Tư liệu về kinh tế-chính trị 3 (đọc tham khảo)
BÀI HỌC SÁT SƯỜN, CÒN HẦM HẬP TÍNH THỜI SỰ CHO HÔM NAY!
(ĐC chép từ buudoan.com)
MỌI ĐIỀU BẠN TƯỞNG BIẾT VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ LÀ SAI LẦM
- ĐC nói:
+ Toàn thể: không hiểu hoặc hiểu "bét nhè" về tự do-dân chủ-nhân quyền, nên "bề" này thì ngông cuồng mất nết, "bề" kia thì luống cuống như gà mắc tóc.
+ Trên bất chính, dưới tắc loạn.
+ Lão Tử: Trên mà không chính thì dưới có chính cũng thành ngụy, cái mê của con người đã có lâu rồi.
+ Thiếu một Bao Công biết(!) hiền đúng chỗ, ác đúng nơi, thấu tình-đạt lý, được quyền và dám "trảm" bất cứ ai đáng tội.
+ Pháp trị để giữ cho hoạt động xã hội không bị rối loạn. Trong một xã hội đích thực vì dân thì mục đích tối hậu của Pháp trị chính là đảm bảo Tự do. Thông thường, Pháp trị và Tự do là hai thể hiện (có vẻ) tương phản nhau của một chỉnh thể thống nhất hữu cơ về quyền con người trong xã hội. Lý tưởng: Tự do là hồn nhiên sống "trong" Luật pháp vì Luật pháp chính là "cái nôi dung dưỡng" của Tự do và cũng là "thanh gươm" bảo vệ Tự do.
+ Đành rằng trong thực tế, Luật pháp có tính siêu hình nên theo tiến trình vận động, chuyển hóa của tinh thần xã hội, dễ có phát sinh trong lòng nó những lạc hậu, lỗi thời, dẫn đến bảo thủ, gây mất tự do, nên đòi hỏi phải kịp thời được điều chỉnh, bổ sung, kiện toàn cho phù hợp với tình hình mới, nhưng nói chung, phải hành động thật cẩn trọng. Nếu cá nhân ai đó (một "dúm" người cũng là cá nhân!) cảm thấy chưa "hưởng" đủ tự do thì đừng vội đòi "tỉa tót" bớt hay "cấy ghép" thêm đối với hiến pháp và pháp luật - thành quả trí tuệ của nhiều người tài trí, công tâm, tiêu biểu của dân chúng - vì coi chừng "tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa", "lợn lành chữa thành lợn què", tưởng "xây" lại hóa ra "phá" thì nguy(!), mà trước hết hãy bắt đầu bằng câu hỏi (để nghiền ngẫm đạt đến đại ngộ cái đã!!!) cho mình: "Tự do là "cái giống" gì? Mình đủ tư cách đại diện cho Tự do chưa? Cách đòi Tự do của mình có làm người khác bị xúc phạm và hơn nữa là bị mất (bớt) Tự do không? Làm thế nào để chia đều cái gọi là "Tự do"ấy (nhưng vẫn chưa có ai, kể cả "thằng Tây", biết chắc chắn nó là cái gì!) cho tất cả mọi người để không ai, kể cả bản thân mình, không còn (động một tý lại) phàn nàn, ganh nạnh lẫn nhau?"
+ Đã thượng tôn "pháp trị" thì trên hết và trước hết phải ưu tiên đảm bảo được tiêu chí "Quân pháp bất vị thân" chứ không phải ưu tiên thỏa mãn đòi hỏi "Tự do-dân chủ-nhân quyền".
(ĐC chép từ buudoan.com)
MỌI ĐIỀU BẠN TƯỞNG BIẾT VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ LÀ SAI LẦM
![]() |
Goorbahcov và Elsin |
(Và vì sao việc này trở nên quan trọng trong
một thời đại cách mạng như hiện nay)
Leon Aron, Foreign
Policy
Trần Ngọc Cư dịch Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra
kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong
những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên
gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy
trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài
độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm
Linh đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả
những nhà bất đồng chính kiến Xô viết cũng như chính những nhà cách mạng tương
lai — nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện
này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm
1985, không một nhân vật đồng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể
dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý nhau về tầm mức nghiêm trọng
của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô Viết, nhưng không ai coi những vấn đề
này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần.
Vậy, do đâu mà có sự thiển cận
đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được
sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) —
tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một
khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết. Tuy
nhiên, một số nhân vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng
sản cũng không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những
người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George Kennan,
viết rằng, trong khi nhìn lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế trong thời
hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố nào lạ lùng, đáng
kinh ngạc, và mới thoạt nhìn không thể giải thích nỗi, hơn sự tan biến đột ngột
và toàn bộ…của đại cường mệnh danh kế tục nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”.
Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn
của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là
“bất ngờ”. Một tuyển tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô
trong một số báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủ National Interest (Lợi
ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô
viết”.
Nếu có thể hiểu được dễ dàng
hơn, thì sự thiếu phán đoán mang tính tập thể này có thể đã được an toàn xếp
vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ lạ và phù phiếm của khoa học xã hội rồi
bị lãng quên. Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết
cho rằng Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong tình trạng lúc đó hay bất
quá cuối cùng nó sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết
luận không kém phần hợp lý.
Thật vậy, vào năm 1985 Liên Xô
gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và nhân sự của 10 năm về trước. Chắc
chắn là, mức sống tại đây còn thấp hơn tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương
Tây. Tình trạng thiếu hụt hàng hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài
trước các quầy hàng, và nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xã hội.
Nhưng Liên Xô đã từng trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đã có thể đối
phó mà không hề mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xã hội và
nền kinh tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.
Không có một thước đo thành
tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc
tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm
lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm.
Chính cùng một mô hình dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài
cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng
Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến
cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng,
nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 — một con
số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được
(manageable).
Giá dầu lửa rơi cực nhanh, từ
66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một thùng năm 1986 (trong số 2000 giá
cả) chắc chắn là một đòn nặng nề đánh vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều
chỉnh theo nạn lạm phát, thì vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới
vẫn cao hơn năm 1972, và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi.
Nhưng đồng thời, mức thu nhập của người dân Xô viết gia tăng hơn 2% vào năm
1985, và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ còn tiếp tục gia tăng
trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung bình trên 7% mỗi
năm.
Vâng, tình trạng đình đốn kinh
tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại. Nhưng như giáo sư Đại học
Wesleyan, ông Peter Rutland, đã chỉ rõ, “Dẫu sao, những chứng bệnh kinh niên
của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên
cứu hàng đầu về các nguyên nhân kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders
Aslund, cũng ghi nhận rằng từ năm 1985 đến năm 1987, tình hình “là không mảy
may sôi động”.
Từ quan điểm của chính quyền,
tình hình chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm
liên tục đàn áp đối lập chính trị, gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến
nổi tiếng đã bị cầm tù, lưu đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980),
buộc phải ra sống ở nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà
giam.
Cũng gần như không có bất cứ
một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng hoảng tiền cách mạng
(pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân truyền thống thường được coi
là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái
lại, thập niên trước đó được các học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô
“đã thực hiện được tất cả những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”,
như nhà sử học và ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đã viết. Tất nhiên,
lúc bấy giờ Afghanistan ngày càng có vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối
với một quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là
không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy trì
một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm
1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho
quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là
một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.
Hoa Kỳ cũng không phải là một
lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại
và, nếu có thể, đảo ngược những bước tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả
có tạo được sức ép chung quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan,
Angola, Nicaragua, và Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng
chẳng có gì nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.
Trong một màn giáo đầu cho một
cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng
kiến Phòng thủ Chiến lược [hay lá chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ý
nghĩa nghiêm trọng – nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất
bại quân sự cho Liên Xô, vì Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu
hiệu hệ thống phòng thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực
hiện được. Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động
của công nhân Ba Lan là một tình hình rất bức xúc cho giới lãnh đạo Xô viết,
làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm 1985
Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đã kiệt lực. Liên Xô hình như thích nghi
được với việc tung ra các “đợt bình định” đẩm máu cứ 12 năm một lần – Hungary
năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 — bất chấp dư luận thế
giới.
Nói thế khác, đây là một Liên
Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh thế toàn cầu của mình, theo quan
điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế giới còn lại. Sau này, sử gia Adam Ulam
đã nhận xét “Chúng ta thường quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của
một quốc gia quan trọng nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính
sách rõ ràng như chính quyền Liên bang Xô viết”.
Hẳn nhiên, có nhiều lý do thuộc
về cơ chế — kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ
như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến
cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào. Nghĩa là, làm sao trong một thời
gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong lúc không gặp phải những tình trạng tồi tệ
gay gắt về kinh tế, chính trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước
và hệ thống kinh tế Xô viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô
nhục, thiếu tính chính danh, và hết chịu nổi để phải sụp đổ?
Gần như hầu hết mọi cuộc cách
mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây nhất được khởi động bằng một tiến
trình tự do hóa khá do dự “từ trên xuống” – và lý do căn bản của nó vượt quá
nhu cầu sửa sai nền kinh tế hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái
cốt lõi trong sáng kiến của Gorbachev là rất lý tưởng, đó là điều không thể chối
cãi: Ông muốn xây dựng một Liên Xô có đạo lý hơn.
Vì mặc dù chiêu bài đưa ra là
cải thiện kinh tế, nhưng rõ ràng là Gorbachev và những người ủng hộ ông trước
hết muốn sửa chữa những sai lầm đạo lý hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những
điều họ tuyên bố công khai trong những ngày đầu của chương trình tái cơ cấu
(perestroika), bây giờ nhìn lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của
họ về sự suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại
Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi tìm kiếm những câu trả
lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường bắt đầu: Thế nào
là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái gì tạo ra một trật tự kinh tế
và xã hội công chính? Một nhà nước chính danh và đàng hoàng là như thế nào?
Quan hệ của một nhà nước ấy với xã hội dân sự phải như thế nào?
“Một không khí đạo lý mới mẻ
đang thành hình trên đất nước ta”, Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung
ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ
trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika (chủ trương tái cơ
cấu) xã hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại các giá trị và xét
lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”. Sau này, khi nhắc lại cảm
tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta
phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”,
ông gọi đó là “lập trường đạo lý” của ông.
Trong một bài phỏng vấn vào năm
1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”, ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng,
vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm làm đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đã đến
lúc người dân phải tuyên bố, “Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như
thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta
phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng
ta…Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống
như chúng ta đã sống trước đây — một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.
Theo ý kiến của vị thủ tướng
của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý [nrastennoe] của xã hội
vào năm 1985 là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”:
[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản
thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo
chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân
chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra — từ trên xuống dưới và từ
dưới lên trên.
Một thành viên khác trong nhóm
thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev gồm những nhân vật chủ trương tự
do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình
trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev
vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.
Trở lại thập niên 1950, một vị
tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita Khrushchev, đã lần đầu thấy rõ sự mong
manh của cái nền tảng của ngôi nhà mà Stalin đã xây lên trên sự khủng bố và dối
trá. Nhưng thế hệ thứ năm này của giới lãnh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn
về sức bật của chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng
những điều đúng cũng là những điều có thể quản lý được dễ dàng về mặt chính trị
(politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ hóa “không
phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông
đã trả lời phỏng vấn như sau:
Mô hình Xô-viết không những bị
đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện
văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những
người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không
tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.
Sự thể những cải tổ đã đưa đến
cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát xuất từ một nguyên nhân “lý tưởng”
khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo động và, vì thế, ông cương quyết không sử
dụng việc áp bức quần chúng (mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt
đầu vượt quá ý định ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu
Xít-ta-lin cho dù để “duy trì chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm
tin tưởng son sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đã nói vào
cuối thập niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm
tay lại, minh họa cú đấm. Viên tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung, việc này
có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.
Vai trò của tư duy và lý tưởng
trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất hiện rõ nét hơn khi chúng ta nhìn
vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm Linh. Một ký giả Xô-viết hàng đầu và về
sau trở thành một tiếng nói nhiệt tình đối với chủ trương glasnost, ông
Aleksandr Bovin, đã viết vào năm 1988 rằng những lý tưởng của perestroika đã
“chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham nhũng, ăn cắp
của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản trở chặn đứng việc làm
của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc đổi thay có thực chất đang
bàng bạc trong không gian”, một chứng nhân khác nhớ lại, và những
người mang kỳ vọng này đã tạo nên một khối cử tri rõ nét (appreciable
constituency) đang đòi hỏi những cải tổ triệt để. Thật vậy, những kỳ vọng đã
đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền là rất mãnh liệt và ngày càng gia
tăng đến độ chúng có thể định hình cho chính sách thực sự của ông. Đột nhiên,
chính các tư duy đã trở nên một yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách
mạng đang diễn ra.
Theo cách nói của Yakovlev, cái
uy tín của ý thức hệ chính thống, vốn ràng rịt toàn bộ hệ thống chính trị và
kinh tế của chế độ Xô-viết “như những niền thép”, đang rã rệu nhanh chóng. Nhận
thức mới đã giúp người dân thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một
chuyển biến trong hệ thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp
xếp chính trị [cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển
hình của “định lý Thomas” bất hủ mà [nhà xã hội học] Robert K. Merton xây dựng
thành lý thuyết – “Nếu người ta tin rằng một tình thế là có thực, thì tình thế
đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi thực sự của nền
kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau khi và bởi vì có một
chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và đánh giá thành tích của chế
độ.
Viết cho một tạp chí Xô-viết
năm 1987, một độc giả Nga gọi những gì ông chứng kiến chung quanh ông là một
“sự dứt khoát triệt để trong ý thức của người dân”. Chúng ta biết độc giả này
nhận xét đúng vì cuộc cách mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà
tiến trình của nó được vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm dò dư luận quần
chúng ngay từ đầu. Vào cuối năm 1989, cuộc thăm dò dư luận tiêu biểu đầu tiên
đã cho thấy dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và
việc hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ
dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn còn bất hợp
pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm dò trong một vùng nước
Nga đồng ý rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng phát triển nhanh hơn
“nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ý họ muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc
thăm dò trên toàn nước Nga cho thấy 56% hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh
chóng hay tuần tự sang một nền kinh tế thị trường. Thêm một năm sau thì số
người ủng hộ kinh tế thị trường tăng đến tỉ lệ 64%.
Những người đã gieo vào xã hội
“chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai khác hơn là những kẻ đã từng châm
ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà
văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ. Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con
người này “giúp tạo ra một ý thức chung về sự bất mãn như vậy, một công luận
được kiên định như vậy, rồi hai yếu tố này … lại tạo ra những đòi hỏi hữu hiệu
cho các chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên
cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.
Tại Nga Xô cũng vậy. Những hàng
người dài trước các sạp báo – đôi khi các đám đông phải xếp hàng quanh một
khu phố từ lúc 6 giờ sáng, vì lượng báo ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong
vòng 2 tiếng đồng hồ — và số người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có
chủ trương tự do đã chứng minh sức công phá của những nhà bình luận nổi tiếng
thuộc khuynh hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những bậc
thầy truyền giảng chân lý” (teachers of truth): kinh tế gia Mikolai Shmelyov;
các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko; các tiểu luận gia
như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor Vinogradov, and Ales Adamovich;
các ký giả Yegor Yakovlev, Len Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai
chục nhà văn nữa.
Đối với họ, việc phục sinh đạo
lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống
chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội
(social norms), mà còn là một cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự
thay đổi trong nhân cách của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong
một tiểu luận rất sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy thì việc gì đang đến với
chúng ta?” trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ
thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi chính
mình, thoát khỏi các tiến trình phi luân đang giết chết những phẩm chất cao quí
nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách làm cho tiến trình
dân chủ hóa còn sơ sinh trở thành con đường định mệnh, không thể đảo ngược –
không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi của Khrushchev, nhưng bằng một
cuộc thay đổi khí hậu. Và việc gì sẽ đảm bảo cho tình hình không thể đảo ngược
này? Trên hết, đó là sự xuất hiện của con người tự do, một con người “không bị
lây nhiễm trước các sự kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần
báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost, đã viết vào
tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng làm chỉ điểm cho
công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất luận nhân danh ai hay tổ
chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất hiện trở lại của một nhà nước
độc tài”.
Lối lý luận vòng vo này — để
cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu được
perestroika nếu có thể thay đổi đựợc con người “từ bên trong” — gần
như không hề làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề
này gần như đã cho rằng việc cứu nước bằng chủ trương perestroika và việc kéo
người dân khỏi bãi sình lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết chặt chẽ, có lẽ
không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề quan trọng là phải đưa
nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!”
là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev, tác giả của một tiểu thuyết bán rất
chạy trong giai đoạn này về Thế chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim
và được khán giả yêu chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ
lắm rồi tinh thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhác. Sau cùng, chúng ta phải nhớ
rằng tất cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự
hào!”
Nhìn kỹ vào những nguyên nhân
của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét nổi tiếng rằng, các chế độ bị
cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại
sao? Vì, theo suy đoán của de Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở
hơn”, nhưng họ lại “cảm thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.
Thông thường, Tocqueville có
khuynh hướng bàn về những điều tối quan trọng. Từ Những Người cha lập quốc
trong Cách mạng Mỹ (the Founding Fathers), đến nhóm Jacobins của Cách mạng Pháp
và nhóm Bôn-sê-vich trong Cách mạng Nga, những nhà cách mạng này đã chiến đấu
chủ yếu dưới một bóng cờ: phát huy nhân phẩm. Chính vì nỗ lực tìm kiếm nhân
phẩm xuyên qua quyền tự do và quyền công dân mà khuynh hướng lật đổ chính quyền
trong tinh thần glasnost vẫn còn tồn tại – và sẽ còn tồn tại. Cũng như trước
đây những trang báo của tờ Ogoniok và tờ Moskovskie Novosti nằm hãnh diện bên
cạnh hình ảnh Boris Yeltsin trên chiếc xe tăng như là các biểu tượng của cuộc
mạng Nga gần đây, ngày nay những trang mạng bằng tiếng Á-rập cũng hiên ngang
làm biểu tượng cách mạng bên cạnh những hình ảnh các đám đông nổi dậy tại Quảng
trường Tahrir của Cairo, tại Khu Casbah của Tunis [Tunisia], trên các đường phố
của Benghazi [Lybia], và các thành phố sôi sục bạo động của Syria. Gác các vấn
đề ngôn ngữ và văn hóa chính trị qua một bên, các thông điệp và cảm thức mà
những cuộc cách mạng này gợi lên là rất giống nhau.
Mohamed Bouazizi, một thanh
niên bán hoa trái, mà cuộc tự thiêu của anh đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy tại
Tunisia khởi đầu cho Mùa Xuân Á Rập 2011, đã tự tử “không phải vì anh ta thất
nghiệp nhưng vì khi anh đến nói chuyện với [chính quyền địa phương] có trách
nhiệm về vấn đề của anh thì bị đánh đập – cái chết này là để tố cáo chính phủ”,
một người biểu tình tại Tunis đã nói với một nhà báo Mỹ như thế. Tại Benghazi,
cuộc nổi dậy của người Lybia bắt đầu với việc các đám đông hô vang khẩu hiệu,
“Nhân dân muốn chấm dứt tham nhũng!”. Tại Ai Cập, các đám đông đã “biểu lộ tinh
thần tự cường của một dân tộc bị đàn áp quá lâu đã đến lúc không còn biết sợ
hãi nữa, không muốn để cho giới lãnh đạo của mình tiếp tục tướt đoạt tự do và
chà đạp nhân phẩm”, cây viết chuyên đề của tờ New York Times, ông Thomas
Friedman, đã tường thuật từ Cairo vào tháng Hai năm nay. [Nếu có mặt ở hiện
trường], ông cũng có thể đã tường thuật như thế từ Mát-xkơ-va năm 1991.
“Nhâm phẩm có ưu tiên hơn bánh
mì!” là khẩu hiệu của cách mạng Tuy-ni-di. Kinh tế Tuy-ni-di đã gia tăng trong
khoảng 2 và 8 phần trăm một năm trong hai thập kỷ liền trước cuộc nổi dậy. Với
giá dầu lửa ở mức cao,Libya cũng
đang phát triển kinh tế khá mạnh ngay trước khi có cuộc nổi dậy. Cả hai trường
hợp này nhắc nhở chúng ta rằng trong thế giới hiện nay, tiến bộ về mặt kinh tế
không thể thay thế cho niềm tự hào và tự trọng trong tư cách công dân. Nếu
chúng ta không nhớ kỹ điều này, chúng ta sẽ tiếp tục kinh ngạc — trước “các
cuộc cách mạng màu” trong thế giới hậu-Xô viết, trước Mùa Xuân Á Rập, và không
chóng thì chầy trước một biến động dân chủ tất yếu tại Trung Quốc – như chúng
ta từng kinh ngạc trước cuộc cách mạng tại Nga Xô. “Thượng Đế đã ban cho chúng
ta một ý thức mãnh liệt về nhân phẩm khiến chúng ta không thể chấp nhận sự
khước từ các quyền tự do và các quyền bất khả xâm phạm, bất chấp cả quyền lợi
có thực hay giả tưởng nào mà các chế độ độc tài "ổn định’ có thể mang lại”,
tổng thống của nước Kyrgyzstan, ông Roza Otunbayeva, đã viết vào tháng Ba năm
nay. “Thật là kỳ diệu khi người dân, nam, phụ, lão, ấu, thuộc nhiều tôn giáo và
khuynh hướng chính trị khác nhau, qui tụ trong các quảng trường thành phố và
tuyên bố ‘chúng tôi đã bưa lắm rồi’ (enough is enough)”.
Hẳn nhiên, động lực đạo lý
tuyệt vời, sự tìm kiếm chân và thiện, chỉ là một điều kiện cần nhưng không đủ
để tái tạo một đất nước thành công. Nhân dân có thể đủ sức lật đổ chế độ cũ
(ancien régime), nhưng không thể cùng một lúc khắc phục được nền văn hóa chính
trị độc tài đã ăn sâu trên cả nước. Gốc rễ của các định chế dân chủ do những
cuộc cách mạng có động cơ đạo lý có lẽ tỏ ra còn quá nông cạn, không thể giữ
vững một nền dân chủ hữu hiệu trong một xã hội thiếu truyền thống quí giá là cơ
sở hạ tầng biết tự tổ chức và biết tự trị. Đây là điều có thể gây trở ngại to
lớn cho việc thực hiện những hứa hẹn của Mùa Xuân Á-rập – đã thấy ở Nga. Sự
phục sinh đạo lý ở Nga đã bị trở ngại do sự phân hóa và ngờ vực mà 70 năm độc
tài toàn trị sản sinh ra. Mặc dù Gorbachev và Yeltsin đã tháo dỡ một đế quốc,
nhưng cái di sản của não trạng đế quốc trong hằng triệu người Nga đã khiến họ
dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa tân độc tài của Putin (neo-authoritarian Putinism),
với các chủ đề tuyên truyền to lớn như “sự bao vây của các thế lực thù nghịch”
và “Nước Nga đứng dậy từ bước ngã quị”. Hơn thế nữa, bi kịch quốc gia to lớn
(và tội lỗi quốc gia) mà chủ nghĩa Xit-ta-lin gây ra chưa bao giờ được tìm hiểu
đầy đủ và chưa bao giờ được thống hối, vì vậy đã làm hỏng toàn bộ nỗ lực phục
hồi đạo lý, đúng như các người rao giảng glasnost từng mạnh mẽ cảnh báo.
Đó là lý do nước Nga ngày nay
một lần nữa đang từng bước tiến tới một thời điểm perestroika khác. Mặc dù
những đợt cải tổ thị trường trong thập niên 1990 và giá dầu lửa tăng cao hiện
nay đã kết hợp lại để tạo nên sự phồn vinh chưa từng có trong lịch sử cho hằng
triệu người Nga, nhưng sự tham nhũng trắng trợn của tầng lớp cai trị ở chóp bu,
chế độ kiểm duyệt kiểu mới, và việc công khai khinh thường dư luận đã tạo ra
tình trạng bất mãn và yếm thế, một tình trạng đang bắt đầu lên tới (nếu không
muốn nói đã thực sự vượt qua) mức độ của đầu thập niên 1980.
Người ta chỉ cần đến Mát-xcơ-va
vài ngày để tiếp xúc với giới trí thức hiện nay hay, tốt hơn nữa, liếc qua các
trang nhật ký mạng (blogs) trên LiveJournal (Zhivoy Zhurnal), diễn đàn Internet
nổi tiếng nhất của Nga, hay qua các website của những nhóm trí thức đối lập và
độc lập hàng đầu, là thấy được rằng câu châm ngôn của thập niên 1980 – “Chúng
ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa!” đang trở thành tín điều một
lần nữa. Lệnh truyền đạo lý của tinh thần tự do đang tái khẳng định chính nó,
và hiện tượng này không chỉ diễn ra hạn hẹp trong các giới trí thức và những
nhà hoạt động dân chủ. Tháng Hai năm nay, Viện Phát triển Đương đại (the
Institute of Contemporary Development), một viện nghiên cứu chính sách tự do do
Tổng thống Dmitry Medvedev làm chủ tịch, đã xuất bản một tài liệu có vẻ như là
một chương trình vận động tranh cử tổng thống Nga năm 2012:
Trong quá khứ nước Nga cần tự
do để sống [tốt đẹp hơn]; hiện nay nước Nga cần tự do để sống còn…Thách thức
của thời đại chúng ta là làm sao để rà soát lại hệ thống giá trị, hun đúc một ý
thức mới. Chúng ta không thể xây dựng một đất nước hiện đại với tư duy cũ…Đầu
tư tốt đẹp nhất [mà nhà nước có thể dành cho con người] là Tự do và Nền Pháp
trị (the Rule of Law). Và tôn trọng Phẩm giá của con người.
Chính cuộc tìm kiếm có tính
cách trí thức và đạo lý này, một nỗ lực khôi phục niềm tự hào và tự trọng, bắt
đầu bằng một cuộc duyệt xét đạo lý không nương nễ đối với quá khứ và hiện tại
của đất nước, chỉ vỏn vẹn trong vài năm đã khoét hổng nhà nước Sô-viết đồ sộ,
tước sạch tính chính danh của nó, và biến nó thành một chiếc vỏ bị thiêu rụi
(burned-out shell) để rồi tan rã vào tháng Tám 1991. Câu chuyện về hành trình
đạo lý và trí thức này là một câu chuyện hoàn toàn chiếm vị trí trung tâm về
cuộc cách mạng vĩ đại cuối cùng của thế kỷ 20.
Nguồn: Foreign Policy,
July/August 2011,
Trần Ngọc Cư dịch
(Từ nghiencuulichsu.com)
- ĐC nói:
+ Toàn thể: không hiểu hoặc hiểu "bét nhè" về tự do-dân chủ-nhân quyền, nên "bề" này thì ngông cuồng mất nết, "bề" kia thì luống cuống như gà mắc tóc.
+ Trên bất chính, dưới tắc loạn.
+ Lão Tử: Trên mà không chính thì dưới có chính cũng thành ngụy, cái mê của con người đã có lâu rồi.
+ Thiếu một Bao Công biết(!) hiền đúng chỗ, ác đúng nơi, thấu tình-đạt lý, được quyền và dám "trảm" bất cứ ai đáng tội.
+ Pháp trị để giữ cho hoạt động xã hội không bị rối loạn. Trong một xã hội đích thực vì dân thì mục đích tối hậu của Pháp trị chính là đảm bảo Tự do. Thông thường, Pháp trị và Tự do là hai thể hiện (có vẻ) tương phản nhau của một chỉnh thể thống nhất hữu cơ về quyền con người trong xã hội. Lý tưởng: Tự do là hồn nhiên sống "trong" Luật pháp vì Luật pháp chính là "cái nôi dung dưỡng" của Tự do và cũng là "thanh gươm" bảo vệ Tự do.
+ Đành rằng trong thực tế, Luật pháp có tính siêu hình nên theo tiến trình vận động, chuyển hóa của tinh thần xã hội, dễ có phát sinh trong lòng nó những lạc hậu, lỗi thời, dẫn đến bảo thủ, gây mất tự do, nên đòi hỏi phải kịp thời được điều chỉnh, bổ sung, kiện toàn cho phù hợp với tình hình mới, nhưng nói chung, phải hành động thật cẩn trọng. Nếu cá nhân ai đó (một "dúm" người cũng là cá nhân!) cảm thấy chưa "hưởng" đủ tự do thì đừng vội đòi "tỉa tót" bớt hay "cấy ghép" thêm đối với hiến pháp và pháp luật - thành quả trí tuệ của nhiều người tài trí, công tâm, tiêu biểu của dân chúng - vì coi chừng "tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa", "lợn lành chữa thành lợn què", tưởng "xây" lại hóa ra "phá" thì nguy(!), mà trước hết hãy bắt đầu bằng câu hỏi (để nghiền ngẫm đạt đến đại ngộ cái đã!!!) cho mình: "Tự do là "cái giống" gì? Mình đủ tư cách đại diện cho Tự do chưa? Cách đòi Tự do của mình có làm người khác bị xúc phạm và hơn nữa là bị mất (bớt) Tự do không? Làm thế nào để chia đều cái gọi là "Tự do"ấy (nhưng vẫn chưa có ai, kể cả "thằng Tây", biết chắc chắn nó là cái gì!) cho tất cả mọi người để không ai, kể cả bản thân mình, không còn (động một tý lại) phàn nàn, ganh nạnh lẫn nhau?"
+ Đã thượng tôn "pháp trị" thì trên hết và trước hết phải ưu tiên đảm bảo được tiêu chí "Quân pháp bất vị thân" chứ không phải ưu tiên thỏa mãn đòi hỏi "Tự do-dân chủ-nhân quyền".
Nhận xét
Đăng nhận xét