"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều
vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!" -Albert Einstein
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy
cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu
Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng
để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn
người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không
đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh
"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to
lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng
quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng
ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực
lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy
mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói
khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
“Chiến
tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội,
Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến
ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn,
to đẹp hơn!” Hồ Chí Minh "Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ" Phạm Khắc Hòe
PHẦN II
Sau
Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị:
Các đơn vị quân sự chịu thương vong lớn, nhiều lực lượng chính trị nằm
vùng ở đô thị bị bộc lộ và bị triệt phá, thương vong cao hơn hẳn những
năm trước. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là
cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn
trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến
khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới
Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại
được. Tình thế chiến trường yên tĩnh hơn giúp Quân lực Việt Nam Cộng hòa
có thời gian bổ sung lại những thiệt hại lớn trong năm 1968, đồng thời
tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng hoàng
nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và
Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân
đã thất bại. Mặt
khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một
thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đánh
bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang
với Việt Nam Cộng hòa (tình trạng miền Nam tồn tại song song hai chính
quyền),
bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Lực lượng
quân Giải phóng suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Mỹ một khi đã ra đi thì
khó mà trở lại được. Cuộc
tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến
với nỗ lực cao đã gây căng thẳng quá mức trong xã hội Mỹ, kinh tế giảm
sút, gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội... mà vẫn không dứt điểm được đối
phương. Chiến tranh kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc. Điều
này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến này.
Các chính trị gia trong Quốc hội Mỹ
gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi hủy
bỏ ủy quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn,
thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.
Theo Wikipeđia:
Chiến dịch Phụng Hoàng
(1968-1975) là chiến dịch tình báo, ám sát bí mật trong Chiến tranh
Việt Nam được tiến hành bởi Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng
hòa (CIO) với sự phối hợp của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA).
Chương trình này được hoạch định với mục đích phát hiện và "vô hiệu
hóa" – bắt giam, chiêu hàng, giết, hoặc kiềm chế – các cán bộ Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGP) nằm vùng, những người tuyển dụng và
đào tạo cơ sở cho quân Giải phóng tại các xã ấp miền Nam Việt Nam,
cũng đồng thời là những người hỗ trợ các nỗ lực đấu tranh vũ trang. Đầu
tiên, chương trình được chỉ đạo bởi Evan J. Parker, sau đó bởi Ted
Shackley cùng các cấp phó Thomas Clines, Donald Gregg và Richard Secord.
Tuy
ban đầu chương trình được CIA khởi xướng, nhưng sau đó nó được chuyển
giao cho Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khi trở thành một
phần của chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh",
chiến dịch này được chuyển thành một chương trình của Quân lực Việt Nam
Cộng hòa với sự hỗ trợ của cố vấn quân sự Mỹ. Chiến dịch Phụng Hoàng
được chính thức phê chuẩn ngày 1 tháng 7 năm 1968 bởi sắc lệnh của Tổng
thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu,
mặc dù trước đó nó đã tồn tại không chính thức. Tổng thống Thiệu đã
chính thức công bố chương trình này chỉ ít lâu sau cuộc tổng tấn công
tết Mậu Thân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
(QGP). Tuy nhiên ông không nói cho truyền thông biết rằng Phượng Hoàng
chính là sự mở rộng chương trình Phượng Hoàng của Mỹ. Chính phủ Việt Nam
Cộng hòa đã công khai hóa sự cần thiết của chương trình này nhằm chống
lại những cơ sở ngầm của Quân Giải phóng, và yêu cầu dân chúng trợ giúp
bằng cách cung cấp những thông tin cần thiết
Theo thống kê của Hoa Kỳ, chương trình này và những nỗ lực tương tự từ
1965 đến 1972 đã "vô hiệu hóa" 81.740 người bị nghi ngờ đã hoạt động,
đưa tin tức và ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, trong đó khoảng từ
26.000 cho tới 41.000 người đã bị giết. Theo một nguồn tin, đa số những người mà Hoa Kỳ thống kê chỉ là thường
dân bị bắt giết oan, nó đã gây ra sự căm phẫn cho dân thường đến mức tạo
thêm mối nguy hại nhiều hơn là thành tích
Tại miền Nam Việt Nam những năm trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970,
mạng lưới chính quyền của MTGP bí mật phát triển, có ảnh hưởng rộng rãi
đối với quần chúng nhân dân. Mạng lưới này được Hoa Kỳ gọi là "cơ sở Việt Cộng"
(VCI – Viet Cong infrastructure), hay mạng lưới "cơ sở cách mạng" (theo
các tài liệu Việt Nam), cung cấp sự kiểm soát và chỉ đạo đấu tranh
chính trị cũng như quân sự của MTGP tại các làng xóm tại miền Nam Việt Nam.
Mạng lưới các cơ sở cách mạng này cấp lương thực và vật
dụng cho các lực lượng vũ trang địa phương hoặc các lực lượng từ các căn
cứ gần biên giới; cung cấp thông tin tình báo, dẫn đường cho Quân Giải
phóng từ miền Bắc vào; động viên nhân lực địa phương trợ giúp cho du
kích và bộ đội chủ lực, tiến hành thu thuế, và tuyển mộ các thanh niên
địa phương cho các lực lượng võ trang của quân Giải phóng.
Hệ thống kể trên đã hoạt động ở miền Nam từ nhiều năm và
thành thạo trong các phương pháp hoạt động bí mật. Chương trình Phụng
Hoàng được Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa
phát triển nhằm phá hủy hệ thống cơ sở cách mạng kể trên. Khác với các
nỗ lực quân sự, Phụng Hoàng là hoạt động mang tính truy bắt của Cảnh sát
quốc gia và được chỉ đạo bởi các Ủy ban Phượng Hoàng bao gồm đại diện
phía dân sự và các tổ chức quân sự bao gồm cứu tế xã hội, các cơ quan
tình báo và tuyên truyền. Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa
thực thi những điều luật riêng biệt áp dụng cho tội xúi giục chống đối
và yêu cầu các công dân ủng hộ bằng cách cung cấp thông tin.
Chương
trình Phụng hoàng bắt đầu hoạt động từ cuối năm 1966. Ngày 20 tháng 12
năm 1967, Hoa Kỳ mới chính thức hỗ trợ với phương thức, thu thập tin
tức, và trắc nghiệm.
Ở những vùng mà Việt Nam Cộng hòa không kiểm soát được chặt chẽ thì lực
lượng quân Giải phóng hoạt động mạnh. Lực lượng du kích tiến hành cảnh
cáo, bắt giữ hoặc ám sát những người phục vụ cho quân đội Mỹ và các chỉ
điểm viên trung thành với chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Riêng năm 1969, theo tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ William E. Colby,
có hơn 6.000 người phục vụ cho Mỹ - VNCH bị ám sát, và 15.000 người bị
thương. Trong số những người thiệt mạng có 90 viên chức xã và xã trưởng,
240 viên chức ấp và ấp trưởng, 229 người tản cư và 4.350 thường dân.
Hệ thống nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
một đối thủ có kinh nghiệm và tổ chức chặt chẽ, chính phủ Việt Nam Cộng
hòa cần phải có các chuyên gia chiến tranh chính trị (political warfare)
để đối phó. Trong hai năm 1967 và 1968, nỗ lực phối hợp tình báo (dựa
chủ yếu vào các hoạt động của CIA) chống lại các cơ sở cách mạng được
chủ trì bởi Tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ - tướng William Westmoreland.
Đây là chương trình hợp tác quân sự và dân sự mang tên "Phối hợp và
Khai thác tình báo" (Intelligence Coordination and Exploitation – ICEX)
với nhiệm vụ là giúp đỡ và hỗ trợ chính phủ Miền Nam đương đầu với các
mạng lưới cơ sở này. Lúc đầu, chương trình này (ICEX) nhận được rất ít
chú ý và ủng hộ của chính quyền Nam Việt Nam. Chỉ khoảng vài chục đối
tượng của Mặt trận Dân tộc nằm vùng bị bắt giữ mỗi tháng bởi các hành
động đột kích và bắt bớ chủ yếu do các đơn vị CIA.
Thành phần tham gia là các viên chức hội đồng xã, trưởng
xóm, cảnh sát địa phương và lực lượng dân vệ. Khi có tin từ địa phương
chỉ điểm thì quân đội được báo cáo để đối phó. Theo Hoa Kỳ, riêng năm
1968 sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, hơn 13.000 cán bộ nằm vùng bị
bắt hoặc giết qua chiến dịch Phụng hoàng.
Chương trình Phụng Hoàng là nỗ lực sử dụng các nguồn tin
tình báo, tiêu diệt các cá nhân trong mạng lưới nằm vùng. Một biện pháp
của quân đội Mỹ nhằm vào mạng lưới cơ sở là bố ráp và truy lùng: quân
đội bao vây một làng nghi vấn có Mặt trận Dân tộc hoạt động, sau đó tra
hỏi rồi dời dân chúng đi nơi khác. Một số chiến dịch cũng dùng các biện
pháp quân sự ví dụ như phục kích quân Giải phóng ở khoảng trống giữa các
thôn ấp.
Trên giấy tờ, những cán bộ Mặt trận Dân tộc bị bắt giữ, đối
xử như tội phạm hình sự, bị xử án và tù đày (hoặc hành hình), hoặc bị
thuyết phục để ly khai hàng ngũ những người Cộng sản và quy hàng chính
phủ. Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều người bị giết trong các cuộc đọ súng, đột kích hoặc bị hành hình tức khắc.
Tới năm 1969, khi chương trình Phụng Hoàng mất đi tính bí mật và thu hút sự chú ý của báo chí, CIA
dần rút khỏi chương trình này. Các tổ chức bí mật của Mỹ được thế chân
bởi các cố vấn tình báo quân sự Mỹ (quá trình này phát triển cùng tiến
trình "Việt Nam hóa chiến tranh")
và chú trọng vào huấn luyện, tổ chức nhân viên chính quyền Việt Nam
Cộng hòa để duy trì áp lực với hệ thống cơ sở của Mặt trận Dân tộc. Các
lực lượng chủ yếu được giao phó là Bảo an và Cảnh sát đặc biệt. Tháng 1
năm 1970, có khoảng 450 cố vấn quân sự Mỹ hỗ trợ chính quyền Việt Nam
Cộng hòa trong khuôn khổ chương trình Phụng Hoàng. Sang năm 1972 thì
Chiến dịch Phụng Hoàng được giao cho Cảnh sát Quốc gia điều hành. Cũng
năm đó, cố vấn Mỹ rút khỏi vị trí trong Kế hoạch Phụng Hoàng. Một số rời
sang các chương trình bình định nông thôn.
Cho đến thời điểm quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam
năm 1973, kết quả của chương trình Phụng Hoàng không đều khắp, thậm chí
khá khiêm tốn. Theo báo cáo của Hoa Kỳ, tổng kết thời gian 1968-1972,
chiến dịch này đã giết 26.000 người, bắt 34.000 người (trong số đó
22.000 quy hàng), tức là trung bình mỗi năm có 12.000 người bị giết hoặc
bị bắt
Kết quả nảỳ rõ ràng chỉ ảnh hưởng không đáng kể tới số lượng của quân
Giải phóng (hơn 300.000 người vào năm 1968 và mỗi năm lại tuyển mộ thêm
vài chục nghìn người).
Trong thời gian diễn ra chiến dịch Phượng Hoàng, CIA bị tố
cáo là đã sử dụng các hình thức tra tấn một cách có hệ thống. Theo lời
K. Barton Osborn, một sĩ quan tình báo quân đội tham gia chiến dịch thì
đã có nhiều hình thức tra tấn dã man như đóng đinh vào tai người bị hỏi
cung cho tới chết, trích điện vào chỗ kín của đàn ông và đàn bà... Trong
suốt 18 tháng viên sĩ quan này tham gia chiến dịch, anh ta không thấy
bất cứ người nào còn có thể sống sót sau quá trình hỏi cung. Để lấy lại
thể diện, CIA cũng đã tiến hành một cuộc điều tra toàn diện về những
khai nhận của Osborn và bác bỏ một số chi tiết nhỏ trong lời nói của sĩ
quan này nhưng về toàn cục sự tàn bạo của cả chương trình là không thể
chối bỏ.
Không chỉ đích thân thực hiện, các viên chức CIA còn huấn
luyện cho các đơn vị địa phương của Việt Nam Cộng hòa những hình thức
khủng bố (bao gồm ám sát, tra tấn, tống tiền và các "kỹ thuật" khác) để
đối phó với cán bộ nằm vùng, việc này giúp các viên chức Mỹ đẩy những
phần việc họ không thể làm một cách hợp pháp cho các lực lượng nước
ngoài.
Có ý kiến thậm chí còn cho rằng mục tiêu chính của các quan
chức Sài Gòn trong chiến dịch Phượng Hoàng là tiền bởi CIA treo thưởng
11.000 USD cho mỗi cán bộ nằm vùng bị bắt sống, với những người bị giết
chết số tiền này bị giảm một nửa. Tham gia chiến dịch ám sát này còn có
những người từng là tội phạm hoặc những cựu Việt Cộng được CIA chiêu
hàng và trả tiền, theo lời một người trong số này thì chỉ cần thu thập
vài xác chết để lấy tiền là họ có thể sống thoải mái.
Một số sĩ quan địa phương thậm chí còn bắt những người vô tội để hoàn
thành "chỉ tiêu" (quota) của CIA hoặc nhận hối lộ của những người bị bắt
để thả họ.
Trong cuốn sách "Vấn đề tra tấn: Thẩm vấn của CIA, từ Chiến tranh lạnh tới cuộc chiến chống khủng bố" của Alfred McCoy
xuất bản năm 2006, CIA đã sử dụng các biện pháp tra tấn một cách có hệ
thống. Barton Osborn, một sĩ quan tình báo quân đội tham gia chiến dịch
Phượng Hoàng, kể rằng, trong số hình thức tra tấn dã man có gí điện vào
cơ quan sinh dục người bị hỏi cung, đóng đinh vào tai cho đến chết...
Osborn tham gia chiến dịch suốt 18 tháng, nhưng không thấy người nào
sống sót sau khi bị hỏi cung. Vì lính biệt kích SEAL thường dùng dao găm
KA-BAR để giết người theo kiểu man rợ, nên KA-BAR được gọi là dao đồ tể
Phía
Hoa Kỳ cho là nhờ có chiến dịch Phượng Hoàng, tính đến
tháng 6 năm 1970, đã có 91% trên tổng số 10,944 ấp được coi là an ninh
hay tương đối an ninh, và 7.2% đang còn tranh chấp, và chỉ có 1,4% được
coi như là do Việt Cộng kiểm soát. Những con số đó theo họ đã chứng tỏ
một "sự suy giảm ảnh hưởng của hạ tầng cơ sở Việt Cộng" (HTCSVC). Hoa Kỳ
cho rằng Chiến dịch Phụng Hoàng đã đạt hiệu quả, nên khi quân Giải
phóng mở Chiến dịch Xuân - Hè 1972 và Chiến dịch Mùa xuân năm 1975 thì
nguồn nhân lực chủ yếu không còn là cư dân địa phương nữa mà là các đơn
vị hành quân từ miền Bắc vào.
Tuy nhiên quan điểm này ngày nay đã được xem xét kỹ lại, vì việc quân
Giải phóng thay đổi hình thái đấu tranh từ nổi dậy địa phương sang hoạt
động quân sự chỉ thuần túy là quyết định rút ra từ kết quả của Cuộc tổng
tiến công Tết Mậu Thân,
cùng với việc cán cân lực lượng đang thay đổi rõ rệt. Khi khối chủ lực
của quân Giải phóng ngày càng lớn mạnh, trang bị tốt hơn (có cả xe tăng,
đại bác)
thì việc chuyển dần sang đánh chính quy là điều đương nhiên, và đánh du
kích không còn là ưu tiên hàng đầu nữa. Bên cạnh đó, trong quá trình
diễn tiến của các chiến dịch năm 1972 và 1975, lực lượng dân sự tại miền
Nam đã đóng vai trò quan trọng giúp lực lượng quân sự giành quyền kiểm
soát tại khắp các địa phương chứ không hề biến mất như phía Hoa Kỳ vẫn
nghĩ.
Theo số liệu của quân Giải phóng, năm 1966, dân quân du
kích trên toàn miền Nam có 301.354 người, năm 1967 là 302.638 người, đầu
năm 1975 con số này là 296.984 người
Như vậy, chiến dịch Phượng Hoàng gần như không làm suy giảm số lượng
dân quân du kích của quân Giải phóng hoạt động tại miền Nam như phía Hoa
Kỳ tuyên bố.
Thực tế, chương trình Phụng Hoàng còn gây hậu quả xấu lâu
dài cho Hoa Kỳ - VNCH vì nó tạo ra sự bất bình trong dân chúng. Chương
trình này nguy hiểm ở chỗ nó bị sử dụng để đàn áp những người bất đồng
quan điểm với chính phủ VNCH bất kể họ là Việt Cộng hay không. Nó cũng
góp phần đáng kể cho sự nhũng loạn của hệ thống hành chính, khi nhiều
quan chức địa phương đe dọa người dân hoặc tha bổng người bị bắt để đòi hối lộ.
Thậm chí một số chuyên viên quân sự cho rằng chương trình
Phụng Hoàng mang lại tác động tích cực cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng
hơn là gây tác hại. Việc tù đày, tra tấn rất nhiều người mà phần nhiều
là những người chỉ hoạt động ở tầng thấp (thậm chí có thể chỉ là dân
thường bị oan) - khiến dân chúng nhiều khi quay sang hợp tác với Mặt
trận Giải phóng, còn Việt Nam Cộng hòa thì ngày càng bị một bộ phận lớn
dân chúng xa lánh. Có ý kiến còn cho rằng, chương trình này gây mất lòng
dân chúng hơn bất kỳ hành động nào khác của quân đội viễn chinh Mỹ và
chính quyền Sài Gòn
Chương trình Phụng Hoàng thường được gọi bằng cái tên
"chiến dịch ám sát", và bị chỉ trích là một ví dụ tiêu biểu của những
hành động tàn bạo, xâm phạm nhân quyền mà CIA và các tổ chức của nó đã
tiến hành. Theo thống kê của Mỹ, trong năm 1969, 19.534 người bị coi là
Việt Cộng đã bị "vô hiệu hóa" (từ sử dụng trong chương
trình Phụng Hoàng): 6.187 người bị giết, 8.515 bị bắt, 4.832 người về
theo chương trình chiêu hồi. Tới năm 1971, William Colby đưa ra con số
người bị giết trong chương trình này là 20.857. Con số của chính quyền
Sài Gòn còn cao hơn rất nhiều: 40.994.
Cá biệt, một nhóm dưới sự chỉ đạo của Karl Sherrick và Gary Leroy giết
tới 23 người trong một tháng. Các đơn vị của hai người này chịu trách
nhiệm về 200 cái chết trong các đợt hành động của họ. Tuy nhiên, chỉ có
dưới 10% số nạn nhân của chương trình Phượng Hoàng đã thực sự là mục
tiêu của chương trình này. Phần còn lại bị gán là cơ sở của Mặt trận Dân
tộc sau khi họ đã bị giết hại. Các nỗ lực của các tỉnh trưởng nhằm đạt
chỉ tiêu giao phó cũng dẫn đến sự phóng đại con số thống kê bằng cách
tính cả các vụ bắt giữ người không theo Mặt trận Dân tộc, bắt giữ nhiều
lần một đối tượng, và đưa cả số người chết từ các hoạt động quân sự vào
kết quả chương trình Phụng Hoàng.
Ngoài ra, cơ sở để định đoạt một đối tượng có phải là du
kích nằm vùng hay không cũng rất thiếu cụ thể. Trong nhiều trường hợp,
người này vu khống người kia là Việt Cộng để mượn tay quân đội Mỹ giết
kẻ mình thù oán.
Một
phụ nữ 21 tuổi đang hấp hối sau khi bị lính Thủy quân Lục chiến Nam
Triều (Hàn Quốc) cắt vú tại làng Phong Nhi, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam
ngày 12 tháng 2 năm 1968. Được chụp và chú thích bởi Hạ sĩ J. Vaughn
thuộc Trung đội Delta-2, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Các bức ảnh này
hiện được lưu trữ tại Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA).
Ngày
8-2-1968, R. Kenedy (em trai cố tổng thốngKennedy) đã đọc một bài diễn
văn. Có đoạn: “Đối phương của chúng ta đang tự do đánh phá trên khắp
miền Nam Việt Nam và cuối cùng họ đã phá vỡ chiếc mặt nạ ảo tưởng mà
chúng ta đã dùng để che dấu tình hình thực sự của chúng ta, thâm chí đối
với chính chúng ta”. Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin
tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước.
Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành
động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm
công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi
chiến tranh là bẩn thỉu.
Nói
về thất bại của Mỹ, rõ ràng hơn là trích dẫn lời nói của chính Giônsơn
trong hồi ký của ông ta: “Kết thúc năm 1968, sau nhiều năm tiến hành
cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thực sự không tin mình có
thể sống sót nếu ở lại Nhà Trắng một nhiệm kỳ nữa, vì tình hình đen tối
của chúng ta (tức Mỹ) ở Việt Nam đã làm tôi phải căng thẳng suốt 1.886
đêm, ít khi được ngủ trước 2 giờ sáng”
Cơlipphớt
được Giônsơn bổ nhiệm làm Bộ trưởng quốc phòng thay Mắc Namara từ ngày
1-3-1968, kể: “Tôi sửng sốt khi nhận ra rằng chúng ta không có kế hoạch
quân sự nào để thắng cuộc chiến. Chúng ta trông đợi cuối cùng địch sẽ
kiệt quệ trầm trọng vì bị tiêu hao đến độ rồi họ sẽ đầu hàng. Và đấy là
chính sách của chúng ta trong cuộc chiến tranh”, “thế rồi tôi trình bày
quan điểm cá nhân của tôi cho tổng thống Giônsơn rằng tôi thấy rõ ràng
là một đường lối mà Hoa Kỳ nên áp dụng là rút khỏi Việt Nam. Hoa Kỳ
chính là kẻ thất bại thực sự”. Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo.
Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Johnson thoái chí
đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân
sự mà phải xuống thang, đàm phán. Johnson cách chức Bộ trưởng quốc
phòng McNamara và tướng Westmoreland, tổng chỉ huy quân Mỹ tại Việt Nam,
bản thân ông cũng tuyên bố sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo.
Kết quả là ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến,
chính phủ Hoa Kỳ buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B.
Johnson
tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm
dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến
trường, và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tân tổng thống Richard M.
Nixon, thắng cử vì hứa chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về
nước và đàm phán với Quân Giải phóng. Chiến lược Chiến tranh cục bộ
được kỳ vọng sẽ đem lại chiến thắng cho Mỹ giờ bị loại bỏ. Vấn đề của
Mỹ bây giờ không còn là chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế
nào.
Sự
thật lịch sử do tác động to lớn của cuộc tổng tiến công và nổi dậy tạo
ra được Trần Văn Trà tóm lược cũng trong “Tết Mậu Thân - chiến công hiển
hách” như sau:
“Tiến
công và nổi dậy tại chiến trường kết hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại
giao và tất nhiên, kết quả của đấu tranh ngoại giao tùy thuộc hiệu quả
chiến đấu tại chiến trường. Sau đợt I, gần 2 tháng sấm sét ở các đô thị
miền Nam, tổng thống Mỹ cách chức Tư lệnh quân Mỹ Oétmolen và thay thế
bằng Abram, phụ tá của Oétmolen; Chiến lược “Tìm và diệt” bị thay thế
bằng chiến lược “Quét và giữ” phù hợp với chủ trương “Việt Nam hóa” và
xuống thang chiến tranh. Ngày 31-3-1968, Giônsơn ra lệnh cho không quân
hạn chế oanh tạc miền Bắc Việt Nam, tuyên bố: “Tôi sẽ không tìm cách và
sẽ không chấp nhận việc Đảng đề cử tôi” (ra tranh cử Tổng Thống) và ngỏ ý
với ta thương lượng hòa bình. Ngày 3-4, ta trả lời chấp nhận và hai bên
bắt đầu trao đổi chọn địa điểm các cuộc họp cũng như thành phần các bên
hòa đàm. Mỗi ngày trong chiến tranh không phải đi qua nhanh chóng và
thường là cả trăm, cả ngàn người phải ngã xuống. Thế mà phải sau đợt II
rồi đợt III, ngày 1-11-1968, Mỹ mới phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các
cuộc ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam và ngày 13-11, Bộ Ngoại giao Mỹ
ra tuyên bố một cách lắt léo: “Hoa Kỳ tán thành họp 2 phía: Hoa Kỳ và
Việt Nam Cộng Hòa (Ngụy quyền) một bên, Bắc Việt nam với bất kỳ ai một
bên”. Thật là đến lúc buộc phải ngậm bồ hòn mà nhận đối thủ còn cố tránh
tiếng, nói “bất kỳ ai”, nếu ai đó không phải là người đã tung ra những
đòn hiểm hóc nhớ đời. Ngày 10-12-1968, phái đoàn Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam đã đến Pari để dự cuộc đàm phán hòa bình 4 bên”.
Lời hô “Nhằm thẳng quân thù, bắn” của Nguyễn Viết Xuân đã trở thành
khẩu hiệu tiến công trên các trận địa pháo phòng không của bộ đội ta
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ .
Liên
quan đến chiến dịch “Sấm rền” của Mỹ có biết bao nhiêu câu chuyện về
tinh thần chiến đấu hy sinh, kiên cường bất khuất đến phi thường của
quân dân miền Bắc Việt Nam. Tiêu biểu cho cái tinh thần ấy là tiếng hô
dõng dạc của Nguyễn Viết Xuân trên trận địa pháo cao xạ trong chiến đấu
dưới sự đánh phá của máy bay Mỹ: “Nhắm thẳng quân thù mà bắn!”; là những
khẩu hiệu của một thời khói lửa: “Tiếng hát át tiếng bom”, “Đánh địch
mà đi, mở đường mà tiến”… Trong vô số những câu chuyện đó, có một câu
chuyện hết sức kỳ lạ: câu chuyện đứng vững một cách bền bỉ của cầu Hàm
Rồng dưới mưa bom bão đạn của không lực Mỹ và đã trở thành biểu tượng
của sự gan góc.
Ngay
từ đầu, cầu Hàm Rồng (ở địa phận tỉnh Thanh Hóa) đã là mục tiêu quan
trọng phải oanh kích của máy bay Mỹ vì đường giao thông huyết mạch 1A và
đường xe lửa dọc theo biển Đông, theo hướng Bắc - Nam đều qua cây cầu
thép này. Năm 1965 có 277 lần chiếc cất cánh đi đánh phá cầu Hàm Rồng,
năm 1966 có 135 lần chiếc, năm 1967 là 204 lần chiếc. Hơn 1.250 tấn bom
đã được thả xuống đó với 8 chiếc máy bay đã bị bắn rơi, nhưng cầu Hàm
Rồng tuy có bị hư hại song vẫn cứ đứng trơ trơ ra đó và vẫn sử dụng
được. Người ta có cảm giác rằng hình như đó là một mục tiêu không thể
tiêu diệt nổi.
Thiếu
tướng David C. Richardson, tư lệnh lực lượng đặc nhiệm 77 nói: “Đối
phương từ lâu đã xây dựng nhiều đường vòng quanh cầu Hàm Rồng và chiếc
cầu này đã giảm hẳn tầm quan trọng đối với nỗ lực cấm vận của Mỹ. Vì lý
do đó, tôi liệt chiếc cầu này vào loại mục tiêu không được đánh và chỉ
thỉnh thoảng mới thông qua những trận oanh tạc nó. Đối với các phi công
của lực lượng đặc nhiệm 77 thì tầm quan trọng tâm lý của cây cầu đó đã
vượt xa tầm quan trọng chiến thuật của nó. Mọi liên đội không quân Tây -
Thái Bình Dương đều muốn được cái vinh dự đánh sập cầu Hàm Rồng và nó
gây cho các phi công sự kích thích thực sự…!”.
Tháng
11-1966, đô đốc Richardson đồng ý cho thử lần cuối cùng đối với cầu Hàm
Rồng, trước khi về nước. Người ta đã hy vọng chứa chan vào những báo
cáo đầu tiên sau trận đánh về các cột khói, bụi che lấp mục tiêu đã mở
ra khả năng là chiếc cầu tượng trưng của mạng lưới giao thông ở Bắc -
Việt Nam cuối cùng rồi cũng bị hủy diệt. Đại tá Bill Houser đã vội vã
trình cho Richardson một bản báo cáo lạc quan của phi công và kêu lên:
“Chúng tôi đánh trúng cầu rồi!”. Nhưng thật không may cho ông này, những
bức ảnh chụp sau đó cho thấy cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững.
Cầu Hàm Rồng cũ
Trong suốt thời kỳ chiến đấu chống lại âm mưu phá cầu Hàm Rồng, quân và dân Thanh Hóa đã tiêu diệt 117 máy bay của địch
Cuộc chiến tranh kéo dài đã phá hoại cầu Hàm Rồng không biết bao nhiêu lần.
Đến năm 1955, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương khôi phục lại đường xe lửa,
đường ô tô, đường sông… giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Tháng
1-1968, Mỹ tiến hành 5 cuộc đánh phá nữa vào chiếc cầu này. Ngày 28-1,
những quả bom 900 kg đã rơi trúng cầu, mặt cầu bị 2 lỗ, trụ cầu ở đầu
phía đông bị hư hại và đường lên cầu ở phía tây bị tắc. Nhưng cầu Hàm
Rồng vẫn không sập và đến ngày 8-2-1968 nó lại được đưa vào sử dụng.
Theo
W. Cagle thì đại tá W. B. Muncie có đưa ra một cách giải thích kỳ bí về
sự bất diệt của cầu Hàm Rồng như thế này: Quả đất này gồm hai bán cầu
khổng lồ hình elíp gắn với nhau bằng bản lề lò xo đâu đó ở dưới đáy vùng
Nam - Đại Tây Dương, còn phía bên kia thì gài chắc bằng cầu Hàm Rồng;
nếu như cầu này bị phá hủy thì thế giới sẽ bị bật mở, người và vật sẽ bị
quăng cả vào đó và thế cân bằng của Vũ Trụ bị đảo lộn. Đó chính là
nguyên nhân làm cho cầu Hàm Rồng trở thành một mục tiêu ở Bắc - Việt Nam
mà không ai có thể tiêu diệt được…
Bước
ngoặt bi kịch đối với cuộc đời binh nghiệp của đại tướng Oétmolen “bắt
đầu từ một thung lũng nhỏ mang tên Khe Sanh” và “kết thúc bằng cú Tết
Mậu Thân năm 1968”.
Khe
Sanh nằm trên một cao nguyên, mỗi bề gần 10km, thuộc miền núi phía tây
tỉnh Quảng Trị, gần chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và
Tà Cơn. Các tướng tá Mỹ trực tiếp điều khiển chiến tranh xâm lược Việt
Nam đều nhất trí cho rằng Khe Sanh là vị trí chiến lược hết sức quan
trọng, vừa có thể ngăn chặn sự xâm nhập từ Bắc vào Nam qua giới tuyến
quân sự tạm thời (vĩ tuyến 17), vừa có thể là tấm bình phong che chở an
toàn cho khu vực phía Đông đường 9. Năm 1964, sang Nam - Việt Nam đảm
nhận quyền chỉ huy lực lượng Mỹ, Oétmolen liền đi thị sát Khe Sanh và
lập tực cho đó là vị trí lý tưởng để ngăn chặn Việt Cộng xâm nhập từ Bắc
vào hoặc từ Lào sang theo đường 9; là “cái mỏ neo” ở phía Tây của hệ
thống phòng thủ phía Nam khu phi quân sự và là bàn đạp cho các cuộc hành
quân trên bộ để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Bỏ Khe Sanh tức là bỏ
mất tất cả những lợi thế đó, cũng là chấp nhận cho Việt cộng đưa chiến
tranh vào vùng dân cư ven biển tỉnh Quảng Trị và tạo ra một hành lang
dọc bờ biển cho Việt Cộng tiến xuống phía Nam. Bởi tầm quan trọng như
thế nên Khe Sanh được Mỹ chú tâm xây dựng thành một khu vực phòng thủ
cực mạnh với lực lượng đồn trú tới 6.000 quân do đại tá Đêvít Laođơ chỉ
huy, có đầy đủ xe, pháo và ngoài ra còn được 16 khẩu pháo 175 mm (có hỗn
danh là “Vua chiến trường”) của lục quân Mỹ đặt ở căn cứ 241 cùng
20.000 quân trên tuyến phòng thủ đường 9, đặc biệt là được một lực lượng
không quân hiện đại to lớn yểm trợ, chi viện.
Với Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968, quân và dân ta đã thực
hiện thành công đòn nghi binh chiến lược, thu hút, giam chân, tiêu hao,
tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi
cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào các đô thị
trên toàn miền Nam. Thắng lợi đó là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời,
đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Quân Giải phóng tiến công căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Gần đây mạng Tencent của Trung Quốc đã đăng một loạt ảnh màu về chiến dịch Khe Sanh. Mạng này viết: Trận Khe Sanh
là một trận chiến lớn trong chiến tranh Việt Nam, địa điểm tại tỉnh
Quảng Trị từ tháng 1 năm 1928 đến tháng 4/1968. Trong trận chiến này, 3
sư đoàn của quân đội nhân dân Việt Nam đã bao vây và pháo kích lực lượng
thủy quân lục chiến của Hải quân Mỹ.
Pháo binh Quân giải phóng nã đạn về phía căn cứ Mỹ tại Khe Sanh, tháng 2/1968 (ảnh tư liệu)
h
Chiến dịch Khe Sanh thường được mô tả như một trận đánh với lực lượng thủy quân lục chiến
Mỹ thuần khiết nhưng thực chất nó không phải như vậy. Lực lượng Mỹ trong
chiến dịch này bao gồm cả sư đoàn 1 kỵ binh được phái đến Khe Sanh để
giảm áp lực cho thủy quân lục chiến.
Máy bay vận tải của Mỹ bị Quân giải phóng bắn cháy khi liều mạng đỗ
xuống sân bay Tà Cơn để tiếp tế cho căn cứ Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Bên cạnh đó còn có cả các đơn vị biệt kích Mỹ và binh sỹ Sài Gòn tham
gia. Thêm nữa còn có cả sự yểm hộ từ không quân Mỹ, không quân hải quân
Mỹ và không quân chính quyền Sài Gòn trong các phi vụ oanh tạc và trinh
sát và tải thương...
Sau khi giải vây Khe Sanh, quân Mỹ đã điều chỉnh lại bố phòng ở đây. Chỉ
huy lực lượng Mỹ ở đây là Thiếu tướng William. B. Rosen và Thiếu tướng
Thủy quân lục chiến Robert. E. Cashman đã đề xuất kế hoạch rút quân khỏi
Khe Sanh. Ngày 5/7/1968, quân Mỹ chính thức đóng cửa căn cứ này.
Lính Mỹ trên trận địa Khe Sanh. Theo Wikipedia, ước tính trong toàn
chiến dịch, phía Mỹ đã thương vong trên 12000 người còn phía Việt Nam
tổn thất khoảng 9000 người.
Lính thủy đánh bộ Mỹ xô nhau chạy đến máy bay trên đường băng ở căn cứ Khe Sanh để tháo chạy. Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN
Quân giải phóng bao vây, bắn rơi máy bay vận tải C130 địch hạ cánh xuống
sân bay Tà Cơn để tiếp tế cho căn cứ Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Cũng theo Wikipedia, việc rút khỏi Khe Sanh đã được chính quyền Mỹ giữ bí mật nhưng cuối cùng nó vẫn bị lộ ra dư luận.
Hình ảnh binh lính bị thương tại trận địa Khe Sanh.
Tháng
12-1967, Oétmolen nhận được tin tình báo phát hiện 2 sư đoàn bộ binh và
2 trung đoàn pháo cùng xe tăng quân Bắc - Việt Nam tập trung quanh Khe
Sanh. Ông ta nhận định sắp có cuộc tiến công của Việt Cộng nhằm chiếm
khu vực này và các điểm tựa khác dọc đường 9 từ Đông Hà sang Lào. Bị ám
ảnh, Oétmolen còn cho rằng Việt Cộng định biến Khe Sanh thành một “Điện
Biên Phủ” thứ hai, do đó đã yêu cầu nhà sử học công tác trong Bộ tư lệnh
là đại tá Rimơ Ácgô nghiên cứu Điện Biên Phủ và các trận bao vây trên
thế giới để so sánh với Khe Sanh nhằm kiện toàn công tác phòng ngự cho
nó. Ácgô cho biết, qua nghiên cứu thì sở dĩ quân phòng ngự thất bại là
do mất hết mọi thế chủ động. Theo Oétmolen thì quân Mỹ ở Khe Sanh có lợi
thế hơn nhiều so với quân Pháp ở Điện Biên Phủ bởi được chi viện dồi
dào bằng máy bay và pháo binh từ phía ngoài và Mỹ có đầy đủ khả năng chở
quân ứng cứu kịp thời bằng đường không để giành thế chủ động đánh bại
đối phương. Trước khi trận đánh xảy ra, Oétmolen còn cho chuyển toàn bộ
các máy dò điện tử định dùng kéo dài hàng rào Mắc Namara sang Lào, về bố
trí xung quanh Khe Sanh.
Sau
khi đã dồn những nỗ lực quan trọng cho Khe Sanh với tính toán, cân nhắc
kỹ lưỡng, Oétmolen “tin tưởng Khe Sanh có thể đứng vững trong lịch sử
như một tấm gương cổ điển về thách thức đánh bại một lực lượng bao vây
đông hơn nhiều lần bằng việc sử dụng hỏa lực có phối hợp”.
Tại
Oasinhtơn, bị sự suy diễn theo chiều hướng coi Khe Sanh như một Điện
Biên Phủ của các tướng lĩnh Mỹ chi phối, Giônsơn cũng quan tâm đặc biệt
đến Khe Sanh, theo dõi sát sao diễn biến tình hình ở đó trên một sa bàn
trận địa đặt trong tầng hầm Nhà Trắng và đòi các tướng lĩnh phải có lời
cam kết bằng máu không được để mất khu vực phòng thủ đó.
Trong
một cuộc họp Ban tham mưu của mình, Oétmolen tuyên bố: “Chúng ta sẽ
không bị đánh bại ở Khe Sanh. Tôi sẽ không tha thứ cho ai nói hoặc suy
nghĩ điều ngược lại”.
Giữa
lúc liên quân Lào - Việt đang truy quét quân địch ở Nậm Bạc thì ngày
20-1-1968, quân Giải phóng bất ngờ tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh.
Sau khi làm chủ quận lỵ Hướng Hóa, đêm 31-1, quân Giải phóng tiêu diệt
cứ điểm Huội San và ngày 7-2, diệt cụm cứ điểm Làng Vây, làm cho Tà Cơn
bị hở sườn phía tây. Quân Giải phóng chọc thủng luôn tuyến phòng thủ tây
đường 9 của địch, làm chủ đoạn đường đó từ biên giới Việt - Lào đến Cà
Tu, mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Cơn. Lính thủy đánh bộ Mỹ trong Tà Cơn
phản kích ra liên tục, nhưng đều bị đánh bại, đành phải cố thủ trong
công sự, chờ viện binh.
Từ
khoảng giữa tháng 2 trở đi, máy bay chiến thuật Mỹ trung bình mỗi ngày
xuất kích 300 lần chiếc, ném 35.000 tấn bom, máy bay chiến lược B52
trong gần 2 tuần thả 75.000 tấn bom xuống quanh Khe Sanh. Trong những
ngày Khe Sanh bị bao vây, trung bình mỗi ngày, đại bác 175 mm của lục
quân Mỹ bắn đến 1.500 quả đạn. Lượng bom đạn dội xuống dày đặc đó làm
cho quân tướng Mỹ - Ngụy ở Khe Sanh cũng phải kinh hoàng. Oétmolen nhìn
nhận đó là “một cuộc phô trương hỏa lực khủng khiếp… một trong những
trận ném bom nặng nề nhất, tập trung nhất trong lịch sử chiến tranh”.
Thế nhưng quân Giải phóng vẫn anh dũng siết chặt vòng vây Tà Cơn từ hai
hướng Tây và Nam. Cuối tháng 2-1968, các đường hào vây lấn của quân Giải
phóng chỉ còn cách tiền duyên địch khoảng 50 m…
Mãi
đến tháng 4-1968, quân Mỹ - Ngụy gồm sư đoàn kỵ binh không vận số 1, ba
tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn biệt động ngụy mới tổ chức được hai cuộc
hành quân “Ngựa bay” và “Lam Sơn 207” để giải tỏa Khe Sanh. Trong những
ngày này, Mỹ dùng máy bay chiến thuật ném bom chỉ cách Trung tâm Tà Cơn
có 400 m, còn máy bay chiến lược B52 thì phong tỏa vòng ngoài từ 2 đến 3
km. Những cuộc giao tranh ác liệt đã diễn ra ở các khu vực: điểm cao
471, 400, 542, 479, Động Ché Riên, làng Khoai, làng Vây, xung quanh Tà
Cơn. Bị đánh thiệt hại nặng nhưng Mỹ - Ngụy cũng chiếm được một số vị
trí có lợi. Vòng vây Tà Cơn của quân Giải Phóng bị nới lỏng, địch thay
được quân (lúc này hình thái phòng ngự của Mỹ ở Khe Sanh vẫn lấy Tà Cơn
làm trung tâm và nơi đây được tăng cường lực lượng, gồm 2 trung đoàn
lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn kỵ binh không vận). Tuy nhiên toàn bộ
hướng Tây - Tà Cơn vẫn bị trống, Mỹ không chiếm được vị trí khống chế
nào.
Sau
khi mặt trận Khe Sanh được tăng cường sư đoàn 308 và trung đoàn 246,
quân Giải phóng mở hàng loạt trận tiến công chiếm lại làng Cát, Động Ché
Riên, cắt đường 9 đoạn từ Rào Quán đến Cu Bốc, đẩy địch ở Tà Cơn vào
thế cô lập.
Ngày
1-6-1968, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ mở cuộc hành quân “Xcốtlen”
đánh ra khu vực Tà Ri, Tà Quan, Húc Cốc Giang, Pa Trang nhằm thu hút lực
lượng quân Giải phóng đang vây hãm Tà Cơn ra đối phó, đồng thời đóng
thêm các chốt bảo vệ phía Đông và Nam đường 9. Cuộc hành quân này, ngay
từ đầu đã bị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn tại Húc Cốc Giang. Ở phía
Tây - Tà Cơn, trung đoàn 246 quân Giải phóng tiếp tục kiềm chế, đánh
tiêu hao địch ở các điểm cao 832, 845, 689. Lực lượng vây hãm Tà Cơn
ngày một siết chặt vòng vây. Một loạt các vị trí án ngữ phía Tây - Tà
Cơn và dọc đường 9 bị quân Giải phóng tiến công tiêu diệt. Đường bộ bị
cắt đứt, đường không bị khống chế mạnh mẽ, Tà Cơn có nguy cơ bị tiêu
diệt. Trước tình hình đó, quân Mỹ phải dừng cuộc hành quân “Xcốtlen”, co
lực lượng về giữ đường 9, khu Nam - Tà Cơn và điều 2 tiểu đoàn lính
thủy đánh bộ về giữ Đông Hà, Cửa Việt đang bị quân Giải phóng uy hiếp.
Quân đội ta pháo kích vào căn cứ Mỹ, Khe Sanh năm 1968. Ảnh: Pháp luật TP.HCM.
Trước
sức tiến công mạnh mẽ của quân Giải phóng trên toàn tuyến đường 9, đặc
biệt là ở Tà Cơn, ngày 26-6-1968, Oétmolen tuyên bố rút khỏi Khe Sanh.
Một cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi Tà Cơn của quân Mỹ - Ngụy đã diễn ra
dưới làn đạn truy kích mãnh liệt của đối phương. Mãi đến ngày 15-7-1968,
quân Mỹ - Ngụy mới rút hết được ra khỏi Khe Sanh.
Sau
170 ngày đêm tiến công, vây hãm, bám trụ kiên cường, quân Giải phóng đã
cắm lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam - Việt Nam lên trung tâm
căn cứ Khe Sanh chứng tỏ ý chí, tinh thần quả cảm và nghệ thuật quân sự
Việt Nam đã thắng đế quốc Mỹ. Quân Giải phóng đã tiêu diệt 17.000 địch,
trong đó có 13.000 quân Mỹ, bắn rơi và phá hủy 400 máy bay các loại,
giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa, đập tan một mảng lớn và trọng yếu
của tuyến phòng thủ đường 9.
Cuộc
chiến đấu ở Khe Sanh là một thử thách phi thường đối với quân đội nhân
dân Việt Nam trước một đội quân chính qui, trang bị hiện đại bậc nhất,
có ưu thế áp đảo về sức mạnh hỏa lực của cường quốc số 1 thế giới là đế
quốc Mỹ, hơn nữa còn đánh cho đội quân hùng mạnh ấy phải chịu thua, rút
chạy hỗn loạn, làm cho “cả thế giới như vừa chứng kiến một câu chuyện
thần kỳ: Quân giải phóng miền Nam vây hãm một lực lượng lớn quân Mỹ ở
Khe Sanh ròng rã 170 ngày đêm và cuối cùng thắng chúng… Hai tiếng Khe
Sanh ngân cao và vang xa mãi như tiếng kèn chiến thắng hùng tráng của
thời kỳ mới trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước” (Xã luận báo “Nhân dân”
số ra ngày 27-6-1968).
Đối
với đế quốc Mỹ, đây là lần đầu tiên những đơn vị tinh nhuệ của quân đội
Mỹ bị bao vây lâu ngày nhất trong lịch sử chiến tranh và mặc dù đã dùng
hết sức mạnh áp đảo của phi pháo, xe tăng để giải vây vẫn không chống
cự nổi, cuối cùng để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn đã phải tháo chạy dưới
làn mưa đạn của đối phương, làm cho “uy tín nước Mỹ suy sụp, Mỹ rốt
cuộc bị mất thể diện” (Tin điện hàng ngày, 28-6-1968), bởi vì: “Sự rút
lui khỏi căn cứ Khe Sanh không phải đơn giản chỉ là bỏ rơi một điểm xung
yếu mà là sự bỏ rơi cả một ảo tưởng và một chính sách được tất cả cố
gắng chiến tranh của Mỹ dựng lên. Cái chiến lược “Tìm và diệt” cũng tan
ra tro như pháo đài xi măng cốt thép ở Khe Sanh…” (Tin điện hàng ngày,
30-6-1968).
Tại cứ điểm 31, binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH
Trong
cuốn hồi ký “Một quân nhân tường trình” (A soldier reports) của mình,
Oétmolen có viết: “Không có sự kiện nào trên chiến trường Việt Nam gây
ra nhiều điều dèm pha, phỉ báng của công chúng Mỹ đối với cách thức tiến
hành cuộc chiến tranh Việt Nam bằng quyết định đứng trụ lại và chiến
đấu ở Khe Sanh.”
***
Với
mục đích buộc Hoa Kỳ ngồi vào bàn đàm phán và tạo ra cái nhìn mới về
cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968,
trong khi chiến sự ở Khe Xanh đang diễn ra ác liệt, thì quân Giải phóng
lại bất ngờ
tung ra trận Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh vào hầu hết
các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương. Đây là một
sự kiện gây chấn động trên thế giới và có một vai trò bước ngoặt trong
cuộc chiến tranh này. Nắm
được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại
Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng
lên mạnh
khi mà quân đội Mỹ tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được
một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, Bộ chính trị Đảng
Lao động Việt Nam hoạch định một chiến dịch nhằm gây tiếng vang lớn ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị") – Lê Duẩn, nhằm buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Thủy quân lục chiến Mỹ cứu thương trong chiến sự Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968
Bị
Quân giải phóng bao vây tiêu diệt, lính thủy đánh bộ Mỹ tranh nhau lên
máy bay rút chạy khỏi Khe Sanh, Quảng Trị (tháng 7/1968) Ảnh: Tư liệu
TTXGP
Trong thực tế, vào tháng 1 năm 1968, tình báo của Quân lực Việt Nam Cộng
hòa đã thu thập được các tài liệu nói về cuộc tổng tấn công sắp tới của
Quân Giải phóng. Tuy vậy, họ cho rằng đây chỉ là tài liệu do đối phương
tung ra để làm nghi binh và không đáng tin cậy. William Westmoreland,
tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam, nhận định Quân đội Nhân dân Việt
Nam sẽ tấn công vào mùa khô với các trọng điểm là Thừa Thiên, Quảng Trị
và Khe Sanh. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này. Mười
ngày sau khi mở cuộc tấn công mạnh vào Khe Sanh (20-1-1968) nhằm thu
hút số lớn lực lượng Mỹ - Ngụy vào vùng hẻo lánh nhưng quan trọng này,
vào đêm 30 rạng sáng ngày 31-1-1967, quân dân miền Nam mở cuộc tổng tiến
công và nổi dậy đồng loạt, đánh vào 5 trong 6 thành phố lớn, 37 thị xã
trong 44 tỉnh lỵ ở miền Nam và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, căn cứ địch,
giáng đòn sấm sét xuống đầu Mỹ - Ngụy. Để
khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã
lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối
phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các
mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng
thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất...
Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và
tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn và làm tổn thất
đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cũng như gây chấn động dư
luận thế giới. Cuộc tổng công kích này được
tiến hành làm 3 đợt: đợt I diễn ra từ 30-1-1968 đến 28-3-1968, đợt II từ
5-5-1968 đến 18-6-1968, đợt III từ 17-8-1968 đến 30-8-1968. Những người dân bị sát hại và lính Bắc Việt hy sinh trong cuộc chiến. Những người Lính VNCH bảo vệ TP Sài Gòn năm Mậu Thân 1968
Biệt Động Quân đang giao tranh tại TP Sài Gòn Những
người lính miền Nam Việt Nam chạy đến chỗ ẩn núp trong cuộc giao
tranh vào sáng sớm tại Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 5
tháng 5 năm 1968. (Ảnh AP /
Eddie Adams)
một chiến sĩ Biệt động SG rơi vào tay g.i ặ.c trong chiến dịch Mậu Thân, đăng trên tạp chí Life ngày 12 tháng 1 năm 1968
Trận
Bà Chiêm, Tây Ninh, ngày 2/1/1968, quân giải phóng đã tiêu diệt tểu
đoàn 3, lữ 1, sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ. (Ảnh tư liệu TTXVN) Nữ du kích Dầu Tiếng trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN) Vào
lúc 6 giờ 15 phút ngày 31/1/1968, lá cờ của Liên minh các lực lượng dân
chủ và Hoà bình Việt Nam được kéo lên cột cờ toà Tỉnh trưởng Thừa
Thiên-Huế. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Các chiến sỹ giải phóng quân chuẩn bị tiến vào Huế (1968). (Ảnh tư liệu TTXVN) Xe tăng Mỹ bị quân giải phóng đánh, chiếm những ngày đầu 1968. (Ảnh tư liệu TTXVN) Chiến
sỹ giải phóng quân Trị Thiên, Huế nghiên cứu sa bàn chuẩn bị đánh tiểu
đoàn 7 thiết giáp Nguỵ ở Tam Thai, Huế ngày 31/1/1968. (Ảnh tư liệu
TTXVN) Quân giải phóng, lực lượng biệt động, đặc công nhận nhiệm vụ và tuyên
thệ trước giờ xuất kích Tổng tấn công Sài Gòn xuân Mậu Thân 1968
Lính BĐQ-VNCH và người lính Mỹ với đạn và súng đầy trên mình
Quân đội ta tiến vào thành nội Huế Tết Mậu Thân, ngày 2/2/1968. Bức ảnh này đã gây chấn động cả thế giới. Trong sự kiện Tết Mậu Thân
1968, tướng Nguyễn Ngọc Loan đã cầm súng bắn thẳng vào đầu một chiến sĩ
đặc công đã bị bắt. Vụ việc được ký giả Eddie Adams nhanh tay chụp được.
Sau này, Adams giành giải Pulitzer trong năm 1969. Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 hay còn được gọi là Tổng
công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện ghi hằn dấu
ấn không thể nào quên vào trong lòng những người dân Mỹ, đặc biệt là
những người yêu chuộng hòa bình và những tổ chức, cá nhân phản chiến.
Nguồn ảnh: History.
Trước đó, người dân nước Mỹ chỉ biết tới chiến tranh Việt Nam
qua những bài báo, những đoạn phim tài liệu được "định hướng" một cách
khéo léo khiến người dân Mỹ vẫn tin rằng cuộc chiến Việt Nam chỉ đơn
giản là một chuyến "du lịch tới miền rừng rậm nhiệt đới", đúng như lời
các sỹ quan tuyên truyền của Mỹ "quảng cáo" khi họ chiêu mộ thanh niên
Mỹ gia nhập quân đội để tham chiến ở Việt Nam. Nguồn ảnh: History. Đến khi chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968 nổ ra, người
dân Mỹ mới "bàng hoàng" nhận ra rằng "chuyến du lịch" mà quân đội Mỹ hay
nhắc tới ám chỉ cuộc chiến ở Việt Nam lại là một chuyến đi không khác
nào "du lịch mạo hiểm" đối với cả người Mỹ và những
người Việt Nam bản địa. Cuộc chiến này dữ dội hơn rất nhiều lần những gì
người Mỹ tưởng tượng. Nguồn ảnh: History. Khi đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam dự định đánh một
trận lớn, gây tiếng vang, "Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng
chính trị" (lời Tổng bí thư Lê Duẩn). Và sự thật là chúng ta đã đánh một
trận rất lớn, không những làm tung tóe ra các khả năng chính trị mà còn
làm "tung tóe" cả xã hội Mỹ thời điểm bấy giờ. Nguồn ảnh: History. Chiến dịch Mậu Thân nổ ra đúng lúc trình độ khoa học kỹ thuật của các
"nhà đài" ở Mỹ đạt đến đỉnh cao nhất với công nghệ truyền hình trực tiếp
ngay từ hiện trường. Những hình ảnh thảm khốc về cuộc chiến tranh Việt
Nam xưa nay vốn vẫn bị giới truyền thông Mỹ cố gắng hạn chế đăng tải nay
đã được lột tả một cách trần trụi qua các đoạn phim truyền hình trực
tiếp từ hiện trường, đưa tới cho khán giả Mỹ và toàn thế giới những hình
ảnh thật nhất, chưa hề qua kiểm duyệt. Nguồn ảnh: History. Những phóng viên chiến trường lão làng, gạo cội của Mỹ được trang bị áo
giáp và mũ sắt không kém gì một binh lính chuyên nghiệp, tuy nhiên vũ
khí của họ lại là chiếc máy quay, máy ảnh đã khiến cả nước Mỹ chao đảo
khi nhận ra sự tàn bạo mà Mỹ đang mang tới đất nước Việt Nam. Nguồn ảnh:
Vietnam. Bên cạnh việc đưa tin về cuộc chiến Mậu Thân, rất nhiều phóng viên chiến
trường trên thế giới cũng đều đổ xô đến chiến trường Nam Việt Nam lúc
bấy giờ với hy vọng sẽ có được những thước phim, những bức ảnh để đời để
thăng tiến cho sự nghiệp của mình. Chính vì vậy, ngày càng nhiều hình
ảnh khốc liệt của cuộc chiến được đưa về không chỉ Mỹ mà còn nhiều nước
khác trên thế giới với đội ngũ phóng viên thường trú ở Việt Nam tăng lên
theo cấp số nhân mỗi ngày. Nguồn ảnh: Pythua. Những hình ảnh đẫm máu của binh lính Mỹ và chư hầu trên chiến trường
Việt Nam được truyền tải trực tiếp về nước Mỹ với tần xuất ngày càng dày
đặc, lượng người theo dõi ngày càng lớn và ngay cả những kênh truyền
hình chuyên về... quảng cáo của Mỹ cũng chèn thêm những giờ phát sóng
đưa tin về cuộc chiến này để thu hút thêm lượng người xem đã gây nên một
cuộc đại khủng hoảng truyền thông về chiến tranh Việt Nam trên ngay
chính nước Mỹ. Nguồn ảnh: Vietnamwar. Có thể nói, đúng như lời của Tổng bí thư Lê Duẩn, cuộc tổng tiến công
Mậu Thân 1968 đã khiến cả nước Mỹ "tung tóe" với hàng chục vạn người
xuống đường biểu tình, những thanh niên đến tuổi nhập ngũ đốt thẻ quân
dịch, những ông bố bà mẹ xuống đường biểu tình để con cái không phải ghi
danh tới chiến trường Việt Nam còn quốc hội Mỹ phải xem xét lại cuộc
chiến này. Nguồn ảnh: Moyers. ây cũng có thể coi là lần đầu tiên quân giải phóng tấn công và chiến đấu
với lính Mỹ trong môi trường tác chiến đô thị - một yếu tố khá khác
biệt so với các cuộc đụng độ trước đây giữa Mỹ và bộ đội Việt Nam. Nguồn
ảnh: Pinterest. Với ưu thế bất ngờ, quân giải phóng và du kích miền Nam Việt Nam đã
khiến đối phương chịu thương vong lớn. Thương vong của Mỹ ở miền Nam
Việt Nam năm 1968 lớn hơn tất cả các năm khác trong cuộc chiến tranh
Việt Nam. Nguồn ảnh: Pinterest. Mặc dù có quân số đông, phương tiện khí tài áp đảo nhưng do quân Mỹ chưa
hề được chuẩn bị trước, các đơn vị lục quân được điều phối không hiệu
quả, chỗ cần thì thiếu quân, chỗ không cần lại thừa quân số. Nguồn ảnh:
Pinterest. Lối tác chiến trong đô thị cũng khiến quân Mỹ loay hoay đối phó, thậm
chí chúng phải sử dụng tới đạn hơi cay để "lùa" quân giải phóng ra khỏi
nơi ẩn nấp. Nguồn ảnh: Pinterest. Lính Mỹ di tản ra khỏi Đại sứ quán Mỹ ở Sài gòn sau khi khu vực này bị
biệt động quân chiếm. Do thiếu quân, Quân Cảnh Mỹ cũng phải cầm súng
chiến đấu. Nguồn ảnh: Pinterest. Tại nhiều nơi, quân Mỹ thậm chí còn bắn nhầm nhau gây thương vong lớn do hiệp đồng không rõ ràng. Nguồn ảnh: Pinterest. Các loại hoả lực hạng nặng cũng tỏ ra yếu thế khi tác chiến trong môi
trường đô thị khiến quân đội Mỹ phải loay hoay đối phó do đã quen chiến
đấu dưới sự yểm trợ của hoả lực hạng nặng. Nguồn ảnh: Pinterest. Vào thời kỳ này, hoả lực phi pháo và lựu pháo về cơ bản là không đủ công
nghệ để có thể yểm trợ cho các mục tiêu trong đô thị do cần độ chính
xác quá cao. Nguồn ảnh: Pinterest.
Trên đây là những hình ảnh đau thương bởi
chiến tranh. Để có được ngày hôm nay dân tộc ta đã trải qua quá nhiều
mất mát Lính cứu hỏa tìm cách vào toà nhà đài phát thanh SG bị vc phá hoại đang
bốc cháy , cạnh đó là tử thi chiến sĩ vc
Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân
là một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi nhiều ngôi mộ tập thể
chôn tử thi trong chiến trận Huế được phát hiện. Việc phát hiện hố chôn
xảy ra khi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và đóng ở Huế một tháng, sau đó bị triệt thoái trước sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Hoa Kỳ..
Một số nhà chức trách Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cùng một số
nhà báo coi hố chôn tập thể là một trong những chứng cứ để kết luận Quân
giải phóng miền Nam đã thực hiện cuộc thanh toán quy mô lớn ở Huế và
vùng phụ cận trong 4 tuần chiếm đóng. Có nguồn cho rằng các vụ giết
người này là có chủ trương nhằm thanh trừng cả một tầng lớp trong xã hội
miền Nam. Nguồn khác, trong đó có nhóm phản chiến thì khẳng định rằng
số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy
tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh. Nguồn từ phía
quân Giải phóng thì ghi nhận họ đã chôn nhiều thường dân chết do hỏa lực
hạng nặng của Mỹ cùng với binh sĩ tử trận của chính họ
Sáng
sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Nhân
dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng lúc tấn công bất
thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên miền Nam Việt Nam –
trong đó có Sài Gòn và Huế.
Với mục đích giành giật chủ quyền tại Huế, trận chiến 28
ngày giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với Quân đội Hoa Kỳ và Quân
lực Việt Nam Cộng hòa
đã diễn ra và kết quả là 40% thành phố bị phá hủy, 116.000 người mất
nhà ở. Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu khoảng 4.400
lính thương vong, trong khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân
đội Nhân dân Việt Nam cũng tổn thất trên 4.000 quân. Cũng trong cuộc tái
chiếm này, quân đội Mỹ đã sử dụng tối đa vũ khí hạng nặng như bom
napalm, đại bác, pháo xe tăng và súng không giật
cỡ lớn. Trong số 17.134 ngôi nhà tại Huế, 9.776 ngôi nhà bị phá hủy
hoàn toàn, 3.169 bị hư hỏng nặng; số thường dân thiệt mạng theo ước tính
đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa là 3.776 người. Tài liệu Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam cho biết họ đã chôn cất khoảng 2.000 nạn
nhân do bom đạn tại các khu mộ tập thể cùng với binh sĩ tử trận của
chính họ.
Một thiếu nữ đang cầm di ảnh của nạn nhân trong vụ thảm sát
Cải táng các thi hài khai quật trong các hố chôn tập thể sau trận Tết Mậu Thân
Theo
Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu VNCH khu vực Thừa Thiên, trong 22 địa
điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2.326 sọ người.
Sau tết, các gia đình kê khai có người chết hoặc mất tích là 4.000 gia
đình. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân
được họ xác định là đã bị mất tích, bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo
cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói
buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống. Võ Văn Bằng, quan chức VNCH,
Trưởng ban Cải táng nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: "Các
hố cách nhau. Mỗi hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người
thì đứng, người thì nằm, người thì ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào
lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại,
cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ họ bị xô vào hố
thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ
là do cuốc xẻng..."
Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:
"Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước
đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn
mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
Tổng số dân sự tử vong: 7.600 – chết lẫn mất tích
Chiến trường: – 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
Nạn nhân trong những ngôi mộ tập thể:
1.173 – số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
809 – số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3–7 năm 1969
428 – số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) – tháng 9 năm 1969
300 – số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969
100 – số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969
1.946 – mất tích (tính đến năm 1970)"
Theo soạn giả Matthew White ghi lại trong cuốn sách "Tàn
khốc: 100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại" thì vụ thảm
sát ở Huế năm 1968 được ông trích dẫn từ các nguồn khác nhau cho rằng đã
có 2.800 người chết và 3.000 người mất tích
Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter viết:
"...tại địa điểm trường trung
học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi
Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và
200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris
[phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan
Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3
đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong
thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn
sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học
có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa."
50 năm qua, rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu và cả những người
trong cuộc đã chứng minh, khẳng định sự việc “thảm sát ở Huế năm 1968”
là sản phẩm của sự dối trá, bịp bợm. Đáng chú ý, trong cuốn Kinh tế
chính trị về nhân quyền Tập I, hai Giáo sư A.N Chomski (A.N Chôm-sky) và
E.Herman (E.Héc-man) đã dành phần Thảm sát tại Huế năm 1968 để phân
tích, chỉ rõ sự thật về sự kiện ngụy tạo nêu trên đã được cố tình dựng
lên như thế nào. Báo Nhân Dân xin trích đăng nội dung này.
“Điều cơ bản liên quan chuyện hoang đường về cuộc thảm sát ở Huế là việc
cho rằng, sau khi chiếm đóng thành phố trong cuộc tổng tiến công mùa
Xuân năm 1968, theo kế hoạch được xác định trước và từ “sổ đen” ghi tên
người làm việc cho chính phủ hoặc coi là “kẻ thù giai cấp”, Việt cộng đã
bắt giữ và giết hại hàng nghìn người dân. Những tài liệu chủ yếu đẩy
tới câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính quyền Sài Gòn đưa ra
tháng 4-1968, một tài liệu được phái đoàn Mỹ phổ biến tháng 11-1969, một
bản phân tích của D.Pike (D.Pi-cơ - sĩ quan tâm lý chiến làm việc tại
Phòng Thông tin Mỹ - USIS) ra đời năm 1970. Hai báo cáo của chính quyền
Sài Gòn và D.Pike gây ra nghi ngờ vì dựa trên nguồn tin, vai trò của
chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng
của vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn cả là các tài liệu này đã
không được điều tra kỹ lưỡng.
... Mùa thu năm 1969, xuất hiện một “tài liệu lấy được” và đáng chú ý
đây là tài liệu vốn đã có trong hồ sơ 19 tháng nhưng không được chú ý;
tài liệu cho biết kẻ địch “tự nhận” trong chiến dịch ở Huế họ đã giết
2.748 người. Rồi tài liệu này trở thành nguồn thông tin chủ yếu để dựa
vào đó, câu chuyện về thảm sát ở Huế được dựng lên. Nên nói thêm là vào
lúc tài liệu được tiết lộ cho báo chí, tháng 11-1969, D.Pike đang có mặt
ở Sài Gòn với nhiệm vụ tạo ra vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ
E.Bunker (E.Băng-cơ). D.Pike nhận ra rằng, các phóng viên Mỹ rất thích
tài liệu này cho nên ông đã cung cấp cho họ. Ông cũng biết không có
phóng viên nào hiểu được tiếng Việt, vì thế các tài liệu được dịch, xây
dựng lại sao cho phù hợp với yêu cầu về một vụ thảm sát.
Ngoài “tài liệu lấy được”, vấn đề có tính thuyết phục về cuộc thảm sát
là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Tuy nhiên, các bằng chứng này lại
không đủ thuyết phục như những tài liệu được sắp xếp nêu trên. Một điều
rất hệ trọng nữa là vấn đề số đông thường dân đã bị giết chết bởi các
trận pháo kích bừa bãi của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam trong khi họ tiến
công chiếm lại Huế. Như nhà nhiếp ảnh chiến trường D.D Duncan (D.D
Đun-can) đã mô tả thì cuộc tái chiếm này là “nỗ lực dốc hết sức để loại
bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát”. Nhà
nhiếp ảnh P.J Griffiths (P.J Gơ-ri-phít) thì cho biết, hầu hết nạn nhân
“đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của
Mỹ” nhưng về sau lại được coi là “nạn nhân từ vụ thảm sát của Việt
cộng”.
Đáng lưu ý là các phóng viên độc lập không được phép có mặt ở hiện
trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi có các hố chôn, dù đã
nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một phóng viên nói chuyện với một lính
thủy quân lục chiến từng có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên kể
rằng, phóng viên được đến đó là người đáng tin cậy, được lựa chọn cẩn
thận, các thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét dấu vết tại hiện
trường chứng tỏ việc chôn lấp có sử dụng xe ủi đất (phương tiện mà phía
Việt cộng không có). Có lẽ chỉ các bác sĩ phương Tây được xem xét các
mồ chôn. Bác sĩ người Ca-na-đa, A.Vennema (A.Ven-ne-ma) cho biết, số nạn
nhân trong hố chôn tập thể mà ông xem xét là 68 người, hầu hết đã bị
thương và mặc quân phục, nhưng được báo cáo lên tới 477 người, tức là đã
bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn thổi phồng lên gấp bảy lần...
Có thể cũng có những trường hợp bị áp bức dồn nén, người thân bị giết hại, có những người sống dưới
chính quyền ngụy khi tham gia hoạt động quản tù binh đã bộc phát trả thù
cá nhân. Lợi dụng cá biệt này, bộ máy tuyên truyền của Ngụy cho khuếch
trương coi đây như là chỉ đạo của cách mạng nhằm giết hại người tham gia
chế độ Sài Gòn.
Lịch sử đã lùi vào quá khứ. Trong chiến tranh bom đạn, chết chóc, đau
thương không thể tránh khỏi. Mậu Thân 1968 ở Huế là một bức tranh như
thế. Chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan về hoàn cảnh chiến tranh
cho đúng thực tế. Khép lại quá khứ để hướng đến tương lai, đừng vì hận
thù, mặc cảm mà khơi lại vết thương.
Theo
thượng tướng Trần Văn Trà (trong bài viết “Tết Mậu Thân - Chiến công
hiển hách” của ông) thì trận tổng công kích ấy “là một sự kiện lịch sử
lớn, là một cái mốc chiến lược quan trọng của cuộc chiến tranh thần
thánh (của nhân dân Việt Nam)”, nó thực sự hiển hách dù “Rất tiếc rằng
những công tác chuẩn bị theo kế hoạch này không được liên tục tiến hành
trong những năm, 1966-1967 theo yêu cầu thiết thân của chiến trường vì
trên cho rằng hãy tập trung lo đánh Mỹ đã. Vì vậy, đến khi có Nghị quyết
Bộ chính trị quyết định tổng công kích - tổng khởi nghĩa thì chiến
trường như bị bất ngờ, vội vàng giở lại kế hoạch cũ và khẩn trương duyệt
lại mọi mặt, tiếp tục hoàn thành một khối lượng công tác lớn lao trong
vòng 3 tháng… Lực lượng Đảng lãnh đạo và tổ chức quần chúng nội thành
còn yếu, Trung ương cục phải điều động từ các tỉnh đồng bằng để tăng
cường trực tiếp những nơi quan trọng… Có một trục trặc “kỹ thuật” trong
việc hợp đồng chiến lược: ở chiến trường Trị Thiên và khu 5 (bao gồm Tây
Nguyên) đánh trước chiến trường B2 (gồm Nam Trung Bộ và Nam Bộ) 24
tiếng đồng hồ. Sở dĩ như vậy vì B2 theo âm lịch cũ… còn khu 5 và Trị
Thiên được Trung ương trực tiếp chỉ đạo thì theo âm lịch mới tại Hà Nội
đã tính toán lại cho đúng hơn… Với 24 tiếng đồng hồ ấy, địch đã kịp thời
thông báo đi khắp nơi để phòng bị, chống lại cuộc tiến công… trọng điểm
số 1 là thủ đô Sài Gòn của Ngụy, đáng lý được giành ưu tiên đã không
còn hoàn toàn, và tất nhiên có gây thêm khó khăn cho người tiến công về
mặt chiến thuật. Về hợp đồng chiến lược, trong toàn miền nổ súng trước
sau một ít ngày vẫn là một cuộc hợp đồng tuyệt diệu. Chúng ta đã đưa
cuộc chiến tranh vào khắp hậu phương địch, vào tận hang ổ đầu não của Mỹ
- Ngụy”. Cũng theo Thượng tướng Trần Văn Trà, do “lực lượng đã bị tiêu
hao không bổ sung kịp thời kể cả quân số lẫn đạn dược, Trung ương cục và
Bộ chỉ huy Miền đã ra lệnh kết thúc thời kỳ Tổng công kích tổng khởi
nghĩa mà không tổ chức đợt IV nữa”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt năm 1968; bắt đầu từ Tết Mậu Thân của quân dân miền Nam đã thu được chiến quả:
- Giết, làm bị thương và bắt sống 63000 tên địch (có hơn 23000 tên Mỹ và chư hầu), làm tan rã hàng chục vạn quân Ngụy.
- Bắn rơi, phá hủy, làm khoảng 6000 máy bay các loại.
- Phá hủy, làm hỏng 13500 xe quân sự (có hơn 7000 xe tăng và xe bọc thép).
- San bằng, bức rút, bức hàng hơn 1500 đồn bốt và chi thu quân sự.
-
Giành quyền làm chủ hoàn toàn nhiều xã, ấp gồm hơn 2 triệu dân (riêng
miền Tây lúc đó đã giành quyền làm chủ 88 xã và gần 2000 ấp và với 1,5
triệu dân).
Đặc
biệt, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đó đã đánh gục hoàn toàn ý chí leo
thang chiến tranh của chính quyền Giônsơn. Trong bức điện của Chủ tịch
Hồ Chí Minh gửi đồng bào miền Nam ngày 4-2-1968 có đoạn: “Thắng lợi đầu
xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi. Không có gì cứu vãn
nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai.”
Tổng
thống Giônsơn “bị kinh ngạc vì cuộc tiến công Tết của địch và bối rối
vì trận Khe Sanh”, đã “tỏ ra mệt mỏi và tư thế bắt đầu chao đảo” (Một
quân nhân tường trình). Còn Oétmolen, trong nỗi ám ảnh về một Điện Biên
Phủ ở Khe Sanh, lại choáng váng bởi đòn tổng tấn công bất ngờ Tết Mậu
Thân của Việt Cộng, đã hốt hoảng, mất bình tĩnh tới mức đòi có ngay thêm
206.000 quân trong khi các lực lượng sẵn sàng tác chiến của Mỹ đã bị
“vét tận đáy” và nông nổi tới mức đề nghị sử dụng cả bom nguyên tử chiến
thuật là điều không thể thực hiện được trong cuộc chiến tranh mà quân
lực hai bên xen kẽ nhau, không phân rõ trận tuyến, càng không thực hiện
được về mặt chính trị. Thế là Giônsơn cay đắng cách chức luôn Oétmolen,
xuống thang chiến tranh và sau đó rút lui khỏi chính trường Mỹ. Báo chí
Mỹ, trước kia ca ngợi Oétmolen bao nhiêu thì lúc này lại chỉ trích bấy
nhiêu, chê là “một người cầm quân hữu dũng vô mưu”, “làm cả một việc rất
trái khoáy” là điềuđộng lính
thủy đánh bộ chuyên tác chiến ở vùng đồng bằng ven biển “lên tận vùng
núi rừng nhiệt đới, căng nọc ra ăn đạn pháo của quân đội Bắc Việt”. Báo
chí Mỹ còn nhận xét mỉa mai, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ có
một vị đại tướng “ngày 28-4-1967 vừa được Quốc hội Mỹ long trọng tuyên
dương công trạng thì đến ngày 23-3-1968 đã bị cách chức tư lệnh chiến
trường và phải ra điều trần trước Quốc hội”, đồng thời “một Tổng thống
kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nước Mỹ phải “tự cách chức”
giữa lúc chiến tranh đang tiếp diễn”.
Sau
này, trong hồi ký của mình, Oétmolen tìm cách đổ vấy rằng vì Lầu Năm
Góc và Nhà Trắng mà ông ta thua trận, và còn nói: “Tôi không có gì phải
ân hận. Tôi là người mà ai cũng nhòm ngó. Cuộc chiến tranh đã làm mất
lòng dân khá nhiều; không cần phải nói, rất nhiều điều của cuộc chiến đó
được qui cho tôi. Là một người lính thì phải chuẩn bị đương đầu với sự
gian khổ của chiến tranh. Ở cương vị tôi, tôi đã gánh lấy vết nhơ của
nó”.
Tháng
1-1969, khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống Mỹ, Níchxơn (Nixon) đã có
những lời lẽ hào nhoáng: “Tại đâu hòa bình còn mong manh, chúng ta sẽ
làm cho hòa bình được củng cố. Tại đâu hòa bình chỉ tạm thời, chúng ta
hãy làm cho hòa bình được vĩnh viễn!”. Nhưng đó thật ra chỉ là lời nói
dối trơ tráo nhất của một con “diều hâu” khét tiếng chống cộng và đầy
quỷ quyệt, có những thủ đoạn hết sức nhơ nhuốc, mà điển hình là vụ
Oatơghết (đặt máy nghe trộm điện thoại đối với nhiều nhà báo và viên
chức nhà nước; tổ chức lấy cắp tài liệu về kế hoạch vận động tranh cử
của đối thủ; bị phát giác năm 1974).
Có
lẽ cuộc tàn phá ghê sợ của không quân Mỹ ở Tôkiô và các thành phố lớn
trên đất Nhật Bản bằng bom cháy và nhất là bằng 2 quả bom nguyên tử vẫn
còn gây nỗi phấn khích trong tâm hồn và đồng thời cũng muốn bắt chước
Aixenhao dọa dùng bom nguyên tử (đã đạt được hiệu quả) trong cuộc chiến
Triều Tiên mà Níchxơn có lần đã nói với một người thân cận: “Tôi gọi nó
là lý luận thằng điên… Tôi sẽ cho Bắc - Việt Nam thấy tôi có thể làm mọi
thứ để kết thúc cuộc chiến tranh. Người ta sẽ rỉ vào tai Cộng sản: lạy
chúa, đừng để ông ta cáu, ông ta đang nằm trên nút bấm nguyên tử… Thế là
chỉ hai ngày sau, ông Hồ sẽ đến Pari thỉnh cầu hòa bình!”.
Với
lối suy nghĩ ngạo mạn kiểu “anh chị găngxtơ” như thế nên từ khi Níchxơn
lên cầm quyền, chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục kéo dài, thương lượng
vẫn cứ dùng dằng mãi. Ở miền Nam - Việt Nam, Níchxơn chủ trương “Việt
Nam hóa “ chiến tranh, nghĩa là tích cực xây dựng quân đội ngụy Sài Gòn
ngày một mạnh lên để rút dần quân Mỹ, tích cực viện trợ phương tiện
chiến tranh một cách dồi dào cho chính quyền Sài Gòn, mở lại cuộc đánh
phá bằng không quân Mỹ ra Bắc - Việt Nam; bí mật đánh phá sang cả
Camphuchia để truy quét Việt cộng (có sự thông đồng ngầm của quốc vương
Sihanúc mà quốc hội Mỹ không hề hay biết!). Mùa hè năm
1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nixon gặp
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam.
Người Mỹ muốn gọi tiến trình đó là "Phi Mỹ hóa chiến tranh"
nhưng phía Việt Nam Cộng hòa phản đối vì gọi như vậy chẳng khác gì thừa
nhận rằng đây là cuộc chiến của người Mỹ. Cuối cùng hai bên đồng ý gọi
việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam là Việt Nam hóa chiến tranh. Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tướng Nguyễn Cao Kỳ,
thừa nhận có những đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu không
tốt vì trước kia họ ỷ lại vào quân Mỹ quá lâu nhưng nếu để cho họ tự
lực, họ sẽ phải chiến đấu vì sự tồn vong của họ.
Việt Nam hóa chiến tranh hay Đông Dương hóa chiến tranh
là chiến lược của Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Richard Nixon
trong Chiến tranh Việt Nam, được áp dụng từ ngày 8 tháng 6 năm 1969 trên
toàn Đông Dương nhằm từng bước chuyển trách nhiệm chiến đấu cho Việt
Nam Cộng hòa và Quân lực Việt Nam Cộng hòa để Mỹ rút dần quân về nước;
nhưng vẫn giữ được miền Nam Việt Nam, và cả bán đảo Đông Dương trong tầm
ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
Tại Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (1970). Từ trái sang phải: Các vị Xihanúc, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng, Xuphanuvông. Hội nghị là cột mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tình đoàn
kết gắn bó giữa cách mạng và nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương.
Thành công của Hội nghị là làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đoàn kết
giữa ba dân tộc của đế quốc Mỹ. Trên thực tế, liên minh chiến đấu Việt
Nam, Lào, Campuchia đã hình thành và ngày càng được củng cố vững chắc.
Đó là một thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta.
Lon Nol khi là tổng thống cộng hòa Khmer
Trong
khi Sihanouk ra nước ngoài công du vào tháng 3 năm 1970, thì tại
Phnom Penh đã bùng nổ một cuộc bạo động chống lại Việt Nam. Ngày 12
tháng 3, Lon Nol và Sirik Matak hạ lệnh đóng cửa cảng Sihanoukville, nơi
vận chuyển vũ khí lậu tới tay Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời ban hành tối hậu thư yêu
cầu tất cả lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền
Nam Việt Nam phải rút khỏi đất Campuchia trong vòng 72 giờ hoặc phải đối
mặt với hành động quân sự
Chiến dịch Lam Sơn 719 hay Cuộc Hành quân Hạ Lào (cách gọi của Việt Nam Cộng hòa) hay Chiến dịch đường 9 - Nam Lào
(cách gọi của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam)
là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam, do Quân lực Việt Nam Cộng
hòa (QLVNCH) thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ.
Mục tiêu của chiến dịch là phá vỡ hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân
Việt Nam (QĐNDVN) và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (QGP) tại Lào và
cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh tại thị trấn Tchepone (Xê-pôn) nằm cách
biên giới Việt-Lào 42km về phía Tây.
Chiến dịch này còn là một thử nghiệm về khả năng Quân lực
Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút
quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam, một thử nghiệm về chiến
lược Việt Nam hóa chiến tranh và năng lực hoạt động độc lập một cách hiệu quả của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Mùa Xuân năm 1971, quân và dân ta với sự phối hợp của quân và dân Lào
anh em, bằng một đòn phản công chiến lược sắc sảo, đã bẻ gãy cuộc hành
quân đầy tham vọng mang tên "Lam Sơn 719", làm nên một chiến thắng lẫy
lừng. Chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào đã giáng một đòn chí mạng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo ra thế và lực mới cho cách
mạng miền Nam bước vào cuộc tiến công chiến lược năm 1972; đồng thời tạo
đà đưa Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến toàn thắng.
Bộ đội phối hợp với dân quân chống lầy cho xe tăng trên đường vào chiến dịch Ðường 9 - Nam Lào. Ảnh: Lương Nghĩa Dũng (TTXVN)
rong chiến dịch này, bộ đội ta chuẩn bị hỏa lực mạnh chưa từng có,
ngoài phòng không thì pháo binh, xe tăng cũng rất mạnh. Ảnh: Lương Nghĩa
Dũng (TTXVN)
Từ sau khi
Norodom Sihanouk bị lật đổ năm 1971, chính quyền Lon Nol thân Mỹ đã
không cho lực lượng quân Giải phóng tiếp tục sử dụng cảng Sihanoukville
để nhận hàng. Về mặt chiến thuật, đây là một đòn nặng đối với nỗ lực
của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do 70% hàng
quân sự cho miền cực nam đã được chuyển đến qua cảng này.
Cú đòn tiếp theo vào hệ thống hậu cần đặt tại Campuchia đã được thực
hiện vào mùa xuân và mùa hè năm 1970, khi quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa
vượt qua biên giới và tấn công các khu căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng Miền Nam trong chiến dịch Campuchia.
Kể
từ sau cuộc đảo chính ở Campuchia (ngày 18-3-1970), Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương (BCH T.Ư) Ðảng nhận định, địch sẽ triển khai những
bước phiêu lưu quân sự mới dọc theo hành lang Trung - Hạ Lào và Ðông Bắc
Campuchia; đồng thời phán đoán địch sẽ đánh phá quyết liệt tuyến vận
tải chiến lược 559 để ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền bắc,
cô lập cách mạng miền nam. Ngay từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu
Quân đội Nhân dân Việt Nam (QÐNDVN) đã bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến,
điều động lực lượng và chỉ đạo sát sao việc chuẩn bị chiến trường ở khu
vực Ðường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm đó, Binh đoàn 70 được thành lập tại
khu vực này. Do dự đoán đúng âm mưu, thủ đoạn của địch nên khi quân đội
Sài Gòn tung lực lượng đánh ra khu vực Ðường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị
đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: Nhất thiết phải thắng trận này dù có
phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một
trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thấu triệt tinh
thần đó, Quân ủy Trung ương đã quyết định mở chiến dịch phản công tiêu
diệt lớn quân địch ở khu vực Ðường 9 - Nam Lào, đồng thời chỉ thị cho
toàn quân kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự này. Ngày
4-2-1971, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Mặt trận Ðường 9 - Nam
Lào (gọi tắt là BTL 702).
Phía VNCH Hành quân bằng Thiết giáp M113
Chiến dịch phản công Ðường 9 - Nam Lào là một chiến dịch có quy mô sử
dụng lực lượng, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất cho đến thời
điểm đó. Bộ Tổng Tư lệnh đã tập trung cho chiến dịch này một lực lượng
hùng hậu với năm sư đoàn bộ binh: 308,304, 320, 324, 2 và một số đơn vị
tại chỗ của B4, B5, Ðoàn 559; bốn trung đoàn pháo binh; bốn trung đoàn
Cao xạ, ba trung đoàn Công binh, ba tiểu đoàn Tăng - Thiết giáp; một số
tiểu đoàn đặc công…
Tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận
lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã
tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền
Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971.
Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải phóng trong thời kỳ
này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Cũng
có thể Quân Giải phóng hạn chế hoạt động để việc rút quân của Mỹ diễn ra
nhanh hơn. Tình hình miền Nam tương đối yên lặng trong các năm 1969–1971. Quân
Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào,
Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với
tới được. Quân Giải phóng sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, được
xem là vùng trung lập, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam
Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Tổng thống Mỹ Nixon
ra lệnh mở Chiến dịch Campuchia để chấm dứt tình trạng đó. Sự yên tĩnh trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân
Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên
tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức tiến hành bình định nông thôn. Rút
kinh nghiệm từ năm 1968, lãnh đạo Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã hiểu rõ tầm
quan trọng của việc chống lại cơ cấu đấu tranh chính trị của quân Giải
phóng ở vùng nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được
thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Hoa Kỳ. Theo tuyên bố của Mỹ,
trong thời kỳ này, chỉ riêng năm 1969, khoảng 6.000 người đã chết và
15.000 người bị thương bởi hoạt động của lực lượng du kích. Trong số
những người thiệt mạng có 90 quan chức xã và xã trưởng, 240 quan chức ấp
và ấp trưởng, 229 người tản cư và 4.350 thường dân. Với lý do "bảo vệ dân thường chống lại những hoạt động đe dọa và khủng bố của cộng sản", Chiến dịch Phượng hoàng
với sự giúp đỡ của CIA, đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí
mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tính tới
năm 1972, Hoa Kỳ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ quân Giải
phóng, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết.
Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa thuộc Tiểu đoàn 1 Cơ giới tại Mặt trận Đường 9 Nam Lào
Các nỗ lực của chiến dịch Phượng hoàng chủ yếu diễn ra bằng các biện
pháp khủng bố, ám sát, thủ tiêu. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen
được tình báo Mỹ
huấn luyện và được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe
ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân
cộng sản, tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn
nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Những người cộng sản hoặc thân cộng sản
nếu không tiện bắt thì ám sát. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn
người. Trong ngắn hạn, các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh,
tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn rõ rệt cho phía chính quyền Việt
Nam Cộng hòa. Tuy nhiên về dài hạn, những vụ xử tử, ám sát dân thường
lại khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa càng bị người dân xa lánh, khiến
chương trình bình định dần dần bị chặn lại. Trong thời kỳ này,
viện trợ của Hoa Kỳ dồi dào nên đời sống của dân
chúng trong các thành phố lớn trở nên tốt hơn và nó làm cho dân nông
thôn đổ về thành phố để kiếm sống dễ hơn. Tuy nhiên, viện trợ dồi dào
khiến tình trạng tham nhũng
trong chính quyền và quân đội lên cao. Trong quân đội rất phổ biến kiểu
"lính ma": khai khống quân số đơn vị để sĩ quan lĩnh phần lương dôi ra
nhưng thực tế không có quân chiến đấu. Đây là giai đoạn mà nạn tham
nhũng hoành hành trong giới lãnh đạo quân đội Việt Nam Cộng hòa với
những tai tiếng về buôn lậu, ăn cắp quân nhu và tiền viện trợ quân sự.
Sau hàng loạt cuộc điều tra tham nhũng, mà đặc biệt là cuộc điều tra tại
Quỹ tiết kiệm Quân đội do tướng Nguyễn Văn Hiếu
thực hiện trong 5 tháng và được công bố trên truyền hình ngày
14/7/1972, hàng loạt sĩ quan, trong đó có 2 tướng lĩnh là Tổng trưởng
Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ và Trung tướng Lê Văn Kim cùng với 7 đại tá bị cách chức.
Quỹ tiết kiệm Quân đội bị buộc phải giải tán. Vì vụ án này, ông Hiếu đã
làm mếch lòng các tướng lĩnh tham nhũng, tổng thống Thiệu cũng ra lệnh
hạn chế điều tra khiến ông Hiếu nản lòng và xin chuyển sang công tác chỉ
huy tác chiến. Nhiều người cũng cho rằng đây là lý do cái chết bí ẩn
của tướng Hiếu vào tháng 4/1975. Những điều trên đã gây ảnh hưởng
lớn đến sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu bị nhiều người chỉ trích vì không thể kiểm soát nổi tình trạng
tham nhũng và lạm quyền kinh tế.
Tình trạng tham nhũng trong quân đội phổ biến đến nỗi các sĩ quan, binh
lính còn đem cả quân trang quân dụng, vũ khí và lương thực bán cho Quân
Giải phóng, và thậm chí "tặng" luôn cả xe tải cho "đối tác" sau mỗi lần
giao dịch. Một vấn đề lớn nữa của Việt Nam hóa chiến tranh là khi Quân lực Việt
Nam Cộng hòa nhất nhất theo các tiêu chuẩn Mỹ thì họ cũng quen kiểu đánh
nhau tốn tiền như quân Mỹ, và sức chiến đấu của quân đội phụ thuộc lớn
vào viện trợ của Mỹ.
Viện trợ mà giảm thì ảnh hưởng rõ rệt đến sức chiến đấu của quân đội,
điều này góp phần giải thích tại sao quân đội này mau chóng sụp đổ trong
năm cuối cùng của cuộc chiến. Sau khi quân đội Mỹ và Việt Nam
Cộng hòa thất bại trong việc đánh phá
căn cứ của Quân Giải phóng tại biên giới Việt Nam - Campuchia, tiếp tế
từ miền Bắc đã nối thông từ Lào đến Đông Bắc Campuchia và đổ vào các khu
căn cứ Tây Ninh. Do đó, nếu không tiêu diệt được đầu não Quân Giải
phóng đã ở sâu trong nội địa Campuchia thì phải tìm cách cắt tiếp tế từ
Lào. Tháng 2 năm 1971, 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới
sự yểm trợ của 10.000 lính Mỹ và không quân Hoa Kỳ, tiến hành chiến
dịch Lam Sơn 719: đánh từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị cắt ngang sang Hạ
Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam.
M41 Walker Bulldog, xe tăng chiến đấu chính của QLVNCH
Bấy giờ theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ,
quân đội Sài Gòn đã có thêm 400.000 người sau lệnh tổng động viên 18
đến 38 tuổi (1968-1969), nâng tổng số quân lên 1.000.000 người (cuối năm
1970) và trong vòng trên dưới 3 năm, Mỹ chuyển giao cho quân Sài Gòn
khoảng 1 triệu vũ khí cá nhân, 46.000 quân xa, 1.100 máy bay gồm cả trực
thăng. Sau quá trình "chuyển giao" trên, Mỹ và Sài Gòn muốn chứng tỏ sự
"trưởng thành của quân đội Việt Nam Cộng hòa" đã mở cuộc hành quân quy mô do binh lính Sài Gòn đảm nhiệm nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.
Lực lượng của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa trong cuộc hành quân này gồm có:
Quân lực Việt Nam Cộng hòa: tổng cộng khoảng
31 ngàn quân, bao gồm 10 ngàn quân hỗ trợ tuyến sau (quân y, vận tải,
liên lạc), gồm:
3 sư đoàn: Sư đoàn Dù (gồm 3 lữ đoàn 1,2,3),
Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Sư đoàn 1 Bộ binh. Trong đó, Sư đoàn Dù và
Sư đoàn Thủy quân Lục chiến được đánh giá là 2 sư đoàn thiện chiến nhất
của Việt Nam Cộng hòa.
3 lữ đoàn: Liên đoàn 1 Biệt động quân, trung đoàn 4 và trung đoàn 5 - sư đoàn bộ binh số 2
4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: trung đoàn 17, 11, 7, 4 (trang bị xe tăng M-41)
13 tiểu đoàn pháo binh
Như vậy những lực lượng mạnh nhất của QLVNCH đã tập trung
tại đây (trừ lữ đoàn Biệt kích dù số 81 là đơn vị tổng trù bị chiến lược
đang đóng ở Đông Nam Bộ).
Quân đội Mỹ: ban đầu có khoảng 10 ngàn quân, gồm:
12 tiểu đoàn bộ binh: 5 tiểu đoàn thuộc sư
đoàn dù 101, 4 tiểu đoàn lữ 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn
thuộc sư đoàn Americal
8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ pháo từ 155 đến 203mm)
1.200 máy bay: 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 máy bay ném bom chiến lược B-52.
Trong quá trình chiến dịch, do tổn thất cao nên Mỹ tiếp tục
bổ sung lực lượng. Khi cao nhất - ngày 10/3/1971, quân Mỹ đã tăng tổng
số quân từ 9.000 dự kiến lên đến 15.000, điều động 5 tiểu đoàn thiết
giáp (tăng hơn dự kiến 1 tiểu đoàn) và 4 tiểu đoàn pháo binh (tăng hơn
dự kiến 1 tiểu đoàn) để hỗ trợ trực tiếp; điều động khẩn cấp 3 lữ đoàn
bộ binh trong 2 ngày 23 và 24 tháng 2 năm 1971 từ Thừa Thiên ra vùng
Quán Ngang, Mai Lộc, điểm cao 241, Khe Sanh (tức là Lữ đoàn 11 bộ binh
Mỹ, 2 lữ đoàn dù thuộc Sư đoàn 101 dù Mỹ) và thêm 4 tiểu đoàn pháo binh
(tăng hơn dự kiến 2 tiểu đoàn) để bảo vệ phía sau. Đây là không kể hơn
300 máy bay lên thẳng được điều thêm để phục vụ cho cơ động và vận
chuyển lực lượng.
Ngoài ra còn có 2 binh đoàn Quân đội Hoàng gia Lào với khoảng 4.000 quân (thuộc 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33)
Theo Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổng lực lượng
Mỹ-VNCH trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân, gồm 15
trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 21 tiểu đoàn pháo binh,
trang bị gồm 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay các
loại.
Ngày 21-1-1971, khi Mỹ còn chưa mở cuộc hành quân thì các Sư đoàn Quân Giải phóng đóng ở Nam Lào nhận được lệnh: "Triển
khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch đổ bộ trong khu vực từ Bản
Đông đến Sê Pôn. Nhiệm vụ của Sư đoàn là diệt nhiều sinh lực địch, bắn
rơi nhiều máy bay, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển chiến lược...". Ngày 31-1-1971, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận đường 9 Nam Lào: "Trận
này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ
vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự
bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm
mưu "Việt Nam hóa chiến tranh". Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này".
Đầu tháng 2 năm 1971, 17.000 quân (sau tăng lên 21.000) VNCH vượt biên
giới với Lào đi theo đường 9 và hướng về trung tâm hậu cần của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
tại Tchepone (Xê-pôn). Chiến dịch Lam Sơn 719, cuộc tấn công vào hệ
thống đường mòn Hồ Chí Minh và cuộc thử nghiệm lớn chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đã bắt đầu.
Tại cứ điểm 31, binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH
Phương pháp mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
chọn để đánh bại cuộc xâm lấn là: Trước hết, pháo phòng không được sử
dụng để cô lập các căn cứ hỏa lực ở phía bắc. Các vị trí vòng ngoài sẽ
bị giã suốt ngày đêm bằng pháo, tên lửa, và súng cối. Tuy các căn cứ hỏa
lực của QLVNCH được trang bị pháo, nhưng các khẩu pháo của họ thường
dưới tầm các khẩu pháo Liên Xô cỡ 122mm và 130mm
của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, việc hỗ trợ của không quân thì
không hiệu quả do Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ngụy trang kỹ các
trận địa pháo. Do vậy các khẩu pháo của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam này chỉ cần đứng một chỗ và nã đạn vào các vị trí này. Vành phòng
thủ mà đáng ra đã có thể được thiết lập bằng cách sử dụng B-52 chiến
thuật đã bị vô hiệu hóa bởi các chiến thuật đánh gần của Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam. Tiếp theo, các cuộc tấn công tập trung bằng bộ binh
với yểm trợ bằng pháo và tăng sẽ kết thúc việc đánh chiếm.
Chiến dịch Ðường 9 - Nam Lào diễn ra trên một khu vực có chiều rộng gần
60 km, chiều dài gần 100 km chạy dọc theo Ðường 9 kéo dài từ Ðông Hà
(Quảng Trị) cho đến Sê-pôn (Lào), trong đó khu vực tác chiến tập trung
chủ yếu từ Bản Ðông đến Lao Bảo. Trải qua hơn 50 ngày đêm liên tục tiến
công quân địch (từ ngày 31-1 đến 23-3), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu
gần 20 nghìn quân địch, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138
xe cơ giới, 112 khẩu pháo..., bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí và
thiết bị chiến tranh khác. Kết quả cuộc hành quân bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng bị
tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam
Cộng hòa. Cuộc hành quân còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho
tàng hậu cần nhưng về cơ bản đã không làm hại gì được cho hệ thống tiếp
tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Quân Giải phóng miền Nam. Tướng Đồng Sĩ Nguyên,
Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, nhận định quân lực Việt Nam Cộng hòa đã
đánh vào điểm mạnh nhất của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền
Nam. Theo tướng Alexander Haig,
lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, đó là một thảm họa do đánh
giá sai lầm đối phương. Vào thời điểm đó quá trình Việt Nam hóa chiến
tranh đang diễn ra thuận lợi nên người Mỹ ép Quân lực Việt Nam Cộng hòa
phải ra trận để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh mà thiếu sự yểm trợ không
quân của Hoa Kỳ. Người Mỹ "đã ném Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuống nước lạnh và họ đã chết chìm ở đó". Đáng lẽ phải khắc phục sai lầm thì người Mỹ tiếp tục rút quân do sức ép chính trị mà Tổng thống Nixon chịu đựng quá lớn. Sau
các cuộc hành quân bất thành của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh vào
Campuchia và Hạ Lào, đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã hồi phục sau
Mậu Thân và lại tung ra một đợt tổng tiến công lớn nữa. Tháng 3 năm 1972 quân Giải phóng đã tung ra một cuộc tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa xuân năm 1972.
Đây là đòn đánh để kết hợp với nỗ lực ngoại giao, nhằm làm thoái chí
Hoa Kỳ, buộc họ rút hẳn ra khỏi cuộc chiến. Tuy rằng tên và kế hoạch như
vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng
sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và
tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực Quân Giải phóng đã kiểm
soát vững chắc. Đây
là cuộc tiến công chiến lược gồm các chiến dịch tiến công quy mô lớn,
hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam
Cộng hòa trên ba hướng chiến lược quan trọng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên,
miền Đông Nam Bộ.
Trong suốt quá trình diễn ra cuộc chiến tranh, chưa bao giờ quân Giải
phóng lại phát động một cuộc tiến công ồ ạt dưới sự hỗ trợ của các lực
lượng được trang bị tốt đến như vậy, cuộc tiến công này mạnh hơn bất cứ
những gì mà Việt Nam Cộng hòa có thể tập trung lại được vào mùa xuân năm
1972.
Binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được căn cứ Lolo
Cuộc tấn công năm 1972 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam đã không nhận được sự ủng hộ từ 2 đồng minh chủ chốt là
Trung Quốc và Liên Xô do 2 quốc gia chỉ mong muốn kết thúc nhanh 1 thỏa
ước hòa bình với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tại Paris.
Liên Xô đã cắt giảm viện trợ, còn Trung Quốc thì thậm chí còn gây sức
ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam để buộc họ ngừng chiến đấu. Tuy thế các lãnh đạo
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam vẫn quyết tâm khởi động một chiến dịch quy mô nhằm đánh bại
triệt để Việt Nam hóa chiến tranh, giành lợi thế trên bàn đàm phán ở Paris. Trong 2 tháng đầu, quân Giải phóng liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến
phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh
ngạc cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ phải gấp rút điều động
lực lượng không quân và hải quân tới chi viện để ngăn đà tiến của quân
Giải phóng, đồng thời viện trợ khẩn cấp nhiều vũ khí cho Việt Nam Cộng
hòa để bổ sung cho thiệt hại trước đó. Tại Bắc Tây Nguyên, sau các
thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh, chiến
sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum. Tại
Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, Quân
Giải phóng tiến công theo đường 13 để đánh chiếm thị xã An Lộc trong
trận An Lộc,
dùng xe tăng và pháo binh tấn công dữ dội. Quân lực Việt Nam Cộng hòa
quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B-52
đánh phá ác liệt các khu vực tập kết của Quân Giải phóng và gây thiệt
hại lớn. Chiến trận xảy ra rất dữ dội tại thị xã, thương vong của hai
bên và của dân chúng rất cao. Cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy
nổi thị xã phải rút đi và sau 3 tháng chiến sự đi vào ổn định. Lần đầu
tiên tại vùng Đông Nam Bộ, xe tăng T-54 và PT-76
của Quân Giải phóng đã xuất hiện, cho thấy hệ thống tiếp tế của Quân
Giải phóng đã hoàn chỉnh vì đã có thể đưa được xe tăng vào đến tận chiến
trường phía nam.
Đặc công Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phá nổ kho đạn tại Khe Sanh, 23 tháng 3 năm 1971
Nửa thế kỷ đã trôi qua, cho dù tiếp cận từ lập trường, quan điểm chính
trị nào đi chăng nữa thì cũng phải thừa nhận một sự thật khách quan, đó
là Chiến thắng Ðường 9 - Nam Lào 1971 đã tạo ra một trong những bước
ngoặt quan trọng trong so sánh tương quan lực lượng và thế chiến lược
trên chiến trường có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không
chỉ của Việt Nam, mà cả ba nước Ðông Dương. Chiến thắng này cũng cho
thấy bước phát triển về tổ chức và nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân
binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giá trị của chiến thắng Ðường
9 - Nam Lào đã vượt ra ngoài khuôn khổ chiến thắng của một chiến dịch,
và trở thành dấu mốc cho bước hồi phục lực lượng và phát triển về trình
độ tác chiến của quân đội ta, kể từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1968, mở ra khả năng tổ chức những trận đánh lớn trên chiến trường
miền nam.
Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị.
Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa,
nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại
Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa phòng ngự
tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã
đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công,
Quân Giải phóng đã chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Đến
lúc đó, việc giữ vững vùng chiếm được và tái chiếm vùng đã mất
tại Quảng Trị đã thành vấn đề chính trị thể hiện ý chí và bản lĩnh của
cả hai bên và là thế mạnh để đàm phán tại Hội nghị Paris. Hoa Kỳ để tỏ
rõ ý chí của mình bằng cách từ ngày 16 tháng 4 năm 1972 ném bom trở lại
miền Bắc với cường độ rất ác liệt: dùng máy bay B-52 rải thảm bom xuống
Hải Phòng, đem hải quân thả thủy lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc
Việt Nam. Tại chiến trường Quảng Trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa
đem hết quân dự bị ra quyết tái chiếm thị xã Quảng Trị với sự hỗ trợ tối
đa bằng máy bay B-52 của Hoa Kỳ. Quân Giải phóng quyết tâm giữ vững khu
vực thành cổ Quảng Trị
của thị xã. Chiến sự cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để
tranh chấp một mẩu đất rất nhỏ không dân đã bị tàn phá hoàn toàn. Sau
gần 3 tháng đánh nhau quyết liệt, Quân Giải phóng không giữ nổi và Quân
lực Việt Nam Cộng hòa chiếm được thành cổ và thị xã Quảng Trị. Nhưng, dù
có hỗ trợ của không quân Mỹ, Việt Nam Cộng hòa không thể tái chiếm thị
xã Đông Hà và các vùng đã mất khác.
Sau chiến dịch, Quân Giải
phóng nắm giữ thêm 10% lãnh thổ miền Nam, có thêm các bàn đạp quân sự,
và thị xã quan trọng Lộc Ninh đã trở thành thủ đô mới của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Đến cuối năm 1972, chiến
trường đi đến bình ổn vì hai bên đã kiệt sức không thể phát triển chiến
sự được nữa. Mặc dù chiến dịch không đem đến lợi thế rõ rệt về quân sự nhưng đã
làm xã hội Hoa Kỳ quá mệt mỏi. Dư luận Mỹ và thế giới thúc ép chính
quyền phải đạt được một nền hòa bình bằng thương lượng theo đúng cam kết
giải quyết chiến tranh trong nhiệm kỳ tổng thống của họ. Đến cuối năm
1972, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đạt được thỏa hiệp cơ bản những ý chính
của Hiệp định Paris, và đầu năm 1973, Hoa Kỳ rút hẳn quân viễn chinh khỏi cuộc chiến, chỉ để lại cố vấn quân sự.
THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ - KÍ ỨC VỌNG VỀ
Thành cổ Quảng Trị ngày nay
Số bom
đạn trút xuống Thành cổ trong 81 ngày đêm lên tới 328 nghìn tấn, tương
đương sức mạnh của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm
1945.
Có
những thời điểm, quân địch bắn tới 5.000 quả đạn, phá tan những bức
tường dày tới 12m của Thành cổ. Người ta ước tính, tại Quảng Trị, một
chiến sĩ ta phải hứng chịu 100 quả bom và 200 quả đạn pháo mỗi ngày.
Những nụ cười vô tư, tươi tắn - điều không tưởng nhưng luôn hiện hữu trên khuôn mặt của các chiến sĩ trẻ.
Đứng
trước sức mạnh vượt trội hoàn toàn của kẻ địch, những người lính cụ Hồ
vẫn luôn dũng cảm chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất quê hương. Họ phần lớn
là các chàng trai trẻ tuổi đôi mươi, nhưng tất cả đều quyết hy sinh mà
không chịu đầu hàng.
Ngay
trong nghịch cảnh, phẩm chất và vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng vẫn
được bộc lộ một cách tối đa. Đây là bức hình thể hiện sự lạc quan yêu
đời của người lính trẻ - giữa bom rơi đạn lạc, các anh vẫn cắt tóc cho
nhau.
Để
đáp ứng nhu cầu phục vụ chiến đấu, Đại đội 1, tiểu đoàn 25 vận tải, sư
đoàn 320B đã lĩnh nhiệm vụ vận chuyển nhu yếu phẩm và đạn dược từ bên
ngoài vào Thành cổ, bất chấp sức ném bom khủng khiếp của địch. Họ đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhưng cái giá phải trả là sự ra đi mãi mãi
của 1/3 đại đội.
Các chiến sĩ quân giải phóng nhận những suất cơm trưa được vận chuyển dưới làn mưa bom bão đạn của quân địch.
Hình ảnh hai cha con người dân địa phương không quản ngại gian lao đưa các chiến sĩ vào Thành cổ chiến đấu.
Những
cựu chiến binh sau này từng kể lại, khi bộ đội xin giúp đỡ, người vùng
này ai cũng tự nguyện hiến tặng: từ máy xát gạo, thuyền đánh cá cho tới
máy bơm, các thùng nhiên liệu. Nhiều người còn nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó...”.
Với
tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân, các
chiến sĩ quân giải phóng đã bảo vệ kiên cường từng tấc đất trong Thành
cổ. Đây là tấm hình chụp lại niềm vui vô bờ bến của những người lính trẻ
khi chiếm được một cứ điểm của địch ở Thành cổ.
Cuối
cùng, sau 81 ngày đêm, quân giải phóng đã bảo vệ thành công tòa Thành
cổ, đẩy lui đội quân xâm lược hơn 5 vạn người với vũ khí hiện đại vượt
trội.
Quan trọng hơn, chiến thắng ở
Quảng Trị đã phá tan âm mưu gây sức ép cho ta trên bàn đàm phán ở Paris
của địch. Song, để có được chiến thắng cuối cùng, khoảng 18.000 người
con yêu nước đã ngã xuống vĩnh viễn.
Một trận chiến bên trong thành cổ Quảng Trị, năm 1972. (Ảnh: Đoàn Công Tính)
Lính thành cổ Quảng Trị 1972.
Bộ đội anh dũng chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị.
Trận chiến ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị.
Các chiến sỹ giải phóng sau một trận đánh tại Thành cổ Quảng Trị. (Ảnh: TTXVN) .
Các chiến sĩ giải phóng dũng cảm đánh phá đồn địch trên điểm cao 365 (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)_Ảnh: TTXVN
Bức ảnh "Nụ cười chiến thắng" dưới chân thành cổ Quảng Trị (15/8/1972).
Bức ảnh nổi tiếng đăng trên báo Nhân dân đúng dịp 2/9/1972 được đánh giá
cao bởi thể hiện được sự lạc quan của các chiến sĩ giữa chiến trận ác
liệt. Chính nhờ bức ảnh Bức ảnh "Nụ cười chiến thắng" dưới chân thành cổ Quảng Trị (15/8/1972).
Bức ảnh nổi tiếng đăng trên báo Nhân dân đúng dịp 2/9/1972 được đánh giá
cao bởi thể hiện được sự lạc quan của các chiến sĩ giữa chiến trận ác
liệt. Chính nhờ bức ảnh này mà nhân vật chính trong ảnh - chiến sĩ Lê
Xuân Chinh đã được “tìm lại”, được hưởng chính sách vì những năm tháng
cống hiến cho cách mạng.này mà nhân vật chính trong ảnh - chiến sĩ Lê
Xuân Chinh đã được “tìm lại”, được hưởng chính sách vì những năm tháng
cống hiến cho cách mạng.
Cuộc
kháng chiến chống Mỹ và tay sai để cứu nước kết thúc bằng một chiến
dịch tổng tiến công thắng lợi tuyệt đẹp. Lần dở lại lịch sử Dân Tộc,
chúng ta thấy cuộc tổng tiến công ấy hiện lên như một cơn sóng thần
cuồng nộ vô địch, cuốn trôi hết bè lũ cướp nước và bán nước ra biển Đông
một cách chớp nhoáng theo đúng nghĩa đen, tạc vào sử xanh đến ngàn thu
như một kiệt tác ca khúc khải hoàn của Dân Tộc.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là đỉnh cao
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc vẻ vang cuộc chiến
tranh giải phóng đất nước trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc
ta, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên xây dựng đất nước hùng cường trong độc lập, thống nhất
và tự do. Thắng lợi đó là sản phẩm tổng hợp của nhiều nguyên nhân trong đó có vai
trò quan trọng của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong trận
quyết chiến chiến lược cuối cùng này.
Ngày 27-1-1973, mặc dù Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết, nhưng trên thực tế đế quốc Mỹ vẫn không
từ bỏ âm mưu xâm lược đối với Việt Nam. Trước tình hình đó, Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (1973) đã khẳng định: Con đường
phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng; tư
tưởng chỉ đạo vẫn là nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược
tiến công; phương hướng chiến lược của cách mạng miền Nam trong giai
đoạn mới là “ta phải mạnh trên cả ba mặt trận để thắng địch, buộc địch
thi hành Hiệp định, đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp
phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để
giành thắng lợi hoàn toàn”. Sau Hội
nghị, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị
chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.
Để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh khởi thảo kế hoạch chiến
lược trình Bộ Chính trị, tháng 4-1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết
định thành lập “Tổ trung tâm”, gồm đồng chí Vũ Lăng - Cục
trưởng Cục Tác chiến; Võ Quang Hồ và Lê Hữu Đức - Phó Cục trưởng Cục Tác
chiến, do đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp phụ
trách. Sau những cuộc trao đổi, thảo luận, bản dự thảo kế hoạch chiến
lược được “Tổ trung tâm” chỉnh lý, bổ sung lần thứ năm với tên gọi "Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam sau vài ba lần thay đổi so sánh lực lượng", mang bí số 133/TG1, hoàn thành ngày 16-5-1974. Tiếp đó, ngày 18-7-1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc với “Tổ trung tâm”, chỉ đạo xây dựng kế hoạch cơ bản thành hai bước: Bước một, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định, làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường; bước hai,
tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Căn cứ vào
thực tế chiến trường, ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính
trị, đặc biệt là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và lắng nghe ý kiến của
các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội, “Tổ trung tâm” tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh bản đề cương kế hoạch chiến lược. Bản đề cương này hoàn thành vào ngày 26-8-1974, mang tên "Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam".
Ngày 30-9-1974, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị thảo luận tình hình
miền Nam và bản dự thảo kế hoạch chiến lược do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn
bị. Hội nghị dành 2 ngày đầu để nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày tình
hình miền Nam và kế hoạch tác chiến chiến lược. Tiếp đó, đồng chí Lê
Trọng Tấn báo cáo Dự thảo kế hoạch chiến lược quyết tâm hoàn
thành sự nghiệp giải phóng trong hai năm 1975 – 1976; trong đó, tập
trung vào kế hoạch chiến lược năm 1975. Ngày 8-10-1974, phát biểu kết
thúc phiên họp lần thứ nhất, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ.
Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm
lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn… Ngay
từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều
kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn
và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”. Trên
cương vị là Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp khẳng định quyết tâm: Toàn quân sẽ kiên quyết thực hiện bằng được
nhiệm vụ lịch sử mà đồng chí Bí thư thứ Nhất thay mặt Đảng trao cho quân
đội.
Nắm bắt và thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị
tháng 10-1974, quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc bước vào giai đoạn
chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô rộng lớn hơn, nhằm
đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến hết
sức mau lẹ. Quân địch ở Đông Nam Bộ tuy số lượng đông, nhưng bị căng kéo, kìm
giữ khắp nơi. Trước tình hình đó, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định
mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực
địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm bàn đạp tiến công Sài Gòn.
Ngày
10-8, Fo (Gerald R. Ford) lên làm tổng thống Mỹ, có nói: “Những cam kết
hiện tại nào Hoa Kỳ đã đưa ra trước đây mà còn giá trị, thì chính quyền
của tôi sẽ hoàn toàn tôn trọng”. Nhưng thời thế đã đổi thay. Tháng
11-1974, trong cuộc bầu cử Quốc hội, phe Dân chủ thắng lớn, giành được
34 ghế Hạ viện và 3 ghế Thượng viện. Kết quả này giúp cho Đảng Dân chủ
trở thành đa số áp đảo với tỷ lệ 291 - 144 tại Hạ viện và 61 - 39 tại
Thượng viện. Người Mỹ đã quá chán ghét cuộc chiến tranh Việt Nam, sẵn
sàng từ bỏ nó và cố quên đi càng sớm càng tốt cái chương nhớp nhúa và hổ
thẹn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Tiến công Phước Long.
Tình
hình đó trong nội bộ nước Mỹ đã dẫn tới trận đánh Phước Long như là một
hành động thăm dò của Bắc - Việt Nam đối với phản ứng của Mỹ. Trận đánh
mở màn ngày 13-12-1974. Thị xã Phước Long bị thất thủ gần như ngay từ
đầu. Ngày 7-1, toàn bộ tỉnh Phước Long đã do quân Giải phóng kiểm soát.
Đại tá Xămmơ (Harry Summers) đã nhận xét ngắn gọn về ý nghĩa trận đánh
này như sau: “Trận đánh nhỏ ít được biết đến ở Phước Long là một trong
những trận đánh mang tính chất quyết định nhất, vì nó đánh dấu việc Mỹ
từ bỏ đồng minh cũ của mình… trước sự vi phạm trắng trợn Hiệp định Pari,
và nó được thiết kế một cách có tính toán kỹ lưỡng để vi phạm trắng
trợn như vậy rõ ràng là nhằm thăm dò thái độ của Mỹ. Tổng thống Fo giới
hạn một cách nhu nhược sự phản ứng của mình chỉ trong một công hàm ngoại
giao. Miền Bắc - Việt Nam đã được bật đèn xanh cho việc chinh phục miền
Nam - Việt Nam”.
Quân đội SG phòng thủ ở đâu?!
Trên
thực tế, Hà Nội nhận được các tin tình báo nói rằng tàu sân bay
Intơprai (USS Enterprise) của Mỹ và các lực lượng hộ tống đã rời
Philippin tiến gần tới Việt Nam và sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ ở
Ôkinaoa đã được đặt trong tình trạng báo động. Có một số hoạt động tại
căn cứ hải quân Mỹ ở vịnh Subic (Philippin) có thể là dấu hiệu người Mỹ
quay trở lại. Sau này vị tình báo chiến lược, hoạt động đơn tuyến của
Bắc - Việt Nam là Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Tôi đã nói rằng người Mỹ sẽ
không đánh đâu. Mặc dù người Mỹ có một vài hành động, nhưng đó là những
hành động trống rỗng. Tôi đã báo cáo với Hà Nội rằng người Mỹ sẽ không
bao giờ trở lại nữa, thế nhưng vẫn có những hoài nghi. Hà Nội lại cho
thử một trận đánh nữa ở Buôn Mê Thuột để xem người Mỹ có can thiệp hay
không. Chỉ đến khi đó, Hà Nội mới tin điều tôi nói là đúng…”.
Trong
lúc Chiến dịch Đường 14 - Phước Long được triển khai và đang trên đà
thắng lợi, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp đợt hai tại “Nhà con rồng”
Bộ Quốc phòng, quyết định: Chọn hướng tiến công chính Tây Nguyên, mục
tiêu then chốt là Buôn Ma Thuột để mở màn cho cuộc tiến công chiến lược
năm 1975.
Sự lựa chọn này xuất phát từ phương châm tác chiến của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đó là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chỗ yếu trước, đánh chỗ mạnh sau.
Mưu kế của Đại tướng là bày ra một hình thế giàn trận chiến lược - bày
binh bố trận nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và
Huế - Đà Nẵng để tạo thế phá vỡ Tây Nguyên. Tiếp đó, Đại tướng cùng với
lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã quyết định đưa Quân đoàn 4 vào Bắc Đồng Nai,
Quân đoàn 2 vào Huế. Hai quân đoàn này đóng ở các địa bàn này đã buộc
địch phải đưa Sư đoàn lính dù và Sư đoàn lính thủy đánh bộ - tổng dự bị
chiến lược ra để giữ hai khu vực chiến lược quan trọng là Huế và Sài
Gòn, có như vậy địch mới để sơ hở Tây Nguyên.
So với toàn bộ chiến trường miền Nam lúc bấy giờ, Tây Nguyên là nơi
địch yếu hơn cả. Nhưng Tây Nguyên chỉ thực sự yếu khi bị cô lập với các
chiến trường khác. Bởi vậy, việc kìm giữ các sư đoàn cơ động tổng dự bị
chiến lược của địch là một bộ phận hợp thành quan trọng trong việc cài
thế của ta. Hơn nữa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn Tây Nguyên làm mục
tiêu chủ yếu, vì đây vừa có núi, vừa có cao nguyên, lại nằm trên đường
chiến lược Hồ Chí Minh. Ở Tây Nguyên, Đại tướng chọn Buôn Ma Thuột làm
điểm đột phá vì Plâycu và Kon Tum địch còn tương đối mạnh và thường
xuyên phòng bị; ngược lại, Buôn Ma Thuột địch sơ hở và ít quân, chủ yếu
là hậu cứ. Điểm trúng “huyệt” đó, toàn bộ Tây Nguyên và ven biển miền
Nam Trung Bộ sẽ bị rung chuyển, phá thế bố phòng của địch. Ngoài ra, để
tạo cho Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột mọi điều kiện thuận lợi giành chiến
thắng một cách chắc chắn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tăng cho Tây Nguyên 2
sư đoàn, đưa tổng quân số ở đây lên tới 4 sư đoàn và một số trung đoàn
độc lập, lại có sự phối hợp của Sư đoàn 3 Sao vàng Quân khu 5 và sự hỗ
trợ của Đoàn 559. Đến đây, Tây Nguyên trở thành một quân đoàn mạnh.
Ngày 4-3-1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. Ngày
10-3-1975, quân ta tiến công và giải phóng Buôn Ma Thuột. Sáng ngày
16-3-1975, địch ở Tây Nguyên rút chạy. Chiến thắng Buôn Ma Thuột và
chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi không những tăng cường thế và lực cho ta
mà còn xuất hiện thời cơ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân tích tình hình: “Điểm trúng huyệt chí tử
của địch ở Buôn Ma Thuột gây cho địch chấn động về chiến lược, buộc địch
bỏ Tây Nguyên thì phải nhanh chóng đánh Huế và Đà Nẵng. Nếu ở đấy chúng
phải rút lui chiến lược thì phải cấp tốc đánh thẳng vào Sài Gòn”.
Cuộc rút lui chiến lược của VNCH khỏi Tây Nguyên sau này còn được gọi là "thảm kịch đường số 7". Chúng ta sẽ kể chút ít về nó:
Ngày 11.3.1975, ngay khi Ban Mê Thuột (BMT) thất thủ,
đồng thời trước sức ép của Quân giải phóng (QGP) tại các mặt trận khác
dội về, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đã triệu tập Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng
Văn Quang đến Phủ đầu rồng để bàn về việc tái phối trí lại lực lượng. Tại cuộc họp này, dường như đã tiên đoán
được những khó khăn to lớn mà Việt Nam công hòa (VNCH) đang phải đương
đầu, Nguyễn Văn Thiệu thông báo quyết định: "Với
khả năng và lực lượng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ
được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực
lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới
thực sự quan trọng".
Ngày 14.3.1975, trước khả năng phản kích
giành lại Buôn Mê Thuột (BMT) đã gần như tan thành mây khói, TT Nguyễn
Văn Thiệu cùng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng
tham mưu trưởng Quân lực VNCH và trung tướng Trần Văn Quang - Cố vấn an
ninh quốc gia đã bay ra Cam Ranh. Tại
đây họ đã nghe Thiếu tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân khu 2 kiêm Tư
lệnh Quân đoàn 2 phúc trình về tình hình chiến sự tại Quân khu 2.
Trong cuộc họp, Thiếu tướng Phạm Văn Phú báo cáo tổng quát diễn biến chiến sự tại Tây Nguyên những ngày trước đó. Để
có thể khôi phục và giữ được cao nguyên, tướng Phú thỉnh cầu xin thêm
máy bay cho Sư đoàn 6 không quân, bổ sung quân số bị tổn thất, tăng viện
từ 1 đến 2 lữ đoàn dù để phòng giữ Kon Tum, Pleiku và sau đó dùng để
phản kích chiếm lại các vùng đã mất. Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận đề nghị của tướng Phú. Ông ta tuyên bố: "Không!
Không thể có quân tăng viện, không có quân bổ sung. Quân viện bị cúp,
đạn và tiền đều thiếu. Chúng ta đang bị tấn công mạnh ở khắp mọi nơi chứ
không riêng ở QK2. Địch đánh
mạnh hơn năm 1968, hơn cả năm 1972. Kon Tum, Plây Cu người ít, kinh tế
không có, để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, ở
đấy điều kiện tiếp tế thuận lợi hơn".
Kết
luận lại, TT Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Phạm Văn Phú tổ chức rút quân về
đồng bằng, tái phối trí lại lực lượng với yêu cầu cố gắng bảo toàn đến
mức cao nhất các lực lượng chủ lực của quân đoàn.
Về
hướng rút quân, Đại tướng Cao Văn Viên lưu ý về những nguy hiểm khó
lường khi rút theo đường 19, ông ta nhắc lại thảm họa đã xảy ra đối với
Binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp trên đường 19 năm
1954.
Hàng trăm xe quân sự của địch cùng xe dân sự ùn tắc trên đường 7.
Sau khi thảo luận nhiều lần về việc chọn
đường rút quân, Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh đã quyết định rút
theo đường số 7 (ngày nay là QL 25) vì họ cho rằng, con đường đó tuy xấu
nhưng gây được bất ngờ cho đối phương. Theo tính toán của các tướng lĩnh VNCH,
các đơn vị Quân giải phóng đang tập trung vây đánh trung đoàn 53, căn cứ
B50 ở Buôn Ma Thuột và lo đối phó với cuộc phản kích của sư đoàn 23 tại
Phước An nên phải mất ba đến năm ngày mới có thể điều quân đến do đường
sá rất xấu, cơ động khó khăn. Còn Sư
đoàn 968 nếu có đuổi theo cũng phải hành quân bộ, đánh vuốt đuôi và sẽ
bị Liên đoàn 25 Biệt động quân (BĐQ) cản hậu chặn đánh. Thời gian đó đủ
để phần lớn lực lượng Quân đoàn 2 VNCH về được Tuy Hòa.
13 giờ chiều 15 tháng 3, cuộc di tản của
Quân đoàn 2 VNCH chính thức bắt đầu trong sự cập rập, vội vã. Thiết
đoàn 19 và Liên đoàn 6 BĐQ mở đường từ Pleiku đi Phú Túc. Tiếp đó là bộ
phận còn lại của Bộ tư lệnh Quân đoàn II, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, các đơn vị
bộ binh, hậu cần, kỹ thuật...Trong
hai ngày đầu cuộc di tản diễn ra đúng theo kế hoạch. Sáng 16 tháng 3,
khi đội thiết giáp đi đầu trong đoàn xe quân sự dài đến hơn 2.000 chiếc
đã đến Cheo Reo (bây giờ là TX Ayun Pa) an toàn và bắt đầu di chuyển
xuống Củng Sơn thì toán cuối của đoàn xe này mới ra khỏi thị xã Pleiku.
Tuy nhiên, có ba vấn đề mà các
tướng lĩnh QLVNCH không lường tính hết. Đó là: số lượng người, phương
tiện tham gia vào cuộc "rút lui chiến lược", chất lượng đường số 7 và
phản ứng của phía Quân giải phóng.
Khi
tin rút bỏ Cao Nguyên lan rộng, các sĩ quan, binh sĩ VNCH cùng các công
chức hệ thống chính quyền địa phương hai tỉnh Kon Tum, Pleiku đã lập
tức bỏ đơn vị, bỏ nhiệm sở để lo cho gia đình "di tản". Vì
vậy, mỗi quân nhân phải kèm thêm vài người dân, trong đó có rất nhiều
người già, trẻ em đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chiến đấu khi có
tình huống xảy ra. Bên cạnh đó, số
phương tiện của dân sự đi theo đoàn quân "rút lui chiến lược" đó cũng
rất đông đảo. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự đã có
khoảng hơn 2000 phương tiện giao thông dân sự đã tham gia vào cuộc rút
quân "vĩ đại" này và gây rất nhiều khó khăn cho quá trình điều phối hành
quân. Về con đường số 7 vốn là
một con đường bỏ hoang từ lâu không được duy tu, bảo dưỡng. Vì vậy,
đường hẹp, chất lượng mặt đường xấu, đặc biệt các cây cầu trên con đường
này đều nhỏ, hẹp và có trọng tải nhỏ. Trong khi đó, năng lực của công
binh Quân đoàn 2 VNCH rất hạn chế. Đối
với Quân giải phóng, kế hoạch rút quân của Quân đoàn 2 VNCH khỏi Tây
Nguyên là không quá bất ngờ. Khi vạch kế hoạch chiến dịch Tây Nguyên họ
đã tính đến khả năng này. Bất ngờ duy nhất mà Nguyễn Văn Thiệu và Phạm
Văn Phú tạo ra được là cuộc di tản này được tiến hành quá nhanh.
Đến chiều 15 tháng 3, khi cánh quân đi
đầu của thiết đoàn 19 đã qua Cheo Reo, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây nguyên
mới được tin quân VNCH bắt đầu rút khỏi Pleiku và Kon Tum. Quyết
không để Quân đoàn 2 VNCH bảo toàn được nguyên vẹn lực lượng về tới
đồng bằng ven biển, một kế hoạch chặn đánh và truy kích lập tức được
hình thành. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây
Nguyên quyết định sử dụng toàn bộ Sư đoàn BB 320, Tiểu đoàn xe tăng 2
(Trung đoàn 273), Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn cao xạ 593 và hai
Tiểu đoàn quân địa phương ở Phú Yên vào trận đánh này.
20 giờ tối 16. 3, Tiểu đoàn 9, Trung
đoàn 64 (Sư đoàn BB 320) được lệnh hành quân cắt rừng suốt đêm với nhiệm
vụ lập một chốt chặn ở phía Nam thị xã Cheo Reo để chặn đứng cuộc rút
lui của đối phương. Theo sát họ là đội hình chính của Trung đoàn 64 hành
quân trên 110 xe ô tô các loại được huy động cùng các lực lượng khác. Sáng
17 tháng 3, tốp xe tăng, thiết giáp đi đầu của Thiết đoàn 19 và Liên
đoàn 6 Biệt động quân VNCH đã chạm súng với Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64
QGP tại đèo Tuna, cách Cheo Reo 4 km về Đông và bị chặn lại ở đây. Đoàn
xe di tản khổng lồ ứ lại tại Cheo Reo.
Sáng 18 tháng 3, toàn bộ Trung đoàn 64
(Sư đoàn BB 320) đã triển khai xong các chốt chặn tiếp theo phía hạ lưu
đèo Tuna. Trung đoàn 48 (thiếu) của sư đoàn này và Trung đoàn 9 (Sư đoàn
BB 968) đã bao vây Cheo Reo từ ba mặt. Trưa
ngày 18, Chuẩn tướng Phạm Văn Tất điều Liên đoàn 25 BĐQ đang làm nhiệm
vụ cản hậu vượt lên trước cùng với Lữ đoàn 2 Thiết kỵ mở cuộc công kích
cuối cùng để mở đường. Cũng thời điểm
đó, các đơn vị pháo binh của trung đoàn 675 bắt đầu pháo kích các vị
trí đóng quân tạm thời của VNCH trong thị xã Cheo Reo và 3 trung đoàn bộ
binh Quân giải phóng bắt đầu tấn công.Mặc dù đã bị Sư đoàn 320 chặn đánh tơi tả ở Cheo Reo, gần một vạn
binh lính, sĩ quan địch thương vong, trên 500 xe quân sự phá hỏng, nhưng
trưa 19/3/1975, hơn hai vạn quân địch và gần 2.000 xe quân sự, chủ yếu
là xe tăng bọc thép vẫn tìm cách rút lui xuống đồng bằng. Do phán đoán đúng tình hình, nên khi địch bắc cầu dã chiến cho mũi
quân đầu tiên với 5 xe bọc thép vượt sông Nhau từ Củng Sơn sang đường 5
đã bị bộ đội ta chặn đánh tại Trường Lạc, xã Sơn Thành, huyện Tuy Hòa 1
ngay trong buổi chiều hôm đó. Phía
trước bị chặn, phía sau bị tiến công, các lực lượng VNCH tranh đường
của nhau để chạy. Trong sự hỗn loạn, mọi cố gắng ổn định lại tình hình
và tổ chức kháng cự của các chỉ huy VNCH trở nên vô vọng.
Cuối cùng, các đơn vị QLVNCH bị vây tại Cheo Reo chấm dứt kháng cự.
Kết
quả, chỉ một số ít binh lính VNCH về đến Tuy Hòa. Số còn lại ngoài một
số bị diệt có gần 17.000 người bị phía Quân giải phóng bắt làm tù binh,
trong đó có 779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng. Số
vũ khí phương tiện bị phá hủy và bắt sống cũng cực kỳ lớn: 17.183 súng
các loại, trong đó có 79 khẩu pháo từ 105 mm trở lên; hơn 2.000 xe quân
sự, trong đó có 207 xe tăng và xe bọc thép; 44 máy bay bị bắn rơi, 110
chiếc khác bị thu và phá hủy.
Như
vậy, từ cuộc "rút lui chiến lược" đã biến thành "thảm kịch đường số 7" -
Tây Nguyên hoàn toàn thất thủ, báo hiệu sự sụp đổ không thể tránh khỏi
của chế độ VNCH một ngày không xa.
Trực thăng UH-1 làm nhiệm vụ tìm cứu
"Di tản"?!
Binh lính sư đoàn 23 BB ra hàng tại Buôn Ma Thuột.
Rút chạy khỏi Huế.
Thu gom vũ khí, chiến lợi phẩm.
Leon
Daniel (phải) là người
đã đánh bức điện thông báo Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30-4 David Kennerly
(trái) là nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer, bạn của TT Ford,
người đã có mặt trên chiếc máy bay trực thăng Mỹ bị tàn quân Ngụy bắn
khi tháo
chạy ngoài khơi Đà Nẵng.
Tinh
thần chiến đấu thì rệu rã, phán đoán chiến lược thì sai lầm, nên khi bị
đánh trúng chỗ hiểm, quân tướng Sài Gòn ở Tây Nguyên nói riêng và ở
toàn Nam - Việt Nam nói chung trở nên hoảng loạn, liên tiếp phạm thêm
những sai lầm chết người khác. Hệ thống phòng ngự Tây Nguyên vỡ lở nhanh
chóng. Ngày 16-3, quân Sài Gòn rút chạy khỏi Kon Tum và Plâycu theo
đường số 7. Quân Giải phóng truy kích, cắt đường số 7 diệt quân tháo
chạy rồi tiếp tục phát triển xuống Khánh Dương, diệt lực lượng sư đoàn
23 địch… Ngày 17-3, quân Giải phóng đã cơ bản đánh bại cuộc phản kích
của địch hòng chiếm lại Buôn Mê Thuột.
Trong
thời gian đó, sư đoàn dù quân Sài Gòn ở Đà Nẵng đang rút về Sài Gòn và
thay thế bằng sư đoàn lính thủy đánh bộ; đồng thời xuất hiện hiện tượng
cho thấy quân Sài Gòn có thể bỏ từ bắc Huế đến sông Thạch Hãn, bắt đầu
thực hiện kế hoạch co cụm chiến lược lớn trên toàn miền Nam. Đây là một
bước suy sụp mới rất nghiêm trọng của quân ngụy Sài Gòn.
Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương họp tại Hà Nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị lên Bộ Chính trị: “Hạ
quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm nay (1975)”. Tiếp đó, trong vòng
7 ngày từ 18-3 đến 25-3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân tích và đề
đạt với Bộ Chính trị: Không cần đợi giải phóng xong Huế mới bắt đầu
tấn công Đà Nẵng, phải đánh Đà Nẵng ngay, ở hướng Sài Gòn lực lượng ta
đã đủ, yêu cầu trong tháng 5 phải giải quyết xong Sài Gòn.
Những nhận định và đề xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cơ sở quan
trọng để ngày 23-3-1975, Bộ Chính trị nhận định: “Thời cơ chiến
lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận
lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ
thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu,
hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp
trở tay. Bộ Chính trị quyết định: Quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài
Gòn và miền Nam trước mùa mưa (5.1975)”. Hội nghị đã đi đến nhất trí hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch 2 năm
1975-1976 ngay trong 1975. Như thế cuộc tiến công dự định chiến lược
lúc ban đầu phải được nâng lên thành cuộc tổng tiến công chiến lược.
Những
nhà quan sát bi quan nhất cũng không thể nào ngờ sự tan tác nhanh đến
thế của quân đội Sài Gòn - một quân đội mà các nhà phân tích quân sự xếp
vào hàng thứ tư trên thế giới về binh lực và trang bị vũ khí: giữa
tháng 3, bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, cuối tháng 4 mất Huế - Đà Nẵng, giữa
tháng 4 mất hết các tỉnh miền Trung…
Từ sự chỉ đạo sắc bén của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, bằng
sự phối hợp tiến công đồng loạt giữa các mũi, các hướng trên toàn mặt
trận, đến 15 giờ ngày 29-3-1975, quân ta đã làm chủ căn cứ liên hợp Đà
Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn
tỉnh Quảng Đà. Thắng lợi này góp phần quan trọng đập tan một lực lượng
quân sự lớn và bộ máy kìm kẹp của địch trên toàn bộ địa bàn Quân khu 1
của địch, đẩy chúng vào thế thất bại hết sức nghiêm trọng không thể cứu
vãn, thúc đẩy thế tiến lên tất thắng của quân và dân ta.
Cùng với chiến thắng ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp đã chỉ đạo cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu làm kế hoạch
giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Trong các dự thảo văn kiện kế hoạch, cơ
quan ghi “nhanh chóng, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, khi báo cáo Tổng
Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu phải sửa ngay là “thần tốc”.
Ngày 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và
Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn
nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt
trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.
Bức điện thảo bằng tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã trở thành văn kiện lịch sử, cổ vũ,
động viên cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ ngày đêm xốc
tới giải phóng miền Nam hoàn thành ước nguyện của cả dân tộc Việt Nam
sau hơn 20 năm chiến đấu lâu dài gian khổ.
Những viên đạn ấy được bắn từ những khẩu pháo này.
Quân Giải phóng tiến vào Pleiku.
Tiến quân vào Đà Nẵng
Xe tăng QGP ở cửa Thuận An-Huế
Xe tăng QGP trên QL1
Bộ đội và nhân dân làm ngầm vượt sông Mỹ Chánh.
Xe tăng Quân Giải phóng vượt sông.
Tiến công binh chủng hợp thành.
Trẻ con Việt Nam được thế giới nhìn như đám cô nhi lăn lóc trở thành chất xúc
tác cho cái bệnh di tản sau khi Nha Trang sụp đổ. Những người quản lý các viện
mồ côi ở Sài Gòn để lộ ý muốn của họ cho đám trẻ con đi. Điều này tức khắc trở
thành thời cơ tuyên truyền không chỉ riêng cho những người thực tâm giúp đỡ trẻ
em. Những kẻ mỉa mai, ích kỷ đã tìm thấy thời điểm ngon lành. Trong bọn này
phải liệt Martin vào đấy. Vào một lúc không được kín đáo, Martin đã nói với một
người trong đám thân tín rằng, vấn đề di tản trẻ con là đòn tuyên truyền tuyệt
diệu. Viên đại sứ cảm thấy việc làm rùng beng tối đa chương trình di tản trẻ em
giúp vào việc lái dư luận quốc hội Mỹ nghiêng về phía Sài Gòn. Mọi âm mưu đã
thành công. Chiều ngày 3-4, một chiếc DC.8 đã chở 85 trẻ mồ côi và một số nhà
báo chọn lọc từ Nam Việt Nam đi Mỹ.
Những em bé này đã chết cho cái gọi là "đòn tuyên truyền tuyệt
diệu" của Martin.
Chiếc C5A đã hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất sáng sớm
ngày 4-4. Nó quá lớn đến nỗi có vẻ chậm chạp trong khi bay. Công nhân bốc xuống
hàng chục tấn thiết bị quân sự cho cái quân đội khốn khổ. Người ta sắp đặt cho
nó cất cánh trưa hôm ấy với chuyến hàng chính thức là trẻ mồ côi và những người
Mỹ, danh nghĩa là đi theo chăm sóc trẻ. Các nhà báo được ân cần mời ra Tân Sơn
Nhất để chụp hình và phỏng vấn đám trẻ lên phi cơ. Chiếc C5A thuộc loại máy bay
khổng lồ trên trời. Một số ít may mắn kiếm được ghế ngồi còn tuyệt đại đa số
khoảng gần 400 trẻ em phải chui xuống dưới các dây chằng hàng. Cuối cùng cái
cửa sổ khổng lồ cũng được đóng lại. Nó được đài không lưu báo là trống chỗ để
di chuyển ra đầu đường băng. Phanh nhả ra. 4 động cơ phản lực khổng lồ rít lên.
Chiếc máy bay lấy đà rồi cất cánh.
4 giờ 45 phút chiều hôm đó, máy bay ra đến biển Đông ở độ cao 4 dặm. Nó tiếp
tục nâng độ cao lên 8 dặm mới ổn định đường bay. Lúc bấy giờ, trong máy bay
hành khách còn bị chằng dây an toàn. Phần đông người lớn nắm tay nhau thành trò
vui. Một số người cất tiếng hát. Bỗng nhiên, cánh cửa máy bay văng mất, sức hút
của gió cuốn đi những vật gì không được cột chặt trong máy bay, kể cả mấy đứa
trẻ sơ sinh. Chiếc máy bay cố tìm cách quay lại Tân Sơn Nhất. 20 phút sau, phi
công không sao giữ được máy bay ổn định nên quyết định hạ cánh khẩn cấp. Chiếc
phản lực khổng lồ chạm xuống một cái gò trên ruộng lúa, lướt qua con rạch rồi
sựng lại trong đám ruộng kề đó, cách Tân Sơn Nhất không đầy 2 dặm. Lửa bùng
cháy và khói làm cho số lớn người trên máy bay bị thiệt mạng.
Di tản.
Ngày
9-4, quân Giải phóng đánh Xuân Lộc - một cứ điểm trọng yếu án ngữ đường
tiến tới Sài Gòn do sư đoàn 18 là sư đoàn tinh nhuệ nhất của quân đội
Sài Gòn trấn giữ. Đây là trận đánh lớn cuối cùng của cả cuộc chiến
tranh. Phía VNCH từng cho rằng Xuân Lộc như "cánh cửa thép" chặn Quân
Giả phóng tiến về Sài Gòn từ phía đông. Lê Đức Thọ đã nói: “Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra”. Còn Văn Tiến Dũng thì nói: “Kế hoạch tấn công Xuân Lộc chưa tính hết được sự phát
triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của
địch… Trận chiến ác liệt và đẫm máu từ những ngày đầu tiên. Các sư 6, 7,
341 của ta phải tiến công trong thành phố nhiều lần nhưng gặp phải sức
kháng cự mãnh liệt của trung đoàn 43 địch quân. Các đơn vị pháo của ta
đã xử dụng nhiều hơn cơ số đạn dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép của ta
bị hạ…” (Đại thắng Mùa Xuân). Trần Văn Trà cũng nói: “…vào cuối ngày 10 trở đi, tình hình trở nên căng
thẳng. Địch phản công điên cuồng…” (Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm). Trước khi lâm trận, chuẩn tướng Lê Minh Đảo của quân ngụy Sài Gòn tuyên bố: “Đánh một trận cho thế giới biết tiếng!” Tướng X. Smith, Trưởng phòng Tùy viên Quân sự (DAO), tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, cảm phục và ca ngợi trận Xuân Lộc: “Chiến trường Long Khánh chứng tỏ quyết tâm bảo vệ đất nước của quân
đội VNCH và họ đã anh dũng chiến đấu chống lại địch quân đông gấp nhiều
lần” Theo wikipedia,Chiến dịch Xuân Lộc hay Trận Xuân Lộc, tên đầy đủ là "Chiến dịch tiến công tuyến phòng thủ Xuân Lộc - Long Khánh",
là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch diễn ra trong
khoảng 9-20 tháng 4 năm 1975 giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và
Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH). Trận này là một mốc quan trọng của quá trình tiến tới sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, vì Xuân Lộc
là khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa -
Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu) của QLVNCH để phòng giữ cửa ngõ phía đông
của Sài Gòn. Với mục đích thăm dò khả năng quân sự và phản ứng của Mỹ, trung tuần tháng 12 năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
dùng biện pháp nghi binh để quân Sài Gòn tập trung lực lượng bảo vệ Tây
Ninh, bất ngờ tập kích các cứ điểm Bù Đăng, Đồng Xoài, khai thông đường
14, chớp thời cơ mở chiến dịch đánh chiếm Phước Long.
Quân đoàn 4/CSBV do Thiếu tướng Hoàng Cầm chỉ huy.
Phóng Đồ Kế Hoạch Điều Quân Mặt Trận Xuân Lộc (Trần Đỗ Cẩm) (Tại mặt trận Ngã ba Dầu Giây, chính xác là Chi đoàn 2/5/TK của Đại úy Vũ Đình Lưu)
Rạng
sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 7, 9 với xe tăng và pháo tầm xa
tấn công tỉnh Phước Long do Sư đoàn 5 bộ binh của Quân lực Việt Nam
Cộng hòa trấn giữ. Phước Long lọt vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam ngày 6 tháng 1 năm 1975 trong khi Việt Nam Cộng hòa không thể huy
động đủ lực lượng để chiếm lại. Trước sự tấn công của Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ phản ứng lấy lệ bằng những tuyên bố ngoại
giao. Đánh
giá Mỹ sẽ không can thiệp, Bộ Chính trị Đảng Lao động và Bộ Tổng Tư
lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết tâm giải phóng miền Nam
trong năm 1975. Mở màn với chiến dịch Tây Nguyên
sử dụng các Sư đoàn 316, 10, 320, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 198 Đặc
công, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã nghi binh, khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa tin rằng họ sẽ tấn công
thị xã Pleiku. Tuy nhiên, vào 02h00 sáng ngày 10/3/1975, Sư đoàn 316,
Trung đoàn 95B, Trung đoàn 198 Đặc công bất ngờ đánh úp thị xã Ban Mê
Thuột.
Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh và Liên đoàn Biệt Động quân số
21 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giữ thị xã bị tiêu diệt. 2 trung đoàn
còn lại của Sư đoàn 23 Bộ binh mang số hiệu 44, 45 được trực thăng vận
từ Pleiku đến tái chiếm Ban Mê Thuột, đổ bộ lọt vào trận địa của Sư đoàn
10 chờ sẵn và bị tiêu diệt nốt. 6 Liên đoàn Biệt Động quân đóng ở
Pleiku hoảng sợ, cùng với lệnh bỏ Tây Nguyên của Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu nên đã rút chạy theo đường số 7 để rồi bị Sư đoàn 320 truy kích
tiêu diệt 5 trong 6 Liên đoàn. Toàn bộ lực lượng chủ lực của Quân lực
Việt Nam Cộng hòa trên Tây Nguyên mất sạch.
Thiếu tướng VNCH Lê Minh Đảo
Ông
được đánh giá là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp Sư đoàn có khả
năng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, từng là Tư lệnh chiến trường
Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa vào những
ngày cuối tháng 4 năm 1975. Sau sự kiện 30 tháng 4,
ông ra lệnh giải tán đơn vị, rồi tìm cách về Cần Thơ, sau đó quay lại
Sài Gòn. Đến ngày 9 tháng 5 năm 1975, ông ra trình diện chính quyền mới.
Ông trải qua 17 năm trong các trại cải tạo và là tướng Việt Nam Cộng
hòa có thời gian đi cải tạo lâu nhất. Sau khi đến Mỹ năm 1993, ông làm
việc quản lý một nhà hàng cho đến khi nghỉ hưu.
Tướng Frederick Carlton Weyand
Frederick Carlton Weyand (15 tháng 9 năm 1916 - 10
tháng 2 năm 2010) là một vị tướng trong Quân đội Hoa Kỳ. Weyand là chỉ
huy cuối cùng của các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh
Việt Nam từ năm 1972 đến năm 1973, và từng là Tham mưu trưởng thứ 28 của
Quân đội Hoa Kỳ từ năm 1974 đến 1976
Chiến xa CSBV bị bắn hạ tại Xuân Lộc
Chiến lợi phẩm của CSBV bị tịch thu
BỨC ẢNH NÀY ĐĂNG
TRÊN TUẦN BÁO ĐỨC DER SPIEGEL MÔ TÃ CẢNH LÍNH VNCH ĐANG CANH GIỬ CÁC TÙ
BINH CSBV TẠI MẶT TRẬN XUÂN LỘC THÁNG 4.1975 . TÔI ĐÃ ĐẶT TỰA CHO BỨC
ẢNH NÀY LÀ "NHỮNG NGƯỜI LÍNH VÀ TÙ BINH CỦA HỌ ĐANG NGHĨ GÌ ? "
ẢNH NÀY VÀ ẢNH TRÊN ĐỀU CHỤP CÁC TÙ BINH NÀY NHƯNG Ở GÓC CẠNH KHÁC NHAU
Tù binh CSBV tại Xuân Lộc tháng Tư 1975
Mất
Tây Nguyên, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu
tiếp tục ra lệnh rút Sư đoàn 1 Nhảy dù và Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến
về bảo vệ Sài Gòn. Lực lượng Vùng 1 Chiến thuật dưới sự chỉ huy của
Trung tướng Ngô Quang Trưởng bị thiếu 2 sư đoàn trù bị thiện chiến nhất
lập tức bị Quân đoàn 2 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gồm các Sư đoàn
304, 324, 325 tiến công. Sư đoàn 1, 2, 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam
Cộng hòa bị tiêu diệt và làm tan rã. Sau
ngày 2/4/1975, Vùng 2 Chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa chỉ còn lại
tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, nên được sát nhập vào Vùng 3 Chiến thuật.
Phan Rang và Xuân Lộc trở thành hai cửa ngõ để Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam vào Sài Gòn bằng quốc lộ 1 và 20. Xuân Lộc
là một vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba của hai Quốc lộ 1 và
20, cửa ngõ từ miền Trung, miền Cao nguyên vào Sài Gòn chỉ cách nhau 80.
Do đó Xuân Lộc được coi như vòng đai ngoài bảo vệ phi trường Biên Hòa
và Sài Gòn.
Những cột khói được tạo ra từ bom Mỹ sau các cuộc oanh tạc ở trận An Lộc 1972. Loạt ảnh do phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng thông tấn Magnum thực hiện. Ảnh: Magnumphotos.com
Trận An Lộc là trận chiến tại An Lộc. Đây là đợt 2 trong Chiến dịch
Hè 1972 mà Việt Nam Cộng hòa gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa” trong Chiến tranh
Việt Nam. Đợt 1 là cuộc tấn công Quảng Trị và Thừa Thiên thuộc Quân khu I
của Việt Nam Cộng hòa vào hạ tuần tháng 3. Đợt 2 là mở mặt trận Bình
Long thuộc Quân khu 3 vào thượng tuần tháng 4. Và đợt 3 là cuộc tấn công
Kontum và Pleiku thuộc Cao nguyên Trung phần Quân khu 2 vào trung tuần
tháng 4 theo chiến lược “đốt giai đoạn”.
An Lộc là chiến địa tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa
vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn quân Cộng sản tiến về thủ đô Sài Gòn sau
khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay quân đội cộng sản ngày 7 tháng 4 năm
1972.
Đợt tấn công đầu tiên do Sư đoàn 9 Quân đội Nhân dân Việt Nam khai pháo.
Vì tin rằng sẽ chiếm được An Lộc, cùng ngày hôm đó tại Paris, Nguyễn
Thị Bình đại sứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại
hòa đàm Paris tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô
của chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
Rạng sáng ngày 5 tháng 4/1972, vào lúc bình minh, Bộ Chỉ Huy hành quân
hạ quyết tâm: “Phải chiếm An Lộc trước ngày 20 tháng 4/1972, nghĩa là
phải đè nặng áp lực tối đa lên một vùng hơn 100 km nằm về phía Bắc
Saigon, để cầm chân một số lớn lực lượng nòng cốt của địch tại đây.”
Giữa lúc chiến trường Lộc Ninh vẫn diễn ra ác liệt, một cánh quân khác
của sư đoàn 9, đơn vị được coi là thiện chiến nhất trong số 4 sư đoàn
Cộng Sản Bắc Việt tham chiến tại Bình Long, bất ngờ tấn công vào tỉnh lỵ
An Lộc từ 3 giờ chiều ngày 6 tháng 4/1972, nhằm chặn đường tiếp viện
cho Lộc Ninh.
Đoạn đường từ An Lộc đi Lộc Ninh bị gián đoạn hoàn toàn, chỉ có thể liên
lạc bằng điện thoại. Trận thế của quân Cộng Sản đã bắt đầu hình thành.
Ngày 8/4/1972, Lộc Ninh hoàn toàn thuộc quân đội Mặt trận Giải phóng kiểm soát.
Chỉ trong vòng 3 ngày giao tranh, tại Lộc Ninh, thống kê có 2.150 bộ đội
tử thương, tương đương quân số của một trung đoàn. Phía Việt Nam Cộng
Hòa có 600 binh sĩ chết, cùng với 30 xe tăng và một pháo đội 105 ly bị
mất. Kể từ đây, An Lộc bó mình trong vòng đai phòng thủ, không có lấy
một chiến xa nào để đối đầu với địch quân có đến cả một trung đoàn thiết
giáp.
Xe tăng T-54 bị bom phá hủy trong trận An
Lộc trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Xuân Hè trong
chiến tranh Việt Nam – NVA T-54 tank was destroyed by bomb in battle of
An Loc , Easter Offensive in Vietnam war
Ngày 12 tháng 4/1972, Bộ Tư Lệnh Cộng Sản ra khẩu lệnh cho chiến sĩ của
họ: “Cán bộ và binh sĩ phải tấn công trên khắp mặt trận. Chắc chắn quân
ta sẽ thắng.” Ngay ngày hôm sau 13 tháng 4, xe tăng của họ bắt đầu tiến
vào thị xã An Lộc. Những trận đánh bằng xe tăng bắt đầu.
Đoàn chiến xa tiến theo đường Ngô Quyền, sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Đại
Tá Mạch Văn Trường, Trung Ðoàn Trưởng của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh VNCH.
Khi còn cách Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Mạch Văn Trường 20 mét thì đoàn
chiến xa bị khựng lại bởi một loạt đạn M-72 (vũ khí cá nhân dùng để
chống xe tăng), xe tăng dẫn đầu bốc cháy, trườn tới mấy thước rồi ngừng
hẳn. Bộ đội trong xe nhảy ra, cháy nám, lăn lộn trên lề đường. Các xe
tăng còn lại cũng rơi vào ổ phục kích. Trong trận này, có 15 xe đã bị
bắn cháy sát cạnh Bộ Chỉ Huy của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh. Ðoàn xe tăng lùi
lại để rồi tìm đường khác tiến vào. Tiếng súng vang rền trong phân nửa
phía Bắc thị xã An Lộc.
Trong lúc giao tranh ác liệt tiếp tục, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết
Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 5 VNCH, đang ngồi trên trực thăng quan sát, bị
trúng đạn pháo của bộ đội tử thương.
Trở lại An Lộc, sau 30 giờ ác chiến đẫm máu bằng đủ mọi hình thức,
xáp lá cà, cận chiến bằng lựu đạn, súng dài, súng ngắn thi nhau nổ,
trong phân nửa thị xã phía Bắc, hai bên đều bị thiệt hại nặng, và kiệt
lực, cần phải nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại. Bộ Tư lệnh Miền giao cho Sư
đoàn 7 và Trung đoàn 209 chốt tại Tàu Ô trên đường 13, hạ quyết tâm
không cho địch giải cứu An Lộc và bảo vệ 3 huyện mới giải phóng.
Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Dần dần, lực lượng bên trong An
Lộc đã có thể khởi lại thế công, dù phải hết sức chật vật. Do bộ đội
phải chuyển quân đi chặn lực lượng giải vây nên lực lượng bao vây bị
phân tán, quân VNCH ở An Lộc thừa cơ phản kích, mở rộng vòng vây. Vòng
bán kính bao vây thị trấn chỉ chừng 500 mét nhưng tới ngày 11 tháng
4/1972, vòng đai kiểm soát được nới rộng thêm hơn 3 km đường bán kính.
Ngày
14 tháng 4 năm 1972 An Lộc vẫn bị xiết chặt trong vòng vây chừng
vài cây số vuông. Quân trú phòng không bung ra ngoài được để hoạt
động.Tiểu đoàn 6 Dù được trực thăng vận xuống trước để dọn bãi đáp. Ngày
hôm sau, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 8 cùng Bộ chỉ huy của Lữ đoàn 1 nhảy dù
xuống theo. Sau đó Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại Ðồi Gió trấn giữ đoạn hậu
(về sau bị quân giải phóng đánh tả tơi). Còn hai tiểu đoàn kia chia làm
hai cánh quân song song tiến vào An Lộc nhưng gặp sự phản kích quyết
liệt của quân giải phóng, 2 đơn vị này không tiến vào được An Lộc và
cũng đứt liên lạc với nhau.
Sáng 15 tháng 4, quân giải phóng lại ồ ạt tấn công vào mặt bắc thị xã
An Lộc. Một số xe tăng Cộng sản đã chọc thủng phòng tuyến phía Bắc, di
chuyển xuống đến nửa phía nam thành phố, nhưng một số xe tăng cũng bị
bắn cháy.
Theo tài liệu từ phía quân giải phóng thì:
“Riêng Mặt trận Bình Long ta không dứt điểm được. Giữa tháng 4/1972
địch tập trung cố thủ với 5 Lữ đoàn, lực lương Không quân chi viện tăng
gấp nhiều lần trong khi ta bị thương vong hao hụt, sức tiến công giảm
sút. Rõ ràng thời cơ dứt điểm Bình Long không còn, ta chuyển sang bao
vây cô lập.”
“Trận tấn công Bình Long lần 2 của ta bất thành. Sau 4 ngày đột phá liên tục, 18 trên 25 xe tăng bị cháy hoặc bị hư hỏng nặng…”
Ngày 18 tháng 4/1972, đợt tấn công thứ ba của bộ đội vào An Lộc bắt
đầu. Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, chỉ huy toàn bộ
lực lượng trú phòng, đã cam kết: “Ngày nào tôi còn, An Lộc còn.”
Thêm 1 số xe tăng Cộng Sản bị hạ gần Bộ chỉ huy của Chuẩn Tướng Hưng.
Pháo đài B-52 tiếp tục dội bom chung quanh. Không lực Việt Nam Cộng Hòa
dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước một hàng rào phòng không hùng
hậu của quân giải phóng, từ đại liên 12.7 ly, các pháo phòng không 37 ly
và 100 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA-7 lố nhố trong rừng cao su bao
vây An Lộc, không quân VNCH chịu nhiều tổn thất, nhưng cũng chỉ có thể
tiếp tế “nhỏ giọt” cho chiến trường.
Trận chiế An - Lộc rơi vào tình trạng ác liệt và dằng co...
Tuy nhiên, sau khi mau chóng sắp xếp lại lực lượng, ngày 23 tháng
5/1972, từ rạng sớm cho đến xế chiều, quân miền Bắc lại mở liên tiếp 4
đợt tấn công bằng xe tăng vào các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa tại khu vực
Nam và Tây Nam An Lộc, cách thị trấn này từ 1 đến 5 km, nhưng những mũi
tiến công của họ không còn sắc bén như lúc đầu, nên 1 lần nữa, họ bị đẩy
lui. Sau khi trận đánh này kết thúc, có thêm 13 xe tăng Cộng Sản bị hạ,
gồm 5 chiếc T-54 và 8 chiếc PT-76.
Trong lúc này, lực lượng cố thủ tại An Lộc đã rất kiệt quệ, nếu có thể
mở thêm 1 đợt tấn công lớn nữa, ắt An Lộc sẽ thất thủ. Tuy nhiên, do
những thắng lợi vượt ngoài dự đoán của quân giải phóng ở mặt trận Trị
Thiên (chiến dịch Trị Thiên) mà những lãnh đạo cấp cao của quân đội ở Hà
Nội quyết định chuyển hướng, không tập trung tấn công ở Đông Nam Bộ nữa
mà ưu tiên chuyển quân lính, trang thiết bị và binh khí kỹ thuật hiện
đại sang chiến trường Trị Thiên. Không nhận được tiếp liệu đầy đủ, quân
giải phóng ở An Lộc gặp nhiều khó khăn.
Theo phía VNCH, Trung Ương Cục R (bộ chỉ huy của toàn thể lực lượng quân
giải phóng tại miền Nam Việt Nam) khẩn báo về Trung Ương Đảng ngoài Bắc
về sự thiệt hại nặng nề của các đơn vị tham chiến tại An Lộc. Bản báo
cáo này nêu rõ trường hợp điển hình là Trung Ðoàn 209, sau một thời gian
trấn giữ ở hai địa danh Bầu Bàng và Tàu Ô đã tan nát. Mỗi đại đội còn
không đầy 30 người, và mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 90 so với quân số
lúc đầu là 350 người. Cục R cũng than phiền khả năng chiến đấu của Sư
đoàn Bình Long quá yếu kém, vì phân nửa lực lượng này là lính Khmer Đỏ,
tinh thần kém.
Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê
ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất
và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông thừa nhận:
“Cộng Sản Bắc Việt đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số
đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá
nhiều tổn thất. Tuy hiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại
ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn (trên thực tế chỉ có
10.000 chiến sĩ chết và 15.000 bị thương, không đến 30.000 như tướng
Minh nói). Mưu đồ của Cộng Sản Bắc Việt mong tiến đánh thủ đô Saigon đã
hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc.”
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Tướng Lê Văn Hưng gặp lại nhau sau chiến thắng An Lộc
Trung tướng QĐNDVN Trần Văn Trà nhận xét về trận An Lộc:
“Trận An Lộc, quân giải phóng đã chịu nhiều bất lợi: hành quân gấp;
vũ khí, đạn dược thiếu thốn; công tác tiếp vận kém. Địch có hỏa lực áp
đảo do Hoa Kỳ hỗ trợ, đặc biệt là máy bay B-52. Quân giải phóng đã chịu
một thiệt hại không nhỏ nhưng từ đó chúng ta đã rút ra được những bài
học vô giá cho các chiến dịch sau này, đồng thời cũng nhận ra sự yếu kém
của địch nếu không có sự yểm trợ từ hoa lực Hoa Kỳ”.
Chiến dịch Xuân Lộc hay Trận Xuân Lộc, tên đầy đủ là Chiến dịch tiến công tuyến phòng thủ Xuân Lộc - Long Khánh,
là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch diễn ra trong
khoảng 9 tháng 4 - 20 tháng 4 năm 1975 giữa Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam đối đầu Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) với sự hỗ trợ của
Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam.
Trận này là một mốc quan trọng của quá trình tiến tới sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, vì Xuân Lộc
là khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa -
Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu) của QLVNCH để phòng thủ cửa ngõ phía đông
của Sài Gòn.
Trên
cơ sở nhận định chiến trường, ngày 3/4/1975, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực
Việt Nam Cộng hòa cùng với Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ,
nguyên chỉ huy MACV (Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam), Frederick
Carlton Weyand (sang Việt Nam từ cuối tháng 3 năm 1975), xây dựng phương
án thành lập tuyến phòng thủ Xuân Lộc. Ngày 3 tháng 4 năm 1975, Nguyễn
Văn Thiệu
đã thảo luận với phó đại sứ Hoa Kỳ Lehman và tướng Fredrick C. Weyand
về kế hoạch "Nỗ lực tối đa" nhằm giữ vững những phần đất còn lại.
Theo đó cần phải lấy Xuân Lộc làm trung tâm phòng ngự, hai bên sườn
phải giữ được Tây Ninh và Phan Rang.
Tại
đây, phía Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tập trung nhiều đơn vị thiện
chiến, gồm có Sư đoàn 18 Bộ binh (với các Trung đoàn 43, 48 và 52 được
tăng cường tương đương với quân số của chiến đoàn), lực lượng Địa phương
quân ở tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm Trung đoàn 8 (thuộc Sư đoàn 5
Bộ binh), Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, Liên đoàn 7 Biệt động quân, hai tiểu đoàn
pháo binh,
Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, toàn bộ Lữ đoàn 1 Dù (với các Tiểu đoàn 1,
2, 8, 9) và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù. Sư đoàn 4 Không quân Việt Nam Cộng
hòa từ phi trường Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả lực
lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo
(Tư lệnh Sư đoàn 18) và hai viên sĩ quan phụ tá là Đại tá (tư lệnh phó)
Lê Xuân Mai và Đại tá Phạm Văn Phúc (Tỉnh trưởng Long Khánh). Mục đích
bẻ gãy mũi xung kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong một
trận chiến phòng ngự điển hình, tạo thế có lợi chặn đứng đà tiến công
của đối phương.
Sau đúng một ngày cầm
cự, chịu đựng không nổi trước chiến thuật áp đảo của Quân Giải phóng , sư đoàn 18
VNCH đã bắt đầu triệt thoái khỏi thành phố Xuân Lộc vào ngày 20/4/1975.
Sau đó, sư đoàn này được tái tập trung và đóng quân phòng thủ ngay sát
nách Sài Gòn về phía Đông, nhưng đã quá muộn màng vì quân Bắc Việt gỡ
được nút chận Xuân Lộc và các tuyến quân Nam tiến của họ đã tựa như thế
chẻ tre tiến công ào ạt về Sài Gòn khiến cho quân đội miền Nam bị tan rã
thành từng mảnh, từng mảnh.
Thiếu tướng Lê Minh Đảo tại mặt trận Xuân Lộc 42 năm trước.
TUY GẦY GÒ , TRƠ XƯƠNG THẾ NÀY , ANH LÍNH DÙ VẨN KHÔNG NAO NÚNG !
LÍNH VNCH HÒ REO
TRÊN 1 CHIẾC T-54 VỪA BỊ BẮN HẠ Ở XUÂN LỘC . HÀNG CHỬ ĐẦU KHÔNG ĐỌC ĐƯỢC
; SỐ 18 TƯỢNG TRƯNG CHO SĐ 18 ; LK LÀ TỈNH LONG KHÁNH ; 11-4 LÀ NGÀY
BẮN HẠ CHIẾC T-54 NÀY .
Chỉ huy Trung đoàn 3 (Sư đoàn 304) bàn phương án tác chiến trong Chiến dịch Xuân Lộc. (ảnh tư liệu)
Về
phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, có Quân đoàn 4 do Thiếu tướng
Hoàng Cầm
chỉ huy gồm Sư đoàn 6 mới được thành lập, Sư đoàn 7 bộ đội chủ lực miền
Đông Nam Bộ với kinh nghiệm chiến đấu dày dặn (đây nguyên là Sư đoàn
312A từ miền bắc hành quân vào nam từ năm 1965, đã đánh bại Sư đoàn 1
Anh Cả đỏ Mỹ tại đường 13, giết chết Trung tướng Mỹ Keith Lincoln Ware,
Tư lệnh Sư đoàn này vào hồi 13h00 ngày 13/9/1968). Sư đoàn mạnh nhất
của B2 (tức sư 9) phải ở lại phía tây, nên cánh phía đông được phối
thuộc Sư đoàn Sông Lam (F341) mới thành lập do Đại tá Trần Văn Trân chỉ
huy, một người đã từng là Tư lệnh Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam,
từng bị quân Mỹ bắt sống năm 1969 trong một chuyến đi công tác (ông bị
giam giữ trong suốt 3 năm mà đối phương không dò ra được lai lịch, được
thả về trong 1 đợt trao trả tù binh bên sông Thạch Hãn đầu năm 1973).
Ngày 11/4/1975: Chiến trận ở Xuân Lộc diễn ra ác liệt
Ngày
9 tháng 4 năm 1975, 5 giờ 40, sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
pháo kích các mục tiêu trong thị xã trong vòng một tiếng đồng hồ, sau
đó các mũi bộ binh bắt đầu tiến công. Tại
hướng chính từ phía Đông, Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam
với 8 xe tăng dẫn đầu tấn công về phía căn cứ Sư đoàn 18, khi còn cách
khoảng 200 m thì vấp phải sự chống trả quyết liệt của Trung đoàn 43 Bộ
binh và Tiểu đoàn 3/4 Địa phương quân
Long Khánh, bị thiệt hại nặng, 3 trên 8 xe tăng bị hỏng và khoảng 100
lính miền Bắc bị hạ bởi các súng chống tăng M-72 và máy bay A-37, F-5
của Không lực Việt Nam Cộng hòa, nên chỉ chiếm được một phần hậu cứ của
Chiến đoàn 52 (Sư đoàn 18). Đến 12 giờ, hướng này buộc phải ngừng tấn
công. Ở hướng phụ từ phía Bắc, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) đánh thọc sâu
vào thị xã, nhưng bị phản kích mạnh nên phải dừng lại bên ngoài sở chỉ
huy tiểu khu.
Bộ
đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập
tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975. (Ảnh:
TTXVN)
Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 phát triển tiến công chỉ huy sở Sư đoàn 18 ngụy tại núi Thị-Xuân Lộc (tháng 4-1975). Ảnh tư liệu
Đập tan "cánh cửa thép" Xuân Lộc, mở đường tiến vào Sài Gòn. (Ảnh tư liệu)
Tại vòng ngoài, Ở hướng quốc lộ 20, Sư đoàn 6 tấn công vào các vị trí
chốt giữ của Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa, diệt được 5
chốt trên đoạn đường từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, Trung đoàn 52
phải bỏ Túc Trưng kéo về giữ ngã ba Dầu Giây. Ở hướng Quốc lộ 1, phía
đông nam thị xã, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 270 (Sư đoàn
341) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại hai tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa,
diệt 7 xe tăng của chiến đoàn 43, 48 (Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa) từ
Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện. Các trục lộ chính phía bắc Xuân Lộc
đều bị cắt đứt, tuyến phòng thủ ngoại ô thị xã tan vỡ, toàn bộ lực lượng
Việt Nam Cộng hòa rút vào trong thị xã Xuân Lộc để cố thủ. Sáng
ngày 10 tháng 4, đúng 5 giờ 30, quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
lại pháo kích các mục tiêu trong thị xã. Sau trận pháo kích, Trung đoàn
141 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
(lực lượng dự bị của Sư đoàn 7), cùng một tiểu đoàn cao xạ 37 ly và một
tiểu đoàn 57 ly, được tăng cường đột phá từ hướng bắc xuống phối hợp
với Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 tiếp tục tấn công vào căn cứ Sư đoàn 18.
Tuy nhiên, do bị phản kích quyết liệt cùng với hỏa lực mạnh của quân Sài
Gòn nên toàn bộ quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không đạt
được mục tiêu. Bước sang ngày thứ ba, 11 tháng 4, 7 giờ, Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam
pháo kích trong 70 phút rồi bắt đầu tấn công. Dưới hỏa lực mạng và sự
yểm trợ bằng không quân của bên phòng thủ, bên tấn công cũng vẫn không
chiếm được các mục tiêu là sở chỉ huy Sư đoàn 18 và hậu cứ Chiến đoàn 43
và 52. Cuộc chiến kéo dài ác liệt, cả hai phía ra sức giành giật từng
ngôi nhà, điểm phòng ngự. Sau 3 ngày chiến đấu, Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam đã phải chịu thương vong lớn với khoảng 300 người chết, 1000
người bị thương.
Thiếu tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 trao Quân kỳ quyết thắng cho Tư lệnh Sư đoàn 7 Lê Nam Phong. Ảnh: TL
Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc. Ảnh tư liệu.
Bộ binh và xe tăng tiến công trên hướng Tây Nam, TX. Long Khánh. Ảnh: TL
Bộ đội giải phóng sân bay Xuân Lộc. Ảnh: T.L.
Chiến thắng ở Xuân Lộc, rung chuyển tại Sài Gòn
Qua đến ngày thứ tư, 12 tháng 4, thế trận đôi bên vẫn giằng co. Lữ
đoàn1
Nhảy dù gồm các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù,
với quân số khoảng 2.000 người, được điều tăng cường cho Xuân Lộc bằng
tất cả trực thăng của hai Trung đoàn 3 và 4 Không quân từ Trảng Bom vào
trận địa. Hai tiểu đoàn dù đầu tiên đã nhảy xuống để chiếm lại Bảo Định
và Quốc lộ 1, nơi hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 6 Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam
đang tập trung tấn công Bộ tư lệnh Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa tại Tân
Phong. Một tiểu đoàn dù khác nhảy xuống chiếm lại khu vực vườn cây của
cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ. Các tiểu đoàn dù khác nhảy vào Xuân Lộc để
giải vây cho các lực lượng Địa phương quân và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Long
Khánh. Các pháo đội cũng được trực thăng Chinook chuyển vận đến Bộ Chỉ
huy Hành quân Nhảy dù đóng cạnh bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh. Sau 5 ngày giao chiến, lực lượng phòng thủ tại Xuân Lộc gồm có Sư đoàn 18, các lực lượng địa phương quân,
tăng cường Lữ đoàn 1 Dù và 6 khẩu pháo 155 mm tại ngã ba Tân Phong;
Trung đoàn 8 bộ binh (Sư đoàn 5), 3 chi đoàn thiết giáp 315, 318, 322
(với hơn 300 xe các loại). Theo tướng Hoàng Cầm, khi đó là tư lệnh Quân đoàn 4 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam,
tổng số quân phòng phủ tại Biên Hòa-Xuân Lộc lên tới 25.000, tương
đương 2 sư đoàn, 4 trung đoàn và lữ đoàn bộ binh, chiếm 30% quân số của
Vùng 3 chiến thuật; 4 thiết đoàn; 8 tiểu đoàn pháo. Ngoài ra, còn có 2
sư đoàn không quân (Sư đoàn 3 và 4) từ Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và cả máy
bay từ Trà Nóc dưới Cần Thơ cũng được tung vào yểm trợ cho Xuân Lộc. Sau
5 ngày tiến công, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hoàn thành
được tất cả các mục tiêu đề ra. Sức chống trả cộng với hỏa lực mạnh của
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
làm thiệt hại nặng lực lượng tấn công (trong ba ngày đầu, Sư đoàn 7 bị
thương vong 300 người, Sư đoàn 341 bị thương vong 1200. 9 xe tăng bị bắn
cháy 3, hỏng 3. Pháo 85 ly và 57 ly bị hỏng gần hết).
Tuy vậy, họ cũng đạt được phần nào mục tiêu khi phá vỡ tuyến phòng thủ
vòng ngoài, cắt đứt trục lộ 1 và 20, làm cho lực lượng của Quân khu 1 và
2 Việt Nam Cộng hòa không thể rút về hỗ trợ cho Xuân Lộc. Toàn bộ lực
lượng phòng thủ bị chia cắt thành 3 cụm: Núi Thị (do Trung đoàn 48 chốt
giữ), Dầu Giây (Trung đoàn 52), và thị xã Long Khánh (Trung đoàn 43). Bộ
chỉ huy Sư đoàn 18 bị uy hiếp, buộc phải dời vị trí về ngã ba Tân
Phong. Phía Việt Nam Cộng hòa đã bắt đầu lạc quan khi cho rằng Quân Giải phóng miền Nam Việt Namkhông
thể chiếm được Xuân Lộc. Tình hình tạm lắng vào ngày 14 tháng 4 càng
củng cố thêm nhận định của họ. Thậm chí, tướng Lê Minh Đảo còn cho họp
báo tại mặt trận, tuyên bố thách thức tướng Hoàng Cầm. Về phía các tướng
lĩnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam,
do thiệt hại nặng và không đạt được các mục tiêu đề ra, họ đã rút ra
các khuyết điểm để điều chỉnh chiến thuật tấn công: chuyển từ đánh chiếm
sang bao vây cô lập, từ đánh chính diện sang đánh tạt sườn, thay vì
đánh chiếm Xuân Lộc thì đi vòng qua thị xã. Tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam,
đã đến bộ chỉ huy quân đoàn một ngày để cùng bàn cách đánh mới. Khi
chiến sự tạm lắng vào ngày 14 chính là khi Quân đoàn 4 đang triển khai
lực lượng theo cách đánh này. Ngày
15 tháng 4, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chuyển hướng tấn công.
Pháo 130 ly bắt đầu bắn phá căn cứ không quân Biên Hòa,
không cho máy bay từ đây yểm trợ Xuân Lộc. Sư đoàn 6 (sư đoàn phối
thuộc của Quân khu 7), được tăng cường Trung đoàn 95, hiệp đồng tấn công
Chiến đoàn 52 (gồm Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 Việt Nam Cộng hòa, Lữ
đoàn 3 Thiết kỵ, và các lực lượng Địa phương quân ở Kiệm Tân, tổng cộng
khoảng 2.000 người). Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đánh chiếm
được ngã ba Dầu Giây (giao điểm của Quốc lộ 1 và 20) và đoạn cuối đường
20 từ Trúc Tân đến Kiệm Tân,
đánh bại nhiều cuộc phản kích từ Trảng Bom đánh ra, uy hiếp sở chỉ huy
tiền phương Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa đặt tại Trảng Bom. Chiến đoàn
52 Bộ binh cuối cùng đã tan hàng vào đêm 15 tháng 4. Tất cả pháo binh,
thiết giáp đều bị hủy diệt sau mấy ngày đêm cầm cự, thiệt hại nặng nề về
người. Chín giờ đêm hôm đó, khi hầm chỉ huy của chiến đoàn bị bắn sập,
đại tá chiến đoàn trưởng ra lệnh rút quân. Cùng theo ông chỉ còn 200
người sống sót. Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa phải ngừng phản kích cứu
nguy cho Xuân Lộc. Cùng ngày hôm đó, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn
341 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng thời tấn công, đánh lui hai
chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18, diệt một phần Lữ đoàn 1 Dù. Mất
Dầu Giây và đường 20, Biên Hòa trở thành điểm tiền tiêu và Xuân Lộc bị
cô lập và mất vị trí quan trọng, tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân
đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa, ra lệnh rút bỏ Long Khánh. Ngày 18 tháng 4,
một phần lực lượng ở Xuân Lộc được bốc bằng trực thăng về Biên Hòa -
Trảng Bom
lập phòng tuyến mới. 9 giờ tối, các tiểu đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa
mới tới quốc lộ 1 và gần như toàn bộ giáo dân của xóm đạo Bảo Đình, Bảo
Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn 2 bên vệ đường để theo binh sĩ Việt Nam
Cộng hòa đi di tản. Sau đó đoàn người rút lui đã bị phục kích và triệt
hạ gần hết. Lữ đoàn 1 Dù Việt Nam Cộng hòa rút lui sau cùng, chỉ riêng Tiểu đoàn 3
Pháo binh được di chuyển trên đường lộ với Đại đội Trinh sát Dù, còn
các tiểu đoàn tác chiến khác đều mở đường bọc sâu trong rừng. Bốn
giờ sáng ngày 21 tháng 4 năm 1975, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long
Khánh-Phước Tuy, Tiểu đoàn 3 Dù bị 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam
phục kích gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Pháo Đội C và trung đội trinh
sát bảo vệ, hầu hết đều bị thương vong. Cánh quân đi đầu của Tiểu đoàn 9
Dù cũng đụng độ nặng với quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Ngoài những thiệt hại
kể trên, cuộc rút quân trên Liên tỉnh lộ 2 coi như hoàn tất, kết quả tốt
đẹp. Sáng 21 tháng 4, những tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân lực Việt
Nam Cộng hòa tại Xuân Lộc tan rã. Các lực lượng còn lại rút lui về Sài
Gòn lập phòng tuyến mới.
Trong Trận Long Khánh (Tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt,
tiêu diệt cả Sư đoàn (?) quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của
chúng. Cho đến nay hảy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu
trả lời chưa được chính xác.Khi sử dụng
để đánh nơi tập trung quân cũa CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ
30 m, nhiên liệu rãi tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên
liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng,
gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau..
Quà tặng cho Việt Cộng – Trái CBU không ngòi nổ
Tại
Xuân Lộc, Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng hai quả bom phát quang
BLU-82 "Daisy Cutter" 15000-pound,
vô số bom tọa độ 500-pound, và cả bom xăng tự tạo, để ném xuống các đơn
vị bộ đội ở quanh thị xã. Với vai trò nỗ lực cuối cùng nhằm ngăn chặn
bước tiến quân của đối phương, theo Frank Snepp, sau khi Tổng thống
Thiệu từ chức, tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Vùng 3 chiến thuật đã đề
nghị Mỹ sử dụng bom B-52 rải thảm lần cuối. Đề nghị này bị tướng Cao Văn
Viên từ chối, thay vào đó là gợi ý sử dụng một loại vũ khí khác với sức
hủy diệt tương tự. Ngày 21 tháng 4, với sự trợ giúp của kỹ thuật viên
DAO (Mỹ), một máy bay C-130 của không lực Việt Nam Cộng hòa đã thả một
quả "bom nhiệt áp" CBU-55, loại vũ khí phi hạt nhân tàn bạo nhất trong
kho vũ khí của Mỹ, xuống khu vực được cho là sở chỉ huy Sư đoàn 341 Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nó đã đốt ôxy trong một vùng rộng 2 mẫu
Anh, gây thương vong khá lớn dù không có thống kê chính xác (Hoa Kỳ ước
tính nó đã giết chết hơn 250 người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, nguồn khác ghi nhận con số 811 cả bộ đội và thường dân, nhưng đều
không thể kiểm chứng).
Đây là lần đầu tiên và cuối cùng loại vũ khí này được sử dụng trong
chiến tranh. Đài Hà Nội đã phản đối trong hai ngày liền, cáo buộc Mỹ và
Việt Nam Cộng hòa sử dụng vũ khí sinh học bất hợp pháp. Trung Quốc
cũng phản ứng dữ dội không kém, miêu tả vụ ném bom như là cuộc 'giết
người hàng loạt' và buộc tội Mỹ đã chỉ huy cuộc tấn công. Đây là chỉ
trích mạnh mẽ nhất của Trung Quốc đối với Mỹ trong vòng 2 năm - từ khi
hai nước bắt đầu quá trình đặt lại quan hệ ngoại giao. Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam
đã phản ứng ngay và hiệu quả. Trong vòng vài giờ sau vụ ném bom CBU,
pháo binh bắn phá sân bay Biên Hòa được tăng cường đến độ các đường băng
gần như không thể sử dụng được nữa. Các máy bay phản lực F-5A được rút
nhanh về Sài Gòn, còn các máy bay ném bom nhẹ A-37 rút về Cần Thơ. Sau hai tuần giao tranh hết sức ác liệt, ngày 22-4,
Xuân Lộc rơi vào tay quân Giải phóng. Bên quân lực Việt Nam Cộng hòacó 2.056 chết và bị thương 2.731 bị bắt 48 xe quân sự, 18 khẩu pháo bị phá hủy. Bên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (tính riêng Quân đoàn 4): 460 chết, 1.428 bị thương (theo
Hoa Kỳ (ước tính): Toàn bộ các đơn vị 5.000 chết hoặc bị thương). Công
phá được Xuân Lộc, các cánh Quân Giải phóng rầm rập tiến về Sài Gòn với
khí thế không gì ngăn cản nổi.
Tiếp quản Tiểu khu Long Khánh.
Ngày
26-4, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh, đánh
vào Sài Gòn, kết thúc 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã sẵn sàng.
Cánh quân hướng Đông của quân Giải phóng được lệnh nổ súng trước.
Trong
buổi sáng ngày 30-4-1975, các binh đoàn đột kích thọc sâu đã từ các
hướng đồng loạt tiến công vào nội đô Sài Gòn và đến trưa thì chiếm xong 5
mục tiêu chủ yếu được xác định là Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu, Biệt
khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất. Người vừa được
trao quyền Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bị dẫn đến đài phát thanh đọc
lời đầu hàng: “Tôi là Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài
Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng; giải
tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam - Việt Nam”.
Đến chiều, thành phố Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng.
Cuộc
kháng chiến ròng rã 30 năm, vượt qua biết bao nhiêu khó khăn gian khổ
với biết bao nhiêu mất mát hy sinh, chống quân xâm lược hết Thực dân
Pháp đến Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng nhằm đổi lại quyền lợi
chính đáng là Độc lập, Tự do và Thống nhất nước nhà của dân tộc Việt đã
đạt đến thành công! Vànhững dấu ấn sâu đậm, đóng góp to lớn của Đại
tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 vẫn sẽ còn mãi!
Sài Gòn ơi ta đã về đây...
Bức ảnh chụp cùng thời điểm với Hai người lính. Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành
Bức ảnh Hai người lính. Ảnh: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành
Thắng lợi của quân và dân ta trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Trong
tình hình đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson đã tuyên bố: Hy vọng
đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần “tìm kiếm một nền hòa bình trong
danh dự”.
Ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố sẵn
sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ. Tuy nhiên phải mất 30 ngày, hai bên
mới thỏa thuận, thống nhất được địa điểm họp ở Paris theo sáng kiến của
Việt Nam.
Trong cuốn Hội nghị Paris về Việt Nam - Nhìn lại, 1968-1973
của Nhà xuất bản Thế giới, các nhân chứng của cuộc đàm phán tại Paris
cho biết, sau khi cân nhắc nhiều địa điểm, cuối cùng Việt Nam và Mỹ đã
quyết định tiến hành cuộc đàm phán tại thủ đô Paris của Pháp. Đối với
Việt Nam, tuy Paris xa xôi và tốn kém nhưng lại là địa bàn thuận lợi để
tranh thủ dư luận quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt
Nam. Khó khăn về hậu cần của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam được khắc phục với sự hỗ trợ của
Đảng Cộng sản Pháp và cộng đồng người Việt.
Trung tâm các hội nghị quốc tế ở Paris, tên cũ là "Hotel Majestic", địa điểm chính thức của hội nghị về vấn đề Việt Nam.
Quang cảnh Choisy-le-Roi, thành phố cách trung tâm Paris 15km, nơi
đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lưu trú và làm việc từ năm 1968
đến 1973
Trụ sở của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Choisy-le-Roi ở Paris, năm 1968.
Tòa nhà số 11 phố Darthé, địa điểm diễn ra cuộc họp riêng đầu tiên
giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy (đoàn
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với Đại sứ Mỹ Averell Harriman.
Biệt thự Fernand Léger ở phố Gif-sur-Yvette, là nơi tiếp khách của
Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, cũng là nơi họp riêng của đoàn Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ.
Ngôi nhà ở Neuilly-sur-Seine, do đoàn Mỹ thuê, là nơi họp riêng giữa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ.
Trụ sở của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt
Nam tại Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Verrières-le-Buisson, cách trung
tâm Paris 15km
Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973 (Ảnh tư liệu)
Ngày
3/6/1968, đông đảo các chính khách và Việt kiều tại Paris ra sân bay
Bretigny (Pháp) đón đ/c Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu
Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.
Sáng
4/11/1968, Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
do Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Trưởng đoàn dẫn đầu đến Paris (Pháp) dự Hội
nghị bốn bên về Việt Nam. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN.
Chữ ký của các các bên trong Văn bản Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN.
Các
đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đón Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và
Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ở Phủ Chủ tịch sau khi ký Hiệp
định Paris trở về Việt Nam. Đông đảo đại diện các đoàn ngoại giao đến
chúc mừng, chia vui trước thắng lợi lịch sử của nhân dân ta. Ảnh: Tư
liệu - TTXVN.
Quang
cảnh Cuộc nói chuyện chính giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại Phòng họp Trung tâm Hội
nghị Quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Đoàn Việt Nam ngồi phía bên phải).
Ảnh Tư liệu – TTXVN.
Ngày
9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng
viên quốc tế tập trung tại sân bay Bourget đón đồng chí Xuân Thủy, đại
diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với
đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh Tư liệu – TTXVN.
Ngày
25/01/1969, Hội nghị bốn bên về Hòa bình tại Việt Nam chính thức khai
mạc phiên toàn thể đầu tiên, gồm 4 đoàn đại biểu: Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam
Cộng hòa. Ảnh:Tư liệu - TTXVN.
Thái
độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã
gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973,
cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước
trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn,
trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay
Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu -
TTXVN.
Thực
hiện Hiệp định Hòa bình Paris, trong hai ngày 28 và 29/3/1973, tại sân
bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: Văn Bảo - TTXVN.
Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng các đồng chí đảng viên đảng cộng sản Pháp tại lễ ký kết Hiệp định Paris (Ảnh tư liệu: BNG)
Trong lịch sử đấu tranh
chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam, có lẽ chưa có cuộc đàm phán nào
kéo dài như Hội nghị Paris. Gần 5 năm, với 202 phiên họp công khai và 24
cuộc gặp riêng, đàm phán Paris là cuộc đấu trí giữa hai nền ngoại giao:
Việt Nam và Mỹ. Nhìn lại vị thế của Việt Nam kể từ khi bắt đầu bước vào
bàn đàm phán đến khi Mỹ đặt bút ký vào Hiệp định Paris, chính thức thừa
nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,
đã có nhiều khác biệt cơ bản. Từ một nước bị giày xéo trong bom đạn, cái
mà Việt Nam đem đến bàn đàm phán là một tinh thần quyết chiến quyết
thắng, ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý, giành độc lập
tự do của cả một dân tộc. Những thắng lợi vang dội trên chiến trường
Việt Nam, đặc biệt là cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm của trận
“Điện Biên Phủ trên không” là đòn quyết định buộc Mỹ phải ký kết Hiệp
định chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Lễ cuốn cờ ở Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ tại Sài Gòn để rút quân ra khỏi Việt Nam (ảnh tư liệu)
Ông Võ Văn Sung, Nguyên
trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp cho rằng:
Thắng lợi của Hiệp định Paris có 2 vế quan trọng. Thứ nhất, đứng về mặt ngoại giao thì phải bàn bạc, làm cho đúng, cho chủ nhà của Hiệp định Paris là Pháp đồng tình với ta, ủng hộ ta. Thứ hai, làm
thế nào để nhân dân thế giới đứng về phía ta. Phải nói rằng, trong 12
ngày đêm bầu trời Hà Nội thì rực lửa bắn máy bay, ngày nào ông Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Pháp cũng gặp đoàn Việt Nam. Ông rất cần thông tin để có
thái độ. Trong 12 ngày đêm đó, nước Pháp là mùa đông nhưng không khí
hừng hực tất cả. Hừng hực tình cảm của người dân Pháp, hừng hực tình cảm
của bà con Việt kiều, tình cảm của bạn bè quốc tế, bạn bè Tây Âu ủng hộ
Việt Nam.
Lính Mỹ lên máy bay về nước hôm 29/3/1973 dưới sự chứng kiến của các quan sát viên thuộc lực lượng Giải phóng.
Bức ảnh chụp
ngày 30/3/1973 khi 55 lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam bằng máy bay C-141
và đáp xuống sân bay Travis, bang California.
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình
ký Hiệp định Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Hiệp
định Paris 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu
tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng
cũng chứa đựng nhiều phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô,
Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và
hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
chống Mỹ xâm lược”, thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.
Hiệp
định Paris và việc Mỹ rút khỏi Việt Nam góp phần to lớn vào sự nghiệp
giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia. Giải pháp về Lào gần như đồng
thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2/1973. Hiệp định Paris mở
đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4/1975.
Đặc
biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở
Đông Nam Châu Á; quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán; xu
thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.
Hội
nghị Paris đã để lại nhiều bài học lớn, trong đó có bài học về ý chí
quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế
- bài học còn nguyên giá trị đối với các quốc gia.
Hình ảnh ký kết Hiệp định Paris. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và
đại diện hai phái đoàn ta trả lời báo chí trước khi Hiệp định Paris về
Việt Nam được ký kết (ngày 25/1/1973)
Trong bức ảnh
chụp ngày 12/4/1973, sĩ quan Daniel Ellberg, đồng bị đơn trong phiên tòa
Pentagon Papers (vụ tiết lộ tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ trong đó
có thông tin Mỹ bán đứng Việt Nam Cộng hòa để lấy lòng Trung Quốc) đứng
cạnh vợ, Patricia, trong lúc nói chuyện với phóng viên.
Trong bức ảnh
chụp ngày 31/3/1973, đô đốc John S. McCain Jr. (trái) và con trai là
trung úy John S. McCain III hội ngộ tại Jacksonville, Florida.
Việt kiều ở Paris hoan nghênh Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết năm 1973.
Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam
DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở
11 phố Darthe. Ảnh tư liệu
Cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, tiến sĩ Henry
Kissinger, hai người tạo ra những huyền thoại ngoại giao về cuộc chiến
tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Ảnh tư liệu
Thái
độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã
gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/01/1973,
cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước
trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở Thủ đô Oasinhtơn,
trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay
Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam
Cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong số
8 cuộc chiến tranh của nước Mỹ: 11 năm 1 tháng (cuộc chiến tranh kéo
dài đứng hàng thứ hai là cuộc nội chiến Nam - Bắc cũng chỉ có 4 năm).
Nhưng cuộc chiến tranh đó đã đem lại lợi ích gì cho nước Mỹ? Chỉ là một
con số 0 to tướng nếu không kể những tội ác và những tàn phá mà nó gây ra. Không những thế nó đã làm cho nước Mỹ phải hao người,
tốn của ghê gớm và phải chuốc lấy một nỗi hổ thẹn ê chề do tính ngạo
mạn, mù quáng gây ra. Chúng ta có thể liệt kê ra những hổ thẹn ấy:
1 - Cường quốc số 1, giàu có nhất thế giới đã thực sự thua trận trước một nước nhược tiểu, nghèo nàn và lạc hậu.
Chỉ
vì một não trạng hoảng sợ trước một điều hoang đường là sự bành trướng
của chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á mà Mỹ đã gây ra chiến tranh ở Việt
Nam. Và còn vì điều như Allman viết trong “Hai mươi năm dính líu của Mỹ ở
Đông Dương: Điều mỉa mai của lịch sử nước Mỹ”, như sau:
“Một
sai lầm dai dẳng suốt ¼ thế kỷ của chính sách Mỹ là dựa vào niềm tin
không suy suyển về sức mạnh của Mỹ có thể tự tạo ra cho nó tính hợp pháp
và làm được tất cả.
Từ
Rostow, Achesơn, Dean Rusk đến Kissinger đều có những lời nói như:
“Chúng ta là nước hùng mạnh nhất thế giới”, “không một nước châu Á vùng
nhiệt đới nào nhỏ bé, nghèo nàn, không phải là người da trắng mà lại
không bị gục ngã trước hỏa lực của Mỹ nếu như thời gian ném bom đủ dài,
nếu như con số người chết cứ cộng mãi vào đủ lớn”.
Chính
quyền Níchxơn là chính quyền cay cú nhất, lồng lộn nhất, điên khùng
nhất. Khi đã giở mọi thủ đoạn đấm đá, hù dọa mà “nhân dân Việt Nam quyết
không sợ”, chính quyền Níchxơn bèn giở trò bỉ ổi cuối cùng là tìm kiếm
xin xỏ sự trợ giúp từ hai đối thủ tiềm tàng của mình là Liên Xô và Trung
Quốc. Chính quyền Níchxơn cũng là chính quyền lừa dối trơ tráo, “khủng
khiếp” nhất trong lịch sử nước Mỹ; lừa dối đối phương đã đành, còn lừa
dối lẫn nhau, lừa dối đồng minh (chính quyền Thiệu), lừa dối nhân dân
Mỹ, lừa dối thế giới và tự huyễn hoặc lừa dối chính bản thân mình về
khái niệm “danh dự”. Do đó chính quyền Níchxơn đã gặt hái thất bại ê chề
nhất, bị nguyền rủa nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ. Níchxơn là một
tổng thống phải tự kết thúc sự nghiệp chính trị của mình một cách đáng
xấu hổ nhất, nhục nhã nhất trong các đời Tổng thống Mỹ.
Trong
tiểu luận “Điều mỉa mai trong lịch sử nước Mỹ”, Niebluer, một nhà thần
học đã kết luận: “Điều mỉa mai không phải là đến tận phút chót (của thất
bại), nhiều người Mỹ vẫn tưởng là mình đang thắng, mà là gần như một
thời gian dài, người ta vẫn tưởng rằng thắng lợi chỉ cần cố gắng một
chút là có thể giành lấy… Chúng ta chưa hề bao giờ tiên đoán là nước
hùng mạnh nhất trái đất lại phải chịu đựng cái điều ước mơ làm chủ lịch
sử và bị cự tuyệt một cách mỉa mai đến như vậy”.
Trong
“Mỹ đã kiệt sức vì chiến tranh Việt Nam” (Tuần tin tức, 8-2-1973) có
viết: “Sự thất bại đầu tiên và đau đớn nhất trong lịch sử quân sự Mỹ” và
“Một cuộc chiến tranh không sản sinh ra chiến thắng huy hoàng, không
sản sinh ra anh hùng dân tộc, và không sản sinh ra những bài ca rung
động lòng người…”.
Theo
Don Luce, J. Sonner: “Thất bại của Mỹ ở Việt Nam chủ yếu là do không
hiểu biết, không nắm được tư tưởng, ý nghĩa và tính cách của người Việt
Nam mà đã dùng vũ lực tàn bạo. Ở Việt Nam, người Mỹ không mù quáng nhưng
họ là những người điếc và câm”.
2
- Cuộc chiến tranh Việt Nam làm xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt nhất,
nhiều sự bội tín và lừa dối nhất trong chính giới Mỹ, bị toàn thể loài
người tiến bộ, kể cả nhân dân Mỹ oán trách, chê cười, nguyền rủa:
Tướng
tư lệnh chiến trường Oétmolen, từ một người thận trọng; có phần khiêm
tốn, do được tâng bốc lên tận mây xanh, được chính quyền Giônxơn đặt
toàn bộ hy vọng vào tài năng ông ta nên cũng được “cưng chiều”, được chu
cấp đầy đủ nhất mọi thứ mà ông ta đòi hỏi, đã trở thành kẻ huênh hoang,
phát biểu nhiều lời khinh xuất, để rồi mau chóng trở thành kẻ tội đồ,
bị chính những người tâng bốc quay lại chửi bới thậm tệ. Ông này không
vừa, đổ vấy tất cả trách nhiệm thua trận cho chính phủ Mỹ và như vậy
càng làm cho mọi người khinh khi.
3
- Là một nước đứng đầu về sự hùng mạnh, có những lời tuyên ngôn bất hủ
như một chân lý sáng ngời, có vai trò cầm cân nảy mực, gìn giữ trật tự
thế giới mà lại hành động một cách hoàn toàn trái ngược, tàn ác ở Việt
Nam, một đất nước bé nhỏ, chỉ muốn được thống nhất, độc lập, bình đẳng,
tự do mưu cầu hạnh phúc mà trước đó cũng như sau này chưa bao giờ động
chạm đến quyền lợi của nước Mỹ.
Một
người anh Đồng Minh đã dội xuống đầu người em đi theo Đồng Minh tất cả
sức mạnh áp đảo về vũ khí, bom đạn (trừ bom nguyên tử), gây ra biết bao
nhiêu sự hủy diệt, đau thương tang tóc cho dân thường vô tội ở cả hai
phía một cách hoàn toàn vô tích sự, để rồi phải chịu thất bại không thể
chối cãi được, phải ký vào cái không muốn ký mà bỏ của chạy lấy người,
bỏ đi, mặc cho “đệ tử” bị “nện” chết, không quay lại cứu mà nói đến danh
dự thì thật là nực cười!
Tháng
11-1982 ở Mỹ đặt đài tưởng niệm quân nhân Mỹ đã chết trận ở Việt Nam.
Số tên người được khắc trên đó là 57.939. Họ là ai trước khi là quân
nhân Mỹ? Là con em nhân dân Mỹ! Tại sao họ bị điều động đến một đất nước
nhỏ bé cách nước Mỹ nửa vòng trái đất để chết ở đó, và chết để làm gì,
chết cho ai? Có phải là họ chết để bảo vệ quê hương họ, cho sự toàn vẹn
lãnh thổ của nước Mỹ không? Chắc rằng đứng trước bức tường tưởng niệm
bằng đá hoa cương ấy, không một người Mỹ nào cảm thấy tự hào mà trái
lại, chỉ thấy xót thương, tủi nhục.
Sau
thắng lợi của hai mùa khô, ta chủ trương mở mặt trận ngoại giao để phối
hợp với mặt trận quân sự nhằm tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập
trường chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới.
Mục tiêu trước mắt là đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom phá
hoại miền Bắc. Tháng 3/1968, sau cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu
Thân, Giôn-xơn ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, bắt đầu nói
đến việc thương lượng và đàm phán với ta.
Có
thể là vô tình nhưng bức tường đó đã là một chứng tích của tội ác. Tội
ác ấy là do ai gây ra nếu không phải là những tập đoàn lãnh đạo nước Mỹ
đã gây ra cuộc chiến tranh vô nghĩa ở Việt Nam?
Theo Emtơ (Lời phán quyết về Việt Nam) thì cuối năm 1970, tổ chức “Binh lính đoàn kết chống chiến tranh Việt Nam”đã ra tuyên bố:
“Mười
năm qua, đất nước chúng ta tham gia vào một cuộc chiến tranh lâu dài,
mòn mỏi, tốn kém và thê thảm ở Việt Nam. Phần đông người Mỹ không ủng hộ
cuộc chiến tranh đó, ngày càng có thêm nhiều người phản đối, kể cả
những binh sĩ đang làm nhiệm vụ. Chúng tôi, những người lính, chúng tôi
buộc phải chịu đau khổ nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam thất bại
này. Nhiều người trong chúng tôi bị bắt lính trái với ý muốn của chúng
tôi, để thực hiện một cuộc chiến tranh không hợp pháp, không đạo đức và
không chính nghĩa”.
Ngày
19-4-1971, 2.000 cựu binh sĩ về Oasingtơn gặp Quốc hội, tại nghĩa địa
Arlington đã tổ chức rước đuốc phản đối đến Nhà Trắng. Đỉnh cao là lúc
các cựu binh sĩ vứt bỏ các huân chương về Việt Nam của họ trên thềm nhà
Quốc hội để phản đối chiến tranh… Các cựu chiến binh cũng đã dẫn đầu
những đoàn biểu tình tại Oasinhton, vào ngày 24-4 là 300.000 người, ngày
1-5 là 200.000 người, đòi “Chấm dứt chiến tranh hoặc chấm dứt chính
phủ”...
Bản
thân Kítxingiơ, trong “Những năm ở Nhà Trắng” có viết: “Tôi nhận được
những bức thư lời lẽ gay gắt không thể tưởng tượng được của những người
xưa kia đã từng là bạn bè, của những công dân đầy giận dữ. Những lời
buộc tội như “phi đạo đức”, “lừa bịp” được tung ra bừa bãi, “dã man” là
một tính từ được người ta ưa dùng, nhiều chính phủ nước ngoài cũng lớn
tiếng chỉ trích. Chính phủ Thụy Điển so sánh chúng ta với bọn Quốc Xã.
Không một đồng minh NATO nào ủng hộ chúng ta”.
Một
học giả Nhật là Maruyama Shizuo đánh giá: “Khi tôi gọi nó là “chiến
tranh bằng không quân”, tôi muốn đề cập đến một tình trạng trong đó lực
lượng không quân thay thế lực lượng lục quân và đảm nhận cuộc chiến đấu.
Con số bộ binh của Mỹ ở Việt Nam vào cuối tháng 1-1973 còn không quá
25.000. Tuy thế, hồi tháng 12-1972, Mỹ đã mở ra ở Đông Dương một cuộc
chiến tranh không quân tàn bạo nhất trong toàn bộ lịch sử loài
người”.Hãng UPI công bố ngày 16-1-1973, số bom Mỹ đã ném từ năm 1965 đến
năm 1972 là 7.438.052 tấn.
Harrison,
Roger Pic và một số nhà nghiên cứu phương Tây khác cho biết: Trong 8
năm, Mỹ đã ném xuống Việt Nam 7.800.000 tấn bom. (Trong đó có B52 đã bay
124.522 lần xuất kích và ném 2.949.000 tấn hay 1/3 tổng số lượng bom).
Với
thái độ điên cuồng lồng lộn, việc ném bom và pháo kích từ 300.000 tấn
hồi năm 1965 tăng lên trên 1 triệu tấn vào năm 1966. Trên 2 triệu tấn
trong mỗi năm từ 1967 đến 1970 (đỉnh cao là 2.966.548 tấn vào năm 1968),
và gần bằng ngần ấy trong những năm 1971 và 1972.
Vào năm 1973, Mỹ và Nam - Việt Nam đã sử dụng trên 14 triệu tấn bom và đạn ở Đông Dương.
Người
ta dự tính là ở Đông Dương có khoảng 26 triệu hố do bom gây ra, trong
đó 21 triệu hố ở miền Nam - Việt Nam. Số bom này đã hất đi khoảng 3.000
triệu mét khối đất. Con số này lớn gấp 10 lần số đất đào lên của 2 công
trình kênh đào Suez và Panama cộng lại, và chiếm một diện tích khoảng
13.000 km2 - khoảng 1/3 diện tích miền Nam - Việt Nam hoặc 1/25 diện
tích toàn Việt Nam. Gấp 3 lần số lượng 2.057.244 tấn bom mà không quân
Mỹ đã ném xuống châu Âu, Bắc Phi và Thái Bình Dương trong thời kỳ chiến
tranh thế giới thứ hai, hay nhiều hơn 2 lần số bom mà tất cả các nước
tham chiến sử dụng trên tất cả các chiến trường trong suốt chiến tranh
thế giới thứ hai. Gần 12 lần số bom đã ném trong chiến tranh Triều Tiên
là 635.000 tấn. Bằng sức nổ của trên 700 quả bom nguyên tử, loại đã thả ở
Hiroshima và kể cả 400.000 tấn napan nữa.
Cựu chiến binh Việt Nam ném huy chương tại Điện Capitol Hoa Kỳ
Các cựu chiến binh Việt Nam phản đối chiến tranh trong Chiến dịch Dewey Canyon III
Các cựu chiến binh từng tham dự chiến tranh ở Việt nam vứt bỏ các huân chương, ghi nhận... ở Washington năm 1971.
Một nhóm sinh viên nữ tại Đại học California, Berkeley, Mỹ, biểu tình
phản đối chiến tranh Việt Nam. Phần lớn phong trào chống chiến tranh bắt
đầu từ các trường đại học với các tổ chức như Sinh viên vì một Xã hội
Dân chủ (SDS). Ảnh: history.com
Cựu binh Barry Romo (thứ 2 từ trái sang) biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam vào những năm 1970.
Ngày nay, không còn nhiều người thường xuyên nhắc đến những tấm gương phản chiến bằng cách tự thiêu.
Nhưng câu chuyện của họ vẫn còn vang vọng, đặc biệt trong một thế giới
vẫn đang chịu cảnh tang thương, đổ nát vì xung đột vũ trang và bất công.
Ảnh: Shutterstock
Vào buổi tối yên tĩnh ngày 16/3/1965,
Alice Herz, một cụ bà 82 tuổi gốc Do Thái - Đức, bước đến góc đường
Warren và Elmhurst ở thành phố Detroit, bang Michigan. Tại đó, bà dội
xăng lên người và châm lửa.
Bà Herz để lại một bức thư với nội dung:
“Tôi chọn cái chết rực sáng như một hòa thượng Phật giáo để phản đối
việc giết hại những người vô tội tại Việt Nam”.
Bà Herz chạy trốn khỏi nước Đức quốc xã
năm 1933 cùng con gái và định cư tại Mỹ, nơi bà trở thành một nhà hoạt
động phản đối vũ khí hạt nhân và chủ nghĩa quân phiệt.
Dù sống sót sau vụ tự thiêu, bà qua đời
tại bệnh viện sau 10 ngày do bỏng nặng. Con gái bà, Helga Herz, một thủ
thư và nhà hoạt động vì hoà bình, tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của mẹ.
Bà Helga mất năm 2010, thọ 94 tuổi.
Bà Alice Herz là công dân Mỹ đầu tiên tự thiêu để phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng các hãng tin lớn của Mỹ bỏ qua trường hợp đặc biệt này.
Chỉ
vài tháng sau đó, vào ngày 2/11/1965, Norman Morrison, 31 tuổi, một tín
hữu Quaker (thành viên nhóm Kitô giáo lịch sử của các phong trào tôn
giáo chính thức), lái xe tới trụ sở Lầu Năm Góc
ở thủ đô Washington, D.C. Tại đó, dưới cửa sổ tầng ba nơi Bộ trưởng
Quốc phòng Robert McNamara đang làm việc, ông Morrison đổ dầu hoả lên
người và châm lửa.
Trong một hành động vừa đầy yêu thương
vừa bi tráng, ông Morrison mang theo con gái một tuổi tên là Emily. Ông
trao bé Emily cho một người qua đường ngay trước khi châm lửa. Nhân
chứng kể lại rằng, ông Morrison đứng yên lặng khi lửa bao trùm cơ thể
mình.
Là một Kitô hữu sùng đạo và nhà hoạt
động hoà bình, ông Morrison tin rằng sự im lặng trước tội ác là đồng
lõa. Hành động của ông gây chấn động toàn thế giới.
Tại Việt Nam, nhiều người tiếc thương và
kính trọng Norman Morrison – một số trường học và con đường mang tên
ông, ví dụ đường Morrison, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng McNamara,
người mà ông Morrison muốn đánh động, cũng thú nhận trong hồi ký năm
1995 mang tên “In Retrospect” (Hồi tưởng) rằng: “Cái chết của Norman
Morrison ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn tôi tưởng. Anh ấy đúng, còn tôi đã
sai”.
Ông Morrison để lại người vợ Anne Welsh
Morrison, một nhà giáo và nhà hoạt động vì hoà bình, và ba con. Bà qua
đời năm 2023 ở tuổi 87.
Con gái Emily lớn lên trở thành nhà văn
và người vận động xã hội. Sau này, bà Emily viết về gánh nặng tâm lý khi
là đứa trẻ trong một vụ tự thiêu bi hùng như vậy, nhưng cũng khẳng định
lòng kính trọng đối với sự hy sinh của cha mình.
Ông Norman Morrison. Ảnh: Wikipedia.
Roger LaPorte: Im lặng trước trụ sở Liên Hợp Quốc
Chỉ một tuần sau, Roger Allen LaPorte,
một thanh niên 22 tuổi thuộc phong trào Công giáo Lao động, đã tự thiêu
bên ngoài trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York. Ngày 9/11/1965, tại
quảng trường Dag Hammarskjöld, LaPorte ngồi xếp bằng, đổ xăng lên người
và tự châm lửa, lửa bùng lên nhưng anh không một tiếng kêu than.
Dù bị bỏng tới 90% cơ thể, anh LaPorte
vẫn còn tỉnh đủ lâu để nói với cảnh sát. Khi được hỏi lý do tự thiêu,
anh đáp: “Tôi phản đối chiến tranh - tất cả các cuộc chiến tranh”.
Anh LaPorte qua đời vào ngày hôm sau tại bệnh viện Bellevue.
Cộng đồng Công giáo Lao động bàng hoàng. Người sáng lập phong trào, bà Dorothy Day, viết một bài xã luận đầy mâu thuẫn trong Tờ Công giáo Lao động, vừa ngưỡng mộ sự hy sinh của LaPorte, vừa đau buồn vì hành động cực đoan đó.
Gia đình anh, bao gồm cha mẹ và anh trai, từ chối xuất hiện công khai, xin được để tang trong yên lặng.
Anh Roger Allen LaPorte. Ảnh: Wikipedia.
Những ngọn lửa khác
Một số người Mỹ khác cũng chọn cách tự thiêu để phản đối chiến tranh, dù ít được nhắc đến.
Bà Florence Beaumont, 56 tuổi,
giáo viên tại bang California, tự thiêu ngày 15/10/1967 trước cửa Tòa
nhà Liên bang ở thành phố Los Angeles. Bà tử vong tại chỗ.
Là mẹ hai con và người ủng hộ hoà bình lâu năm, bà Beaumont cảm thấy tuyệt vọng trước sự thờ ơ của chính phủ.
Anh George Winne Jr., sinh viên
23 tuổi tại Đại học California - San Diego (thành phố San Diego, bang
California), tự thiêu tại Quảng trường Revelle trong khuôn viên trường
vào ngày 10/5/1970. Anh mang theo biểu ngữ: “Nhân danh Chúa, hãy chấm
dứt cuộc chiến tranh này”.
Anh Winne Jr. qua đời ngày hôm sau. Một tấm bia nhỏ hiện đánh dấu nơi anh ngã xuống và hằng năm có lễ tưởng niệm.
Anh Kenneth Martin, một thanh
niên từ bang North Carolina, tự thiêu ở thành phố Charlotte vào năm
1965. Anh qua đời sau vụ tự thiêu vì biến chứng. Trong thư để lại, anh
khẳng định hành động của mình là lời kêu gọi đánh thức lương tri quốc
gia.
Một người qua đường nhìn chiếc ví mà bà Florence
Beaumont để lại (xác bà được che phủ ở phía xa). Ảnh: Times.
Năm 1968, một nhóm nữ sinh của Đại học California - Berkeley, Mỹ, biểu tình để phản đối chiến tranh Việt Nam. Phần lớn phong trào phản chiến bắt nguồn từ trường học. Ảnh: History.com
Ca sĩ huyền thoại John Lennon sáng tác bài Give Peace a Chance (Hãy cho hòa bình một cơ hội)
với nội dung phản đối cuộc chiến. Tháng 10/1969, ông đã hát bài này
trước khoảng 500.000 người biểu tình, chống cuộc chiến do Mỹ phát động.
Ảnh: Getty
Ngày 15/11/1969, hơn 500.000 người đổ xuống đường phố ở thủ đô
Washington DC để tham gia một trong những cuộc biểu tình lớn nhất trong
lịch sử Mỹ, nhằm lên án hành động quân sự của nước này tại Việt Nam.
Ảnh: History.com
Cựu binh Mỹ phản đối chiến tranh bằng cách ném huy chương và quân phục
qua hàng rào trước tòa Quốc hội Mỹ trên đồi Capital. Ảnh: History.com
Ngày 30/4/1970, Richard Nixon, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, tuyên bố cần
thêm 150.000 lính tới Việt Nam. Động thái của ông chủ Nhà Trắng tạo nên
cuộc biểu tình lớn tại các trường đại học trên khắp nước Mỹ. Ảnh: History.com
Đoàn người diễu hành trên đường phố Washington DC yêu cầu chính phủ chấm
dứt các hoạt động quân sự tại Việt Nam, tháng 4/1971. Theo History.com, các hoạt động chống cuộc chiến góp phần vào việc Nixon quyết định đưa quân rời Việt Nam tháng 1/1973. Ảnh: Vintage
Năm 1968, trong một lần ám sát hụt một tên mật thám, bà Võ Thị Thắng bị
bắt, bị tòa tuyên án 20 năm khổ sai. Ngày 2/8/1968, trước Tòa án quân sự
mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sau khi nghe
kết án, bà đã bình tĩnh, tự tin, nở nụ cười và dõng dạc tuyên bố:“Liệu
chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”.
Trong 6 năm ròng rã, bà Võ Thị Thắng đã bị kẻ thù đày đọa, giam cầm, tra
tấn hết nhà lao này đến nhà lao khác. Bà được trao trả ở chính sân bay
Lộc Ninh trong đợt trao trả cuối cùng theo Hiệp định
Paris (Bà Thắng là người đứng thứ ba từ phải sang).
Bà Võ Thị Thắng (bên phải) cùng các bạn tù chính trị nữ trong đợt trao trả tù binh tại Lộc Ninh tháng 4/1974.
Vào
lúc 8h15 phút sáng 22/8, bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ trong bức ảnh
“Nụ cười chiến thắng” nổi tiếng, sau một thời gian lâm bệnh nặng đã qua
đời, hưởng thọ 69 tuổi. Tang lễ được cử hành tại Nhà tang lễ Bộ Quốc
phòng phía Nam (số 5 Phạm Ngũ Lão, phường 3, quận Gò Vấp, TP HCM). Lễ
viếng bắt đầu vào lúc 8h30 ngày 23/8. Sau đó, đưa đi an táng tại quê nhà
Long An vào sáng thứ hai 25/8.
Năm
1973, Giôn Yâng, một tù binh Mỹ, đã nhắc lại điều anh ta từng thấy:
“Không thể thấy gì ngoài hố bom và mặt đất đã chết. Mặt đất giống cháo
lúa mạch. Không có chim, không có cây, không có người. Không đồng ruộng,
không vườn tược. Không có gì cử động. Đó là cuộc chiến tranh Việt Nam
của Mỹ”.
Theo
Milton Leitenberg, khoảng 90.000 tấn chất độc hóa học của Mỹ đã rải
xuống Việt Nam. Còn theo Allen Hassan trong tác phẩm “Không thể chuộc
lỗi” của ông thì: “Chất da cam được sử dụng như một phương tiện của cuộc
chiến tranh sinh hóa tại miền Nam - Việt Nam. Không có loại hóa chất
nào gây hại đối với con người một cách nặng nề và dai dẳng hơn nó. Người
Mỹ đã phun rải tổng cộng 25 triệu gallon (gần 80 triệu lít) gồm 15 loại
hóa chất khai hoang - diệt cỏ khác nhau lên một diện tích gần 3,6 triệu
mẫu Anh (tương đương 1,45 triệu hécta) rừng rẫy, làng mạc của Việt Nam,
trong đó riêng chất da cam là 11,6 triệu gallon (gần 44 triệu lít)…
Chất da cam làm rụng lá và giết chết cả các loại cây gỗ thuộc hàng thiết
mộc, nó còn để lại những di chứng âm ỉ, bức bối, chết người trên binh
lính của cả hai phía, và cả thường dân Việt Nam, trong đó có rất nhiều
phụ nữ và trẻ con… Trẻ con sinh ra tiếp tục bị khiếm khuyết, dị dạng bẩm
sinh và nhiều di chứng khác, trong đó có ung thư.
Chất
da cam có chứa chất cực độc là dioxin, gọi tắt là TCDD. Dioxin là chất
sinh ra từ quá trình sản xuất chất diệt cỏ và là loại hóa chất độc hại
nhất mà con người từng biết đến (có nhà khoa học cho rằng chỉ cần 85 gam
dioxin (lượng này chứa trong một thìa súp) là có thể giết toàn bộ dân
số một thành phố khoảng 8 triệu người). Một nhà nghiên cứu người Úc ước
tính rằng có khoảng 368 pound (tương đương 167 kg) dioxin đã bị rải
xuống Việt Nam trong vòng 6 năm… Hiện còn một lượng lớn dioxin đang nằm
trong đất và nước ở Việt Nam”.
Trong
cuộc chiến tranh Việt Nam, Níchxơn tàn bạo, dã man hơn Giônxơn. Mặc dù
chỉ có 3 năm nhưng số lượng thuốc nổ thời Níchxơn lớn hơn của 5 năm thời
Giônxơn. Tính trung bình hàng tháng thì thời Giônxơn là 59.704 tấn, còn
thời Níchxơn là 95.402 tấn (gấp 1,6 lần). Riêng cuộc ném bom “12 ngày
đêm” ở Hà Nội, Hải Phòng là 40.000 tấn. Tờ “Bưu điện Oasinhtơn” tháng
4-1972 đã đăng dòng tít: “Một tấn bom trong 1 phút, suốt 3 năm”. Theo
Roger Pic: “Mỗi phút cầm quyền, Níchxơn ném xuống hơn 1 tấn bom, ông ta
trở thành người đầu tiên từ trên trời cao gây ra những tàn phá hơn bất
kỳ một người nào khác trong lịch sử nhân loại…”.
Thế thì tại sao Đế quốc Mỹ thua dân tộc Việt để phải rước lấy nỗi hổ thẹn lớn lao như vậy?
Để trả lời được câu hỏi ấy, trước hết phải trả lời được câu hỏi: Vì sao cuộc chiến tranh ấy lại xảy ra?
Cho
dù nhận thức triết học về tự nhiên - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin
chưa hoàn hảo, nhưng lý tưởng của nó về một xã hội công bằng, không có
cảnh người bóc lột người là thực sự cao đẹp, phù hợp với ước mơ ngàn đời
của nhân dân cần lao các dân tộc toàn thế giới. Công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội của Liên bang Xô viết đã có những thành công to lớn, đáng
kể nhờ có sáng kiến “Chính sách kinh tế mới” (NEP) của Lênin, người kế thừa xuất sắc C. Mác.
Chính sách kinh tế ấy, cùng với quan niệm “Tư bản nhà nước”, dù biện hộ
thế nào đi nữa thì bản chất của nó vẫn là: Kinh tế tập trung - bao cấp
duy ý chí bắt buộc phải thỏa hiệp với kinh tế hàng hóa - thị trường tự
do nhưng mù quáng.
Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ Đà Nẵng
được di tản trước khi thành phố này thất thủ.
Từ ngày 28/3, hàng nghìn lính VNCH đã tập trung dọc bãi biển Đà Nẵng.
Nhà
báo Alan Dawson mô tả Đà Nẵng trong ngày 28/3: “Binh lính rã ngũ nổi
loạn, cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong khoái
lạc bắn giết và cướp bóc…”.
“…Các
tướng tá thì đang hoạch định các chuyến bay để bí mật trốn thoát… Suốt
đêm, sự huỷ hoại, vơ vét, trộm cướp và hãm hiếp tiếp diễn. Toà nhà lãnh
sự Mỹ, con voi trắng bị lột chỉ còn trơ cái vỏ”.
Quân lực VNCH đã để lại rất nhiều loại vũ khí hạng nặng trước khi đào thoát từ bờ biển.
Theo quan sát của phóng viên quốc tế, hàng chục xe tăng và cả một chiếc máy bay trực thăng đã bị vứt bỏ.
Ước tính, chỉ một phần nhỏ trong số 100.000 binh sĩ phòng thủ
Đà Nẵng được di tản trước khi thành phố này thất thủ.
Tình
cảnh tương tự xảy ra khi Sài Gòn được giải phóng ngày 30/4/1975. Hàng
vạn binh lính ở nơi đây đã vứt bỏ quân phục và tìm cách thoát khỏi thành
phố.
Binh lính Sài Gòn chen chúc trên một chuyến tàu quân sự rời khỏi Việt Nam.
Ngày
28-4-1975, Thành phố Sài Gòn (sau được đổi tên là Thành phố Hồ Chí
Minh) đã trở nên vô cùng hỗn loạn và bất an. Những người Mỹ cuối cùng đã
ý thức được sự thất bại không thể tránh khỏi và bắt đầu tìm cách đào
thoát khỏi miền Nam Việt Nam. Ảnh: Chiến sự ở cửa ngõ Sài Gòn ngày
28-4-1975
Một
nhóm binh lính hải quân đánh bộ Mỹ đang chạy trên đường băng mới bị
không kích của căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, yểm trợ tốp lính Mỹ cuối
cùng đồn trú tại đây lên máy bay đào thoát khỏi Sài Gòn.
Những
người dân tìm cách trèo lên bức tường cao 4m của Đại sứ quán Mỹ, hy
vọng có thể lên được những chuyến trực thăng cuối cùng chở những tốp
lính Mỹ cuối cùng, rời khỏi thành phố sắp bị thất thủ.
Trong
ảnh là máy bay trực thăng của lực lượng hải quân đánh bộ Mỹ từ các tàu
chiến đỗ ở ngoài khơi bay vào Đại sứ quán Hoa Kỳ đón những binh lính Mỹ
cuối cùng rời khỏi “chảo lửa” Việt Nam.
Đây
là những tốp người Mỹ cuối cùng, trong đó có không ít ký giả hoặc là ở
lại đưa tin về sự kiện lịch sử, hoặc là bị lỡ những chuyến bay trước đó,
rời khỏi Sài Gòn ngay trước khi quân giải phóng tiến vào.
Một
chiếc trực thăng của quân đội ngụy bị vỡ tan cánh quạt và suýt rơi
xuống biển khi đáp xuống tàu chiến Mỹ khiến binh lính hải quân đánh bộ
Mỹ rạp người đề phòng những mảnh vỡ của máy bay. Tuy nhiên tai nạn đã
không xảy ra.
Ảnh
chụp trên tàu chỉ huy chiến dịch sơ tán của Mỹ là tàu đổ bộ LCC-19 USS
“Blue Ridge”. Lính hải quân đánh bộ Mỹ đẩy những chiếc trực thăng đang
đỗ trên boong xuống biển để giành bãi đáp cho nhiều chiếc máy bay khác
đang bay vòng trên không hạ cánh.
Đám
đông dân chúng nam Việt Nam, trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ em rời
khỏi trực thăng của hải quân đánh bộ Mỹ vừa hạ cánh xuống tàu chỉ huy
USS “Blue Ridge”.
Chuyến di tản cuối cùng bằng đường thủy trên con tàu Nam Quan.
Sự
phát triển của nền kinh tế Liên Xô sau Cách mạng tháng Mười là tất yếu,
nhờ có Chính sách kinh tế mới của Lênin và tinh thần lao động quên
mình, sự nhiệt tình của Đại chúng cách mạng Nga đi xây dựng ước mơ - lý
tưởng cộng sản, chứ không phải nhờ vào cái gọi là “tính ưu việt” của chế
độ xã hội chủ nghĩa. (Chúng ta cho rằng chế độ tốt đẹp nhất mà loài
người có thể có là chế độ không đặt nặng vấn đề sở hữu, có thể vừa công
hữu vừa tư hữu sao cho phù hợp với từng giai đoạn, tùy thuộc vào từng
điều kiện, hoàn cảnh xã hội, có thể gọi tên, đặt nhãn mác cho chế độ đó
là “xã hội chủ nghĩa” cũng được, nhưng nó phải là sự kế thừa của chế độ
tư bản chủ nghĩa và bản chất của nó phải là hoàn toàn do dân và vì dân).
Giai
đoạn cuối cùng của công cuộc xây dựng kinh tế Liên Xô sau cách mạng (dần xa rời“Chính sách kinh tế mới” của Lênin!) đã
bộc lộ nhiều nhược điểm nhưng chưa đủ để nhận ra sai lầm về sự giáo điều
trong phương thức điều hành kinh tế kiểu mới thì chiến tranh thế giới
thứ hai đã nổ ra xóa nhòa tất cả. Cái hiện thực tốt đẹp do “duy ý chí”
mà có ấy (và nếu không có chiến tranh thì cũng chỉ có thể tồn tại trong
một giai đoạn hạn định như sau này đã thực sự xảy ra) đã là tấm gương
sáng cho nhiều dân tộc bị đọa đày trên thế giới hướng về.
Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt nước Đông Âu chịu sự ảnh hưởng
của Liên Xô, ở Châu Á thì có Trung Quốc và Bắc - Triều Tiên đã đi theo
con đường của chủ nghĩa xã hội. Sự hình thành một hệ thống các nước xã
hội chủ nghĩa mà khẩu hiện của nó là triệt tiêu tư bản tư nhân, xóa bỏ
tư hữu về tư liệu sản xuất, đã như một sự bành trướng của Cộng sản, làm
cho các nước tư bản, đứng đầu là Mỹ vốn dĩ đã căm ghét, hoảng sợ càng
thêm căm ghét, hoảng sợ. Chính điều này chứ không phải bất cứ điều gì
khác đã làm cho chính giới Mỹ không ký vào bản Hiệp định Giơnevơ, dựng
nên chính quyền bù nhìn ở miền Nam - Việt Nam, và từ đó mà gây ra cuộc
chiến tranh hết sức tàn khốc ở Việt Nam. Tội ác của Đế quốc Mỹ đối với
dân tộc Việt là không thể chối cãi.
Dân
tộc Việt làm cách mạng chỉ với một mục đích duy nhất là giành độc lập,
thống nhất nước nhà và xây dựng đất nước Việt Nam giàu có, hạnh phúc. Do
đó nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, trước tiên là phải đánh đuổi ngoại
xâm. (Bản chất của mọi kẻ xâm lược là ngoan cố cho nên một dân tộc bị áp
bức muốn tự giải thoát thì chỉ còn cách đứng lên đấu tranh không khoan
nhượng với kẻ xâm lược và hầu hết các trường hợp là phải đấu tranh vũ
trang). Trong tình hình thế giới lúc bấy giờ, muốn kiên quyết triệt để
cách mạng, thì phải nhận thức đấu tranh theo quan niệm của chủ nghĩa
cộng sản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản”.
Cuộc
chiến tranh Việt Nam đã lùi xa và thực tế lịch sử đã cho thấy Cộng sản
Việt Nam chẳng bành trướng đi đâu cả. Đông Dương chẳng chịu bất cứ tai
họa nào của cộng sản cả. Hơn nữa Cộng sản Việt Nam đã làm một việc hết
sức mã thượng là ân tình: cứu Cămpuchia thoát khỏi nạn diệt chủng “Khơme
đỏ” Pôn Pốt - Yêngxary.
Có
lẽ Shingo Shibata, giáo sư trường đại học tổng hợp Hosei (Tokyo -
Nhật), đã nhận định đúng về nguồn gốc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
khi ông viết trong “Những bài học của chiến tranh Việt Nam” như sau:
“Cuộc
chiến tranh ở Việt Nam nổ ra đúng vào điểm sâu sắc của những mâu thuẫn
nảy sinh ra từ sự xung đột trên qui mô toàn cầu giữa chủ nghĩa xã hội,
các phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản
chủ nghĩa và chủ nghĩa đế quốc thế giới, xoay quanh chủ nghĩa đế quốc
Mỹ.
Một
mặt, bản chất chính trị và quân sự của cuộc chiến tranh ở Việt Nam là
một cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, mang tính chất đế quốc, thực dân
mới và mặt khác, nó là cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam
giành độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước”.
Dưới đây là những nhận định của chính giới Mỹ vào buổi đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam
Năm
1953, Tổng thống Aixenhao (Eisenhower): “Để mất Việt Nam, mất Đông
Dương thì sẽ khó có thể phòng thủ được bán đảo Malaixia. Bằng bất cứ giá
nào đi nữa thì cũng phải chặn ngay nó (Cách mạng Việt Nam ) lại. Dù sao
cũng còn có rẻ hơn cái giá phải trả sau này”
Tháng
1-1954, cũng Aixenhao: “Mất một nước nào đó ở Đông Nam Á thì cuối cùng
sẽ dẫn đến việc mất cả Đông Nam Á rồi mất cả Ấn Độ, Nhật Bản và rút
cuộc: làm nguy hại đến sự ổn định và nền an ninh của Châu Âu”.
Ngày
4-4-1954, Aixenhao viết thư cho Sơcxin (Churchill, thủ tướng Anh khi
đó): “Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản thì hậu quả cuối cùng tác động
đến thế chiến lược toàn cầu của chúng tôi và các ngài, dẫn đến sự thay
đổi cán cân lực lượng trên toàn Châu Á và Thái Bình Dương. Điều đó có
thể là rất tai hại và tôi biết rằng tôi và cả ngài đều không thể chấp
nhận được”.
Ngày
5-10-1961, tổng thống Mỹ lúc này là Kennedy nói: “Hiện có hai nơi bị
chiến tranh đe dọa, đó là vùng Đông Nam Á và Béclin… Cuộc khủng hoảng ở
Béclin làm cho người ta để ý đến nhiều hơn và hình như Cộng sản muốn làm
như vậy. Vì là Cộng sản có thể làm các cường quốc phương Tây đặc biệt
chú ý đến Béclin, thì Cộng sản có hy vọng thâu đoạt được thắng lợi ở
Đông Nam Á. Phải liên kết mọi hiểm họa ở Đông nam Á với mọi hiểm họa ở
Béclin. Vấn đề Cộng hòa Việt Nam đang trở nên trầm trọng thêm vì những
sự đột nhập quá đáng của Cộng sản. Dân tộc Mỹ rất quan tâm đến cả hai
vấn đề này”.
Ngày
17-7-1963, cũng Kennedy: “Nếu Mỹ rút khỏi cuộc xung đột ở Việt Nam thì
sẽ xảy ra sự sụp đổ không những ở miền Nam Việt Nam mà cả ở toàn bộ vùng
Đông Nam Á”.
Ngày
26-3-1964, Mắc Namara: “Vai trò của Mỹ ở Nam - Việt Nam là chứng minh
trong cuộc thử thách này, thế giới tự do có thể đối phó được với cuộc
chiến tranh giải phóng như chúng ta đã từng đối phó có kết quả với Cộng
sản ở các mức độ khác”, và “Đông Nam Á có ý nghĩa chiến lược lớn trong
cuộc phòng thủ tiền tiêu của Mỹ. Vị trí của nó nằm trên các con đường
hàng không và đường biển mà một bên sườn là tiểu lục địa Ấn Độ và sườn
bên kia là Úc, Tân Tây Lan và Philippin; khống chế lối vào Thái Bình
Dương - Ấn Độ Dương. Nếu vùng này rơi vào tay cộng sản thì sẽ đặt ra một
mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho nền an ninh của Mỹ và cho gia đình các
quốc gia tự do, trong đó có chúng ta. Để bảo vệ Đông Nam Á, chúng ta
phải đương đầu với cuộc thử thách ở Việt Nam”.
Với
quan niệm và quyết tâm của Đế quốc Mỹ như vậy thì trước ý chí đấu tranh
không khuất phục của dân tộc Việt trên con đường đi đòi lại quyền tự
chủ và thống nhất tổ quốc của mình, chiến tranh là tất yếu. Đó là cuộc
đối đầu quyết liệt đến một mất một còn giữa chính nghĩa và phi nghĩa,
giữa một bên là cả một dân tộc tuy còn nghèo nàn lạc hậu nhưng khao khát
giành lại chủ quyền lãnh thổ, thoát kiếp bị nô dịch, và bên kia là đội
quân nhà nghề của nước đế quốc đầu sỏ, giàu có số 1, hùng mạnh thuộc
hàng nhất nhì thế giới nhưng mang bản chất đánh thuê,máy
móc, thiếu động lực chiến đấu. Nói một cách khác, đó là cuộc đối đầu
giữa sức mạnh có tính vô địch của kháng chiến toàn dân cứu nước và sức
mạnh có tính hung bạo của đế quốc xâm lược. Cuộc chiến tranh Việt Nam
trở nên vô cùng khốc liệt cũng là điều không thể tránh khỏi.
Tìm
hiểu ra nguyên nhân làm xảy ra cuộc chiến tranh Việt Nam thì cũng phần
nào thấy được nguyên nhân cơ bản làm cho Mỹ thua (cũng như trước đó đã
làm cho Pháp thua): Đế quốc Mỹ thua vì nó đã tiến hành một cuộc chiến
tranh phi nghĩa chống lại cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa và bất
khuất, sẵn sàng chết đến người cuối cùng.
Quân
xâm lược Mỹ là đội quân chính qui, trang bị đến tận răng, đủ loại
phương tiện chiến tranh, có áp đảo về vũ khí, bom đạn hỗ trợ, chi viện
tối đa, có thể là đối thủ đáng gờm của bât cứ đội quân nào trong một
cuộc chiến tranh phân rõ trận tuyến nhưng trở thành vụng về, bất lực
trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, một thế trận mà như Lão Tử
nói là “dàn trận mà như không thành hàng, xua đuổi mà không đưa cánh
tay ra, tuy có binh khí mà như không dùng binh khí, tuy có địch mà như
không chạm trán với địch”. Trong thế trận ấy, quân Mỹ buộc phải khi hành
quân càn quét thì tập trung cao độ và khi nghỉ ngơi, phòng ngự cũng
phải co cụm cao độ, đã gặp khó khăn, mệt mỏi trong việc “tìm và diệt”
mục tiêu, lại còn phải căng thẳng trong việc “quét và giữ” vì luôn trở
thành mục tiêu cho đối phương tấn công bất cứ lúc nào. Một khi đội quân
xâm lược ngày một tiêu hao và phương châm có tính quyết định đến thắng
lợi của nó là đánh mạnh thắng nhanh bị phá sản thì đội quân ấy sẽ bị sa
lầy, làm cho tính phi nghĩa của nó ngày càng bộc lộ, do đó mà nó cũng
mất dần sự ủng hộ, bị phân hóa, đồng thời lực lượng kháng chiến cứu nước
ngày một mạnh lên. Đế quốc Mỹ thua cuộc, phải rút khỏi chiến trường
Việt Nam trước hết là do dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất, biết
cách đánh giặc, sau đó là nhờ công lao cuộc đấu tranh, phản chiến của
nhân dân Mỹ trong lòng nước Mỹ và có cả phần công lao của nhân dân tiến
bộ toàn thế giới, trong đó có phần viện trợ vô cùng quí báu của Liên Xô
và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Trong
một cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Cu Ba là Walfredo Angulo, nhân
dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
đã nói rất xác đáng: “Khi bảo vệ lợi ích của nhân dân Pháp, Napôlêông là
một nhà quân sự có tài, liên tiếp chiến thắng. Nhưng khi ông ta xâm
lược Tây Ban Nha và Nga thì ông ta trở thành tướng chiến bại và kết thúc
sự nghiệp ở Oatéclô. Cũng vậy, Mắc Namara, Oétmolen và các tướng lĩnh
cao cấp khác của Mỹ đều là những người có bản lĩnh cao, những ông tướng
học được nhiều kiến thức tại các học viện quân sự nhưng họ đã thất bại
vì đã trở thành những công cụ phục vụ chủ nghĩa đế quốc. Đó là một thực
tế của thời đại chúng ta… Nhưng cuối cùng, cái quyết định vẫn là con
người. Họ tin vào sức mạnh của vũ khí và kỹ thuật, nhưng điều quyết định
vẫn là bản chất và mục đích của cuộc chiến tranh”.
Nguyên
nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có lẽ giản dị là
như thế thôi. Tuy nhiên nó vẫn mang tính thần kỳ bởi từ đó đến nay,
nhiều người vẫn chưa hiểu nổi. Chính Kítxinhgiơ đã viết trong hồi ký của
mình một cách băn khoăn: “Những nhà tâm lý học và xã hội học có lẽ ngày
nào đó sẽ giải thích cho chúng ta phải suy nghĩ như thế nào đây về cái
đất nước xa xôi và đơn điệu ấy, với những ngọn núi và những cánh đồng
xanh rì, bên một biển xanh biếc, một đất nước hàng ngàn năm nay đã thu
hút những người nước ngoài như một cái nam châm. Những người (nước
ngoài) này đến đây để tìm kiếm vinh quang và đã vỡ mộng, đi vào để rồi
trở ra với một thất vọng đắng cay. Có gì đã nhen lên trong dân tộc đó
những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy, để làm cho số người đông
như thế, từ các chân trời khác nhau đến để tìm đáp số cho điều bí ẩn và
đã bị đẩy lùi với một sự kiên trì man rợ. Sự kiên trì man rợ đó không
những đã xua đuổi những cố gắng của những người nước ngoài mà còn làm
nguy hại cho cả sự ổn định bên trong của cả nước họ nữa”.
Bức ảnh đi vào lịch sử: đám đông tranh nhau lên trực thăng trên 1 nóc nhà Sài Gòn
Đám đông trèo tường vào tòa đại sứ
Một chiếc CH-46 trên nóc tòa đại sứ
Một chiếc CH-53 đang cất cánh từ bãi đỗ xe. Đến buổi tối thì
đám lính gác phải huy động tất cả xe hơi bật đèn để chiếu sáng ở đây.
9 giờ sáng ngày 30.4.1975. Lính dù VNCH đóng tại Hóc Môn kéo chạy về
hướng trung tâm thành phố Sài Gòn. Bộ ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Đạt ghi
lại những khoảnh khắc lịch sử trong ngày 30.4.1975. 41 năm đã qua nhưng
những hình ảnh trên đường phố Sài Gòn ngày đó vẫn khiến nhiều người nhớ
mãi. “Các cụ già và người đi đường đều tập trung nhìn tôi cầm máy ảnh đứng
giữa đường tác nghiệp phóng sự. Trên người tôi lúc ấy dán chữ “Phóng
viên” thật to phía trước ngực và phía sau lưng. Chỉ vài phút sau, quân
Giải Phóng đi bộ tiến vào”, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đạt cho biết.
Bộ ảnh như thước phim quay chậm lại diễn biến của ngày 30.4.1975 lịch
sử, ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Đường phố Sài Gòn, cuộc sống
người dân trong khoảnh khắc ấy đã được ghi lại chân thật. Bộ ảnh này đã
có mặt trong triển lãm kỷ niệm 35 năm ngày thống nhất đất nước
(30.4.1975 – 30.4.2010).
Lần đầu tiên nhìn thấy Bộ Đội Giải Phóng. Khoảng 10 giờ sáng ngày
30.4.1975 quân giải phóng từ hướng Hóc Môn tiến vào trung tâm Sài Gòn
đang đi ngang qua đường Trương Minh Giảng (Lê Văn Sỹ hiện nay) quận 3.
Phía trước các anh là lính VNCH cởi áo đi trước. Những anh Bộ Đội năm
xưa trong ảnh nếu nhận được ảnh này thì quý biết bao.
10 giờ 30 sáng ngày 30.4.1975 những người lính VNCH cởi áo lính nhưng
còn đeo thẻ bài trên cổ đang di chuyển về hướng trung tâm Sài Gòn. Tất
cả đều là con của những người mẹ Việt Nam sinh ra
Còn Shingo Shibata, trong tác phẩm đã dẫn, thì viết:
“Lịch
sử thế giới chưa từng bao giờ thấy có cuộc chiến tranh xâm lược nào lại
bị nhân dân nhiều nước phản đối đến như thế và chưa từng thấy có cuộc
chiến tranh nhân dân nào lại được nhân dân các nước đó đoàn kết ủng hộ
đến như vậy”.
“Một
trong những sự kiện kinh ngạc nhất của thời đại chúng ta là nhân dân
Việt Nam, một nước bé nhỏ như vậy, đã có thể chiến đấu nhiều năm trời
chống lại cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc lớn nhất và mạnh nhất
trong lịch sử, đã chiến đấu cho đến thắng lợi trong cuộc chiến tranh hủy
diệt lớn nhất và tệ hại nhất xưa nay chưa từng thấy.
Khi
xét đến tổng số bom của các lực lượng Mỹ ném xuống tất cả các mặt trận
trong đại chiến thế giới thứ hai là 2 triệu tấn và ném xuống đất Nhật
Bản là 161.000 tấn so với 7.438 triệu tấn ném xuống Đông Dương, thì
chính sự tồn tại của xã hội Việt Nam và sự tiếp tục sống sót của nhân
dân Việt Nam phải được coi như một chuyện thần kỳ của thời đại chúng ta.
Hơn thế nữa, thậm chí vượt qua cả điều đó, nhân dân Việt Nam và chính
quyền của họ, mặc dù chịu đựng những hy sinh to lớn, vẫn duy trì được
một ưu thế chính trị và tinh thần bất biến, uy tín của họ ngày càng tăng
cả về quân sự lẫn ngoại giao. Họ luôn luôn giữ thế chủ động chống lại
chủ nghĩa đế quốc Mỹ và chế độ bù nhìn ở Sài Gòn.
Vì
vậy, chúng ta đặt câu hỏi tại sao nhân dân Việt Nam đã có thể làm ra
được một chuyện thần kỳ như vậy, một chuyện vô song trong lịch sử? Cố
nhiên, khoa học xã hội không thừa nhận những chuyện thần kỳ, vì hiện
tượng xã hội cần phải được nghiên cứu và làm sáng tỏ trên quan điểm khoa
học”.
“Để
giải thích sức chiến đấu của nhân dân Việt Nam, nhiều người đã chỉ ra
tinh thần kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, “tinh thần dân tộc” của Việt
Nam và “chủ nghĩa dân tộc” của Việt Nam. Rõ ràng là trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa Đế quốc Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam đã biểu thị đầy
đủ sức mạnh tinh thần ghê gớm của họ, tinh thần hy sinh, chịu đựng và
sáng tạo của họ. Họ đã cho chúng ta một tấm gương sáng, vô song về sức
mạnh tinh thần của con người, thể hiện đến mức tối đa những khả năng
tiềm tàng mà chỉ có những khả năng đó mới có thể thực hiện được một kết
quả kỳ diệu như vậy trong những hoàn cảnh khó khăn quá sức tưởng tượng,
những thành tựu đó chắc chắn sẽ được truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác như một bản anh hùng ca cần được ghi lại trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, câu hỏi của chúng ta là sức mạnh tinh thần đó đã được tạo nên
và phát huy hết mức như thế nào?...
Nguyễn
Khắc Viện, nhà sử học nổi tiếng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
nhấn mạnh ý nghĩa của thực tế là suốt mấy ngàn năm, nhân dân Việt Nam đã
cần cù và kiên nhẫn xây dựng đê, kênh, rạch, hồ, ao và đắp đê chế ngự
lũ lụt, hạn hán và bão, cày cấy ruộng đất của họ như thể bằng máu và mồ
hôi của mình. Cuộc đấu tranh này, diễn ra hàng ngày qua bao nhiêu thế
kỷ, đòi hỏi phải có tổ chức, và cũng trong suốt hai ngàn năm, người Việt
Nam đã phải đánh lui nhiều cuộc xâm lăng của nước ngoài, mỗi lần đều
phải huy động tất cả mọi nghị lực…”.
Những người lính bộ binh Giải Phóng quân đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
Chiếc xe tăng 843 cùng những người lính Giải Phóng quân trước sảnh lớn của Dinh Độc Lập. Ảnh: Francoise de Mulder
Những
người lính Giải Phóng đang vui sướng và phất cao lá cờ của Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trên chiếc xe tăng, sau
khi đã chiếm được Dinh Độc Lập. Ảnh: Bettman
Phút
thư giãn của những người lính Giải Phóng quân. Mệt mỏi nhưng hạnh phúc,
họ thoải mái hút thuốc ngay trong phòng làm việc của Tổng thống miền
Nam Việt Nam sau khi đã chiếm giữ dinh Độc lập. Ảnh: Bettman
Những
người Việt Nam Cộng hòa đầu hàng và đang bị lực lượng Giải Phóng quân
giám sát trong khuôn viên Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
Vị
Tổng thống cuối cùng của chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đầu
hàng quân Giải Phóng trong Dinh Độc Lập. Ảnh: Jacques Pavlovsky
Đông đảo người dân Sài Gòn đã kéo về Dinh Độc Lập để chứng kiến mọi chuyện trong ngày 30-4-1975. Ảnh: Francoise de Mulder
Cuối
cùng, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ ngót 30 năm
của dân tộc Việt chống hai thế lực xâm lăng hùng mạnh, lần lượt là thực
dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ, nói theo Xalăng (Raul Salan), viên tướng
Pháp ở Việt Nam lâu nhất và hiểu Việt Nam nhiều nhất, đã từng là Tổng tư
lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp toàn Đông Dương kiêm Cao ủy Pháp ở
miền Bắc Việt Nam, trong cuốn “Đông Dương đỏ” của mình thì: “Bí quyết của
sức kháng chiến phi thường của nhân dân Việt Nam, phải được tìm kiếm
trong tổ chức lao động hợp tác của họ, đã phát triển trong quá trình
4.000 năm đấu tranh với thiên nhiên và truyền thống chiến tranh nhân dân
được thể hiện trong những cuộc kháng chiến của họ chống xâm lăng trước
đây. Trên cơ sở những nhân tố đó, phải có một lãnh tụ tài giỏi, một tập
thể lãnh đạo kiên cường, quả cảm, tiến hành một cuộc cách mạng triệt để,
liên tục biết phá vỡ những tổ chức chính quyền và hệ tư tưởng cũ, tổ
chức chính quyền mới, đề xướng một hệ tư tưởng mới có khả năng huy động
được mọi lực lượng”.
Cuộc
chiến tranh Việt Nam đã lùi sâu vào dĩ vãng nhưng những bài học mà nó
để lại cho thế giới từ cả hai phía vẫn còn nóng bỏng tính thời sự. Có
rất nhiều học giả từ trước đến nay đề cập đến vấn đề này. Jean
Christophe Oberg, đã từng là đại sứ Thụy Điển ở Hà Nội, có bài viết
chúng ta cho là rất hay. Chúng ta sẽ trích vài đoạn từ đó:
“…
Cuộc kháng chiến khốc liệt của dân tộc Việt Nam chống lại một siêu
cường quốc giàu có nhất, mạnh nhất thế giới phải được khắc sâu như một
bài học không thể quên được đối với tất cả các siêu cường quốc và các
nước khác hằng mơ ước đạt tới (siêu cường). Nước Việt Nam, mặc dầu lạc
hậu về kinh tế và kỹ thuật, đã chứng minh được rằng một dân tộc nhỏ bé
có thể huy động lực lượng và toàn bộ phương tiện cần thiết để không thể
bị quật ngã khi nền độc lập của nó bị đe dọa”.
“Đây
là bài học có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai, với
những lý do khác nhau, chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình, để
thực sự bảo vệ được nền độc lập và thống nhất dân tộc mình…”.
“Cuộc
chiến tranh của Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc tạo ra một trật
tự mới có tính chất bình đẳng hơn giữa các nước lớn, nhỏ và trung bình.
Ngày nay, những ai muốn và đòi củng cố nền hòa bình thế giới theo những
nguyên lý, những học thuyết của họ, những kẻ đó sẽ phạm sai lầm lớn khi
ứng dụng những định lý có tính chất ảo tưởng của họ mà không muốn nhớ
lại vực thẳm Việt Nam”.
“Bây
giờ có thể chúng ta đã có đầy đủ lý do, mặc dù đã không biết được điều
này sớm hơn, suy nghĩ trong chốc lát, để bày tỏ lời ca ngợi hàng triệu
người Việt Nam vô danh, với vô vàn đau thương và hy sinh của họ, với giá
của máu họ, đã đóng góp để tạo ra một trật tự mới của thế giới, mà
trong đó Đông và Tây, Bắc hay Nam sẽ nhận thấy sự cần thiết tương trợ
lẫn nhau chung sống hòa bình”.
Trong
tác phẩm “Không thể chuộc lỗi” của Allen Hassan, bác sĩ dân sự người
Mỹ, từng có mặt tại Nam - Việt Nam năm 1968 làm công việc chữa trị nhân
đạo, chúng ta đọc được những đoạn này:
“Nước
Mỹ nhớ rất kỹ những gì người khác gây cho họ nhưng lại quên rất nhanh
những gì họ đã gây ra cho những người khác. Người chết không thể sống
dậy, người tàn tật mãi mãi tàn tật, và nỗi đau mãi mãi là nỗi đau…”.
“Ở
Việt Nam, chúng ta tiến hành một cuộc chiến tranh để ngăn chặn Cộng
sản, nhưng chiến tranh đã không ngăn chặn được Cộng sản. Chúng ta gây
thiệt hại to lớn cho nhân dân Việt Nam và cho chúng ta. Tại Việt Nam,
quân đội chúng ta chú trọng đến việc đếm xác chết, nhưng trong những
cuộc chiến tranh sau này như ở Irắc, thì lãnh đạo quân sự của chúng ta
không còn bận tâm đến việc đếm xem có bao nhiêu thi thể thường dân tử
vong nữa. Pascal nói: “Con người không bao giờ làm điều ác một cách hoàn
toàn và vui vẻ như khi họ làm điều đó vì một đức tin tôn giáo”. Đã đến
lúc phải quan tâm tới khái niệm về nghiệp chướng của người châu Á, theo
đó, những điều chúng ta đã gây ra cho thế giới này một lúc nào đó sẽ trở
lại với chúng ta…”.
“…
Sự hiểu biết sẽ cải hóa và làm con người trở nên nhân bản. Lẽ phải làm
cho chúng ta hòa nhã, nhưng thành kiến thì tận diệt mọi khuynh hướng hòa
diu và dẫn đến chiến tranh. Nếu như chúng ta không thay đổi cách xử sự
và trở lại là một đất nước hòa bình, hào phóng, sâu sắc và chu đáo, thì
chúng ta sẽ tiếp tục đặt cược số phận của mình vào một ván bài, để rồi
tự hủy hoại chính mình, hủy hoại cả hành tinh với vũ khí hạt nhân, vũ
khí giết người hàng loạt, nước và thực phẩm bị nhiễm độc bởi chiến tranh
sinh hóa.
Chúng
ta chưa chuộc lỗi với những thiệt hại mà bom đạn và hóa chất của chúng
ta đã gây ra tại Việt Nam. Tôi hy vọng rằng một ngày nào đó, chúng ta có
thể giúp đất nước tươi đẹp này tẩy xóa hết hóa chất độc hại, những bom
mìn chưa nổ, và rồi tạ lỗi cùng nhân dân Việt Nam về tất cả những gì
chúng ta đã gây nên. Tôi hy vọng là chúng ta sẽ không quá kiêu hãnh và
ngạo mạn để có thể thốt lên: “Chúng tôi chân thành xin lỗi!”, bằng tiếng
Việt”.
“Theo
truyền thống, người Mỹ tán thành và có thiện chí đối với các cuộc chiến
tranh giành tự do hoặc các cuộc chiến tranh nhằm thiết lập một thể chế
dân chủ. Chúng ta là nền dân chủ đầu tiên của Tân Thế Giới. Sức mạnh và
ảnh hưởng của chúng ta lớn hơn bao giờ hết. Nhưng những hành vi quá
khích đi cùng sự gây hấn và chinh phục sẽ làm người ta nhận ra sự hung
bạo, làm cho người ta chán ghét, ghê tởm bởi những vụ thảm sát thường
dân dưới danh nghĩa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Những lời dối trá về sự kiện
Vịnh Bắc Bộ đã đưa những công dân chúng ta đến chiến trường Việt Nam, và
những lời cáo giác dối trá về vũ khí giết người hàng loạt đã đưa chúng
ta đến với chiến trường Irắc. Không còn nghi ngờ gì nữa, thái độ ngạo
mạn của Hoa Kỳ đối với các nước thuộc thế giới thứ ba đang đưa chúng ta
vào một vòng tròn vô tận của các cuộc chiến tranh không bao giờ dứt…”.
“Chủ
nghĩa khủng bố sẽ dần tiêu tan trên trái đất nếu như các cường quốc,
những nước giàu mạnh đối xử với các nước thứ ba và nguyên thủ của họ
bằng sự tôn trọng thực sự, và cùng nhau làm việc để đạt được mục tiêu
chung. Tôn trọng đức tin của mỗi một dân tộc cũng như lịch sử của họ… Sự
cao quí của người Mỹ không phải là sự cao quí của một đức vua hay của
một tư lệnh hạm đội, mà là sự cao quí dân chủ rộng mở với bản tính tự
nhiên, làm cho hầu hết công dân chúng ta đặc biệt thích làm điều tốt
lành”.
“…,
nhà khoa học Pháp vĩ đại Louis Pasteur đã nói trong một bài diễn văn
ngày 27-12-1892: “Tôi có niềm tin chắc chắn rằng khoa học và hòa bình sẽ
chiến thắng sự dốt nát và chiến tranh, rằng các quốc gia sẽ liên kết,
không phải để hủy diệt mà là để xây dựng, và rằng tương lai sẽ thuộc về
những ai cống hiến hết mình cho nhân loại”.
Bức ảnh đã đi vào tâm trí của nhiều thế hệ, "Mẹ con ngày gặp lại" của nhà báo Lâm Hồng Long
Câu chuyện người tử tù
Ông Lê Văn Thức sinh năm 1941 tại Châu Thành- Bến Tre. Đây là mảnh
đất cách mạng với phong trào Đồng Khởi vào những năm 60 nên ông Thức sớm
được anh em đồng chí giác ngộ. Sau khi thi tú tài, ông Thức đã vào căn
cứ hoạt động. Ông được kết nạp Đảng năm 1966 rồi những người chỉ huy vận
động ông trở lại để đăng lính Cộng hòa với nhiệm vụ của một tình báo
viên.“Khi biết tôi bỏ căn cứ để về đăng lính, má tôi bả la dữ lắm. Bả
cho rằng tôi không chịu được gian khổ mới bỏ về. Vì không thể nói với má
là tôi về để cài cắm trong lòng địch nên tôi chỉ nói với má là má an
tâm đi, dù làm công việc gì con cũng không bao giờ để cho má phiền lòng
và luôn sống tốt theo lời răn của má”- Ông Thức kể.
Sau khi đăng lính, ông Thức được chọn đi học trường Sỹ quan bộ binh Thủ
Đức rồi trở về làm chỉ huy một trung đội thuộc Tiểu đoàn 3-Trung đoàn
11-sư đoàn 7. Như một sỹ quan mẫn cán, ông từng chỉ huy trung đội đi
tuần, càn quét vùng giải phóng. Dĩ nhiên mọi bước đi của trung đội do
ông chỉ huy được quân Giải phong bám sát và cùng “hợp đồng tác chiến”
nên suốt 6 tháng càn quét, trung đội của ông toàn gặp cảnh vườn không
nhà trống. Những trận càn đó đã được chỉ huy quân Việt Nam Cộng hòa đánh
giá cao và sau đó, ông Thức được cử tham gia khóa học “huấn luyện tình
báo chống chiến tranh du kích" ở Malaysia. Ông Thức kể: “Thời điểm đó
chuẩn bị bước vào chiến dịch Mậu Thân, lẽ ra tôi phải ở nhà để tham gia
chiến dịch. Nhưng khi biết tôi được kẻ địch đưa đi học các đồng chí chỉ
huy động viên tôi đi bởi chiến tranh còn dài, việc đi học sẽ giúp tôi
lấy thêm niềm tin và đi sâu hơn vào đội ngũ của kẻ địch. Sau 3 tháng
học, tôi về nước thì chiến dịch Mậu Thân đã kết thúc.Tôi với quân hàm
Thiếu úy Việt Nam cộng hòa, được điều về làm sĩ quan huấn luyện chiến
thuật tại cụm căn cứ quân sự Bình Đức ở Mỹ Tho - cơ quan đầu não của Sư
7”.
Với vị trí mới, ông Thức có cơ hội tiếp cận khu quân sự Bình Đức để vẽ
bản đồ chi tiết của khu căn cứ này. Theo ông Phương Linh- Nguyên cán bộ
Binh vận khu 8, người trực tiếp chỉ huy ông Thức cho biết, vào khoảng
tháng 5 quân Giải phóng sẽ tấn công Bình Đức và tấm bản đồ đó sẽ là cơ
sở quan trọng để xây dựng chiến dịch. Sau hơn một tháng điều nghiên, ông
Thức hoàn tất tấm bản đồ và gửi vào hòm thư bí mật. Tuy nhiên, ông Thức
không ngờ rằng chỉ vì một sơ suất nhỏ của những người liên lạc, vị trí
sỹ quan tình báo quân Giải phóng của ông Thức đã bị lộ. Sau một tuần
giao tài liệu, ông Thức bị bắt và di lý về trại tạm giam Mỹ Tho (Tiền
Giang). Ông Thức kể: “Khi chúng ném tấm bảo đồ cho tôi xem, tôi biết
mình đã bị lộ. Chúng tra tấn tôi nhiều lắm nhưng tôi vẫn không nhận vì
ngoài bằng chứng là tấm bản đồ, chúng có gì nữa đâu. Thế nhưng, tháng
4/1968, chúng đưa tôi ra tòa án quân sự, tuyên án tử hình với tội danh
"Hoạt động nội tuyến cho Cộng sản". Sau đó tôi được di lý về khám Chí
Hòa (Sài Gòn) một thời gian. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, tôi bị đưa
ra Côn Đảo giam trong khu dành riêng cho tử tù”.
Mãi sau này, ông Thức mới biết nguyên nhân mình bị lộ. Người liên lạc đã
không sao chép để xóa dấu vết bản đồ mà lại chuyển luôn bản chính qua
hòm thư bí mật cho ông Tư Năng - Nguyên Phó ban Binh vận khu 8. Trên
đường đưa bản đồ cho Bộ chỉ huy quân Giải Phóng, ông Tư Năng đã bị địch
bắn chết. Khám xét hành lý, quân địch đã tìm thấy tấm bản đồ có nét chữ
của ông Thức nên mới phát hiện ra: Thiếu úy Lê Văn Thức là Việt cộng nằm
vùng. Tuy nhiên do ông Thức không khai nên kẻ địch không lần theo dấu
của đường dây tình báo này được và đành tuyên án tử hình ông. Nhưng thời
điểm đó, phía quân Giải phóng cũng đang giam giữ một số sỹ quan và các
cố vấn quân sự Mỹ nên chúng muốn giữ ông Thức lại để trao đổi con tin.
Lê Văn Thức và bức ảnh nổi tiếng
Tháng 4/1975, không khí của chiến dịch Hồ Chí Minh lan tới Côn Đảo. Bên
cạnh sự hân hoan, những người tử tù còn phải đối mặt với nỗi lo khác: Kẻ
địch đã đào sẵn những chiếc hầm khổng lồ nhằm thủ tiêu và chôn xác hết
những người tử tù, tù chính trị. Nhưng khí thế tiến công mạnh mẽ của
quân Giải phóng ở toàn miền Nam khiến cho quân địch khiếp sợ, nhiều cấp
chỉ huy tại Côn Đảo đã “bỏ của chạy lấy người”. Bên cạnh đó, đảo nhờ
công tác binh vận tốt nên một số binh sỹ đã buông súng, ngả theo hướng
cách mang và kế hoạch tàn ác của kẻ địch thất bại. Ngày 1/5 toàn bộ các
phân khu trại được mở cửa và Đảo uỷ lâm thời được thành lập, thay mặt
cho Chính quyền cách mạng quản lý mọi việc tại Côn Đảo. Ngày 4/5, tàu
Hải quân chở quân Giải phóng cập Côn Đảo, chính thức tiếp nhận mảnh đất
Côn Đảo về tay chính quyền cách mạng và tổ chức cho những người tù về
đất liền.
Ông Thức kể với gần 10 ngàn người tù tại Côn Đảo thì tàu Hải quân không
thể chở hết trong một lần. Vì thế Ban chỉ huy tàu ưu tiên cho những
người tù già yếu, bệnh tật, phụ nữ hay các các tử tù về trong chuyến đầu
tiên. Ông Thức là một trong 36 tử tù còn lại được bước xuống tàu, cùng
với khoảng hơn 400 người tù nữa được về đất liền vào tối 4/5. Sáng ngày
5/5 tàu cập cảng Vũng Tàu, tất cả mọi người được đưa vào nghỉ tạm tại
Trung tâm huấn luyện cảnh sát ở khu Rạch Dừa (phường 10- TP Vũng Tàu).
“Khoảng 10 giờ ngày 5/5, tôi đang chờ để làm thủ tục thì nghe có tiếng
loa gọi ai là Lê Văn Thức, ra có người nhà gặp. Tôi bước ra sân và ngỡ
ngàng khi thấy má tôi đứng đó. Hơn 7 năm qua, má tưởng tôi đã chết và
giờ gặp lại, má chỉ biết khóc. Tôi cũng nghẹn ngào vì tưởng không bao
giờ gặp má nữa. Hai má con tôi cứ ôm nhau khóc miết, đâu ngờ có anh
nhiếp ảnh nhìn thấy chúng tôi và chụp tấm ảnh đó”- Ông Thức kể.
Lê Văn Thức bị tuyên án tử hình tại Toà án quân đội Việt Nam cộng hoà năm 1968
Lê Văn Thức trong
màu áo quân Giải phóng
Còn sau này nhiếp ảnh gia Lâm Hồng Long kể lại: Vào ngày 5/5/1975, được
tin có chuyến tàu chở 36 tử tù từ Côn Đảo về đất liền cập bến Rạch Dừa,
ông được tòa soạn cử tới để ghi lại sự kiện này. Khi đang đứng trước
cổng khu nhà nơi đoàn nghỉ, chợt ông nghe thấy tiếng kêu nghẹn ngào của
một bà mẹ: "Thức con ơi! Má cứ tưởng con chết rồi...". Ông vội quay ra
nhìn thì thấy một bà mẹ tóc đã bạc đang ôm choàng người thanh niên trẻ
và khóc. Người con trai cũng khóc. Cảm động trước tình mẫu tử, nhà nhiếp
ảnh nhanh tay bấm liền mấy kiểu. Tấm ảnh đã nhanh chóng được lan truyền
khắp thế giới như một biểu trưng hào hùng, sinh động nhất cho thời khắc
lịch sử - Thời khắc của đất nước Việt Nam thống nhất.
Sau ngày gặp mẹ, ông Thức trở về quê, làm việc như một người bình
thường. Với mác Thiếu úy ngụy quân, ban đầu ông Thức cũng gặp khó khăn
trong công việc nhưng nhờ những người đồng đội cũ, ông Thức được trả lại
danh dự của mình. Ông Thức làm cán bộ phòng Công thương - nghiệp huyện
Châu Thành một thời gian, sau đó làm Bí thư Đảng ủy xã Tam Phước, làm
Huyện ủy viên Châu Thành và nghỉ hưu năm 1991. Suốt bao năm đó, ông hoàn
toàn không biết gì về bức ảnh chụp ngày nào. Cũng trong năm 1991, tại
Đại hội Nhiếp ảnh quốc tế được tổ chức tại Tây Ban Nha, bức ảnh "Mẹ con
ngày hội ngộ" được Liên đoàn nhiếp ảnh quốc tế trao Bằng Danh dự. Từ
giải thưởng đó, nhiều người đi tìm hiểu các nhân vật trong bức ảnh và do
đó, ông Thức mới biết hai má con mình là nhân vật trong tấm ảnh nổi
tiếng. (cuối D)
***
Cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước dành thắng lợi của dân tộc Việt Nam hiếm
có ai trên thế giới tin là hiện thực vì nó mang tính thần thánh. Chúng
ta gọi đó là cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc ta. Đã là chiến
tranh thần thánh thì phải bao gồm những hành động và những trận đánh
mang tính thần thánh. Đọc phần trên chúng ta đã cảm nhận được phần nào.
Sau đây chúng ta tiêp tục kể một số nữa trong danh sách đó.
1/Chiến thắng Ấp Bắc (02/01/1963):
Trận Ấp Bắc
là một trận đánh quy mô khá lớn diễn ra vào giai đoạn đầu của chiến
tranh Việt Nam với kết quả là chiến thắng lớn đầu tiên của quân vũ trang
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (phía Hoa Kỳ và Việt Nam
Cộng hòa gọi là Việt Cộng) trước đội quân chính quy của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được cố vấn Mỹ chỉ huy.
Những
cuộc giao tranh nhỏ, phát triển trong chiến tranh Việt Nam, đã bắt đầu
cuối những năm 1954 với chiến dịch chống cộng của Ngô Đình Diệm. Vào
thời điểm đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mong muốn cuộc tổng tuyển cử
theo Hiệp định Genève, sẽ thống nhất 2 miền Nam Bắc. Vì không muốn quân
đội Mỹ chuyển sang can thiệp trực tiếp, nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
chủ trương tránh giao tranh bằng mọi giá. Nhưng chiến dịch chống cộng
của Diệm đã khiến điều này không thể thực hiện được.
Trong những năm 1959-1960, thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược
của Đảng đối với cách mạng Việt Nam ở miền Nam, nhân dân miền Nam đã
vùng lên mạnh mẽ, tiến hành phong trào Đồng khởi, giáng một đòn nặng nề
vào chính sách xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, làm lung lay
tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm
Trực thăng Mỹ đổ quân.(Nguồn: Internet)
Thất bại liên tiếp trên các chiến trường nên đế quốc Mỹ buộc phải chuyển
sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Chiến tranh đặc biệt là một hình thức chiến tranh
xâm lược gián tiếp, trong đó một cường quốc – tiêu biểu là Hoa Kỳ – sử
dụng quân đội của chính quyền tay sai địa phương làm lực lượng tác chiến
chủ lực, dưới sự chỉ huy, huấn luyện, trang bị và yểm trợ toàn diện về
kỹ thuật, tình báo, hậu cần và không quân. Biện pháp chính của địch là
bình định, dồn dân lập ấp chiến lược trên quy mô lớn, áp dụng chiến
thuật tân kỳ “trực thăng vận”, “thiết xa vận”.
Từ giữa năm 1961, địch đã
gây nhiều tổn thất cho quân và dân ta nhưng ta đã kịp thời nghiên cứu
để có cách ứng phó hiệu quả. Sau những thất bại trong các cuộc càn quét
cuối năm 1962, khi phát hiện lực lượng chủ lực của Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam trú quân tại Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho
(nay là xã Tân Phú, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), Mỹ và ngụy quân
tay sai cấp tốc điều động lực lượng, phương tiện chiến tranh, tổ chức
cuộc hành quân càn quét mang mật danh “Đức Thắng 01-63” nhằm tiêu diệt
lực lượng của ta.
Khẩu đại liên được dùng để bắn rơi 8 máy bay Mỹ trong trận Ấp Bắc. (Nguồn: Internet)
Lực lượng phía VNCH trong trận Ấp Bắc như sau:
Bộ binh: 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7, 2
đại đội biệt động quân, 4 đại đội lính bảo an biệt kích, 4 đại đội lính
bảo an tỉnh, 3 đại đội dân vệ biệt kích, 1 tiểu đoàn lính dù.
Tàu xe: 3 tàu gồm FOM, LCVP, LCM, 13 xe lội nước M113.
Máy
bay: 2 chiếc B26, 6 chiếc khu trục, 4 chiếc L19, 14 chiếc C47, 20 máy
bay trực thăng gồm: 10 chiếc H21, 5 chiếc H34, 5 chiếc UH1A.
Chỉ huy trưởng hành quân đóng tại sân bay
Thân Cửu Nghĩa (Chi khu Tân Hiệp) do đại tá Bùi Đình Đạm chỉ huy; cố vấn
cuộc hành quân là thiếu tá John Paul Vann, cố vấn của Sư đoàn 7 VNCH.
Sau
khi trận chiến nổ ra có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn 4,
đến vào lúc 9 giờ sáng. Đại tướng Lê Văn Tỵ đến lúc 3 giờ chiều.
Chỉ
huy trực tiếp mặt trận chính do Thiếu tá Lâm Quang Thơ, Tỉnh trưởng
kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường đóng ở Thuộc Nhiêu (xã Dưỡng Điềm).
Thiếu tá Tươi, tỉnh phó nội an, chỉ huy pháo binh đóng ở Lộ 33.
Thiếu tá Bách chỉ huy trực thăng đổ bộ đóng ở khu di cư Long Định.
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có 2 đại đội bộ
binh và khoảng 30 du kích Ấp Bắc. Hầu hết quân số chỉ trang bị súng
trường và lựu đạn, vũ khí cỡ lớn duy nhất là 1 khẩu súng cối 60mm làm
hoả lực chi viện. Cụ thể:
2 đại đội bộ binh (đại đội 1/tiểu đoàn 514
địa phương quân tỉnh do Đại đội trưởng Mười Điệp chỉ huy, đại đội 1/tiểu
đoàn 261 chủ lực Khu do Đại đội trưởng Bảy Đen chỉ huy), 1 trung đội
trợ chiến của tiểu đoàn 261, 2 tiểu đội đặc công của đại đội 3 (tiểu
đoàn 261), tổ chức thành tiểu đoàn ghép do đồng chí Võ Văn Điều (Hai
Hoàng), tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 261 chỉ huy.
1 trung đội bảo vệ căn cứ tỉnh và 2 tổ công binh thủy săn tàu bảo vệ căn cứ.
1 trung đội địa phương quân huyện Châu Thành.
Du kích các xã Điềm Hy, Tân Phú, Tân Hội gồm khoảng 30 đồng chí.
Nếu so sánh tương quan lực lượng một cách đơn thuần thì khi bước vào
trận chiến, tình thế của Quân giải phóng rất khó khăn. Bởi đây là trận
đánh quân đội Sài Gòn chủ động tiến công; trận đánh diễn ra trong một
địa bàn hẹp, trống trải, bốn bề là kênh rạch và đường lộ, thuận lợi cho
quân Sài Gòn thực hiện thế hợp vây; quân địch chiếm ưu thế hơn hẳn ta về
lực lượng (tỷ lệ 6/1), lại áp đảo về vũ khí, trang bị. Quân đội Sài Gòn
sử dụng hỏa lực dày đặc của hàng chục khẩu pháo hạng nặng, cối 106,7mm,
bom, rốckét, napan... của phi cơ, trong khi Quân giải phóng chỉ có 1
đại liên, 1 súng cối 60mm, còn lại là súng trường, vài khẩu trung liên,
một số “Tromblon” (phễu gắn đầu súng trường, dùng đạn mã tử để phóng lựu
đạn) và thủ pháo, lựu đạn.
Chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ trong trận Ấp Bắc. Ảnh tư liệu/qdnd.vn Sáng sớm ngày 2/1/1963, nhiều máy bay trinh sát L-19
của Mỹ đã quần lượn trên bầu trời Ấp Bắc, hướng dẫn đường tiến quân cho
bộ binh và cơ giới càn quét vào ấp. 2 Đại đội bảo an từ Điền Hy bắt đầu
xung phong vào xóm Hội Đồng Vàng, xã Tân Phú nhưng bị chặn đánh và
thiệt hại nặng, một số khác bị sa xuống hố chông, cạm bẫy, mìn vướng nổ
của du kích.
Cánh quân khác tiến công bằng đường thủy theo kênh Nguyễn Tấn Thành gồm
13 tàu chiến chở 2 Đại đội biệt động quân cũng bị trung đội du kích và 2
đội công binh săn tàu đánh chặn quyết liệt. Bằng thủy lôi tự tạo và hỏa
lực bố trí sẵn trong các công sự, hố bắn dọc theo hai bờ kênh, quân
Giải phóng đánh chìm 1 tàu và đánh hỏng một số chiếc khác. Đoàn tàu
chững lại, sau đó tìm đường tháo lui.
Sau
đợt tiến công đầu tiên thất bại, quân đội Sài Gòn sử dụng chiến thuật
"trực thăng vận", dùng 5 máy bay trực thăng vũ trang loại UH-1A làm
nhiệm vụ yểm trợ cho 10 chiếc trực thăng chở quân loại CH-21
đổ 2 Tiểu đoàn bộ binh xuống phía sau ấp, rồi hình thành 2 gọng kìm bao
vây lực lượng quân Giải phóng bên trong, trước tiên sẽ dùng một số nhỏ
trực thăng đổ bộ xuống trước để thăm dò phản ứng. Phán đoán được ý đồ
của đối phương, quân Giải phóng triển khai kế hoạch nghi binh lừa địch,
giữ bí mật vị trí, không nổ súng.
Quân Giải phóng áp dụng nguyên tắc không bắn máy bay trinh sát
và chờ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Sau một hồi thăm dò không thấy
quân Giải phóng phản ứng, các máy bay chở quân liên tục đỗ xuống các vị
trí đã được tính toán sẵn. Lần lượt ba chiếc trực thăng chiến đấu xuất
hiện, bắt đầu bắn súng máy và rocket.
Chờ trực thăng tới gần, quân Giải phóng khai hỏa hàng loạt súng tự động
và súng trường từ kênh tới. Bằng cách đánh phục kích này, đến trưa ta
loại khỏi vòng chiến đấu 5 chiếc trực thăng. Đợt tấn công thứ 2 bằng trực thăng đã thất bại.
Trực thăng CH-21 bị hỏng tại trận Ấp Bắc
Trực thăng của quân đội Mỹ bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc. Ảnh tư liệu/qdnd.vn
Các
toán quân của Sư đoàn 7 Việt Nam Cộng hòa tiến vào ấp
từ phía bắc đã không quay lại để cứu đại đội dự phòng và các tổ lái trực
thăng. Đến 12 giờ 15 phút, cuối cùng tiểu đoàn Sài Gòn đến Tân Thới.
Rồi trước 13 giờ những chiếc xe thiết giáp M113 tiến lại dần dần trên
đồng ruộng. Quân Giải phóng không có vũ khí chống tăng nên không thể
chiến đấu chống xe bọc thép M113 có hiệu quả. Để truyền cho các toán
quân can đảm đứng lên chống xe bọc thép với vũ khí nhẹ và lựu đạn, các
chỉ huy của quân Giải phóng đã lên một bản danh sách những điểm yếu của
xe bọc thép:
người bắn súng máy trên đỉnh đứng sau giá súng để lộ từ thắt lưng trở
lên, hoặc có thể bắn trúng lái xe qua khe ngắm, những chiến sĩ dũng cảm
thì có thể tiếp cận rồi ném lựu đạn lên nóc xe. Các chỉ huy cũng đã
truyền thụ cho chiến sĩ tập trung bắn vào M113
như đã bắn máy bay. Mỗi tiểu đội hoặc trung đội phải chọn chiếc xe gần
nhất rồi bắn tập trung vào đấy, không để hỏa lực bị phân tán.
Khi tốp đi đầu gồm 3 xe thiết giáp M113
đã vào đúng tầm, các loại hỏa lực của quân Giải phóng gồm súng trường,
đại liên, súng cối, súng phóng lựu được lệnh đồng loạt phát hỏa, 1 xe
M113 bị diệt, một số chiếc khác bị đánh hỏng. Mũi tấn công bằng thiết
giáp bị chặn lại.
Chiến sĩ tiểu đoàn 514 tham gia đánh trận Ấp Bắc. (Nguồn: Internet)
Khoảng 17h00 ngày 2/1, đợt tiến công mới được thực hiện bằng máy bay vận tải C47
chở Tiểu đoàn nhảy dù số 8 tới ấp Tân Thới. Nhưng phần lớn quân nhảy dù
đều rơi vào trận địa mai phục của Đại đội 1 – Tiểu đoàn 514, nhiều lính
bị tiêu diệt khi chưa kịp thoát khỏi dù. Số sống sót co cụm cố chống
đỡ, chờ quân đến ứng cứu. Cùng lúc đó, ở hướng Đại đội 1 – Tiểu đoàn
216, những chiếc thiết xa M113
còn lại tiếp tục bị chặn đánh. Thấy lực lượng bị thiệt hại nặng và trời
đã sắp tối, quân đội Sài Gòn được lệnh rút ra ngoài đóng chốt nghỉ đêm,
dự định ngày hôm sau nhận thêm chi viện để tấn công tiếp.
Về
phía quân Giải phóng,
tuy giành thắng lợi lớn nhưng dự trữ đạn dược cũng đã hao hụt nhiều
(trang bị của quân Giải phóng khi đó rất thiếu thốn, dự trữ súng đạn đều
ít nên khi bắn phải thật tiết kiệm). Nhận thấy đã đạt mục đích là gây
thiệt hại nặng cho địch và đúc kết được nhiều kinh nghiệm tác chiến, lúc
22 giờ cùng ngày, quân Giải phóng theo hàng dọc rút về hướng căn cứ
Đồng Tháp Mười. Dân quân địa phương và nông dân Ấp Bắc, Tân Thới
đã hỗ trợ bộ đội trong suốt cuộc chiến cũng đi theo một con đường khác
về chỗ trú ẩn trong những rừng dừa lân cận. Đi đầu là các toán quân chủ
lực của Tiểu đoàn 261 đã chống cự ở Ấp Bắc. Quân địa phương của Tiểu
đoàn 514 đi đoạn hậu với một trung đội bảo vệ phía sau. Hàng quân tiếp
tục đi đến một chỗ lội qua sông, tiến lên không bị phát hiện và về đến
trại đóng quân ở xã Hưng Thạnh (huyện Châu Thành) lúc 7 giờ sáng. Ba chiến sỹ Quân giải phóng đã diệt nhiều lính dù Mỹ trong trận Ấp Bắc (1/1963). (Ảnh: TTXGP)
Sau
một ngày chiến đấu, với 5 đợt tấn công bằng những phương pháp tác chiến
"tân kì nhất" như thiết xa vận, trực thăng vận, bủa lưới phóng lao...
từ nhiều hướng, kể cả đổ bộ đường không bằng nhảy dù, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa
đều bị đẩy lùi. Kết quả trong trận này Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 83
người thiệt mạng trên tổng số gần 200 lính thương vong, 3 cố vấn Mỹ bị
giết và 16 cố vấn, phi công Mỹ bị thương. Phía Quân Giải phóng chỉ có 18 người chết.
Nhà báo Neil Sheehan viết: "Họ đã làm được
nhiều hơn việc thắng một trận, mang về một thắng lợi theo kiểu Việt Nam
cũng như tổ tiên họ đã làm từ nhiều thế kỷ. Họ đã chiến thắng quân địch
mạnh hơn họ... 350 "Việt cộng" đã giữ vững trận địa và hạ gục một quân
đội hiện đại với quân số lớn gấp bốn lần, trang bị xe bọc thép, trọng
pháo, trực thăng và máy bay ném bom. Để đối chọi, vũ khí mạnh nhất của
họ là một khẩu súng cối nhỏ, cỡ 60 ly, được xem là vô dụng. Họ có 18
người chết và 39 bị thương, thiệt hại tương đối nhẹ trong cuộc chiến mà
người Mỹ và những người Việt Nam do họ bảo vệ đã dội vào nhiều nghìn
loạt đạn súng thường và súng máy hạng nặng, 600 đạn súng cối, napalm và
bom cùng những quà tặng khác chở trên 13 máy bay và 5 trực thăng chiến
đấu. Riêng những chiếc Huey đã trút xuống hàng cây Ấp Bắc 8400 viên đạn
súng máy và 100 rốc két.
Với vũ khí hạng nhẹ, Việt Cộng đã gây gấp bốn lần thiệt hại cho họ,
giết được khoảng 80 lính Sài Gòn, làm bị thương hơn 100; ba người Mỹ
chết và 8 người khác bị thương, 5 chiếc trực thăng bị bắn hạ. Việt Cộng
gây ra những tổn thất ấy mà tiết kiệm đạn dược. Từ những loạt đạn đầu
bắn nhau với quân bảo an cho đến những loạt cuối cùng với lính dù, họ
chỉ dùng khoảng 5000 đạn súng thường và súng máy."
Cố vấn Mỹ John Paul Vann thì nhận xét sau trận đánh: "Họ [quân Giải phóng] thật dũng cảm, họ đã cho chúng ta một hình ảnh đẹp về bản thân họ ngày hôm nay".
Sách "Từ điển bách khoa về chiến tranh Việt Nam" của Mỹ đã ca ngợi quân Giải phóng ở Ấp Bắc là "những chiến sĩ có quyết tâm cao và được huấn luyện tốt", trong khi đánh giá Quân lực Việt Nam Cộng hòa là "bất tài, hỗn loạn và hèn nhát".
Thất bại của Mĩ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trong trận
này không chỉ là một thất bại thuần tuý về chiến thuật mà còn mang ý
nghĩa chiến lược,
đã làm rung chuyển giới báo chí Mĩ, làm cho nhân dân Mĩ quan tâm hơn
đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Nó khiến chính quyền Mỹ ngày càng không
tin tưởng vào Ngô Đình Diệm.
Chiến lợi phẩm thu được trong trận Ấp Bắc (1/1963). (Ảnh: TTXGP)
Chiến thắng Ấp Bắc đánh dấu sự chuyển biến về chiến thuật
của Quân Giải phóng, cung cấp kinh nghiệm quý trong việc chống lại chiến
thuật trực thăng vận và thiết xa vận hiện đại của Mỹ. Chiến thắng của
Quân giải phóng tại Ấp Bắc đã đánh dấu sự thất bại của chiến lược Chiến
tranh đặc biệt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Thượng tướng Trần Văn Trà cho biết: "Sau trận Ấp Bắc, xe thiết giáp và các loại trực thăng
không còn là nỗi kinh hoàng cho mọi người, không còn là bất khả trị
nữa. Từng người du kích với khẩu súng trường, từng đơn vị nhỏ với súng
liên thanh dám bắn và biết bắn hạ trực thăng theo gương thực tế của các
chiến sĩ Ấp Bắc". Trung ương Cục miền Nam phát động cao trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", đẩy mạnh thế chiến lược tiến công, giành được thêm những thắng lợi mới trên chiến trường
Năm 2022, Địa điểm chiến thắng Ấp Bắc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1649/QĐ-TTg (đợt 13).2/ Chiến thắng Núi Thành:Đầu
năm 1965, chiến lược Chiến Tranh Đặc Biệt bị phá sản không gì cứu vãn
nổi, tác động trực tiếp đến sự tồn vong của chính quyền Việt Nam Cộng
Hòa. Trước nguy cơ sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 8 tháng 3
năm 1965, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Thủy quân lục
chiến 9, Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng, đánh
dấu sự có mặt chính thức của quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường Miền Nam
Việt Nam. Lữ đoàn 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Chu Lai ngày 7-5-1965. Ảnh: The Ohio State UniversityNgày
7 tháng 5 năm 1965, 6400 lính Mỹ và 24 xe tăng thuộc Lữ đoàn Thủy quân
lục chiến số 9 đổ bộ lên xã Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là xã Tam Nghĩa và Tam
Quang thuộc Núi Thành), triển khai xây dựng căn cứ liên hợp Chu Lai, làm
bàn đạp tiến công các căn cứ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam. Chúng tiến hành khủng bố, đuổi dân 2 xã Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là
2 xã Tam
Quang và Tam Nghĩa – Núi Thành) đi nơi khác, lấy đất xây dựng căn cứ Chu
Lai, đồng thời triển khai lực lượng chiến đấu, mở nhiều cuộc càn quét
nhằm tạo vành đai bảo vệ căn cứ này.Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (Khóa III), ngày 27 tháng 3 năm 1965, đề ra quyết tâm chính trị: Ghìm Mỹ trên chiến trường miền Nam, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ.Với
quyết tâm đánh Mỹ, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua các lực lượng
vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất, họp tại Lò Gò - Tây Ninh đầu
tháng 5 năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (lúc đó là Ủy viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam) xác định trước đại hội: Đánh, đánh mạnh, chỉ có đánh, quyết chiến với giặc Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ.
Đại
tướng Nguyễn Chí Thanh (thứ hai, từ trái sang), Ủy viên Bộ Chính trị, Bí
thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam
chỉ đạo trận Núi Thành (Quảng Nam), tháng 5-1965. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử
Quân sự Việt Nam
Với tinh thần đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam: Phải
đánh tiêu diệt một đơn vị Mỹ để hạ uy thế quân Mỹ ngay từ đầu, tìm hiểu
cách đánh của chúng, rút kinh nghiệm đánh Mỹ cho ta và cổ vũ khí thế
đánh Mỹ trong toàn khu. Mục tiêu do tỉnh chọn, đơn vị đánh do tỉnh lựa,
đánh theo trình độ, trang bị và khả năng của tỉnh...Sau 3 ngày quân Mỹ đổ bộ lên Kỳ Liên, Kỳ Hà (nay là hai xã Tam Nghĩa và
Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), ngày 10-5-1965, Bộ tư lệnh
Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Tỉnh đội Quảng Nam nhanh
chóng phát động, chuyển tư tưởng bộ đội, du kích từ đánh ngụy sang đánh
cả ngụy lẫn Mỹ. Trước mắt là tiêu diệt cho bằng được một đại đội Mỹ,
mục tiêu và đơn vị thực hành trận đánh do tỉnh lựa chọn, quyết định. Chiến
thắng Núi Thành - biểu tượng sáng ngời của tinh thần quyết đánh, quyết
thắng. Ảnh: Báo Quảng Nam. Phát hiện Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 9, Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ
Mỹ từ căn cứ Chu Lai đến đóng quân ở Núi Thành (từ ngày 17-5-1965),
Tỉnh đội Quảng Nam quyết định chọn Núi Thành làm mục tiêu đánh đòn phủ
đầu. Núi Thành là tên quả đồi có hai mỏm chính (mỏm đồi 50, mỏm đồi 49,
cách nhau 500m) và một mỏm phụ thuộc thôn Tịnh Tây, xã Kỳ Liên. Tại đây,
địch có 180 quân, bố trí thành 3 cụm ở 3 mỏm đồi. Địch xây dựng công sự
dã chiến, bố trí hình bậc thang bao quanh các mỏm đồi từ thấp lên cao,
xen kẽ với bụi cây. Phía ngoài cùng có hai hàng rào dây thép gai bùng
nhùng cao 1m, rộng 1m bảo vệ. Nếu Núi Thành bị tấn công, địch có thể sử
dụng trận địa pháo ở Ao Vuông, Chu Lai, pháo hạm tàu và máy bay từ căn
cứ Chu Lai chi viện.
4/ Chiến dịch mũi tên xuyên: (Màn kịch "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ")
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tiếng Anh: Gulf of Tonkin incident)
là một cuộc chạm trán tầm cỡ quốc tế dẫn tới việc Hoa Kỳ tham gia trực
tiếp hơn vào cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Sự kiện bao gồm hai cuộc đụng độ; sự kiện lần đầu, được chứng minh là
đã xảy ra, vào ngày 2 tháng Tám năm 1964, là do quân đội Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa
(VNDCCH) tiến hành để đáp lại những chiến dịch ngầm của Mỹ ở vùng vịnh.
Cuộc đụng độ thứ hai, từng được cho là đã xảy ra vào ngày 4 tháng
Tám năm 1964, là giữa tàu của VNDCCH và Hoa Kỳ trong vùng biển vịnh Bắc
Bộ.
Hoa Kỳ ban đầu đổ lỗi cho VNDCCH cho cả hai sự kiện. Điều tra sau này
cho thấy cuộc tấn công lần thứ hai chưa từng xảy ra; báo cáo của hải
quân Mỹ đã dựa trên hầu hết các tín hiệu liên lạc đã bị họ diễn giải
sai.
Mặc dù có người bày tỏ nghi ngờ liên quan đến cuộc
Tương quan lực lượng: phía Mỹ là Đại đội Thủy quân lục chiến (Thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 9 - Sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ). Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gồm đại đội 2 (Tiểu đoàn 70 - Tỉnh đội Quảng Nam) và phân đội V16 - Đặc công.
23 giờ ngày 25 tháng 5, các mũi đã đưa lực lượng lót sát
bên trong hàng rào, nơi cách xa địch nhất là 3m gần nhất là 1m, tất cả
sẵn sàng chờ lệnh.
Bộ đội địa phương phối hợp với Phân đội Đặc công V16 tinh nhuệ được cử
tổ chức tiến công tiêu diệt vị trí Núi Thành do quân Mỹ mới chiếm đóng.
0 giờ 30 phút ngày 26 tháng 5, sau khi chờ 30 phút không
nghe tiếng súng phát lệnh ở cầu An Tân theo hiệp đồng, Đại đội trưởng Võ
Thành Năm lệnh cho Trần Ngọc Ảnh- mũi trưởng ở hướng chủ yếu đồng loạt
đánh thủ pháo vào các ụ súng ở tuyến hào 1; sau đó, các mũi nổ súng đánh
vào tuyến hào 1 và 2 ở hướng bắc- đông bắc và tây- tây nam Đồi 50; sau
15 phút chiến đấu ta đã làm chủ hai tuyến hào này, tiêu diệt một số lính
Mỹ, bộ phận lính Mỹ còn lại rút lên tuyến hào 3 sử dụng hỏa lực đại
liên, M79 ngăn chặn.
0 giờ 45 phút ngày 26 tháng 5, khi
mũi chủ yếu xốc lại đội
hình thì ở mũi thứ yếu mũi trưởng Nguyễn Đức Thông chỉ huy phát triển
nhanh sang chi viện cho mũi chủ yếu. Sau 20 phút hiệp đồng chiến đấu lần
lượt đánh chiếm các mục tiêu, làm chủ Đồi 50. Tình hình ở đồi 49 sau
tiếng thủ pháo lệnh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đồng loạt xung
phong, đánh chiếm tiêu diệt toàn bộ lính Mỹ, làm chủ trận địa. Riêng mỏm
phụ phía Bắc đồi 50, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã diệt gọn lính
Mỹ ngay từ những phút đầu. Sau 30 phút chiến đấu, diệt gọn đại đội Thủy
quân lục chiến Hoa Kỳ đóng trên Núi Thành, Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ trận địa.
Đồng thời trận địa hỏa lực của Tiểu đoàn 70 bắn khống chế không cho Quân đội Hoa Kỳ còn sống sót chạy về Chu Lai. Tượng đài chiến thắng Núi Thành. Ảnh: Báo Công an Nhân dân.
Chiến thắng Núi Thành là sự kiện mở đầu khẳng định mạnh mẽ khả năng
thắng Mỹ của quân dân Quân khu 5 cũng như quân dân toàn miền Nam; đồng
thời mở ra phong trào thi đua diệt Mỹ với khẩu hiệu “Tìm Mỹ mà đánh, gặp
Mỹ là diệt” dấy lên trên khắp các chiến trường miền Nam, giành thắng
lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh cục
bộ” của đế quốc Mỹ.
Trận chiến đấu diễn ra gần 30 phút,
sử dụng kĩ thuật tiềm nhập của đặc
công từ 3 hướng. Theo phía Quân Giải phóng, họ đã loại khỏi vòng chiến
đấu khoảng gần như toàn bộ đơn vị lính Mỹ trong trận đánh này. Hiện nay,
hầu như không có một tài liệu nào ở Mỹ nói về trận đánh, chính thống kê
của Hoa Kỳ cũng thống kê 139 người chết.
3/Chiến thắng Vạn Tường: đòn phủ đầu (18/08/1965): Cuối năm 1964, đầu năm 1965 đứng trước nguy cơ chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” bị phá sản, đế quốc Mỹ quyết định đưa quân chiến đấu trên bộ
vào miền Nam và thực hiện chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải
quân ở miền Bắc, tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, tháng 3/1965 (Ảnh Bảo tàng Đà Nẵng)Chiến tranh cục bộ
là một chiến lược quân sự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam
(giai đoạn 1965-1968). Nội dung cơ bản của chiến lược này là tận dụng
ưu thế hỏa lực, công nghệ và quân số của lực lượng viễn chinh Mỹ để đè
bẹp Quân Giải phóng miền Nam, đồng thời điều động lực lượng không quân
đánh phá miền Bắc, thiết lập ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên miền Nam Việt
Nam thông qua chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đây được đánh giá là giai đoạn
khốc liệt nhất của cuộc chiến. Sau khi đưa
một đại đội máy bay F.105 vào Biên Hòa và một tiểu đoàn tên lửa HAWK vào
Đà Nẵng, ngày 8-3-1965, tiểu đoàn đầu tiên của lữ đoàn thủy quân lục
chiến số 9 của Mỹ đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng. Đến chiều cùng ngày, tiểu
đoàn 2 thuộc lữ đoàn nói trên được không vận từ căn cứ quân sự Mỹ ở
Okinawa (Nhật Bản) đáp xuống sân bay Đà Nẵng. Đây là những đơn vị lính
thủy đánh bộ đầu tiên của Mỹ được đưa vào miền Nam, trực tiếp tham
chiến.
Chiến thắng Vạn Tường – Đòn phủ đầu quân viễn chinh Mỹ
Quyết
giành thắng lợi bằng quân sự, Mỹ đã đẩy nhanh việc đưa ồ ạt quân
Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam. Từ tháng 7 năm 1965 đến
cuối năm 1965, các Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ), Sư đoàn kỵ binh không
vận 1, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Kị binh không vận 101 (Thiên thần mũi
đỏ), Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới), Trung đoàn kỵ
binh thiết giáp 11, v.v… cùng hàng vạn tấn phương tiện chiến tranh hiện
đại ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam. Hạm đội 7 – hạm đội hùng hậu nhất
của Hải quân Mỹ được mệnh danh “chúa tể đại dương” trước
kia hướng hoạt động ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào
vùng biển Đông Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ
đóng ở Thái Lan, Philíppin, đảo Okinawa, đảo Guam… đều được sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam.Với lực lượng đông, tinh nhuệ và hiện đại, Vecler – Chủ tịch Hội đồng
Tham mưu trưởng liên quân bảo đảm với Tổng thống và Bộ trưởng Quốc
phòng Robert McNamara: “Không có lý do gì chúng ta (Mỹ) lại không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”. Những nhân vật “diều hâu” trong giới cầm quyền Mỹ tin tưởng tuyệt đối rằng “cùng
lắm trong vòng 18 tháng (cuối 1966), Mỹ sẽ chiến thắng, lúc đó Việt
cộng và Hà Nội sẽ phải chịu thua, chấm dứt kháng chiến. Và, trên bình
diện thế giới, chúng ta (Mỹ) sẽ chứng minh được cho các dân tộc thấy
rằng chiến tranh cách mạng không đem lại kết quả gì, cuộc khởi nghĩa nào
cũng có thể bị tiêu diệt”.Có một điều chắc chắn rằng không ai trong số lính Mỹ trên bãi biển ngày
8-3-1965 nghĩ rằng đó là sự khởi đầu cho một cuộc chiến khốc liệt kéo
dài và 10 năm sau, khi Sài Gòn thất thủ, Mỹ rút hết những người lính của
họ ra khỏi Việt Nam, đã ghi nhận hơn 540.000 người Mỹ đã từng phục vụ
trong chiến tranh Việt Nam và hơn 58.000 thiệt mạng.
Chiến thắng Vạn Tường-di tich quoc gia ...
Năm
1972, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ quyết
định tổ chức một cuộc báo cáo điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam từ
ngày 9 đến 11-5-1972 xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc
chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Giới nghiên cứu cho
rằng ở Việt Nam, Mỹ đã gặp phải một đối phương không chịu chấp nhận chế
độ thực dân mới,
không chịu quỳ gối trước sức mạnh quân sự Mỹ. Ngoài ý chí kiên cường,
quyết tâm sắt đá, người Việt Nam còn sáng tạo ra một đường lối, chiến
lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh
đánh thắng kẻ thù.
Neil Sheehan – nhà báo Mỹ, một trong những người phanh phui Tài liệu mật
Lầu Năm Góc ra trước công luận đã nhận định rằng: “Sau
những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn
bạo của sức mạnh kỹ thuật, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất
này, cuối cùng bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo
Đông Dương. Thắng lợi của Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn
thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”.Cuối
tháng 7 năm 1965, Trung đoàn 1 chủ lực của Quân khu V Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam, do Lê Hữu Trữ làm Trung đoàn trưởng và Nguyễn Đình
Trọng làm Chính ủy, chỉ huy, sau các trận giao chiến với các đơn vị Quân
lực Việt Nam Cộng hòa tại Vùng I trong Chiến dịch Ba Gia (Sơn Tịnh,
Quảng Ngãi), đã di chuyển về đóng quân ở khu vực Vạn Tường để chấn chỉnh
và bổ sung. Ngày 9 tháng 8
năm 1965, lãnh đạo Quân khu V ra quyết định thành lập các sư đoàn chủ
lực. Trung đoàn 1 (còn có tên hiệu là Trung đoàn Ba Gia) được biên chế
vào Sư đoàn 2. Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ kiêm Sư đoàn phó. Phía
Quân giải phóng tham gia cuộc chiến với quân số chỉ bằng 1/6, nghĩa là
chỉ khoảng 1500 người tổng cộng. Bao gồm Trung đoàn Ba Gia của Quân khu
5, Đại đội 21, 31 bộ đội địa phương tỉnh và các lực lượng du kích. Nguồn
ảnh: Zraly (KTNN) Nhận được tin báo của lực lượng trinh
sát của Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ, đóng quân ở vùng căn cứ Chu Lai,
phát hiện có đơn vị chủ lực của ta (Trung đoàn 1 mang tên Ba Gia, đơn
vị chủ lực của Liên khu 5) đóng quân tại Vạn Tường (xã Bình Thiện, huyện
Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), Oétmolen (Westmoreland) liền ra lệnh cho
lính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên Ánh sáng sao (Starlite)
đánh vào Vạn Tường, nhằm tiêu diệt Trung đoàn 1 Quân giải phóng, gây uy
thế cho quân Mỹ. Thấy rằng trong trận này quân Mỹ hoàn
toàn chủ động, lựa chọn chiến trường tác chiến hợp với sở trường để xuất
quân. Tại đây, Mỹ có điều kiện thuận lợi sử dụng xe tăng, pháo binh,
hải quân, không quân của chiến tranh hiện đại. Theo đó, chúng đưa vào
trận đánh Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 cùng lực lượng bổ sung lên đến
khoảng 9.000 quân, gồm ban chỉ huy Quân đoàn 7 thuộc Sư đoàn lính thủy
đánh bộ, 4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn bộ binh Việt Nam
Cộng hòa, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe lội nước, một số lượng pháo binh và
công binh… ngoài ra chúng còn huy động 6 tàu đổ bộ, 105 xe tăng và xe
bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay chiến đấu vào cuộc càn
quét.Vạn
tường được biết tới như cuộc đụng độ quy mô lớn đầu tiên giữa Quân đội
Mỹ và Quân giải phóng trên bộ. Nguồn ảnh: Negra (KTNN)Đêm 17-8-1965, hơn chục tàu chiến
thuộc Hạm đội 7 - Mỹ đậu thành vòng cung ngoài khơi liên tục bắn đại bác
vào thôn Vạn Tường và các điểm cao. Sáng ngày 18-8-1965, một lực lượng
lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe
bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 6 tàu đổ bộ và pháo hạm cùng hàng
trăm máy bay chiến đấu, mở cuộc hành quân phối hợp hải, lục, không quân
tiến vào Vạn Tường. Sau khi dùng pháo, máy bay bắn phá dọn đường, quân
Mỹ liền chia thành 4 mũi tiến về Vạn Tường: 1 mũi theo đường bộ từ Chu
Lai vào, 2 mũi đổ bộ đường biển và 1 mũi đổ bộ đường không.
Với
hy vọng sẽ tiêu diệt quân ta trong thời gian ngắn nhất, quân Mỹ từng
bước khép chặt vòng vây, dồn quân ta vào Vạn Tường rồi dùng hỏa lực tiêu
diệt. Trước tình hình đó, toàn đơn vị thuộc Trung đoàn 1 đã bình tĩnh
phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích đánh trả quân địch. Kế hoạch tác
chiến của Trung đoàn là cản chậm bước tiến của các cánh quân Mỹ hướng
Bắc và Đông Nam, tập trung lực lượng ở hướng Tây Nam dựa vào các hầm sâu
và các vị trí chiến đấu ngụy trang kín đáo để diệt cánh quân đổ bộ bằng
đường không.
Từ
chỗ bị bất ngờ, ta đã giành được thế chủ động tiến công. Các mũi tiến
công của quân địch đều vấp phải hệ thống bãi mìn, hố chông, vật cản
khiến đội hình địch bị dồn ứ và bị bộ đội ta vận động tới đánh hoặc dùng
hỏa lực tiêu diệt.
Trận đánh kéo dài đến chiều tốì ngày
18, địch bị đánh thiệt hại 4 đại đội. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ chẳng những
không hợp điểm được tại thôn Vạn Tường theo ý định ban đầu, mà còn có
nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn. Hải quân Mỹ pháo kích dữ dội hòng làm
giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm
đội đang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường. Ta tiếp tục tiến công cho
đến khi màn đêm buông xuống thì trận đánh kết thúc. Quân Mỹ bị loại khỏi
vòng chiến đấu khoảng 900 tên, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị
bắn rơi. Đêm 18 rạng 19 lực lượng ta bí mật rút khỏi Vạn Tường an toàn.
Chiến thắng Vạn Tường – Bản anh hùng ca bất diệt
Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa lịch
sử vô cùng to lớn, là mốc son chói lọi phản ánh khí thế cách mạng tiến
công, sự mưu trí, kiên cường, dũng cảm, đoàn kết chiến đấu của quân và
dân Quảng Ngãi với bộ đội chủ lực Quân khu 5. Nếu như chiến thắng Ấp Bắc
mở đầu cho “cao trào diệt ngụy”, thì chiến thắng Vạn Tường lịch sử mở
đầu cho “cao trào diệt Mỹ”. Chiến thắng Vạn Tường khẳng định quân và dân
ta có khả năng đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lăng, dù chúng có thể
đông quân, hùng hậu về vũ khí trang b
tấn công thứ hai từ
năm 1964, nhưng phải đến nhiều năm sau đó mới được kết luận rằng vụ việc
chưa bao giờ xảy ra. Trong bộ phim tài liệu Sương mù Chiến tranh (The Fog of War) năm 2003, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S. McNamara thừa nhận rằng có một cuộc tấn công vào tàu USS Maddox
xảy ra vào ngày 2 tháng Tám, nhưng cuộc tấn công ngày 4 tháng Tám, được
Washington dựa vào để cho phép trả đũa VNDCCH, đã chưa bao giờ xảy ra.
Năm 1995, McNamara gặp cựu Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ
Nguyên Giáp để hỏi chuyện xảy ra vào ngày 4 tháng Tám năm 1964. Ông Giáp
nói "Hoàn toàn chẳng có gì xảy ra cả". Ông Giáp cho rằng vụ tấn công
chỉ là tưởng tượng.
Thực chất, Sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa bao giờ tồn tại, và nó chỉ là cái tên hoa mỹ mà
người Mỹ dựng lên để có cớ ném bom miền Bắc Việt Nam.
Kết
quả của hai cuộc đối đầu này là việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị
quyết vịnh Bắc Bộ, trao cho Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson quyền hỗ
trợ bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào có chính phủ được coi là bị đe dọa
bởi "sự xâm lược của cộng sản".
Nghị quyết này có vai trò như một sự biện minh hợp pháp cho Johnson để
ông triển khai các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và bắt đầu chiến tranh
rộng rãi chống lại VNDCCH.
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ là cú chạm mặt lịch sử trong Chiến
tranh Việt Nam, khi lần đầu tiên Hải quân Việt Nam đối đầu trực diện với
Hải quân Mỹ trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Thực chất, đây chỉ
là một sự kiện do Hải quân Mỹ dựng lên nhằm "danh chính ngôn thuận"
mang không quân phá hoại miền Bắc. Nguồn ảnh: History.
Xảy ra vào các ngày 2.8 và 4.8.1964, hai khu trục hạm của Hải quân Mỹ là
USS Maddox và USS Turner Joy đã đi vào vùng biển vịnh Bắc Bộ của Việt
Nam và đụng độ với lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam mà cụ thể là
biên đội tàu phóng lôi P-4. Ảnh: Khu trục hạm USS Maddox của Hải quân
Mỹ. Nguồn ảnh: Wiki.
Bắt đầu diễn ra từ ngày 1.8.1964 khi khu trục hạm Maddox mang số hiệu
731 tiến qua khu vực Đèo Nga, Hòn Ngư và chính thức tiến vào vùng biển
Việt Nam, lực lượng Hải quân Việt Nam gồm các đội tàu phóng lôi đã trực
tiếp tiến ra nghênh chiến khi USS Maddox tiến đến vùng biển Thanh Hóa.
Nguồn ảnh: History.
Một trận hải chiến thực sự đã xảy ra khi chiếc USS Maddox khai hỏa tới
280 viên đạn pháo các loại về phía các tàu phóng lôi của phía ta. Ảnh:
Ba tàu phóng lôi của ta được chụp hình lại từ tàu USS Maddox làm "bằng
chứng" về việc Hải quân Việt Nam tấn công khu trục hạm Mỹ "bên trong
lãnh hải Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.
Đường di chuyển của khu trục hạm USS Maddox trong cuộc hành quân "ngụy
tạo hiện trường giả". Dựa trên tấm bản đồ này, có thể thấy rõ ràng rằng
Hải quân Mỹ đã trắng trợn đi vào vùng biển Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.
Trong ngày 2.8.1964, khu trục hạm Maddox của Mỹ đã di chuyển tới cách bờ
biển Thanh Hóa chỉ 6 hải lý, nghĩa là hơn 10 km, đây là khoảng cách bờ
gần nhất mà chiếc Maddox "dám" vào để dựng lên màn kịch của mình. Ảnh:
Một tàu phóng lôi của ta di chuyển cạnh chiến hạm Maddox, ngay phía sau
tàu phóng lôi là một vệt nước, có vẻ như là một viên đạn hải pháo bắn
trượt từ USS Maddox. Nguồn ảnh: Wiki.
Một tàu phóng lôi P-4. Trong ngày hôm đó, USS Maddox đã phải nhận một
vài thiệt hại khá đáng kể khi bị các tàu phóng lôi P-4 tấn công bằng
súng 12,7 ly. Tuy nhiên, phía ta không phóng ra bất cứ một quả ngư lôi
nào. Nguồn ảnh: Wiki.
Trắng trơn hơn, sau vụ trạm chán ngày 2.8.1964, phía Mỹ còn dựng hẳn lên
một màn kịch bịa đặt hoàn toàn rằng vào ngày 4.8.1964, các tàu USS
Maddox và USS Turner Joy của Hải quân Mỹ đã bị phía Hải quân Việt Nam
tiếp tục tấn công. Nguồn ảnh: Wiki.
Sự thật là không hề có bất cứ cuộc chạm trán nào giữa Hải quân Việt Nam
và Hải quân Mỹ vào ngày 4.8.1964 cả, tất cả chỉ là màn kịch mà Mỹ dựng
lên từ "A đến Z" để tăng thêm sức thuyết phục khi yêu cầu Quốc hội Mỹ
cho phép Không quân nước này ném bom Việt Nam. Ảnh: Khu trục hạm USS
Turner Joy của Hải quân Mỹ. Nguồn ảnh: Wiki.
Bằng chứng là vào năm 2001, khi các tài liệu tối mật trong chiến tranh
Việt Nam được giải mật, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã thừa nhận rằng
sự kiện vịnh Bắc Bộ lần thứ hai chưa hề xảy ra. Nguồn ảnh: Joy.
Thêm vào đó, việc giải mật các tài liệu này còn cho thấy, Tổng thống
Nixon và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã để cho Cơ quan An ninh Quốc
gia Hoa Kỳ (NSA) cố tình dịch sai các bản dịch các tài liệu tình báo từ
tiếng Việt ra tiếng Anh. Hơn nữa, báo cáo không đề cập tới cuộc giao
chiến ngày 2.8 (Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam) mà chỉ đề cập tới cuộc
giao chiến "trong mơ" của tàu chiến Mỹ trong ngày 4.8.1964. Nguồn ảnh:
Site.
Hậu quả là ngay trong ngày 5.8.1964, Mỹ đã tiến hành chiến dịch Mũi Tên
Xuyên nhằm ném bom một số cửa biển quan trọng của Việt Nam nhằm mục đích
"trả đũa" cho sự kiện vịnh Bắc Bộ. Đây cũng chính là chiến dịch mở đầu
cho những cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trong suốt 9 năm sau đó.
Nguồn ảnh: ZC.
Cũng "nhân" sự kiện bịa đặt này, phía Mỹ còn đưa ra một bản nghị quyết
mang tên "Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ". Theo đó, Tổng thống Mỹ Johnson lúc
bấy giờ sẽ được sử dụng "mọi biện pháp cần thiết" để đẩy lùi "bất kỳ
cuộc tấn công vũ trang nào chống lại nước Mỹ". Nguồn ảnh: PA.
Đây cũng chính là cái cớ để Mỹ liên tục leo thang chiến tranh tại Việt
Nam cho tới tận năm 1971, khi mà người Mỹ đã đặt một chân ra khỏi Việt
Nam, nghị quyết này mới bị chính quyền Tổng thống Nixon xóa bỏ. Nguồn
ảnh: ABC.
Sự
kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra trong năm đầu tiên của chính quyền Johnson.
Chính sách ngăn chặn thời Chiến tranh Lạnh sẽ chuẩn bị được áp dụng để
ngăn chặn sự sụp đổ của Đông Nam Á vào tay chủ nghĩa cộng sản như thuyết
domino
đã nêu lên. Sau vụ ám sát Kennedy, Johnson ra lệnh điều thêm lực lượng
Hoa Kỳ hỗ trợ chính quyền Sài Gòn, bắt đầu sự hiện diện kéo dài của Hoa
Kỳ ở Đông Nam Á.
Một
chương trình tuyệt mật về các chiến dịch bí mật chống lại miền Bắc Việt
Nam, được gọi là Kế hoạch Chiến dịch 34-Alpha, kết hợp với các chiến
dịch DESOTO, đã bắt đầu dưới sự quản lý của Cục Tình báo Trung ương
(CIA) vào năm 1961. Năm 1964, chương trình được chuyển giao cho Bộ Quốc
phòng và do Nhóm Nghiên cứu và Quan sát thuộc Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân
sự Mỹ tại Việt Nam (MACV-SOG) thực hiện.
Vào
ngày 29 tháng Bảy năm 1964, vào đêm trước khi thực hiện những hoạt động
chống lại các cơ sở của VNDCCH trên các đảo Hòn Mê và Hòn Ngư,
MACV-SOG đã đưa lén một nhóm các điệp viên bí mật dài hạn vào miền Bắc
Việt Nam, và đã nhanh chóng bị bắt giữ. Vào ngày 1 và 2 tháng Tám, các
chuyến bay của máy bay chiến đấu-ném bom của Lào do CIA tài trợ (do lính
đánh thuê Thái Lan lái) đã tấn công các tiền đồn biên giới ở Tây Nam
của Bắc Việt.
Đến ngày 1 tháng Tám, các tàu tuần tra của VNDCCH đang theo dõi tàu Maddox, và một số liên lạc bị chặn để thu nhận cho thấy họ đang chuẩn bị tấn công.Maddox rút lui, nhưng ngày hôm sau, 2 tháng Tám, Maddox,
với tốc độ tối đa 28 hải lý, tiếp tục tuần tra thường lệ, và ba tàu
phóng lôi P-4 của VNDCCH với tốc độ tối đa 50 hải lý bắt đầu bám theo Maddox.
Khi các tàu phóng lôi đến gần, Maddox bắn ba phát súng cảnh cáo. Các tàu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó tấn công, và Maddox phát thanh vô tuyến điện rằng nó đang bị ba tàu tấn công, đang tiến gần trong vòng 10 hải lý (19km; 12mi) với nó, trong khi Maddox ở vị trí 28 hải lý (52km; 32mi) cách bờ biển Bắc Việt Nam, tức trong vùng biển quốc tế.
Hai trong số các tàu phóng lôi đã đến gần trong vòng 5 hải lý (9,3km; 5,8mi) cách Maddox và mỗi tàu thả một quả ngư lôi, nhưng không quả nào hoạt động; chúng chỉ cách Maddox khoảng 100 thước Anh (91m) sau khi Maddox chạy nhanh hơn chúng. Một chiếc P-4 khác trúng một quả đạn pháo 5 inch từ Maddox khiến cho ngư lôi của nó bị trục trặc khi phóng. Bốn máy bay phản lực F-8 Crusader của Hải quân Mỹ phóng từ Ticonderoga và 15 phút sau khi Maddox
bắn phát đạn cảnh báo ban đầu, các máy bay tấn công những tàu P-4 đã
dừng phóng lôi, tuyên bố một tàu bị đánh chìm và một tàu bị hư hỏng
nặng. Maddox chỉ bị hư hại nhẹ từ một đòn đạn 14,5mm từ súng máy hạng nặng KPV của tàu P-4 vào cấu trúc thượng tầng của nó.
Hành động ban đầu này không bao giờ được báo cáo bởi chính quyền
Johnson, thay vào đó khẳng định rằng các tàu Việt Nam nổ súng trước.
Vào ngày 4 tháng Tám, một cuộc tuần tra khác của DESOTO ngoài khơi bờ biển Bắc Việt Nam do Maddox và Turner Joy
phát động sau sự kiện đầu tiên. Trong một buổi tối thời tiết sóng gió
và biển động, các tàu khu trục nhận được tín hiệu radar, sonar và radio;
họ tin rằng các tín hiệu này báo hiệu một cuộc tấn công khác của Hải
quân Nhân dân Việt Nam. Trong khoảng hai giờ (từ khoảng 21:40 đến khoảng
23:35, giờ địa phương), các tàu đã bắn vào các mục tiêu hiển thị trên
radar và lái tàu quyết liệt dựa trên các báo cáo điện tử và thị giác về
kẻ thù. Ngược lại với tuyên bố của Hải quân Mỹ rằng hai tàu phóng lôi
tấn công đã bị đánh chìm, đã không có mảnh vỡ hay thi thể nào của các
thủy thủ Việt Nam thiệt mạng, hoặc các bằng chứng vật thể khác có mặt
tại hiện trường được cho là đã xảy ra giao tranh.
Vào lúc 01:27 giờ địa phương (13:27 giờ Washington),
Herrick đã gửi một bức điện trong đó ông thừa nhận rằng cuộc tấn công
thứ hai có thể đã không xảy ra và thực tế có thể đã không có tàu thuyền
nào của Việt Nam trong khu vực. "... Và cuối cùng người ta kết luận rằng gần như chắc chắn cuộc tấn công
[ngày 4 tháng Tám] đã xảy ra. Nhưng ngay cả vào thời điểm đó cũng có
một số ghi nhận rằng đã có sai số, vì vậy chúng tôi nghĩ rằng khả năng
nó có thể xảy ra là rất cao nhưng không hoàn toàn chắc chắn. Và bởi vì
nó có khả năng xảy ra cao—và bởi vì kể cả nếu nó không xảy ra, chúng tôi
vẫn cảm thấy sâu nặng rằng đáng lẽ ra phải có phản ứng đối với cuộc tấn
công đầu tiên, mà chúng tôi chắc chắn là đã xảy ra—Tổng thống Johnson
quyết định đáp trả [cuộc tấn công] thứ hai. Tôi nghĩ bây giờ rõ ràng là
[cuộc tấn công thứ hai] đã không xảy ra" –Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Robert McNamara.
Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson vào năm 1964
Ngay trước nửa đêm, ngày 4 tháng Tám, Johnson đã gián đoạn truyền hình
quốc gia để đưa ra một thông báo trong đó ông miêu tả "một cuộc tấn công
của các tàu Bắc Việt Nam nhằm vào hai tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ", Maddox và Turner Joy,
và yêu cầu chính quyền thực hiện một phản ứng quân sự. Bài phát biểu
của Johnson lặp lại chủ đề "kịch tính hóa Hà Nội/Hồ Chí Minh như kẻ xâm
lược và khiến Hoa Kỳ rơi vào thế phòng thủ dễ chấp nhận hơn." Johnson
cũng gọi các cuộc tấn công đã diễn ra "trên biển cả", ám chỉ rằng chúng
đã xảy ra ở vùng biển quốc tế.
Trong
vòng ba mươi phút sau sự kiện ngày 4 tháng Tám, Johnson đã quyết định
tấn công trả đũa (được gọi là "Chiến dịch Mũi tên Xuyên").
Cùng ngày hôm đó, ông đã sử dụng "đường dây nóng" tới Moskva, và đảm
bảo với Liên Xô rằng ông không có ý định mở một cuộc chiến tranh quy mô
lớn hơn ở Việt Nam. Sáng sớm ngày 5 tháng Tám, Johnson công khai ra lệnh
các biện pháp trả đũa với tuyên bố: "Quyết tâm của tất cả người Mỹ
trong việc thực hiện cam kết đầy đủ của chúng ta đối với người dân và
chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ được nhân đôi bởi sự phẫn nộ này." Một
giờ bốn mươi phút sau bài phát biểu của ông, các máy bay được phóng từ
các tàu sân bay Hoa Kỳ đã đến các mục tiêu của Bắc Việt Nam. Vào ngày 5
tháng Tám, lúc 10:40, các máy bay này đã ném bom bốn căn cứ tàu phóng
lôi và một kho chứa dầu ở Vinh.
Bộ đội pháo Phòng không Trung đoàn 280 bắn máy bay Mỹ ngày 5-8-1964. Ảnh tư liệu.
Chiến dịch Mũi Tên Xuyên (tiếng Anh: Operation Pierce Arrow)
là chiến dịch không kích trong Chiến tranh Việt Nam do Hải quân Mỹ thực
hiện vào ngày 5 tháng 8 năm 1964 nhằm trả đũa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
về sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào các ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964.
Chiến dịch này đã mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại 9 năm bằng không quân
và hải quân quy mô lớn và tàn khốc đối với miền Bắc Việt Nam.
Các
máy bay F-8 Crusader, A-1 Skyraider, và A-4 Skyhawk, từ các hàng không
mẫu hạm USS Ticonderoga và USS Constellation trên Biển Đông, đã bay 64
lượt đánh phá các mục tiêu định sẵn tại các vùng phụ cận Vinh - Bến Thủy
(Nghệ An), vùng phụ cận thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh), cửa Lạch Trường
(Thanh Hoá) và cửa Gianh (Quảng Bình)... Máy bay Mỹ đã phá hủy hoặc gây
thiệt hại 25 tàu tuần tiễu (PT boat) của Hải quân Nhân
dân Việt Nam (các quan chức Mỹ cho rằng đây là một nửa số tàu của Hải
quân Nhân dân Việt Nam); phá hủy 7 hệ thống phòng không tại Vinh; và làm
thiệt hại nặng một kho xăng dầu tại Vinh.
Hai máy bay Hoa Kỳ bị bắn rơi. Một phi công thiệt mạng. Máy bay do trung úy
phi công Everett Alvarez lái bị rơi lúc 14h43, do đạn súng máy phòng
không 14,5mm của Đại đội 141 do Trung đội phó Trương Thanh Luyện chỉ
huy.
Everett Alvarez, nhảy dù xuống Hòn Gai và bị bắt làm tù binh. Ông là
người đầu tiên trong số khoảng 600 phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh
Việt Nam và được trao trả sau khi hiệp định ngừng bắn được ký vào năm 1973.
Tháng 8/1964, Hà Nội, miền Bắc Việt Nam – Hình ảnh từ một bộ phim tài
liệu Nhật Bản, do một nhà quay phim người Nhật vô tình có mặt tại hiện
trường ghi lại được, cho thấy khoảnh khắc Trung úy không quân Everett
Alvarez (trái), bị bắt giữ bởi một thủy thủ Bắc Việt. Alvarez, một phi
công Hoa Kỳ, đã bị bắn hạ trong cuộc tấn công của quân đội Hoa Kỳ vào
các cơ sở đóng tàu của Bắc Việt Nam – Hình ảnh của Bettmann/CORBIS
Tiếp
theo chiến dịch Mũi Tên Xuyên là các chiến dịch ném bom khác: Chiến
dịch Flaming Dart (7 đến 11 tháng 2 năm 1965); Chiến dịch Sấm Rền (2
tháng 3 năm 1965 đến 31 tháng 10 năm 1968); Chiến dịch Linebacker (9
tháng 5 đến 22 tháng 10 năm 1972); và Chiến dịch Linebacker II (18 đến
29 tháng 12 năm 1972).
Tại Việt Nam ngày nay, ngày 5 tháng 8 năm 1964 được kỷ niệm như "ngày
đánh thắng trận đầu" của Hải quân nhân dân và Bộ đội Phòng không Việt
Nam, và được chọn làm ngày truyền thống của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
5/ Chiến dịch "Sấm rền":
Chiến dịch Sấm Rền (tiếng Anh: Operation Rolling Thunder) hay Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất
(theo cách gọi của chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày
nay) là chiến dịch ném bom trong Chiến tranh Việt Nam do Sư đoàn 2 Không
quân Mỹ (sau là Lực lượng Không quân số 7), Hải quân Mỹ và Không lực
Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến dịch này
kéo dài từ ngày 2 tháng 3 năm 1965 đến ngày 1 tháng 11 năm 1968.
Bốn mục tiêu của chiến dịch (phát triển theo thời gian) là:
Cứu vãn tinh thần đang sa sút của chính phủ Việt Nam Cộng hòa;
Ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngừng hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam;
Phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
Ngăn chặn dòng quân và hàng hóa chảy vào miền Nam Việt Nam.
Chiến
dịch này trở thành trận chiến không quân dữ dội nhất diễn ra trong
Chiến tranh Lạnh và là trận chiến khó khăn nhất của không quân Hoa Kỳ kể
từ khi Hoa Kỳ thả bom xuống Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Các
đồng minh thuộc khối phía Đông viện trợ cho Quân đội nhân dân Việt Nam
các loại vũ khí không đối không và đất đối không và Việt Nam bố trí
những vũ khí này thành một hệ thống phòng không hiệu quả nhất mà các phi
công quân sự Mỹ phải đối mặt.
Chiến dịch Sấm RềnMột phần của Chiến tranh Việt Nam
Một nghiên cứu của Hoa Kỳ xem chiến dịch này như là "một công thức cho thất bại".
Sau một trong những chiến dịch trên không dài nhất trong lịch sử của
bất cứ quốc gia nào, nhiều chuyên gia quân sự Mỹ kết luận rằng chiến
dịch Sấm Rền là một thất bại do không đạt được bất kỳ một mục tiêu nào
trong các mục tiêu đã đặt ra
Các
câu hỏi đặt ra giữa các nhân vật lãnh đạo trong chính phủ và quân
đội Mỹ về việc biện pháp nào là tốt nhất để ngăn Hà Nội (được xem là nơi
khơi mào của cuộc nổi dậy tại miền Nam) tiếp tục các hành động của
mình. Câu trả lời có vẻ là việc sử dụng hỏa lực không quân. Cho đến năm
1964, đa số các quan chức dân sự xung quanh Tổng thống Lyndon B. Johnson
chia sẻ ít nhiều với niềm tin của Hội đồng Tham mưu liên quân (Joint Chiefs of Staff - JSC) vào hiệu quả của ném bom chiến lược.Quá trình đưa ra quyết định này liên tục chịu ảnh hưởng bởi mối lo ngại
về các hành động phản kháng có thể hoặc sự can thiệp trực tiếp của Liên Xô, Trung Quốc, hoặc cả hai...Vào ngày 2 tháng 3 năm 1965, Chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder) đã
được bắt đầu bằng trận không kích của hơn 100 máy bay phản lực thuộc
Không quân Mỹ vào một kho đạn tại Xóm Bằng, nằm 10 dặm sâu trong lãnh
thổ Bắc Việt Nam. Đồng thời, 60 máy bay cánh quạt của Không quân miền
Nam cũng ném bom căn cứ hải quân Quảng Khê, 65 dặm về phía bắc vĩ tuyến
17.Sáu máy bay của Mỹ đã bị bắn rơi, nhưng chỉ có một phi công bị bắt giữ.
Đại úy Hayden J. Lockhart, phi công lái chiếc F-100, đã bị bắn hạ và trở
thành phi công đầu tiên thuộc Không quân Mỹ bị bắt làm tù binh của Bắc
Việt. Lockhart đã được thả vào năm 1973 theo điều khoản trao trả tù binh
chiến tranh của Hiệp định Paris. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S. McNamara trình bày kế hoạch "Sấm rền" - 1965Nhà Trắng đã kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của chiến dịch Sấm Rền.
Tổng thống Johnson đôi khi còn tự mình lựa chọn các mục tiêu. Trong giai
đoạn 1965 – 1968, đã có khoảng 643.000 tấn bom được thả xuống miền Bắc
Việt Nam. Tổng cộng gần 900 máy bay của Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch
Sấm Rền. Chiến dịch vẫn tiếp tục được duy trì, dù có vài lần bị đình
chỉ, cho đến khi Tổng thống Johnson quyết định ngừng nó vào ngày
31/10/1968 vì áp lực chính trị trong nước.Tính đến 24 tháng 12 năm 1965,
Mỹ đã mất 170 máy bay trong chiến dịch (85 máy bay của Không quân, 94
của Hải quân, và 1 của Thủy quân lục chiến). Không lực Việt Nam Cộng hòa
cũng mất 8 máy bay.
Các phi đội của Không quân đã bay 25.971 lượt, thả 32.063 tấn bom. Hải
quân bay 28.168 lượt và thả 11.144 tấn bom. Không lực Việt Nam Cộng hòa
đóng góp 682 phi vụ, số bom đã thả không rõ bao nhiêu.Ngày
5 tháng 4 năm 1966, thám báo Mỹ phát hiện ra rằng Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đang xây dựng các vị trí có thể dành cho các khẩu đội tên lửa
đất-đối-không
(SAM). Không quân và Hải quân Mỹ cùng đệ trình Washington xin phép đánh
phá các vị trí trên nhưng đã bị từ chối, vì hầu hết các vị trí trên đều
ở gần các khu vực đô thị bị hạn chế. Sự kiện ngày 24 tháng 7, khi một
máy bay F-105 bị một tên lửa SA-2 Guideline
bắn rơi đã không gây ngạc nhiên. Ba ngày sau đó, Washington đã cho phép
một cuộc không kích đánh phá hai địa điểm đặt tên lửa trên. Tuy nhiên,
người Mỹ đã rơi vào một cái bẫy tinh vi khi các địa điểm trên hóa ra lại
là trận địa giả, bao quanh bởi các trận địa pháo phòng không. Một phi
công Mỹ đã miêu tả diễn biến tiếp sau đó "trông như thể ngày tận thế". 6
trong số các máy bay tấn công đã bị bắn rơi trong trận thua này (2 phi
công thiệt mạng, 1 mất tích, 2 bị bắt, 1 được cứu Các máy bay của hải quân Hoa Kỳ bắn trúng tàu chở dầu viện trợ cho Bắc Việt Nam tháng 7 năm 1965Ngày 29 tháng 6 năm 1966,
Johnson cho phép các cuộc không kích đánh phá các kho xăng dầu ở miền
Bắc. Giới quân sự Mỹ đã đề nghị những cuộc không kích kiểu này từ đầu
chiến dịch, họ tin rằng việc phá hủy trữ lượng xăng dầu của Bắc Việt Nam
sẽ làm ngừng trệ các nỗ lực quân sự của nó. Ban đầu, các cuộc không
kích có vẻ thành công, phá hủy các kho chứa gần Hà Nội và Hải Phòng và
dẫn đến việc CIA tin rằng 70% cơ sở hạ tầng xăng dầu của miền Bắc đã bị phá hủy đổi với cái giá là 43 máy bay bị mất. Tuy nhiên, thành công này đã chỉ là một sự bất tiện nhất thời cho
VNDCCH, do Hà Nội đã lường trước một cuộc đánh phá như vậy và đã phân
tán hầu hết trữ lượng xăng dầu trong các thùng nhỏ 50-gallon tại suốt
dọc chiều dài đất nước. Các cuộc đánh phá xăng dầu bị ngừng lại vào ngày
4 tháng 9 sau khi tình báo Mỹ thừa nhận rằng "chưa có bằng chứng nào cho việc thiếu xăng dầu tại Bắc Việt Nam."Ngay từ trước khi chiến dịch Sấm Rền bắt đầu, chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biết cái gì đang đến. Tháng 2 năm 1965,
họ đã ra hướng dẫn cho quân đội và nhân dân "đảm bảo giao thông liên
lạc và chuẩn bị cho sự tàn phá trên toàn đất nước, trong đó có cả Hà Nội
và Hải Phòng."
Hà Nội tuyên bố "một cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc đánh phá
trên không... mỗi công dân là một người lính, mỗi làng xóm, phố phường,
nhà máy là một pháo đài trên mặt trận chống Mỹ." Tất cả, trừ những gì "thật sự thiết yếu đối với đời sống thủ đô", đều
được sơ tán về nông thôn. Đến năm 1967, dân số Hà Nội đã giảm xuống còn
một nửa.Do việc chiếm ưu thế so với quân đội Mỹ là một điều không tưởng, lãnh
đạo miền Bắc quyết định áp dụng một chính sách khước từ không gian (air deniability),
tập trung bảo vệ các khu vực quan trọng thay vì dàn mỏng lực lượng khắp
lãnh thổ. Đầu chiến dịch, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sở hữu khoảng 1500
vũ khí phòng không, hầu hết là pháo cao xạ hạng nhẹ 37 và 57mm. Nhưng sau đó phát triển lên đáng kể, trong đó có cả có
các pháo cỡ 85 và 100mm định hướng bằng radar. Dân quân ở các địa
phương có nhiệm vụ bắn trả máy bay Mỹ bằng mọi loại vũ khí có được, từ
súng 12,7 ly cho tới súng trường
bộ binh, cũng tạo nên mối đe dọa đối với máy bay Mỹ khi chúng bay thấp
hoặc bổ nhào ném bom (đã có nhiều trường hợp máy bay Mỹ bị bắn hạ bởi vũ
khí cá nhân của dân quân) tạo nên một lưới lửa pkòng không hữu hiệu.
Trong chiến dịch Sấm Rền, 80% thiệt hại của Mỹ về máy bay là do hỏa lực phòng không. Một máy bay F-105 của Mỹ bị bắn rơi Hỗ
trợ hỏa lực pháo phòng không là các máy bay tiêm kích của Không quân
Nhân dân Việt Nam, lực lượng mà ban đầu chỉ có 53 máy bay MiG-15 và
MiG-17 Fresco. Tuy bị người Mỹ coi là quá cổ lỗ khi so sánh với các máy
bay phản lực
siêu thanh của họ, Không quân Nhân dân Việt Nam đã sử dụng các chiến
thuật hợp lý để biến các điểm yếu của máy bay họ thành các thế mạnh. Các
máy bay này có tốc độ đủ cao cho các hoạt động phục kích "đánh và
chạy", và cũng cơ động đủ để gây sốc cho cộng đồng phi công chiến đấu Mỹ
khi bắn hạ các máy bay F-8 Crusader và F-105 Thần sấm cao cấp hơn nhiều. Phi công Mỹ sau đó đã phải nhanh chóng phát triển chiến thuật mới. Máy bay F-4 Con ma trang bị tên lửa trở thành cơ sở chiến đấu chính của Mỹ.Chỉ riêng sự xuất hiện của máy bay MiG thường cũng đủ hoàn thành nhiệm
vụ của họ bằng cách buộc các phi công Mỹ phải vứt bom xuống biển cho nhẹ
để còn tự bảo vệ. Năm 1966, loại MiG-21 Fishbed hiện đại hơn do Liên Xô chế tạo, loại có thể chiến đấu ngang sức hơn đối với máy bay Mỹ, đã tham gia cùng MiG-17 và MiG-19.
Đến năm 1967, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có một lực lượng gồm 100
máy bay, nhiều chiếc trong số đó đặt tại các sân bay Trung Quốc và nằm
ngoài tầm với của các cuộc không kích của Mỹ.Để tránh thiệt hại, nền kinh tế miền Bắc được phân tán. Các nhà máy lớn
vốn nằm tại các khu vực tập trung đông dân ở đồng bằng sông Hồng, được
chia nhỏ và phân tán vào các hang núi và các làng nhỏ trên khắp vùng
nông thôn. Tại vùng cán xoong bị ném bom ác liệt ở miền Trung, có nơi cả
làng chuyển vào sống trong các hệ thống hầm ngầm.Nguồn tài nguyên lớn nhất của miền Bắc là nhân dân, những người dân được
đốt lửa bằng nhiệt tình dân tộc. Trong năm 1965, 97.000 người đã tình
nguyện làm việc cả ngày để khắc phục các thiệt hại do bom Mỹ. Từ 370.000
đến 500.000 người khác làm việc nửa ngày.Khi đường giao thông bị đánh phá, các đoàn tàu hỏa chở hàng được chia
nhỏ và chỉ chạy đêm. Người dân tham gia vận chuyển hàng bằng thuyền, xe
đạp thồ, xe ba gác, hoặc gùi trên lưng để giữ luồng hàng ra chiến
trường. Họ được cổ vũ bởi các khẩu hiệu như "Mỗi cân hàng... là một viên đạn bắn vào đầu những tên giặc lái Mỹ." Vũ khí phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Do
Mỹ tăng cường các cuộc không kích vào đường Trường Sơn và miền Bắc Việt
Nam, tháng 2 năm 1965, chính phủ Liên Xô đồng ý viện trợ hệ thống tên
lửa phòng không S-75 Dvina
(NATO định danh là SAM-2) đời đầu cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sĩ
quan Việt Nam được gửi đến Liên Xô để học về hệ thống tên lửa phòng
không SA-75 và 10 trung tâm huấn luyện của Lực lượng Phòng không Quốc
gia (PVO-Strany) được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam, trở thành nòng cốt
của các trung đoàn tên lửa phòng không mới.
Đơn vị SA-75 Dvina đầu tiên triển khai ở Việt Nam là Trung
đoàn 236 đặt ở Tây Bắc Hà Nội ven sông Đà. Vào ngày 24 tháng 7 năm
1965, các tiểu đoàn 63 và 64 thuộc trung đoàn 236 đã bắn rơi một chiếc
F-4C Phantom của Phi đội tiêm kích chiến thuật số 47 của Không Quân Mỹ
(USAF) trên vùng trời Hà Tây - Hòa Bình, các mảnh văng từ tên lửa cũng
làm hư hại 3 chiếc F-4 khác. Đó là chiến công đầu tiên của hệ thống
phòng không SA-75 Dvina ở Việt Nam.
Do chiến thuật được
thay đổi và việc gây nhiễu radar được tăng cường, số máy bay bị SAM bắn
hạ giảm theo thời gian. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì trung bình
cần 2-3 quả tên lửa để
tiêu diệt 1 máy bay giai đoạn đầu và 7-10 tên lửa trong giai đoạn cuối.
Tuy nhiên, các con số này không nói lên nhiều về tính hiệu quả của Sấm Rền, do các khẩu đội SAM của Việt Nam không bao giờ thiếu tên lửa dự trữ, bất kể các nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn hệ thống hậu cần.
Trong năm 1967, Không quân Mỹ tiếp tục tổn thất lớn hơn năm 1966. Đã có
362 máy bay của Hoa Kỳ đã bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam. Trong đó,
Không quân 208 chiếc, Hải quân mất 142 và Thủy quân lục chiến mất 12
chiếc.
Chiếc Republic F-105G thuộc Phi đội 333, Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật 355, tháng 8 năm 1968 tại Việt Nam.
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, để chủ động tìm
đánh gây cho địch bất ngờ, Bộ Tư lệnh tên lửa đã đề nghị Bộ Tư lệnh Quân
chủng Phòng không - Không quân cho phép thực hiện chiến thuật "cơ động
phục kích" trong việc sử dụng tên lửa phòng không SAM-2 để đánh địch.
Theo giáo trình của Liên Xô, tên lửa SAM-2 sẽ bố trí ở các trận địa cố
định thành thế liên hoàn (nếu thường xuyên di chuyển sẽ làm cho các khối
vi điện tử hoạt động thiếu chính xác). Tuy nhiên, trong điều kiện ở
Việt Nam, cách bố trí này có nhiều khuyết điểm (Việt Nam không có nhiều
hệ thống SAM-2 như Liên Xô để bố trí liên hoàn, nếu bố trí tên lửa ở các
vị trí cố định thì dù có bắn rơi được một vài máy bay của địch, nhưng
lập tức sẽ bị máy bay Mỹ dùng lực lượng áp đảo đánh hủy diệt).
Trong cả năm 1966, Bộ đội phòng không Việt Nam thành lập mới 4 trung
đoàn tên lửa phòng không. Theo các nguồn số liệu Liên Xô, đến tháng 3
năm 1967, các đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam đã tiến hành 445 lần
phóng tác chiến, tiêu hao 777 quả đạn tên lửa. Tổng cộng trong các lần
phóng đó đã bắn rơi 223 máy bay, tính trung bình 3,48 quả đạn tên
lửa/một máy bay Mỹ. Nguy cơ từ tên lửa buộc phi công Mỹ phải chuyển sang
bay thấp, ở độ cao này tuy mối đe dọa từ tên lửa phòng không ít hơn
nhưng nguy cơ bị pháo phòng không bắn hạ lại tăng lên nhiều. Theo các
nguồn số liệu của Liên Xô thì đến tháng 3 năm 1968, pháo phòng không
Việt Nam đã bắn hạ 1.532 máy bay các loại của Mỹ.
Bộ chỉ huy Không quân và Hải quân Mỹ tin rằng loại tiêm kích F-4 Phantom
hiện đại với vũ khí mạnh, radar hiện đại, tính năng tốc độ và tăng tốc
cao cùng với những biện pháp chiến thuật mới sẽ đảm bảo cho F-4 Phantom
chiếm ưu thế. Nhưng khi đối đầu với MiG-21
gọn nhẹ hơn của Việt Nam, F-4 bắt đầu chịu thất bại liên tiếp. Không
quân Việt Nam đã đưa ra các chiến thuật nhằm khắc chế ưu thế của F-4
trong khi phát huy được lợi thế của MiG-21. MiG-21 của Việt Nam thường
tấn công đối phương với tốc độ vượt âm, phóng tên lửa từ phía sau mục
tiêu và nhanh chóng thoát khỏi sự truy đuổi. Người Mỹ đã khó đưa ra một
giải pháp nào đó chống lại chiến thuật này, một chiến thuật đòi hỏi sự
chuẩn bị tốt cho phi công và sĩ quan dẫn đường trên mặt đất ở sở chỉ
huy. Không quân Nhân dân Việt Nam cũng khai thác tối đa sự phối hợp hoạt
động đồng bộ của MiG-21 với MiG-17 trong không chiến. Những chiếc tiêm
kích MiG-17 bay ở tầm thấp dưới 3.000m đã đẩy những chiếc F-4 và F-105
từ độ cao thấp lên độ cao trung bình khoảng 5.000 đến 6.000m, nơi những
chiếc MiG-21 đang phục kích tấn công đối phương.
Từ tháng 5 tới tháng 12 năm 1966, trong các trận không chiến, Mỹ đã mất
47 máy bay mà chỉ hạ được 12 chiếc của Việt Nam. Đặc biệt, trong tháng
12 năm 1966, nhờ chiến thuật hiệu quả, các phi công Việt Nam đã bắn rơi
14 chiếc F-105 Thunderchief của Mỹ mà không chịu tổn thất nào.
Tuy
F-105 đã có 27 chiến thắng trên không, các phi công Việt Nam cũng tuyên
bố đã bắn hạ 40 chiếc F-105. Trong trận đánh ngày 2 tháng 1 năm 1967,
phi công Mỹ đã làm các phi công Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngạc nhiên khi
họ thực thi Chiến dịch Bolo. Dùng các tín hiệu radio, hướng tiếp cận,
độ cao, và tốc độ thường dùng của các máy bay mang bom F-105, các máy
bay F-4 đã lừa MiG-21 tưởng rằng đó là các con mồi ngon. Kết quả là 7
máy bay MiG bị bắn rơi trong vòng 12 phút khi vừa mới cất cánh..1
phi công Việt Nam tử trận và 6 người khác kịp nhảy dù. Không quân Việt
Nam đã quyết định dừng bay MiG-21 cho đến ngày 23 tháng 4
năm 1967 nhằm rút kinh nghiệm, chỉ ra nguyên nhân, bài học và tìm ra
phương án đối phó với các chiến thuật mới của không quân Mỹ, sẵn sàng
cho các trận đánh tiếp theo. Trong nửa đầu năm 1967, không quân Việt Nam
bắn rơi được 15 máy bay Mỹ. Tuy nhiên, các máy bay tiêm kích Việt Nam
lại tăng hiệu quả của mình lên (kinh nghiệm chiến đấu có được, cũng như
việc chuyển sang các loại máy bay cải tiến như MiG-21PF và MiG-17F trang
bị tên lửa có điều khiển R-3s). Nửa đầu năm 1968, trong 40 trận không
chiến các phi công Việt Nam đã tiêu diệt 25 máy bay của đối phương.
Một phi công Mỹ bị quân và dân miền Bắc bắt trong chiến dịch Sấm Rền (Ảnh tư liệu)
Các phi công Việt Nam đã thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của
họ trong cả hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối
phương. Nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh Vladimir Ilyin
đã có bài viết tổng kết về cuộc đối đầu giữa Không quân Nhân dân Việt
Nam và Không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, theo đó từ tháng 4
năm 1965 đến tháng 11 năm 1968, trên bầu trời Việt Nam đã diễn ra 268
trận không chiến, trong các trận đó đã có 244 máy bay Mỹ bị bắn rơi, đổi
lại 85 máy bay Việt Nam. Trong số đó có 27 F-4 và 20 MiG-21.
Trong suốt các cuộc không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có 16 phi công đạt đẳng cấp "Ách"
(tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), gồm 14 phi công
MiG-21 và 2 phi công lái MiG-17. Trong đó người cao nhất là phi công
MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công huyền thoại
khác là Nguyễn Văn Bảy, còn gọi là "Bảy A", phi công MiG-17, đã bắn hạ 7
máy bay Mỹ (cao nhất trong các phi công lái MiG-17).
Bất kể những nỗ lực ngăn chặn cao nhất của Sấm Rền,
Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn thực hiện
được cuộc tổng tấn công lớn nhất kể từ đầu cuộc chiến, Sự kiện Tết Mậu
Thân, trên khắp Nam Việt Nam từ ngày 30 tháng 1 năm 1968. Cuộc tổng tấn
công này kết thúc như là một bế tắc chiến thuật đối với Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng nó lại
trở thành một thành công chiến lược
khi ảnh hưởng ngược lại đối với dư luận quần chúng Mỹ, dư luận này đến
lượt nó lại gây ảnh hưởng tới chiến lược chiến tranh của Washington.
Đến mùa xuân năm 1967, Robert McNamara và các lãnh đạo dân sự khác trong chính quyền đã tin rằng cả Sấm Rền và chiến tranh trên bộ tại Nam Việt Nam đều dậm chân tại chỗ.
Chiến dịch Sấm Rền" của Mỹ không làm Việt Nam khiếp sợ - 02.03.2020, Sputnik Việt Nam
Chiến dịch ném bom đã không đạt được các mục tiêu và những người vỡ mộng
đã liên tục phản đối các khuyến nghị của Hội đồng Tham mưu về việc tăng
nhịp độ ném bom và nới lỏng hạn chế mục tiêu.
Các tướng lĩnh thấy mình rơi vào vũng lầy do chính mình tạo nên. Họ
liên tục tuyên bố rằng chiến dịch có hiệu quả, nhưng cũng liên tục yêu
cầu thẩm quyền rộng hơn để làm cho chiến dịch thành công. Đơn giản là không thể dung hòa được các mục đích giới hạn là kết quả
của chính sách ngoại giao của Mỹ với mục tiêu toàn thắng của giới quân
sự. Bài toán hóc búa khi đó đã trở thành: làm thế nào đánh bại Bắc Việt
Nam mà không hủy diệt Bắc Việt Nam.
Ngày 9 tháng 8 năm 1967, Ủy ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services Committee)
mở cuộc điều trần về chiến dịch ném bom. Rõ ràng, McNamara, quan chức
dân sự duy nhất ra điều trần và người cuối cùng ra trả lời chất vấn của
hội đồng, đã là vật tế thần. Vị Bộ trưởng quốc phòng đưa ra các phản đối
của mình về một cuộc không
chiến bừa bãi và đã bác bỏ thành công các lời buộc tội của các chỉ huy
quân sự. Ông thẳng thắn thừa nhận rằng đã "không có cơ sở
nào để tin rằng một chiến dịch ném bom nào hủy diệt Bắc Việt Nam và dân
số của nó mà có thể buộc chính phủ Hồ Chí Minh khuất phục."
Tổng
thống Johnson đã thấy rõ rằng McNamara đã trở thành một trở ngại cho
chính phủ. Tháng 2 năm 1968, McNamara từ chức và được thay thế bởi Clark
Clifford, người đã luôn chống đối đề nghị của McNamara về việc ổn định
quân số Mỹ tại Nam Việt Nam và chấm dứt chiến dịch Sấm Rền.Tuy nhiên lập trường của McNamara lại ngay lập tức được nối tiếp bởi
Ngoại trưởng Dean Rusk, người mà trước đó vẫn ủng hộ chiến dịch ném bom.
Rusk đề xuất giới hạn chiến dịch chỉ trong vùng cán xoong miền Trung mà
không cần điều kiện tiên quyết và đợi phản ứng của Hà Nội.\Trong vòng vài tháng, cả Clifford cũng bắt đầu có cách nhìn của người mà ông đã thay thế.
Một khẩu đội Tên lửa SAM-2 của lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam chuẩn bị chiến đấu
Thất
vọng vì các thất bại chính trị trong nước và hy vọng rằng Hà Nội sẽ đi
vào đàm phán, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm
dứt ném bom ở phía bắc vĩ tuyến 19.
Kết quả của quyết định này là Không quân và Hải quân bắt đầu dồn toàn
bộ hỏa lực mà trước đây họ rải khắp miền Bắc xuống khu vực giữa hai vĩ
tuyến 19 và 17. Không quân tăng gấp đôi số lượt đánh phá khu vực 1, lên
tới hơn 6000 lượt mỗi tháng, tập trung đánh chặn các "điểm cuống họng",
cắt đường, và săn xe tải.Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đáp lại bằng cách tăng gấp đôi số khẩu đội
phòng không tại vùng cán xoong, nhưng hầu hết các khẩu đội SAM vẫn được
giữ nguyên ở quanh Hà Nội và Hải Phòng.
Tuy trước đó liên tục tuyên bố rằng sẽ không đàm phán nếu vẫn bị ném
bom, nhưng cuối cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đồng ý gặp Mỹ tại
Paris để bắt đầu đàm phán. Đáp lại, Tổng thống Johnson tuyên bố lệnh
ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11
năm 1968, ngay trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Mặc dù việc ngừng ném
bom được gắn với tiến triển của đàm phán hòa bình, Hội đồng tham mưu
không tin rằng chính phủ sẽ lại mở chiến dịch ném bom do dù tình hình
như thế nào. Họ đã đúng.
Chủ tịch Hồ
Chí Minh tặng huân chương cho Nguyễn Văn Cốc (trung đoàn tiêm kích
921), phi công đã bắn hạ 11 máy bay Mỹ (gồm 2 UAV
trinh sát), ông có thành tích không chiến cao nhất trong Chiến tranh
Việt Nam và là phi công MiG-21 thành công nhất thế giới]]
Từ tháng 3 năm 1965 đến tháng 11 năm 1968, các máy bay của Không lực Mỹ
đã thực hiện 153.784 phi vụ tấn công, Không quân và Thủy quân lục chiến
bổ sung thêm 152.399 phi vụ. Ngày 31 tháng 12 năm 1967, Bộ Quốc phòng Mỹ
tuyên bố rằng trong chiến dịch Sấm Rền đã có 864.000 tấn bom Mỹ ném
xuống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, so với 653.000 tấn bom trong suốt Chiến
tranh Triều Tiên và 503.000 tấn bom ném xuống mặt trận Thái Bình Dương
trong Thế chiến lần thứ 2.
Ngày
1 tháng 1 năm 1968, CIA ước tính rằng thiệt hại vật chất mà Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa phải chịu lên tới 370 triệu USD, số thương vong đối với
dân số Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mỗi tuần là
1.000 người, nghĩa là khoảng 90.000 thương vong trong thời gian 44
tháng, 72.000 trong số đó là dân thường.
Còn theo số liệu Cục tác chiến Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong 4 năm
đã có 14.000 nhân viên quân sự và 60.000 dân thường thiệt mạng.
Trong ảnh là người mẹ dùng đòn gánh đưa con đi trú ẩn.
Trong các tình huống hành quân hay chiến đấu, 526 máy bay của Không lực
Mỹ, 397 của Hải quân, và 19 của Thủy quân lục chiến đã bị rơi trên miền
Bắc Việt Nam hay gần đó, chưa kể số trúng đạn hư hỏng nhưng rơi ngoài biển hay lết về được căn cứ.Trong chiến dịch, trong số 745 phi công bị bắn rơi, Không lực Mỹ ghi
nhận 145 người được cứu thoát, 255 bị chết, 222 bị bắt (23 người trong
số đó đã chết trong khi bị giam giữ do bị thương nặng hoặc vì bom của
Mỹ), và 123 mất tích. Con số thương vong của hải quân và Thủy quân lục chiến khó tìm hơn.
Trong 44 tháng, 454 phi công thuộc lực lượng Hải quân Mỹ bị chết, bị
bắt, hoặc mất tích trong các chiến dịch kết hợp trên vùng trời miền Bắc
Việt Nam và Lào.
Chiến dịch Sấm Rền đã khởi đầu là một
chiến dịch mang tính chất chiến
lược và tâm lý, nhưng nó đã nhanh chóng chuyển thành hoạt động ngăn chặn
- một nhiệm vụ chiến lược.
Sự thất bại chung cuộc có hai nguồn, cả hai đều thuộc về những người
hoạch định chính sách cả quân sự lẫn dân sự ở Washington: Trước hết,
không nhóm nào có thể hiểu được rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ chịu
đựng được sự tàn phá mà họ sẽ gây ra. Thứ hai, lãnh đạo quân sự Mỹ ngay
từ đầu đã không đề ra và phát triển được một chiến lược thích hợp với
cuộc xung đột, cũng như về sau đã không điều chỉnh được nó. Ngoài ra,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn có lợi thế ở chỗ được viện trợ to lớn từ
Trung Quốc và Liên Xô.
6/ Chiến dịch Junction City:
Từ ngày 22/2 đến 15/4/1967, Quân giải phóng miền nam Việt Nam mở
chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của
Mỹ và quân đội Sài Gòn vào chiến khu Dương Minh Châu, thuộc địa bàn phía
bắc tỉnh Tây Ninh. Đây là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, bảo vệ an
toàn căn cứ và lực lượng, tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến
tranh, làm thất bại hoàn toàn ý đồ của Mỹ trong cuộc phản công chiến
lược lần hai; đồng thời, góp phần làm phá sản chiến lược “Chiến tranh
cục bộ” của Mỹ trên chiến trường miền Nam, đẩy Mỹ và quân đội Sài Gòn
ngày càng lâm vào thế bị động.
Dù bị thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất
(1965-1966), phải nếm vị đắng tổn thất nặng nề trên chiến trường miền
nam, nhưng Mỹ vẫn nung nấu một thắng lợi bằng quân sự để giải quyết cuộc
chiến tranh ở miền nam Việt Nam.
Bước vào mùa khô 1966-1967,
Mỹ-ngụy rắp tâm mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai bằng nhiều cuộc
hành quân lớn nhỏ; trong đó, có cuộc hành quân quy mô lớn nhất, dài
ngày nhất mang tên Gianxơn Xity (Junction City), tập trung lực lượng
đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh).
Lực lượng thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến với đoàn xe thồ
tiếp lương, tải đạn cho Quân Giải phóng đánh bại cuộc hành quân Gianxơn
Xity của Mỹ, năm 1967. (Cổng thông tin điện tử Đảng bộ Tây Ninh)
Tham vọng của Mỹ trong cuộc hành quân này là: “Phá hủy căn cứ kháng
chiến lớn của quân và dân ta ở bắc Tây Ninh; tiêu diệt cơ quan đầu não
kháng chiến; tìm diệt một bộ phận chủ lực lớn của ta ở miền Đông (Sư
đoàn 9); tạo lá chắn yểm trợ cho quân đội Sài Gòn tiến hành bình định ở
phía nam, gỡ thế bị uy hiếp nặng ở Sài Gòn-Chợ lớn; giành một thắng lợi
quân sự có ý nghĩa quyết định, tạo ra bước ngoặt làm chuyển biến cục
diện chung có lợi cho Mỹ và Sài Gòn.
Để thực hiện mục tiêu đặt ra, Mỹ-ngụy đã huy động đại bộ phận quân Mỹ
triển khai ở miền Đông Nam Bộ và một phần quân đội Sài Gòn. Lực lượng
bao gồm: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9, các lữ đoàn
196, 173 của Mỹ; 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động
quân Quân đội Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4
trung đoàn pháo binh. Ước tính quân số khoảng 45.000 quân và hơn 1.000
xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại cùng nhiều loại máy
bay. Cuộc hành quân diễn ra 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1, Bộ chỉ huy Mỹ tiến hành 2 cuộc hành quân chuẩn bị (Gaxđen
và Tucson) để bố trí các lữ đoàn vào rìa phía đông và tây của khu vực
hành quân. Giai đoạn 2, quân Mỹ đánh phá khu trung tâm và rìa phía đông
chiến khu. Giai đoạn 3, sử dụng 1 lữ đoàn càn quét khu vực giữa thị xã
Tây Ninh và suối Đá.
Cụ thể, xét về tương quan lực lượng:
Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa: Tổng số quân và thiết bị quân sự tham
chiến là 35.000 quân trong 9 lữ đoàn; 300 trực thăng; 3 phi đoàn máy bay
vận tải, hàng trăm xe tăng - xe thiết giáp... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy.
Về phía Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam: Tổng lực lượng bao gồm chủ
lực, địa phương quân, du kích các cơ quan là 15.000 bộ đội, được phân
chia theo từng tổ chiến đấu, ấp chiến đấu, xã chiến đấu... tinh thần là
bám trụ bảo vệ từng cơ quan và địa bàn, sẵn sàng đánh trả khi có điều
kiện. Lực lượng chủ lực được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán
mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ
phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công.
Do tương quan quá chênh lệch, Bộ chỉ huy quân Giải phóng đề ra phương
châm: Phải chuẩn bị sẵn sàng, bám trụ vững chắc, phản công kiên quyết,
tiến công mạnh mẽ liên tục, kết hợp ba thứ quân đánh nhỏ, đánh vừa và
tạo điều kiện đánh lớn, bảo đảm đánh dài ngày, mạnh bạo nhưng chắc
thắng; cố gắng tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo vệ cơ quan và kho
tàng trong căn cứ.
Mặc
dù vậy, trên cơ sở đánh giá đúng mạnh, yếu của ta và địch, đặc biệt từ
kinh nghiệm đánh bại cuộc hành quân Áttơnborơ, Quân ủy và Bộ Chỉ huy
Miền quyết định mở chiến dịch phản công ở Tây Ninh và giao cho Thiếu
tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh chiến dịch; Thiếu tướng Trần Độ làm Chính
ủy; Đại tá Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng.
Lực lượng tham gia đánh địch gồm: Sư đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 1, 2,
3), Trung đoàn bộ binh 16, tiểu đoàn 58 cối 120mm, 3 tiểu đoàn súng máy
phòng không 12,7mm, 9 đại đội bảo vệ cơ quan, 13 đại đội địa phương và
4.000 du kích.
Giai đoạn I (từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 15 tháng 3 năm
1967) hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là phía bắc tỉnh Tây Ninh,
mũi tập trung chính yếu nhắm vào khu vực nằm về phía đông quốc lộ số 22,
phía Tây tỉnh lộ số 4 (Tây Ninh đi Cà Tum), áp sát lên biên giới Campuchia. Vùng Tà Đạt là hợp điểm của cuộc hành quân.
Trước đó, từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 21 tháng 2 năm 1967,
Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ đánh vào mạn phía tây đường số 22, áp
lên biên giới Campuchia, mục đích của cuộc hành quân này là quét dọn
vùng sông Vàm Cỏ Đông,
lùa đối phương về hướng trung tâm (phía đông đường 22), hình thành bức
tường phía tây bởi các chốt chặn Cần Đăng, Tà Xia, Lò Gò, chuẩn bị thế
tiến công và bao vây sẵn cho cuộc hành quân Junction City.
Theo kế hoạch, các đơn vị dàn quân theo hình móng ngựa để bao vây ba
mặt chiến khu này, sau đó một số đơn vị có chiến xa, cơ giới công binh
yểm trợ tiến vào giữa để tảo thanh, truy kích. Dàn trận trước tiên là
các tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173 Hoa Kỳ, đây là lữ đoàn xung
kích trong suốt cuộc hành quân.
Ngày 22 tháng 2 năm 1967, mở màn cho chiến dịch là những trận pháo kích vô cùng ác liệt, ngay sau đó máy bay C-130
chở Lữ đoàn Không vận 173, nhảy dù xuống Cà Tum nằm trên tỉnh lộ số 4,
nơi có ngả rẽ qua Bổ Túc, gần biên giới Campuchia (đây cũng là trận nhảy
dù quy mô nhất trong Chiến tranh Việt Nam). Tiếp theo là 250 lần chiếc
trực thăng chở Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 1 "Anh cả đỏ" đổ
bộ xuống Sóc Mới - Rùm Đuôn - An Khắc, nhằm khóa chặt biên giới phía bắc
Tây Ninh. Trong lúc đó Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 cùng với Trung đoàn Thiết
giáp số 11 của Mỹ từ Tây Ninh, theo đường số 4 tiến lên Đồng Pan, hợp
với Lữ đoàn 173 tại Cà Tum, bức tường phía đông đã hình thành.
Thất bại của Mỹ trong cuộc hành quân Junction City là sự bế tắc về chiến
thuật, chiến lược của Mỹ ở Việt Nam. Với thất bại này, về cơ bản, gọng
kìm "tìm diệt" của Mỹ trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ
hai đã bị bẻ gãy.
Từ ngày 23 tháng 2 đến 9 tháng 3 năm 1967, các đơn vị Quân
Giải phóng tìm cách vượt thoát khỏi vòng vây của quân Mỹ - Việt Nam Cộng
hòa. Về phía Mỹ, sau hơn 10 ngày hành quân của chiến dịch, các tướng
lĩnh chỉ huy cũng đã phải thốt lên: Không tìm thấy chủ lực của đối
phương ở đâu, không bắt được một lãnh đạo nào của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam... cuộc hành quân chỉ gặp phải toàn cạm bẫy như chông,
mìn, lựu đạn gài. Du kích thì lúc ẩn lúc hiện không sao tiêu diệt được,
những căn cứ mà binh sĩ Mỹ vào được thì trống rỗng, chỉ tịch thu được
những thứ mà đối phương không kịp mang đi. Những khi dừng chân thì bị bắn tỉa, bị ném lựu đạn,
bị phóng rocket... bệnh tật cũng bắt đầu hoành hành. Thương vong do cạm
bẫy, quấy nhiễu của du kích và bệnh tật của rừng nhiệt đới làm cho lính
Mỹ thiệt hại ngày càng tăng, trở nên lo sợ, không còn hăng hái lùng sục
nữa. Các kế hoạch tác chiến ban đầu không thực hiện được tốt, việc hợp
quân trên vùng trung tâm căn cứ quân Giải phóng không thành công.
Hiểu rõ tình thế những mặt mạnh yếu trong chiến dịch Junction City, lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam (Sư đoàn 9)
sau khi phân tán thoát vòng vây đã tập trung lại, luồn sâu vào vùng hậu
cứ của cuộc hành quân để tổ chức phản công. Đêm 6 tháng 3, pháo binh
Quân Giải phóng bắn phá dữ dội vào cụm đóng quân Tà Xia và Truông Bình Linh.
Đêm 10 tháng 3, Quân Giải phóng tập kích vào hai cụm đóng quân Đồng Pan
và Bào Cỏ, chọc thủng tuyến đóng quân của một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn
Không vận 173 Hoa Kỳ, gần trung tâm của Chiến khu C, cách thị xã Tây
Ninh 30km về
hướng đông.
Ngoài ra còn có nhiều trận phản công nhỏ lẻ và đặt mìn, phục kích trên
các trục tiếp tế quan trọng, làm cho chiến dịch từ chủ động tìm-diệt
sang bị động đối phó. Tính đến cuối ngày 11 tháng 3, sau 3 tuần liên tục
truy kích, liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đã loại ngoài vòng
chiến 744 Quân Giải phóng, tuy nhiên các mục tiêu cơ bản đặt ra vẫn
chưa đạt được. Giai đoạn I của chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 3
năm 1967, với một thành tích hoàn toàn không đáng kể và Tướng Jonathan
Seaman bị mất quyền chỉ huy, thay bằng Tướng Bruce Palmer, Jr.
Đối với ta, đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ,
khẳng định khả năng chiến thắng về quân sự của ta là tất yếu, ta đã tạo
được thế và lực cũng như thời cơ để tiến lên chuyển cách mạng miền Nam
sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định vào những năm tiếp sau. Nguồn
ảnh: TL.
Giai
đoạn II (từ 18 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1967),
hướng tấn công chủ yếu của Chiến dịch Junction City là mạn đông tỉnh lộ
số 4, được giới hạn bởi sông Sài Gòn, trọng tâm của chiến dịch nhằm về
tuyến biên giới phía Đông Bắc Cà Tum và tuyến thượng nguồn sông Sài Gòn,
được B-52 rải thảm không hạn chế.
Tỉnh lộ 4 Tây Ninh đi Cà Tum, bây giờ là bức tường phía tây
của chiến dịch, các căn cứ Quản Lợi (Bình Long), Minh Thạnh (Núi Cát),
Dầu Tiếng, Suối Đá (Tây Ninh); con đường số 13 huyết mạch kết hợp với
các con đường 19, 22, 26 mới được sửa chữa, tạo thế tiến công từ phía
đông sang tây. Lực lượng thiện chiến của các Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Sư
4, Sư 9... thì do máy bay trực thăng đổ bộ, hình thành các cụm căn cứ
lớn khống chế biên giới Campuchia như Sóc Con Trăng, Đồng Rùm, Ba
Vũng...
Khu vực này, trên thực tế là địa bàn xung yếu nằm trong hệ
thống huyết mạch chính của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nơi đây
vừa là đầu cầu tiếp nhận viện trợ từ miền Bắc, vừa là nơi cất dấu hậu
cần, khí tài, quân bị. Nơi đây còn là bàn đạp, để từ đó Quân Giải phóng
tiếp cận các chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ.
Bước vào giai đoạn này, sức mạnh quân sự của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa
không hề suy giảm, thậm chí có phần gia tăng hơn, nhưng ý chí chiến đấu
không còn như đợt ra quân ban đầu nữa. Trong khi đó về phía Quân Giải
phóng miền Nam, việc kết thúc giai đoạn I của chiến dịch diễn ra gần
đúng với dự kiến ban đầu: bảo đảm tuyệt đối an toàn cho Trung ương Cục miền Nam,
Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và các ban ngành,
đoàn thể..., đặc biệt điều quan trọng bậc nhất là bảo toàn được lực
lượng chủ lực của mình, do biết cất giấu kỹ. Do vượt qua được cột mốc
thử thách trước sức mạnh Mỹ cộng với kinh nghiệm va chạm thực tiễn trong
giai đoạn I, Quân Giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn II với khí thế
tự tin hơn và bản lĩnh hơn.
Cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam diễn ra trong giai đoạn mùa khô 1966-1967,
Ngày 19 tháng 3, Lữ đoàn 173 mở cuộc tấn công vào vị trí
của Quân Giải phóng nằm về phía tây của Chiến khu C. Trong đêm đó, tại
Bàu Bàng khi Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Mỹ vừa tập kết chuẩn bị tham gia chiến
dịch giai đoạn II, đã bị tấn công tại căn cứ. Ngày 20 tháng 3 năm 1967,
giao tranh tiếp diễn tại nhiều hướng, theo Mỹ tuyên bố đến ngày này có
1.117 binh sĩ Quân Giải phóng tử thương; phía Hoa Kỳ có 143 tử trận, 659
người bị thương. Đêm 21 rạng sáng ngày 22 tháng 3 năm 1967, Quân Giải
phóng tập kích Đồng Rùm sau 2 ngày vị trí này bị phía Mỹ đổ quân chiếm
đóng, giao tranh ác liệt nổ ra kéo dài trong 6 giờ liền. Đêm 31 tháng 3,
Quân Giải phóng tập kích căn cứ Ba Vũng. Ngoài ra, cụm căn cứ Sóc Con
Trăng bị bao vây uy hiếp, làm hạn chế sức đánh phá của căn cứ này. Các
vùng hậu cứ của Chiến dịch Junction City cũng bị pháo binh bắn phá như:
Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá. Chỉ huy sở của cuộc hành quân trú đóng tại
Dầu Tiếng cũng bị pháo kích. Trên toàn mặt trận, sự kháng cự của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỏ ra ngày càng mãnh liệt.
Từ 1 tháng 4, quân Mỹ bắt đầu triệt thoái từng bước, đến 15
tháng 4 năm 1967, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa kết thúc giai đoạn
II của chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 4, chiến dịch bước sang giai đoạn
III, nhưng đã phải nhanh chóng chấm dứt vào ngày 14 tháng 5 sau khi
không thu được thêm nhiều kết quả. Chiến dịch Junction City đến đây
chính thức kết thúc.
Hoa Kỳ tuyên bố đã có 2.728 quân Giải phóng tử trận, tuy
nhiên con số này bị xem là phóng đại, bởi trong suốt cả chiến dịch quân
Mỹ chỉ thu được 491 vũ khí cá nhân và 100 vũ khí cộng đồng của quân Giải
phóng (chỉ bằng 1/5 con số bộ đội tử trận mà Mỹ tuyên bố)
Còn theo thống kê của Việt Nam, toàn chiến dịch quân Giải phóng thương
vong khoảng 1.530 người (10,2% quân số), trong đó có 255 chết (1,7% quân
số)
Choáng váng bởi các đòn tiến công liên tiếp của Quân giải phóng, ngày
13/3/1967, quân Mỹ rút khỏi Kà Tum, Bổ Túc và các chốt trên khu vực Bắc
Tây Ninh.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 quân địch (chủ yếu là quân
Mỹ), phá hủy, phá hỏng 992 xe (có 775 xe tăng và xe thiết giáp), 112
khẩu pháo từ 105mm trở lên, bắn rơi và bắn hỏng 160 máy bay (có 144 trực
thăng), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ. Tuy nhiên theo Đại tướng William Westmoreland
thì con số thiệt hại của Mỹ là 282 lính chết và khoảng 1.560 bị thương
(chưa kể vài trăm thương vong của quân VNCH); 107 thiết vận xa, 57 xe
tăng, 28 xe vận tải và 11 khẩu bị phá hủy hoặc hư hại.
Như
vậy, chiến dịch diễn ra trong điều kiện so sánh lực lượng chênh lệch
hơn hẳn về phía Mỹ, nhưng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã giành
được thắng lợi toàn diện.
Một trong những nét đặc sắc về nghệ
thuật quân sự trong chiến dịch này là ta đã tạo ra được thế trận chiến
tranh nhân dân ở địa bàn không có dân để thắng địch. Trong bốỉ cảnh quân
địch áp đảo về lực lượng, phi pháo và sức cơ động (chủ lực của ta ít
hơn một phần ba lực lượng địch), nhưng ta đã khéo léo tổ chức các cơ
quan dân, chính, Đảng thành những đơn vị dân quân du kích, tự vệ để đánh
địch rộng khắp. Do vậy, thế trận chiến tranh nhân dân do ta tạo nên ở
một địa bàn không có dân là một điều bất ngờ lớn đối với cả quân Mỹ và
quân đội Sài Gòn.
Không đạt mục tiêu đề ra lại bị tổn thất lớn, từ ngày 4 đến 15/4, địch
rút lui từng bước, chấm dứt cuộc hành quân Junction City.
Đồng thời, ở chiến dịch phản công này, quy mô
trận đánh của chủ lực ta đã có sự phát triển mới, phổ biến là đánh cấp
tiểu đoàn, song đã có những trận đánh vận động tiến công với lực lượng
trung đoàn, sư đoàn.
Cùng với đó, tuy quân địch chủ động mở đầu tiến công, nhưng suốt cả
chiến dịch, ta đã giữ vững quyền chủ động đánh địch, chủ động lựa chọn
mục tiêu, địa hình mở màn trận đánh, kiên quyết đánh bại cuộc hành quân
lớn nhất của Mỹ trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.
Cho đến thời điểm
này, đối với Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, thất bại trong cuộc hành quân
Gianxơn Xity là một thất bại lớn nhất của Mỹ ở miền nam Việt Nam. Đại
tướng Nguyễn Chí Thanh nhận xét: “Cuộc hành quân Gianxơn Xity là một
cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ bắc Tây Ninh lại là
cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu đỉnh cao sự thất bại
của chúng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trong âm
mưu tìm diệt của chúng”
Đánh thắng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ, một lần nữa
khẳng định khả năng chiến thắng về quân sự của ta là tất yếu, ta đã tạo
được thế và lực cũng như thời cơ để tiến lên chuyển cách mạng miền Nam
sang thời kỳ mới. Đồng thời, những bài học rút ra từ chiến thắng cuộc
hành quân Gianxơn Xity đã góp phần quan trọng, tạo ra cục diện chiến
trường có lợi cho cách mạng miền nam tiến lên giành những thắng lợi
quyết định.
7/ Trận Ia Drăng
Trận Ia
Đăng là một trong những trận đối đầu lớn đầu tiên giữa liên quân (Quân
lực Việt Nam cộng hòa và Quân đội Mỹ) với Quân Giải phóng Miền Nam Việt
Nam. Trận đánh là một phần trong Chiến dịch Plei Me (năm 1965). Thắng
lợi của trận Ia Đrăng là đòn quyết định đánh bại
chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ; đồng thời, thể hiện sự phát triển
vượt bậc về nghệ thuật tác chiến của Quân đội ta trước kẻ thù có tiềm
lực quân sự vượt trội; làm thay đổi dòng chảy của cuộc chiến tranh, cổ
vũ quân và dân ta giữ vững niềm tin “dám đánh Mỹ, quyết thắng Mỹ”.
Trận
đánh là một phần trong Chiến dịch Plei Me (từ ngày 19 tháng 10 đến
ngày 26 tháng 11 năm 1965) do Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thực hiện để đáp
trả lại Chiến dịch Plâyme của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 (từ ngày 19 đến 26
tháng 10 năm 1965). Trận đánh gồm 2 trận đụng độ: trận đụng độ thứ nhất
xảy ra trong ba ngày từ 14 tháng 11 tới 16 tháng 11 năm 1965 tại bãi đáp
X-Ray ngay chân rặng núi Chu Prông 25 cây số Tây Plei Me;
trận đụng độ thứ nhì xảy ra vào ngày 17 tháng 11 tại bãi đáp Albany,
nằm gần mạn phía Nam của sông Ia Drang. Tên trận đánh lấy theo tên của
Sông Đrăng chảy qua thung lũng phía tây bắc của Plei Me, nơi đó trận
đánh diễn ra. "Ia" có nghĩa là "sông" trong tiếng người Thượng.
Tây
Nguyên thuộc vùng II chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và là
mặt trận Tây Nguyên (hay mặt trận B3) với Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam. Từ cuối năm 1964, Trung đoàn 2 bộ binh và Tiểu đoàn 409 đặc công
của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiến hành một số trận đánh với 5
tiểu đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) và giành thắng lợi.
14/11/1965: Trận Ia Đrăng trong Chiến tranh Việt Nam
Đầu năm 1965, Sư đoàn 304 nhận lệnh chuẩn bị xâm nhập Miền Nam để hỗ trợ QGP: Tướng Nguyễn Nam Khánh hồi tưởng: "Đầu năm 1965, Bộ Tổng tham mưu cho gọi tôi và đồng chí Sư đoàn trưởng sư đoàn 304 lên giao nhiệm vụ vào miền Nam chiến đấu."
Tháng
6 năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson phê duyệt áp dụng chiến lược
quân sự tìm và diệt ở miền Nam Việt Nam do Westmoreland vạch ra. Quân
đội Hoa Kỳ (QĐHK) sẽ làm lực lượng chủ lực để "bẻ gãy xương sống Việt
Cộng". Westmoreland thì xem Tây Nguyên là mối đe dọa trước mắt.
Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã điều Sư đoàn Không Kỵ số 1 lên
án ngữ ở An Khê (Gia Lai), ngăn chặn QĐNDVN hỗ trợ QGP, cắt Tây Nguyên
cùng với đồng bằng ven biển. Quân VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh
Kon Tum - Gia Lai và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên
cho quân Mỹ để thực hiện kế hoạch "tìm và diệt" trong chiến lược Chiến tranh cục bộ.
Trong
bối cảnh đó, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thay đổi
chủ trương, hạ quyết tâm mở chiến dịch Plei Me nhằm mục đích phối hợp
với chiến trường toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để mở rộng
và củng cố vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, rèn luyện bộ đội và cơ quan
chiến dịch. Qua chiến đấu từng bước tìm hiểu quân Mỹ, đồng thời xây
dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ. Thiếu tướng Chu Huy Mân được chỉ định
là Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch, Đại tá Nguyễn Chánh và Thượng tá
Nguyễn Hữu An làm phó tư lệnh. Huỳnh Đắc Hương giữ chức phó chính ủy,
Thượng tá Nam Hà là tham mưu trưởng, Thượng tá Đặng Vũ Hiệp làm Phó chủ
nhiệm chính trị. Tài liệu phía QLVNCH ghi các cấp chỉ của Mặt Trận B3
khi xảy ra trận chiến Plei Me là: Tướng
Chu Huy Mân kiêm luôn chức Tư lệnh Vùng IV Quân sự, và các cộng sự viên
chính Đại tá Quan, Phụ Tá cho Tư lệnh, và Thượng tá Hà Vi Tùng, Tham
mưu Trưởng.
Để tiến hành chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
cử 3 trung đoàn bộ binh (320, 33, 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu
đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; cùng lực lượng
vũ trang địa phương đánh phá giao thông và hậu cứ địch.
Chỗ hiểm đó chính là việc quân giải phóng bắt thóp được chiến thuật trực
thăng vận của Mỹ, khi ta có thể đón đoán trước được các khu vực trực
thăng Mỹ có thể đổ quân. Những bãi đáp này được Mỹ sử dụng như một cầu
không vận để đưa thương binh ra và đưa hàng tiếp tế vào chiến trường.
Khi bị chúng ta tấn công vào đây, phía Mỹ hoàn toàn bị động. Nguồn ảnh:
Wiki.
Về sử dụng lực lượng: vây đồn Plei Me do Trung đoàn 33 (thiếu Tiểu đoàn
2), được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Bộ phận đánh
viện trên Đường 21 là Trung đoàn 320. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 2 đảm
nhiệm đánh địch phản kích. Nghi binh ở Đức Cơ do Tiểu đoàn pháo 200.
Nghi binh ở Tân Lạc là đại đội địa phương. Hoạt động ở hướng phối hợp là
Tiểu đoàn 15 Gia Rai.
Về kế hoạch tác chiến nguyên thủy, dự kiến chiến dịch chia làm 3 đợt:
Đợt
1, Trung đoàn 33 sẽ vây lấn Pleime và khiêu chiến quân trú phòng, tạo
đủ áp lực để buộc Quân đoàn II phải phái lực lượng phản kích.
Đợt 2, Trung đoàn 320 sẽ phục kích và tiêu diệt đoàn quân tiếp cứu.
Đợt 3, cả hai Trung đoàn sẽ hiệp lực chiếm cứ và phá hủy Trại.
Kế hoạch dự tính khởi đầu vào tháng 12 năm 1965. Trung đoàn
320 đã hoạt động tại vùng Cao nguyên từ đầu năm; Trung đoàn 33 mới xâm
nhập vào tháng 9; Trung đoàn 66 cuối tháng 10 mới sẵn sàng xuất trại lên
̣đường xâm nhập vào Nam, dự tính phải mất hai tháng mới tới chiến trường Cao Nguyên.
Tuy nhiên, khi thấy QĐHK thiết lập bản doanh Sư đoàn 1 Không Kỵ tại An
Khê vào tháng 8, Bộ Tư Lệ̣nh Mặt trận B3 lấy quyết định khởi động chiến
dịch sớm hơn vào ngày 19 tháng 10 năm 1965 với hai Trung đoàn 320 và 33
mặc dù Trung đoàn 66 chưa có mặt, lợi dụng thời cơ khi lính không kỵ Mỹ
chưa sẵn sàng chiến đấu.
Lâu
sau này - khoảng năm 2000 - các giới chức quân sự và sử gia QGP chỉnh
sửa kế hoạch dự kiến thành ba đợt là chủ yếu đánh quân VNCH để dụ và
tiêu diệt quân Mỹ tại Plei Me và rồi Ia Drăng:
Đợt 1, vây đồn Plei Me, diệt quân VNCH đi ứng viện;
Đợt 2, tiếp tục vây đồn Plei Me buộc quân Mỹ vào tham chiến;
Đợt 3, tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt và kết thúc chiến dịch.
Trung đoàn 33 được lệnh tới chiếm trại Plei Me. Plei Me có vị trí quan
trọng sát với đường số 19B nối Đức Cơ với thị xã Pleiku và đường 14 nối
Phú Nhơn với Buôn Mê Thuột. Phát hiện ra đối phương cơ động, QLVNCH
quyết định cho quân chi viện tới Plei Me. Ngày 23 tháng 10 (12 giờ),
Chiến đoàn 3 thiết giáp từ Phú Mỹ hành quân lên Plei Me, gồm 3 chi đoàn
M-113 và xe tăng; Tiểu đoàn 21 Biệt động quân, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42
và 2 khẩu pháo 105mm.
Ban đầu, phía Tiểu đoàn 9 Quân giải phóng bị bất ngờ và không có chỉ huy
do Tiểu đoàn trưởng đang đi gặp Trung đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ,
Tham mưu trưởng tiểu đoàn cùng Chính trị viên phó, Chính trị viên trưởng
đều không có mặt. Chỉ huy cao nhất lúc này là một trợ lý tác chiến tiểu
đoàn. Nguồn ảnh: History.
Lúc
16 giờ 30 phút, đầu đội hình lọt vào giữa trận địa phục kích của Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các Tiểu đoàn 634 và 635 xung phong đánh
vào giữa đội hình. Đến 18g, trận đánh kết thúc, Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam ghi nhận diệt 59 xe tăng, xe bọc thép và 800 quân VNCH, thu 2
pháo 105mm và 6 xe đạn, 40 súng các loại, bắn rơi 2 máy bay.
Ngày 25 tháng 10, sau hai lần vượt qua ổ phục kích, đoàn quân chi viện
cũng tiến được vào trại Plei Me. Sau khi quân chi viện vào trại, hai
Trung đoàn 320 và 33 được lệnh tháo lui. Trung đoàn 33 rút từ Plei Me về
khu vực thung lũng Ia Đrăng, cách 10km về phía Tây để phòng thủ.
Còn QĐHK bắt đầu cuộc hành quân Long Reach (Trường Chinh) dùng máy bay oanh tạc khu vực và chuẩn bị tìm và diệt địch. Hành quân
Long Reach được QĐHK khai triển qua ba cuộc hành quân: All the Way (Lữ
đoàn 1 Không kỵ, 27/10-9/11/1965), Silver Bayonet I (Lữ đoàn 3 Không kỵ,
9/11-17/11/1965) và Silver Bayonet II (Lữ đoàn 2 Không kỵ,
18/11-26/11/1965).
Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 nhận định:
"Ta đã diệt được một phận quan trọng quân cơ động của ngụy buộc quân
Mỹ phải vào tham chiến. Nhiệm vụ bao vây của Plei Me đã hoàn thành. Chủ
trương của ta mở bao vây, điều chỉnh lại đội hình. Sử dụng 2 Trung đoàn
320 và 33 sẵn sàng đánh bại các đợt phản kích tiếp theo của địch".
Ngày 29 tháng 10, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
chủ động kết thúc đợt 1 chiến dịch, chuyển sang gia đoạn tiếp theo là
tập trung lực lượng nhằm tiến công trại Plei Me lần thức hai.
Ngày
10 tháng 11, Lữ đoàn 3 Không kỵ thay thế Lữ đoàn 1
Không kỵ đồng thời nhận được lệnh thực hiện một thế nghi binh bằng các
chuyển hướng hành quân sang đôngt nhằm khuyến dụ Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3
qui tụ ba trung đoàn vào các vùng tập trung, để chuẩn bị tấn công trại
Plêim lần thứ hai ấn định vào ngày 16 tháng 11.
Dù khá bất ngờ với việc cự ly đổ bộ của địch quá gần và không có chỉ
huy, nhưng ngay lập tức Tiểu đoàn 9 đã dàn quân, bố chí trận địa và nổ
súng đón lõng những đợt đổ quân tiếp theo của địch khiến chúng hoảng
loạn, nghĩ rằng trận địa đã bị phục kích sẵn chứ không hề biết cuộc đụng
độ này vốn là "vô tình". Nguồn ảnh: Wiki.
Ngày
12 tháng 11, Lữ đoàn 3 Không kỵ nhận được lệnh tiến công vào chân rặng
núi Chu Prông. Ngày 13 tháng 11, Đại tá Brown gặp Trung tá Moore và ra
lệnh chuẩn bị đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray sáng ngày hôm sau
Một tiểu đoàn không kỵ của Quân đội Hoa Kỳ đổ bộ xuống bờ nam sông Ia
Đrăng. Một tiểu đoàn khác đổ bộ xuống cứ điểm 732. Một lữ đoàn không kỵ
trấn giữ dọc đường 19B. Ngày 11 tháng 11, một tiểu đoàn quân Mỹ tiếp tục
đổ xuống Plei Ngo, cách Plei Me 12km về phía tây
Ngày 14 tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 1/7 không kỵ Mỹ đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray.
Bộ
chỉ huy trận Ia Đrăng đến đóng ở chân núi phía Nam Chư Prông. Lực lượng
của họ bao gồm trung đoàn 66 và tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33, dưới sự chỉ
huy của Nguyễn Hữu An (chỉ huy trưởng) và Đặng Vũ Hiệp (chính ủy), phối
hợp với tiểu đoàn H15 Quân Giải phóng miền Nam
đánh nghi binh ở đường 13 (tuy nhiên tài liệu phương Tây lại cho rằng
tiểu đoàn H15 cũng tham gia trận đánh). Đối mặt với họ là 3 tiểu đoàn
của Quân đội Hoa Kỳ: 1/7 (do trung tá Harold Moore chỉ huy), 2/7 thuộc
Lữ đoàn 3 Không kỵ và 2/5 thuộc Lữ đoàn 2 Không kỵ, tổng cộng khoảng hơn
1.000 quân. Cùng thời gian này, Mỹ huy động 1 tiểu đoàn pháo binh lập 2
trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở tây nam Quênh Kla 2km và đông nam Ia Đrăng 3km để chi viện cho Lữ đoàn 3.
Như vậy, xét về quân số tác chiến đơn thuần, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
có ưu thế hơn (1.500 quân so với 1.000 quân). Tuy nhiên quân Mỹ được
trang bị hỏa lực rất hùng hậu, trung bình 1 lính Mỹ tại chiến tuyến được
5 lính khác ở tuyến sau hỗ trợ phi pháo, ném bom, tải thương. Trong
trận đánh, pháo binh Mỹ bắn 6000 loạt/ ngày, không quân xuất kích 300
phi vụ/ngày (có cả máy bay B-52),
từ đó cho phép ước lượng pháo binh Mỹ tham chiến ít nhất 1 tiểu đoàn,
không quân Mỹ tham chiến ít nhất 3 tiểu đoàn (chưa kể hàng trăm lượt
trực thăng chuyển quân). Như vậy nếu tính cả lực lượng hỗ trợ tuyến sau
thì quân Mỹ lại có ưu thế hơn hẳn.
Phía ta liên tục đánh kiểu vu hồi từ nhiều hướng, khiến lực lượng địch ở
dưới đất phải co cụm lại cùng nhau phòng thủ tới đêm mà không thể rút
lui được. Đêm xuống, phía Mỹ sử dụng pháo kích yểm trợ theo tọa độ để
bảo vệ lực lượng đang bị bao vây dưới mặt đất. Tới sáng sớm, phía ta tấn
công trực diện lực lượng Mỹ đang co cụm khiến quân Mỹ buộc phải gọi bom
Napalm thả xuống giữa trận địa hỗn loạn, làm 24 lính Mỹ thiệt mạng và
20 lính Mỹ thương nặng. Nguồn ảnh: All.
Ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 1/7 Không kỵ đổ bộ xuống bãi
đáp X-ray vị trí cách Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) khoảng 200, với chủ
đích "chộp hổ đằng đuôi".
Cùng ngày, nhưng ở vị trí khác QĐHK cho đổ bộ hai tiểu đoàn (thiếu một
đại đội) cùng một đại đội pháo. Một đơn vị pháo khác tham gia trấn giữ
đường 19B. Cuộc đổ bộ này khiến cho Mặt Trận B3 đình chỉ tấn công trại
Pleime lần thứ hai và tung hai tiểu đoàn 7 và 9 xử lý với tiểu đoàn Mỹ,
trong khi các lực lượng của hai Trung đoàn 32 và 33 án động tại các địa
điểm tập trung.
Sau khi hoàn thành trận địa, QĐHK tập trung pháo binh và
máy bay trực thăng bắn phá khu vực Bãi X-ray. 10 giờ 48 phút, quân Mỹ
dùng 8 trực thăng đổ bộ bộ phận đi đầu (Đại đội Bravo gọi tắt là Đại đội
B) do Đại úy John Herren của Tiểu đoàn 1 (109 lính trong đó có tiểu
đoàn trưởng trung tá chỉ huy Moore) xuống Bãi X-ray. 35 phút sau, Mỹ
tiếp tục đổ đại đội Alpha (gọi tắt là đại đội A) quân số 106 lính do đại
úy Tony Nadal chỉ huy. Sau khi nắm được đại đội A, Tiểu đoàn trưởng
Moore cho quân chia làm 2 mũi tiến công vào Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn
66
Tiểu đoàn 9 bị bất ngờ, tiểu đoàn trưởng đang đi gặp trung
đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ. Tham mưu trưởng tiểu đoàn cũng đang đi
chuẩn bị chiến trường ở Ban Mê Thuột, chính trị viên phó cũng đang ở sở
chỉ huy trung đoàn, chính trị viên trưởng đang ở chỗ Đại đội 12. Chỉ huy
cao nhất lúc bấy giờ có một trợ lý tác huấn tiểu đoàn. Tuy bị bất ngờ
nhưng binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
không hoảng loạn và tự tổ chức chiến đấu. Các Đại đội 13, 11 và 12 nghe
tiếng súng đã chủ động cơ động đánh vào bên sườn quân địch. Đại đội B
của Mỹ bị đánh mạnh ở hai bên sườn.
Đến khoảng 11 giờ, tiểu đoàn trưởng chạy về đến chỗ Đại
đội 11 nắm được Đại đội 11 và một bộ phận của Đại đội 12, một khẩu súng
cối tiếp tục tổ chức đánh vào quân Mỹ. Trước các đợt phản kích liên tiếp
của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, cả hai mũi xung phong của Mỹ đều bị bẽ gãy, phải lui về cụm lại cách Tiểu đoàn 9 hơn 1km
về phía Đông để chống lại. Một trung đội Mỹ bị vây chặt ở ven Bãi đáp
X-ray, Trung đội trưởng Henry Herrick bị giết tại trận. Các nỗ lực giải
vây bước đầu không thành. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, lực lượng quân Mỹ
tại Bãi X-ray được tăng cường Đại đội Charlie (gọi tắt là Đại đội C) do
Đại úy Bob Edwards chỉ huy nhằm tăng cường khả năng phòng ngự trước các
đợt tập kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Chuẩn tướng Knowles, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ Tiền
phương, báo cáo Tướng Kinnard, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ là tiểu
đoàn 1/7 không kỵ đụng độ với đối phương, đồng thời xin thêm một tiểu
đoàn - 2/5 đến tiếp ứng để ương đầu với hai tiểu đoàn 7 và 9.
Tới tối ngày 16.11, khi phía Mỹ huy động cả máy bay B-52 rải thảm xuống
bãi đổ X-Ray thì cả quân ta và Mỹ đều rút lui an toàn khỏi vùng bị oanh
kích. Kết quả là trong những ngày đầu tiên của trận Ia Đrăng, phía Mỹ
mất khoảng 200 quân trong đó có 79 lính thiệt mạng, 121 lính bị thương
và một số khác mất tích. Nguồn ảnh: Bad.
17
giờ, Mỹ gọi phi pháo đánh liên tục vào đội hình Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam,
các đại đội tự động rút khỏi vị trí (đại đội 11, 12, 15 rút về phía tây
bắc suối Khôn Chưa, đại đội 13 rút về hướng Tiểu đoàn 7). Kết quả tiểu
đoàn 9 đã đánh bại cuộc tập kích của Mỹ, Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam ghi nhận họ đã diệt khoảng 150 lính Mỹ, bắn rơi một máy bay chiến
đấu.
Cũng vào lúc 17 giờ, đại tá Brown ra lệnh cho tiểu đoàn
2/5 không kỵ trực thăng vận đến Bãi đáp Victor, cách Bãi đáp X-Ray 5 cây
số, để sẵn sàng tiếp ứng cho tiểu đoàn 1/7 không kỵ sáng hôm sau.
Lúc 19 giờ, Tướng Kinnard bàn thảo với Tướng Larsen, Tư
lệnh First Field Force, sử dụng phóng pháo cơ B-52 oanh tập vùng tiếp
cận Bãi đáp X-Ray. Ông được thông báo là Tướng DePuy, trưởng phòng 3
MACV đã phối trí với Tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh Quân đoàn II, đã dự tính
dùng B-52 oanh tập vào lúc 16 giờ chiều hôm sau.
Sau khi bị tiểu đoàn 9-QGP đẩy lùi, quân Mỹ cụm lại thành
hình vòng quanh Bãi đáp X-Ray, ban đêm dùng máy bay thả đèn dù, dùng
pháo binh bắn chặn xung quanh đề phòng tập kích.
Ngày 15 tháng 11, lúc 5 giờ 30 phút, tiểu đoàn 7 thuộc
trung đoàn 66 QGP bất ngờ tấn công tiểu đoàn 1/7 Không kỵ QĐHK, lực
lượng sử dụng gồm Đại đội 1 và 2 có hai khẩu súng cối 82mm của Đại đội 15. Tiểu đoàn triển khai cách địch khoảng 150 m, dùng hai khẩu cối 82mm
bắn 14 quả sau đó lệnh cho Đại đội 1 và 2 xung phong. Bộ đội tiểu đoàn 7
Quân Giải phóng miền Nam Việt Namdùng 1 trung đội đột kích với 3 khẩu
B-40, 6 RPD,
3 thượng liên, 13 AK vào diệt điện đài và đánh giáp lá cà với quân Mỹ.
Sau vài phút rối loạn, quân Mỹ đã đánh trả ác liệt. Phía Mỹ có máy bay
trợ chiến bằng bom và tên lửa. Máy bay Mỹ đến thả bom napalm xuống trận
địa lúc này đang lẫn lộn cả quân của hai phía. QĐHK thương vong thêm 24
lính chết và 20 bị thương.
Sau trận tập kích, tiểu đoàn 7 rời khỏi trận địa. Trước
khi rút, tiểu đoàn lệnh đại đội 1 để lại một trung đội và hai khẩu súng
cối để phục kích nếu trực thăng Mỹ xuống lấy xác thì đánh. Trên đường
rút, bị máy bay và pháo binh đánh chặn, các đại đội của tiểu đoàn 7 dùng
súng bắn rơi tại chỗ 4 chiếc trực thăng.
Lúc 9 giờ 30, đại tá Brown, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Không
kỵ, đáp xuống bãi đáp X-Ray để thu xếp chuẩn bị rút tiểu đoàn 1/7 Không
kỵ. Việc tấn công bãi X-ray đã khiến cho QGP buộc phải tạm hoãn đánh cứ
điểm Plei-me. Tuy nhiên, sau khi sắp xếp lại lực lượng, Plei-me vẫn bị
QGP tấn công
Tình thế của Kỵ binh bay Mỹ tại bãi đáp Albany còn khổ hơn khi liên tục
bị quân ta tấn công cả ngày lẫn đêm, do bãi đáp có chiến sự quá "nóng",
phía Mỹ buộc phải nhượng bộ, rút lui quân về một bãi đáp dự phòng cách
đó khoảng 13 km. Đen đủi thay, phía ta đã lên kế hoạch đón lõng địch sẵn
ở điểm này. Nguồn ảnh: Peter.
Khoảng 12 giờ trưa, tiểu đoàn 2/5 không kỵ tiến vào trận
địa, sau khi được trực thăng vận tới bãi đáp Victor, cách X-Ray khoảng 5
cây số, lúc 8 giờ sáng và âm thầm lội bộ tới bãi đáp X-Ray để giải cứu
trung đội bị cô lập. Đến khoảng 3 giờ chiều thì trung đội này được giải
vây. Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không hay biết là tương quan lực lượng đã thay đổi từ 2:2 lên 3:2.
Đúng 4 giờ chiều, bom B-52 trải thảm đợt đầu xuống địa
điểm YA8702 (khoảng 7 cây số tây LZ X-Ray) và liên tiếp trong 5 ngày kế
tiếp,
tại YA8607, YA9007, YA8600 và YA9000 cùng ngày; tại YA8305, YA8505 và
YA8400 ngày 16/11; tại YA9201, YA9401 (bãi đáp X-Ray) YA9208 và YA9408
ngày 17/11; tại YA9301, YA8900 và YA8901 ngày 18/11; tại YA9009, YA9209,
YA9006 và YA9206 ngày 19/11; tại YA8306, YA8506, YA8303 và YA8503 ngày
20/11.
Lúc 4 giờ 30 chiều, chuẩn tướng Knowles, Tư lệnh tiền phương Sư đoàn 1
Không kỵ, đáp xuống bãi đáp X-Ray và thông báo sẽ cho Tiểu đoàn 1/7
Không kỵ rút ra khỏi bãi vào ngày hôm sau.
Khoảng 5 giờ chiều, thiết đội 1/9 không kỵ tiến vào vùng B-52 oanh tập để thẩm định kết quả của cuộc oanh tập.
Khoảng 6 giờ chiều, Tướng Kinnard yêu cần thêm một cuộc oanh tạp B-52 và
được cho biết là Tướng Vĩnh Lộc cũng yêu cầu tương tự cho cùng các địa
điểm oanh tập.
Trận đánh này mới thực sự là thảm họa đối với Mỹ khi lực lượng Mỹ trong
trận này có tới 155 lính thiệt mạng, 121 lính bị thương trên tổng số 400
lính tham chiến. Đây là thương vong cao nhất trong một ngày mà Mỹ phải
hứng chịu trong Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Quân giải phóng trong trận Ia
Đrăng. Nguồn ảnh: Peter.
Suốt ngày 15, Mỹ cho nhiều lần máy bay hạ cánh xuống lấy
xác lính Mỹ nhưng đều bị súng cối bắn nên không dám đỗ xuống. 17 giờ 30
phút ngày 15 tháng 11, Mỹ đổ hai đại đội xuống để chiếm lại trận địa và
thu dọn xác chết, bị súng cối bắn cháy thêm hai chiếc trực thăng.
Trận tập kích lần thứ hai của tiểu đoàn 7 diễn ra đêm 15
rạng ngày 16 tháng 11. Tiểu đoàn 7 còn Đại đội 3 và hai khẩu súng cối
82mm chưa tham gia chiến đấu. Căn cứ vào tình hình quân Mỹ cụm lại, cấp
trên quyết định dùng lực lượng này và tăng cường thêm Trung đội 1 của
Đại đội 1 (đánh bám địch) và hai khẩu súng cối 82mm
tổ chức trận tập kích ngay trong đêm 15. Tuy nhiên lần này quân Mỹ đã
tổ chức bố phòng vững chắc hơn nhiều so với đêm trước và liên tục gọi
pháo binh bắn phá dữ dội để yểm trợ nên Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam phải nhanh chóng chấm dứt tập kích sau khi chỉ khiến 6 lính Mỹ bị
thương.
Phía
Mỹ-VNCH cho rằng tại chiến trường bãi đáp X-Ray, phía Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam không còn súng cao xạ và pháo kích nên phải sử dụng
đến chiến thuật "biển người". Tuy nhiên, trên thực tế Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam
không hề sử dụng chiến thuật "biển người". Do việc chiếm lĩnh trận địa
trước nên một ổ phục kích có thể tiêu diệt nhiều đám quân Mỹ khác nhau,
đồng thời các ổ phục kích cũng có thể hỗ trợ nhau. Mặc dù quân số của
Mỹ-VNCH đông hơn nhưng nếu xét về tỷ lệ QGP-Mỹ ở từng cứ điểm thì QGP
lại đông hơn do họ đã xé lẻ lực lượng đổ bộ của Mỹ-VNCH. Điều này khiến
Mỹ-VNCH lầm tưởng QGP dùng chiến thuật biển người.
Sáng ngày 16 tháng 11, Moore nhận được lệnh cho rút tiểu
đoàn 1/7 không kỵ bằng trực thăng vận, để lại hai tiểu đoàn 2/7 và 2/5
phòng thủ bãi đáp. Chủ ý là khiến cho phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vững tâm vì tương quan lực lượng vẫn là 2:2.
Lúc 8 giờ 25 tối, Tướng DePuy chuẩn bị xong kế hoạch oanh
tập B-52 vào trưa ngày hômg sau. Đại tá Brown, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1
không kỵ cam đoan là các toán không kỵ có đủ thì giờ tránh ra xa khoảng
cách an toàn 3 cây số.
Giai
đoạn đầu của trận Ia Đrăng chấm dứt với kết quả là 79 lính Mĩ chết và
121 bị thương. Con số này khá khớp với ước tính của Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam
rằng họ đã diệt hơn 250 quân địch. Tuy nhiên thương vong của phía Việt
Nam thì khá mâu thuẫn. Moore báo cáo quân Mĩ "đếm" được 634 lính Việt
Nam chết chưa kể số bị thương (ban đầu ông còn ước tính lên tới 834
nhưng sau đó hạ xuống do thấy vô lý). Còn theo chiến sử Trung đoàn 66
ghi nhận họ có 55 người hy sinh và khoảng 100 bị thương (chiếm 30% quân
số của Tiểu đoàn 7).
Tổng cộng, trong trận Ia Đrăng phía ta đã loại khỏi cuộc chiến tổng cộng
476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính tử vong và 245 lính bị thương. Con số
này là rất lớn khi mà lực lượng Mỹ tham gia trận Ia Đrăng đông gấp
nhiều lần quân ta và chúng đã ném tới 5000 tấn bom, bắn hơn 6000 quả đạn
pháo một ngày trong trận đánh này. Nguồn ảnh: Peter.
Trận đánh ngày 17 tháng 11 (trận Albany):
Do
bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh liên tục từ khi mới đặt chân
xuống đất nên lực lượng Mỹ đã bị thiệt hại nặng nề, để tránh khu vực
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đang uy hiếp và rút lui an toàn, QĐHK trong khu vực còn lại khoảng 400
lính đã rời chỗ cũ sang bãi trống ở ngã ba Làng Tung và Làng Sinh.
Tiểu đoàn 8 Quân Giải phóng còn sung sức nhanh chóng cơ
động xuống nhận nhiệm vụ mới mà trung đoàn giao (trên đường đi sẵn sàng
chiến đấu vì có thể gặp địch). Tiểu đoàn 8 nhận được lệnh, chiều ngày 16
đã cho bộ đội hành quân ngay về vị trí sở chỉ huy trung đoàn. Tiểu đoàn
1 (sau này là Trung đoàn 33 QGP) hành quân đến trợ chiến nhưng lạc
đường. Lực lượng tiểu đoàn 8 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ
chiến (đại đội 10) ngoài ra còn được tăng cường một đại đội 12,7mm
(6 khẩu, đạn đầy đủ). Đội hình hành quân theo đội hình chiến dấu tao
ngộ sắn sàng chiến đấu cao, đặc biệt khi đi đến ngã ba đường Làng Tung
và làng Sinh. Đội hình của Quân Giải phóng xuất phát từ ngày 16/11, đến
5h sáng ngày 17/11 thì tổ chức tấn công. Giai đoạn thứ hai của trận Ia
Đrăng bắt đầu.
Sáng ngày 17 tháng 11, hai tiểu đoàn không kỵ của QĐHK
được lệnh rút ra khỏi bãi đáp, tiểu đoàn 2/5 tiến về hướng bắc tới bãi
đáp Columbus, còn tiểu đoàn 2/7 tiến về hướng tây bắc tới bãi đáp
Albany, với chủ đích "chộp hổ đằng đuôi từ một hướng khác".
Khi hai tiểu đoàn này lội bộ ra khỏi bãi đáp khoảng 3 cây số, thình
lình B-52 trải thảm bom ngay xuống bãi đáp X-Ray và vùng lân cận.
Lúc 15 giờ trưa, B-52 oanh tập quang vùng Bãi đáp Albany. Tiếp sau đó
một đơn vị không kỵ tiến vào vùng để thẩm định kết quả của cuộc oanh
tập. Khi tiến gần tới bãi đáp Albany tiểu đoàn 2/7 phát hiện ra vị trí của
Tiểu đoàn 8 ở bờ sông Ia Đrăng và tổ chức tấn công lúc đơn vị này đang
nghỉ trưa. Nhưng chính họ lại bị đặc công Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phục kích.
Hình ảnh lính Mỹ tại Ia Đrăng
Theo tài liệu của Quân Giải phóng, khoảng 12 giờ, Đại đội 8
đi đầu đã đến ngã ba không thấy địch, Đại đội 6 đến suối cầu gặp đại
đội 1 tiểu đoàn 1, lực lượng ở dây cho biết phía trước có hai trung đội
địch đang tiến về hướng Quân Giải phóng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Lê
Xuân Phôi cho tất cả dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu,
đồng thời cho liên lạc báo cho đại đội 8 biết tình hình. Tiểu đoàn tổ
chức thành hai thê đội: Thê đội 1 gồm đại đội 6 (thiếu trung đội 3) và
Thê đội 2 gồm đại đội 7 và trung đội 3 đại đội 6. Trong vài phút, đại
đội 6 đã bí mật triển khai xong thì phát hiện lính Mỹ đang đi về hướng
QGP. Khi lính Mỹ vào gần cách QGP khoảng 200m, lính Mỹ đột ngột nổ súng,
đại đội trưởng đại đội 6 thấy địch còn ở xa nên không cho đại đội nổ
súng đợi đối phương vào gần hơn. Khi còn cách 40 đến 50 mét đại đội
trưởng lệnh cho đại liên bắn, trung đội 1 và 2 cũng bắn mạnh vào đội
hình lính Mỹ và xung phong. Chỉ trong khoảng 5 phút hai trung đội Mỹ đã
bị tiêu diệt hoàn toàn. 12 giờ 7 phút, đội hình chính của lính Mỹ tới
cách lực lượng QGP khoảng 300m, lính Mỹ hốt hoảng bắn vào đội hình của
QGP. Lực lượng Mỹ đông, nhưng đại đội 6 chiếm địa hình có lợi nên nắm
được thế chủ động, đại đội 8 khi nghe tiếng súng cũng cho bộ đội quay
lại đánh vào bên sườn quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi chỉ huy đơn
vị tiến công vào giữa đội hình quân Mỹ, làm đối phương bị rối loạn và
bị cắt rời. Cùng lúc đó tiểu đoàn phó tên Luân của tiểu đoàn 1 trung
đoàn 33 đang chỉ huy bộ đội lùng lính Mỹ ở hướng khác nghe súng nổ liền
dẫn đơn vị đến phối hợp. Đội hình của lính Mỹ bị các lực lượng QGP khép
vòng vây giữa thung lũng Iađrăng. Ở trên không, máy bay lên thẳng, máy
bay phản lực quần lượn nhưng không có cách nào cứu nguy được cho đồng
lính Mỹ phía dưới vì lực lượng Quân Giải phóng áp sát, đánh gần. Trận
đánh đang tiếp diễn thì tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi hy sinh, chính trị
viên phó tiểu đoàn cũng bị thương nặng phải đưa ra khỏi trận địa. Tiểu
đoàn phó tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 chỉ huy luôn cả hai đơn vị.
Theo tài liệu của phía Hoa Kỳ, Tiểu đoàn 8 dùng súng máy tấn công cùng
bộ đội tiến công bên sườn đội hình đối phương đang tấn công đến gần rồi
đột ngột đổi hướng tiến thẳng vào đối phương và triển khai chiến thuật chia cắt
và đánh mặt đối mặt với QĐHK. Chiến thuật này khiến các vũ khí hạng
nặng của QĐHK không triển khai được và quân của họ không được yểm trợ
đầy đủ như mọi khi. Đồng thời các đơn vị của họ bị chia cắt nên lúng
túng và không xác định rõ mục tiêu, nhiều khi bắn vào nhóm khác của quân
mình. Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
chiếm được các vị trí cao hơn và dễ dàng phát hỏa vào đội hình của đối
phương đang di chuyển. Hậu quả là QĐHK thiệt hại nặng nề. Đại đội A của
Tiểu đoàn 2 QĐHK bị chia cắt trong một khu vực trống trải bị mất 50 binh
sĩ ngay trong những phút đầu tiên. Trong khi Đại đội C mất 20 người
trong những phút đầu. Mọi việc trở nên tồi tệ hơn đối với QĐHK khi Tiểu
đoàn 1 của Trung đoàn 33 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
cuối cùng cũng đến nơi và tấn công đối phương từ sau lưng. Trước tình
hình trên, phía Mỹ phải điều Tiểu đoàn 2/5 tới Bãi Albany để chi viện và
yểm trợ cho Tiểu đoàn 2/7 thu dọn xác chết và sơ tán thương vong.
Bức ảnh này ghi lại khoảnh khắc một chiến sĩ Giải Phóng Quân bị l.ính M.ỹ bắt giữ trong trận Ia Đrăng,
Đến 8 giờ tối ngày 18 tháng 11, trận chiến ở thung lũng Ia Đrăng kết
thúc với việc các đơn vị QĐHK rút lui khỏi Bãi đáp Albany. Trận đánh thứ
2 này thực sự là một thảm họa với quân Mỹ: 155 lính bị giết và 121 bị
thương, tức hơn 2/3 lực lượng; riêng Đại đội C chịu tổn thất lớn nhất
với con số thương vong lên tới 95 người. Đây là thương vong cao nhất
trong 1 ngày mà Mỹ phải chịu ở Việt Nam tính đến khi đó. Quân Mỹ tuy vậy
vẫn báo cáo giết 403 lính đối phương, nhưng thực tế con số này là không
có cơ sở, vì thực tế quân Mỹ trong trận này gần như bị xóa sổ và mất
trận địa, không có cách nào để có thể "đếm" được thương vong của đối
phương.
Trong ngày 18 tháng 11, vào buổi sáng, Tướng Westmoreland và Tướng Cao
Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng VNCH, từ Sài G̀òn bay lên Pleiku gặp
trung tá Moore và thăm tiểu đoàn 1/7 không kỵ tại trại Hollaway, đồng
thời tới bản doanh lữ đoàn 3 không kỵ. Tại đây, hai ông nghe đại tá
Brown thuyết trình về trận Ia Drăng và bay trực thăng quan sát chiến
trường. Vào buổi chiều hai ông tới thăm các thương bệnh binh tham dự
trận Bãi đáp Albany được chữa trị tại bệnh viện ở Qui Nhơn.
Trong Hồi ký, tướng Đặng Vũ Hiệp viết:
"...Chúng tôi đi kiểm tra trận địa sau khi ta làm chủ chiến trường,
địa hình hàng chục ki-lô mét vuông bị đảo lộn, cây gãy đổ ngổn ngang,
không còn đường còn lối. Địch chết thành đống, có chỗ năm, ba tên; xen
lẫn vào đó là xác chiến sĩ ta. Nhiều đồng chí nằm đè lên xác lính Mĩ,
lưỡi lê còn cắm vào ngực tên địch. Có đồng chí hy sinh tay vẫn nắm chặt
quả lựu đạn bên sườn. Có tổ ba chiến sĩ hy sinh mà phía trước và phía
sau các anh có hàng chục xác Mĩ. Có đồng chí hy sinh trên vai còn vác
thi thể đồng đội. Nhìn vào trạng thái địch ta như trên không những thấy
rõ được tính chất quyết liệt một cách cụ thể, đồng thời thấy được sự hy
sinh dũng cảm tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ ta. Về mặt chiến thuật càng
thấy rõ nét hoạt động của tổ ba, thậm chí của những bộ phận một, hai
đồng chí có rất nhiều tác dụng trong việc đột nhập sâu vào đội hình
trung tâm của địch".
Theo
tài liệu của Việt Nam Cộng hòa, ở hướng phối hợp tại Đức Cơ, Tiểu
đoàn 2/5 (Lữ đoàn 2 Không kỵ) cùng 2 đại đội pháo thiết lập tại bãi đáp
Crooks yểm trợ cho Lữ đoàn dù gồm 5 tiểu đoàn của QLVNCH đến trợ chiến.
Trung đoàn 320 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nghênh chiến nhưng
không gây thiệt hại nặng cho đối phương như ở hai hướng kia; trái lại,
bị quân Dù VNCH gây 265 chết (đếm xác), 10 bị bắt và 58 vũ khí tịch thu. Ngày 18 tháng 11, Bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng ra lệnh cho
Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo Falcon ở phía tây suối Ia Muer.
Thực hiện mệnh lệnh, từ 16 giờ 30 phút ngày 18, hai tiểu đoàn 2 và 3
cùng phân đội súng cối do tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy
nổ súng tiến công trận địa pháo Mỹ. Sau ít phút chiến đấu đã có 3 lính
Mỹ chết và 13 bị thương, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
phá huỷ 3 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu cối 81mm, 5 máy bay trực thăng và bắn
rơi 2 chiếc khác; thu 750 viên đạn pháo và 30 viên đạn cối.
Trong
bốn ngày giao chiến, chỉ với lực lượng bộ binh trang bị nhẹ, "trận đánh
sông Drang" của chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã loại khỏi
vòng chiến 476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính chết và 245 bị thương.
Thương vong của quân Việt Nam được tướng Đặng Vũ Hiệp
ghi trong hồi ký là 208 người chết và 146 bị thương (một tài liệu khác
ghi nhận Trung đoàn 66 có 157 người chết, bị thương 239, bao gồm 80
người bị thương nhẹ, 71 người bị thương vừa, 88 người bị thương nặng).
Phát súng mở màn trận Ia Đrăng diễn ra vòa ngày 14.11 khi tiểu đoàn 1/7
Không Kỵ của Mỹ đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray cách vị trí của Tiểu đoàn 9,
Trung đoàn 66 Quân giải phóng Việt Nam chỉ khoảng 200 mét. Giao tranh
ngay lập tức diễn ra khi trực thăng Mỹ chuẩn bị đáp đất. Nguồn ảnh: S60.
Bộ
Tư lệnh Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa tuyên bố thiệt hại phía Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam
từ 19-10 đến 26-11 như sau: chết đếm xác 4.254, chết ước tính 2.270
(tổng là 6.524), bị thương 1.293, bị bắt 179, vũ khí cộng đồng 169, vũ
khí cá nhân 1.027. Tướng Kinnard thì tuyên bố số liệu này là do chính
các bản doanh dã chiến cấp trung đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
báo cáo về trung ương; các báo cáo này bị các đài kiểm thính phía bên
QLVNCH nghe ngóng chận bắt được.Ngoài ra báo cáo tổn thất của Bộ Tư lệnh
Quân đoàn II bao gồm các tổn
thất do 5 ngày bom trải thảm B-52 gây ra, mà phía QGP và Hoa Kỳ không đề
cập tới. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho rằng phía Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam
không đạt được mục tiêu chiếm cứ trại và tiêu diệt quân tiếp viện và họ
báo cáo với cấp trên rằng toàn bộ lực lượng B3 bị đánh tan và đẩy lui
qua biên giới Căm Bốt.
Tuy nhiên, các phân tích sau này cho thấy con số thiệt hại của Quân
Giải phóng mà Mỹ tuyên bố (chết 6.524, bị thương 1.293) là phi lý và
phóng đại quá nhiều so với thực tế, bởi con số này còn vượt quá tổng
quân số mà quân Giải phóng huy động cho chiến dịch (khoảng 6.600 người).
Ngược lại, theo số liệu của Quân Giải phóng thì thương
vong của họ trong toàn chiến dịch (từ 19/10 tới 26/11) là 554 người tử
trận và 669 bị thương. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
tuyên bố đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.974 quân địch (trong đó có
khoảng 1.700 lính Mỹ), phá huỷ 88 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc
thép), 5 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 59 máy bay. Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam
kết luận họ đã hoàn thành các mục tiêu đề ra trong chiến dịch: đánh
thiệt hại nặng 1 lữ đoàn không kỵ tinh nhuệ của Mỹ, lực lượng Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam thu được nhiều kinh nghiệm quý báu trong tác
chiến chống chiến thuật trực thăng vận của Mỹ, cũng như cách đánh áp sát
để hạn chế tối đa ưu thế hỏa lực không quân, pháo binh vượt trội của
Mỹ.
Sau
trận đánh, Trung đoàn 66 đã được tặng thưởng một lúc 2 Huân chương quân
công hạng nhất, vì theo lời đại tướng Nguyễn Chí Thanh
thì "do không có huân chương nào cao hơn, vì vậy tặng một lúc 2 huân
chương để thưởng công cho thành tích tuyệt vời của Trung đoàn 66". Nhiều
chiến sĩ được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ: Đại đội trưởng Đại đội 2
Lê Văn Tam
được tặng huân chương chiến công hạng nhì và danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ
cấp 3, Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế diệt 8 lính Mĩ (3 bằng
dao găm). Trung uý Vũ Đình Dự - Chính trị viên Đại đội 8, Trung úy Đoàn
Ngọc Đảnh - Đại đội trưởng Đại đội 7, Thiếu úy Nguyễn Xuân Ngạnh trung
đội trưởng, Thiếu úy Vũ Đức Thắng trung đội trưởng, chiến sĩ trẻ Lê Văn
Quỳnh (18 tuổi), tiểu đội phó Hà Huy Trọng, Phạm Văn Tiết, Cao Thái
Thưởng, Trần Minh Duyên... là những chiến sĩ được cấp trên ghi nhận diệt
từ 5-15 lính Mỹ. Đặc biệt Lê Khắc Nga, Lê Văn Điều mỗi người được ghi
nhận diệt hơn 20 lính Mỹ, là 2 chiến sĩ đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ
cấp ưu tú đầu tiên ở chiến trường.
Về mặt chiến thuật, trận đánh đã cung cấp cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
nhiều kinh nghiệm quý về tác chiến chống quân Mỹ, một đối thủ vượt trội
về hỏa lực và sức cơ động. Tiêu biểu là chiến thuật "Nắm thắt lưng Mỹ
mà đánh", tức áp dụng lối đánh cận chiến áp sát lính Mỹ để vô hiệu hóa
hỏa lực pháo binh và không quân của Mỹ. Các tài liệu của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận:
"Lựa chọn cách đánh và đánh thắng địch ngay trận đầu là nét độc đáo
của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch. Quân Mỹ mới vào miền Nam tuy có chiếm
ưu thế về hỏa lực, sức cơ động nhưng chúng rất chủ quan không đánh giá
đúng mình và coi thường đối phương. Mặt khác ta không coi thường địch mà
đã chuẩn bị tốt tư tưởng tâm lý cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận
hy sinh để giành thắng lợi.
Sự sắc sảo của nghệ thuật chỉ huy chính là biết khoét sâu vào chỗ
yếu, chỗ sơ hở của địch để lựa chọn địa hình, lựa chọn cách đánh đúng,
giành thắng lợi trong từng trận chiến đấu. Trong chiến dịch này mưu hay
của ta là lừa địch, kế giỏi là dụ quân Mỹ vào đúng điểm quyết chiến ta
đã chọn; phát huy sở trường đánh gần của ta để làm hạn chế điểm mạnh về
hỏa lực, cơ động Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định ta có khả
năng đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ".
Có tổng cộng khoảng 400 lính Mỹ hành quân từ bãi đáp Albany về bãi đáp
phụ, phía ta có Đại đội 8 thuộc Tiểu đoàn 1 đã hành quân đến bãi đáp phụ
trước cả lực lượng Mỹ và một lần nữa hai bên lại bất ngờ chạm trán
nhau. Ảnh: Quân giải phóng trong trận Ia Đrăng. Nguồn ảnh: Peter.
Một
số thế chiến thuật được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đem ra áp
dụng trong toàn trận chiến gồm có: đánh điểm diệt viện, đánh diện diệt
điểm, "nắm thắt lưng địch mà đánh", "biển người", "kiểm thủ kích
vĩ"...Tuy nhiên, trên thực tế, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
không hề sử dụng biển người do họ sử dụng ưu điểm của chiến thuật đánh
điểm diệt viện, đánh diện diệt điểm nên tỷ lệ QGP-Mỹ ở mỗi cứ điểm có
lợi cho QGP. Từ đó, phía Hoa Kỳ luôn có cảm giác số quân của Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam đông hơn trong khi trên thực tế quân số của
Mỹ-VNCH lại là bên đông hơn
Về
mặt chiến lược, trận đánh gây ra một ảnh hưởng sâu rộng về quan điểm
chiến tranh của người Mỹ. Ngay tuần lễ sau đó Westmoreland đã đề nghị
cho ông thêm 41.500 lính Mỹ với lý do "lực lượng chủ lực Bắc Việt Nam đã
thâm nhập vào miền Nam".
Những đề nghị này không ngừng tăng lên kể từ tháng 7, và đề nghị mới này
đưa số quân Mỹ đến VN lên đến 375.000 người. Bộ trưởng McNamara phải bỏ
dở ngay một hội nghị của OTAN ở Paris, khẩn cấp sang Sài Gòn một thời
gian 30 giờ để đánh giá lại cuộc chiến. Mac Namara tuyên bố gửi cho ông
ta 400.000 quân "không đảm bảo thắng lợi" - "Lính Mỹ trong những cuộc hành quân mỗi tháng bị chết có đến hơn 1.000"
và cơ may vào đầu năm 1967 phải "một mức độ cao hơn". Lần đầu tiên Mac
Namara nói đến việc Chính phủ có thể "thử cách thương lượng theo giải
pháp hoà giải" đồng thời vẫn gửi quân tăng cường "ở một mức độ tối thiểu".
Bộ
trưởng Quốc phòng Israel khi đó sang thăm Việt Nam Cộng hòa đã đóng vai
một nhà báo chiến trường đến quan sát chiến dịch Pleime về nói như sau:
"Quân
đội Mỹ ở Việt Nam đã có đủ những vũ khí và phương tiện mà những người
chỉ huy quân sự các nước khác chỉ thấy trong mơ. Thế mà, mỗi khi đối
phương đã tiếp nhận giao chiến là trên 90% các trận đánh, quyền chủ động
thuộc về họ...".
Tướng Mỹ G. Moore và phóng viên chiến tranh L. Galoway, cả hai đã chiến đấu trong trận Ia Đrăng sau này nhận định rằng: "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".
Đồng chí Chu Huy Mân (đi đầu), Tư lệnh kiêm Chính ủy trong Chiến dịch Plei Me (năm 1965). Ảnh tư liệu
Rõ ràng trận đụng độ đầu tiên với lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã làm những người đứng đầu quân đội Mỹ tại Việt Nam thay đổi cách nhìn
lạc quan về triển vọng "chiến thắng dễ dàng" vốn vẫn được duy trì hồi
tháng 7, vốn bắt nguồn từ sự tự tin về ưu thế hỏa lực và công nghệ của
"sức mạnh siêu cường" trước đối phương.
Trận
đánh được xem đã gây thiệt hại nặng nề nhất cho quân Mỹ kể từ khi tham
chiến tại Việt Nam. Chiến thuật “trực thăng vận” coi như phá sản hoàn
toàn. Trận đánh này cũng gắn liền với tên tuổi một vị tướng, mà sau này
ông trở thành Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (Học viện Lục quân
ngày nay) - Thượng tướng, GS Nguyễn Hữu An, người đã được đích thân Tổng
tư lệnh Võ Nguyên Giáp đặt biệt danh “vị tướng của trận mạc”.
Ông là
một trong những vị tướng chiến trường xuất sắc nhất trong thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ, lập nhiều chiến công vang dội nhất, xứng đáng đứng trong
hàng ngũ những danh tướng của Việt Nam
7/ Trận Đồi Thịt Băm:
Trận Đồi Thịt Băm hay trận A Bia
là tên gọi của trận chiến giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam với Quân đội Mỹ từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20
tháng 5 năm 1969 ở Thừa Thiên (nay thuộc Thừa Thiên – Huế). Trận chiến
nổ ra khi Hoa Kỳ
tập trung lực lượng gần 2.000 quân dưới sự yểm trợ mạnh của hỏa lực phi
pháo để đánh chiếm quả đồi (núi A Bia, phía Mỹ gọi là Cao điểm 937) do 2
tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm giữ.
Trận đánh diễn ra chủ yếu bằng bộ binh: quân Mỹ leo lên đồi
cao tấn công đối phương. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
cũng ra sức cố thủ dựa vào địa thế hiểm trở cùng thời tiết khắc nghiệt.
Dù được yểm trợ mạnh bởi pháo binh và không quân, các cuộc tấn công của
Mỹ đã nhiều lần bị đẩy lùi bởi sự phòng ngự có hiệu quả của phía Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngọn đồi này sau trận đánh đã được lính Mỹ
gọi là "Đồi Thịt Băm" - Hamburger Hill, như một cách thể hiện độ khốc liệt và thương vong cao của lính Mỹ. Theo Samuel Zaffiri, tác giả của cuốn Hamburger Hill,
quân Mỹ đã chiếm được ngọn đồi sau 10 ngày chiến đấu với số thương vong
lên tới 72 người chết và 372 bị thương và lại phải bỏ vị trí này một
tháng sau đó.
Lính Sư đoàn Không vận 101 của Mỹ đổ bộ lên Đồi Thịt Băm ở thung lũng A Sầu ngày 18/5/1969.
A Bia là điểm cao đột xuất (937m) nằm giữa vùng rừng núi trùng điệp gần biên giới Việt-Lào (cách 1,9km).
Đỉnh A Bia có ba mỏm đứng thế chân kiềng cao xấp xỉ nhau, cách nhau
khoảng 400m. Trước đây Mỹ đã lên A Bia đóng dã ngoại, nay còn nguyên
công sự, xung quanh chất đống nhiều vỏ đồ hộp... Đỉnh A Bia bị bom pháo
phát quang nham nhở, trơ lại những thân cây khô cháy.
Toàn bộ núi là một dải gồ ghề, hoang dã bao phủ bởi rừng
với những tán tre mọc dày đặc cộng vởi cỏ voi cao ngang thắt lưng. Cỏ có
khi cao hơn cả một xe bọc thép M-113. Các dân tộc địa phương gọi A Bia
là "núi muông thú ẩn mình".
Các trận đánh trên Cao điểm
937 xảy ra tháng 5 năm 1969, là giai đoạn hai của Chiến dịch Apache
Snow, một chiến dịch gồm ba giai đoạn nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong khu vực thung lũng A Sầu (A
Shau), một mắt xích trong tuyến đường chi viện vào miền Nam Việt Nam.
Năm 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành công trong việc
đánh chiếm doanh trại của Mỹ trong thung lũng A Shau, tức A Sầu (Trận A
Sầu)
và thiết lập sự hiện diện tại đây. Sau đó các nỗ lực liên tục của Mỹ
nhằm tái chiếm thung lũng đã không thành công. Trung tướng Richard G.
Stilwell,
chỉ huy của Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, quyết định huy động lực lượng
tương đương với hai sư đoàn được hỗ trợ mạnh bởi pháo binh và không quân
để hoàn thành nhiệm vụ.
Lực lượng tham chiến tại Đồi
937 gồm 3 tiểu đoàn của Sư đoàn Không vận 101, chỉ huy là Thiếu tướng
Melvin Zais. Các tiểu đoàn này đều thuộc Lữ đoàn 3 (chỉ huy bởi Đại tá
Joseph Conmy) gồm Tiểu đoàn 3/187 Bộ binh (Trung tá Weldon Honeycutt),
Tiểu đoàn 2/501 bộ binh (Trung tá Robert German) và Tiểu đoàn 1/506 bộ
binh (Trung tá John Bowers).
Hai tiểu đoàn 2/1 và 4/1 thuộc Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa
được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho Lữ đoàn 3. Các đơn vị khác tham gia trong
chiến dịch bao gồm các Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Thiết
đoàn 3 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 5 Lục quân Hoa Kỳ và Trung đoàn 3 thuộc
Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Kế hoạch của Đại tá Conmy là dùng 5 tiểu đoàn mở cuộc tấn
công vào thung lũng bằng trực thăng vào ngày 10 tháng 5 năm 1969, để tìm
kiếm cũng như phá hủy các kho quân nhu của Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam.
Kế hoạch tổng thể của cuộc tấn công là Thủy quân lục chiến và các đơn
vị trinh sát tiến về phía biên giới Lào, trong khi các đơn vị Việt Nam
Cộng hòa (VNCH) cắt đường giao thông qua thung lũng. Tiểu đoàn 2/501 và
1/506 sẽ tiêu diệt đối phương và ngăn chặn các tuyến đường trốn thoát
sang Lào. Nếu một tiểu đoàn đụng độ mạnh với lực lượng Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam,
Conmy sẽ hỗ trợ nó bằng trực thăng với một trong các đơn vị khác. Về lý
thuyết, với sức cơ động cực mạnh nhờ trực thăng, Sư đoàn 101 có thể
phản ứng đủ nhanh để ngăn chặn bất kỳ đơn vị Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam nào. Khi một tiểu đoàn của Hoa Kỳ phát hiện một đơn vị Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam,
nó sẽ tổ chức đánh chặn cho đến khi một tiểu đoàn tăng cường có thể cắt
đường rút lui và dùng hỏa lực vượt trội tiêu diệt đối phương.
Các tài liệu giải mã cho biết, giới quân sự Mỹ nhận định Quân Giải phóng
sẽ không dám đụng độ lâu dài và tin tưởng vào khả năng tiếp viện cực
nhanh bằng trực thăng cũng như hỏa lực áp đảo với phi pháo, pháo binh.
Trận chiến diễn ra chính xác từ lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 10.5.1969
khi Tiểu đoàn 8 Quân Giải phóng nổ súng tấn công Tiểu đoàn Dù số 3 Mỹ
khi lực lượng này của đối phương còn chưa kịp tiếp cận mục tiêu của
chúng là Điểm cao 937. Nguồn ảnh: Pinterest.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp sức mạnh thực tế của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Là bậc thầy ngụy trang. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hoàn toàn che giấu các căn cứ của họ khỏi trinh sát trên không của Mỹ.
Khi di chuyển, Quân Giải Phóng thường làm vào ban đêm, dọc theo những
con đường mòn dưới tán rừng rậm rạp. Quân Giải Phóng thực hiện liên lạc
và kiểm soát chủ yếu bằng thư và điện tín,
không sử dụng thiết bị điện tử để tránh bị theo dõi. Qua kinh nghiệm
trong nhiều cuộc đụng độ lớn hơn cho thấy Quân Giải Phóng thường chỉ
giao chiến trong một thời gian ngắn, gây tổn thất lớn nhất có thể cho Mỹ
và sau đó nhanh chóng rút đi trước khi phải hứng chịu hỏa lực áp đảo
của Mỹ. Chiến đấu kéo dài như tại Đăk Tô hay trận Ia Đrăng là tương đối hiếm.
Honeycutt dự đoán tiểu đoàn của ông ta có đủ năng lực để thực hiện một
cuộc trinh sát trên Cao điểm 937 mà không cần tăng cường hơn nữa, mặc dù
ông ta đã yêu cầu quân dự bị của lữ đoàn, và Đại đội Bravo của mình,
sẵn sàng hỗ trợ.
Về phía Quân giải phóng miền Nam Việt Nam:
Sau khi liên tục giao chiến với Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong
Chiến dịch Dewey Canyon vào tháng 2, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã di chuyển Trung đoàn 6, 9 và 29 vào khu vực thung lũng A Lưới để tái
trang bị, bổ sung thiệt hại.
Thung lũng A Lưới nằm về phía tây bắc thành phố Huế khoảng 30km,
được bao bọc với một số điểm cao như Động So (1.100m), Ba Lao (1.400m),
A Bia (937m) và Động Ràng... Sông A Ráp và đường 14 chạy dọc chiều dài
thung lũng. Phía tây bắc có sông Đáp Lim, A Lưới, nối với Huế bằng đường số 12.
Kế hoạch càn quét A Lưới của Mỹ đã được Bộ tư lệnh Quân khu
Trị-Thiên dự kiến từ trước. Do vậy, từ đầu tháng 3 năm 1969 quân khu đã
điều Trung đoàn 3 vào chuẩn bị chiến trường sẵn sàng đánh Mỹ. Sư đoàn
trưởng Chu Phương Đới, Chính ủy Nguyễn Xuân Trà cùng đi với trung đoàn.
Chiều ngày 7 tháng 5, Đảng ủy Trung đoàn họp mở rộng và thống nhất chọn một trong các phương án tác chiến do Trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan trình bày.
15 giờ ngày 8 tháng 5, các đơn vị xuất phát hành quân chiếm lĩnh trận địa.
Tiểu đoàn 8 được tăng cường Đại đội 14 cối 82mm xây dựng cụm chốt ở A
Bia. Tiểu đoàn 7 bố trí ở khu vực các điểm cao 903 và 916. Đại đội 16 cơ
động dọc phía tây đường số 14 đoạn A Sầu - A Lưới. Khối hỏa lực còn lại
do trung đoàn trực tiếp nắm. Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị, trước mắt
có nhiệm vụ chuyển gạo, đạn từ A Rum vào A Lưới. Các chiến sĩ trinh sát
bám sát từng mũi tiến quân của Mỹ.
Bị tấn công trước, binh lính Mỹ rơi vào thế bị động, co cụm lại và "vãi
đạn" vào rừng. Trực thăng, phi pháo cùng pháo binh được gọi yểm trợ tới
tấp vào những vị trí nghi có các chiến sĩ giải phóng quân. Sau một tiếng
đồng hồ giao tranh, phía ta buộc phải rút lui do đã hết lợi thế bất
ngờ. Nguồn ảnh: Pinterest.
Lúc 10 giờ
15 phút ngày 10 tháng 5, Tiểu đoàn 8 do Tiểu đoàn trưởng Đinh Xuân Bài
chỉ huy nổ súng tiến công 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn Dù số 3 Mỹ trên các
điểm cao 400, 500, cách đông bắc A Bia khoảng 2km.
Đại đội 5 được tăng cường hai cối 82mm, chia làm ba mũi, mũi chính đánh
ngang đội hình địch ở "yên ngựa" rồi tỏa ra hai hướng đánh ngược lên
các đỉnh 500 và 400, để kết hợp với hai mũi đánh từ phía sau mỏm 500
xuống.
Trên mỏm cao 400, sau khi bí mật tiếp cận mục tiêu, đến giờ
nổ súng, tiểu đội 10 tiêu dệt 1 tiểu đội Mỹ, sau đó phát triển xuống
"yên ngựa", phối hợp với trung đội 3 đánh ngược lên.
Cùng lúc đó ở mỏm 500, tiểu đội 9 đánh lên đỉnh, nhưng
trúng hai quả mìn định hướng Mỹ gài sẵn làm thương vong gần hết. Mũi
phát triển từ "yên ngựa" lên cũng bị quân Mỹ từ trên mỏm bắn xuống, đội
hình tiến công ở hướng này bị chững lại. Đại đội 5 phải dùng cối 82 ly
và B-40
đặt từ đỉnh 400 bắn sang chi viện nhưng vẫn không dứt điểm được. Pháo
binh Mỹ dồn dập bắn vào mỏm 400, kết hợp với hai máy bay trực thăng rà
sát ngọn cây quét đại liên, thả lựu đạn xung quanh điểm cao 500. Trước
tình hình đó, tiểu đoàn 8 lệnh cho đại đội 5 lùi về A Bia tiếp tục xây
dựng trận địa chốt. Trận chiến đấu diễn ra không quá một giờ, hàng chục
lính Mỹ tử trận. Tiểu đoàn 8 của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
do phân tán lực lượng, không tập trung vào mục tiêu chủ yếu là sở chỉ
huy Mỹ đã để quân Mỹ kịp tổ chức chống cự gây nhiều tổn thất.
Ở hướng tiểu đoàn 7, ngay phút đầu ban chỉ huy tiểu đoàn đã
tập trung hỏa lực chi viện cho đại đội 1 đánh lên điểm cao 903. Sau khi
hàng chục lính Mỹ tử thương. Mỹ đưa 6 máy bay trực thăng lên chi viện và bốc 2 đại đội ở đây về phía nam.
Quân Mỹ biết đã gặp lực lượng chủ lực, tăng cường độ đánh
phá và dùng trực thăng vũ trang thay nhau trinh sát khu vực xảy ra chiến
sự.
Ngày 11 tháng 5, Honeycutt giao cho 2 đại đội Alpha và
Delta do thám phía bắc và tây bắc núi A Bia, trong khi các đại đội Bravo
và Charlie tăng cường tại các tuyến đường khác nhau. 13 giờ ngày 11
tháng 5, Mỹ đổ 2 tiểu đoàn xuống các điểm cao 903, 916 và A Bia. Phía
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Trung đoàn trưởng lệnh cho tiểu đoàn 7
để 1 đại đội ém quân tại khu vực 903, 916, còn 3 đại đội cơ động bám
sát, tiến công Mỹ.
Khi ra ngoài bãi đáp trực thăng trên sườn núi phía bắc, Đại
đội Bravo đã giao tranh dữ dội với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam trong khu vực 1km
vào cuối ngày. Honeycutt nhanh chóng chỉ đạo máy bay trực thăng vũ
trang AH-1 Cobra,
trang bị rocket và súng máy hạng nặng để hỗ trợ cho một cuộc tấn công
vội vã. Trong rừng rậm, những chiếc Cobra nhầm tiểu đoàn 3/187 Mỹ với
một đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
nên đã tấn công, giết chết hai người và làm bị thương 35, (gồm cả
Honeycutt). Việc bắn lầm này phá vỡ đội hình và sự chỉ huy, và buộc tiểu
đoàn 3/187 rút lui vào vị trí phòng thủ đêm. Tuy nhiên, liên lạc xác
nhận rằng một lực lượng đáng kể phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã có mặt, Honeycutt ước tính là cần tăng cường một trung đội hoặc đại
đội.
Trong ba ngày đầu tiên của trận đánh, các cuộc đụng độ giữa cả hai bên
chỉ mang tính thăm dò vị trí của nhau. Phía Mỹ cần biết chính xác vị trí
đặt hỏa lực mạnh của Quân Giải Phóng để gọi phi pháo, pháo binh tiêu
diệt. Quân Giải Phóng lại chủ trương đánh di động, không đối đầu trực
diện nên di chuyển liên tục, chủ yếu tiến hành đụng độ vào ban đêm để
tránh được hỏa lực không quân đối phương. Nguồn ảnh: Pinterest.
Cũng đêm ngày 11, tiểu đoàn đặc công của quân khu tiến công sở chỉ huy lữ đoàn dù 3 Mỹ ở căn cứ Động Tranh.
Sáng ngày 12 tháng 5 Mỹ phải đưa tiểu đoàn 2/506 ở A Lê Thiêm về bảo vệ
sở chỉ huy lữ đoàn. Mỹ rút tiểu đoàn 2 về Động Tranh, phía bắc A Bia
không còn lính chốt giữ. Ban chỉ huy Trung đoàn 3 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
quyết định điều tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Vượng chỉ huy hoạt động
từ địa đạo Lam Sơn đến khu vực Bãi Ổi. Tiểu đoàn 8 tiếp tục củng cố
trận địa chốt.
Cũng trong hai ngày này, Honeycutt điều khiển các đại đội
của mình tới các vị trí cho một cuộc tấn công phối hợp ngày 13 tháng 5
nhưng đã thất vọng bởi địa hình khó khăn và sự kháng cự của phía Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Một đơn vị của Đại đội Delta, rơi vào một
khe núi dốc lầy lội vào ngày 12 tháng 5, phải chịu đựng tổn thất rất cao
trong hai ngày.
Buổi trưa ngày 13 Tháng 5, chỉ huy lữ
đoàn Dù, Đại tá Conmy, đã quyết định nó sẽ cắt đứt chi viện của lực
lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
từ Lào và hỗ trợ Honeycutt bằng cách tấn công A Bia từ phía nam. Đại
đội Bravo được trực thăng đưa lên Đồi 916, nhưng phần còn lại của tiểu
đoàn di chuyển bằng đường bộ, từ một khu vực cách 4km
từ Đồi 937, và cả Conmy và Honeycutt dự kiến Tiểu đoàn 1/506 sẽ sẵn
sàng cung cấp hỗ trợ không muộn hơn buổi sáng ngày 15 tháng 5. Mặc dù
Đại đội Bravo đã tới Đồi 916 ngày 15 tháng 5, nó đã không tham gia tấn
công cho đến ngày 19 tháng 5 do rừng rậm gần như không thể di chuyển.
Lúc 12 giờ trưa ngày 13 tháng 5, đại đội Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
phát hiện một tốp lính Mỹ trong hố bom dưới "yên ngựa", đang dùng ống
nhòm quan sát lên đỉnh A Bia. 20 phút sau nhiều lính Mỹ kéo ra dưới mỏm
"yên ngựa". Đợi lính Mỹ dưới hố bom leo lên, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
dùng mìn sát thương cùng với bộ binh tiến lên đánh vào nhóm đi trước,
khẩu đội cối 82mm đánh chặn phía sau. Quân Mỹ bỏ chạy theo triền đồi.
Đại đội 1 tiểu đoàn 2/501 bị tiêu diệt. Quân Mỹ dùng trực thăng vận 2
đại đội khác đổ xuống chân điểm cao A Bia nhặt xác đồng đội, nhưng trời
đã tối nên phải quay về vị trí cũ.
Lợi dụng hỏa lực mạnh, Mỹ đã gần như dập pháo nát Đồi Thịt Băm trước khi
tiến công lên. Trong khi Quân Giải Phóng lại tận dụng hệ thống hầm, hào
để bảo toàn lực lượng trước hỏa lực yểm trợ của quân Mỹ. Những cuộc
đụng độ trên sườn "đồi thịt băm" diễn ra cực kỳ căng thẳng, Quân Giải
Phóng lợi dụng vị trí cao, áp đảo hoàn toàn đối phương, phía Mỹ lợi dụng
hỏa lực mạnh, gọi yểm trợ liên tục. Ảnh: Binh lính Mỹ thực hiện hồi sức
cấp cứu cho đồng đội. Nguồn ảnh: Pinterest.
Sau trận chiến đấu của đại đội 6 ở A Bia, phương án tác
chiến được khẳng định. Quân Mỹ tiếp tục phản kích lên A Bia và các điểm
cao điểm 903, 916. Ban chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
quyết định tiếp tục sử dụng tiểu đoàn 8 chốt ở A Bia và tiểu đoàn 7 giữ
điểm cao 903, đưa tiểu đoàn 9 vào hoạt động ở A Lê Thiêm, A Lê Lốc,
đồng thời dùng đặc công liên tục tập kích vào các vị trí đóng quân của
Mỹ. Thực hiện chủ trương của trung đoàn, đêm ngày 13 rạng ngày 14 tháng
5, đại đội 20 đặc công tập kích vào sở chỉ huy tiểu đoàn 1/506 ở điểm
cao 1078 phá huỷ trận địa pháo 105mm.
Ngày 13 tháng 5, lữ dù 3 Mỹ tổ chức phản kích vào các điểm
cao 903 và 916. Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Tăng Văn Miêu và chính
trị viên Trần Triền
chỉ huy. Trong thế xen kẽ, chiến sĩ tiểu đoàn 7 đã tập kích khiến lính
Mỹ phải thường xuyên di chuyển, gọi pháo chi viện tạo nên vành đai hỏa
lực xung quanh vị trí trú quân.
Ngày 14 tháng 5, tổ chức phân đội hỏa lực 12 khẩu gồm B-40,
B-41, cối 82, cối 60 ly của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
bất ngờ đánh vào đội hình của 1 đại đội Mỹ cách điểm cao 916 hai km về
phía đông, Sau khi dùng bom, pháo bắn phá dọn đường suốt hai ngày 13 và
14 tháng 5, quân Mỹ sử dụng tiểu đoàn 1/506 chia làm hai mũi tiến công
đánh chiếm lên A Bia. Phía đông nam, đợt phản kích của 2 đại đội Mỹ cũng
bị đại đội 6 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghìm chân dưới "yên
ngựa" bằng những bãi mìn và đạn cối. Khi quân Mỹ vượt được lên "yên
ngựa", vào gần tới đỉnh thì bị bộ binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
phục kích. Bị đánh gần và bất ngờ, lính Mỹ lùi xuống chân điểm cao, gọi
pháo chi viện.
Biết lữ đoàn dù 3 Mỹ đang dồn nỗ lực chiếm A Bia, từ ngày
15 tháng 5 trở đi, tiểu đoàn 8 tranh thủ thời gian giữa hai đợt phản
kích đào hầm, phát triển tuyến chốt sang hướng sườn tây bắc điểm cao A
Bia nhằm tránh pháo Mỹ từ phía đông bắc bắn tới. Hầm hào được xây dựng
nửa nổi, nửa chìm, có hầm ngủ, hầm chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp. Cơ
quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc thay nhau lên A Bia giúp tiểu
đoàn 8 xây dựng hầm hào. Với hệ thống công sự này, tiểu đoàn 8 nấp mình
trong lòng đất đã tránh được bom pháo Mỹ ngày đêm cày nát ngọn đồi, tổ
chức phản kích hàng chục đợt tiến công của quân Mỹ. Quân Mỹ với sự hỗ
trợ của bom napalm, súng phun lửa, pháo không giật đã tiến rất chậm, mỗi
công sự chiếm được đều phải trả giá đắt. Các đơn vị Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam
cũng tổ chức đánh các bãi đáp trực thăng của Mỹ, bắn rơi hoặc bắn hư
hỏng nhiều máy bay trực thăng dù chỉ có vũ khí hạng nhẹ và súng phóng
lựu.
Sau 3 ngày bị chặn đứng, quân Mỹ thay đổi chiến thuật. Vừa
dùng phi pháo đánh ác liệt vào trận địa chốt, vừa dùng lực lượng cấp đại
đội đánh vào các điểm cao 916, 900, nhằm bao vây cô lập tiểu đoàn 8,
sau đó dùng lực lượng lớn tiến công, đánh chiếm A Bia.
Trưa ngày 15 tháng 5,
trực thăng Mỹ đổ 1 đại đội (Đại đội Bravo) thuộc tiểu đoàn 1/506 xuống
điểm cao 916, đồng thời tung 2 tiểu đoàn vào hướng điểm cao 900, phối
hợp lấn dần sang A Bia, cùng tiểu đoàn 2/501 tổ chức phản kích. Hai bên
giành giật nhau suốt hai ngày liền. Quân Mỹ ba lần thay quân, lực lượng
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng vơi dần, hầm hào sụt lở, không
kịp củng cố. Các chốt của tiểu đoàn 8 mất dần, nhất là hướng chốt đại
đội 8. Tuy vậy phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn giữ được A
Bia.
Tới ngày 16 và 17.5, các trận địa pháo của Mỹ dọc đường số 12 đã dội mưa
bom vào vị trí của Quân Giải Phóng, có nhiều bằng chứng ghi nhận phía
Mỹ còn sử dụng cả đạn hóa học mặc dù đã bị cấm để tấn công lực lượng
quân Giải Phóng đang cố giữ các cao điểm quanh 937 Hill. Mặc dù vậy,
trận địa của ta vẫn được giữ vững thêm 2 ngày nữa, nghĩa là tới tận ngày
18.5 phía ta mới rút lui dần do đạn dược và lượng thực đã cạn. Nguồn
ảnh: Pinterest.
Tiểu đoàn 8 bị cắt rời khỏi đội hình trung đoàn. Ban chỉ
huy tiểu đoàn hội ý quyết định để đại đội 6 tiếp tục củng cố trận địa,
đánh địch từ hướng bắc; rút đại đội 7 ra tăng cường cho chốt ở điểm cao
991, đại đội 5 bổ sung cho chốt đại đội 8, số còn lại làm lực lượng dự
bị. Đồng thời tiểu đoàn điện báo cáo về trung đoàn: "Tình
hình có khó khăn, thương binh không chuyển được, đạn thiếu, lực lượng cơ
động không có. Chỉ có khả năng giữ đến sáng 17 tháng 5. Hướng rút lui
phía nam A Bia".
Lữ đoàn dù 3 Mỹ đã bị động đối phó về mặt chiến thuật, từ
chỗ chủ động lùng sục tìm diệt phải quay sang đánh chiếm mục tiêu đúng
như ý định của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ban chỉ huy trung đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
lệnh cho tiểu đoàn 8 tiếp tục giữ A Bia, thu hút đối phương, tạo điều
kiện cho hai tiểu đoàn 7 và 9 cùng các đại đội hỏa lực lật cánh sang
phía nam A Bia vận động tấn công vào sườn quân Mỹ; trước mắt phải đánh
bật đại đội Mỹ ở điểm cao 916 để lập lại thế liên hoàn toàn trung đoàn.
Suốt hai ngày 16 và 17 tháng 5, nhiều trận đánh diễn ra liên tiếp trong khu vực đồi 903, 916 và phía nam A Bia. Ngày 16 tháng 5,
trung đoàn tập trung 16 khẩu cối, B-40, B-41 và đại liên 12,7mm tập
kích bất ngờ vào đại đội Mỹ ở Động Chuối, 9 giờ ngày 17 tháng 5, đại đội
2 tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công 1 đại đội Mỹ ở điểm cao 916. đánh bật
quân Mỹ ở mỏm 1. Quân Mỹ bỏ mỏm 2 chạy dạt xuống chân điểm cao, vấp phải
chốt của đại đội 5. Hai giờ chiều ngày 17 tháng 5, nhiều quân Mỹ ở 916
tử trận. Hành lang giữa 916 và A Bia đã khai thông. Đường sang tiểu đoàn
8 lại được mở. Chỉ huy lữ dù 3 chưa hay biết gì về số phận đại đội Mỹ
trên điểm cao 916 nên vẫn cho trực thăng đổ quân tiếp ứng cho đại đội
này, nên bị đại đội 2 bắn cháy 2 trực thăng và lính đi cùng.
Thời gian này, ở hướng A Bia cũng diễn ra trận chiến đấu ác
liệt. Mỹ cố đánh chiếm A Bia để gỡ thể diện và để nhặt xác đồng đội tử
trận suốt hai ngày qua. Sau khi cắt rời tiểu đoàn 8 khỏi đội hình Trung
đoàn 3, lữ dù 3 Mỹ cùng tiểu đoàn 2/501 và hai đại đội thuộc tiểu đoàn
1/506 bâu quanh A Bia thay nhau phản kích. Mỹ không dùng chiến thuật
"cơn sóng lớn áp đảo đối phương" nữa mà thực hiện chiến thuật "sóng liên
hồi" nhằm gây căng thẳng dẫn đến suy sụp về ý chí và tinh thần, buộc
phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải mệt mỏi mà rút bỏ A Bia.
Trong hai ngày 16 và 17 tháng 5, các trận địa pháo Mỹ dọc
đường số 12 hướng về A Bia trút đạn, bắn cả đạn hóa học gây chảy nước
mắt, nước mũi. Trận phản kích cuối cùng trong ngày 17 tháng 5 diễn ra
lúc 15 giờ. Quân Mỹ chia làm 4 mũi, dùng đạn hóa học đánh lên A Bia. Đến
16 giờ, 1 đại đội Mỹ được phi pháo yểm trợ lại tiến công lên chốt.
Trong lúc quân Mỹ còn tập trung vào hướng các đại đội 5 và 6
thì đại đội 2, tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công vào sườn trái đội hình
phản kích của 1 đại đội Mỹ, hất xuống chân điểm cao. Đợt phản kích cuối
cùng của Mỹ lên A Bia trong ngày 17 đã thất bại.
Bị cầm chân suốt 5 ngày, các chỉ huy lữ đoàn Mỹ đã ra lệnh một cuộc tấn công phối hợp hai tiểu đoàn vào 18 tháng 5,
với tiểu đoàn 1/506 tấn công từ phía nam và 3/187 tấn công từ phía bắc,
cố gắng để cô lập lực lượng đối phương. Đại đội Delta của tiểu đoàn
3/187 được không vận tới gần ngọn đồi, nhưng bị tập kích và thương vong
nghiêm trọng, bao gồm tất cả các sĩ quan của mình. Từ một máy bay trực
thăng quan sát, chỉ huy tiểu đoàn đã cố gắng phối hợp các đại đội khác
vào một cuộc tấn công cuối cùng, nhưng một trận mưa dữ dội làm giảm khả
năng yểm trợ không quân và kết thúc trận đánh. Tiểu đoàn 3/187 một lần
nữa phải rút lui xuống núi. Ba đại đội của tiểu đoàn 1/506 chiến đấu để
giành điểm cao 900, phía nam của đỉnh núi, cũng gặp phải sự kháng cự
mạnh.
Về số lượng thương vong của Mỹ, họ thừa nhận rằng đã có 440 binh sĩ
thiệt mạng và bị thương trong cuộc đụng độ ác liệt này. Đó là một con số
khá lớn với Quân đội Mỹ, và mặc dù chịu tổn thất nặng nề để chiếm được
cao điểm này nhưng đến ngày 5.6 cùng năm phía Mỹ lại rút lui khỏi đây do
ngọn đồi này "không có giá trị về mặt quân sự". Nguồn ảnh: Quizly
Bởi thương vong nặng nề trong 1 tuần và chịu áp lực từ sự
chú ý không mong muốn báo chí, một số chỉ huy nghiêm túc xem xét việc
ngừng các cuộc tấn công. Cả hai tư lệnh quân đoàn và tư lệnh MACV, tướng Creighton W. Abrams,
công khai ủng hộ quyết định này. Nhưng các chỉ huy tại chỗ lại cảm thấy
sẽ bị bẽ mặt khi phải rút lui bởi một lực lượng đối phương nhỏ bé hơn
nhiều. Vậy là Zais quyết định tiếp tục tấn công, tung ba tiểu đoàn mới
vào chiến đấu thay thế cho những đơn vị đã thiệt hại nặng. Tiểu đoàn
3/187 thiệt hại nghiêm trọng, với khoảng 320 thiệt mạng và bị thương,
chiếm hơn 60% trong số 450 binh sĩ có kinh nghiệm ban đầu. Hai trong số
bốn chỉ huy đại đội và 8/12 trung đội trưởng đã thương vong.
Sau
1 tuần chiến đấu, 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn
thành mục tiêu được giao là tiêu diệt một lượng đáng kể lính Mỹ. Như
chiến lược chung trong những trận đánh với Mỹ, phía Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam
không cố gắng giành giật trận địa mà chỉ cố gắng gây thương vong tối đa
cho địch trước khi tổ chức rút lui để tránh bị hỏa lực và sức cơ động
vượt trội của Mỹ bao vây tiêu diệt. Kế hoạch ban đầu là rút vào đêm 17
nhưng các đơn vị đã hoàn thành tốt và kéo dài thêm được 1 ngày. Đêm 18,
phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tổ chức rút lui khỏi trận
địa núi A Bia, chỉ để lại một bộ phận nhỏ làm nghi binh.
Ngày 19 tháng 5,
2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ đã được không vận vào bãi đáp đông bắc và phía
đông nam của núi. Cả hai tiểu đoàn ngay lập tức di chuyển lên núi để tới
các vị trí mà từ đó họ sẽ tấn công vào sáng hôm sau. Trong khi đó, tiểu
đoàn 1/506 dùng ngày thứ ba liên tiếp để bảo đảm an toàn cho điểm cao
900.
Lữ đoàn 3 đưa ra bốn tiểu đoàn của mình tấn công
vào lúc 10 giờ ngày 20 tháng 5,
bao gồm cả hai đại đội của 3/187 được tăng cường bởi đại đội Alpha
2/506. Các cuộc tấn công được hỗ trợ bởi 2 giờ không kích và 90 phút nã
pháo. Các tiểu đoàn tấn công đồng thời, 12 giờ tiểu đoàn 3/187 lên tới
đỉnh. Đơn vị nhỏ làm nhiệm vụ nghi binh còn lại của Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam sau khi nổ súng cầm chân quân Mỹ đã rút sang Lào theo đơn
vị chính, và Đồi 937 được quân Mỹ nắm giữ vào 17 giờ.
Năm 2011, bà Kan Đơm, nữ du kích người dân tộc Pa Kô kể
rằng, có một chuyện mà nhiều người chưa biết về những gì lính Mỹ đã làm
với chiến sĩ du kích Cu Lọi khi trận đánh trên ngọn đồi A Bia kết thúc.
Anh Cu Lọi tham gia đánh căn cứ A Bia, nhận nhiệm vụ ở lại cản chân quân
Mỹ để đồng đội rút lui. Cu Lọi hy sinh, nhưng lính Mỹ đã lấy xác anh,
chặt đầu cắm lên cọc, băm thi thể anh ra từng mảnh vụn rải khắp ngọn
đồi. Bà Kan Đơm kể: "Lính Mỹ làm vậy là để cho người Pa Kô
của mệ nhụt chí không còn dám theo Đảng và Bác Hồ đánh giặc nhưng chúng
đã lầm. Từ đó, đồng bào Pa Kô đã gọi đồi A Bia là đồi Băm (băm xác) để
khắc ghi trong tim mình sự hy sinh anh dũng của anh Cu Lọi mà quyết tâm
đánh giặc đến cùng...".Trong
10 ngày chiến đấu, quân đội Mỹ chịu thiệt hại 72 lính chết và 372
bị thương, vài trực thăng bị bắn rơi hoặc bắn hỏng. Quân Mỹ tuyên bố các
tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 29 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã
có 630 người tử trận (chưa kể số bị thương) khi chiến đấu với quân Mỹ.
Con số thiệt hại của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
do Mỹ tuyên bố gây nhiều tranh cãi và bị coi là phóng đại, bởi thực tế
quân Mỹ không thể đếm số lính Việt Nam bị chết trong hoàn cảnh chiến
trường khi đó (địa hình rừng núi, pháo kích và không quân ném bom dày
đặc làm chiến trường rất khó quan sát, bộ binh Việt Nam cũng thường ẩn
mình trong các công sự khó bị phát hiện). Trong thực tế, trong suốt trận
đánh, quân Mỹ chỉ thu được 89 vũ khí cá nhân và 22 vũ khí cộng đồng của
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (chỉ bằng 1/6 số lính Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam tử trận mà Mỹ tuyên bố).Quân
Mỹ thương vong hàng trăm binh sĩ nhưng rốt cục chỉ chiếm được một ngọn
đồi không có giá trị về quân sự. Thiếu tướng John M. Wright lặng lẽ ra
lệnh rút khỏi đồi ngày 5 tháng 6. Các cuộc tranh luận về "Hamburger
Hill" diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ, với những lời chỉ trích đặc biệt
nghiêm trọng của các thượng nghị sĩ Edward Kennedy, George McGovern, và
Stephen M. Young. Edward Kennedy gọi đây là "Cuộc
hành quân điên rồ và vô trách nhiệm. Sinh mạng của binh sĩ Mỹ đã bị
phung phí chỉ để thể diện nhà binh cho các sĩ quan chỉ huy".Giới báo chí Mỹ gọi trận chiến này là Đồi Thịt Băm để chỉ sự tổn thất
nặng nề mà Quân đội Mỹ đã phải hứng chịu để chiếm lấy một vị trí "không
có giá trị quân sự" làm dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ trong dân
chúng tại Mỹ. Quốc Hội Mỹ chỉ trích hành vi của các tướng lĩnh quân sự
và cho rằng binh lính Mỹ bị mang lên "nướng" trên Đồi Thịt Băm chỉ để
"cố đạt được mục tiêu ban đầu để giữ thể diện" cho các sỹ quan chỉ huy.
Nguồn ảnh: Pinterest.
Báo chí Mỹ ngày 25 tháng 5
năm 1969 gọi A Bia là "Đồi thịt băm của lính dù Mỹ", lên án quân đội Mỹ
ném quân lên vùng núi A Bia chỉ để biến cuộc hành quân "Tuyết rơi trên
đỉnh núi" (Apache Snow) thành "Máu rơi trên đỉnh núi". Trong số 27 tháng 6, Tạp chí Life
đã công bố những bức ảnh của 241 lính Mỹ thiệt mạng trong một tuần tại
Việt Nam, được coi là một bước ngoặt của chiến tranh. Dù chỉ có một phần
trong số này là thương vong trên Hamburger Hill, nhiều người Mỹ đã nhận
thức rằng tất cả những người chết đều là nạn nhân của "trận đánh điên
rồ và vô nghĩa" này.
Tranh cãi về trận Hamburger Hill đã dẫn đến một đánh giá
lại chiến lược
của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Như một kết quả trực tiếp, để giữ thương
vong không cao quá mức, tướng Abrams ngừng chính sách "áp lực tối đa"
chống lại Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trong khi Tổng thống
Richard Nixon đẩy nhanh thực hiện chiến lược mới là Việt Nam hóa chiến
tranh,
và tuyên bố đợt rút quân viễn chinh đầu tiên. Mặc dù trận đánh chỉ ở
mức tiểu đoàn, song nó đã trở thành một bước ngoặt trong chiến tranh
Việt Nam.
Với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, những kết quả thu được trong trận đánh ở A Bia và đợt hoạt động phản công của Sư đoàn 324
ở vùng thung lũng A Lưới đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào đánh phá "bình
định" đang phát triển ở các địa phương. Chiến thắng A Bia đã đi vào
trang sử truyền thống đầu tiên của sư đoàn 324
kể từ khi được tổ chức lại và là mốc mở đầu cho giai đoạn khôi phục lại
thế trận xuống đồng bằng, lập lại thế ba vùng chiến lược sau Tết Mậu
Thân 1968.
8/Chiến dịch Đăk Tô – Tân Cảnh (1967):
Chiến dịch Đăk Tô – Tân Cảnh hay Trận Đăk Tô – Tân Cảnh
năm 1967, là một trận đụng độ trực tiếp giữa Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam với quân đội Hoa Kỳ, diễn ra từ ngày 3 đến 22 tháng 11 năm
1967, tại cứ điểm E42 (còn gọi là đồi Charlie) gần quốc lộ 14, thuộc xã
Tân Cảnh cũ, nay thuộc địa bàn xã Đăk Tô, tỉnh Quảng Ngãi.
Lực lượng tham chiến của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có:
Sư đoàn 1 với ba trung đoàn: 66, 174 (trung đoàn trưởng là Anh Hùng Lực lượng Vũ Trang Đàm Văn Ngụy), và 320
Trung đoàn bộ binh độc lập 24
Trung đoàn pháo 40
Tiểu đoàn 304 Kon Tum (bộ đội địa phương Tây Nguyên)
Lực lượng tham chiến của Quân đội Hoa Kỳ gồm có:
Sư đoàn 4 bộ binh (do trung tướng William R. Peers chỉ huy sư đoàn kiêm chỉ huy mặt trận Đăk Tô)
Lữ đoàn 173 (độc lập, do thiếu tướng Leo H. Schweiter chỉ huy)
Một lữ đoàn của Sư đoàn Không Kỵ số 1
Các đơn vị không quân hiệp đồng tác chiến
Lực lượng tham chiến của Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm:
Lữ đoàn bộ binh 42
Trong trận đánh, do bị đánh trả quyết liệt, quân đội Mỹ đã
phải huy động một lượng hỏa lực cực lớn. Pháo binh Mỹ đã bắn yểm trợ
151.900 viên đạn pháo (nhiều hơn lượng đạn pháo mà quân Pháp sử dụng
trong trận Điện Biên Phủ). Không quân Mỹ huy động 2.101 phi vụ trực
thăng chiến đấu hoặc vận tải, 2.096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ B-52
ném bom rải thảm, ném tổng cộng hơn 10.000 tấn bom. Trung bình mỗi bộ
đội Việt Nam phải hứng chịu 25 viên đạn pháo và 1,6 tấn bom do Mỹ ném
xuống.
Mục tiêu của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
là tiêu diệt đáng kể các đơn vị Quân đội Hoa Kỳ đang đóng ở Tây Nguyên
để thu hút thêm các đơn vị quân Mỹ khác đến Tây Nguyên là địa bàn rừng
núi mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam quen thuộc hơn. Nói ngắn gọn, đây là một trận dùng kế "Điệu hổ li sơn" vào thế trận bày sẵn để tiêu diệt. Mục đích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
là tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, thu hút lực lượng chủ lực cơ động của
đối phương lên Tây Nguyên, tạo điều kiện cho chiến trường Khu 5 và toàn
miền chống bình định, sẵn sàng đánh bại cuộc phản công chiến lược lần
thứ ba của Mỹ – VNCH. Quán triệt nhiệm vụ được giao, ngày 10 tháng 9 năm
1967, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung
lực lượng tiến công Đăk Tô nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực Mỹ, buộc
Mỹ phải điều lực lượng cơ động lên Tây Nguyên. Đồng thời rèn luyện
nâng cao khả năng tác chiến tập trung của bộ đội, chú trọng rút kinh
nghiệm và xây dựng hoàn thiện chiến thuật "Vận động tiến công kết hợp
chốt", nâng cao trình độ tập kích địch phòng ngự ở điểm cao.
Mục tiêu của Quân đội Hoa Kỳ là tìm và diệt các đơn vị đối
phương đang hoạt động tại đường 14 và đường 19. Song các đơn vị đó của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
chỉ hoạt động nhằm mục đích nghi binh để đối phương không chú ý tới sự
di chuyển của Sư đoàn 1 của họ. Dù sao, di chuyển của Sư đoàn 1 vẫn bị
quân Mỹ phát hiện nhờ tin tức do một người lính của Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đầu hàng cung cấp.
Địa hình khu vực tiến công chính của chiến dịch là quận Đắc
Tô (Kon Tum). Quận lỵ nằm trên ngã ba đường 14 và đường 18, cách thị xã
Kon Tum 40km về phía bắc, đây là vùng thung lũng có bình độ trung bình từ 600 – 700m, chiều dọc từ bắc xuống nam khoảng 9km, chiều ngang từ đông sang tây khoảng từ 8km – 9km.
Khu vực tác chiến bị chia cắt thành 2 vùng phía bắc và phía nam bởi con
sông Pô Kô và đường 18, có nhiều dãy núi cao có giá trị về chiến thuật
mà điển hình là dãy Ngọc Bơ Biêng, nếu bị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam chiếm thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm khống chế của
hỏa lực pháo binh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhìn chung địa
hình có lợi cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam ở thế cao hơn Quân đội Mỹ – VNCH, loại bỏ được khả năng sử
dụng cơ giới của Mỹ – VNCH. Mặt khác vì vùng này chưa có các hoạt động
quân sự lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nên khi Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam mở chiến dịch sẽ tạo được bất ngờ đối với lính
Mỹ – VNCH.
Sau khi đã đưa khoảng 55.000 quân Mỹ vào miền
Nam Việt Nam, để vừa tiếp
tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", vừa giữ
ổn định tình hình tạo hậu thuẫn cho cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm
1968, tướng Westmoreland tiến hành điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược,
âm mưu tập trung lực lượng chuẩn bị mở cuộc phản công lần thứ 3 (mùa
khô 1967-1968) trên hướng ở miền Đông Nam Bộ nhằm cải thiện tình hình. Ở
Trung Trung Bộ, lính Mỹ – VNCH đánh phá, ngăn chặn Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam ở dọc biên giới Việt – Lào, trọng điểm là ở Pleiku và Kon
Tum, tìm diệt chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, phá các căn
cứ, hỗ trợ cho bình định dọc miền duyên hải.
Đồi 875 (giữa hình) nằm trong cụm đồi 882, 845 và 875, cách nhau
chừng 100 mét. Ta nhử địch chiếm hai ngọn đồi 882 và 845, để địch nghĩ
sẽ dễ dàng xoi nốt được đồi 875, không biết rằng đó là cái bẫy tiêu diệt
lực lượng Mỹ
Ảnh chụp hôm 4/12/1967 sau khi trận chiến kết thúc 11 ngày
Đầu
năm 1967, sau thất bại ở Sa Thầy, quân Mỹ vẫn tiếp tục mở các cuộc hành
quân có tính chất ngăn chặn các cuộc tiến công của Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam vào vùng Gia Lai, đường 19, Đức Cơ, Đường 21, Lạc Thiện,
Quảng Nhiêu hoặc vào vùng Đắc Tô (Kon Tum). Liên tiếp cả trong mùa mưa,
giao tranh giữa 2 bên hầu như không ngớt. Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã thực hiện được một số trận đánh khá tiêu biểu, bằng vận động tiến
công hoặc bằng pháo kích (DKB) vào hậu phương, hậu cứ của Mỹ.
Bước
vào mùa khô năm 1967, quân Mỹ – VNCH ở Tây Nguyên (gồm
lực lượng của vùng 2 chiến thuật, sư đoàn 22 VNCH và sư đoàn 4 Mỹ) ra
sức thăm dò các động thái của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cuối
tháng 10 năm 1967, khi phát hiện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đang
chuẩn bị mở chiến dịch ở bắc Kon Tum, sư đoàn 4 Mỹ vội vã kết thúc cuộc
hành quân Marc Acthur ở phía tây thị xã Pleiku và vùng tây bắc Gia Lai
chuyển hướng về vùng rừng núi Đăk Tô. Ngày 2 tháng 11, lữ đoàn 1 của Mỹ
đến Đăk Tô, chúng thiết lập sở chỉ huy hành quân tại sân bay và hình
thành hai cụm quân: cụm thứ nhất ở khu vực ngã ba đường 14 và đường 18
gồm Trung đoàn 42 VNCH ở Tân Cảnh, quận lỵ Đăk Tô và sân bay Đắc Tô 1.
Cụm quân thứ 2 nằm dọc đường 18, cách ngã ba Tân Cảnh 4km về phía tây, gồm sở chỉ huy hành quân, cụm kho hậu cần của quân Mỹ và sân bay Đắc Tô 2.
Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Đảng ủy mặt trận họp đánh giá
tình hình thực hiện nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Quân khu 5 giao
cho chiến trường (từ sau chiến dịch Sa Thầy (1967))
và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong đông xuân
1967 – 1968. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, ngày 10-9 giữa lúc bộ đội
đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, Đảng ủy mặt trận chính thức quyết
định mở chiến dịch Đắc Tô nhằm mục đích: "Tiêu diệt một bộ
phận quan trọng sinh lực địch, buộc địch phải cơ động lực lượng lên Tây
Nguyên càng nhiều càng tốt, để phối hợp chiến trường với toàn miền;
Thông qua tác chiến nhằm nhanh chóng nâng cao trình độ đánh tập trung
của bộ đội chủ lực, tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, đẩy mạnh phong trào
chiến tranh du kích, nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội địa phương
lên một bước mới."
Bộ tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra phương châm: "Tích
cực, chủ động, linh hoạt, tạo thời cơ nhử địch vào thế trận ta đã chuẩn
bị sẵn, tiêu diệt từng tiểu đoàn Mỹ phản kích, phản đột kích ứng chiến
bằng đường bộ và đổ bộ đường không, tiến tới đánh thiệt hại nặng đơn vị
lớn hơn của chúng; thực hiện tiến công liên tục đánh vào toàn bộ đội
hình chiến dịch của địch, bao vây chia cắt chiến dịch, đánh cả phía
trước và phía sau, đánh vào các căn cứ hành quân chiến dịch của địch,
vận dụng chiến thuật linh hoạt, kiên quyết bám trụ, vận dụng cách đánh
gần, đánh chồng, đánh bồi của các binh chủng; bố trí đội hình chiến dịch
có chiều sâu, có đội dự bị mạnh, có chốt chiến dịch vây hãm và uy hiếp
địch buộc chúng phải ra khu quyết chiến để ta đánh tiêu diệt. Phối hợp
chặt chẽ giữa quân sự, chính trị, tác chiến và địch vận".
Điểm
quyết chiến phải đạt ý đồ đánh tiêu diệt có giá trị,
giảm bớt hỏa lực cực mạnh của Mỹ, và hạn chế tối đa thương vong. Tất cả
những điều ấy đã được Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận phân tích kỹ. Trước
hết là, sử dụng Đại đội 1 pháo binh 1 cùng với Tiểu đoàn 6 bộ binh đưa
pháo lên chốt ở Ngọc Bờ Biêng. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận khẳng
định: Với công sự tốt, hỏa lực mạnh, Tiểu đoàn 6 sẽ trụ bám được ở Ngọc
Bờ Biêng, biến nó thành chốt hiểm yếu buộc quân Mỹ phải ra giải tỏa.
Thiếu tướng William R. Peers, tư lệnh Sư đoàn Bộ binh số 4 và là Tư lệnh
Lực lượng Hoa Kỳ tại Chiến dịch Đắc Tô (Mỹ gọi là Chiến dịch McArthur).
Bên phía ta là Tướng Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh) và Chính uỷ Trần Thế Môn
với 6.000 bộ đội của 4 Trung đoàn: Trung đoàn 320, 66, 174 và Trung đoàn
pháo binh 40 và một số đại đội súng cối hỗ trợ cùng với Tiểu đoàn 6 độc
lập mang mật danh "Tiểu đoàn Tây Ninh".
Khu vực Cao điểm 875 sẽ làm điểm quyết chiến của chiến
dịch, đây là nơi có dải địa hình và các điểm cao nằm ở trung tâm không
gian chiến dịch, mà Cao điểm 875 lại là một trong những điểm cao tương
đối đột xuất, khống chế các vùng xung quanh; đồng thời cũng là cao điểm
xa các trận địa pháo binh Đắk Mót - Plei Cần của Mỹ. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
có thể xây dựng trận địa chốt chắc ở cao điểm này để khi quân Mỹ đổ
quân vào sâu, phải lần lên đánh điểm cao, sẽ tạo được thời cơ tiêu diệt.
Quá trình hành quân chiến dịch cũng là quá trình Bộ tư lệnh Mặt trận ra
lệnh cho các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực (đang phụ trách địa bàn tại
chỗ) cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích hoạt động để đánh lạc sự
chú ý của địch, giữ bí mật cho hướng chính chiến dịch.
Hướng và khu vực tiến công thứ yếu ở đông bắc Đắc Tô, gồm
các điểm cao của dãy Ngọc Lan, Ngọc Sịa, điểm cao 1323, 1030 và quận lỵ
Đăk Tô; do trung đoàn 24 (thiếu tiểu đoàn 6), tiểu đoàn 304, 2 đại đội
đặc công, 1 đại đội cối, 1 đại đội công binh (thiếu) của tỉnh đảm nhiệm.
Có nhiệm vụ đánh vào sau đội hình địch, tiêu diệt từng tiểu đoàn VNCH,
từng đại đội Mỹ, dùng lối đánh nhỏ uy hiếp Tân Cảnh, khống chế sân bay
Đắc Tô, đường 14 (đoạn nam, bắc Tân Cảnh) nhằm phân tán địch, hỗ trợ cho
hướng chủ yếu.
Các hướng nghi binh và phối hợp, ở Gia Lai, do trung đoàn
95, tiểu đoàn 101, 1 tiểu đoàn pháo cối hỗn hợp (6 DKZ 75mm, 4 cối
120mm, 4 cối 82mm) cùng lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm; ở Đắc
Lắc do trung đoàn 33 (thiếu), 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội đặc công và
1 đại đội cối 82mm cùng các lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm.
Bộ tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
một mặt cho các đơn vị ở sau lưng đối phương và các hướng khác đẩy mạnh
hoạt động để nghi binh, đồng thời lệnh cho các đơn vị tham gia chiến
dịch hành quân chiếm lĩnh trận địa sớm hơn dự định 3 đến 5 ngày. Ngày 15
tháng 10, các đơn vị trên hướng chủ yếu cơ động vào vị trí tập kết.
Ngày 29 tháng 10, các đơn vị ở khu chốt chiến dịch chiếm lĩnh trận địa
xong và đến ngày 2, các đơn vị cơ bản đã vào vị trí chiến đấu.
Bắt đầu từ ngày 3 và kết thúc vào ngày 22.11.1967, chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh được coi là một trận đánh thắng ngoạn mục của quân và dân ta trước Quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Nguồn ảnh: Wiki.
Ngày
2 tháng 11, Quân đội Hoa Kỳ lên Đăk Tô, thiết lập hai trận địa pháo ở
Plei Cần và Đắk Mót. Trung đoàn 320 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
được lệnh gấp rút chiếm Ngọc Dơ Lang. Khi Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 320)
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa hành quân tới Ngọc Dơ Lang thì một
tiểu đoàn bộ binh Mỹ cũng đến Ngọc Rinh Rua.
2 bên tranh chấp muốn chiếm điểm cao, nên tình huống chiến đấu diễn ra
rất ác liệt. Tình hình đó thúc đẩy đội hình chiến dịch của Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam phải nhanh chóng chiếm lĩnh và khẩn trương hoàn
tất mọi công tác chuẩn bị.
Chiều ngày 3 tháng 11, Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ một
tiểu đoàn bộ binh xuống khu đồi tranh phía đông dãy Ngọc Bờ Biêng khoảng
500m và tiến lên trận địa chốt của Đại đội 11, Tiểu đoàn 6. Sư đoàn bộ
binh số 4 Hoa Kỳ quyết định tấn công Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam
trước, dựa vào tin do người lính tù binh từ sư đoàn 1 cung cấp. Lúc
này, Sư đoàn 1 đã bố trí trận địa sẵn sàng nhưng bị bất ngờ vì thời điểm
đối phương tấn công tới nơi (theo kế hoạch thì Sư đoàn 1 sẽ nổ súng vào
ngày 15). Bộ đội đang đào công sự phải bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn 6
(Trung đoàn 320) là đơn vị đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam khai hỏa.
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
cho hai khẩu pháo 75mm bố trí ở Ngọc Bơ Biêng bắn vào sân bay Đắc Tô 2,
để khêu ngòi. quân Mỹ phản ứng tức khắc. 10 giờ ngày 3, quân Mỹ đổ 2
đại đội xuống điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang, 2 đại đội xuống Ngọc Non, đồng
thời triển khai lực lượng pháo binh nhằm tiến công vào khu chốt của Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Ngọc Tăng, Ngọc Bơ Biêng. Qua trinh sát
kỹ thuật, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam biết quân Mỹ sẽ dùng lữ đoàn
173 dù và lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 4 phản kích Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam trên 2 hướng tây, tây nam Tân Cảnh và sẽ hợp vây tại khu vực
điểm cao 875. Bộ tư lệnh lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cho các
đơn vị khu chốt chiến dịch kiên quyết chặn địch, sư đoàn 1 giữ kín lực
lượng, chờ địch vào khu chiến để tiêu diệt.
Trong trận đánh này, phía Quân giải phóng đã dụ được một lực lượng chủ
lực cơ động của Mỹ lên Tây Nguyên hay còn gọi là Cao Nguyên Trung Phần
vào thời đó để tiêu diệt. Ảnh: Sân bay Đắk Tô nhìn từ trên cao. Nguồn
ảnh: Wiki.
15 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11, trên mỏm đồi yên ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng,
Tiểu đội 7, Đại đội 11, mở màn chiến dịch Đăk Tô bằng trận đánh quyết
liệt với hai đại đội Mỹ trước chiến hào đơn vị. Các chiến sĩ nhảy lên
chiến hào thu hai súng trường, một súng M79. Đây là những khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên của chiến dịch.
Sáng ngày 4 tháng 11, quân Mỹ ném bom đào, bom napalm và
chất độc hóa học ngay từ sáng sớm đến 8 giờ, nhiều đoạn chiến hào của
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
bị san phẳng. Quân Mỹ bắt đầu tiến công lên chốt, song mỗi lần tiến
công đều bị đánh bật trở lại, bộ binh lại gọi không quân giội bom xuống.
Suốt ngày quân Mỹ đã tổ chức 8 đợt tiến công để chiếm chốt, Tiểu đội 7
có một số chiến sĩ bị thương vong, nhưng cuối cùng Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam vẫn giữ được chốt.
Ngày 4 tháng 11, Lữ đoàn
173 và Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 1) quân Mỹ tới Tân Cảnh.
Ngày 5 tháng 11, một đại đội bộ binh Mỹ bất ngờ ập đến trận địa chốt
thứ hai của Đại đội 11 ở Ngọc Tang. 2 bên dùng lưỡi lê, báng súng, lựu
đạn đánh giáp lá cà. Cùng với những trận đánh của bộ binh, đại đội pháo
binh 1 đã dùng 2 khẩu sơn pháo 75mm bắn phá Đăk Tô. Trung đội ĐKZ
ở Ngọc Tang cùng lúc vừa chặn quân Mỹ tràn xuống, vừa bắn vào sân bay
đã gây thiệt hại. Trung đoàn 320 và Trung đoàn 66 chặn đánh quân Mỹ ở
Điểm cao 724, 823 và pháo kích vào Ngọc Rinh Rua, tiêu diệt và tiêu hao 3
đại đội Mỹ, bắn rơi 2 trực thăng.
Ngày 6 tháng 11, một số đại đội của Lữ đoàn 173 Quân đội Mỹ
chiến đấu với Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam.
13 giờ ngày 6/11, Mỹ đổ 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 lữ
đoàn 173 xuống các điểm cao: 823, 845, 882 ở dãy Ngọc Kom Liệt, hình
thành 2 mũi tiến đánh vào sườn sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt N
đam.
Các chốt chiến thuật của trung đoàn 66 ở khu vực này đánh thiệt hại
nặng đại đội D (Delta), bắn rơi 2 máy bay lên thẳng, thu 4 súng và 1 máy
vô tuyến. Liền sau đó 2 đại đội của tiểu đoàn 4, trung đoàn 503 Mỹ đổ
bộ xuống chân điểm cao 823 và đánh chiếm điểm cao này bị lực lượng trinh
sát của trung đoàn 66 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
diệt 60 lính. Trong 2 ngày (6, 7 tháng 11), trung đoàn 66 tổ chức tập
kích và pháo kích vào điểm cao 823, buộc tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn
503 Mỹ phải bỏ điểm cao này rút về dãy Ngọc Kom Liệt. Cùng thời gian
trên, tại Ngọc Dơ Lang, ngày 6, hai đại đội Mỹ từ điểm cao 882 tiến công
chốt của đại đội 9 (tiểu đoàn 6) - Quân Giải phóng ở điểm cao 843, lính
Mỹ bị diệt 20 lính nhưng chiếm điểm cao. Ngày 7, lính Mỹ từ điểm cao
843 tiến về điểm cao 724 bị đại đội 9 thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn 320
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
vận động tiến công, diệt 10 lính, thu 6 súng của đại đội C (Charlie),
tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ, số lính Mỹ còn lại co cụm ở điểm cao 724.
Sau 3 ngày cho đến ngày 9, các đơn vị quân đội Mỹ đã chiếm được một số
vị trí then chốt mà họ muốn ở khu vực có Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam.
Tham gia trận đánh này, phía Mỹ có 16.000 quân cùng với pháo binh yểm
trợ đã bắn tổng cộng 151.900 quả đạn pháo. Ngoài ra còn có 2101 phi vụ
trực thăng vận, 2096 phi vụ ném bom, 257 phi vụ ném bom bằng B-52, ném
tổng cộng 10.000 tấn bom. Nguồn ảnh: Wiki.
Bộ tư lệnh chiến dịch Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
nhận định cả hai cánh quân Mỹ đều bị chặn đánh, nhưng có khả năng lính
Mỹ còn tiến sâu hơn nữa nên lệnh cho trung đoàn 174 hành quân ra khu vực
tây nam Lăng Lố Kram chuẩn bị chiến đấu. Chỉ thị cho hướng thứ yếu đánh
mạnh vào Đắc Tô - Tân Cảnh và đường 14.
Ngày 8, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 320) Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đột kích Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 4) Quân đội Mỹ. Suốt các
ngày 8 đến ngày 10 tháng 11, quân Mỹ tấn công mạnh vào vị trí của Tiểu
đoàn 6 (Trung đoàn 24) của đối phương.
Tối 8 tháng 11, tiểu đoàn 4 và đại đội 10 của tiểu đoàn 6,
trung đoàn 320 tập kích lính Mỹ ở điềm cao 724; đang hành quân tiếp cận
gặp địch di chuyển ra phía tây bộ đội Quân Giải phóng nhanh chóng vận
động tiến công, diệt 100 lính, đánh thiệt hại nặng đại đội A và đại đội B
của tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 lữ đoàn 1 Mỹ. Để chi viện cho trung đoàn
320 đánh địch, sư đoàn 1 đã tổ chức cối 120mm và ĐKZ 75mm pháo kích vào
Ngọc Rinh Rua và điểm cao 823, phá hủy 2 khẩu pháo, 2 máy bay lên thẳng,
diệt 50 tên lính Mỹ. Từ ngày 7 đến 10 tháng 11, tại Ngọc Kom Liệt, do
bị Quân Giải phóng tiến công dồn dập nên tiểu đoàn 4 thuộc trung đoàn
503 Mỹ từ điểm cao 823 hành quân về phía tây. Tiểu đoàn 7 của trung đoàn
66 Quân Giải phóng được các chốt trinh sát yểm hộ, vận động tiến công,
đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mỹ này, số còn lại tiếp tục bị tiểu đoàn 8
của trung đoàn 66 tấn công. Theo thống kê của Mỹ, tiểu đoàn 4 của họ
thương vong quá nửa trong trận này với 20 chết, 154 bị thương và 2 mất
tích. Để đỡ mất mặt, sĩ quan chỉ huy của Mỹ, đại úy Thomas McElwain,
đã cố ý báo cáo phóng đại tổn thất của quân Giải phóng: ban đầu quân Mỹ
báo cáo có 80 quân Giải phóng tử trận, sau đó con số này bị sửa lại
thành 175. Sau này, Thomas McElwain giải thích rằng "Nếu anh mất quá nhiều người bị chết và bị thương, anh phải có cái gì đó để bù đắp cho điều đó"
Còn theo báo cáo của quân Giải phóng, trong các trận đánh từ ngày 8 tới
11/11/1967, họ chỉ tổn thất 32 người chết hoặc bị thương
Lữ đoàn 173 quân đội Mỹ sau khi lần lượt đổ quân xuống Cao
điểm 823, 845, 882 trên dãy Ngọc Cam Liệt, bắt đầu tiến công vào sườn
phải Sư đoàn 1 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, để tiến lên chiếm cao
điểm 875. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam liền tập trung từng trung
đoàn đánh tiêu diệt trên khu quyết chiến Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang.
Để cứu nguy, 12 giờ ngày 11 tháng 11, 2 đại đội A và B
thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 Mỹ từ Ngọc Kom Liệt tiến xuống, nhưng
bị tiểu đoàn 8 và đại đội 12,7mm của trung đoàn 66 chặn đánh và tiêu
diệt. Quân Giải phóng ước tính quân Mỹ bị thương vong khoảng 400 lính,
Quân giải phóng thu 21 súng các loại, 6 vô tuyến điện; Mỹ phải dùng máy
bay (cả B52) ném bom thiêu hủy và buổi chiều đổ tiếp tiểu đoàn 2 của
trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. 14 giờ cùng ngày, tại Ngọc Dơ Lang,
tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ cho 2 đại đội đánh ra phía tây để phối hợp
với lực lượng Mỹ ở điểm cao 724, bị tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 320
Quân Giải phóng vận động tiến công diệt gọn đại đội B, tiêu hao nặng đại
đội D, diệt 120 tên, số còn lại co về cụm ở điểm cao 724.
Phía ta hoàn toàn ngược lại, chỉ có 6000 quân với một đại đội súng cối hỗ trợ. Nguồn ảnh: Wiki.
Các trận đánh của 2 trung đoàn 66 và 320 thắng lợi đã chứng
minh: với hình thức chiến thuật "chốt kết hợp vận động", bộ đội Quân
Giải phóng có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của Mỹ để
giành thắng lợi. Đây là trận then chốt đầu tiên của chiến dịch, làm cho
quân Mỹ không thực hiện được ý đồ chia cắt chiến dịch. Diễn biến những
ngày đầu chiến dịch chứng minh những phán đoán và dự kiến của Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam là đúng, đã nhử được Lữ đoàn 173 và Sư đoàn 4
Quân đội Mỹ vào "bẫy" ở Đăk Tô.
Trước tình thế Lữ đoàn 173 và Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ bị
thiệt hại lớn, Bộ chỉ huy Mỹ phải tung lực lượng dự bị gồm: hai tiểu
đoàn thuộc Sư đoàn Không Kỵ số 1 và Chiến đoàn Dù 3 VNCH sớm vào vòng
chiến. Quân Mỹ tiếp tục đổ quân xuống khu vực Plei Cần và Ngọc Cam Liệt,
với ý định chia cắt đội hình của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và
sẽ hợp vây chiến dịch ở khu vực Cao điểm 875. Ngày 12, Mỹ dùng B-52 và
pháo đánh phá vị trí của các Trung đoàn 66 và 320 của Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam. Không quân Mỹ phải dùng mỗi ngày tới 700 lần chiếc
máy bay B-52 và máy bay phản lực ném bom xuống Đăk Tô.
Sáng 12 tháng 11, sau khi không quân và pháo binh bắn phá,
lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống
điểm cao 845. 10 giờ lính Mỹ phản kích lên điểm cao 882. Tiểu đoàn 3 của
trung đoàn 174 xuất kích kết hợp chốt diệt 2 trung đội thuộc đại đội A.
Lực lượng còn lại chạy về điểm cao 845. Theo tin trinh sát kỹ thuật của
Quân Giải phóng, ngày 12 tháng 11, tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn 1 kỵ binh
không vận và chiến đoàn dù 3 QLVNCH đã đến thị xã Kon Tum. Tiểu đoàn 3
thuộc trung đoàn 12 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 tiến ra nam Ngọc Dơ Lang. Bộ tư
lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng nhận định: thế trận của địch đã rối
loạn nên quyết định tổ chức lực lượng kiềm chế cánh quân của lữ đoàn 1
sư đoàn 4; diệt cánh quân của lữ đoàn dù 173; dùng ĐKZ và cối 82mm kiềm
chế địch ở Ngọc Dơ Lang
Ngày 13, các đơn vị hai phía giáp chiến ở một số nơi, song
hỏa lực chủ yếu là do B-52 dội xuống. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
vừa quyết giữ trận địa, vừa kết hợp xuất kích ngắn tiến công để diệt
địch. Tiểu đoàn 6 Tây Ninh trên dãy Ngọc Bờ Biêng đã đánh thiệt hại nặng
Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 1 Mỹ. Quân 2 bên có lúc xen kẽ, bộ đội đã
bám những công sự, những đoạn hào còn lại, dùng lựu đạn, lưỡi lê, báng
súng đánh giáp lá cà.
Với lối đánh nghi binh, luồn lách, cơ động, ào lên tấn công trực diện ở
cự ly gần rồi lại rút lui nhanh, quân ta đã khiến phía Mỹ phải vất vả
chống đỡ. Nguồn ảnh: Wiki.
Ngày 14, các đơn vị của Lữ đoàn 173 Quân đội Mỹ bị thiệt
hại nhiều được lệnh rút về vị trí mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
gọi là Điểm cao 845. Vị trí này được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
cố tính không đánh trước đó với mục tiêu thu hút đối phương về đó. Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng lực lượng của ba Trung đoàn 66, 174 và
320 để tiến đánh Lữ đoàn 173.
Hai ngày 13 và 14 tháng 11, lính Mỹ tiếp tục đánh lên điểm
cao 882, tiểu đoàn 8-Quân Giải phóng liên tục đánh địch, loại khỏi vòng
chiến đấu 100 tên Mỹ, thu 6 súng, làm chủ trận địa. Để chi viện cho
trung đoàn 174, sư đoàn 1-Quân Giải phóng dùng cối 120mm bắn vào điểm
cao 823 tiêu hao nặng đại đội C thuộc tiểu đoàn 4 trung đoàn 503, chặn
đứng hỏa lực Mỹ bắn vào điểm cao 882. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến
thuật, trung đoàn 174-Quân Giải phóng rút tiểu đoàn 3 và một bộ phận của
tiểu đoàn 1 về hai bên sườn điểm cao 875.
Cùng thời gian, từ ngày 12 đến 16 tháng 1, đại đội sơn pháo
75mm - Quân Giải phóng tập kích 4 trận bằng hỏa lực (16 giờ ngày 12, 8
giờ và 15 giờ ngày 15, 8 giờ ngày 16) vào căn cứ tiền phương của sư đoàn
4 Mỹ ở Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô diệt khoảng 350 tên, phá hủy 3 máy bay
C130, 4 xe quân sự, 2 kho xăng, 1 kho đạn. Ở hướng đông bắc Đắc Tô,
trung đoàn 24-Quân Giải phóng cùng bộ đội tỉnh tiến công quận lỵ Đắc Tô
và Tân Cảnh, chặn đánh các toán quân ứng cứu giải tỏa của Mỹ. Điển hình
là các trận của trung đoàn 24 ở Ngọc Sịa ngày 14 tháng 11, ở Tân Cảnh
ngày 16 tháng 11, trận phục kích của công binh, trinh sát chiến dịch ở
Plây Cần (đường 18), của tiểu đoàn 304 ở Võ Định trên đường 14 ngày 14
tháng 11.
Trên hướng Đường 18 và đông bắc Đăk Tô, Trung đoàn 24 chủ
lực tại chỗ cùng công binh và bộ đội địa phương Kon Tum đã tiến công vào
quận lỵ Đăk Tô, thị trấn Tân Cảnh,
chặn đánh đoàn xe vận tải chở quân ứng cứu của Mỹ, buộc quân Mỹ phải
phân tán đối phó cả ở phía sau. Nổi bật nhất là trận đánh của trung đoàn
24 ở Ngọc Xia (14 tháng 11), Tân Cảnh (16 tháng 11), Cao điểm 1030,
1423 và Ngọc Van (17, 19 tháng 11) đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn Mỹ,
phá hủy nhiều xe quân sự. Vào đêm 12 tháng 11, Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam dùng rocket tấn công sân bay Đăk Tô. Ngày 15 tháng 11, Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam dùng súng cối phá hủy 2 chiếc C-130
Hercules trên đường băng. Đêm đó Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
tiếp tục dùng súng cối tập kích, bắn trúng một container chất nổ, các
vụ nổ dây chuyền đã phá hủy hơn 1.100 tấn đạn dược của Mỹ tại đây.
Nếu như địa hình rừng núi quá quen thuộc với ta thì đối với binh lính
Mỹ, địa hình này là cơn ác mộng khi trực thăng không thể tiếp cận còn
binh lính Mỹ rất khó xác định khoảng cách để gọi pháo dội chính xác do
bị cây cối che chắn tầm nhìn. Nguồn ảnh: Wiki.
Sau những cố gắng tiến công chia cắt đội hình đối phương ở
khu vực Ngọc Cam Liệt và Ngọc Dơ Lang không thành công, Bộ chỉ huy Mỹ
buộc phải tìm cách chiếm cho được Cao điểm 875 làm bàn đạp khống chế,
thực hiện đòn đánh vu hồi vào sau lưng đội hình chiến dịch củaQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 17 tháng 11, hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Lữ đoàn 173
Quân đội Mỹ bắt đầu tiến công để chiếm Cao điểm 875. Khi quân Mỹ chưa
đến 875 đã bị Trung đoàn 66 chặn đánh, diệt từng bộ phận; Tiểu đoàn 2
Quân đội Mỹ tiếp tục tiến lên 875. Nhưng tại đây, Đại đội 7 thuộc Trung
đoàn 174 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
đã bí mật xây dựng cao điểm thành điểm chốt kiên cố. Khi quân Mỹ tiến
lên, Đại đội 7 nổ súng chặn đứng được đội hình Mỹ trước chiến hào, một
bộ phận xuất kích đánh tạt sườn đã tiêu diệt một số địch. Sư đoàn 1-Quân
Giải phóng tổ chức pháo kích trận địa hỏa lực của Mỹ ở nam Ngọc Dơ
Lang, điểm cao 530, phá hủy 5 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm. 13 giờ ngày 17
tháng 11, 1 trung đội của đại đội 11, tiểu đoàn 6 Quân Giải phóng phòng
ngự ở điểm cao 1338 đã đánh bại 10 đợt phản kích của quân Mỹ, diệt 100
lính Mỹ.
Sáng 18 tháng 11, hai tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 503
Mỹ chia làm 2 mũi tiến công về điểm cao 875; tiểu đoàn 1 Mỹ tiến theo
sườn tây bắc điểm cao 882, đến 13 giờ 30 phút bị tiểu đoàn 8 và 1 đại
đội của tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 chặn đánh và ghìm chặt tại đây
diệt 90 tên, thu 6 súng. Tiểu đoàn 2 Mỹ từ cao điểm 845 tiến chiếm đồi
"biệt kích" ở tây bắc điểm cao 875 khoảng 1km
để tạo bàn đạp đánh sang 875. Cùng thời gian, ở đông 875, hai đại đội
biệt kích, thám báo từ bãi Le tổ chức tiến công vào điểm cao 875. Từ lúc
8 giờ 30 phút ngày 18 đến 11 giờ ngày 19, đại đội 7 của tiểu đoàn
2-Quân Giải phóng đã chịu đựng hỏa lực phi pháo ác liệt của Mỹ (có cả
B52), liên tục đẩy lùi các đợt tiến công của Mỹ, giữ vững 875. Trong lúc
lính Mỹ đang tập trung lực lượng đánh lên 875, tiểu đoàn 2 (thiếu đại
đội 7) và 1 đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 174 bí mật vận động tiếp
cận đội hình Mỹ từ bên sườn và phía sau. 14 giờ ngày 11, sau khi Quân
Giải phóng bắn 30 quả đạn cối vào sở chỉ huy Mỹ, 4 mũi của Quân Giải
phóng đồng loạt xung phong vào đội hình lính Mỹ đang tập trung ở đồi Yên
Ngựa, dưới chân điểm cao 875. Bị đánh bất ngờ, đội hình Mỹ rối loạn.
Chớp thời cơ, đại đội 7 từ điểm cao 875 cũng xuất kích đánh xuống. Đến
17 giờ, phần lớn lính Mỹ bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy bị trúng bom
và đạn pháo của Mỹ chết một số. Trận đánh đã loại khỏi vòng chiến 300
tên Mỹ, ta thu 18 súng AR-15
và 6 máy thông tin vô tuyến điện. Sau đó trung đoàn cho đại đội 7 chốt
lại tại điểm cao 875, còn trung đoàn rút về phía sau củng cố.
Ngoài ra, phía ta cũng tiến hành nghi binh chiến thuật ở nhiều hướng,
đặc biệt là ở những khu vực phía sau lưng địch và sau phòng tuyến của
địch, khiến chúng bị hỗn loạn, không thể phán đoán được vị trí của các
đơn vị chủ lực của ta để tiến hành đánh lớn. Nguồn ảnh: Wiki
Ngày 19 tháng 11, lực lượng Quân Giải phóng chốt ở điểm cao
1262 đánh lui 5 đợt phản kích của quân Mỹ, diệt 70 tên Mỹ. Ngày 20
tháng 11, chốt ở điểm cao 1294 diệt 20 tên lính Mỹ.
Không
chiếm được cao điểm, quân Mỹ lại cho từng tốp B-52
và phản lực liên tiếp giội bom gần như san phẳng ngọn đồi, rồi lại tiến
lên, nhưng lại bị Đại đội 7 đánh bật xuống. Trước chiến hào, quân Mỹ
bắn xối xả, lựu đạn Mỹ ném vào chiến hào, bộ đội nhặt ném trả lại. Giao
tranh ác liệt gây thương vong lớn cho cả hai bên. Tổ chiến đấu 3 người
gồm Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc và Đỗ Văn Chuyên (thuộc đại đội 7)
được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi nhận đã đẩy lùi hàng chục đợt
phản công chỉ bằng B-40, súng AK và lựu đạn, tiêu diệt được 102 tên Mỹ,
lập kỷ lục về thành tích diệt địch của một tổ 3 người trong một trận
chiến đấu.
Trên hướng đông bắc Đắc Tô - Tân Cảnh, trung đoàn 24-Quân
Giải phóng và lực lượng vũ trang tỉnh Kom Tum đã đánh sâu vào thị xã Kon
Tum và thị trấn Tân Cảnh, đường 14, tiêu diệt nhiều lính Mỹ, hoàn thành
nhiệm vụ phối hợp chiến dịch. Trong các ngày 17, 18, 19 tháng 11, chiến
sự xảy ra ác liệt tại Ngọc Lan: 7 giờ ngày 17, tiểu đoàn 3 dù VNCH tiến
công vào chốt của đại đội 7 thuộc tiểu đoàn 5 trung đoàn 24-Quân Giải
phóng, bị đánh thiệt hại nặng, Mỹ liền đưa tiểu đoàn 2 vào tiến công, bị
2 đại đội của tiểu đoàn 5-Quân Giải phóng đánh bật xuống chân đồi, diệt
hơn 100 lính, số còn lại cụm tại chỗ không dám tiến công. 5 giờ ngày
19, tiểu đoàn 5 bất ngờ tập kích cụm quân Mỹ này, diệt 170 lính. 2 tiểu
đoàn dù VNCH bị thiệt hại nặng, QLVNCH đưa tiểu đoàn 23 biệt động quân
và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc
trung đoàn 42 lên cứu nguy, nhưng tiểu đoàn 5 đã hoàn thành nhiệm vụ
phối hợp chiến dịch và rời khỏi khu vực Ngọc Lan.
Cuộc đụng độ ở cao điểm 875 được Mỹ coi là cuộc đụng độ đẫm máu nhất đối
với quân đội nước này trong chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Thậm chí ở Mỹ,
trận đụng độ ở cao điểm 875 mà Mỹ gọi là Đồi 875 thậm chí còn nổi tiếng
hơn cả chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh. Ảnh: Mỗi đôi giày tượng trưng cho một
binh lính Mỹ đã ngã xuống. Nguồn ảnh: Life.
Ở Gia Lai, Quân Giải phóng đánh 10 trận diệt 189 lính đối
phương (có 114 lính Mỹ), bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 7 xe quân sự. Ở Đắc
Lắc, Quân Giải phóng đánh 8 trận, diệt 250 lính đối phương (có 150 lính
Mỹ), bắn rơi và phá hủy 27 máy bay (có 1 chiếc C130), phá hủy 3 khẩu
pháo, 2 xe M113, 1 kho đạn, 1 kho xăng.
Ngày 19 tháng 11, trong lúc quân Mỹ đang bị kìm chặt ở khu
vực Cao điểm 875, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
hạ quyết tâm dùng Trung đoàn 174 từ các hướng đã chuẩn bị sẵn, thực
hành trận vận động tiến công tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 2 của Mỹ. Một
số lính Mỹ sống sót cụm lại dưới chân cao điểm bị súng cối Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam bắn diệt. Ngày 20, Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam phục kích
diệt thêm một số tên Mỹ, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng khi đến lấy xác
lính Mỹ. Trong tổng số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, 123 lính đã
chết và 252 bị thương
Tài liệu Mỹ nhận xét: "Vừa rạng đông, quân
địch dùng súng cối bắn vào vị trí đóng quân của Mỹ. Quân Bắc Việt Nam đã
xây dựng từ trước một hệ thống hỏa lực với các tuyến bắn phối hợp tinh
vi. Họ đã điều khiển hỏa lực để tạo ra một giải bắn có tác dụng thu hút
sự chú ý của quân Mỹ, giúp cho một số bộ đội Việt Nam có thể bí mật luồn
vào phía sau đội hình quân Mỹ đã ở trên đỉnh đồi. Chiến thuật nghi binh
này sẽ còn phát huy hiệu quả trong suốt ngày thứ tư".
Trong chiến dịch này, các cuộc đụng độ lớn giữa ta và địch chủ yếu chỉ
diễn ra trên một vài cao điểm trọng yếu bao gồm cao điểm 882, cao điểm
875, cao điểm 724, cao điểm 823 và cao điểm 1262. Nguồn ảnh: Wiki.
Ngày 20 tháng 11, tiểu đoàn 2 của trung
đoàn 8, lữ đoàn 1
Mỹ đổ bộ xuống bãi Le và tổ chức 7 lần tiến công lên điểm cao 875 nhưng
đều bị đại đội 7-Quân Giải phóng bẻ gãy. Cùng ngày, một máy bay F-100
của Mỹ tới ném bom đồi 875. Viên phi công bị đèn chiếu làm lóa mắt và
đã chọn sai hướng tiếp cận khi bổ nhào xuống đồi 875, khiến quả bom rơi
trúng vào vị trí mà Tiểu đoàn 2 và 4 Mỹ đang đứng chân, quét sạch gần
như toàn bộ sinh lực của Mỹ tại đó. 42 lính Mỹ chết và 45 lính khác bị
thương sau vụ ném bom nhầm (trong cả ngày hôm đó quân Mỹ có 72 lính chết
và 85 lính bị thương tại đồi 875). Tom Remington, một lính Mỹ thuộc
Tiểu đoàn 2 đã điên cuồng vồ lấy một điện đài, gọi về căn cứ, gào lên: "Hãy dừng ngay những cái máy bay bỏ mẹ kia. Không được để chúng tiếp tục ném bom. Chúng đang giết hết chúng tôi ở đây".
Phóng viên chiến trường Mỹ tường thuật: "Một
đơn vị Mỹ đang chiến đấu giành sự sống và trận dội bom nhầm của một máy
bay không quân đã giết chết 20 lính bị thương trước đó. Tám chiếc trực
thăng bị bắn hạ khi cố gắng di chuyển những người bị thương khác vào
sáng hôm đó. Không có cách nào để đưa những lính bị thương hoặc bất kì
ai ra khỏi chiến trường... Cách duy nhất để phân biệt người sống và
người chết là khi chứng kiến pháo cối của kẻ thù dội vào. Người còn sống
đổ xô không một chút xấu hổ vào những boongke bé nhỏ được đào trên đỉnh
đồi, người bị thương thì quằn quại bò tới ẩn nấp sau những bụi cây đổ
xuống đất." Một phóng viên Nhật Bản đi cùng Lữ đoàn dù 173 Mỹ đã thuật lại rằng: "Tại
cao điểm 875 gần biên giới, bộ đội chính quy Bắc Việt Nam đã đánh những
đòn rất dữ dội, xác và ba lô của lính Mỹ tử trận chất cao như núi."
Cho đến 12 giờ ngày 22 tháng 11, đại đội 7 quân Giải phóng
vẫn giữ vững chốt. Do dự trữ đạn dược không còn nhiều, chủ trương của
Bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Giải phóng là khi giải quyết xong thương
binh, liệt sĩ sẽ bỏ chốt. Thực hiện ý định đó, 18 giờ 40 phút ngày 22,
quân Giải phóng bỏ chốt 875, chỉ để 1 trung đoàn 12,7mm và 1 trung đoàn
cối 82mm cơ động kiềm chế địch. Quân Mỹ tiến lên đồi chỉ gặp một số hỏa
điểm thưa thớt, những cuộc chạm súng lớn đã không xảy ra. Đến 24 giờ,
lính Mỹ lên được đỉnh đồi 875 thì Quân Giải phóng đã rút.
Đến ngày 27 tháng 11, lính Quân Giải phóng tại Cao điểm
875 lại diệt gọn một đại đội dù Mỹ, kết thúc chiến dịch Đăk Tô. Bộ chỉ
huy Mỹ cho máy bay ồ ạt lên ném bom napalm
trong một phạm vi rộng để tiêu hủy trận địa. Ngày 28 tháng 11, lực
lượng dự bị của Lữ đoàn 173 cùng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 12 Quân đội Mỹ
tới tham chiến, nhưng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã chủ động rút lui.
Những cao điểm này đã phải hứng chịu hàng vạn quả đạn pháo của đối
phương, cháy trụi hết cây cối và oằn mình dưới những màn dội bom từ
B-52. Mặc dù vậy, phía Quân giải phóng vẫn ngoan cường bám trụ, tiến
hành cơ động đánh địch trên địa hình trống trải, tiêu hao nhiều sinh lực
địch. Nguồn ảnh: Tom.
Chiến dịch
Đăk Tô tiêu hao sinh lực lính Mỹ nhiều hơn bất kì trận đánh
nào trong cuộc chiến trước đó, nhưng chính quyền Mỹ vẫn tuyên bố đó như
một chiến thắng khác, nhằm tăng giá trị cho thông điệp mà Tướng William
Westmoreland gửi tới Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Washington vào cuối
tháng 11 khi tuyên bố năm 1968 "sẽ là năm kết thúc chiến tranh".
Để
có lý do tuyên bố "chiến thắng", tướng Westmoreland tuyên bố quân Mỹ đã
giết chết 1.200 binh sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng một số
tương đương bị thương. Tướng John Chaission tuyên bố quân Mỹ đếm được
khoảng 1.200 thi thể quân Giải phóng Thiếu tướng William B. Rossen, Phó
chỉ huy MACV
thì ước tính rằng phía Việt Nam đã mất từ 1.000 đến 1.400 binh sĩ. Tuy
nhiên, con số thiệt hại của bộ đội Việt Nam do các tướng Mỹ đưa ra bị
cho là phóng đại, bởi thực tế lính Mỹ chỉ thu giữ được 94 vũ khí cộng
đồng và 275 vũ khí cá nhân của đối phương (các tướng Mỹ thường thổi
phồng con số thương vong của đối phương để có lý do tuyên bố "chiến
thắng"). Sau này, một đại đội trưởng Mỹ đã tố cáo rằng: trong một trận
đánh, đại đội anh ta bị thương vong 78 người và báo cáo chỉ tìm thấy 10
quân Giải phóng tử trận, tướng Westmoreland rất tức giận vì quân Mỹ tổn
thất nhiều hơn hẳn đối phương, và ông ta đã cố tình sửa lại con số 10
trở thành "475 kẻ địch bị giết", và công bố nó như là báo cáo hoạt động
chính thức Và không phải tất cả các chỉ huy Mỹ đều đồng tình với kiểu
tuyên bố dối trá đó. Tướng Thủy quân lục chiến John Chaisson phản đối
việc tướng Westmoreland tuyên bố phóng đại thương vong của đối thủ: "Đó
có phải là một chiến thắng không, khi bạn mất 362 chiến hữu trong ba
tuần và chỉ đếm được 1.200 thi thể giả mạo của đối phương?"
Tổng cộng, trong số 570 lính Mỹ tham chiến ở đồi 875, có 123 lính thiệt
mạng tại chỗ và 252 lính bị thương, kèm theo 12 máy bay bị bắn rơi.
Nguồn ảnh: Tumblr.
Về phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam,
họ tuyên bố đã đánh 57 trận, có 12 trận phòng ngự, 5 trận vận động tiến
công kết hợp chốt, 6 trận vận động tiến công, 15 trận pháo kích, 1 trận
phục kích, 1 trận tập kích, 1 trận tiến công thị trấn; loại khỏi vòng
chiến 3.000 lính đối phương, trong đó có 2.000 lính Mỹ, phá hỏng nặng 2
sân bay, bắn rơi và phá hủy 38 máy bay (có 3 chiếc C-130),
phá hủy 7 xe quân sự (có 2 xe thiết giáp). Toàn chiến dịch, Quân Giải
phóng đã loại khỏi vòng chiến 4.570 lính đối phương (có 4.030 lính Mỹ);
phá hỏng 3 sân bay, bắn rơi và phá hủy 70 máy bay, phá hủy 18 khẩu pháo,
52 xe quân sự có 16 xe thiết giáp, 2 kho đạn, 3 kho xăng, thu 104 súng
các loại và 17 máy vô tuyến điện; diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh
thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ) và 6 đại đội (có 2 đại
đội Mỹ); đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 173 dù VNCH và lữ đoàn 1 thuộc sư
đoàn 4 Mỹ.
Phóng viên chiến trường Peter Arnett, người đã chứng kiến
trận đánh và có những cuộc đàm thoại với John Paul Vann và một số sĩ
quan quân đội thẳng thắn, thì kết luận "năm 1967 là màn dựng lên cho ván bài quân đội kết thúc ở Việt Nam vào năm 1968".
Quân Mỹ thương vong hàng ngàn người chỉ để chiếm được những ngọn đồi
hoang vu không giá trị, trong khi đó Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
thì không cố giành giật trận địa mà mục đích chính là tiêu hao quân Mỹ
càng nhiều càng tốt. Peter Arnett kết luận: "Chỉ huy Mỹ
vẫn còn phân tích Việt Nam theo kiểu Chiến tranh thế giới thứ hai, còn
những người cộng sản phân tích tình hình dựa vào cuộc chiến hất cẳng
Pháp những năm 1950". Về lâu dài, chiến lược này sẽ khiến quân viễn chinh Mỹ kiệt sức, sa lầy giống như người Pháp trước đó
Tổng kết toàn chiến dịch, phía Quân giải phóng giành được cả hai chiến
thắng về mặt chiến thuật và chiến lược. Phía Mỹ có 4570 lính thiệt mạng,
mất 70 máy bay, 3 sân bay bị phá hỏng, 52 xe quân sự trong đó có 16 xe
tăng-thiết giáp bị bắn cháy, 2 kho đạn và 3 kho xăng bị phá hủy hoàn
toàn. Nguồn ảnh: Flickr.
Trận Đăk Tô - 1967, được coi là chiến thắng lớn đối với quân ta khi đã
tiêu hao nặng những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ, đây cũng được xếp
vào là 1 trong 3 chiến dịch thắng lớn nhất trên địa bàn Tây Nguyên cùng
với chiến dịch Plây Me năm 1965 và chiến dịch Đăk Siêng năm 1970. Nguồn
ảnh: Press.
Về phía Quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam,
trận Đăk Tô 1967 được coi là một chiến thắng lớn vì đã tiêu hao nặng
những đơn vị thiện chiến nhất của Mỹ và phá hủy nhiều phương tiện chiến
tranh. Các đơn vị tham gia chiến dịch đã được Đảng tặng thưởng Huân
chương Quân công hạng nhất. Xã luận Báo Quân đội nhân dân, ngày
29/11/1967 ghi: "Chiến
thắng Đăk Tô đã ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những
nét vàng son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu
Đông - Xuân quyết thắng 1967-1968 của miền Nam anh hùng". Đây là một
trong 3 chiến dịch trên địa bàn Tây Nguyên trong chiến tranh chống Mỹ
được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất: Chiến dịch Plây Me năm
1965, Chiến dịch Đăk Tô 1967 và Chiến dịch Đắk Siêng 1970.
9/Trận đồi không tên: "1 chọi 20"
Ngày 9-1-2009, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”
cho Tiểu đội vận tải Bùi Ngọc Đủ (thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo
binh 84, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2). Đây là sự tôn vinh và ghi nhận chiến
công đặc biệt xuất sắc của tiểu đội từng đánh lui 15 đợt tiến công của
200 lính thủy đánh bộ Mỹ, tại Đồi không tên - chân dãy núi Cù Đinh, Cam
Lộ, Quảng Trị.
Theo
lịch sử Trung đoàn 84 và hồ sơ lưu trữ, vào ngày 26-2-1967, Tiểu đội
Vận tải Bùi Ngọc Đủ nhận nhiệm vụ bảo vệ kho chứa 3.000 viên đạn H12 và
H6, chờ trung đoàn tới tập kích hỏa lực vào căn cứ của Mỹ trên Điểm cao
241. Tiểu đội gồm 10 đồng chí tuổi từ 18 đến 24, do Trung sĩ Bùi Ngọc
Đủ, Trung đội phó làm Tiểu đội trưởng, đồng chí Hạ sĩ Đặng Văn Hạng làm
Tổ trưởng Đảng và 8 chiến sĩ gồm: Lương Văn Tầm, Nguyễn Hồng Kinh, Lương Văn Thành, Trịnh Đình Tía, Lê Văn Liên, Trương Ngọc Thịnh, Lê Bá Chính, Nguyễn Nhân Nhê.
Trong 10 người có 3 chiến sĩ mới nhập ngũ, 7 đồng chí khác là cán bộ,
chiến sĩ pháo binh thiện chiến. Tiểu đội được trang bị 4 súng AK, 6 súng
trường, gần một nghìn viên đạn, 60 quả lựu đạn…
Rạng sáng ngày 28/2/1967, thủy quân lục chiến Mỹ bất ngờ dùng trực thăng
đổ 200 lính biệt kích, thủy quân lục chiến lên khu vực đồi Không Tên
nhằm phá hủy kho đạn dược, mà theo đánh giá của Mỹ là cực lớn của quân
giải phóng. Một trận đánh không cân sức đã diễn ra quanh con suối La La,
ngay dưới chân đồi.
Khi đi lấy nước dưới suối La La về, Tiểu đội
trưởng Bùi Ngọc Đủ ngửi thấy mùi thuốc lá và nghe tiếng nói nhưng không
hiểu được. Tiến gần hơn quan sát liền bị bắn xối xả, đồng chí Đủ lập tức
bắn lại và hô tiểu đội về vị trí chiến đấu. Bọn địch dàn đội hình bao vây tiểu đội, 15 khẩu trung liên và các loại
súng khác của chúng đồng loạt nhả đạn. Chúng hò hét định xông lên, Bùi
Ngọc Đủ và Nguyễn Hồng Kinh dùng tiểu liên ghìm chúng lại. Hai quả lựu
đạn của Lương VănTầm và Bùi Ngọc Đủ nổ ngay giữa đội hình địch.
Đồng chí Hạng, đồng chí Tía cùng các chiến sĩ từ hai bên bắn lướt sườn
chi viện cho Tầm và Liên ở công sự phía trước...
Dù bị tấn công bất ngờ, nhưng các chiến sĩ quân giải phóng không hề
hoảng loạn, nhanh chóng bố trí đội hình chiến đấu, kiên nhẫn chờ cho
địch đến thật gần mới đồng loạt nổ súng, vừa tạo ra hiệu suất tác xạ rất
cao, vừa gây nên nổi khiếp đảm khủng khiếp cho quân Mỹ, khiến chúng
tưởng rằng quân số của ta đông ngang bằng hoặc thậm chí hơn.
Bọn địch không dám ào lên nữa, chúng choáng váng bởi ngay đợt tấn công
đầu tiên đã để lại trên trận địa 8 xác chết. Địch điên cuồng gọi pháo
binh chi viện, song do cự ly của tiểu đội gần địch nên pháo binh của
chúng không phát huy được hiệu quả, đạn đại liên của chúng cũng chỉ lướt
trên cao. Địch vẫn như mù trước tài ngụỵ trang của tiểu đội. Yếu tố bất
ngờ vẫn còn, các chiến sĩ ta kiên nhẫn đợi giặc vào gần và đánh lui đợt
tấn công thứ hai của chúng… Cay cú, quân địch lại gọi pháo binh bắn phá
và 4 máy bay phản lực, 2 trực thăng đến không kích… Đến đợt tấn công
thứ tư, chiến sĩ Lê Bá Chính bị thương, chiến sĩ Nguyễn Nhân Nhê hy sinh
từ đợt tấn công thứ hai. Tiểu đội chỉ còn lại 8 người, vì vậy đồng chí
Đủ và đồng chí Hạng phải bắn thêm 2 khẩu súng...
Biết rằng mình đang bị vây chặt, tất cả mọi ưu thế về quân số, hỏa lực,
bố trí binh lực, tính bất ngờ… đều thuộc về địch, quân ta chỉ có ý chí
quyết tâm cao và thông thạo địa hình, tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ chia
quân thành 3 tổ, mỗi tổ 3 người phụ trách các hướng khác nhau.
Sau những đợt tấn công đầu tiên thất bại, lính biệt kích Mỹ đã phán đoán
nhầm rằng quân giải phóng khá đông trên đồi nên gọi pháo binh và không
quân cường kích chi viện, dồn dập trút pháo, bom lên các vị trí nghi ngờ
có quân ta ẩn nấp.
Đến khoảng 12 giờ trưa, tiểu đội đã bẻ gãy 10 đợt tấn công của địch.
Cùng thời gian đó, một chiếc trực thăng bay thấp, cách tiểu đội khoảng
250m, chúng thả những thùng rất to nhưng không có tiếng nổ. Quan sát
thấy địch kéo những chiếc thùng ra xa và từng nhóm ra ăn trưa, đồng chí
Bùi Ngọc Đủ và Đặng Văn Hạng tranh thủ thời cơ hội ý tổ Đảng và các đồng
chí còn lại, rút kinh nghiệm chờ địch vào gần hơn nữa mới bắn nhằm tiết
kiệm đạn, nhưng cố gắng không phải đâm lê như những đợt tấn công trước.
Đồng thời ngăn cản không cho địch lấy xác làm cho yếu tố tổ chức chiến
đấu của chúng thêm rối loạn… Trời nắng nóng, mùi thuốc bom bốc lên khét
lẹt rất khó chịu, nước uống thiếu, chỉ còn đủ cho đồng chí bị thương.
Đói, khát, nói không ra tiếng, nhưng toàn tiểu đội vẫn xác định quyết
tâm bảo vệ kho đạn đến cùng, còn một người cũng đánh. Lực lượng ít, tiểu
đội xác định phải xử lý nhanh và linh hoạt… Hội ý xong, mọi người tranh
thủ củng cố lại công sự, kiểm tra lại vũ khí trang bị, chuẩn bị chiến
đấu tiếp.
Khoảng 13 giờ chiều, địch mở những đợt tấn công mới, vẫn sử dụng đội
hình tấn công như cũ, nhưng chúng dùng hỏa lực tổng hợp nhanh hơn, kết
hợp cả pháo binh, máy bay phản lực, trực thăng nhưng số lượng bom đạn
nhiều hơn, bộ binh trườn, bò thấp hơn… Song đều bị thất bại trước tinh
thần chiến đấu vô cùng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ tiểu đội.
Sau mỗi đợt bắn phá ác liệt, biệt kích địch lại lần lượt tấn công lên
ngọn đồi. Cứ sau mỗi đợt tấn công của địch, tiểu đội của Bùi Ngọc Đủ hao
mòn dần. Mặc dù bốn mặt bị vây chặt và bắt đầu có thương vong, nhưng
những các chiến sĩ ta vẫn chiến đấu cực kỳ có kỷ luật. Nhiều chiến sĩ bị thương nặng nhưng không hề rên la, nhiều chiến sĩ
không để đồng đội băng bó mà vẫn chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Có
người ở trận đầu đã bị thương đến trận sau tiếp tục dính đạn, nhưng vẫn
kiên cường chiến đấu cho đến khi bản thân không thể trụ được nữa, lăn
ra bất tỉnh.
Lính Mỹ thay phiên nhau tấn công liên tục, dồn dập khiến các chiến sĩ
của ta không có một phút nào được nghỉ ngơi, tất cả họ đều không ăn,
không uống, nhịn mọi nhu cầu cá nhân, suốt một ngày trời quần nhau quyết
liệt cùng địch trên ngọn đồi Không Tên. Đến cuối buổi chiều, quân địch
đã gần như kiệt sức, không còn đủ sức tổ chức tấn công thêm.
Không hề có chi viện, chỉ lợi dụng địa hình địa vật, tận dụng các ụ đất,
đá, con suối để ẩn nấp, bố trí hỏa lực một cách thông minh, các chiến
sĩ quân giải phóng đã đẩy lui 15 đợt tấn công, của hơn 200 lính thủy
quân lục chiến Mỹ được pháo binh và không quân chi viện, bảo vệ thành
công kho đạn.
Đến khoảng
18 giờ, trong đợt tấn công thứ 15, phát hiện thấy tên chỉ huy địch lăm
lăm súng ngắn trong tay, chiến sĩ Lương Văn Tầm liền đổi tiểu liên lấy
súng trường ngắm cho chính xác. Súng nổ, tên sĩ quan địch vật ngửa đầu
rồi đổ ụp xuống đất, bọn lính nháo nhác chạy lui... Trời sẩm tối, tiếng
súng bộ binh im hẳn, trực thăng, máy bay ném bom cũng về hết, chỉ còn
lại các trận địa pháo bắn cầm canh, thì cũng là lúc chỉ huy đại đội đưa
lực lượng vào chi viện và chuyển 3.000 quả đạn pháo đi nơi khác an toàn.
Quân địch để lại 41 xác chết trên trận địa, lực lượng bị thương chúng
chuyển đi hết. Đơn vị thu được nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm.
Kế hoạch tấn công chớp nhoáng bằng lực lượng biệt kích tinh nhuệ của Mỹ,
nhằm vào kho vũ khí quân giải phóng hoàn toàn thất bại, tổn thất
131/200 tên bị thương vong. Quân Mỹ buộc phải rút quân lúc chập tối ngày
28/2/1967, do lo sợ bị ta phản kích khi đêm xuống. Vào ban đêm, hỏa lực
pháo binh và không quân của chúng cũng bị mù mắt, không thể chi viện.
Trong 10 người lính chiến đấu trên ngọn đồi Không Tên, 7 chiến sĩ đã
vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, 2 chiến sĩ bị thương nặng. Chiến
công 1 diệt 20, Tiểu đội 10 người của Bùi Ngọc Đủ trở thành tấm gương
cho toàn thể quân dân miền Nam, thi đua tiêu diệt quân Mỹ xâm lược vào
thời điểm đó.
Với chiến thắng trên, Tiểu đội Vận tải Bùi Ngọc Đủ đã bảo vệ an toàn
3.000 quả đạn pháo, góp phần quan trọng để Trung đoàn 84 lập nên chiến
thắng giòn giã ngày 7-3-1967, phá hủy 21 khẩu pháo, 30 xe vận tải, 5 xe
tăng, diệt và làm bị thương hơn 1.000 tên địch. Bên cạnh đó, kỳ tích “1
thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ còn cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu
của bộ đội ta trên khắp các mặt trận. Tất cả 10 cán bộ, chiến sĩ trong
tiểu đội đều được tặng thưởng huân chương Chiến công giải phóng.
10/ Trận đồi Quang Thạnh:vơi
khẩu hiệu viết bằng máu: “Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu
phải trả bằng máu, quyết trả thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam
Triều Tiên sát hại”.
Trước
năm 1965 chính phủ Đại Hàn Dân Quốc đã gửi các đơn vị quân y và các võ
sư sang tham gia vào các hoạt động giao lưu với chính phủ Việt Nam Cộng
Hòa nhằm dọn đường cho việc tham gia chính thức vào chiến trường Việt
Nam sau này. Từ năm 1965 trở đi lần lượt các đơn vị chiến đấu của Đại
Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham chiến. Đó là
Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng quân ở Qui
Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh “Bạch Mã” đóng ở Phú Yên, Lữ đoàn
thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội An.
So
với lực lượng giải phóng quân của ta thì quân Hàn Quốc được huấn luyện
rất bài bản và được chọn lựa kỹ càng. Chúng rất thành thạo về các chiến
thuật “phản” du kích, kỹ chiến thuật điêu luyện. Được huấn luyện đào tạo
theo các giáo trình huấn luyện biệt kích của Mỹ, chúng rất gan lỳ và
được đầu độc nặng nề về lòng căm thù chế độ Cộng sản. Ngoài ra ngay cả
người Mỹ cũng phải kính nể về trình độ võ thuật của lính Hàn Quốc. Tiêu
chuẩn của binh lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải có trình độ
cao đăng môn Teakwon-do hoặc Happkido truyền thống của Đại Hàn.
Lực lượng lính “Rồng Xanh” của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam
Lính
Hàn Quốc có thể độc lập tác chiến và tự tìm cách duy trì sự sống trong
rừng sâu khi bị lạc đơn vị trong chiến đấu một thời gian tương đối lâu.
Chúng nghiên cứu quy luật chiến đấu và hoạt động của du kích ta rất kỹ
lưỡng và đối phó khá hiệu quả trong thời gian đầu. Chúng tổ chức các đợt
càn quét lớn và rộng, đêm đêm chia quân đi phục kích các vị trí nghi
ngờ với sự kiên trì và tính kỷ luật cao độ. Khi đi càn chúng luôn luôn
đi đầu, trực thăng Mỹ và pháo binh yểm trợ trên đầu và bộ binh Mỹ ủng hộ
vòng ngoài.
Quân
Hàn Quốc hoạt động gần như là độc lập với quân VNCH và không tin tưởng
vào đồng minh trong vấn đề tác chiến. Chúng sẵn sàng nổ súng tiêu diệt
mà không cần bắn cảnh cáo khi có một dân vệ VNCH đi lạc đường vào khu
vực mà chúng chiếm giữ.
Quân
ta gặp khá nhiều khó khăn và tổn thất khi đối đầu với lính Hàn Quốc.
Chúng rất lỳ lợm trong việc phục kích và khủng bố dân trong các vùng
chiếm đóng với cách thức hết sức dã man.
Quân
đội Hàn Quốc gây ra rất nhiều tội ác man rợ, trời không dung đất không
tha như giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn Sơn Tịnh Quảng
Ngãi với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng bố
răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên bị
quân ta tiêu diệt…Điển
hình trong số đó là các vụ tại Bình Hòa vào các ngày 3, ngày 5 và ngày
6/12/1966 nhằm trả đũa du kích Quân giải phóng Miền Nam. Trong phi vụ
này, lính Nam Triều Tiên đã sát hại 430 người dân thường vô tội, trong
đó có 269 phụ nữ, 104 người già, 174 trẻ em, có 3 gia đình đã không còn
ai sống sót.
Các
chiến sĩ ta vào trận với quyết tâm cao cùng với vành khăn tang trắng
quấn trên đầu để tưởng nhớ những đồng bào bị giặc sát hại. Và các hoạt
động “Khai tử Rồng Xanh ” liên tục diễn ra.
Tổng hành dinh của binh sĩ Đại Hàn tại Ninh Hòa trong chiến tranh Việt Nam
Vào
một ngày giữa năm 1966, như thường lệ lính Hàn Quốc lên trực thăng đi
càn khá đông, chúng đổ bộ xuống một cánh đồng mà không biết đã có tiểu
đoàn 48 quân giải phóng bố trí trận địa bao vây phục sẵn. Đợi bọn giặc
vào thật gần cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch bị bất ngờ chống cự
yếu ớt và tháo chạy tìm đường thoát thân. Quyết không để kẻ thù chạy
thoát quân ta nhất loạt xung phong truy kích tiêu diệt địch. Cuối trận
đánh địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, bỏ lại hơn 200 xác chết, chỉ có
một số ít tháo chạy được.
Sau
đó, nhiều đại đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gọn trong các trận bao vây và
phục kích của ta. Địch bắt đầu hoang mang và chùn tay hơn khi đi càn
quét.
Tuy
nhiên, tinh thần của chúng chỉ gục ngã hẳn sau một trận đánh lớn, trận
đánh giáng một đòn mạnh vào quân đội Hàn Quốc rung động đến cả Seoul và
làm Tổng thống Park Chung Hee phải điên đầu. Đó là trận tấn công một
tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn “Rồng Xanh” nổi tiếng tàn ác
khát máu đóng đóng tại đồi tranh Quang Thạnh tỉnh Quảng Ngãi
Sau
trận đánh hủy diệt khiến 420 binh lính Hàn Quốc thiệt mạng, 6 tên còn
sống sót ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một
số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
Trận đánh này có ý nghĩa rất lớn, nó củng cố tinh thần cho quân giải
phóng, làm hả lòng hả dạ đồng bào Quảng Ngãi nơi quân giặc đã gây ra
nhiều tội ác tày trời. Làm tan rã ý chí chiến đấu và sự hung hăng của
quân Hàn Quốc đánh thuê. Đặc biệt, trận này không phải là ta phục kích
đánh lẻ tẻ mà đánh tiêu diệt xoá xổ một lực lượng cỡ tiểu đoàn trong một
căn cứ phòng ngự vững chắc được kết cấu bởi một hệ thống các công sự
phòng ngự kèm các lô-cốt cố thủ bao quanh bởi một hệ thống dây kẽm gai
gài mìn nhiều tầng được giám sát bảo vệ bởi các tốp lính đi tuần và canh
gác cẩn mật.
Lính Đại Hàn – Binh sĩ Hàn Quốc sư đoàn Bạch Mã đang thẩm tra dân làng ở
Bồng Sơn trong chiến tranh Việt Nam
Mục tiêu của ta đề ra là phối hợp các tiểu đoàn chiến đấu vận động bí
mật tiếp cận mục tiêu theo hình thức đặc công. Đến nơi tạo 4 cửa mở ở
bốn góc bằng cách gài bộc phá để phá đồng loạt các hàng rào dây kẽm gai
sau đó đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt quân địch trong cứ điểm
bằng AK, lựu đạn và súng phun lửa kết hợp với DKZ và B-40 ở bên ngoài.
Yếu tố bất ngờ đóng vai trò chủ đạo và trận đánh phải sẽ diễn ra vào
khoảng 10 giờ tối và phải kết thúc trước càng nhanh càng tốt trước khi
trời sáng để đề phòng quân địch ở các căn cứ khác kéo đến tiếp viện và
hạn chế hoả lực của phi pháo bắn tiếp cứu
Trận đánh bắt đầu đúng như kế hoạch, ta dùng 4 mũi tấn công bí mật tiếp
cận từ các hướng, giữa các mũi tấn công luôn luôn đảm bảo liên lạc thông
suốt với nhau và với ban chỉ huy trận đánh. Tuy nhiên do rải lộ tiêu
không tốt mà một mũi tấn công bị lạc đường mất liên lạc và không đến vị
trí tập kết được. Mặc dù chỉ còn ba mũi nhưng ta vẫn quyết định tấn công
cứ điểm. Ta đã thành công trong việc bịt mắt bọn đi tuần và bọn gác bên
ngoài. 3 mũi bí mật tiếp cận các cửa mở và đã đặt bộc phá xong, chỉ huy
trận đánh ra lệnh đồng loạt phát hoả để mở các cửa.
Sau những tiếng nổ của bộc phá và DKZ, B-40 cùng lựu đạn. Quân ta nhất
loạt xung phong đột phá qua các cửa mở dùng AK bắn xối xả vào các giao
thông hào, các ụ phòng ngự có đặt trung liên, và các khu dã chiến cho
lính ngủ nửa chìm nửa nổi. Bọn địch bị hoàn toàn bất ngờ , vòng ngoài
nhanh chóng bị hoả lực của ta tiêu diệt. Số còn lại lùi vào bên trong
vừa phản kích dữ dội vừa tìm cách tập trung lực lượng dựa vào các lô cốt
phòng ngự. Nắm được ý đồ của địch, ta vừa tăng cường sức tiến công vừa
bao vây chia cắt địch theo từng khu vực để tiêu diệt và gọi hàng.
Lính Đại Hàn thuộc sư đoàn Mãnh Hổ đang áp giải 10 người bị tình nghi ở
Ninh Hòa năm ngày 20 tháng 2 1966 trong chiến tranh Việt Nam
Mặc dù sức tấn công của ta mạnh ở 3 mũi nhưng do thiếu một mũi tấn
công thứ tư cho nên việc chia cắt cô lập địch thành các khu nhỏ để bao
vây tiêu diệt triệt để trở nên khó khăn. Quân Hàn Quốc dựa vào các
lô-cốt hầm ngầm điên cuồng chống cự bằng trung liên, nhất quyết không
đầu hàng. Ta dùng súng phun lửa và lựu đạn tiêu diệt các ụ phòng ngự
ngoan cố này.
Đến gần sáng, ta làm chủ phần lớn cứ điểm, căn cứ ngổn ngang xác
địch. Do sơ hở, ta để một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ từ bên
ngoài đánh vào tiếp cứu và chúng co cụm vào 2 lô-cốt kiên cố nhất ở trên
cao, dùng hoả lực chống cự quyết liệt…
Lúc này phi pháo ở bên ngoài bắn vào dữ dội hơn. Do bên trong căn cứ
lúc này chủ yếu là quân ta cho nên chỉ huy trận đánh ra lệnh giải quyết
số thương binh tử sĩ và rút lui dần vì nếu kéo dài đến sáng sẽ không có
lợi.
4 giờ sáng quân ta rút lui an toàn ra khỏi căn cứ đồi tranh Quang Thạnh.
Lính Đại Hàn sư đoàn Mãnh Hổ trong trận đánh ở Bồng Sơn năm 1966 trong
chiến tranh Việt Nam
Mặc dù không tiêu diệt được 100% quân số địch, không bắt được tù binh
nhưng số mà ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu đủ để xoá sổ tiểu
đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn Rồng Xanh đóng tại đây. Trận này ta
tiêu diệt tại chỗ 420 lính Hàn Quốc (chúng có khoảng 500 tên trong căn
cứ).
Đây là một trận đánh lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh qụy Lữ
đoàn thuỷ quân lục chiến Rồng Xanh, giáng một đòn chí tử vào đội quân
đánh thuê tàn ác, củng cố tinh thần cho bộ đội khu Năm về khả năng đánh
địch trong cứ điểm phòng ngự kiên cố. Âm vang của trận đánh lớn đến nỗi
làm lình Hàn Quốc sống sót mất hết tinh thần. Sau trận đánh, sáu tên
lính Park Chung Hee ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập
thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
Ở các nơi có bọn Đại Hàn đóng quân, một số đem súng tìm du kích để
đầu hàng. Một số thông qua dân nhắn bộ đội giải phóng đừng có bắn chúng,
đổi lại chúng sẽ chỉ đi càn lấy lệ
Sau chiến thắng này bà con ta hả lòng hả dạ và yên tâm bám đất ủng hộ
du kích kiên quyết không vào các ấp chiến lược do địch cưỡng chế.
11/ Mở đường Trường Sơn: "...Trường Sơn, đông nắng, tây mưa Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình....
(Trích "Nước non ngàn dặm" - Thơ Tố Hữu)
Cái mà ngày này được gọi là đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh hay Đường 559, còn có biệt danh là Đường mòn Hồ Chí Minh hay Đường dây "Ông Cụ",ban
đầu có lẽ là những đường mòn thô sơ được thổ dân vùng cao Đông Dương
sử dụng cho mục đích mậu dịch thương mại, hoặc là những "thượng đạo"
kết nối các hậu cứ kháng chiến của phong trào Cần Vương (1885–1896) đời
vua Hàm Nghi. Trong những năm tháng Chiến tranh Đông Dương (1945–1954),
Việt Minh đã có ý tưởng khai phá con đường nội địa Đông Dương để chi
viện cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.
Theo sau sự phân định hai vùng tập kết quân sự tại vĩ tuyến 17 vào năm
1954, mạng lưới đường bị tạm ngưng sử dụng trong khi tình hình chiến sự
lắng xuống. Với sự sụp đổ của thỏa thuận tổng tuyển cử toàn quốc vào năm
1956 và chính sách đàn áp cộng sản của chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.
Sang thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, trước yêu cầu ngày càng cao của
tiền tuyến miền nam, nếu chỉ dựa vào những con đường mòn nhỏ hẹp như vậy
thì không thể vận chuyển đủ và kịp thời nhân lực, vật lực cho quân và
dân miền nam đánh Mỹ; cho nên, việc khai thông, mở rộng hệ thống đường
mòn Trường Sơn thật sự cấp thiết. Nhận thức rõ yêu cầu của thực tiễn
lịch sử, tháng 5/1959, Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 15 khẳng định: “Đây là
một việc làm lớn, có ý nghĩa chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp
giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc”
Những nữ thanh niên xung phong một thời trên tuyến lửa Trường Sơn (Ảnh tư liệu)
Ngày 5/5/1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy T.Ư) quyết định thành lập
Phòng Nghiên cứu công tác chi viện quân sự miền nam, trực thuộc Bộ Tổng
tham mưu, do Thượng tá Võ Bẩm làm Trưởng phòng, có nhiệm vụ: mở một con
đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn từ bắc vào nam để chuyển nhân lực,
vật lực từ miền bắc phục vụ cách mạng miền nam cũng như cách mạng Lào và
Cam-pu-chia. Đến ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị T.Ư Đảng quyết định thành
lập Đoàn 559, xây dựng tuyến chi viện chiến lược.
Ngày 19/5/1959 trở thành Ngày truyền thống của Đoàn 559 - Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn.
Đi vào hoạt động, Đoàn 559 chọn khe Hó - nằm giữa một thung lũng ở tây
nam Vĩnh Linh là địa điểm xuất phát để tiến vào Trường Sơn “soi đường”,
lập trạm. Sau một thời gian, ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên chính
thức vượt Trường Sơn. Sau tám ngày đêm vượt qua sông sâu, suối dữ, đèo
cao và hệ thống đồn bốt chốt chặn nghiêm ngặt của địch, hàng được bàn
giao cho chiến trường Trị Thiên. Đây là dấu mốc có ý nghĩa to lớn đối
với cách mạng Việt Nam, vì mỗi khẩu súng, viên đạn đến với chiến trường
là thể hiện “ý Đảng”, “lòng dân”.
Trong thư gửi Đoàn 559 nhân dịp Xuân Canh Tý (1960), Tổng Quân ủy đánh
giá: “Các đồng chí đã đảm nhận một nhiệm vụ rất vinh quang, góp phần
cống hiến rất cụ thể vào sự nghiệp đấu tranh hoàn thành giải phóng dân
tộc của nhân dân ta... Nhờ có tinh thần yêu nước, cách mạng cao, nên các
đồng chí đã vượt khó khăn gian khổ, đạt được những kết quả bước đầu rất
tốt đẹp...”.
Trong chiến tranh Việt Nam,
Mỹ đã tập trung đánh phá hệ thống giao thông này bằng hàng loạt các
chiến dịch bộ binh và không quân. Hàng triệu tấn bom đạn đã được Mỹ ném
xuống. Một hệ thống máy móc trinh sát điện tử, được gọi là Hàng rào điện
tử McNamara, đã được sử dụng để trinh sát việc vận chuyển và chỉ điểm
cho máy bay ném bom. Ngoài ra, quân đội Mỹ còn thường xuyên rải chất độc
màu da cam
cùng một số loại chất độc diệt cỏ khác để làm trụi rừng cây, các dự án
tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được Mỹ sử dụng để cản trở giao
thông. Bất chấp tất cả những biện pháp tinh vi và đắt đỏ đó, đường
Trường Sơn vẫn không bị cắt đứt mà ngày càng trở nên tinh vi và hoàn
thiện hơn. Theo Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (National Security Agency), đường Trường Sơn được quân đội Hoa Kỳ coi là "một trong những thành tựu kiến trúc quân sự vĩ đại nhất của thế kỷ 20".
Những ngày đầu tiên khai phá đường Trường Sơn, bộ đội ta đã bí mật vạch
tuyến đi qua những vùng núi hiểm trở, cheo leo với khẩu hiệu "đi không
dấu, nấu không khói, nói không tiếng".
Năm 1973, trong dịp vào thăm và kiểm tra bộ đội đường Trường Sơn, đồng
chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đảng phát biểu: “Vinh
quang thay Bộ đội Trường Sơn anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên
con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại! Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn hãy
phát huy truyền thống oanh liệt của quân đội ta để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của con đường chiến lược vẻ vang này trong giai đoạn mới của
cách mạng”.
Chỉ tính riêng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
1975, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển lần lượt 413.450
tấn vũ khí và hàng hóa các loại, trong đó có cả vũ khí hạng nặng,
như: pháo cơ giới, xe tăng,... góp phần quyết định thực hiện thắng lợi
chủ trương chiến lược giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng
lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Biết rõ đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là con đường chiến lược nối
liền nam - bắc, cho nên Mỹ quyết tâm đánh phá. Do đó, đường Trường Sơn
đã trở thành chiến trường thử nghiệm chiến lược “chiến tranh ngăn chặn”,
“chiến tranh bóp nghẹt” bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với các
loại thiết bị, vũ khí hiện đại của nền khoa học - công nghệ cao của Mỹ.
Ngày 31/12/1971, Báo Lơ Phi-ga-rô đăng bài viết của học giả Giắc-cơ
Rơ-ma, khẳng định: Điều làm cho người ta buồn phiền là đường mòn Hồ Chí
Minh không thể phá hủy được... Nước Mỹ đã chi tiêu hàng tỷ đô-la để hòng
bóp nghẹt đường mòn Hồ Chí Minh. Nó vẫn tồn tại. Nó là con rắn trăm đầu
luôn mọc lại. Không phải là những cái đầu mà chính là những cánh tay
của con rắn này luôn mọc lại vì không thể bị chặt đứt cùng một lúc. Còn
Cục Tình báo Trung ương Mỹ khẳng định: “Đường mòn Hồ Chí Minh đã trở
thành trận đồ bát quái trong rừng rậm”. Nhà báo Pháp Van Giê nhận
xét: “Đường mòn Hồ Chí Minh không chỉ là con đường tiếp tế mà còn là
biểu tượng của cuộc chiến tranh Việt Nam...”.
Các chiến sĩ của trung đoàn 70 - đơn vị đầu tiên của bộ đội Trường Sơn - đang thồ hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.
Trong giai đoạn kháng chiến Chống Pháp, tiền thân của tuyến đường mòn Hồ Chí Minh sau này gồm bốn tuyến đường chính là:
Tuyến 1: Đường thượng (Tây Trường Sơn): Từ
Chu Lễ (Hà Tĩnh) đi bộ vào ga Tân Ấp (Quảng Bình) rồi xuyên tây Quảng
Bình vào Khe Sanh qua Quốc lộ 9A đến Ba Lòng là chiến khu của Quảng Trị.
Tuyến 2: Đường Đông Trường Sơn: cũng từ
Chu Lễ nhưng có một đoạn đi xe goòng (toa xe lửa nhỏ, đặt trên ray vừa
kéo vừa đẩy) vào tới Minh Cầm (nay là Minh Hóa, Quảng Bình) rồi đến vùng
đông Quảng Trị, ngược lên Ba Lòng.
Tuyến 3: Từ chiến khu Ba Lòng vào khu 5, đi xuyên lên A Lưới, vào bến Hiên (nay là Đông Giang, Quảng Nam) rồi đi tiếp vào Bình Định.
Tuyến 4: Từ khu V vào Nam Bộ: Từ dốc Chanh (Phú Yên) đi
đến hòn Dữ (Khánh Hòa) xuyên qua núi Ba Cụm, đến trạm Mã Đà và sau đó
đến trạm Đội Lào (Tà Lu, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).
Một
số phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình
thức các con đường mòn sơ khai dành cho việc giao thông buôn bán trong
vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua đã là một trong những vùng đất có địa
hình hiểm trở nhất Đông Nam Á: núi cao, ít dân, rừng rậm nhiệt đới.
Trong những năm đầu của Chiến tranh Đông Dương, Việt Minh
đã sử dụng hệ thống đường mòn này làm đường nối liền Bắc Nam, một trong
các tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền để tránh sự truy
quét của quân Pháp. Tháng 5 năm 1958, các lực lượng thuộc Quân đội nhân
dân Việt Nam (QĐNDVN) và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao thông tại
Sê Pôn (Tchepone), trên đường 9 thuộc địa phận Lào.
Bộ đội đi bộ gùi hàng vào Trường Sơn .
Năm
1959, khi xung đột quân sự lên cao giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam và chính phủ Ngô Đình Diệm, chính phủ Hà Nội gửi Đoàn
559
(mới được thành lập vào tháng 5 năm 1959) vào Nam để xây dựng hệ thống
đường Trường Sơn với lực lượng gồm một tiểu đoàn giao liên D301 với 440
người. Đoàn trưởng là Thượng tá (sau này là Thiếu tướng) Võ Bẩm (nguyên
Cục phó Cục Nông binh thuộc Tổng cục Hậu cần). Đoàn có nhiệm vụ vừa vận
chuyển vừa mở đường hành quân. Với phương châm "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng"
để đảm bảo bí mật tối đa, toàn bộ vũ khí và hàng mang theo đều là các
loại cũ từ thời Pháp, thậm chí đoàn còn dùng ván gỗ để khi đi không để
lại dấu vết trên đất rừng.
Trong những năm đầu của cuộc xung đột
(1960-1964), đường Trường Sơn chủ
yếu được dùng để chuyển quân, do hệ thống hạ tầng đường sá trên tuyến
còn hạn chế, chưa phát huy được phương tiện cơ giới, nên khi đó việc vận
chuyển tiếp viện hậu cần, súng đạn vào Nam chủ yếu là thông qua tuyến
đường chi viện trên biển bằng những "con tàu không số" đã thực sự có
hiệu quả cao hơn.
Theo văn bản lịch sử chính thức của cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ ghi
lại thì Đường Trường Sơn được quân đội Mỹ coi là “một trong những thành
tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20
Tuyến
đường mòn phía Đông Trường sơn có địa hình hiểm trở dốc cao phức
tạp, nên từ năm 1961, đoàn 559 tiến hành khảo sát và mở tuyến giao thông
của mình sang sườn Tây của dãy Trường Sơn.Một năm sau, đoàn 559 được bổ
sung quân số thêm 6.000 người, biên chế thành hai trung đoàn 70 và 71.
Con số này không bao gồm các lực lượng chiến đấu với nhiệm vụ bảo vệ
tuyến đường và lực lượng dân công Việt, Lào. Sau các cố gắng của hải
quân Mỹ nhằm ngăn chặn hoạt động của miền Bắc trên vùng biển ven bờ bởi
Chiến dịch Market Time, hoạt động đường Hồ Chí Minh trên biển
bị chững lại một thời gian, thì lúc này đường Trường Sơn đã được hoàn
chỉnh hơn, đủ năng lực thực hiện cả hai nhiệm vụ: vừa chuyển quân vừa
chuyển Vật chất hậu cần từ miền Bắc vào Nam, đồng thời còn tổ chức được
hệ thống kho tàng dọc theo biên giới mà sau được gọi là các "Khu căn cứ"
(Base Area), nơi này đến lượt nó lại trở thành các thánh địa cho các
lực lượng Quân giải phóng miền Nam dưỡng quân và tái trang bị sau khi
thực hiện các hoạt động quân sự bên trong lãnh thổ do đối phương kiểm
soát.
Ban đầu, hàng hóa được vận chuyển bằng xe đạp thồ, xe bò. Đến tháng 12 năm 1961, Đoàn vận tải số 3 của Tổng cục Hậu cần
đã trở thành đơn vị vận tải sử dụng xe cơ giới đầu tiên của QĐNDVN phục
vụ trên đường Trường Sơn. Từ đây, vận tải cơ giới tăng lên nhanh chóng.
Có hai loại đơn vị thuộc Đoàn 559 là: các binh trạm và các đơn vị giao
liên. Một binh trạm tương đương với một trung tâm hậu cần cấp trung
đoàn, có trách nhiệm bảo vệ một đoạn đường. Trong khi các đơn vị độc lập
chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh, công binh và các chức năng đánh tín
hiệu thông tin, binh trạm cung cấp các nhu yếu phẩm, dịch vụ hậu cần.
Giữa các binh trạm là các trạm giao liên thường đóng cách nhau một ngày
đường đi bộ, có trách nhiệm cung cấp lương thực, chỗ trú, y tế, và dẫn
đường tới binh trạm tiếp theo.
Đoàn xe vận tải Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) đưa hàng hóa vào chiến trường, vượt qua trọng điểm ngã 3 Đồng Lộc, Nghệ Tĩnh.
Đến tháng 4 năm 1965, chỉ huy Đoàn 559 là tướng Phan Trọng Tuệ,
quân số đã tăng lên tới 24.000 người, được biên chế trong 6 tiểu đoàn
vận tải bằng xe ô tô tải, 2 tiểu đoàn vận tải xe đạp thồ, một tiểu đoàn
vận tải đường thủy, 8 tiểu đoàn công binh, và 45 trạm giao liên. Khẩu
hiệu của Đoàn 559 khi đó là "Đánh địch mà tiến, mở đường mà đi
Từ năm 1961 - 1964, đoàn 559 đã xây dựng 751km đường vận tải ô tô, 600km đường gùi thồ, 300km
đường sông; vận chuyển 10.136 tấn hàng (trong đó giao cho chiến trường
2.912 tấn, chủ yếu là vũ khí đạn dược). Từ tháng 9/1962 - 2/1965, Đoàn
759 chuyển vào chiến trường 4.919 tấn vũ khí đạn dược.Cho đến mùa khô 1964-1965, hệ thống đường Tây Trường Sơn được phát triển
thành một mạng lưới của các con đường đất (một số đoạn được rải đá hoặc
lót ván gỗ) rộng khoảng 5,5 m, đường cho người đi bộ và xe đạp thồ, bãi
đỗ xe tải. Còn có kho chứa, bãi chứa hàng, doanh trại, bệnh viện, và
các cơ sở vật chất khác. Tất cả được che giấu khỏi quan sát từ trên
không bằng một hệ thống ngụy trang tự nhiên và nhân tạo được mở rộng và
củng cố, góp phần tăng năng lực thông xe đáng kể cho toàn tuyến.
Một binh trạm trên đường Trường Sơn
Đầu
năm 1965, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy
Đoàn 559. Cuối năm 1965, Đại tá Hoàng Văn Thái (nguyên Phó chủ nhiệm
Tổng cục Hậu cần) được cử làm Tư lệnh và Đại tá Trần Ngọc Giao (Cục
trưởng Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần) được cử kiêm nhiệm Phó Tư lệnh.
Đại tá Vũ Xuân Chiêm (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) được cử làm
Chính ủy Đoàn 559. Đến cuối năm 1966, Đại tá Đồng Sĩ Nguyên (nguyên Phó
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) được cử làm Tư lệnh Đoàn 559 cho đến khi
Đoàn 559 kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình (1976).
Theo ước lượng
của tình báo Mỹ, số quân vào Nam theo đường Trường Sơn là
trong năm 1961 là 5.843, năm 1962 là 12.675 (con số thực là 5.300); năm
1963 là 7.693 (thực là 4.700); và năm 1964 là 12.424 (thực là 9.000).
Năm 1964, khả năng cung ứng của đường Trường Sơn đã đạt đến từ 20 đến 30
tấn mỗi ngày. Năm 1965, nhờ có các tuyến đường mới mở (trong đó có các
tuyến đi qua Campuchia), lượng vật chất hậu cần được chuyển vào Nam
trong năm này gần bằng tổng của 5 năm trước.
Cuối năm 1968, tình báo Mỹ đã có một phát hiện gây sốc, đó là phát hiện
về hệ thống đường ống dẫn xăng dầu chạy ở phía tây nam từ Vinh.
Thực sự đó là một tuyến đường ống dẫn xăng dầu đang được triển khai với
điểm đầu là từ biên giới Việt - Trung chạy về hướng nam, sẽ vào đến miền
Đông Nam Bộ. Nó được xây dựng bắt nguồn từ ý chí và quyết tâm cao độ
của tướng Đinh Đức Thiện,
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và trí thông minh, lòng dũng cảm và sự hy
sinh lớn lao của cán bộ chiến sĩ ngành xăng dầu Quân đội nhân dân Việt
Nam và đặc biệt là của bộ đội xăng dầu Trường Sơn.
Tuyến đường ống
xăng dầu chiến lược Bắc - Nam nhằm chi viện cho chiến
trường miền Nam: được xuất phát bắt đầu từ hai trạm thuộc biên giới Việt
- Trung là Lạng Sơn và Quảng Ninh, hai tuyến đường ống cùng dẫn về trạm
Nhân Vực, thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội. Từ đây, được hợp lại thành
một đường ống chạy thẳng vào miền Trung qua Hà Nam, Ninh Bình, Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Đến đây tuyến ống được chia làm hai ngả (do bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm
xây dựng, bảo vệ và vận hành): một ngả theo đường Đông Trường Sơn đi qua
Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, qua Tây Nguyên, vượt Kon
Tum, xuống Đắc Nông.
Ngả thứ hai lại vượt đèo Mụ Giạ, sang Lào vươn tới hạ Lào, rồi vượt qua
biên giới Lào và Campuchia để vào tới Đắc Nông. Trên toàn bộ hệ thống
(tuyến ống hai nhánh qua Đông và Tây Trường Sơn) có với chiều dài 1.450km
với tổng cộng 316 trạm bơm đẩy, 101 kho với sức chứa trên 300 nghìn m3.
Bộ đội xăng dầu đã tập trung một lực lượng gồm: 9 trung đoàn đường ống,
2 trung đoàn công trình, 1 trung đoàn thông tin, 2 nhà máy cơ khí, 3
tiểu đoàn xe vận tải.
Quân đội nhân dân Việt Nam đang hành quân trên đường Trường Sơn qua Lào.
Đến tháng 3/1975, trước yêu cầu của chiến trường, bộ đội
Trường Sơn đã quyết tâm hoàn chỉnh hệ thống đường ống xăng dầu, liên
hoàn Đông và Tây Trường Sơn, khẩn trương kéo dài thêm được 596km
đường ống tới tận vùng giải phóng, mà điểm cuối của tuyến ống là Bù Gia
Mập, bàn giao cho Cục hậu cần Quân giải phóng tại Lộc Ninh, tỉnh Bình
Phước (miền Đông Nam bộ) thuộc địa bàn chiến trường B2.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tuyến đường đã bảo
đảm cơ động nhanh chóng 3 quân đoàn, 5 sư đoàn và 2 trung đoàn binh
chủng vào chiến dịch, phục vụ hành quân đi các chiến trường 411 nghìn
người (cả dân sự)
Trong suốt 7 năm (1968 - 1975), tuyến ống này được xây
dựng vận hành, đã nhập vào tuyến hơn 317.000 tấn xăng dầu, đã cấp được
5,5 triệu m3 xăng dầu, cung ứng một nguồn vật chất hậu cần hết sức thiết
yếu cho các chiến trường.
Nhìn chung, trải qua 16 năm
(1959-1975), kể từ ngày đầu “soi đường”, “mở
lối” cho đến khi kết thúc chiến tranh, chiến trường Trường Sơn - đường
Hồ Chí Minh đã phải đương đầu với sự ngăn chặn khốc liệt, tàn bạo, bằng
nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn, nhiều loại phương tiện chiến tranh và
vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ của kẻ thù. Tính đến ngày giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày
đêm. Các lực lượng công binh, thanh niên xung phong,
dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng
đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục
ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng
chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140km "đường kín" cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm.
Tuy nhiên, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, lực lượng chiến đấu,
công tác trên đường Trường Sơn suốt bao năm ròng không tiếc tuổi xuân,
không tiếc máu xương, vì sự sống của con đường, đã nêu cao chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, bền bỉ và kiên cường trụ bám trận địa, trụ bám mặt
đường, giữ vững mạch máu giao thông, đập tan mọi âm mưu và hành động
đánh phá ngăn chặn của quân thù. Nhờ đó, tuyến vận tải chiến lược Trường
Sơn không ngừng phát triển, đáp ứng sự chi viện to lớn, toàn diện, liên
tục, mạnh mẽ của hậu phương lớn miền bắc cho tiền tuyến lớn miền nam.
Những tháng năm rầm trời bom đạn ấy, miền bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh
của cả chế độ cho miền nam, với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả
để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Lớp lớp thanh niên rời ruộng đồng, xưởng máy, trường học, theo tiếng gọi
của non sông đất nước, lên đường đánh giặc với ý chí “xẻ dọc Trường Sơn
đi cứu nước”, “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu
quân hành”...Tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của sự
nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và khẳng định chủ trương đúng đắn,
sáng tạo của Đảng trong việc quyết định mở đường Trường Sơn - đường Hồ
Chí Minh.
Nghĩa
trang liệt sĩ Trường Sơn. Trong số hơn 20.000 người đã ngã xuống trên
chiến trường Trường Sơn, đến nay đã quy tập được hơn một vạn hài cốt về
đây.
Tính đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước, đường Trường Sơn đã tồn tại gần 6000 ngày đêm. Các lực lượng công
binh, thanh niên xung phong,
dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng
đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục
ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng
chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140km "đường kín" cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm.
Trong 16 năm, tuyến hậu cần chiến lược đường Trường Sơn đã vận chuyển
hơn 1 triệu tấn vật chất, vũ khí vào các chiến trường; đưa hơn 2 triệu
lượt người hành quân; cơ động 10 lượt sư đoàn, hộ tống hơn 90 đơn vị kỹ
thuật vào các chiến trường; cứu chữa gần 1 triệu lượt thương bệnh binh;
đưa hơn 500.000 người từ tiền tuyến trở về hậu phương, trong đó có hơn
300.000 thương bệnh binh.
12/ Đường Hồ Chí Minh Trên biển - những đoàn tàu không số:
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuyến chi viện quân sự chiến
lược trên biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con đường huyền
thoại của dân tộc, con đường của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất
Tổ quốc. Cùng với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí
Minh trên bộ, đường Hồ Chí Minh trên biển đã kết nối hậu phương lớn miền
Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, vận chuyển kịp thời, hiệu quả vũ khí
và lực lượng, góp phần quan trọng vào Đại thắng mùa Xuân 1975.
Tiền thân đường Hồ Chí Minh trên biển là hải lộ ven bờ do những người trong hàng ngũ Việt Minh
ở Nam Bộ thực hiện lần đầu tiên. Năm 1946, lực lượng Việt Minh ở Nam Bộ
đã tổ chức chuyến đi của một thuyền đánh cá xuất phát từ Thạnh Phong,
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ra Bắc xin tiếp tế vũ khí. Tàu cập bến
trong vùng Việt Minh kiểm soát tại Tuy Hòa, Phú Yên. Những người trên
tàu ra Bắc bằng tàu hỏa. Số vũ khí được Quân đội nhân dân Việt Nam cung
cấp cũng được chuyển vào Phú Yên bằng tàu hỏa và chất lên thuyền chở vào
Bến Tre.
Tháng 7-1959, tiểu đoàn vận tải biển 603 được thành lập, đóng tại cửa biển sông Gianh- Quảng Bình với tên gọi là "Tập đoàn đánh cá Sông Gianh".
Thuyền được nguỵ trang giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam. Sau
một thời gian tập luyện, thăm dò và chuẩn bị mọi mặt, đêm ba mươi Tết
Canh Tý (ngày 27 tháng 1 năm 1960), chuyến tàu đặc biệt đầu tiên xuất phát, gồm 2 tàu và 6 người, do Nguyễn Bất
chỉ huy đã đi chuyến vào Khu 5. Nhưng chuyến tàu bị gặp bão, thuyền bị
hỏng nặng rồi lại gặp tàu tuần tra của địch, phải thả hàng xuống biển
rồi rút lui.
Thời kỳ ban đầu, đoàn tàu gồm các tàu vận tải cỡ nhỏ để thâm nhập vào
miền Nam, mặc dù có số hiệu đầy đủ, song để giữ bí mật, các tàu này
không sơn số hiệu lên thân tàu. Vì thế, những con tàu này được biết đến
với tên gọi chung là "Đoàn tàu Không số".
Khu di tích Bến tàu K15, Đồ Sơn, Hải Phòng, nơi xuất phát của các con tàu không số vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam.
Từ
tháng 6 năm 1961 đến tháng 2 năm 1962, những người lãnh đạo của Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa đã cử năm con thuyền gỗ từ
miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí và sau đó
trực tiếp vận chuyển vũ khí cũng như dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả
dạng tàu đánh cá từ Bắc vào Nam. Những người chỉ huy chủ chốt gồm các
ông Phan Văn Nhờ (tức Tư Mau), bà Nguyễn Thị Định, ông Bông Văn Dĩa...
Trong số 5 chiếc thuyền gỗ, chiếc thuyền của Bà Rịa đã bị lực lượng
tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chặn bắt tại ngoài khơi Cam
Ranh. Không phát hiện thấy nghi ngờ, con thuyền này được trả tự do. Sau
đó nó bị bão đánh trôi dạt đến đảo Hải Nam. Đây là chiếc thuyền do ông
Dương Quang Đông,
nguyên Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương
trước năm 1945, nguyên là cán bộ hậu cần của Việt Minh tại Khu VIII
trong Kháng chiến chống Pháp được giao nhiệm vụ mua sắm. Tuy nhiên, khi
di chuyển đến Bà Rịa, ba người cũng đi với ông Đông đã bị quân Việt Nam
Cộng hòa
bắn chết và tịch thu số tiền mà tổ công tác của ông được tổ chức giao
cho để mua thuyền. Nhờ có bà Nguyễn Thị Mười ở Phước Hải, Long Đất đã
dồn tiền của trong nhà tổng cộng 10 cây vàng để đóng góp, chiếc thuyền
này được mua về và được sử dụng trong chuyến liên lạc, vận chuyển đầu
tiên. Tham gia chuyến vượt biển trên con thuyền của Bà Rịa còn có ông Lê
Hà, con trai bà Mười, sau này trở thành một trong các thuyền trưởng đầu
tiên trên các con tàu không số.
Tháng 10 năm 1961, Bộ
Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt
Nam quyết định thành lập tổ chức tuyến hậu cần chiến lược Bắc-Nam trên
biển. Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng được Quân ủy
Trung ương giao nhiệm vụ chỉ đạo tổ chức xây dựng tuyến đường này.
Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng
Văn Thái ký Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759, là nòng cốt của Đoàn
tàu không số, sau này trở thành Lữ đoàn 125 thuộc Hải quân nhân dân
Việt Nam. Đoàn 759 có trách nhiệm chi viện vũ khí cho miền Nam bằng
đường biển. Trung tá Đoàn Hồng Phước được giao nhiệm vụ làm Đoàn trưởng.
Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào
chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới
của Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy
quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ
thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ
biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau.
Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí
mật để đón nhận nguồn ngân lực và vũ khí, đạn dược, phương tiện quân
sự... từ miền Bắc chi viện cho Quân giải phóng miền Nam bằng đường biển.
Tàu HQ 671 được công nhận bảo vật quốc gia (nguồn: Bảo tàng Hải quân). Nguồn: XT.
Đêm
12-10-1962, chiếc tàu "Phương Đông 1" gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huy
của thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa
chở hơn 30 tấn vũ khí rời bến k15, Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam.
Đến sáng ngày 19-10-1962, tàu vào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An) an
toàn. Tàu "Phương Đông 1" đã đi vào lịch sử, chính thức khai thông tuyến
vận tải quân sự đường biển - Tuyến vận tải chiến lược - Sau chuyến đi
thành công của tàu "Phương Đông 1", ba chiếc tàu khác cũng đã cập bến Cà
Mau an toàn; cùng với các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa hình thành các
cụm bến đón nhận những chuyến hàng đầu tiên của tuyến vận tải Đường Hồ
Chí Minh trên biển.
Tháng
8/1963, Đoàn 759 được giao cho Quân chủng Hải quân phụ trách và trực
tiếp đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, chi viện đường biển cho chiến trường
miền Nam. Ngày 24/1/1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển
thành Đoàn 125 Hải quân.
Sau một thời gian chuẩn bị và đi chuyến đầu tiên thành
công, từ tháng 9 - 12/1962, Đoàn 759 đã tổ chức 4 tàu vỏ gỗ, chuyển được
119 tấn vũ khí, đạn cập bến Bồ Đề (Cà Mau)
an toàn. Năm 1963, Đoàn 125 bắt đầu sử dụng cả tàu vỏ sắt và vỏ gỗ,
chuyển 23 chuyến vũ khí vào cả 4 bến của Nam Bộ (trong đó có 3 chuyến
hàng không tới đích); năm 1964 chuyển được 59 chuyến hàng.
Trong thời gian này tuyến đường Trường Sơn
trên bộ (được thành lập từ tháng 5 năm 1959), tuy đã rất khẩn trương
tiến hành soi đường, gùi hàng, vũ khí vào chiến trường. Nhưng những năm
đầu do địa hình phía Đông Trường Sơn quá hiểm trở, mặt khác lại bị địch
đánh phá ngăn chặn quyết liệt, nên hoạt động đã gặp nhiều khó khăn...
Trong khi đó tuyến vận tải trên biển đã nhanh chóng sớm
phát huy được hiệu quả, nên thời kỳ đầu (1962 - 1965), những con tàu
không số đã kịp thời phát huy hiệu quả, trở thành tuyến chi viện chiến
lược chủ yếu cho chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đã có 89 chuyến
tàu chở 4.419 tấn hàng (chủ yếu là vũ khí, đạn dược) chuyển vào Khu 5 và
chiến trường Nam Bộ từ tháng 9/1962 đến tháng 2/1965.
Hải Phòng tự hào là nơi xuất phát của Đường Hồ Chí Minh trên biển, nơi
chế tạo những “con tàu không số”, nơi có những con người dũng cảm, chiến
đấu quên mình để dệt nên con đường huyền thoại trên Biển Đông
Giai
đoạn 1962 - 1965, Đoàn 125 đã tổ chức 89 chuyến tàu, chi viện cho các
tỉnh ven biển thuộc chiến trường Khu 5, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ gần
5.000 tấn hàng hóa, chủ yếu là vũ khí, đạn dược.
Từ tháng 2-1965 đến tháng 1-1973 là giai đoạn khó khăn nhất
nhưng hết sức hào hùng của tuyến chi viện chiến lược trên biển. Sau sự
kiện xảy ra với tàu C143 ở Vũng Rô (Phú Yên), yếu tố bí mật của tuyến
chi viện chiến lược trên biển của Việt Nam không còn nữa. Nhưng công
việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫn phải tiếp tục, buộc quân
Giải phóng phải chuyển hướng vận chuyển từ phương thức trực tiếp sang
phương thức gián tiếp. Bằng phương pháp vận chuyển này, trong một năm
(từ 1-11-1968 đến 31-10-1969), lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng
sông Gianh 21.737 tấn vũ khí. Từ đây, số vũ khí này được chuyển vào Nam
theo đường bộ. Ngoài ra, trong giai đoạn này, cán bộ chiến sĩ Đoàn 125
còn tham gia chiến dịch vận tải VT5 - Vận tải tranh thủ tụt thang (từ
tháng 11-1968 đến năm 1969), cùng các lực lượng trong và ngoài quân đội
vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu... từ Hải
Phòng vào các tỉnh Nam Khu 4, tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến
lược trên bộ (Đoàn 559).
Tính chung, trong 4 năm (1965-1968), tuyến đường trên biển
tổ chức được 27 chuyến tàu, song chỉ có 7 chuyến đến đích, giao được
410,4 tấn hàng (chủ yếu cho Nam Bộ), 11 chuyến phải quay trở lại miền
Bắc do nhiều nguyên nhân, 6 chuyến phải tự phá hủy tàu để tránh bị địch
thu giữ, 3 chuyến bị địch chiếm tàu. Trước tình hình đó, Việt Nam đã
tranh thủ sự giúp đỡ của Vương quốc Campuchia, chuyển hướng tổ chức vận
chuyển bằng tàu biển quốc tế đưa hàng viện trợ quân sự vào cảng
Xihanúcvin, sau đó thuê tàu của quân đội Hoàng gia Campuchia tiếp tế cho
chiến trường Nam Bộ và một phần cho chiến trường Tây Nguyên. Bằng cách
này, từ 1966-1969, đã có 10 chuyến tàu, chuyển 90.870 tấn hàng cập cảng
Xihanúcvin, trong đó có 21.473 tấn vũ khí, đạn dược; chuyển về chiến
trường miền Nam được 18.703 tấn.
Từ năm 1971 đến 4/1972, hải quân Mỹ phong tỏa, kiểm soát
rất gắt gao trên tuyến biển , khiến hầu hết các chuyến tàu chở vũ khí
vào Nam của Đoàn 125 phải quay lại. Ngày 27/7/1971, Quân khu 9 thành lập
Đoàn 371 dưới dạng tàu đánh cá hợp pháp. Được tàu của Đoàn 125 hộ tống,
dẫn dắt từng chuyến đi qua các vùng biển nguy hiểm, hai năm 1971- 1972,
Đoàn 371 đã vận chuyển được 31 chuyến với 520 tấn vũ khí vào Quân khu
9.
Đồng thời với việc đẩy mạnh đưa hàng vào cảng sông Gianh,
Quân chủng Hải quân chọn một số tàu và thủy thủ có kinh nghiệm tiếp tục
vận chuyển vào Nam theo đường Hồ Chí Minh trên biển.
CCB Đỗ Xuân Đán.
Tháng 2-1964, ông Đỗ Xuân Đán xung phong nhập ngũ vào Trung đoàn 170 -
Quân chủng Hải quân. Tháng 5-1964, ông được điều về Tiểu đoàn K35, thuộc
Đoàn 125 (nay là Lữ đoàn 125) - Quân chủng Hải quân. Đầu tháng 9-1964, ông Đán được biên chế về Tàu T100 với nhiệm vụ là pháo
thủ ở vị trí số 5 (sau đài chỉ huy). Tháng 12-1965, ông cùng con tàu và
đồng đội tập kết tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) để nhận hàng. Đây là
chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của ông. Rồi trong một đêm tối trời, gió
mùa Đông Bắc thổi mạnh, Tàu T100 lặng lẽ rời bến K15, nhằm hướng Nam
thẳng tiến.
Khi tàu vào đến đảo Hòn Khoai (Cà Mau), lúc
đó khoảng 22 giờ đêm và cách
bờ 8-10 hải lý thì xuất hiện tàu địch ngăn chặn. Chúng gọi loa, chiếu
đèn pha kiểm tra. Trên trời, máy bay C130 thả pháo sáng khiến mặt biển
sáng như ban ngày. Tuy vậy, Tàu T100 vẫn bình tĩnh giữ hướng đi, tiến về
phía vịnh Thái Lan, tới hải phận quốc tế. Những ngày tiếp theo, Tàu
T100 liên tục bị máy bay, tàu chiến địch theo dõi, giám sát nghiêm ngặt.
Trong tình thế đó, Tàu T100 được lệnh quay về. Chuyến đi đó, Tàu T100
không vào được bến để trả hàng nhưng đã trở về nơi xuất phát an toàn.
Cuối tháng 4-1966, Tàu T100 lại được lệnh nhận hàng và tiếp tục đi làm
nhiệm vụ. Sau 7 ngày, đêm trên biển, Tàu T100 đã đi chệch hướng lên Rạch
Già, Cà Mau, thay vì phải đến cửa sông Bồ Đề, Cà Mau để trả hàng. Một
tàu tuần tiễu của địch phát hiện Tàu T100 và đuổi theo ngăn chặn. Tàu
T100 phát tín hiệu liên lạc lên bờ nhưng vì sóng quá lớn nên lực lượng
bờ không thể ra dẫn đường cho tàu cập bến. Lúc này khoảng 3-4 giờ sáng,
phía biển Đông chân trời đã hửng, bất ngờ Tàu T100 mắc cạn, chân vịt
chém vào vật cứng khiến con tàu rung lên dữ dội và khựng lại. Thuyền
trưởng ra lệnh thủy thủ rời tàu. Ông cùng một chiến sĩ báo vụ và pháo
thủ số 2 dìu nhau bơi vào bờ và được một đơn vị quân giải phóng đón ở
bến. Cả ngày hôm đó, trên trời máy bay địch quần thảo, bắn phá khu vực
Tàu T100, ngoài khơi tàu chiến địch bao vây. Con Tàu T100 trúng đạn cháy
âm ỉ, đến 20 giờ tối thì con tàu phát nổ. Một cột lửa cao hàng trăm mét
dựng đứng, mảnh vỡ bay chém vào cây trên bờ rào rào, toàn bộ con tàu đã
vĩnh viễn nằm lại ở biển khơi, 17 cán bộ, chiến sĩ của tàu T100 được cơ
sở đón và đưa về cứ an toàn.
Sau Hiệp định Paris,
hải quân Mỹ rút đi, tàu vận tải chuyển sang phương thức hoạt động công
khai. Từ 1973 đến 1975, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốc
toàn bộ lực lượng và phương tiện, sử dụng hàng ngàn lượt chuyến tàu
chuyển vũ khí và vật chất các loại vào các chiến trường.
Đoàn 125 được trang bị thêm nhiều tàu mới có trọng tải 100
tấn trở lên. Đoàn 125 đã tham gia cùng ngành Hậu cần vận chuyển từ miền
Bắc vào Quảng Bình và Cửa Việt,
tạo chân hàng chi viện cho miền Nam qua đường Hồ Chí Minh trên bộ.
Trong 2 năm 1973-1974, Đoàn đã huy động 380 lượt tàu, vận chuyển hàng
chục ngàn tấn hàng, đưa 2.042 lượt người từ hậu phương vào tiền tuyến và
các đảo. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đã sử
dụng 140 lượt chuyến tàu, vận chuyển 6.282 tấn vũ khí và vật chất khác,
cùng cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ và Khu 5, cơ
động bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường
Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc. Trong đó, Đoàn
125 đã vận chuyển vào chiến trường 17.473 cán bộ chiến sĩ, 40 xe tăng,
7.786 tấn vũ khí, nhiên liệu, góp phần giải phóng miền Nam, giải phóng
Quần đảo Trường Sa và các đảo trên vùng biển Tây Nam.
Thông
qua hoạt động vận chuyển và chiến đấu, lực lượng vận tải trên biển nói
riêng, Quân chủng Hải quân nói chung, đã có bước trưởng thành vượt bậc:
-
Từ những chiếc tàu gỗ đánh cá thô sơ trong những ngày đầu thành lập,
đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã có những đội tàu tương
đối hiện đại, trọng tải lớn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài tiên
tiến, đảm đương nhiệm vụ vận tải và trực tiếp chiến đấu với kẻ thù.
Tập thể cán bộ, chiến sỹ tàu VT 41 trước giờ xuất phát tại bến K15 (Đồ
Sơn, Hải Phòng) chở gần 30 tấn vũ khí đầu tiên vào Cà Mau thành công
(1962) - chuyến đi đầu tiên mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Ảnh:
BTHQ/TTXVN phát
Dù
số lượng vũ khí và hàng hóa mà Đoàn 125 vận chuyển bằng đường Hồ Chí
Minh trên biển còn khiêm tốn nhưng đã chi viện đến những chiến trường
trọng điểm miền Nam: duyên hải miền Trung, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ -
những nơi mà tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn chưa thể vươn tới
được.
-
Vận tải trên biển tuy gian nan, nguy hiểm nhưng lại có ưu thế về tốc
độ, thời gian, hiệu quả; nếu vận chuyển đường bộ mất mấy tháng trời thì
vận chuyển đường biển chỉ khoảng hơn một tuần, chi phí vận tải cho mỗi
tấn hàng trên biển ít hơn rất nhiều so với vận tải đường bộ. Ngoài ra,
vận tải đường biển còn đảm đương sứ mệnh quan trọng, đó là vận chuyển
những vũ khí, trang bị đặc biệt (các loại vũ khí trang bị lớn, đặc
chủng), có tầm quan trọng sống còn đối với cuộc kháng chiến.
Với
những thành tích xuất sắc, Lữ đoàn 125 được Đảng, Nhà nước 2 lần tuyên
dương danh hiệu “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Theo dòng thời gian, đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không
số, gắn liền với tên tuổi, địa danh và biết bao chiến công hiển hách
của những anh hùng liệt sĩ, của quân và dân ta vẫn mãi khắc ghi vào lịch
sử dân tộc như một con đường huyền thoại - một trong những đỉnh cao của
chiến tranh nhân dân Việt Nam, của truyền thống yêu nước, ý chí quật
cường và sức sáng tạo; phản ánh khát vọng cháy bỏng độc lập, tự do,
thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính
trị, theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư Lệnh, một đơn
vị đặc nhiệm được thành lập vào tháng 7-1959, có biệt danh là Đoàn 759,
lúc đầu là đơn vị nhỏ cỡ tiểu đoàn được tổ chức dưới hình thức “Tập đoàn
đánh cá Sông Gianh” thuộc Tổng Cục Hậu cần; đến ngày 23-10-1961, trực
thuộc Bộ Quốc phòng. Tháng 8-1963, Trung ương quyết định giao Đoàn 759
cho Bộ Tư lệnh Hải quân, đổi tên thành Lữ đoàn 125.
Cuộc thử
thách đầu tiên là vào đêm 30 Tết, năm 1959. Đoàn 759, dưới mật danh “Tập
đoàn đánh cá Sông Gianh”, đã cho 01 “tàu không số” đầu tiên mở đường
vào liên lạc để chi viện cho miền Nam.
Lúc 4 giờ chiều, trên bến Sông
Gianh (tỉnh Quảng Bình), 10 con người, 5 người tiễn, 5 người xuất phát
vào miền Nam. Một bức điện mật đánh đi cho Tỉnh ủy Quảng Nam: Thuyền rời
bến 30 Tết. Dự kiến đến sau hai ngày. Đón tại Hòn Chuối, dưới chân đèo
Hải Vân. Người ra đón đã đến đúng địa điểm, chờ một tháng ròng mà
con tàu biệt vô âm tín. Như vậy là chuyến tàu thứ nhất không thành công.
Trước
khi tàu ta bị tàu địch bắt một cách ngẫu nhiên ngoài biển khơi, anh em
đã chiến đấu, thủ tiêu hết súng đạn, vứt xuống biển phi tang, 04 thủy
thủ đã thành liệt sĩ, 01 người bị địch bắt và tra trấn nhiều năm nhưng
không khai báo, mãi đến năm 1974, sau Hiệp định Pa-ri, mới được trở về.
Từ chuyến tàu đầu tiên thất bại, Đoàn 759 đã tổ chức rút kinh nghiệm, tính toán cách tổ chức chặt chẽ và thông minh hơn.
Tàu không số vận chuyển vũ khí vào Nam, ảnh do không quân Mỹ chụp. Ảnh: Quân chủng Hải quân cung cấp
Tháng 8-1962, Đoàn 759 nhận bàn giao 4 tàu gỗ từ Xưởng đóng tàu I (Hải
Phòng) và tiếp nhận bổ sung cán bộ. Đêm 11-10-1962, chiếc tàu gỗ đầu
tiên chở 30 tấn vũ khí đã rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà
Mau. Ngày 16-10, tàu vào bến Vàm Lũng (Cà Mau), 30 tấn vũ khí từ hậu
phương miền Bắc đã được chiến trường miền Nam tiếp nhận an toàn. Lượt
tàu thứ hai, thứ ba và tàu thứ tư tiếp tục vượt biển vào bến Cà Mau. Để
đảm bảo bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, những chiếc tàu của
Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, xen
kẽ, trà trộn vào những đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên
biển, tên gọi “Đoàn tàu không số” được ra đời. Bốn chuyến trong hai
tháng đã vận chuyển 111 tấn vũ khí cho Khu 9 an toàn.
Đây là một thắng lợi lớn, góp phần củng cố niềm tin và quyết tâm của
quân dân miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước.
Đây là hồi ức của ông Trần Hữu Điểu:ngày 23/10/1961, lực lượng vận tải quân sự đường biển mang tên Đoàn 759
(tiền thân của Đoàn 125, Lữ đoàn 125 Hải quân anh hùng ngày nay) được
thành lập. Từ quá trình trinh sát, trung tuần tháng 8-1962, Quân ủy
Trung ương thông qua nghị quyết “Mở đường vận chuyển chiến lược trên
biển”. Nhằm che mắt quân địch và để bảo đảm bí mật cho tuyến đường vận
tải quân sự đặc biệt này, những chiếc tàu của Đoàn 759 đã cải hoán thành
tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, còn bộ đội đóng giả làm dân vạn
chài để trà trộn, xen lẫn vào những chiếc tàu đánh cá của ngư dân để
hoạt động.
Trong khi trò chuyện, những kỷ niệm thời chiến lại ùa về khiến cựu
chiến binh Trần Hữu Điểu, phường Đông Lĩnh (TP Thanh Hóa) nhớ đồng đội,
nhớ những chuyến tàu bí mật luôn ẩn chứa đầy hiểm nguy. Trong 11 chuyến
đi vận chuyển vũ khí, hàng hóa và cán bộ, chiến sĩ cho chiến trường miền
Nam, ông Điểu nhớ nhất là chuyến đi cuối cùng. Theo dòng hồi tưởng,
ngày 12/4/1972, Tàu 54 đổi phiên hiệu thành Tàu 645 xuất phát từ đảo Hải
Nam (Trung Quốc) để tránh sự phát hiện của kẻ thù. Trong chuyến đi này, Tàu 645 vận chuyển 100 tấn vũ khí cùng nhiều cán
bộ, chiến sĩ tiếp ứng cho chiến trường miền Nam. Sau 10 ngày lênh đênh
trên biển, ngày 23/4/1972, Tàu 645 đến đảo Phú Quốc và chờ đêm xuống sẽ
cập bến ở Cà Mau theo kế hoạch. Thế nhưng đến chập tối, tàu địch xuất
hiện, đánh tín hiệu yêu cầu kiểm tra. Quyết không để tàu rơi vào tay
địch, thuyền trưởng Lê Hà bình tĩnh chỉ huy các thủy thủ cho tàu quay ra
vùng biển quốc tế và ngụy trang làm ngư dân đánh cá.
Sáng 24/4/1972,
khi xác định rõ Tàu 645 giả danh tàu đánh cá, quân địch nổ súng bắn uy
hiếp với mục tiêu bắt sống toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Trước tình
thế vô cùng nguy hiểm, thuyền trưởng Lê Hà quyết định nổ súng chống
trả. Tàu 645 trúng một quả đạn pháo lớn, bị hư hỏng nặng, một số chiến
sĩ trên tàu hy sinh. Quyết không để con đường vận tải chiến lược bị bại
lộ, thuyền trưởng Lê Hà nhanh chóng ra lệnh “nổ bộc phá, phá tàu”. Các
đồng chí bị thương và những người không có nhiệm vụ nổ bộc phá chia từng
tốp nhỏ để rời tàu. Bơi được một khoảng khá xa thì tôi nghe tiếng tàu
nổ dữ dội, trên mặt biển bùng lên ngọn lửa khổng lồ. Tàu đã bị phá hủy,
nhưng cả 15 người được lệnh rời tàu đều bị trực thăng của Mỹ trinh sát
và bị tàu chiến của Mỹ vây bắt, đưa về trại giam Phú Quốc. Sau gần một
năm bị giam cầm, quân địch đã sử dụng rất nhiều hình thức tra tấn dã man
nhưng cả 15 cán bộ, chiến sĩ đều không ai khai báo, vì thế quân địch
không khai thác được gì. Cho đến khi Hiệp định Pari được ký kết thì
chúng tôi được trao trả. Chuyến đi lịch sử ấy, tôi mãi mãi không bao giờ
quên được.
Du kích ĐBSCL cất giấu vũ khí sau khi vận chuyển từ tàu không số. Ảnh: Quân chủng Hải quân cung cấp
Tháng 5/1964, Tỉnh ủy Phú Yên nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng giao
nhiệm vụ nghiên cứu tìm chọn bến bãi sẵn sàng tiếp nhận khí tài chi
viện từ miền Bắc. háng 7/1964, Thường vụ Liên Tỉnh ủy 3 và Phân khu Nam (thuộc Khu 5) tổ
chức hội nghị liên tịch ở Suối Phẩn (xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa 1) để chọn
bến bãi đón tàu tiếp nhận khí tài. Sau khi xem xét, bàn bạc, đánh giá
các yếu tố, hội nghị thống nhất quyết định chọn Vũng Rô làm bến đón tàu
vào, vì đây là địa điểm hội tụ được các yếu tố “thiên thời, địa lợi,
nhân hòa”. Bến Vũng Rô nằm ngay dưới chân đèo Cả, phía đông quốc lộ 1, là bến nước
sâu, êm sóng có nhiều hang, gộp đá có thể làm nơi cất giấu nhiều loại
khí tài, có những tuyến hành lang an toàn từ Vũng Rô đến Hòa Hiệp, Hòa
Xuân và lên căn cứ của Tỉnh ủy Phú Yên, căn cứ Liên Tỉnh ủy 3 và các
tỉnh Nam Tây Nguyên.
Vũng Rô (Phú Yên)- Tại nơi đây tháng 2/1965 xảy ra
cuộc chiến đấu không cân sức giữa các thủy thủ tàu 143 Đoàn tàu không
số với quân địch khi vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam.
Cuối năm 1964, theo đề nghị của Tỉnh ủy Phú Yên, Bộ Tư lệnh Quân khu 5
quyết định thành lập Đại đội bảo vệ bến Vũng Rô, mật danh K60 do đồng
chí Hồ Thanh Bình làm đại đội trưởng, đồng chí Phạm Ân làm chính trị
viên.
Đêm 28/11/1964, bến Vũng Rô tiếp đón chuyến tàu Không số đầu tiên. Từ
chiều, bà con đã được gọi vào khu vực vũng Chùa. Mọi người được dẫn
đường băng qua dãy núi dưới chân hòn Vọng Phu và mỏm Đá Bia đến đợi sẵn,
không ai biết chuyện gì sẽ diễn ra. Theo kế hoạch, đêm 22/11/1964, tàu
41 do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu chỉ
huy 18 cán bộ, thủy thủ chở 63 tấn khí tài được lệnh xuất phát từ Hạ
Long (Quảng Ninh).
Trong hành trình vượt qua giông tố, khi đi ngang qua vùng biển Ðà Nẵng,
máy bay trinh sát của giặc Mỹ phát hiện, nghi ngờ, báo vào bờ và lập tức
hai tàu tuần tiễu của địch lao ra kèm song song và chĩa thẳng nòng pháo
về phía tàu 41. Nhờ ngụy trang tốt, tàu 41 mang biển hiệu 412 treo cờ
nước ngoài đã đánh lừa được địch bỏ mục tiêu. Lúc 23 giờ 50 ngày
28/11/1964, tàu 41 cập bến Vũng Rô. Phút gặp gỡ giữa cán bộ, thủy thủ
tàu và lực lượng của ta có mặt tại bến vô cùng xúc động và tràn ngập
niềm vui. Tàu chỉ được phép ở lại bến Vũng Rô trong thời gian từ 24 giờ
đêm đến 3 giờ sáng phải rời bến. Tuy nhiên, do lượng hàng đến 63 tấn,
quá lớn so với khả năng bốc xếp nên tàu 41 phải ngụy trang ở lại bến
thêm một ngày, 3 giờ sáng ngày hôm sau bốc xếp xong tàu rời bến. Bình
minh biển Vũng Rô sóng vẫn bình yên tươi đẹp như chưa có chuyện gì xảy
ra.
Sau thắng lợi chuyến đầu, tàu 41 tiếp tục vào Vũng Rô hai chuyến nữa.
Việc tiếp nhận vũ khí từ các chuyến tàu Không số đã được quân, dân Phú
Yên tổ chức chu đáo, chặt chẽ. Từ bến Vũng Rô, những con đường mòn bí
mật len qua khe núi, đèo dốc, với sự tham gia của hàng nghìn thanh niên
xung kích, dân công ngày đêm vận chuyển hàng trăm tấn khí tài về hậu cứ
và tỏa đi khắp các chiến trường Nam Trung Bộ, trang bị kịp thời cho
những trận đánh lớn, mở rộng vùng giải phóng.
Tàu 56 do đồng chí Lê Quốc Thân và Trần Ngọc Tuấn chỉ huy chở 44 tấn vũ khí từ cảng Hải Phòng cập bến Lộc An, tỉnh Bà Rịa, ngày 22/12/1964. Nguồn: Thư viện tỉnh Vĩnh Long
Tháng 2/1965, Bộ Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho tàu C143 do Thuyền
trưởng Lê Văn Thêm phụ trách vận chuyển 60 tấn vũ khí vào Lộ Diêu (Bình
Định). Sau nhiều ngày vất vả trong hiểm nguy nhưng không thể đưa tàu vào
bến, Bộ Tư lệnh Hải quân đã quyết định cho tàu vào Vũng Rô. Ngày
15/2/1965, tàu C143 vào bến Vũng Rô, đến gần 4 giờ, toàn bộ hàng mới bốc
hết, tàu quay ra thì tời neo bị hỏng. Sửa chữa xong thì trời sáng, nên
tàu C143 đành ở lại, các thủy thủ và du kích chặt cây phủ lên tàu để
ngụy trang. Dù vậy, tàu vẫn cứ lù lù như một núi đá nhỏ lạ nhô ra biển.
Sáng 16/2/1965, một máy bay của địch từ Quy Nhơn về Nha Trang qua Vũng
Rô, tên phi công phát hiện ra “một mỏm đá lạ nhô ra trên vách núi phía
tây Vũng Rô”. Ngay lập tức, viên phi công báo cáo về Bộ Chỉ huy Quân
đoàn 2 đóng ở Nha Trang. Chỉ ít phút sau, mấy chiếc máy bay các loại của
địch đến trinh sát, rồi thả bom xăng xuống “mỏm đá lạ”. Lá ngụy trang
cháy hết, lộ ra con tàu nằm trên biển.
Phát hiện chính xác mục tiêu, địch lập tức huy động cả máy bay, tàu
chiến và pháo binh, bộ binh tập trung tấn công Vũng Rô, bắt đầu cuộc
chiến không cân sức. Lực lượng của ta gồm thủy thủ tàu C143, bộ binh và
dân quân du kích kiên cường đánh trả, nhằm bảo vệ đến cùng số vũ khí từ
miền Bắc đưa vào. Bọn địch có ý đồ chiếm tàu C143 và thu vũ khí ta cất
giấu, nên chỉ thả bom quanh tàu chứ không phá hủy. Biết ý đồ của địch,
Chỉ huy trưởng bến Trần Suyền ra lệnh hủy tàu. Nhưng việc hủy tàu cũng
không đơn giản, do sức ép của bom đạn, tàu đã bị nghiêng, các cửa đều
đóng chặt, không thể vào được trong khoang.
Nhiệm
vụ hủy tàu xóa dấu vết được giao cho ông Nguyễn Ngọc Cảnh và Dương
Kính, với gói bộc phá 100kg thuốc nổ. Do không thể lên tàu nên ta phải
chọn phương pháp ốp bộc phá vào tàu kích nổ. Những mảnh vỡ của con tàu
văng lên tận đỉnh núi, nhưng con tàu vẫn chỉ vỡ đôi…
Địch
tiếp tục điều thêm quân đến, khiến cuộc chiến ngày càng khốc liệt.
trước thế địch quá mạnh, quân ta chủ trương phá vòng vây rút lui và hủy
số vũ khí còn lại, nhưng vì số lượng khí tài tồn còn quá nhiều, nên
không hủy hết. Bọn địch quyết chiếm hang Vàng, bị ta cho nổ tung kho vũ
khí khiến nhiều tên bị chết. Sau đó, chúng tổ chức lặn tìm trang bị, vũ
khí của ta ở con tàu chìm, tháo dỡ một số bộ phận của tàu mang về Sài
Gòn mở triển lãm để rêu rao chiến công thu hồi khí tài do miền Bắc tiếp
tế bằng đường biển.
Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn và các đồng đội tàu 43 trong chuyến đi phục vụ Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.
Từ đây, con đường vận chuyển chiến lược trên biển vốn được xây dựng kỳ
công và bí mật, đã bị lộ nhưng sự kiện Vũng Rô đã gây cho kẻ địch một
phen kinh hoàng. Đại tá Hải quân Mỹ R.Sorhesdley đã viết: “Vụ Vũng Rô
khẳng định điều đã ngờ trong một thời gian dài nhưng chưa có bằng chứng.
Số lượng vũ khí lớn bị phát hiện đã chỉ ra, nhiều lô hàng lớn hơn đã
được chở đến bằng tàu trước đó. Sự xuất hiện đồng thời các loại vũ khí
mới cỡ 7,62mm của địch ở những vùng ven biển khác nói lên một điều chắc
chắn là, địch còn sử dụng các vị trí khác nữa để nhận hàng chuyển bằng
đường biển”.
Phan Vinh - Người anh hùng Quảng Nam
Nguyễn Phan Vinh sinh năm 1933, tại Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam,
từng được đi đào tạo chỉ huy tàu phóng lôi ởnước ngoài. Nguyễn Phan Vinh
chuyên môn giỏi và bản lĩnh cao. Anh sống hết mình với bạn bè nhưng
trong công việc thì rất nghiêm khắc. Phan Vinh là thuyền trưởng giỏi.
Anh đã đi 11 chuyến tàu không số chở vũ khí vào Nam với cương vị thuyền
phó, rồi thuyền trưởng. Được đơn vị tin tưởng giao trách nhiệm chở các
vị lãnh đạo như ông Lê Đức Anh và các tướng lĩnh quân đội vào Nam công
tác.
Tháng 2 năm 1968, trong chiến dịch vận chuyển vũ khí vào Nam
cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh
cùng chính trị viên Nguyễn Tương chỉ huy với 20 cán bộ thủy thủ đi tàu
235 chở 16 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo, Khánh Hòa ngày 27.2.1968, chiến
đấu kiên cường với giặc và hy sinh sau đó. Trước đó, 18 giờ 30 phút ngày
6.2.1968, tàu C235 đã xuất phát rời căn cứ A2 đi Hòn Hèo. Tàu C235 là
tàu cao tốc, có 4 máy. Ngày 10.2, khi còn cách bờ 38 hải lý, tàu bị tàu
chiến và máy bay địch bám theo không rời. Không thể đi tiếp được, sở chỉ
huy ra lệnh cho tàu quay về .
Hòn Hèo là khu vực hiểm trở thuộc
hai xã Ninh Phước, Ninh Vân (huyện Ninh Hòa - nằm giữa Nha Trang và
Vũng Rô ). Bến Hòn Hèo nằm ở khoảng giữa hai cụm núi trọc nhô ra biển,
cô độc giữa đồng bằng. Đây là bến hết sức khó vào, luồng hẹp, nhiều đá
ngầm, có núi cao bao bọc phía ngoài, không dễ cơ động. Một tài liệu của
Pháp viết: “Tàu muốn ra vào Hòn Hèo, thuyền trưởng phải có tay nghề lão
luyện trên dưới 20 năm”. Phan vinh chỉ có tay nghề hơn 10 năm, nhưng anh
đã cho thuyền vào Hòn Hèo chính xác. Tàu vào Hòn Hẻo rất dễ lộ, nhưng
cũng rất bất ngờ với địch, do vậy phải hành động hết sức táo bạo, nhanh
chóng và chính xác.
Sau hai ngày đêm hành trình trên vùng biển
quốc tế, ngày 29.2, tàu 235 ở ngang vùng biển Nha Trang. 18 giờ, một
máy bay trinh sát của địch bay ngang qua tàu. Tàu ta vẫn tiếp tục hành
trình. 22 giờ 20 phút, tàu cách bờ khoảng 19 hải lý. Phát hiện ra tàu
của ta, ba tàu chiến của Mỹ có phiên hiệu Ngọc Hồi, HQ12, HQ617 và 4 tàu
khác của quân đội Sài Gòn được điều đến bao vây hòng bắt sống tàu ta.
Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh ra lệnh tắt hết đèn và tiếp tục hành
trình vào bến. Các tàu địch cũng tắt hết đèn đợi tàu ta đi vào vòng vây,
chúng tính toán rằng khi tàu chúng đồng loạt bật sáng đèn, tàu nào
không bật đèn tức là “tàu Bắc Việt”. Nhưng Nguyễn Phan Vinh đã thông
minh, nhanh trí lợi dụng ngay tình thế này, khôn khéo chỉ huy tàu C235
đi trong màn đêm, luồn lách qua đội hình tàu địch đang phục kích ở phía
ngoài và vào được bến phía xã Ninh Phước. Không gặp được người của bến
đón, khoảng 0 giờ 30 phút ngày 1.3, tình hình rất cấp bách, Phan Vinh
lệnh cho anh em nhanh chóng thả những bao hàng xuống nước để người của
bến sẽ vớt sau. Trong lúc đó ở phía ngoài, các tàu địch vẫn chưa phát
hiện được tàu của ta ở chỗ nào. Chúng lặng lẽ trong đội hình vòng vây
chờ đợi.
Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh
Thả xong hàng, Phan Vinh điện báo cáo chỉ huy sở “đã thả
xong hàng, đang bị tàu địch bao vây”, rồi cho tàu rời khỏi xã Ninh
Phước, chạy ven bờ về phía xã Ninh Vân để nghi binh, đánh lừa, không
cho địch phát hiện chỗ vừa thả hàng. Gần 2 giờ sáng ngày 1.3.1968, các
tàu địch ở phía ngoài đồng loạt bật đèn sáng. Khi phát hiện ra tàu ta
đang ở gần bờ chúng lập tức nổ súng. Chúng bắn đạn cỡ lớn chặn phía trên
bờ để ngăn không cho anh em ta bơi vào bờ chạy thoát và dùng súng nhỏ
bắn thẳng vào tàu ta ể không chế với tham vọng bắt sống. Mấy phút sau,
máy bay địch đến thả pháo sáng soi rõ cả tàu ta và 7 chiếc tàu của địch.
Tàu C235 ở trong tình thế cực kỳ khó khăn, một bên là bờ, phía trước là
núi, sau lưng các tàu địch không ngừng nhả đạn. Thuyền trưởng Nguyễn
Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em vừa chiến đấu vừa điều khiển tàu chạy
vào sát bờ. Súng DKZ, 12,5 ly của ta liên tục bắn vào tàu giặc làm cho
chúng không dám đến gần. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra ác liệt.
Trên tàu đã có 5 người hy sinh, 7 người bị thương. Phan Vinh cũng bị
thương ở đầu nhưng anh vẫn chỉ huy chiến đấu. Tay cầm khẩu AK47, anh hô
lớn: “Chúng ta sẽ chiến đầu đến hơi thở cuối cùng trên con tàu này.
Chuẩn bị phương án hai!”. Phương án hai là phương án phá vòng vây , dùng
tốc độ cao của tàu C235, hoặc lao vào quân cảng của địch ở Nha Trang
cho nổ tàu phá cảng, hoặc lao vào tàu địch cho nổ bộc phá. Những phương
án này đã được anh em thủy thủ trên tàu đã được chuẩn bị tư tưởng từ
trước.
Nhưng tàu ta chưa kịp quay hướng ra biển thì khoang máy
trúng đạn, máy hỏng, không cơ động được nữa. Phan Vinh quyết định cho
anh em bị thương rời tàu và phân công người ở lại đặt kíp nổ phá hủy
tàu. Thuyền trưởng Phan Vinh cùng 5 người ở lại đặt kíp nổ phá khoang
máy và các vị trí khác, rồi ba người nhanh chóng bơi vào bờ. Phan Vinh
cùng thợ máy Ngô Văn Thứ đi kiểm tra lại lần cuối rồi hai người nhảy
khỏi tàu. Hơn chục phút sau, mặt biển Hòn Hèo bùng lên một cột lửa không
lồ, một tiếng nổ dữ dội chấn động tới tận Nha Trang làm cho cửa kính
các ngôi nhà đều rung lên. Sức công phá của thuốc nổ lớn khiến một nửa
con tàu văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Nơi này, sau này Lữ
đoàn 125 đã xây dựng một Đài tưởng niệm các liệt sĩ tàu C235 đã hy
sinh. Nửa con tàu còn lại tan thành những mảnh vụn chìm sâu vào lòng
biển.
Hai người rời tàu sau cùng là thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh
và thợ máy Ngô Văn Thứ chốt lại kềm chân địch, không cho chúng đổ bộ
lên bờ, hỗ trợ anh em thủy thủ lên trước rút ra xa khỏi khu vực. Gần
sáng địch đổ quân xuống lùng sục khắp khu vực tàu C235 nổ. Phan Vinh và
Thứ kiên cường chống trả địch bằng AK và lựu đạn, đánh lui nhiều đợt tấn
công của địch, tiêu diệt hàng chục tên địch. Nhưng vì ít đạn, địch tràn
lên rất đông, nên Phan Vinh và Thứ đã cho nổ tại chỗ quả lựu đạn cuối
cùng và hai người đã anh dũng hi sinh, để không cho địch bắt sống. Anh
hy sinh khi vừa trong 35 tuổi. Năm 1970 anh được Nhà nước truy tăng
danh Hiệu anh hùng lục lượng vũ trang nhân dân .
Một sĩ quan Hải Quân Sài Gòn đã viết trên Tạp chí Lướt sóng của Hải quân Sài Gòn thời đó mô tả: “Mười
hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng Quân lực Việt Nam
Cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng
(thực tế chỉ có 20 thủy thủ trên tàu C235) gan góc và thiện
chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập tiếp tế cho Mặt trận
giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng
và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ
tự hủy, không để lại một dấu viết...”. Đó là không chỉ là lời thú
nhận , mà là sự khâm phục của địch về sức chiến đấu quật cường của
thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thủy thủ tàu C235 anh hùng.
Các thủy thủ lên bờ, mò mẫn trong đến tối, dìu nhau vượt rừng, leo
qua các vách đá để lẫn trốn địch lùng sục, không lương thực, không nước
uống khiến 7 người tàu C235 đều kiệt quệ. 12 ngày sau họ mới bắt được
liên lạc với du kích và các đồng chí ở bến đi tìm, nhưng lúc này chỉ còn
lại Vũ Long An, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật, Nguyễn Hồng Phong và Lê
Huy Mai. Còn Đoàn Văn Nhi thuyền phó đã hy sinh và Mai Văn Khung, đi
tìm nước uống rồi không trở về nữa, anh em tìm kiếm mãi mà không thấy.
Sau này mới biết Khung bị địch bắt.
Điều rất buồn là mặc dù hy
sinh trên đất liền (hoặc hy sinh trên tàu nhưng đã được đồng đội đưa
vào bờ trước khi cho tàu nổ), nhưng Nguyễn Phan Vinh và 13 chiến sĩ tàu
235 vẫn không có mộ ghi tên từng người, mà là mộ vô danh. Câu chuyện
về mộ anh hùng Phan Vinh và 13 chiến sĩ trên tàu 235 đến nay vẫn chưa
được sáng tỏ.
Nhưng trong cuốn hồi ký của của liệt sĩ Huỳnh
Hường, người của đoàn tàu không số D125 được cử đi đường bộ Trường Sơn
vào Hòn Hèo làm nhiệm vụ trinh sát, cùng với bến đón tàu 235. Theo nhật
ký của anh lưu tại Bảo tàng Hải Quân, thì chính anh Huỳnh Hường đã tìm
kiếm và tự tay chôn cất Nguyễn Phan Vinh và các chiến sĩ hy sinh của tàu
235.
Hòn đảo mang tên người anh hùng
Theo những gì ghi trong nhật ký thì ít nhất liệt sĩ Huỳnh
Hường đã trực tiếp tìm thấy và chôn cất ba người gồm Vinh, Thử và máy
trưởng Mùi. Không hiểu khi chôn cất đồng đội họ có ghi tên tuổi, đơn vị
để chôn theo không, mà bây giờ không ai tìm thấy? Hay đã viết tên
tuổi, đơn vị vào giấy chôn theo xác rồi, nhưng lâu ngày bị mưa nắng
phai đi nên không ai biết. Anh Huỳnh Hường đã hy sinh ngày 28.8.1971,
biết hỏi ai bây giờ ?
Cháu Nguyễn Thị Thanh Tuyền, hiện là cán bộ
Công ty thí nghiệm điện thuộc Tổng công ty Điện lực miền Trung, Đà Nẵng
- là con anh Nguyễn Đức Xử, anh trai thứ 7 của Phan Vinh, kể với tôi:
“Chú Nguyễn Phan Vinh sinh ra trong một gia đình truyền thống cách mạng.
Sau 9 năm kể từ ngày Nguyễn Phan Vinh lên đường tòng quân nhập ngũ vào
quân đội, chú chưa về thăm gia đình lần nào, đầu năm 1963, bà nội mất vì
bị địch bắt, bà bị đánh đập dã man sau một trận chống càn quân địch ở
quê. Cùng năm ấy, người anh trai của chú là Nguyễn Đức Lân hi sinh trên
chiến trường Quảng Nam. Trận chiến không cân sức giữa tàu 235 với tàu
địch ở vùng biển Hòn Hèo (xã Ninh Phước, Ninh Vân, Khánh Hòa) tháng
3.1968, chú và 14 đồng đội đã hi sinh. Cuối năm ấy, ông nội cháu - Ông
Nguyễn Đức Mẫn là du kích xã Điện Nam cũng hi sinh trong một trận chống
địch càn quét tại xã”.
Gia đình Phan Vinh có 2 liệt sĩ và 3 người
anh hùng. Bố anh, ông Nguyễn Đức Mẫn, liệt sĩ. Mẹ anh bà Phan Thị Mẫn
(lấy tên chồng làm tên mình) là Mẹ Việt Nam Anh hùng. Ông anh thứ 5 của
Phan Vinh tên là Nguyễn Đức Lân, liệt sĩ. Người cô ruột Nguyễn Thị Liễu
cũng là bà mẹ Việt Nam anh hùng. Còn anh Nguyễn Đức Xử là bộ đội thời
chống Pháp, hoạt động ở huyện Điện Bàn. Năm 1954, tập kết ra Bắc ông làm
bí thư chi bộ ở Nông trường Sao Vàng, Quảng Bình mấy chục năm liền. Sau
giải phóng miền Nam, ông vào Nam, làm giám đốc Công ty Cao su Phú
Riềng. Sau đó chuyển về quê làm Giám đốc Xí nghiệp Bao bì xuất khẩu Đà
Nẵng. Ông bị bệnh, mất năm 2008. Ông bà Nguyễn Đức Mẫn có 9 người con.
Phan Vinh là con út, ở nhà gọi theo thứ tự là Mười Vinh. Trước lúc hy
sinh, Phan Vinh là lúc đó đã 34 tuổi, nhưng anh vẫn chưa lấy vợ. Anh bảo
đi tàu không số là cảm tử quân rồi, lấy vợ làm gì cho khổ “người ta”.
Anh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân, và các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công. Ở quận Sơn
Trà, TP.Đà Nẵng có một con đường mang tên Phan Vinh và một trường tiểu
học mang tên Phan Vinh. Cám ơn cuộc sống đã không quên người cảm tử anh
hùng quân ấy. Phan Vinh hy sinh khi 35 tuổi,
Tên tuổi Nguyễn Phan
Vinh sống mãi trong lòng Tổ quốc như hòn đảo mang tên anh. Đảo Phan
Vinh là nơi mặt trời đến sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay đảo
Phan Vinh đã được xây dựng lại khang trang, tôn cao thêm. Trên đảo có
cột mốc chủ quyền Việt Nam. Cây cối xanh tươi mát mẻ. Nhà ở của bộ đội,
hội trường lợp ngói khang trang. Hệ thống phong điện, năng lượng mặt
trời đã được lắp đặt giúp điều kiện sống trên đảo nhỏ tốt hơn những năm
trước rất nhiều. Các trạm thu tín hiệu vệ tinh, truyền hình, sóng điện
thoại được phủ góp phần nâng cao đời sống tinh thần lính đảo. Cán bộ
chiến sĩ tích cực tăng gia chăn nuôi, gieo trồng, đánh bắt hải
sản.
Trong hội trường của đơn vị Hải quân đảo Phan Vinh, ảnh
anh hùng liệt sĩ Phan Vinh được phóng to đang mỉm cười thân mến nhìn
đồng đội mỗi ngày...
13/ Những trận đánh nổi tiếng của lực lượng biệt động và bộ đội đặc công:
a- Lực lượng biệt động:
Biệt động Sài Gòn
là danh xưng của lực lượng đặc công quân Giải phóng miền Nam, chuyên
làm nhiệm vụ tập kích nhằm vào các cơ sở của quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam
Cộng hòa cũng như các công trình công cộng trong môi trường đô thị tại
Sài Gòn trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.
Theo Đại tá Nguyễn Đức
Hùng
(Tư Chung), nguyên Tư lệnh Biệt động Sài Gòn – Gia Định nêu lên trong
hồi ký, lực lượng biệt động khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ra đời
từ Kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ những đội vũ trang, tự vệ của
người dân ở khu vực này từ thời tiền khởi nghĩa và Nam Bộ kháng chiến.
Tuy nhiên, có thể nói lực lượng tiền thân chính thức đầu tiên ra đời sau
chuyến mạo hiểm vào thành thị sát của Trung tướng Nguyễn Bình, và sau
đó là quyết định hợp nhất các nhóm vũ trang trong nội đô để thành lập
Ban Công tác Thành vào tháng 3 năm 1946.
Nữ chiến sĩ biệt động Lê Thị Thu Nguyệt được đồng đội đặt tên là “Chim sắt”
Sau
năm 1954, phần lớn cán bộ hành chính và lực lượng quân sự thuộc chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tập kết ra Bắc. Số còn lại hoặc trở
về đời sống dân sự hoặc tiếp tục hoạt động chính trị dưới sự chỉ đạo của
Xứ ủy Nam Bộ. Các ban Công tác Thành phố về danh nghĩa đều được giải
thể.
Tuy nhiên, sau khi Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam cho phép lực lượng kháng chiến miền Nam được phép chuyển
sang đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị, Quân Giải
phóng tại miền Nam tái tập hợp và xây dựng lại lực lượng vũ trang. Trong
đó đặc biệt chú trọng phát triển lực lượng vũ trang nội đô, đặc biệt là
qua 2 hội nghị quân sự quan trọng của Quân khu Sài Gòn – Gia Định được
tổ chức trong tháng 9 và tháng 10 năm 1961.
Thông qua những hội nghị này, lực lượng biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn -
Gia Định dần được xây dựng lại. Đến năm 1963, 4 đơn vị biệt động cấp
quân khu được thành lập, gồm 65, 67, 69 và bộ phận trinh sát hoạt động ở
nội thành. Một năm sau, thành lập thêm các đội 66, 68. Biệt động cấp
quân khu được thành lập, đánh dấu bước phát triển trong quy mô và hiệu
quả của trận chiến trong nội đô với những chiến công vang dội.
Hiện trường một vụ tấn công của Biệt động Sài Gòn. (Ảnh chụp tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn-Gia Định)
Trong
thời kỳ “Chiến tranh đặc biệt” lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định,
trong đó đóng vai trò chủ yếu là lực lượng biệt động đã tiêu diệt quân
xâm lược Mỹ nhiều nhất trong toàn miền Nam. Từ những trận chiến đấu nhỏ
lẻ như ném lựu đạn, ám sát đã phát triển lên những trận chiến đấu vang
dội với kỹ năng chiến thuật tinh vi, điêu luyện như trận đánh cường tập
của đội biệt động 159 vào rạp Kinh Đô, nơi có hàng trăm sĩ quan cố vấn
Mỹ; đến trận đánh của đội biệt động 65 đánh tàu US Card chở máy bay vũ
khí Mỹ; trận đánh khách sạn Caravelle, đặc biệt là trận đánh bằng “mìn
nổ chậm” vào cư xá Brink diệt hàng trăm tên Mỹ…, gây tiếng vang, hỗ trợ
đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị và đặc biệt tiêu diệt được
một bộ phận lớn sinh lực quân xâm lược.
Từ
khi lực lượng biệt động cấp quân khu được xây dựng, đơn vị F100 được
thành lập thì quy mô và hiệu quả của các cuộc chiến đấu trong nội thành
ngày càng có tiếng vang lớn. Tiêu biểu là trận đánh cường tập vào Đại sứ quán Mỹ
ở đường Hàm Nghi - Quận 1, nhằm “dằn mặt” sự leo thang của Mỹ theo
Thông điệp đầu năm của Tổng Thống Lyndon B. Johnson ngày 04 tháng 01 năm
1965 “Mỹ phải có mặt ở miền Nam Việt Nam vì an ninh của bản thân nước
Mỹ và hòa bình Châu Á” và cũng để đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của
miền Bắc ruột thịt khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trận
đánh này diệt và làm bị thương 190 quan chức Mỹ, ngụy. Sau trận đánh
này, quân Mỹ ở Sài Gòn rơi vào tình trạng khiếp sợ và luôn bất an, khi
có tiếng nổ là tháo chạy, tìm nơi ẩn náu. Trong những năm từ năm 1965
đến năm 1967, biệt động Sài Gòn còn có nhiều trận đánh gây tiếng vang
lớn, như trận đánh nhà hàng Mỹ Cảnh (6/1965 của đội 67), đánh Tổng nha
cảnh sát ngụy (6/1965,) diệt gần 100 tên; trận tập kích vào khách sạn
Metropol (12/1965); trận đánh vào cư xá hỗn hợp Victoria (4/1965), tiêu
diệt 100 tên địch; pháo kích vào lễ đài ngày Quốc khánh ngụy quyền Sài
Gòn (11/1966); tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất (12/1966)…
Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đêm 30 rạng 31
tháng 01 năm 1968 (đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết), lực lượng biệt động
Thành đồng loạt tiến công vào các mục tiêu đầu não của bộ máy Mỹ - ngụy:
Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Bộ Tư lệnh Hải
quân ngụy, Đài phát thanh, những nơi vốn được coi là “bất khả xâm phạm”.
Biệt động Sài Gòn - Biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa Anh hùng cách mạng và sức mạnh lòng dân
Trước
giờ G (2 giờ) ngày N (31/1/1968) 3 phút, Đội 5 biệt động Thành là đơn
vị đặc biệt tinh nhuệ đã từng tập kích táo bạo nhiều mục tiêu trước đây,
gồm 17 người do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy đã nổ súng vào mục tiêu
trọng điểm là Dinh Độc Lập từ cổng đường Nguyễn Du, gần đường
Huyền Trân Công Chúa. Bị địch phản kích dữ dội, Đội 5 buộc phải triển
khai đội hình chiến đấu như bộ binh trên đường Nguyễn Du - Thủ Khoa Huân
với quân địch đông gấp nhiều lần. Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt đã
diễn ra đến tận sáng mùng 3 Tết, vượt xa kế hoạch 2 giờ là đánh giữ mục
tiêu được giao để quân tiếp viện đến. Dù phải dùng “sở đoản”, song với
mưu trí và lòng dũng cảm vô song, lực lượng đã tiêu diệt 2 xe jeep Mỹ,
diệt gần 50 tên Mỹ - ngụy. Đơn vị 17 người đã có 10 người hy sinh, còn
lại bị thương rồi bị bắt vào sáng ngày 3 tháng 1, đến năm 1973 mới trao
trả.
Trận
tập kích vào tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đêm 30, rạng ngày 31/1/1968 đã gây
chấn động dư luận Mỹ và thế giới. Ngày 1/2/1968, hình ảnh Tòa đại sứ Mỹ
bị tấn công được đăng trên trang nhất tờ New York Times đã làm bàng
hoàng cả nước Mỹ. Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chưa bao giờ
người Mỹ lại được nhìn hình ảnh chiến tranh gần và nóng bỏng đến như
vậy. (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát)
Mục tiêu Đại sứ quán Mỹ
dù mới được Bộ Tư lệnh Tiền phương II (Cánh Nam - Tây Nam) giao chưa
được một tuần, đội biệt động số 11 gồm 16 người do đồng chí Ngô Thanh
Vân (Ba Đen) chỉ huy đã anh dũng chiến đấu, dùng bộc phá đánh thủng một
mảng tường, dùng tiểu liên diệt bọn lính gác, đột nhập vào trong khuôn
viên, chiếm tầng trệt đến tầng 3 Tòa Đại sứ Mỹ, bắt một số lính Mỹ, thu
gom súng đạn. Dù bị phản kích mạnh từ nhiều lực lượng của địch đến ứng
cứu, lực lượng biệt động vẫn giữ được mục tiêu 6 giờ; 15 chiến sĩ hy
sinh, người chỉ huy - Ngô Thanh Vân (Ba Đen) bị bắt. Đây là trận đánh có
tiếng vang xa, làm rung động xã hội Mỹ, làm cho nhân dân Mỹ bàng hoàng
và hiểu rõ được thực chất của quân viễn chính Mỹ ở miền Nam Việt Nam,
thấy được sự dối trá của chính quyền Mỹ, từ đó tạo nên phong trào đấu
tranh đòi chấm dứt chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, gây
sức ép lên chính quyền của Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson lúc bấy giờ.
Lực lượng vũ trang nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã thể hiện sức mạnh, ý
chí, quyết tâm cao độ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên
những chiến công lịch sử trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Trong ảnh:
Quân Giải phóng mặt trận Sài Gòn - Gia Định tuyên thệ, nhận nhiệm vụ
trước giờ xuất kích. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Tại mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu ngụy,
cụm biệt động 6 - 9 gồm 25 cán bộ chiến sĩ do đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ
huy đã tấn công vào cổng số 5 ngã ba Trương Quốc Dung - Võ Tánh (nay là
Hoàng Văn Thụ). Địch sử dụng cả bộ binh, thiết giáp bao vây, cho phi
pháo yểm trợ, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Dù trong điều kiện
không phải là “sở trường” của biệt động, nhưng với một lực lượng nhỏ,
biệt động Sài Gòn đã tiêu diệt và làm bị thương 100 tên địch, bắn cháy 2
xe GMC. Kết quả, đơn vị biệt động có 10 người hy sinh, 4 người bị bắt
và 3 người mất tích.
Tại Đài Phát thanh Sài Gòn,
Đội 4 biệt động Thành gồm 14 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Gia Lộc chỉ
huy đã đánh chiếm mục tiêu một cách ngoạn mục, chỉ sau 5 phút nổ súng,
10 chiến sĩ Đội 4 đã chiếm lĩnh toàn bộ Đài. Rất đáng tiếc, bộ phận kỹ
thuật của ta không vào được để phát sóng Tuyên ngôn của Mặt trận dân tộc
giải phóng nên hạn chế tác động của chiến thắng. Sau 4 giờ 31 phút
chiếm giữ mục tiêu, vượt xa kế hoạch của Bộ Chỉ huy Phân khu 6 giao, đã
tiêu diệt được 38 tên địch, bắn cháy 1 xe bọc thép, 1 xe GMC, song ta
cũng có 10 chiến sĩ hi sinh.
Đêm
30, rạng 31/1/1968 (đêm mùng 1, rạng 2 Tết), 12 chiến sĩ Đội biệt động
số 3 đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn. Địch dùng cả xe tăng, bộ binh,
máy bay đánh giải tỏa liên tục. Đội biệt động đã chiến đấu quả cảm, đến
6h ngày 31/1, 10 người hy sinh, 2 chiến sĩ biệt động cuối cùng buộc phải
dùng bộc phá đánh hỏng các thiết bị phát thanh của địch. (Ảnh: Tư liệu
TTXVN)
Tại mục tiêu Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy,
Đội 3 biệt động Thành gồm 16 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Lém (Bảy
Lớp) chỉ huy cùng đồng chí Mười Lợi, Hai Quốc, gồm 16 chiến sĩ đã chiến
đấu ngoan cường trong suốt 4 giờ, diệt 12 tên địch. Kết quả, quân ta có
14 đồng chí hy sinh và 2 người bị bắt.
Tuy
có một số đơn vị biệt động như cụm 7 - 8 và đội 90c không tiếp cận được
mục tiêu Tổng Nha cảnh sát, Biệt khu Thủ Đô, Nhà lao Chí Hòa và đã phải
chịu tổn thất hết sức lớn, song lực lượng biệt động Sài Gòn - Gia Định
đã “mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn, gây chấn động lớn” đã lập
công đầu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Các
trận đánh của Biệt động Sài Gòn - Gia Định vào các cơ quan đầu não của
bộ máy chiến tranh của địch đã gây tiếng vang lớn, làm rung động cả thế
giới, tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt, cổ vũ, thôi thúc khí thế
chiến đấu của quân và dân ta, xứng đáng là lực lượng đặc biệt, tinh nhuệ
của Quân đội ta - Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Trong chiến dịch này, lực lượng Biệt động Sài Gòn
bị tổn thất khá nặng nề. Thứ nhất là mất nhiều cán bộ có trình độ am
hiểu chiến trường và có bản lĩnh chiến đấu; số người bị tử trận, bị bắt ở
các mũi tiến công khá lớn. Tổn thất thứ hai là các cơ sở nuôi giấu cán
bộ tại chỗ vốn được dày công xây dựng đã bị lộ hàng loạt, quân đội Mỹ và
Sài Gòn đã sát hại nhiều cộng sự thân tín của lực lượng Biệt động và
gây hệ lụy cho những người liên quan trong gia đình họ.
b- Những trận đánh lẫy lừng của các chiến sĩ đặc công:
Binh
chủng đặc công có ngày thành lập (ngày truyền thống binh chủng) là ngày
19 tháng 3 năm 1967 với thành phần tổ chức lực lượng lúc mới thành lập
gồm 9 tiểu đoàn đặc công; Trường bổ túc cán bộ và 3 cơ quan.
Tuy ngày thành lập chính thức là năm 1967, nhưng từ Chiến
tranh Đông Dương (1946 - 1954), cách đánh "công đồn đặc biệt" ở chiến
trường Nam Bộ, cách đánh và tổ chức đặc công đã phát triển nhanh chóng,
hình thành ba loại lực lượng gồm Đặc công bộ, Đặc công nước và Đặc công
biệt động.
Trong Chiến tranh Đông Dương, Ở chiến trường Nam Bộ, Việt Minh gặp khó khăn do chưa có chiến thuật hữu hiệu và loại vũ khí có
đủ sức công phá tường dày của tháp canh. Qua nhiều lần thử nghiệm thắng
lợi, đặc biệt là trận đánh đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948 tiêu diệt
đồn cầu Bà Kiên, đã mở ra một khả năng mới đánh địch trong vị trí cố thủ
vũng chắc. Từ thực tế đánh tháp canh, Việt Minh đúc kết được kinh
nghiệm thực tiễn, làm tiền đề cho chiến thuật đặc công ra đời.
Đêm 21 rạng sáng 23/3/1950, tại chiến trường Biên Hòa, với vũ khí phá
tường FT, 50 tổ chiến đấu đã đồng loạt tấn công 50 tháp canh, gây hoang
mang lớn cho quân địch. Từ thực tiễn trận đánh này, Tỉnh đội Biên Hòa và
Phòng Tham mưu Quân khu 7 đã tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và đặt
tên cách đánh đó là "công đồn đặc biệt", gọi tắt là "Đặc công".
Ngày 19/3/1967, trong buổi lễ công bố quyết định thành lập Binh chủng Đặc công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Đặc công tức là công tác đặc
biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ
đặc công được tin tưởng đặc biệt... Dù bất kỳ nhiệm vụ nào, nhất là
những nhiệm vụ đặc biệt, cũng phải hoàn thành cho tốt... Trước mọi khó
khăn, dù đặc biệt đến đâu, cũng phải kiên quyết vượt qua và khắc phục
bằng được." Từ đó, ngày 19/3/1967 chính thức được xác định là Ngày truyền thống của Bộ đội Đặc công....
Trong Kháng chiến chống Mỹ, bộ đội đặc công trên các chiến trường đã đánh hàng chục nghìn trận;
loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm nghìn quân đối phương (gồm cả Mỹ và
đồng minh); tiêu diệt và đánh thiệt hại hàng trăm sở chỉ huy các cấp;
phá hủy và phá hỏng hàng nghìn máy bay các loại, 1600 khẩu pháo, 30 giàn
tên lửa, 9000 xe quân sự, 2,7 triệu tấn bom đạn, 600 triệu lít xăng
dầu; đánh chìm, đánh hỏng 400 tàu xuồng chiến đấu.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968,
bộ đội đặc công đã đánh đồng loạt vào những mục tiêu hiểm yếu, quan
trọng của đối phương ở hầu khắp các thành phố, thị xã miền Nam, góp phần
làm suy sụp tinh thần nước Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh.
Vào đêm ngày 21-22 tháng 1 năm 1971, Đội đặc công 25 và Tiểu đoàn 7 đặc công Phước Long, do đoàn trưởng Tống Viết Dương
chỉ huy đã tiến hành một cuộc tập kích ngoạn mục vào căn cứ không quân
Pochentong (Campuchia) của quân Lon Nol thân Mỹ. Khoảng 50 lính gác
Campuchia tử trận và khoảng 300 bị thương,
nhiều xe cơ giới, 69 máy bay (52 chiếc của không quân Lon Nol và 17
chiếc của Không quân Sài Gòn) bị phá hủy hoặc hư hại nặng trong trận
này, trong khi phía Việt Nam chỉ tổn thất 3 người tử trận.
Tổng
cộng phía Hoa Kỳ ghi nhận có 5 cuộc tấn công vào các sân bay quân sự Mỹ
tại Thái Lan là Udorn, Ubon (3 lần) và Utapao. Theo phía Hoa Kỳ cho
biết, cuộc tấn công vào Udorn gây hư hỏng nặng cho một C-141, hư hại
trung bình một F-4, hư hại nhẹ cho một trực thăng HH-43. Cuộc tấn công
vào Ubon phá hủy 2 máy bay C-47 và một xe tải. Tại Utapao, một B-52 bị
hư hại trung bình và hai chiếc B-52 khác bị hư hại nhẹ.
Đầu tháng 3/1968, 30 đặc công Việt Nam cùng 9 lính công binh bắt đầu đợt
tấn công căn cứ radar Lima 85 của Mỹ đặt tại Lào. Căn cứ được đặt trên
độ cao 1.700 mét, được bao quanh bởi các vách đá, chỉ có một con đường
dốc xuống tới một bãi đáp dài 700m. Các đặc công được trang bị súng
trường AK-47, súng SKS, thuốc nổ, lựu đạn và 3 ống phóng lựu. 6 giờ tối
ngày 11/3, 1 đợt pháo kích hỗ trợ cho nhóm đặc công dọn mìn và mở đường
đến căn cứ. Đến 9 giờ tối, các đặc công Việt Nam bắt đầu trèo lên vách
đá, chia làm 5 nhóm để đồng thời tấn công từ nhiều phía. Các đặc công
Việt Nam đã vào vị trí vào lúc 3 giờ sáng, tiêu diệt lính gác và trạm
radar TSQ-81 bằng các ống phóng lựu. Chỉ huy căn cứ là thiếu tá Clarence
Barton và nhiều nhân viên kỹ thuật của không lực Mỹ khi chạy ra đã bị
đặc công Việt Nam tiêu diệt. Nhóm đặc công chỉ tổn thất 1 người trong
khi đã phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh giá trị và tiêu diệt ít
nhất 42 quân địch, bao gồm lực lượng Thái Lan, người Mông và các nhân
viên quân sự Mỹ. Chỉ có 6 trong 18 nhân viên CIA và phi công Mỹ tại căn
cứ là sống sót, sự kiện này được Mỹ giấu kín trong suốt 3 thập kỷ
Từ năm 1965 đến 30-4-1975, bộ đội đặc công Rừng Sác
đã đánh 595 trận, diệt 6.200 quân địch; đánh chìm hoặc bắn cháy 365
tàu, xuồng chiến đấu; đánh đắm 133 tàu vận tải từ 800 đến 13.000 tấn và
bắn cháy 145 tàu vận tải khác; bắn rơi 29 máy bay trực thăng; phá hủy
200 triệu lít xăng và khí đốt. Đêm ngày 2 rạng ngày 3/12/1973, Đặc công rừng Sác đã có một trận đánh
gây tiếng vang lớn trên thế giới với việc phá hủy tổng kho xăng dầu Nhà
Bè, thiêu trụi gần 250 triệu lít nhiên liệu, 12 bồn chứa cỡ lớn, một tàu
dầu của Hà Lan có trọng tải 12.000 tấn, một cơ sở lọc dầu, một cơ sở
trộn nhớt và một khu chứa lương thực cũng bị phá hủy hoàn toàn, thiệt
hại tổng cộng 20 triệu USD theo thời giá lúc đó. Trong 15 năm chiến đấu,
tổng số hơn 1.000 chiến sĩ đặc công rừng Sác thì có đến 860 đã hy sinh
(trong đó 767 người hy sinh từ năm 1966 tới 1975),
trong đó có 542 chiến sĩ đến nay vẫn chưa tìm thấy xác. Ngày 23/9/1973,
Đoàn 10 - Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tổng kho Long Bình
khi đó là kho dự trữ chiến lược lớn nhất ngoài nước Mỹ của quân đội Hoa
Kỳ, xây dựng từ giữa năm 1965 với mục đích phục vụ cho cuộc chiến ở
Việt Nam, là nơi chứa hàng trăm nghìn tấn bom, đạn, vũ khí, quân
trang... của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Kho được tổ chức phòng thủ chặt
chẽ, xung quanh có từ 7 đến 12 lớp hàng rào kết hợp với việc gài mìn, có
nhiều lô cốt cách nhau 30–40 m nằm cách lớp rào cuối cùng từ 40 đến 50
m, cây xanh trong khu vực bị phá sạch để không có chỗ ẩn nấp, và thường
xuyên có 2.000 sĩ quan, binh lính bảo vệ ở đây. Tuy nhiên, đặc công quân
Giải phóng vẫn tấn công thành công nhiều lần, gây cho địch nhiều tổn
thất lớn.
Chúngta sẽ kể một số trận đánh lừng lẫy, tiêu biểu:
a- Gài bom phá nổ kho Long Bình 1972:
ngôi nhà của Đại tá Đỗ Văn Ninh nằm sâu trong ngõ nhỏ sau ngôi chùa Đọ
Xá, phường Ninh Xá (thành phố Bắc Ninh) rộn rã tiếng cười. Rót chén trà mời khách, ông kể cho chúng tôi nghe
những ký ức chiến tranh. Đó là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, từ
trận chiến Tết Mậu Thân 1968, đến Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch
Huế-Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh… Nhưng ấn tượng nhất trong cuộc đời
binh nghiệp với ông chính là trận gài bom phá nổ Tổng kho Long Bình
(Đồng Nai) năm 1972.
Đại tá Đỗ Văn Ninh kể lại: “Tổng kho Long Bình nằm trên hướng Đông Bắc
Sài Gòn, gồm một dãy 16 quả đồi, nối tiếp nhau theo hình cánh cung, bao
quanh thị xã Biên Hòa, có diện tích 24 km2. Phía Tây Nam có sông Đồng
Nai, phía Đông Bắc có sông Buông. Sau khi nhận lệnh đột nhập Tổng kho
Long Bình, Trung đoàn Đặc Công 113 tổ chức 3 mũi trinh sát (mỗi mũi có 4
đến 5 người) nghiên cứu sơ đồ, địa hình, căn cứ, lực lượng của địch.
Sau 3 ngày, các trinh sát nắm bắt được, tại đây Mỹ hình thành 4 khu: Khu
A chứa hàng quân tiếp vụ; khu B chứa thiết bị quân sự và thiết bị thông
tin liên lạc; khu C đặt Sở Chỉ huy tiểu khu Long Bình; khu D gồm 2 khu
kho 50 và 53 chứa đạn. Do tính chất chiến lược đặc biệt quan trọng, tổng
kho được bảo vệ nghiêm ngặt. Những tổ trinh sát của chúng tôi gặp rất
nhiều khó khăn khi tiếp cận vào bên trong bởi nhiều hàng rào phức tạp,
từ ngoài vào trong, nhất là hàng rào thứ 9. Đây là hàng rào làm bằng
loại thép to, chắc và cứng (không thể dùng kéo cắt) được hàn lại với
nhau, khác xa so với các loại rào chắn thông thường. Hàng rào này có tên
là “mắt cáo”. Các múi hàn tạo ra một góc khoảng 45o, hai thanh thép
chắc tạo ra góc ấy cũng chính là điểm tựa để chúng tôi dùng phương pháp
đòn bẩy bật múi hàn ra. Khi người chui qua, “mắt cáo” được khép lại như
cũ, địch khó phát hiện”.
Kho đạn tại Long Bình bốc cháy với cột khói cao hàng trăm mét
Ban ngày các trinh sát nằm trú ẩn trong
các căn cứ địch và khi màn đêm buông xuống, họ lại tiếp tục nghiên cứu
chi tiết từng kho và cách canh gác, tuần tiễu của địch. Càng vào sâu,
tình huống đặt ra càng khó khăn, phức tạp. Điểm cuối cùng là kho tập kết
vũ khí, nhưng tất cả các cửa kho, địch khóa bằng một loại khóa đặc
biệt. Để giải quyết vấn đề này, Tham mưu phó Đỗ Văn Ninh chỉ huy một mũi
trinh sát vào nghiên cứu, tìm cách mở khóa để chiến sỹ ta đưa vũ khí
lọt vào trong kho gài đặt đúng vị trí hiểm yếu nhất.
Trên
cơ sở nắm chắc tình hình địch, Trung đoàn đặc công 113, do các đồng chí
Nguyễn Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng và Đỗ Văn Ninh, Tham mưu phó Trung
đoàn 113 trực tiếp chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến nhằm mục tiêu
phá hủy bí mật theo 4 bước: Bước 1 cắt rào; bước 2 mở khóa; bước 3 đặt
bom nổ chậm; bước 4 rời nhanh khỏi trận địa. Lực lượng tham gia gồm 57
cán bộ, chiến sỹ, chia làm 2 bộ phận trực tiếp đánh nội tuyến và bảo vệ
hành lang. Vũ khí trang bị gồm 220 quả bộc phá gắn ngòi nổ hẹn giờ, dụng
cụ cưa khóa, mở cửa kho…
Đại tá Đỗ Văn Ninh nhớ lại: “Đêm 12-8-1972, các cán bộ, chiến sỹ tham
gia trận đánh do tôi chỉ huy vào khu vực Tổng kho Long Bình. Rất may,
đêm đó địch cho mở cửa xả hơi thông gió các dãy kho. Các chiến sỹ của ta
nhanh chóng áp sát mục tiêu cài đặt mìn các kho. Đúng 4 giờ sáng ngày
13-8, bộc phá phát nổ. Ở giữa căn cứ Long Bình, những tia chớp xanh lè
vọt lên trên nền trời cao rộng, những đám lửa đỏ ngầu, cuồn cuộn bốc lên
sáng rực một vùng trời. Cả thị xã Biên Hòa rung lên như động đất. Trong
tiếng nổ đanh, giòn của đủ loại bom đạn, quân địch nháo nhác, hoảng
loạn và bất lực, chỉ biết nhìn kho dự trữ chiến lược chìm trong biển
lửa”• Ngay tối hôm ấy (14-8-1972 ) đài BBC đưa tin: “Phân khu 53 tổng
kho Long Bình bị quân cảm tử đặc công Việt cộng luồn sâu đặt mìn, phá
huỷ trên 6.000 tấn bom đạn. Trên thực tế vượt rất xa khối lượng mà đối
phương thừa nhận.
Kết quả, quân ta phá huỷ 200 kho, 17
dãy nhà, thiêu huỷ 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu, 200 tấn chất nổ, diệt
và làm bị thương 300 quân địch. Toàn bộ cán bộ, chiến sỹ ta rút về an
toàn trong niềm vui khôn xiết của nhân dân vùng hậu cứ đón những người
con chiến thắng trở về.
Chỉ có một
đội viên tên Trần Xuân Thưởng, quê Thanh Hoá đi lạc đội hình nên bị địch
bắt. Nhưng anh không hề khai báo gì, sau đó chúng đày ra đảo Phú Quốc,
đầu năm 1973 được trao trả tại Lộc Ninh.
Sau trận đánh lừng lẫy vào Tổng kho Long Bình, đồng chí Đỗ Văn Ninh cùng
với Trung đoàn Đặc Công 113 tham gia nhiều chiến dịch, đến ngày giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1978, đồng chí Đỗ Văn
Ninh vinh dự được Đảng, Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.
Có 4 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ
trang nhân dân thuộc Đoàn Đặc Công 113, tham gia trinh sát điều nghiên
,trực tiếp chỉ huy trận đánh Tổng kho Long Bình năm 1972 , là : Nguyễn
Thanh Tùng , Đỗ Văn Ninh,, Ngô Văn Sơn , Hồ Văn Sinh . Người cao tuổi
nhất là Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng
b- trận đánh kho xăng Nhà Bè:
Trận đánh kho xăng Nhà Bè (diễn ra vào đêm ngày 2, rạng sáng ngày 3/12/1973) là một trong những trận tập kích vang dội nhất của lực lượng Đặc công Rừng Sác (Đoàn 10). Trận đánh đã phá hủy kho nhiên liệu lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.
Đặc
công rừng Sác là một trong những lực lượng chiến đấu đặc biệt của quân
đội ta trong Chiến tranh Việt Nam với khả năng xuất quỷ nhập thần trên
chiến trường. Vào đêm ngày 2, rạng sáng mồng 3.12.1973, Đặc công rừng
Sác đã có một trận đánh táo bạo gây tiếng vang chấn động địa cầu với
việc tấn công tổng kho xăng dầu Nhà Bè, kho chứa nhiên liệu lớn nhất
miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Nguồn ảnh: VietNamNet.
Trong
giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1970, Tổng kho xăng dầu Nhà Bè là nơi dự
trữ hàng hóa cho ba Tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới lúc bấy giờ là
Caltex, Shell và Esso. Trong đó kho của Shell là lớn nhất cung cấp 60%
xăng, dầu cho các hoạt động quân sự và dân sự trên toàn miền nam. Nguồn
ảnh: Reds.
Do
tầm quan trọng đặc biệt này mà kho xăng Nhà Bè được bảo vệ cực kỳ
nghiêm ngặt với 12 lớp rào bao bọc bao gồm hàng rào và song sắt. 12 lớp
hàng rào là tương đương với số lượng hàng rào Pháp dựng lên để bảo vệ cứ
điểm ở Điện Biên Phủ. Ảnh chụp thám không kho xăng Nhà Bè vào năm 1970.
Nguồn ảnh: flickr.
Để
tránh phải đối đầu với 12 lớp hàng rào thép và hàng chục toán lính
canh, các chiến sỹ Đặc công rừng Sác đã mưu trí, tận dụng con sông Soài
Rạp ngay bên bờ kho xăng, các chiến sĩ của ta đã thả mình trôi theo theo
dòng sông để tiếp cận mục tiêu khó nhằn này. Trong ảnh là kho xăng Nhà
Bè trước và sau khi bị tấn công. Nguồn ảnh: flickr.
Sau
khi tiếp cận được các kho chính của tổng kho Nhà Bè, tổ chiến đấu với 8
chiến sỹ của Đặc công rừng Sác đã cho kích nổ đồng loạt toàn bộ các
khối mìn mà họ mang theo vào lúc 0 giờ 35 phút sáng ngày 3.12.1972 biến
kho xăng Nhà Bè thành một biển lửa, sáng rực bầu trời Sài Gòn. Những vụ
nổ gián tiếp trong kho xăng đã làm hàng triệu lít nhiên liệu bốc cháy,
gây ra phản ứng dây chuyền không thể khống chế được. Nguồn ảnh:
Pinterest.
Thiệt
hại nặng nhất thuộc về hãng Shell với các bồn xăng cháy liên tục trong
suốt 12 ngày đêm. Các hãng khác như Caltex, Esso do lo sợ lửa lan tới sẽ
thiêu trụi toàn bộ cơ sở vật chất của mình nên đã phải mở van, xả xăng
dầu đổ thẳng ra sông để tránh thảm kịch. Tổng thiệt hại các tập đoàn dầu
khí Mỹ phải hứng chịu sau trận đánh táo bạo của Đặc công rừng Sác lên
tới hơn 20 triệu USD. Nguồn ảnh: Pinterest.
Hàng
loạt các tờ báo lớn ở Sài Gòn cũng như các hãng thông tấn trên thế giới
đều đưa tin về vụ tấn công có một không hai của đặc công Việt Nam vào
tổng kho xăng dầu Nhà Bè. Lực lượng Đặc công rừng Sác từ đây cũng được
cả thế giới biết đến như một trong những lực lượng chiến đấu đặc biệt
tinh nhuệ nhất thế giới. Ảnh: các chiến sĩ Đặc công rừng Sác trước khi
tham gia đánh kho xăng Nhà Bè. Nguồn ảnh: baoquangbinh.vn.
Kho
xăng Nhà Bè cháy liên tục trong 12 ngày đêm trước khi ngọn lửa được dập
tắt hoàn toàn. Ảnh: cột khói bốc lên ở kho xăng Nhà Bè nhìn từ phía
sông Soài Rạp. Nguồn ảnh: Pinterest.
Tổng
cộng, các chiến sĩ Đặc công rừng Sác đã thiêu trụi gần 250 triệu lít
nhiên liệu, 12 bồn chứa cỡ lớn và một tàu dầu của Hà Lan có trọng tải
12.000 tấn. Một cơ sở lọc dầu, một cơ sở trộn nhớt và một khu chứa lương
thực cũng bị phá hủy hoàn toàn, thiệt hại tổng cộng 20 triệu USD. Nguồn
ảnh: Baotintuc.
Lực
lượng Đặc công rừng Sác với trang bị vũ khí ở mức tối thiểu nhưng với
chiến thuật và lối đánh tài tình vẫn có thể luồn sâu đánh hiểm vào các
căn cứ được bảo vệ bậc nhất miền Nam Việt Nam khi đó, tạo nên tiếng vang
trên toàn thế giới. Nguồn ảnh: Baonghean.
Hình
ảnh Đại tá Lê Bá Ước, Chính ủy đoàn 10 Đặc công rừng Sác, người trực
tiếp chỉ huy trận đánh vào kho xăng Nhà Bè năm 1973. Về phía ta, có hai
trong tám chiến sĩ tham gia trận đánh hi sinh là đồng chí Nguyễn Công
Bao và Phạm Văn Tiềm. Theo thông tin ta khai thác được, hai anh đã bị 7
tàu địch vây chặt, chúng bắt được và lôi lên tàu. Khi địch lại gần, hai
chiến sĩ đã rút lựu đạn quyết tử khiến hàng chục tên địch thương vong.
Nguồn ảnh: Youtube.
c- Trận đánh Utapao:
Anh hùng LLVTND trung tá Bùi Văn Phương - nguyên Đoàn phó kiêm TMT Đoàn
Đặc công biệt động 1, Binh chủng Đặc công. Ông sinh năm 1940, tại xã Yên
Mỹ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông chính là người đã tham gia trận
đánh phá hủy 8 chiếc B52 của Mỹ trên đất Thái Lan năm 1972.
Khi Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2, Bác Hồ đã nhận
định: "Mỹ sẽ đưa B52 ra đánh phá miền Bắc…”. Đầu năm 1969, khi về thăm
Binh chủng Đặc công, nghe báo cáo kết quả chiến đấu xuân Mậu Thân 1968,
đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đảng đã chỉ thị:
“Đặc công phải tiến sâu vào lòng địch, đánh phá các căn cứ, các cơ quan
đầu não và phương tiện chiến tranh… Đánh vào hậu cứ ví như ta dùng kim
chọc vào mắt địch, tác dụng rất lớn, rất đau…”.
Anh hùng LLVTND, trung tá Bùi Văn Phương (được phong 20.12.1979) - người
trực tiếp đánh vào sân bay UTAPAO. Ông cùng Liệt sĩ- Anh hùng LLVTND Vũ
Công Đài phá hủy 8 chiếc B52 của Mỹ trên đất Thái Lan năm 1972, riêng
ông Phương 5 chiếc. (Ảnh: N.H) do tác giả cung cấp.
Từ nhận định của Bác và chỉ thị của Tổng Bí thư, tháng 4/1968, Binh
chủng Đặc công lần lượt thành lập các đơn vị Đặc tình (Đặc công hoạt
động theo phương thức Tình báo) gồm: Đoàn 1A, Đoàn A54 và Đoàn S74 làm
nhiệm vụ trên 3 hướng ở ngoại biên, nơi có các sân bay và kho bom đạn
của Mỹ đặt trên đất Thái Lan xuất phát đi đánh phá Việt Nam.
Đoàn 1A do đại úy Lê Toàn làm Đoàn
trưởng kiêm Chính trị viên (Đồng chí Lê Toàn sau này là Thiếu tướng, Phó
Tư lệnh về Chính trị Binh chủng Đặc công. Ông đã mất gần 10 năm). Đoàn
có nhiệm vụ nghiên cứu các mục tiêu là sân bay UBÔN, UĐONvà UTAPAO (gọi
tắt là UB, UĐ và UT). Trong đó, UB và UĐ có các loại máy bay tiêm kích
bom. Còn UT được Mỹ xây dựng từ năm 1952, đến năm 1968, Mỹ đầu tư xây
dựng thành căn cứ không quân chiến lược B52 lớn nhất Đông Nam Á, đặt tại
một tỉnh ven biển miền Trung, cách thủ đô Bangkok (Thái Lan) 150km về
hướng Tây.
Sau khi thành lập, các đơn vị tuyển nhân sự và tổ chức huấn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho 2 đối tượng.
Đối
tượng thứ nhất là tuyển chọn Việt kiều từ Thái Lan đã về nước sinh
sống, có nghề nghiệp phù hợp với nhiệm vụ, nhất là đọc thông, viết thạo
ngôn ngữ Thái Lan, hiện đang có thân nhân sinh sống hợp pháp ở Thái Lan.
Sau đó, các đơn vị tổ chức huấn luyện kỹ, chiến thuật nghiệp vụ tác
chiến Đặc công: Cách tạo vỏ bọc, chống phản gián, cách khai thác thông
tin, nắm tình hình địa bàn mục tiêu và trở lại Thái Lan nằm vùng hoạt
động hợp pháp.
Đối tượng thứ hai là
chọn chiến đấu viên gồm những cán bộ chiến sĩ trong binh chủng, có phẩm
chất chính trị, sức khỏe tốt, sẵn sàng chịu đựng khó khăn gian khổ và
thậm chí cả hy sinh; giỏi đọc bản đồ, địa bàn và đi góc phương vị…
Đặc công Việt Nam và những phi vụ đánh B-52 ngay tại sào huyệt
Từ Hà Nội, chúng tôi bí mật hành quân
theo đường Trường Sơn vào tận Lộc Ninh, rồi quay ra đến cao nguyên Bô Lô
Ven, sau đó mới chuyển sang hướng Tây. Nơi trú quân phải bảo đảm bí
mật, an toàn. Đây là nơi gần nhất và thuận lợi nhất khi tiếp cận mục
tiêu. Mọi sinh hoạt phải tự túc, tự mua sắm bằng ngoại tệ, kể cả vũ khí.
Sau
thời gian ngắn, lực lượng công khai được các cơ sở giúp đỡ nên đã nhanh
chóng ổn định việc làm và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Hầu hết, họ làm
thợ máy, thợ ô tô… xung quanh mục tiêu.
Từ
hậu cứ vào mục tiêu UB là 100km, UT là 300km. Vì vậy chúng tôi phải
huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu phù hợp với từng mục tiêu.
Ví dụ, để đi góc phương vị không bị lạc khi không có bản đồ, địa bàn,
các chiến đấu viên phải xác định phương hướng bằng cách quan sát trăng,
sao, cây cối, hướng chảy của sông suối… Thâm nhập vào mục tiêu bằng góc
phương vị, chủ yếu phải đi đêm, ban ngày nghỉ ẩn nấp, nhiều khu vực
không có chỗ ẩn nấp an toàn, các chiến đấu viên phải đào hầm bí mật,
bình quân 24 giờ phải đi được 20km trở lên.
Mỗi lần ra đi làm nhiệm vụ, các chiến
đấu viên phải kê khai quân tư trang, viết thư gói vào ba lô, tập trung
vào một chỗ để đơn vị quản lý, phòng khi không may. Lúc về, họ được nhận
lại.
Về vấn đề ăn thôi cũng rất nan
giải. Tất cả đều được cất gọn trên lưng, mang vác ra sao để vừa gọn
nhẹ, vừa bảo đảm sức khỏe, vừa bí mật… Qua nhiều lần thử nghiệm, đơn vị
đã đi đến cách tối ưu nhất là lấy thóc nếp xay, bỏ trấu, không giã, để
nguyên cám, ngâm nước, xóc muối, đồ xôi, phơi khô, rang phồng như kiểu
làm cốm, trộn thêm ít đường. Mỗi ngày ăn 2 bát, loại bát B52.
Vậy
là đi về 1 tháng, chiến đấu viên phải mang 60 bát, cũng nặng tới 10kg,
rồi tư trang, súng đạn, tất tần tật gùi trên vai cũng xấp xỉ 30kg. Nước
uống thì tùy nghi gặp sông suối đâu uống đó, không mang bi đông để giảm
bớt cồng kềnh gây khó chui luồn và nặng thêm 1kg.
Mỗi
lần hoàn thành một chuyến đi - về, người sút cân ít nhất cũng là 5kg,
có người hao tới 14kg, bởi đói, thiếu ngủ, muỗi, vắt, sốt rét… Không ít
lần gặp địch, đơn vị còn tổn thất, thương vong.
Những
năm 1970 - 1972, đơn vị đã thực hành nhiều trận chiến đấu vào các mục
tiêu UB và UĐ, phá hủy nhiều máy bay và bom đạn, nhưng tổn thất cũng rất
lớn. Có trận đi 6 chiến đấu viên, nhưng khi về chỉ còn một. Có trận 2
đồng chí bị bắt. Sau này, khi đất nước thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng sang thăm Thái Lan mới đưa được các anh về nước.
Riêng
mục tiêu UT, Mỹ bố phòng cẩn mật, lại quá xa hậu cứ và chưa đưa được
người vào làm việc trong sân bay nên không nắm rõ bố phòng, dù đã đi soi
đường, trinh sát nhiều lần, nhưng đơn vị chưa thể tổ chức đánh lần nào.
Đầu năm 1972, Mỹ dùng sức mạnh quân sự
để ép ta tại Hội nghị Paris và sử dụng UT đánh phá Hà Nội, Hải Phòng…
Chúng tôi nhận lệnh từ Hà Nội phải đánh vào UT, không thể chần chừ.
Nếu
sử dụng lực lượng từ hậu cứ tập kích, đơn vị không chắc thắng, nên phải
sử dụng lực lượng nhỏ đang hoạt động công khai để tiến công. Trung tá
Lê Toàn trực tiếp vào giao nhiệm vụ cho Bùi Văn Phương ( người Ý Yên ,
Nam Định) và Vũ Công Đài là 2 cán bộ đang làm thợ gần đó vào chiến đấu.
Mỗi
người nhận từ cơ sở 4 quả thủ pháo loại hợp chất C4, một quả lựu đạn
US, một khẩu súng côn Mỹ và 20 viên đạn, mua 2 bộ quần áo.
19h,
trời tối, nhưng sân bay sáng rực. Quan sát thấy cả hàng rào kẽm gai dày
đặc, khi đột nhập vào kéo nhỏ mang theo không thể cắt nên hai chiến đấu
viên phải chui luồn để vượt qua rào. Khi cách 300m, gặp lính và xe tuần
tra trong sân bay, 2 đồng chí phải vòng tránh. Nhưng khi vào cách mục
tiêu 50m, cả hai đã bị lộ và bị địch truy đuổi. Đồng chí Phương dùng lựu
đạn ném, nhưng không nổ.
B-52 bị đặc công Việt Nam phá hủy tại sân bay Utapao. Ảnh: Tư liệu
Lợi dụng
lúc địch đang hỗn loạn, các anh xông thẳng vào khu để B52, cứ nhằm ụ
(mỗi máy bay có một ụ che đỡ dày và cao) mà ném thủ pháo vào. Ném hết
thủ pháo, máy bay bốc cháy, lúc này, địch bắn pháo sáng và truy đuổi ráo
riết. Đồng chí Đài lao ra theo hướng cửa mở, địch đuổi theo bắn, anh hy
sinh. Đồng chí Phương chạy vào hướng kho bom, địch không dám bắn theo
nên thoát được ra an toàn.
Sau trận
đánh, đồng chí Phương báo cáo đánh được 5 chiếc B52, nhưng khi tên giặc
lái B52 Mỹ bị bắt tại Hà Nội khai UT bị đánh, thiệt hại 8 B52 và không
còn khả năng hoạt động.
Sau đó ít
lâu, tôi được cử làm tổ trưởng tổ công tác vào đón đồng chí Phương ra
hậu cứ. Mùa mưa, suối sâu, nước chảy mạnh, đồng chí Phương đang sốt rét
nặng. Cõng anh qua suối, tôi trượt chân ngã dúi dụi, đầu gối chân trái
trật khớp, tay phải chống xuống bị gãy 2 xương cổ tay. Anh Phương ngã
đập mặt vào đá bị gãy 2 răng cửa. Từ đó chia tay nhau, anh về nước, tôi ở
lại cứ tiếp tục nhiệm vụ cho đến khi cả hai nghỉ hưu vẫn không được gặp
nhau.
Hơn 40 năm sau, tháng 4/2018,
đại tá Bùi Văn Phương và tôi được mời về Hà Nội dự kỷ niệm 50 năm ngày
thành lập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1, anh em gặp lại nhau, ôm lấy nhau
mà khóc.
Khi lên phát biểu tại lễ
kỷ niệm, anh xúc động nói: “Tôi được tuyên dương Anh hùng, nhưng 8 đồng
chí đi chiến đấu cùng tôi hy sinh và nhiều đồng chí bị thương như đồng
chí Hòa đây. Thật chẳng có giá nào để so sánh được, các đồng chí ấy cũng
xứng đáng… Thương nhất là anh em hy sinh nay vẫn chưa lấy được hài cốt
về quê”.
14/ Trận Điện Biên Phủ trên không:
Chiến dịch Linebacker II (tiếng Anh: Operation Linebacker II), còn gọi là Trận mưa bom Giáng Sinh hay Mười hai ngày đêm, hay Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (theo cách chúng ta gọi),
là trận không chiến cuối cùng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,
diễn ra từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12 năm 1972 trên bầu trời miền Bắc
Việt Nam trong bối cảnh các cuộc hòa đàm Paris hướng đến việc chấm dứt
chiến tranh Việt Nam và lập lại hòa bình đi đến ngõ cụt.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không
quân, ngày 30/12/1972, lực lượng nòng cốt cùng quân và dân Thủ đô đập
tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ vào Hà Nội. Ảnh:
TTXVN
Chiến
dịch này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra từ
tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, ngoại trừ điểm khác biệt lớn là lần này
Hoa Kỳ sẽ tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 thay vì
các máy bay ném bom chiến thuật,
mục đích là dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các
trung tâm đầu não của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại chiến dịch này,
Hoa Kỳ đã huy động loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất của họ là
pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà
Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn
và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném
bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc
tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.
Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã
ném xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.
Tuy
đã hết sức cố gắng, dã không gặt hái được gì mà còn phải chịu thiết hại
hết sức nâng nề, Tổng thống Richard Nixon đã phải ra lệnh chấm dứt
chiến dịch vào ngày 30 tháng 12, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris. Tại
đây, Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris
trên cơ sở dự thảo mà trước đó họ đã từ chối ký kết (vì đây là dự thảo
có những điều khoản có lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Sau chiến
dịch ném bom khí thế, lòng tự hào trong Quân đội nhân dân Việt Nam và
người dân tại miền Bắc Việt Nam lên rất cao: họ không chỉ đánh thắng
được "thần tượng B-52" mà còn buộc Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris với
những nội dung có lợi cho họ, đó là những cơ sở để phía Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà coi chiến dịch này là một thắng lợi chiến lược to lớn.
Đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 trong trận 12 ngày đêm. (Ảnh: TTXVN)
Sau
thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch Lam Sơn 719,
quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam liên tục mở các cuộc tấn công
vào các căn cứ và vị trí chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa qua chiến dịch
Xuân Hè 1972, làm thất bại kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh
của Mỹ. Nhằm giữ thể diện của một siêu cường quân sự và để rút quân
trong danh dự, Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch đánh bom lần cuối này với ý
định "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá", giảm bớt sự hỗ trợ quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chiến trường miền Nam.
Tại
Paris cuối tháng 11 năm 1972, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ một lần
nữa lâm vào bế tắc. Để chiều lòng Thiệu, ngày 20/11/1972, cố vấn Henry
Kissinger đề nghị sửa đổi 69 điểm trong bản dự thảo Hiệp định, theo đó,
Hoa Kỳ muốn "có đi có lại", khi quân Mỹ rút khỏi Việt
Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận, vì đề nghị như vậy đặt họ
ngang hàng với kẻ xâm lược là Mỹ, đồng thời sẽ khiến quân Giải phóng gặp
rất nhiều khó khăn sau này.
Ngày 23/11/1972, khi gặp Lê Đức Thọ, Henry Kissinger đã đọc bức điện của
Nixon ngầm đe dọa ngừng đàm phán, ném bom trở lại. Tuy nhiên ông Lê Đức
Thọ đã khẳng khái đáp lại: "Chúng tôi đã đánh nhau với các
ông mười mấy năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng
mới đi đến giải quyết; không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu".
Ngày 4 đến 13 tháng 12,
đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật
lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và
nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng
bùng nổ bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa
ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù
binh Mỹ,gắn việc trao trả tù binh với việc thả
hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ
và ngừng đàm phán.
Xác máy bay B-52 bị bắn rơi ngày 21/12/1972. (Ảnh: TTXVN)
Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: "Hãy để một chỗ
hở ở cửa cho cuộc họp tiếp. Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt
miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó" (ám chỉ kỳ nghỉ lễ
Giáng Sinh). Đêm 12 tháng 12, Chánh văn phòng Nhà trắng Heizman thừa uỷ
quyền của Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger có đoạn viết: "Chúng
ta cần tránh làm bất cứ điều gì có vẻ như là chúng ta phá vỡ thương
lượng một cách đột ngột. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải làm như là do họ chứ
không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa Kỳ không được
chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để
tham khảo thêm".
Tuy cố tình trì hoãn ở hậu trường, nhưng khi tuyên bố chính thức, Hoa
Kỳ đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không chịu "đàm phán nghiêm
chỉnh". Do vậy, nhiều tài liệu phương Tây vẫn cho rằng Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đã bỏ họp trước, và chiến dịch ném bom của Mỹ là để khiến Việt
Nam "biết điều" mà chấp nhận họp lại.
Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig
và chủ tịch Hội đồng tham mưu truởng liên quân - đô đốc Thomas Moorer
thông qua lần cuối cùng kề hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói
với đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ: "Điều
may mắn của ông là được sử dụng một các cách hiệu quả sức mạnh quân sự
của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc
đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm".
Ngày
15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le
Bourger (Paris). Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington DC
đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. Tối 18 tháng 12,
khi Lê Đức Thọ vừa về đến nhà (sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh) thì
những trái bom đầu tiên từ B-52 trong Chiến dịch Linebacker II rơi xuống
Hà Nội.
7 giờ ngày 30-12-1972 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra lệnh
ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn
bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc
nước ta kéo dài 12 ngày đêm của đế quốc Mỹ đã thất bại hoàn toàn...
Một trong những nhân tố quan trọng làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”
năm 1972 chính là dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự
lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng-kết tinh trí tuệ và bản
lĩnh Việt Nam trong cuộc đụng độ không cân sức với đế quốc Mỹ xâm lược.
Rồng lửa SAM của quân đội ta trong trận chiến Điện Biên Phủ trên không. (Ảnh tư liệu)
Tháng 3-1966, đến thăm Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), Chủ tịch Hồ Chí Minh
căn dặn: Mỹ đã đưa B-52 vào chiến trường, liên tiếp gây tội ác với đồng
bào ta ở miền Nam. Ngay từ bây giờ, các chú phải nghiên cứu, chuẩn bị
đối phó với B-52, vì sớm muộn, Mỹ sẽ dùng loại máy bay này đánh phá miền
Bắc... Chúng ta phải quyết tâm bắn rơi máy bay B-52, phải quyết tâm
đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thực hiện chỉ thị của Người, từ giữa năm
1966, Quân chủng PK-KQ đã đưa các đơn vị tên lửa, radar, không quân tiêm
kích và nhiều cán bộ tham mưu, kỹ thuật vào Khu 4 nghiên cứu cách đánh
máy bay B-52.
Với
kinh nghiệm chính trị dày dặn, ngay từ ngày 29/12/1967, chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu
trưởng lời dự báo:
"Sớm
muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu
thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở
Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ
nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà
Nội".
Thực
hiện chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã chủ động nghiên
cứu địch, bộ đội Radar, Bộ đội Tên lửa đã vượt lên mọi khó khăn, ác
liệt, vừa cơ
động kịp thời, phòng tránh, đánh trả hiệu quả, vừa phát huy tinh thần
thông minh, sáng tạo, tích cực phối hợp nghiên cứu “vạch nhiễu tìm thù”,
“thử lửa” thành công, xây dựng nên cách đánh B-52.
Ngày 24-11-1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thông qua và phê
chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng PK-KQ;
đồng thời căn dặn: “Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập
kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng. Các đồng chí phải
nắm địch thật chắc, tuyệt đối không để bị bất ngờ... phải tập trung mọi
khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”. Đầu tháng 12-1972, đồng
chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhận định:
“Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội.
Quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PK-KQ, phải kiên quyết làm thất
bại âm mưu này của chúng”.
Lúc 19 giờ 10 phút ngày 18-12-1972, hệ thống radar của ta bắt được tín
hiệu chiếc B-52 đầu tiên hướng về Hà Nội, mở đầu đòn tập kích chiến lược
của địch. Sau đó 5 phút, Bộ Tổng Tư lệnh phát lệnh báo động toàn miền
Bắc. Cuộc chiến đấu chính thức bắt đầu. Do đánh giá chính xác âm mưu,
hành động của địch, có sự chuẩn bị sớm từ trước, lúc 20 giờ 13 phút, Bộ
đội Tên lửa bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên (rơi tại Phù Lỗ, Sóc Sơn, Hà
Nội). Giáo sư Sử học người Mỹ Weldon A.Brown mô tả: “Trong 12 ngày đêm
liên tục, Mỹ đã tiến hành một cuộc ném bom rải thảm mà sự tàn phá đã lớn
hơn sự tàn phá của các cuộc ném bom suốt trong cả cuộc chiến tranh từ
trước đó cho tới lúc bấy giờ”. Tuy nhiên, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt
Nam, trải qua 12 ngày đêm chiến đấu, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi
tổng cộng 81 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 34 chiếc B-52, bắt sống
nhiều giặc lái, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược.
Tên lửa SAM-2, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972 được gọi là “Rồng lửa Thăng Long” đã đánh sập uy thế không lực Mỹ
Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến
thắng vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, là chiến thắng
của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn thể dân tộc Việt Nam, là
chiến thắng của niềm tin và ý chí, của quyết tâm dám đánh, biết đánh và
quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các
nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới...
Càng cảm phục hơn nữa chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” có tính thần thánh ấy nếu chúng ta biết thêm rằng:
Trước khi diễn ra chiến dịch, B-52
đã nhiều lần bay vào oanh tạc không phận miền Bắc Việt Nam. Lần đầu
tiên máy bay B-52 tham chiến chính là tại Việt Nam, và tại đây nó đã thể
hiện sức tàn phá rất ghê gớm. B-52 là vũ khí chủ bài của Không quân
chiến lược Mỹ, được thiết kế để đối phó với siêu cường
đối thủ là Liên Xô. Máy bay B-52 có kích thước khổng lồ, tầm bay rất xa
và lượng bom mang theo rất lớn (hơn 30 tấn bom mỗi chiếc, gấp 15 lần số
bom mà máy bay ném bom hạng nặng chủ lực của Mỹ thời thế chiến 2 là B-17 có thể mang theo.
Không
quân Mỹ có một thuận lợi đến từ đồng minh của mình. Trong Chiến tranh
Sáu ngày năm 1967, Israel đã tịch thu được hơn 20 hệ thống SAM-2 nguyên
vẹn bị quân Ả Rập bỏ lại khi rút chạy, nhờ vậy Mỹ đã nắm được tường tận
chi tiết của hệ thống này. Năm 1969, đến lượt 1 hệ thống radar cảnh giới
P-12 của Ai Cập bị Israel bắt giữ nguyên vẹn, toàn bộ kết quả phân tích
được chuyển giao cho Mỹ.
Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô nổ súng trừng trị máy bay Mỹ. Ảnh: Văn Bảo/TTXVN
Như vậy đến năm 1970, các loại radar phòng không chủ yếu của Quân đội
nhân dân Việt Nam đều đã bị Mỹ nắm bắt, và Mỹ đã chế tạo ra các thiết bị
gây nhiễu
rất hiệu quả. Như phiên bản B-52D, lúc đầu mang 8 máy gây nhiễu, thì
tới tháng 12/1972 đã có tới 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy
bạc. Một tốp 3 chiếc B-52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành
giải nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn và rộng.
Phiên bản B-52G có khoang lắp đặt thiết bị điện tử được mở rộng để lắp
hệ thống gây nhiễu mới. B-52G được trang bị 16 máy gây nhiễu điện tử
tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực và 2 máy thu tần số radar để tạo màn
nhiễu dày đặc che toàn bộ máy bay trước hệ thống radar, tên lửa phòng
không của đối phương. Các thiết bị này sẽ tự động thu, phân tích tần số
sóng radar của đối phương và cung cấp cho sĩ quan điều khiển để lựa chọn
phát tần số sóng để chế áp. Theo một số phi công Mỹ, chỉ riêng hệ thống
gây nhiễu trên B-52G đã có giá tương đương một chiến đấu cơ F-4D. Ngoài
ra, B-52G còn được lắp 4 đạn tên lửa "chim mồi" ADM-20 Quail
(chim cút). Khi được phóng, ADM-20 sẽ giả lập tín hiệu giống máy bay
B-52 để tạo mục tiêu giả thay cho B-52 nhằm đánh lừa tên lửa của đối
phương.
Với
vai trò là máy bay ném bom chiến lược, các phi đội B-52 không hoạt động
độc lập mà được hộ tống bởi các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66,
EC-121 và các chiến đấu cơ F-4, F-105,
A-6, A-7 với các thiết bị gây nhiễu chủ động và thụ động đi kèm. Rất
nhiều phi đội F-4 đã giả lập tín hiệu nhiễu của B-52 hòng lừa lưới lửa
phòng không đối phương. Các máy bay F-4 còn thả các "bom" gây nhiễu gồm
hàng triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó
nhiễu), các sợi kim loại gây nhiễu này có thể làm radar không thể nhận
diện được các mục tiêu, nặng thì làm trắng xóa màn hình radar (mất hoàn
toàn khả năng theo dõi và bám mục tiêu). Các biện pháp gây nhiễu tổng
hợp của Mỹ khiến rada của hệ thống phòng không gặp nhiễu, không thể phát
hiện và khóa bắn được B-52. Các đài radar nhìn vòng P-12 của các tiểu
đoàn tên lửa SAM-2 chỉ thu được các giải nhiễu đậm đặc, có lúc làm trắng
xóa cả màn hình.
Để
kiểm chứng khả năng của hệ thống gây nhiễu, rạng sáng ngày 16/4/1972,
bắt đầu từ 2 giờ 15 phút, Mỹ huy động 20 máy bay B-52 và 170 lần/chiếc
máy bay cường kích, ném bom ba trận lớn vào Hải Phòng.
103 nơi trong thành phố bị bom Mỹ tàn phá như các khu phố Thượng Lý, Hạ
Lý, Cầu Tre, bến cảng và thôn Phúc Lộc (Kiến Thụy)... Bom Mỹ đã giết và
làm bị thương 757 người dân Hải Phòng mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em và
cụ già. Hai trung đoàn tên lửa số 238 và 285 đã phóng lên đến 93 quả tên
lửa SAM-2 nhưng không diệt được chiếc B-52 nào vì bị gây nhiễu quá
nặng.
Boeing B-52H triển lãm cùng vũ khí
Ngoài
ra, vũ khí lợi hại là tên lửa chống radar (như loại AGM-45 Shrike,
AGM-78 Standard ARM).
Tên lửa Shrike sau khi phóng sẽ tìm và "bắt" mục tiêu theo sóng radar,
rồi lao thẳng vào gây nổ, là vũ khí chuyên dụng để phá hủy các hệ thống
phòng không đối phương. Khi cách rađa vài chục mét thì tên lửa phát nổ
lần thứ nhất, văng ra hàng vạn viên bi vuông để phả hủy rađa, tiếp đó
phần còn lại lao xuống đất nổ lần thứ 2 để phá hủy nốt. Tại Trung Đông,
hàng chục hệ thống tên lửa phòng không của Khối Ả Rập từng bị loại tên
lửa này phá hủy, khiến lực lượng này mất khả năng chiến đấu.
Với
một loạt các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật, không quân Mỹ tự tin
rằng hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam
sẽ không thể chống trả được. Mỹ tin rằng B-52 chỉ có thể bị rơi do thời
tiết, hoặc do trục trặc kỹ thuật chứ quyết không thể bị bắn rơi vì hỏa
lực của phòng không – không quân Việt Nam, cuộc tập kích của B-52 vào
miền Bắc Việt Nam sẽ chỉ như "một cuộc dạo chơi" với tổn thất ở mức tối thiểu.
Ở thời điểm năm 1972, SAM-2
là loại tên lửa phòng không duy nhất có trong trang bị của Quân đội
nhân dân Việt Nam. Được sản xuất vào giữa thập niên 1950, đến thời điểm
năm 1972, SAM-2 đã tỏ ra khá lạc hậu, và còn bị lộ bí mật công nghệ cho
đối phương (do Israel thu được một số hệ thống SAM-2 của Ai Cập và
chuyển cho Mỹ phân tích). Khi đó, Liên Xô đã thay thế loại tên lửa này
bằng những hệ thống SAM-4, SAM-5, SAM-6
có tính năng cao hơn nhiều. Tuy nhiên, do chính sách hòa giải với Mỹ
nên Liên Xô đã không viện trợ những loại tên lửa mới này cho Việt Nam.
Không quân Mỹ sẽ không phải lo phía Việt Nam được trang bị những hệ
thống tên lửa phòng không kiểu mới mà Mỹ chưa biết cách khắc chế.
Không có tên lửa phòng không kiểu mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng
khá thiếu về số lượng hệ thống tên lửa SAM-2. Toàn bộ lực lượng phòng
không Việt Nam vào cuối năm 1972 có khoảng 50 hệ thống SAM-2 (nguồn khác
nói rằng có 36 hệ thống sẵn sàng chiến đấu,
trong đó chỉ có 23 hệ thống bố trí tại các khu vực mà máy bay Mỹ sẽ
đánh phá trong chiến dịch. Con số này chỉ bằng 1/7 số lượng hệ thống
phòng không mà quân Ả Rập sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur
năm 1973, và càng không đáng kể nếu so với số lượng máy bay Mỹ huy động
cho chiến dịch (1.077 máy bay phản lực và 207 chiếc B-52).
Vệt bom sau khi B-52 rải thảm. 1 nhóm 3 chiếc B-52 có thể tạo ra 1 vệt bom dài 3 km và rộng 1,5 km, gồm chi chít các hố bom
Nhìn chung, Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể trông chờ
vào ưu thế vũ khí để chống lại Mỹ, bởi phía Việt Nam yếu thế hơn hẳn cả
về công nghệ lẫn số lượng. Để tìm cách chống trả bằng những gì hiện có
trong tay, Quân đội Nhân dân Việt Nam phải tìm ra những chiến thuật mới
để khắc chế ưu thế về vũ khí của Mỹ.
Quân ủy Trung ương
chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu các biện
pháp chống nhiễu, nghiên cứu cách đánh, kiên quyết bắn rơi máy bay chiến
lược B-52. Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Quảng Bình, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Hồ Chí Minh nói: "Dù Mỹ có B-57, B-52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Các chú muốn bắt cọp phải vào hang."
Từ cuối năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không
quân đã cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, trong đó có một bộ phận của tiểu
đoàn trinh sát đi cùng các tiểu đoàn tên lửa vào nam Quân khu 4 và tuyến
vận tải chiến lược đường Trường Sơn theo dõi, nghiên cứu nhận dạng và
tìm cách đánh máy bay B-52.
Qua theo dõi trong hai mùa khô năm 1968-1969 và 1969-1970,
nhóm cán bộ phát hiện có một loại radar máy bay B-52 không gây nhiễu
được. Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ nghiên cứu đề xuất một
công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: Dùng loại radar không bị máy
bay B-52 gây nhiễu ghép nối với đài điều khiển phục vụ tên lửa đánh
B-52.
Tháng 10 năm 1972, tập tài liệu mang tên "Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa" được in, gọi tắt là cuốn "Cẩm nang bìa đỏ",
dày 30 trang đánh máy và được bọc ngoài một tờ bìa màu đỏ. Trong cuốn
sách là kinh nghiệm phân biệt mục tiêu thật-giả trước màn hiện sóng để
bộ đội tên lửa có thể ngắm trúng mục tiêu.
Cẩm nang bìa đỏ "Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa", 1972.
Đại tá Nguyễn Văn, chỉ huy 1 trung đoàn tên lửa phòng không, sau chiến tranh đã trả lời một quân nhân Mỹ: "Việc
phát triển chiến thuật để đối phó với đối phương vượt trội về công nghệ
là nhiệm vụ thường trực. Rốt cuộc, chính Liên Xô cũng phải học tập
những chiến thuật của chúng tôi. Về mặt kỹ thuật, người Liên Xô là thầy
của chúng tôi, nhưng về mặt thủ thuật, chúng tôi là thầy của họ".
***
Cần
phải nói thêm rằng góp công vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước còn có đội ngũ tình báo Cách mạng hoạt động hết sức tài
giỏi và đạt hiệu quả cao trên mặt trận thầm lặng, trong lòng địch. Chúng
ta không thể không kể (dù là sơ lượcvà chưa đầy đủ) về những vị anh
hùng đó.
1/ Hoàng Minh Đạo:
Sinh năm 1923 tại TP Móng Cái, Đào Phúc
Lộc có cơ duyên gặp đồng chí Tô Hiệu, Bí thư Khu ủy khu B khi trọ học ở
Hải Phòng, sớm giác ngộ và đi theo cách mạng khi mới vừa tròn 13 tuổi;
được kết nạp Đảng khi mới 16 tuổi. Giai đoạn 1936-1939, Đào Phúc Lộc
hoạt động trong phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng.
Chiến công đầu tiên của Đào Phúc Lộc là
kịp thời đưa tài liệu của Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế và truyền
đơn tuyên truyền của Mặt trận về khu vực mỏ, phục vụ hoạt động đấu
tranh. Năm 1940, Đào Phúc Lộc bị địch bắt, tra tấn dã man và bị kết án 2
năm tù, quản thúc tại Móng Cái 5 năm. Tuy nhiên, ông đã bộc lộ khả năng
của một chiến sĩ tình báo tài năng, khôn khéo lừa mật thám, vượt biên
sang Trung Quốc để bắt liên lạc với tổ chức của Đảng, được đồng chí
Trường Chinh trực tiếp giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở đảng ở Móng Cái và
thành lập đường dây liên lạc ở hải ngoại để đưa cán bộ của Đảng từ Hải
Phòng qua Móng Cái ra nước ngoài hoạt động. Cũng trong giai đoạn này,
ông bắt đầu sử dụng tên Hoàng Minh Đạo (Minh Đạo tức “Con đường sáng”).
Năm 1943, ông chủ trì thành lập Huyện bộ Việt Minh Móng Cái, trực tiếp
lãnh đạo phong trào ở đây. Từ đó đến năm 1945, ông đã bồi dưỡng, đào tạo
cho cách mạng nhiều cán bộ nòng cốt của Quân đội và ngành tình báo. Sau
ngày Nhật đảo chính Pháp, tình hình Móng Cái hết sức phức tạp. Đào Phúc
Lộc đã cùng các đồng chí của mình kiên trì đấu tranh, hoạt động bí mật,
đưa nhiều đầu mối chui vào hàng ngũ Việt Quốc, Việt Cách, giữ vững và
phát triển phong trào Việt Minh ở Móng Cái.
Hoàng Minh Đạo vào năm 1957
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Chính quyền cách mạng non trẻ
phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, nạn đói; vận mệnh của dân tộc
như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình hình đó, yêu cầu nắm địch là đặc
biệt quan trọng. Ngày 25-10-1945, tại số nhà 18 phố Nguyễn Du, Hà Nội,
Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập. Đồng chí Đào Phúc
Lộc là Trưởng phòng Tình báo đầu tiên.
Về sự kiện đặc biệt này, Đại tá Đào An Việt, Phó chủ nhiệm Chính trị
Tổng cục II, cho biết: “Việc thành lập Phòng Tình báo có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, thể hiện sự sáng suốt của Đảng, Quân ủy Trung ương và
Bộ Quốc phòng. Từ đây, Quân đội ta đã có một cơ quan chuyên trách để nắm
địch, giúp trên đánh giá đúng âm mưu, ý đồ của địch để phục vụ kháng
chiến, kiến quốc, đặt nền móng cho ngành tình báo quốc phòng xây dựng và
trưởng thành, là niềm tự hào của toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ
trong ngành”.
Tháng 9 năm 1946, Phòng Tình báo Quân ủy hội mở một lớp huấn luyện nghiệp vụ tại Sơn Tây, do Đại tá Lâm Sơn (người Nhật), làm giảng viên về nghiệp vụ tình báo.
Trong thời kỳ chỉ huy và hoạt động tình báo ở miền Bắc, Đào Phúc Lộc đã
xây dựng được nhiều cơ sở bí mật, nhiều cộng tác viên của mình trong nội
thành Hà Nội, trong số đó có thể kể đến gia đình ba chị em ở nhà số 41
(sau đó là nhà số 36) phố Lò Sũ, Hà Nội. Người chị cả là bà Nguyễn Thị
Kíu, em trai là Nguyễn Công Cầu và em gái út là Nguyễn Thị Hiền. Bà Kíu
và ông Cầu là hai chủ tiệm bánh kẹo Tùng Hiên nổi tiếng ở Hà Nội và
quanh vùng lúc bấy giờ. Phòng Tình báo cài người vào sân bay Gia Lâm để chuẩn bị cho Đội quyết
tử vào đánh sân bay, phối hợp với Nha Công an đập tan âm mưu đảo chính,
tiêu diệt hang ổ phản động Quốc dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu...
Theo Đại tá Đào An Việt, chỉ trong một thời gian ngắn trên cương vị
Trưởng phòng Tình báo, từ tháng 10-1945 đến tháng 3-1947, đồng chí Đào
Phúc Lộc đã tổ chức lực lượng, hình thành và xây dựng ban tình báo ở 26
tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc.
Đồng chí Đào Phúc Lộc cùng vợ Hoàng Minh Phụng và con gái Đào Thị Minh Vân năm 1947. Ảnh tư liệu
Cuối năm 1945, lớp huấn luyện đầu tiên do đồng chí trực tiếp hướng dẫn
tại số nhà 36 Đại lộ Carreau (nay là số nhà 18 Lý Thường Kiệt), Hà Nội
được mở. Tháng 3-1947, đồng chí mở lớp tình báo quân sự đầu tiên tại
Tuyên Quang với 48 học viên.
Từ
một liên lạc viên ông trở thành Trưởng phòng tình báo đầu tiên của
Quân uỷ hội, ông lần lượt nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Trưởng
ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Ủy viên
thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 – Bí thư phân khu I
Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn.
Trong quá trình hoạt động ở miền Nam,
đồng chí cũng tổ chức nhiều lớp học ngắn hạn để bổ sung lực lượng cho
ngành tình báo, tập trung vào các nghiệp vụ như tổ chức hoạt động nội
thành; nghiên cứu tình hình địch; tổ chức mạng lưới cơ sở; cài người vào
sâu trong hàng ngũ địch... Với tầm nhìn chiến lược, tài năng và tư duy
sáng tạo, giàu kinh nghiệm, đồng chí đã dày công xây dựng cơ sở lý luận,
kế hoạch đào tạo, định hướng phát triển ngành tình báo địch tình-binh
vận trở thành những mũi nhọn tiến công đối phương ngay tại sào huyệt của
chúng.
Các lớp giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo cán
bộ tình báo đã trở thành nơi ươm mầm nhiều hạt giống cách mạng, trở
thành những cán bộ nòng cốt cao cấp trong Quân đội, góp phần làm nên
những chiến công, thành tích của lực lượng tình báo quốc phòng. Thiếu
tướng Cao Pha, nguyên Phó cục trưởng Cục Tình báo, nguyên Phó tư lệnh Binh chủng Đặc công,
nguyên Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, từng viết về đồng
chí Hoàng Minh Đạo: “Anh đặt nền móng cho những bước đi chập chững ban
đầu của ngành (tình báo). Vạn sự khởi đầu nan, công của anh Đạo cả”.
Vào
một đêm tháng 12 năm 1969, đoàn công tác của ông trên
đường về họp tại trung ương Cục đã sa vào ổ phục kích của địch, ông cùng
đồng đội của mình đã hy sinh trên sông Vàm Cỏ Đông. Bí thư Trung ương
Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh đã hai lần chỉ đạo Tư lệnh Phân khu I Tám
Lê Thanh tìm kiếm thi hài của ông nhưng không có kết quả.
Ngày 8 tháng 8 năm 1998, lễ truy điệu liệt sĩ Đào Phúc Lộc
được tổ chức long trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện di hài của ông
được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông
lập gia đình hai lần, cả hai người vợ đều là đồng chí, đồng đội của
ông. Người vợ đầu là bà Hoàng Minh Phụng, một nữ chiến sĩ tình báo không
may mất sớm vì căn bệnh sốt rét ác tính tại chiến khu Việt Bắc, để lại
một con gái mới tròn hai tuổi. Họ Hoàng trong bí danh Hoàng Minh Đạo
chính là họ của bà Minh Phụng. Người vợ thứ hai sau này là bà Bùi Ngọc
Hường, hay còn gọi là chị Sáu Dân, Năm Ngọc, bà sinh cho ông ba người
con.
Đào Phúc Lộc được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 10 tháng 8 năm 1998 và truy tặng
Huân chương Hồ Chí Minh năm 1999.
2/ Phạm Xuân Ẩn:
Một
trong những nhà tình báo tiêu biểu cho tài năng và đức độ của Việt Nam
là Phạm Xuân Ẩn. Ông hoạt động trong “vỏ bọc” là một nhà báo làm việc
cho tạp chí “Time” của Mỹ tại Sài Gòn suốt cuộc chiến tranh mà không bị
lộ. Những báo cáo tình báo của Phạm Xuân Ẩn chính xác đến mức Đại tướng
Võ Nguyên Giáp đã từng nhận xét rằng “dường như chúng ta có mặt ngay
trong phòng tác chiến của Mỹ”. Chiến công của Phạm Xuân Ẩn là rất nhiều,
trong đó có những chiến công thực sự lớn lao và hết sức quan trọng.
Larry Berman, nhà sử học người Mỹ, tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”;
cho rằng Phạm Xuân Ẩn là một trong 20 nhà tình báo xuất sắc nhất thế kỷ
XX.
Thông tin trên mạng kể rằng: Phạm Xuân Ẩn sinh năm 1927 tại xã Bình
Trước, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong gia đình một viên chức cao cấp của
chính quyền thuộc địa. Quê gốc của ông tại Hải Dương. Gia đình ông
chuyển đến sống tại Huế khi cụ nội của ông là nghệ nhân kim hoàn được
gọi vào Kinh đô để chế tác đồ vàng bạc cho triều đình. Ông nội của Phạm
Xuân Ẩn là hiệu trưởng một trường nữ sinh ở Huế, đã được Vua ban Kim
khánh. Cha của ông là một kỹ sư công chánh cao cấp tại Sở Công chánh,
làm công tác trắc địa trên khắp miềnNam. Ông được sinh tại Nhà thương
Biên Hòa, do chính các bác sĩ Pháp đỡ đẻ. Tuy là một viên chức cao cấp,
nhưng cha của ông không nhập quốc tịch Pháp.
Thời niên thiếu, ông sống tại Sài Gòn, sau chuyển về Cần Thơ học trường Collège de Can Tho.
Năm
1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông bỏ học và tham gia tổ chức Thanh
niên Tiền phong, sau đó học một khóa huấn luyện của Việt Minh về công
tác tuyên truyền.
Năm 1947,
ông trở về Sài Gòn để chăm sóc cha đang bệnh nặng. Tại đây, ông tổ chức
các cuộc biểu tình của sinh viên Sài Gòn, đầu tiên là chống Pháp rồi sau
chống Mỹ. Ông làm Thư ký cho Công ty Dầu lửa Caltex cho đến năm 1950.
Thiếu tướng, anh hùng LLVTND Phạm Xuân Ẩn
Năm
1950, ông vào làm ở Sở thuế quan Sài Gòn. Thực chất lúc này ông được
Việt Minh giao nhiệm vụ tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài
quân sự và quân đội từ Pháp sang ViệtNamvà từ ViệtNamvề Pháp. Đây là
những bước đầu hoạt động tình báo đầu tiên của ông, một trong khoảng 14
ngàn điệp báo viên Cộng sản được cài cắm và hoạt động tại miền Nam Việt
Nam. Năm 1952, ông ra Chiến khu D và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Ủy
viên Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ - giao nhiệm vụ tình báo
chiến lược.
Năm
1953 tại rạch Cái Bát, Cà Mau trong rừng U Minh, dưới sự chủ tọa của Lê
Đức Thọ (khi này là Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục
miền Nam), Phạm Xuân Ẩn được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Năm
1954 Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay làm bí thư
phòng Chiến tranh tâm lý trong Bộ Tổng hành dinh quân đội Liên hiệp Pháp
tại Camp Aux Mares (thành Ô Ma). Chính tại đây, ông đã quen biết với
Đại tá Edward Lansdale, Trưởng phái bộ quân sự đặc biệt của Mỹ (SMM),
trên thực tế là người chỉ huy CIA tại Đông Dương cũng là trưởng phái
đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) ở Sài Gòn. Theo hồi ức của một số
tướng lĩnh miền Nam Việt Nam, chẳng hạn như trong tư liệu Hồi kí Đỗ Mậu
của Đỗ Mậu, nguyên trưởng cơ quan tình báo của miền Nam Việt Nam, thì
Edward Lansdale là người trực tiếp vạch kế hoạch cũng như chủ trì việc
thực hiện các công tác chủ yếu nhằm tạo uy tín, chỗ đứng cho Ngô Đình
Diệm trong thời kì giữa thập niên 50. Khi nhận thấy mức độ khó khăn cũng
như khối lượng công việc phải làm quá lớn, Ngô Đình Diệm có ý định từ
bỏ chức Thủ tướng, chính Landsdale là người cố vấn cho Diệm không quyết
định như vậy.
Năm
1955 theo đề nghị của phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (lúc này đã chính thức
thay Pháp đứng ra huấn luyện và xây dựng Quân lực Việt Nam Cộng hòa),
Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo các tài liệu về tham mưu, tổ chức, tác
chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Đặc biệt ông cũng tham gia
thành lập bộ khung của 6 sư đoàn bộ binh đầu tiên của Quân lực Việt Nam
Cộng hòa mà nòng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính người Việt
trong quân đội liên hiệp Pháp trước đây.
Phạm
Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan
trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo (trong số này có Nguyễn Văn
Thiệu, sau này trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa).
Trong
công tác tình báo, để có thể đi khắp nơi và tiếp cận với những nhân vật
có quyền lực nhất, tháng 10 năm 1957, theo sự chỉ đạo của Mai Chí Thọ
và Trần Quốc Hương (Mười Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng
ban Nội chính Trung ương) Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ học ngành báo chí tại Quận
Cam, California, trong hai năm (1957-1959) và là người Việt Nam đầu
tiên sang học báo chí tại quận Cam
Tháng
10 năm 1959, Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, ông được Trần
Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị Văn hóa Xã hội (thực chất
là cơ quan mật vụ trực thuộc Phủ Tổng thống), biệt phái sang làm việc
tại Việt tấn xã phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc tại đây.
Từ năm 1960 đến giữa năm 1964, ông làm cho Hãng thông tấn Reuters.
Từ
năm 1965 đến năm 1976 ông là phóng viên người Việt chính thức duy nhất
của tuần báo Time, ngoài ra ông còn là cộng tác viên của các tờ báo khác
như The Christian Science Monitor...
Từ
khi ở Mỹ về nước cho đến năm 1975, với vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan
hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, các nhân viên tình báo, an ninh quân
đội và người của CIA, Phạm Xuân Ẩn đã có được mọi nguồn tin tức quan
trọng từ quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo.
Những
tin tức và phân tích tình báo chiến lược của Phạm Xuân Ẩn được bí mật
gửi cho bộ chỉ huy quân sự ở miền Bắc thông qua Trung ương cục Miền Nam.
Tổng cộng, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về căn cứ 498 báo cáo bao gồm tài liệu
nguyên gốc đã được sao chụp, các thông tin mà ông thu lượm cùng phân
tích và nhận định của bản thân. Cụ thể là:
Giai
đoạn 1961-1965: những bản tài liệu nguyên bản về chiến lược chiến tranh
đặc biệt như Tài liệu McGarr; tài liệu Staley, tài liệu Taylor, tài
liệu
Harkins; tài liệu Ấp chiến lược... Ông gửi về nguyên bản kế hoạch kế
hoạch Staley-Taylor. Giai đoạn 1965 - 1968: các kế hoạch liên quan đến
chiến lược chiến tranh cục bộ, phục vụ chiến thuật cho Mậu Thân 1968.
Giai đoạn 1969 - 1973: những tài liệu liên quan đến chiến lược Việt Nam
hoá chiến tranh. Giai đoạn 1973 - 1975: hàng trăm bản tin nguyên bản
"phục vụ trên hạ quyết tâm giải phóng miềnNam"...
Ông là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA.
Phạm Xuân Ẩn và đại tướng Võ Nguyên Giáp
Ngày
30 tháng 4 năm 1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến
sự kiện xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cổng dinh Độc
Lập. Đến thời điểm đó cũng như một vài tháng sau, các đồng nghiệp phóng
viên và những người thuộc chính quyền cũ cũng như chính quyền mới vẫn
chưa biết ông là một điệp viên cộng sản. Khi đó vợ con của ông đã rời
khỏi Việt Nam theo chính sách sơ tán của Mỹ, theo kế hoạch của miền Bắc,
ông sẽ được gửi sang Mỹ để tiếp tục hoạt động tình báo. Tuy nhiên,
ông đã đề nghị cấp trên cho ngừng công tác do đã hoàn thành nhiệm vụ. Kế
hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một năm để quay lại Việt Nam theo
đường vòng: Paris - Moskva - Hà Nội - Sài Gòn.
Ngày 15
tháng 1 năm 1976, Trung tá Trần Văn Trung (tức Phạm Xuân Ẩn) cán bộ tình
báo thuộc Bộ Tham mưu Miền được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu
"Anh hùng lực lượng vũ trang". Lúc này nhiều người mới chính thức biết
ông là một tình báo viên thời chiến.
Tháng
8, 1978 ông ra Hà Nội dự một khóa học tập chính trị dành cho cán bộ cao
cấp trong 10 tháng. Ông nói rằng đó là do ông đã "sống quá lâu trong
lòng địch". Theo Larry Berman, ông bị nghi kị và bị quản chế tại gia,
không được xuất ngoại, bị cấm tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với giới
báo chí ngoại quốc do cách suy nghĩ, cư xử "rất Mĩ" của ông cũng như
việc ông giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng 4
năm 1975. Cho đến năm 1986, sự quản chế mới được nới lỏng dần. Trong
vòng gần 10 năm, luôn có một nhân viên công an được giao nhiệm vụ canh
gác trước cửa nhà ông.
Phạm
Xuân Ẩn kể rằng trước đây ông đã từng hai lần cố gắng đưa gia đình ra
nước ngoài, nhưng không thành công. Lần thứ nhất thuyền bị hỏng máy. Lần
thứ hai thuyền có vẻ đủ sức vượt biển, nhưng thuyền trưởng lại không ra
Năm 1990, Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng cấp Thiếu tướng.
Năm
1997, chính phủ Việt Nam từ chối không cho phép Phạm Xuân Ẩn viếng thăm
Hoa Kỳ để dự một hội nghị ở thành phố New York mà ông được mời với tư
cách khách đặc biệt
Năm
2002, ông về hưu. Nhưng cho tới sáu tháng trước khi qua đời, Phạm Xuân
Ẩn vẫn đóng vai trò như một cộng tác viên của tình báo ViệtNam. Ông tham
gia vào việc bình luận và đánh giá các tài liệu của Tổng cục Tình báo
(Tổng cục 2, trực thuộc Bộ Quốc phòng).
Ảnh thẻ Nhà báo Phạm Xuân Ẩn, cấp năm 1965
Chúng
ta không muốn nói nhiều và tỉ mỉ đến những chiến công của thiếu tướng tình báo Phạm
Xuân Ẩn mà chỉ trích thêm một vài đoạn rất ngắn trong cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:
“Phạm
Xuân Ẩn được thưởng huân chương chiến công vì đã có bản báo cáo về
Phước Long đề ngày 30-11-1974. Các sách lịch sử Việt Nam so sánh những
đóng góp của Phạm Xuân Ẩn trong giai đoạn này ngang với báo cáo nổi
tiếng của trùm tình báo Liên Xô, Rishớc Soócgiơ (Richard Sorge), trong
đó Soócgiơ khẳng định rằng “Nhật Bản sẽ không mở mặt trận phía Đông”.
Nhờ báo cáo này của Rishớc Soócgiơ mà Liên Xô đã yên tâm chuyển các lực
lượng quân sự của mình sang phía tây để chặn đứng cuộc tiến quân của
quân đội Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Phạm
Xuân Ẩn cũng lấy được bản báo cáo bí mật “Nghiên cứu chiến lược”, trong
đó nói rằng Quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trong tình trạng cả tinh
thần lẫn vật chất đều thấp và rằng máy bay B52 của Mỹ sẽ không trở lại.
Tác giả của bản báo cáo mật này chính là tướng Nguyễn Xuân Triển, Giám
đốc Viện nghiên cứu chiến lược quân đội (Việt Nam Cộng hòa), đã xác định
Buôn Mê Thuột là điểm mong manh, dễ chọc thủng nhất trong hệ thống
phòng thủ của Việt Nam Cộng hòa”.
Chúng
ta muốn nhấn mạnh đến mặt đức độ của Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn là người đã
nhìn thấy rõ được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam, phân biệt đúng
đắn bạn thù, cư xử mã thượng, khoan dung hoàn toàn phù hợp với Đức
Huyền Diệu và truyền thống nhân hậu của dân tộc Việt. Chúng ta sẽ kể vài
tình tiết về khía cạnh này, rút ra cũng từ cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:
Khi
Berman đề cập đến vấn đề tiếp tục hoạt động tình báo ở trên đất Mỹ (vì
Phạm Xuân Ẩn sau chiến tranh vẫn chưa bị lộ), ông Ẩn coi đó là một ý
nghĩ ngông cuồng: “Tôi thực sự không hiểu mọi người muốn tôi làm gì ở
đó. Có lẽ họ chờ đợi rằng các nguồn tin của tôi sẽ cập nhật cho tôi về
việc Lầu Năm Góc đang nghĩ thế nào, nhưng điều đó là không thể… Hay là
tôi có thể báo cáo về tổ chức của phòng tin thời sự ở Los Angeles hoặc ở
San Frangcisco”. Nói xong, ông Ẩn nở nụ cười đầy ẩn ý.
Vài
thập kỷ sau chiến tranh, Dan Southerland nhớ lại: “Phạm Xuân Ẩn vội
vàng chở Trần Kim Tuyến (trùm mật vụ thời Diệm - Nhu) đến địa chỉ đã dặn
trước - đến sự tự do. Tôi có thể nói chắc chắn rằng, vào cái ngày cuối
cùng ấy của cuộc chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn đã giúp cứu mạng sống của một
người từng ra sức chống lại những mục tiêu mà ông Ẩn đang bí mật theo
đuổi và phụng sự trong suốt cuộc đời mình. Tôi sẽ luôn nhớ tới ông Phạm
Xuân Ẩn về điều đó”. Sau này Trần Kim Tuyến có viết thư cho ông Ẩn bày
tỏ sự biết ơn. Ông Ẩn đã nói với Henry Kamm: “Ông ấy cảm ơn tôi và nói
với tôi là ông ấy đã hiểu. Tôi đã viết thư trả lời Trần Kim Tuyến rằng
tôi không muốn nhìn thấy cảnh các con của ông ấy mồ côi, và tôi cũng đã
biết vợ ông Trần Kim Tuyến trong một thời gian dài. Tôi cũng biết Trần
Kim Tuyến yêu vợ ông ấy nhiều đến mức nào và cả hai người đều yêu nhau.
Ông ấy là một người bạn và chúng tôi đều là người Việt Nam, ông Trần Kim
Tuyến đã giúp nhiều cho cả hai bên”.
Nhà
báo Bob Shaplan có ghi chép về ngày gặp mặt cuối cùng của ông với Phạm
Xuân Ẩn: “Ẩn (nói): quần chúng nhân dân đang cần hòa bình hơn bao giờ
hết, chứ họ không muốn tăng cường chính quyền Sài Gòn. Quần chúng không
muốn chiến tranh, chỉ muốn hòa hợp dân tộc”. Bản thân Phạm Xuân Ẩn cũng
luôn mơ ước về một nước Việt Nam thống nhất, hòa hợp dân tộc.
Vào
khoảng một, hai năm đầu của thập niên 1980, Phạm Xuân Ẩn đã nói với
Sheehan: “Sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, mọi thứ hồ sơ đều bị đốt hết,
từ sách y học đến các tài liệu của chính quyền - giờ thì đã có sự hối
tiếc rồi, nhưng quá muộn - nhiều thứ từ Nga giờ đây trở nên không còn
phù hợp. Tôi rất tiếc về những điều xảy ra, nhưng tôi không thể ngăn cản
được, có lẽ tôi đã ở với phía bên này quá lâu rồi nên tôi biết giá trị
của những tài liệu đó. Có những hành động hăng hái một cách thái quá,
giống như những con ngựa chiến bị che mắt vậy; nếu anh khuyên họ đừng
làm, có lẽ họ lại nghĩ anh là phản cách mạng và đây là một tội lớn. Tôi
được sinh ra ở Việt Nam, tôi là người Việt nam, nhưng tôi học được sự
văn minh ở nước Mỹ. Đây là điều rắc rối của tôi”.
Có
lần Phạm Xuân Ẩn nói: “Đảng dạy tôi những điều về hệ tư tưởng. Từ người
Mỹ, tôi học được những điều quan trọng khác về nghề báo và phương pháp
tư duy. Đó là điều tôi muốn con mình cũng học được như vậy. Tôi muốn con
trai tôi có những người bạn là người Mỹ”. Lần khác, ông Ẩn nói: “Suốt
cuộc đời mình, tôi chỉ có hai trách nhiệm. Một là nghĩa vụ của tôi đối
với Tổ Quốc. Hai là trách nhiệm của tôi đối với những người bạn Mỹ -
những người đã dạy tôi mọi điều từ A đến Z, đặc biệt là nhân dân Mỹ.
Mong ước của tôi là: đấu tranh cho đến khi đất nước giành được độc lập
và sau đó, lập quan hệ ngoại giao và bình thường hóa quan hệ giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ, được như vậy thì tôi có thể mỉm cười mà nhắm mắt xuôi tay
bất cứ lúc nào cũng thỏa lòng rồi”. Phạm Xuân Ẩn cũng tin tưởng rằng
những người bạn đồng nghiệp Mỹ của ông sẽ hiểu ông: “Họ biết rằng tôi là
người luôn luôn giúp đỡ họ và rằng tôi không phải là kẻ thù của họ. Tôi
đã đấu tranh cho đất nước tôi, chứ không phải chống lại người Mỹ”.
Vào
năm 1989, Morley Safer sang Việt Nam. Ông này cùng trợ lý của mình cùng
Phạm Xuân Ẩn ngồi trò chuyện trên tinh thần bạn bè và ba người đã uống
hết một chai Uytxki Bạch Mã (White Horse). Trong cuộc trò chuyện đó,
Safer có hỏi tại sao cuộc cách mạng (trong xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội) lại chưa thành công. Ông Ẩn nói: “Có rất nhiều lý do. Nhiều
sai lầm đã mắc phải chẳng qua chỉ vì sự dốt nát. Giống như mọi cuộc
cách mạng, chúng tôi gọi đó là cuộc cách mạng của nhân dân, nhưng tất
nhiên nhân dân là người đầu tiên phải hứng chịu hậu quả… Chừng nào còn
những người nằm ngủ trên đường phố, thì chừng đó còn thất bại. Không
phải những nhà lãnh đạo là những người độc ác, nhưng tác động hiệu quả
của chủ nghĩa gia trưởng và lý thuyết kinh tế đã bị mất niềm tin là như
nhau”. Một trong những câu hỏi cuối cùng của Safer là ông Ẩn có cảm thấy
hối tiếc điều gì không. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi ghét câu hỏi đó. Tôi đã
tự hỏi mình với câu hỏi đó cả ngàn lần. Nhưng câu trả lời còn làm cho
tôi ghét hơn. Không! Tôi không có gì phải hối tiếc. Tôi phải làm điều
ấy. Tôi yêu nước Mỹ nhưng Mỹ chẳng có quyền gì ở đây. Người Mỹ đã phải
ra đi khỏi Việt Nam bằng cách này hay cách khác…”
Phạm Xuân Ẩn qua đời vì bệnh phổi vào ngày 20-9-2006.
Dưới đây là một số những đánh giá về Phạm Xuân Ẩn từ những người từng tiếp xúc, những bạn bè, đồng nghiệp từng cộng tác với ông.
Bruce Palling: “Phạm Xuân Ẩn xứng đáng được coi là một trong những điệp viên vĩ đại nhất của thế kỷ XX”
Stanley
Cloud: “Trong thời gian chiến tranh, một đồng nghiệp của chúng tôi đã
nói: “Tôi nghĩ, Phạm Xuân Ẩn là một ví dụ hoàn hảo về một xã hội Việt
Nam tốt đẹp nhất”. khi đó, tôi cũng đã nghĩ như vậy, và bây giờ tôi vẫn
còn nghĩ như vậy”.
Jolynne
D`Ornano: “Đặt gia đình sang một bên, ông có hai lòng trung thành - một
là đối với đất nước ông, và hai là đối với tình yêu nước Mỹ và những
người Mỹ mà ông đã kết bạn. Tôi không nhận thấy bất kỳ sự xung đột nào
trong những việc ông đã làm. Ông có thể yêu một đất nước khác vì những
điều mà đất nước đó đại diện, nhưng ông vẫn chống lại những chính sách
của nước đó, đặc biệt là khi những chính sách ấy đang tàn phá đất nước
của ông và dân tộc ông. Theo bản chất của mình, ông không thể chỉ ngồi
yên, chẳng làm gì cả và cứ để cho những sự kiện cứ thế diễn ra tự nhiên.
Vai trò mà ông đóng trong việc làm nên lịch sử không chỉ cần niềm tin
mãnh liệt, mà cần cả sự can đảm ghê gớm, và tôi khâm phục ông đã làm
được điều đó”.
Douglas
Pike: “Phạm Xuân Ẩn rất sùng bái Nho giáo - riêng về điều này là tôi
dám chắc. Ông ấy là người sống rất đạo đức, do vậy ông luôn tự soi mình
và hành động trên cơ sở các giá trị của của Nho giáo. Một trong những
giá trị này liên quan đến tình bạn. Nho giáo nhấn mạnh sự thủy chung
trong tình bạn và ngăn cấm việc khai thác, lợi dụng một người bạn”.
Larry
Berman: “Bà Germaine Lộc Swanson nói với tôi rằng: “Phạm Xuân Ẩn là một
người yêu nước. Ông ấy trở thành người Cộng sản chẳng qua chỉ là nghĩa
vụ”. Thế nhưng, cho dù là những nhà bình luận đã viết gì, Phạm Xuân Ẩn
vẫn không lên án sự tham nhũng đã trở nên tràn lan ở Việt nam hoặc lên
án chế độ một cách chung chung. Mỗi khi được hỏi, ông chỉ nói lên sự
thật, giống cách diễu cợt về “những nhà tư sản đỏ” hoặc “những người
cộng sản xanh”. Phạm Xuân Ẩn nói với tôi và với những người khác rằng:
“Tôi không đấu tranh để có được những thứ ấy”. Chưa bao giờ Phạm Xuân Ẩn
chỉ trích chính phủ. Ông chỉ nói những suy nghĩ của mình về một tầm
nhìn khác đối với tương lai”.
Wendy
Larsen: “Tôi nghĩ rằng nếu ở trong tình huống đó, có lẽ tôi chỉ thể
hiện được một phần trăm sự can đảm mà Phạm Xuân Ẩn đã làm cho đất nước
của ông”.
Jul
Owings: “Tôi không hề ngạc nhiên khi thấy Phạm Xuân Ẩn trung thành
trước hết với Tổ quốc của ông ấy. Chẳng lẽ người Mỹ chúng ta không làm
như vậy sao?”
Raymond
F. Burghardt (Đại sứ Mỹ tại việt Nam): “Câu chuyện và cuộc đời của Phạm
Xuân Ẩn thật không thể nào tin được, nhưng vượt trên tất cả những điều
đó, Phạm Xuân Ẩn là một biểu tượng quan trọng của tình hữu nghị mới giữa
hai nước chúng ta. Và con trai của Phạm Xuân Ẩn cũng là một người xuất
sắc như thế.”
Một
bài đăng trên báo “Thanh niên” viết rằng Phạm Xuân Ẩn “đã làm được
những điều mà rất ít nhà tình báo khác có thể làm được. Thật dễ hiểu vì
sao ông được tổ chức lựa chọn. Nhưng chúng ta sẽ còn phải mất nhiều thời
gian để đánh giá một cách chính xác về con người và những điều ông để
lại”.
Phạm
Xuân Ẩn đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng 11 huân chương các loại
và được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
3/ Vũ Ngọc Nhạ:
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Vũ Ngọc Nhạ có nhiều tên gọi như Pièrre Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh),
Vũ Ngọc Nhã, Hoàng Đức Nhã, Vũ Đình Long (còn gọi là Hai Long), hay như
bí danh Lê Quang Kép. Ngoài ra ông còn được biết với các biệt danh như
thầy Hai, thầy Bốn (do bà con Giáo xứ Bình An đặt cho vì ông là thầy
giảng đã tu 4 chức), Ông cố vấn (do ông từng được xem là cố vấn của một
số quan chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa).
Ông sinh ngày 30 tháng 3 năm 1928 tại xã Vũ Hội, huyện Vũ
Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Vũ, tỉnh Hưng Yên).
Năm 15 tuổi, Vũ Ngọc Nhạ được bố đưa vào Huế học Trường Trung học Thuận
Hóa. Ông tiếp xúc với cách mạng, được giới thiệu vào Mặt trận Việt Minh
và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 20-6-1947.
Cuối năm 1946, ông tham gia chiến đấu chống Pháp tái chiếm Đông Dương tại mặt trận Hà Nội. Sau khi Việt Minh
rút khỏi Hà Nội, ông trở về Thái Bình, tham gia công tác dân vận của
chính quyền Việt Minh tại địa phương, phụ trách khối Công giáo vận,
với bí danh là Lê Quang Kép. Năm 1951, để tiện hoạt động trong vùng bị
Pháp kiểm soát, ông đã nhờ người em trai làm một chứng minh thư giả mang
tên Vũ Ngọc Nhạ.
Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ năm 2001
Năm 1952, Vũ Ngọc Nhạ mang tên Vũ Ngọc Kép, có mặt trong đoàn đại biểu
quân sự tỉnh Thái Bình đi dự Hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ tại
Việt Bắc do Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn
Thái chủ trì. Cũng tại cuộc Hội nghị này, Vũ Ngọc Nhạ đã nhận nhiệm vụ
quan trọng do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
trực tiếp giao phó: “Nhiệm vụ của chú là phải bằng mọi cách để biết được
Mỹ đang làm gì, Mỹ sẽ làm gì và Mỹ đã làm gì”.
Từ Dinh Độc Lập, nhà tình báo chiến lược Vũ Ngọc Nhạ đã thiết lập nên
mạng lưới tình báo A22, với những cộng sự là người có địa vị cao trong
bộ máy chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ. Ông đã trải qua một thời gian bị
chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam và sau đó, do mưu trí và dũng cảm đã
thực hiện thành công kế hoạch "chui sâu, luồn cao", trở thành một nhân
vật "tâm phúc" của gia đình họ Ngô, giữ vai trò cố vấn của Ngô Đình
Diệm.
Sau khi Ngô Đình Diệm bị đảo chính và sát hại, ông đã tiếp cận thành
công với những nhóm cầm quyền mới ở Sài Gòn và tiếp tục trở thành cố vấn
của hai đời tổng thống tiếp theo là Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh.
Những người nắm giữ vai trò cao nhất trên chính trường Sài Gòn, cũng là
nguồn cung cấp tin chính xác về tình báo chiến lược trực tiếp cho ông.
Nhờ chiếm được vị trí quan trọng này mà nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ đã lấy
được hàng loạt tài liệu chiến lược, sách lược tuyệt mật: từ kế hoạch
“Xây dựng ấp chiến lược”, “Kế hoạch Stalay Taylor”… thời Diệm, đến “Kế
hoạch bình định nông thôn”, “Kế hoạch Phượng Hoàng”, “Kế hoạch đổ quân
của Mỹ”, “Sách lược chiến tranh đặc biệt”… thời Thiệu, để Đảng kịp thời
có đối sách lãnh đạo đường lối đấu tranh.
Nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ và cộng sự của mình trong mạng lưới tình báo
A22 đã làm nên một huyền thoại kỳ diệu trong lịch sử kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Trong bộ hồ sơ thu được tại Nha Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia ngụy
quyền Sài Gòn, có đoạn viết: “Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai
thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ
điệp báo thành công đến như thế. Cụm A22 do ông Vũ Ngọc Nhạ đứng đầu
phát triển đều đặn và thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận
là huyền diệu và xuất sắc. Cụm phát triển một hệ thống điệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi vào
được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hoà. Những tin tức chiến
lược mà cảnh sát quốc gia biết họ cung cấp, đều có giá trị giúp cho Hà
Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ đối
với cuộc chiến tranh”.
Ông Vũ Ngọc Nhạ (bên phải) và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Năm
1954, Hoàng Minh Đạo, thủ trưởng cơ quan tình báo quân sự đã ra chỉ thị
tung một số điệp viên chiến lược vào miền Nam để chuẩn bị cho thời kỳ
"hậu Hiệp định Genève". Vũ Ngọc Nhạ là một trong số những điệp viên đó.
Ông tạo vỏ bọc là giáo dân Công giáo ngoan đạo, bị Việt Minh kỳ thị vì
tôn giáo và xuất thân nên từ bỏ Việt Minh về sống ở quê ngoại tại Phát
Diệm, Ninh Bình và tham gia "Tổng bộ tự vệ Phát Diệm" lãnh đạo bởi hai
giáo sĩ chống cộng khét tiếng là giám mục Lê Hữu Từ và linh mục Hoàng
Quỳnh. Năm 1955, ông cùng vợ và con gái xuống tàu Hải quân Pháp lẫn vào 1
triệu người Công giáo di cư vào Nam. Tại đây ông sử dụng bản lý lịch
với cái tên mới Vũ Đình Long với các nội dung đều là thật, trừ một chi tiết giả là "bất mãn với chính sách Công giáo của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên quyết định vào Nam".
Sau khi vào Nam, ông xin được một chân đánh máy trong Bộ Công chánh. Trong thời gian
này, ông chủ yếu tập trung vào việc xây dựng vỏ bọc an toàn, nên thường
xuyên lui tới giáo xứ Bình An và văn phòng Hội cựu tự vệ Công giáo Phát
Diệm, qua đó chiếm được cảm tình của linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành
người giúp việc cho Giám mục Lê Hữu Từ.
Vũ Ngọc Nhạ được Mười
Hương chỉ đạo phải tạo mối quan hệ tốt với giám mục Lê Hữu Từ vì dòng tu
của giám mục Từ được cho là có uy tín lớn trong giới Công giáo cũng như
đối với Vatican. Đồng thời, căn cứ vào việc linh mục Hoàng Quỳnh
là người chứng nhận chức trung úy tự vệ của Phát Diệm của Vũ Ngọc Nhạ,
ông Mười Hương cũng yêu cầu ông Nhạ phải tạo quan hệ thân thiết với linh
mục Quỳnh để từ đó tiếp cận giám mục Từ. Quan hệ tốt với linh mục Quỳnh
và giám mục Từ đã giúp đỡ và bảo vệ Vũ Ngọc Nhạ rất nhiều trong công
tác tình báo sau này.
Vào cuối tháng 12 năm 1958, ông bị một nhân
viên phản gián của Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung tên là Nguyễn Tư
Thái (tự Thái đen)
nhận diện nhưng ông vẫn hoạt động tại vùng Thái Bình cho đến cuối năm
1952. Vì lý do này, ông bị Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung bắt giữ và
bị giam để chờ xác minh tại trại giam Tòa Khâm, Huế.
Một sơ hở lớn
của Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung là tập trung giam
giữ khá nhiều tình báo viên tại trại Tòa Khâm. Trong thời gian bị giam
giữ tại Tòa Khâm, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối được với một số tình báo viên
khác, thậm chí nhận được sự chỉ đạo của lãnh đạo tình báo Mười Hương,
khi đó cũng bị giam tại Tòa Khâm. Đồng thời, các tù nhân theo đạo Công
giáo như Vũ Ngọc Nhạ lại được Ngô Đình Cẩn
cho đi lễ nhà thờ vào chủ nhật. Nắm được điều đó, thượng cấp Mười Hương
chỉ đạo cho ông Nhạ tiếp cận, liên lạc với Ngô Đình Cẩn cùng các chức
sắc Công giáo bao gồm giám mục Lê Hữu Từ. Giám mục Từ biết được thân thế
Phát Diệm và quan hệ với linh mục Hoàng Quỳnh, có ý muốn dùng ông Nhạ
tác động lại Ngô Đình Cẩn. Về phía bên kia, họ Ngô cũng muốn dùng ông
Nhạ để kết thân với giám mục Từ.
Do công tác chuẩn bị tốt, do sự vận động của linh mục Hoàng Quỳnh, cộng
với sự may mắn, ông không bị kết tội vì không đủ hồ sơ, nhưng vẫn bị
giam giữ một cách không chính thức đến tận giữa năm 1961.
Từ đó,
Vũ Ngọc Nhạ đã chuyển phương cách hoạt động, ông xây dựng sự tín nhiệm
của "Ông Cố vấn chỉ đạo miền Trung" Ngô Đình Cẩn bằng tờ trình "4 Nguy cơ đe dọa chế độ"
viết vào cuối năm 1959. Trong tờ trình ông cố ý viết rằng mình tham
khảo ý kiến của giám mục Lê Hữu Từ và một số thành phần giáo dân Công
giáo, ngầm bày tỏ rằng ông có quen biết với những cá nhân, lực lượng mà
họ Ngô đang muốn tranh thủ. Tờ trình này đã gây được sự chú ý của Ngô
Đình Cẩn và sau đó cả của Ngô Đình Nhu lẫn Ngô Đình Diệm.
Do sự dự đoán chính xác của ông về khả năng xảy ra đảo chính và cuộc
đảo chính đã diễn ra sau đó vào ngày 11 tháng 11 năm 1960, các anh em họ
Ngô đã chú ý đến ông và nhờ đó ông thoát khỏi sự giam cầm kéo dài trong
hơn 2 năm. Tờ trình "4 Nguy cơ đe dọa chế độ"
được viết trên cơ sở mối quan hệ giữa giới Công giáo với anh em họ Ngô.
Chính yếu tố này đã gây được sự chú ý, cộng với bức bình phong "người
giúp việc cho Giám mục Lê Hữu Từ" mà Vũ Ngọc Nhạ được sử dụng như một
người liên lạc và cung cấp thông tin giữa anh em họ Ngô với giới Công
giáo di cư.
Từ đó, Vũ Ngọc Nhạ bắt đầu có biệt danh ông cố vấn.
Ông
được anh em Diệm – Nhu vị nể, rồi trở thành người tâm phúc, thường
xuyên được bàn bạc những vấn đề cơ mật, được tặng cho danh hiệu "Hoàng
Long" là con rồng thứ năm trong gia đình (sau 4 anh em ruột Diệm - Nhu -
Thục - Cẩn).
Nhờ vào địa vị này cũng như vai trò phụ tá của giám mục Lê Hữu Từ, Vũ
Ngọc Nhạ đã tạo được quan hệ với nhiều quan chức Sài Gòn, chức sắc
Vatican và Công giáo Mỹ, từ đó thu thập được nhiều tin tình báo có giá
trị.
Vào cuối năm 1963, Ngô Đình Nhu giao cho Vũ Ngọc Nhạ nhiệm vụ
gặp mặt và
vận động sự ủng hộ của chức sắc Công giáo. Vì vậy, ông Nhạ không ở cùng
với anh em Diệm - Nhu trong cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, và theo
lời của ông, nhờ đó mà thoát khỏi số phận bị giết chết như Diệm - Nhu.
Được xem như một cố vấn cho tướng Thiệu trong lĩnh vực quan hệ với giới Công giáo, ông nhanh chóng trở thành một "Ông cố vấn"
lần thứ hai, với sức ảnh hưởng đến chính giới còn mạnh hơn so với thời
anh em Diệm - Nhu, nhất là từ sau khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống vào
năm 1967. Để khai thác một cách triệt để hơn sức ảnh hưởng và nguồn
thông tin lớn, cấp trên của ông đã mở rộng nhiệm vụ của ông thành mạng
lưới, rồi cụm tình báo A.22 (vốn là mật danh riêng của ông) do Nguyễn
Văn Lê làm Cụm trưởng, ông làm Cụm phó trực tiếp phụ trách lưới tình
báo. Toàn bộ cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức
Trí, Chỉ huy phó Tình báo quân sự tại miền Nam
Vũ Ngọc Nhạ là một trong số điệp viên chiến lược được tung vào miền Nam
chuẩn bị cho thời kỳ hậu Hiệp định Genève. Từ vỏ bọc "cố đạo", ông khéo
léo gây dựng quan hệ, tiếp cận quan chức cấp cao của địch, từ đó nắm
nhiều tin tức chiến lược.
Các điệp viên này đều được giao
nhiệm vụ "chui sâu leo cao" vào những
chức vụ quan trọng để có thể thu thập thông tin chiến lược và có thể tác
động đến chính quyền. Thành công lớn nhất của Cụm A.22 là cắm được một
cơ sở của Lê Hữu Thúy là Huỳnh Văn Trọng
(nguyên Bộ trưởng Quốc gia Việt Nam thập niên 1950) vào vị trí Phụ tá
tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Huỳnh Văn Trọng dẫn đầu một phái đoàn
ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ với hàng
loạt tổ chức, cá nhân trong chính phủ và chính giới Hoa Kỳ để thăm dò
thái độ của Chính phủ Johnson đối với cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt
Nam, đồng thời thu thập được nhiều thông tin tình báo chiến lược.
Bộ hồ sơ của Nha Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia của chính phủ Sài Gòn đã nhận xét về cụm A.22 như sau: "Từ
trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết
trinh thám chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. Cụm
A.22 hoạt động do Ông Vũ Ngọc Nhạ cầm đầu phát triển đều đặn và thi thố
nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc.
Cụm đã phát triển một hệ thống điệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi
vào được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hoà. Những tin tức
chiến lược mà Cảnh sát Quốc gia biết họ cung cấp, đều có giá trị giúp
cho Hà Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ
đối với cuộc chiến tranh.
Vào năm 1969, theo chỉ thị của cấp trên, cụm tình báo A.22 dự định thiết
lập một "chính phủ" mới với những vị trí quan trọng trong nội các đều
do các cơ sở tình báo của cụm nắm giữ. Ví dụ Huỳnh Văn Trọng dự kiến làm
Thủ tướng,
Vũ Hữu Duật dự kiến làm Bộ trưởng Chính trị, Vũ Xuân Hoè làm Bộ trưởng
Kinh tế, Lê Hữu Thuý làm Bộ trưởng Thông tin chiêu hồi. Tuy nhiên dự
tính này không thành do hoạt động điều tra và phản gián của CIA
Tuy
tổ chức rất chặt chẽ, nhưng do hoạt động mạnh và có ảnh hưởng đến
chính giới cũng như chính quyền Sài Gòn, CIA nhanh chóng phát hiện thấy
điều không bình thường của những nhân vật riêng rẽ này,
vốn hầu hết đều là những nghi can về tội làm điệp viên và từng bị giam
giữ tại trại Tòa Khâm. Do đó, cơ quan CIA đã tiến hành điều tra để phá
vỡ cụm tình báo vô cùng nguy hiểm này. Hồ sơ các cựu tù nhân trại Tòa
Khâm được giở lại từ giữa năm 1968. Do quy mô, cũng như sức ảnh hưởng
quá lớn và tính chất phức tạp của vụ án, mãi hơn một năm sau CIA mới
chuyển giao thông tin cho Tổng Nha Cảnh sát điều tra vụ án. Một đơn vị
đặc biệt có mật danh S2/B đã được thành lập và đã tiến hành bắt giữ hầu
hết những người của Cụm A.22 vào trung tuần tháng 7 năm 1969. Toàn bộ
các điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy (tức Thắng), Vũ Hữu Ruật, Nguyễn
Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng, hầu hết các cơ sở như phụ tá Huỳnh Văn
Trọng, cơ sở giao liên như bà Cả Nhiễm... đều bị bắt giữ. Tuy nhiên, Cụm
trưởng Tư Lê đã kịp thời trốn thoát.
Khi vụ án được đưa ra xét xử vào tháng 11 năm 1969, báo giới Sài Gòn đã
mệnh danh đây là "Vụ án chính trị của thế kỷ", "Vụ án gián điệp lớn
nhất thời đại".
Cụm tình báo A22 bị đưa ra xét xử vào năm 1969.
Nếu bị kết án gián điệp, các thành viên của cụm A.22 có thể bị kết án tử
hình. Tuy nhiên cụm tình báo đã đi một nước cờ xoay chuyển tình thế:
biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị, lợi dụng mức ảnh hưởng và
mối quan hệ sâu rộng, các bằng chứng công khai, cũng như tình thế chính
trị bấy giờ để dẫn phiên tòa vào thế bế tắc. Các tình báo viên đã khiến
báo giới và dư luận Sài Gòn lúc đó nghĩ rằng vụ bắt bớ này là thủ đoạn
đấu đá chính trị của các phe phái trong chính quyền Sài Gòn và cái tội
danh "điệp viên, tình báo" chỉ là cái cớ được dựng lên
Vụ án cụm A.22 từ một thành công về phản gián trở thành một rắc rối lớn
về chính trị của CIA. Tòa thánh Vatican và cộng đồng Công giáo di cư
cũng cho rằng đây là âm mưu của CIA và Chính quyền Thiệu nhằm phá hoại
Công giáo Việt Nam. Để "gỡ rối", CIA đã đề nghị Vũ Ngọc Nhạ khai nhận là
mình làm việc cho cơ quan này, đổi lại ông sẽ nhận được lương bổng hậu
hĩ cùng với 2 triệu USD trả thêm. Nhưng ông Nhạ đã từ chối
Nước cờ của cụm tình báo A.22 đã hoàn toàn thành công. Không có ai trong cụm bị kết án tử hình.
Do không có bằng chứng thuyết phục để khép vào tội tử hình, tòa án quân
sự mặt trận lưu động Vùng 3 đã tuyên án Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Huỳnh
Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hòe án Chung thân khổ sai, những thành viên khác
bị kết án từ 5 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, dù sao thì Cụm A.22 cũng đã
thực hiện thành công được ý định của mình: giữ được mạng sống các điệp
viên, giữ lại được vị thế chính trị để hoạt động khi ra tù, đồng thời
gây ra sự nghi kỵ lẫn nhau trong chính trường Việt Nam Cộng hòa
Sự
thành công này còn đạt được một kết quả bất ngờ: khi Cụm Tình báo A.22
bại lộ, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa và không muốn tin vào sự
thật, còn cho rằng đây là âm mưu của CIA dàn cảnh để triệt hạ người thân
tín của mình. Người Mỹ phải đích thân gặp Nguyễn Văn Thiệu và đe doạ: "Nếu ông không ký lệnh bắt Vũ Ngọc Nhạ, ông sẽ mất chức Tổng thống."
Trong thời gian Vũ Ngọc Nhạ và các bạn đồng chí bị đày ra Côn Đảo,
Thiệu đã thay thế viên Tỉnh trưởng Côn Đảo bằng một người thân tín của
mình và ra lệnh phải chăm sóc ông Nhạ chu đáo.
Ông còn trao đổi thư từ và gặp mặt trực tiếp với nhiều chức sắc tôn
giáo và chính trị gia người Việt lẫn Mỹ. Về phía Vatican, trong buổi lễ
ngày 23 tháng 6 năm 1971, Vũ Ngọc Nhạ được giáo hoàng Phaolô VI ca ngợi,
ban ơn chết lành và được tặng bằng khen cùng huy chương. Một linh mục
khâm sai của Vatican đã đến khám Chí Hoà trao phần thưởng của giáo hoàng
cho ông Nhạ vào ngày 25 tháng 6.
Ông Vũ Ngọc Nhạ (người thứ 2, trái qua) trong lần họp mặt của Tổng cục tình báo.
Cụm tình báo A.22 bị phá vỡ, nhưng hoạt động tích cực của các điệp báo viên khác như Phạm Xuân Ẩn
khiến nhiều tin tức nội bộ khác vẫn bị rò rỉ ra ngoài. Điều này càng
khiến Nguyễn Văn Thiệu tin rằng Mỹ dàn dựng vu oan cho ông Nhạ và tìm
cách đưa ông ra khỏi Côn Đảo về sau.
Sau khi được trao trả, cuối năm 1973, ông được đưa về Phòng tình báo
quân sự để làm công tác xác minh. Đầu năm 1974, sau khi đã kiểm tra
thông tin, ông được khôi phục hoạt động bí mật và được công nhận quân
hàm Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau năm 1975, toàn bộ Hồ sơ mật về Cụm tình báo chiến lược A.22 của Nha
Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia được thu hồi nguyên vẹn. Thậm chí, vào
ngày 30 tháng 4 năm 1975, một chỉ huy tình báo cao cấp và là chỉ huy
trực tiếp của Vũ Ngọc Nhạ là Đại tá
Nguyễn Đức Trí cũng có mặt tại dinh Độc Lập. Tuy nhiên, thân phận thật
của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận. Mãi đến năm 1976, ông mới được
điều về làm chuyên viên Cục 2 với quân hàm Thượng tá. Năm 1981, ông được thăng quân hàm Đại tá.
Đến
năm 1987, thân thế và sự nghiệp của ông mới được công chúng biết tới.
Để tôn vinh sự nghiệp hoạt động của ông, năm 1988, Nhà nước Việt Nam
phong hàm Thiếu tướng cho Vũ Ngọc Nhạ. Cụm tình báo chiến lược A.22 và
Đại tá Lê Hữu Thúy được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang.
Ông qua đời lúc 6 giờ 7 phút ngày 7 tháng 8 năm 2002
tại TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi. Phần mộ của ông nay được đặt tại
nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, trong khu vực dành riêng cho các
tướng lĩnh, gần mộ phần của 2 điệp viên nổi tiếng khác là Phạm Xuân Ẩn
và Đặng Trần Đức. Mộ phần của Đại tá Phạm Ngọc Thảo cũng cách đó không
xa.
4/ Đặng Trần Đức:
Đặng Trần Đức (19 tháng 10 năm 1922–26 tháng 3 năm 2004) bí danh Ba Quốc – 3Q, tên công khai khi hoạt động tình báo tại Sài Gòn trước năm 1975 là Nguyễn Văn Tá,
là Thiếu tướng tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên Ủy viên
Thường vụ Đảng ủy, Cục trưởng Cục 12, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng Việt
Nam, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và Campuchia Trước khi mất,
ông là cố vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo và tham gia Ban chỉ
đạo Điệp báo Tổng cục.
Ông sinh tại phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai (nay là phường Vĩnh Hưng), thành phố Hà Nội.
Tháng 3 năm 1945, ông tham gia Việt Minh tại khu Hàng Trống, Hà Nội; được tuyển vào Công an xung phong.
Tháng 5 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng
xã Thanh Trì (Hà Nội). Sau khi củng cố chính quyền xã, ông huy động
nhân dân lên tham gia cuộc mít tinh ngày 19 tháng 8 tại Nhà hát lớn Hà
Nội. Sau đó được điều về Hà Nội làm công an, tham gia phá một số vụ án,
trong đó có vụ án phố Ôn Như Hầu. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông là
Trung đội trưởng Công an thanh niên xung phong Mặt trận Việt Minh khu
Khâm Thiên, Hà Nội.
Năm 1946, Mặt trận Hà Nội vỡ, ông cùng vợ là bà Phạm Thị
Thanh về Thanh Hóa. Sau đó được lệnh rút vào Đô Lương (Nghệ An), làm
trưởng khu Đức Hòa.
Tháng 5 năm 1949, ông được giao làm nhiệm vụ điệp báo và
trở về hoạt động tại Hà Nội. Vợ ông cũng được lệnh về Hà Nội hoạt động
nhưng do mới sinh con nên về sau. Tổ chức giới thiệu ông với điệp báo
viên Đặng Văn Hàm - từng làm Trưởng ty thương binh tỉnh Ninh Bình - con
rể ông Đàm Y. Thời điểm đó ông Đàm Y là quận trưởng của Quận 1 (Hàng
Trống) và là thân tín của Tổng trấn Bắc Việt Nghiêm Xuân Thiện. Ông Đặng
Văn Hàm sau cũng được đưa vào Nam hoạt động. Sau năm 1975, ông Hàm được
thăng quân hàm thiếu tá.
Thiếu tướng Đặng Trần Đức
Được sự giúp đỡ của cụ Đàm Y, ông che giấu thân phận là
Việt Minh, vào làm công an của chế độ Bảo Đại và sau đó xin làm Đồn
trưởng công an Từ Sơn (thuộc chính quyền Pháp khi đó), với lý do làm ở
vị trí đó ông mới có điều kiện tìm được vợ con.
Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết. Ông được lệnh theo quân Pháp vào
Nam tiếp tục hoạt động. Để thuận tiện cho việc hoạt động và xóa lý lịch
của mình, hai vợ chồng ông Đàm Y sắp xếp cho Đặng Trần Đức cưới cháu họ
của mình là bà Ngô Thị Xuân - có bố làm công chức cho Pháp và theo đạo
Thiên Chúa. Cụ ông Đàm Y không có điều kiện được thấy nước nhà thống
nhất cũng như thành công của Đặng Trần Đức, cụ mất năm 1974 tại Sài Gòn,
nhưng sau này 2 vợ chồng cụ đều được công nhận lại tư cách Điệp báo
viên của Tình báo Quốc phòng.
Năm 1954, hiệp định Genève được ký kết. Ông được lệnh theo
quân Pháp vào Nam tiếp tục hoạt động. Để thuận tiện cho việc hoạt động
và xóa lý lịch của mình, hai vợ chồng ông Đàm Y sắp xếp cho Đặng Trần
Đức cưới cháu họ của mình là bà Ngô Thị Xuân - có bố làm công chức cho
Pháp và theo đạo Thiên Chúa. Cụ ông Đàm Y không có điều kiện được thấy
nước nhà thống nhất cũng như thành công của Đặng Trần Đức, cụ mất năm
1974 tại Sài Gòn, nhưng sau này 2 vợ chồng cụ đều được công nhận lại tư
cách Điệp báo viên của Tình báo Quốc phòng.
Vào Nam, lúc đầu ông được bố trí làm kế toán viên tại Nha
Công an Nam phần. Nhờ biết được người Pháp đang có kế hoạch chuyển một
số vàng rất lớn về Pháp, ông đã thông tin cho Trưởng ban công tác đặc
biệt Phủ Tổng thống là Trần Kim Tuyến.
Nhờ đó ông được chuyển về ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống của Việt
Nam Cộng hòa, đặc trách tổ chức việc thu thập thông tin buôn lậu vàng.
Sau sự việc này, ông chính thức được điều về Sở Nghiên cứu chính trị -
xã hội do Trần Kim Tuyến đứng đầu, với cấp bậc là chuyên viên bậc 3.
Trở thành chuyên viên của Sở Nghiên cứu chính trị, ông Ba
Quốc tập trung nghiên cứu tất cả những công việc của cơ quan này và bắt
đầu khai thác những gì có thể khai thác. Ông làm việc tận tụy, chu đáo,
mẫn cán để tạo lòng tin với Trần Kim Tuyến.
Ông Ba Quốc và gia đình tại Sài Gòn khi đang hoạt động bí mật.
Năm
1956, quân Việt Nam Cộng hòa bắt đầu đánh phá ác liệt
các "cơ sở nằm vùng của Việt Cộng". Người chỉ huy trực tiếp của ông là
ông Ba Hội cũng bị bắt. Trong bối cảnh đó, Trần Kim Tuyến bất ngờ giao
cho ông thực hiện một kế hoạch đặc biệt. Một đặc khu ủy viên Sài Gòn –
Gia Định đang hoạt động ở nội thành tên Huỳnh Kim Hiệp đã phản bội, báo
tất cả danh sách đặc khu ủy, gồm bí thư và 9 đặc khu ủy viên, nơi ở và
các hoạt động hằng ngày của họ. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã kịp
thông báo cho bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định lúc đó là ông Nguyễn Văn
Linh, người sau này là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và các khu ủy
viên kịp thời trốn thoát.
Tháng 5 năm 1959, biết được chính quyền Sài Gòn lên kế
hoạch ám sát Hoàng thân Sihanouk,
ông đã bố trí cho bom nổ lệch giờ, kịp thời cứu mạng Hoàng thân
Sihanouk. Sau vụ việc này, Hoàng thân Sihanouk công khai ủng hộ Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Ông
cho phép Bộ đội Giải phóng được sử dụng lãnh thổ Campuchia để lập căn
cứ, vận chuyển vũ khí, lương thực, đạn dược chi viện cho chiến trường
miền Nam.
Năm 1960, sau khi bắt liên lạc được với cơ sở,
ông Ba Quốc
ngày càng thâm nhập sâu vào Sở Nghiên cứu chính trị và được Trần Kim
Tuyến đặc biệt tin tưởng. Trong thời gian này, ông đã phát hiện hồ sơ về
7 ổ gián điệp do Mỹ cài ở miền Bắc. Ông đã chụp ảnh tất cả những hồ sơ
này và gửi về căn cứ. Kết quả những ổ gián điệp này đã bị tiêu diệt
sạch.
Sau khi chế độ Diệm sụp đổ, trải qua những năm biến động
chính trị của miền Nam, Ba Quốc lại thâm nhập vào Phủ Đặc ủy Trung ương
Tình báo.
Lúc này ông nằm trong cụm điệp báo H67, ông có lúc leo lên đến trợ lý
Cục trưởng Cục Tình báo Quốc nội, kiêm nhiệm Trưởng ban Đoàn thể (phụ
trách việc theo dõi hoạt động của các tổ chức chính trị). Ở vị trí này,
Ba Quốc được tiếp cận với hầu hết các tài liệu quan trọng trong mạng
lưới tình báo của Việt Nam Cộng hòa.
Năm 1969, xảy ra vụ án gián điệp của Vũ Ngọc Nhạ,
mạng lưới tình báo của Hà Nội trong lòng Sài Gòn có nguy cơ bị vỡ,
phòng tình báo miền phải rút cụm trưởng H67 về cứ, và tổ chức hội nghị
đánh giá lại công tác tình báo. Tuy nhiên ông vẫn chưa bị lộ.
Trong thời kỳ chiến tranh, Đặng Trần Đức đã tìm cách tiếp cận với Phạm Xuân Ẩn, một điệp viên khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đang hoạt động dưới vỏ bọc nhà báo, để khai thác tin tức. Cả ông và
Phạm Xuân Ẩn đều không biết đối phương là đồng đội cùng chiến tuyến. Cấp
trên đã ra lệnh cho ông Đức cắt đứt quan hệ với ông Ẩn, viện cớ ông Ẩn
là người của CIA.
Năm 1974, do giao liên bị bắt, trước nguy cơ bị lộ, ông
được lệnh rút ra mật cứ, rồi từ đó theo đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc. Về
Hà Nội, ông báo cáo tình hình chính trị miền Nam cho Bộ Chính trị, và
sau đó được phiên quân hàm Trung đoàn bậc phó tương đương thiếu tá. Tại
miền Bắc, ông đoàn tụ với gia đình sau 21 năm cách biệt vì nhiệm vụ.
Ông Ba Quốc bên gia đình người vợ ngoài Bắc sau 21 năm xa cách được đoàn tụ
Khi
kết thúc chiến tranh Việt Nam, ông tiếp tục công tác
trong ngành Tình báo quốc phòng và trở thành cán bộ Tình báo. Ông đóng
góp rất to lớn vào thành công của lực lượng tình báo trong giai đoạn
chiến tranh tây nam. Năm 1977, cụm điệp báo Hà Tiên/Kiên Giang mà ông là
cụm trưởng đã móc nối thành công với Heng Samrin - tư lệnh sư đoàn 4
của Khmer Đỏ, nắm được ý đồ của Khmer Đỏ coi "Việt Nam là kẻ thù truyền
kiếp".
Từ đó Trung ương Đảng xác định, đây không chỉ là "xung đột biên giới"
đơn thuần mà là cuộc chiến tranh Bảo vệ Tổ Quốc. Năm 1978, ông Heng
Samrin tiến hành đảo chính không thành công, Việt Nam buộc phải tiến
hành biện pháp cứng, phản công trên toàn biên giới tây nam với hơn 25
vạn quân và tiến vào Phnom Penh lật đổ chế độ Khmer Đỏ.
Tháng 11 năm 1978, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu AHLLVTND. Lúc này ông mang quân hàm trung tá.
Sau khi Quân đội Việt Nam tiến quân vào Campuchia, ông là
cụm trưởng tình báo địa bàn Koh Kong - phụ trách tình báo quân sự khu
vực phía Nam Campuchia.
Sau đó ông công tác tại đoàn 817 - cục 2, đơn vị tình báo
chính cho lực lượng quân sự Việt Nam tại Campuchia. Năm 1981, lúc này là
thượng tá, ông được giao nhiệm vụ là Đoàn phó Đoàn 817 - phụ trách công
tác phản tình báo, bao gồm tiêu diệt và bóc gỡ hệ thống Tình báo của
Khmer Đỏ tại Campuchia.
Trong thời kỳ 10 năm ở Campuchia, ông là người tổ chức và
chỉ huy Tình báo Việt Nam, phá vỡ các mạng lưới tình báo Khmer Đỏ để
lại, triệt phá các kênh ngầm viện trợ cho Khmer Đỏ do liên minh
Thái-Mỹ-Trung Quốc đứng đầu, cũng như hỗ trợ đắc lực tin tức tình báo
cho Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.
Năm
1988, trước tình hình biến động tại Đông Âu, khi được cấp trên yêu
cầu đánh giá, ông cho rằng CIA sẽ can thiệp để hình thành cái gọi là Xã
hội dân chủ ở Liên Xô, nhằm làm sụp đổ chế độ Cộng sản từ bên trong. Ông
cũng dự đoán sẽ có 2 cuộc đảo chính diễn ra: đảo chính giả và phản đảo
chính, mà cuộc đảo chính thứ 2 mới là thật. Thực tế đã diễn ra đúng với
những gì ông nói, ngày 19 tháng 8 năm 1991, bất mãn với Tổng thống Liên
Xô - Mikhail Gorbachev, Phó tổng thống, Thủ tướng cùng bộ trưởng Quốc
phòng và giám đốc KGB đã huy động quân đội cùng công an giành chính
quyền, bộ đội sư đoàn tăng Tamanskaya được lệnh tiến vào Thủ đô, còn đặc
nhiệm KGB truy bắt các lãnh đạo phe dân chủ. Tuy nhiên, ngay ngày 20
tháng 8, Boris Yeltsin
đã làm cuộc phản đảo chính, kêu gọi nhân dân xuống đường, gây áp lực
cho quân đội rút khỏi thủ đô. Đến ngày 21, cuộc đảo chính cơ bản thất
bại, Yeltsin bắt đầu nắm quyền lực và đặt nền móng cho sự sụp đổ của
Liên bang Xô Viết. Nhờ vào đó, nhà nước Việt Nam đã không bị động trước
những biến động chính trị ở Đông Âu trong giai đoạn này, một phần dự trữ
vàng và ngoại tệ ở Đông Đức và Liên Xô đã được bí mật đưa về nước trước
khi thể chế chính trị thay đổi.
Nhà tình báo Ba Quốc (bên phải) và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (Ảnh:
Tư liệu).
Sau
khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, năm 1990 ông được
thăng quân hàm Thiếu tướng, lúc này là đoàn trưởng đoàn 817 và sau đó
là Cục trưởng Cục 12, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và
Campuchia. Trong giai đoạn này, Cục 12 có những đóng góp rất lớn trong
việc giải quyết tình hình Campuchia theo hướng có lợi cho Việt Nam. Cục
12 là đơn vị tình báo đầu tiên, tổ chức được hệ thống giao thông, đưa
người trở lại Campuchia sau khi Việt Nam rút quân vào năm 1991. Tháng 9
năm 1997, đồng Thủ tướng Norodom Ranariddh bị lật đổ phải sống lưu vong,
và phe thân Việt Nam lên nắm quyền tuyệt đối; đến năm 1998, Khmer Đỏ
chính thức tan hàng, Pol Pot chết tháng 4 còn Khieu Samphan
đầu hàng quân Hun Sen tháng 12 cùng năm, vấn đề Khmer Đỏ được giải
quyết, trong 2 năm biến động này, cục 12 dưới sự chỉ đạo của Đặng Trần
Đức (lúc này không còn là cục trưởng) đã thành lập một đơn vị mới đứng
chân tại Campuchia để giúp chính quyền thân Việt Nam. Với những thành
tích đó, tháng 1 năm 1999, thuộc cấp của ông là Nguyễn Chí Vịnh được bổ
nhiệm làm Tổng cục phó, còn Đặng Trần Đức được Cố vấn Ban chấp hành
Trung ương phụ trách Vấn đề Campuchia Lê Đức Anh
đề nghị giữ chức Tổng cục trưởng - đứng đầu lực lượng Tình báo Quốc
phòng, vì tuổi đã cao, ông từ chối, và tín nhiệm Nguyễn Chí Vịnh giữ
chức Tổng cục trưởng, tuy vậy, sau này, ông vẫn còn đóng góp thông qua
Ban Chỉ đạo Điệp báo Tổng cục.
Giai đoạn bình thường hóa quan hệ quốc tế, khi còn phụ
trách Cục 12 và sau khi về hưu, ông cũng tham mưu và đề xuất với Ban Chỉ
đạo Điệp báo Tổng cục trong việc xây dựng lực lượng Tình báo Kinh tế -
Công nghệ.
Ông là người duy nhất đi từ tình báo viên trong chiến tranh
Việt Nam, trở thành cán bộ tình báo rồi lãnh đạo tình báo quốc phòng
sau chiến tranh.
Ông mất hồi 5 giờ 30 phút, ngày 26
tháng 3 năm 2004
tại Quân y viện 175, thành phố Hồ Chí Minh trong niềm thương tiếc của
gia đình, bạn bè và cán bộ chiến sĩ Tổng cục. Ông được an táng tại Nghĩa
trang Thành phố Hồ Chí Minh bên cạnh những điệp viên xuất sắc của Quân
đội nhân dân Việt Nam như: Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ.
Ông được tặng thưởng 15 hân, huy chương các loại.
5/ Phạm Ngọc Thảo:
Phạm Ngọc Thảo có tên khai sinh là Albert Phạm Ngọc Thuần
(14 tháng 2 năm 1922 – 17 tháng 7 năm 1965) là một cán bộ tình báo của
Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông hoạt động dưới vỏ bọc là một sĩ quan cao
cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa
cũng như là một chính khách có ảnh hưởng lớn trong chính quyền Sài Gòn
thời đó. Ông cũng là một thành viên chủ chốt trong 2 cuộc đảo chính ở
Việt Nam Cộng hòa vào những năm 1964–1965. Ông mang quân hàm Đại tá của
cả hai quân đội đối nghịch trong Chiến tranh Việt Nam là Quân đội nhân
dân Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Phạm Ngọc Thảo được đích thân Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn chỉ định ở lại miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève,
với nhiệm vụ chiến lược là thâm nhập vào hàng ngũ cao cấp của chính
quyền Sài Gòn để "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước". Không ai
biết rõ "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước" là nhiệm vụ gì, tuy
nhiên theo Võ Văn Kiệt,
Thảo được quyền tùy cơ ứng biến, hoạt động độc lập, không bị bất cứ một
chế định nào, không bị bắt buộc phải báo cáo với một số cấp trên cụ thể
nào.
Sau một thời gian tạo vỏ bọc, Thảo đã giành được lòng tin của chính phủ Ngô Đình Diệm,
được bổ nhiệm một số chức vụ cao cấp và ông đã sử dụng quyền hạn của
mình để phục vụ cho nhiệm vụ tình báo mình được giao. Trong thời gian
được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), ông đã thả 2000 tù chính trị
trong đó bao gồm nhiều cán bộ cách mạng, và cố ý làm lệch hướng các
cuộc càn quét của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau khi chế độ Ngô Đình
Diệm sụp đổ cuối năm 1963, Thảo tham gia nhiều vụ đảo chính với mục đích
gây mất ổn định cho chính quyền Sài Gòn và tạo điều kiện cho hoạt động
của quân Giải phóng. Tuy nhiên sau cuộc đảo chính bất thành vào năm
1965, ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa truy nã và kết án tử hình.
Ông tiếp tục hoạt động bất hợp pháp một thời gian cho đến khi bị bắt,
tra tấn và sát hại vào ngày 17 tháng 7 năm 1965.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo
Thân
phận thật của Phạm Ngọc Thảo được giữ kín suốt một thời gian dài sau
chiến tranh, chỉ đến năm 1995 ông mới được phong Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân. Nguyên nhân được cho là để bảo đảm an toàn cho gia đình
của ông đang sống ở Hoa Kỳ.
Albert
Phạm Ngọc Thảo có tên đầy đủ là Albert Phạm Ngọc Thuần, nguyên quán tại
Thành phố Cần Thơ (tỉnh Hậu Giang cũ) trong một gia đình Công giáo toàn
tòng. Mọi người thường gọi ông là Chín Thảo
theo lối gọi Nam Bộ vì ông là thứ 8 trong gia đình có 11 người con. Cha
và các anh em của ông đều có tên Phạm Ngọc Thuần, chỉ khác phần tên
tiếng tây.
Cha ông là Adrien Phạm Ngọc Thuần (1882–1970), một địa chủ lớn có quốc tịch Pháp.
Mẹ ông là bà Martha Nguyễn Thị Giai (1883–1963). Ông Adrien Thuần có
tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần
Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Adrien Thuần
có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học.
Gia đình Phạm Ngọc Thảo có nhiều người tham gia các phong
trào yêu nước. Ông nội của Phạm Ngọc Thảo là chí sĩ ái quốc Phạm Ngọc
Lành, người ủng hộ, hậu thuẫn cho nhiều phong trào chống Pháp (kể cả Cần
Vương). Anh của Phạm Ngọc Thảo, luật sư Gaston Phạm Ngọc Thuần
(1914–2002) là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, sau
năm 1954 tập kết ra Bắc, làm Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại
CHDC Đức. Một anh trai khác là Lucien Phạm Ngọc Hùng là Ủy viên Hội đồng
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khi kháng
chiến chống Pháp bùng nổ, gia đình Phạm Ngọc Thảo đã đem hết tài sản ra
ủng hộ kháng chiến.
Lúc nhỏ ông học một trường tư thục Công giáo nổi tiếng ở
Sài Gòn đó là trường Lasan Taberd (Có tài liệu nói học trường Chasseloup
Laubat- ngày nay là trường THPT Lê Quý Đôn). Khi học xong tú tài, khác
với các anh em khác, ông không sang Pháp du học (do Chiến tranh thế giới
thứ hai xảy ra) mà ra Hà Nội học, tốt nghiệp Trường kỹ sư công chánh
năm 1942 và về làm việc tại Sài Gòn từ năm 1943.
Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, anh cả của ông là Gaston Phạm Ngọc Thuần tham gia Việt Minh
ở Vĩnh Long và được cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng
chiến Nam Bộ. Khi Luật sư Phạm Văn Bạch ra miền Bắc, ông Thuần làm Chủ
tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam
Bộ (trong những năm 60 làm đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
tại Cộng hòa Dân chủ Đức). Anh trai thứ bảy Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp,
lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng
Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam. Tốt nghiệp trường Kỹ sư công
chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông Phạm
Ngọc Thảo tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp và quyết định trở về Vĩnh Long
theo anh tham gia kháng chiến, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến
hành chính Nam Bộ. Trên đường về, ông bị dân quân Việt Minh bắt hai lần
và suýt bị xử bắn do hiểu lầm.
Vợ chồng Liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo
Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (sau này là Trường Sĩ quan Lục
quân I, nay là Đại học Trần Quốc Tuấn) khai giảng. Ông cùng 12 chiến sĩ
Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá I (tháng
12/1946), ông được điều về Phú Yên
nhận nhiệm vụ làm giao liên. Một lần, ông được giao nhiệm vụ đưa một
cán bộ về Nam Bộ. Do người cán bộ này có vẻ ngoài gầy yếu, ông đề nghị
người cán bộ này giả vờ bị bệnh lao phổi
và cho mình cõng trên lưng, khi đi qua các khu vực do quân Pháp chiếm
đóng sẽ khai là hai chú cháu cõng nhau đi tìm thầy thuốc. Như dự đoán,
do sợ bệnh lao, những người xét hỏi chỉ khám xét qua loa và hai người
đến vùng giải phóng an toàn. Người cán bộ được Phạm Ngọc Thảo hộ tống
chính là Lê Duẩn, người có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tình báo của
ông sau này.
Sau khi trở về Nam Bộ, ông được giao nhiệm
vụ Trưởng phòng
mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở
Nam Bộ,
rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410, Quân khu 9 (có
tài liệu nói là tiểu đoàn 404 hoặc tiểu đoàn 307). Việc bổ nhiệm Phạm
Ngọc Thảo, một thanh niên con nhà địa chủ Công giáo làm Trưởng phòng Mật
vụ, được cho là quyết định rất táo bạo của Lê Duẩn. Trong thời gian này
Phạm Ngọc Thảo cũng hướng dẫn về chiến tranh du kích cho các học viên
Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim... những người sau này trở thành
các tướng lĩnh trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Năm 1949, Phạm Ngọc Thảo kết hôn với bà Phạm Thị Nhiệm,
cũng là một trí thức tham gia kháng chiến (bà Nhiệm là em ruột giáo sư
Phạm Thiều).
Những năm 1952–1953, ông là sĩ quan tham mưu trong một số đơn vị chủ lực của Việt Minh tại miền Tây Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, các cán bộ của Việt Minh
(cả dân sự lẫn quân sự) đều được tập kết ra Bắc. Cũng có nhiều cán bộ
Việt Minh đã bí mật ở lại. Riêng trường hợp của Phạm Ngọc Thảo, chính Lê Duẩn
đã chỉ thị cho ông không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam để hình thành
"lực lượng thứ ba" trong trường hợp Hiệp định Geneve không được đối
phương thi hành. Về việc này, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: "Anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho đồng chí Thảo một nhiệm vụ đặc biệt".
Lê Duẩn giới thiệu Phạm Ngọc Thảo với Mai Chí Thọ, lúc ấy
là người phụ trách Ban Đặc tình Xứ ủy và hai người khác trong Ban Đặc
tình Xứ ủy là Mười Hương và Cao Đăng Chiếm.
Ông được giao nhiệm vụ phải thâm nhập vào nội bộ của chính quyền Sài
Gòn để hoạt động "phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước". Nội dung cụ
thể chi tiết của nhiệm vụ này không được rõ, kể cả ông Mai Chí Thọ chỉ
biết nhiệm vụ của mình đối với Phạm Ngọc Thảo nhưng không được biết Lê
Duẩn giao nhiệm vụ gì cho ông Thảo. Theo lời của cựu thủ tướng Võ Văn
Kiệt, Phạm Ngọc Thảo được quyền tùy cơ ứng biến, hoạt động độc lập, tự
do hành động, không bị bất cứ một chế định nào, không có trách nhiệm báo
cáo bất cứ chuyện gì với bất kỳ ai và có quyền tự do báo cáo thông tin
với bất cứ cấp trên nào mà ông Thảo thấy tin tưởng.
Phạm Ngọc Thảo (thứ hai từ trái sang) trong Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 410 tại miền Tây Nam Bộ năm 1952. Ảnh tư liệu
Tuy ở lại hoạt động ở miền Nam nhưng Đảng không cho phép
Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm vào sống ở Sài Gòn, chỉ có Mười Hương là
có thể vào Sài Gòn
sống hợp pháp vì ông là cán bộ từ ngoài Bắc vào, không ai biết. Do đó,
Mười Hương đã bàn bạc cụ thể với Phạm Ngọc Thảo về phương thức hoạt động
và trực tiếp liên lạc với Phạm Ngọc Thảo ngay tại Sài Gòn.
Ông Mười Hương trở thành "người chỉ huy" Phạm Ngọc Thảo trong thời kỳ
đầu, tuy nhiên thời gian này rất ngắn, vì sau đó Mười Hương bị chính
quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế.
Phạm Ngọc Thảo trở lại Sài Gòn giữa lúc tình hình rất khó khăn, lực lượng Bình Xuyên
gây rối khắp nơi. Vì không chịu ký tên vào giấy "hồi chánh" theo quy
định của chế độ Việt Nam Cộng hòa đối với những người đã đi theo Việt Minh không tập kết ra Bắc, ông bị đại tá Mai Hữu Xuân,
Giám đốc An ninh Quân đội lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Vì
vậy, ông không vội tiếp cận với gia đình họ Ngô mà đi dạy học. Vợ ông
cũng vậy.
Sau cùng, ông về Vĩnh Long dạy học. Vùng này thuộc giáo
phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục,
vốn quen biết gia đình ông từ lâu. Gia đình ông theo Thiên chúa giáo
lâu đời, rất thân thiết với Giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình
Thục rất quý mến Thảo vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như
con nuôi. Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Ngọc Thảo từng mời Giám mục
Phêrô Ngô Đình Thục vào chiến khu để tranh thủ đồng bào Công giáo ủng
hộ kháng chiến. Vì vậy, Giám mục Thục đã bảo lãnh cho ông vào dạy học ở
trường Nguyễn Trường Tộ. Sau này, cũng chính Giám mục Thục đã giới thiệu
ông với Ngô Đình Nhu và ông được sắp xếp vào làm việc ở Sở Tài chánh
Nam Việt.
Nhờ chính sách "đả thực bài phong", khuyến khích những
người theo kháng chiến cũ về với "chính nghĩa quốc gia" của Ngô Đình
Diệm,
ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn
trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam.
Năm 1956, ông được phép đưa vợ con ra Sài Gòn sinh sống, làm việc tại
ngân hàng quốc gia; rồi được chuyển ngạch quân sự, mang hàm Đại úy "đồng
hóa".
Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của ông Huỳnh Văn Lang,
Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng
Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm
Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng
Cần Lao.
Sau khi gia nhập đảng Cần Lao,
ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và
chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên đảng Cần
Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa – tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Tờ Bách Khoa qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn tồn tại cho đến năm 1975.
Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo.
Đại
tá Thảo còn biết "khai thác" vốn binh pháp Tôn Tử mà Hoàng Đạo Thúy
từng dạy để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách
khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề
chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân
tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo... Điều đặc biệt là trong các bài
báo này, ông ngầm ca ngợi quân đội Việt Minh và các lực lượng kháng
chiến chống Pháp – điều tối kỵ đối với người sống dưới chính quyền Sài
Gòn có chính sách chống Cộng triệt để. Chính quyền lúc đó thấy bài viết
của ông mang "giọng điệu Cộng sản" nhưng không thể bắt bẻ được vì ông
chỉ thuần tuý nêu lên kinh nghiệm cá nhân của mình mặc dù ai cũng ngầm
hiểu đấy là "kinh nghiệm" của ai. Hơn nữa, các bài viết của ông được
nhiều thành phần độc giả đánh giá cao, trong đó có chính anh em Ngô Đình
Diệm. Nhờ đó, Phạm Ngọc Thảo dần dần lọt vào mắt xanh gia đình họ Ngô.
Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của
Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ
Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Vĩnh Long, rồi Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh
Bình Dương.
Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và
tham mưu ở Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được cử làm
Thanh tra Khu Trù Mật.
Biết Phạm Ngọc Thảo từng là chỉ huy quân sự Việt Minh, đầu
năm 1961 Ngô Đình Diệm đã quyết định thăng ông lên trung tá và cử làm
tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre) để trắc nghiệm Chương trình Bình
định. Trước khi nhận nhiệm vụ mới, ông đề nghị trực tiếp với Ngô Đình
Diệm 3 yêu cầu:
Một là ổn định tình hình Bến
Tre không phải bằng bạo lực mà là chính trị, vì ông không thể hành động
như những quân nhân võ biền khác.
Hai, nếu bắt được Việt Cộng, có đủ bằng chứng, cho lập phiên tòa xét xử.
Ba, Tỉnh trưởng Bến Tre được đặc cách chỉ báo cáo với Tổng thống, không qua một ban, bộ nào.
Ngô Đình Diệm đã chấp thuận cả ba yêu cầu đó. Về làm Tỉnh
trưởng Bến Tre một thời gian, ông đã ký quyết định thả 2.000 tù nhân
chính trị đang bị giam giữ (trong đó có ông Võ Viết Thanh, sau này là
Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh), liên lạc với bà Nguyễn Thị Định,
tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ và lập tòa án trừng trị
bọn phản bội, đầu hàng. Chính sách không sử dụng bạo lực của Phạm Ngọc
Thảo đã "bật đèn xanh" cho phong trào Đồng khởi sau này.
Nhiều phản ứng của phía chính quyền và quân đội Sài Gòn đều được Phạm
Ngọc Thảo bác bỏ với lý do Ngô Đình Diệm thí nghiệm một luận thuyết mới
nên phải có thì giờ để kiểm nghiệm. Do có nhiều tố cáo nghi ngờ ông là
cán bộ cộng sản nằm vùng, anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu đã ngưng
chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và cho ông sang Hoa Kỳ
học một khóa về chỉ huy và tham mưu. Năm 1962, Phạm Ngọc Thảo được bổ
nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống.
Ngày
Quốc khánh Việt Nam cộng hòa 26 tháng 10 năm 1961, một cuộc mít-tinh
lớn biểu dương lực lượng được tổ chức tại Quảng trường An Hội (khu Vườn
Hoa ba con chim câu bây giờ). Đặng Quốc Tuấn (sau này là Tỉnh ủy viên,
Bí thư Tỉnh đoàn,
Giám đốc Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Bến Tre), lúc đó 17 tuổi,
đang học đệ tam (lớp 10) cùng với đồng đội tên Thiều có nhiệm vụ phá
hoại buổi mít-tinh này. Mỗi ông cầm 1 quả lựu đạn MK2,
còn lại 3 quả lựu đạn để ở nhà ông Thiều. Theo bàn bạc, ông Thiều ném
lựu đạn trước, ông Tư Tuấn ném tiếp theo, xong chạy về tập kết tại nhà
ông Thiều ở thị xã. Tuy nhiên, không có quả lựu đạn nào phát nổ. Hai ông
định quay về nhà lấy thêm 3 quả lựu đạn còn lại thì bị bắt.
Một tuần sau khi hai ông bị bắt, ông Thảo có đến gặp ông
Tuấn và ông Thiều. Lần đó, một cố vấn Mỹ thẩm vấn, ông Thảo làm phiên
dịch. Hỏi: "Tại sao là học sinh mà đi ám sát Tỉnh trưởng ngay tại ngày Quốc khánh? Có phải Cộng sản giao việc không? Ai là người giao việc?". Trả lời: "Do
chính quyền độc ác, đàn áp ức hiếp giết hại dân. Chúng tôi học tập
gương của Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học đứng lên đấu tranh, không liên
quan gì tới Cộng sản, không có ai giao việc cả".
Ông Thảo dịch như thế nào ông Tư Tuấn không biết, ông Thảo chỉ nói với
hai ông: "Các em còn nhỏ, phải lo chuyện học hành, chính trị là chuyện
của người lớn, sau này lớn lên muốn làm gì thì làm". Lần thứ hai, ông
Thảo đến hỏi thăm trước khi cả hai bị đưa về Chí Hòa. Hai ông bị kết án
mỗi người 20 năm tù, sau đó đưa ra Côn Đảo. Ông Thiều được trao trả năm
1973, thoát ly lên chiến khu, sau giải phóng làm cán bộ Ban Tổ chức
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, qua đời năm 1984 vì bệnh. Còn ông Tư
Tuấn đến ngày giải phóng mới về.
Những năm 1988–1989, bà Phạm Thị Nhiệm – phu nhân ông Thảo
định cư ở Mỹ có về thăm tỉnh Bến Tre và An Giang. Bà đã gặp lại Đặng
Quốc Tuấn trong chuyến thăm lại Dinh Tỉnh trưởng. Bà Phạm Thị Nhiệm thăm
hỏi ông Tuấn rồi bảo gửi cho bà tấm ảnh khi còn là học sinh Kiến Hòa,
để về treo bên cạnh ảnh ông Phạm Ngọc Thảo làm kỷ niệm. Bà kể: "Hồi
đó, ông Thảo vẫn thường nhắc chúng mày. Lúc bị ném lựu đạn ông Thảo
chụp trái lựu đạn đang xì khói, lúng túng không biết xử lý làm sao. Nếu
liệng ra bên ngoài thì chết dân, liệng bên phải bên trái thì chết dàn
thiếu nhi nhà thờ. Đang không biết làm sao thì thấy khói dần dần mỏng
ra, ổng biết lựu đạn lép, nên nắm chặt luôn".
Trong
những năm 1962–1963, phong trào Đồng khởi
lan rộng. Biết trước sau gì tổng thống Ngô Đình Diệm cũng bị người Mỹ
lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng
với Trần Kim Tuyến và giáo sư Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính
với mục tiêu đổi chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ.
Tháng
9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị
(thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu một cuộc đảo chính.
Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm
tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị
lộ. Để chấm dứt âm mưu đảo chính này, ngày 6 tháng 9 năm 1963, Tổng
thống Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập. Ngô Đình
Nhu
không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu
không tin Thảo phản bội, thứ hai là Thảo "không có quân". Thực ra lúc đó
Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn
4, Biệt động quân, Bảo an,... hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ
yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có
thể nắm được.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo khi giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre ngày nay). Ảnh: Tạp chí LIFE
Ngày
1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ bởi một nhóm
tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh. Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng
Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo được phe đảo chính
giao nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh. Theo tài liệu "Làm thế nào để
giết một Tổng thống?", Trung tá Phạm Ngọc Thảo nằm trong nhóm các tướng
tá, đứng đầu bởi 2 tướng Trần Thiện Khiêm và Đỗ Mậu,
chủ trương chỉ thay đổi cơ cấu chế độ mà không làm hại đến tính mạng
anh em Diệm – Nhu. Ông được tướng Khiêm giao nhiệm vụ tìm mọi cách để
đón và bảo vệ an ninh cho anh em Diệm – Nhu sau khi quân đảo chính kiểm
soát được dinh Gia Long.
Dù không đón được anh em Diệm – Nhu, những người mà sau đó đã bị giết
trong một hoàn cảnh bí ẩn, để tưởng thưởng cho công lao tham gia đảo
chính, ông vẫn được thăng lên cấp đại tá, làm tùy viên báo chí trong Hội
đồng Quân nhân Cách mạng sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. Một thời
gian sau, ông được cử làm tùy viên văn hóa của Tòa đại sứ Việt Nam tại
Mỹ. Sau đó ông được tướng Nguyễn Khánh mời làm phát ngôn viên báo chí
trong "Hội đồng quân nhân Cách mạng".
Tháng 10 năm 1964, khi Trần Thiện Khiêm được bổ nhiệm làm
Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ, ông được cử làm tùy viên báo chí và
quân sự của Sứ quán Việt Nam Cộng Hòa. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định
cư ở Mỹ cho đến ngày nay).
Đầu năm 1965, Phạm Ngọc
Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông.
Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt
ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng
giờ bay dự định nên thoát.
Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực
lượng đối lập khác để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn vì một lý do vô cùng
quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh
đã thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo
chính sẽ tiến hành đúng ngày 19 tháng 2 với tên gọi Chiến dịch Nguyễn
Huệ.
Ảnh của phóng viên Hãng tin Pan-Asia Newspaper Alliance (PANA News, Nhật
Bản) chụp Phạm Ngọc Thảo mang lon Đại tá quân đội Sài Gòn lúc chỉ huy
cuộc đảo chính ngày 19-2-1965. Ảnh: Tạp chí LIFE
Ngày 19 tháng 2 năm 1965, Phạm Ngọc
Thảo cùng thiếu tướng Lâm Văn Phát, đại tá Bùi Dzinh và trung tá Lê
Hoàng Thao
đem quân (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các
đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực
là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh) và xe tăng vào chiếm trại Lê
Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn
Nhất. Tướng Nguyễn Khánh được Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát bằng máy bay ra
Vũng Tàu. Mục tiêu quan trọng hàng đầu là bắt sống Nguyễn Khánh đã không
thực hiện được. Trong tờ Việt Tiến
(in ronéo, phát bí mật) với bút hiệu Lê Minh, đại tá Phạm Ngọc Thảo đã
viết: "Chúng tôi vì không muốn đổ máu mà hơn nữa ngay từ phút đầu đã
thấy có sự chia rẽ và tranh giành nhau, nên tôi đã cho lệnh chấm dứt
cuộc chính biến vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 2 và coi như 20 giờ làm chủ
thủ đô đã chấm dứt".
Ngày 20 tháng 2 năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ
và một số tướng lĩnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã tổ chức hội đồng
các tướng lĩnh họp ở Biên Hòa. Các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy
chống đảo chính và ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ
quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ. Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát,
Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.
Ngày 21 tháng 2 năm 1965, các tướng tiếp tục họp tại Biên
Hòa, quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng
Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 22 tháng 2 năm 1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc
lệnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động (một hình thức
trục xuất khỏi nước cho đi lưu vong).
Ngày 25 tháng 2 năm 1965, Nguyễn Khánh rời khỏi Việt Nam.
Ngày
11 tháng 6 năm 1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy
Quát tuyên bố trả lại quyền lãnh đạo quốc gia cho quân đội.
Ngày 14 tháng 6 năm 1965, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia đã được
thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch (tương đương quốc
trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương
(tương đương thủ tướng).
Cuộc đảo chính năm 1965 do Đại tá Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy. Ảnh: Tạp chí LIFE
Sau đó, Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật, lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn.
Ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách
xuất bản tờ báo "Việt Tiến", mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên
truyền tinh thần yêu nước. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các
xứ đạo Biên Hòa tới Hố Nai, Thủ Đức;
có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông
bị chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải 3 triệu đồng cho ai
bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là Sáu Dân (bí
danh của Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp.
Ông Võ Văn Kiệt kể lại: "tôi
thấy Phạm Ngọc Thảo quá khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu.
Nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chính thành công quyết tâm ngăn chặn
bàn tay đế quốc Mỹ định đưa quân viễn chinh vào miền Nam, cản trở kế
hoạch ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng cuối tháng 5/1965...".
Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài an toàn nhưng ông từ chối.
Sau khi nhậm chức, Nguyễn Văn Thiệu quyết định tìm bắt và
giết Phạm Ngọc Thảo để trừ hậu họa. Tướng Lâm Văn Phát
đã ra trình diện và chỉ bị cách chức, nhưng đại tá Phạm Ngọc Thảo phải
trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh
Thanh, Nhơn Trạch, Biên Hòa. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965,
khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị An ninh Quân đội mai phục
sẵn bắt rồi đưa về một suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa thủ tiêu.
Tuy nhiên Phạm Ngọc Thảo không chết mà chỉ bị ngất vì viên
đạn chỉ trúng cằm. Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Ông được linh
mục Cường, cha tuyên úy của Dòng Nữ tu Đa Minh, Tam Hiệp cứu chữa. Sau
đó ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi An ninh quân đội tới
truy tìm, nhưng bị phát giác và ông lại bị an ninh quân đội bắt về Nha
An ninh Quân đội, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Ông bị Nguyễn Ngọc
Loan và thuộc hạ tra tấn dã man và bóp hạ bộ ông cho đến chết vào rạng
sáng 17 tháng 7 năm 1965. Khi đó ông mới 43 tuổi.
Phạm Ngọc Thảo thời trẻ. Mãi sau này, khi ông được truy phong, người ta mới biết ông là tình báo viên.
Nguyễn Ngọc Loan (tức Sáu Lèo) được cho là đã sát hại ông
lúc đó. Linh mục Nguyễn Quang Lãm (chủ bút Báo Xây dựng),
người có tình cảm đặc biệt đối với Phạm Ngọc Thảo, đã che chở, giữ liên
lạc và làm tất cả những gì có thể làm được để giúp Phạm Ngọc Thảo. Sau
khi Phạm Ngọc Thảo bị giết hại, Báo Xây dựng
của cha Lãm đã đăng loạt bài điều tra 40 kỳ về cái chết của ông. Chưa
hết, gần 10 năm sau, vào năm 1974, cha Lãm còn viết một loạt bài nhiều
kỳ đăng trên Báo Hòa Bình, lại đề cập đến việc ai đã giết Phạm Ngọc
Thảo, ai đã bán đứng Phạm Ngọc Thảo. Chính cha Lãm đã trực tiếp gặp
Nguyễn Ngọc Loan
để hỏi cho ra nhẽ. Tướng Loan chối, bảo rằng không có chuyện đó, rằng
ông Thảo chết là do bị thương quá nặng, mình không liên quan đến chuyện
bắt bớ ông Thảo. Linh mục Nguyễn Quang Lãm đem lời tướng Loan kể lại cho
đàn em và bạn bè Phạm Ngọc Thảo, nhưng không ai tin, "người ta sẵn sàng tin là tướng Loan nói thật, nhưng đó là sự thật ghi trên các phúc trình, báo cáo, biên bản của bác sĩ". Vị linh mục còn viết tiếp: "Tôi
biết chắc những người có dụng ý loại trừ Thảo không muốn chuyện bắt bớ
kéo dài kéo theo nhiều chuyện lôi thôi. Bởi họ không thể không biết đại
tá Phạm Ngọc Thảo rất được cảm tình và sự che chở của nhiều chức sắc cao
cấp Công giáo. Nếu Phạm Ngọc Thảo bị giải về Sài Gòn, chờ ngày ra tòa
lãnh án thì tất nhiên sẽ có nhiều tiếng nói can thiệp, nhiều áp lực ngay
cả do phía tòa đại sứ Mỹ. Vì vậy biện pháp áp dụng là thủ tiêu ngay". Năm 2012, trong một bài báo của báo báo Thanh Niên linh mục Nguyễn Quang Lãm kể lại đã từng hỏi Nguyễn Cao Kỳ: "Hồi đó mọi người đều nói tướng Nguyễn Ngọc Loan tự tay giết chết Phạm Ngọc Thảo. Mà tướng Loan từng là người thân cận của ông?". Nguyễn Cao Kỳ đã trả lời: "Tôi không biết ông Loan có giết ông Thảo hay không, nhưng mọi quyết định đều do ông Thiệu".
Có ý kiến nói rằng Phạm Ngọc Thảo bị Nguyễn Văn Thiệu ra
lệnh giết hại là bởi ông ta không tin Phạm Ngọc Thảo là Đảng viên cộng
sản, nếu tin Phạm Ngọc Thảo là Đảng viên cộng sản thì Nguyễn Văn Thiệu
sẽ không giết Phạm Ngọc Thảo. Bởi kinh nghiệm từ cuộc đảo chính lật đổ
Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu không cảm thấy lo sợ những người cộng
sản bằng một người không cộng sản được Mỹ và Giáo hội Công giáo hậu
thuẫn để làm đảo chính lật đổ ông ta.
Những năm ấy, rất
ít người biết Phạm Ngọc Thảo là một nhà tình báo, người ta chỉ biết ông
là một sĩ quan có khả năng chính trị và ngoại giao.
Sau ngày Việt Nam thống nhất, nhiều đồng đội đã vô cùng chua xót khi
thấy mộ ông vẫn chỉ là nấm mồ vô danh. Họ đã sưu tầm tư liệu, đề nghị
Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân
dân,...
Rất nhiều nước mắt xúc động, cảm thương của những người chiến binh già
đã rơi khi kể lại câu chuyện về ông. Năm 1987, Nhà nước Việt Nam truy
tặng ông danh hiệu liệt sĩ, với quân hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt
Nam, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và năm loại huân
chươngnhững cao quý khác.. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa
trang Thành phố Hồ Chí Minh, trên đồi Lạc Cảnh (thành phố Thủ Đức). Mộ
ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm Ngọc
Thạch, Can Trường...
Phạm Ngọc Thảo bị sát hại - Ảnh: Tư Liệu
Mãi
tới 12 năm sau ngày hòa bình, Nhà nước Việt Nam mới chính thức công
nhận liệt sĩ và phong anh hùng cho Phạm Ngọc Thảo. Ông Mười Hương đã
nói: "Phong anh hùng 10 lần cho Phạm Ngọc Thảo cũng xứng
đáng, nhưng chưa thể được, vì vợ con Thảo đang ở Mỹ. Khi chiếu phim Ván
bài lật ngửa, tôi gọi cho ông Trần Độ (lúc ấy làm Trưởng ban Văn hóa Văn
nghệ Trung ương) bảo hãy cấm cái phim đó đi, đừng làm hại vợ con Phạm
Ngọc Thảo". Ông Phạm Xuân Ẩn cũng từng nói sau khi Phạm Ngọc Thảo bị giết chết, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
đã đề nghị chính quyền Mỹ trục xuất vợ con ông Thảo, lúc đó ở Mỹ có một
cuộc vận động bảo vệ vợ con ông Thảo, ngay cả những nhà báo Mỹ chống
cộng cũng phản đối sự trục xuất này, vì vậy mà vợ con ông Thảo vẫn bình
an vô sự cho đến bây giờ.
Phạm Ngọc Thảo được coi là
một trong 4 tình báo viên xuất sắc nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam
(3 người kia là Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và Đặng Trần Đức). Một số
người còn cho ông là điệp viên xuất sắc nhấtbởi 3 đặc điểm chính:
Phạm Ngọc Thảo là tình báo viên hoạt động
đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về
chiến lược của Lê Duẩn.
Nhiệm vụ của ông không phải là đưa tin mà là tác động đến sự "thay đổi
chế độ". Có thể nói tầm quan trọng của Phạm Ngọc Thảo ngang với sức mạnh
của một đạo quân.
Khác với các tình báo viên thông thường, Phạm Ngọc Thảo
là người có thể tác động trực tiếp đến chính quyền và quân đội. Là sĩ
quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa,
ông có tác động, thậm chí trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng
loạt vụ đảo chính làm rung chuyển gây mất ổn định chính quyền Nam Việt
Nam những năm 1964-1965.
Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái quân
đội, Phạm Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe dọa tính mạng
bất cứ lúc nào. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không trốn chạy để
bảo toàn mạng sống. Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn đến chết, Phạm
Ngọc Thảo vẫn không lộ tung tích của mình. Mãi sau này, khi ông được
truy phong, người ta mới biết ông là tình báo viên.
Hai ông bà Phạm Ngọc Thảo và Phạm Thị Nhiệm có bảy người
con. Vợ ông từng đi dạy học. Vợ và con ông hiện đang ở Hoa Kỳ. Tất cả
các con của ông đều học hành thành tài (có người là bác sĩ, đang ở Quận
Cam).
Ông Trần Bạch Đằng nhận xét: "các
nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác
tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ
kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường
kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một
không hai". Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: "anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta."
6/ Nguyễn Thị Mỹ Nhung:
Những
câu chuyện hoạt động cách mạng năm xưa chưa bao giờ phai mờ trong ký ức
của Thượng úy, nữ tình báo, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Nhung
(Tám Thảo). Đó là những chiến công vẻ vang, góp sức vào cuộc Tổng tiến
công vang dội mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước.
Năm 16 tuổi, tiểu thư đài các Nguyễn Thị Mỹ Nhung quyết định lựa chọn
con đường hoạt động tình báo với bí danh Tám Thảo. Cuộc đời bà là vinh
quang, nước mắt với nhiệm vụ bí mật, những cuộc đối trí một mất một còn
ngay trong lòng địch.
Nữ tình báo Tám Thảo tên thật là Nguyễn Thị Mỹ Nhung sinh năm
1932, nguyên cán bộ Cụm tình báo H63, Đoàn J22, Cục Nghiên cứu, Bộ Tổng
Tham mưu (nay là Tổng cục II, Bộ Quốc phòng).
Nữ tình báo Tám Thảo ngày trẻ
Bà sinh ra trong gia đình giàu có, là tiểu
thư cành vàng lá ngọc. Tuy nhiên, cô tiểu thư kiêu kỳ lại đến với nghề
tình báo rất sớm. Năm 16 tuổi, bà "trốn" gia đình tự tìm ra vùng chiến
khu và được giao nhiệm vụ lái đò đưa cán bộ qua sông. Người bà thường
đưa đón chính là nhà tình báo nổi tiếng Phạm Ngọc Thảo.
Sau thời gian tập sự, bà được tổ chức đưa vào nội thành Sài Gòn làm giao thông viên bí mật.
Năm
1954, khi Hiệp định Geneve được ký kết, bà xin tập kết ra Bắc để gặp
người yêu, nhưng ông Mười Hương (chỉ huy trực tiếp cụm tình báo H63 nổi
tiếng lúc bấy giờ) thuyết phục bà ở lại. Là một nhà tình báo, điệp viên
lão luyện, ông Mười Hương hiểu rõ, cuộc chiến trong Sài Gòn sắp tới có
thể sẽ khốc liệt hơn, cần những người thông minh, tài giỏi, yêu nước…
Khi nghe cấp trên đề nghị, tiểu thư Mỹ Nhung quyết định: "Vâng, thế em ở
lại. Tổ quốc là trên hết".
18 tuổi, sau thời gian nằm vùng chờ
đợi trong vai trò một tiểu thư bán vải nức tiếng xinh đẹp ở chợ Bến
Thành, Mỹ Nhung được tổ chức đặt bí danh Nguyễn Thị Yên Thảo - Tám Thảo làm giao liên cho tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn.
Từ
đây Phạm Xuân Ẩn - Tám Thảo trở thành cặp bài trùng ăn ý thực hiện
nhiều "phi vụ" trót lọt. Bằng sự sắc sảo, thông minh và nhạy bén trong
xử lý tình huống, chính Tám Thảo là người đưa Phạm Xuân Ẩn ra chiến khu ở
Củ Chi để ông gặp gỡ các lãnh đạo và nhận phân công nhiệm vụ. Đặc biệt,
những thông tin, tài liệu mật của tướng Ẩn luôn được Tám Thảo đưa về
chiến khu một cách trót lọt, an toàn.
Một trong những chiến công xuất sắc của Tám Thảo là
vận chuyển 24 cuốn phim Kodak của tướng Ẩn từ nội thành ra Củ Chi vào
năm 1961. Nhiệm vụ rất nặng nề bởi nếu bị phát hiện, hậu quả sẽ khôn
lường, không chỉ cho tính mạng bản thân mà còn cho tướng Ẩn và cụm tình
báo H63. Hơn thế tài liệu trong 24 cuốn phim có giá trị thông tin rất
lớn.
Sau khi nhận tài liệu, bà
giấu 24 cuốn phim Kodak trong giỏ và vào vai tiểu thư đài các về quê ăn
giỗ. Tám Thảo bắt xe đò ra Củ Chi, khi xe chạy tới địa phận Hóc Môn thì
bị địch chặn lại, khám xét.
Bình
tĩnh, mưu trí, lo lắng trong lòng, nhưng bề ngoài, Tám Thảo tỏ ra "bình
thường". Bà lại gần đứng bên tên chỉ huy, chủ động gợi chuyện để thu
hút. Bằng tài ăn nói, sự khéo léo bà khiến quân định lơ là, dễ dàng cho
bà qua bốt kiểm tra, an toàn giao tài liệu cho tổ chức.
Năm
1966, bà thôi làm giao liên cho tướng Phạm Xuân Ẩn để bước vào nhiệm vụ
mới. Cấp trên yêu cầu bà tìm cách lọt vào cơ quan đầu não của địch và
làm việc ngay trong lòng địch.
Sau
đó, do đặc thù nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu Mỹ Nhung phải tìm cách lọt
vào cơ quan đầu não của địch và làm việc ngay trong lòng địch. Với khả
năng tiếng Anh lưu loát, bà Tám Thảo xin được vào làm thông dịch trong
một cơ quan Hải quân Mỹ. Ở đó, Tám Thảo lần lượt giúp việc, thông dịch
cho các đời trưởng phòng, cố vấn tình báo Mỹ. Tranh thủ những thuận lợi,
bà tiếp cận tài liệu cung cấp cho kháng chiến.
Với
vỏ bọc "hoàn hảo này", Tám Thảo đã thu thập được nhiều tin tức, tài
liệu quan trọng, đặc biệt là sơ đồ, bố trí lực lượng của tổng bộ hải
quân ngụy; Tài liệu đánh giá của Mỹ ngụy về Cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân 1968, góp phần giúp lãnh đạo Đảng, Quân ủy Trung ương
có những nhận định và xử trí thích hợp để giành chiến thắng trên chiến
trường miền Nam.
Về già, nữ tình báo Tám Thảo vẫn giữ được nhan sắc xinh đẹp.
Trong
thời gian này, để giữ mình, che mắt địch, Tám Thảo luôn giữ cái đầu
tỉnh táo, khéo léo, cơ trí trong từng tình huống bởi quanh bà là các mật
thám, CIA Mỹ lão luyện của Mỹ…
Không chỉ ẩn thân
qua mặt địch, với tư chất thông minh và tài ứng biến tài tình, Tám Thảo
còn xuất sắc đánh lừa máy kiểm tra nói dối tân tiến của Mỹ.
Bà
nhớ lại, ngồi trước máy kiểm tra nói dối, tự nhủ phải bình tĩnh, nên bà
ngồi thoải mái trên ghế. Cuộc khảo sát bắt đầu: "Cô người Bắc hay
Nam?". "Bắc". "Anh cô tập kết ra Bắc phải không?". "Phải". "Một năm cô
gửi mấy lá thư ra Bắc?". Nếu nói không gửi hoặc gửi nhiều quá đều rất
nguy hiểm, nên bà quyết định trả lời: "Hai"…
Bà
kể lại: "Quá trình kiểm tra, chúng kết hợp quay phim. Tôi cũng đấu trí
bằng cách nhớ lại tên các nhân vật trong những bộ phim tôi đã từng xem,
không còn quan tâm đến câu hỏi của chúng để tinh thần tỉnh táo cao độ,
không bộc lộ một chút lo sợ".
Sau
cuộc kiểm tra, quân định hoàn toàn tin tưởng bà. Sau đó ít lâu, Tám
Thảo đã lấy được tư liệu đánh giá của ngụy về trận tấn công vào Sài Gòn -
Gia Định, góp phần quan trọng vào việc hoạch định chiến lược cho cuộc
chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bà
Tám Thảo tâm sự: Trong những trường hợp không thể mang tài liệu về nhà,
tôi phải nghĩ cách “sao chép” nội dung vào “bộ nhớ” là đầu của mình.
Đối với tài liệu tiếng Việt mình dịch sang tiếng Anh và tài liệu tiếng
Anh dịch sang tiếng Việt. Mình cứ làm đi làm lại nhiều lần cho nhớ kỹ.
Cách làm này rất hiệu quả, nhớ lâu, nhớ chính xác nhưng cũng có lần
khiến tôi gặp rắc rối, suýt bị phát hiện. Trong thời gian này, để giữ
mình, che mắt địch, bà Tám Thảo luôn giữ cái đầu tỉnh táo, khéo léo, cơ
trí trong từng tình huống, bởi quanh bà là các mật thám, CIA lão luyện
của Mỹ.
Dù tuổi đã cao, hàng ngày cô Tám Thảo vẫn dành thời gian đọc sách.
Sau
năm 1975, cô tình báo xinh đẹp Tám Thảo chuyển ngành về công tác tại Sở
Văn hóa- Thông tin TP HCM. Năm 2002 bà về hưu và sống cuộc sống thầm
lặng tại Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.
7/ Lê Hữu Thúy:
Lê Hữu Thúy
(1926- 2000) là một tình báo viên chiến lược trong cuộc chiến tranh
Việt Nam. Ông nổi tiếng với vụ án cụm tình báo A.22 làm rung động chính
trường Sài Gòn vào cuối năm 1969.
Lê Hữu Thúy còn được gọi là Năm Thúy hay Thắng, hoặc bí danh Lê Thụy. Khi viết báo, ông còn sử dụng nhiều bút danh như Khánh Hà, Nhị Hà, Nhị Hồ...
Ông sinh tại Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa,
trong một gia đình nhà Nho khá giả xuất thân khoa bảng. Bố mất sớm, mẹ
ông nuôi ông và 4 chị em gái. Thuở nhỏ, ông theo học tại trường trung
học Alexandre de Rhodes của Nhà chung Thanh Hóa và tốt nghiệp Tú tài.
Tại đây, ông làm quen với một linh mục dòng Đa Minh, cha Thiên Phong Bửu
Dưỡng, vốn là một giáo sư triết học nổi tiếng tại Hà Nội.
Năm 1945, vốn có tinh thần yêu nước, ông tham gia khởi
nghĩa cướp chính quyền và gia nhập Đoàn thanh niên Cứu quốc, một tổ chức
của Mặt trận Việt Minh.
Năm 1947, ông công tác tại Ty Công an Thanh Hóa. Do có trình độ học vấn
khá, sau khi tham gia kháng chiến một thời gian, ông được cấp trên điều
động sang công tác tình báo, được huấn luyện phục vụ cho hoạt động sau
này. Năm 1949, ông được bí mật kết nạp Đảng. Tháng 6 năm 1950, ông được
lệnh trở về Hà Nội hoạt động với bí danh A.25.
Nhà tình báo Lê Hữu Thúy.
Ông theo học bậc Đại học với giáo sư Bửu Dưỡng
vừa đi dạy kiếm sống tại trường trung học Nam Đồng của Dòng Chúa Cứu
Thế ở Ô Chợ Dừa Hà Nội. Cũng trong thời gian này, từ năm 1951, ông tham
gia hoạt động xã hội trong nhóm trí thức mang tên "Chi hội hòa bình" tại
Hà Nội và làm quen với Huỳnh Văn Trọng, một cơ sở của ông về sau này,
qua sự giới thiệu của linh mục Bửu Dưỡng. Ông cũng bắt đầu viết báo,
cộng tác với tuần báo "Đạo binh đức Mẹ", do linh mục Nguyễn Ngà là chủ
bút.
Tháng 10 năm 1954, theo chỉ thị của cấp trên, ông
di cư vào Nam. Thời
gian đầu, với kinh nghiệm viết báo ở Hà Nội, ông tham gia cộng tác viết
bài cho báo Đời Mới, chủ bút là Trần Văn Ân. Báo này là cơ quan ngôn
luận của Mặt trận Bình dân Nam Việt, năm dưới ảnh hưởng của tướng Bảy
Viễn, theo khuynh hướng chống Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Đầu năm 1955,
được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Trọng, khi đó là Đổng lý văn phòng cho
Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, một người của Đảng Dân xã Hòa Hảo,
ông chuyển sang làm công cán ủy viên tại văn phòng Bộ này, trợ lý cho
Huỳnh Văn Nhiệm. Cùng năm 1955, ông lập gia đình với bà Ngô Thị Như.
Cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt và làm tan rã lực lượng Bình Xuyên
và các giáo phái. Chính phủ liên hiệp đổ, nhờ linh mục Bửu Dưỡng giới
thiệu, Lê Hữu Thúy viết bài cộng tác cho báo "Tinh thần" của Nha tổng
tuyên úy Công giáo, rồi gia nhập Phong trào Cách mạng Quốc gia,
một tổ chức ủng hộ Ngô Đình Diệm. Được sự giới thiệu của Nguyễn Thiệu,
Chủ tịch Phong trào tại Đô thành Sài Gòn, ông gia nhập đảng Cần lao Nhân vị để đảm bảo vị thế chính trị trong chính quyền mới.
Trong
thời gian sinh hoạt tại Phong trào Cách mạng Quốc gia, ông tiếp cận với
một đồng hương Thanh Hóa là ông Võ Văn Trưng, một dân biểu,
Ủy viên Trung ương Phong trào, một trong nhưng người thân cận của Ngô
Đình Diệm lúc bấy giờ. Năm 1956, ông làm chủ nhiệm Tuần báo "Sinh lực",
do ông Võ Văn Trưng đỡ đầu. Đầu năm 1958, khi Đại tá Đỗ Mậu được bổ
nhiệm làm Giám đốc Nha An ninh Quân đội, nhờ sự tiến cử của Võ Văn Trưng
và Nguyễn Thiệu, thậm chí cả của Trần Kim Tuyến, ông được tuyển vào An
ninh Quân đội, với cấp bậc Chuẩn úy đồng hóa, về sau được thăng Thiếu
úy.
Tuy nhiên, thời gian của ông hoạt động không lâu. Theo một số tài liệu, Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung, do
ông Dương Văn Hiếu là Trưởng đoàn, phát hiện kể từ năm 1958, mỗi khi
phát hiện hay tình nghi một "điệp viên Cộng sản" hoạt động trong quân
đội, thường thông báo cho Nha An ninh Quân đội điều tra để loại trừ, thì
chỉ ít lâu sau là những người này đã biến mất. Do đó đã nghi ngờ sự rò
rỉ từ Thiếu úy An ninh Quân đội Lê Hữu Thúy và đã bí mật bắt giữ ông vào
cuối năm 1959 mà không thông báo cho Nha An ninh Quân đội biết.
Có một điều hết sức đặc biệt khi nhớ đến
ông. Đó là, không chỉ lập công khi đang hoạt động mà ngay cả khi đã bị
địch bắt, tù đày, ông vẫn có những điệp vụ xuất sắc.
Trường hợp thứ nhất:
Từ năm 1960, ông bị chuyển ra Huế và giam giữ chờ xác minh
tại trại giam Tòa Khâm. Điều bất ngờ là tại đây cũng tập trung nhiều cơ
sở cũ của ông như Nguyễn Xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật, thậm chí có cả cấp trên của ông là ông Mười Hương, và cũng biết rằng, giữa Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Nhu có mâu
thuẫn, vì Cẩn như một lãnh chúa miền Trung, độc quyền bắt bớ, thao túng,
nhiều lúc phớt lờ chính quyền Sài Gòn do Nhu, Diệm cầm đầu. Nếu Cẩn bị diệt, kho hồ sơ của nhân vật
này lọt vào tay bọn đảo chính thì vô cùng nguy hiểm, vì có khoảng 70-80
đồng chí cán bộ của ta sẽ bị lộ. Một khi đốt được số hồ sơ đó, những đồng
chí này sẽ thoát tù và tiếp tục vị trí công tác của mình.
Sau khi
tính toán kỹ lưỡng, ông tìm cách tiếp cận Lê Văn Dư - Trưởng Ty Công an
Thừa Thiên, Giám đốc trại giam. Tên này đang lo sợ, ít khi vào cơ quan,
thường ở lại khu tập trung quân sự của Ngô Đình Cẩn. Khi được tin Ngô
Đình Diệm bị bắt ở Sài Gòn, ông chớp ngay cơ hội để thủ tiêu số hồ sơ tù
cộng sản trên. “Phải đưa ra khỏi văn phòng để đốt”, nghĩ vậy, ông rủ
một đồng chí cùng thực hiện. Nhân có cuộc điện thoại của Lê Văn Dư, ông
nói với bọn bảo vệ: “Ông Dư ra lệnh đốt hết hồ sơ tù!”.
“Mệnh
lệnh” được chấp hành không chút nghi ngờ vì Cẩn bắt tất cả các thành
phần chống đối, không riêng gì cộng sản. Chúng giúp ông đưa hồ sơ ra
khỏi nơi bảo vệ, đổ xăng đốt sạch. Nhìn những gốc tích chứng minh các
đồng chí của mình là cộng sản đang biến thành tro bụi, ông thấy ngọn lửa
cũng reo vui như chính lòng mình vậy.
Việc giam giữ này kéo dài đến năm 1963, khi cuộc đảo chính đã lật đổ
chế độ Ngô Đình Diệm. Ông được thả tự do nhờ đã đốt hồ sơ mật tại trại
Tòa Khâm để phi tang chứng cứ các điệp viên tại đây.
Do việc ông bị bắt bí mật, ông đã lợi dụng điều này để làm nảy sinh nghi
ngờ ông bị bắt do mâu thuẫn bè phái. Lợi dụng mối quan hệ thuộc cấp với
Đỗ Mậu (lúc này đã là Thiếu tướng),
cộng với việc thủ tiêu, giúp phần nào ông giữ được
thế chính trị để hoạt động trở lại. Ông tiếp tục với nghề ký giả, viết
bài cho báo Trinh Thám, do Hoàng Hồ làm chủ nhiệm.
Điệp viên Lê Hữu Thúy
Trường hợp thứ hai:
Năm
1966, ông nhận nhiệm vụ phối hợp với Vũ Ngọc Nhạ để xây dựng lá bài
chính trị trong chính trường Sài Gòn. Và lá bài chính trị đó chính là
Huỳnh Văn Trọng,
cố vấn ngoại giao của Tổng thống Việt nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Huỳnh Văn Trọng từng là một bộ trưởng dưới thời Bảo Đại, bị bỏ rơi hoàn
toàn dưới thời Đệ nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm nên tỏ ra bất mãn và
chỉ làm công việc dạy học cho các nhân viên dân sự Mỹ tại Sài gòn.
Sau khi Ngô Đình Diệm tiêu diệt thế lực giáo phái, do sợ liên lụy, Huỳnh
Văn Trọng đã vào sống ẩn cư ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế tại Kỳ Đồng.
Tuy không còn tiếp tục dạy học cho các nhân viên Tòa đại sứ Hoa Kỳ nhưng
Huỳnh Văn Trọng
vẫn còn những mối liên lạc cũ tại đây. Chính qua Huỳnh Văn Trọng, Lê
Hữu Thúy đã khai thác được một số thông tin quan trọng. Dù khả năng xác
thực hữu ích rất hạn chế, nhưng cũng đủ để ông xây dựng ảnh hưởng chính
trị trong chính giới Sài Gòn.
Năm 1967, ông vào Bộ Thông tin – Chiêu hồi, giữ vị trí Công
cán Ủy viên, phụ trách công tác chiêu hồi. Chính tại vị trí này, ông đã
thu thập được rất nhiều thông tin góp phần vô hiệu hóa nhiều hồi chánh
viên được chính phủ tung trở lại hoạt động cho phía mặt trận Dân tộc Giải phóng
Trong suốt gian đoạn 1965-1968, ông đã thu thập được nhiều
thông tin có giá trị về sự dao động chiến lược của Mỹ và việc xuống
thang với kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh; phát hiện kịp thời một số
cuộc hành quân lớn của Mỹ. Trong công tác chuẩn bị cho chiến dịch Tổng
tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông đã lập được bản đồ hành
quân khu tam giác Bến Lức - Đức Hòa - Chợ Lớn giúp lực lượng Quân Giải phóng có thể đột nhập thuận lợi, an toàn.
Tuy hệ thống điệp báo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức
rất chặt chẽ, nhưng do hoạt động mạnh và có ảnh hưởng đến chính giới
cũng như chính quyền Sài Gòn, CIA nhanh chóng phát hiện thấy điều không
bình thường của những nhân vật riêng rẽ này, vốn hầu hết đều là những
nghi can về tội làm điệp viên và từng bị giam giữ tại trại Tòa Khâm. Do
đó, cơ quan CIA đã tiến hành điều tra để phá vỡ cụm tình báo vô cùng
nguy hiểm này. Hồ sơ các cựu tù nhân trại Tòa Khâm được giở lại từ giữa
năm 1968. Do quy mô, cũng như sức ảnh hưởng quá lớn và tính chất phức
tạp của vụ án, mãi hơn một năm sau CIA mới chuyển giao thông tin cho
Tổng Nha Cảnh sát điều tra vụ án. Một đơn vị đặc biệt có mật danh S2/B
đã được thành lập và đã tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm
A.22 vào trung tuần tháng 7 năm 1969. Toàn bộ các điệp viên Vũ Ngọc Nhạ,
Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng, hầu hết
các cơ sở như phụ tá Huỳnh Văn Trọng, cơ sở giao liên như bà Cả Nhiễm...
đều bị bắt giữ. Tuy nhiên, Cụm trưởng Tư Lê đã kịp thời trốn thoát.
Sau khi tuyên án, ông và Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục bị CIA tra
khảo tại khu biệt giam tại Đặc ủy tình báo số 3A Bạch Đằng. Theo lời kể
của Vũ Ngọc nhạ, quá trình tra khảo khiến sức khỏe của Lê Hữu Thuý bị
ảnh hưởng nghiêm trọng, "sốt cao, cả hàm răng sưng tấy, rụng dần [...] Mỗi ngày Thúy nhổ ra cả bát máu mủ".
Thông qua một người quen của Nguyễn Cao Kỳ làm nhiệm vụ khám, phát
thuốc, Vũ Ngọc Nhạ đã bí mật tuồn một số thuốc men, thực phẩm cho Lê Hữu
Thuý và nhờ đó đảm bảo được sức khoẻ của ông. Sau khi tra khảo 4 tháng,
cả hai ông được đưa ra thụ án ở Côn Đảo.
Sau khi bị đưa ra thụ án tại Côn Đảo,
nhờ sự quen biết, ông được giao làm phụ kế toán cho một tù nhân sắp đến
ngày được tự do. Do là một tù nhân làm dịch vụ văn phòng, ông hưởng chế
độ không phải ở trại giam, được ở Khu trú 1 do Ban An ninh đảo quản lý,
được hưởng một số sinh hoạt tự do hạn chế như giao dịch, đi lại trong
khu vực quy định, chơi thể thao, tắm biển...
Thông qua, bà Ngô Thị Như,
ông nhận được chỉ thị thu thập tài liệu, chứng cứ về số tù chính trị ở
đảo. Thời gian này, Hội nghị bốn bên ở Paris có bàn thảo về việc trao
đổi tù chính trị, và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu có ý định khai khống
số lượng tù chính trị và lên kế hoạch bí mật thủ tiêu nhiều tù nhân
trong đó có các đảng viên cộng sản.
Đầu năm
1973, ông được trung tâm giao nhiệm vụ thu thập tài liệu, chứng cớ về
số tù chính trị ở đảo để làm căn cứ cho phái đoàn ta trong Hội nghị
Paris. Ngày hai buổi, ông giúp việc cho kế toán trưởng. Từ danh sách
thực phẩm, ông nắm được số tù khoảng 20 ngàn, trong đó có 17 ngàn tù
chính trị, 3 ngàn tù thường phạm. Nhưng
như thế chưa phải là chứng cớ, phải làm sao lấy được tài liệu gốc của
chúng thì mới có sức thuyết phục. Đợi cơ hội có nhiều người qua lại, ông
lên phòng quản đốc xin thêm người làm kế toán, nhân đó tận mắt quan sát
tỉ mỉ vị trí tủ hồ sơ mật, những bản kê khai số liệu có dấu đỏ trên bàn
viên chánh văn phòng...
Đến một
ngày, lấy cớ phải làm thêm buổi tối để kịp gửi bản kết toán phân phối
thực phẩm định kỳ về Nha Cải huấn Sài Gòn, ông được viên kế toán trưởng
giao chìa khóa phòng kế toán. Từ phòng này, ông leo qua trần nhà lọt vào
phòng quản đốc, lấy được mẫu chìa khóa tủ tài liệu mật. Ít ngày sau,
một đồng chí cơ sở làm ở xưởng cơ khí nhà máy điện của đảo đánh cho ông
hai chiếc chìa khóa, một của văn phòng kế toán trưởng, một của tủ tài
liệu mật ở phòng quản đốc.
Khi
được lệnh của trung tâm, ông thực hiện nhiệm vụ một cách êm xuôi hơn cả
sự mong đợi. Ông đã có trong tay văn kiện về hồ sơ số tù cùng 5 bản điện
mật liên lạc giữa Sài Gòn và Côn Đảo ghi rõ số tù đất liền gửi ra, số
tù chính trị bị chuyển thành thường phạm, số tù chúng định thủ tiêu...
Những
tài liệu quan trọng đó đã được các đồng chí của ông chuyển về trung tâm
và chúng ta có đầy đủ chứng cớ để vạch mặt chính quyền Thiệu tại Hội
nghị Paris, cũng qua đó, dư luận thế giới đã lên tiếng ủng hộ cuộc đấu
tranh bên bàn Hội nghị của chúng ta. Nguyễn Văn Thiệu khi sang Roma đã
bị Giáo hoàng từ chối tiếp (theo công bố của Thiệu, Giáo hoàng đã cam
kết với thế giới là Thiệu chỉ giam giữ 5 ngàn tù chính trị Việt cộng).
Sau khi lấy được hồ sơ này, ông lập tức chuyển ngay cho 1
cơ sở là phi công lái trực thăng riêng của Tổng thống Thiệu để chuyển
vào đất liền rồi chuyển tiếp về trung tâm. Chính nhờ bộ hồ sơ gốc này mà chứng ta có đầy đủ chứng cớ để vạch mặt chính quyền Thiệu tại Hội
nghị Paris về con số
5.000 tù chính trị tại Côn Đảo, đưa ra con số chính xác 17.000 tù chính
trị, cả các biện pháp đối phó để che giấu số lượng tù nhân thực ở đảo,
buộc phía Việt Nam Cộng hòa phải trao trả toàn bộ số tù chính trị ở Côn
Đảo. Vì sự kiện này mà Giáo hoàng Phaolô VI đã từ chối tiếp kiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong chuyến công du đến Vatican.
Không khó gì để phát hiện ra người tuồn thông tin ra ngoài,
vì vậy ông bị tra khảo tàn nhẫn. Ngay lập tức, ông bị nhốt ở chuồng bò một
thời gian với những cuộc thẩm vấn, với những đòn tra tấn, nhưng trại giam vẫn không tìm được
người đưa tin bí mật. Sau đó, nhờ
cách biện hộ khôn khéo và địch cũng không có đủ chứng cớ để kết tội, ông
thoát được cửa tử một lần nữa.
Tháng 7 năm 1973, ông được phía Việt Nam Cộng hòa
trao trả theo quy chế tù binh. Sau khi kiểm tra thông tin, ông được
công nhận quân hàm Thượng úy Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên,
giống như hầu hết các cán bộ tình báo khác, thân phận thực của ông vẫn
chưa được xác nhận công khai. Mãi đến năm 1990, ông mới được phục hồi
đảng tịch, được thăng vượt cấp từ thượng úy lên Đại tá.
Ngày 29/1/1996, ông Lê Hữu Thúy
được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang
Nhân dân. Ông vẫn tiếp tục công việc, viết sách, mặc tuổi già, sức yếu.
Ông từ biệt cõi đời vào năm 2000 trong niềm tiếc thương của đồng chí, đồng đội và lớp
cán bộ, chiến sỹ kế tiếp sự nghiệp của ông.
8/ Trần Quốc Hương:
Trần Quốc Hương (tên thật là: Trần Ngọc Ban,
20 tháng 12 năm 1924 – 11 tháng 6 năm 2020) là chính trị gia Việt Nam.
Ông nguyên là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó
Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ
Thành phố Hồ Chí Minh, là người chỉ huy mạng lưới tình báo Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa chống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh Việt
Nam.
Ông có bí danh là Mười Hương, sinh tại xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình).
Có tiếng là tư sản, nhưng cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân, lại
mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ. Cậu bé
Trần Ngọc Ban được cha cho đi học chữ Nho từ khi còn nhỏ. Thầy dạy của
Ban chính là Nguyễn Đức Quỳ - Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, người đã giác ngộ Trần Ngọc Ban và đưa cậu đến với Cách mạng.
Mới 14, 15 tuổi, Ban đã tích cực tham gia phong trào Thanh
niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường tiểu học Phủ Lý, Trần Ngọc Ban
chuyển lên Hà Nội
nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này anh đổi tên là
Hương (sau này khi vào Nam công tác, anh mới được gọi là Mười Hương),
nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.
Ông Trần Quốc Hương (Mười Hương)
Ông
gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943,
lần lượt hoạt động trong Đoàn Thanh niên Dân chủ, Phản đế và sau đó là
Ủy viên Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Ông từng làm việc bên
cạnh các lãnh tụ của cách mạng Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh,
Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh...,
từng bị tù đày trong nhà tù Pháp và Việt Nam Cộng hòa.
Hà Nội vừa giành chính quyền thành công, Nguyễn Lương Bằng
giao cho Mười Hương việc tổ chức ra báo Cờ giải phóng của Đảng. Mười
Hương cũng là một trong những người đóng góp tích cực trong thành công
của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ
trách vấn đề an ninh bảo vệ.
Năm 1942, ông bị Thực dân Pháp bắt trong cuộc đấu tranh ủng
hộ Liên Xô, giam ở Hoả Lò, Hà Nội. Trong tù, ông giữ vững khí tiết của
người cách mạng, được anh em và tổ chức tin cậy.
Năm 1943, ra tù ông bắt được liên lạc hoạt động ngay và
được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam), sau khi học xong lớp do Xứ uỷ mở, ông được phân công về làm Tỉnh
uỷ viên, Tỉnh uỷ Phúc Yên.
Ông Mười Hương thời còn trẻ - Ảnh: TỰ TRUNG chụp lại tư liệu
Năm 1944, ông được Tổng bí thư Trường Chinh
bổ sung vào Ban Công tác đội của Thường vụ Trung ương lo căn cứ địa
(ATK) và làm phái viên liên lạc với những đầu mối đặc biệt thuộc Trung
ương (các tổ chức văn hoá, Thành uỷ Hà Nội) hay một số thành viên thuộc
Đảng xã hội, Đảng cộng sản Pháp (nhóm " Các đồng chí người Âu ” trong
quân đội lê dương của Pháp).
Từ tháng 8/1945, ông làm Thư ký, phụ trách Văn phòng của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh;
năm 1946, ông trong Ban Công vận Thành uỷ, làm Bí thư Hội Công nhân Cứu
quốc Hà Nội và phụ trách Nhà in Tiến Bộ, Báo Cờ giải phóng, Nhà xuất
bản Sự thật của Trung ương.
Tháng 12/1946 đến năm 1948, phụ trách căn cứ địa và giao thông liên lạc của Trung ương.
Kháng chiến bùng nổ, Trung ương lập G.L.A (Giao thông-Liên
lạc-An toàn khu), đảm trách nhân khẩu báo chí, duy trì thông tin liên
lạc từ Trung ương đi các chiến khu. Mười Hương về công tác tại bộ phận
này từ năm 1946 đến 1948. Năm 1949, cuộc đời ông rẽ sang một bước ngoặt
mới.
Tình cờ một lần ông Trần Hiệu,
Phó Giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo gặp Mười Hương và lập tức
nhận ra đây chính là người mà ông cần. Trần Hiệu bèn xin Mười Hương về
với mình và được Trường Chinh chấp thuận.
Sau một thời gian dài đi biệt phái, lăn lộn dưới các địa
phương, Mười Hương nhận được một bức điện của Trung ương với nội dung:
"Về ngay Văn phòng Trung ương". Khi đó quân đội viễn chinh Pháp đã bị
đánh quỵ tại trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ mang lại hòa bình cho
Đông Dương sắp được ký kết. Ông vội vã thu xếp công việc, lên đường trở
về chiến khu Việt Bắc. Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp giao nhiệm vụ
cụ thể cho Mười Hương. Đích thân Hồ Chí Minh cũng dự cuộc gặp quan trọng
này. Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường.
Năm 1949, ông công tác ở Cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu, làm đặc phái viên ở Liên khu 3 và Hà Nội.
Năm 1950, ông được điều động về phụ trách Phòng Điệp báo
Nha Công an, sau làm Phó Giám đốc Nha Tình báo Trung ương (tình báo
chiến lược).
Năm 1954, ông được điều động vào Nam Bộ làm Ủy viên rồi làm Phó ban Địch tình của Xứ uỷ Nam Bộ.
Khi vào Nam, Mười Hương gặp ngay ông Phan Trọng Tuệ,
Tư lệnh Quân khu 9, từng là bạn tù với nhau trước kia. Ngoài ra, Ủy
viên Xứ ủy Nam Kỳ, ông Lê Toàn Thư cũng tỏ ra tâm đầu ý hợp với Mười
Hương khiến ông vững dạ. Ông bắt đầu vào công việc ngay với hai ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm.
Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện tình báo, học viên chủ yếu tuyển lựa trong lực lượng công an.
Từ tháng 6/1958, ông bị Đoàn công tác đặc biệt miền Trung
của chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế, ông đã khai tên giả là
Trần Ngọc Trí và đấu tranh chống lại các thủ đoạn xảo quyệt của địch, do
đó Ban Bí thư đã kết luận: "Đồng chí Trần Quốc Hương, tức Mười Hương,
là một cán bộ tốt, kiên cường, khôn khéo đối với địch khi bị chúng bắt".
Đến tháng 5/1964, ông được trả tự do.
Năm 1965, ông được đưa ra miền Bắc chữa bệnh.
Năm 1966 - 1968, ông được phân công về Bộ Công an phụ trách Cục Kỹ thuật.
Năm 1969 - 1972, ông được điều động lại vào miền Nam làm Ủy viên Ban An ninh miền Nam.
Năm 1972 - 1976, làm Thường vụ Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định.
Ông là cấp trên trực tiếp của các nhà tình báo nổi tiếng:
Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn. Chính ông cùng
Mai Chí Thọ đã quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Hoa Kỳ học báo chí vì
thấy Phạm Xuân Ẩn có khiếu hài hước, dễ hòa nhập với tính cách người
phương Tây.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông
được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, phân công làm Phó Bí thư
Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông
tiếp tục được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được phân
công làm Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Hà Nội.
Tháng 11/1983, Đồng chí được cử làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Thanh tra Nhà nước.
Cuối năm 1985, làm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được
bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung
ương bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, phân công làm Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Cụ Mười Hương và nhà sử học Dương Trung Quốc (ảnh tư liệu).
Tháng 9/1991, ông được Bộ Chính trị quyết định thôi giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương để điều trị bệnh.
Ngày 24 tháng 12 năm 2006, ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
Năm 2004, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản cuốn Trần Quốc Hương - Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải viết về ông.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, ông đã từ trần vào lúc 10h10 phút tại bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến hôm nay, phía đối phương
của ông Mười Hương vẫn còn hàng tá câu hỏi về những hoạt động của ông.
Và ngay với chúng tôi, những đồng đội, đàn em thân thiết nhất vẫn khó
lòng giải mã được con người ông.
Ngày tang lễ
thứ hai của bậc thầy tình báo Trần Quốc Hương, hàng trăm đoàn viếng
tang với hàng ngàn đồng đội, có người thật thân thiết, lại cũng có người
chỉ được nghe tên.
"Sắt đá tận cùng là người đó, tình cảm hết mức cũng người đó. Quyền
biến là người đó mà căn cơ, nguyên tắc cũng là người đó..." - ông Mười
Thắng (Nguyễn Minh Trí), cụm trưởng cụm điệp báo A10, tâm sự.
Ông
Mười Thắng còn nhớ rất rõ những lần được gọi từ nội thành Sài Gòn về
căn cứ, nơi làm việc của ông Mười Hương ở làng 18 Thanh An, Sông Bé
(Bình Dương) mà ông gọi là Ngã ba bông giấy.
Trong nhà lại có cả thư viện với vài trăm đầu sách từ miền Bắc gửi vào, Sài Gòn đưa ra. Không chỉ có Bất khuất - Nguyễn Đức Thuận mà cả Cuốn theo chiều gió - Margaret Michell, cả Sống lại - Tolstoi lẫn Phía Tây không có gì lạ - Remarque, Điệp viên Do Thái - Eli Cohen... Các loại báo chí Sài Gòn cũng nhiều, cũng cập nhật không kém gì nội ô cách 50km đường chim bay.
Nằm trên võng nghiền mấy cuốn sách, nghe suối chảy, tưởng chiến tranh đã
lùi xa, Mười Thắng mới càng thấm thía lời căn dặn của thầy Mười Hương:
"Tất cả chúng ta đều phải học để hiểu xã hội Sài Gòn, cả văn hóa, cách
làm việc, tâm lý, pháp luật, hành chính, người dân... thì mới thống
nhất, mới tiếp quản được Sài Gòn. Không làm được vậy thì chỉ có toi".
Sau
này, ông Mười Thắng còn biết đó cũng chính là chìa khóa mà ông Mười
Hương đã trao cho điệp viên huyền thoại Phạm Xuân Ẩn: "Học thật giỏi
nghiệp vụ, hiểu rõ nền văn hóa Mỹ, tư duy và làm việc như người Mỹ".
Ông nghiên cứu báo chí, chính trường Sài Gòn để tìm ra thêm những người
tài có sức ảnh hưởng có lòng yêu nước để giác ngộ, đưa dần vào hoạt động
nội tuyến, điệp báo, mà người tiêu biểu chính là họa sĩ Ớt của báo Điện Tín
- nhà báo Huỳnh Bá Thành sau này, một trong những người đã có tác động
đến quyết định đầu hàng, giữ Sài Gòn nguyên vẹn của tổng thống Dương Văn
Minh ngày 30-4-1975.
Gia đình ông Phạm Xuân Ẩn viếng ông Mười Hương - Ảnh: TỰ TRUNG
Ai đó nhắc câu ông Ẩn lúc sinh thời hay nói: "Không phải là Mười Hương thì không có Phạm Xuân Ẩn". Đó
không chỉ là định hướng đúng đắn và nỗ lực đưa ông Ẩn sang Mỹ học để có
thể "suy nghĩ và hành động như Mỹ nhưng vì tự do và thống nhất cho Việt
Nam" mà còn là những giọt máu khốc liệt mà ông Mười Hương đã chịu đựng
để giữ im lặng tuyệt đối, bảo vệ an toàn cho đồng đội.
"Phạm
Xuân Ẩn là tình báo giỏi nhất" - ông Mười Hương tự hào nói vậy. Và để
được tự hào về nhau như thế, phía sau là cả một cuộc đời son sắt, thủy
chung.
"Ngày ấy tôi được ông Mười Hương huấn luyện tình báo cấp
tốc trong vòng một tháng" - ông Mười Nho (đại tá Nguyễn Xuân Mạnh) cười
móm mém.
Năm 1955, tình cờ gặp nhau ở cơ sở điệp báo Thừa Thiên khi ông Mười
Nho trên đường ra Bắc và ông Mười Hương trên đường vào Nam, ông Mười
Hương sốt ruột bảo: "Đợi cậu ra Bắc học về thì chúng tôi thống nhất xong
rồi", và ông báo ra Tổng cục Tình báo rằng sẽ đào tạo Mười Nho ngay tại chỗ.
Lớp
học một thầy một trò kéo dài suốt một tháng. "Ông dạy tôi nhiều thứ, dù
trước đó đã có quá trình hoạt động nội đô. Nhớ nhất ông dạy: làm tình
báo, trong môi trường mình và đối phương đôi khi chồng lấn, lẫn lộn, cần
nhất phải giữ vững chính nghĩa, lý tưởng của mình.
Trong hoạt
động, phải lấy chính trị làm chính chứ không phải thủ đoạn, tranh thủ cơ
hội để phân hóa, thuyết phục. Sống thật nhất với con người mình mới
chính là vỏ bọc dày nhất, kín đáo nhất. Và nữa: nếu bị bắt, nhất định
phải giữ khí tiết, người cách mạng thì không khai báo".
Những bài
học ấy theo suốt cuộc đời Mười Nho, để sau này khi ông Mười Hương bị
bắt, chính Mười Nho là người đi bắt liên lạc lại với các đầu mối để các
tuyến tình báo của Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục
hoạt động.
Nhà báo Nguyễn Thế Thanh thì nhắc lời ông căn dặn những năm sau này
trong những buổi trò chuyện với báo chí: “Làm báo khó lắm, bây giờ hay
bao giờ cũng vậy. Ráng nghe cho tường tận, ghi cho chính xác, viết cho
kỹ càng. Đừng sợ sự dọa nạt của những người không tốt”.
Do có nhiều công lao và thành tích xuất sắc đối với sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Đồng chí được Đảng và Nhà nước
tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân
chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và
nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Kể thêm về những chiến công của người chỉ huy tình báo chiến lược:
Ông
Trần Quốc Hương được coi là người thầy của các nhà tình báo. Nhưng
chính ông khiêm tốn nhận mình chỉ là “Cái anh…chỉ trỏ”. Vì các nhà tình
báo có khi hoạt động độc lập đơn tuyến bí mật tuyệt đối và họ giỏi giang
làm nên nhiều chiến công.
Vai
trò của ông - người từng được giao đầu mối phụ trách làm việc với các
nhà tình báo. Và chính ông đã hiểu biết sức mạnh của từng người để phát
huy họ trong các môi trường phù hợp.
Lúc
được “bàn giao” nhận nhà tình báo Lê Hữu Thúy (thường được biết sau này
qua cuốn “Điệp viên giữa sa mạc lửa”), ông Mười Hương nhận ra ngay sự
giỏi giang sắc sảo của người điệp viên giỏi văn chương, quen nhiều công
chức cao cấp, được Ngô Đình Diệm đưa vào như phái viên của Chính phủ bên
cạnh lực lượng Hòa hảo, rồi lại vào được cả với Bình Xuyên. Nằm sâu
trong hậu trường chính trị miền Nam, Lê Hữu Thúy làm nên nhiều chiến
công.
Ông Mười Hương (hàng đầu, thứ ba từ trái sang)
là chỉ huy của những huyền thoại tình báo như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc
Nhạ, Lê Hữu Thúy. Ảnh: TƯ LIỆU
Chính
ông Mười Hương được cử đi tìm người để đưa vào cùng đoàn người di cư
vào Nam, và ông đã tìm ra Vũ Ngọc Nhạ lúc đó là cán bộ thị ủy Thái Bình.
Khi ở miền Nam, ông Mười Hương nhìn ra mặt mạnh mối quan hệ của Vũ Ngọc
Nhạ với chức sắc tôn giáo để chỉ đạo “ông cố vấn”.
Với
điệp viên tài năng đặc biệt Phạm Xuân Ẩn thì đóng góp của chỉ huy Mười
Hương tài tình ở chỗ nhìn ra rất sớm khả năng “đặc biệt phù hợp với Mỹ”
và nghề làm báo của Phạm Xuân Ẩn.
Ông
Mười Hương đã có lần nói: “Tôi luôn tự hào về Ẩn. Tôi đánh giá Ẩn còn
có điểm hơn cả nhà tình báo vĩ đại Nga Richard Sorge (người đã báo tin
chính xác ngày giờ phát xít Đức tấn công Liên Xô, rồi sau bị giết -
Người viết). Nhưng Ẩn còn vĩ đại hơn vì hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà bí
mật, an toàn”.
Điều
tuyệt vời trong nghề - đó là khi Phạm Xuân Ẩn đang học báo chí ở Mỹ thì
ở trong nước, ông Mười Hương bị bắt, tra tấn tù đày 6 năm không khai
nên giữ được an toàn cho Phạm Xuân Ẩn tiếp tục học tập.
Chính lần bị bắt và tù đày này đã làm ông sau 1975 phải chịu oan sai một thời gian.
Việc
bậc thầy tình báo Mười Hương (Trần Quốc Hương) bị vu oan làm tay sai
cho Ngô Đình Cẩn sau năm 1975 là một sự kiện lịch sử có thật. Do sự phức
tạp của chiến tranh và những hiểu lầm chính trị, ông đã phải trải qua
nỗi oan khuất trước khi được các cơ quan chức năng làm sáng tỏ.
Sau ngày đất nước thống nhất (30/04/1975), trong quá trình xét lý lịch
và sàng lọc cán bộ, một số tài liệu, lời khai và nghi vấn sai lệch đã
xuất hiện.
Do
khoảng thời gian dài bị giam cầm tại "hang ổ" của Ngô Đình Cẩn nhưng
ông vẫn sống sót một cách kiên cường, một số người đã hiểu lầm hoặc cố
tình vu khống rằng ông đã đầu hàng, hợp tác và làm tay sai cho chế độ cũ
(cụ thể là phe Ngô Đình Cẩn)
Nhờ
sự kiên định và những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, những
thông tin vu khống, hiểu lầm về ông Mười Hương đã được tổ chức làm rõ.
Ông được minh oan hoàn toàn.
Cuộc
đời cách mạng của ông bắt đầu từ khi chú bé Trần Ngọc Ban bước vào tuổi
13 cho đến khi trở thành Mười Hương lừng tiếng sau này, ấn tượng xuyên
suốt là lòng tin không sứt mẻ mà ông đã gây dựng được với các đồng chí
xung quanh.
Mới
15 tuổi, Ban đã bị bắt vào nhà tù thực dân vì một hành động ngây thơ:
quay trở lại cất giữ hai lá cờ vừa bị lộ vì... tiếc. Vậy mà vừa được anh
trai bảo lãnh, cậu bé Ban đã cầm được thư giới thiệu của những đồng chí
đàn anh trung kiên trong tù để tìm đến lãnh đạo trung ương và được phân
công vào Ban công tác đặc biệt của Đảng, chuyên công tác tổ chức bảo vệ
các lãnh đạo Đảng trong hoạt động bí mật.
Ông
Mười Hương không bao giờ giải thích về cơ duyên này, nhưng có một câu
chuyện khác nói thay ông: Nghe tin một bạn cùng hoạt động bị bắt, không
muốn bị tra tấn đã cắt cổ tự tử, máu chảy tràn trề đang bị giam riêng
trong bệnh viện, Mười Hương bèn bắt liên lạc với một chị y tá là cơ sở
mật tìm cách vào thăm. Chị gắt: "Vào để chết à?", chàng thanh niên Mười
Hương trả lời đầy nhiệt huyết: "Chúng tôi là bạn thân. Có lần anh ấy bán
cả sách vở cho tôi tiền ăn lúc khốn khó". Cuộc đột nhập nguy hiểm diễn
ra để Mười Hương ứa nước mắt nhét được qua cửa sổ cho bạn vài miếng bánh
mì, vài đồng bạc lẻ.
Bản
tính trung tín ấy đã lọt vào mắt xanh của các nhà lãnh đạo cách mạng
tinh đời. Mười Hương chưa tròn 20 tuổi đã được tin cẩn giao những nhiệm
vụ tối quan trọng: tổ chức những "an toàn khu" ngay giữa đô thị Hà Nội,
Hải Phòng để các lãnh đạo Đảng họp, một mình một xe đạp chở Tổng bí thư
Trường Chinh vào tận trung tâm Hà Nội, bắt liên lạc với sĩ quan Nhật để
binh vận ngay trước Sở Mật thám, chuẩn bị cho những cuộc đổi dời trước
Cách mạng Tháng Tám; bắt liên lạc vận động những nhà trí thức lớn ủng hộ
cách mạng...
Sau
này, trong cuộc phân ly của đất nước, nhiệm vụ vào Nam, tổ chức những
hoạt động bí mật phục vụ cho mục tiêu thống nhất cũng được giao cho ông.
Năm
1960, Mười Hương bị khai báo, bị bắt và đưa đi giam giữ, tra tấn tại
nhà giam Chín Hầm (Huế) do Ngô Đình Cẩn cai quản. Tại đây, ông bị Ngô
Đình Nhu "5 lần 7 lượt" đòi thu phục nhưng đều thất bại.
Tại
nhà giam Chín Hầm, Mười Hương được trực tiếp Ngô Đình Nhu (người được
cho là lý luận sâu sắc, tinh ranh của chính quyền Ngô Đình Diệm) tra
khảo. Đánh giá được Mười Hương "khác người", không như những bộ đội
khác, Ngô Đình Nhu lên kế hoạch thu phục Mười Hương vào bộ máy chính
quyền Ngô Đình Diệm.
Sau
nhiều lần tra khảo bằng những lý luận sâu sắc để đấu trí, Ngô Đình Nhu
dùng ánh sáng 500kW chiếu thẳng vào mắt Mười Hương nhằm làm rối loạn dây
thần kinh, để đo được độ thật của ông. Tuy nhiên, "5 lần 7 lượt" đều
thất bại.
Năm
1962, Ngô Đình Nhu buộc phải chuyển Mười Hương về nhà giam tại Sài Gòn
để chờ thời cơ tiếp tục thu phục. Trong những lần trực tiếp tra khảo,
Ngô Đình Nhu phải thừa nhận Mười Hương là một người cộng sản ngoan cố,
nhưng nói nhiều điều phải suy nghĩ. Nếu không thu phục được thì chắc
chắn phải thủ tiêu.
Năm
1963, sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình ở Sài Gòn thay
đổi rất nhiều. Ông Tám Mỹ (Chính ủy phòng tình báo lúc đó) nhận được
lệnh của cấp trên là bằng mọi giá nhân lúc tình hình đảo chính rối ren
phải đưa ông Mười Hương ra. Ông Tám Mỹ liên hệ Tư Cang, lúc đó là Cụm
trưởng Cụm tình báo A.18 (sau này mới đổi tên thành H.63 năm 1968), hội ý
xem có cách nào không.
Lúc
đó, ông Tư Cang vào thành trao đổi với Phạm Xuân Ẩn. Ẩn nói địch giam
ông Mười Hương trong phòng biệt giam nên giờ chỉ có cách thuyết phục cai
ngục. Cách duy nhất là phải chồng thật nhiều tiền cho hắn, cỡ 100.000
đồng. Hồi đó giá một lượng vàng là 3.000 đồng. 100.000 tức là 33 lượng
vàng.
Ông
Tám Mỹ chạy về kiếm nhà tư sản yêu nước là bà Võ Thị Quê. Bà Quê cho
mượn 100.000 đồng. Bà Quê biết ông Mười Hương thành ra thương ông ấy nên
mới dám cho vay số tiền lớn như vậy.
Kiếm
được tiền rồi thì Phạm Xuân Ẩn vào thuyết phục cai ngục. Ông Ẩn kể có
nói với hắn: “Mày chịu làm như vậy, mày sơ hở trong 15 phút thì mày lấy
100.000 tiêu xài, mua xe Mercedes chạy”. Khi Mười Hương ra khỏi cổng nhà
tù, chiếc Renault của Phạm Xuân Ẩn đã chờ sẵn và đón đi luôn. Chạy được
tầm 2 km về tới ngã tư Bảy Hiền thì sang xe taxi của ông Nguyễn Văn
Huỳnh, là giao thông liên lạc của cụm tình báo, ông Huỳnh chở Mười Hương
chạy một mạch về xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi.
Ở
Củ Chi đã bố trí một đồng chí chờ sẵn và chở về căn cứ Bến Đình. Ông
Mười Hương ngồi sau, chạy ngang bốt kiểm tra khỏe re. Mọi việc đều phải
gấp rút vì địch truy theo. Quả nhiên, 15 phút sau dưới trung tâm thành
phố báo động. Trên cấp cho ông Mười Hương chiếc xe đạp mới, Tư Cang một
chiếc, bảo vệ một chiếc. Bảo vệ mang súng trường chạy đằng trước, ông
Mười Hương đi giữa, Tư Cang chạy sau cùng.
Lúc
đó, ông Mười Hương bịt khăn rằn, mặc áo ngắn tay. Họ đạp xe tầm 50 km
đưa ông ấy về Bời Lời ở huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) (lúc đó là căn cứ
chính của cụm tình báo A.18 - tiền thân của H.63). Theo lời kể của ông
Tư Cang, suốt dọc đường ông Mười Hương đạp xe phấn khởi lắm.
Cuộc tẩu thoát khỏi nhà tù của ông Mười Hương chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 1 ngày.
9/ Đinh Thị vân:
Đinh Thị Vân (1916-1995), tên thật Đinh Thị Mậu
là một Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Bà là một tình báo viên nổi
tiếng trong Kháng chiến chống xâm lược được Nhà nước Việt Nam phong tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Bà
sinh tại làng Đông An, tổng Cát Xuyên, huyện Giao Thủy, phủ Thiên
Trường (nay là làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường), tỉnh Nam
Định. Bố của bà mất sau khi bà Mậu sinh ra được 6 tháng. Anh em bà được
ông nội Đinh Mẫn Cấp nuôi nấng và dạy dỗ.
Năm 1933, bà được 2 người anh cùng cha khác mẹ là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương,
vận động tham gia hoạt động cách mạng. Bà làm giao thông liên lạc, cất
giữ tài liệu bí mật của Đảng, tham gia tổ chức nhóm "Ái hữu tương tế",
nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng hoạt động tại địa phương...
Thời gian này bà lập gia đình với một người cùng quê, từ đó
mọi người thường gọi tên bà theo tên chồng là Vân từ đó bà được gọi
bằng tên Đinh Thị Vân.
Đại tá tình báo, anh hùng LLVTND Đinh Thị Vân
Năm 1940, người chị dâu cả qua đời, bà nuôi ăn học 2 người
cháu ruột là Đinh Xuân Mẫn và Đinh Văn Năng. Cả hai về sau đều tích cực
tham gia hoạt động cho Mặt trận Việt Minh.
Tháng 8 năm 1945, với vai trò là cán bộ Việt Minh huyện
Xuân Trường, bà tham gia công tác vận động dân chúng tham gia tổng khởi
nghĩa ở hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Sau khi Cách mạng tháng 8
thành công, bà tham gia công tác xây dựng chính quyền mới ở huyện Xuân
Trường.
Ngày 30 tháng 6
năm 1946, bà Đinh Thị Vân được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và
được cử giữ các chức vụ Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên ban
Thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ
tỉnh Nam Định (1951-1953).
Tháng 6/1954, Trung ương quyết định điều động Đinh Thị Vân lên công tác
tại Cục Nghiên cứu Tổng tham mưu - Bộ Quốc Phòng. Bà được giao nhiệm vụ
về Hà Nội hoạt động bí mật trong lòng địch, gây dựng cơ sở, tìm hiểu
những ý đồ chiến lược của địch. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình mẹ già
yếu, chồng bị đau ốm nhưng vì nhiệm vụ đặc biệt lại phải xa quê hương,
xa những người thân yêu nhất để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và quân đội
đã tin tưởng giao phó. Mặc dù nghĩa tình sâu nặng nhưng bà đã chủ động
đề nghị với lãnh đạo đồng thời cưới vợ cho chồng chăm sóc, lo toan việc
nhà tạo điều kiện để mình hoàn thành nhiệm vụ.
Chỉ một thời gian ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy ở nội
thành Hà Nội. Chấp hành chỉ thị, bà Vân tìm cách lọt qua mạng lưới kiểm
soát dày đặc của địch trên đường số 5 để xuống Hải Phòng. Nhờ vào các
mối quan hệ và công tác vận động, giác ngộ quần chúng chị đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức quan trọng để cấp trên chỉ đạo
thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian “300 ngày tập kết”.
Hiệp định Geneve được ký kết, đất nước bị chia cắt thành hai miền, lấy
vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời. Tháng 10/1954, trước ngày quân ta kéo
về giải phóng Thủ đô, bà nhận lệnh bí mật vào Nam hoạt động. Để tạo vỏ
bọc hợp pháp cho việc di cư vào Nam và phù hợp với hoạt động sau này, bà
đã đóng vai “người đi buôn vào Nam kiếm sống”. Từ đó, ngày ngày “dì Sáu
di cư” trĩu nặng trên đôi vai gầy gánh guốc đi bán rong khắp ngõ phố
Sài Gòn. Từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ
ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…
Để hỗ trợ cho hoạt động của bà, cấp trên quyết định thông báo: “Đinh Thị
Vân đã phản Đảng, bỏ nhiệm vụ chạy trốn vào Nam. Tuyên án tử hình vắng
mặt”. Tin dữ lan truyền quá nhanh, anh em đồng chí, họ hàng, quê hương…
đều bàng hoàng, sửng sốt. Thế nhưng đã đánh hoả mù vào cơ quan mật vụ
của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bà hoạt động bí mật.
Tháng
8-1959, khi đang hoạt động trong hang ổ Mỹ-ngụy giữa Sài Gòn thì bà bị
một tên phản bội chỉ điểm. Bà bị địch bắt và tra khảo về đồng chí Năm
Phong, một giao thông viên của Đặc khu ủy. Bọn mật vụ thay nhau tra khảo
suốt đêm không nghỉ, hòng làm bà mỏi mệt phải khai ra. Tiếp đó, những
trận đòn vùi dập trong Sở mật vụ khiến 10 ngón tay bà sưng húp, không
cựa quậy được. Những chiếc đinh bù loong vẫn liên tiếp dội lên người bà.
Không moi được gì, chúng đem máy quay điện đến. Bà chỉ còn thấy những
tia xanh đỏ lóe lên trước mặt, toàn thân rung lên rồi không biết gì nữa.
Ngất đi, tỉnh dậy không biết bao lần nhưng bà không hé răng khai nửa
lời khiến bọn mật vụ cay cú trói bà vào ghế.
Địch
đổi cách tra tấn. Chúng cho một tên nói năng nhỏ nhẹ đến tâm sự. Nó
nói: “Như thế là chúng đánh dì 4 cách rồi, còn 3 cách nữa, ác lắm, con
sợ dì không chịu được. Vì vậy dì nên khai đại đi, nếu chúng không lập
được hồ sơ về dì thì con sợ chúng đánh dì chết mất”. Bà nghĩ: “Chúng bay
còn 3 cách, chứ 30 cách tra tấn nữa, tao cũng không sợ”. Bà lại tiếp
tục im lặng khiến tên này không moi được gì.
Bà Vân họp bàn ở miền Đông Nam bộ
Tức giận, địch treo ngược bà lên,
đạp văng từ bên này sang bên kia, có lúc quay tít như con quay, đầu óc
choáng váng, nước mắt, nước mũi trào ra. Sau chúng giúi đầu bà xuống
thùng nước xà phòng, bắt bà uống nước đầy bụng, rồi trói chặt bà vắt lên
nắp thành phuy chứa nước bẩn, đưa máy quay điện dí sát vành tai rồi
quay mạnh. Bà bị hất nhào đầu xuống nước, toàn thân co giật liên hồi.
Khi tỉnh dậy, nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Uy vũ bất năng khuất”, bà thì
thầm: “Bác ơi, dẫu cháu có phải chết, cháu cũng sẽ đứng vững, sẽ xứng
đáng là người đảng viên của Đảng do Bác sáng lập”. Nghĩ đến các cơ sở đã
che giấu cho mình, bà càng có thêm quyết tâm chịu đau, không khai nửa
lời.
Sau mấy ngày địch không tra tấn,
chúng gọi bà lên và nói: “Nếu thực sự bà chỉ là người buôn bán, thì giấy
bút đây, bà viết hai câu: Đả đảo Cộng sản, đả đảo Hồ Chí Minh, chúng
tôi sẽ thả bà ngay”. Bà lấy lý do tay đau, với lại Cụ Hồ có bắt bớ gì bà
đâu mà bà đả đảo. Nó bảo bà hô bằng miệng cũng được, bà không kìm được,
đứng dậy chỉ vào mặt tên chủ sự: “Tổ sư cha cái thằng Ngô Đình Diệm tay
sai nhà mày”. Tên chủ sự đạp bà bắn vào chân tường. Bà ngất lịm. Lại
những cuộc tra tấn chết đi, sống lại. Bà giật dây chuyền, bông tai ném
xuống rồi nghiến răng nói: “Mày cứ quay điện đi, quay nữa đi, quay cho
tao chết đi, tao không sợ. Bỏ đây tao quay cho”. Bà bứt dây trói, cầm
lấy bình quay tít, người bung khỏi ghế, đầu lao xuống nhà, lịm đi.
Không
còn cách nào khai thác, địch đưa bà đến sở thú, nơi chúng có những
phương thức tra tấn vô cùng dã man. Bà lấy ghim cài đầu, hì hụi khắc vào
tường: “Tôi là Trần Thị Mỹ, quê ở Nam Định, bị bắt ngày 19-8-1959, qua
an ninh quân đội, trại Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt. Hôm nay quay về đây,
tôi sẵn sàng chết ở đây”. Được mấy hôm, chúng lại bịt mắt, giải bà đến
chỗ tên Phan Khanh, một tên cáo già trong tra khảo tù binh. Tên này dẫn
chuyện mẹ bà ở Nam Định đã chết trong cải cách ruộng đất, hòng lung lạc
bà nhưng không khai thác được gì.
Về
sau, lợi dụng chính phủ ngụy quyền liên tục đảo chính, lật đổ lẫn nhau,
bà đã thoát ra khỏi nhà tù, tiếp tục gây dựng mạng lưới tình báo. Bà và
mạng lưới của bà đã cung cấp sớm cho tổ chức những tin quan trọng như:
Việc Mỹ đưa bao nhiên quân vào miền Nam, sự bố trí giữa quân Mỹ và quân
ngụy, hỗn hợp quân Mỹ-ngụy; kế hoạch xây dựng nghĩa quân, địa phương
quân của địch trên 43 tỉnh, thành miền Nam; chiến dịch “ba mũi tên
tìm-diệt” mà Mỹ-ngụy dự định tiến hành; âm mưu của địch trong chiến dịch
Gian-sơn Xy-ti với ý đồ đập tan cơ quan đầu não Việt cộng; các thông
tin phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta trong Xuân Mậu
Thân năm 1968.
Ảnh thẻ căn cước của bà Đinh Thị Vân (1954). Tư liệu của ông Đinh Quang Như (Nam Định)
Phát huy đà thắng lợi
của hai mùa khô, cục diện trên toàn miền Nam thay đổi có lợi cho ta.
Trung ương quyết định: “Chuyển cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam sang
một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Chủ trương của ta
được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà
tình báo gọi là kế hoạch “Vụ Mùa”. Bà trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị
“Vụ mùa’ ở Sài Gòn, chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên
ngoài vào. Tất cả tin tức đều đã được mạng lưới của bà kịp thời báo cáo
ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng. Mọi
kế hoạch đều được tuyệt đối giữ bí mật tới mức khi “Vụ mùa” đã triển
khai mà địch vẫn không hề hay biết.
Địch trở tay không kịp, hoang mang lo sợ, máy bay bay rối loạn trên bầu
trời Sài Gòn, xe nha binh chạy đâm bừa vào nhau nhốn nháo. Trong thời
điểm ấy, bà Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới
của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau những ngày vang dội của cuộc
tổng tiên công Mậu Thân, Mỹ Ngụy rất hoang mang lo sợ nên càng lùng
sục, bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà Vân
phụ trách hóa trang giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng
ngày vẫn công khai hoạt động giữa vòng vây của cảnh sát và mật vụ Sài
Gòn.
Cho đến khi bà rút khỏi Sài Gòn,
địch không hề hay biết về mạng lưới tình báo của bà. Bà đã nêu cao phẩm
chất của người đảng viên cộng sản, hy sinh hạnh phúc riêng vì lý tưởng
cách mạng.
Tháng 3/1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khoẻ của bà Vân bị
giảm sút sau những năm tháng tù đày bị địch tra tấn dã man và hoạt động
vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã
quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công làm công tác huấn
luyện.
Bà cùng những tên tuổi đã trở thành huyền thoại như: Thiếu tướng Vũ Xuân
Nhã, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Đại tá Lê Hữu
Thúy… góp phần làm nên chiến thắng mùa xuân 30/4/1975, giành lại độc
lập, thống nhất cho Tổ quốc.
Với công lao cống hiến cho Đảng và Nhà nước cũng như quân đội, ngày
25/8/1970, bà Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý:
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Bà Đinh Thị Vân (giữa) trong lễ tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970 (Ảnh: Vietnamnet)
Sau gần trọn một đời cống
hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 phố
Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn
và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, mọi
người nơi bà cư trú. Bà Đinh Thị Vân mất ngày 11/12/1995 tại Hà Nội.
Trong
lịch sử tình báo quân sự Việt Nam, có một nữ điệp viên chiến lược đã hy
sinh hạnh phúc riêng, lấy vợ cho chồng để rồi suốt mấy chục năm âm thầm
làm nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ quan trọng với vai một người lao động bình thường, răng đen, ăn
trầu, quanh năm mặc áo bà ba… Vì những cống hiến xuất sắc cho Tổ quốc,
bà Đinh Thị Vân xứng đáng trở thành huyền thoại trong ngành tình báo
Việt Nam.
10/ Nguyễn Văn Minh:
Có một viên
thượng sĩ “quèn” đó từ năm 1963 đã là nhân viên văn thư của Văn phòng
Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Có. Với tinh thần làm
việc mẫn cán, tận tụy, được nhiều người trong văn phòng quý mến, lại
được tân Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên tiếp tục tin dùng, trở thành
một trong bốn nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng.
Thông tin đó về sau đã được giải mật. Đó là Đại tá Nguyễn Văn Minh, Anh
hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, điệp viên mang bí số H3 của Phòng Tình
báo B2, với hơn 20 năm sống trong lòng địch.
Đại tá tình báoNguyễn Văn Minh, Anh
hùng lực lượng vũ trang Nhân dân
Đại tá Nguyễn Văn Minh sinh năm 1933, tại Hưng Yên, trong một gia đình
thợ thủ công. Lớn lên, ông vào Sài Gòn tìm việc làm, lòng yêu nước đã
thôi thúc ông tìm đến với cách mạng. 20 tuổi, ông đã là một công nhân
hoạt động bí mật cho Mặt trận Liên Việt giữa lòng Sài Gòn. Đến năm 1959,
ông được Quận ủy Thủ Đức cử làm nhiệm vụ tìm cách lọt vào quân đội ngụy
quyền Sài Gòn. Năm 1963, lợi dụng sự kiện chính quyền tay sai Ngô Đình
Diệm bị lật đổ, các phe phái ngụy quân, ngụy quyền chèn ép nhau để tranh
quyền, đoạt lợi, ông đã tìm cách chui sâu vào hàng ngũ kẻ thù với chức
danh nhân viên văn thư của Văn phòng Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Có.
Không lâu sau đó, Nguyễn Cao Kỳ lật đổ Nguyễn Hữu Có nhưng với vỏ bọc
là một nhân viên quân sự mẫn cán, tận tụy với công việc, được nhiều
người trong Văn phòng quý mến nên ông được tân Tổng tham mưu trưởng Cao
Văn Viên tiếp tục tin dùng. Từ đó, H3 trở thành một trong 4 nhân viên
văn thư của Văn phòng Tổng tham mưu trưởng.
Công việc hằng ngày của H3 là tiếp nhận và lưu trữ công văn đi, công văn
đến giữa Văn phòng Tổng tham mưu trưởng với các cơ quan, đơn vị trong
quân đội ngụy, đặc biệt là trao đổi công văn với Phủ Tổng thống, với các
cơ quan Bộ Quốc phòng, các quân đoàn, quân khu. Công việc này tạo cơ
hội để H3 tiếp xúc với các tài liệu tối mật của địch. Chính vì vậy,
những tài liệu, tin tức mà H3 cung cấp cho ta rất có giá trị, bảo đảm độ
chính xác cao. Làm việc trong môi trường tối mật như vậy, H3 luôn bị
các cơ quan mật vụ, an ninh của địch để ý, theo dõi nhưng ông đã tìm ra
cách hoạt động để che mắt kẻ thù. Không thể tiến hành sao chụp tài liệu
vì nếu làm như thế dễ bị lộ, H3 đã rèn luyện để ghi nhớ, chép lại toàn
bộ các công văn ông tiếp xúc hằng ngày rồi chuyển về lưới tình báo do
ông Hai Kim phụ trách.
Đến đầu năm 1975, ông đã báo cáo tin
quan trọng có tính quyết định để ta củng cố quyết tâm giải phóng miền
Nam ngay trong năm 1975, đó là tin Mỹ trả lời ngụy quân, ngụy quyền: “Mỹ
coi như chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc, Mỹ sẽ không chi viện cho
quân ngụy bằng lực lượng chiến đấu của Mỹ”. Cùng với đó, các báo cáo của
ông còn phân tích mối tương quan giữa lực lượng địch và viện trợ của
Mỹ, giữa viện trợ và mức độ sử dụng bom đạn, phi vụ, cơ động của xe
tăng, tàu chiến, việc bố trí binh lực tại các quân khu của quân ngụy…
Trong sự kiện 30/4/1975, khi Quân giải
phóng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, chính H3 đã động viên các viên
chức trong văn phòng của tướng Cao Văn Viên gìn giữ, niêm phong kho
tàng, hồ sơ, bảo toàn tài liệu, máy móc trong văn phòng để bàn giao cho
quân giải phóng.
Đồng
chí Bảy Vĩnh - cán bộ tình báo - kể lại, khi chỉ huy một bộ phận biệt
động bí mật đột nhập vào khu vực cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, đã “đụng”
ngay một viên thượng sĩ nhất của văn phòng như đang ngồi chờ đợi.
Viên
thượng sĩ “quèn” đó bình tĩnh ở lại văn phòng cho tới 3 giờ chiều, khi
mọi việc giao nộp sổ sách cho Quân giải phóng xong xuôi; hệ thống máy
tính lưu trữ hồ sơ của hơn một triệu quân đội Sài Gòn, cùng toàn bộ giấy
tờ tại Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên được niêm phong
không mất một tờ nào, anh ta mới ra về…
Viên
thượng sĩ ấy còn trực tiếp trao chìa khoá, dẫn quân giải phóng tiếp quản
tất cả những gì còn lại ở cơ quan đầu não của Quân đội Việt Nam Cộng
hòa.
Mãi về
sau ông Bảy Vĩnh kể lại, trong cuộc gặp mặt những anh em, đồng đội của
Phòng Tình báo chiến lược (J22) - Bộ tham mưu quân giải phóng miền Nam,
chính Bảy Vĩnh, cụm trưởng Cụm tình báo H67, đã nhận ngay ra viên thượng
sĩ nhất “phe địch” mà mình đã gặp khi đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, Và
càng ngạc nhiên hơn khi biết, viên thượng sĩ nhất đó mang bí danh H3,
một đồng đội của mình cùng hoạt động trong ngành tình báo.
Còn với
người Mỹ và cơ quan tình báo CIA, mãi về sau, vẫn không hề biết được H3
là ai? Năm 2006, tại Hội thảo quốc tế về “Tình báo trong chiến tranh
Việt Nam” do Trung tâm Việt Nam thuộc Đại học Công nghệ Tếch-dớt của Mỹ
cùng Trung tâm Nghiên cứu tình báo CIA phối hợp tổ chức, một cựu nhân
viên CIA đã nhận định rằng:
“Đúng
là phải có một điệp viên cộng sản từng nằm ngay trong lòng Bộ Tổng Tham
mưu (Việt Nam Cộng hòa). Dường như không phải là sĩ quan cao cấp, không
phải là tùy tùng thân cận của Tổng thống Thiệu, song chắc chắn nhân vật
này đã gửi ra Bộ Chính trị Bắc Việt nhiều tin tình báo chiến lược”.
Thông tin đó về sau đã được giải mật. Người đó là điệp viên mang bí số
H3 của Phòng Tình báo Miền.
H.3, người bí mật ở Bộ Tổng tham mưu chế độ cũ đã cung cấp hàng loạt tin
tình báo chiến lược, mà đến năm 2006, CIA vẫn không ngừng thắc mắc: Ông
là ai? - Ảnh Thế Vinh
Giữa “biển giáo, rừng gươm”, một mình
hoạt động đơn tuyến, tính mạng lúc nào cũng treo “trên miệng cọp” nhưng
với bản lĩnh kiên cường và mưu trí “siêu việt”, H3 đã bình tĩnh hoạt
động, hoàn thành tốt chức trách mà quân đội Sài Gòn giao cho, tạo nên
“tấm bình phong” an toàn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cách mạng
giao phó.
Ở vị trí này, H3 - Nguyễn Văn Minh có
điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu tuyệt mật của địch, hàng ngày phải
tiếp nhận, sản xuất và giải quyết “hàng lô” công văn đi - công văn đến
giữa Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng với các cơ quan, đơn vị trong quân
đội; đặc biệt trao đổi công văn với Phủ Tổng thống, các cơ quan Bộ Quốc
phòng, các quân khu, quân đoàn... Đây toàn là những tài liệu thuộc hạng
tối mật, tuyệt mật của địch.
Làm
việc trong môi trường như vậy, H3 luôn bị các cơ quan mật vụ, an ninh
của địch để ý, theo dõi nên không thể tiến hành sao chụp tài liệu, vì
làm như thế dễ bị lộ. Để có thể nắm được nhiều tài liệu của địch, ông
khéo léo nhận về mình nhiều phần việc trong số bốn nhân viên văn thư.
Ngày
làm việc cho Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, đêm thức viết lại để báo
cho tổ chức. Rất nhiều đêm ông thức trắng báo cáo cho hết các nội dung
công văn đã nắm được. Tránh sai sót, thiếu hụt. H3 đã rèn luyện để có
trí nhớ tuyệt vời, chép lại toàn bộ các công văn tiếp xúc hằng ngày bằng
trí nhớ rồi chuyển về lưới tình báo do nữ đồng chí Hai Kim phụ trách.
Cách
làm này đòi hỏi trí não ông hoạt động không ngơi nghỉ và đôi mắt phải
hoạt động quá tải, nên lúc về già mắt ông bị mờ đi rất nhanh…
Những
tài liệu, tin tức mà H3 - Nguyễn Văn Minh chuyển về, có giá trị chiến
lược, chiến dịch quan trọng mà tình báo cần. Nhiều tài liệu nguyên bản
đạt độ tin cậy và chính xác cao, giúp cơ quan chỉ đạo chiến lược của ta
hiểu rõ âm mưu ý đồ của địch, như kế hoạch bình định nông thôn, kế hoạch
lấn chiếm xóa các vùng giải phóng theo kiểu “lấp lỗ da báo” của địch,
đồng thời đánh giá đúng ý đồ của Mỹ sau khi ký Hiệp định Paris năm
1973.
Ông Nguyễn Văn Minh và Văn phòng Bộ Tổng tham mưu địch, nơi ông hoạt
động trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh tư liệu)
Tin tức
của H3 -Nguyễn Văn Minh đưa về giúp trên khẳng định: “Đối với Mỹ không
có nửa hòa, nửa chiến, Mỹ chỉ tìm cách xóa ta, nếu ta mạnh, Mỹ chịu
thua, nếu ta yếu, Mỹ lấn tới”.
Ngoài
những tin tức có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch nói trên, H3 - Nguyễn
Văn Minh còn cung cấp những tin tức về chủ trương mới của quân đội Sài
Gòn; theo dõi diễn biến toàn miền; tin địch nhận định về ta; chủ trương
đối phó của địch; việc bố trí binh lực giữa các quân khu; việc sử dụng
lực lượng tổng trù bị dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, không
quân; việc địch tổ chức lại lực lượng sau những lần tổn thất;...
Đặc
biệt, những tin tức thu được trong hai năm 1973, 1974 và đầu năm 1975 có
giá trị cao, góp phần giải đáp được các yêu cầu điều tra một loạt các
vấn đề chiến lược quan trọng trong thời điểm then chốt.
Khi ta
chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, tin tức của H3 -
Nguyễn Văn Minh đã giúp trên khẳng định: “Khi ta đánh vào Sài Gòn thì Mỹ
không trực tiếp tham chiến trở lại”, “Mỹ coi như chiến tranh ở Việt Nam
đối với Mỹ đã kết thúc, Mỹ sẽ không chi viện cho quân đội Sài Gòn bằng
lực lượng chiến đấu của Mỹ”.
Tài
liệu do H3 - Nguyễn Văn Minh lấy được từ phòng làm việc của Tổng Tham
mưu trưởng Cao Văn Viên có giá trị chiến lược hết sức quan trọng để Bộ
Chính trị, Quân ủy Trung ương chọn giải pháp cho cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trong thời gian ngắn nhất...
Hơn 20
năm hoạt động bí mật giữa lòng địch, H3 - Nguyễn Văn Minh đã tạo cho
mình một vỏ bọc ở vị trí cao sâu. Những năm cuối của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, H3 - Nguyễn Văn Minh là cơ sở chủ yếu cung cấp được
khối lượng lớn tin tức, tài liệu về chiến dịch, chiến lược của địch, góp
phần tích cực vào đại thắng Mùa xuân 1975, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
trên giao.
Lưới
điệp báo A3 trong một lần gặp mặt. Từ trái sang: Ba Minh (H.3), Nguyễn
Văn Chí, Nguyễn Thị Nguyệt (H.4), Hai Kim (T2). Ảnh: Tư liệu gia đình.
H3 - Nguyễn Văn Minh trở thành một trong
những điệp viên huyền thoại, khiến kẻ thù kinh ngạc về bản lĩnh, trí tuệ
và tinh thần “thép” của ông. Năm 1999, Đại tá Nguyễn Văn Minh vinh dự
được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân
Sau ngày đất nước thống nhất, Đại tá
Nguyễn Văn Minh tiếp tục công tác trong quân đội một thời gian rồi nghỉ
hưu theo chế độ. Ông sống khiêm nhường, giản dị, gần gũi với mọi người.
Tháng 9/2009, điệp viên H3 từ trần trong thanh thản, để lại nỗi tiếc
thương khôn nguôi trong tâm trí người thân và đồng đội. Ông là một trong
những điệp viên mà khả năng giữ bí mật hoạt động đã trở thành huyền
thoại, khiến kẻ thù kinh ngạc về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần “thép”
của ông.
11/ Đinh Văn Đê.:
Đinh Văn Đệ hay Ba Đệ(1924
– 2020) là một quân nhân, chính khách Việt Nam Cộng hòa, từng giữ nhiều
chức vụ quan trọng trong Quốc hội Việt Nam Cộng hòa như dân biểu Hạ
nghị viện, Phó trưởng khối đối lập, Phó Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Ủy
ban Quốc phòng Hạ viện Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra, ông được biết đến là
điệp viên tình báo chiến lược của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bí danh U4
thuộc Cụm tình báo VĐ2. Ông được phong cấp hàm thượng úy Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam và được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cũng như được Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công
giải phóng hạng Ba.
Đinh Văn Đệ sinh tại xã Long Thuận -
trước thuộc huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Hồng Ngự,
tỉnh Đồng Tháp trong một gia đình đạo Cao Đài
có truyền thống cách mạng. Sớm mồ côi cha năm 15 tuổi, gia cảnh mẹ góa
con côi rất khó khăn nhưng nhờ được bà con giúp đỡ nên ông đã học hết
trung học đệ nhất cấp rồi đi dạy học. Sau tháng 8-1945, khi Đinh Văn Đệ
theo cách mạng được vài tháng thì thực dân Pháp quay trở lại và ông bị
bắt giam một tháng.
Ông Đinh Văn Đệ
Sau
khi được thực dân Pháp thả, Đinh Văn Đệ lên Sài Gòn
mở quán bán sách rồi mở lớp dạy tư. Năm 1952, Đinh Văn Đệ bị động viên
vào Trường sĩ quan trù bị Thủ Đức. Mãn khóa, ông đứng thứ 6 nên được về
Bộ Tham mưu Đệ nhất Quân khu (đứng ở tốp 5 thì được ưu tiên về Bộ Tổng
tham mưu, từ 6 đến 10 thì về Đệ nhất Quân khu). Viên sĩ quan trẻ, thông
minh, nhanh nhẹn Đinh Văn Đệ được thống tướng Lê Văn Tỵ
chọn làm trợ lý Tổng tham mưu trưởng, thăng cấp đại úy, sau đó được
thăng lên trung tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu trưởng QLVNCH vào giữa
năm 1957. Cuối năm 1957, tướng Nguyễn Chánh Thi đảo chính hụt Ngô Đình
Diệm,
ông bị nghi ngờ là dính líu với lực lượng đảo chính và bị quản thúc hơn
một tháng. Nhờ mối quan hệ thân thiết của bố vợ ông với Phan Khắc Sửu
nên Ba Đệ được bảo lãnh và sau đó được vào học tại Trường Đại học quân
sự Đà Lạt và đỗ thủ khoa.
Tháng
11 năm 1963 nổ ra cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm của Hội đồng Quân
nhân Cách mạng do Dương Văn Minh đứng đầu. Đinh Văn Đệ được cử làm Thị
trưởng Đà Lạt, sau kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Đức, đến năm 1966 thì được
thăng cấp đại tá và chuyển sang làm tỉnh trưởng Bình Thuận. Cuối năm
1967, Đinh Văn Đệ từ chức tỉnh trưởng, ứng cử vào Hạ nghị viện, mặc dù
bị Nguyễn Văn Thiệu
tìm mọi cách đánh trượt, nhưng được sự hậu thuẫn của đông đảo cử tri,
ông đã đắc cử ở Đà Lạt và trở thành Phó chủ tịch Hạ nghị viện và Phó
trưởng Khối Đối lập.
Kể
từ sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm,
Ba Đệ bắt đầu được Mỹ để ý. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà trong
con người ông bắt đầu có sự chuyển biến tư tưởng mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh
giằng xé giữa một bên là lý tưởng quốc gia và bên kia là những người
anh em ruột thịt trong hàng ngũ cách mạng (ông có người em trai là Đinh
Văn Huệ - sĩ quan tình báo, sau này là Đại tá - Cụm trưởng cụm điệp báo
VĐ2).
Cuối năm 1967, khi đang là dân biểu Hạ nghị viện, Phó
trưởng khối đối lập, Phó Chủ tịch Hạ viện Sài Gòn thì cuộc đời Đinh Văn
Đệ trải qua một bước ngoặt lớn. Thông qua sự giác ngộ và bảo lãnh của
ông chú, Ba Đệ được em dâu (vợ Đinh Văn Huệ)
móc nối và trở thành cơ sở nội tuyến của mạng lưới tình báo thuộc Đoàn
22-Bộ chỉ huy Miền Nam. Ông được đặc cách phong hàm thượng úy Quân giải phóng miền Nam.
Tổ chức yêu cầu Ba Đệ phải bằng mọi cách nắm cho được chức
Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện. Đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi
Ba Đệ vốn là người của phe đối lập, là "cái gai" trong con mắt của cả
hai đời Tổng thống Diệm và Thiệu. Để đạt được mục đích "trèo cao, chui
sâu", lấy được lòng người Mỹ lẫn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu,
Ba Đệ buộc phải thoát ly khỏi phe đối lập và bề ngoài tỏ ra là một
người hăng hái chống Cộng. Rồi từ chỗ đối lập với Thiệu, Ba Đệ ngả dần
sang phái thân chính quyền. Liên tục trong hai khóa Quốc hội trên danh
nghĩa Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện Sài Gòn, Đinh
Văn Đệ đã cung cấp cho mạng lưới cách mạng nhiều tin tức quan trọng.
Tháng 1 năm 1975, quân Giải phóng đánh chiếm Phước Long.
Đinh Văn Đệ được giao nhiệm vụ tìm hiểu phản ứng của quân đội Sài Gòn
sau thất bại này. Thông qua quan hệ với các quan chức cao cấp trong
chính phủ Sài Gòn, ông nắm được các thông tin cho thấy quân đội Sài Gòn
không có dự định tái chiếm Phước Long nhưng sẽ không kích Lộc Ninh dữ
dội, giúp cho quân giải phóng kịp thời chuẩn bị trước ở Lộc Ninh. Trước
khi diễn ra chiến dịch Buôn Ma Thuột
(3/1975), Đinh Văn Đệ thông qua việc đi thị sát, uỷ lạo quân đội Sài
Gòn để tìm hiểu thông tin về hai vấn đề (1) liệu quân đội Sài Gòn có nắm
được vị trí của Trung ương Cục Miền Nam
và (2) có biết quân Giải phóng đang điều quân để đánh lớn ở Tây Nguyên.
Những thông tin do ông cung cấp giúp Quân Giải phóng đoán được ý đồ của
đối phương và chủ động tác chiến.
Tháng 3 năm 1975 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
yêu cầu vị Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng này phải thuyết phục sao cho Quốc
hội Hoa Kỳ phải mở hầu bao, chìa tay ra cứu vớt kẻ đang hấp hối; phải
làm cho Quốc hội Hoa Kỳ thấy được, nếu không viện trợ ngay cho Sài Gòn
thì Sài Gòn sẽ sụp đổ. Theo yêu cầu của tổ chức, Ba Đệ phải tận dụng cơ
hội này để "thuyết phục" Quốc hội Hoa Kỳ...
cắt viện trợ. Vì vậy, ông Đệ đã cố ý trình bày tình hình của Việt Nam
Cộng hoà thật u ám, dựng lên một bức tranh đen tối về chiến trường, sự
sa sút của quân đội Sài Gòn, sự rối ren của chính quyền Nguyễn Văn
Thiệu. Những thông tin đó đúng theo yêu cầu của Nguyễn Văn Thiệu, nhưng
lại khiến cho Quốc hội Hoa Kỳ
tin rằng "Đừng tiếp tục ném tiền qua cửa sổ vô ích" và củng cố thêm
quan điểm ngừng tài trợ cho Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 6/4/1975, phái đoàn
của Đinh Văn Đệ kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ
về nước mà không đạt được kết quả như chính phủ Sài Gòn mong đợi. Hầu
hết các thành viên trong đoàn đều đã cảm nhận được sự buông xuôi của Mỹ
qua thái độ lạnh nhạt và thờ ơ của Quốc hội Hoa Kỳ.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,
Đinh Văn Đệ công khai thân phận điệp viên, nên không thuộc diện cải
tạo. Tuy nhiên, ông vẫn bị nghi ngờ mặc dù dưới sự bảo vệ của Chủ tịch
Thành phố Hồ Chí Minh Võ Văn Kiệt, người ta vẫn đối xử với ông như đối với một công chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng hòa.
Năm 1977, ông được phân công công tác ở Trung tâm nghiên cứu dịch thuật
và làm ở đây 8 năm, có thời gian từng là quyền giám đốc. Năm 1985, ông
xin về hưu.
Xuất gia theo đạo Cao Đài với thánh danh Thiên Vương tinh
Sau khi nghỉ hưu, ông xuất gia theo đạo Cao Đài, trở thành Đạo trưởng với thánh danh Thiên Vương tinh, công tác tại trụ sở Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại đạo đường Cống Quỳnh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau giải phóng miền Nam năm 1975,
rất nhiều người sửng sốt khi thấy ông Đinh Văn Đệ hàng ngày tới làm việc
tại cơ quan lãnh đạo của thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Đinh Văn Đệ
Có người quá bức xúc liền tới chất vấn các đồng chí lãnh đạo thành
phố rằng: Vì sao một người từng làm tới Phó Chủ tịch Hạ viện của chính
quyền Sài Gòn, nay lại được tuyển vào làm việc ngay tại cơ quan đầu não
của thành phố mới giải phóng.
Ông Võ Văn Kiệt lúc ấy chỉ tủm tỉm cười, nói một câu
tiếng Pháp: “Il est communist sans parti” (Ông ấy không phải là đảng
viên, nhưng là một người Cộng sản).
Có lần, một nhà báo từ Hà Nội vào xin gặp, ông Đệ đã ưu ái dành cho trọn một buổi chuyện
trò. Lúc nhà báo đó ra về, người giúp việc cho cụ nói nhỏ cho tôi đủ nghe: “Lần
đầu tiên đấy!”…
“Gia đình chú vốn đã mấy đời theo đạo Cao Đài - cụ bắt
đầu câu chuyện với cách xưng hô thân mật - Hồi chú tham gia Nghị viện
Sài Gòn, bọn họ cũng chỉ biết gia đình chú toàn là tín đồ đạo Cao Đài,
chứ không ai hay biết là chú còn 2 người em trai tập kết ra Bắc, và sau
này, có hai em là liệt sĩ.
Khi nhận nhiệm vụ, chú đã bàn với tổ chức rằng cách tốt
nhất để đảm bảo tuyệt đối bí mật là sẽ lập một hộp thư liên lạc gồm
những thành viên là người ruột thịt của chú. Tổ chức rất tán thưởng ý
định đó.
Vậy là một đường dây liên lạc được thiết lập giữa chú
với một ông chú ruột và một người em ruột của chú. Chính nhờ sự khôn
khéo của tổ chức và các thành viên trong hộp thư mà suốt mấy chục năm
hoạt động, các tướng lĩnh, nhân viên của địch xung quanh chú, kể cả các
lãnh đạo chóp bu của chính quyền Sài Gòn không hề có ai mảy may nghi ngờ
chú là “Việt cộng nằm vùng”.
Chuyện hoạt động tình báo trong bao nhiêu năm thì vô
vàn. Bữa nay, chú chỉ tóm tắt đôi ba việc để cháu hiểu thế nào là “tình
báo Xa - lông”, “trong đỏ ngoài xanh”…
Chú nói chú còn nhớ sau khi quân ta chiếm Phước Long vào ngày 8/1/1975, vì đây
là tín hiệu đầu tiên cho Chiến dịch Hồ Chí Minh sau này, Trung ương Cục
miền Nam đã yêu cầu bằng mọi cách phải xác định được sau khi mất Phước
Long thì kế hoạch của địch ra sao, liệu chúng có tái chiếm Phước Long
hay không?
Lúc này, chú đang giữ chức Chủ tịch UBQP Hạ viện Sài Gòn. Trước đó, tổ
chức đã phân tích rằng chức vụ Phó Chủ tịch Hạ viện chỉ là “đuôi trâu”;
tình thế cách mạng đang cần nhiều tin tức quân sự, cho nên phải làm thế
nào để chú ngồi vào được cái ghế Chủ tịch UBQP thuộc Hạ viện và chú đã
gắng sức hoàn thành nhiệm vụ đó.
Khi nhận được lệnh của T.Ư Cục miền Nam, với tư cách là Chủ tịch UBQP Hạ
viện, chú đã khôn khéo kích động một số nghị sĩ về “thất bại cay đắng”
tại Phước Long và quả nhiên họ đã lớn tiếng yêu cầu bên Quốc phòng phải
điều trần trước Nghị viện.
Ngay sau buổi họp căng thẳng đó, chú mời viên Tổng trưởng Quốc phòng lên phòng chú
vỗ về rằng: "Đây chỉ là chuyện thực thi “dân chủ”, tôi rất thông cảm, tuy
nhiên để tránh căng thẳng cho những lần sau, anh và các nhân viên hãy
thông tin cho tôi trước". Nhận được sự thông cảm của chú, viên Tổng trưởng cảm ơn rối rít, còn
bảo: “Đại ca đừng lo, chúng em đã có kế hoạch san bằng Lộc Ninh, Phước
Long. Lính của chúng em đã nắm được từng hố cá nhân của Việt cộng…”.
Ngay sau đó, tất cả những “kế hoạch” và “điều trần” của viên Tổng trưởng
Quốc phòng đã tới tay T.Ư Cục miền Nam. Nhận được tin tức, Bí thư T.Ư
Cục Phạm Hùng đã gửi lời khen ngợi…
Còn chuyện phái đoàn đi Mỹ xin cứu giúp thì chú kể:
Chú còn nhớ, trong phái đoàn đó ngoài một số chuyên gia, cố vấn của Tổng
thống Thiệu, còn có một Phó Chủ tịch Hạ viện, một Chủ tịch UB Đối ngoại
và chú là Chủ tịch UBQP.
Trước đó, chú từng giảng dạy tại các lớp quân sự cao cấp và cũng từng
được Viện Hàn lâm Hoa Kỳ tặng bằng Viện sĩ danh dự (về vũ khí), cho nên
phái đoàn này đã giao cho chú trách nhiệm thuyết trình trước Tổng thống
Mỹ G. Ford. Khi đoàn xuống sân bay, đích thân Đại tướng Westmoreland ra
đón rất trịnh trọng.
Sau này có người hỏi chú rằng Tổng thống G. Ford tiếp chú ở đâu, như thế
nào, hầu như chú không nhớ gì. Vì sao vậy? Vì chú không thể nào quên
cái cảm giác khi bước chân trên sảnh Nhà Trắng dẫn tới phòng Tổng thống
Mỹ đón, làm việc với phái đoàn.
Trong khoảnh khắc ấy, trong đầu chú căng như sợi dây
đàn: vừa làm sao thực hiện được nhiệm vụ của tổ chức giao phải phá vỡ âm
mưu đưa quân Mỹ trở lại miền Nam, vừa phải thuyết trình sao cho Tổng
thống Mỹ và những người đi cùng không nghi ngờ gì.
Khi đã gần tới phòng đón tiếp, chú mới quyết định chọn
nước cờ thuần túy về quân sự và không diễn giải theo hướng “ngoại giao”
hoặc tình “hữu nghị”, “chiến hữu”, “đồng minh” mà Tổng thống Thiệu hay
đề cập đến trước đó.
Bằng những thông tin mà báo chí đã đăng tải, cộng với
một số phát biểu của các quan chức, tướng lĩnh ngụy, cùng những số liệu
về lực lượng, vũ khí, chú đã dựng lên một bức tranh mà không kèm theo
một lời bình luận nào.
Để kết thúc bài thuyết trình, chú đã thể hiện mình và
những người trong phái đoàn, đều là những người hết sức “yêu nước”, rất
sợ “mất nước”. Vì vậy, đề nghị Tổng thống và Quốc hội Mỹ phải có quyết
định ngay tức thì!
Lúc đó, quan sát Tổng thống Mỹ sau khi đã chứng kiến
bức tranh do chú vừa dựng lên, chú thầm đoán rằng trong thâm tâm ông ta
cũng không thể nghĩ đến chuyện đưa quân Mỹ trở lại miền Nam.
Quả nhiên ông ta đã không muốn làm mất lòng trực diện
với ông bạn Thiệu bằng một câu kết luận: Xin cảm ơn các quý vị. Tôi sẽ
cử ngay một tướng tài ba sang miền Nam Việt Nam nắm thêm tình hình rồi
chúng tôi sẽ quyết định sau.
Khi bắt tay chào Tổng thống Mỹ, chú đã phải cố kìm nén nỗi vui mừng,
không biểu lộ ra ngoài, vì cộng thêm những dữ liệu khác, chú đã nắm chắc
Mỹ sẽ không trở lại. Ngay sau buổi thuyết trình đó, chú đã “bắn tin” về
“nhà” rằng Mỹ sẽ không đưa quân trở lại miền Nam…
Trước lúc chia tay, ông Đệ đã tặng nhà báo một cuốn sách nhan đề Nói chuyện Cao
Đài do đích thân ông biên soạn dưới pháp danh Thiên Vương Tinh Đinh Văn
Đệ.
12/ Nguyễn Văn Tàu:
Nguyễn Văn Tàu (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928), biệt danh Tư Cang,
là một Đại tá tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên cụm
trưởng cụm tình báo quân sự H63 hoạt động trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước mà Phạm Xuân Ẩn là điệp viên chính.
Nguyễn Văn Tàu sinh tại Vũng Tàu.
Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, trong phong trào Thanh niên tiền phong.
Trong giai đoạn 1947–1954, ông là chiến sĩ quân báo của
Việt Minh ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông chuyên lừa lính Pháp để lấy tiền
và tin tình báo.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đổi tên là Trần Văn Quang và làm trung đội trưởng trinh sát kiêm chính trị viên đại đội đặc công, Sư đoàn 338.
Năm
1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Đầu năm
1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại
căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai
Trung.
Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ
thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ. Thời kỳ đầu, H.63 là bộ
phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (X6, Phạm Xuân Ẩn) từ
Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước
ngoài, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý – cán bộ Cục Tình báo) là
người trực tiếp chỉ đạo.
Đại Tá Nguyễn Văn Tàu vào tháng 4 năm 2025
Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với
một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy
giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần,
Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5 năm 1962,
Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63. Sau chiến tranh,
"bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng (với những điệp viên tiêu
biểu như: Tư Cang, Hai Trung, Tám Thảo, Mười Nho, Nguyễn Thị Ba,...).
Tháng
11 năm 1973 với quân hàm trung tá, ông và Nguyễn Văn Khiêm
- lúc bấy giờ là thượng tá, là hai thành viên của Phòng Tình báo miền
(J22) có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá được chọn tập kết ra Bắc học
tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn. Sau ông là Chính ủy Lữ đoàn 316
đặc công biệt động, đơn vị tấn công cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ
Chí Minh năm 1975.
Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975 , ông được nhận nhiệm
vụ chỉ điểm những vị trí đóng quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở
trong thành phố Sài Gòn cho quân đoàn 3, phòng trường hợp chính quyền
Dương Văn Minh không đầu hàng Quân giải phóng thì sẽ pháo kích, đánh
chiếm từng đường phố trong thành phố.
Năm 2005, ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân, là một trong những cụm trưởng cụm tình báo tiêu biểu và
đặc biệt xuất sắc.
Ông từng nói (trích từ một cuộc phỏng vấn): "Muốn vô đơn vị này á (ý chỉ H.63) tình hình phải để trong ngực bốn chữ "Coi như chết rồi".
Ông
kể về thời điểm năm 1965, để cứu vãn chế độ Sài Gòn bị lung lay sau
những trận đánh vang dội của Quân giải phóng ở Bình Giã (tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu cũ), Ba Gia (tỉnh Quảng Ngãi), Đồng Xoài (tỉnh Bình Phước cũ),
đế quốc Mỹ đã đổ quân vào miền Nam nước ta. Địa điểm đầu tiên mà Sư đoàn
thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ là Đà Nẵng. Sau đó, những đơn vị sừng sỏ
khác lần lượt được tung vào chiến trường miền Nam. Trong đó, phía Bắc
Sài Gòn có Sư đoàn 1 bộ binh được mệnh danh “Anh cả đỏ” đóng quân tại
Lai Khê (Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ) và Sư đoàn 25 bộ binh được mệnh
danh “Tia chớp nhiệt đới” đóng quân tại Đồng Dù (Củ Chi); phía Nam Sài
Gòn có Lữ đoàn khinh binh 199. Một năm sau, ở vùng xung quanh Sài Gòn,
lực lượng cơ động của quân đội Mỹ tham gia những trận đánh lớn có Lữ
đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11.
Khi
đó, ông Tư Cang đang là Thiếu tá, Cụm trưởng Cụm tình báo chiến lược
H63 đã nhận chỉ thị từ đồng chí Trần Văn Danh, Phó Tham mưu trưởng chiến
trường B2 với nhiệm vụ vào Sài Gòn sống thử 10 ngày để đánh giá xem các
cụm trưởng bên mình có sống trong thành được không?
Ngay
sau đó, ông đã hóa thân thành một người dân thành phố, từ quần áo,
giày, tất đến giấy thông hành (giả) do Ban kỹ thuật cung cấp. Theo con
đường Bến Cát, qua Bình Dương, đến Lái Thiêu, từ đó ông thâm nhập vào
nội đô.
Đúng
một tuần sống tại cơ sở quần chúng ở số nhà 136B đường Gia Long (nay là
Lý Tự Trọng) và trực tiếp cùng Điệp viên Phạm Xuân Ẩn quan sát tình
hình; khi trở về căn cứ, ông đã báo cáo với đồng chí Trần Văn Danh rằng:
Ở trên thì rừng cây, công sự che chở chúng ta, còn vào thành phố thì
quần chúng Nhân dân nuôi nấng, bảo vệ chúng ta. Ông cũng không quên dặn
dò các cụm trưởng phải học theo lời Bác Hồ: “Tình báo cũng như mọi việc
khác phải dựa vào dân. Vì vậy, tình báo phải cố gắng làm thế nào cho dân
giúp sức thì sẽ thành công to”.
Theo đại Tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang): làm tình báo, phải biết dựa vào dân
Trong
thời gian hoạt động tình báo, ông Tư Cang chia sẻ, bản thân không đong
đếm hết được bao nhiêu nghĩa tình mà người dân đã dành cho mình. Nhưng
có lẽ những lần đến trú ngụ tại gia đình anh Hoàng Nam Sơn ở địa chỉ số
113 Cô Bắc đã để lại trong ký ức của ông nhiều xúc động.
Ông
nhớ chính xác vào đêm 4/5/1968 mở màn đợt 2 Xuân Mậu Thân, quân ta tấn
công khắp Sài Gòn. Một chiến sĩ ta hy sinh trên đường Đề Thám. Bọn giặc
lục soát túi áo người thanh niên, thấy mảnh giấy có ghi số nhà 113 Cô
Bắc. Có thể anh là người trước đây quen biết với gia đình anh Sơn. Cảnh
sát quốc gia Việt Nam cộng hòa dựa vào đó đã đến bắt chủ hộ là chị
Nguyễn Thị Tươi (vợ anh Sơn), dẫn giải về Quận Nhì tra tấn về tội chứa
chấp Việt Cộng. Chúng cũng cử mật thám theo dõi xung quanh nhà, nếu thấy
người lạ đi vào, chúng sẽ bắt giữ ngay.
Ngày
8/5/1968, ông Tư Cang cần gặp anh Sơn để nắm thêm tin tức làm báo cáo
về cấp trên. Ông xuống xe taxi ở góc đường Đề Thám để đi bộ theo vỉa hè
tới nhà anh Sơn. Thoạt đầu ông chưa biết bọn Cảnh sát quốc gia Việt Nam
cộng hòa, mật thám đã giăng bẫy. Khi trông thấy bà cụ Lê Thị Tám (má
ruột chị Tươi, tức má vợ anh Sơn) đang ngồi vá áo trước nhà. Bà cụ ngẩng
lên nhìn ông nghiêm nghị, lạ lẫm, khác hẳn với vẻ mừng rỡ như mọi khi.
Bà không nói gì nhưng ông lúc đó đoán được có điều chẳng lành nên không
rẽ vào nhà, không chào hỏi gì bà cụ mà đi luôn như người lạ trên đường.
Mấy
ngày sau, khi gặp anh Sơn ở một điểm hẹn, ông mới biết chuyện vợ anh
Sơn bị bắt, bọn mật thám rình rập, đến chuyện bà cụ lo lắng cho ông nên
mỗi ngày đều đem rổ quần áo ra trước cửa ngồi may vá, trông về góc đường
Đề Thám là nơi ông thường xuất hiện. Chính ánh mắt lạ thường của bà cụ
hôm ấy đã cứu ông.
Với
ông Tư Cang, đồng bào các xã vùng ven Sài Gòn cũng có tinh thần cách
mạng rất cao. Chuyện là, năm 1967, đội vũ trang của Cụm tình báo H63
đóng quân tại ấp Phú An, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi. Đánh hơi thấy có
phân đội nhỏ Việt Cộng, sống trong địa đạo, hầm bí mật; lính Mỹ đã huy
động một đội xe ủi đất đến triệt phá địa hình, tìm nắp hầm bí mật. Lúc
ấy, ông cùng đồng đội đang ở trong hầm, bỗng có một luồng ánh sáng len
xuống. Như vậy, cái nắp bí mật bằng gỗ bị xe ủi cán qua làm vênh lên. Bộ
binh Mỹ chưa phát hiện vì trời tối.
Ông
suy luận, ngày mai chúng cũng rà trở lại. Vì đang nằm trong vòng vây
của địch, hơn nữa ban đêm không sửa lại được nắp hầm, ông liền tìm cách
gặp một cô nông dân của vùng, nhờ rằng: “Mấy bữa nay, em thấy tụi anh ra
sau nhà, đến lõm rừng chồi thì biến mất. Đó là tụi anh chui xuống hầm
bí mật. Chiều nay, xe Mỹ cán qua làm vênh nắp hầm. Tụi anh không sửa
kịp. Vậy em ra đây anh chỉ cái nắp bí mật, đến khuya tụi anh chui xuống,
ở trên em đặt nắp hầm lại cho ngay ngắn rồi ngụy trang kỹ lại giùm”. Cô
nông dân chất phác, hiền lành làm đúng theo lời dặn của ông và lần ấy,
ông và các anh em đội vũ trang đã thoát hiểm.
Hiện
tại dù chiến tranh đã lùi xa, ông Tư Cang vẫn nhắc nhớ lời của danh
tướng Trần Hưng Đạo: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là
thượng sách giữ nước muôn đời". Ông cũng khẳng định, ở thời chiến hay
thời bình, sức mạnh của quần chúng Nhân dân luôn là vô địch.
Mười năm trước, chúng
tôi từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, ngồi say sưa nghe Đại tá tình
báo nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) kể chuyện...Mười năm sau gặp lại,
thật vui mừng vì thấy ông vẫn còn khỏe mạnh, vẫn nghe được điện thoại
rành rọt, vẫn cười bảo: “Ừ đến đi, thích nghe chuyện gì thì mình kể”. Ở
tuổi 97, ông đầy tếu táo và vẫn giữ nét duyên của một nam thanh niên
lãng tử...Nhấp ngụm nước, ông
giao kèo: “Nói chuyện 2 tiếng nhé, tí mình còn tiếp khách. Hẹn chúng nó
rồi, không tiếp là sau hổng có đứa nào chơi với mình”.
“Ẩn (tình báo Phạm Xuân Ẩn) mất năm 2006.Gã
nói với mình thế này: “Tôi với anh may mắn thôi, vượt qua hết không bị
bắt chứ mình đâu có giỏi gì hơn anh em, mà anh em bị bắt nhiều quá. Tôi
với anh giờ này còn sống như vầy, được chăm sóc ở bệnh viện quân y rồi
qua đời vì già. Chắc số tử vi của tôi với anh tốt lắm”. Ẩn rất khiêm
tốn, rất tốt”, ông mở đầu câu chuyện.
28
năm đi qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc đời
hoạt động tình báo của Tư Cang sôi nổi nhất trong khoảng 10 năm, từ 1961
đến 1973. Trong đó, khoảng tháng 4/1962 tới 1971, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang) phụ trách cụm tình báo H.63, cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn (tức Hai Trung).
Đầu
năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước nguy cơ
thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định chuyển sang thực
hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân đội vào trực tiếp xâm
lược miền nam Việt Nam. Cấp trên chỉ thị, Nguyễn Văn Tàu khi đó mang hàm
Thiếu tá phải vào thành, vì có nhiều diễn biến phức tạp. Năm 1966, ông
rời Củ Chi, về ở nhà bà Tám Thảo, bắt đầu cuộc đời tình báo trong nội
thành. Nhiệm vụ của ông, là kết nối đường dây với ông Phạm Xuân Ẩn.
Ông miên man trong dòng hồi ức về tình báo Phạm Xuân Ẩn mà ông sử dụng đại từ nhân xưng là “gã”.
“Lần đầu tiên gã gặp
mình ở nhà Tám Thảo, gã (Phạm Xuân Ẩn-PV) khoái chí nói: “Thằng cha này
ngon ta, ở trong rừng ra mà còn ngon hơn tôi”. Mình biết, gã đã mê mình
ngay từ cái nhìn đầu tiên. Sau này, mình thường xuyên cùng đi với Ẩn
tiếp xúc với nhà báo, các sĩ quan của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Ảnh tư liệu: Báo Ảnh Việt Nam
Mới đầu lạ mặt, nhiều
người hỏi, gã chỉ mình bảo: “Ông là chủ sở cao su Dầu Tiếng, lâu có con
chim khướu hay, mang xuống cho”. Ẩn nói tiếng Pháp rất giỏi, ngay cả con
chó béc-giê mà ông dắt theo mỗi ngày cũng hiểu mệnh lệnh bằng tiếng
Pháp. Nhờ đó, chả ai tin 2 ông rành tiếng Anh, tiếng Pháp kia là Việt
cộng”, ông Tư Cang kể một hơi dài.
Kỷ niệm với Phạm Xuân
Ẩn thì nhiều vô kể, nhiều phen cũng suýt vỡ tim. Nhưng có nhiệm vụ mà kể
lại, ông Tư Cang cứ cười mãi. Năm đó, 2 ông được Trung ương Đảng giao
nhiệm vụ, đưa một cuộn giấy nhỏ chừng bằng ngón tay từ Trung ương Đảng
bạn tới tay sĩ quan nước ngoài có vị trí lớn trong chính quyền Sài Gòn.
Hai ông lo mất ăn mất ngủ, sợ “tiêu” (bị phát hiện-PV) cả cụm vì không
biết tên sĩ quan này có trung thành với Đảng của họ không.
Sau thời gian bàn bạc,
may thay, bữa ấy Đại sứ quán có tiệc. Nhận thấy đây là cơ hội “có một
không ai”, hai ông hẹn nhau ở nhà hàng Victory, đường Hàm Nghi bàn
phương án. Ông Tư Cang nói với Phạm Xuân Ẩn: “Trên chấp nhận cho chúng
ta hy sinh, anh nói với vợ anh về Đồng Tháp đi. Còn mai tôi lái xe cho
anh đi, tôi giấu súng ở trong, nếu nó bắt anh, xuống bắt tôi thì tôi bắn
mấy đứa rồi cùng hy sinh tại sân Đại sứ quán”.
Ông Tư Cang chở Phạm
Xuân Ẩn đến điểm hành động, thủ sẵn súng, lòng đầy lo lắng nghĩ phen này
tiêu đời là chắc. Hồi sau, ông Tư Cang thấy người bạn mình đi xuống lầu
im re. “Trời đất ơi, sao ngon vậy” – ông Tư Cang reo lên. Ông Ẩn leo
lên xe bảo: “Anh Tư ơi, làm tình báo 16 năm nay, chưa năm nào chân trái
tôi run như hôm nay”. Khi được cấp trên báo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ, ông Tư và ông Ẩn được chỉ đạo cắt liên lạc với tay sĩ quan nhưng cả
2 cũng vẫn luôn cảnh giác vì nếu tên cấp trên kia khai ra thì đi tong
cả cụm H63. “Bình phong của Ẩn rất vững”, ông Tư Cang ngưỡng mộ người
bạn tình báo của mình.
Tư Cang cụm trưởng cụm tình báo H23
Trong những năm kháng
chiến chống Mỹ, cụm tình báo H63 có tất cả 45 người, trong đó có 27
người hy sinh và những người còn lại, ai cũng bị thương. Tư Cang bảo,
ông nhiều phen chết hụt. Phen nào cũng nhớ đời nhưng số ông vẫn may
không bị bắt hay chết vì bom đạn. Bởi thế, trong những lúc cao hứng kể
về cuộc đời làm tình báo của mình và đồng đội, có lúc ông lặng người đi
khi thương nhớ “Hai Thương bị cưa chân, Lâm bị địch bắt tại Hóc Môn, tra
tấn tại chỗ rồi đưa ra nhà tù Phú Quốc đánh đến chết”.
Quay lại chuyện mà ông
tếu táo nói mình và Phạm Xuân Ẩn may mắn không bị lộ cụm H63, chúng tôi
hỏi: “Điều gì giúp các ông giữ được sự “may mắn” ấy trong suốt những năm
tháng hoạt động”, ông lớn giọng, nói đầy khí thế, để giữ cụm H63 đứng
vững trước nhiều phen sóng gió, các ông đều có một triết lý sống "coi
như đã chết". Tinh thần thép, ý chí sắt đá, sẵn sàng hy sinh là kim chỉ
nam hành động, để rồi dù có người bị bắt, đường dây chưa hề bị lộ; dù có
những nhiệm vụ muôn phần hiểm nguy có thể bị bắt cả cụm nhưng cũng chưa
từng bị đứt đoạn đường dây thông tin.
Sau mấy năm hoạt động,
những người trong đường dây H63 đều được rút lui. Già nửa năm 1973, cấp
trên rút Tư Cang về làm Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền. Sau đó, ông
được ra Hà Nội học chính trị với mục tiêu đến năm 1976 trở về giải phóng
thành phố. Tư Cang có viết lại cảm
xúc khi được Tổng cục Chính trị có chỉ thị gọi về Hà Nội để trở về
chiến trường rằng: “Người tôi lâng lâng như trong một giấc mơ đẹp”.
Nhân dân Sài Gòn chào mừng chiến thắng, giải phóng Sài Gòn (15/5/1975). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Sau này, ông có hỏi cấp
trên gọi ông về miền nam với nhiệm vụ gì, cấp trên nói: “Dương Văn Minh
sắp đầu hàng, chúng ta phải chuẩn bị phương án đánh đường phố. Nếu
Dương Văn Minh không đầu hàng, thì chúng ta phải đánh bằng pháo binh,
biệt động để chiếm lấy thành phố”. Tư Cang rành đường đi lối lại, được
giao chỉ huy lữ đoàn đặc công đóng tại Hóc Môn, có nhiệm vụ tấn công vào
cơ quan Bộ tổng tham mưu.
Ông đã là
Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, nhận nhiệm vụ chiếm giữ cầu
Rạch Chiếc để cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày
30/4/1975. Trong trận chiến đó, hơn 200 chiến sĩ của Lữ đoàn 316 đã
đương đầu với hàng nghìn lính ngụy được trang bị vũ khí hiện đại và đã
có 52 chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông.
Sáng 30/4/1975, Tư Cang
trên cương vị Trung tá Chính ủy Lữ đoàn, ngồi đường hoàng trên chiếc xe
con chiến lợi phẩm, trong những người đi đầu tiến về sào huyệt cuối
cùng của quân thù. “Không có cách mạng chỉ lối đưa đường, không có Đảng
lãnh đạo, thì mình đã thành một con người thuộc thứ hạng nào trong xã
hội nô lệ tối tăm! Tôi đưa tay vẫy chào đồng bào mà nước mắt lưng tròng
vì cảm xúc”, ông hồi tưởng.
Sau này, khi chiếm được
Bộ tổng tham mưu, ông phát hiện một danh sách các cán bộ cộng sản quan
trọng mà ngụy quyền Sài Gòn điều tra mãi, trong đó thông tin về ông được
ghi lại: “Tư Cang, Phó Chính ủy tình báo Miền, người trắng trắng, cao
cao, có đặc điểm bắn súng bằng hai tay rất giỏi, yêu thích văn nghệ. Quê
quán: Chưa xác định. Gia đình: chưa xác định” và không có ảnh của ông.
Bởi vậy, gia đình ông an toàn suốt cuộc chiến, và ông cũng may mắn sống
sót đến ngày nay.
Ông Tư Cang sum họp cùng vợ, con gái, cháu ngoại sau ngày 30/4/1975. (Ảnh: tư liệu gia đình)
“Êm giặc… Anh lại về
với em”, câu nói của ông dặn vợ trước khi vác ba lô vào rừng để làm
nhiệm vụ, cuối cùng phải mất 28 năm, đi qua 2 cuộc kháng chiến mới thành
hiện thực. Ngày bừng bừng khí thế tiến về Sài Gòn hôm 30/4/1975, vợ ông
đi tìm ông ở cánh đông, còn ông đi vào thành phố từ cánh bắc. Phải tới
đêm, sau khi tạm hoàn thành nhiệm vụ, ông tranh thủ chừng tiếng tạt về
qua nhà tìm mẹ con Nhồng (tên người con gái của Tư Cang). Bữa cơm lúc 12 giờ đêm hôm ấy là bữa cơm ngon
nhất từ trước đến nay ông được ăn, do chính vợ mình nấu. Hôm nay, ông
được trút bỏ mọi vai diễn, để được sống thật với những người thân yêu đã
vò võ một mình chờ ông về.
13/ Trần Văn Danh (Ba Trần):
Trần Văn Danh (1923–2003) bí danh Ba Trần, tên thật là Trần Văn Bá,
Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ Điện lực Việt Nam, Anh hùng Lao động (1990),
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2022), Trưởng ban chỉ đạo xây
dựng công trình thủy điện Trị An.
Một chuyên gia của CIA hoạt động tại
Sài Gòn trước năm 1975 nhận định, ông là một trong bốn nhà tình báo quan
trọng hàng đầu của Việt Nam.
Thiếu tướng Trần Văn
Danh sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh éo le, mẹ
là người Bến Tre, lên Hóc Môn (Sài Gòn) kiếm sống rồi làm lẽ cho cha
ông, một cán bộ Việt Minh . Khi khai sinh, ông lấy theo họ mẹ cũng vì lẽ
ấy. Lên 12 tuổi, Trần Văn Danh được cha sai đi rải truyền đơn bí mật,
kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương.
Thiếu tướng tình báo Ba Trần – Hai lần được phong danh hiệu Anh hùng.
Năm 16 tuổi, Trần Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng).
Trần Văn Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu quốc tham gia
cướp chính quyền ở Hóc Môn.Tháng 7/1945, ông tham gia tổ chức bí mật
Thanh niên Cứu quốc. Trong Cách mạng Tháng Tám-1945, ông tham gia giành
chính quyền ở Hóc
Môn.
Pháp quay trở lại xâm lược miền Nam Việt Nam, Trần Văn Bá
gia nhập Đội trinh sát của khu 7. Năm 1949, ông được đề bạt làm Tham mưu
phó kiêm Trưởng ban quân báo
tỉnh Thủ-Biên.
Khi kết nạp làm đảng viên Đảng Cộng sản, Trần Văn Bá xin đổi tên thành Trần Văn Danh (bí danh Ba Trần).
Năm 1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên.
Năm 1954, Ba Trần đã trở thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư
Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội nổi tiếng với những chiến công đánh
Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556.
Nhưng cũng vào thời điểm này thì có lệnh "đình chiến" và Ba Trần được lệnh tập kết ra Bắc.
Ở miền Bắc, Ba Trần học tình báo.
Đến tháng 12/1960, Ba Trần vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu.
Năm 1961 được phân công làm Phó tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Miền
kiêm Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền do Tư
Cang làm phó Trưởng ban.
Lúc đó, lực lượng tình báo của ta bị tổn thất rất nặng. Chính quyền
Ngô Đình Diệm với chính sách "tố cộng, diệt cộng" triệt phá, bắn giết và
bỏ tù hàng loạt cán bộ tình báo. Vì vậy, Trần Văn Danh và nhiều đồng
đội phải bắt tay xây dựng lại lực lượng tình báo.
Ông lợi dụng sự
sơ hở của địch và những mâu thuẫn nội bộ trong giới chính quyền, quân
đội Sài Gòn đang lúc rối ren, phức tạp để giải cứu các cán bộ tình báo
bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại. Sau khi mạng lưới ổn định, ông
phát triển cài cắm chiến sĩ tình báo tài giỏi vào các cơ quan đầu não
của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà.
Trần Văn Danh - vị tướng tình báo khiêm nhường
Trần
Văn Danh là người có công lớn trong việc tổ chức giải cứu đồng chí Trần
Quốc Hương (Mười Hương) - nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng
ban An ninh T4 giai đoạn 1972-1975.
Ban tình báo chiến lược thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật
của chính quyền đầu não Sài Gòn và CIA Mỹ, kịp thời báo cáo, phục vụ
cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương
Cục, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng.
Tháng
6-1965, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Cục phó Cục Tham mưu Miền, phụ trách
Phòng Quân báo, là cơ quan tham mưu địch tình cấp chiến lược, chiến
dịch các chiến trường trọng điểm bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, 10 và
Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí đã tuyển chọn những cán bộ tình
báo giỏi từ Ban Địch tình, cài cắm vào Phủ Tổng thống, Bộ Tổng Tham mưu,
Đặc ủy Trung ương tình báo ngụ y. Các cán bộ tình báo đã thu thập, khai
thác được nhiều thông tin tối mật của chính quyền Sài Gòn và CIA Mỹ,
kịp thời cung cấp cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền nhiều tài
liệu, thông tin quan trọng của địch như kế hoạch Mắcca, kế hoạch
Hắckin, kế hoạch Mắc Namara, kế hoạch bình định, chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh”, các âm mưu chuyển hướng chiến lược chiến tranh của
địch, Kế hoạch quân sự Vùng 4, Kế hoạch quân sự toàn miền Nam, dự thảo
kế hoạch năm 1975, kế hoạch dài hạn 1974-1975, dự kiến kế hoạch
1977-1978, báo cáo viện trợ của đế quốc Mỹ, kế hoạch xây dựng không
quân, hải quân ngụy… Từ nguồn tin Ban Tình báo chiến lược đã thu thập,
khai thác được đã phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo chiến trường của Quân
ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng.
Trong
chiến lược “Chiến tranh cục bộ” năm 1965, quân đội Mỹ và chư hầu đưa
quân vào miền Nam, đẩy cường độ xâm lược lên cao chưa từng có. Trận càn
Gianxơn Xity vào căn cứ địa phía Bắc Tây Ninh là cuộc hành quân trên bộ
lớn nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, với 45.000 quân, 775
xe tăng - thiết giáp, 160 máy bay các loại, 256 khẩu đại bác gồm 2 sư
đoàn, 3 lữ đoàn, 1 trung đoàn tăng và 1 liên đoàn biệt động quân Sài
Gòn. Từ công tác tình báo, quân báo, đồng chí Trần Văn Danh nắm chắc các
kế hoạch, âm mưu của địch, báo cáo cho lãnh đạo Trung ương Cục chủ động
lãnh đạo, chỉ đạo, di chuyển lực lượng, bảo đảm an toàn và bày thế trận
đánh địch, làm thất bại mưu đồ xâm lược và tỏ rõ sức mạnh của lực lượng
quân sự của ta ngay từ ngày đầu tiên quân Mỹ đặt chân vào đất Việt Nam.
Là Tham mưu phó phụ trách tình báo, trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí Trần Văn Danh đã chỉ đạo, tổ chức nắm
tình hình các mục tiêu quan trọng như: Dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài
Gòn, Biệt khu Thủ đô, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân
Sơn Nhất... chỉ đạo thực hiện cách đánh phối hợp tình báo - đặc công -
biệt động đạt hiệu quả cao. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào
và Campuchia, Quân giải phóng miền Nam triển khai các hoạt động tiếp
viện cho chiến trường nước bạn Campuchia, đồng thời bảo vệ “hậu cứ” sau
lưng căn cứ địa Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí đã chỉ đạo Đoàn 367
trực thuộc Cục Tham mưu Miền tổ chức thành công trận đánh tập kích vào
sân bay Pôchentông, phá hủy 105 máy bay các loại, gần 100 ô tô và toàn
bộ thiết bị, khí tài quân sự của sân bay, hơn 95% máy bay và phi công
của quân Lonnon bị tiêu diệt.
Hiệp định Paris được ký kết tháng 3 năm 1973 đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Trại Davis
khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là trung tướng Trần Văn Trà,
Trưởng đoàn và các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang, đại tá Đặng
Văn Thu (Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh (chính là Ba Trần, Phó
trưởng đoàn kiêm Trưởng tiểu ban hai bên) cùng các ủy viên như Nguyễn
Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn
Tư...
Những trận đánh vang dội của lực lượng đặc công, trinh sát, tình báo,
biệt động Sài Gòn chiếm căn cứ núi Bà Rá, Bà Đen, Phước Long, hai lần
làm nổ tung kho bom thành Tuy Hạ,đốt kho xăng Nhà Bè... đều có công lao
rất lớn của người chỉ huy tài ba, Thiếu tướng Trần Văn Danh (tức Ba
Trần).
Đến
Chiến dịch Phước Long (từ đêm 13-12-1974 đến 6-1-1975), đồng chí lại
được giao nhiệm vụ chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh, một
trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ
đường cho máy bay B-52 cùng các loại máy bay của địch. Lực lượng do đồng
chí chỉ huy còn thu hút hỏa lực của Lữ đoàn biệt kích dù 81 của ngụy,
kiềm chế Sư đoàn bộ binh 25 ngụy; ngăn chặn không cho địch yểm trợ Phước
Long khi ta tiến công. Chiến dịch Phước Long là chiến dịch mà lần đầu
tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh, lại ở ngay gần Sài Gòn, qua đó
thăm dò chiến lược khả năng của quân ngụy và giúp ta phát hiện rằng đế
quốc Mỹ không dám đưa quân can thiệp trở lại Việt Nam.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Ba Trần có nhiệm vụ chỉ huy
lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ trước và bảo vệ an toàn
16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho đại quân miền Bắc tiến vào
trung tâm thành phố và ngăn chặn không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa
phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà
máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ.
Các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động thành dưới sự
chỉ huy của Ba Trần đã chiếm và bảo vệ cầu Rạch Chiếc, Sài Gòn, Bình
Lợi, Bình Triệu, Bình Điền... trước giờ giải phóng Sài Gòn để quân chủ
lực tiến vào.
Gần một giờ đêm 30 tháng 4 năm 1975, ngay giữa Sài Gòn vừa
giải phóng, Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã công bố quyết
định của Đảng và Nhà nước trong trường hợp đặc biệt: Phong Trần Văn Danh
hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố
về an ninh quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia
Định.
Năm 1978, ông được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc phân loại hồ sơ của chính quyền Sài
Gòn cũ để lại, tình cờ ông phát hiện sơ đồ thiết kế công trình thủy
điện Trị An trên sông Đồng Nai
và nhiều công trình thủy điện khác. Tại Hội nghị Thành ủy, ông mạnh dạn
trình bày luận điểm của mình về việc khảo sát xây dựng công trình thủy
điện Trị An. Võ Văn Kiệt – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy ủng hộ.
Ngày9
tháng 8 năm 1975, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức vụ
Phó Chủ tịch Ủy ban quân quản về an ninh và quốc phòng,
kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sài Gòn - Gia Định (nay là Bộ Tư lệnh Thành phố
Hồ Chí Minh).
hừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thiếu tướng Du Trường Giang, Phó Tư lệnh Quân khu trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân cho đại diện gia đình đồng chí Trần Văn Danh
Sau đó, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Năng lượng, ông là người đề ra
phương án xây dựng công trình thủy điện Trị An theo phương châm "Nhân
dân - Nhà nước cùng làm". Đây là công trình quan trọng, giúp thành phố
khắc phục tình trạng thiếu điện trong quá trình công nghiệp hóa.
Võ Văn Kiệt– Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã nói về ông "Là người chỉ huy cương nghị, tổ chức và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử".
Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh viết trong thư chúc mừng: "Đồng chí Ba Danh là người tận tình phục vụ Tổ quốc, có tài năng trong đánh giặc, có tài năng trong xây dựng Tổ quốc XHCN...".
Khi được hỏi: "Với Thiếu tướng, có khi nào gặp phải sự thất bại không?",
tướng Trần Văn Danh đáp: "Sao lại không! Tôi không bao giờ tán thành
chuyện trăm trận trăm thắng cả. Bởi có thất bại mới có thành công. Và
không ít lần chính tôi phải ôm đầu máu, cõng thương binh rút lui về".
Năm 1990, Trần Văn Danh được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều Huân chương như:
Huân
chương Quân công hạng
Nhất,
Huân chương Lao động hạng Nhất,
Huân chương
Kháng chiến hạng Nhất,
Huân chương Độc lập hạng
Nhất...
14/ Nguyễn Văn Thương:
Nguyễn Văn Thương (1938–2018) là thiếu tá tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Nguyễn Văn Thương (hay còn gọi với cái tên thân mật là ông Hai Thương) sinh ra và lớn lên tại xã Lộc Hưng, Trảng Bàng, Tây Ninh
trong một gia đình cách mạng. Mới 3 tháng tuổi, ông đã được gửi cho một
người cô nuôi dưỡng để ba mẹ đi hoạt động cách mạng. Năm lên 8 tuổi,
ông nhận được tin mẹ bị bắt, đày đi Côn Đảo rồi hy sinh. Năm 1959, cha ông hy sinh trong một lần hoạt động quân báo.
Tháng 5 năm 1959, Nguyễn Văn Thương quyết định tham gia cách mạng. Năm
1961, ông được chuyển về đơn vị trinh sát và làm bảo vệ cho ông Võ Văn Kiệt
(lúc đó là Bí thư thành ủy T4 Sài Gòn – Gia Định). Sau đó, Nguyễn Văn
Thương được chuyển sang hoạt động trong ngành tình báo, dưới sự huấn
luyện trực tiếp của Mười Nho (đại tá Nguyễn Nho Quý, Trưởng ban tình báo khu Sài Gòn – Chợ Lớn).
Nguyễn Văn Thương(Hai Thương)
Trong 10 năm hoạt động chiến đấu từ năm 1959 đến tháng 2 năm 1969,
Nguyễn Văn Thương được giao nhiệm vụ giao liên tình báo ở khu vực Bắc
Sài Gòn (Sài Gòn – Bến Cát – Bình Dương), đây là thời điểm khó khăn, bởi quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa
luôn tỏ ra thận trọng thường xuyên kiểm soát gắt gao trên tuyến hành
lang xung yếu này. Nguyễn Văn Thương đã vượt qua khó khăn, gian khổ và
nguy hiểm, thực hiện hàng nghìn lần chuyển nhận chỉ thị, tài liệu và đưa
đón hàng trăm cán bộ từ ngoài căn cứ vào trong Sài Gòn và từ Sài Gòn ra căn cứ an toàn.
Về
nguyên tắc hoạt động, các cụm tình báo phải rất tách biệt nhau, tránh
tiếp xúc và các điệp viên không thể biết thủ trưởng các cụm tình báo
khác cụm mình đang hoạt động. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thương lại khác, năm
1967 về làm Trưởng mũi giao thông Cụm tình báo A36. Nhiệm vụ chủ yếu
là vận chuyển về căn cứ Trung ương Cục miền nam (R) các thông tin do
ông Ba Quốc (Anh hùng LLVTND Đặng Trần Đức) lấy được. Ông Ba Quốc đã
nhập vai sĩ quan CIA cao cấp suốt 24 năm và nếu Nguyễn Văn Thương khai
(khi bị bắt và bị cưa chân), gây tổn thất rất lớn cho cách mạng, ấy là
chưa kể đến các đồng chí khác như Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Văn
Tàu… cũng có thể sẽ bị lộ vì Thương có mặt ở rất nhiều cụm tình báo
chiến lược khác nhau.
Nguyễn Văn Thương kể: “Ở Cụm A36, ngoài anh Ba Hội làm cụm trưởng, còn
có anh Bảy Anh làm cụm phó kiêm bí thư chi bộ. Căn cứ chúng tôi đóng
trong một địa đạo phía nam Bến Cát (tỉnh Bình Dương hiện nay) ven sông
Sài Gòn, đối diện căn cứ địa đạo Củ Chi (TP Hồ Chí Minh hiện nay). Mỹ
mới tung 35 nghìn quân, 700 xe tăng, xe ủi đất và hàng trăm lượt máy bay
bỏ bom, hàng nghìn lượt pháo nhằm xóa trắng căn cứ nam Bến Cát trong
trận càn Xê-đaphôn. Lúc đó anh Ba Hội đang ở Sài Gòn, anh Bảy Anh không
có mặt nên tất cả nhiệm vụ tại mặt trận, tôi phải gánh. Thêm nữa ngoài
chuyện bảo vệ cơ quan tình báo của mình, tôi còn được lệnh phải báo cáo
tình hình từng ngày và bảo vệ luôn các cơ quan quan trọng của Đảng trong
khu vực”.
Những ngày đầu của trận càn Xê-đa-phôn, hầu như tất thảy mọi người trong
hầm đều bị chảy máu lỗ tai do sức ép của bom. Khi cây rừng (bị bom đánh
gãy) bắt đầu héo úa, máy bay trực thăng bắt đầu được huy động tưới xăng
rồi đến phản lực thả bom na-pan đốt cháy tất cả những gì hiện hữu.
Nguyễn Văn Thương kể: “Nằm dưới hầm mà nóng đến độ phồng da, nước tiểu
cũng không còn để uống, đói vàng mắt nhưng hầu như không ai có thể chui
lên mặt đất. Chỉ đến khi chúng tôi tiếp tục khoét sâu hơn nữa vào lòng
đất, chui xuống thì mới không bị chết cháy. Đến ngày thứ 16 của trận
càn, Mỹ bắt đầu hút nước từ sông Sài Gòn lên bơm vào địa đạo. Tôi báo
cáo anh Bảy Anh thì được chỉ đạo chia khúc địa đạo, lấp kín hết các
ngách và tập trung vào ngăn giữa, nơi mà cả hai đầu đều được chúng tôi
bịt kín. Nhờ vậy mà thoát chết. Rồi khi giặc thả khí độc vào địa đạo,
tất thảy mọi người đều im lặng đắp khăn ướt, úp mặt xuống đất nên tuy có
bị chảy máu mũi nhưng cũng không ai bị hy sinh. Cũng may là có một
luồng gió thổi vào lỗ thông hơi nên khí độc mau tản ra”.
Thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Thương bị địch cưa chân 6 lần. (Ảnh: Quỳnh Trần)
Rồi Thương cùng đồng đội trong cơ quan tình báo bắt đầu đi thu gom bom
chưa nổ để lấy thuốc về chế mìn tự tạo. Họ dùng thùng gánh nước cắt đôi,
lèn thuốc vào, cột thêm sáu trái mìn định hướng ĐH10. Đêm ấy, Thương
trèo lên ngọn cây, cột mìn lên theo hướng cho nổ hắt lên cao… Chiều hôm
sau, một chiếc trực thăng chở đồ tiếp tế thả xuống đất, quả mìn nổ tung
máy bay và làm chết nhiều lính Mỹ đang nhặt đồ hộp phía dưới. Còn các
quả mìn khác, đồng đội của Thương gài năm quả, nổ hết bốn làm cháy bốn
xe tăng, riêng các loại mìn tự tạo cũng tiêu diệt thêm 12 xe ủi đất và
xe bọc thép của giặc. Ông nhớ lại: “Trận đánh đáng nhớ nhất là tiêu diệt
toàn bộ một trung đội Mỹ đang tập kết chuẩn bị xăm hầm. Đêm đó, tôi và
hai đồng chí tình báo khác cởi trần, mình trét bùn sình y như đặc công
thứ thiệt bò tiếp cận trung đội Mỹ đang ăn uống. Chúng tôi cài ba trái
mìn ĐH10 ở ba phía rồi bò lui ra. Tôi bắn thẳng một phát B40 vào đội
hình địch, đồng đội tôi chập điện cho nổ liên tiếp mìn định hướng làm
toàn bộ lính Mỹ nằm rạp chết hết. Tôi bồi thêm một phát B40 nữa rồi mới
cùng đồng đội thu gom vũ khí, lương thực của chúng, chui xuống đất an
toàn”.
Dù bảo toàn lực lượng, nhưng đồng bào trong vùng bị càn cũng chết rất
nhiều vì bom đạn. Cụm tình báo A36 đêm đêm lại bò lên mặt đất, thu gom
xác người, rồi chôn cất cẩn thận. Về phía A36 cũng hy sinh hai tình báo
viên khi các anh phục kích bắn máy bay lên thẳng. Ấy là vào một buổi
chiều khi ba máy bay phun nước cho đám lính Mỹ tắm phía dưới, hai đồng
đội của Thương nổ súng liên hồi làm rơi máy bay, và phía dưới đống sắt
vụn do máy bay rơi là gần chục xác lính Mỹ bị đè bẹp. Bọn lính sống sót
phía dưới đất bắn trả bằng đại liên làm nát cơ thể hai tình báo viên tên
là Thơm và Mới.
Đến ngày thứ 26 của trận càn thì Thương được lệnh quay về ấp chiến lược.
Cấp trên lệnh: “Nguyễn Văn Thương chỉ huy đưa hết toàn bộ lực lượng
cách mạng trong vùng bị càn ở nam Bến Cát, vượt sông về vùng giải phóng ở
phía bắc Củ Chi để tránh tổn thất”… Công việc dọn đường, tạo ám hiệu,
bố trí bến đón, dự trù thực phẩm, trinh sát để đưa 175 cán bộ của Đảng
vượt sông Sài Gòn chiếm mất một tuần của Cụm tình báo A36. Đúng giờ G,
chiếc thuyền đầu tiên rời bờ sau khi ca-nô của địch vừa chạy qua, trên
thuyền treo đầy lục bình và người chèo thả nhẹ theo con nước để sang
vùng giải phóng. Cứ 6 – 7 lượt liên tục như vậy, Thương luôn có mặt trên
từng chuyến qua – lại để chở hết 175 cán bộ sang sông một cách êm thấm.
Xong việc, anh cười: “Giờ thì tụi Mỹ có càn tới ba năm cũng chỉ là cày
xới đất cho chúng ta trồng khoai mì (sắn)”.
Qua trận càn, cấp trên tổng kết lại thấy A36 đã tiêu diệt 12 xe tăng,
năm máy bay lên thẳng cùng với thành tích đưa 175 cán bộ quan trọng của
ta rút lui an toàn, cho nên trong đợt xét phong tặng danh hiệu Anh hùng
LLVTND năm ấy đã đề nghị đưa Nguyễn Văn Thương vào xem xét. (Ngay cả ông
Ba Quốc – sau giải phóng – còn khen Thương: “Tao ở trong nội thành mà
cũng được chia thành tích với A36. Lúc đó xót xa quá không biết anh em ở
nam Bến Cát có “trụ” nổi không, nói chi đến việc chống càn và đưa cán
bộ về vùng giải phóng an toàn…”). Cụm trưởng A36 là ông Ba Hội cùng các anh em sát cánh cùng Thương ở nam
Bến Cát đều nhất trí cao. Ấy vậy mà khi đưa ra chi bộ để bình xét, Bí
thư Chi bộ A36 là ông Bảy Anh phê: “Đồng chí Thương đã không bảo toàn
được lực lượng trong đơn vị, để hai đồng chí là Thơm, Mới phải hy sinh.
Vậy là chưa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên chưa thể phong Anh hùng”.
Thấy chuyện vô lý và xuất phát từ tính bộc trực, Thương lớn tiếng:
“Trong chiến đấu làm sao tránh khỏi hy sinh mất mát. Nhiệm vụ chỉ huy ở
mặt trận là của đồng chí Bảy Anh cụm phó, nhưng khi ấy đồng chí lại ở
biệt bên trong địa đạo Củ Chi. Chiến sự ác liệt như thế mà đồng chí
không sang sông đến cùng đơn vị, giao phó hết cho tôi. Tôi phải lăn lộn
tìm đường cứu nguy cho 175 cán bộ. Đồng chí Bảy Anh là đại úy, tôi chỉ
là trung sĩ, đồng chí Bảy Anh không nên phê phán vô lý như vậy!”. Ông
Bảy Anh đề nghị chi bộ bỏ phiếu kín. Hôm ấy, chi bộ A36 có sáu người,
trừ Thương ra còn năm thì có bốn phiếu ủng hộ Thương, một phiếu chống.
Vài ngày sau, cấp trên nhận điện từ Chi bộ A36: “Đề nghị bồi dưỡng lại,
để lần sau cho xứng đáng. Có công lao nhưng tính thanh niên nóng nảy,
còn phải xem xét lại”.
Kể lại câu chuyện cách đây đã gần nửa thế kỷ, Nguyễn Văn Thương cười:
“Tính thanh niên nóng quá hư chuyện, song tôi không buồn đồng chí bí
thư. Có người chửi tôi lúc đó ngu, cứ làm thinh cho xong chuyện… nhưng
sau đó vài tuần, tôi quên ngay câu chuyện và lại cùng đồng chí Bảy Anh
hoàn thành các nhiệm vụ khác”. Tình báo là một công tác thầm lặng, bên
cạnh nhiều đơn vị, cá nhân đã được vinh danh, khen thưởng xứng đáng… thì
vẫn có những hy sinh âm thầm và cả những day dứt, thậm chí bi kịch
riêng không thể chia sẻ… Vẫn còn những bí mật mà tôi mãi mãi mang theo
trong trái tim mình!”.
Hình ảnh đời thường của Thiếu tá Thương lúc sinh thời. (Ảnh: Zing)
Ngày
10 tháng 2 năm 1969, sau khi bị bại lộ thân phận do tên Chiến Cá chỉ
điểm, lúc này, ông đang chuyển rất nhiều tài liệu mật từ căn cứ về Sài
Gòn. Trên đường về, quân Mỹ phát hiện ra ông và cho trực thăng vây bắt.
Đến cánh đồng ấp Mỹ Phước (Bình Dương), một số máy bay Mỹ hạ độ cao, cho
quân đổ bộ quyết bắt bằng được người tình báo giao liên.
Tuy
tìm đủ mọi cách chống trả, nhưng lực lượng của địch quá đông còn ông
chỉ có một mình nên đã bị chúng bắt sau khi đánh ngất bằng báng súng.
Bị
bắt về Sài Gòn, ông Thương được lính Mỹ dẫn về ngôi biệt thự rất sang
trọng có tên Hoa Hồng, ở đây có sẵn một “bóng hồng” xinh đẹp, dịu dàng,
mang dáng dấp một thiếu nữ con nhà lành, có học thức chờ đón và chăm sóc
ông.
Tại
phòng khách, một người lính Mỹ đeo quân hàm Đại tá chỉ cho ông xấp tiền
100.000 USD, chiếc xe hơi, ngôi biệt thự và nói “tất cả những thứ này
là của ông, điều kiện duy nhất là thừa nhận ông chính là Nguyễn Văn
Thương”.
Không chỉ vậy, nếu ông Thương chịu hợp tác thì chúng sẵn sàng trao cho một bộ quân phục hai bông mai cấp Trung tá trên vai áo.
Sau
100 ngày ở trong ngôi biệt thự, dù dùng tiền, nhà cửa và gái đẹp không
thể mua chuộc được ông Thương, quân Mỹ bắt đầu áp dụng “giai đoạn 2” với
những màn tra tấn tàn độc, khủng khiếp.
Trong
quá trình bị bắt giam, chúng dùng đủ mọi đòn tra tấn dã man để nhằm
khai thác thông tin từ ông. “6 lần cưa chân của giặc Mỹ khiến tôi không
thể nào quên được. Để bắt đầu cho việc hành hình tôi, chúng trói chặt
tôi lên chiếc bàn rồi bẻ gãy hai ngón chân út khiến tôi đau đến tận tim”
– Ông Thương nhớ lại.
Khi
các vết thương ở bàn chân chưa lành, ông Thương tiếp tục bị quân Mỹ cưa
chân. Mỗi lần, bọn chúng cưa một đoạn, chúng cưa bằng gang tay, khi thì
chỉ vài cm, khi thì một đoạn.
“Trong
nhiều ngày, chúng đã cưa chân tôi 6 lần và đây là quãng thời gian đau
đớn khủng khiếp nhất. Mỗi lần chuẩn bị cưa, chúng lại áp dụng nhiều thủ
đoạn tra tấn tâm lý kéo dài sự căng thẳng, kéo dài sự đau đớn. Hết đánh
lại cưa, cưa xong lại chữa trị cho lành, gần lành chúng lại cưa. Có đợt,
cưa xong chúng lại đưa tôi ra làm vật thí nghiệm cho bác sĩ Mỹ thực
tập. Cứ như thế, chúng cưa nhiều lần, cưa nhiều đoạn và cho đến lần thứ 6
thì tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân”
Sau nhiều lần mua chuộc không thành, quân đội Mỹ đã đưa
Nguyễn Văn Thương ra đập nát hai bàn chân. Sau đó chỉ trong 3 tháng, họ 6
lần cưa 6 đoạn chân của ông.
Hơn 4 năm trong các nhà tù, Nguyễn Văn Thương bị tra tấn đủ
mọi cực hình nhưng vẫn một mực trung kiên, giữ vững khí tiết. Khi ở
trại giam đảo Phú Quốc
ông vẫn tiếp tục đấu tranh, tham gia trong cấp ủy nhà tù. Tấm gương bất
khuất, kiên cường của ông đã cổ vũ đồng chí, đồng đội trong nhà tù tích
cực hăng hái đấu tranh.
Năm 1973, sau Hiệp định Paris, Nguyễn Văn Thương mới được trở về đoàn tụ với gia đình.
Sau khi ra tù, ông trở lại với cuộc sống thường ngày.
Sau
này, ông kể lại: những lần bị quân đội Mỹ tra tấn bằng cách "cưa
chân","Tôi cắn răng khi chúng đưa cưa vào. Sau đó thì tôi ngất xỉu.
Những lúc
đối mặt với kẻ thù, đau đớn đến cỡ nào tôi cũng chịu đựng được vì trong
lòng tôi có sức mạnh của Đảng và hình ảnh của ba mẹ, vợ con và đồng
đội". Cuối cùng, người đại tá Mỹ phải thốt ra câu: "Tao thua rồi, mày là
sinh vật thép".
Ông được thưởng:
Hai huân chương chiến công
giải phóng hạng nhất, một huân chương chiến công giải phóng hạng 3, 14
lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Văn
Thương được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực
lượng vũ trang nhân dân.
Anh hùng Nguyễn Văn Thương bên vợ và con trai. (Ảnh tư liệu)
Ngày 13 tháng 8 năm 2018, ông qua đời tại nhà riêng, hưởng thọ 80 tuổi.
Mộ phần của ông được đặt tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. Để tri ân
những hi sinh và cống hiến của Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân
Nguyễn Văn Thương,Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương đã dành tặng mộ phần
và dịch vụ chăm sóc mộ phần trọn đời cho vợ chồng ông.
15/ Nguyễn Văn Khiêm:
Nguyễn Văn Khiêm (1924–2023) có bí danh Sáu Trí hay Nguyễn Đức Trí là Thiếu tướng tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông từng là Chuyên viên Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Cụm trưởng Cụm Tình báo A20.
Nguyễn
Văn Khiêm sinh ngày 6 tháng 6 năm 1924 tại Bình Luông Đông, huyện Gò
Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Ông có ông nội ông từng làm quan triều
Nguyễn, bố là đảng viên An Nam Cộng sản Đảng. Sau khi có bằng Thành
chung, ông bắt đầu tham gia cách mạng.
Năm 1946, Nguyễn Văn Khiêm lập gia đình và có 8 người con với bà Nguyễn Thị Minh, một người bạn từ thuở nhỏ.
Năm
1945, Nguyễn Văn Khiêm là thành viên Đội Thanh niên Tiền phong tham gi
cướp chính quyền tại địa phương. Sau Cách mạng tháng 8, ông là nhân viên
tuyên truyền tại Sài Gòn, Chợ Lớn. Nguyễn Văn Khiêm sau đó gia nhập
tiểu đoàn bộ binh Ba Dương ở Tam Kỳ,
trong đợt hành quân đến thị xã Tuy Hòa, ông được triệu tập lên Ban tình
báo Ủy ban kháng chiến miền Nam và được học khóa bồi dưỡng nghiệp vụ
tình báo đầu tiên tại Ngân Sơn.
Tháng 10 năm 1946, ông trở lại Miền nam bắt đầu làm cán bộ tình báo và
huấn luyện của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, từ năm 1949, ông
giữ chức vụ Phó phòng rồi Trưởng ban Quân báo Khu 7 cho đến khi sáp nhập
với Phòng Quân báo Nam Bộ do Hoàng Minh Đạo phụ trách. Từ năm 1952 ông
làm Trưởng ban Tổng kết, Trưởng ban Quân báo Sài Gòn-Chợ Lớn. Trong thời
kỳ này Nguyễn Văn Khiêm sử dụng tên giả là Phạm Duy Hoàng.
Năm
1953, Ban nghiên cứu Xứ ủy ra đời, Nguyễn Văn Khiêm được Thường vụ Đặc
khu ủy Phan Kiệm lựa chọn vào nhiệm vụ mới, ông được Mười Cúc (Nguyễn
Văn Linh) giao nhiệm vụ nằm vùng trong lòng địch. Sau Hiệp định Genève
năm 1954, ông tiếp tục ở trong hàng ngũ Nha Công an của Việt Nam Cộng
hòa với tên gọi mới là Nguyễn Đức Trí.
Năm 1962, ông bị lộ.Từ tháng 1 năm 1963 đến tháng 8 năm 1965, ông được
Phòng Tình báo miền (J22) bổ nhiệm làm Cụm trưởng Cụm Tình báo A20.
Tháng 11 năm 1965, ông được rút về làm Phó Phòng Quân báo Bộ Tổng Tham
mưu miền (B2) thuộc J22. Về sau, ông được cử giữ chức Trưởng Phòng
J22.Từ năm 1968 ông giữ chứ Phó phòng rồi Trưởng phòng Quân báo rồi
Trưởng phòng Tình báo của Bộ Tham mưu miền.
Tháng 11 năm 1973,
Nguyễn Văn Khiêm có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá
được chọn tập kết ra Bắc học tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn.
Thượng tá Nguyễn Văn Khiêm và trung tá Nguyễn Văn Tàu là hai thành viên
của J22 được cử đi đợt
này.
Sau
hơn 1 năm học bổ túc quân sự cao cấp tại Học viện Quân sự, tháng 3 năm
1975, ông nhận lệnh trở lại miền nam từ Thượng tướng - Phó Tổng Tham mưu
trưởng Hoàng Văn Thái. Tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Khiêm được bổ nhiệm
làm Phó trưởng Đoàn 22, Bộ Tham mưu miền. Từ ngày 19 tháng 4 năm 1975,
ông nhận nhiệm vụ nắm tình hình và trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí
Minh. Thông qua em họ là điệp viên Ba Lễ (Nguyễn Văn Lễ) của Cụm Tình
báo A20, Nguyễn Văn Khiêm tiếp cận Đại tá Lộc - một nội gián của Quân
Giải phóng trong hàng ngũ nha Cảnh sát của Việt Nam Cộng hòa.
Nguyễn Văn Khiêm chỉ thị cho Đại tá Lộc điều động Liên đoàn 316 sao
không để lính Cộng hòa cản trở bước tiến của Quân Giải phóng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với danh tính là Đại tá Sáu Trí, sĩ quan của
Bộ Tham mưu B2, Nguyễn Văn Khiêm có mặt tại Dinh Độc Lập kịp thời khuyên
can khi nhóm Quân Giải phóng muốn bắt nội các chính phủ Việt Nam cộng
hòa làm tù binh.
Từ sau năm 1975, Nguyễn Văn Khiêm ông
được cử làm Trưởng phòng 76, sau đó là phụ trách Đoàn 1752, Cục Nghiên
cứu, Bộ Tổng Tham mưu và đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 7
năm 1982 đến tháng 2 năm 1988, ông là chuyên viên Tổng cục II. Nguyễn
Văn Khiêm được phong quân hàm Thiếu tướng vào năm 1990 và nghỉ hưu từ
năm 1998.
Ông được khen thưởng:
Huy hiệu
75 năm tuổi Đảng, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Độc lập
hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Quân công hạng
Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ
- cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì,
Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
Nguyễn Văn Khiêm qua đời ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại nhà
riêng ở quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và được an táng tại Phúc
An Viên, thành phố Thủ Đức.
Sinh thời, có lần ông kể:
"Tình yêu thời chiến đôi khi vụng dại ngây ngô lắm..." Thiếu tướng Nguyễn
Văn Khiêm - nguyên Trưởng phòng Tình báo Tổng cục II bắt đầu câu chuyện hạnh
phúc trăm năm của mình bằng câu nói ấy.
Tình yêu thời chiến đôi khi vụng dại ngây ngô lắm, yêu rành rành ra đó mà
thổn thức lắm cũng chẳng dám thổ lộ yêu đương. Để đến khi đêm về thao thức trằn
trọc, hễ nhắm mắt vào hình ảnh người con gái đó xuất hiện sáng bừng cả giấc mơ,
mới biết trái tim mình đã khắc ghi hình ảnh của người ấy". Thiếu tướng Nguyễn
Văn Khiêm - nguyên Trưởng phòng Tình báo Tổng cục II bắt đầu câu chuyện hạnh
phúc trăm năm của mình bằng câu nói ấy.
Ở cái tuổi 87 khi kể về mối tình đầu và cũng là mối tình cuối của cuộc đời về
người vợ tảo tần, sát cánh cùng ông đi qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
của dân tộc, nụ cười đôn hậu, biết ơn luôn thường trực trên môi ông khiến vợ ông
- bà Nguyễn Thị Minh ngồi sát cạnh mỉm cười hạnh phúc, làn da hằn những dấu vết
chân chim mưa nắng cuộc đời ửng hồng có phần ngượng nghịu như thiếu nữ 20 ngày
nào mới chập chững biết yêu.
Ông kể, ông cũng run rẩy lắm chứ vì sợ nếu cô ấy chẳng có tình cảm gì với
mình, nói ra rồi anh em lại khó trò chuyện như xưa. Nhưng chính ông cũng bất ngờ,
hạnh phúc tột cùng khi người con gái ấy gật đầu e lệ chấp nhận lời tỏ tình ấy.
Ông quay sang nhìn bà trìu mến: "Nếu ngày ấy mình không dũng cảm, để cơ hội tuột
khỏi tay, có lẽ sẽ phải ân hận cả đời".
Ông kể, ông cũng run rẩy lắm chứ vì sợ nếu cô ấy chẳng có tình cảm gì với
mình, nói ra rồi anh em lại khó trò chuyện như xưa. Nhưng chính ông cũng bất ngờ,
hạnh phúc tột cùng khi người con gái ấy gật đầu e lệ chấp nhận lời tỏ tình ấy.
Ông quay sang nhìn bà trìu mến: "Nếu ngày ấy mình không dũng cảm, để cơ hội tuột
khỏi tay, có lẽ sẽ phải ân hận cả đời".
Đám cưới diễn ra đơn giản, mộc mạc với sự chứng kiến của gia đình hai bên nội
ngoại.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước chưa hưởng trọn niềm hân
hoan được bao lâu thì lại phải đối mặt với bao nguy cơ khốn khó mới. Cùng lúc đó,
phong trào Thanh niên Tiền phong bùng nổ phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ.
Ông Sáu Trí, một huyền thoại tình báo
Từ bỏ cuộc sống an nhàn của một nhân viên hãng xe hơi của Pháp ở Gò Công -
Tiền Giang, ông cùng vợ khăn gói ra Sài Gòn mang theo chí làm trai sẵn sàng xả
thân vì đất nước. Bà Minh tâm sự: "Khi ông ấy viết đơn xin nghỉ việc ở hãng xe
hơi, ông có hỏi tôi: "Mình đi cùng tôi chứ?" Tôi nhìn sâu vào đôi mắt cương nghị
của chồng, bảo: Anh đi bất cứ nơi đâu, em cũng sẵn sàng đi theo anh. Thế nhưng,
một buổi tối muộn ở mảnh đất Sài Gòn đầy lạ lẫm, tôi và cô con gái 2 tuổi đầu
vẫn ngóng chồng bên mâm cơm đạm bạc, ông lẳng lặng không nói không rằng thi dọn
quần áo, tư trang vào chiếc ba lô cũ bạc mầu, ôm hôn cô con gái bé bỏng đầy lưu
luyến, sau đó quay lưng toan bước đi không nói một lời. Tôi chạy theo chồng, hỏi
anh bỏ rơi mẹ con em sao?. Anh đi đâu thì đợi đến mặt trời sáng, đêm hôm bất
trắc hiểm nguy. Ông ấy quay lại nhìn sâu vào đôi mắt vợ, chỉ nói một câu duy
nhất: "Em và con đợi anh về", rồi khoác ba lô lên vai, bóng mờ dần rồi mất hút
trong đêm tối."
Suốt một năm không nghe bất cứ tin tin nào của chồng, đã có lúc bà cảm thất
tuyệt cùng đau khổ. Người phụ nữ ấy chỉ biết ôm con khóc ròng vì nhớ thương
chồng trong những canh khuya. Vừa lo cho an nguy tính mạng của chồng, vừa bất an
không hiểu chồng bà đi về phương trời nào để bà còn biết ngóng hỏi, chờ đợi.
Còn ông, 2000 cây số cũng giăng đầy nỗi nhớ. Ông cùng hai đồng chí nữa được
Ủy ban kháng chiến Nam Bộ cử ra Bắc học ngành tình báo, nhiệm vụ lần này yêu cầu
tuyệt đối bí mật, ngay cả người thân tín nhất cũng không thể tiết lộ. Việc nước
giao phó, đó là vinh quang và cũng là thách thức đối với ông, dù thương vợ,
thương con nhưng ông cũng không dám làm trái lời....
Sau này, bà Minh cũng tham gia Cách mạng, trở thành chị nuôi cho bộ đội anh
em chiến sĩ Quân khu 7. Tiếng hai vợ chồng cùng làm một đơn vị, nhưng không ai
trong khu biết hoặc mảy may biết họ là hai vợ chồng.
Tình yêu không lời của Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm
Có được người vợ hiền đảm đang, tháo vát quán xuyến mọi công việc trong gia
đình, nên ngày ấy khi chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, Nguyễn
Văn Khiêm hoàn toàn yên tâm, toàn tâm toàn ý làm tốt nhiệm vụ Cách mạng phân
công. Lúc này Nguyễn Văn Khiêm được bổ nhiệm vào vị trí Trưởng ban Tình báo Sài
Gòn - Chợ lớn, có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn lúc
ấy là đồng chí Nguyễn Văn Linh.
Bà Minh bùi ngùi, 1 năm trời xa cách không một chút hồi âm trong lần ông ra
Bắc học ngành tình báo chẳng thấm vào đâu so với 10 năm đằng đẵng ông sống trong
lòng giặc dữ. Theo lệnh của cấp trên, ông xâm nhập vào hàng ngũ địch, làm thư ký
Phân cục Nhất của công an Sài Gòn - một lực lượng trọng yếu của Ngụy quyền Sài
Gòn. Nhiệm vụ của ông là trực tiếp thu thập những thông tin mật cung cấp cho
Cách mạng.
Những ngày bà bị giặc bắt là chuỗi ngày u ám nhất trong cuộc đời ông. Chúng bới móc, lùng sục khắp nơi mong tìm ra chứng cứ kết
tội bà cấu kết với Việt Cộng, nhưng không thấy được một chút vết tích nào, đành
chấp nhận thả ra. Nhìn người vợ thân hình gầy ốm, giờ thêm những vết lằn rớm máu trên da thịt
do những trận khảo cung của quân Ngụy, ông thương vợ tới ứa nước mắt. Ông muốn bù đắp cho bà tất cả.
Niềm vui đoàn tụ sau chuỗi ngày u ám của vợ chồng ông chưa được bao lâu thì
ông nhận quyết định điều chuyển vào làm Cụm trưởng Cụm tình báo A20 thuộc Quân
khu 7, còn bà làm giao thông viên, móc nối liên lạc thông tin tuyến Tây Ninh -
Sài Gòn.
Hòa bình lặp lại, ngỡ tưởng hai vợ chồng đoàn tụ dưới một mái nhà, khi cả hai
đều đã có với nhau 8 người con khỏe mạnh. Thế nhưng, chưa kịp hưởng trọn niềm
vui, Nguyễn Văn Khiêm lại nhận nhiệm vụ mới, được cử ra Bắc học tại Học viện
Quân sự cao cấp.
Đêm ông trằn trọc, biết chồng không ngủ được, bà quay sang hỏi chuyện ông, ông thú thật với vợ
về quyết định mới cầm còn nóng trên tay, bất ngờ hơn, chính bà lại là người giúp
ông vững tin: "Mình cứ yên tâm, con cái và việc nhà em lo liệu được."
Có lẽ cho tới khi hai vợ chồng Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm về hưu, họ mới
thật sự có được thời gian quan tâm, chăm chút cho nhau. Năm 2001, Thiếu tướng bị
tai biến mạch máu não. Bền bỉ 9 năm trời, không ngày nào bà không trò chuyện,
tâm sự cho ông nghe, lo lắng cho ông từng viên thuốc, ly sữa, chăm chút cho ông
từng giấc ngủ. Bà thay chiếc nạng gỗ cho ông từng bước đi, bà trở thành đôi chân
bền bỉ giúp ông từng ngày phục hồi sức khỏe.
Đó là câu chuyện mà người nghe đã được
đôi vợ chồng già tóc đã bạc trắng nắm lấy tay nhau, kể về những năm
tháng họ đã sát cánh bên nhau vượt qua mưa bom, bão đạn bằng tình yêu Tổ quốc bất
diệt và tình vợ chồng nồng đượm.
16/ Nguyễn Văn Lễ:
Nhờ công của H3, các cơ quan đầu não
Trung ương Cục Miền Nam thoát khỏi thảm họa bị hủy diệt trong đường tơ
kẽ tóc. H3 là ai?
30 năm hoạt động bí mật
giữa Sài Gòn, H3 không chỉ cung cấp những thông tin tình báo tối mật mà
còn là địa chỉ đỏ giúp đỡ, che giấu cán bộ cách mạng hoạt động khi vào
thành trong những chiến dịch lớn như Mậu Thân 1968, đại thắng mùa Xuân
1975.
Tên đầy đủ của H3 là Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ), sinh quán Vĩnh Hựu, Gò Công
Tây - Tiền Giang, tham gia cách mạng từ năm 1945 trong quốc vệ đội tại
Tiền Giang, làm trưởng ban cứu thương ngay từ những ngày đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp.
Trước yêu cầu kháng chiến tại tỉnh nhà, năm 1951, ông được phân công vào
nội thành Sài Gòn hoạt động bí mật trong lòng địch. Ông mất liên lạc
với tổ chức kể từ năm 1957, khi cán bộ phụ trách đột ngột hy sinh.
Trong điều kiện phải hoạt động đơn độc, ông Ba Lễ không lúc nào quên
mình là người của cách mạng và luôn tìm cách giúp đỡ những người tham
gia kháng chiến bằng nhiều hình thức.
Cựu điệp viên H3 - Nguyễn Văn Lễ (bìa phải) cùng các bạn học
trong một lần đến thăm người thầy - GS Trần Văn Giàu. Ảnh tư liệu của Lê Phong Lan
Năm 1963, thủ trưởng Cụm Tình báo A20 Nguyễn Đức Trí (Sáu Trí) nhận lệnh
vào thành xây dựng mạng lưới. Người đầu tiên mà ông tìm đến là Chánh
Văn phòng đặc biệt kiêm Bí thư của Tổng Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Sài
Gòn Nguyễn Văn Lễ. Sáu Trí là anh họ ông Ba Lễ.
Sau một buổi tối chuyện trò và gợi mở về tư tưởng giữa 2 người, ông Ba
Lễ chính thức gia nhập Cụm Tình báo A20 với mật danh H3. Và từ đây về
sau, ông đã lập được nhiều chiến công quan trọng, đặc biệt cho Cụm A20.
Ngoài bản lý lịch “đỏ”, ông Ba Lễ còn mang một lý lịch khác cũng không
kém phần dữ dội. Năm 1951, ông bắt đầu con đường thâm nhập bộ máy chính
quyền Sài Gòn.
Ông được nhận vào làm việc tại Ty Đặc cảnh miền Đông, thuộc Nha Công an
Cảnh sát Nam phần do anh rể họ Trần Bá Thành (về sau là điệp viên mang
bí số H1) làm trưởng ty. Năm 1953, ông được biệt phái sang Nha An ninh
quân đội, theo dõi hoạt động của các giáo phái.
Sau Hiệp định Geneve, ông Ba Lễ lần lượt trải qua các chức vụ: Trưởng
Ban Chiêu hồi các lực lượng giáo phái kiêm Trưởng Chi nhánh Công an Tân
Định rồi Trưởng Phòng Kiểm soát các trại định cư, Trưởng Ty Công an Cảnh
sát Bạc Liêu (1955), Trưởng Ty Công an Cảnh sát tỉnh Cà Mau (1956),
Trưởng Phòng Tố cáo Khiếu nại Nha Công an Cảnh sát Nam phần (1957), Phó
Ty Công an tỉnh Kiến Tường (1959), Trưởng Ty Công an Côn Sơn (1960),
quyền Trưởng Ty Công an Bà Rịa - Vũng Tàu (1961), Trưởng Ty Công an tỉnh
Vĩnh Bình (1962 - 1963)...
Nguyễn Văn Lễ (thứ tư từ trái sang) tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu
Năm 1963, sau khi tham gia đảo chính lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô,
ông Ba Lễ được đề cử giữ chức Chánh Văn phòng đặc biệt kiêm Bí thư Tổng
Giám đốc Tổng nha Công an Cảnh sát Sài Gòn. Sau cuộc chỉnh lý của Nguyễn
Khánh, ông Ba Lễ rút khỏi ngành cảnh sát và bắt đầu tìm kiếm con đường
đến Hạ viện của chính quyền Sài Gòn.
Ông xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, ra ứng cử dân biểu khu vực Gò
Công quê nhà. Cấp trên đồng ý. Và ông trúng cử với số phiếu bầu cao,
được bầu tiếp vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Lao động Xã hội Chiến binh của
Hạ viện chính quyền Sài Gòn.
Với vỏ bọc mới và vị thế thuận lợi, điệp viên Ba Lễ đã tạo dựng các
mối quan hệ rộng khắp để thu thập các tin tức tình báo, đặc biệt là
những tin nguyên bản tuyệt mật, rất giá trị, phục vụ hoạt động của tổ
chức cách mạng.
Ông Ba Lễ có một người bạn sĩ quan rất thân ở Phòng An ninh - Bộ
Chỉ huy Viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Những tin tức tình báo tối mật
của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thường không phổ biến rộng rãi nhưng cơ
quan này luôn được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng. Ông Ba Lễ thường dựa
vào nguồn này để lấy những tin quan trọng đó.
Một buổi cà phê sáng, người bạn ở Phòng An ninh tiết lộ với Ba Lễ
thông tin tối mật, rằng một cán bộ Việt cộng mới hồi chánh đã khai báo
chi tiết về căn cứ Trung ương cục ở Tây Ninh.
Sau khi kiểm chứng, tình báo Mỹ đánh giá tin này chính xác và
chuyển thông tin sang Bộ Tư lệnh không quân chiến lược Mỹ tại Thái Bình
Dương để chuẩn bị kế hoạch hủy diệt. Như thường lệ, ông Ba Lễ mượn tài
liệu để đọc và tranh thủ chụp một bản gửi cấp tốc vào chiến khu.
Một ngày tháng 4-1969, sau khi nhận xấp tin tình báo của H3,
ông Nguyễn Đức Trí (bấy giờ là thủ trưởng J22) chú ý một bản tin đặc
biệt quan trọng.
Tin nguyên bản có kèm theo sơ đồ vẽ tỉ mỉ các địa điểm đóng quân,
tổ chức, cán bộ của Quân ủy miền, Cục Chính trị, Cục Tham mưu, Cục Hậu
cần tại căn cứ ở Sóc Mông - Tây Ninh. Ngay lập tức, tin được hỏa tốc gửi
đi trong đêm đến thủ trưởng và tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền.
Một lệnh sơ tán khẩn cấp được ban ra. Tất cả các cơ quan của Bộ Tư
lệnh miền, Cục Chính trị, Cục Tham mưu và Cục Hậu cần cùng các phòng,
ban trực thuộc phải di chuyển ngay lập tức trong ngày khỏi Sóc Mông.
Cuộc di tản vừa kết thúc thì một đợt tập kích bằng pháo đài bay B52
ác liệt đã diễn ra trên vùng căn cứ cũ, kéo dài từ 20 giờ đến tận 5 giờ
hôm sau.
Toàn bộ vùng căn cứ của Trung ương cục rộng khoảng 20 km2 tại Sóc
Mông bị phá hủy hoàn toàn. Nếu không có nguồn tin từ Ba Lễ, rất có thể
toàn bộ căn cứ của Trung ương cục đã bị xóa sổ, thiệt hại về nhân lực -
vật lực rất lớn.
Chiến công của Ba Lễ, theo công văn số 777/TC2
của Tổng cục II - Bộ Quốc phòng đánh giá: “Đồng chí Nguyễn Văn Lễ nguyên
là cán bộ của ngành, có 37 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 30 năm
hoạt động trong lòng địch. Đồng chí tạo được vỏ bọc tốt, chui sâu vào
hàng ngũ cao cấp của quân đội và ngụy quyền Sài Gòn nên đã cung cấp cho
ta nhiều tin tức nguyên bản có giá trị chiến lược như: Tin địch dùng B52
hủy diệt căn cứ Trung ương cục, ta đã kịp thời di chuyển cơ quan, tránh
được tổn thất; kế hoạch hành quân Junction City, Mậu Thân 1968; Đường 9
- Nam Lào; kế hoạch bố trí lực lượng Mỹ - ngụy trên chiến trường miền
Nam; kế hoạch địch dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, kể cả
dùng B52 đánh vào Hà Nội; kế hoạch địch dùng biệt kích thám báo ra miền
Bắc… Ta đã kịp thời đối phó có hiệu quả…
Trong Mậu Thân năm 1968 và chiến dịch năm 1975,
đồng chí đã trực tiếp đi điều tra các mục tiêu quan trọng như: Dinh Độc
Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo, phục vụ cho cuộc
tổng tấn công. Đồng chí là một trong ba người được giao thảo tuyên bố
đầu hàng để Dương Văn Minh đọc trước Đài Phát thanh và chứng kiến sự đầu
hàng đó. Do lập được nhiều thành tích xuất sắc, đồng chí đã được Nhà
nước tặng thưởng nhiều huân chương chiến công…”.
Sau năm 1975, ông Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ, mật danh H3) – nguyên là một điệp viên tình báo chiến lược, nghị sĩ Hạ viện chính quyền Sài Gòn – đã tiếp tục công tác trong lực lượng Công an nhân dân.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
Nhận xét
Đăng nhận xét