Anh đi đâu thì đợi đến mặt trời sáng, đêm hôm bất trắc hiểm nguy. Ông ấy quay lại nhìn sâu vào đôi mắt vợ, chỉ nói một câu duy nhất: "Em và con đợi anh về", rồi khoác ba lô lên vai, bóng mờ dần rồi mất hút trong đêm tối."

Suốt một năm không nghe bất cứ tin tin nào của chồng, đã có lúc bà cảm thất tuyệt cùng đau khổ. Người phụ nữ ấy chỉ biết ôm con khóc ròng vì nhớ thương chồng trong những canh khuya. Vừa lo cho an nguy tính mạng của chồng, vừa bất an không hiểu chồng bà đi về phương trời nào để bà còn biết ngóng hỏi, chờ đợi.

Còn ông, 2000 cây số cũng giăng đầy nỗi nhớ. Ông cùng hai đồng chí nữa được Ủy ban kháng chiến Nam Bộ cử ra Bắc học ngành tình báo, nhiệm vụ lần này yêu cầu tuyệt đối bí mật, ngay cả người thân tín nhất cũng không thể tiết lộ. Việc nước giao phó, đó là vinh quang và cũng là thách thức đối với ông, dù thương vợ, thương con nhưng ông cũng không dám làm trái lời....

Sau này, bà Minh cũng tham gia Cách mạng, trở thành chị nuôi cho bộ đội anh em chiến sĩ Quân khu 7. Tiếng hai vợ chồng cùng làm một đơn vị, nhưng không ai trong khu biết hoặc mảy may biết họ là hai vợ chồng. 

                               Tình yêu không lời của Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm

                             Tình yêu không lời của Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm

Có được người vợ hiền đảm đang, tháo vát quán xuyến mọi công việc trong gia đình, nên ngày ấy khi chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, Nguyễn Văn Khiêm hoàn toàn yên tâm, toàn tâm toàn ý làm tốt nhiệm vụ Cách mạng phân công. Lúc này Nguyễn Văn Khiêm được bổ nhiệm vào vị trí Trưởng ban Tình báo Sài Gòn - Chợ lớn, có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn lúc ấy là đồng chí Nguyễn Văn Linh.

Bà Minh bùi ngùi, 1 năm trời xa cách không một chút hồi âm trong lần ông ra Bắc học ngành tình báo chẳng thấm vào đâu so với 10 năm đằng đẵng ông sống trong lòng giặc dữ. Theo lệnh của cấp trên, ông xâm nhập vào hàng ngũ địch, làm thư ký Phân cục Nhất của công an Sài Gòn - một lực lượng trọng yếu của Ngụy quyền Sài Gòn. Nhiệm vụ của ông là trực tiếp thu thập những thông tin mật cung cấp cho Cách mạng. 

Những ngày bà bị giặc bắt là chuỗi ngày u ám nhất trong cuộc đời ông. Chúng bới móc, lùng sục khắp nơi mong tìm ra chứng cứ kết tội bà cấu kết với Việt Cộng, nhưng không thấy được một chút vết tích nào, đành chấp nhận thả ra. Nhìn người vợ thân hình gầy ốm, giờ thêm những vết lằn rớm máu trên da thịt do những trận khảo cung của quân Ngụy, ông thương vợ tới ứa nước mắt. Ông muốn bù đắp cho bà tất cả. 

Niềm vui đoàn tụ sau chuỗi ngày u ám của vợ chồng ông chưa được bao lâu thì ông nhận quyết định điều chuyển vào làm Cụm trưởng Cụm tình báo A20 thuộc Quân khu 7, còn bà làm giao thông viên, móc nối liên lạc thông tin tuyến Tây Ninh - Sài Gòn. 

Hòa bình lặp lại, ngỡ tưởng hai vợ chồng đoàn tụ dưới một mái nhà, khi cả hai đều đã có với nhau 8 người con khỏe mạnh. Thế nhưng, chưa kịp hưởng trọn niềm vui, Nguyễn Văn Khiêm lại nhận nhiệm vụ mới, được cử ra Bắc học tại Học viện Quân sự cao cấp. 

Đêm ông trằn trọc, biết chồng không ngủ được, bà quay sang hỏi chuyện ông, ông thú thật với vợ về quyết định mới cầm còn nóng trên tay, bất ngờ hơn, chính bà lại là người giúp ông vững tin: "Mình cứ yên tâm, con cái và việc nhà em lo liệu được."

Có lẽ cho tới khi hai vợ chồng Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm về hưu, họ mới thật sự có được thời gian quan tâm, chăm chút cho nhau. Năm 2001, Thiếu tướng bị tai biến mạch máu não. Bền bỉ 9 năm trời, không ngày nào bà không trò chuyện, tâm sự cho ông nghe, lo lắng cho ông từng viên thuốc, ly sữa, chăm chút cho ông từng giấc ngủ. Bà thay chiếc nạng gỗ cho ông từng bước đi, bà trở thành đôi chân bền bỉ giúp ông từng ngày phục hồi sức khỏe.

Đó là câu chuyện mà người nghe đã được đôi vợ chồng già tóc đã bạc trắng nắm lấy tay nhau, kể về những năm tháng họ đã sát cánh bên nhau vượt qua mưa bom, bão đạn bằng tình yêu Tổ quốc bất diệt và tình vợ chồng nồng đượm.  

16/ Nguyễn Văn Lễ:

Nhờ công của H3, các cơ quan đầu não Trung ương Cục Miền Nam thoát khỏi thảm họa bị hủy diệt trong đường tơ kẽ tóc. H3 là ai?

30 năm hoạt động bí mật giữa Sài Gòn, H3 không chỉ cung cấp những thông tin tình báo tối mật mà còn là địa chỉ đỏ giúp đỡ, che giấu cán bộ cách mạng hoạt động khi vào thành trong những chiến dịch lớn như Mậu Thân 1968, đại thắng mùa Xuân 1975.

Tên đầy đủ của H3 là Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ), sinh quán Vĩnh Hựu, Gò Công Tây - Tiền Giang, tham gia cách mạng từ năm 1945 trong quốc vệ đội tại Tiền Giang, làm trưởng ban cứu thương ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.  

Trước yêu cầu kháng chiến tại tỉnh nhà, năm 1951, ông được phân công vào nội thành Sài Gòn hoạt động bí mật trong lòng địch. Ông mất liên lạc với tổ chức kể từ năm 1957, khi cán bộ phụ trách đột ngột hy sinh. 

Trong điều kiện phải hoạt động đơn độc, ông Ba Lễ không lúc nào quên mình là người của cách mạng và luôn tìm cách giúp đỡ những người tham gia kháng chiến bằng nhiều hình thức.

                               img

Cựu điệp viên H3 - Nguyễn Văn Lễ (bìa phải) cùng các bạn học
 trong một lần đến thăm người thầy - GS Trần Văn Giàu. Ảnh tư liệu của Lê Phong Lan

Năm 1963, thủ trưởng Cụm Tình báo A20 Nguyễn Đức Trí (Sáu Trí) nhận lệnh vào thành xây dựng mạng lưới. Người đầu tiên mà ông tìm đến là Chánh Văn phòng đặc biệt kiêm Bí thư của Tổng Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn Nguyễn Văn Lễ. Sáu Trí là anh họ ông Ba Lễ. 

Sau một buổi tối chuyện trò và gợi mở về tư tưởng giữa 2 người, ông Ba Lễ chính thức gia nhập Cụm Tình báo A20 với mật danh H3. Và từ đây về sau, ông đã lập được nhiều chiến công quan trọng, đặc biệt cho Cụm A20.  

Ngoài bản lý lịch “đỏ”, ông Ba Lễ còn mang một lý lịch khác cũng không kém phần dữ dội. Năm 1951, ông bắt đầu con đường thâm nhập bộ máy chính quyền Sài Gòn. 

Ông được nhận vào làm việc tại Ty Đặc cảnh miền Đông, thuộc Nha Công an Cảnh sát Nam phần do anh rể họ Trần Bá Thành (về sau là điệp viên mang bí số H1) làm trưởng ty. Năm 1953, ông được biệt phái sang Nha An ninh quân đội, theo dõi hoạt động của các giáo phái.  

Sau Hiệp định Geneve, ông Ba Lễ lần lượt trải qua các chức vụ: Trưởng Ban Chiêu hồi các lực lượng giáo phái kiêm Trưởng Chi nhánh Công an Tân Định rồi Trưởng Phòng Kiểm soát các trại định cư, Trưởng Ty Công an Cảnh sát Bạc Liêu (1955), Trưởng Ty Công an Cảnh sát tỉnh Cà Mau (1956), Trưởng Phòng Tố cáo Khiếu nại Nha Công an Cảnh sát Nam phần (1957), Phó Ty Công an tỉnh Kiến Tường (1959), Trưởng Ty Công an Côn Sơn (1960), quyền Trưởng Ty Công an Bà Rịa - Vũng Tàu (1961), Trưởng Ty Công an tỉnh Vĩnh Bình (1962 - 1963)... 

                                           

                   Nguyễn Văn Lễ (thứ tư từ trái sang) tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu

 Năm 1963, sau khi tham gia đảo chính lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô, ông Ba Lễ được đề cử giữ chức Chánh Văn phòng đặc biệt kiêm Bí thư Tổng Giám đốc Tổng nha Công an Cảnh sát Sài Gòn. Sau cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh, ông Ba Lễ rút khỏi ngành cảnh sát và bắt đầu tìm kiếm con đường đến Hạ viện của chính quyền Sài Gòn.

Ông xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, ra ứng cử dân biểu khu vực Gò Công quê nhà. Cấp trên đồng ý. Và ông trúng cử với số phiếu bầu cao, được bầu tiếp vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Lao động Xã hội Chiến binh của Hạ viện chính quyền Sài Gòn.

Với vỏ bọc mới và vị thế thuận lợi, điệp viên Ba Lễ đã tạo dựng các mối quan hệ rộng khắp để thu thập các tin tức tình báo, đặc biệt là những tin nguyên bản tuyệt mật, rất giá trị, phục vụ hoạt động của tổ chức cách mạng.

Ông Ba Lễ có một người bạn sĩ quan rất thân ở Phòng An ninh - Bộ Chỉ huy Viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Những tin tức tình báo tối mật của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thường không phổ biến rộng rãi nhưng cơ quan này luôn được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng. Ông Ba Lễ thường dựa vào nguồn này để lấy những tin quan trọng đó.

Một buổi cà phê sáng, người bạn ở Phòng An ninh tiết lộ với Ba Lễ thông tin tối mật, rằng một cán bộ Việt cộng mới hồi chánh đã khai báo chi tiết về căn cứ Trung ương cục ở Tây Ninh. 
Sau khi kiểm chứng, tình báo Mỹ đánh giá tin này chính xác và chuyển thông tin sang Bộ Tư lệnh không quân chiến lược Mỹ tại Thái Bình Dương để chuẩn bị kế hoạch hủy diệt. Như thường lệ, ông Ba Lễ mượn tài liệu để đọc và tranh thủ chụp một bản gửi cấp tốc vào chiến khu.

Một ngày tháng 4-1969, sau khi nhận xấp tin tình báo của H3, ông Nguyễn Đức Trí (bấy giờ là thủ trưởng J22) chú ý một bản tin đặc biệt quan trọng. 
 
Tin nguyên bản có kèm theo sơ đồ vẽ tỉ mỉ các địa điểm đóng quân, tổ chức, cán bộ của Quân ủy miền, Cục Chính trị, Cục Tham mưu, Cục Hậu cần tại căn cứ ở Sóc Mông - Tây Ninh. Ngay lập tức, tin được hỏa tốc gửi đi trong đêm đến thủ trưởng và tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền.
 
Một lệnh sơ tán khẩn cấp được ban ra. Tất cả các cơ quan của Bộ Tư lệnh miền, Cục Chính trị, Cục Tham mưu và Cục Hậu cần cùng các phòng, ban trực thuộc phải di chuyển ngay lập tức trong ngày khỏi Sóc Mông.
 
Cuộc di tản vừa kết thúc thì một đợt tập kích bằng pháo đài bay B52 ác liệt đã diễn ra trên vùng căn cứ cũ, kéo dài từ 20 giờ đến tận 5 giờ hôm sau.
 
Toàn bộ vùng căn cứ của Trung ương cục rộng khoảng 20 km2 tại Sóc Mông bị phá hủy hoàn toàn. Nếu không có nguồn tin từ Ba Lễ, rất có thể toàn bộ căn cứ của Trung ương cục đã bị xóa sổ, thiệt hại về nhân lực - vật lực rất lớn. 
 
Chiến công của Ba Lễ, theo công văn số 777/TC2 của Tổng cục II - Bộ Quốc phòng đánh giá: “Đồng chí Nguyễn Văn Lễ nguyên là cán bộ của ngành, có 37 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 30 năm hoạt động trong lòng địch. Đồng chí tạo được vỏ bọc tốt, chui sâu vào hàng ngũ cao cấp của quân đội và ngụy quyền Sài Gòn nên đã cung cấp cho ta nhiều tin tức nguyên bản có giá trị chiến lược như: Tin địch dùng B52 hủy diệt căn cứ Trung ương cục, ta đã kịp thời di chuyển cơ quan, tránh được tổn thất; kế hoạch hành quân Junction City, Mậu Thân 1968; Đường 9 - Nam Lào; kế hoạch bố trí lực lượng Mỹ - ngụy trên chiến trường miền Nam; kế hoạch địch dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, kể cả dùng B52 đánh vào Hà Nội; kế hoạch địch dùng biệt kích thám báo ra miền Bắc… Ta đã kịp thời đối phó có hiệu quả…
 
Trong Mậu Thân năm 1968 và chiến dịch năm 1975, đồng chí đã trực tiếp đi điều tra các mục tiêu quan trọng như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo, phục vụ cho cuộc tổng tấn công. Đồng chí là một trong ba người được giao thảo tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc trước Đài Phát thanh và chứng kiến sự đầu hàng đó. Do lập được nhiều thành tích xuất sắc, đồng chí đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương chiến công…”. 
 
Sau năm 1975, ông Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ, mật danh H3) – nguyên là một điệp viên tình báo chiến lược, nghị sĩ Hạ viện chính quyền Sài Gòn – đã tiếp tục công tác trong lực lượng Công an nhân dân. 

                                                                         ***

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156