THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 32* (Phần I) (Anh hùng)(Lưu rồi)

PHẦN III:     NGUỒN CỘI 

" Đi đi con!
Trong khinh khi may nhớ nước non
Mà ôn lại cho đừng quên lịch sử
Bốn ngàn năm rồi, Việt Nam bất tử
Dằng dặc đoạn trường chống giặc ngoại xâm
Biết mấy đau thương, biết mấy anh hùng
Ghi tạc địa cầu bao chiến công hiển hách..."
Trần Hạnh Thu
"Lịch sử hoài thai chân lý, nó có thể kháng cự với thời gian, có thể dìm đi những việc cũ, nó là dấu tích của thời xa xưa, là gương soi của đương đại, là lời giáo huấn cho thế hệ sau."
Cervantes (Tây Ban Nha)

"Lịch sử là bằng chứng của thời đại, là ngọn lửa của chân lý, là sinh mệnh của kí ức, là thầy giáo của cuộc sống và là sứ giả của cổ nhân."
Cicero (La Mã)

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”

Trần Hạnh Thu
.

.

.

CHƯƠNG XI (XXXII): ANH HÙNG


Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn

Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism - how passionately I hate them!


Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/111/sw/a/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn


"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!"
-Albert Einstein
 
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh

"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
 
“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” 
                                                          Hồ Chí Minh

"Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ"
                                                          Phạm Khắc Hòe

   

 

                                                               PHẦN I

Cái "Có" tuyệt đối duy nhất trong thế giới này là Tồn Tại. Không có cái "Không có" tuyệt đối, tức Hư Vô. Tồn Tại vì thế mà được bảo toàn, không có sinh thêm ra và mất bớt đi. Tồn Tại là vốn dĩ có sẵn thế. Do đó mới gọi là Tự Nhiên Tồn Tại!
Tự Nhiên Tồn Tại là vĩnh viễn, tuyệt đối, ngoài thời gian (ngoài tầm quan sát, theo dõi, chiêm nghiệm) nó bất biến, trong thời gian (trong tầm quan sát, theo dõi, chiêm nghiệm) nó thường biến. Ở đây, khái niệm "quan sát", "theo dõi" phải được mở rộng tối đa. Cho dù chúng ta chỉ tưởng tượng về Tự Nhiên Tồn Tại, thì cũng có nghĩa chúng ta đã theo dõi nó, nghĩa là đã "nhìn" nó trong thời gian! Suy ra, không thể có "cái nhìn", hay sự quan sát ngoài thời gian!
Một đặc tính cơ bản của Tự Nhiên Tồn Tại là "sức ỳ tồn tại". Vì Tồn Tại là vĩnh viễn nên"sức ỳ tồn tại" là tuyệt đối. Một bộ phận hợp thành Tồn Tại, từ Tồn Tại phát sinh ra được gọi là vật chất hay tồn tại tương đối. Trong thế giới vật chất, vì cũng là Tồn Tại (nhưng có tính đặc thù) nên cũng có "sức ỳ tồn tại" nhưng chỉ ở mức độ tương đối thôi và gọi là "cố gắng tồn tại". Thể hiện của "cố gắng tồn tại" chính là "quán tính" (khối lượng). 
Sinh vật được hun đúc nên từ vật chất, thế giới sinh vật là một tập hợp nhỏ của thế giới vật chất. Vì thuộc về vật chất nên ở sinh vật cũng có có tính "cố gắng tồn tại" và vì là dạng vật chất đặc thù nên sự "cố gắng tồn tại" cũng thể hiện ra một cách đặc thù với tên gọi là "cố gắng sống còn", hay "đấu tranh sinh tồn". Có thể nói "đấu tranh sinh tồn" là qui luật cơ bản nhất của thế giới sinh vật. Chính có sự chi phối mạnh mẽ của qui luật "đấu tranh sinh tồn" cùng với tác động của sự tăng - giảm lạm phát về số lượng cư dân khi có điều kiện đã làm nên hiện tượng có tính phổ biến là lan tỏa và hội tụ dân cư tự nhiên, và những hiện tượng khác như sự thịnh - suy, sự tranh giành, sự phân hóa tầng lớp...trong xã hội.

                              
                                           Quân Pháp tấn công quân Thanh ở Lạng Sơn 

Lịch sử đã chứng minh rằng hình thể đất trời sông biển Việt Nam có được như ngày nay là kết quả của một quá trình giữ nước kiên cường, bất khuất của Dân tộc Việt, đi đôi với quá trình đắp đập, be bờ phía Bắc là lan tỏa dân cư một cách tương đối hòa bình xuống phía Nam trước một Chiêm Thành tự suy tàn bởi tính hiếu chiến của nó và một Chân Lạp sình lầy, nước đọng, hoang sơ. Có thể nói sự mở rộng lãnh thổ đó có tính hồn nhiên, “thuận thiên”.
Dù rằng cũng có một hai đời vua kéo quân đi xâm lấn láng giềng, nhưng nhìn chung thì trong tâm hồn Dân tộc Việt không tồn tại ý chí bành trướng lãnh thổ bằng bạo lực. Do đó mà cũng không thể xây Việt Nam “to” hơn được.
Tâm nguyện của Hồ Chí Minh, tiêu biểu cho tâm hồn cao đẹp, trong sáng của Dân tộc Việt trong thời đại mới, là mong đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, Tổ quốc thịnh vượng. Vì thế, khi Hồ Chí Minh nói “to đẹp hơn” thì nên hiểu theo nghĩa “cao đẹp hơn”, “tươi đẹp hơn”.
Như đã nói, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra thiên thời có một không hai cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Cách mạng Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh - một đại anh hùng dân tộc ở thế kỷ XX của Dân tộc Việt.
Sau đây là những tư liệu lịch sử  được cho là xác đáng nhất mà chúng ta tom góp được từ các nơi, trong đó có một phần là của wikipedia và vài đoạn trong các bài viết của "bá tánh" trên mạng Internet. 
Chiến dịch Đông Dương thuộc Pháp năm 1940 hay Chiến dịch Đông Dương lần thứ nhất là quá trình Đế quốc Nhật Bản tấn công vào Đông Dương thuộc Pháp năm 1940.
Một trong những mục đích của Nhật Bản là cắt đứt một trong những tuyến viện trợ chính của Hoa Kỳ cho Trung Quốc trong chiến tranh Trung-Nhật (1937 - 1945) qua đường cảng Hải Phòng và tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam.
Ngày 5 tháng 9 năm 1940, Nhật Bản thành lập Đông Dương phái khiển quân để đồn trú tại Đông Dương. Lực lượng này sẽ nhận được sự hỗ trợ bằng máy bay và tàu chiến của Nhật từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Tướng Nhật Takuma Nishimura được giao quyền chỉ huy quân đoàn Hoa Nam, tiến hành đàm phán với đô đốc Pháp Decoux, toàn quyền Đông Dương, để thỏa thuận triển khai quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp. Cuộc đàm phán tiến triển quá chậm chạp nên giới tướng lãnh Nhật chỉ huy quân đoàn Hoa Nam quyết định gây hấn để phá hoại quá trình đàm phán. Để tránh giao tranh, ngày 21 tháng 9 năm 1940, phía Pháp đồng ý nhượng bộ, cho phép Nhật đóng 6 ngàn quân ở Bắc kỳ, được quyền sử dụng 4 sân bay, đồng thời được quyền chuyển 25 ngàn quân qua Bắc kỳ vào Vân Nam, quyền sử dụng cảng Hải Phòng để vận chuyển một sư đoàn thuộc quân đoàn 21. 
 
                        
Các binh sĩ Lục quân Đế quốc Nhật Bản tiến tới Lạng Sơn, vào tháng 9 năm 1940 tại Đông Dương thuộc Pháp.                  

                       Quân nhật tiến vào Hải Phòng thế chân quân Pháp, ngày 24/11/1940.

                   Quân nhật tiến vào Hải Phòng thế chân quân Pháp, ngày 24/11/1940.


                                       Binh lính Nhật Bản hành quân trên đường phố Sài Gòn.
                                        Binh lính Nhật Bản hành quân trên đường phố Sài Gòn 

                        Quân Nhật trên đường d'Adran ở Sài Gòn, nay là đường Hồ Tùng Mậu.

               Quân Nhật trên đường d’Adran ở Sài Gòn, nay là đường Hồ Tùng Mậu.

 
Ngày 23-9-1940, với sự giúp đỡ của phát xít Đức, chính phủ bù nhìn của Pháp, đứng đầu là Pêtanh đã ký hiệp ước thỏa thuận cho Nhật được đưa quân vào Đông Dương. Toàn quyền Đờcu  (Jean Decoux) được ủy quyền trực tiếp dâng Đông Dương cho Nhật. Hồ Chí Minh dã làm bài thơ tặng Đờcu như sau:

 Bài thơ Tặng Toàn quyền Đờcu[1]) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:
Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù,
Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu.
Đối dân Nam Việt thì lên mặt,
Gặp bọn Phù Tang[2]) chỉ đội khu[3])!
Về Pháp, không cơm e chết đói,
Ở đây, hút máu béo ni-nu.
Cũng như thống chế Pêtanh vậy,
Chú cứ cu cù được mãi ru!
------------------------------------------
[1]) Đờcu (Jean Decoux), Thuỷ sư đô đốc, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương từ ngày 30-8-1940. Theo chủ trương của chính phủ Pháp, do Pêtanh cầm đầu, Đờcu thi hành chính sách đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Y bị Nhật tống giam trong cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 (B.T).
[2]) Phù Tang: nước Nhật (B.T).
[3]) Đội khu: đội đít, chỉ việc Toàn quyền Đờcu khuất phục, bợ đỡ quân phiệt Nhật (B.T).

Nguồn trích:

 - Báo Việt Nam độc lập, số 134, ngày 11-8-1942.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 240.
- Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, 2006, t. 2,  tr. 172 
 
Bất chấp việc đàm phán đã ngã ngũ, lực lượng quân sự Nhật vẫn tiến hành khởi sự. 9 giờ tối ngày 22 tháng 9, sư đoàn 5 tinh nhuệ trực thuộc quân đoàn 21 Nhật tràn qua biên giới từ Long Châu vào Việt Nam qua ngả Đồng Đăng và giao tranh quyết liệt với quân Pháp tại đây. Giao tranh lan ra các đồn binh Pháp dọc biên giới. Xe bọc thép Nhật uy hiếp Lạng Sơn, buộc quân Pháp tại đây giương cờ đầu hàng. Tới lúc này các đơn vị quân thuộc địa bắt đầu hoảng loạn rút chạy, hàng trăm lính tập rã ngũ, vứt bỏ vũ khí lại trên đường chạy về Hà Nội. Cùng thời gian, máy bay thuộc hải quân Nhật cất cánh từ tàu sân bay trên vịnh Bắc Bộ bắn phá các mục tiêu Pháp trên bộ ngày 24 tháng 9. Hải quân Nhật tiến hành đổ bộ 4,500 lính bộ binh và hơn một chục xe tăng ở phía nam cảng Hải Phòng, tiến hành tước khí giới quân Pháp tại Đồ Sơn. Tới tối ngày 26, quân Nhật đã chiếm sân bay Gia Lâm, trạm xe lửa từ biên giới Vân Nam vào Lào Cai và Phủ Lạng Thương trên tuyến đường sắt từ Hà Nội-Lạng Sơn. 900 quân Nhật chiếm cảng Hải Phòng, 600 quân khác đóng tại Hà Nội trước sự bất lực của Pháp.
Cuối tháng 10 năm đó, những toán lính Nhật đầu tiên đã tới Hà Nội.Để yên lòng kẻ hàng thần mới, Mikado (Nhật hoàng) ra chiếu phủ dụ: “Trẫm vĩ đại. Trẫm lòng lành. Trẫm giải phóng cho các người. Trẫm trông cậy ở các người sẽ cộng tác với Nhật Bản để “phòng thủ Đông Dương” mà chủ quyền Trẫm công nhận là thuộc về nước Pháp”! Thế là để bảo đảm mạng sống cho khoảng trăm ngàn Pháp kiều và quân viễn chinh, mẫu quốc Pháp bỏ rơi gần ba chục triệu dân nô lệ da vàng bản xứ! Pháp chịu để cho phát xít Nhật biến Đông Dương thành nơi trung chuyển và căn cứ hậu cần cùng lời hứa cộng tác về mặt quân sự với Nhật trong trường hợp có sự tấn công của các nước Đồng minh. Tại các bãi bến thủy bộ, hàng ngày tàu biển Nhật ra vào tấp nập, các cuộc chuyển quân và vũ khí phương tiện chiến tranh rầm rập trên các tuyến hỏa xa và xa lộ, các sân bay ở Bắc kỳ được dùng để tấn công các căn cứ và đường  giao thông ở Birmanie, Vân Nam, Tứ xuyên, Trùng Khánh. Máy bay chiến đấu Nhật bay tới bay đi nhào lộn luyện tập ngay trên bầu trời Hà Nội mà không cần xin phép. Đông Dương biến thành bãi chiến trường, chịu những trận oanh kích của máy bay Đồng minh suốt từ Sài Gòn, Đà Nẵng dọc ra Hải phòng, Hà Nội, hàng trăm thường dân bị chết lây! 
Tuy nhiên bộ máy chính quyền Pháp hầu như vẫn còn nguyên từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở vì người Nhật khôn ngoan chẳng những có được hậu phương ổn định mà còn được cả về kinh tế nữa. Họ thúc ép “gắn liền kinh tế Đông Dương vào kinh tế Nhật". Gạo và cao su cứ ùn ùn chở sang Nhật hoặc cung cấp cho quân Nhật đóng ở tiền đồn vùng biển phía Nam. Theo tài liệu của chính quyền Decoux thì về gạo đã xuất, năm 1941: 700.000 tấn, năm 1942: 1.050.000 tấn, năm 1943: 950.000 tấn, năm 1944: 900.000 tấn; về cao su và các khoản thương vụ khác trong mấy năm đầu thập niên 1940 đã xuất số lượng tính ra bằng vàng tổng giá trị là 32.620kg (tính tròn), tương đương số tiền lúc đó là 22 tỷ Franc (Bác sỹ Ngô Văn Quỹ: Đêm dài Nhật-Pháp bắn nhau – NXB Trẻ 2001). 
Khi chủ nghĩa phát xít đã thành tai họa của loài người thì các quốc gia thấy cần liên kết lại tiêu diệt nó. Cùng lúc ở mặt trận châu Âu và châu Phi, quân phát xít Đức, Ý bị đẩy lùi về tận hang ổ của chúng, Hoa Kỳ tham chiến cả trên Đại Tây Đương và Thái Bình Dương, nước Pháp được giải phóng, quân đội Nhật hoàng bị đánh tả tơi cả trên biển và trên lục địa. Đã đến lúc giới quân phiệt Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách khỏi những sự kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Vào những ngày đầu thảng 3/1945, quân Mỹ đã chiếm được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với nam bán đảo Đông Dương. Đề phòng tái diễn sự kiện như ở bờ biển Normandie năm trước, lúc này lại có thêm quân Pháp làm hậu thuẫn, tất nhiên là quân Nhật ở Miến Điện, Thái Lan, Malaixia... sẽ hết đường về bảo vệ quốc đảo Phù tang. Phát xít quyết định hất cẳng thực dân. Ngày N, giờ G được xác định. 
     Yếu tồ bất ngờ được Nhật khai thác đến triệt để trong sự kiện ngày 9/3/1945. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương vào cùng một ngày, một giờ gần như thống nhất. Quan lính Pháp qua 5 năm sống yên phận chờ thời, dù thấy sự nghi ngờ cũng dễ bỏ qua, giờ vỡ ra thì không kịp trở tay. Mở đầu vào đêm 9/3 bằng những “bữa tiệc máu” và kết thúc lúc sáng hôm sau bằng những cuộc chém giết như thời trung cổ. Khi tiếng súng lệnh nổ thì những tên lính cải trang mà dân chúng ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Sài  gòn... đã quen mặt, hàng ngày tỏ ra lịch thiệp, dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào và trở thành những con quỷ dữ khát máu, giết người không gớm tay. Riêng đối với các binh sỹ người Việt Nam thì được đối xử tử tế vì là đồng thanh, đồng chủng, cùng trong Khối thịnh vượng chung. Chỉ trong một đêm, trên toàn cõi Đông dương đã có 2.650 binh sỹ và sỹ quan da trắng bị giết. Trong đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy, 91 trung úy, 9 bác sỹ và một thú y bác sỹ. (BS Ngô Văn Quỹ - sđd).
Kết cuộc là hệ thống cai trị thực dân hoàn toàn tan rã. Toàn bộ quan chức đầu não và tướng lĩnh Tư lệnh các cấp của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux. Hàng trăm sỹ quan và hàng ngàn binh lính bị chết ngay tại trận hoặc trên các ngả đường trốn chạy. Cả sáu Tập đoàn quân trên toàn cõi Đông Dương như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy vào các cánh rừng, tìm lối thoát sang Thái Lan, Miến Điện. Số lớn chạy qua Trung Quốc thì lại bị người Mỹ, người Hoa coi như kẻ thù, bị tấn công, bị xua đuổi từ làng này sang làng khác, bị đói khát, bệnh tật... quân số thương vong thêm quá nửa!
Tại kinh đô Huế, cuộc chính biến nổ ra lúc 9giờ15phút đêm 9/3, đến 10giờ sáng hôm sau thì kết thúc. Một phần tư trong số hơn một ngàn sĩ quan binh lính Pháp tử trận. Số còn lại hoặc bị bắt hoặc tẩu tán sâu vào dãy Trường Sơn. Lúc 11 giờ, Khâm sứ Nhật Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật! Cùng lúc đó, qua đài phát thanh Sài Gòn, Nhật thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9/3, đổ lỗi cho phía Pháp thiếu hẳn tinh thần cộng tác, đã tổ chức mạng gián điệp làm việc cho quân Đồng minh, đã tích trữ súng đạn được thả dù xuống, bố trí quân đội để tấn công quân Nhật. Đồng thời cũng tuyên bố từ nay chủ quyền của Pháp ở Đông Dương không còn nữa, các dân tộc ở đây được độc lập nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Ngay hôm sau, 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp (1884) được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!” (Hồi ký Phạm Khắc Hòe). 
       Nhật không dễ nhả ra miếng mồi Đông Dương béo bở. Trong khi vua tôi nhà Nguyễn đang loay hoay tìm người lập nội các mới thì ngày 30/3/1945, trong một cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, Toàn quyền Minoda (từng học Saint Cyr) nói toạc ra bằng tiếng Pháp để không ai nhầm lẫn: “Il-y-a un grand malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle ci tout entière est sous le contrôle militaire du Japon. L’indépendence de l’Empire d’Annam et cellce du Cambodge on été pro clameés. La Cochinchine, non seulement se trouve sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’aminis tration militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine...” (Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và cũng như của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của Nam Kỳ) (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Sự thực là gần đến những ngày tàn Nhật mới chịu giao lại ba tỉnh nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng (20/7), sau cùng là Nam Kỳ (14/8), đúng vào ngày Nhật ký hiệp ước đầu hàng không điều kiện Đồng minh chống phát xít.
                                                                                                                                                       Chân dung một người lính Nhật Bản thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương.                Chân dung một người lính Nhật Bản thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương.
 
                                       Lính Nhật dán bản thông cáo về tình trạng thiết quân luật vào tháng 9/1945.                  
               Lính Nhật dán bản thông cáo về tình trạng thiết quân luật vào tháng 9/1945.
 
 Sau một vài năm mị dân để chuẩn bị tình thế, đến ngày 9-3-1945 thì Nhật nổ súng hất cẳng Pháp một cách dễ dàng. Chúng vẫn giữ nguyên bộ máy cai trị cũ, thay người Pháp thành người Nhật: thống sứ Nhật, đốc lý Nhật, chúa ngục Nhật, hiến binh Nhật… Lúc này bộ mặt tàn bạo của phát xít Nhật mới lộ hết chân tướng: ra sức vơ vét cướp bóc, bắt dân nhổ lúa, ngô, trồng đay, thầu dầu phục vụ chiến tranh, đàn áp, bắt bớ phong trào Việt Minh, gây ra nạn đói thê thảm làm chết hai triệu người.
      Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam.
      Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.
      Vua Bảo Đại liền giải tán Hội đồng cơ mật gồm Thượng thư sáu bộ, tuyên bố từ nay sẽ tự mình cầm quyền nhưng bên cạnh nhà vua là viên Đại sứ Nhật ở Đông Dương Yokoyama làm "Tối cao cố vấn".
Chỉ huy quân Nhật, tướng Tsuchihashi Yuitsu  , nghĩ rằng chỉ cần Việt Nam độc lập trên danh nghĩa và chính phủ mới của Việt Nam phải được Nhật kiểm soát chặt chẽ. Thoạt đầu Phạm Quỳnh được chỉ định tạm quyền nhưng ông này quá thân Pháp, ngoài ra ông ta thấy ngay "nền độc lập" có những giới hạn như giống như hồi còn chế độ bảo hộ Pháp: Không có tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không có độc lập tài chính... Nhật liền chọn một nhân vật ôn hoà hơn và gần gũi với Nhật Bản. Đó chính là Trần Trọng Kim, đang ở Singapore. Theo Daniel Grandcléme, nhà vua Bảo Đại chẳng có vai trò gì trong việc chỉ định này.

                                         
                                                             Trần Trọng Kim

     Ngày 30 tháng 03 năm 1945, Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón từ Băng Cốc về Sài Gòn. Khoảng 5 tháng 04 năm 1945, Trần Trọng Kim đến Huế. Sau khi được yết kiến Bảo đại và gặp Trần Đình Nam, Trần Trọng Kim cũng tán thành giải pháp lập nội các do Ngô Đình Diệm đứng đầu nên một bức điện thứ 2 triệu tập Ngô Đình Diệm được Tối cao cố vấn Yokoyama nhận chuyển đi. Nhưng Ngô Đình Diệm không ra Huế (do Nhật không chuyển điện, hay nhận điện mà từ chối). Bảo Đại triệu Trần Trọng Kim vào tiếp kiến lần thứ hai.
Trần Trọng Kim và một số trí thức có tiếng tăm được giao thành lập nội các ở Huế vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. Đây là một dạng chính phủ nghị viện đầu tiên tại Việt Nam và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức luật sư, bác sĩ, kỹ sư (một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư):
  • Trần Đình Nam (1896-1974) y sĩ Đông Dương, Bộ trưởng Nội vụ.
  • Trần Văn Chương (1898 – 1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Ngoại giao.
  • Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Tư pháp.
  • Vũ Văn Hiền (1911-1963), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng tài chính.
  • Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), Giáo sư, Thạc sĩ toán học, Bộ trưởng giáo dục và Mỹ thuật.
  • Vũ Ngọc Ánh (1901-1945), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Y tế.
  • Lưu Văn Lang (1880-1969), Kỹ sư bách nghệ được vua Bảo đại mời làm Bộ trưởng Công chính, nhưng đến giờ chót ông từ chối vì tuổi cao.
  • Hồ Tá Khanh (1908-1996), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Kinh tế.
  • Nguyễn Hữu Thi (1899-?), Y sĩ, đại thương gia, Bộ trưởng tiếp tế.
  • Phan Anh (1911-1990) Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.
                            
                 Cờ quẻ Ly của chính phủ Đế quốc Việt Nam, 9 tháng 3 1945 - 22 tháng 8 1945    
 
  Ngoài các thành viên Nội các, nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cùng tham gia công việc của chính quyền: Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc bộ), Bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Lân (Thị trưởng Huế), Phó bảng Đặng Văn Hướng (Tỉnh trưởng Nghệ An), Phó bảng Hà Văn Đại (Tỉnh trưởng Hà Tĩnh), Giáo sư Đặng Thai Mai (Tỉnh trưởng Thanh Hóa)… Các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum, được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu được mời làm Cố vấn đặc vụ ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.
      Một chính phủ được thành lập trong bối cảnh lịch sử như chính phủ Trần Trọng Kim, thông thường dễ bị coi là thân Nhật, là tay sai Nhật. Và thực tế đã bị coi như vậy. Luật sư Phan Anh, một bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim, sau này viết:
“Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng được một đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là một bài học đau đớn!”
      Giáo sư Đinh Xuân Lâm có viết: "Nội các Trần Trọng Kim, với thành phần là những trí thức có tên tuổi, trong đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như: Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh… Thủ đoạn của bọn cầm quyền Nhật Bản là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng mới dựng lên để lũng đoạn tình hình có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có một chính phủ bù nhìn hoàn toàn để thi hành mọi ý định của chúng".
Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: "Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt...".
     Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc thiều là bài "Đăng đàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".

                                HUẾ NĂM 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM(*)                                                                HUẾ NĂM 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

 Chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Nhật Bản đưa ra chính sách Đại Đông Á, tuyên bố "giúp các dân tộc da vàng đánh đổ ách thống trị của thực dân da trắng để lập nên khu vực thịnh vượng chung", nhưng thực ra đó chỉ là một tên gọi cho ách chiếm đóng mới của quân phiệt Nhật. Vai trò của Nhật, theo kế hoạch của người Nhật, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà còn bảo vệ quân sự và dẫn dắt chính sách nội bộ của các nước trong khối, miền Nam Châu Á sẽ trở thành thị trường và nơi cung cấp nguyên liệu.
       Vì vậy nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính phủ bù nhìn thân Nhật, không có thực quyền và không có được sự ủng hộ của dân chúng. Nó được xếp chung với các chính phủ bù nhìn do Nhật thành lập tại các nước bị họ chiếm đóng trong thế chiến thứ 2 như Mãn Châu quốc, Chính phủ Uông Tinh Vệ, Mông Cương, Đệ nhị Cộng hòa Philipine... Cùng với sự bại trận của Nhật Bản trong thế chiến, tất cả các chính phủ này đều tự sụp đổ hoặc bị Đồng Minh giải thể trong năm 1945, dù cho Cách mạng tháng Tám không nổ ra thì chính phủ này cũng sẽ bị giải thể khi quân Đồng Minh (Anh và Pháp) tới Việt Nam vào tháng 9/1945.

Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói lớn xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.

                                                                                                                   Nạn đói Ất Dậu 1944–1945

Gần đây, trên các trang mạng xã hội cả ở trong và ngoài nước liên tục xuất hiện các bài viết xuyên tạc cho rằng Việt Minh là chủ mưu gây ra nạn đói. Thậm chí có bài viết trên một trang mạng nổi tiếng về các luận điệu xuyên tạc cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim mới thực sự đã cứu đói cho dân còn để xảy ra nạn đói là do “họ Hồ đem gạo về Trung Cộng” (?).

Tác giả L.A Patti trong cuốn sách Why Vietnam (Tại sao Việt Nam) đã viết: “Mặc dù việc thiếu hụt lương thực lúc đó là do mùa màng bị thất bát nhưng nguyên nhân chính của nạn chết đói này là do Pháp, Nhật đã cho thi hành một chính sách mua lương thực quá tàn bạo. Cộng thêm với việc cướp đoạt gạo trong bữa ăn của người Việt bằng cách xuất cảng gạo ra thị trường nước ngoài và cho cất rượu để phục vụ lợi ích buôn bán của người Pháp, chế độ thu mua lương thực đã làm cho nông dân cùng quẫn”. 

Nạn đói năm 1945 đã diễn ra vô cùng thảm khốc - Ảnh tư liệu (Võ An Ninh)

Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh nên đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém và từ đó gây ra nhiều tai họa làm ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi phát xít Nhật thu gom đay để chở về nước và không cho trồng lúa thì thực dân Pháp lại dự trữ lương thực để phòng khi quân Đồng minh chưa tới thì phải đánh bại phát xít Nhật hoặc dùng cho công cuộc tái xâm lược Việt Nam sau này. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực ở miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.

Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay để giải quyết nạn khan hiếm vải, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật).

Quân Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói (do gạo trong kho phải được ưu tiên cho lính Nhật). Máy bay của quân Đồng Minh đã cho phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở ra Nam, phong tỏa cả đường biển khiến việc vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc không thực hiện được.

Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói.

Tình trạng địa chủ chiếm hữu phần lớn ruộng đất khiến phần lớn nông dân không có hoặc chỉ có rất ít đất canh tác, nên không có khả năng sản xuất đủ lương thực nuôi sống gia đình. Nếu cả làng bị mất mùa, không vay mượn được họ hàng thì toàn bộ nông dân nghèo trong làng sẽ lâm vào cảnh chết đói.

Chính phủ Đế quốc Việt Nam do Thủ tướng Trần Trọng Kim thành lập đã không thể ngăn chặn thảm kịch này. Sự bất lực của nội các bắt nguồn từ những nguyên nhân cụ thể: 

Đa số những thành viên Chính phủ Trần Trọng Kim là những trí thức, những người có chuyên môn cao. Không ai phủ nhận tinh thần dân tộc của những người tham gia chính phủ này, song rõ ràng các vị là những người ngây thơ về chính trị. Ngây thơ về chính trị này không phải người ngoài cuộc nói mà là của một người trong cuộc: Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên của Chính phủ. Luật sư Phan Anh đã viết: “"Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng được một đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là một bài học đau đớn!"

Nhà báo Nam Đình, cựu Đổng lý Văn phòng (Chánh Văn phòng) Bộ Tư pháp Chính phủ Trần Trọng Kim trong hồi ký của mình cho biết ngày 8/5/1945, Tổng trưởng Nội các Trần Trọng Kim (tức Thủ tướng) đã có Tuyên cáo của nội các với quốc dân. Trong tuyên cáo này, Chính phủ Trần Trọng Kim có đặt ra một nhiệm vụ quan trọng là cứu đói. Tuyên cáo nêu rõ: “Ngoài việc tiếp tế lương thực cho nhân dân và việc chuẩn cấp cho hàng triệu người đang bị khủng bố vì nạn đói ở miền Bắc, thuế khóa sẽ dần dần định lại…”.

                      La liệt những người chết đói bên đường - Ảnh tư liệu
                            La liệt những người chết đói bên đường - Ảnh tư liệu

Trước khi chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, tức sau Tuyên cáo Việt Nam độc lập của vua Bảo Đại ngày 11/3/1945, tại Long Xuyên, ngày 30/3/1945, trong một cuộc họp với công chức người Việt, Toàn quyền Nhật Bản là Minoda nói thẳng bằng tiếng Pháp về bản chất sự "độc lập" của Đế quốc Việt Nam: “…Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung kỳ và cũng như của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của Nam kỳ”.

                 Nạn nhân đói tại trại Giáp Bát. Ảnh: Tư liệu
                                     Nạn nhân đói tại trại Giáp Bát. Ảnh: Tư liệu

Vì không có quyền hành, lại bị máy bay Mỹ bắn phá đường vận tải từ Nam ra Bắc nên công cuộc cứu đói của Chính phủ Trần Trọng Kim đã không thể thực hiện được. Về sự bất lực của Chính phủ Trần Trọng Kim trong việc cứu đói người dân, tác giả Nguyễn Duy Phương trong cuốn sách “Lịch sử độc lập và nội các đầu tiên của Việt Nam” (quan niệm khi ấy) xuất bản năm 1945 ngay khi Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập đã tổng hợp lại nhiều bài viết trên báo chí đương thời về sự khó khăn, bất lực này. Việt Nam Thời báo cho biết một trong những nguyên nhân việc cứu đói của Chính phủ Trần Trọng Kim bằng biện pháp chuyển gạo thóc từ miền Nam ra gặp thất bại vì giao thông ngăn trở do đường sá bị phá và sự bất lực của chính quyền: “Nạn đói ở miền Bắc là một nạn đói khủng khiếp chưa bao giờ từng thấy. Việc tiếp tế, cứu tế lại bị giao thông ngăn trở. Trong các ngành hoạt động, người bất lực vô dụng thì dư, mà người tâm huyết, tài năng thì lại thiếu”.

Rõ ràng nạn đói năm 1945 là do chính sách cai trị tàn bạo của thực dân, đế quốc mà 2 kẻ chính phạm và tòng phạm là thực dân Pháp và Phát xít Nhật, song Chính phủ Đế quốc Việt Nam cũng không thể vô can. Bằng chứng là họ đã không thể quản lý nổi đất nước, lại không thể chống được nạn đầu cơ lúa gạo ở miền Bắc khi đó. Thậm chí, miền Bắc khi ấy vẫn còn rất nhiều lúa gạo quân đội Nhật tích trữ trong kho để nuôi quân, song ngày 13/6//1945 còn quy định: ai phạm việc phá hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn, gạo, đều bị kết án tử hình. Quy định cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên 10 người. Vì quy định này mà người dân dù chết đói khắp nơi song cũng không dám kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, kết quả là hàng chục vạn người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp. Về việc này, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Từ 9/3 đến giữa tháng 6, việc thu thóc tạ vẫn được thi hành trong lúc hàng chục vạn đồng bào ta chết rũ dọc đường xó chợ. Chính phủ Trần Trọng Kim đâu dám đụng đến việc thu thóc tạ, càng không dám đụng đến kho thóc của Nhật. Chính phủ đã cam đoan với Nhật là tiếp tế cho Nhật bằng hoặc hơn Pháp, để xứng đáng với cái "độc lập" mà Nhật ban cho! Cả chính phủ Trần Trọng Kim và Nhật đều bắt buộc mọi sự vận chuyển thóc gạo từ Nam ra Bắc đều phải qua "Ủy ban thóc gạo" ở Sài Gòn mà ủy ban này do công ty Nhật nắm. Khi tải ra đến Bắc thì phải gom gạo cho công ty thóc gạo Bắc Kỳ 75% số lượng, công ty này lo bảo đảm trước hết lương thực cho quân Nhật, còn lại mới bán cho dân”.

Báo Ngày Nay khi ấy đã có bài viết với tiêu đề “Chính phủ đã làm những gì?” để đánh giá về những việc mà Chính phủ Trần Trọng Kim đã làm, trong đó có vấn đề cứu đói. Bài báo viết: “Vấn đề tiếp tế: cho gạo miền Nam ra miền Bắc để ngăn ngừa sự bành trướng tối nguy của nạn đói. Riêng về công cuộc này chúng tôi nhận thấy là ai ai cũng thất vọng và chán nản vì sau hai tháng hô hào và tốn bao nhiêu giấy mực, dân đói miền Bắc vẫn chưa được trông thấy một bao gạo nào ở Nam ra. Lời tuyên bố của Thủ tướng còn vẳng bên tai chúng ta “…cần nhất cần phải tiếp tế cho dân miền…” mà tới nay…việc làm vẫn chưa thấy đi theo lời nói. Tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong các kho, trong các nhà máy, tuy rằng giấy bạc vẫn xếp đầy từng xắp trong két sắt những nhà tư bản Việt Nam, tuy rằng trong nội các vẫn có một bộ tiếp tế và tài chính?”.

Chính Tổng trưởng nội các Trần Trọng Kim cũng đã thừa nhận thất bại trong việc cấp bách cứu đói người dân lúc bấy giờ trong hồi ký “Một cơn gió bụi”: “Việc quan hệ nhất trong đường nội trị lúc ấy là phải lo sự vận tải để tiếp tế miền Bắc. Dân tình đói khổ, người chết đói hàng ngàn, hàng vạn. Vì vậy chúng tôi lập ra Bộ Tiếp tế chuyên coi việc vận tải thóc gạo trong Nam ra Bắc. Bộ ấy không đạt được mục đích của Chính phủ vì sự vận tải khó khăn quá, đường xe lửa bị hư hỏng, thuyền bè đi ngoài bể bị tàu ngầm đánh và bị cướp bóc mất cả”.

Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã thành lập Bộ Tiếp tế có nhiệm vụ cứu đói. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim đã hoàn toàn bất lực trong việc cứu giúp người dân trong nạn đói. Sự thất bại này có nhiều yếu tố, thế nhưng có lẽ một trong các yếu tố quan trọng là Chính phủ này vẫn nằm dưới sự kiểm soát gắt gao của phát xít Nhật và họ thật sự không có quyền hành. Vì vậy, chính người đứng đầu Chính phủ Trần Trọng đã phải thừa nhận thất bại trong công cuộc cứu đói cho dân.

                                                  

 Nạn nhân của nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, chính phủ Trần Trọng Kim đã bất lực trong việc cứu trợ

      Về hành chánh, Nhật đảo chính lật đổ Pháp ngày 09 tháng 03 năm 1945, nhưng không trao trả toàn bộ chủ quyền đất nước lại cho chính quyền Đế quốc Việt Nam, mà mãi đến tháng 7 năm 1945, sau các cuộc thương lượng của Trần Trọng Kim, toàn quyền Nhật là  Tsuchihashi mới trả lại cho chính phủ Đế quốc Việt Nam ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1945. Về việc thu hồi Nam Kỳ thì cuộc thương thuyết với Toàn quyền Tsuchihashi có kết quả mặc dù lúc đầu Tsuchihashi còn do dự vì triều đình Cao Miên cũng đòi đất Nam Kỳ. Trần Trọng Kim phái Nguyễn Văn Sâm là khâm sai vào Sài Gòn tiếp thu. Ở ngoài Bắc thì Thống sứ Nishimura bàn giao với khâm sai Phan Kế Toại tại Hà Nội ngày 12 Tháng 8. Ngày 14 Tháng 8, chính phủ Trần Trọng Kim công bố chính thức tiếp thu Nam Kỳ. Chính phủ Trần Trọng Kim cũng thay chương trình học bằng tiếng Pháp bậc tiểu học và trung học sang chương trình học bằng tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn biên soạn. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lĩnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc các công ty của người Trung Hoa.
      Việc Nhật chiếm đóng vào thời điểm 1945 đã gây ra những hậu quả tai hại cho Việt Nam như nạn đói năm Ất Dậu. Vấn đề cấp thiết nhất khi đó là việc cứu đói, nhưng chính phủ Trần Trọng Kim đã không làm được điều mình hứa hẹn, chính phủ này không có phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm, giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc thì bị quân Đồng minh cắt đứt nên không thể làm làm tình hình được cải thiện. Nạn đói năm Ất Dậu đã khiến gần 2 triệu người dân Việt Nam (chủ yếu ở miền Bắc) chết đói. Báo Ngày Nay xuất bản tháng 6/1945 nhận xét về sự bất lực hoàn toàn của chính phủ này, viết:
“Chúng tôi nhận thấy ai ai cũng thất vọng và chán nản, vì sau hai tháng hô hào và tốn bao giấy mực, dân đói miền Bắc cũng chưa thấy một bao gạo nào ở Nam đưa ra. Lời tuyên bố của thủ tướng còn vang vọng bên tai ta: “Cần nhất là phải tiếp tế cho dân đói miền Bắc” mà tới nay việc làm vẫn chưa đi theo lời nói; tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong các kho, các nhà máy, tuy rằng giấy bạc vẫn nằm từng xấp dày trong các két sắt của nhà tư sản Việt Nam, tuy rằng nội các vẫn có một bộ tiếp tế và một bộ tài chính"
Về vấn đề này, nhà sử học Trần Văn Giàu chỉ ra nguyên nhân của sự bất lực này là do tính chất bù nhìn của chính phủ Trần Trọng Kim:
Không những vậy, Đạo dụ của chính phủ Trần Trọng Kim ngày 13/6/1945 còn quy định: ai phạm việc phá hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn, gạo, đều bị kết án tử hình. Đạo dụ cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên 10 người. Vì đạo dụ này, nhân dân không dám kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, hàng chục vạn người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp. 

                                                                                                                     Hiệu kỳ của Quốc trưởng Bảo Đại

        Trong khi Bộ Tiếp tế chỉ làm được vài việc vặt, thì Bộ Tài chính của Đế quốc Việt Nam chỉ chuyên làm một việc là gom tiền thuế của dân giao cho Nhật. Chỉ riêng trong 5 tháng tồn tại, Chính phủ Trần Trọng Kim đã nộp cho Nhật Bản khoản tiền 720 triệu đồng Đông Dương (Piastre), ngang với số tiền 726 triệu do chính quyền thực dân Pháp nộp cho Nhật Bản trong 5 năm trước đó (từ 1940 tới 9/3/1945). Tổng cộng trong thời gian Thế chiến thứ hai, người Việt Nam đã phải nộp cho Nhật khoản tiền là 1 tỷ 446 triệu Piastre, tương đương 14 tỷ 460 triệu Franc lúc đó.
Khi quân Nhật thất trận sắp đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945 thì sụp đổ.
       Con người, bất kể tốt xấu, khi tự do hành động đều vì mục đích danh lợi, và điều đó có tính nguyên tắc. Ngày nay nhìn lại, thật là kỳ quặc khi thấy một nước phát xít đi xâm lược lại nhủ lòng thương, trao trả độc lập thật sự cho nhân dân nước bị xâm lược. Chỉ có thể đó là hành động mỵ dân. Như vậy, chính phủ Trần Trọng Kim, không thể khác, phải là chính phủ bù nhìn và Trần Trọng Kim là một con người ngây thơ hoặc thiển cận về chính trị!
      Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản. Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội để thực hiện công tác trị an, bảo vệ. Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng Thanh niên Tiền tuyến đã rời bỏ hàng ngũ Đế quốc Việt Nam để quay sang ủng hộ lực lượng Việt Minh. Trường Thanh niên tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
Mới ra mắt được 4 tháng, ngày 5/8/1945, hàng loạt thành viên nội các Trần Trọng Kim xin từ chức: 3 bộ trưởng xin từ nhiệm, Bộ trưởng Vũ Ngọc Anh qua đời vì trúng bom máy bay Mỹ. Các bộ trưởng khác tuyên bố bản thân họ cũng bất lực, bởi không thể làm được việc gì nếu không được cố vấn tối cao Nhật đồng ý, trong khi vua Bảo Đại chỉ lo ăn chơi, săn bắn mà không quan tâm đến chính trị. Trần Trọng Kim cố gắng liên hệ nhưng các nhân vật cấp tiến đều khước từ cộng tác, đến đầu tháng 8 thì chính Trần Trọng Kim cũng nản lòng. Ông nói mình bị "tăng huyết áp" và không ra khỏi nhà.
      Trong hồi ký của mình, Trần Trọng Kim viết về giai đoạn làm chính trị dưới sự khống chế của Nhật Bản:

      Sau khi Việt Minh giành được chính quyền và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đối xử với trần Trọng Kim cực kỳ ưu đãi, hiếm thấy ở một cuộc cách mạng nào. Ông được sống yên ổn tự do ở nhà, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cấp tiền lương cho ông ăn. Chính ông đã viết trong hồi ký: “Bây giờ tôi không có tiền, may nhờ chính phủ Việt Minh ở Huế trả tôi 1.600 đồng tiền lương quá nửa tháng 8 tôi mới có tiền chi tiêu”. Món tiền 1.600 đồng lúc ấy là không hề nhỏ, có thể mua được hai tấn gạo.

                              
Hình ảnh lưu lại- Năm 1945 - Nội các chính phủ Trần Trọng Kim trình diện Hoàng Đế Bảo Đại và ra mắt quốc dân.

     Tháng 6-1946, khi quân Quốc dân đảng Trung Quốc phải rút về nước, ông sang Trung Quốc tìm gặp cựu hoàng Bảo Đại đang ở Hồng Kông. Ông cùng Bảo Đại bàn mưu tính kế khôi phục lại ngôi báu nhà Nguyễn, có cả Cousseau, chỉ huy mật thám Pháp tham dự.
Sau nhiều năm tháng ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6 tháng 2 năm 1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh Đình Thảo.
     Người Pháp thu xếp cho ông trở về Sài Gòn để vận động thành lập chính phủ mới. Về đến Sài Gòn, ông nhận ra rằng những lời hứa hẹn của người Pháp là giả dối nên ông quyết định không làm gì.
Năm 1948, ông qua Phnom Penh và sống với người con gái. Sau đó, ông lại trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại Đà Lạt vào ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi.
     Ngày nay vẫn nhiều người còn mơ hồ, bị hiểu xuyên tạc về giai đoạn lịch sử giành độc lập đầy tự hào và cũng có phần may mắn của dân tộc Việt, nên cần nói thêm cho rõ về âm mưu thâm độc phát xít Nhật và chính phủ danh nghĩa, bù nhìn Trấn Trọng Kim.                           
     Khi chủ nghĩa phát xít đã thành tai họa của loài người thì các quốc gia thấy cần liên kết lại tiêu diệt nó. Cùng lúc ở mặt trận châu Âu và châu Phi, quân phát xít Đức, Ý bị đẩy lùi về tận hang ổ của chúng, Hoa Kỳ tham chiến cả trên Đại Tây Đương và Thái Bình Dương, nước Pháp được giải phóng, quân đội Nhật hoàng bị đánh tả tơi cả trên biển và trên lục địa. Đã đến lúc giới quân phiệt Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách khỏi những sự kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Vào những ngày đầu thảng 3/1945, quân Mỹ đã chiếm được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với nam bán đảo Đông Dương. Đề phòng tái diễn sự kiện như ở bờ biển Normandie năm trước, lúc này lại có thêm quân Pháp làm hậu thuẫn, tất nhiên là quân Nhật ở Miến Điện, Thái Lan, Malaixia... sẽ hết đường về bảo vệ quốc đảo Phù tang. Phát xít quyết định hất cẳng thực dân. Ngày N, giờ G được xác định. 
     Yếu tồ bất ngờ được Nhật khai thác đến triệt để trong sự kiện ngày 9/3/1945. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương vào cùng một ngày, một giờ gần như thống nhất. Quan lính Pháp qua 5 năm sống yên phận chờ thời, dù thấy sự nghi ngờ cũng dễ bỏ qua, giờ vỡ ra thì không kịp trở tay. Mở đầu vào đêm 9/3 bằng những “bữa tiệc máu” và kết thúc lúc sáng hôm sau bằng những cuộc chém giết như thời trung cổ. Khi tiếng súng lệnh nổ thì những tên lính cải trang mà dân chúng ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Sài  gòn... đã quen mặt, hàng ngày tỏ ra lịch thiệp, dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào và trở thành những con quỷ dữ khát máu, giết người không gớm tay. Riêng đối với các binh sỹ người Việt Nam thì được đối xử tử tế vì là đồng thanh, đồng chủng, cùng trong Khối thịnh vượng chung. Chỉ trong một đêm, trên toàn cõi Đông dương đã có 2.650 binh sỹ và sỹ quan da trắng bị giết. Trong đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy, 91 trung úy, 9 bác sỹ và một thú y bác sỹ. (BS Ngô Văn Quỹ - sđd).

                                  
                     Các tướng lĩnh Pháp bị bắt trong ngày Nhật đảo chính Pháp, ngày 9/3/1945.
 
Kết cuộc là hệ thống cai trị thực dân hoàn toàn tan rã. Toàn bộ quan chức đầu não và tướng lĩnh Tư lệnh các cấp của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux. Hàng trăm sỹ quan và hàng ngàn binh lính bị chết ngay tại trận hoặc trên các ngả đường trốn chạy. Cả sáu Tập đoàn quân trên toàn cõi Đông Dương như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy vào các cánh rừng, tìm lối thoát sang Thái Lan, Miến Điện. Số lớn chạy qua Trung Quốc thì lại bị người Mỹ, người Hoa coi như kẻ thù, bị tấn công, bị xua đuổi từ làng này sang làng khác, bị đói khát, bệnh tật... quân số thương vong thêm quá nửa!

Tại kinh đô Huế, cuộc chính biến nổ ra lúc 9giờ15phút đêm 9/3, đến 10giờ sáng hôm sau thì kết thúc. Một phần tư trong số hơn một ngàn sĩ quan binh lính Pháp tử trận. Số còn lại hoặc bị bắt hoặc tẩu tán sâu vào dãy Trường Sơn. Lúc 11 giờ, Khâm sứ Nhật Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở  hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật! Cùng lúc đó, qua đài phát thanh Sài Gòn, Nhật thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9/3, đổ lỗi cho phía Pháp thiếu hẳn tinh thần cộng tác, đã tổ chức mạng gián điệp làm việc cho quân Đồng minh, đã tích trữ súng đạn được thả dù xuống, bố trí quân đội để tấn công quân Nhật. Đồng thời cũng tuyên bố từ nay chủ quyền của Pháp ở Đông Dương không còn nữa, các dân tộc ở đây được độc lập nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Ngay hôm sau, 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp (1884) được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!” (Hồi ký Phạm Khắc Hòe).
       Nhật không dễ nhả ra miếng mồi Đông Dương béo bở. Trong khi vua tôi nhà Nguyễn đang loay hoay tìm người lập nội các mới thì ngày 30/3/1945, trong một cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, Toàn quyền Minoda (từng học Saint Cyr) nói toạc ra bằng tiếng Pháp để không ai nhầm lẫn: “Il-y-a un grand malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle ci tout entière est sous le contrôle militaire du Japon. L’indépendence de l’Empire d’Annam et cellce du Cambodge on été pro clameés. La Cochinchine, non seulement se trouve sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’aminis tration militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine...” (Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và cũng như của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của Nam Kỳ) (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Sự thực là gần đến những ngày tàn Nhật mới chịu giao lại ba tỉnh nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng (20/7), sau cùng là Nam Kỳ (14/8), đúng vào ngày Nhật ký hiệp ước đầu hàng không điều kiện Đồng minh chống phát xít.

Tất nhiên, việc tìm một chính quyền tay sai người bản xứ cũng được Nhật tính trước từ lâu. Cụ HuỳnhThúc Kháng là một yếu nhân trong phong trào Duy Tân, được nhắm tới đầu tiên, đã thẳng thắn khước từ. Nhưng cách mạng tháng Tám thành công, sau khi tiếp xúc với Hồ Chủ tịch, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc”.

                                                 

                                                 Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng 

Cụ Huỳnh Thúc Kháng hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp đèn sách. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mực thước, đảm đang.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi và sớm đạt giải cao trong các kỳ thi. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương (đứng đầu kỳ thi Hương) và đến năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà dấn thân vào các hoạt động yêu nước diễn ra sôi nổi những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi tìm hiểu tình hình thực tế ở phía Nam, xem xét dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm bạn cùng chí hướng. Năm 1906, trở về Quảng Nam khởi xướng, lãnh đạo phong trào Duy tân. Năm 1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp bắt, đày đi tù Côn Đảo suốt 13 năm (1908-1921). Sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại tích cực hoạt động đòi quyền lợi cho dân, cho nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia nội các Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đầu năm 1946, cụ làm Chủ tịch hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cụ được giao chức vụ Quyền Chủ tịch nước (31/5/1946-20/10/1946). Với cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh đã tham gia giải quyết nhiều công việc, góp phần quan trọng điều hành bộ máy Nhà nước, chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề về đối nội và đối ngoại theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Khi cuộc kháng chiến toàn quc bùng n (tháng 12/1946), Ch tch H Chí Minh c c Hunh làm Đặc phái viên ca Chính ph đi kinh lý min Trung để gii thích đường li kháng chiến, kêu gi toàn dân ng h Chính ph, ng h cách mng. Đầu năm 1947, tiếp tc hành trình đi kinh lý min Trung, do tui cao, sc yếu và lâm bnh nng, c Hunh qua đời ti tnh Qung Ngãi ngày 21/4/1947 trong nim tiếc thương vô hn ca đồng bào, cán b, chiến sĩ c nước. Theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi – "Thiên Ấn niên hà" (Ấn trời đóng xuống sông).

Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh đang bị cầm tù ở Côn Đảo, Nguyễn Hòa Hiệp là người quen biết cũ, đương nhiệm chức sư trưởng đệ tam sư đoàn của Nhật, dẫn một viên tướng Nhật ra đảo mời hợp tác nhưng ông kiên quyết từ chối mặc dù ông biết “Nếu phải hoàn thành xong hình phạt tù tại Côn Nôn, tôi chắc chắn phải để xương tại đây”! Nửa tháng sau, ông trút hơi thở cuối cùng tại nơi địa ngục trần gian ấy! (Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người thân – NXB Văn học 2009).

                                        

                                      Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh

Bài thơ cuối cùng

Sống và chết
Sống mà vô dụng, sống làm chi
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phài, cho nên sống
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.
Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài
Chết đáng là người đủ mắt tai
Chết được dựng hình tên chẳng mục
Chết đưa vào sử chứ không phai
Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

Đó thật sự là những con người đẹp, làm việc đẹp và viết nên trang sử đẹp, đáng là niềm tự hào cho mỗi người Việt Nam ta. 

Ngô Đình Diệm cũng được Nhật để mắt tới nhưng họ không lạ gì con người này. Trong tình thế ấy, Trần Trọng Kim là sự lựa chọn cuối cùng. Ông được Nhật đưa sang Chiêu Nam Đảo (Singapour) trước đó cả năm trời, qua Băng Cốc (Thái Lan), về Sài Gòn, ra Huế vào giờ phút chót. Ông viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi”:

“Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa. 


“Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.
“Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước”.

Có ai không nghĩ rằng đó là vở kịch được người Nhật dàn dựng từ đầu chí cuối?

Ngày 8/5/1945, chỉ một ngày trước khi phát xít Đức đầu hàng Đồng Minh, tại Huế, Hoàng đế Bảo Đại đọc Tuyên chiếu thành lập nội các. Tân Tổng trưởng đưa ra bản Tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế và cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi Quốc dân phải cố gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp tác với nước Đại Nhật Bản”, lấy quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam, quốc kỳ Quẻ Ly đỏ trên nền vàng (ứng với hoàng đế làm chủ phương Nam). Bà con kinh đô nhạo là “vương rút ruột”. Vấn đề là có thật Nhật “giải phóng” cho Việt Nam không, hay chỉ là động tác tháo vòng xích cũ, choàng vào cổ cái vòng xích mới xiết chặt hơn để kéo dài cơn hấp hối của tên phát xít cuối cùng?!    

Kế hoạch của tân chính phủ đưa ra thì nhiều nhưng chỉ là những ý tưởng hão huyền. Trước hết vì chính quyền quân phiệt Nhật kiềm chế khắt khe cả về mọi mặt. Trong khi chính phủ thì “hữu danh vô thực”: Không lực! Không quyền! Không được nhân dân ủng hộ! Mặt trận Việt Minh kêu gọi phải tận dụng thời cơ, tự ta giải phóng cho ta, đồng thời cảnh báo những ai nhẹ dạ cả tin: “Lợi dụng Nhật tức là tự để mình cho Nhật lợi dụng; lợi dụng Nhật, đi theo Nhật tức là trốn ra ngoài hàng ngũ kháng Nhật cứu nước mà toàn thể đồng bào đương hăng hái bước vào; lợi dụng Nhật là “đánh đu với tinh”; lợi dụng Nhật là tự tử” (Báo Cứu quốc, số 24 ngày 25/6/1945). Yêu cầu bức thiết lúc bấy giờ là cứu đói. Trong khi các kho thóc đầy ắp, ngoài việc cấp ăn cho lính còn dùng thay than cho các tàu thủy, tàu hỏa và nhà máy! Khắp Bắc Kỳ, nhiều làng vắng tanh không một bóng người, cảnh chết đói đầy đường, đầy phố! Việt Minh hô hào phá kho thóc Nhật cứu đói cấp thời, thì tân Chính phủ lại công bố: “Chúng tôi vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương chức Nhật Bản” và ra lệnh kết án tử hình những ai cướp phá kho tàng ngũ cốc! Cái gọi là Bộ Tiếp tế làm được vài việc vặt, coi như vô dụng! Bộ Tài chính chuyên làm một việc gom tiền thuế của dân giao cho giặc! Chỉ riêng trong 5 tháng tồn tại, Chính phủ Trần Trọng Kim đã nộp cho Nhật khoản tiền 720triệu Đồng Đông Dương (Piastre), không thua số tiền 726triệu do chính quyền Decoux nộp trong 5 năm (1940-1945). Cụ thể là: 1940: 6tr; 1941: 58tr; 1942: 86tr; 1943: 116tr; 1944: 360tr; 1945 cho đến ngày 9/3: 100tr. Tổng cộng trong thời gian Thế chiến hai, chính quyền Đông Dương đã nộp cho Nhật 1 tỷ 446 triệu Piastre, tương đương 14 tỷ 460 triệu Franc lúc đó (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Thật sự đó là tội ác với nhân dân và lịch sử mà chính quyền Trần Trọng Kim không thể chạy tội được! Vai trò lịch sử của nội các do ông lãnh đạo thực chất là như thế. Dù rằng thành viên trong nội các đều là những người có đủ học thức và đức hạnh, chánh trực thanh liêm, lúc hữu sự muốn góp phần mình giúp nước nhưng trước thực tế đều thấy bị cô lập và bất lực, rã đám dần.  Sau cách mạng tháng Tám, phân nửa các vị theo Chính phủ kháng chiến cho tới ngày thắng lợi hoàn toàn. Một số ra định cư ở nước ngoài và hầu như không có ai hợp tác với các chính quyền tay sai ngoại bang sau đó.

                                 File:Ships and harbor under attack by US carrier planes at Saigon on 12 January 1945.jpg  
       Luật sư Phan Anh, người sớm nhận ra sự thật, đứng hẳn về phía cách mạng và có những đóng góp to lớn, sau này viết: “Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng được một đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là một bài học đau đớn!” (Phan Anh – Con đường đi tới cách mạng tháng 8 của tôi – Báo Nhân dân số 2346 ngày 21/8/1960). Giả như có một “khoảng trống quyền lực” mà nhân dân không được tổ chức, không có lực lượng thì làm sao giành được chính quyền? Huống chi quyền lực vẫn nằm trong tay quân phiệt Nhật tới giờ phút chót! Đó là sự thật lịch sử! Riêng vị Tổng trưởng nội các, sau khi quân Nhật bị giải giáp về nước, cách mạng tháng Tám thành công, quân Pháp quay lại tái xâm lược Việt Nam, ngài lại tìm đến cố vấn Vĩnh Thụy đang đào tẩu ở Hương Cảng, theo lời phế đế về Sài Gòn nghe ngóng. Ở đây, vị học giả đã nhìn ra chân tướng cái xã hội nhố nhăng này: “Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Còn về phương diện người mình, thì không có gì đáng vui, phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả!”. Và nhìn ra một sự thật là: “Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có Việt Minh mới làm nổi”. Tuy nhiên nhà nho vẫn loanh quanh xứ trời nam, hy vọng  được mời ra hợp tác với lời an ủi của bậc thánh hiền: “Dụng chi tắc hành. Xả chi tắc tàng” (Dùng thì ra làm việc. Bỏ thì ở ẩn). Mòn mỏi đợi chờ, trước khi bỏ xác xứ người, ông thầy ngán ngẩm thở than: “Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì”!
                                                              ***  
Cách mạng Việt Nam, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bước vào thời kỳ cao trào chống Nhật, cứu nước. Bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và của Mặt trận Việt Minh. Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ: “Nếu Nhật đem quân đánh phá khu du kích thì đội quân du kích phải khéo dùng chiến thuật hóa chẵn thành lẻ, hóa lẻ thành chẵn phối hợp với nhân dân đằng sau quân địch đánh phá, nhiễu loạn làm cho chúng phải rút lui”.
Tháng 4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ của Đảng ra nghị quyết về nhiệm vụ chống lại cuộc tấn công của Nhật vào các khu căn cứ địa, đại ý như sau:
- Vì là đang thời kỳ xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, nên phải dùng chiến thuật đánh du kích, đánh úp địch bằng những trận nhỏ, nắm chắc phần thắng để giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng.
- Phát động du kích thành nhiều chiến khu, nhiều căn cứ địa để đề phòng địch bao vây.
- Dùng chiến thuật “dĩ công vi thủ” (lấy tấn công làm phòng thủ) mà đối phó khi địch bao vây. Nếu không giữ được căn cứ thì kiên quyết rút lui để bảo toàn lực lượng.
- Thi hành vườn không nhà trống.
- Các chiến khu và căn cứ địa phải liên kết chặt chẽ, tương ứng được với nhau.
Từ sau ngày 9-3 đến cuối tháng 4-1945, bằng nhiều hình thức hoạt động du kích kết hợp với nổi dậy của nhân dân địa phương, Việt Minh đã giải phóng được phần lớn nông thôn của 6 tỉnh ở Việt Bắc, lập chính quyền cách mạng ở những vùng đó.                      
Sau khi hất cẳng Pháp, đến cuối tháng 3, quân Nhật bắt đầu tràn lên chiếm đóng các tỉnh lỵ, sục xuống các làng xã, tiến đánh các khu du kích, đặc biệt, vào trung tuần tháng 5, chúng huy động hàng ngàn quân mở cuộc càn quét lớn khu căn cứ của Việt Minh ở giữa sông Lô và quốc lộ 3.
Bằng cuộc chiến tranh du kích ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên, các lực lượng vũ trang cách mạng và quần chúng nhân dân đã nhanh chóng bẻ gãy các mũi tiến công càn quét của Nhật, đánh bật chúng ra khỏi các vùng giải phóng, bao vây chúng trong một số huyện lỵ, tỉnh lỵ, vừa giữ vững được chính quyền cách mạng, vừa tiếp tục mở rộng vùng giải phóng.
Sau khi Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, quân Nhật lại tiếp tục mở các cuộc càn quét mới, nhưng đều thất bại. Không những bảo vệ vững chắc cùng giải phóng đã tạo lập được, các lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Bắc đã sẵn sàng cùng toàn dân xông lên, tổng khởi nghĩa…

                                                                                                                             
Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên trái) trong buổi lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân 

      Ngoài căn cứ địa Việt Bắc ra, hoạt động thành lập chiến khu, căn cứ địa và đấu tranh du kích để bảo vệ và mở rộng những địa bàn đó của Việt Minh cũng diễn ra tại những nơi khác ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và cả ở Nam Kỳ (vùng Tân Uyên đang manh nha trở thành căn cứ địa, sau này trở nên lừng danh với cái tên: Chiến khu Đ).
      Khi Thế chiến thứ II sắp kết thúc, Nhật còn muốn nắm lực lượng thanh niên để phục vụ mưu đồ riêng. Ở Nam Kỳ Nhật mời Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch lập Thanh niên Tiền phong, biểu trưng là cờ nền vàng sao đỏ (thực ra xứ ủy Nam Kỳ đã chủ động nắm tổ chức này). Nhật cũng vận động Bộ trưởng Phan Anh lập ra tổ chức thanh niên. Lúc này ở Bắc Kỳ đã có “Đoàn Thanh niên cứu quốc” trong đoàn thể Việt Minh. Tổ chức “Thanh niên Phan Anh” ra đời ở Huế. Ông bàn với giáo sư Tạ Quang Bửu là người có ảnh hưởng rất lớn trong giới học sinh ở Huế đứng ra mở “Trường võ bị thanh niên tiền tuyến” và mời ông Phan Tử Lăng – võ quan chỉ huy lực lượng Bảo an binh ở kinh đô Huế và cả Trung kỳ, làm Hiệu trưởng. Các ông đều có tinh thần dân tộc cao và sớm liên hệ với Việt Minh. Nhà trường kêu gọi: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học, có hiểu biết về quân sự” và hứa: “Học xong không bắt buộc ra làm việc cho chính phủ”! Thực chất là chủ động chuẩn bị bổ sung cho lực lượng vũ trang yêu nước khi cần. Số người ghi danh vào học khá đông, có cả một số sinh viên từ Hà Nội vào theo học. Lá “cờ quẻ kiền” ba sọc đỏ (tượng trưng cho người quân tử làm điều nghĩa hiệp), được lấy làm biểu tượng của thanh niên Võ bị. Vậy là Mặt trận Việt Minh thông qua những người yêu nước, chủ động biến tướng một tổ chức phục vụ cho ý đồ của Nhật thành một tổ chức nòng cốt của mình. Cách mạng thành công, đổi tên là “Trường võ bị Thuận Hóa” và mở rộng thành phong trào “Thanh niên tiền tuyến”, góp phần đẩy mạnh phong trào “Nam tiến” sôi động trong cả nước, bổ sung tiếp ứng kịp thời cho mặt trận phía Nam. Nước nhà vừa độc lập thì bước ngay vào cuộc kháng chiến từ Nam lan nhanh ra Bắc. Cũng như Thanh niên Tiền phong,  Thanh niên Tiền tuyến chấm dứt vai trò lịch sử, hợp nhất vào tổ chức Thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt minh. Cuộc trường kỳ kháng chiến giành thống nhất, độc lập kết thúc thắng lợi, tám học viên khóa đầu của Trường võ bị được phong quân hàm cấp tướng (Hồi ký của Thiếu tướng QĐNDVN Mai xuân Tần).

                               Quân lính Pháp tại một quán cafe vỉa hè ở Sài Gòn.

                                        Quân lính Pháp tại một quán cafe vỉa hè ở Sài Gòn

Nhân chuyến công cán qua Trung Quốc, Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy đào nhiệm và lưu trú ở Hồng Công. Giữa năm 1948, kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” thất bại, chủ cũ tìm đến ký với phế đế cái gọi là Hiệp định Hạ Long, công nhận nền độc lập của Việt Nam nằm trong khối Liên hiệp Pháp và lập ra cái chính phủ quốc gia! Phục dựng lá “cờ quẻ kiền” làm quốc kỳ và lấy bài hát “Tiếng gọi thanh niên” (của Lưu Hữu Phước) ra đời trong phong trào thanh niên tiền khởi nghĩa, làm quốc ca. Ngay lập tức, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra tuyên bố cảnh cáo: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy. Đối với các nước trên thế giới, tôi thay mặt chính phủ và nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố không bao giờ thừa nhận những giấy tờ gì do bọn bù nhìn ấy ký kết với bất cứ nước nào”!
“Quân đội quốc gia” được gấp rút nặn ra. Với lệnh Tổng động viên, học sinh trung học ở các thành thị trong vùng tạm chiếm bị dồn vào các trường sỹ quan trù bị Nam Định, Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Lá “cờ quẻ kiền” với bài ca vốn ra đời từ phong trào yêu nước sôi nổi chống ngoại xâm nhưng đã bị đánh tráo nhận vơ cho cái quốc gia ngụy tạo! Từ đấy “cờ quẻ kiền” hết đi sau “cờ tam tài” rồi “cờ hoa” trong những cuộc tàn sát, khủng bố, giết chóc đồng bào ta!

   

                                              Dù sau này được biết đến là một trong những quốc gia mạnh về sản xuất xe tăng chủ lực. Tuy nhiên, trong chiến tranh xâm lược Việt Nam (1946-1954), Quân đội viễn chinh Pháp chủ yếu sử dụng các loại xe tăng do Mỹ cung cấp. Ảnh: Xe tăng hạng nhẹ M5 (Mỹ chế tạo trong CTTG 2) của Sư đoàn thiết giáp số 2 LeClerc trong hoạt động tuần tra ở miền Bắc Việt Nam, năm 1946.
 Dù sau này được biết đến là một trong những quốc gia mạnh về sản xuất xe tăng chủ lực. Tuy nhiên, trong chiến tranh xâm lược Việt Nam (1946-1954), Quân đội viễn chinh Pháp chủ yếu sử dụng các loại xe tăng do Mỹ cung cấp. Ảnh: Xe tăng hạng nhẹ M5 (Mỹ chế tạo trong CTTG 2) của Sư đoàn thiết giáp số 2 LeClerc trong hoạt động tuần tra ở miền Bắc Việt Nam, năm 1946
Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và ngay lập tức tấn công đội quân Quan Đông ở Mãn Châu. Sự kiện này làm rúng động chính quyền Nhật ở Đông Dương, gây chia rẽ, tan rã, mất tinh thần quân Nhật đóng ở đó. Mặt khác nó cũng mở ra cơ hội cho thực dân Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Việt Nam.
Khoảng giữa tháng 8-1945, Trung ương Đảng khẩn trương triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng. Giữa lúc Hội nghị đang họp thì nhận được tin Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Sau khi nhận định tình hình, Hội nghị đã xác định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”, “Tình hình vô cùng khẩn cấp”. Ngay đêm 13-8, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn dân tổng khởi nghĩa. Ủy ban khởi nghĩa ra quân lệnh số 1. Tất cả các đơn vị Giải phóng quân được lệnh chiến đấu.

Nghị quyết Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 14,15-8-1945
quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Quân lệnh số 1 của Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc, ngày 13-8-1945.

Lệnh Tổng khởi nghĩa toàn quốc

                                                          
Nhân dân Hà Nội tham gia mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh tại Nhà Hát lớn Hà Nội, ngày 17-8-1945 (Ảnh tư liệu)
Quân Nhật ở Đông Dương lúc này còn nguyên một quân đoàn (quân đoàn số 38) với 6 vạn người vẫn trang bị đầy đủ vũ khí và các đơn vị không quân, hải quân… cùng với lực lượng ngụy quân gồm hơn 2 vạn lính bảo an. Tuy nhiên tinh thần chiến đấu của chúng đã không còn nữa. 
Trong khi đó, lực lượng vũ trang cách mạng mới chỉ có khoảng 5 ngàn Giải phóng quân và khoảng vài vạn dân quân tự vệ với trang bị vũ khí kém nhưng tinh thần chiến đấu lại rất cao, thể hiện ý chí quật cường của cả một dân tộc đang khao khát độc lập tự do hơn bao giờ hết, tựu trung trong câu nói của Hồ Chí Minh: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Với khí thế sục sôi cao độ đó, với sách lược mềm dẻo “trung lập hóa quân Nhật”, trong thời cơ chín muồi có một không hai đó, chỉ trong vòng 12 ngày, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công trên hầu khắp đất nước Việt Nam. Có thể nói sự thành công này là kết quả của hành động kiên quyết cách mạng có thế và lực áp đảo quân thù. 
Lực có được là từ sự đấu tranh bền bỉ, chuẩn bị lâu dài, thế có được là do biết chớp được thời cơ và ở đây thời cơ đã trở thành một lực lượng quan trọng, to lớn của cách mạng. Hay có thể nói khác đi rằng: thời cơ đã làm cho chính quyền Nhật và tay sai ở Việt Nam trở thành một cái xác cồng kềnh nhưng đã mất hồn và bất lực.

                            
                  Cách mạng Tháng Tám - dấu mốc lịch sử vĩ đại và những nhiệm vụ đặt ra đối  với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên mới                                  Cách mạng Tháng Tám - dấu mốc lịch sử vĩ đại và những nhiệm vụ đặt ra đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên mới
Riêng ở Hà Nội kính yêu, diễn tiến của phong trào Cách mạng dẫn đến khởi nghĩa cướp chính quyền được tóm tắt như sau:
Chỉ trong vòng 5 tháng (từ ngày Nhật đảo chính Pháp đến tháng 8-1945), phong trào đấu tranh của công nhân, quần chúng Hà Nội bộc phát, sôi nổi và mang tính chất tập dượt, biểu dương lực lượng chính trị. Cũng sau ngày 9-3-1945, ở Hà Nội ra đời những lực lượng vũ trang tuyên truyền đầu tiên. Tháng 4-1945, Thành ủy triệu tập hội nghị quyết định đẩy mạnh việc phát triển các đội tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong, tổ chức mua sắm vũ khí và mở các lớp huấn luyện tuyên truyền cấp tốc.
Ngày 20-4-1945, hàng trăm thanh niên nam nữ nội thành đã được huy động đến tham dư cuộc mít tinh lớn tại xã Mễ Trì (huyện Từ Liêm). 
Ngày 29-4, một cuộc mít tinh gồm hàng ngàn thanh niên được tổ chức ở chợ Canh (Hoài Đức). Tại đây, các nữ đội viên tuyên truyền xung phong đã giải thích tình hình và kêu gọi quần chúng tham gia Việt Minh đánh Nhật cứu nước. 
Trong tháng 5, Đoàn thanh niên xung phong Hoàng Diệu đột nhập diễn thuyết ở nhiều nơi như: trường Gia Long (phố Phủ Doãn), trường Kỹ Nghệ (phố Quang Trung), chợ Láng (quận Đống Đa), nhà máy rượu (phố Lò Đúc)… Sang tháng 6, hoạt động xung phong tuyên truyền càng sôi nổi: nói chuyện ở cửa trường Phêlit Phôrơ (cuối đường Trần Phú), cắt ngang buổi diễn ở rạp Tố Như (phố Hàng Bạc) để tuyên truyền chính sách của Việt Minh, phá cuộc mít tinh ngày 17-6 (kỷ niệm Nguyễn Thái Học) do đám Đại Việt (thân Nhật) tổ chức ở vườn Bách Thảo với ý đồ ca ngợi phát xít Nhật… Ở vùng ngọai thành phong trào chống Nhật và tay sai cũng phát triển rầm rộ…
Ở Hà Nội, các sinh viên cánh tả tổ chức biểu tình với danh nghĩa Tổng hội sinh viên kêu gọi Bảo Đại thoái vị, thành lập nền cộng hòa dưới sự bảo trợ của Việt Minh, yêu cầu Việt Minh thảo luận với tất cả các đảng phái để thành lập chính phủ Lâm thời, đồng thời kêu gọi nhân dân và các đảng phái ủng hộ chính phủ Lâm thời bảo vệ nền độc lập của đất nước. Việt Minh phát động công nhân, nông dân cướp chính quyền trên toàn quốc. Trước áp lực đó, Bảo Đại mời Việt Minh thành lập một chính phủ mới dưới quyền ông thay thế chính phủ Trần Trọng Kim.
Tháng 5/1945, các thành viên của các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính Đảng thân Nhật và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) gặp nhau tại Trung Quốc để thành lập một liên minh đặc biệt nhằm phối hợp hoạt động giữa các nhóm trong nước và nhóm lưu vong trong trường hợp Trung Quốc đưa quân vào Đông Dương. Đại Việt Dân chính Đảng sáp nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng.
 Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào tháng 8/1945, ở Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang của Đại Việt còn lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn còn ở Trung Quốc. Ngày 17/8/1945, Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng, dẫn đầu một đơn vị 250 người hành quân vào Hà Nội. 
Tuy nhiên ngày 19/8/1945, lực lượng này đã không ngăn cản Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội. Tối hôm đó, các đảng viên Đại Việt và Việt Quốc tổ chức họp nhưng không thống nhất được kế hoạch chống Việt Minh giành chính quyền. 
Các đơn vị khác của Đại Việt ở các tỉnh không thể tiến về Hà Nội do lũ sông Hồng. Quân đội của Đại Việt rút về phía Đông và phía Tây Hà Nội chờ diễn biến tình hình. 
 
Đại Việt Dân chính Đảng
Flag of Vietnamese Nationalist Army.png
Hiệu kỳ.
Chủ tịch     Nguyễn Tường Long
Tổng bí thư     Nguyễn Tường Tam
Thành lập     1938
Giải tán     1945
Báo chí     Ngày Nay
Ý thức hệ     Chủ nghĩa Tam Dân       

Việt Nam Quốc dân Đảng
(Flag of VNQDD.svg)
Đảng kỳ.
Lãnh tụ     Nguyễn Thái Học
Vũ Hồng Khanh
Nguyễn Tường Tam
Chủ tịch     Trần Tử Thanh
Thành lập     25 tháng 12, 1927
Báo chí     Tiếng dân
Tổ chức thanh niên     Đoàn thanh niên Ký Con
Đoàn thanh sinh Phó Đức Chính

Ý thức hệ     Chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa Tam Dân
Đầu tháng 7-1945, hai đại biểu Thành ủy Hà Nội đi dự Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào và một đoàn đại biểu nhân dân Hà Nội cùng lên đường đến Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Bước sang tháng 8, điều kiện chuẩn bị khởi nghĩa về chủ quan đã chín muồi và tình thế thuận lợi khách quan đã xuất hiện. 
Chính quyền tay sai bù nhìn ở Bắc Kỳ lúc này đã thực sự hoảng sợ, ngỏ ý muốn gặp đại diện của Việt Minh. Ngày 13-8, Nguyễn Khang dẫn đầu một phái đoàn Việt Minh đến gặp Khâm sai Bắc Kỳ. Trong cuộc gặp gỡ này, phía chính phủ bù nhìn nói rõ ý muốn mời Việt Minh tham gia chính quyền và xin ngừng bạo động chống Nhật: Họ sẽ đứng ra điều đình để Nhật trao lại quyền độc lập(!) và cả vũ khí. Một đề nghị thật sự khôi hài! Phía Việt Minh đã bác nó, tuyên bố rõ lập trường chống phát xít và đường lối cách mạng của mình.
Ngày 15-8, chính phủ Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh. Ở Hà Nội, các nơi Nhật đóng quân đều treo cờ rũ. Xứ ủy Bắc Kỳ họp ngay tại cơ sở làng Vạn Phúc (thị xã Hà Đông), chủ động ra quyết định xúc tiến khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh do Xứ ủy phụ trách (chủ trương của Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân đại hội tại Tân Trào đã có nhưng chưa kịp truyền đạt tới). 
Hội nghị cán bộ quân sự bất thường được Thành ủy Hà Nội triệu tập tại chùa Hà (làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm) để bàn công tác quân sự chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.
Một ngày sau, tức ngày 16-8, Thành ủy lại triệu tập một hội nghị cán bộ mở rộng ở xóm Duệ Tú (làng Dịch Vọng), để thông báo quân lệnh số 1 (vừa nhận được) và thành lập Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội - sau này gọi là Ủy ban khởi nghĩa. Tối hôm sau, ủy ban đã triệu tập cuộc họp tại nhà bà Hai Nhã (làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm) để quyết định kế hoạch và ngày giờ khởi nghĩa.
Ngày 17-8, báo chí hàng ngày đã công khai thông tin Nhật đầu hàng vô điều kiện.
 Cũng trong ngày đó, cái gọi là Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ họp ở Khai trì tiến đức (nay là phòng bán vé máy bay ở phố Lê Thái Tổ) với mục đích tìm cách chống phá cuộc khởi nghĩa mới phát động của Việt Minh. 
Vào buổi chiều, cái gọi là Tổng hội viên chức đã tổ chức một cuộc mít tinh tại quảng trường Nhà hát thành phố, nhằm hô hào quần chúng ủng hộ chính quyền bù nhìn. 
Vì Việt Minh đã có sẵn những nhân mối trong tổ chức này nên Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội đã quyết định tương kế tựu kế, chiếm diễn đàn để tuyên truyền cách mạng. Trong dòng người kéo về quảng trường có những tiểu tổ tự vệ chiến đấu, những đoàn viên tuyên truyền xung phong, hội viên các tổ chức cứu quốc… để thi hành nhiệm vụ trên.
Hai giờ chiều, cuộc mít tinh bắt đầu. Sau lời khai mạc, một diễn giả thuộc phe chính phủ bù nhìn chuẩn bị nói thì một đội viên tự vệ đứng cạnh lễ đài bỗng giương cao lá cờ đỏ sao vàng. Hàng vạn người reo lên:
- Cờ Việt Minh! Cờ Việt Minh!...
Tức khắc, từ trong đám đông dự mít tinh trên quảng trường, nhiều lá cờ đỏ sao vàng cũng xuất hiện. Cả biển người náo động. Lính bảo an và cảnh sát có tới hàng trăm tên, súng có trong tay nhưng bất lực. 
Bên lễ đài, cờ (quẻ ly) của bù nhìn bị hạ. Từ bao lơn Nhà hát thành phố, một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn tỏa ra phủ kín mặt trước lễ đài. Cả biển người lại đồng loạt vỗ tay vang dậy. Một đội viên tuyên truyền xung phong Việt Minh bước đến trước loa phóng thanh và sau khi sự ồn ào dịu xuống, đã nói về những chuyển biến của tình hình thế giới rồi kêu gọi đồng bào đoàn kết, cầm vũ khí nổi dậy. Tiếp đó, một đại biểu phụ nữ lên hô hào nữ giới tham gia khởi nghĩa.
Tiếng reo hò hưởng ứng Việt Minh từ quần chúng tham gia mít tinh lại vang lên. Ông Nguyễn Khang, đại diện cho Mặt trận Việt Minh kêu gọi nhân dân Hà Nội vùng lên khởi nghĩa và đề nghị quần chúng có mặt tại cuộc mít tinh chuyển sang biểu tình tuần hành. 
Đồng bào hưởng ứng ngay và nhanh chóng xếp thành đội ngũ dưới sự hướng dẫn của các tiểu tổ tự vệ chiến đấu, hội viên cứu quốc… Theo hiệu lệnh từ loa phóng thanh, một đoàn biểu tình phút chốc được hình thành và bắt đầu tuần hành. 
Có thể nói rằng chính thời khắc này là phút giây đầu tiên của Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Đoàn biểu tình có lá cờ đỏ sao vàng dẫn đầu đi dọc phố Tràng Tiền, tới Bờ Hồ thì rẽ sang phố Đinh Tiên Hoàng. Dọc đường, người ở hai bên hè phố nhập vào đoàn ngày một đông. Ban đầu, đám lính bảo an và cảnh sát của chính quyền bù nhìn còn đi trên hè, nhưng đến vườn hoa Chí Linh, theo sự vận động của tiểu tổ tự vệ, họ cũng nhập luôn vào hàng ngũ biểu tình. Đoàn biểu tình tiếp tục tuần hành qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Đồng Xuân, rẽ sang phố Phan Đình Phùng. Tới đây, trời bỗng đổ mưa rào nhưng đoàn biểu tình vẫn tiến, qua Cửa Bắc, rẽ sang phố Hùng Vương, qua Phủ toàn quyền, xuôi theo đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ ngày nay), tới Cửa Nam thì tản ra các ngả phố…

                                 Bức họa lễ xuất quân của 34 c.hi.ế.n s.ĩ G.iả.i p.hón.g quân tại cây đa Tân Trào 8/1945
               Bức họa lễ xuất quân của 34 chiến sỹ Giải phóng quân tại cây đa Tân Trào 8/1945 
Ngay tối hôm ấy (17-8), Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội họp bàn biện pháp cụ thể tiến hành khởi nghĩa và quyết định khởi sự vào sáng ngày 19-8-1945.
Ngày 19-8, mới sáng ra, cả Hà Nội, trên khắp các nẻo đường đã rực rỡ rừng cờ sao. Từ các cửa ô, từng đoàn nông dân lũ lượt tấp vào. Đồng bào ở Láng, Mọc, Thái Hà đã tập hợp thành đội ngũ kéo đi chiếm đại lý Hoàn Long trước khi vào nội thành dự mít tinh. Tất cả các đường ô Cầu Giấy, Chợ Dừa, Cầu Dền, Vống Mác, Yên Phụ, các vùng Chợ Bưởi, Nghĩa Đô, và cả từ bên kia sông Hồng, từ Gia Lâm, Ái Mộ, đồng bào nườm nượp kéo về nội thành. 
Đi đầu từng đoàn là các đội tự vệ, trai thì mặc quần áo nâu chẽn ống, đầu trần, gái thì chít khăn vuông, áo nâu, quần thâm nịt ống. Người nào cũng có một thứ vũ khí trong tay: súng, giáo mác, mã tấu, dao phát bờ, câu liêm, liềm, hái… cả bà con nông dân ở thị xã Hà Đông, Thanh Trì, Thường Tín, Đan Phượng, Hoài Đức cũng nô nức về tụ hội…
Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Sau phút mặc niệm tưởng nhớ các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh, ba phát súng báo hiệu lễ chào cờ. Trong tiếng nhạc của bài “Tiến quân ca” hùng tráng, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên giữa quảng trường. 
Vị đại diện Ủy ban quân sự cách mạng Thành phố lên lễ đài đọc lời kêu gọi toàn dân khởi nghĩa. Sau đó cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang, chia ra làm hai đoàn chính đi chiếm các công sở. Một đoàn đi chiếm Phủ Khâm sai (phố Ngô Quyền), Tòa Thị chính (phố Đinh Tiên Hoàng) và Sở cảnh sát Trung ương (phố Hàng Bài). Đoàn trước không gặp sự kháng cự nào đáng kể. 
Đoàn sau, lúc đầu bị quân Nhật dùng xe tăng bít các ngả đường, nhưng sau, trước khí thế của quần chúng, địch phải nhượng bộ. Lực lượng Cách mạng thu được 400 súng và thêm một kho vũ khí. Ngoài ra, các đơn vị tự vệ cũng tỏa ra chiếm được kho bạc, sở mật thám…
Đến đây, chính quyền thành phố đã nắm trọn trong tay quần chúng cách mạng. Cuộc khởi nghĩa ở thành phố Hà Nội đã thắng lợi. 
70 năm trước, người dân cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời trước ngày Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập. 
Ngày 16 - 17/8, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào cả nước nổi dậy.
Ngày 19/8/1945 hàng vạn nhân dân Hà Nội đã xuống đường biểu tình, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cờ đỏ sao vàng ngập tràn trên các tuyến phố.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Từ ngày 14 đến 18/8, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An
Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Hai hôm sau, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà...
Chấp hành lệnh tổng khởi nghĩa của Ủy ban Kháng chiến toàn quốc và kế hoạch của Xứ ủy Nam kỳ, ngay từ đêm 24-8-1945, quần chúng cách mạng của Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận mang theo giáo mác, tầm vông vạt nhọn… bằng mọi phương tiện rầm rập kéo về nội thành để tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. 
                       Giành chính quyền ở Sài Gòn ngày 25-8-1945.
Ngày 28/8/2915, người dân Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền. Như vậy, từ ngày 14 đến 28/8, các địa phương cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
 
                                File:Ngày 28-08-1945, Đoàn giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở quảng trường Nhà hát Lớn - Hà Nội.jpg
Ngày 28/8/1945, Đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở Quảng trường Nhà hát Lớn, Hà Nội

Chiều 30/8/1945 tại Huế, vua Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, trao quốc ấn Hoàng đế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của Chính phủ lâm thời là ông Trần Huy Liệu
                 Các đội quân du kích từ các chiến khu tiến vào Hà Nội, tập trung trước Nhà hát Lớn, ngày 30/8/1945. (Ảnh Tư liệu TTXVN)                              
Thắng lợi của Cách mạng tháng 8/1945 và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả nước. Lần đầu tiên chế độ Dân chủ nhân dân ở Việt Nam ra đời
 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 
 
"Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!", trích Tuyên ngôn Độc lập.

Tại miền Nam, sau khi đảo Pháp, ngày 14/8/1945, Nhật cho phép Bảo Đại cử một Khâm sai đại thần nắm quyền cai trị tại Nam Kỳ đồng thời bổ nhiệm những người Việt thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất vào các vị trí trong bộ máy chính quyền do các viên chức dân sự Pháp đã bị Nhật tống giam. 
Ngày 16/8/1945, người Việt tiếp quản Sài Gòn. Điều này được chào đón như một cuộc cách mạng. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm đến Sài Gòn. Nhật chuyển giao vũ khí cho chính quyền Việt Nam và các đảng phái thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất. 
Trong cuộc họp ngày 22/8/1945 của Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Trần Văn Giàu thuyết phục các đảng phái trong Mặt trận chuyển giao quyền lực cho Việt Minh vì Mặt trận có thể bị Đồng Minh xem là một tổ chức thân Nhật còn Việt Minh lại đang hợp tác với Đồng Minh (tình báo quân sự Mỹ OSS) chống Nhật.
 Ngày 23/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Ngày 25/8/1945, tại Sài Gòn, Việt Minh tuyên bố thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ gồm 9 người đều là thành viên Việt Minh. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra tuyên bố họ là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên thì "với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim, đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy.
Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu. Ông thoái vị với lý do "Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện, và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có lợi cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này rằng đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết. Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao Liệt Thánh vào sinh ra tử trong gần bốn trăm năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa đến Hà Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm mới gần gũi quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ Cộng hòa...". Ông cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể nhân dân.". Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói: "Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị". 
 Ngày 28 tháng 8 thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên cáo cho biết: "Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một Chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa chính thức".
Ngày 24-8-1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới làng Phú Gia (huyện Từ Liêm), hôm sau thì vào nội thành, ở tại nhà số 48 Hàng Ngang.
Ngày 28-8, danh sách Chính phủ lâm thời được công bố trên các báo chí Hà Nội.
Đúng 14 giờ ngày 2-9-1945, các thành viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Sau khi chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập - tự do - hạnh phúc.
Buổi lễ tổng kết bằng “Lời thề độc lập”:
“Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng tôi xin thề: cùng Chính phủ giữ vững nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng”.
Không có dấu hiệu của cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyền sở hữu tư nhân phương tiện sản xuất, chỉ quyết định loại bỏ các quan lại và hệ thống phân cấp hành chính và chính trị cũ của Đế quốc Việt Nam, giải tán các Hội đồng Nhân sĩ và thay bằng các Ủy ban Nhân dân do dân địa phương bầu ra. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện một số cải cách nhưng thận trọng để không tạo ra sự chống đối của giai cấp trung lưu và đại địa chủ...
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói tại Nhà hát lớn Hà Nội. Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc. Chính phủ cũng kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ thực hiện được trong tháng 9 năm 1945 với số lượng không quá 30.000 tấn do chiến tranh bùng nổ khi Pháp đưa quân đội vào Nam Kỳ. 
Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo". Chính phủ cũng chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, hệ thống đê tại miền Bắc đã sửa xong.
Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất. Chính phủ còn vận động tư nhân cho mượn các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất, lương thực làm ra được dùng để cứu tế. Cuối năm 1945 đầu 1946 không còn kịp thời vụ để trồng lúa nữa, nên chính phủ phát động dành phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp hai vụ màu (khoai lang, đậu, bắp...) bù cho phần lúa thiếu hụt. Kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước năm 1945. Chỉ trong 5 tháng từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946 đã đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945.
     Trong năm 1946, nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: "Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ". Giáo sư kinh tế Đặng Phong đánh giá việc giải quyết được nạn đói là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đi theo Việt Minh.
Trong các tài liệu của Việt Minh những ngày đầu sau độc lập chỉ nhắc đến Việt Minh, tuy nhiên những ngày sau khẳng định việt Minh bao gồm Đảng Cộng sản và các tổ chức khác, và nhấn mạnh các cuộc khởi nghĩa trước đó như Bắc Sơn, Nam Kỳ. 
Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản tuyên bố "tự giải tán" (trong khi chiến sự tại Nam Bộ rất ác liệt) đăng tải trên báo Cứu Quốc của Việt Minh ngày 12, kèm tổ chức kỷ niệm ngày sinh Tôn Trung Sơn. Tờ báo đăng tiểu sử nhà đại cách mạng Trung Hoa, cho biết Hồ chủ tịch tham dự chủ tọa buổi lễ do Hội Văn hóa cứu quốc tổ chức, đề nghị nhân dân treo cờ hai nước. Báo cũng cho biết Hiến pháp "ngăn ngừa sự lũng đoạn chính quyền của một giai cấp, một đảng phái, một cá nhân nào". Ngày 13 tháng 11 báo Cứu quốc đã tường trình "Vì những kẻ phản bội quyền lợi dân tộc, cố ý không hiểu chính sách của Việt Minh, phao tin trong dân chúng và dèm pha với các nước Đồng minh rằng Việt Minh là cộng sản sẽ thực hành chính sách cộng sản, mục đích chúng gây sự chia rẽ mặt trận dân tộc, và gieo mối hoài nghi trước thế giới"
Trước đó, báo Cứu quốc ngày 21 tháng 9 đã bác bỏ thành lập Mặt trận công nông thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất với lý do "Đã bao năm dưới ách phát xít Nhật - Pháp chẳng những công nhân bị thất nghiệp, nông dân bị phá sản, cả địa chủ cũng bị cướp thóc, cướp đất, tư sản cũng bị đình đốn kỹ nghệ và thương nghiệp; ngoài ra biết bao các từng lớp nhân dân khác đều chung một tai nạn chết đói chết rét. Việt Minh đã liên kết các giai cấp các tầng lớp nhân dân đó đánh đuổi kẻ thù chung, giành quyền độc lập tự do cho dân tộc... Quyền lợi của giai cấp công nhân và tư sản, nông dân và địa chủ lúc nào cũng mâu thuẫn nhau, nhưng lúc này phải nhân nhượng nhau, phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết".  @
Trước đó, Pháp đã vận động Anh và Mỹ cho phép đặt một phái bộ không chính thức của Pháp ở Hà Nội. Ngày 22-8-1945, Xanhtơni (Sainteny), sĩ quan tình báo của Pháp cùng 4 sĩ quan Pháp khác, theo chân phái đoàn Mỹ do thiếu tá Pati (Patty) - thuộc cơ quan tình báo chiến lược Mỹ Q.S.S (tiền thân của cục tình báo chiến lược Mỹ - C.I.A) chỉ huy, đáp máy bay từ Côn Minh (Trung Quốc) đến Hà Nội. Do mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp mà nhóm Xanhtơni bị cô lập ở Phủ toàn quyền cũ. Mãi hai tháng sau, nhóm này mới được Tưởng cho phép đặt trụ sở không chính thức ở một ngôi nhà gần trường Kỹ nghệ thực hành (ở phố Quang Trung).
Dựa vào sự giúp đỡ của viên tướng Mỹ cố vấn cho Lư Hán là Caladơ (Callagher), Xanhtơni mua được vũ khí của quân Tưởng để trang bị cho lính Pháp ở trong thành. Ngoài ra, nhóm Xanhtơni còn xúc tiến việc liên lạc móc nối với lũ quan cai trị cũ của Pháp đang sống và chờ đợi ở khách sạn Mêtrôpôn (nay là khách sạn Thống Nhất) cũng như làm một số việc xấu xa khác… Tất cả những hành động của nhóm Xanhtơni đều nằm trong mưu đồ phục vụ cho việc tái chiếm Đông Dương của Pháp.
 
                       “Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3-1946”
“Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3-1946”
                       Không có mô tả ảnh.
   Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập trên đường thăm chính thức nước Pháp ngày 9-6-1946
                       Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà lưu niệm của Đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ, tháng 2/1958. (Nguồn: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà lưu niệm của Đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ, tháng 2/1958. (Nguồn: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

Thực ra ý đồ muốn lập lại quyền thống trị Đông Dương của Thực dân Pháp đã có từ lâu. Ngay từ 24-3-1945, chính phủ lưu vong Đờ Gôn đã ra một tuyên bố về Đông Dương, trong đó có đoạn:
“Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền ngoại giao sẽ do Pháp đại diện.
Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang, đứng đầu là một viên toàn quyền và gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó. Chính phủ liên bang sẽ là người trọng tài của 5 xứ. Bên cạnh viên toàn quyền có một hội đồng nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất là 50% số ghế. Một quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp…”.
Đến tháng 6-1945, Lơcléc, một tướng Pháp cừ khôi của chính phủ Đờ Gôn trong chiến tranh thế giới thứ hai, thuộc dòng họ quí tộc có truyền thống binh nghiệp vào hàng lâu đời nhất của Pháp, được Đờ Gôn cử làm tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông. Lực lượng này bao gồm sư đoàn thiết giáp số 2, hai sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 và số 9 (hầu hết là lính châu Phi). Ngoài ra còn có 6.000 lính Pháp bị đuổi dạt sang Trung Quốc từ Bắc - Đông Dương khi Nhật đảo chính và đang ẩn náu ở đó, cùng với khoảng 5.000 lính Pháp bị Nhật bắt giam ở Hà Nội, Sài Gòn… cũng được “đặt dưới sự chỉ huy của tướng Lơcléc”.
Ngày 18-8-1945, Lơcléc cùng bộ phận “tiền trạm” đáp máy bay đi Xri Lanca, liên lạc với tổng hành dinh của tư lệnh lực lượng Anh ở Đông Nam Á, với nhiệm vụ “khẩn khoản đề nghị với Anh cho Pháp được đưa một bộ phận trang bị nhẹ, có tính chất tượng trưng đi theo quân Anh vào tiếp quản miền Nam Đông Dương, trong khi chờ đợi lực lượng viễn chinh tiếp tục kéo vào sau”.
Tuy nhiên, hành động chớp thời cơ cực kỳ mau lẹ của Cách mạng Tháng Tám (chỉ sau Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Đồng Minh có 5 ngày, đã thành công!) làm cho khi Hồ Chủ Tịch trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập và tự do, tại vườn hoa Ba Đình thì cả Anh, Mỹ, Tưởng, Pháp, và nói chung là cả cái đám có tâm hồn không lấy gì làm trong sáng ấy vẫn chưa kịp kéo vào Việt Nam.
Ngày 27-8-1945, đại tá Pháp là Xêdin nhảy dù xuống Hớn Quản, được quân Nhật đưa về Sài Gòn, đã nhân danh ủy viên cộng hòa Pháp ở miền Nam - Đông Dương gặp Ủy ban nhân dân Nam Bộ đòi công nhận bản tuyên bố ngày 24-3 của Đờ Gôn. Ủy ban Cách mạng kiên quyết bác bỏ và còn đòi Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí, Ủy ban Cách mạng cũng tuyên bố sẵn sàng hợp tác với nước Pháp mới.
Ngày 2-9-1945, giữa lúc 50 vạn nhân dân Sài Gòn họp mít tinh mừng ngày Độc Lập thì một số người Pháp nấp trong nhà thờ Đức Bà xả súng bắn vào đám đông, làm chết 47 người và nhiều người khác bị thương.
Với danh nghĩa vào giải giáp quân Nhật ở Đông Nam Á theo Hội nghị Pốtxđam, ngày 6-9-1945, những đơn vị đầu tiên của quân Anh đã đổ bộ vào Sài Gòn. Ngày 11-9, tư lệnh quân Anh là Grêxi (Douglas D. Gracy) đến Sài Gòn. Ngày 12-9, một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 của quân đội Hoàng gia Anh cũng tập kết đến nơi. Đến theo quân Anh có 120 lính thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 của Pháp.

Có một sự kiện ít người biết:  vào đêm 14.8.1945, khi Nhật Bản chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh, một nhóm sĩ quan phản loạn đã tiến hành đảo chính và tiến chiếm hoàng cung ở Tokyo.

       
        Cuộc đảo chính trước giờ nước Nhật đầu hàng                        Người dân Nhật quỳ khóc bên ngoài hoàng cung khi lời tuyên bố đầu hàng của Nhật Hoàng Hirohito phát đi ngày 15.8.1945 - Ảnh: Japan Times
Việc Nhật Bản phải đầu hàng sau khi hứng hai quả bom nguyên tử vào tháng 8.1945 được xem là điều không thể tránh khỏi vào những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai ở Thái Bình Dương. Nhưng đó không phải là suy nghĩ của tất cả sĩ quan Nhật Bản vào lúc ấy.
               
Đại diện của Nhật Bản đứng trên tàu USS Missouri (BB-63) trước khi ký văn kiện đầu hàng

Ngày này đôi khi được nhắc đến như là ngày Chiến thắng Nhật Bản, mặc dù nó thường xuyên được dùng để ám chỉ đến ngày Thiên hoàng Hirohito tuyên bố Huấn lệnh Đầu hàng của Hoàng đế, bản tuyên bố chấp thuận các điều khoản của Tuyên bố Potsdam được sóng phát thanh truyền đi trên toàn đế quốc vào trưa ngày 15 tháng Tám theo Giờ Tiêu chuẩn Nhật Bản.

Phía Nhật ký văn kiện đầu hàng chính thức trước sự chứng kiện của phe Đồng minh trên boong tàu ở vịnh Tokyo vào ngày 2/9/1945. Ảnh: YouTube
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, tháng 7/1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, tháng 7/1959
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thắng cảnh hồ Lasuk (Nga), tháng 7/1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thắng cảnh hồ Lasuk (Nga), tháng 7/1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957
Từ ngày quân Anh đóng quân ở Sài Gòn, tình hình ở đây ngày càng căng thẳng. Bất chấp chủ quyền của Việt Nam, quân Anh hành động rất ngang ngược. Chúng lấy vũ khí của Nhật trang bị cho tù binh Pháp, dùng bọn này thay Nhật tăng cường canh gác ở một số nơi, cấm nhân dân ta mang vũ khí và biểu tình, ra lệnh giới nghiêm ban đêm. Nghiêm trọng hơn, ngày 15-9, Grêxi đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang Cách mạng, buộc quân đội Cách mạng phải rút khỏi thành phố, đòi đặt công an Cách mạng dưới quyền chỉ huy của chúng.
Được sự dung túng của quân Anh, bọn phản động thân Pháp ngóc đầu dậy, ra mặt chống lại Cách mạng, chuẩn bị gây bạo loạn, lật đổ chính quyền…
Ngày 22-9, sau khi quân Anh trả tự do cho tù binh Pháp bị Nhật giam giữ trước đó thì Pháp quyết định nhanh chóng dùng vũ lực đánh chiếm Sài Gòn. Lực lượng của Pháp ở Sài Gòn lúc này gồm có 120 lính thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5, 1.400 tù binh Pháp mới được thả, cùng khoảng 500 Pháp kiều vũ trang, dựa trên thế lực và sự yểm trợ của 2.800 quân Anh với 5.000 quân Nhật được Grêxi ra lệnh tham gia “giữ gìn trật tự”. Đáng lẽ thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo yêu cầu Đồng Minh thì lại ra lệnh cho quân Nhật yểm trợ người Pháp chống lại Việt Minh - một lực lượng đứng về phe Đồng Minh chống phát xít và đã có chủ quyền đất nước. Đó là hành động thực sự bê bối không phải của riêng Grêxi mà là sự thể hiện của những cấu kết thực dân đen tối. Hành động đó rõ ràng là đê hèn và mang tính tội ác đối với nhân dân Việt Nam.
Từ khi quân Anh kéo vào, quân dân Nam Bộ đã nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Chính Phủ, tránh xung đột vũ trang với Anh, và do đó mà đã rút các đơn vị vũ trang thuộc “Đệ nhất sư đoàn” Cộng hòa vệ binh mới thành lập (gồm khoảng 10 ngàn người) ra khỏi Sài Gòn. Trong thành phố chỉ còn lực lượng tự vệ của Công đoàn.
Đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước Việt Nam lần thứ hai.
             Nhân dân Nam Bộ nổi dậy kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh: Báo Quân đội nhân dân)
Nhân dân Nam Bộ nổi dậy kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh: Báo Quân đội nhân dân)

                              
                        Nhân dân Nam Bộ ngăn sông đánh giặc. Ảnh tư liệu (Báo QĐND)             
                                     
Quần chúng Sài Gòn sôi sục căm thù, đòi cho lệnh đánh. Ngày 23-9, vào lúc 10 giờ sáng, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp hội nghị tại ngôi nhà số 625 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi) và đi đến quyết định: hết sức tránh đụng độ với quân Anh và quân Nhật, nhưng kiên quyết đánh trả Thực dân Pháp. Đúng vào 12 giờ trưa ngày hôm đó, nhân dân Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung đã đứng lên theo tiếng gọi của non sông, tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược Pháp. Và thế là:
“Mùa thu rồi
Ngày 23
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Rền khắp trời
Lời hoan hô
Quân dân Nam nhịp bước tiến ra trận tiền
Thuốc súng kém
Chân tay không
Mà đoàn người giàu lòng vì nước
Nóp với giáo
Mang ngang vai
Nhưng thân trai nào kém oai hùng
Cờ phấp phới bay ngang trời
Sao vàng xao xuyến
Khắp nơi bưng biền
Một lòng nguyền với tổ tiên
Ta đem thân ra đền cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Muôn thu sau lừng tiếng anh hào
Người Việt Nam lắm chí cao…”
(Bài hát: “Nam Bộ kháng chiến”)

 

                            NAM BỘ KHÁNG CHIẾN

Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ những lới tâm huyết:
“Hỡi đồng bào Nam Bộ!
Nước ta vừa tranh quyền độc lập thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng, hoặc chạy trốn; nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật hoặc công khai lại mò đến. Trong bốn năm, họ đã bán nước ta hai lần, nay họ lại muốn thống trị dân ta một lần nữa.
Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của một nhà đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!”
Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và đồng bào toàn quốc sẽ hết sức ủng hộ những chiến sĩ và nhân dân đương hy sinh đấu tranh để giữ vững nền độc lập tự do của nước nhà.
Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.
Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa.
Tôi chỉ muốn dặn đồng bào Nam Bộ một lời: Đối với những người Pháp bị bắt trong cuộc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận; nhưng phải đối đãi họ khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp biết rằng chúng ta chỉ đòi quyền độc lập, tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc thông minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

                                            Nam Bộ kháng chiến – Wikipedia tiếng Việt
Nam bộ kháng chiến”.

Một đơn vị Nam tiến tại ga Hàng Cỏ, Hà Nội trước khi lên đường vào Nam chi viện cho mặt trận Nam Bộ năm 1945. Ảnh: baotanglichsu.vn.

Có câu chuyện thế này: trong khoảng thời gian quân Anh vào tiếp quản Sài Gòn để thực thi nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo kế hoạch của Đồng Minh (nhưng với cách làm thật “ngược đời”!) thì một nhóm thuộc lực lượng OSS của Mỹ do trung tá Điuê (A. Peter Dewey) chỉ huy cũng được điều đến hỗ trợ. Chứng kiến cách hành xử của Grêxi, tư lệnh quân Anh, với nhãn quan nhạy bén của mình, Điuê đã thực sự lo ngại. Theo ông thì những hành động của Grêxi là rất tai hại, thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù trong lòng người dân Việt nhằm vào phương Tây. Ông liên tục gửi báo cáo về Mỹ chỉ trích Grêxi. Đáp lại, Grêxi đã lệnh cho Điuê phải rời khỏi Việt Nam. Sáng ngày 26-9-1945, Điuê ra sân bay Sài Gòn, tìm hiểu lịch bay để chuẩn bị về Mỹ. Chiếc xe Jeep ông lái không cắm cờ Mỹ vì lệnh cấm của Grêxi (chỉ có xe của ông ta, trong vai trò tư lệnh, mới được cắm cờ). Xe đang chạy thì đột nhiên Điuê thấy một mớ cây nằm chắn giữa đường, đành phải giảm tốc độ và chạy vòng lách qua. Ngay lúc đó có ba người Việt Nam đứng ở rãnh mương bên đường. Điuê quát họ bằng tiếng Pháp. Tưởng rằng ông ta là sĩ quan Pháp, họ đã đáp trả bằng một tràng súng máy làm bay mất phần sau hộp sọ của ông. Điuê chính là quân nhân Mỹ đầu tiên bị giết tại Việt Nam. Điều quá ư trớ trêu là với nhãn quan nhạy bén của mình, chính Điuê đã tiên tri: “Nam Kỳ đang bốc cháy! Người Pháp và Anh sẽ bị kết liễu tại đây, và chúng ta phải chạy khỏi Đông Nam Á”.
Ngày 3/10/1945, 10.000 quân Pháp do Leclerc chủ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 9/10/1945, Pháp Anh ký thỏa hiệp tại Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vĩ tuyến 16. Đêm ngày 10/10/1945, bộ đội Việt Nam tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Việt Nam giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến. Lực lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của Việt Nam sau hai tuần chiến đấu liên tục. Ngày 16/10/1945, phía Việt Nam ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn do lực lượng Anh, Pháp, Nhật quá mạnh. Không quân Hoàng gia Anh và không quân Nhật tiếp tục ném bom vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam.
Phản ứng trước việc Anh dùng quân đội Nhật tấn công lực lượng Việt Nam, tướng Douglas MacArthur phát biểu: "Nếu có gì đó làm máu tôi sôi lên thì đó là việc tôi thấy các nước Đồng Minh của chúng ta ở Đông Dương và Java sử dụng quân Nhật để đàn áp các dân tộc nhỏ bé này mà chúng ta đã hứa giải phóng. Đó là một sự phản bội kinh tởm nhất.".

Douglas MacArthur
Douglas MacArthur năm 1945
Tiểu sử
Sinh 26 tháng 1, 1880
Little Rock, Arkansas
Mất 5 tháng 4, 1964 (84 tuổi)
Washington, D.C.
 Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một danh tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.
       Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory" (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Chiến tranh thế giới thứ nhất,Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).
  (Còn tiếp)
Khi tới Sài Gòn, Lơcléc đặt sở chỉ huy trong lớp rào bảo vệ của quân Anh. Đến ngày 31-12, đã có 145 chuyến tàu biển chở tới miền Nam - Việt Nam 27.907 lính Pháp và 2.325 xe quân sự. Thực hiện chiến thuật “vết dầu loang”, Lơcléc đã chiếm được một số thành phố, thị xã, thị trấn và các đầu mối giao thông quan trọng. Nhưng cuộc tiến công đánh nống ra đó đã bị ngăn chặn ngày một tích cực và mạnh mẽ bởi cuộc chiến tranh nhân dân đang ngày được củng cố và mang ý chí của cả một dân tộc đồng lòng. Những dấu hiện về khả năng bị sa lầy của đội quân viễn chinh Pháp đã bắt đầu xuất hiện. Tình hình đó đã cho viên tướng mẫn cán Lơcléc thấy rằng nếu quân Pháp thực hiện giai đoạn 2 là “tiếp tục cuộc hành quân ra Bắc - Việt Nam”, nhất định sẽ bị chống cự lại mạnh mẽ hơn gấp bội phần. Hơn nữa, quân Tưởng ở Bắc Kỳ vẫn chưa chịu cho lực lượng Pháp trở lại. Đầu năm 1946, Lơcléc điện báo về Pháp:
“… cho tới nay đã giải tỏa được Sài Gòn và đánh thông ra miền Nam - Trung Kỳ, nhưng đã bị chết 600, bị thương 1.600 binh lính. Việt Minh vẫn đang tiếp tục chống cự quyết liệt. Trung bình mỗi ngày có 3 cuộc đụng độ với Việt Minh. Không còn lực lượng dự trữ nữa. Việc chiếm lại Bắc Kỳ, dù chỉ là một bộ phận, là điều không thể thực hiện được. Không thể nào chỉ với khoảng một sư đoàn mà chinh phục được một xứ sở rộng bằng hai phần ba diện tích nước Pháp, trong đó nhân dân đang hồ hởi, được vũ trang, quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập của mình”.
Bằng nhãn quan quân sự mẫn tiệp của mình, Lơcléc chắc chắn là viên tướng lĩnh Pháp nhìn vấn đề Việt Nam tỉnh táo nhất. Ông này cho rằng đạt được sự thỏa thuận riêng lẻ với Tưởng Giới Thạch (cho phép quân Pháp thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải phóng quân Nhật ở Bắc Kỳ) là không đủ mà phải thương lượng nghiêm chỉnh với Việt Minh và “không nên ngần ngại tuyên bố công nhận nền độc lập của Việt Nam”, nếu muốn đảm bảo an toàn cho quân Pháp kéo vào Hà Nội. Trong một bức thư gửi đô đốc Đácgiăngliơ, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Lơcléc nhấn mạnh:
“Tôi không hề bao giờ có ý định dùng vũ lực thuần túy để chiếm lại Đông Dương. Kinh nghiệm ở Nam Kỳ trong mấy tháng qua đã chứng tỏ, muốn tiến hành thắng lợi công cuộc bình định, phải có những đạo quân lớn, lớn hơn rất nhiều mức quân số chúng ta có thể có được: Vì vậy, trong khi vẫn chuẩn bị cho cuộc hành quân, tôi xin lưu ý ngài Cao ủy về những điểm có lợi hơn, đó là giải pháp hòa bình, tức là một mặt thương lượng với Trung Quốc, một mặt đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh…”
                              
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 06-3-1946 với đại diện Pháp Sainteny.
Ông Hoàng Minh Giám đọc bản hiệp định.
(ảnh tư liệu)


                     Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội. Từ trái qua phải: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Nội vụ Hoàng Minh Giám, Ủy viên Cộng hòa Jean Sainteny, Cố vấn chính trị Leon Pignon, đại diện Đảng Xã hội Pháp Luis Caput (ảnh: Nguyễn Bá Khoản)

                

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái Tổ sau lễ ký.
Nhưng với bản chất thực dân, gắn liền với dã tâm và tính ngạo mạn của nó ở lực lượng cực hữu, trong đó có Đácgiăngliơ, chính phủ Pháp đã khăng khăng đòi dùng bạo lực khuất phục chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa còn non trẻ hòng duy trì chế độ thuộc địa khi xưa.
Đến đây, chúng ta đột nhiên có một liên tưởng đến hai giai đoạn na ná giống nhau về hình thức của hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp. Đó là trong cuộc xâm lược lần thứ nhất có giai đoạn: sau khi chiếm Gia Định, giặc Pháp đánh tỏa ra chiếm lục tỉnh Nam Kỳ rồi tiến ra gây hấn Bắc Kỳ, đánh chiếm Hà Nội rồi đánh tỏa ra chiếm Bắc Kỳ. Song song với quá trình đó là những hiệp ước được ký giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp. Trong cuộc xâm lược lần thứ hai cũng có giai đoạn tương tự: sau khi chiếm Sài Gòn, giặc Pháp đánh lan ra chiếm Nam Bộ, rồi cũng tiến ra gây hấn Bắc Bộ, đánh chiếm Hà Nội rồi mở rộng chiến tranh ra khắp Bắc Bộ. Song song với quá trình đó cũng có những hiệp ước được ký giữa Chính phủ Việt Minh và Chính phủ Pháp. Cũng có thể cho rằng tình thế của hai giai đoạn đó là hao hao giống nhau. Nếu kẻ thù chính của quân dân Bắc Kỳ ở giai đoạn trước là quân Pháp và quân Mãn Thanh thì kẻ thù chính của quân dân Bắc Bộ ở giai đoạn sau là quân Pháp và quân Tàu Tưởng. 
Tuy nhiên đó chỉ là những nét phác giống nhau bề ngoài. Sự khác nhau giữa chúng là hết sức cơ bản, có tính tương phản rõ rệt. Ở giai đoạn trước, đối diện với thực dân Pháp là một triều đình Huế bạc nhược, một Tự Đức đê hèn, ký hiệp ước với Pháp để cầu hòa mà thực chất là rút lui, đầu hàng, bán nước, đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô dịch ngoại bang. Ở giai đoạn sau, đối diện với thực dân Pháp là một Chính phủ Cách mạng trung kiên, một Hồ Chí Minh anh hùng, ký hiệp ước với Pháp cũng để cầu hòa nhưng thực chất là “hòa để tiến”, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ sự thống nhất và độc lập dân tộc vừa mới giành được từ ngoại bang bằng bất kỳ giá nào.
Phải nói rằng giai đoạn từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946 là giai đoạn khó khăn, phức tạp và hiểm nghèo nhất của Cách mạng Việt Nam, khi mà Chính quyền Cách mạng đang trong bước hình thành còn non yếu, trước hàng loạt kẻ thù lăm le bóp nghẹt: giặc Pháp, giặc Tưởng, giặc phản động tay sai, giặc đói, giặc dốt…
Chính trong lúc ngàn cân treo sợi tóc đó, thiên tài của đại anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh vụt sáng chói hơn bao giờ hết.
Đều xuất phát từ quyền lợi ích kỷ của mình, và đều lấy Việt Nam ra làm con bài thương lượng, Cộng hòa Pháp và Trung Hoa Dân quốc đã ký một hiệp ước tại Trùng Khánh (Trung Quốc) vào ngày 28-2-1946, theo đó, Pháp sẽ trả lại cho Tưởng toàn bộ các “tô giới” và “nhượng địa” trên đất Trung Quốc để đổi lại việc Tưởng sẽ đồng ý cho quân đội Pháp kéo vào Bắc - Đông Dương thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Cũng theo hiệp ước này thì quá trình thay thế sẽ được tiến hành từ ngày 1 đến ngày 15 và hoàn tất vào ngày 31-3-1946 theo một kế hoạch đã bàn định giữa Pháp và Tưởng cũng tại Trùng Khánh.
Việc ký hiệp ước Pháp - Trung đã tạo ra một tình thế hết sức nguy hiểm. Nếu Pháp tiến quân vào Bắc - Việt Nam thì dù với chiêu bài “tiếp quản” vẫn là nhằm thực hiện âm mưu xâm lược. Do đó, buộc quân dân miền Bắc phải chiến đấu để bảo vệ thành quả cách mạng. Sự bùng nổ chiến sự sẽ tạo ra cái cớ là tình hình không ổn định để quân Tưởng ở lại làm thế lực cho bọn phản dân hại nước Quốc Dân Đảng đánh phá chính quyền Việt Minh. Hơn nữa, một cuộc chiến đấu xảy ra sớm như vậy mà còn phải chống lại cùng lúc ba kẻ thù Pháp, Tưởng, bè lũ tay sai phản động, sẽ không những không tạo ra được khoảng thời gian quí báu, cần thiết để Việt Minh chuẩn bị chu đáo kỹ càng hơn cho Toàn quốc kháng chiến mà còn tạo ra sự bao vây, chia cắt đối với lực lượng vũ trang Cách mạng đang trong thời kỳ củng cố.
                          
Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông dương lần thứ VIII (5/1941) 
 
  Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người về nước triệu tâp hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Mục đích của cuộc Cách mạng Tháng 8 là độc lập - tự do. Sự kiện Pháp gây hấn, đánh chiếm Nam Bộ đã lộ rõ ý chí quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa của chúng. Do vậy lúc đó, kẻ thù số một và nguy hiểm nhất của dân tộc Việt chính là thực dân Pháp. Một cuộc kháng chiến toàn diện chống Pháp là không thể tránh khỏi. Nhưng cần phải trì hoãn càng lâu càng tốt thời điểm xảy ra cuộc chiến tranh đó (không làm xuất hiện cuộc chiến tranh đó là tốt nhất, nhưng nếu như thế thì hoặc Cách mạng phải rời bỏ mục đích độc lập, tự do của mình, hoặc thực dân Pháp không còn mang… bản chất thực dân nữa!), để vừa có thêm thời gian chuẩn bị tổ chức lực lượng đánh lâu dài, vừa (và đây là điều tối quan trọng) cho quân Tưởng rút hết đi (kéo theo là sự tan rã của bè lũ phản động trong nước), chỉ còn phải “đấu tay đôi” với Pháp. Thực hiện được điều này là rất khó khăn, tài năng không xuất chúng sẽ không làm được.
Dân tộc Việt đã đặt nhiệm vụ nặng nề đó lên vai Hồ Chí Minh, người con ưu tú nhất của mình trong một thời đại, vị đại anh hùng dân tộc mà phải trăn trở suốt hơn 150 năm, tính từ khi Quang Trung - Nguyễn Huệ băng hà, đất nước Việt Nam mới hun đúc nên được.
Còn Hồ Chí Minh thì chủ động đứng ra nhận lãnh gánh vác trách nhiệm đó và đã hoàn thành sứ mạng mà dân tộc Việt Nam trao cho, một cách tuyệt vời nhất: kết quả tuyệt vời, phong thái tuyệt vời. Không đao to búa lớn, không phùng má trợn mang, cũng không yếu mềm bạc nhược, không ủ dột van nài, cương trong nhu, nhu trong cương, không phải nhu mà cũng không phải cương, không kiêu mà cũng không nản, cứ thản như nước chảy thì bèo trôi, ấy vậy mà việc thành. Như thế không phải là tuyệt vời nhất sao? Đọc những tư liệu lịch sử ghi chép những hồi ức, cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá của các nhân vật từng trực tiếp tham gia, trực tiếp đối mặt với Hồ Chí Minh, và của các học giả nghiên cứu lịch sử ở cả hai phía bạn, thù về quãng đời hoạt động của ông trong những ngày tháng ấy (chưa cần nói đến cả cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước quên thân của ông), chúng ta thấy ở con người Hồ Chí Minh tỏa ra, ánh lên cái ý chí chủ động tiến công của Lý Thường Kiệt, cái đĩnh đạc xác quyết của Trần Hưng Đạo, cái ung dung thấu triệt của Nguyễn Trãi, cái kiên định sắt đá của Nguyễn Huệ. Như thế không phải là tuyệt vời nhất sao?

                                           
 
Trên tàu Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long, ngày 24/3/1946. Từ trái sang phải: Hồ Chí Minh, Jean Sainteny, Tướng Leclerc, và Thống Đốc Thierry d’Argenlieu.

 

Tác giả Jean Sainteny và Hồ Chí Minh trên đường đến Vịnh Hạ Long. Lên tàu Catalina ngày 24/3/1946. 
Tựu trung lại, phương châm hành xử của Hồ Chí Minh trong giai đoạn ngặt nghèo đó là theo thời lựa thế, dĩ bất biến ứng vạn biến… và như thế, đó cũng chính là sự biểu hiện của cái quan niệm vô vi vô bất vi (trông như không làm mà lại làm được tất cả) của Đạo Gia. Sự thể hiện của Hồ Chí Minh trong những nhận định hết sức tinh tế của ông về thị phi, trong sự đối xử hết sức nhã nhặn và đầy nhân văn của ông ngay với cả kẻ thù xâm lược, trong sự yêu thương trìu mến của ông khi nói đến Đại Chúng, đến “người cùng khổ”, trong tình cảm thiết tha của ông đối với nền độc lập - tự do của dân, của nước, trong thái độ của ông đối với chiến tranh và trong sự căm ghét của ông đối với cường bạo, áp bức, bất công, đã làm cho tâm hồn cộng sản của ông, hóa ra lại rất gần gũi với tâm hồn Lão Tử, một đại hiền triết của phương Đông cổ đại.
Theo King C. Chen, nhà nghiên cứu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc thì ngay từ ngày 18-8-1945 đã có những tiếp xúc và thương lượng Pháp - Việt. Lúc đó Hồ Chí Minh đã đưa ra 5 điều kiện mà nội dung chủ yếu là sự độc lập của Việt Nam, đổi lại Việt Minh sẵn sàng chấp nhận người Pháp làm cố vấn “chống ngoại xâm”. Mà ngoại xâm là ai nếu không phải là quân Tưởng như sau này đã thấy? Thật rõ, Hồ Chí Minh đã “gợi ý” người Pháp chọi lại người Trung Hoa khi mà quân Tưởng còn chưa kéo vào chiếm đóng Bắc - Việt Nam.
       Ngày 20/8/1945, Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam. Ngày 30/9/1945, Nguyễn Hải Thần dẫn đầu một phái đoàn tới gặp Tiêu Văn (cuối tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng do Lư Hán làm tổng chỉ huy, Tiêu Văn làm phó tư lệnh vượt biên giới Việt-Trung tiến vào Việt Nam) để thảo luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối tháng 10/1945, bảy đảng viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần" với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần". Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp.
 
  •                    
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội và du kích đi tham gia Chiến dịch Biên Giới đóng quân ở huyện Phục Hòa, Cao Bằng (3.1951). Nguồn ảnh: Tư liệu

Bác Hồ đến thăm các đơn vị bộ đội tham gia chiến dịch biên giới – Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát núi Báo Đông (Ảnh: Tư liệu)

 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đường đi công tác ở Việt Bắc. Nguồn ảnh: Tư liệu từ www.facebook.com
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đường đi công tác ở Việt Bắc.  Nguồn ảnh: Tư liệu
                      Ngày 1-5-1952: Nhớ lời Bác căn dặn: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”  
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất (1.5.1952). Nguồn ảnh: Tư liệu
                   Có thể là hình ảnh về văn bản 
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ (xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên cuối năm 1953). 

       Tuy nghi ngờ, thậm chí thù địch nhau nhưng các thành viên Việt Minh và Việt Quốc vẫn gặp nhau thậm chí còn ký kết các thỏa thuận. Ngày 29/9/1945, Nguyễn Lương Bằng (Việt Minh) và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) gặp nhau và đồng ý chấm dứt xung đột, thả tù nhân và ngừng lên án nhau công khai. Ngày 19/11/1945, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán thành lập chính phủ liên hiệp, quân đội thống nhất và kết thúc cuộc đấu tranh đảng phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày 24/11/1945, sau buổi lễ trước trụ sở Việt Quốc, lãnh tụ 3 tổ chức Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc ký bản ghi nhớ cam kết các bên sẽ không tấn công lẫn nhau, đi đến thống nhất và hỗ trợ Nam Bộ kháng chiến.
        Ngày 23/12/1945, Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch.
Do các đảng phái đối lập phản đối nên Hồ Chí Minh đồng ý loại Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu ra khỏi nội các. Các bên tổ chức Hội nghị và họp nhiều lần để thảo luận ai sẽ nắm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ đồng thời làm thế nào chia sẻ quyền lực trong Vệ quốc quân. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là thành viên Việt Minh. Các đảng phái đối lập hy vọng Phan Anh sẽ chống lại việc Việt Minh cố gắng nắm toàn bộ Bộ chỉ huy và Bộ tổng tham mưu Vệ quốc quân nhưng họ sẽ thất vọng. Hội nghị cũng xem xét các nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn và Trần Đình Nam xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại vì quá chống cộng còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người còn lại, Hồ Chí Minh đã chọn Huỳnh Thúc Kháng. Ông gửi điện cho Kháng và cử sứ giả đến gặp ông này. Huỳnh Thúc Kháng miễn cưỡng chấp thuận. Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín khắp cả nước. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại. Các đảng này cho là "trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản", "chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được". Hai đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử và đề nghị hai bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc.

Chỉ 4 tháng sau ngày đất nước giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng đã quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Người đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân Việt Nam, tận tay tham gia bỏ phiếu bầu cử tại các kỳ Tổng tuyển cử trong cả nước.         
                                Ngày 6-1-1946: Ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên 
Báo Quốc hội, số đặc biệt ngày 6-1-1946 đã trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả bút tích lời kêu gọi của Người. Ảnh tư liệu .
Giấy chứng minh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứng nhận cụ Hồ Chí Minh là đại biểu tỉnh Hà Nội tại Đại hội đại biểu toàn quốc năm 1946. Ảnh tư liệu: TTXVN
Giấy chứng minh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứng nhận cụ Hồ Chí Minh là đại biểu tỉnh Hà Nội tại Đại hội đại biểu toàn quốc năm 1946.    Ngày 6-1-1946: Ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu
       Theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh. Nhưng theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng.  Đa số đại biểu trúng cử không phải là thành viên Việt Minh Trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên", đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ trích và không tham gia bầu cử.
      Sau khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946. Theo thỏa thuận với Việt Minh, phe đối lập bao gồm một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) cùng một số vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. Hai mươi thành viên Việt Cách trở thành đại biểu quốc hội bằng một sắc lệnh hành pháp. Hồ Đắc Thành và Bồ Xuân Luật ứng cử và cũng trở thành đại biểu quốc hội. Ngày 2/3/1946, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Nguyễn Đình Tri của Việt Cách làm bộ trưởng xã hội. Theo David G. Marr, Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì một lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng chí của Phan Bội Châu, được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh.

                                                  
                                                                Nguyễn Hải Thần

     Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng. 
      Võ Nguyên Giáp kể lại: "Chúng tôi phải trừng trị bọn phá hoại... Nhưng bằng mọi giá phải tránh khiêu khích và đảm bảo không xảy ra xung đột lớn". Võ Nguyên Giáp dùng lực lượng tự vệ và các hội viên Hội Cứu Quốc phá các cuộc biểu tình này. Khi có lộn xộn, lính Trung Quốc bắn chỉ thiên, xông vào giải tán đám biểu tình để vãn hồi trị an. Việt Nam Quốc dân Đảng hoảng hốt khi người Trung Hoa không giúp được gì nhiều trong việc chống lại Việt Minh như họ mong đợi. 
       Ông Nguyễn Duy Thanh, một người theo chủ nghĩa quốc gia buồn rầu nhớ lại: "Không có Trung Hoa ủng hộ, những đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia chẳng thể đối phó được với những người Cộng sản".

                                                            

                                            Tập đánh máy hồi ký vụ án Ôn Như Hầu của cụ Nguyễn Tạo.


Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới Thạch và do bất đồng về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt mùng 6 tháng 3 đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ Việt Cách là Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Quốc Vũ Hồng Khanh trong chính phủ và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Mặc dù Hồ Chí Minh giữ độc quyền liên lạc với Pháp với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc. 
       Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp. Còn theo David G. Marr, Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn. Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài.

          Cụ Nguyễn Tạo sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở làng Thái Yên (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Năm 1923, khi vừa 18 tuổi, Nguyễn Tạo trốn nhà đi làm cách mạng, 3 năm sau tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng. Trong một bản viết tay gửi gia đình cụ Nguyễn Tạo ngày 23-9-2002, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Năm 1929, tôi ra Hà Nội tìm gặp anh Nguyễn Tạo, còn gọi là Tạo Rỗ, lúc đó là người phụ trách kỳ bộ Tân Việt Bắc Kỳ để bàn chuyện chuyển Tân Việt thành tổ chức cộng sản. Anh Tạo đồng ý và đề nghị lấy tên là Tân Việt Cộng sản Đảng…”.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Nguyễn Tạo chủ yếu hoạt động trong ngành Công an với các chức vụ như Giám đốc Nghệ An Công an Cục, Trưởng ban Trinh sát Sở Liêm phóng Bắc Bộ, Trưởng phòng Điệp báo Nha Công an Việt Nam… Trong thời gian này, đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật, trong đó có quá trình tham gia chỉ đạo phá vụ án Ôn Như Hầu, Hà Nội. 
     Đến ngày 12-7-2016, vụ án phố Ôn Như Hầu xảy ra đã tròn 70 năm và ngày này đã được lấy là Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân. Thời gian qua báo chí trong nước, nước ngoài đã viết khá nhiều về diễn biến vụ án, cũng có một số phần tử còn xuyên tạc sự thật lịch sử, cho là cộng sản lúc đó đã dựng lên “vở kịch” này nhằm đàn áp đảng phái khác. Là người trực tiếp chỉ đạo đánh án, cụ Nguyễn Tạo từng viết hồi ký nói rõ diễn biến vụ án cùng bộ mặt thật của tổ chức Đại Việt Quốc dân Đảng, thủ phạm gây án. Ông Nguyễn Thanh Sơn, con trai cụ Nguyễn Tạo đã cung cấp cho người viết một bản đánh máy 20 trang của cha mình, tiêu đề “Vụ giết người ở Ôn Như Hầu”, tác giả P.D (tức Phủ Doãn, một bí danh hồi hoạt động bí mật của cụ Nguyễn Tạo). Có thêm dòng viết tay cùng chữ ký của tác giả trên đầu bản hồi ký: “Đồng chí Lê Hữu Qua. Anh xem, nếu có gì thêm bớt anh cho biết. 5-8-1970”. Thiếu tướng Lê Hữu Qua, thuộc Tổng cục An ninh, Bộ Công an, ngày đó là một trợ thủ đắc lực của cụ Nguyễn Tạo trong vụ án. 
       Sớm ngày 10.7.1946, Công an quận (CAQ) I (nay là quận Hoàn Kiếm) nhận được tin báo của có một xác chết nổi trên hồ Ha-le (nay là hồ Thiền Quang) trên phố Nguyễn Du. Theo chỉ đạo của ban chỉ huy CAQ, một tổ công tác gồm Lê Thiết Hùng, Nguyễn Văn Khâm và Nguyễn Văn Bảo trong lực lượng công an xung phong (CAXP) khẩn trương tới hiện trường...
      Đó là biểu hiện của một âm mưu rất lớn.
      Trích hồi ký: “18 giờ chiều hôm 11-7-1946, trong một gian phòng nhỏ, chỉ vẻn vẹn có hai cái ghế dài và một cái bàn gỗ tạp ở trụ sở Nha Công an (phố Trần Bình Trọng), đồng chí Lê Giản, Tổng giám đốc Nha Công an, đồng chí Nguyễn Tuấn Thức, Trưởng ty Công an Hà Nội và tôi, Trưởng phòng Điệp báo Nha Công an đón tiếp đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong ngót tháng nay, chúng tôi liên tiếp báo cáo lên Trung ương Đảng và Chính phủ về vụ Việt Nam Quốc dân (VNQD) Đảng phối hợp với bọn chỉ huy quân đội thực dân Pháp đóng tại nội thành Hà Nội âm mưu gây rối loạn, cướp các cơ quan và bắt cán bộ Đảng, Nhà nước ở thủ đô Hà Nội. Đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa ngồi xuống ghế, không cần giới thiệu, với thái độ bình tĩnh hỏi chúng tôi: “Các đồng chí cho biết cụ thể kế hoạch của chúng nó”. Đồng chí Lê Giản bảo tôi: “Anh theo dõi các tổ chức phản động, anh báo cáo cụ thể âm mưu của chúng nó”. Tôi nói: “Chúng tôi có nhiều nguồn tin khác nhau, tổ chức Đại Việt Quốc dân Đảng (trong VNQD Đảng) định phối hợp với quân đội viễn chinh Pháp đóng tại nội thành Hà Nội bạo động, cướp chính quyền vào ngày 14-7-1946. Cụ thể kế hoạch của chúng là: Nhân ngày 14-7, Quốc khánh Pháp, quân đội Pháp sẽ đi duyệt binh các đường phố lớn Hà Nội, thẳng phố Huế xuống Bạch Mai. Đảng viên Đại Việt trang bị súng trường, súng ngắn, lựu đạn nấp trên mái nhà hoặc các tầng gác ở các cơ sở bí mật, nhất là dọc phố Huế, ném lựu đạn, bắn súng vào các đơn vị lê dương, lính thuộc địa Pháp. Giặc Pháp sẽ lấy cớ Việt Minh đánh quân đội viễn chinh Pháp, vi phạm Hiệp định Sơ bộ. Quân đội Pháp sẽ bất ngờ đánh chiếm các cơ quan công an, đài phát thanh, Bắc Bộ phủ, các đơn vị Vệ Quốc quân, các trụ sở Việt Minh, sau đó đưa ngay bọn thủ lĩnh Đại Việt lên lập chính phủ lâm thời”. “Anh cho tôi biết những tổ chức lấy tin của anh”-Đồng chí Võ Nguyên Giáp lại hỏi…”. Đoạn này người viết hồi ký nêu khá nhiều trang cụ thể về lai lịch hai “đặc tình” là P.H bí số H120 và C3… Rồi viết tiếp: “…Hai tổ điệp báo này không hề biết nhau, nhưng nhiều tin tức ăn khớp nhau. Đồng chí Võ Nguyên Giáp ngắt lời tôi, nói: Hôm qua tướng Pháp Sa-lăng (Salan) gọi điện thoại sang Quốc phòng chính phủ ta xin duyệt binh nhân ngày 14-7 trên các đường phố Hà Nội. Tôi nghĩ: Như vậy có thêm một chứng cớ là chúng đã phối hợp với nhau. Đồng chí Giáp nói tiếp: Các đồng chí biết rõ chúng như vậy, cách đối phó ra sao? “Chúng tôi tin, sẽ đập tan được âm mưu của chúng, nhưng còn phải chờ chỉ thị của Trung ương”-Tôi nói. Đồng chí Võ Nguyên Giáp bảo: Buổi sáng mai (12-7-1946) tôi sẽ trả lời.
        20 giờ ngay đêm đó (11-7) đồng chí Lê Giản lại triệu tập đồng chí Bùi Đức Minh, đồng chí Lê Hữu Qua và tôi thảo luận kế hoạch đối phó. Câu hỏi cần giải đáp: Đã cấp thiết phải phá vụ án này chưa? Tôi khẩn khoản: Cần đánh ngay!... Tôi được ủy nhiệm cố lấy cho được một vật chứng, tờ hiệu triệu hay tờ truyền đơn cổ động bạo động. 24 giờ đêm hôm đó (11-7), C3 lại bí mật báo tin cho tôi: Lời hiệu triệu và tờ truyền đơn lật đổ chính quyền cộng sản đã in xong, một số đã gửi đi các cơ sở bí mật. Năm giờ sáng mai thì các trụ sở công khai của Quốc dân Đảng sẽ phân tán rút hết người, tài liệu vào bí mật. Trước trụ sở vẫn treo cờ VNQD Đảng và chỉ còn một tên mặc đồng phục “tàu vàng” đứng gác. Ngày 14-7, chúng nhất thiết bạo động. Như vậy chỉ còn 5 tiếng đồng hồ nữa, nếu không nhanh tay xử lý, có thể rất nguy hiểm cho đất nước..."
 
                     Các thành viên Đội trinh sát đặc biệt.
Đội trinh sát đặc biệt, đơn vị chủ chốt trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng ngày 12-7-1946.

....Tới nơi, Bảo lội xuống hồ để vớt thi thể người chết – là nam giới chừng 28 tuổi. Còn Khâm ấn vào bụng nạn nhân, thấy không có nước, phán đoán nạn nhân chết trên cạn, sau đó mới bị quẳng xuống hồ. Sau khi đưa thi thể nạn nhân đến nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức), kết quả khám nghiệm trùng khớp với nhận định của tổ công tác. Xác định là vụ án hình sự nghiêm trọng, CA Hà Nội đã triển khai các biện pháp nghiệp vụ truy xét hung thủ.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, một số trinh sát có mặt trong một quán bán thịt chó ở chợ Đuổi. Lúc này quán rất đông khách, nhưng câu chuyện của 4 vị khách ở bàn bên đã không thể lọt qua tai mắt các chiến sĩ công an. Khi nghe các vị khách xì xầm bàn tán: “Quân Tưởng đã rút, quân đội Pháp đã kéo vào Hà Nội, sẽ thuận lợi cho ta nhiều hơn cả quân Tưởng. Ông nào làm chuyện ở hồ Ha-le rất sơ hở…đã dọn đường cho công an Việt Minh theo dõi…”, các trinh sát đã bí mật lên xe xích-lô theo họ về phố Ôn Như Hầu. Trước đó, những người dân ở phố Ôn Như Hầu thấy một nhóm người đi cùng một phụ nữ vào nhà số 7 phố này. Sau đó mấy ngày, không thấy phụ nữ này quay ra (?).
Sáng 12.7, các mũi công tác của lực lượng CAXP nhận được lệnh tập trung tại trụ sở CAQ I. Đồng chí Trần Dung – trưởng CAQ – khen ngợi lực lượng CAXP đã thu thập được nhiều thông tin có giá trị cho ban chuyên án, đồng thời quán triệt lệnh của Nha CA và Ty CA Hà Nội về cuộc tổng trấn áp bọn Quốc dân đảng để vạch trần âm mưu gây bạo loạn, cướp chính quyền của chúng.
Ngay đêm 12.7, anh em được trang bị súng tiểu liên, cạcbin, sắc phục CA tề chỉnh, đeo phù hiệu, phân hiệu CAXP Quận I cùng lực lượng trinh sát CA Hà Nội nhanh chóng áp sát cổng trụ sở Quốc dân đảng ở 132 phố Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), khiến bọn phản động không kịp trở tay. CA đã bắt gọn 20 tên phản động, thu giữ nhiều tài liệu, chứng cứ, trong đó một hòm sắt đựng tài liệu mật là “Kế hoạch đảo chính Chính phủ Hồ Chí Minh”.
Tại số 7 phố Ôn Như Hầu, CA Hà Nội nhanh chóng bắt gọn toàn bộ bọn Quốc dân đảng, trong đó có tên đầu sỏ Phan Kích Nam. Khám xét toàn bộ ngôi nhà, ngoài việc thu được nhiều súng, 1 kiếm của Phan Kích Nam, nhiều tài liệu gây rối, một số dụng cụ tra tấn, làm bạc giả và thuốc mê, CA Hà Nội đã giải thoát một ông cụ ở phố Hàng Bông bị bọn chúng bắt cóc để tống tiền, đang bị trói, giam ở gầm cầu thang, đồng thời phát hiện thi thể một nam giới và một nữ giới bị bọn Phan Kích Nam hãm hại, chôn ở trong vườn. Cùng thời điểm trên, hệ thống trụ sở Quốc dân đảng ở 80 Quán Thánh, Nguyễn Du, chùa Ngũ Xã, phố Lò Đúc, chợ Đuổi cũng bị triệt phá. Ta bắt sống gần 300 tên, thu giữ nhiều vũ khí, máy in truyền đơn, loa phóng thanh, đài điện báo cùng nhiều tang vật nhằm gây bạo loạn, chống phá chính quyền cách mạng còn non trẻ của ta.
Với kết quả khám phá nhanh vụ Ôn Như Hầu, CA Hà Nội đã đập tan âm mưu đen tối lật đổ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà của bọn Quốc dân đảng câu kết với bọn phản động bên ngoài, góp phần ổn định an ninh quốc gia đang ở thời điểm ngặt nghèo “thù trong, giặc ngoài”. Chiến công đó đã ghi vào lịch sử truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.


                                nha-so-7-pho-on-nhu-hau-xua.jpg 
                          Trụ sở chính của Việt Nam Quốc dân đảng ở số 7 phố Ôn Như Hầu xưa.


Vụ Ôn Như Hầu
Tài liệu được công bố của đảng cộng sản Việt Nam nói rằng tại số 7 Ôn Như Hầu, Hà Nội, có nhiều căn hầm dùng làm nơi giam giữ và tra tấn với nhiều dụng cụ còn dính máu. Khai quật trong vườn chuối có nhiều xác người mà Quốc dân đảng đã thủ tiêu.
Người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói rằng trong đó có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành phố Hà Nội lại như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật.
- Ông Trần Tử Thanh
Trả lời về thông tin này, ông Trần Tử Thanh, hiện là Chủ tịch Hội đồng đại biểu Quốc dân đảng, hiện sống tại Virginia, Hoa Kỳ cho rằng:
“Lúc đó Việt Nam quốc dân đảng chúng tôi mới nhận trụ sở Ôn Như Hầu mới có vài tháng thôi. Người nhà thầu đến sửa sang trụ sở đó cho Quốc dân đảng làm việc, sau này có kể lại là khi ông ta vào làm việc thì thấy trong khu vười chuối có vài ngôi mộ, hỏi ra thì mới biết là mộ đó của những người Trung Hoa quốc gia họ sang đây bị bệnh chết, rồi chôn ở đó. Dựa vào đó người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói rằng trong đó có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành phố Hà Nội lại như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật.”
Ông Thanh còn thuật một câu chuyện là đêm hôm trước công an Việt Minh có đến lấy một số tử thi ở nhà xác thành phố, và sau đó đem đến số 7 Ôn Như Hầu, nói là do Quốc dân đảng giết hại.
Cũng theo tài liệu chính thức của Việt Nam thì vụ tấn công trụ sở Quốc dân đảng ở số 7 Ôn Như Hầu, cũng như hàng loạt cơ sở khác là nhằm để đập tan một âm mưu đảo chính lật đổ chính phủ.
Ông Trần Tử Thanh không đồng ý:
“Vụ đảo chánh lật đổ chính phủ thì chính ngay ông Võ Nguyên Giáp cũng đã liên hệ với một sĩ quan của Pháp để chính thức xin yểm trợ cho ông ta một số vũ khí tối tân, cũng như một số sĩ quan Pháp, để ông ta tấn công vào các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng. Thì như vậy làm sao nói Việt Nam Quốc dân đảng liên hệ với Pháp được, tài liệu của những người cộng sản sau này cũng có đề cập đến vấn đề đó.”
(Không trực tiếp chứng kiến mà nói, dù có tâm tốt chăng nữa, thì cũng chỉ là dựng chuyện, xuyên tạc, không đáng tin!)
 
                                             
Mệnh lệnh sự vụ được ký bởi Trưởng ban Lê Hữu Qua ngày 12 tháng 7 năm 1946
                               
      Nhưng theo sử gia David G. Marr, việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn).
Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng. Tấn kịch bi hài mà Hồ Chí Minh khôn khéo dàn dựng cho bè lũ cơ hội mùa may như những con rối đã hạ màn! 
                    
                                       Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà cách mạng Nguyễn Tạo. Ảnh tư liệu 
Tình hình thực tế đã làm cho Pháp thấy không thể phớt lờ sức mạnh quân sự của một chính quyền được nhân dân ủng hộ nếu muốn tiến quân suông sẻ ra Bắc Bộ cho dù quân Tưởng đã “mở cửa”. Trong suốt năm 1946, mặc dù hai bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh. 
Tháng 2/1946, tại Lai Châu, lực lượng vũ trang của Việt Quốc và Vệ quốc quân lần lượt giao tranh nhỏ với Pháp. Việt Quốc rút về Lào Cai còn Vệ quốc quân rút về Sơn La. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. Do đó cùng với quá trình thương lượng ký hiệp ước với Trung Quốc, Pháp cũng xúc tiến việc thương lượng với Chính phủ Việt Nam. Cuộc thương thuyết Pháp - Việt được thực hiện bởi đại diện của nước Pháp là viên trung tá tình báo, Ủy viên Cộng hòa Xanhtơni và đại diện của Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi hiệp ước Pháp - Trung được ký kết (mà không đếm xỉa gì đến ý kiến của chính phủ Việt Nam), và được công bố vào ngày 1-3-1946, thực dân Pháp đã chớp thời gian, ngay lập tức tổ chức lực lượng, dự định ngày 6-3 đổ bộ vào thành phố Hải Phòng (thực tế, ngày 7-3, 5.000 quân Pháp đã đổ bộ được vào đó), ngày 9-3 sẽ tiến vào Hà Nội.

                                Không có mô tả ảnh.
             Một góc phố tại Hải Phòng bị pháo hạm của Pháp bắn phá - Ảnh Internet.
 
Sáng 6 tháng 3 năm 1946, hạm đội Pháp do Leclerc chỉ huy tiến vào cảng Hải Phòng. 8h30, quân Pháp tiến đến cửa sông Cấm. Quân Trung Hoa Dân quốc đóng ở dọc sông nổ súng. 15 phút sau, quân Pháp bắn trả. Kho đạn của quân Trung Hoa ở cảng bị bốc cháy. Một số tàu Pháp bị bắn thủng. Quân Pháp chịu nhiều thương vong. Chiến sự kéo dài đến 11h trưa.
Tối hôm đó, Hiệp định sơ bộ được ký kết với sự thỏa thuận của hai bên Pháp-Việt. Theo đó, quân Pháp mới đủ điều kiện để vào bắc vĩ tuyến 16.
Ngày 30/10/1946 Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương ra mệnh lệnh số 938- PC cùng với toàn bộ kế hoạch chi tiết triển khai đánh chiếm Hải Phòng. Điều này buộc quân và dân Hải Phòng nổi dậy.
     Hải Phòng là cửa ngõ đường biển quan trọng có vị trí đặc biệt ở miền Bắc. Tại đây, Pháp bố trí một lực lượng mạnh, đặc biệt là pháo binh và thiết giáp, bao gồm: Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma-rốc 4; Trung đoàn chiến xa cơ động và một bộ phận thủy quân, không quân; tổng cộng khoảng 3000 quân. Về phía ta có Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn, 1 đại đội công an xung phong, 1 trung đội thủy quân cùng lực lượng tự vệ và nhân dân thành phố Hải Phòng.
      9 giờ sáng ngày 20/11/1946, quân Pháp gây ra xung đột trên bến Tam Kỳ, xả súng bắn vào chiến sĩ và dân thường. Sau đó, chúng liên tục thực hiện các vụ nổ súng tấn công vào các vị trí trọng yếu trong thành phố bất chấp những thỏa thuận ngừng bắn tạm thời đã ký kết trước đó. Trắng trợn hơn, chúng gửi tối hậu thư đến Ủy ban bảo vệ thành phố, đòi giải tán các lực lượng vũ trang của ta ra khỏi khu vực nội thành. Va-luy, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương từ Sài Gòn yêu cầu Chỉ huy quân Pháp tại Hải Phòng Đép-bơ: “Phải lợi dụng vụ rắc rối ngày 20 để củng cố thêm vị trí Hải Phòng của chúng ta”.
     Sự kiềm chế của quân và dân Hải Phòng đã đến ranh giới tận cùng. Ngay khi các xung đội xảy ra, Ủy ban bảo vệ thành phố đã phát lệnh “chuẩn bị tác chiến”. Ngay lập tức, các hàng rào, chiến lũy được xây dựng tại các ngã tư quan trọng trong thành phố ngăn chặn các hướng tấn công của địch.

Tàu chiến Pháp khiêu khích ở cảng Hải Phòng, ngày 5-3-1946

     Ngày 21/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Moóclie, Chỉ huy quân sự miền Bắc Đông Dương. Trong thư, Người đề nghị hai bên cần thương lượng đề có giải pháp và trở về “Tình trạng trước ngày 20/11 nhằm ổn định tình hình ở Hải Phòng”.
     Phớt lờ đề nghị thương lượng, sáng 23/11/1946, quân Pháp tiến công khắp nơi trong thành phố. Máy bay địch oanh tạc liên tiếp, pháo hạm từ ngoài biển bắn dữ dội vào các vị trí của ta trong nội thành và khu vực lân cận, nhất là khu vực Nhà hát thành phố, nhà ga, bưu điện, nhà đốc lý,… hòng hủy diệt thành phố. Bất chấp sự tiến công ồ ạt của kẻ thù, quân và dân thành phố vẫn kiên cường bám trụ. Dựa vào từng ổ đề kháng, tường nhà, góc phố, các chiến sĩ chiến đấu anh dũng, hiệp đồng đánh cả mặt trước, sau lưng, bên sườn quân địch, không cho chúng tiến công, giữ vững trận địa.
   Trước tình hình đang diễn biến nghiêm trọng, trưa ngày 23/11/1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, Người kêu gọi “toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải sẵn sàng bảo vệ chính quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của ngoại kiều”.
      Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chí Minh, quân và dân thành phố Hải Phòng đã thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quyết bảo vệ vị trí cửa ngõ Đông Bắc của Tổ quốc. Quân ta tổ chức nhiều cuộc phản kích ở khu vực nhà ga, Ngã Sáu, Phố Khách, phố Ba Ti, Nhà hát Lớn, Nhà máy đèn, Nhà máy nước; tiến công sân bay Cát Bi, đánh địch ở khu vực Trại bảo an binh, Trại Cau... Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 160 địch, thu hơn 20 súng các loại.
        Ngày 26/11/1946, địch huy động lực lượng lớn tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Cầu Đất nhằm đánh vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 41. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn dựa vào công sự đẩy lui được nhiều đợt tiến công, buộc chúng phải co cụm.
       Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân tộc ta có thể trường kỳ kháng chiến, nhưng thực dân Pháp không thể trường kỳ xâm lược”. Bảy ngày đêm chiến đấu (từ ngày 20 đến ngày 26/11/1946) chống lại hàng nghìn quân tinh nhuệ của Pháp, được trang bị vũ khí hiện đại, có sự hỗ trợ của hải quân và không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu trước khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ.
     Với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân thành phố Hải Phòng đã kiên cường bám trụ, chiến đấu anh dũng, khiến kẻ địch bị bất ngờ vì phải đương đầu với sức mạnh của toàn dân, một sức mạnh “cả thành phố một lòng, quân dân cùng chiến đấu”. Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng để lại nhiều bài học lớn về tác chiến trong thành phố của quân và dân ta. Cuộc chiến đấu “có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự chuẩn bị cho trận đánh nhiều ngày ở Thủ đô Hà Nội xảy ra sau đó một tháng” như lời đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này.

                                    Nhà hát Lớn Hải Phòng được khởi công xây dựng vào năm 1904 và đến năm 1912 thì hoàn thành. Địa điểm được chọn để xây dựng nhà hát là nền chợ cao ráo, rộng rãi của làng cổ An Biên.
                          Hình ảnh Nhà hát Hải Phòng một thế kỷ trước (Ảnh tư liệu).
 
Do tình hình biến chuyển nhanh chóng theo hướng ngày một nguy hiểm hơn, Hồ Chí Minh, với mục tiêu kéo dài hòa hoãn để thoát ra khỏi cái thế tạm gọi là “lưỡng đầu thọ địch”, đã phải chọn cách duy nhất đúng là nhượng bộ Pháp, thỏa hiệp tạm thời với Pháp bằng một hiệp ước sơ bộ, tạo ra khoảng thời gian “chờ đợi” đến một cuộc thương thảo mới nhằm ký kết một hiệp ước chính thức. Ngày 6-3-1946, hiệp ước sơ bộ Việt - Pháp được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Xanhtơni. Nội dung chủ yếu của bản Hiệp ước này là:
- Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, quốc hội riêng, tài chính riêng, quân đội riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.
- Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào Bắc Bộ, đóng quân tại nhiều thành phố và thị xã, tại những vị trí và với số quân do Việt Nam ấn định.
- Vấn đề thống nhất Nam Bộ, Trung Bộ, Bắc Bộ sẽ được quyết định bằng trưng cầu dân ý.
Sau khi bản hiệp ước sơ bộ được ký kết, Hồ Chí Minh có nói với Xanhtơni: “Nó không làm cho tôi vui mừng vì rốt cuộc, chính ông đã thắng. Ông thừa biết là tôi muốn được hơn thế nữa…”
 
                                  Không có mô tả ảnh.
Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội. Từ trái qua phải: Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Sainteny, Pignon, Caput. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.
Hồ Chí Minh đã nói rất thực vì rõ ràng từ đây, Pháp lại một lần nữa được tự do hành động ở Đông Dương. Cũng trong tháng 3-46, ông có nói đến việc phải chờ đợi độc lập từ 5 đến 10 năm và trong thời gian đó thực hiện các cải cách ôn hòa tạm thời dưới quyền một viên toàn quyền người Pháp.
Sau khi Sainteny ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt với chính phủ Hồ Chí Minh, tại Nam Kỳ Cédille liên hệ Nguyễn Bình đề nghị ký hiệp ước hòa bình giữa Pháp và lực lượng kháng chiến Nam Bộ. Ngày 20/3/1946, hai bên gặp nhau tại miếu Bà Cố cách Biên Hòa 10 km. Cédille đề nghị phía Việt Nam giải giáp dân quân, nạp khí giới cho Pháp. Pháp sẽ hợp tác với những người kháng chiến. Phái đoàn Việt Nam không đồng ý và trở về căn cứ kháng chiến.
Về phía người Pháp, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ danh chính ngôn thuận khi đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam để chuẩn bị tái chiếm Đông Dương như họ đã làm ở Nam Việt Nam, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự ngăn cản của các tướng lĩnh Trung Hoa Quốc dân đảng; đổi lại Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đó là những điều kiện mà quân đội Pháp đồng ý để lấy lại một chỗ đứng tại Bắc Kỳ. 

                                        
              Trung tướng Nguyễn Bình ((1906-1951) tại Đồng Tháp Mười, năm 1950
                                             
Khi thực dân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn Nam Bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cử vào Nam lo việc chỉnh đốn phong trào kháng chiến và thống nhất các lực lượng vũ trang tại Nam Bộ. Tháng 12 năm 1945 ông được cử làm Khu trưởng Khu 7 Nam Bộ, lập tổng hành dinh ở Làng An (Biên Hòa), sau bị địch truy quét nên chuyển về xã An Phú (Gia Định) rồi xã An Thành, phía nam Bến Cát. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, tình trạng cát cứ dần giảm bớt, các quân phiệt cát cứ bị giải tán và hạn chế, các đơn vị bộ đội được phiên chế thống nhất thành các chi đội Vệ quốc đoàn. Ông còn lập các ban Công tác thành làm nhiệm vụ phá hoại sau lưng địch. Năm 1946 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 20 tháng 1 năm 1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng và cử làm tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ. Cùng đợt có Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng
Ngày 29 tháng 9 năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích và hi sinh tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia. Người chỉ huy lực lượng bảo vệ ông khi ấy là cán bộ cấp tiểu đoàn Nguyễn Văn Sĩ, nay là Thiếu tướng nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Tổng tư lệnh thông báo tin ông hi sinh ngày 31 tháng 12 năm 1951 (theo bản tin ông sinh năm 1909 tại Bần Yên Nhân, Hưng Yên). Tháng 2 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.. 

Việc ký hiệp ước 6-3 đã là cái cớ cho phe phái việt gian phản động các cơ hội tuyên truyền kích động gây hoang mang trong xã hội. Sau khi ký Tạm ước Việt Pháp, Hồ Chí Minh bị Việt Quốc và Việt Cách chỉ trích phản bội và hợp tác với Pháp đồng thời yêu cầu ông từ chức. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phê chuẩn Tạm ước Việt Pháp, biểu quyết tín nhiệm Hồ Chí Minh và yêu cầu ông thành lập nội các mới. Tại miền Nam, ngày 28/10/1946, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ theo chỉ thị của Chính phủ Trung ương ra tuyên bố sẵn sàng thành thực thi hành Tạm ước Việt Pháp và chống lại mọi hành động phá hoại Tạm ước đồng thời kêu gọi dân chúng giữ kỷ luật, thi hành đúng những mệnh lệnh của Chính phủ và tránh mọi hành động khiêu khích. Không ít người trong dân chúng và cả trong hàng ngũ cách mạng lo âu, thất vọng. Tại một cuộc míttinh đông đến khoảng 10 vạn người ở quảng trường Nhà hát lớn của thành phố Hà Nội, Võ Nguyên Giáp (tư lệnh lực lượng vũ trang cách mạng, sau này là đại tướng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam) và Hồ Chí Minh đã lần lượt lên giải thích vì sao phải nhượng bộ Pháp. Trong cuộc míttinh đó, Hồ Chí Minh đã nói những lời giản dị mà đầy xúc động: “Tôi, Hồ Chí Minh, đã luôn hướng dẫn đồng bào trên con đường tự do. Tôi đã chiến đấu suốt đời vì độc lập của Tổ Quốc. Đồng bào đã biết rằng tôi thà chết còn hơn phản quốc. Tôi thề với đồng bào rằng tôi đã không phản bội đồng bào”.
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp,…). Từ giữa tháng 10/1945 đến tháng 3/1946, Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện tín cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ và Liên Hiệp Quốc kêu gọi Mỹ và Liên Hiệp Quốc can thiệp vào Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và vì lý do nhân đạo nhưng không đến được tay những người có thẩm quyền do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được Mỹ công nhận nên không được hồi đáp. Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Stalin thông báo về sự ra đời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đề nghị Liên Xô đưa vấn đề độc lập của Việt Nam vào chương trình nghị sự của Liên hiệp quốc nhưng cũng không được hồi đáp. Vào thời điểm này, Liên Xô quan tâm đến châu Âu hơn Đông Dương. Trong lúc đó, những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc gia và những người Pháp theo chủ nghĩa thực dân qua những mối quan hệ với giới chính trị Trung Quốc và Pháp tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là tay sai trung thành của Liên Xô. Ngày 5/12/1946, khi A.B. Moffat, Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ ngoại giao Mỹ, đến thăm Đông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Acheson có điện tín chỉ dẫn trong trường hợp gặp Hồ Chí Minh "phải luôn nhớ rằng ông Hồ đã được xác định là một tay sai của Quốc tế Cộng sản".
Ngày 8-3-1946, trong một phiên họp nội các, Hồ Chí Minh đã quyết định cử một phái đoàn đi Trùng Khánh để trình bày quan điểm của mình và tìm sự ủng hộ của Trung Quốc; một đoàn đại biểu sang Pari để tìm một sự thỏa hiệp dứt khoát.
Khoảng cuối tháng 3-1946, Hồ Chí Minh đã làm việc với các nhà chức trách quân sự của Trung Hoa Dân Quốc tại Hà Nội để tìm kiếm sự ủng hộ của họ cho những đề nghị sau đây của ông:
- Các nhà chức trách quân sự Trung Quốc gây sức ép mạnh mẽ với người Pháp để buộc sớm mở cuộc thương lượng và sớm đạt tới một thỏa hiệp chính thức với Việt Nam
- Quân đội Trung Quốc chỉ rời khỏi Việt Nam sau khi bản hiệp ước Pháp - Việt chính thức đã được ký kết.
- Trước khi ra đi, quân đội Trung Quốc trao lại cho Việt Nam toà nhà mà Bộ tư lệnh quân Tưởng đang đóng, tức Dinh Toàn quyền cũ, vì đây là tượng trưng quyền cai trị nước Việt Nam, nếu nó được trao lại cho Pháp thì sẽ có ảnh hưởng xấu lớn lao trong dân chúng.
- Quân đội đang chiếm đóng của Trung Quốc giúp đỡ chính phủ Việt Nam ngăn cản không cho Pháp tổ chức một cuộc duyệt binh.
Mười một ngày sau khi Lơcléc cho quân đổ bộ lên Hải Phòng, ngày 18-3, Lơcléc dẫn 1.076 quân Pháp kéo vào Hà Nội, đem theo nhiều xe vũ khí để tái vũ trang cho đám tù binh Pháp mới được thả ra và cho cả các kiều dân Pháp (quân Tưởng đã thỏa thuận để quân Pháp chiếm đóng Hải Phòng vào ngày 22-3, Nam Định và Đà Nẵng vào những ngày từ 24 đến 26-3…)
Theo nhận xét của nhiều nhà viết sử thì sau khi kéo quân vào Hà Nội, cũng trong ngày hôm đó, Lơcléc đã có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh và qua cuộc gặp gỡ này, Lơcléc càng khẳng định ý kiến trước đó của mình, rằng nên đàm phán nghiêm chỉnh với chính phủ Việt Nam để cố đạt được một giải pháp hòa bình vững chắc.
Xanhtơni dù luôn vận động hết mình cho quyền lợi Pháp ở Đông Dương thì cũng cùng quan điểm với Lơcléc, nghĩa là nên thỏa hiệp trung thực với Hồ Chí Minh, người mà ông này cho rằng có “tầm cỡ phi thường, thông minh, hiểu rộng và hoàn toàn không ích kỷ”. Tuy nhiên, lực lượng cánh hữu, bảo thủ vẫn một mực chống lại mọi sự thương lượng nghiêm chỉnh nào với chính phủ Việt Nam mà họ coi là “những kẻ khủng bố”. Tiêu biểu và cuồng nhiệt nhất lực lượng này là Đácgiăngliơ, nhận vật có quyền lực cao cấp nhất của Pháp ở Đông Dương lúc đó. Chính Đờ Gôn đã quyết định Đácgiăngliơ làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và ấn định rõ Đácgiăngliơ “đảm nhiệm toàn bộ các chức vụ cũ của toàn quyền Pháp ở Đông Dương trước kia, đồng thời kiêm nhiệm chức vụ Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang toàn Đông Dương” trong khi “nhiệm vụ chủ yếu của đại tướng Lơcléc là trợ giúp đô đốc Đácgiăngliơ về mặt quân sự nhằm khôi phục chủ quyền Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương”. Như vậy là tại Đông Dương, Lơcléc trở thành cấp dưới của Đácgiăngliơ. Sự phân công đó của Đờ Gôn làm cho “vị đô đốc cao ủy và vị đại tướng tổng tư lệnh đã giẫm chân lên nhau”.
Đối với Đácgiăngliơ thì Hiệp định sơ bộ 6-3 bất quá chỉ là một đòn nghi binh ngoại giao, ngoài ra nó không hơn gì một mớ giấy lộn. Do đó ngay từ đầu, ông này đã hành xử hung hăng theo kiểu “kẻ mạnh” của thực dân ở thế kỷ XIX, phớt lờ như chưa hề có bản hiệp ước vừa ký còn chưa ráo mực đó. (Nhưng thưa ông, đã có biết bao nhiêu nước trôi qua cầu từ dạo ấy, đã có biết bao nhiêu đổi thay làm cho trò “ngoại giao pháo hạm” đến giữa thế kỷ XX đã trở nên vô hiệu và lố bịch, nhất là đối diện với ông không phải là một triều đình Huế bạc nhược mà là một chính quyền nhân dân sẵn sàng chiến đấu một mất một còn). Kể thêm: cũng như Lơcléc, Đácgiăngliơ thuộc một dòng dõi quý tộc lâu đời ở Pháp, bắt đầu binh nghiệp từ năm 1908, sau chiến tranh thế giới thứ nhất giải ngũ đi tu, từ vị trí một thầy dòng lên đến chức Tổng giám mục địa phận Pari, thì chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tái ngũ theo lệnh tổng động viên, bị phát xít Đức bắt làm tù binh, trốn thoát theo Đờ Gôn chiến đấu đến ngày Pháp được giải phóng, được phong đô đốc và làm tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp, sau được Đờ Gôn cử sang Đông Dương làm Cao ủy, đầu năm 1947 bị thay thế, trở về Pháp và sau một thời gian thì quay lại nhà thờ (đạo Cơ đốc) tiếp tục… tu, cuối đời về sống ở viện dưỡng lão của một vùng quê hẻo lánh. Một cuộc đời đặc sắc và nghe cũng thú vị đấy chứ?! 
                        p011yjv8 
                                                        ngoại giao pháo hạm
 
Ngoại giao pháo hạm (Gunboat diplomacy)                                    
   Thế nên dù Lơcléc có căn dặn (ghi rõ trong chỉ thị) binh lính khi kéo vào Bắc - Việt Nam phải “tôn trọng chủ quyền, quốc kỳ của Việt Nam” thì đội quân Pháp ấy cũng chẳng “ngoan” tí nào: vẫn ngông nghênh làm những điều phạm luật, gây hấn khiêu khích, phá phách, đặc biệt là lấn chiếm một cách có tổ chức và ngày càng nghiêm trọng. Đơn cử là ngày 27-3-1946 (tức chỉ sau 9 ngày kéo vào Hà Nội), quân Pháp đã vi phạm Hiệp định, ngang nhiên chiếm đóng Nhà tài chính Việt Nam (nay là Bộ Ngoại giao), treo cờ tam tài (cờ Pháp) lên…
Ngày 16-5-1946, Hồ Chí Minh nói chuyện với Tiêu Văn về “Ba nguyên tắc trong chính sách quốc gia” của ông. Ba nguyên tắc đó là:
1- Chọn một đường lối thân Trung Quốc
2- Không đầu hàng Pháp
3- Không thực hiện cương lĩnh cộng sản trong vòng 50 năm tới
Hồ Chí Minh giải thích với Tiêu Văn rằng ông tin ở thuyết Tam dân chủ nghĩa. rằng chủ nghĩa cộng sản không thích hợp với nước Việt Nam lạc hậu về công nghiệp, rằng chính phủ ông không phải là chính phủ cộng sản, và chính sách cơ bản của chính phủ ông giống chính sách của chính phủ Trung Quốc như Tưởng Tổng Tài (Tưởng Giới Thạch) đã tuyên bố; “Nhân dân trước hết, quốc gia trước hết”.
Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để tranh thủ tình hữu nghị và sự ủng hộ của Trung Quốc trước khi ông đi Pháp tiến hành cuộc đàm phán.
Ngày 31-5-1946, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội tiễn đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn chính phủ Việt Nam lên đường sang Pháp đàm phán (hội nghị được tiến hành tại Phongtenơblô). Trước khi đi, Hồ Chủ Tịch đã nói trước nhân dân mình một lời bất hủ: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
 
                              
                          Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Bourget, Paris (22-6-1946).
                                
                                          Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thư ở Paris (7-1946).
                                
                         Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm vùng chiến trường Normandy (17-7-1946).
Rất có thể khi nói ra như thế, nhất là trong bối cảnh cường độ chiến tranh đang gia tăng ở Nam Bộ, Hồ Chí Minh, trong thâm tâm đã thấy trước được sự thất bại của Hội nghị Phôngtenơblô (Hồ Chí Minh không trực tiếp tham gia đàm phán mà sang Pháp với tư cách là thượng khách do Chính phủ Pháp mời). Mục đích tối thượng của chính phủ Việt Nam là độc lập, thống nhất toàn vẹn cho đất nước. Khi tình thế đòi hỏi ở chừng mực nhất định có thể nhân nhượng, nhưng nhân nhượng đến mức đất nước bị chia cắt và mất luôn cả chủ quyền lãnh thổ thì không thể được. Làm cách mạng là vì một mục đích cao cả nào đó. Để mất mục đích thì coi như cách mạng đã thất bại. Điều dễ thấy là thực dân Pháp không bao giờ thành tâm muốn cho Việt Nam được độc lập, thống nhất. Hành động dựa vào quân Anh đánh chiếm Sài Gòn và ỷ vào sức mạnh quân sự vượt trội để hòng cướp lại Nam Kỳ đã lộ rõ cái dã tâm ấy của thực dân Pháp. Ngay cả Lơcléc và Xanhtơni, nếu không nhận thấy được sức mạnh tiềm tàng của Việt Nam thì cũng không nghĩ đến giải pháp hòa bình cho vấn đề Việt Nam. Ngay cả trong thực tế, dù rằng hai người này chủ trương thương lượng nghiêm túc và có quan tâm đến nền độc lập của Việt Nam thì cũng vì quyền lợi ích kỷ của chính phủ Pháp lúc bấy giở chứ chẳng hề có chút yêu thương, đồng cảm nào đối với dân Việt Nam (dù nước họ vừa mới trải qua sự xâm lược của phát xít Đức và họ đã từng phải chiến đấu để giải phóng nó).
Hai ý chí Việt và Pháp là tương phản nhau, tùy vào mối tương quan về thế và lực mà để tránh xung đột, có thể thỏa hiệp với nhau về một số quyền lợi. Tuy nhiên, điểm mấu chốt nhất, cốt lõi nhất và cũng hóc búa nhất là vấn đề Nam Bộ thì lại không giải quyết được do sự thiếu thiện chí và cản trở quyết liệt của một bên là những kẻ còn mang nặng bản chất thèm khát xâm lược, thực dân cổ hủ, mù quáng và một bên là những người quyết giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng vừa mới giành lại được của dân tộc.
                         Có thể là hình ảnh về văn bản
Sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/19146. Vây quanh Bác Hồ là các sĩ quan Pháp, sĩ quan quân đội Tưởng, cùng đại diện ngoại giao của Mỹ và Anh. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.
Ông Hồ Chí Minh và thư ký riêng, ông Vũ Đình Huỳnh tại Paris, 1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946
Không có mô tả ảnh.
Bác tại nhà sàn Việt Bắc
                        Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp sau phiên họp Hội đồng Chính phủ tại chân đèo De, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương

(Còn tiếp)
        Chỉ một ngày sau khi Hồ Chí Minh rời Việt Nam, ngày 1-6-1946, Đácgiăngliơ đã lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”, đứng đầu là Nguyễn Văn Thịnh. Hành động này hết sức ngang ngược, vi phạm thô bạo Hiệp định sơ bộ 6-3, trong đó có nêu rõ “vấn đề Nam Bộ sẽ giải quyết thông qua cuộc trưng cầu dân ý”. Tệ hại hơn nữa, một đoàn đại biểu của cái nước tự trị do Pháp nặn ra một cách vội vã này cũng được gửi sang Pari để thương thuyết riêng với Pháp. Đúng là một trò hề!
Không những thế, ngày 21-6, Đácgiăngliơ ra lệnh cho quân Pháp tiến chiếm Tây Nguyên, mưu toan lập thêm một “xứ tự trị” giả hiệu nữa. Ngày 25-6, quân Pháp chiếm giữ Phủ toàn quyền cũ ở Hà Nội (theo hiệp ước Việt - Pháp ký ngày 20-4-1946 thì Phủ toàn quyền cũ không có trong danh sách những ngôi nhà thuộc quyền của Pháp).


               Quân đội của thế lực thuộc địa Pháp ở Việt Nam (khoảng 1950)
              Quân đội của thế lực thuộc địa Pháp ở Việt Nam (khoảng 1950)
Hồ Chí Minh, lúc đó đang ở Pháp, đã gửi hai bức thư vào ngày 27-6 và 12-7 để phản đối những hành động của Đácgiăngliơ. Trong bức thư đề ngày 27-6 gửi cho Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại (thực chất là Bộ Thuộc địa) là Mariuýt Mutê, có đoạn:
“Thái độ khiêu khích của những người chỉ huy quân sự cục bộ Pháp là nguy cơ làm mất thiện chí của nhân dân Việt Nam đối với nước Pháp và có thể gây trở ngại đáng kể cho diễn biến của cuộc đàm phán ngoại giao sắp tới giữa hai đoàn đại biểu của hai chính phủ chúng ta”.
Trong bức thư đề ngày 12-7, gửi Chính phủ Pháp ở Pari, có đoạn:
“Những người chỉ huy quân sự Pháp ở Việt Nam, với những hành động của họ ở Nam Bộ từ ngày 6-3, ngày càng vi phạm đến Hiệp định sơ bộ đã được ký kết giữa Việt Nam và Pháp, là người khởi xướng và chịu trách nhiệm về hai hành động có tính xâm lược mà bản chất của nó là làm rối loạn nghiêm trọng đến không khí của cuộc hội nghị Pháp - Việt sắp tới”.
Cả hai bức thư đó đã chẳng có tác động gì nhiều nếu không nói rằng bị quan chức Chính phủ Pháp thờ ơ, phớt lờ.
 
                                
                  Lâu đài Fontainebleau, nơi diễn ra Hội nghị Pháp-Việt năm 1946
Do mâu thuẫn không hòa giải được với “thầy tu” Đácgiăngliơ bởi những quyết định và hành động ngỗ ngược, trắng trợn của ông này nên tháng 7-1946, Lơcléc đã xin từ chức tổng tư lệnh các lực lượng Pháp ở Viễn Đông. Sau này, Lui Xôren, nhà sử học Pháp đã nhận định:
“Nếu trong vấn đề Việt Nam, đại tướng Lơcléc tiêu biểu cho tương lai, chủ trương một sự hợp tác tin cậy lẫn nhau giữa Việt Minh và nước Cộng hòa Pháp vừa được giải phóng khỏi ách phát xít, thì đô đốc Đácgiăngliơ lại tiêu biểu cho quá khứ lỗi thời, chủ trương một chính sách cực kỳ phản động nhằm quay trở lại chủ nghĩa thực dân. Chính Đácgiăngliơ là một trong những kẻ phải chịu trách nhiệm về sự bùng nổ cuộc chiến tranh Đông Dương”.
Sau một thời gian đàm phán Việt - Pháp (từ tháng 7 đến tháng 9-1946), điều tất yếu xảy ra: Hội nghị Phôngtennơblô kết thúc thất bại, hai bên không ký được hiệp ước chính thức. Tuy nhiên Hồ Chí Minh đã đạt được điều mong muốn: trì hoãn thời điểm bùng nổ chiến tranh Đông Dương vào lúc có lợi nhất cho Cách mạng Việt Nam, cũng như tạo thêm nhiều thiện cảm trong mọi tầng lớp nhân dân Pháp.

 Bộ Chỉ huy chiến dịch họp thảo luận kế hoạch Bắc Tây Nguyên, 1954 (Ảnh TLBTLSQG).
17/2/1954 Kết thúc chiến dịch Bắc Tây Nguyên- hoàn thành một ...

17/2/1954 Kết thúc chiến dịch Bắc Tây Nguyên- hoàn thành một ... 

Cũng theo nhà sử học King C. Chen thì sau thất bại của cuộc đàm phán Việt - Pháp đó, Hồ Chí Minh đã nói với Mutê và Xanhtơni rằng: “Đừng để cho tôi ra về như thế này. Hãy cho tôi một vũ khí nào đó để chống bọn quá khích”. Với từ ngữ “quá khích”, không biết Hồ Chí Minh ám chỉ ai? Chúng ta biết rằng quân Tưởng đã không đợi đến khi có một sự dàn xếp dứt khoát giữa Việt Nam và Pháp như đã yêu cầu, mà rút hết vào tháng 6-1946. Bám theo chúng là đám đầu têu phản cách mạng như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh… Đám lau nhau còn lại tự nhiên mất đầu, phải thay thầy đổi chủ, quay sang làm tay sai cho Pháp. Tại Hà Nội, bọn này định lợi dụng quân Pháp tổ chức diễu binh nhân dịp kỷ niệm “ngày 14-7” (Ngày 14-7-1789 quần chúng cách mạng Pháp đánh chiếm pháo đài Baxti - biểu tượng của chế độ phong kiến Pháp, ngày này đã vĩnh viễn đi vào lịch sử vinh quang của dân tộc Pháp và trở thành ngày Quốc Khánh của nước Cộng hòa Pháp) để tiến hành bạo loạn. Ngày 12-7-1946, nhờ sự giúp đỡ của quần chúng và sau một thời gian điều tra, lực lượng an ninh Cách mạng đã bất ngờ bắt giữ hơn 120 kẻ phản loạn với đầy đủ tang chứng. Khi thấy rõ những chứng cứ về tội ác đẫm máu của chúng như giết người, bắt cóc, tống tiền, in bạc giả… tại phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước (khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp), đã ký lệnh thi hành nghiêm phép nước, đưa vụ này ra xét xử, tiệt trừ triệt để. Đến đây, sự đe dọa của quân Tưởng không còn nữa, bè lũ phản cách mạng cũng tạm thời bị dẹp yên. Vậy Hồ Chí Minh ám chỉ ai vào thời điểm ký tạm ước khi dùng từ ngữ “quá khích” nếu không phải là chính quân Pháp ở Việt Nam?
Dù sao thì tới khuya 14-9-1946, Hồ Chí Minh và Mutê đã ký được một tạm ước. Tạm ước này là sự nhắc lại các điều khoản của Hiệp ước sơ bộ 6-3, cho Pháp thêm nhiều quyền trong lĩnh vực kinh tế ở tại Bắc - Việt Nam, còn Pháp hứa “sẽ dân chủ hơn” tại Nam Bộ. Vấn đề Nam Bộ, vẫn còn để ngỏ, hai bên sẽ tiếp tục thương lượng tìm một giải pháp dứt khoát vào đầu năm 1947.
Ký được tạm ước 14-9 là một bước đi tuyệt đẹp của Hồ Chí Minh.
Tạm ước đó chắc chắn không thể loại trừ được chiến tranh, có thể về mặt giá trị chẳng đáng là bao nhưng vẫn là một cái khiên tạm xài được và đối với quân Pháp ở Bắc - Việt Nam nó vẫn là vòng kim cô pháp lý, dù lỏng lẻo, nhưng có còn hơn không.

                                               
                                               Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris,
                                  
                           Hồ Chí Minh và Marius Moutet bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt - Pháp 
                
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946.Tạm ước 14/9/1946: Hòa để tiến. Bài đã được xuất bản.: 12/09/2011 09:00 GMT+7 , Tác giả: Vũ Khoan.


                                 

                  Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946 (ảnh tư liệu). 
 
Ngày 14-10-1946, lúc 15 giờ, Hồ Chí Minh về tới Hà Nội trong sự đón mừng nồng nhiệt của toàn thể nhân dân thủ đô.
Bản tạm ước dù có thể đã làm chậm tiến trình nhưng không ngăn cản được sự ráo riết chuẩn bị chiến tranh của những cái đầu thực dân bảo thủ của Pháp ở Việt Nam. Ngày 23-11, quân đội Pháp công khai phá bỏ hiệp ước bằng cách đòi kiểm soát quân sự cảng Hải Phòng và đã bắn phá thành phố này làm rất nhiều người Việt Nam thiệt mạng (phía Pháp thừa nhận là 6.000 người, phía Việt Minh nói là 20.000 người).
Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng. Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu.
Ngày 30/10/1946 Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương ra mệnh lệnh số 938- PC cùng với toàn bộ kế hoạch chi tiết triển khai đánh chiếm Hải Phòng. Điều này buộc quân và dân Hải Phòng nổi đậy.
Hải Phòng là cửa ngõ đường biển quan trọng có vị trí đặc biệt ở miền Bắc. Tại đây, Pháp bố trí một lực lượng mạnh, đặc biệt là pháo binh và thiết giáp, bao gồm: Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma-rốc 4; Trung đoàn chiến xa cơ động và một bộ phận thủy quân, không quân; tổng cộng khoảng 3000 quân. Về phía ta có Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn, 1 đại đội công an xung phong, 1 trung đội thủy quân cùng lực lượng tự vệ và nhân dân thành phố Hải Phòng.
9 giờ sáng ngày 20/11/1946, quân Pháp gây ra xung đột trên bến Tam Kỳ, xả súng bắn vào chiến sĩ và dân thường. Sau đó, chúng liên tục thực hiện các vụ nổ súng tấn công vào các vị trí trọng yếu trong thành phố bất chấp những thỏa thuận ngừng bắn tạm thời đã ký kết trước đó. Trắng trợn hơn, chúng gửi tối hậu thư đến Ủy ban bảo vệ thành phố, đòi giải tán các lực lượng vũ trang của ta ra khỏi khu vực nội thành. Va-luy, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương từ Sài Gòn yêu cầu Chỉ huy quân Pháp tại Hải Phòng Đép-bơ: “Phải lợi dụng vụ rắc rối ngày 20 để củng cố thêm vị trí Hải Phòng của chúng ta”.
Sự kiềm chế của quân và dân Hải Phòng đã đến ranh giới tận cùng. Ngay khi các xung đội xảy ra, Ủy ban bảo vệ thành phố đã phát lệnh “chuẩn bị tác chiến”. Ngay lập tức, các hàng rào, chiến lũy được xây dựng tại các ngã tư quan trọng trong thành phố ngăn chặn các hướng tấn công của địch.
Ngày 21/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Moóclie, Chỉ huy quân sự miền Bắc Đông Dương. Trong thư, Người đề nghị hai bên cần thương lượng đề có giải pháp và trở về “Tình trạng trước ngày 20/11 nhằm ổn định tình hình ở Hải Phòng”.
Phớt lờ đề nghị thương lượng, sáng 23/11/1946, quân Pháp tiến công khắp nơi trong thành phố. Máy bay địch oanh tạc liên tiếp, pháo hạm từ ngoài biển bắn dữ dội vào các vị trí của ta trong nội thành và khu vực lân cận, nhất là khu vực Nhà hát thành phố, nhà ga, bưu điện, nhà đốc lý,… hòng hủy diệt thành phố. Bất chấp sự tiến công ồ ạt của kẻ thù, quân và dân thành phố vẫn kiên cường bám trụ. Dựa vào từng ổ đề kháng, tường nhà, góc phố, các chiến sĩ chiến đấu anh dũng, hiệp đồng đánh cả mặt trước, sau lưng, bên sườn quân địch, không cho chúng tiến công, giữ vững trận địa. 
 
                              
                                Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'TTXYN'                               Các chiến sỹ tự vệ và nhân dân Hà Nội đào hầm hào, xây công sự chuẩn bị chiến đấu. Ảnh: Tư liệu
                                                                 Quân và dân Thủ đô dựng chiến lũy cản bước tiến của giặc Pháp. (Ảnh tư liệu TTXVN)

                               
Hình 2: Nhân dân Hà Nội dùng đồ đạc, tài sản dựng chiến lũy trên đường, cản bước xe tăng địch ( Phố Mai Hắc Đế tháng 12-1946). Ảnh: TTXVN
 
Trước tình hình đang diễn biến nghiêm trọng, trưa ngày 23/11/1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, Người kêu gọi “toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải sẵn sàng bảo vệ chính quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của ngoại kiều”.
Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ, quân và dân thành phố Hải Phòng đã thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quyết bảo vệ vị trí cửa ngõ Đông Bắc của Tổ quốc. Quân ta tổ chức nhiều cuộc phản kích ở khu vực nhà ga, Ngã Sáu, Phố Khách, phố Ba Ti, Nhà hát Lớn, Nhà máy đèn, Nhà máy nước; tiến công sân bay Cát Bi, đánh địch ở khu vực Trại bảo an binh, Trại Cau... Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 160 địch, thu hơn 20 súng các loại.
Ngày 26/11/1946, địch huy động lực lượng lớn tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Cầu Đất nhằm đánh vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 41. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn dựa vào công sự đẩy lui được nhiều đợt tiến công, buộc chúng phải co cụm. Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng Việt Minh bảo vệ thành phố. Quân Tự vệ Việt Nam chỉ có súng trường Mousqueton, mã tấu và lựu đạn nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bảo vệ Hải Phòng. Chiến sự kéo dài cho đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28 tháng 11.
Tin chiến sự lan ra toàn quốc. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân hãy bình tĩnh. Trong khi đó thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu được gặp Tướng Molière (Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt Nam) vào ngày 27/11/1946 để đàm phán. Mãi tới ngày 29/11, Tướng Molière mới chịu gặp Giáp. Khi nói chuyện, Tướng Molière nói thẳng lập trường của Pháp là Pháp phải kiểm soát Hải Phòng cùng các vùng phụ cận và quốc lộ số 5 (nối liền Hà Nội với Hải Phòng) cũng như tất cả các thông lộ nối liền với các đồn trú quân của Pháp. Nếu chính phủ Việt Nam không chấp nhận những điều kiện này thì không có đàm phán gì hết. Đòi hỏi của Pháp khíến cho chính quyền Việt Nam không còn hy vọng gì thương thuyết được với người Pháp và phải chuẩn bị chiến tranh. Tất các cơ quan chính quyền Việt Nam chuẩn bị rút lui ra khỏi thủ đô Hà Nội để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. 
 
                                
                            Hình 4: Pháo của bộ đội tại trận địa Láng - Hà Nội chuẩn bị khai hoả.
                                        
Hình 5: Ngày 19/12/1946, pháo đài Láng là nơI bắn phát đạn đầu tiên vào thành Hà Nội, mở đầu ngày toàn quốc kháng chiến.
 
     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân tộc ta có thể trường kỳ kháng chiến, nhưng thực dân Pháp không thể trường kỳ xâm lược”. Bảy ngày đêm chiến đấu (từ ngày 20 đến ngày 26/11/1946) chống lại hàng nghìn quân tinh nhuệ của Pháp, được trang bị vũ khí hiện đại, có sự hỗ trợ của hải quân và không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu trước khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân thành phố Hải Phòng đã kiên cường bám trụ, chiến đấu anh dũng, khiến kẻ địch bị bất ngờ vì phải đương đầu với sức mạnh của toàn dân, một sức mạnh “cả thành phố một lòng, quân dân cùng chiến đấu”. Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng để lại nhiều bài học lớn về tác chiến trong thành phố của quân và dân ta. Cuộc chiến đấu “có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự chuẩn bị cho trận đánh nhiều ngày ở Thủ đô Hà Nội xảy ra sau đó một tháng” như lời đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này.  Với hành động này, coi như Pháp đã mở lời thách thức chiến đấu với quân dân Việt Nam và như thế, đối với một chính quyền đứng đầu là Hồ Chí Minh lấy mục đích tối cao: “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” làm lẽ sống, thì không thể không phát động kháng chiến. Ngày 29-11-1946, báo “Sự thật” ở Hà Nội, số 64, đăng lời kêu gọi của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương (tức là Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật). Trong đó có đoạn: “Sự thật đã chứng tỏ rằng: thực dân Pháp ngang nhiên khiêu hấn. Chúng định dùng võ lực bắt ta phải nhượng bộ, nhưng không khi nào ta chịu. Tạm ước ngày 14-9 là một bước nhân nhượng cuối cùng. Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền đất nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc”.

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh


Khám phá di tích Làng Sen quê Bác nổi tiếng xứ Nghệ 2
                                     Làng Sen – quê nội Bác
Ngày 5/6/1911, tại cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) quyết tâm ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Tháng 6-1911, Người ra đi  trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville  đến nước Pháprồi từ đó đến nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã nhận rõ đây là đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Đại hội toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) “Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam”, đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam
    
Ngôi nhà số 9, ngõ hẻm Com-poăng (Paris), nơi Người trọ từ năm 1920 đến năm 1923


           100 nam bao nguoi cung kho va dong gop cua nguyen Ai quoc cho cac nuoc thuoc dia hinh anh 1
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922 xuất bản báo “Người cùng khổ” ở Pháp. Trong ảnh: Hồ Chủ Tịch và tờ báo Le Paria – Người cùng khổ
           Không có mô tả ảnh.
Tháng 6-1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tham gia công tác của Quốc tế cộng sản. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông – Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Trong ảnh: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc với một số đại biểu dự Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản lần V
                PGkMWdHN.jpg
Từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chỉ thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng. Trong ảnh: Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga

 

                       

Sau 30 năm bôn ba hải ngoại, tháng 2 năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp chỉ huy phong trào cách mạng trong nước. Bác sống và làm việc trong hang Pác Pó thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Trong ảnh: Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
            Lán Hang Bòng - Nơi Bác Hồ ba lần chọn để ở và làm việc ...
Ngày 24 tháng 5, Bác Hồ từ Cao Bằng về đến Tân Trào để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Trong ảnh: Bác Hồ ở Hang Bòng (Tân Trào, Sơn Dương) 
            Bữa cơm giản dị của Bác trong những năm tháng kháng chiến  ở ATK Việt Bắc

Bữa cơm giản dị của Bác Hồ và các chiến sỹ trong những năm tháng kháng chiến ở ATK Việt Bắc

           Bài 1: Quốc dân Đại hội Tân Trào - Hội nghị Diên Hồng của ...
Ngày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân Trào, nơi Người đã chủ trì Quốc dân Đại hội, quyết định Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ảnh: TL

Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Và kết quả đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng 8 kỳ diệu với chiến thắng vang dội.

Ngày 22 tháng 8, Bác Hồ rời Tân Trào về Hà Nội. Theo đề nghị của Thường vụ Trung ương Đảng, Bác Hồ rời căn cứ địa Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) về Hà Nội để trực tiếp lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và chuẩn bị ra mắt Chính phủ lâm thời.

Dù vừa trải qua cơn sốt nặng và còn mệt, Người vẫn quyết tâm lên đường. Trên chặng đường rừng núi, do sức khỏe yếu, đôi khi Bác phải nằm cáng tre. Ngày 25/8/1945, Người về tới ngoại thành Hà Nội và được đón về căn nhà số 48 Hàng Ngang. 

 Ngày 2-9-1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

           
Lễ tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945
            Ngày 2-9-1945: Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập
Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
                Lính Trung Hoa Dân Quốc được quân đội Pháp 🇫🇷 đưa về tập kết ở ga Hải  Phòng vào tháng 1/1950, sau khi tháo chạy khỏi Đại Lục. Trước đó gần năm

Tháng 9-1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc. Trong ảnh: Lính Trung Hoa Dân Quốc được quân đội Pháp đưa về tập kết ở ga Hải Phòng vào tháng 1/1950,

Cuộc chiến ít biết của quân đội Anh ở Việt Nam 1945-46 - BBC ...

Cuộc chiến ít biết của quân đội Anh ở Việt Nam 1945-46 - BBC ...

         Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TPHCM)
Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 được ký kết giữa Việt Nam và Pháp. Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam.
            Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…” | Pham Ton's Blog
Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946
           Tạm ước 14/9/1946: Giải pháp chính trị, ngoại giao tài tình ...
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946

   Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến – Lời hịch thời đại Hồ Chí ...

Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra chiếm đóng miền Bắc, âm mưu tiến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình hình ấy, tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong ảnh: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến – Hồ Chí Minh (9-12-1946)

    

Sau đó Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong 9 năm, trường kỳ kháng chiến, Bác Hồ cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong ảnh: Nhà sàn đầu tiên của Bác ở Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên

          Hình ảnh Bác Hồ và các chú bộ đội ở chiến khu
Ở chiến khu, mọi sinh hoạt của Bác… (Hình ảnh Bác Hồ và các chú bộ đội ở chiến khu)
Hình ảnh Bác Hồ ngồi làm việc trong hang động Việt Bắc năm 1951
từ làm việc…(Hình ảnh Bác Hồ ngồi làm việc trong hang động Việt Bắc năm 1951)
         Hình ảnh Bác Hồ chủ trì họp Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa
… đến việc ra các quyết định quan trọng đến vận mệnh dân tộc đều hết sức giản dị, đơn sơ. (Hình ảnh Bác Hồ chủ trì họp Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa)
              Hình ảnh Bác Hồ đang làm việc trong ngôi nhà sàn ở chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
                      Hình ảnh Bác làm việc ở chiến khu Việt Bắc
             Hình ảnh Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc
                       Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc
       Ảnh sinh hoạt đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Báo ...
Bác tăng gia sản xuất ở chiến khu Việt Bắc
      Hình ảnh Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa
Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa
            Hình ảnh Bác Hồ cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại Chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại chiến khu Việt Bắc
                 0.Bac_Ho_doc_bao_o_chien_khu_Viet_Bac_nam_1951.jpg
           Bác Hồ đọc báo ở chiến khu Việt Bắc, năm 1951
       bac-ho-chien-sy-a
Bác Hồ nói chuyện về tình hình cách mạng trong nước và thế giới với cán bộ, chiến sỹ bảo vệ và phục vụ những ngày ở Chiến khu Việt Bắc.
        Không có mô tả ảnh.
                     Ở Việt Bắc, Bác thường đi thăm bà con dân tộc
     
Sinh thời Bác Hồ từng nói: “Mỗi một người dân yếu, tức là cả nước yếu, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe. Việc rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.
       
                       Bác Hồ tập võ cùng các chiến sĩ (Ảnh tư liệu)
       
Ngoài giờ làm việc, Bác chơi thể thao và tập võ để nâng cao sức khỏe
        Ông Ké" trong lòng người dân Pác Bó

Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội dưới sự lãnh đạo của Bác và Đảng đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng... Thời cơ đã đến, Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trường Chinh... đã họp bàn và ra quyết định mở chiến dịch Điện BIên Phủ. Trong ảnh: Hình ảnh “Ông Ké” trở nên quen thuộc, gần gũi với đồng bào các dân tộc.

Nhà sàn Bác Hồ - Ngôi nhà gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của Bác

Nhà sàn Bác Hồ - Ngôi nhà gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của Bác

             Không có mô tả ảnh.                               Sau này, đồng chí Trường Chinh trở thành cộng sự, người học trò gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được xem là nhà lãnh đạo kiệt xuất                               

 
        tron 70 nam mot quyet dinh lich su mo chien dich Dien bien phu hinh anh 3
Vào tháng 12 năm 1953, Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng họp tại Việt Bắc quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ
        Có thể là hình ảnh về đền thờ
Lán Tỉn Keo ở vị trí trên đỉnh đồi, nơi diễn ra cuộc họp của Bộ Chính trị dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 6/12/1953 để đưa ra quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
         Ảnh chuyên đề về Chiến thắng Điện Biên Phủ -2
Sau hai đợt tiến công ở Điện Biên Phủ, ta đã giành được nhiều thắng lợi rất lớn và rất quan trọng. Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo lực lượng cả nước phối hợp hoạt động với mặt trận Điện Biên Phủ. Trong ảnh: Bộ đội hành quân ra mặt trận.
           Thanh niên xung phong với Chiến dịch Điện Biên Phủ
Ngày 19-4-1954, Bộ Chính trị ra hai nghị quyết: một chỉ đạo Điện Biên Phủ tiếp tục thấu triệt phương châm “đánh chắc, thắng chắc”; một chỉ đạo chiến trường trong cả nước tiếp tục thấu triệt phương châm “đánh nhỏ, ăn chắc”. Trong ảnh: Công binh, dân công, thanh niên xung phong mở đường Tuần giáo – Điện Biên Phủ.
    Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, kiên cường, tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp lúc bấy giờ bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đập tan. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả hợp thành của một loạt nhân tố dân tộc và thời đại, là đỉnh cao chói lọi của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại mới dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong ảnh:

Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

             Trận địa pháo 12,7mm bắn máy bay địch tiếp tế cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Trận địa pháo 12,7mm bắn máy bay địch tiếp tế cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu TTXVN
     Tướng lĩnh Pháp cay đắng thừa nhận thất bại ở Điện Biên Phủ

            Tướng lĩnh Pháp cay đắng thừa nhận thất bại ở Điện Biên Phủ

             
              17 giờ 40 phút ngày 7-5-1954, bộ đội ta đã cắm lá cờ “Quyết chiến            quyết thắng” trên nóc hầm Tướng De Castries.
                   Bác Hồ tặng Huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên” cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
      Bác Hồ trao tặng huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho chiến sỹ trinh sát đã lập nhiều thành tích xuất sắc
            Thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự tại Việt Nam.
Ngày 7-5-1954, quân đội Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ. Đúng 16 giờ 30 phút, ngày 8-5-1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương khai mạc. Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết. Trong ảnh: thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự tại Việt Nam.
          Đại quân ta bước đi trong sự chào đón nồng nhiệt của người dân Hà Nội
Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về – bộ đội tiếp quản thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1954
         
                                 

                             Bác Hồ về thăm quê,Hoàng Trù,Làng Sen 

                                                     Làng Trù – quê ngoại Bác 

                             nha-so-38-pho-ly-thai-to.jpg 

 Nhà số 38 Lý Thái Tổ (ngày nay là số nhà 36), phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với thực dân Pháp bản Hiệp định Sơ bộ, ngày 6/3/1946
Muốn xâm lược Bắc Kỳ thì trước hết phải chiếm được Hà Nội. Cuộc xâm lăng trước, thực dân Pháp đã hành động như thế và lần này, chúng cũng chủ trương như thế. Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3 được một tháng, tướng Valuy, chỉ huy quân Pháp đóng ở Hà Nội đã lệnh cho quân lính: “Trong mỗi trại, ngay khi mới đến, viên chỉ huy phải đặt ngay một kế hoạch an toàn chủ yếu. Kế hoạch này phải có phần phòng thủ vĩnh viễn những chỗ đóng quân và nhất là phải có phần hành động để chiếm lĩnh thành phố…”. Để chuẩn bị đánh Hà Nội, thực dân Pháp đã tăng cường về đây, tạo nên một lực lượng mạnh áp đảo đối phương gồm: 6.500 binh lính, 5.000 súng trường, 600 súng máy loại nhẹ, 180 súng máy loại nặng, 42 pháo hạng nặng, 22 xe tăng, 40 xe bọc thép, 4 máy bay thám thính Moran, 4 máy bay khu trục Spitphai, 6 máy bay khu trục ném bom.

Quân dân Hà Nội cũng khẩn trương, tích cực đối phó trên nền tảng cả nước đã mạnh lên rất nhiều về thế và lực do được quan tâm, chuẩn bị ngay từ tháng 8-1945 và trong khoảng thời gian đủ dài của quá trình đấu tranh ngoại giao khéo léo, dẻo dai của Hồ Chí Minh.
Ngay từ ngày 19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc khẳng định: “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Đến đầu tháng 12-1946, quân dân Hà Nội đã trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nhưng vẫn giữ thái độ bình tĩnh chờ lệnh trước sự gây hấn ngày càng trầm trọng của binh lính Pháp. 
                                                      

                                 1bai-2.jpg

Hình ảnh người chiến sĩ ôm bom ba càng đã trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

 Nhân vật trong bức ảnh lịch sử là liệt sỹ Nguyễn Văn Thiềng (bí danh Trần Thành, sinh năm 1927, tại Hà Nội). Anh là chiến sỹ cảm tử quân thuộc Đội tự vệ thành Hoàng Diệu, người đã ôm bom ba càng dũng cảm lao vào xe tăng địch để bảo vệ Thủ đô.

Như một cố gắng cuối cùng để cứu vãn hòa bình, giữa tháng 12-1946, Hồ Chí Minh đã nói với một phóng viên báo chí: “Chúng tôi muốn tránh chiến tranh, tránh bằng mọi giá. Chúng tôi tha thiết mong ước độc lập trong Liên hiệp Pháp: Chiến tranh không có lợi gì cả”.
Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển tiếp tới Paris.
Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của Cao ủy Đông Dương Georges D'Argenlieu về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt, Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi. Ngày 16 tháng 12, ông lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh dựng trong thành phố. Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Brum vào đến Sài Gòn, Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Đến ngày 19, bức điện mới đến Paris, khi đó đã quá muộn.

                     Trận đánh đầu của pháo binh Việt Nam ảnh 2
                          Di tích Pháo đài Láng ở phường Láng Thượng ngày nay


                      Về nơi phát sóng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - ảnh 1
Đài tiếng nói Việt Nam tại hang núi chùa Trầm, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ - Nơi đã ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng ngày 20/12/1946

Những câu nói và hành động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này rất gần với quan niệm xác đáng về chiến tranh của Lão Tử, nhà hiền triết vĩ đại của Trung Hoa cổ đại và có lẽ của cả thế giới, với những lời khuyên dạy chí lý:
“Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận: một là lòng từ ái (khoan dung), hai là tính kiệm ước (tiết kiệm), ba là không dám đứng trước thiên hạ (khiêm tốn). Vì từ ái mà sinh ra dũng cảm, vì kiệm ước mà hóa ra sung mãn, quảng đại, vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ… Vì từ ái nên hễ chiến đấu là thắng, cố thủ là vững…
“Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng, người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng, người khéo thắng địch không giao phong với địch, người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người. Như vậy là có cái đức không tranh với người, như vậy là biết dùng sức của người, như vậy là hoàn toàn hợp với đạo”
“Thuật dùng binh có câu: ta không dám làm chủ (tức khiêu chiến, xâm lấn) mà chỉ muốn làm khách (tức ứng chiến, kháng chiến), không dám tiến một tấc, thà chịu lùi một bước (nghĩa là nhượng bộ). Như vậy là dàn trận mà như không thành hàng, xua đuổi mà không đưa cánh tay ra. Tuy có binh khí mà như không dùng binh khí, tuy có địch mà như không chạm trán với địch. (Ở đây, chúng ta thấy từ cái quan niệm rất đúng đắn về sự vận động của Tự Nhiên cũng như của xã hội, về Đạo và Đức mà Lão Tử đi đến một quan niệm hết sức sâu sắc về nghệ thuật chiến tranh, về sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân lấy lối đánh du kích đầy biến hóa làm nền tảng. Điều này được minh chứng hùng hồn trong cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ cứu nước của dân tộc Việt).
Họa không gì lớn bằng khinh địch, khinh địch thì sẽ mất những vật báu của ta. Cho nên khi hai bên cử binh giao chiến, bên nào từ ái thì bên đó thắng lợi”.
“Dũng cảm mà cương cường (hùng hổ) thì chết (bởi mù quáng), dũng cảm mà không cương cường (tức là nhu nhuyễn, bình tĩnh) thì sống (linh hoạt)… Đạo trời là không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp (giỏi ứng phó), không kêu gọi mà (thời thế) tự tới, bình dị tự nhiên mà khéo đặt quyền mưu…”.
Dân tộc Việt Nam đã không còn một sự lựa chọn nào khác để sống còn trong phẩm giá ngoài cách phải cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ ra khỏi bờ cõi. Trước đòi hỏi giải giáp lực lượng vũ trang ở Hà Nội như một tối hậu thư của Thực dân Pháp, quân dân Hà Nội đã buộc phải chiến đấu và thực tế đã chiến đấu vô cùng ngoan cường, mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến.
                          Sáng mãi tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” 
                                 Sáng mãi tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
 
Từ ngày 15 tháng 12 năm 1946, tình hình nóng lên từng giờ. Sáng 16 tháng 12, Valluy từ Sài Gòn ra Hải Phòng, triệu tập Morlière, Jean Sainteny, Đe-bơ phổ biến kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực phía bắc vĩ tuyến 16. Cùng ngày, lực lượng Công an xung phong đang giữ gìn trật tự trên đường phố bị quân Pháp bắn. Ngày 17 tháng 12, tự vệ lại bị tấn công, đồng thời hàng chục người dân phố Hàng Bún, Yên Ninh bị tàn sát. Quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Người Việt không phản ứng. Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố.
Ngày 18 tháng 12 năm 1946, thành phố Hà Nội có vẻ yên tĩnh, phố xá thưa thớt bóng người.Hai ngày trước, quân Pháp nổ súng khiêu khích, gây rối ở các phố Lò Đúc, Hàng Bột, Hàng Khoai, Đồng Xuân... nhưng quân và dân Hà Nội cảnh giác, không bị mắc mưu, tuân thủ kỷ luật, chờ lệnh Chính phủ không bắn trả. Hai bên đường, nhà cửa đóng kín, nhưng bên trong nhà, ban công, cửa sổ những mái nhà bằng đều trở thành vị trí chiến đấu. Tường trong nhà, ngoài sân, trên gác, đều đã được đục thành lỗ giao thông, mở đường đi từ buồng này sang buồng khác, nhà này sang nhà khác, đi suốt dãy phố dọc, luồn sang dãy phố ngang, tạo thành một trận địa chiến đấu liên hoàn. Đâu đâu cũng xuất hiện những dòng khẩu hiệu viết trên cửa, trên tường: "Sống chết với Thủ đô", "Thà chết không chịu trở lại làm nô lệ"... Lực lượng phía Việt Minh gồm 2.500 Vệ quốc quân, 8.000 tự vệ, được đông đảo nhân dân thủ đô ủng hộ, mặc dù vũ khí còn thô sơ, chỉ có 2.250 cây súng, hầu hết là súng trường, với nhiều súng khai hậu với rất ít đạn. Trung bình hai người mới có một quả lựu đạn. Quân Pháp gồm có một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn xe tăng, thiết giáp, một tiểu đoàn pháo, một bộ phận biệt kích, một bộ phận dù, cùng với không quân và thủy quân, tổng cộng 6.500 lính chính quy cùng 7.000 kiều dân vũ trang Pháp. Vài ngàn lính Lê dương Pháp đóng tập trung trong khu vực thành Hà Nội và một số đóng rải rác ở các địa điểm khác như Nhà thương Đồn Thủy, dinh Toàn quyền cũ, nhà ga, nhà băng Đông Dương, cầu Long Biên và sân bay Gia Lâm ở bờ đông sông Hồng.
                        
.Một khẩu đội pháo của Vệ Quốc đoàn tại trận địa pháo đài Láng, tháng 12/1946. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
                       
Các chiến sĩ tự vệ Thủ đô sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, từng căn nhà. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 
Thiếu tướng Ngô Huy Phát, nguyên Cục trưởng Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam, khi đó là lính liên lạc Quân khu 2 kể, khi tiến vào Hà Nội, quân Pháp đóng tại nhiều trọng điểm như: thành Hà Nội, Phủ toàn quyền cũ, nhà thương Đồn Thủy, sân bay Gia Lâm... Cuối tháng 11/1946, Pháp huy động khoảng 6.500 quân, 40 xe tăng, 19 máy bay và hàng trăm xe quân sự.
Lực lượng vũ trang thủ đô khi đó chỉ khoảng 2.000 cây súng, mỗi tiểu đoàn có 2-3 khẩu trung liên, 2-3 khẩu tiểu liên và carbin, còn lại toàn súng trường. “Tôi có khẩu súng Nga cao hơn đầu vì nhỏ tuổi. Để đánh lại xe tăng, ta chỉ có mìn tự tạo và bom ba càng. Lựu đạn thì lấy được một ít của Nhật, của Tây, của Tàu và một ít lựu đạn Phan Đình Phùng ta sản xuất, nhưng chất lượng kém, có quả nổ, quả không, thậm chí có quả nổ trên tay”, thiếu tướng Ngô Huy Phát nói. 
Chiều 18 tháng 12, Pháp gửi cho chính phủ Việt Minh tối hậu thư đòi làm nhiệm vụ trị an ở Hà Nội và đe dọa "Đến sáng 20-12 những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển hướng sang hành động". Sáng 19 tháng 12, Pháp gửi tiếp cho phía Việt Minh một tối hậu thư, đòi tước vũ khí của Vệ quốc đoàn ở Hà Nội, đòi Việt Minh phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến.
Đối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng trước, khi Đại tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá thành phố. Sáng ngày 18 tháng 12, Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm sau. Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Brum có thể chưa đến nơi, ông gửi một bức điện thẳng tới Paris. Sáng 19, để thể hiện thiện chí và cố gắng cứu vãn hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Sainteny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sau khi được tin Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại, không thể nhân nhượng thêm được nữa. Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. 

                               
Pháo đài Xuân Tảo tại phường Xuân Tảo (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) là di tích lịch sử cách mạng quan trọng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Đây là một trong hai pháo đài đã nã những loạt pháo đầu tiên vào quân đội Pháp, mở màn 60 ngày đêm chiến đấu chống thực dân Pháp năm 1946.
Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của nhân dân Việt Nam bắt đầu từ ngày Nam Bộ kháng chiến và chính thức nổ ra từ ngày 19-12-1946 ngay tại khu vực đã khai sinh ra đất nước Việt Nam: Cổ Loa - Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Trưa ngày 19 tháng 12, Ban Thường vụ Trung ương của chính phủ Việt Nam điện cho các chiến khu và tỉnh ủy, thành ủy: "Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư và đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng".
Đúng 20 giờ 03 ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn điện toàn thành phố phụt tắt, pháo đài Láng (Hà Nội) nổ súng phát ra hiệu lệnh tổng tiến công, chính thức báo hiệu cuộc  chiến tranh chống Pháp lần thứ hai bắt đầu. Tới 20 giờ 30, Chính phủ Việt Nam đã phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến đấu:
"Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!
Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung-Nam-Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!" 
Ngày 20-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh đã vang trên bầu trời Thủ Đô và khắp cả non sông:
"Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm
Kháng chiến thắng lợi muôn năm

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh "


Các chướng ngại vật, hầm hào được dựng nên trên các phố phường nội ô Hà Nội. Những đội cảm tử quân được thành lập, sẵn sàng dùng bom ba càng để kích nổ tiêu diệt xe tăng Pháp.
  cuoc-chien-60-ngay-dem-quyet-tu-bao-ve-thu-do-1
 
                       Kỳ tích lui quân của Trung đoàn Thủ Đô 
 Chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, tháng 2-1947. Ảnh tư liệu
 
Tuy nhiên, thực dân Pháp tăng cường viện binh, vũ khí, trang bị và liên tiếp thực hiện các đợt tiến công, tạo thành vòng vây, thu hẹp dần địa bàn Thủ đô. Trước sự tấn công của kẻ thù, Trung đoàn Thủ Đô phải tìm cách vượt ra ngoài, về các căn cứ ở hậu phương để xây dựng và phát triển lực lượng, nhằm thực hiện kháng chiến lâu dài.
Trong vòng kiềm tỏa của kẻ thù, phương án rút quân như thế nào là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, nhất là xác định con đường rút lui bảo đảm bí mật, an toàn. Vì vậy, cuộc rút lui phải được tổ chức như một trận đánh, tạo thế bất ngờ với địch về ý đồ rút quân, con đường rút, thời gian rút, bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến khác...
Trong lúc đang bế tắc tìm con đường để rút quân an toàn thì ngày 15-2-1947, đồng chí Nguyễn Ngọc Nại phụ trách Đội liên lạc vào Liên khu 1 chuyển thư từ, báo chí cho đơn vị. Chỉ huy Trung đoàn hỏi đồng chí Nguyễn Ngọc Nại vào bằng cách nào mà địch không biết. Đồng chí Nại cho biết đã đi qua bãi giữa, lội qua sông Hồng cách cầu Long Biên chừng 700m, khu vực này nước chỉ sâu trên đầu gối, khi đến bên này sông Hồng thì đi dọc ven đê, qua gầm cầu Long Biên đến cột Đồng Hồ vào Liên khu 1. Việc canh gác của địch dưới cầu Long Biên không có. Khả năng từ sau Tết ta không có người qua lại nên địch đã bỏ vọng gác; hoặc có thể lính canh gác sợ giá lạnh nên chui vào vọng gác trên cầu.  
 Đêm 17 tháng 2 năm 1947, trung đoàn Thủ đô rút quân khỏi Hà Nội. Được trung đoàn phân công, tiểu đoàn 101 Đồng Xuân đi đầu theo đường gầm cầu Long Biên, nếu gặp địch thì đánh mở đường máu để trung đoàn rút ra. Nhưng hôm đó mưa phùn, giá rét, đêm tối như mực, lính Pháp gác trên cầu co cụm lại, áo ca pốt trùm kín nên không hay biết cả một đoàn quân hơn 1.000 người đang hành quân dưới gầm cầu, dưới mũi súng của họ. Lực lượng của Trung đoàn Thủ đô chia thành từng đơn vị nhỏ cùng nhân dân Liên khu phố I lặng lẽ đi dưới gầm cầu Long Biên, rẽ nước vượt sông Hồng, sông Đuống, bí mật vượt qua vòng vây an toàn.

 Đường Trường Chinh cong và sự nhầm lẫn trên tượng đài

Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 2 năm 1947, lính Pháp tổ chức lực lượng, đuổi theo, nhưng bộ đội đã vượt sông Hồng về làng Thượng Hội thuộc huyện Đan Phượng, Hà Tây. Riêng Đội tự vệ Hồng Hà gồm những người dân lao động ngoài bãi sông Hồng đã chiến đấu ròng rã 60 ngày đêm, bảo vệ và nối liền con đường tiếp tế cho dân quân Liên khu I đã có thương vong. Đó là đảng viên Nguyễn Ngọc Nại, Tiểu đội trưởng, và 7 đồng đội khác của anh. Sáng hôm đó, họ đã trụ vững ở bãi giữa, chiến đấu quyết liệt với lính Pháp để thu hút hỏa lực về phía mình, bảo vệ an toàn cho cuộc rút lui chiến lược của Trung đoàn Thủ đô và quân dân Hà Nội. Pháp trả thù kéo quân đánh vào xã Tứ Tổng (nay là hai phường Ngọc Thụy và Tứ Liên), là xã đã dùng thuyền đưa trung đoàn vượt sông Hồng, đốt cháy gần 30 nóc nhà, giết chết 27 thanh niên và chọc thủng gần 40 con thuyền. Hằng năm, người dân ở đây vẫn lấy ngày 29 tháng 1 âm lịch làm ngày giỗ trận.  
Ngày 18-2-1947, toàn Trung đoàn Thủ Đô cơ động về tới địa điểm đã định. Cuộc rút quân thắng lợi, Trung đoàn nhận được bức thư động viên của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: "Các cấp chỉ huy. Các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô. Tôi thay mặt toàn thể Quân đội Quốc gia Việt Nam hoan nghênh tinh thần anh dũng của các chiến sĩ. Các chiến sĩ đã chiến đấu hai tháng ròng rã để giữ vững ngọn cờ nước Việt giữa Thủ đô Hà Nội. Các chiến sĩ nêu cao tinh thần oanh liệt của dân Việt và thanh danh rực rỡ của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Các chiến sĩ lại mở được con đường máu vượt qua vòng vây quân địch để thực hiện chỉ thị bảo tồn chủ lực. Các chiến sĩ sẽ tiếp tục chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta sẽ chiến đấu 10 năm hay lâu hơn nữa nếu cần. Cho đến ngày Tổ quốc độc lập, thống nhất. Cho đến ngày Thủ đô Hà Nội được rạng mặt Thủ đô của một nước độc lập. Ta thề Thủ đô sẽ chiến thắng quân thù. Muôn năm, tinh thần oanh liệt của Thủ đô. Muôn năm, tinh thần trung dũng của Trung đoàn Thủ Đô”.
Trong đêm giao thừa đón tết Đinh Hợi, Hồ Chủ Tịch đã tới núi Trầm (thuộc ngoại thành Hà Nội) đọc bài thơ chúc mừng năm mới:
 "Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
                           Tiếng kèn kháng chiến rung động non sông
                           Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
                           Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
                           Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
                           Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
                           Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
                           Thống nhất độc lập nhất định thành công".


Trả lời nhà báo Mỹ Harold Issacs (tháng 3/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại sau:

"Hỏi: Các báo chí Mỹ thường nói rằng: Việt Nam có thể trở nên một nước chư hầu của Nga. Họ lại nói: Việt Nam là cộng sản hoặc là do cộng sản chi phối. Theo ý Cụ thì thế nào? Trả lời: Đó là tuyên truyền láo của thực dân. Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các đảng phái, như tôn giáo, dân chủ, xã hội, mác xít. Có nhiều Bộ trưởng không vào đảng phái nào. Lại có một vị hoàng tộc. Sao gọi được là cộng sản chi phối.
Hỏi: Cụ có sợ Việt Nam trở thành một nước chư hầu của nước nào không?
Trả lời: Không, tôi không sợ.
Hỏi: Chính sách của Mỹ ở Á Châu là thế nào?
Trả lời: Chỉ đứng về phía Việt Nam mà nói, thì chúng tôi tiếc rằng Mỹ đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở chúng tôi."

Trả lời nhà báo Mỹ A. Steele của tờ New York Herald Tribune (tháng 10/1949), Hồ Chí Minh nói: "Người ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam, vốn là một quốc gia. Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều là cộng sản... Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt người Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?"
Trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ... Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một. Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn. Ta phải vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng bị tạm chiếm. Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm chó sǎn cho đế quốc Mỹ để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc, đế quốc Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương. Chúng ta gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta nhất định thắng lợi." 


Hình ảnh du kích quân trong tranh Nhớ một chiều Tây Bắc của Phan Kế An

 

      Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải "với những đại diện chân chính của Việt Nam". Theo sử gia William Duiker, đây là việc né tránh vấn đề điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh. Thực chất mục đích của Pháp là tìm cách xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt để làm đối trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương
       Ngay sau đó, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam.
      Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Bảo Đại và Pháp ký Hiệp định vịnh Hạ Long, trong đó Pháp cam kết mập mờ về nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp và Ngô Đình Diệm đã chỉ trích hiệp định này là kém quá xa so với một nền độc lập thực sự. Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký Hiệp định Vịnh Hạ Long thứ hai, Pháp "long trọng công nhận độc lập" của Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát quan hệ ngoại giao và quốc phòng, đồng thời trì hoãn việc chuyển các giao chức năng khác của chính quyền sang những cuộc đàm phán trong tương lai.

                        Không có mô tả ảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung đoàn trưởng Thái Dũng, Tiểu đoàn trưởng Dũng Mã đang nghiên cứu sơ đồ tác chiến Chiến dịch Biên giới

                       
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn mở chiến dịch Biên giới năm 1950 (từ trái qua: đồng chí Trường Chinh, Hồ Chủ tịch, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp).                        

                 
Một cánh quân của bộ đội ta tiến vào chiếm cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên giới ,1950
                                 
                                  Anh hùng La Văn Cầu. Nguồn ảnh: Internet
 
 .
                         anh-chup-man-hinh-2024-07-14-luc-063440-1720913701.png
Bác Hồ cùng chiến sĩ và dân công tromg chiến dịch vào hạ tuần tháng 8 năm 1950.
 
                       
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận chiến dịch Biên giới năm 1950.
 
 
 Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết:
"Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên".

Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành Hiệp ước Élysée với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp.
       Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác)

                     

                    Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn chủ trương và kế hoạch
                            tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954, tháng 9/1953

             

Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."
     Tháng 10/1951, nghị sĩ John F. Kennedy - về sau trở thành Tổng thống Mỹ - đã đến Việt Nam để khảo sát. Lúc đó, Mỹ đã tài trợ một cách hào phóng cho chiến tranh của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng Kennedy tự hỏi: tại sao viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp chiến thắng? Ông đã hỏi tướng De Lattre, Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương rằng: “Tại sao ông có thể trông mong người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chiến đấu (chống lại Việt Minh) để duy trì nước họ như một bộ phận của Pháp?". Về lại Mỹ, Kennedy phát biểu ngày 15/11/1951 trên đài phát thanh:

“Các xứ Đông Dương là những chính phủ bù nhìn, những lãnh địa của các ông hoàng (chỉ cựu hoàng Bảo Đại và các quốc vương Lào và Campuchia) thuộc Pháp với tài nguyên to lớn nhưng là những ví dụ điển hình của đế quốc và thực dân mà người ta có thể thấy bất kỳ nơi đâu… Ở Đông Dương, chúng ta [Mỹ] đang liên kết với nỗ lực tuyệt vọng của một đế chế Pháp muốn bám lấy những mảnh còn lại của đế quốc”. Kết quả là (chúng ta) không có sự ủng hộ sâu rộng của nhân dân Việt Nam đối với chính phủ bản xứ (tức chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại)”
      Trả lời điện báo của một nhà báo quốc tế tháng 3/1948 khi thông báo tin Bảo Đại chịu nhận điều kiện quân đội người Việt Nam sẽ nằm dưới quyền chỉ huy của Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: "Ông Vĩnh Thuỵ (tên thật của Bảo Đại) là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam đồng ý. Vả chǎng, nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn phản quốc ra, không có một người Việt Nam nào chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng vậy. Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa.".
      Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3/4/1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời câu hỏi về hiệp định Elysée như sau:
"Đối với dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập... Vĩnh Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước, đó là sự thực... Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và thống nhất thật sự.".
      Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Với việc mở đường cho chủ nghĩa thực dân mới vào Việt Nam, De Lattre đã mang đến cho ta một hiểm hoạ lâu dài".
     Trong năm 1950, Kháng chiến chống Pháp có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới.

                                                                                       Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)
 
                       Hình ảnh những người lính ra trận với chiếc áo choàng bằng vải dù đã trở thành biểu tượng của một thời.
Hình ảnh những người lính ra trận với chiếc áo choàng bằng vải dù đã trở thành biểu tượng của một thời.

      Sau chiến dịch Việt Bắc, Việt Minh dần dần tổ chức lại bộ máy và lực lượng, bắt đầu tổ chức những trận đánh quy mô chống lại Pháp. Tháng 1/1950, Việt Minh mở một loạt các chiến dịch quân sự uy hiếp trực tiếp đồng bằng sông Hồng. Từ tháng 2/1945 đến tháng 4/1945, Việt Minh thực hiện những chiến dịch quy mô lớn nhằm kiểm soát Đông Bắc Bắc Bộ. Trong năm 1950, các lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hoàn chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam.
     Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương.
      Trước năm 1950, Việt Minh vẫn giữ đường lối cân bằng trong quan hệ quốc tế. Năm 1948, Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này đang hoạt động bí mật dưới danh nghĩa Việt Minh nhắc nhở các cấp uỷ không viết bài công kích Hoa Kỳ trong các tài liệu tuyên truyền và duy trì đường lối trung lập. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các lãnh đạo Trung Quốc đã thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 30/1/1950, Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý viện trợ vũ khí cho họ chống Pháp. 
     Cùng ngày, Đảng ban hành một chỉ thị bí mật cho phép thể hiện xu hướng chống Mỹ trên các tài liệu tuyên truyền chính thức. Tháng 4 năm 1950, tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh, khẳng định Việt Nam, cũng giống như Trung Quốc, đã lựa chọn phong trào cộng sản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Stalin đồng thời loại bỏ tư tưởng trung lập theo kiểu Tito. 
      Ngày 20/7/1950, khi trả lời cuộc phỏng vấn với đại diện Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh phát biểu công khai lên án chủ nghĩa đế quốc của Mỹ và sự can thiệp của Mỹ vào vấn đề nội bộ Việt Nam. Hồ Chí Minh tuyên bố hành động viện trợ vũ khí cho Pháp mà Mỹ đang thực hiện là sự phản dân chủ và tương tự như một cuộc xâm lăng. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin và chủ nghĩa Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin.
Để lấy lại thế chủ động, Pháp thực hiện tăng cường hệ thống phòng ngự đường số 4, khoá biên giới Việt-Trung: cô lập căn cứ địa Việt Minh với bên ngoài, thiết lập hành lang Đông-Tây, cô lập Việt Bắc với đồng bằng Bắc bộ, chuẩn bị lực lượng để tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu não Việt Minh.
      Về phía Việt Minh, Bộ chỉ huy Việt Minh nhận định đúng ý đồ của Pháp nên nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để mở cửa biên giới, khai thông bàn đạp để nhận viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Theo chủ trương này, đầu tháng 7 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh quyết định chọn hướng chiến dịch là Cao Bằng – Lạng Sơn.
 
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (vào năm 1957), Tổng Tư lệnh Quân đội kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam.
 

      Chiến dịch Biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Việt Minh tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Việt Minh đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, Việt Minh tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng.
      Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Đến ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Việt Minh chủ động kết thúc chiến dịch.
     Thắng lợi của Việt Minh trong chiến dịch này đã làm phá sản chiến lược quân sự chính trị của Pháp, phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu, mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ. Vành đai đồn bốt bao vây Việt Bắc đã bị phá hủy hoàn toàn. Đồng thời chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội. Bộ chỉ huy Pháp được cải tổ, dẫn đến việc tướng Jean de Lattre de Tassigny lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
 
Đại tướng De Lattre de Tassigny, Tổng chỉ huy Quân đội kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương
  

    Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Kể từ đây Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Cũng từ năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Pháp được Mỹ giúp sức muốn nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh còn thế và lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa thực sự lớn mạnh, viện trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
    Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, Pháp tổ chức Phòng tuyến Tassigny để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang chủ động tiến công, các chiến dịch liên tiếp của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ.Từ cuối năm 1950, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn theo kiểu kinh điển. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh bị thất bại trước quân Pháp do tướng Jean de Lattre de Tassigny chỉ huy. Chiến dịch Hòa Bình mà de Lattre mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp.
Cuối năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái (2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Cuộc tấn công vào Phú Thọ để cứu vãn tình thế của Salan thất bại. Salan liền cho củng cố Nà Sản, xây dựng vị trí này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

                     
Đại đoàn 304 trong Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện ...           
Đại đoàn 304 truy kích địch trên đường số 6 trong Chiến dịch Hòa Bình, tháng 2/1952
 
     Ở miền Trung, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của Pháp ở Tây Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà Nẵng, và Nha Trang. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thể thành công là Nam Kỳ và Campuchia.
     Mùa xuân năm 1953, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức một lực lượng lớn tiến công quân Pháp ở Lào, với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa nên Quân đội Nhân dân Việt Nam không tiến công quân Pháp ở Cánh đồng Chum. Đây được coi là thành công lớn của Pháp.


               Chiến thắng Tây Bắc 1952: Chiến công oanh liệt của Đảng và ...
Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam) chuẩn bị sa bàn Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, phục vụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu và giao nhiệm vụ cho các đơn vị (Nguồn ảnh: Báo điện tử Quân đội nhân dân)
 
 
Trải qua cuộc sống “ngủ rừng ăn cơm vắt”, mũi sung chĩa đầu nhưng vẫn hiên ngang, bất khuất. Đến năm 1954, ông được làm tiểu đội trưởng, tham gia chiến dịch 56 ngày đêm và chiến dịch Điện Biên Phủ, phá tan cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp. 
Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi, đến năm 1959 ông Hiếu trở về quê hương thì mẹ đã qua đời vì quá thương nhớ con vì nghĩ con không còn sống. Năm 1960, ông Hiếu cưới vợ là cô dân quân 20 tuổi Trịnh Thị Cống, người cùng xã và sinh được 5 người con. Đến năm 1966, ông tham gia sư đoàn 338, tiếp tục tham gia chống Mỹ ở chiến trường B cho đến tận năm 1974 mới ra quân, về làng với quân hàm trung úy, mang trong mình thương tật hạng 2/4 và 24 năm tuổi quân.

Đầu tháng 1 năm 1947, thành lập Trung đoàn Thủ Đô với lực lượng là chiến sĩ và tự vệ Hà Nội, trung đoàn này về sau là nòng cốt của Sư đoàn Quân tiên phong 308, chỉ huy Vương Thừa Vũ (ban đầu gọi là Đại đoàn). Sư đoàn có mệnh danh là Sư đoàn Thép, được các sử gia và các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng như quốc tế coi là một trong những sư đoàn xuất sắc nhất trên thế giới. (Xem Phillip Davidson, Vietnam at war,) Theo công sứ Mỹ O'Sullivan, người Việt Nam chiến đấu với một sự "ngoan cường và dũng cảm chưa từng thấy", gợi lại hình ảnh binh lính Nhật trong Đại chiến thế giới lần thứ hai

Với lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ, thiếu thốn, phải chống lại lực lượng tinh nhuệ được vũ trang hiện đại của Pháp, cầm chân và tiêu hao quân Pháp trong gần 2 tháng là một kỳ công đáng khích lệ cho quân đội non trẻ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các lực lượng Quyết tử Việt Nam đã thực hiện chiến thuật chiến tranh đô thị cầm chân quân Pháp, tạo thời gian để chính quyền Việt Nam rút ra và tổ chức cuộc chiến tranh lâu dài, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp, tạo điều kiện sau này để chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giành thắng lợi quyết định cuối cùng tại trận Điện Biên Phủ.  
Về phía Pháp, chiếm được Hà Nội với tổn thất tương đối nhỏ (chừng vài trăm thương vong trên tổng số chừng 110.000 quân Pháp có mặt tại Đông Dương vào đầu năm 1947) cũng là một chiến thắng. Quân Pháp tin tưởng sau khi chiếm được Hà Nội, họ sẽ có thể dễ dàng và nhanh chóng bình định được toàn bộ Việt Nam, nhưng cuộc chiến đã kéo dài 9 năm, kết thúc tại chiến trường Điện Biên Phủ với thất bại hoàn toàn của người Pháp.

Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh, phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3 giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau đúng như vậy.
  • Cầm cự: bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19/12/1946 đến hết Chiến dịch Việt Bắc. Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng chiến, cầm cự miền Nam, miền Trung, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp, Toàn quốc kháng chiến ở các tỉnh, Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc.
  • Phòng ngự: sau chiến dịch Việt Bắc đến hết Chiến dịch Biên giới. Có các chiến dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên giới.
  • Phản công: Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Đồng Bằng, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Hòa Bình, Chiến dịch Thượng Lào, Kế hoạch Navarre, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (21/7/1954).
Phương pháp tiến hành chiến tranh của quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lấy tên chính thức là Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1950) chỉ đơn giản là "Toàn dân-toàn diện-trường kỳ kháng chiến", gồm hai điều: đánh tiêu hao, phân tán lực lượng địch và từng bước xây dựng lực lượng, giành thế chủ động để đẩy địch vào tình thế bị động đối phó. Khi có đủ lực lượng sẽ tung đòn đánh lớn vào những vùng mà địa thế, tương quan binh lực có lợi để giành những thắng lợi chiến lược. Phương pháp này đã đi suốt lịch sử lớn mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, và vẫn phát huy hiệu quả trong kháng chiến chống Mỹ sau đó. Tuy "đơn giản" nhưng cả Pháp và Mỹ đều không thể chống lại chiến lược chiến tranh nhân dân này, bởi như tướng De Castries đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc".

                         Hồ Chí Minh cùng các chiến sĩ cách mạng tại căn cứ địa Việt Bắc.
               Bộ đội pháo binh Sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947. Ảnh: qdnd.vn

Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến", rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục. Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán. Ngày 23 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3.
Nhà Xã hội chủ nghĩa Marius Moutet đã được gửi đến tìm hiểu về triển vọng chính trị, và trở về với kết luận rằng chỉ có một giải pháp quân sự đã được hứa hẹn. Như Đô đốc d'Argenlieu, Moutet tin rằng có thể sẽ không có cuộc đàm phán với Hồ Chí Minh. Ông đã viết về "vỡ mộng tàn nhẫn của thỏa thuận mà không thể được đưa vào hiệu lực...", và tuyên bố rằng: "Chúng tôi không còn có thể nói về một thỏa thuận tự do giữa Pháp và Việt Nam... Trước bất kỳ cuộc đàm phán ngày hôm nay, cần thiết phải có một quyết định quân sự". Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán một cuộc hòa giải với những đại diện chân chính ở Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn với Tướng Georges Catroux vào tháng 1 năm 1947 ở Moscow, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Mikhailovich Molotov nói rằng “ông hy vọng rằng Pháp và Việt Nam có thể đạt được một thoả thuận khiến cho cả đôi bên đều hài lòng,” và không dẫn đến việc tái thiết “một chế độ cai trị thực dân”. Liên Xô không trợ giúp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng không đưa vấn đề Việt Nam ra Liên hiệp quốc. Cũng trong năm 1947, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô hỗ trợ cuộc kháng chiến của họ bao gồm viện trợ quân sự và kinh tế, cung cấp chuyên gia quân sự, tuyên truyền quốc tế có lợi cho Việt Nam và giúp Việt Nam tham gia Liên Hiệp Quốc nhưng Liên Xô phớt lờ những yêu cầu này.
                          Trước khi về tiếp quản Thủ đô, cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (19/9/1954)
Trước khi về tiếp quản Thủ đô, cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (19/9/1954)Đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt phấn khởi chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Mặt trận Liên Việt (3/1951)
Đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt phấn khởi chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Mặt trận Liên Việt (3/1951)
 
Trong tháng hai, năm 1947, người Pháp đưa các điều kiện để Hồ Chí Minh đầu hàng vô điều kiện. Hồ thẳng thừng bác bỏ những, yêu cầu người đại diện Pháp, "Nếu bạn ở vị trí của tôi, bạn sẽ chấp nhận họ chăng?... Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát". Tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh kêu gọi chính phủ Pháp và người Pháp: "Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng nhân dân Việt Nam mong muốn chỉ thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp, và chúng tôi cam kết bảo đảm quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp..".
Ngày 19 tháng 4 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp, đề nghị nối lại đàm phán trên cơ sở "hai nước anh em trong Liên hiệp Pháp, một liên hiệp của những người tự do, hiểu biết và yêu thương nhau". Trong khi đó, Thủ tướng Ramadier tuyên bố trong tháng 3 năm 1947, rằng: "Chúng ta phải bảo vệ cuộc sống và tài sản của người Pháp, của người nước ngoài, bạn bè ở Đông Dương của chúng ta có niềm tin vào tự do Pháp"
Nhưng tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên "đàm phán bằng mọi giá". Những người thân cận ông như Pierre Messmer và Paul Mus cũng thiên về chiều hướng đối thoại. Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước mà họ chỉ gọi bằng cái tên Việt Minh, tổ chức nắm đa số trong chính phủ.
Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi quân đội Việt Nam hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên.
                                                                 
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát trận đánh mở màn của bộ đội ở Đông Khê trong Chiến dịch Biên Giới (1950

Theo tài liệu của Mỹ, rất sớm trong chiến tranh, Pháp đã tăng nỗi ám ảnh về âm mưu của Cộng sản Việt Nam. D'Argenlieu đô đốc ở Sài Gòn kêu gọi một chính sách quốc tế phối hợp để các cường quốc phương Tây chống lại sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, bắt đầu với Việt Nam. Trong Quốc hội thảo luận vào tháng 3 năm 1947, một đại biểu cánh hữu cáo buộc rằng bạo lực tại Việt Nam đã được chỉ đạo từ Moskva: "Chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương là một phương tiện, cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc Liên Xô."
Cả chính phủ lẫn người dân Pháp chú ý tuyên bố tháng 1 năm 1947 của tướng Leclerc: "Chống chủ nghĩa cộng sản sẽ là một công cụ vô dụng chừng nào vấn đề của chủ nghĩa dân tộc còn chưa được giải quyết." Về phần mình, Hồ Chí Minh đã ban hành kháng cáo lặp đi lặp lại để Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự"...
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn. Quân chủ lực chính quy của Việt Nam tổ chức như quân đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền của Việt Nam. Quân đội và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lực lượng dân quân du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch.
Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, cuộc hành quân Léa tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh nhưng đã không định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương. Lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhanh chóng được phân tán, sử dụng du kích vận động chiến, bất thần phục kích, đánh tiêu hao quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng cũng đã cắt được đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới bên ngoài.
 

Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia: Ba dân tộc chung khát vọng  độc lập:
Đại biểu ba nước Đông Dương Việt – Miên – Lào (1952)

       Cuộc chiến tranh du kích tại đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Ở mọi nơi, bộ đội Việt Nam vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế. Có những hội tề (chính quyền làng xã trong vùng Pháp kiểm soát) được lập ra để che mắt Pháp nhưng hành động theo Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân chủ lực giữ đồng bằng Bắc Bộ. Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Nam.
Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về chính trị, khi tướng Nguyễn Bình - Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam tại Nam Bộ ra sách lược: Tổ chức lại lực lượng vũ trang các giáo phái để biên chế chính quy thành Vệ quốc đoàn. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích (Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ) cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để tạm thời hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.
Sau chiến dịch Léa, xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phân tán thành các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp. Các cán bộ của chính quyền và mặt trận Việt Minh vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men, lương thực, vải vóc... cho Việt Nam. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Nam củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài.
Lực lượng vũ trang và du kích đồng bằng sông Hồng tổ chức các trận chiến quấy rối quân Pháp. Cuối chiến tranh, quân địa phương và du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp trong vùng đồng bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội phải tụ thành đoàn lớn, nhiều xe tăng và lính bảo vệ mới đi thoát. Các đường bộ bị đào bới ngăn cản xe cơ giới, đường sắt bóc hết gang thép làm vũ khí.

Những hình ảnh về cuộc đời bình dị của Bác ảnh 1
Hình ảnh giản dị của Hồ Chí Minh-một vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, đã tạo nên biết bao nguồn cảm xúc cho các văn nghệ sĩ. Để rồi từ đây, nhiều tác phẩm giá trị về nhiều mặt đã ra đời.

Không có mô tả ảnh.
Nhà thơ Tố Hữu thấy Hồ Chí Minh cưỡi ngựa đi giữa núi rừng chiến khu như một ông tiên bèn viết bài thơ Việt Bắc, trong đó có đoạn:
"Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, dẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…"

Tại miền Trung Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự tại đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Năm 1948, quân Pháp tổ chức cuộc hành quân Véga nhằm phá hủy cơ quan đầu não kháng chiến ở Nam Bộ và nhiều cuộc hành quân khác vào Đồng Tháp Mười nhưng đều thất bại. Cuối năm 1949, quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền tướng M. Carpentier mất quyền chủ động.
Cho đến thời điểm này, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng kêu gọi Pháp hãy ngừng bắn và tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Ông viết:
"Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn. Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những người Pháp quân phiệt. Nói cho rõ hơn là: Cũng như những nước độc lập khác cự tuyệt quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình, nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt quân đội Pháp đóng ở Việt Nam."

Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân, nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự tại ATK Định Hóa..

        Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.

Về phía Pháp, chiếm được Hà Nội với tổn thất tương đối nhỏ (chừng vài trăm thương vong trên tổng số chừng 110.000 quân Pháp có mặt tại Đông Dương vào đầu năm 1947) cũng là một chiến thắng. Quân Pháp tin tưởng sau khi chiếm được Hà Nội, họ sẽ có thể dễ dàng và nhanh chóng bình định được toàn bộ Việt Nam, nhưng cuộc chiến đã kéo dài 9 năm, kết thúc tại chiến trường Điện Biên Phủ với thất bại hoàn toàn của người Pháp.

Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh, phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3 giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau đúng như vậy.
  • Cầm cự: bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19/12/1946 đến hết Chiến dịch Việt Bắc. Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng chiến, cầm cự miền Nam, miền Trung, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp, Toàn quốc kháng chiến ở các tỉnh, Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc.
  • Phòng ngự: sau chiến dịch Việt Bắc đến hết Chiến dịch Biên giới. Có các chiến dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên giới.
  • Phản công: Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Đồng Bằng, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Hòa Bình, Chiến dịch Thượng Lào, Kế hoạch Navarre, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (21/7/1954).
Ở các vùng khác, Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công phối hợp đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc Pháp phân tán xé lẻ khối quân cơ động. Việt Minh tiến đánh Tây Bắc, Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục đông-xuân 1953-1954.
Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre".
Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1. 

                    Bộ đội cùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc xẻ núi, làm đường vào trận địa. 
 
                     
 Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954. Từ phải sang trái:
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp,
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trần Đăng Ninh, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng.
 


Tuyến đường goòng bắc qua sông ở Bồng Sơn (Bình Định)
để phục vụ kháng chiến chống Pháp
   
   Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ điểm Na Sản để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào.
     Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam.
Ngày 12 tháng 4 năm 1953 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến quân sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược".
Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển và có tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp. 

                             Bảo đảm hậu cần mở đầu Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954

Bảo đảm hậu cần mở đầu Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954


      Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống thất bại, đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, Navarre cho rằng khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ.
Khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến cục đông-xuân 1953-1954 để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh.
Chiến dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng Trung và Nam Lào.
Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở đã hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ.
 
                               Cơ động nhanh, linh hoạt tiến công kết hợp chặn đánh tiếp viện
Bộ đội Đại đoàn 316 cùng lực lượng địa phương mở đường cơ động Tuần Giáo-Điện Biên Phủ trong Đông-Xuân 1953-1954.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 sư đoàn với một số lượng lớn pháo xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này đang tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương không cho Pháp tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Liên Xô về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam bao vây quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu hàng. Ở Washington đã có cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự, nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ.
Cục diện chiến trường Đông Dương, tại thời điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Minh kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt Nam, quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.


                           
Máy bay Pháp ném bom napalm vào vị trí của Đại đoàn 320 trong Cuộc hành quân Mouette (Hải Âu)







Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và quân đội Liên hiệp Pháp (gồm lực lượng viễn chinh Pháp, lê dương Pháp, phụ lực quân bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam, tiền thân của quân ngụy Việt Nam Cộng Hòa sau này).
Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam. Bằng thắng lợi quyết định này, lực lượng QĐNDVN do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1954, sau suốt 2 tháng chịu trận. Giữa trận này, quân Pháp đã gia tăng lên đến 16.000 người nhưng vẫn không thể chống nổi các đợt tấn công của QĐNDVN. Thực dân Pháp đã không thể bình định Việt Nam bất chấp nhiều năm chiến đấu và sự hỗ trợ ngày càng gia tăng của Hoa Kỳ, và họ đã không còn khả năng để tiếp tục ứng chiến sau thảm bại này.
Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng quân đội của một cường quốc châu Âu bằng sức mạnh quân sự. Được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc nước này phải hòa đàm và rút ra khỏi Đông Dương, các thuộc địa của Pháp ở Châu Phi được cổ vũ mạnh mẽ cũng đồng loạt nổi dậy. Chỉ riêng trong năm 1960, 17 nước châu Phi đã giành được độc lập và đến năm 1967, Pháp đã buộc phải trao trả độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.
Qua đó, đại thắng của QĐNDVN trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn được xem là một thảm họa đánh dấu thất bại hoàn toàn của nước Pháp trong nỗ lực tái gây dựng thuộc địa Đông Dương nói riêng và đế quốc thực dân của mình nói chung sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, qua đó chấm dứt thời đại hơn 400 năm của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển trên thế giới.

                                 Không có mô tả ảnh.
Chiếc mũ cối (ở đây là mũ thời Đệ nhị Đế chế Pháp) là một hình tượng đại diện cho chủ nghĩa thực dân.

Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, quân Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường. Trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập được quyền kiểm soát vững chắc tại nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng... và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Nước Pháp hầu như không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh Đông Dương và đã phải cầu viện sự trợ giúp của Hoa Kỳ.
Kết quả là tới năm 1954, 80% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do Hoa Kỳ chi trả. Tới năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa. Tổng cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân.
Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình mà không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Henri Navarre than phiền trong hồi ký: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm được Tổng thống Dwight D. Eisenhower mời sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7, Eisenhower quyết định dành 400 triệu đô la cho Đông Dương để "tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự". Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và được chấp nhận 385 triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại. 
 
                               Không có mô tả ảnh.
Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gắn huy chương lên quân kỳ của trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. sau lưng ông là Tổng trưởng Quốc phòng Phan Huy Quát.
 
      Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh. Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:
  • Bước thứ nhất: Thu Đông 1953 và Xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến công của Việt Minh; thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng 3 tỉnh ở đồng bằng Liên khu 5; đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng Quân đội Quốc gia Việt Nam (QGVN) và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của Việt Minh.
  • Bước thứ hai: Từ Thu Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu trên, sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường chính giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc Việt Minh phải chấp nhận điều đình theo những điều kiện của Pháp, nếu khước từ, quân cơ động chiến lược của Pháp sẽ tập trung mọi nỗ lực loại trừ chủ lực Việt Minh.
Từ hàng ngũ quân đội Pháp, Stefan Kubiak đã đứng trong hàng quân của Việt Minh, chiến đấu như một người cộng sản. Với những đóng góp của mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, người lính lê dương đó đã được vinh dự mang họ Bác Hồ.
Trong ký ức của cựu chiến binh Điện Biên Phủ Nguyễn Xuân Tính (phường Trung Đô, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) vẫn in đậm hình ảnh của một người lính ngoại quốc cao lớn. Họ gặp nhau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ đang ở giai đoạn ác liệt nhất. Qua sự “sửng sốt” ban đầu về một người lính “mắt xanh, mũi lõ” trong hàng ngũ Bộ đội Cụ Hồ là sự ngưỡng mộ, kính phục của người lính Việt Nam. Và họ đã gọi nhau bằng hai từ “đồng chí”.
 
Stefan Kubiak - Hồ Chí Toán, Đại úy quân đội nhân dân Việt Nam người Ba Lan - 1
Stefan Kubiak - Đại tá Hồ Chí Toán (Ảnh tư liệu).
Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính nhớ lại: “Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ vào giai đoạn ác liệt nhất, tôi còn nhớ rất rõ, ngày đó, tôi được lệnh theo đồng chí Toàn - Thủ trường đơn vị sang Đại đội Pháo binh. Trên trận địa pháo, tôi quá đỗi ngạc nhiên khi thấy một người nước ngoài cao lớn trong bộ trang phục Bộ đội Cụ Hồ. Ông đang say sưa tính toán các phương án, cự ly trên tấm bản đồ tác chiến.
Như đọc được sự ngạc nhiên trong mắt tôi, đồng chí Toàn kể sơ qua về người lính Tây ở trong hàng ngũ của Bộ đội Cụ Hồ. Thì ra, đó là Stefan Kubiak, một người dân Ba Lan, đã từng đứng “bên kia chiến tuyến”.
Sinh ra ở Ba Lan, Stefan Kubiak lớn lên và bị cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi kết thúc chiến tranh, ông bị rơi vào tay quân Pháp và bị cưỡng bức vào đội quân lê dương ngoại quốc rồi được đưa tới Việt Nam. Người lính ấy đã được dạy cầm súng bắn vào những người "chống lại sự khai phá văn minh của Pháp quốc".
Thế nhưng, những ngày tháng cầm súng, người lính lê dương này nhận ra rằng mình đang cố gắng tiêu diệt những người đang bảo vệ Tổ quốc của mình trước sự xâm lăng của ngoại bang. Bằng tinh thần dũng cảm, gan dạ và tình yêu đất nước, con người hồn hậu nơi đây, Stefan Kubiak đã rời bỏ hàng ngũ những người lính lê dương để đứng vào hàng ngũ những người chiến đấu vì chính nghĩa.

Để thực hiện kế hoạch này, người Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng lực lượng phụ lực quân (Forces suppletives) bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V, Navarre được chính phủ Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Điều quan trọng hơn, Kế hoạch Navarre được Mỹ tán thành. Viện trợ của Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh của Pháp.
Kế hoạch Navarre chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Edgar Faure nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ Franc. Ở Hội đồng Tham mưu trưởng cũng như Hội đồng Quốc phòng Mỹ, người ta bàn nên bớt cho Navarre nhiệm vụ bảo vệ nước Lào đề ra trong kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu, nhưng Pháp không muốn bỏ Lào. Thống chế Alphonse Juin, người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn mạnh: cần trao cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào, đồng thời lưu ý Liên Xô và Trung Quốc nguy cơ xung đột quốc tế có thể diễn ra nếu Lào bị chiếm. Tướng Navarre xác nhận nếu QĐNDVN đánh Thượng Lào thì ông không thể đương đầu được, Navarre yêu cầu chính phủ ra chỉ thị rõ rệt nếu trường hợp đó xảy ra. Điều đó liên quan mật thiết đến việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau này.

                     Không có mô tả ảnh. 

                  dân công hỏa tuyến Đoàn xe thồ đi vào huyền thoại (ảnh tư liệu)


Trước mùa khô 1953-1954, so sánh lực lượng về quân số, Pháp đã vượt lên khá xa. Tổng quân số của Pháp là 445.000 người, gồm 146.000 quân Âu Phi (33%) và 299.000 quân Việt (67%). Tổng quân số của QĐNDVN là 252.000 người. Như vậy, quân Pháp đông hơn 193.000 người. Chỉ riêng lực lượng phụ lực quân bản xứ do các sĩ quan Pháp chỉ huy cũng đã đông hơn 47.000 người.
Lực lượng cụ thể 2 bên lúc này như sau:
- Về bộ binh, Pháp có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu đoàn; quân phụ lực bản xứ có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu đoàn và 10 đại đội; quân phụ lực bản xứ có 1 trung đoàn và 7 đại đội. Về không quân, Pháp có 580 máy bay; quân phụ lực bản xứ có 25 máy bay thám thính và liên lạc. Về hải quân, Pháp có 391 tàu; quân phụ lực bản xứ có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi. Lực lượng QĐNDVN vẫn đơn thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung đoàn và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, QĐNDVN có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn và 4 đại đội. Về phòng không, QĐNDVN có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn.
- Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, QĐNDVN có tổng cộng 127 tiểu đoàn so với 267 tiểu đoàn của Pháp. Biên chế tiểu đoàn của QĐNDVN là 635 người; biên chế tiểu đoàn Pháp từ 800 - 1.000 người.
Về viện trợ, từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 6 năm 1954, Việt Minh nhận được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn các loại, trị giá 34 triệu đôla. Giá trị này chỉ bằng 0,85% lượng viện trợ mà Mỹ cấp cho Pháp.
Pháp tuy có ưu thế vượt trội về binh lực, nhưng thế trận chiến tranh nhân dân của QĐNDVN đã làm cho Pháp phải phân tán trên khắp các chiến trường. Không những Pháp không thể tập trung toàn bộ ưu thế đó vào một trận đánh quyết định, mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào các đại đoàn chủ lực QĐNDVN trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn, thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm nhiệm vụ chiếm đóng, chỉ còn 82 tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến thuật và chiến lược. Già nửa lực lượng cơ động Pháp, 44 tiểu đoàn, phải tập trung trên miền Bắc để đối phó với chủ lực QĐNDVN. Vào thời điểm này, nếu tính chung trên chiến trường Bắc Bộ, lực lượng QĐNDVN mới bằng 2/3 lực lượng Pháp (76 tiểu đoàn/112 tiểu đoàn), nhưng tính riêng lực lượng cơ động chiến lược, thì lực lượng QĐNDVN đã vượt hơn về số tiểu đoàn (56/44).
 
                      Không có mô tả ảnh.
                                   Quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20/11/1953.
                                    Máy bay Douglas A-26 Invader (có tên là B-26), là một loại máy bay cường kích ném bom hai động cơ, được hãng Douglas Aircraft chế tạo trong Chiến tranh thế giới thứ 2, hoạt động chủ yếu trong những cuộc đối đầu của thời kỳ Chiến tranh Lạnh.            
Máy bay ném bom B-26 Invader do Mỹ viện trợ là loại máy bay ném bom chính của Pháp tại Điện Biên Phủ.
              Khám phá “mãnh thú” M24 Chaffe của Mỹ đại bại ở Việt Nam ...
                              Xe tăng M24 Chaffee  của Pháp do Mỹ viện trợ
 
       Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn."
Theo đó QĐNDVN sẽ mở một loạt chiến dịch tại nhiều vùng để phân tán binh lực địch, không cho quân Pháp co cụm tạo thành một lực lượng cơ động đủ mạnh để xoay chuyển tình thế.
  • Trên chiến trường Bắc Bộ, sẽ mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân Pháp còn chiếm đóng Lai Châu, uy hiếp quân Pháp ở Thượng Lào.
  • Hướng thứ hai, là Trung Lào.
  • Hướng thứ ba, là Hạ Lào, đề nghị quân Pathet Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam mở cuộc tiến công vào hai hướng này, nhằm tiêu diệt sinh lực địch và giải phóng đất đai.
  • Hướng thứ tư, là bắc Tây Nguyên.
  • Vùng tự do ba tỉnh Liên khu 5 sẽ là mục tiêu chính những cuộc tiến công đánh chiếm của Pháp trong mùa khô này, cần chuẩn bị sẵn sàng đón đánh.
Hội chứng Thượng Lào, trong đó có kinh đô Luông Phabăng, luôn luôn ám ảnh Navarre. Nếu cả miền cực Bắc Đông Dương rơi vào quyền kiểm soát của Việt Minh sẽ là một nguy cơ lớn cho cuộc chiến tranh. Nó sẽ mang lại những ảnh hưởng chính trị tai hại, vì nước Pháp bất lực trong việc bảo vệ các quốc gia liên kết. Tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Bộ, nhiệt liệt tán đồng ý kiến này.
Điện Biên Phủ là một thung lũng phì nhiêu ở Tây Bắc Việt Nam. Dài 15 km, rộng 5 km, giữa thung lũng có sông Nậm Rốm chảy qua cánh đồng do người Thái cầy cấy. Một sân bay bỏ phế từ lâu, có từ thời Nhật, nằm dọc theo sông Nậm Rốm về phía bắc lòng chảo. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 300 km về phía tây, cách Lai Châu 80 km về phía nam. Xung quanh là núi đồi trập trùng bao quanh tứ phía, rừng già khắp nơi làm chỗ ẩn náu dễ dàng cho quân du kích. Cũng như Lai Châu và Nà Sản, Điện Biên Phủ là một điểm chiến lược bảo vệ tây bắc Lào và thủ đô Vạn Tượng (Luang Prabang). Tướng Cogny nhấn mạnh: Điện Biên Phủ là một căn cứ bộ binh - không quân (base aéroterrestre) lý tưởng, là "chiếc chìa khoá" của Thượng Lào.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền Tây Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
Ngày 2 tháng 11 năm 1953, Navarre đã chỉ thị cho Cogny từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 11, chậm nhất là ngày 1 tháng 12, phải đánh chiếm Điện Biên Phủ để thiết lập một điểm ngăn chặn bảo vệ cho Thượng Lào. Cuộc hành binh đánh chiếm Điện Biên Phủ có bí danh là "Hải Ly" (Cuộc hành quân Castor), chỉ huy là tướng Jean Gilles.
Ngày 20 tháng 11, lúc 11 giờ sáng, 63 chuyến máy bay C-47 Dakota thả 3.000 lính dù và chiến cụ xuống Điện Biên Phủ. Thiếu tá Marcel Bigeard và Tiểu đoàn 6 Dù thuộc địa (6e BPC) nhảy xuống điểm DZ (dropping zone) Tây Bắc, Thiếu tá Jean Bréchignac và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Dù nhẹ số 1 (II/1er RCP) nhảy xuống điểm DZ phía nam. Tiểu đoàn của Bigeard nhảy trúng khu vực có 1 tiểu đoàn QĐNDVN đang tập dượt nên bị chống cự mãnh liệt. Máy bay Pháp phải yểm trợ đến 4 giờ chiều QĐNDVN mới rút lui với tổn thất vài chục người. Pháp thiệt hại 16 người chết, 47 bị
thương.
 
             Binh đoàn xe đạp thồ huyền thoại trong chiến dịch Điện Biên ...

Có tổng cộng 34.931 dân công phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ
(28.619 dân công đi bộ, 6.312 dân công đi cùng với xe đạp thồ)
(Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sự Quân sự Việt Nam)

                            
        Dân công hỏa tuyến với những chiếc xe đạp thồ góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại
 
Hai ngày sau, ngày 21 và 22 tháng 11, liên tiếp 3 tiểu đoàn Dù nữa được thả xuống cùng với một đại đội pháo binh. Ngày 24 tháng 11, phi đạo được sửa chữa xong, phi cơ lại đáp xuống được. Vậy là từ ngày 20 tới ngày 22 tháng 11 năm 1953, Pháp đã ném xuống cánh đồng Mường Thanh 6 tiểu đoàn dù, khoảng 4.500 quân.
Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Navarre đã quyết định "chấp nhận chiến đấu ở Điện Biên Phủ". Phương Tây coi đây là một sự chuyển hướng có tính chiến lược của Navarre, vì Điện Biên Phủ không nằm trong kế hoạch mùa khô 1953 - 1954. Ngày 7 tháng 12, Đại tá Christian de Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm, chuẩn bị đương đầu với một cuộc tiến công. Có người hỏi Navarre vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá? Navarre trả lời: "Cả tôi lẫn Cogny đều không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries".
Ngày 15 tháng 12, lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tiếp tục tăng lên 11 tiểu đoàn. Ngày 24 tháng 12, Navarre tới Điện Biên Phủ dự lễ Giáng sinh với quân đồn trú. Tại Điện Biên Phủ, một tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện, chạy suốt chiều dài cánh đồng Mường Thanh, hai bên bờ sông Nậm Rốm.
Sau này có những ý kiến chỉ trích các tướng lĩnh Pháp đã "mắc một lỗi sơ đẳng" khi thiết lập một căn cứ ở nơi quá xa xôi hẻo lánh, dễ bị bao vây cô lập để rồi bại trận. Nhưng ở vào thời điểm đó, với những yêu cầu chiến lược và chính trị của Pháp trong cuộc chiến (phải giữ bằng được Lào), thì việc thiết lập này là yêu cầu tất yếu và không thể khác được, như Navarre đã viết: "Có cần bảo vệ Lào hay không? Tôi thì chỉ còn một cách chấp nhận phương án chiến đấu ở Điện Biên Phủ."Hơn nữa, các chỉ huy Pháp tin rằng lợi thế công nghệ vượt trội và sự trợ giúp của Mỹ sẽ giúp họ đánh bại được QĐNDVN vốn có trang bị thô sơ hơn nhiều. Jean Pouget sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Navarre, viết: "...có thể khẳng định là không một ai trong số hơn 50 chính khách, các tướng lĩnh đã tới thăm Điện Biên Phủ, phát hiện được cái thế thua đã phơi bày sẵn...". Tướng Navarre viết: "Theo ông de Chevigné vừa ở đó về 2-3 "thật là bất khả xâm phạm. Vả lại, họ không dám tiến công đâu.". Tướng Cogny thì tin tưởng: "Chúng ta đến đây là buộc Việt Minh phải giao chiến, không nên làm gì thêm để họ phải sợ mà lảng đi".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Tới lúc này, quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vẫn có thể mở một con đường rút lui. Vì sao Navarre không làm điều đó khi thấy nguy cơ một trận đánh sẽ xảy ra? Theo tôi, Navarre vẫn muốn Điện Biên Phủ sẽ làm vai trò "chiếc nhọt tụ độc" trên miền Bắc.". Theo đó, Điện Biên Phủ ra đời nhằm thu hút chủ lực QĐNDVN, tại đó Pháp sẽ dùng ưu thế hỏa lực vượt trội để tiêu diệt. Nhưng thực ra, Navarre đã bị cuốn theo các hoạt động trong Chiến cục đông-xuân 1953-1954 của QĐNDVN mà ông không hề biết. Trận đánh xảy ra không bất ngờ mà nó đã nằm trong dự tính của QĐNDVN về một thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh.

phao cao xa - dieu bat ngo voi quan phap tai dien bien phu hinh 1
Pháo cao xạ 37 ly của quân ta lần đầu tiên xuất trận trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm cho quân Pháp hết sức bất ngờ, bối rối và bị thiệt hại đáng kể (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)

                      

Hội nghị Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch tại Mường Phăng (Sở chỉ huy cuối cùng) hạ quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 22/4/1954....

Bộ đội kéo pháo vào lần 2 chuẩn bị tác chiến theo phương án "đánh chắc, tiến chắc"... 

                               
                                   Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo
“Đêm tối, đường dốc, dây kéo pháo đứt, pháo lao nhanh xuống dốc. Trước cảnh hiểm nghèo đó, anh hô anh em: “thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo”, và buông tay lái xông lên trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo. Pháo bị vướng nghiêng tựa vào bờ, nhờ đó đơn vị giữ được pháo không rơi xuống vực.”
                       
                    Chú thích ảnh 
Ngày 22/4/1954, vị trí 206 bị quân đội ta tiêu diệt, quân địch còn sống sót giơ tay xin hàng. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Về phía Việt Nam, kể từ sau năm 1950 do nối thông biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, QĐNDVN đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố.
Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết chiến chiến lược của QĐNDVN. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã hạ quyết tâm: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương."
Thời gian hoạt động ở Tây Bắc sẽ chia làm hai đợt:
  • Đợt 1: Đại đoàn 316 tiến hành đánh Lai Châu và kết thúc vào cuối tháng 1 năm 1954. Sau đó, bộ đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh một thời gian khoảng 20 ngày, tập trung đầy đủ lực lượng để đánh Điện Biên Phủ.
  • Đợt 2: Tiến công Điện Biên Phủ. Thời gian đánh Điện Biên Phủ ước tính 45 ngày. Nếu Pháp không tăng cường thêm nhiều quân, có thể rút ngắn hơn. Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4 năm 1954. Phần lớn lực lượng sau đó sẽ rút, một bộ phận ở lại tiếp tục phát triển sang Lào cùng với bộ đội Lào uy hiếp Luông Pha Bang.
Trước trận đánh, về tương quan lực lượng:
Lực lượng QĐNDVN tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công pháo 351 (công binh – pháo binh). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Thiếu tướng Đặng Kim Giang làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Ông Lê Liêm làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch.
Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu - sau đợt 1 được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155 ly (4 khẩu), 2 đại đội súng cối 120 ly (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng). Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân.
                      
       Pháo binh là lực lượng không thể thiếu trong những trận đánh của chiến dịch. 
                    Bao tang Chien thang Dien Bien Phu anh 10
Pháo lựu 105MM do Mỹ sản xuất viện trợ cho quân đội Pháp. Khẩu pháo được quân đội Việt Nam thu giữ trong chiến dịch Biên giới 1950, sau đó được Đại đội 806, Trung đoàn 45, Đại đoàn 351 sử dụng và bắn những quả đạn đầu tiên vào cứ điểm Him Lam trong trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 13/3/1954.
 
                   Hình ảnh bộ đội hò kéo pháo được tái hiện vô cùng sinh động. Đây là khẩu pháo cao xạ 37mm của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn công pháo 351, đã bắn rơi chiếc máy bay trinh sát Monra đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ ngày 14-3-1954.
Hình ảnh bộ đội hò kéo pháo được tái hiện vô cùng sinh động. Đây là khẩu pháo cao xạ 37mm của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn công pháo 351, đã bắn rơi chiếc máy bay trinh sát Monra đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ ngày 14/3/1954.
 
                  Hình ảnh “Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng”.
Hình ảnh “Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng” trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Chiến tranh Đông Dương.
 
                untitled-design.png
Giá trị bảo vật quốc gia của khẩu pháo số hiệu 510681 gắn liền với sự kiện đêm 1/2/1954. Đại đội 827, Tiểu đoàn 394 của Trung đoàn Cao xạ 367 khi ấy nhận nhiệm vụ đưa khẩu pháo này vượt qua những con dốc dựng đứng. Tại Dốc Chuối - nỗi ám ảnh với độ dốc kinh hoàng và những khúc cua tay áo nghẹt thở, dây tời pháo bất ngờ bị đứt. khối thép nặng hơn 2 tấn có ngy cơ lao xuống vực sâu. Khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn bánh pháo và anh dũng hy sinh. Trong suốt 56 ngày đêm "khoét núi ngủ hầm", khẩu pháo này đã cùng đơn vị bắn rơi 3 máy bay địch, trong đó có một chiếc máy bay ném bom Helldiver vốn là niềm tự hào của không quân Pháp.

Tổng cộng tất cả là 10 trung tâm đề kháng được đặt theo tên phụ nữ Pháp: Gabrielle (Bắc), Béatrice, Dominique (Đông), Eliane, Isabelle (Nam), Junon, Claudine, Françoise (Tây), Huguette và Anne Marie. 10 trung tâm đề kháng lại chia ra thành 49 cứ điểm phòng thủ kiên cố liên hoàn trang bị hỏa lực mạnh yểm trợ lẫn nhau; có 2 sân bay: Mường Thanh và Hồng Cúm để lập cầu hàng không. Tổng công quân Pháp ban đầu có hơn 10.800 quân, cùng với đó là 2.150 lính phụ lực bản xứ và QGVN. Trong trận đánh có thêm hơn 4.300 lính (trong đó có 1.901 lính phụ lực bản xứ) được tiếp viện cho lòng chảo. Đại tá Christian de Castries (trong thời gian chiến dịch được thăng hàm Chuẩn tướng) là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm.
Hỏa lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ: một ở Mường Thanh, một ở Hồng Cúm, có thể yểm trợ lẫn cho nhau, và cho tất cả các cứ điểm khác mới khi bị tiến công. Ngoài hỏa lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi trung tâm đề kháng còn có hỏa lực riêng, bao gồm nhiều súng cối các cỡ, súng phun lửa, và các loại súng bắn thẳng bố trí thành hệ thống vừa tự bảo vệ, vừa yểm hộ cho những cứ điểm chung quanh.
Hỗ trợ cho Điện Biên Phủ là lực lượng không quân Liên hiệp Pháp, và không quân dân sự Mỹ. Tổng cộng Pháp huy động 100 máy bay C-47 Dakota, cộng thêm 16 máy bay C-119 của Mỹ. Máy bay ném bom gồm 48 chiếc B-26 Invader, 8 oanh tạc cơ Privater. Máy bay cường kích gồm 227 chiếc F6F Hellcat, F8F Bearcat và F4U Corsair. Điện Biên Phủ có hai sân bay. Sân bay chính ở Mường Thanh, và sân bay dự bị ở Hồng Cúm, nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiến máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 - 300 tấn hàng, và thả dù khoảng 100 - 150 tấn.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm ba phân khu yểm hộ lẫn nhau. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự độc lập. Nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành cụm cứ điểm, gọi là "trung tâm đề kháng theo kiểu phức hợp", có lực lượng cơ động, hỏa lực riêng, hệ thống công sự vững chắc, chung quanh là hào giao thông và hàng rào dây kẽm gai, khả năng phòng ngự khá mạnh. Mỗi một phân khu gồm nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng, cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm, đều có hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, chịu được đạn pháo 105mm. Hệ thống công sự phụ (hàng rào, bãi dây thép gai, bãi mìn) dày đặc, hệ thống hỏa lực rất mạnh. Pháp đã rải xuống hàng ngàn km dây kẽm gai, chôn hàng vạn các loại mìn: mìn phát sáng, mìn sát thương, mìn cóc nhảy, mìn chứa xăng khô napalm để thiêu cháy hàng loạt bộ binh... Phương tiện chống đạn khói, máy hồng ngoại tuyến bắn đêm, áo chống đạn, súng phóng lựu hiện đại nhất cũng được cung cấp.


                       
Liên tiếp thất bại trước mục tiêu quay lại xâm lược Việt Nam, cuối năm 1953, Pháp chọn Điện Biên Phủ để làm đồn trú. Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V., Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền Tây Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công. Theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó. (Trong ảnh là Phó tổng thống Mỹ Ních-xơn kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tháng 1/1954).

                   
Pháp tập trung xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một “Pháo đài không thể công phá”, nhằm thu hút lực lượng của ta vào đây để tiêu diệt. Điện Biên Phủ trở thành khâu chính, là trung tâm của kế hoạch quân sự Na Va. (Trong ảnh là Trung tướng O Danien - Chủ tịch hội đồng cố vấn của Mỹ ở Đông Dương kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tháng 3/1954).

                  
Điện Biên Phủ được Pháp xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, gồm các tiểu đoàn bộ binh và quân dù thiện chiến nhất của Pháp, có hỏa lực mạnh của pháo, xe tăng và không quân chi viện, kết hợp với hệ thống công sự và chiến hào vững chắc, với lưới thép gai và lưới mìn dày đặc.
                 
                                        Hầm súng 12,7mm của Pháp.
 
Theo đánh giá thì khu trung tâm tập đoàn cứ điểm chỉ rộng khoảng 2,5 km vuông đã có tới 12 khẩu 105mm, 4 khẩu 155mm, 24 khẩu cối 120 và 81mm và một số dự trữ đạn dược đồ sộ (tương đương từ 6 đến 9 cơ số đạn trước trận đánh, hơn 10 vạn viên) là quá mạnh. Navarre đã viết trong hồi ký: "Tất cả đều có những cảm tưởng thuận lợi trước sức mạnh phòng thủ của tập đoàn cứ điểm và tinh thần tốt của đạo quân đóng ở đây. Không một ai mảy may tỏ ý lo ngại... Chưa có một quan chức dân sự hoặc quân sự nào đến thăm (bộ trưởng Pháp và nước ngoài, những tham mưu trưởng của Pháp, những tướng lĩnh Mỹ) mà không kinh ngạc trước sự hùng mạnh của nó cũng như không bày tỏ với tôi tình cảm của họ".
Về phía QĐNDVN, tuy có quân số đông đảo hơn nhiều đối phương nhưng chưa có kinh nghiệm đánh công kiên lớn trên cấp tiểu đoàn. Theo lý thuyết quân sự "Ba tấn một thủ", bên tấn công phải mạnh hơn bên phòng thủ ít nhất là 3 lần cả về quân số lẫn hỏa lực thì mới là cân bằng lực lượng. Về quân số, QĐNDVN chỉ vừa đạt tỉ lệ này, nhưng về hỏa lực và trang bị thì lại kém hơn hẳn so với Pháp. Như các cuộc chiến tranh trước đó đã cho thấy, một nhóm nhỏ quân phòng thủ trong công sự kiên cố trên cao, sử dụng hỏa lực mạnh như đại liên có thể chặn đứng và gây thương vong nặng nề cho lực lượng tấn công đông hơn nhiều lần. Tiêu biểu như trận Iwo Jima, quân Mỹ dù áp đảo 5 lần về quân số và hàng chục lần về hỏa lực nhưng vẫn bị quân Nhật phòng thủ trong các lô cốt gây thương vong nặng nề.
Trong từng trận đánh cụ thể, việc tiếp cận đồn Pháp cũng không dễ dàng. Khi Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20 tháng 11 năm 1953, một trong những công việc đầu tiên của họ là san phẳng mọi chướng ngại vật trong thung lũng, để tạo điều kiện tối đa cho tầm nhìn và tầm tác xạ của các loại hoả lực, tiếp đó là để lấy nguyên vật liệu nhằm xây dựng tập đoàn cứ điểm. Hàng nghìn dân vốn sống ở trung tâm Điện Biên Phủ được dồn vào khu vực bản Noong Nhai. Hơn nữa, các loại hỏa lực như xe tăng, lựu pháo, súng cối, súng phóng lựu, DKZ v...v... không bao giờ ngồi yên. Để có thể xung phong tiếp cận hàng rào, bộ đội Việt Nam phải chạy khoảng 200 m giữa địa hình trống trải dày đặc dây kẽm gai và bãi mìn, phơi mình trước hỏa lực Pháp mà không hề có xe thiết giáp và chướng ngại vật che chắn. Chỉ huy Pháp tự tin rằng, nếu QĐNDVN chỉ biết học theo Chiến thuật biển người mà Trung Quốc áp dụng ở Triều Tiên, thì quân tấn công dù đông đảo tới đâu cũng sẽ bị bom, pháo và đại liên Pháp tiêu diệt nhanh chóng.
Và đặc biệt khó khăn lớn nhất của QĐNDVN là khâu tiếp tế hậu cần. Phía Pháp cho rằng QĐNDVN không thể đưa pháo lớn (cỡ 105mm trở lên) vào Điện Biên Phủ, các khó khăn hậu cần của QĐNDVN là không thể khắc phục nổi nhất là khi mùa mưa đến. Navarre lý luận rằng Điện Biên Phủ ở xa hậu cứ Việt Minh 300–400 km, qua rừng rậm, núi cao, QĐNDVN không thể tiếp tế nổi lương thực, đạn dược cho 4 đại đoàn được, giỏi lắm chỉ một tuần lễ là QĐNDVN sẽ phải rút lui vì cạn tiếp tế. Trái lại quân Pháp sẽ được tiếp tế bằng máy bay, trừ khi sân bay bị phá hủy do đại bác của QĐNDVN. Navarre cho rằng trường hợp này khó có thể xảy ra vì sân bay ở quá tầm trọng pháo 105 ly của QĐNDVN, và dù QĐNDVN mang được pháo tới gần thì tức khắc sẽ bị máy bay và trọng pháo Pháp hủy diệt ngay.
Vì các lý do trên, khi thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã đánh giá sai khả năng của đối phương và đều tự tin cho rằng Điện Biên Phủ là "pháo đài bất khả chiến bại", là "cái bẫy để nghiền nát chủ lực Việt Minh". Nếu QĐNDVN tấn công sẽ chỉ chuốc lấy thảm bại



Tướng Cogny đã trả lời phỏng vấn rằng: "Chúng ta đã có một hỏa lực mạnh đủ sức quét sạch đối phương đông gấp 4-6 lần… Tôi sẽ làm tất cả để bắt tướng Giáp phải "ăn bụi" và chừa cái thói muốn đóng vai một nhà chiến lược lớn". Tướng Navarre nhận xét: "Làm cho Việt Minh tiến xuống khu lòng chảo! Đó là mơ ước của đại tá Castries và toàn ban tham mưu. Họ mà xuống là chết với chúng ta... Và cuối cùng, chúng ta có được cái mà chúng ta đang cần: đó là mục tiêu, một mục tiêu tập trung mà chúng ta có thể " quất cho tơi bời". Charles Piroth, chỉ huy pháo binh thì tự đắc: "Trọng pháo thì ở đây tôi đã có đủ rồi… Nếu tôi được biết trước 30 phút, tôi sẽ phản pháo rất kết quả. Việt Minh không thể nào đưa được pháo đến tận đây; nếu họ đến, chúng tôi sẽ đè bẹp ngay... và ngay cả khi họ tìm được cách đến, tiếp tục bắn, họ cũng không có khả năng tiếp tế đầy đủ đạn dược để gây khó khăn thật sự cho chúng tôi!" Pierre Schoenderffer, phóng viên mặt trận của Pháp, nhớ rõ câu trả lời của Piroth: "Thưa tướng quân, không có khẩu đại bác nào của Việt Minh bắn được 3 phát mà không bị pháo binh của chúng ta tiêu diệt!".
Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam làm việc với Tổng cục Cung cấp tính toán bước đầu, phải huy động cho chiến dịch 4.200 tấn gạo (chưa kể gạo cho dân công), 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường. Tất cả đều phải vận chuyển qua chặng đường dài 500 km phần lớn là đèo dốc hiểm trở, máy bay Pháp thường xuyên đánh phá. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn, và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Cả hai con số này đều cao gấp nhiều lần so với kế hoạch dự kiến ban đầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp quyết đoán. Một mặt động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.

Henri Eugène Navarre (31/7/1898-26/9/1983) là một tướng quân đội Pháp từng tham gia chiến đấu trong Chiến tranh thế giới I, Chiến tranh thế giới II và là Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ.
 
                     
Báo chí nước ngoài từng ca ngợi Navarre như một danh tướng có thể “uốn nắn lại tình hình Đông Dương…”
 
Henri Navarre sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời làm Chưởng lý quan tòa và luật sư vùng Normandie, Pháp. Khi tham gia quân đội Pháp Navarre từng phục vụ ở Đội kỵ binh Saint Germain số 16, chỉ huy đội kỵ binh Maroc số 3. Trong Thế chiến lần thứ II, Navarre chỉ huy sư đoàn Constantine ở Algeria (Bắc Phi). Khi sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Navarre là tướng 4 sao, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương (NATO). Báo chí nước ngoài từng ca ngợi Navarre như một danh tướng có thể “uốn nắn lại tình hình Đông Dương…”
Ngày 07/5/1953, Tướng Henri Navarre được cử sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Trong lúc quân đội Pháp ngày càng lún sâu và bế tắc và thất bại ở Tây Bắc và Thượng Lào (1952, 1953), khi nhận chức, vị tướng quân đội Pháp đã tuyên bố đầy tự tin: “Bây giờ chúng ta có thể nhìn thấy rõ chiến thắng (ở Việt Nam) giống như nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm”.
Navarre quyết định chọn Điện Biên Phủ là căn cứ điểm phòng ngự chiến lược, mạnh nhất Đông Dương khi đó, với ý đồ chặn đường tiếp tế của Việt Minh đi qua Lào đồng thời thực hiện chiến lược tập trung dồn lực lượng theo kiểu “con nhím” khiến kẻ thù khi tấn công sẽ bị tiêu hao sinh lực và thất bại. Navarre tính toán rằng để chiếm lại tuyến đường tiếp tế này, Tướng Giáp sẽ phải tiến hành một cuộc tấn công qui mô lớn vào Điện Biên Phủ, tổ chức chiến tranh kiểu truyền thống và khi đó quân đội Pháp sẽ có lợi thế.

      Tổng cộng trong thời gian tiến hành chiến dịch, Việt Minh đã huy động được hơn 26 vạn dân công từ các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4…, 20.911 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng, đóng góp cho chiến dịch 25.000 tấn lương thực. Trừ số tiêu hao dọc đường, số tới được mặt trận để cung cấp cho quân đội là 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62 tấn đường, 577 tấn thịt, 565 tấn lương khô. Ngoài ra, từ Thanh Hóa, Hòa Bình, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ… cũng đã huy động được hơn 7.000 xe cút kít, 1.800 xe trâu, 325 xe ngựa, hàng chục ngàn xe đạp thồ để phục vụ hậu cần chiến dịch.
Ngoài ra, Pháp cũng đã đánh giá sai khả năng pháo binh của QĐNDVN khi cho rằng đối phương vốn không có xe cơ giới nên không thể mang pháo lớn (lựu pháo 105 mm và pháo phòng không 37 mm) vào Điện Biên Phủ mà chỉ có thể mang loại pháo nhẹ là sơn pháo 75 mm trợ chiến mà thôi. Đối lại, những người lính QĐNDVN đã khôn khéo tháo rời các khẩu pháo rồi dùng sức người để kéo, sau khi đến đích thì ráp lại. Bằng cách đó họ đã đưa được lựu pháo 105 mm lên bố trí trong các hầm pháo có nắp khoét sâu vào các sườn núi, xây dựng thành các trận địa pháo rất nguy hiểm và lợi hại, từ trên cao có khả năng khống chế rất tốt lòng chảo Điện Biên Phủ mà lại rất an toàn trước pháo binh và máy bay đối phương. Với thế trận hỏa lực này, các khẩu pháo của QĐNDVN chỉ cách mục tiêu 5–7 km, chỉ bằng một nửa tầm bắn tối đa để bắn chính xác hơn, ít tốn đạn và sức công phá cao hơn, thực hiện được nguyên tắc "phân tán hỏa khí, tập trung hỏa lực", từ nhiều hướng bắn vào một trung tâm, ngược lại pháo binh Pháp lại bố trí ở trung tâm, phơi mình trên trận địa.
Mặc dù vậy, việc sử dụng đạn pháo 105mm của QĐNDVN trong chiến dịch rất tiết kiệm. Trước mỗi trận đánh có hiệp đồng binh chủng, số lượng đạn pháo đều phải được duyệt trước. Ngoài ra, các trung đoàn, đại đoàn muốn xin pháo chi viện thì cứ 3 viên phải được phép của Tham mưu trưởng chiến dịch, 5 viên trở lên phải được đích thân Tổng tư lệnh duyệt. Bởi với dự trữ chỉ có hơn 15.000 viên, nếu bắn cấp tập theo kiểu "không tiếc đạn" như Pháp thì các khẩu pháo sẽ hết đạn chỉ sau vài ngày.
Bên cạnh đó, các chỉ huy pháo binh QĐNDVN còn lập trận địa nghi binh – dùng gỗ thui đen thành khẩu pháo giả, nghếch nòng lên, khi trận địa thật phát hỏa thì chiến sĩ phụ trách nghi binh từ trong công sự, ném bộc phá, tung lên không trung, làm cho 80% bom đạn của Pháp dùng phản pháo đã dồn vào đánh trận địa giả, đồng thời bảo vệ được những trọng pháo quý giá của mình. Suốt chiến dịch, pháo binh QĐNDVN chỉ hỏng một pháo 105mm. Đây là một nguyên nhân làm cho pháo binh Pháp dù có các thiết bị phản pháo hiện đại vẫn bị thất bại. Tướng Võ Nguyên Giáp về sau nhận xét: "Thực tế kinh nghiệm này của chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành truyền thống chiến đấu dùng thô sơ đánh hiện đại của quân đội ta trong suốt chiều dài chống Mỹ cứu nước.". Còn tướng Paul Ély, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp khi diễn ra trận Điện Biên Phủ nhận định: "Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và một lòng tin."Ngày 14 tháng 1 năm 1954 tại hang Thẩm Púa, tướng Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án "đánh nhanh thắng nhanh" và ngày nổ súng dự định là 20 tháng 1. Nhiệm vụ thọc sâu giao cho Đại đoàn 308, đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ. Đại đoàn 308 sẽ đánh vào tập đoàn cứ điểm từ hướng tây, xuyên qua những vị trí nằm trên cánh đồng, thọc thẳng tới sở chỉ huy của de Castries. Các đại đoàn 312, 316 nhận nhiệm vụ, đột kích vào hướng Đông, nơi có những cao điểm trọng yếu. Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng tiến công ồ ạt đồng loạt, thọc sâu, đã được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương cùng Bộ Tổng tham mưu phê duyệt với sự nhất trí của đoàn cố vấn quân sự trung ương Trung Quốc, bởi đánh sớm khi Pháp chưa tập trung đủ lực lượng và củng cố công sự thì có nhiều khả năng giành chiến thắng.


                              
                           Tướng De Castries trong hầm ẩn nấp tại Điện Biên Phủ 
 
Ngày 7/12/1953, Đại tá Christian de Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm, chuẩn bị đương đầu với một cuộc tiến công. Có người hỏi Navarre vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá? Navarre trả lời: "Cả tôi lẫn Cogny đều không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: Trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries".
Tuy nhiên, tài điều quân linh hoạt và sáng suốt của Tướng Giáp trong trận đánh Điện Biên Phủ đã khiến Tướng De Castries phải thốt lên rằng: “Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị cao cấp nào”.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ngay sát giờ nổ súng, Tướng Giáp đã hạ lệnh rút hết quân đội, pháo binh ra khỏi vị trí, lùi thời điểm tiến đánh, chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Đây chính là yếu buộc quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5/1954 sau 2 tháng chịu trận. Dù triển khai tới 16.000 binh sĩ nhưng quân đội Pháp vẫn không thể chống đỡ trước các cuộc tấn công dồn dập của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thậm chí, sau nhiều năm chiến đấu tại Việt Nam và nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Mỹ, quân đội Pháp vẫn không thể tiếp tục ứng chiến sau thất bại Điện Biên Phủ.
“Ông chỉ huy những chiến dịch tưởng chừng không thể thắng, đưa ra những quyết định mà có lẽ không một vị tướng nào dám thực hiện. Đặc biệt, Tướng Giáp rất giỏi khi tổ chức, bố trí những trận đánh du kích lấy ít địch nhiều”, Tướng De Castries nhận định.

Do một đơn vị trọng pháo QĐNDVN vào trận địa chậm nên ngày nổ súng được quyết định lùi lại thêm 5 ngày đến 17 giờ ngày 25 tháng 1. Sau đó, do tin về ngày nổ súng bị lộ, Pháp biết được, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn lại 24 giờ, chuyển sang 26 tháng 1.
Ngày và đêm 25 tháng 1, tướng Giáp suy nghĩ và quyết định phải cho lui quân do ba khó khăn rõ rệt:
  1. Bộ đội chủ lực cho đến thời điểm đó chưa thành công trong việc đánh các công sự nằm liên hoàn trong một cứ điểm. Ví dụ tại trận Nà Sản bộ đội đã không thành công, và bị thương vong nhiều.
  2. Trận này là một trận đánh hiệp đồng lớn, nhưng pháo binh và bộ binh chưa qua tập luyện, chưa qua diễn tập.
  3. QĐNDVN từ trước chỉ quen tác chiến ban đêm ở những địa hình dễ ẩn náu, chưa có kinh nghiệm tấn công đồn ban ngày trên địa hình bằng phẳng, nhất là với một đối phương có ưu thế tập trung máy bay, pháo binh, xe tăng chi viện.
Tướng Giáp cho rằng phương án "Đánh nhanh thắng nhanh" mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên không thể đảm bảo chắc thắng. Ông kiên quyết tổ chức lại trận đánh theo phương án "Đánh chắc, tiến chắc", đánh dài ngày theo kiểu "bóc vỏ" dần tập đoàn cứ điểm.
Cuộc họp Đảng ủy, Bộ chỉ huy QĐNDVN sáng 26 tháng 1 không đi đến được ý kiến thống nhất tuy không ai tin rằng trận này sẽ chắc thắng. Tuy nhiên, tướng Giáp quyết định hoãn cuộc tấn công chiều hôm đó. Ông kết luận: Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra.
Trong vòng gần 2 tháng sau đó, pháo được kéo ra, QĐNDVN tiếp tục đánh nghi binh, mở đường rộng hơn, dài hơn chung quanh núi rừng Điện Biên Phủ, rồi lại kéo pháo vào, xây dựng công sự kiên cố hơn, hào được đào sâu hơn, tiếp cận gần hơn căn cứ của quân Pháp, lương thảo, vũ khí từ hậu phương dồn lên cho mặt trận nhiều hơn. Tất cả chuẩn bị cho trận đánh dài ngày, có thể sang đến cả mùa mưa.
Về chiến thuật tác chiến bộ binh, từ những kinh nghiệm thu được ở Hòa Bình, Nà Sản, Bộ chỉ huy QĐNDVN chủ trương tiêu diệt dần từng trung tâm đề kháng, từng cứ điểm từ ngoài vào trong, thu hẹp phạm vi chiếm đóng cho tới lúc Pháp không còn sức kháng cự. Không sử dụng lối đánh xung phong trực diện mà dùng cách đánh vây lấn, đào hào áp sát cứ điểm địch. Cách đánh này cần một thời gian chuẩn bị và chiến đấu dài ngày, thường gọi là "Đánh chắc Tiến chắc", cũng còn được gọi là "đánh bóc vỏ". Bộ binh được đường hào che chắn và có được vị trí tiến công gần nhất có thể, sẽ hạn chế tối đa thương vong khi tấn công.Sau này, tướng Giáp cho rằng đây là quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân của mình. Việc điều chỉnh phương châm tác chiến này kéo theo việc phải chuẩn bị lại hậu cần cho chiến dịch, nhu cầu hậu cần sẽ tăng lên gấp nhiều lần, diễn ra trong mùa mưa và phải bố trí lại sơ đồ các trận địa pháo, phải kéo pháo ra khỏi các sườn núi rồi kéo lại vào các vị trí mới. QĐNDVN đã quyết tâm thực hiện và đã thực hiện được với một nỗ lực rất lớn.
      Sau này khi tổng kết về chiến thắng của QĐNDVN tại Điện Biên Phủ, các tướng lĩnh và các nhà nghiên cứu của hai bên đều thống nhất được với nhau: một nguyên nhân chính làm nên chiến thắng của QĐNDVN tại trận đánh này là đã huy động được rất lớn nguồn sức người để đảm bảo hậu cần cho chiến dịch, một việc mà Pháp cho rằng không thể giải quyết được. Trong hồi ký Navarre cũng khẳng định: "Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng không may cho chúng ta, ông ta đã nhận ra điều đó và đây là một trong những lý do khiến ông ta tạm ngưng tiến công.".Phát hiện lực lượng lớn của QĐNDVN đang tiến về lòng chảo Điện Biên, de Castries liên tục tung lực lượng giải tỏa các ngọn đồi. Theo Benard Fall thì từ ngày 6 tháng 12 năm 1953 đến 13 tháng 3 năm 1954, de Castries đã huy động một nửa lực lượng của tập đoàn cứ điểm vào những cuộc hành binh giải tỏa: "Theo những bản kê mới nhất từ Điện Biên Phủ gửi về, thiệt hại của binh đoàn đồn trú từ 20 tháng 11 đến 15 tháng 2 đã lên tổng số 32 sĩ quan, 96 hạ sĩ quan và 836 binh lính, tương đương với 10% số sĩ quan và hạ sĩ quan và 8% binh lính ở thung lũng. Nói cách khác, số tổn thất của người Pháp tương đương với một tiểu đoàn bộ binh nhưng số sĩ quan là của hai tiểu đoàn. Trong tổng số này còn chưa tính đến số thiệt hại của các đơn vị trong cuộc hành binh Pollux".
      Xuất thân là thầy giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành chính trị gia, tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là biểu tượng của nhiều thế hệ người dân về ý chí kiên cường và niềm tự hào dân tộc.
     Con đường đi tới thành công của đại tướng cũng gắn với những tuyên ngôn bất hủ không chỉ trong lúc điều binh, khiển tướng mà ngay cả khi ông đã về với đời thường, con người ông vẫn toát lên trách nhiệm của một người chỉ huy tài ba.
      Cùng điểm lại một vài câu nói bất hủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để hiểu hơn về lòng yêu nước, sự nhiệt huyết luôn cháy rực trong con người anh hùng này.
    "... Giải phóng dân tộc là nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước..."

       Navarre đã viết trong cuốn hồi ký của mình: "Trong thời gian này, đại tá Castries thực hành những trận chiến đấu mạnh mẽ có tính thăm dò xung quanh Điện Biên Phủ. Ở khắp nơi, quân Pháp đều vấp phải những đơn vị bộ đội vững vàng và phòng ngự rất giỏi của địch. Chúng ta bị thiệt hại khá nặng nề. Rõ ràng là vòng vây chung quanh tập đoàn cứ điểm không hề bị rạn nứt" 
Ngày 11 tháng 3 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới các chiến sĩ: "Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới... Chúc các chú thắng to!"
       Cùng ngày, lệnh động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được gửi tới các đơn vị: "Chiến dịch Điện Biên Phủ sắp bắt đầu! Đây là chiến dịch công kiên quy mô lớn nhất trong lịch sử quân đội ta... Đánh thắng ở Điện Biên Phủ, chúng ta sẽ phá tan kế hoạch Nava, giáng một đòn chí tử vào âm mưu mở rộng chiến tranh của bọn đế quốc Pháp - Mỹ. Chiến dịch thắng lợi sẽ có ảnh hưởng vang dội trong nước và ngoài nước, sẽ là một cống hiến xứng đáng vào phong trào hòa bình thế giới đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt - Miên - Lào... Giờ ra trận đã đến! Tất cả các cán bộ và chiến sĩ, tất cả các đơn vị, tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên, thi đua lập công, giật lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của Hồ Chủ tịch".
Chiến dịch diễn ra trong 56 ngày đêm nhưng các trận đánh không diễn ra liên tục, vì QĐNDVN có khó khăn trong hậu cần nên không thể tiến công liên tục mà chia thành các đợt tiến công. Sau mỗi đợt lại tổ chức lại quân số, bổ sung hậu cần.

        Lúc 17 giờ 05 phút chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, lực lượng QĐNDVN chính thức nổ súng...
Chiến dịch được tiến hành làm ba đợt.
Đợt 1 từ 13 tháng 3 đến 17 tháng 3, QĐNDVN tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm.
Các đơn vị được bố trí như sau: Đại đoàn 312 (thiếu trung đoàn 165) tiến công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam. Trung đoàn 165 (312) và trung đoàn 88 (đại đoàn 308) tiêu diệt trung tâm đề kháng đồi Độc Lập. Trung đoàn 36 (308) tiêu diệt trung tâm đề kháng Bản Kéo. Trung đoàn 57 (đại đoàn 304) kiềm chế pháo binh đối phương ở Hồng Cúm.
                       Chiến dịch Điện Biên Phủ: Ngày 3-5-1954, những mũi lê đã chĩa vào bên sườn De Castries 
                 Những chỉ huy quân Pháp tại Điện Biên Phủ, năm 1954. Ảnh tư liệu    
  
                     Những nhân vật "có tiếng" của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ    
 
Tướng De Castries và các tướng lĩnh sĩ quan pháp bàn luận kế hoạch xây dựng chốt giữ cứ điểm Điện Biên Phủ
                   Tướng René Cogny (người cầm gậy), Christian de Castries (không đội mũ), và tướng Henri Navarre (giữa).
 Tướng René Cogny (người cầm gậy), Christian de Castries (không đội mũ), và tướng Henri Navarre (giữa).

      
Để bảo đảm nguyên tắc "trận đầu phải thắng", tham mưu đã bố trí một lực lượng mạnh hơn quân Pháp gấp 3 lần, nếu kể cả lực lượng dự phòng, gấp 5 lần, có kế hoạch phòng pháo, phòng không, chống phản kích, dự kiến các tình huống cơ bản và cách xử lý trong quá trình diễn biến chiến đấu. Công tác kiểm tra được thực hiện tỉ mỉ.
Chỉ sau năm ngày chiến đấu, cánh cửa phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã mở toang. Lực lượng phản kích Pháp không thể giành lại những vị trí đã mất, đặc biệt chỗ dựa của tập đoàn cứ điểm là sân bay đã bị uy hiếp nghiêm trọng. Ngày 20/3/1954, Tổng tham mưu trưởng Pháp - Ely, được phái sang Mỹ cầu viện. Ely phát biểu công khai: "Pháp không thể thắng được với phương tiện hiện có trong tay" và yêu cầu Mỹ tăng cường giúp đỡ vũ khí, đặc biệt là máy bay ném bom B-26, và nếu cần thì can thiệp bằng không quân.
Mới chưa hết ba ngày chiến đấu, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã tiêu thụ một số lượng đạn dược khổng lồ: 12.600 viên đại bác 105 ly, 10.000 viên đạn cối 120 ly, 3.000 viên đạn trọng pháo 155 ly, chiếm gần nửa số lượng dự trữ. 11 khẩu súng cối 120 ly bị phá hủy hoàn toàn, và 4 khẩu đại bác 105, 155 ly hỏng cần được thay thế. Nhưng con nhím Điện Biên Phủ lúc này không chỉ cần có đạn dược và lương thực. Pháp cần vận chuyển cho binh đoàn đồn trú những thứ tối cần thiết không thể thả bằng dù, và di tản thương binh đã làm cho những căn hầm cứu chữa dưới lòng đất bên bờ sông Nậm Rốm trở nên ngột ngạt. Nhưng do chiến hào của QĐNDVN đã vào gần, đặc biệt là sự tiếp cận của súng máy phòng không, những cuộc hạ cánh ban đêm trở nên hết sức khó khăn. Pháo cao xạ đã trở thành nỗi kinh hoàng đối với những viên phi công Pháp và Mỹ. Các loại máy bay chiến đấu vận tải, kể cả pháo đài bay B-24 Liberator của Hoa Kỳ, liên tiếp bị bắn rơi trên bầu trời Điện Biên Phủ.

                    

          Cột khói bốc lên sau trận đánh mở màn trên đồi Him Lam, ngày 13/3/1954. Ảnh: Getty

      Tổng kết đợt 1, QĐNDVN đã tiêu diệt hoàn toàn 2 tiểu đoàn tinh nhuệ, 1 tiểu đoàn và 3 đại đội quân Quốc gia Việt Nam bị bắt, tổng cộng 2.000 lính đã bị loại khỏi vòng chiến đấu, 12 máy bay bị bắn rơi. Báo cáo kết luận tại Hội nghị sơ kết đợt 1 chiến dịch đã kết luận phải tiếp tục "nắm vững phương châm và chủ trương tác chiến, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn 2".
        Đợt 2 từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh phân khu trung tâm đặc biệt là dãy điểm cao quan trọng phía đông, vây lấn bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm.
       Đây là đợt tiến công vào phân khu trung tâm chủ yếu nhằm chiếm dẫy đồi phía đông khống chế cánh đồng Mường Thanh (các cụm Dominique và Eliane) với hơn một vạn quân, nằm trên dãy đồi phía đông và ken nhặt với nhau trên cánh đồng hai bên bờ sông Nậm Rốm. Hơn ba mươi cứ điểm ở đây được chia thành 4 trung tâm đề kháng mang tên những cô gái: Huguette, Claudine, Eliane, Dominique. Mỗi trung tâm đề kháng gồm nhiều cứ điểm. Huguette và Claudine gồm khoảng hai chục cứ điểm ở phía tây, nằm trên cánh đồng bằng phẳng bên hữu ngạn sông Nậm Rốm. Eliane và Dominique ở phía đông, gồm hơn một chục cứ điểm tiếp giáp nhau bên tả ngạn sông Nậm Rốm, có những cao điểm lợi hại kiểm soát toàn bộ trận địa khu trung tâm. Trong số các cao điểm này, Eliane 2 (đồi A1) giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó khống chế một phạm vi khá rộng gồm cả khu vực sở chỉ huy của de Castries và hai chiếc cầu trên sông Nậm Rốm.

                     Ngày 12/4/1954: Chiếc máy bay thứ 50 của địch bị bắn rơi ...
                      
Những sĩ quan chỉ huy không quân Pháp trong tình trạng hoang mang tột độ, đại tá Nico, chỉ huy không quân vận tải ở Hà Nội điện than phiền với tướng Logrin, Tư lệnh không lực Viễn Đông rằng tuy các máy bay ở Điện Biên Phủ đã bay cao nhưng vẫn bị cao xạ Việt Minh bắn rơi.
 
        
Chủ trương của Đảng ủy Mặt trận trong đợt 2 là tập trung ưu thế binh hỏa lực đánh chiếm đồng thời các cao điểm phía đông. Trong số này, có 5 cao điểm quan trọng. Đó là các cao điểm E, D1 thuộc trung tâm đề kháng Dominique, và các cao điểm C1, C2, A1 thuộc trung tâm đề kháng Eliane.
      18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu.
       Tại cao điểm C1 (Eliane 1), QĐNDVN lần đầu mở rào bằng đạn phóng bộc lôi. Sau 5 phút tiểu đoàn 215 của Trung đoàn 98 đã dọn xong cửa mở qua bảy lần rào dây thép gai, sau đó xung phong. Được sự hỗ trợ của pháo binh, trong 10 phút, đại đội 38 đã chiếm được chiếc lô cốt nằm trên mỏm đất cao nhất nhô lên trên đỉnh đồi, được gọi là mỏm Cột Cờ, và cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng lên nóc sở chỉ huy. Quân Pháp dồn về những lô cốt ở khu vực phía tây, gọi pháo bắn vào trận địa. Các chiến sĩ QĐNDVN xung kích dùng lưỡi lê, lựu đạn lao lên đánh giáp lá cà. Trận đánh diễn ra đúng 45 phút. Toàn bộ một đại đội 140 lính thuộc tiểu đoàn I/4e RTM bị tiêu diệt hoặc bắt sống. Số thương vong của QĐNDVN là 10 người.
       Đồi C2 (Eliane 4) kế tiếp C1 bởi một dải đất hình yên ngựa. 23 giờ, một trung đội của đại đội 35 đột nhập được một đoạn hào của C2, chiếm liên tiếp 11 lô cốt và ụ súng. Tuy nhiên lực lượng phía sau qua nhiều lần xung phong đều bị hỏa lực rất mạnh của Pháp cản lại. Tiểu đoàn 215 quyết định lui về C1 tiếp tục chuẩn bị tạo điều kiện tiến công C2 ban ngày.
      Tại cao điểm D1 (Dominique 2), Trung đoàn 209 sử dụng hai tiểu đoàn 166 và 154, thời gian mở cửa đột phá cũng diễn ra nhanh. Chỉ sau 5 phút, ở hướng chính, tiểu đoàn 166 đã phá xong ba lượt hàng rào và xung phong vào căn cứ, thọc sâu chia cắt đội hình Pháp ra từng mảng để tiêu diệt. Tuy nhiên, ở hướng phụ, giao thông hào đã bị Pháp lấp mất 50 mét, tiểu đoàn 154 tiến vào gặp lầy, mở cửa chậm bị hỏa lực trong đồn khống chế, phải mất gần một giờ mới lọt vào trong đồn. Viên đại úy Garandeau, chỉ huy tiểu đoàn III/3e RTA, bị pháo vùi chết trong hầm của sở chỉ huy. Sau hai giờ chiến đấu, QĐNDVN chiếm toàn bộ đồi D1.


Bộ đội Việt Nam tấn công những cứ điểm của Pháp tại sân bay Mường Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 4/1954.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo đen) cùng các tướng lĩnh quân đội Việt Nam hoạch định kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ tháng 3/1954. Đợt tấn công đầu tiên của bộ đội Việt Nam nhắm vào các điểm chốt Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo của quân đội thực dân Pháp diễn ra từ ngày 13/3 đến 17/3.
 
Xe tăng Pháp quần thảo trên cánh đồng Mường Thanh
Tình cảnh khốn quẫn của quân Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ | Báo Dân trí

          Quân Pháp khốn quẫn trong cứ điểm Điện Biên

Bao vây cắt cầu hàng không của địch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Máy bay của quân Pháp bị bắn hạ ở chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954.  Ảnh tư liệu 


        
Tướng De Castries trong hầm chỉ huy tại cứ điểm Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ - những hình ảnh biểu tượng của chiến thắng chấn động địa cầu - ảnh 16
Điện Biên Phủ - những hình ảnh biểu tượng của chiến thắng chấn động địa cầu - ảnh 16

Tại cao điểm E (Dominique 1), pháo nổ đúng lúc diễn ra cuộc thay quân giữa một đại đội của tiểu đoàn III/3e RTA với đại đội của tiểu đoàn 5e BPVN tới thay thế đang tập trung dọc giao thông hào không có hầm trú ẩn. Toàn bộ quân số của 2 đại đội với đầy đủ trang bị, cùng đại đội súng cối hạng nặng nằm giữa vị trí bị pháo bắn tiêu diệt. Hai mũi tiến công của tiểu đoàn 16 và tiểu đoàn 428 (trung đoàn 141) mở cửa qua hàng rào dây kẽm gai và bãi mìn và chiếm toàn bộ cứ điểm vào lúc 19 giờ 45 phút. Đại đoàn tiếp tục điều tiểu đoàn 130 tiến công sang D2, các đơn vị vừa chiếm được đồi E phát triển vào các ngọn đồi ở phía trong. Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến khi trời sáng.
        Tại đồi A1 (Eliane 2), trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chủ động ra lệnh cho hỏa lực của trung đoàn bắn vào cứ điểm yểm hộ cho xung kích mở cửa trong nửa giờ. Tuy nhiên, pháo binh Pháp lúc này đã kịp phản pháo, bắn dữ dội vào cửa mở. Mất hơn nửa giờ, hai mũi tiến công của các tiểu đoàn 251 và 249 mới vượt qua 100 mét rào và bãi mìn lọt vào đồn. Pháp đã dựa vào địa thế tự nhiên của quả đồi, bố trí công trình phòng thủ thành ba tuyến. Bên ngoài, ở tiền duyên là tuyến chống cự chủ yếu. Tuyến trung gian có đặt trận địa hỏa lực. Trên đỉnh đồi là tuyến cố thủ và sở chỉ huy. Trong cứ điểm có nhiều tuyến chiến hào và giao thông hào liên hoàn. Tất cả các lô cốt và hầm trú ẩn đều có nắp đậy, chịu được đạn súng cối và pháo. Lực lượng QĐNDVN bị tổn thất nhiều khi vượt qua cửa mở.
       Lúc này cuộc chiến đấu trên những cao điểm khác đã kết thúc, Pháp dồn tất cả hỏa lực đại bác và súng cối vào A1 mong cứu vãn tình hình. Các đợt xung phong của tiểu đoàn 255 cũng không vượt qua hàng rào lửa đại bác. Quá nửa đêm, cuộc chiến đấu tại A1 diễn ra giằng co. Mỗi bên giữ được nửa đồi.
Sở chỉ huy nhận định: Bộ đội đã hoàn thành phần quan trọng nhiệm vụ đợt 2, nhưng vẫn chưa chiếm được cao điểm phòng ngự then chốt A1. Trung đoàn 174 đã sử dụng cả lực lượng dự bị, không còn khả năng giải quyết A1, trung đoàn 98 đánh xuống C2 không thành công, đã bị tiêu hao, cần điều một đơn vị khác tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1, và phòng ngự ở C1 ban ngày. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: Các đơn vị khẩn trương tổ chức trận địa phòng ngự trên các cao điểm C1, D1, E, chuẩn bị đánh địch phản kích ban ngày, quyết không để địch chiếm lại. Đại đoàn 308 đưa trung đoàn 102 từ phía tây sang phía đông, tiếp tục tiến công tiêu diệt A1 và phòng ngự tại C1.
       Các mỏm đồi có tính sống còn đối với tập đoàn cứ điểm, đặc biệt là các đồi A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2). Một mặt, Pháp dựa vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương (légionnaire) phản kích các cứ điểm này vì có tính sống còn với quân Pháp.
       Ngày 31 tháng 3, Tiểu đoàn 8e BPC lợi dụng màn khói đại bác tiến lên bò lên Dominique 2. Lúc này lực lượng cảnh giới của QĐNDVN đã tử thương khi pháo Pháp bắn phá. Sau 25 phút, Pháp chiếm lại gần hết đồi D1, dồn đại đội phòng ngự vào một góc. Bộ đội Việt Nam dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh lui những đợt phản kích của Pháp, quyết tử giữ mảnh đồi còn lại. Tuy đường dây điện thoại đã đứt, nhưng đài quan sát trung đoàn phát hiện kịp thời sự có mặt của quân Pháp trên D1, lập tức dùng pháo bắn chặn và điều lực lượng lên tăng viện. Hai đại đội chi viện đã đảo lộn thế trận. Đại úy Pichelin, chỉ huy đại đội dù xung kích, tử trận. Thấy tình thế bất lợi, Tiểu đoàn trưởng Tourret yêu cầu thiếu tá Bigeard tiếp viện thêm lực lượng. Bigeard đáp: "Tôi không còn gì trong tay. Nếu không giữ được nữa thì biến!" Sau 1 giờ chiến đấu, quân Pháp rút về Mường Thanh. Bigeard đã không chiếm lại được Dominique 2 mà còn phải bỏ luôn cả Dominique 5 (D3) do một đại đội Thái bảo vệ và rút trận địa pháo tại Dominique 5 (210), vì biết những cao điểm này không thể đứng vững nếu đã mất Dominique 2.
      1 giờ 30 chiều cùng ngày, Bigeard trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn dù 6e BPC và 5e BPVN tiến lên Eliane 1. Đại đội 273 của trung đoàn 102 đã có mặt trên cao điểm từ buổi sáng cùng với bộ phận còn lại của đại đội 35 trung đoàn 98 đánh trả. Lần này Pháp chiếm được điểm cao Cột Cờ, đẩy những chiến sĩ phòng ngự vào thế bất lợi. Pháo binh không thể tiếp tục yểm hộ vì không phân biệt được vị trí 2 bên. Các chiến sĩ đã lấy vải dù trắng buộc lên đầu súng làm chuẩn cho pháo binh. Trong lúc pháo nổ dồn dập, trung đoàn đưa một bộ phận tăng viện theo đường hào mới đào phía đồi D, cùng với những người phòng ngự đánh bật quân Pháp khỏi Cột Cờ, khôi phục lại trận địa. 16 giờ, Bigeard buộc phải ra lệnh rút lui, để lại trận địa gần 100 lính Pháp tử trận.
       Những cuộc phản kích của Pháp ngày 31 tháng 3 đã hoàn toàn thất bại. 10 giờ tối, Chỉ huy trưởng Phân khu Trung tâm Langlais gọi điện thoại cho Bigeard, hỏi có thể giữ được những gì còn lại trong đêm nay không! Bigeard trả lời: "Thưa Đại tá, chừng nào còn một người sống sót, tôi sẽ không bỏ Eliane (A1)". A1 đã trở thành "thành luỹ cuối cùng" (dernier rempart) của tập đoàn cứ điểm.
      Để chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, phía QĐNDVN đã áp dụng chiến thuật "vây lấn" rất có hiệu quả bằng việc đào các giao thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của Pháp.
Những tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km và việc đào công sự được thực hiện liên tục thường xuyên. Dựa trên những yêu cầu về chiến thuật, QĐNDVN đã xây dựng hai loại đường hào: đường hào trục dùng cho việc cơ động pháo, vận chuyển thương binh, điều động bộ đội với số lượng lớn và đường hào tiếp cận địch của bộ binh.
  • Loại đường hào thứ nhất chạy một vòng rộng bao quanh toàn bộ trận địa địch ở phân khu trung tâm.
  • Loại đường hào thứ hai chạy từ những vị trí trú quân của đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng cắt ngang đường hào trục, tiến vào vị trí sẽ tiêu diệt.
      Các loại đường hào này đều có chiều sâu 1,7 mét và không quá rộng để bảo đảm an toàn trước bom đạn địch, giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển. Đáy của đường hào bộ binh rộng 0,5 mét, đáy hào trục rộng 1,2 mét. Dọc đường hào, bộ binh có hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để đối phó với những cuộc tiến công của Pháp.
Suốt ngày đêm, từng giờ, những chiến hào nổi, chiến hào ngầm của bộ đội nhích dần đến gần phân khu trung tâm. Từ những đầu hào chỉ cách quân Pháp vài chục mét, bộ đội dùng ĐKZ bắn sập dần những lô cốt, ụ súng. Chiến hào tiến vào gần còn mang cho quân Pháp nhiều tai họa khác. Hàng rào dây kẽm gai và bãi mìn của cứ điểm lúc này lại trở thành những vật chướng ngại bảo vệ an toàn cho chính những người tiến công.

Quân Pháp sống trong những điều kiện cực kỳ khủng khiếp. Trên diện tích 1 km vuông, một khoảng rộng bên bờ sông phải dành cho bệnh viện và cái "hố chung". Nếu tập đoàn cứ điểm không ngừng thu hẹp thì khu vực dành cho thương binh và người chết cũng không ngừng phát triển. Công binh Pháp ra sức đào thêm những nhánh hào mới để mở rộng bệnh viện nhưng vẫn không đủ chỗ cho thương binh. Nhiều thương binh phải nằm ngay tại cứ điểm. Chiếc máy xúc duy nhất còn lại chỉ chuyên vào việc đào hố chôn người chết. Danh mục đồ tiếp tế cho Điện Biên Phủ có thêm một yêu cầu khẩn cấp, đó là thuốc sát trùng và thuốc diệt côn trùng DDT. Ruồi nhặng kéo tới đẻ trứng trên những vết thương. Thương binh nặng nằm trên những chiếc giường ba tầng, sáu người trong một căn hầm nhỏ. Nhiều người bị thương sọ não và mắc chứng hoại thư. Máu mủ của những người nằm bên trên nhảy xuống những người nằm bên dưới. Những cẳng tay, cẳng chân, những ống tiêm chôn ngay trong đường hầm, khi trời mưa, nước bên ngoài chảy vào, tất cả lại lềnh bềnh nổi lên. Phần lớn những bộ phận lọc nước đã bị hỏng. Những viên chỉ huy ra lệnh cho binh lính đào giếng nhưng chỉ thấy một thứ nước váng dầu đục ngầu. Rời công sự đi lượm dù hoặc lấy nước là làm mồi cho lính bắn tỉa, khó trở về an toàn. Điện Biên Phủ khẩn thiết yêu cầu gửi thật nhiều ống nhòm ngầm (kính tiềm vọng) vì nhô đầu lên khỏi chiến hào để quan sát đã trở thành mạo hiểm.
       Một trung đoàn QĐNDVN trong một tuần đã thu được 776 dù với đủ cả đạn, gạo, đồ hộp, sữa, dầu hỏa... Số hàng này Pháp đã phải dùng khoảng 30 chuyến Đakôta để chuyên chở lên đây. Đại đoàn 304 thu được 600 viên đạn pháo 105 ly, 3.000 viên đạn cối 120 ly và 81 ly, hàng tấn đạn các cỡ khác, hàng chục tấn lương thực, thuốc men. Tổng số đạn pháo thu được là hơn 5.500 viên, tương đương 1/3 kho đạn của QĐNDVN, đã bổ sung đáng kể tình trạng thiếu đạn vào cuối chiến dịch.
      Cuốn "Nhật ký chiến sự" của Jean Pouget ghi nhận: "Có tới 50% kiện hàng rơi ngoài bãi thả. Ngày 1-4, hơn một nửa số hàng thả rơi ngoài vị trí. Ngày 6-4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm thả xuống Điện Biên, lính Pháp chỉ thu được hai khẩu, số còn lại coi như làm quà cho Việt Minh. Ngày 9-4, trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu được... 6 tấn. Ngày 13-4, máy bay C-119 của Mỹ đã "trút toàn bộ số đạn pháo 105mm xuống trận địa Việt Minh, coi như tiếp tế đạn cho đối phương!". Ngày 18-4, hơn 30 tấn hàng "rơi lạc" sang trận địa Việt Minh. Ngày 27-4, có tới 70% số dù hàng rơi lạc mục tiêu. Ngày 5-5, hầu hết số hàng do C-119 thả xuống đều rơi xuống trận địa Việt Minh"
      Để động viên tinh thần cho lính Pháp ở Điện Biên Phủ, tháng 4 năm 1954, chính phủ Pháp đã thăng quân hàm trước thời hạn cho de Castries, từ Đại tá lên Chuẩn tướng (nhiều tài liệu tiếng Việt ghi là Thiếu tướng). Ngày 15 tháng 4, lúc 16 giờ, một chiếc C-119 bay đến lượn mấy vòng rồi thả xuống một loạt dù, trong đó có một chiếc dù đỏ rơi gần trận địa QĐNDVN. Nó được đưa về trụ sở trung đoàn. Trong hòm toàn những gói quà gồm thuốc lá, rượu, xúc xích, áo may ô, lưỡi dao cạo râu, và một lá thư màu hồng của vợ Castries gửi cho chồng nhân dịp được thăng lên tướng. Số hàng này được giữ lại và trao cho de Castries 1 tháng sau, khi ông ta đã trở thành tù binh.
Cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ càng ngày càng yếu thế cho phía Pháp. Tình cảnh của quân Pháp ngày càng bi đát và đi đến cùng cực. Điện Biên Phủ cho thấy khi bị bao vây cô lập thì một tiền đồn dù mạnh đến đâu rồi cũng sẽ bị tiêu diệt.
Ngày 20-3, tướng Ely, tổng tham mưu trưởng Pháp bay sang Washington nhờ Mỹ chi viện. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower đã mắc nợ với cử tri Mỹ lời 1 hứa khi tranh cử là sẽ tạo một không khí hòa dịu trong tình hình quốc tế đang bị đầu độc vì chiến tranh Lạnh giữa Tây và Đông. Nhưng ông ta không thể giữ thái độ thờ ơ trước lời kêu cứu của nhà cầm quyền Pháp. Trong hồi ký "Không có thêm những Việt Nam mới" (No more Vietnams), Tổng thống Nixon viết: "Đô đốc Radford, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trương liên quân, đề nghị chúng ta dùng 60 máy bay ném bom B-29 ở Philippines mở các cuộc đột kích vào ban đêm để tiêu diệt các vị trí của Việt Minh. Và đặt ra kế hoạch mang tên "Cuộc hành binh Chim kền kền" (Opération Vautour) nhằm đạt cùng mục tiêu với ba quả bom nguyên tử chiến thuật nhỏ".
Những phe phái "diều hâu" ở Washington cũng xúc tiến kế hoạch. Ngày 3 tháng 4 năm 1954, Ngoại trưởng Mỹ John Dulles và đô đốc Arthur Radford họp với 8 nghị sĩ có thế lực trong Quốc hội, thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, phổ biến ý định của Tổng thống muốn có một nghị quyết cho phép sử dụng lực lượng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Dương. Dulles nhấn mạnh Đông Dương sụp đổ có thể dẫn tới mất toàn bộ Đông Nam Á, Hoa Kỳ cuối cùng sẽ bị đẩy về quần đảo Hawaii. Nếu Mỹ không giúp Pháp thì hậu quả sẽ là Pháp phải từ bỏ chiến tranh Đông Dương.


Ngày 20/11/1953, Pháp bắt đầu nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, và xây dựng nơi đây thành pháo đài bất khả xâm phạm. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Việc Pháp chọn Điện Biên Phủ làm pháo đài, điểm cố thủ nhận được nhiều đánh giá khác nhau. Trong cuốn sách "Kể chuyện đất nước", nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện phải thốt lên: "Từ máy bay nhìn xuống, người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Navarre, một trong những tướng tài ba nhất của thực dân Pháp lại đem quân tự nhốt vào vào cái "chậu" bốn bề bịt kín thế này... Đi bộ từ đồng bằng lên, nhớ lại cảnh đoàn dân công trèo đèo lội suối dưới làn bom đạn của địch... người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Tướng Giáp lại dẫn những đơn vị chủ lực của mình từ nơi xa xôi đến đây để giao chiến trong hoàn cảnh vô cùng không thuận lợi?"... Nhưng lịch sử có lý của nó. Thực tiễn trên chiến trường sau đó đã chứng minh điều đó.  (Nguồn: Báo Đầu tư)
Lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tinh nhuệ và được trang bị vũ khí tối tân với hệ thống phòng ngự liên hoàn. Tại đây, Pháp xây dựng 2 sân bay là Mường Thanh và Hồng Cúm, để tiếp viện và di chuyển quân sĩ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Tại Điện Biên Phủ, Pháp còn nhận được sự hỗ trợ rất lớn của đồng minh Mỹ về hậu cần và vũ khí. Trong ảnh, máy bay vận tải hạng nặng C119 của Mỹ chuẩn bị cất cánh chở hàng giúp thực dân Pháp.(Nguồn: Báo Đầu tư)
Về lực lượng, Pháp có 16.000 quân tại Điện Biên Phủ, được bố trí ở 3 phân khu. Phân khu Bắc gồm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Phân khu trung tâm gồm các cao điểm phía Đông, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh. Phân khu Nam gồm cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Với quân tướng đông, hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vật cản vững chắc, quân lương đầy đủ, người Pháp cho rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là "pháo đài khổng lồ không thể công phá". Pháp tin rằng, quân đội Việt Minh với cách đánh truyền thống, khó khăn thiếu thốn về vũ khí, lương thực, sẽ dễ dàng sa lưới. Vì thế, ngay từ đầu năm 1954, Pháp cho máy bay rải tuyền đơn thách thức Việt Minh tấn công. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Về phía Đảng Lao Động Việt Nam, dù thấy trước nhiều khó khăn, nhưng xác định Điện Biên Phủ là cơ hội lớn sẽ tạo nên bước ngoặt chiến lược, từ đó chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương vẫn xem xét các phương án tiến đánh Điện Biên Phủ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp xác định, quân Pháp tuy từ xa đến, song có hỏa lực mạnh, vũ khí hiện đại, công sự kiên cố, nếu không có phương án tác chiến đúng đắn thì khó có thể thắng địch. Xác định rõ khó khăn và tầm quan trọng của mặt trận này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". (Nguồn: Báo Đầu tư)
Ngày 14/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" và dự định ngày nổ súng là 20/1. Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng những đợt tiến công ồ ạt. Song một đơn vị đại bác vào trận địa chậm và kế hoạch bị lộ nên lịch tấn công dời đến ngày 26/1. Ngày đêm 25/1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ và đưa ra quyết định chuyển từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh", sang "đánh chắc, tiến chắc", đánh dài ngày theo kiểu bóc vỏ từng cứ điểm đối phương. Quyết định đó của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này được ông coi là "quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân" của ông. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Để khắc phục vấn đề hậu cần, Đảng Lao động Việt Nam đã huy động tối đa sức người, sức của. Dân quân tham gia chiến dịch lên đến 260.000 người, cao gấp nhiều lần bộ đội chiến đấu. Tính tổng cả chiến dịch đã huy động tới 12 triệu ngày công. Trong ảnh, công an bảo vệ dân quân mở đường cho chiến dịch Điện Biên Phủ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Bên cạnh xe cơ giới, chiến dịch Điện Biên Phủ đã huy động hơn 20 nghìn chiếc xe đạp thồ tham gia vận chuyển hàng hóa, vũ khí. Ban đầu, một xe chỉ chở được 100 kg, nhưng sau, dân quân Việt Nam đã cải tiến thêm tay ngai, quấn lốp, để mỗi xe chở được trên 200 kg, có xe 300 kg. Xe của chiến sĩ Ma Văn Thắng, quê Phú Thọ chở được 352 kg, đạt kỷ lục trong chiếndịch Điện Biên Phủ. Lực lượng xe đạp thồ của dân quân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành một trong những kỳ tích về quyết tâm và sức người trong điều kiện chiến tranh. (Nguồn: Báo Đàu tư)
Đường vận chuyển trên sông Nậm Na cũng được khai thông. Dân công đã đóng được 11.600 bè gỗ, tổ chức vận chuyển được 1.700 tấn gạo. Để chống chọi với thời tiết núi rừng khắc nghiệt, các đơn vị bộ đội tổ chức ăn sạch, ở sạch, dựng bếp Hoàng Cầm, tăng gia sản xuất. Vì thế trong chiến dịch sức khỏe bộ đội tốt, không có dịch bệnh xảy ra. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Trong khi đó, Pháp không ngờ quân đội Việt Minh đã tháo lựu pháo 105 mm và pháo cao xạ 37 mm, dùng sức người kéo vào lòng chảo Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Minh cũng xây dựng được hệ thống giao thông hào chằng chịt hơn 400 km, và ngày càng khép chặt vòng vây quân Pháp. Để đem đến quyết định thắng lợi trên đồi A1, quân đội Việt Nam đã gỡ mìn, lấy thuốc nổ, chuẩn bị khối bộc phá 1000 kg. (Nguồn: Báo Đầu tư)
17h30 ngày 13/3/1954, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Đợt 1 từ13/3 đến 17/3, Việt Minh tấn công vào phân khu Bắc. Sau 5 ngày đã làm chủ Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Chiến thắng này mở rộngcánh cửa phía bắc Điện  Biên Phủ và khích lệ tinh thần chiến sĩ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Đợt 2 của chiến dịch bắt đầu từ ngày 30/3 đến 30/4, tiến công vào tập đoàn cứ điểm phía Đông, gồm các ngọn đồi C1, E, D, A1. Trong đợt tiến công lần 2, một thời gian biểu mới được áp dụng cho bộ đội là ngủ ngày, đánh suốt đêm. Việt Minh dùng chiến thuật vây lấn bằng hệ thống giao thông hào dần bao vây, siết chặt, đào hào cắt ngang cả sân bay, vào tận chân lô cốt cố thủ của địch. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Ngày 9 tháng 4, tại Washington, Eisenhower họp với Radford, các tham mưu trưởng ba quân chủng và nhiều sĩ quan cao cấp khác xem xét lần cuối mọi mặt tình hình. Rát pho là người duy nhất ủng hộ một cuộc can thiệp của Mỹ dù là đơn phương để tránh sự thất trận ở Điện Biên Phủ. Các Tham mưu trưởng Hải quân, Không quân tỏ vẻ không mặn mà. Riêng Tham mưu trưởng Lục quân Matthew Ridgway phản đối quyết liệt. Ridgway viện dẫn sự thất bại thảm hại từ cuộc hành binh "Bóp nghẹt" (Strangle) của Mỹ ở Triều Tiên, nhằm tiêu diệt con đường tiếp tế, để chứng minh sự hạn chế của những hành động bằng không quân trong loại chiến tranh này. Ridgway cho rằng những cuộc ném bom sẽ dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến tranh mới bằng bộ binh tốn kém với lối thoát không rõ ràng ở lục địa châu Á.
Ý kiến của Ridgway được nhiều người tán đồng và kế hoạch Chim kền kền bị đình chỉ. Nhưng mười năm sau, cũng tại Việt Nam, nhà cầm quyền Mỹ đã quên những kinh nghiệm này.

Đợt 3 từ 1 tháng 5 đến 7 tháng 5, QĐNDVN đánh dứt điểm dẫy đồi phía đông và tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại. Sau khi lực lượng của Pháp đã trở nên tuyệt vọng, suy kiệt, bổ sung bằng dù không còn đủ để duy trì sức chiến đấu, và quân Pháp ở Bắc Bộ cũng đã hết lính dù và lính lê dương (légionnaire) có thể ném tiếp xuống Điện Biên Phủ, QĐNDVN tổ chức đợt đánh dứt điểm các quả đồi phía đông.
      Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, công binh Việt Nam đào đường hầm từ trận địa tại A1 tới dưới hầm ngầm, đưa bộc phá với số lượng lớn vào đặt rồi cho nổ. Một đội đặc biệt gồm 25 cán bộ, chiến sĩ do Nguyễn Phú Xuyên Khung, cán bộ công binh của Bộ, trực tiếp chỉ huy, đã tiến hành công việc ngay trước mũi súng quân Pháp, trong tầm kiểm soát của lựu đạn, khắc phục thêm khó khăn: thiếu không khí, đèn, đuốc mang vào hầm đều bị tắt, số đất moi từ lòng núi ra ngày càng nhiều không được để cho quân Pháp phát hiện. Các chiến sĩ phòng ngự tại A1 đã có kế hoạch chiến đấu không cho quân Pháp tiến xuống cửa hầm, dù phải hy sinh tới người cuối cùng, để bảo vệ bí mật tuyệt đối ý đồ đào hầm.
       Tại phía đông, trung đoàn 98 tiến công cứ điểm C1 lần thứ hai. Thiếu tá Jean Bréchignac, vẫn đặt sở chỉ huy trên Eliane 4, đã linh cảm trận đánh Eliane 1 sắp nổ ra. Ngày 1 tháng 5, Bréchignac quyết định đưa đại đội 3 của tiểu đoàn dù tiêm kích số 2 lên thay thế cho đại đội Clédic đã bị tiêu hao, đồng thời ra lệnh cho đại đội 1 sẵn sàng tham gia phản kích.



                           Ngày 5-5-1954: Quân ta hoàn thành đường hầm ngầm để đặt bộc phá trên đồi A1 - Binh Phuoc, Tin tuc Binh Phuoc, Tin mới tỉnh Bình Phước

Thừa thắng xông lên, quân đội Việt Nam mở đợt tấn công lần 3, từ ngày 1/5 đến 7/5, Việt Minh đánh chiếm các cứ điểm còn lại. Riêng đồi A1, cứ điểm được xây dựng kiên cố nhất đã tiến hành tới 4 đợt tiến công nhưng chỉ chiếm được nửa quả đồi. Đêm 6/5, quân đội Việt Nam phải dùng 1000 tấn thuốc nổ bí mật phá sập hệ thống hầm ngầm, chiếm được quả đồi.

    
                       Chú thích ảnh

17h30 ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm của Tướng De Castries.
  

                     



Tướng De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Sau này De Castries - người từng theo học Trường Quân sự Saint Cyr nổi tiếng thế giới - đã thốt lên rằng: "Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị cao cấp nào".

                           

Toàn bộ 16.000 lính Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoặc bắt sau khi kết thúc chiến dịch.
 
                    

Sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương.

                    Diễn biến Chiến thắng Điện Biên Phủ qua những hình ảnh lịch sử, ảnh 21

Đại diện cho Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam, ông Tạ Quang Bửu, ký hiệp định đình chiến năm 1954.

                  Diễn biến Chiến thắng Điện Biên Phủ qua những hình ảnh lịch sử, ảnh 22

Thiếu tướng Delteil thay mặt Bộ Tổng tư lệnh Quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương ký bản hiệp định đình chiến ở Việt Nam và Lào ở Hội nghị Geneva.

       Ngày 1-5, Đại đội 811 của QĐNDVN đã có 20 ngày đêm phòng ngự tại C1, được lệnh rời khỏi trận địa 200 mét cho hỏa pháo chuẩn bị. Sơn pháo đặt trên đồi D1 nhắm từng hỏa điểm trên C1 bắn phá. Dứt tiếng pháo, tổ bộc phá lập tức mở những hàng rào cự mã ngăn cách, đưa bộ đội xông lên phía Cột Cờ. Chỉ sau năm phút, QĐNDVN đã chiếm được Cột Cờ. Lực lượng dù xung kích của Pháp mới lên tiếp viện bắn xối xả vào khu vực Cột Cờ. Tuy nhiên, Đại đội 1480 từ phía dưới tiến lên đã kịp thời có mặt, cùng với 811 hình thành hai mũi tiến công chia cắt quân Pháp để tiêu diệt.
      Nửa đêm, toàn bộ quân Pháp bị tiêu diệt. Dây thép gai và mìn lấy từ trận địa lập tức được trải ra sườn đồi thành một bãi chướng ngại dày đặc, đề phòng quân Pháp phản kích. Sau hơn 30 ngày đêm liên tục chiến đấu, trận đánh tại C1 lúc này đã kết thúc.
      Ở phía đông sông Nậm Rốm, hai tiểu đoàn 166 và 154 của trung đoàn 209 tiến công các cứ điểm 505 và 505A (Dominique 3). Một đại đội của tiểu đoàn6e BPCvà những đơn vị lính Algérie, lính Thái tại đây, do tiểu đoàn trưởng Chenel chỉ huy, chống cự khá quyết liệt. 2 giờ sáng ngày 2 tháng 5, trung đoàn 209 tiêu diệt hoàn toàn hai cứ điểm này, chấm dứt sự tồn tại của trung tâm đề kháng Dominique.
     Trên cánh đồng phía tây, trận đánh tiêu diệt cứ điểm 811A (Huguette 5) của trung đoàn 88 diễn ra rất nhanh chóng. Với những đường hào đã đào xuyên qua hàng rào cứ điểm, bộ đội bất thần tổ chức xung phong. Toàn bộ đại đội Âu Phi vừa tới thay quân để tăng cường phòng thủ cứ điểm này, bị diệt gọn trong vòng không đầy 80 phút.
Như vậy, ngay trong đêm đầu của đợt tiến cống thứ ba, Pháp đã mất thêm bốn cứ điểm: C1, 505, 505A ở phía đông, và 311A ở phía tây.
Đêm ngày 4 tháng 5, trên cánh đồng phía tây, sau khi tiêu diệt 311A, đại đoàn 308 tiếp tục đánh 311B '(Huguette 4)' ở phía trong. Trung đoàn 36 tiêu diệt 1 đại đội gồm lính lê dương và lính Maroc, đưa trận địa tới gần trung tâm đề kháng Lili (Lilie, từ Claudine mới tách ra), tấm bình phong cuối cùng che chở cho sở chỉ huy Đờ Cát ở hướng này. Buổi sáng, Pháp phản kích định chiếm lại nhưng thất bại.
       Cũng trong ngày 5 tháng 5, trung đoàn 174 báo cáo đường hầm ở A1 đã hoàn thành. Trong đêm, một tấn bộc phá chia thành những gói hai mươi kg, được đưa vào đặt dưới hầm ngầm Pháp. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1954, tiểu đoàn 255 của 174 phòng ngự suốt 34 ngày đêm trên đồi A1 được lệnh rút qua Đồi Cháy làm lực lượng dự bị. Tiếng nổ của khối bộc phá trên đồi A1 được chọn làm hiệu lệnh xung phong cho đợt tiến công tối hôm đó.
       Trước giờ G năm phút, các chiến sĩ ở chiến hào xuất phát xung phong được lệnh quay lưng về A1, nhắm mắt, há mồm đề phòng sóng xung kích và ánh chớp của ngàn cân bộc phá. Đúng 20 giờ 30, một tiếng nổ trầm, trên đồi A1 có một đám khói lớn phụt lên. Khối bộc phá nổ cách hầm ngầm vài chục mét thổi bay chiếc lô cốt bên trên, diệt phần lớn đại đội dù 2 của Trung úy Edme (Étmơ) đóng ở đây. Nguyễn Hữu An lập tức ra lệnh cho pháo của trung đoàn nổ súng. Khối bộc phá một tấn đã tiêu diệt một phần tuyến ngang gây khó khăn cho các đơn vị đánh A1 trong đợt trước, tạo nên một cửa mở quan trọng giúp cho hai đại đội của tiểu đoàn 249 xung phong thuận lợi. Trên đỉnh đồi, lính dù dựa vào chiến hào và công sự đã được củng cố trong thời gian qua ra sức chống đỡ chờ quân viện. Quá nửa đêm, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An quyết định đưa đại đội dự bị của tiểu đoàn 249 vào giải quyết trận đánh. Bộ đội chia thành từng tổ nhỏ tiêu diệt dần dần từng ụ đề kháng của quân Pháp.
      4 giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, Đại úy Jean Pouget chỉ còn lại 34 lính dù. Quân dù đã sử dụng đến những viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng. Pouget bị thương nặng và bị bắt. Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" tung bay trên cao điểm A1 báo hiệu giờ tàn của tập đoàn cứ điểm.
Tiến quân tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập
      Lính Pháp phản kích cứ điểm Độc Lập, bị bộ đội đánh trả quyết liệt phải tháo chạy
       Đến sáng ngày 7 tháng 5, QĐNDVN đã tiến công tiêu diệt cứ điểm C2, 506, 507, 310F. Các quả đồi phía đông này đã thất thủ hoàn toàn mà phía Pháp không còn lực lượng khả dĩ chiếm lại. Tại Mường Thanh, 12 giờ, Langlais triệu tập cuộc họp các chỉ huy tiểu đoàn. Lần này vắng mặt những người chỉ huy dù. Theo kế hoạch Albatross, quân Pháp sẽ mở cuộc phá vây vào 20 giờ ngày hôm nay, mồng 7 tháng 5. Nhưng con đường cách đây ba ngày còn để ngỏ phía nam Junon, đã bị ba đường hào cắt ngang. Chỉ huy các tiểu đoàn lần lượt báo cáo đơn vị mình không ở trong trạng thái thực hiện một cuộc phá vây mà họ tin là khó sống sót. Những người dự họp đều nhận thấy: dù có hy sinh phần lớn quân rút chạy, cũng khó giúp cho một nhóm người thoát khỏi thung lũng. Cuộc tiến công của những người lính kiệt sức nhắm vào những vị trí được đối phương bảo vệ vững chắc, sẽ là một hành động tự sát.
       Đúng 3 giờ chiều, các đại đoàn được lệnh: "Không cần đợi trời tối, lập tức mở cuộc tổng công kích vào Mường Thanh. Đơn vị phía đông đánh thẳng vào khu vực trung tâm, đơn vị phía tây giáp công sang, cùng tiến vào sở chỉ huy của địch. Phải đánh thật mạnh, bao vây thật chặt, không để cho Đờ Cát hoặc bất cứ tên địch nào chạy thoát".
       QĐNDVN tổng tiến công trên khắp các mặt trận. Quân Pháp đã sức tàn lực kiệt, rệu rã kéo cờ quyết định đầu hàng. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức dẫn đại đội 360 luồn dưới làn đạn của những khẩu trọng liên bốn nòng, băng qua cầu Mường Thanh. Nhận thấy quân Pháp hầu như không chống cự, Tạ Quốc Luật nhảy lên mặt đất, dùng một lính bảo an người Việt dẫn theo đường tắt tiến thật nhanh tới sở chỉ huy của de Castries. Các đài quan sát báo cáo về: "Quân ta từ ba phía đang đánh vào khu trung tâm, 312 từ phía đông tiến qua cầu Mường Thanh, 308 từ phía tây mở đường qua sân bay, và từ phía tây nam mở đường vào Lili, hướng về sở chỉ huy của Đờ Cát. Quân địch chỉ chống cự lẻ tẻ."
       Lúc đó, Đại đội 360 chỉ còn 5 người: Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Nguyễn Văn Lam và Đào Văn Hiếu. Khoảng 17 giờ, sau khi dùng thủ pháo tiêu diệt tổ bảo vệ ở phòng ngoài sát cửa ra vào, 5 chiến sĩ vượt qua gian hầm thứ 2, tiến vào gian hầm giữa khá rộng có tướng de Castries và các sĩ quan Pháp đang ở đấy. Tạ Quốc Luật nói bằng tiếng Pháp, đại ý: "Các ông hàng đi. Các ông thua rồi. Các ông phải ra lệnh cho các ổ đề kháng bỏ súng, đầu hàng và điện về Hà Nội không cho máy bay ném bom xuống Điện Biên nữa".
       Sau đó, nhóm chiến sĩ dẫn giải tù binh lên khỏi hầm, đi về phía cầu Mường Thanh rồi bàn giao cho Nguyễn Thăng Bình - Trung đoàn Phó Trung đoàn 209 - trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Tiểu đoàn 130. 5 giờ 30 chiều, đại đoàn 312 báo cáo lên: "Toàn bộ quân địch tại khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt được tướng Đờ Cát".
      Cụm phân khu Nam Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào nhưng bị các đơn vị QĐNDVN đuổi theo, tất cả đã bị bắt không đi thoát. Gần 12.000 quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đều bị bắt làm tù binh.
Dù quân Pháp đã phải gia tăng quân số lên đến 16.000 người, họ đã không thể nào lật ngược thế cờ. Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại về phía Pháp là 1.747 tới 2.293 người chết, 5.240 tới 6.650 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh. Toàn bộ 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 10 đại đội Quân đội Quốc gia Việt Nam bị tiêu diệt. Tổng số sĩ quan và hạ sĩ quan bị diệt và bị bắt là 1.706, gồm 1 chuẩn tướng, 16 đại tá và trung tá, 353 sĩ quan từ thiếu úy đến thiếu tá. Thiệt hại về phía Mỹ là 2 phi công chết và 1 bị thương.
      Về không quân, Pháp bị tổn thất 59 phi cơ bị phá hủy (38 chiếc bị bắn rơi, 21 chiếc bị phá hủy khi đậu trên sân bay), trong đó có 3 máy bay khác bị phá hủy trước ngày 13 tháng 3 năm 1954, 2 trực thăng cũng bị phá hủy. Ngoài ra còn có 186 phi cơ khác bị trúng đạn và hư hại ở các mức độ khác nhau. Phía Mỹ có 1 phi cơ C-119 bị bắn rơi. Về trang bị nặng, Pháp mất toàn bộ trang bị vũ khí, xe tăng và pháo binh ở Điện Biên Phủ. Phía QĐNDVN thu giữ 3 xe tăng, 28 đại bác, 5.915 súng các loại, 20.000 lít xăng dầu cùng rất nhiều đạn dược, quân trang quân dụng khác.
       Thiệt hại về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam theo hồ sơ quân y của Việt Nam là 4.020 người chết, 9.691 người bị thương, và 792 mất tích. Hiện nay tại Điện Biên Phủ, có 3 nghĩa trang liệt sĩ trận này là nghĩa trang phía gần đồi Độc Lập, nghĩa trang gần đồi Him Lam và nghĩa trang gần đồi A1, lần lượt các nghĩa trang trên có 2.432 ngôi, 896 ngôi và 648 ngôi mộ, tổng cộng là 3.976 ngôi. Do một trận lũ lớn vào năm 1954 cuốn trôi các bia mộ nên 3.972 mộ đều là liệt sĩ vô danh. Chỉ có 4 ngôi được đặt riêng biệt là mộ các anh hùng Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Trần Can là còn biết được.
Ngày hôm sau, 8 tháng 5 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen: "Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời ngợi khen cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào đia phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn... "
       Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp và chúc mừng Bộ tổng tham mưu và đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại đây bằng kinh nghiệm chính trị, ông đã nói một câu chúc mừng kèm dự đoán chính xác: "Chúc mừng chú (Võ Nguyên Giáp) thắng trận. Nhưng đừng chủ quan, còn phải đánh với Mỹ nữa. Sớm muộn gì chúng cũng sẽ nhảy vào Đông Dương thế chỗ Pháp" 
       Thế là, sau 55 ngày đêm "khoét núi,ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn...", cứ điểm Điện Biên Phủ đã thất thủ, toàn bộ hơn 16.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh.
 
                  
                     
 
Quân đội nhân dân Việt Nam tấn công những cứ điểm của Pháp tại sân bay Mường Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 4/1954. Chiến thắng của quân đội Việt Nam đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, khiến thế giới kinh ngạc về kỳ tích của một quân đội kém ưu thế hơn về khí tài quân sự trước nước Pháp
 
         Ký ức 30/4/1975 
                                                              Xông lên anh dũng               
 

                              Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ - Biểu tượng thiên sử vàng

                    Roman Ka Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ              

                             1.jpg -0 

       Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà làm phim Liên Xô tại chiến khu Việt Bắc

                        

     Chủ tịch Hồ Chí Minh và đạo diễn Roman Karmen tại Việt Bắc năm 1954

Roman Karmen (1906 - 1978): 

là một trong những nhà làm phim tài liệu vĩ đại nhất thế kỷ XX. Cuộc đời nghệ thuật của ông rất đa dạng trong các vai trò: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, nhà báo, nhà sư phạm điện ảnh. Những thước phim tư liệu mà Karmen để lại thật sự là những thiên anh hùng ca huyền thoại.
Đạo diễn Roman Karmen cùng hai đồng sự Xôviết Evghenhi Mukhin và Vladimia Echurin được Nhà nước Liên Xô giao nhiệm vụ sang Việt Nam làm phim tài liệu vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Được sự chỉ dẫn của Bác Hồ, sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam, Karmen đã miệt mài lao động, hoàn thành xuất sắc bộ phim màu "Việt Nam" (1954) ghi lại những giây phút hào hùng nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm tháng hòa bình đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam.

       Đối với nền điện ảnh cách mạng Việt Nam non trẻ, Karmen như người thầy, người anh, người bạn lớn. Bộ phim "Việt Nam" của ông đã để lại dấu ấn và những kinh nghiệm sâu sắc cho nền điện ảnh Việt Nam. Ngày 18-7-1955, đạo diễn Roman Karmen vinh dự được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
 
     Còn đối với thực dân Pháp, trận này là một thất bại thảm hại và bất ngờ. Mặc dù đã chiến đấu nhiều năm và về sau còn được Hoa Kỳ trợ giúp đắc lực, Pháp đã không thể bình định Việt Nam. Thảm bại này khiến cho họ không còn nhân lực và ý chí để mà tiếp tục ứng chiến. Một ngày sau khi Pháp để Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Dù đã áp dụng kỹ nghệ "Chiến tranh hiện đại", Pháp đã không thể nào tránh khỏi những biến cố này. Nhiều Sĩ quan nổi giận trước thất bại chính trị và quân sự này và họ lại đổ tội cho các chính trị gia, giống như hồi bị Đức đánh bại năm 1940.
       Sau này, Bộ trưởng quốc phòng Pháp Marcel Bigeard, nguyên là trung tá phó chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sang thăm Việt Nam năm 1993, nhìn lại chiến trường cũ, đã có một câu với một nhà quay phim nước ngoài: "Nếu tôi là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh". Còn tướng De Castries, sau khi thất bại trở về Pháp, đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc".
       Chỉ huy phó của Tập đoàn cứ điểm, đại tá Pierre Langlais cũng viết trong cuốn hồi ký Điện Biên Phủ của ông rằng: "Ở Điện Biên Phủ, nếu người ta muốn nhìn thẳng vào sự thật, thì ắt phải thấy rằng viện trợ cho Việt Minh chỉ là một giọt nước đặt bên cạnh dòng thác vật tư của Mỹ đổ vào cho người Pháp chúng ta". Nhà báo Pháp Giuyn Roa khẳng định: "Không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300 kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm nilông. Cái đã đánh bại tướng Navarre không phải bởi các phương tiện mà là sự thông minh và ý chí của đối phương..."
Trận Điện Biên Phủ được coi là một trong những trận đánh được phân tích tỉ mỉ nhất trong lịch sử. Thắng lợi quyết định của lực lượng Việt Minh dưới quyền Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch ác liệt đánh dấu sự chấm dứt của Chiến tranh Đông Dương, chính trận chiến này đã đưa Việt Nam lên trở thành quốc gia thuộc địa đầu tiên dùng vũ lực buộc quân đội một nước phương Tây rút về nước, giành được độc lập, được xem là một đòn giáng mạnh vào nước Pháp nói riêng và thế giới phương Tây nói chung. (1940-2005) Theo cuốn The French Secret Services của sử gia Douglas Porch, thảm bại Điện Biên Phủ đã "thay đổi diễn tiến lịch sử Pháp" và sánh vai với các thất bại trước kia của Pháp dưới quyền tướng Joseph Joffre (1914) và Maurice Gamelin (1940). Được chiến thắng của người Việt Nam cổ vũ, các khu vực thuộc địa ở châu Phi cũng đồng loạt nổi dậy.
      Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa,nghèo nàn và lạc hậu châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc hiện đại châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương.  Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết:
       "Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng ta đã chứng minh một chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc thuộc địa bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để chiến thắng quân đội xâm lược hùng mạnh của một nước đế quốc chủ nghĩa"
       Lúc này phần lớn lãnh thổ Việt Nam trong tay Việt Minh. Các vùng kiểm soát bao gồm hầu hết miền Bắc (trừ Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Móng Cái,...) hầu hết Bắc Trung Bộ (trừ duyên hải nhỏ Quảng Bình đến Quảng Nam), hầu hết Trung Trung Bộ (gồm cả Quảng Ngãi, Quy Nhơn,...), Bắc Tây Nguyên, một phần nhỏ Nam Tây Nguyên, một phần cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ (trong đó có các địa phương phía nam đồng bằng sông Hồng, bắc Tây Nguyên và một số vùng khác, cùng với một số thị xã nhỏ ở miền bắc có Việt Trì, một số thị xã nam đồng bằng sông Hồng, Công Tum, An Khê...mới giành được). Phần lớn lãnh thổ Lào (vùng núi phía đông), một phần lãnh thổ Campuchia (đông bắc, nhỏ hơn là vùng rừng núi tây và tây nam, một phần đông nam) thuộc phe cách mạng.
      Nhìn vào lịch sử, nước Pháp đã tạo ra nhiều sự kiện chấn động thế giới, cả tự hào lẫn hổ thẹn. Dân tộc Pháp đã để lại trong lịch sử sự oanh liệt, quả cảm bao nhiêu thì tầng lớp thống trị quí tộc - thực dân của nó cũng để lại sự nhục nhã, yếu hèn bấy nhiêu. Biểu hiện nhục nhã nhất của thực dân Pháp là hành động của chúng ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam. Bị phát xít Đức thôn tính dễ dàng tại chính quốc, bị Nhật hất cẳng quá dễ dàng ở thuộc địa, phải xin xỏ, chạy chọt Đồng Minh (Anh - Mỹ) để vào Nam Bộ; ký hiệp ước thua thiệt với Tàu Tưởng để thực ra là xin xỏ vào Bắc Bộ; lật lọng hiệp ước với chính phủ Việt Minh, bước đường cùng lại phải đi xin xỏ Mỹ để rồi vẫn cứ bị Việt Minh đánh tan ở Điện Biên Phủ, đành phải “bán cái” cho Mỹ. Trận Điện Biên Phủ đã là cái mốc đánh dấu sự suy tàn không khắc phục nổi của chủ nghĩa thực dân cũ trên khắp thế giới.
Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, phản công, đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng, quân dân việt nam đã đánh bại quân xâm lược Pháp bằng trận tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954). Đúng là:
                           “Chín năm làm một Điện Biên
                           Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
                                                   (Thơ Tố Hữu)
Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
Do sức ép của Trung Quốc và Liên Xô, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý với một bản hiệp định mang lại cho họ ít hơn những gì họ đã giành được trên chiến trường. Tuy ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam được tuyên bố độc lập, và điều quan trọng là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận, nhưng Việt Nam bị tạm thời chia đôi thành hai khu vực quân sự để hai bên quân đội, Việt Minh và Pháp, tập kết. Quân Pháp sẽ rút dần khỏi Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử đi đến thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện trong vòng 2 năm.

                               Tiến về Hà Nội" - ca khúc ra đời trước 5 năm về ngày Giải ...
Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về – bộ đội tiếp quản thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1954

                             
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trái) và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đón Bác Hồ tại Hà Nội hồi năm 1955. “

Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ" và khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng". Cũng trong ngày này Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm phản đối sự chia đôi đất nước. Tuy nhiên, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: "Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây". Ngày 20-7-1954, Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sĩ) về Đông Dương kết thúc. Bản Tuyên ngôn chính trị của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được công bố. Hòa bình được lập lại trên cơ sở Pháp và các cường quốc dự Hội nghị (riêng Mỹ đã không chịu ký vào bản Tuyên bố chung) công nhận sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Lào; Cămpuchia; quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam (lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời); công việc nội bộ của Việt Nam, do Việt Nam tự giải quyết (sẽ thực hiện tổng tuyển cử tự do vào tháng 7-1956 để đi tới thống nhất đất nước); đến năm 1956, quân Pháp phải rút hết khỏi Đông Dương.
Hiệp định Giơnevơ là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ nhưng rất vẻ vang của nhân dân Đông Dương, trong đó, cuộc đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp của quân dân Việt Nam mang tính vừa là nền tảng vừa là xung kích và có ý nghĩa quyết định. Dân tộc Việt  có quyền tự hào về tinh thần quốc tế trong sáng của mình và cũng hoàn toàn có quyền tự hào về tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta” (lời Hồ Chí Minh).
Trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp này, thương vong của Pháp là 140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương. Quân bản xứ ở Đông Dương có 419.000 chết, bị thương hoặc bị bắt. Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 pháo, 504 xe quân sự và 130 nghìn súng các loại. Số thương vong của Việt Minh được Pháp ước tính khoảng 175.000 - 300.000 chết và 300.000 - 500.000 bị thương (hiện vẫn chưa có số liệu kiểm chứng từ phía Việt Nam). Khoảng 125.000–400.000 dân thường thiệt mạng.
Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Càng về cuối cuộc chiến, sự phản đối chiến tranh trong lòng nước Pháp ngày càng dữ dội hơn. Đại tướng Pháp Henry Navare viết:
Chi phí cho cuộc xâm lược của Pháp tăng hàng năm theo cấp số nhân. Năm 1945: 3 tỷ Franc; năm 1946: 27 tỷ Franc; năm 1947: 53 tỷ Franc; năm 1948: 89 tỷ Franc; năm 1949: 130 tỷ Franc; năm 1950: 201 tỷ Franc; năm 1951: 308 tỷ Franc; năm 1952: 535 tỷ Franc. Tổng cộng trong toàn bộ cuộc chiến, nước Pháp đã chi phí 3.370 tỷ Franc (vượt dự kiến 2.385 tỷ Franc), tương đương gần 60 tỷ USD theo thời giá 2008, (trung bình là 1 tỉ Franc/ngày), bằng 28% giá trị GDP của Pháp năm 1953. Chính phủ Pháp thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận.  
Thành quả đạt được là rất to lớn song chưa toàn vẹn, chưa tương xứng với thắng lợi quân sự mà nhân dân Đông Dương gặt hái được. Bị như vậy là do áp lực của những cường quốc tham gia hội nghị Giơnevơ mang tâm hồn vụ lợi, ích kỷ, kẻ thì điên cuồng chống cộng, kẻ không chống cộng thì đem thí quyền lợi của dân tộc anh em, đồng chí hướng nhằm bảo vệ quyền lợi   của dân tộc mình một cách hẹp hòi,ích kỷ, không mã thượng.
16 giờ ngày 9-10-1954, tốp lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên sang phía Gia Lâm. Nếu tính từ năm 1873 (Hà Thành thất thủ lần thứ nhất) thì sau đúng 81 năm bị xâm lăng, Hà Nội mới sạch bóng quân xâm lược Pháp. Nhiều phóng viên phương Tây chứng kiến quang cảnh lễ hạ cờ cuối cùng của quân viễn chinh Pháp đã mô tả: “Từng phân đội lính Âu Phi mệt mỏi, ngán ngẩm trong những bộ quần áo ướt sũng nước mưa đứng trước cột cờ sơn trắng. Sau bài kèn, cờ từ từ hạ. Tướng Pháp là Mátxông đỡ lấy lá cờ 3 sắc ướt nhẽo, gập lại, buồn bã bước ra giao cho quan năm Đăcrăngsơ - một sĩ quan chuyên coi đám lính gác thành từ ngày quân Pháp gây chiến tại Hà Nội - nói vài câu với giọng trầm buồn… Khi đội kèn lại nổi lên, với một điệu rầu rĩ rồi kết thúc… thì mặt nhiều sĩ quan của Pháp ướt đẫm những nước… những giọt nước mắt hòa lẫn nước mưa…”
Sáng ngày 10-10-1954, sư đoàn 308 với đầy đủ các đơn vị bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới… , đại diện cho quân đội nhân dân Việt Nam, mở cuộc hành quân khải hoàn từ 5 cửa ô tiến vào Hà Nội. Đi đầu đoàn quân ấy là Trung đoàn Thủ Đô, lực lượng đã đánh những trận quyết tử kìm chân Pháp tại Hà Nội trong những ngày đầu Toàn quốc Kháng chiến. Chúng ta có thể chiêm ngưỡng quang cảnh đó trong những câu hát sau đây:
                           “Trùng trùng say trong câu hát
                           Lớp lớp đoàn quân tiến về
                           Chúng ta đi reo vang
                           Lúc quân thù đầu hàng
                           Cờ Hà Nội tung bay trên phố.
                           Trùng trùng quân đi như sóng
                           Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời
                           Chúng ta đem vinh quang
                           Sức dân tộc trở về
                           Người Hà Nội tươi vui từ đây.
                           Năm cửa ô đón chào đoàn quân tiến về
                           Như đài hoa đón ngày mở năm cánh đào
                           Nhỏ giọt sương xuống long lanh
                          
                           Trùng trùng…”
Chiều ngày 10-10-1954, vào lúc 15 giờ, hàng vạn nhân dân Hà Nội dự lễ chào cờ Chiến Thắng. Cờ đỏ sao vàng, tượng trưng thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam thống nhất độc lập và tự do phần phật trên đỉnh Cột Cờ như phượng múa, rồng bay giữa bầu trời thu gió lộng.
Tuy nhiên cuộc chiến đấu giành quyền sống cơ bản của Dân tộc Việt vẫn chưa kết thúc. Chỉ mới có một nửa đất nước được hoàn toàn giải phóng, còn nửa kia, phần phía Nam từ vĩ tuyến 17, từ bên kia bờ sông Hiền Lương trở xuống đến Mũi Cà mau còn phải chờ đợi thêm hai năm nữa để thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử theo như qui định của Hiệp định Giơnevơ.

                                          Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ - Đi du lịch Điện Biên phần 3
Trong khi Việt nam tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định, chờ ngày thống nhất, Bắc và Nam xum họp một nhà (ai mà không thấy kết quả tổng tuyển cử tự do nếu xảy ra thì cũng chỉ là thủ tục, hình thức vì ý chí thống nhất của Dân tộc Việt đã quá rõ ràng) thì Đế quốc Mỹ lại ra sức phá bỏ Hiệp định đó, dựng nên chính quyền tay sai ở Miền Nam.
Sống trên một dải đất trù phú chim trời cá nước, rừng vàng biển bạc, nhưng cũng gặp biết bao nhiêu gian lao, tình thế hiểm nghèo, Dân tộc Việt đã được hun đúc nên những đức tính hiếm có: chan hòa, vị tha, thông minh, kiên cường, bất khuất, mã thượng, tin người. Cũng vì mã thượng mà Dân tộc ấy đã thực hiện theo đúng tinh thần của Hiệp định Giơnevơ. Cũng vì tin người mà Dân tộc ấy đã không ngờ lại phải lên đường chiến đấu với kẻ xâm lược mới là Đế quốc Mỹ - cường quốc số một thế giới và không kém phát xít Đức về sự tàn bạo, trong suốt 20 năm ròng rã nữa. Cũng vì thông minh, kiên cường mà Dân tộc ấy đã làm cho cuộc chiến tranh vệ quốc của mình trở thành cuộc kháng chiến thần thánh, được toàn thể nhân loại ngưỡng mộ, cảm phục. Cũng vì bất khuất mà suốt mấy ngàn năm, Dân tộc ấy vẫn hiên ngang tồn tại bên cạnh một gã láng giềng khổng lồ xấu tính, luôn túc trực trong mình âm mưu bành trướng, xâm lược. Cũng vì chan hòa, vị tha mà sau khi đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, Dân tộc ấy lại chủ động bắt tay với chính quyền Mỹ, xóa đi mọi hiềm khích để cùng nhau gác lại quá khứ, hướng tới một tương lai vì lợi ích của hai dân tộc Việt - Mỹ và cũng đồng thời vì lợi ích của cả nhân loại.
 
                                                 
                                                ***

Mỹ nhòm ngó Đông Dương từ lúc nào? Không thể biết đích xác được! Vì sao? Vì lịch sử là quan niệm có chứng thực của nhà khảo cổ trước di tích; là sự lược thuật tóm tắt theo quan niệm của người chép sử đương thời; là quan niệm lại, là suy tư lại của các nhà viết sử hậu thế trước lịch sử đã qua cùng với những phát hiện mới. Nói gọn lại, lịch sử là biên niên, lược thuật, đánh giá theo quan niệm của nhà sử học về một hiện thực đã lùi vào quá khứ. Chính vì phụ thuộc vào quan niệm của con người chép sử mà một hiện thực đã qua có nhiều lịch sử về nó và những lịch sử đó thường là không đầy đủ sự kiện, phiến diện và kém xác thực. Tuy nhiên một lịch sử được viết nên từ quan sát, từ suy tư trên quan niệm của Đức Huyền Diệu, nghĩa là lấy tình yêu thương đồng loại, yêu thương cuộc sống làm nền tảng lý luận thì bao giờ cũng có độ tin cậy cao nhất.

                             
                                       Một cố vấn Mỹ và binh lính Việt Nam Cộng hòa
            Cuối 1963, ở Nam Việt Nam có 16.300 cố vấn quân sự Mỹ làm việc, có nhiệm vụ trưức hết là đào tạo quân đội Nam Việt Nam.
Cuối 1963, ở Nam Việt Nam có 16.300 cố vấn quân sự Mỹ làm việc, có nhiệm vụ trưức hết là đào tạo quân đội Nam Việt Nam.
Theo biên niên sử thì ngay từ năm 1819, tức là chỉ 36 năm sau khi nước Mỹ giành được độc lập, người ta đã thấy những chiến thuyền Mỹ tới Việt Nam, dò theo sông Đồng Nai lên Sài Gòn. Năm 1832, thuyền buôn Mỹ xuất hiện ở vùng biển Trung Bộ và bỏ neo ở Vũng Lâm, Phú Yên. Năm 1836, chiến thuyền Mỹ xuất hiện và bỏ neo ở Vịnh Sơn Trà, Đà Nẵng. Dù có mon men đến bờ Tây - Thái Bình Dương như thế thì một nước Mỹ tư bản non trẻ cũng không thể chen chân vào được trước những nước tư bản “gạo cội” như Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha… (đã chiếm những vùng béo bở nhất). Nước Mỹ chỉ còn cách xây dựng thế lực của mình và chờ đợi.
Chiến tranh lần thứ nhất kết thúc đã tạo ra cơ hội bành trướng thế lực cho Mỹ. Sau chiến tranh, các nước tư bản nói chung “nghèo đi” bởi bị tàn phá thì Mỹ lại giàu lên và nhanh chóng trở thành cường quốc tư bản số một. Tại hội nghị “chia phần” của các nước tư bản thắng trận họp ở Pari, tổng thống Mỹ lúc đó là Uynsơn đã tung ra chương trình “14 điểm” nhằm khẳng định vị thế của Mỹ trong các cường quốc tư bản thế giới. 
Tại Hội nghị ở Oasinhtơn năm 1921, đế quốc Mỹ bắt đầu lớn tiếng mặc cả thị trường đối với các cường quốc tư bản khác, đòi quyền lợi ở vùng Viễn Đông và Tây - Thái Bình Dương. Cũng năm 1921, tại Nữu Ước (Mỹ), đã thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa Pháp - Mỹ nhằm tìm cách đầu tư tư bản Mỹ vào các thuộc địa của Pháp. Tại buổi chiêu đãi do Ban này tổ chức, Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ thuộc địa và Quyền trưởng phái đoàn Pháp tại Hội nghị Oasinhtơn đã đọc diễn văn ngỏ ý mời các công ty tư bản Mỹ đầu tư vào Đông Dương. Do có sự phản ứng mạnh của giới kinh doanh Pháp có nhiều quyền lợi ở hải ngoại mà tư bản Mỹ chưa giám đầu tư vốn nhiều vào Đông Dương mà chỉ đứng lại ở quan hệ buôn bán. Nếu như trong những năm 1925 - 1929, hàng nhập khẩu từ Đông Dương chỉ chiếm 2,6% tổng số hàng nhập khẩu vào Mỹ thì đến những năm 1935 - 1939 đã tăng lên đến 6,6% (riêng cao su là 94% , thiếc là 3% trong tổng giá trị hàng mà Mỹ mua của Đông Dương).

Cách đây gần 80 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chủ động và nhiệt thành mở đường cho quan hệ Việt - Mỹ. Tiếc là do hoàn cảnh lịch sử, cả hai nước đã phải trải qua những trang sử đau thương trước khi trở thành Đối tác toàn diện của nhau.

Ngay sau khi giành lại được độc lập, bên cạnh việc củng cố, xây dựng chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những hoạt động tích cực mở rộng quan hệ quốc tế.

Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau đó hơn 1 tháng, ngày 17/10/1945, Bác Hồ đã gửi điện văn cho Tổng thống Mỹ khi đó là Harry Truman, đề nghị phía Mỹ công nhận nước Việt Nam.

Trong hai năm 1945 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Harry Truman, 3 thư và điện gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes.

Trong chuyến thăm Mỹ vào 7/2013, tại cuộc hội đàm ở Nhà Trắng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã giới thiệu với Tổng thống Obama bức thư Bác Hồ gửi Tổng thống Truman ngày 16/2/1946, trong đó bày tỏ Việt Nam mong muốn được “hoàn toàn độc lập” và ý nguyện thiết lập “hợp tác đầy đủ” với Mỹ.

Đến tháng 5/2022, nhân dịp thăm và làm việc tại Mỹ và Liên Hợp Quốc, ở thủ đô Washington DC, trong cuộc tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, Thủ tướng Phạm Minh Chính khi trao đổi về quan hệ song phương Việt Nam - Mỹ đã nhấn mạnh quan hệ hai nước có lịch sử đặc biệt, ngay từ khi Việt Nam mới giành độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới Tổng thống Mỹ Truman, trong đó đặc biệt là lá thư ngày 16/2/1946. (Bức thư gốc hiện đang được lưu giữ tại Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ)

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ lại tạo ra cơ hội mới đầy thuận lợi cho Mỹ dấn sâu vào Đông Dương. Tại Hội nghị Cairô (Ai Cập) năm 1943, tổng thống Mỹ là F. Rudơven đã đề ra ba giải pháp cho Đông Dương khi chiến tranh kết thúc:
1- Trả lại cho Pháp
2- Trao cho Tưởng Giới Thạch như là một món chiến lợi phẩm
3- Cho Đông Dương độc lập nhưng trước đó phải đặt dưới sự công quản quốc tế một thời gian.
Đến tháng 1-1944, Rudơven gạt hai giải pháp đầu, chọn giải pháp thứ ba và xác định rõ Mỹ phải có chân trong ban quản trị quốc tế ấy. Ngày 24-1-1944, trong một ghi chép, Rudơven có viết: “Nước Pháp đã chiếm một nước 30 triệu dân, trong gần 100 năm và nhân dân trở nên tồi tệ hơn lúc họ mới đến… Nước Pháp đã vắt kiệt họ trong 100 năm. Nhân dân Đông Dương có quyền được hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”. Tại cuộc họp báo trên tàu Quiney Adamn của Mỹ ngày 23-2-1945, Rudơven tiết lộ rằng Đông Dương sẽ được lãnh đạo bởi một ban quản trị gồm “1 người Pháp, 1 hoặc 2 người Đông Dương, 1 người Trung Quốc, 1 người Nga và vì họ ở trên bờ biển nên cũng có 1 người Mỹ và có thể có 1 người Philippin”.
Rudơven có thể là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của nước Mỹ, nhưng trong việc đề ra giải pháp giải quyết vấn đề Đông Dương thì vẫn bị cái bản chất kẻ cả, ích kỷ của thực dân - đế quốc làm cho mù quáng, thiển cận. Tại sao không để cho nhân dân Đông Dương tự quyết vận mạng của mình? Tại sao nhân dân Đông Dương lại không được cái quyền cơ bản như nhân dân Mỹ, đã ghi trong hiến pháp Mỹ là “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”? Rudơven “chê” thực dân Pháp là vì “thương” nhân dân Đông Dương thực sự như đã nói hay là vì mục đích nào khác? Muốn trả lời những câu hỏi ấy, phải nhìn vào hành động thực tế của Mỹ ở Đông Dương.

                                       
                             Tướng Edward Lansdale, chỉ huy cố vấn Mỹ ở Việt Nam

Cuối năm 1944, một máy bay Mỹ bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy. Phi công phải nhảy dù vùng núi gần tỉnh lỵ Cao Bằng. Quân Nhật lùng sục nhưng không bắt được viên phi công vì người này đã được Việt Minh cứu, đưa về cơ sở cách mạng. Sô (Shaw), tên người phi công Mỹ, được Việt Minh tổ chức đưa về Côn Minh (Trung Quốc), nơi đóng của một lực lượng không quân Mỹ. Đến biên giới Việt - Trung, Sô được gặp Hồ Chí Minh. Trong cuộc nói chuyện, Sô đã đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Nhân tiện, cũng cần gặp một số cán bộ Việt Minh ở đó nên Hồ Chí Minh đã nhận lời. Những người Mỹ ở Côn Minh (đang giúp Tưởng chống Nhật) đã cảm ơn Hồ Chí Minh sự giúp đỡ cho Sô và tặng Việt Minh một số tiền và thuốc men. Hồ Chí Minh chỉ nhận thuốc men, không nhận tiền. Khi Tổng tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc, tướng Sênôn (Chenault) hỏi Hồ Chí Minh rằng Việt Minh có vui lòng giúp đỡ, tổ chức cứu những phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không, thì ông đáp rằng bổn phận của những người cách mạng Việt Nam là giúp đỡ Đồng Minh để cùng nhau chống phát xít.
Đây là một cơ hội tốt để Mỹ thực hiện ý đồ của Rudơven về Đông Dương. Vì vậy, ngày 16-7-1945, một nhóm sĩ quan tình báo Mỹ (OSS) đã nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc trên danh nghĩa tổ chức cứu giúp phi công Đồng Minh và giúp đỡ Việt Minh (chia làm 2 toán, nhảy dù làm 2 đợt).
Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để cùng với những người Mỹ này tổ chức thành một đơn vị gọi là “Bộ đội Việt - Mỹ” với quân số gần 200 người do Đàm Quang Trung chỉ huy và thiếu tá Mỹ là Tômát đóng vai trò là tham mưu trưởng đại đội. Trong gần một tháng ở chiến khu Việt Bắc, đơn vị này tập trung vào việc huấn luyện quân sự, về chiến thuật du kích, sử dụng vũ khí mới… Máy bay Mỹ có thả dù tiếp tế cho Bộ đội Việt - Mỹ một số vũ khí.
Ngày 16-8-1945, một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân, xuất phát từ Tân Trào (Tuyên Quang) tiến đánh quân Nhật và tay sai ở thị xã Thái Nguyên. Đại đội Việt - Mỹ cũng được lệnh hành quân tham gia trong cuộc tiến công này.
Ngày 20-8-1945, 400 binh lính bảo an do quản Khiêm chỉ huy đã đầu hàng quân cách mạng. Với số vũ khí mới thu được gồm 600 súng trường và một số súng máy, Quân giải phóng tổ chức thêm hai chi đội vũ trang mới. Đại đội Việt - Mỹ được bổ sung quân số để trở thành chi đội 4 do Đàm Quang Trung làm chi đội trưởng và thiếu tá Tômát vẫn đóng vai trò tham mưu trưởng chi đội.
Chi đội 4 vừa thành lập xong thì được lệnh đưa một trung đội quay lại Tân Trào đón Hồ Chí Minh cùng 2 đại đội cấp tốc hành quân về Hà Nội, một đại đội ở lại tiếp tục đánh Nhật ở Thái Nguyên. Trong bộ phận về Hà Nội có những người Mỹ. Ngày 9-9-1945, Thiếu tá Tômát cùng nhóm quân nhân, tình báo người Mỹ này chấm dứt nhiệm vụ và trở về nước.
Sự kiện chớp thời cơ, nhanh chóng thành công của Cách mạng Tháng Tám và nhanh chóng tuyên bố Việt Nam độc lập của chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu, ngoài mọi tiên liệu của các lực lượng Đồng Minh đã làm cho kế hoạch của Rudơven về Đông Dương phá sản. 

Tổng thống Mỹ Harry S. Truman là người đã đặt nền móng cho sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, đã chuyển từ thái độ thờ ơ sang trực tiếp hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương.

Bức thư ngày 16/2/1946, Bác viết: “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc lập của chúng tôi".

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư viết, mục tiêu của Việt Nam là độc lập hoàn toàn và hợp tác đầy đủ với Mỹ: "Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

Trước đó, trong thư gửi Tổng thống Harry Truman ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam nồng nhiệt hoan nghênh bài phát biểu của Tổng thống Truman ngày 28/10/1945, trong đó nêu rõ các nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết được nêu ra trong các Hiến chương Đại Tây Dương và San Francisco”.

                                         

Những bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman ngày 18/1/1946 và 15/7/1969 nhưng đều không được trả lời

Cuối thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ hy vọng “Mỹ sẽ giúp nhân dân Việt Nam đạt được độc lập và ủng hộ nhân dân Việt Nam trong quá trình tái thiết đất nước” và cam kết nếu nhận được sự ủng hộ của Mỹ, “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đóng góp công sức vào việc xây dựng hòa bình và thịnh vượng trên thế giới.

Năm 1969, khi Mỹ ngày càng sa lầy và chịu tổn thất nặng nề cũng như sự chỉ trích mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế và cả trong chính nước Mỹ, Tổng thống Richard Nixon đã phải gửi bức thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 15/7/1969 thể hiện mong muốn đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

                   Những bức thư Bác Hồ gửi Tổng thống Mỹ Truman và Nixon - Ảnh 2.

Thư của Tổng thống Richard Nixon gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 15/7/1969 (trái) và thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 25/8/1969. 

Và hơn 1 tháng sau, tuy sức khỏe suy yếu nhiều, Bác vẫn dành tâm nguyện cho dân cho nước, cho nền độc lập của dân tộc khi gửi lá thư phúc đáp tới Tổng thống Mỹ.

Nội dung thư Bác viết: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự...

Trong thư, ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng. Muốn vậy, Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài". 

Chiến tranh đã ngăn lại những bước hợp tác từ hai phía và mọi thứ chỉ thực sự được khởi tạo và phát triển khi ngày 12/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Võ Văn Kiệt chính thức tuyên bố bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao.


                     Điện Biên Phủ - Tiếng sấm "chấn động địa cầu"- Bài 2: Tác động của Chiến thắng Điện Biên Phủ đối với chiến lược quân sự của Mỹ (tiếp theo và hết)
Bộ đôi Eisenhower-Nixon năm 1952. Phó tổng thống Nixon từng trực tiếp sang Đông Dương và thị sát việc Pháp xây dựng cụm cứ điểm Điện Biên Phủ.
 
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ lại tạo ra cơ hội mới đầy thuận lợi cho Mỹ dấn sâu vào Đông Dương. Tại Hội nghị Cairô (Ai Cập) năm 1943, tổng thống Mỹ là F. Rudơven đã đề ra ba giải pháp cho Đông Dương khi chiến tranh kết thúc:
1- Trả lại cho Pháp
2- Trao cho Tưởng Giới Thạch như là một món chiến lợi phẩm
3- Cho Đông Dương độc lập nhưng trước đó phải đặt dưới sự công quản quốc tế một thời gian.
Đến tháng 1-1944, Rudơven gạt hai giải pháp đầu, chọn giải pháp thứ ba và xác định rõ Mỹ phải có chân trong ban quản trị quốc tế ấy. Ngày 24-1-1944, trong một ghi chép, Rudơven có viết: “Nước Pháp đã chiếm một nước 30 triệu dân, trong gần 100 năm và nhân dân trở nên tồi tệ hơn lúc họ mới đến… Nước Pháp đã vắt kiệt họ trong 100 năm. Nhân dân Đông Dương có quyền được hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”. Tại cuộc họp báo trên tàu Quiney Adamn của Mỹ ngày 23-2-1945, Rudơven tiết lộ rằng Đông Dương sẽ được lãnh đạo bởi một ban quản trị gồm “1 người Pháp, 1 hoặc 2 người Đông Dương, 1 người Trung Quốc, 1 người Nga và vì họ ở trên bờ biển nên cũng có 1 người Mỹ và có thể có 1 người Philippin”.
Rudơven có thể là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của nước Mỹ, nhưng trong việc đề ra giải pháp giải quyết vấn đề Đông Dương thì vẫn bị cái bản chất kẻ cả, ích kỷ của thực dân - đế quốc làm cho mù quáng, thiển cận. Tại sao không để cho nhân dân Đông Dương tự quyết vận mạng của mình? Tại sao nhân dân Đông Dương lại không được cái quyền cơ bản như nhân dân Mỹ, đã ghi trong hiến pháp Mỹ là “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”? Rudơven “chê” thực dân Pháp là vì “thương” nhân dân Đông Dương thực sự như đã nói hay là vì mục đích nào khác? Muốn trả lời những câu hỏi ấy, phải nhìn vào hành động thực tế của Mỹ ở Đông Dương.
Tướng Edward Lansdale, chỉ huy cố vấn Mỹ ở Việt Nam
Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm "Con rối Sài Gòn"
Cuối năm 1944, một máy bay Mỹ bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy. Phi công phải nhảy dù vùng núi gần tỉnh lỵ Cao Bằng. Quân Nhật lùng sục nhưng không bắt được viên phi công vì người này đã được Việt Minh cứu, đưa về cơ sở cách mạng. Sô (Shaw), tên người phi công Mỹ, được Việt Minh tổ chức đưa về Côn Minh (Trung Quốc), nơi đóng của một lực lượng không quân Mỹ. Đến biên giới Việt - Trung, Sô được gặp Hồ Chí Minh. Trong cuộc nói chuyện, Sô đã đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Nhân tiện, cũng cần gặp một số cán bộ Việt Minh ở đó nên Hồ Chí Minh đã nhận lời. Những người Mỹ ở Côn Minh (đang giúp Tưởng chống Nhật) đã cảm ơn Hồ Chí Minh sự giúp đỡ cho Sô và tặng Việt Minh một số tiền và thuốc men. Hồ Chí Minh chỉ nhận thuốc men, không nhận tiền. Khi Tổng tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc, tướng Sênôn (Chenault) hỏi Hồ Chí Minh rằng Việt Minh có vui lòng giúp đỡ, tổ chức cứu những phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không, thì ông đáp rằng bổn phận của những người cách mạng Việt Nam là giúp đỡ Đồng Minh để cùng nhau chống phát xít.
Đây là một cơ hội tốt để Mỹ thực hiện ý đồ của Rudơven về Đông Dương. Vì vậy, ngày 16-7-1945, một nhóm sĩ quan tình báo Mỹ (OSS) đã nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc trên danh nghĩa tổ chức cứu giúp phi công Đồng Minh và giúp đỡ Việt Minh (chia làm 2 toán, nhảy dù làm 2 đợt).
Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để cùng với những người Mỹ này tổ chức thành một đơn vị gọi là “Bộ đội Việt - Mỹ” với quân số gần 200 người do Đàm Quang Trung chỉ huy và thiếu tá Mỹ là Tômát đóng vai trò là tham mưu trưởng đại đội. Trong gần một tháng ở chiến khu Việt Bắc, đơn vị này tập trung vào việc huấn luyện quân sự, về chiến thuật du kích, sử dụng vũ khí mới… Máy bay Mỹ có thả dù tiếp tế cho Bộ đội Việt - Mỹ một số vũ khí.
Ngày 16-8-1945, một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân, xuất phát từ Tân Trào (Tuyên Quang) tiến đánh quân Nhật và tay sai ở thị xã Thái Nguyên. Đại đội Việt - Mỹ cũng được lệnh hành quân tham gia trong cuộc tiến công này.
Ngày 20-8-1945, 400 binh lính bảo an do quản Khiêm chỉ huy đã đầu hàng quân cách mạng. Với số vũ khí mới thu được gồm 600 súng trường và một số súng máy, Quân giải phóng tổ chức thêm hai chi đội vũ trang mới. Đại đội Việt - Mỹ được bổ sung quân số để trở thành chi đội 4 do Đàm Quang Trung làm chi đội trưởng và thiếu tá Tômát vẫn đóng vai trò tham mưu trưởng chi đội.
Chi đội 4 vừa thành lập xong thì được lệnh đưa một trung đội quay lại Tân Trào đón Hồ Chí Minh cùng 2 đại đội cấp tốc hành quân về Hà Nội, một đại đội ở lại tiếp tục đánh Nhật ở Thái Nguyên. Trong bộ phận về Hà Nội có những người Mỹ. Ngày 9-9-1945, Thiếu tá Tômát cùng nhóm quân nhân, tình báo người Mỹ này chấm dứt nhiệm vụ và trở về nước.
Sự kiện chớp thời cơ, nhanh chóng thành công của Cách mạng Tháng Tám và nhanh chóng tuyên bố Việt Nam độc lập của chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu, ngoài mọi tiên liệu của các lực lượng Đồng Minh đã làm cho kế hoạch của Rudơven về Đông Dương phá sản.

Theo chính phủ Mỹ, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa gặp xung đột với mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu..
      Hoa Kỳ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với sức mạnh của Xô Viết ở châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ II. Từ tháng 9 năm 1945, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Công thức Pôtxđam chia Đông Dương thành hai khu vực giải giáp của Đồng Minh qua vĩ tuyến 16 đã tạo ra khả năng Pháp được quân Anh ủng hộ và sự “thỏa hiệp” của Tưởng, độc chiếm Đông Dương lần thứ hai.
Ngày 16-9-1945, tức 12 ngày sau khi Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” tại quảng trường Ba Đình, tướng Mỹ là Galêgiơ (Gallaghet) đã bay đến Hà Nội để tìm hiểu xu hướng chính trị của chính phủ Việt Minh và đề nghị để Mỹ đảm nhiệm khôi phục hệ thống giao thông, đường sắt và sân bay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dứt khoát khước từ. Ngày 20-9-1945, Galêgiơ báo cáo về Mỹ: “Đảng Việt Nam, Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo, rõ ràng đang ngồi trên lưng ngựa. Hồ Chí Minh này là một nhà hoạt động cách mạng lão thành và là tù nhân chính trị nhiều năm, là sản phẩm của Mátxcơva, một người cộng sản… Bây giờ họ đã tuyên bố nền độc lập của họ…”
Từ năm 1949, sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc, tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khuynh hướng thân Liên Xô tại nhiều nước Ả Rập, giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn sóng đi theo chủ nghĩa Cộng sản tại các nước thế giới thứ ba. Trong điện tín số 831 ngày 3/2/1947 gửi cho Đại sứ quán Mỹ tại Paris, bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall nhận định "chúng ta không thấy có lợi ích gì trong việc nền cai trị đế quốc thực dân lại được thay thế bởi nền triết lý và các tổ chức chính trị bắt nguồn từ Kremlin và do Kremlin kiểm soát". Chính phủ Mỹ đưa ra Thuyết domino, theo đó Mỹ tin rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ bị đe dọa. Bởi vậy, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh (chỉ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), một tổ chức/chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc. Tháng 5-1949, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson, dù chẳng có chứng cớ nào về các mối liên lạc giữa Hồ Chí Minh với Kremlin, đã chỉ thị cho đại diện Mỹ tại Hà Nội cảnh báo những người quốc gia Việt Nam có ý định liên minh với Việt Minh, bằng những lời lẽ sau đây: "Qua hiểu biết về quá trình đào tạo của ông Hồ, không thể có nhận định nào khác hơn ông Hồ là một tên Cộng sản quốc tế thực thụ vì rõ ràng ông Hồ đã không thể chối cãi được các mối liên hệ với Moscow và chủ nghĩa cộng sản quốc tế và là một người châu Á được đề cao trong báo chí quốc tế cộng sản và được họ ủng hộ. Hơn nữa Mỹ đã không hề bị xúc động bởi tính chất dân tộc chủ nghĩa của lá cờ đỏ với ngôi sao vàng."
Mỹ tuyên bố "ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện "lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước những mối đe dọa lo lớn hơn tại châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ dự kiến, người Pháp sau khi chiến thắng sẽ - "một cách cao cả" - rút khỏi Đông Dương.
Bắt đầu từ đó, đế quốc Mỹ tích cực hoạt động theo hướng tạo ra một chính phủ đối lập với chính phủ Hồ Chí Minh. Những chuyến đi công cán ngoại giao của Uyliam Bulít, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp, cố vấn tối cao của tổng thống Mỹ khi đó là Truman, đã chứng minh cho nhận định trên.

Ngày 14-9-1951, tướng Pháp De Lattre sang gặp Tổng thống Harry S.Truman và lô hàng gồm nhiều chiến cụ và khí giới: 9.000 súng tiểu liên, 500 đại liên, 5.000 xe chuyên chở đủ loại, 600 máy truyền tin và các xe chiến đấu, máy bay, tàu hải quân, tàu sửa chữa... của Mỹ đã được “viện trợ” cho Pháp. Tính từ tháng 7-1950 đến ngày 1-1-1952, Mỹ đã cung cấp cho Pháp vũ khí và trang bị quân sự trị giá gần 300 triệu USD.

Năm 1953, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã đề ra “học thuyết Eisenhower”, lấy chiến lược “trả đũa ào ạt” làm chiến lược quân sự toàn cầu mới. Tháng 7-1953, Mỹ phê chuẩn “Kế hoạch Navarre” của bộ chỉ huy Pháp, gánh chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu USD. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã “viện trợ” cho chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương gồm 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy.

 Tổng kết lại, nếu như năm 1950, Mỹ chỉ “viện trợ” quân sự 10 triệu USD cho Pháp trong cuộc chiến tranh thì đến năm 1954, số lượng này đã tăng lên đến 1,1 tỷ USD, chiếm 78% chi phí chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Từ năm 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương đã vượt quá 3,5 tỷ USD. Tướng Pháp Navarre sau này viết trong hồi ký rằng: “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”.
Sau 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã buộc thực dân Pháp phải ký vào Hiệp định Geneva để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhưng Mỹ đã ra sức tuyên truyền kêu gọi người dân miền Bắc (đặc biệt là đồng bào Thiên Chúa giáo) di cư vào Nam. Mỹ đã sử dụng 1.455.000USD, 41 lượt tàu biển và 19 máy bay vận tải cho việc này.
 Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là "một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào". Một số khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của các chính phủ thân Mỹ tại Đông Nam Á, không chỉ nhằm làm "tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của "Quyền lực tư bản" Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á. 

Vào ngày 25-6-1954, Mỹ đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng cái gọi là “Quốc gia Việt Nam”. Ngô Đình Diệm là ai? Đây là tên tay sai từng làm quan cho triều đình Huế và là tên tay sai bị Pháp hắt hủi nhưng được Mỹ lựa chọn, đào tạo.

Bằng một loạt “trò hề chính trị” như trò “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại rồi tự suy tôn mình làm tổng thống (tháng 10-1955), rồi tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập cái gọi là “quốc hội lập hiến” (tháng 5-1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” (tháng 10-1956). Ngô Đình Diệm trắng trợn phá hoại việc thống nhất Việt Nam, đồng thời xé bỏ luôn Hiệp định Geneva.

Lầu Năm Góc đã khẳng định: “Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ”. Bởi vậy, không lạ gì Mỹ là quốc gia đầu tiên “công nhận” Việt Nam Cộng hòa.

Trước hết, Mỹ muốn Đông Dương là một vùng tự trị, không chịu ảnh hưởng cộng sản mà liên kết với phương Tây, trước hết là Pháp.

Để phù hợp với “nguyện vọng” của Mỹ, Pháp đã vực dậy ông vua cuối cùng của triều Nguyễn và “đã chết” là Bảo Đại làm con bài. Sợ Bảo Đại, kẻ nhu nhược, bốc đồng và trác táng có thể quan hệ bí mật với chính phủ Hồ Chí Minh, Pháp đưa ra phương án giải tán “nước Nam Kỳ tự trị” để thành lập một chính quyền Việt Nam “tự trị” do Pháp đỡ đầu về quốc phòng và ngoại giao (thực chất thì cũng như chính sách bảo hộ hồi thế kỷ XIX). Vài “chính khách” Việt Nam do Pháp nặn ra, kéo đến Hồng Công thuyết phục Bảo Đại và ngày 7-12-1947, tại Vịnh Hạ Long, ký thỏa thuận với Pháp. Theo đó Pháp “cho” Việt Nam độc lập nhưng kiểm soát quân đội, tài chính và ngoại giao. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại ký thỏa ước của thỏa thuận vịnh Hạ Long: Pháp “giữ hộ” Việt Nam vấn đề quốc phòng, tài chính, ngoại giao.

Năm 1946, ngày 25-5, Tại Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ là luật sư Béziat gửi cho Cao Ủy Pháp một bức thư chính thức xin thành lập một chính phủ lâm thời của nước Cọng Hòa Nam Kỳ.  Ngày 27-5, Cao ủy Pháp trả lời tạm thời chấp thuận việc thành lập chính phủ đó.  Tuy nhiên cũng lưu ý rằng “Nam Kỳ là một mãnh đất thuộc di sản Quốc gia Pháp” cho nên cần phải được Quốc hội Pháp thông qua (Hsltr/Quốc gia Pháp).
*( Nam Kỳ là đất bị quân Pháp đánh chiếm rồi bắt vua Tự Đức phải bán cho họ vào năm 1874 với giá do họ ấn định.  Từ đó nước Việt Nam có hai nước là nước An Nam của nhà Nguyễn và nước Nam Kỳ của Pháp.  Tháng 3 năm 1945 Nhật chiếm Nam Kỳ của Pháp rồi tháng 6 năm 1945 giao lại cho Bảo Đại, nhập trở lại nước Việt Nam.  Giờ đây Pháp thành lập nước Nam Kỳ tự trị để tách ra Nam Kỳ khỏi Việt Nam như trước.                           
Năm 1950, sau khi đánh bật được tập đoàn cờ bạc Ma Cao, thế lực của Bảo Đại đã hoàn toàn độc chiếm trung tâm cờ bạc Đại Thế Giới ở Sài Gòn. 

                                          Bảo Đại - Ông vua bù nhìn. 

                                                          Bảo Đại - Ông vua bù nhìn.

 

Năm 1950, Truman chủ trương không chỉ “giữ chân” cộng sản ở Châu Âu mà còn phải tích cực ngăn chặn cộng sản ở Châu Á. Ngay lập tức, Dean Rush thông báo: “Các tài nguyên của Mỹ phải được triển khai để ngăn Cộng sản chiếm Đông Dương và Đông nam Á”. Đến đây, Mỹ đã tỏ ra quyết tâm giữ Đông Dương hơn cả Pháp.
(Nhưng tại sao đế quốc Mỹ nói riêng và cả thế giới tư bản nói chung lại căm ghét, lo lắng và chống cộng điên cuồng như vậy? Nguyên nhân là, những người theo chủ nghĩa Cộng sản cho rằng muốn xây dựng một xã hội tươi đẹp, không còn cảnh người bóc lột người thì phải làm cuộc cách mạng vô sản và mục tiêu của cuộc cách mạng ấy là đập tan chính quyền tư sản, xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu đó của cuộc cách mạng vô sản rõ ràng là cực đoan, duy ý chí và mù quáng bởi vì chỉ có thể cố gắng cải tạo mặt trái xấu xa của nhân tính, cái tàn dư tàn bạo, độc ác của xã hội phong kiến, chứ không thể tiêu diệt được một phương thức kinh tế - xã hội xuất hiện một cách tự nhiên theo trình độ của tiến trình xã hội phù hợp với đạo lý. Hay có thể nói, trong thời đại ngày nay, hành động xóa bỏ nền sản xuất tư bản là trái đạo lý tự nhiên. Loài người tồn tại được là vừa nhờ có những con người độc lập, tự do, vừa chịu sự ràng buộc. Độc lập, tự do tương đối là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển. Dù là nô lệ đi chăng nữa thì cũng không thể mất hết độc lập, tự do nếu còn tồn tại. Độc lập, tự do làm xuất hiện ý chí sáng tạo ở mỗi con người và khi tư hữu (về tư liệu sản xuất) vẫn còn là quyền lợi thì không thể xóa bỏ được ý chí tư hữu.

Tiếp theo, nguyên nhân để cách mạng vô sản đề ra cái mục tiêu ấy của nó chính là quan niệm thiếu biện chứng của học thuyết Mác về sự phân tầng xã hội dưới luận đề “Giai cấp và đấu tranh giai cấp”. Sự phân tầng xã hội là hiện tượng có thực và nó luôn vận động, chuyển hóa, biến đổi theo điều kiện, hoàn cảnh cũng luôn biến đổi trong từng thời gian, từng giai đoạn vận động xã hội. Chúng ta quan niệm rằng chỉ khi hai tầng lớp dân cư xã hội do có hiện tượng bóc lột mà phát sinh mâu thuẫn gay gắt, đối kháng nhau về mưu cầu sống còn thì lúc đó mới được gọi là phân tầng giai cấp và như thế trong xã hội, nếu xuất hiện giai cấp thì chỉ có thể là hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, mà biểu hiện phổ biến để phân biệt giữa hai giai cấp ấy là hữu sản - vô sản, là giàu - nghèo, tạm thời có quyền lực - không có quyền lực… Vậy thì bản thân những biểu hiện tương phản hữu sản - vô sản, giàu - nghèo chưa hẳn là thực sự phân tầng giai cấp.
Theo Mác thì: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”. Đó là câu nói theo ý kiến chúng ta là vừa đúng vừa không đúng và nếu bỏ “của sản xuất” đi thì đúng hơn.
Theo Lê Nin định nghĩa thì đấu tranh giai cấp là “Cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”. Định nghĩa như vậy là chưa rõ ràng và dễ gây ngộ nhận. Cách định nghĩa sau đây trong giáo trình “Triết học Mác - Lê Nin” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004) là đúng hơn:
“Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc lột”.
Theo chúng ta, cách mạng vô sản là cuộc đi đòi lại quyền lợi chính đáng của quần chúng đã bị giai cấp thống trị chiếm đoạt một cách không chính đáng, xóa bỏ chính quyền đã trở nên phản động, tàn bạo để xây dựng một chính quyền mới do dân và vì dân.
Có lẽ, lí luận vế giai cấp và đấu tranh giai cấpchưa hợp lí dẫn đến nhận thức về chuyên chính vô sản còn cực đoan, sai lầm nên dẫn đến những hành động thật đáng tiếc trong giai đoạn đầu cải cách ruộng đất

                                                 
                      Karl Marx, triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội.
                       95 năm Xô Viết – Nghệ Tĩnh: Vạn sự khởi đầu nan
  Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà tiêu biểu là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ. Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân lao động chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
HẬU QUẢ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP: 
 
                                
                   Địa chủ phải quỳ xuống đất, bị trói 2 tay ra sau lưng nghe kể tội.
                  Sau khi nghe kể tội sẽ bị xử bắn công khai.
 
                              Không có mô tả ảnh. 
Bà Cát Hạnh Long, một ân nhân của “cách mạng” thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
FB Nguyễn Thông: “Bắn một người đã góp cho cách mạng gần 1.000 lượng vàng, đã cưu mang chính mình và hàng nghìn đồng chí mình khi khó khăn, người có 2 con trai thì cả hai con lúc ấy đang là sĩ quan cấp trung đoàn, bắn xong biết sai nhưng không hề công khai xin lỗi, bồi thường danh dự và vật chất
                         
Một người làm thuê đang đấu tố chủ cũ, sau đấu tố là hành quyết công khai.
                                                (Cải cách ruộng đất 1953-1957)
                   Hình ảnh một trong hàng trăm hàng ngàn vụ đấu tố của cộng sản
                       
  "Hình ảnh về cải cách ruộng đất do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp năm 1955 tại Việt Nam"
                      Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất. (Ảnh: internet) 
                     Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất                      (Ảnh: internet)

                                          
                               Sau khi xác định các thành phần xong, thì bắt đầu đấu tố…

Cuối cùng, cách hiểu máy móc, thiếu biện chứng về sự phân tầng xã hội của chủ nghĩa Mác dẫn đến quan niệm gay gắt cực tả, thái quá của cách mạng vô sản, là có nguyên nhân một phần về thực tại xã hội đương thời đó, có vẻ như đích đáng  với thời đại hình thành hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, khi mà tích lũy tư bản là một quá trình chất chồng tội ác, tràn ngập máu và nước mắt, khi mà mặt trái tàn bạo của nhân tính nổi trội đến mức gắn liền thành như bản chất của chủ nghĩa tư bản, làm dấy lên phong trào trừng trị tàn bạo, trong đó không ít những mưu đồ trả thù cá nhân nhỏ nhen, vị kỷ.
Ngày nay, loài người đã sáng tỏ được nhiều điều. Các chế độ xã hội, dù có mang nhãn mác nào đi chăng nữa, dù hình thức có khác nhau thế nào chăng nữa thì cũng không thể bài trừ nhau dã man, do đó xử sự tốt nhất là thay cho đối đầu, nên đối thoại nhau có chừng mực và chung sống hòa bình, hướng sự xâu xé nhau trong nội bộ giống loài ra “bên ngoài”: Đồng lòng đi cải biến tự nhiên vì quyền lợi sống còn của chung loài người.
Đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lăng, ách đô hộ của thực dân - đế quốc và đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thống trị là hai cuộc đấu tranh khác nhau nhưng tương tự nhau. Xét trên khía cạnh phụng sự Đức Huyền Diệu, đảm bảo sự tồn tại của loài người thì hai cuộc đấu tranh đó có mục đích như nhau và không phải là đi tiêu diệt tư hữu.)
                                                               ***
Cuối tháng 1-1950, khi thực dân Pháp hợp pháp hóa chính quyền Bảo Đại thì lập tức ngày 7-2-1950, Mỹ liền công nhận chính phủ bù nhìn đó để nhằm hợp thức hóa việc viện trợ quân sự cho bọn tay sai không qua tay Pháp. Ngày 7-9-1951, “Hội nghị hợp tác kinh tế” giữa Mỹ và chính quyền bù nhìn Việt Nam đã đi đến ký kết văn bản qui định việc Mỹ sẽ viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt gian. Từ đó viện trợ Mỹ không ngừng tăng: nếu như năm 1950 - 1951 Mỹ chi 13% cho tổng chi phí chiến tranh thì năm 1952 lên 38%, năm 1953 lên 45%; năm 1954 lên 80%. Viện trợ này thực chất cũng là cho Pháp. Ngay từ 29-6-1950, 8 chiếc C-47 đã bắt đầu chở hàng viện trợ đến Đông Dương và sau 4 năm, Mỹ đã viện trợ cho cuộc chiến tranh của Pháp và tay sai trên dưới 3 tỷ đô la.
 
                                
                   Máy bay C-119 của Mỹ đang thả lính dù Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Trước nguy cơ Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ dẫn đến thua trận trong cuộc chiến tranh Đông Dương, tổng thống Mỹ lúc đó là Aixenhao đã xin quốc hội Mỹ cho toàn quyền hành động, trong đó có việc sử dụng từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử, theo kế hoạch của Đalét.
Sự cay cú và hoảng sợ trước nỗi ám ảnh cộng sản bành trướng đã làm cho chính phủ tư sản Mỹ định giở trò côn đồ, độc ác. Sự dự tính dùng bom nguyên tử chống lại một dân tộc nhỏ bé đi đòi quyền tự quyết của mình và chưa từng hiềm khích trực tiếp đã bộc lộ ra cái nhân tính tàn bạo, tiểu nhân của những nhà lãnh đạo chóp bu cái cường quốc được cho là số 1 thế giới và tự nhận là tự do dân chủ nhất thế giới. Về vấn đề “răn đe” nguyên tử này, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Cuba là Angulo (đăng trên tạp chí Bôhêmia (Cuba) số tháng 1-6 năm 1984), đã thổ lộ:
“Oasinhtơn đề nghị cung cấp cho Pari bom nguyên tử chiến thuật để đánh vào quân đội Việt Nam đang bao vây Điện Biên Phủ. Chúng tôi nhận được tin là hai chính phủ đã bàn bạc khả năng dùng vũ khí nguyên tử chống lực lượng của chúng tôi. Nhưng chúng tôi nhận thấy không có nhiều khả năng là loại vũ khí đó được sử dụng. Một mặt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ rơi vào thế phòng thủ và chỉ củng cố được những vị trí sẵn có. Mặt khác, Quân đội nhân dân Việt Nam không kiểm soát các thành phố lớn, mà rải rác trong một hậu phương bao la và các đơn vị tác chiến ở Điện Biên Phủ ngày một tiến sát quân thù.
Con bài vũ khí nguyên tử không dễ dàng, nhưng mặc dù vậy chúng tôi vẫn chỉ thị cho các đơn vị của chúng tôi sẵn sàng chống lại sự nhiễm xạ bằng mọi biện pháp sẵn có. Cho dù có dùng vũ khí này, họ (tức là Mỹ - Pháp) cũng sẽ không đạt được gì hết”.
Thực tế cho thấy dù thực dân Pháp tán thành nhưng cho đến cuối tháng 4-1954, kế hoạch sử dụng bom nguyên tử - còn gọi là kế hoạch Vơtua (Vantour), đã không được thực hiện.
Là một thành viên tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng đế quốc Mỹ đã không chịu ký vào bản tuyên ngôn chung vì đang ôm ấp những mưu đồ chống cộng điên cuồng ở Đông Dương. Mỹ đã ngang nhiên lập ra khối Đông - Nam Á (SEATO), đặt miền Nam - Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này, ráo riết hất cẳng Pháp để trực tiếp can thiệp vào Đông Dương.
Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve, Quốc gia Việt Nam cùng Pháp tập kết về vùng phía Nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam. 
 
                                  
 Phi  cơ - "siêu pháo đài" B-29 (ảnh: olive-drab.com)
 
Ngày 10-8-1954, Mỹ điều đô đốc Xabin ra Hà Nội trực tiếp điều hành kế hoạch tuyên truyền, cưỡng ép đồng bào di cư. Từ tháng 6-1954, Mỹ đã tổ chức một cơ quan huấn luyện biệt kích, gián điệp núp dưới cái tên “Phái đoàn quân sự Sài Gòn” (S.M.M), đóng trụ sở tại Hà Nội. Sự kiện nổ mìn phá sập Chùa Một Cột ngày 10-9-1954 là có sự nhúng tay của tổ chức này.
Theo kế hoạch, quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành. Không thể chấp nhận việc Hồ Chí Minh sẽ thắng cử và lập chính phủ trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra nhằm chia cắt Việt Nam vĩnh viễn thành 2 quốc gia. Hoa Kỳ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng dân chủ hay không.
Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale (sĩ quan cao cấp của Tình báo Mỹ và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953) đã huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối". Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho Quốc gia Việt Nam. 
Trong những năm 1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực Quốc gia Việt Nam, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của Quốc gia Việt Nam là do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
                    Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm  
                                      Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm
      
      Đến lúc này lại xảy ra mâu thuẫn giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm với Quốc trưởng Bảo Đại (nguyên là Hoàng đế nhà Nguyễn). Năm 1955, nhờ gian lận trong một cuộc trưng cầu dân ý (mà các tài liệu ngày nay của chính phủ Việt Nam thường gọi là "trò hề trưng cầu dân ý"), thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này ban hành Hiến pháp thành lập Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn, ngày ban hành Hiến pháp 26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ Nhất Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và được Mỹ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam.
Bằng việc đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thay thế ông vua Bảo Đại khét tiếng ăn chơi và hoàn toàn ngớ ngẩn về chính trị, Đế quốc Mỹ đã chính thức chấm dứt sự dính líu của Pháp ở Đông Dương. Đó cũng chính là sự “bàn giao lịch sử” giữa chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước Việt Nam.

Vậy Ngô Đình Diệm là ai?

                                                 Ngô Đình Diệm
                                                                      Ngô Đình Diệm

VNCH xuất sinh từ gian lận:
  
Cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 gián tiếp đem đến sự cáo chung Quốc gia Việt Nam. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký quyết định ban hành bản Lâm thời Hiến pháp số 1, sự kiện này được coi là quốc khánh của Việt Nam Cộng hòa. VNCH xuất sinh từ gian lận!

      Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo Công giáo lâu đời ở Việt Nam. Vào thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã cải đạo cho dòng họ ông, nên tên thánh của ông là Gioan Baotixita (João Batista).
     Cha ông là Ngô Đình Khả và mẹ ông là Phạm Thị Thân, quê quán ở làng Đại Phong xã Phong Thủy huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh, theo Nguyễn Thân một người hợp tác với chính phủ Liên bang Đông Dương (thuộc Pháp) đàn áp các phong trào chống Pháp như nhóm Văn Thân của ngự sử Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông Khả từng làm tới Thượng thư triều đình nhà Nguyễn kiêm Phụ đạo Đại thần và cũng là cố vấn của vua Thành Thái.

                        John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951
           John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951
                       Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963.
Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963.
                       Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
                                         Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
             Ông Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957
Ông Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957
            Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957
Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957
           Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara
           Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara
          Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
      Là người mộ đạo, Ngô Đình Khả dẫn gia đình ông đi lễ mỗi buổi sáng. Năm 1907, thấy chính quyền bảo hộ Pháp phế bỏ và đày vua Thành Thái sang Phi Châu, ông Ngô Đình Khả xin từ quan về quê làm ruộng để tỏ sự bất mãn. Có thuyết khác cho rằng, vì ông Khả không chịu ký vào đơn yêu cầu Thành Thái thoái vị, nên bị chính quyền bảo hộ Pháp cách chức. Dù đã từ quan nhưng ông Ngô Đình Khả vẫn đủ sức để chu cấp cho các con ông ăn học.
      Lúc nhỏ, Ngô Đình Diệm ngoài giúp cha làm ruộng còn cùng người anh Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng Pellerin Huế. Cảm thấy cuộc sống ở trường dòng quá khắt khe, ông đã bỏ trường dòng.
Năm 1913, lúc 12 tuổi, Ngô Đình Diệm thi vào trường Collège Quốc học, học chương trình tổng hợp bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trưởng giáo (tức hiệu trưởng) trường là Ngô Đình Khả, cha ông.
      Theo Moyar, cá tính độc lập quá mức của Ngô Đình Diệm không thích hợp với các khuôn phép trong nhà thờ. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn thừa hưởng từ cha tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược.Tốt nghiệp trung học với thành tích học tập xuất sắc ở trường Collège Quốc học, Ngô Đình Diệm được trao học bổng đi học ở Paris. Nhưng ông đã từ chối. Năm 1918, ông nhập học Trường Hậu bổ (trường Hành chính công và Luật) ở Hà Nội, một trường danh tiếng của Pháp đào tạo công chức người Việt. Trong lúc học ở trường Hậu bổ, Ngô Đình Diệm yêu con gái của thầy dạy học và đây là mối tình duy nhất trong cuộc đời ông. Sau khi người con gái đó quyết định vào Nữ tu viện, Ngô Đình Diệm sống độc thân suốt phần đời còn lại. Theo Nhân Hưng, mối tình đầu của Ngô Đình Diệm là với tiểu thư Trang Đài, con gái út của quan Thượng thư họ Nguyễn ở An Cựu, Huế.
       Sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ với vị trí đứng nhất lớp vào năm 1921, Ngô Đình Diệm nối bước anh cả Ngô Đình Khôi (lúc này đang làm việc trong Bộ Binh triều đình Huế) vào quan trường. Bắt đầu bằng chức quan thấp nhất, Ngô Đình Diệm từng bước được thăng chức. Nơi làm việc đầu tiên của ông là thư viện hoàng gia ở Huế. Trong cùng năm, ông làm tri huyện Hương Trà, Thừa Thiên.
Năm 1926, Ngô Đình Diệm làm tri phủ Hải Lăng, Quảng Trị, sau đó làm quản đạo phủ Ninh Thuận
 
                                   
            Xác chết của Ngô Đình Diệm ở phía sau APC, đã bị xử tử trên đường đến trụ sở quân đội
                                                                    
     Trong suốt thời gian làm quan, Ngô Đình Diệm có tiếng là người mẫn cán, công chính, là nhà lãnh đạo Công giáo và là người theo chủ nghĩa dân tộc. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc Công giáo ở Việt Nam từ thập niên 1920 đến thập niên 1930 cũng tạo điều kiện cho sự thăng tiến trong quan trường của Ngô Đình Diệm. Sự thăng tiến nhanh chóng của Ngô Đình Diệm một phần nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài (anh trai ông, Ngô Đình Khôi, là con rể của ông Nguyễn Hữu Bài). Nguyễn Hữu Bài (1863–1935) là một người Công giáo ủng hộ việc bản địa hóa Nhà thờ Việt Nam và tăng quyền lực hành chính cho chế độ quân chủ. Nguyễn Hữu Bài được người Pháp đánh giá cao, trở thành người bảo trợ cho Ngô Đình Diệm do mối quan hệ chặt chẽ về gia đình cũng như tôn giáo.
      Năm 1929, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận. Làm quan ở Bình Thuận ông có tiếng về đạo đức làm việc. Vào các năm 1930 và 1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy đầu tiên của nông dân do những người cộng sản tổ chức. Theo Fall, Ngô Đình Diệm vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách mạng. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, nhưng có thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại.
Ngày 8 tháng 4, năm 1933, Bảo Đại (1913-1997) đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Ngô Đình Diệm nhận lời Bảo Đại làm Thượng thư Bộ Lại (Bộ Nội vụ ngày nay) theo lobby của Nguyễn Hữu Bài. Ông là vị thượng thư trẻ tuổi nhất trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.Thời gian này ông được bầu làm Tổng thư ký đứng đầu ủy ban cải cách hành chính. Ông đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền bảo hộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884, hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề kể cả chính trị. Việc thống nhất chủ yếu để buộc chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một viện tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì các đề xướng không được chấp nhận, ông từ chức Thượng thư Bộ Lại ngày 12 tháng 7 năm 1933, chỉ sau 3 tháng nhậm chức. Ngô Đình Diệm lên án Hoàng đế Bảo Đại "chẳng là gì mà chỉ là công cụ trong tay người Pháp", và đã vứt bỏ các huân chương, chức tước được Bảo Đại trao. Sau đó người Pháp đã dọa bắt và lưu đày Ngô Đình Diệm.
 
                                    Ngô Đình Diệm (áo dài)  
                                                                 Ngô Đình Diệm (áo dài)

  Tháng 9 năm 1933, Thượng thư Bộ lại Ngô Đình Diệm từ chức (Theo một tài liệu khác thì ông từ chức ngày 12 tháng 7 năm 1933). Tháng 12.1933 cụ Phan Bội Châu cho đăng bài thơ Vô đề (5) trên báo Tiếng Dân, sau đó cụ xác nhận là làm để tặng Ngô Đình Diệm với “cái lòng khen”; nhưng khi biết Ngô Đình Diệm muốn trở lại làm quan thì cụ Phan cho rằng, “cái quan niệm của tôi đối với ông ấy từ trước đều vứt đi”:
Ai biết trời Nam hãy có người, 
Sịch nghe tưởng ngỡ sấm bên tai.
Lông hồng coi nhẹ vàng muôn lượng,
Ngôi quý xem dường dép nửa đôi.
Phơi tỏ cùng trời gan đỏ chói,
Nhá nhem thây kệ mắt đen thui.
Ví chăng kịp lúc làm vai vế,
Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi.

     Sau khi từ chức Thượng thư Bộ Lại, Ngô Đình Diệm trở về làm một thường dân sống ở Huế cùng gia đình ông, nhưng vẫn bị giám sát. Ông dành thời gian cho việc đọc sách, thiền định, đi lễ nhà thờ, làm vườn, đi săn, và chụp ảnh nghiệp dư. Ngoài ra, ông đẩy mạnh các hoạt động dân tộc chủ nghĩa qua việc gặp gỡ và giao lưu với các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như Phan Bội Châu, một người bạn của ông. Phan Bội Châu là nhà hoạt động chống thực dân mà Ngô Đình Diệm kính trọng vì kiến thức Nho giáo uyên thâm của ông, và vì Phan Bội Châu lập luận rằng những lời dạy của Nho giáo có thể được áp dụng cho Việt Nam hiện đại.
       Ngô Đình Diệm ngấm ngầm ủng hộ Hoàng thân Cường Để đang sống lưu vong tại Nhật nhằm thực hiện một cuộc cách mạng lật đổ chính quyền bảo hộ Pháp. Ông bị xem là quá khích giống như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam. Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim,... tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đã bãi bỏ chỉ định của Pasquier. Ông vào Huế dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Ngô Đình Thục làm Giám học.
Thời kỳ 1942-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Đại Việt Phục hưng Hội, dựa Nhật chống Pháp với thành phần nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm ở tại phủ Cam. Trong thư gửi Toàn quyền Đông Dương, ông Thục kêu gọi Pháp ân xá cho em mình:
"Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận
...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp".
Nhờ sự giúp đỡ của hiến binh Nhật, ông thoát nạn và về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau vài ngày, người Nhật đưa Ngô Đình Diệm vào Đà Nẵng rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật. Ông cũng được Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để ủy nhiệm công việc vận động nhân sự ở Trung Kỳ để chống Pháp.

                                                       Thượng Thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm (thứ hai từ phải). 5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn
 
  Tổng Thống Diệm ôm hôn tướng Dương Văn Minh, theo các nguồn thì sau này chính tướng Minh ra lệnh hạ sát anh em Tổng Thống trong cuộc đảo chánh 1963 vì tư thù

     Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Ủy ban Kiến quốc với mục tiêu phò tá hoàng thân Cường Để. Tuy nhiên Nhật không ủng hộ Cường Để về nước làm vua mà ủng hộ Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.Sau khi Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh giành chính quyền, Ngô Đình Diệm cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên ngoại trừ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn. Anh cả Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khôi cùng con trai mình là Ngô Đình Huân trên đường bị du kích giải ra Hà Nội thì bị lực lượng áp tải này xử bắn do nghi ngờ ông định chống lại lực lượng Việt Minh. Nguyên do là trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ngô Đình Khôi khuyên hoàng đế Bảo Đại đừng thoái vị vì ông đã tích trữ được một số vũ khí, lại có thêm Ngô Đình Huân giữ vai trò liên lạc giữa triều đình Huế và Đế quốc Nhật Bản, nên có người tố cáo cha con ông Khôi có âm mưu cấu kết với Nhật chống lại Việt Minh. Thời điểm đó, một đơn vị biệt kích Pháp nhảy dù xuống miền Tây Thừa Thiên và bị Việt Minh bắt, nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan lại bản xứ để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Ngô Đình Diệm bị giải ra Hà Nội. Sau đó Ngô Đình Nhu cũng bị Việt Minh bắt giam rồi được thả. Theo phim tài liệu Sứ mệnh đặc biệt của Đài Truyền hình Việt Nam nói về chuyến công tác phía nam của ông Hoàng Quốc Việt trong Cách mạng Tháng Tám, thì ông Hoàng Quốc Việt (sau khi nghe ông Hải, Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Quảng Ngãi báo cáo đã bắt được Ngô Đình Diệm) đã thả ông Diệm theo chỉ thị của Hồ Chí Minh rằng các nhân sĩ trí thức phải được thả ra, và đưa ông Diệm ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ông Ngô Đình Diệm được giao làm cố vấn cho Vĩnh Thụy, là cố vấn tối cao của Chính phủ.

                                Gia đình trị họ ngô:
                               
Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy 
 
                        Không có mô tả ảnh. 
Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc bản tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng hòa, ngày 26 tháng 10 năm 1955 (sân Dinh Độc Lập).

Ngô Đình Diệm bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang nhưng được trả tự do theo lệnh ân xá vào năm 1946. Theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp Hồ Chí Minh. Ngô Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh của ông thì được Hồ Chí Minh giải thích rằng đó một hành động tự phát của du kích địa phương do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó, cũng theo tài liệu của Mỹ, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì cho rằng ông có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời đó với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này, và do đó Ngô Đình Diệm từ chối hợp tác với Hồ Chí Minh.Sau khi được Việt Minh phóng thích, Ngô Đình Diệm duy trì các mối liên lạc với một số lãnh đạo Việt Minh với hy vọng có thể thuyết phục họ bỏ Hồ Chí Minh và quay sang ủng hộ ông. Những cuộc trao đổi này khơi dậy những quan tâm đáng kể trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong năm 1947-1948. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đình Diệm và Ngô Ðình Thục, thậm chí còn có tin đồn Ngô Đình Diệm đã lôi kéo được tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ (về sau tin đồn này được xác định là không đúng). Ông cũng tìm cách liên minh với các lãnh đạo các đảng phái quốc gia. Giữa năm 1947, ông liên minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lãnh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Ðại Việt Quốc dân Ðảng.
Tháng 2 năm 1948, Ngô Đình Diệm và các lãnh đạo phe quốc gia gặp nhau tại Sài Gòn để thảo ra một kế hoạch đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập của Việt Nam. Năm 1948, khi cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong ở Hồng Kông đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, Ngô Đình Diệm sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong "vấn đề độc lập dân tộc". Ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền của Việt Nam. Sau đó khi Bảo Đại ký hiệp định với Pháp ở Hạ Long cho Việt Nam một nền độc lập hạn chế, Ngô Đình Diệm tỏ ra thất vọng. Ông từ chối lời mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại với lý do "không tin người Pháp, càng không tin vào nền độc lập nửa vời mà Pháp vẽ ra", và quay về Huế sống với Ngô Đình Cẩn và có thời gian Ngô Đình Diệm lên sống với vợ chồng Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt.

Miller thấy rằng những tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ nói lên được một hiểu biết mơ hồ về Diệm cho đến tháng 5/1954. Theo Miller, Bảo Đại quyết định chọn Diệm vào chức vụ Thủ tướng là bởi ông hoàng này công nhận rằng Diệm “là một người tốt nhất cho công việc, bởi vì sự không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông ấy có đủ năng lực để chống lại chủ nghĩa cộng sản… Ông ấy thực sự là một người rất thích hợp với hoàn cảnh hiện tại”.
Diệm đã chứng minh lời của quốc trưởng nhận xét về năng lực của mình là không sai. Trong thời kỳ hậu hiệp định Geneva, phớt lờ chiến lược hòa giải và cải tổ của Hoa Kỳ, Diệm đã trấn áp và dẹp tan những đối thủ chính trị của Diệm mà không có bất kỳ một sự thỏa hiệp nào để kiểm soát thành công quân đội quốc gia, giành lấy quyền lực từ những viên tướng thân Pháp, thực hiện chương trình kiến quốc của ông.
Những kiến giải của Miller về thời kỳ này không những đưa ra một sự hiểu biết mới về Diệm, mà còn thách thức các nhà sử học nhận thức lại lịch sử quan hệ Mỹ-Diệm ngay từ buổi đầu.

Sự bất đồng tư tưởng này đã khuấy đục liên minh Mỹ-Diệm trong quá trình triển khai một trong những chương trình kiến quốc quan trọng nhất: phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với mấu chốt của vấn đề là giải quyết tình trạng dư thừa dân số bằng cách di dân.
Trên bình diện quốc gia, Diệm khởi động chương trình tự cung tự cấp như là một đặc trưng trong viễn kiến của Diệm về phát triển cộng đồng để phát động sự tham gia tự giác và đóng góp của toàn dân vào những mục tiêu công ích của nhà nước.
Kế hoạch dinh điền của Diệm không tránh khỏi sự phàn nàn từ phía Mỹ.
 

Miller đã phân tích rất sâu sắc sự khác biệt của hai trường phái kiến quốc của Mỹ sau thế chiến thứ II bao gồm chủ nghĩa tân thời cao cấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khoa học và kỹ thuật, và chủ nghĩa tân thời bậc thấp chú trọng vào các chương trình phát triển ở phạm vi hẹp mang tính địa phương.
Cả hai trường phái này đều không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ không thể Tây hóa lối sống và điều kiện kinh tế xã hội của người Việt.
 

Do vậy, dù đồng ý với quan điểm của Hoa Kỳ là cần cung cấp nguyên liệu sản xuất cho dân tái định cư, nhưng Diệm bảo lưu quan điểm của mình, rằng việc cung cấp tư liệu sản xuất không quan trọng bằng nghĩa vụ và bổn phận tự lập của cộng đồng.
Do đó ông sẵn sàng tiếp tục thực hiện kế hoạch mà không cần sự trợ giúp của Mỹ. Mối bất hòa về chương trình dinh điền, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đẩy Washington và Saigon vào một tình trạng tồi tệ mới.

Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm. 
Miller chứng minh rằng không phải mọi hoạt động quân sự của Diệm đều do Mỹ điều khiển hoàn toàn, thậm chí còn xảy ra những bất đồng trong nội bộ Mỹ.

Về xây dựng lực lượng, ví dụ, phái bộ cố vấn của đại học Michigan (MSUG) muốn phát triển Lực lượng Bảo an như là một lực lượng cảnh sát dân sự, trong khi đó các cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) lại muốn lực lượng này là một mô hình bán quân sự hoạt động như một đội quân phụ trợ.

Còn với Diệm, Bảo an là một lực lượng lai ghép, kết hợp quyền lực của cảnh sát như quyền giám sát, giam cầm, và phản gián với năng lực quân sự.

Chỉ trích các giải pháp của cố vấn Mỹ không phù hợp với quan điểm của mình, cũng như hoàn cảnh an ninh của miền Nam Việt Nam, Diệm tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng Bảo an như một nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích. Là một cựu quan chức có nhiều trải nghiệm về cách trị dân, hơn ai hết, Diệm hiểu rằng: để cai quản vùng nông thôn cần kết hợp các giải pháp chính trị, quân sự, xã hội và kinh tế

Ngược lại, Diệm không bao giờ có quan điểm Dân chủ là một sự cạnh tranh mang tính đa nguyên giữa các đối thủ, đảng phái, và tư tưởng.

Thay vì vậy, Diệm cho rằng nền móng dân chủ của ấp chiến lược là huy động sức mạnh toàn thể dân chúng tham gia vào cuộc chiến chống lại kẻ thù của chế độ.

Miller không thể không thừa nhận rằng dù có nhiều khiếm khuyết và bất cập, nhưng Ấp Chiến Lược là một chương trình thành công, tạo nên một bước ngoặt đáng ghi nhận trong cuộc chiến chống lại Cộng sản ở miền Nam, mang lại hy vọng cho một chiến thắng chung cuộc. Trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 vẫn không dập tắt sự lạc quan của Diệm, vì vậy họ Ngô đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch Bắc tiến, chiếm lại miền Bắc Việt Nam.
Và cuối cùng, Diệm muốn Mỹ viện trợ vũ khí và các nguyên vật liệu khác nhưng không chấp nhận sự việc các cố vấn Mỹ can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.
  Picture
Từ năm 1961, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải liên tục tăng cường lực lượng nhằm đối phó với các hoạt động khủng bố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (thành lập cuối năm 1960 tại chiến khu Tây Ninh)
Ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đình Diệm cho đăng một tuyên bố hoàn toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách đòi hỏi quyền tự trị lãnh thổ cho Việt Nam. Ðồng thời, ông cũng thông báo không có ý định hợp tác với Việt Minh và kêu gọi một phong trào chống thực dân mới dưới sự lãnh đạo của “những thành viên đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” với ý định thách thức Việt Minh bằng cách lôi kéo một số người muốn bỏ Việt Minh để ủng hộ ông. Ngô Đình Diệm cũng tuyên bố viễn kiến về một cuộc cách mạng xã hội ngang với những cương lĩnh chính trị từ các đối thủ của ông: “... nên biết rằng cuộc tranh đấu hiện tại không phải chỉ là một cuộc chiến đấu cho độc lập Tổ quốc về phương diện chính trị mà thôi, mà còn là một cách mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam. Ðể cho tất cả mọi người trong nước Việt Nam mới có đủ phương tiện để sống xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự, tôi chủ trương những sự cải cách xã hội hết sức tân tiến và mạnh bạo, miễn là phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự do nẩy nở.” Tuyên bố của ông được nhiều người đọc và được chú ý trên khắp Việt Nam, nhưng nó không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng dành cho Ngô Đình Diệm, cũng không gây tác hại gì cho “giải pháp Bảo Ðại”. Trên thực tế, hiệu quả của nó là chấm dứt 

 Sau đó, ông cùng anh mình là Giám mục Ngô Đình Thục và người em Ngô Đình Nhu thành lập Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo. Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một phong trào mới có thể áp đảo cả Pháp và Việt Minh. Ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột, cố gắng xây dựng và duy trì quan hệ với cả hai phía. Ngô Đình Diệm hy vọng có thể có thêm thời gian để mở rộng nhóm ủng hộ mình và gây thiệt hại cho cả hai đối thủ.
       Năm 1950, Việt Minh cố gắng giết Ngô Đình Diệm trên đường ông đi thăm anh là Giám mục Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long. Ông theo anh là Giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, rồi sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây.
        Trong thời gian ở Nhật, ông gặp tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân Mỹ tại Nhật để thuyết phục Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, nhưng tướng Douglas MacArthur tiếp kiến ông và Giám mục Ngô Đình Thục rất lạnh nhạt, không có biểu hiện gì cho thấy tướng Douglas MacArthur sẽ ủng hộ Việt Nam. Theo lời khuyên của Wesley Fishel, giáo sư chính trị Đại học Michigan, ông Diệm sang Hoa Kỳ để thuyết phục Tổng thống Mỹ Eisenhower ủng hộ Việt Nam độc lập. Tháng 9 năm 1950, Ngô Đình Diệm đến Washington gặp các viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng ông không gây được ấn tượng với họ. Sau khi gặp, một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhận xét Ngô Đình Diệm “quan tâm ngang bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân, thay vì giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối mặt ngày hôm nay”. Tháng 10 năm 1950, Ngô Đình Diệm sang Vatican gặp Giáo hoàng rồi đến Paris gặp các quan chức Việt và Pháp đồng thời đề nghị Bảo Ðại bổ nhiệm ông làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam với điều kiện ông có đủ thẩm quyền để chỉ đạo các cơ quan hành chính tại Việt Nam nhưng Bảo Đại chỉ trả lời chung chung 

                         image
Cố vấn Ngô Đình Nhu có 4 người con: Ngô-Đình Trác, Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ Thuỷ và Ngô-Đình Lệ Quyên. Kể từ sau khi hai anh em Ngô-Đình Diệm và Ngô-Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô-Đình cũng trải qua nhiều biến cố.
Hai người con gái của Ngô-Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô-Đình Lệ Thủy và Ngô-Đình Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông.
 
image
Theo Luật sư Lâm Lễ Trinh trong một cuộc phỏng vấn, ông Ngô-Đình Diệm là Tổng Thống, nhưng khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hoà công lớn là của ông Ngô-Đình Nhu. Ông Ngô-Đình Quỳnh nhớ về Cha như là một người kín đáo và tận tuỵ cho đất nước.  
  
    Thời gian hai năm kế tiếp Ngô Đình Diệm sang Mỹ phần lớn lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New York. Ông dùng đủ mọi cách để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower nhưng cũng không thành công vì Mỹ đang bận tham chiến tại Triều Tiên và Mỹ không muốn làm mất lòng người Pháp. Đây cũng là thời kỳ Ngô Đình Diệm gặp Hồng y Spellman, người đồng ý làm trung gian để ông có cơ hội diện kiến với những nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ. Qua trung gian của Hồng y Spellman, ông Diệm đã gặp gỡ và tranh thủ được tình cảm của dân biểu Walter H. Judd, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, nhất là Thượng nghị sĩ John F. Kennedy (Kennedy sau này trở thành Tổng thống Mỹ). Ngô Đình Diệm tìm kiếm sự hỗ trợ của người Mỹ cho những kế hoạch chính trị của ông cũng như thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện đại hoá và khả năng biến đổi Việt Nam dựa trên nền công nghệ Mỹ. Ðặc biệt, ông tìm cách khai thác những quan tâm chính thức mới (của Mỹ) trong việc “hỗ trợ kỹ thuật” cho nước ngoài. Cũng nhờ sự giới thiệu của Spellman và một vài nhân vật cấp cao của CIA, Ngô Đình Diệm vào ở ẩn ở các chủng viện lớn như Maryknoll, Lakewood rồi vào trường đại học Michigan tham gia một số khóa học. Có thể nói, người đã giúp đỡ ông Diệm rất nhiều khi ở Mỹ là Hồng y Spellman. Nhà sử học John Cooney đã viết:
"Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi chính khách: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng."
       Năm 1954, Ngô Đình Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn (con trai của cụ Thân thần phụ chính Tôn Thất Hân). Tại đây, với sự yểm trợ của Ngô Đình Luyện, Diệm bắt đầu vận động trong giới chính khách Việt sống lưu vong.
        Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (về sau là Tổng thống Mỹ) tuyên bố:
“Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”.
        Sau 4 năm Hiệp định Elysée được ký kết, lãnh đạo các đảng phái quốc gia đang mất hết kiên nhẫn với Bảo Đại và chiến lược giành độc lập từng bước trong Liên hiệp Pháp của Bảo Ðại. Pháp rất ít khi nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Quốc gia Việt Nam chỉ độc lập trên danh nghĩa. Đa số lãnh đạo phe quốc gia thất vọng với thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, nổi tiếng thân Pháp và chuyên quyền. Họ cũng nổi giận vì quyết định đơn phương của Paris trong việc phá giá đồng bạc Đông Dương vào đầu tháng 5 năm 1953, vi phạm những thoả thuận trước đó với các quốc gia thuộc Liên hiệp Pháp, đồng thời làm gia tăng lạm phát và khó khăn ở Đông Dương. Lợi dụng tình thế này Ngô Đình Nhu khéo léo kích động sự bất mãn và gợi ý triệu tập Đại hội Đoàn kết các đảng phái quốc gia tại Sài Gòn vào đầu tháng 9, sau khi Bảo Đại rời Việt Nam đi Pháp. Đại hội Đoàn kết diễn ra ngày 5, 6 tháng 9 năm 1953 không xây dựng được liên minh nào và cũng không đưa ra lập trường chính trị chính thức nào.
  Tháng 10 năm 1953, các đảng phái quốc gia lại nhóm họp và phê chuẩn quyết định bác bỏ sự tham dự của Việt Nam vào Liên hiệp Pháp và ủng hộ việc độc lập hoàn toàn. Đứng trước sự bất mãn tăng cao của các lãnh đạo đảng phái, tôn giáo, Bảo Đại phải thân thiện hơn với Ngô Đình Diệm và cân nhắc lại khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Ngày 26 tháng 10, Bảo Ðại gặp Ngô Đình Diệm ở Cannes để thăm dò lòng trung thành của ông này với Bảo Đại và khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Tháng 12, 1953, Bảo Đại cách chức Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và bổ nhiệm Nguyễn Phúc Bửu Lộc, một thành viên của hoàng tộc, làm thủ tướng. Đầu tháng 3 năm 1954, sau khi Bảo Đại chấp thuận trên nguyên tắc việc thành lập Quốc hội mới, Ngô Đình Nhu và những đồng minh của ông xuất bản một bài viết ở Sài Gòn thúc ép Bảo Đại nhượng bộ thêm.
        Đầu năm 1954, trong khi Pháp đang gặp khó khăn tại trận Điện Biên Phủ, Bảo Đại liên tục nhờ người chuyển lời với ông Diệm đang ở Hoa Kỳ, yêu cầu ông trở về nước thành lập chính phủ mới. Ông Diệm tiếp tục từ chối lời mời của Bảo Đại với lý do không tin tưởng vào người Pháp. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán hiệp ước trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam. Ngày 16/6/1954, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Ngô Đình Diệm tại Pháp. Ông Diệm đồng ý trở về nước làm Thủ tướng theo lời mời của Bảo Đại với điều kiện Bảo Đại phải đồng ý để chính phủ do ông thành lập được toàn quyền về chính trị và quân sự. Bảo Đại đồng ý với yêu cầu này, sau đó ông Diệm về nước và chính thức được bổ nhiệm làm thủ tướng. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới với nội các gồm 18 người. Sau này Bảo Đại viết trong hồi ký của mình:
      “Từ những gì tôi biết về ông, tôi biết rằng ông Diệm là một người khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín và xu hướng thiên về Thiên Chúa của ông. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện tại, không có một lựa chọn nào tốt hơn. Ông được người Mỹ biết đến, và họ đánh giá cao tính không khoan nhượng của ông. Trong mắt họ, ông là người xứng đáng với chức vụ đó nhất, và Washington sẽ không dè xẻn trong việc ủng hộ ông. Bởi vì quá khứ [của ông Diệm] và bởi vì sự hiện diện của người em ông ở vị trí hàng đầu của “Phong trào Công đoàn Quốc gia”, ông sẽ có được sự cộng tác của những người quốc gia thế lực nhất, những người đã hạ bệ ông Tâm và ông Bửu-Lộc. Cuối cùng, cũng vì tính không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông là người ta có thể trông cậy được trong việc chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như vậy.” Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Công thức này đòi hỏi một sự hợp tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Edgar Faure (sau này là thủ tướng Pháp) cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị điên... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta", hơn nữa Pháp đang bị chia rẽ chính trị nội bộ và gặp khó khăn tại Algérie nên rất miễn cưỡng trong việc giúp đỡ Quốc gia Việt Nam do đó Mỹ đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.

                                     Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu
 Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu

       Ngày 23/10/1954, tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.
       Theo ông cơ hội duy nhất cho chính phủ quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải thoát khỏi những ảnh hưởng còn sót lại của Pháp, và ông quyết định phải thực hiện mục tiêu đó. Quan điểm của Ngô Đình Diệm là "Muốn thuyết phục được nhân dân Việt Nam là chính quyền này độc lập thì cần thiết về mặt chính trị phải tỏ ra là chống thực dân và đặc biệt là chống Pháp".Chỉ sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương (một cơ quan do Pháp thành lập), từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Quốc gia Việt Nam quản lý. Tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp trong vòng năm tháng thực hiện chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam mọi công tác của Quân đội Quốc gia Việt Nam còn phụ thuộc vào bộ chỉ huy Liên hiệp Pháp. 
Phản ứng lại hành động của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đang từng bước loại bỏ ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam, Pháp muốn duy trì ảnh hưởng tại miền Nam nhưng lại gặp phải một Thủ tướng có tinh thần dân tộc nên họ tìm mọi cách loại bỏ để thay thế bằng một người lãnh đạo thân Pháp. Thông qua một số nhân vật ngoại giao như đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Douglas Dillon tại Paris, Pháp tìm cách thuyết phục Mỹ đồng ý loại trừ ông Diệm bằng cách chỉ trích ông thiếu năng lực và không có khả năng đại diện nhân dân vì không có được sự cộng tác và ủng hộ của các phe phái tại Miền Nam do đó không có khả năng thắng trong cuộc Tổng tuyển cử dự tính được tổ chức năm 1956. Tài liệu mật số 1691/5 (ngày 15 tháng 4 năm 1955) của Bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận Pháp muốn giữ vai trò lịch sử lâu dài của mình tại Việt Nam và bảo vệ những đầu tư kinh tế, tài chính của Pháp tại đây.
                             img0000356A
Viên sĩ quan dù cao cấp về sau trở thành tướng nổi loạn Nguyễn Chánh Thi đã nhận xét về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm – Nhu: “Cứ hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại miền Trung, có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau họ là sức mạnh chính quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải xử theo ý của linh mục A, linh mục B, không thì mất chức. Một số linh mục dưới chế độ Ngô Đình Diệm, họ sống như các ông vua của một xứ xưa kia!..”.
Cũng theo linh mục Trần Tam Tỉnh, đáp lại các lời chỉ trích, giám mục Thục nói với ICI, tạp chí Công giáo số 15/4/1963, rằng “Trên bàn giấy của tôi chồng chất cả lô đơn xin tôi can thiệp cho họ ơn này, ơn nọ, khổ thay thường chỉ là thế tục. Tôi không thể dửng dưng được trước lời kêu gọi của họ! ở vào địa vị của tôi các ông sẽ xử sự như thế nào?”. Giả dối đến thế là cùng!

        Lúc đó, Quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn ở Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm trong Liên Hiệp Pháp, và Tổng Tham mưu Trưởng quân đội, tướng Nguyễn Văn Hinh (con trai cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, người nổi tiếng thân Pháp) là một sĩ quan cũ trong Không quân Pháp, có vợ là người Pháp. Cảnh sát do lực lượng Bình Xuyên nắm giữ (thủ lĩnh là tướng Lê Văn Viễn), ngay cả lực lượng an ninh văn phòng phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng do cảnh sát gửi đến. Chính vì thế Pháp tìm cách loại trừ Ngô Đình Diệm hoặc bằng một cuộc đảo chính, hoặc bằng cách thuyết phục Bảo Đại cách chức ông Diệm và bất hợp tác với Mỹ trong việc huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam. Pháp tổ chức một cuộc họp chính trị có sự tham dự của tướng Nguyễn Văn Hinh, lãnh đạo các giáo phái, một số quan chức Pháp và đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn để đề nghị mọi người đồng ý thay thế chính phủ Diệm.
Tướng Nguyễn Văn Hinh có tham vọng làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam bắt đầu công khai chống lại Thủ tướng Diệm và còn khoe "Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.". Ngô Đình Diệm đối phó bằng cách ra lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ để nghiên cứu trong sáu tuần và phải xuất ngoại trong 24 giờ. Tướng Nguyễn Văn Hinh bất tuân thượng lệnh. Một tuần sau, ông cho phổ biến tuyên bố về việc ông không tuân lệnh ông Diệm và một điện tín ông đã gửi thẳng cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp. Cùng ngày, Ngô Đình Diệm tuyên bố tướng Hinh nổi loạn. Tướng Hinh cho xe thiết giáp bảo vệ tư dinh của mình, đồng thời phái một lực lượng bao vây Dinh Độc Lập. Trong thời gian 6 tuần tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc. Ngày 20 tháng 9 năm 1954, 15 bộ Trưởng trong nội các Ngô Đình Diệm đồng loạt từ chức. Quân đội dưới quyền tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh để tấn công. 
     Trước tình thế đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi công điện cho Đại sứ Donald R. Heath và tướng John W. O'Daniel chỉ thị phải "nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh) rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị tổng tham mưu trưởng và các sĩ quan cao cấp."
Cố vấn quân sự Mỹ là Edward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
        Sau khi Ngô Đình Nhu và Edward Lansdale phát hiện được âm mưu đảo chính của tướng Nguyễn Văn Hinh, Edward Lansdale đã mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ mát. Thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo chính đã không thể tiến hành được.
Ngô Đình Diệm đã buộc tướng Nguyễn Văn Hinh từ chức, giao quyền lại cho tướng Nguyễn Văn Vỹ. Nguyễn Văn Hinh chạy đến Paris vào ngày 13 tháng 11 năm 1954. Ngô Đình Diệm đồng thời cương quyết từ chối cho thủ lĩnh Lực lượng Bình Xuyên là tướng Bảy Viễn (tức Lê Văn Viễn) tham gia chính quyền dù Bảy Viễn đe dọa "tắm máu" Sài Gòn nếu yêu cầu của mình không được đáp ứng.
       Tháng 12 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định Geneve và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp. Ngày 22 tháng 3 năm 1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam rút toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam. Ngày 26 tháng 4 năm 1956, Pháp giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn.
        Ngoài ra Thủ tướng Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với Quốc trưởng Bảo Đại khi ông thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 chính thức sát nhập vùng đất Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại. Ông còn tổ chức những chiến dịch tuyên truyền chống lại Quốc trưởng Bảo Đại.
       Quốc trưởng Bảo Đại thấy không điều khiển được Ngô Đình Diệm cũng tán thành theo người Pháp, gây áp lực đòi Mỹ rút lại mọi ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm và gây sức ép buộc ông này từ chức. Bảo Đại muốn đưa Nguyễn Văn Xuân lên làm Thủ tướng, hoặc Phó thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng còn tướng Bình Xuyên, Bảy Viễn làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Các giáo phái lớn tại miền Nam không quyết định hoàn toàn ủng hộ bên nào.
 
 
 Ông Ngô Đình Khả, 5 người con trai Thục-Diệm-Nhu-Luyện-Cẩn và con dâu Trần Lệ Xuân.

Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại ra thông cáo từ văn phòng của ông ở Paris tuyên bố cách chức Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm với lý do "việc dùng các biện pháp công an trị và chế độ độc tài cá nhân phải kết thúc, tôi không thể tiếp tục để tên tuổi và quyền lực của mình vào tay một người sẽ khiến cả nước rơi vào đổ nát, đói kém và chiến tranh.". Tuy nhiên Ngô Đình Diệm đã chặn được thông điệp này khiến nó không đến được với dân chúng.Sau đó, Tổng thống Mỹ, Eisenhower cử ông Joseph Lawton Collins thay thế Donald R. Heath làm đại sứ tại Việt Nam. Tướng Pháp Paul Ély thuyết phục Collins chống Ngô Đình Diệm. Collins chỉ trích Ngô Đình Diệm yếu kém và đề nghị Mỹ tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm. Collins quay về Mỹ vài lần, thuyết phục chính phủ Mỹ gây sức ép buộc Ngô Đình Diệm từ chức. Thời điểm này, chính phủ của Ngô Đình Diệm cũng như bản thân ông tồn tại được thực chất là nhờ những tác động hết sức cần thiết của những người bạn là dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ mà ông đã tranh thủ được khi sang Mỹ vận động vào năm 1950. Khi Collins yêu cầu Washington phải thay thế Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Dulles tham vấn Thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Thượng nghị sĩ Mike Mansfield khen ngợi Ngô Đình Diệm hết lời nên Ngoại trưởng Dulles chỉ thị Collins tiếp tục ủng hộ ông Diệm.

                             
               Hình ảnh điển hình ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh
 Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.

Khi Collins trở về Mỹ, ngày 22 tháng 4 năm 1955, ông dùng bữa trưa với Tổng thống Eisenhower. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc phòng và Trung ương Tình báo để thuyết phục các quan chức Mỹ khác đồng ý thay thế Ngô Đình Diệm và phải có kế hoạch hành động ngay tức khắc. Collins đề nghị ông Phan Huy Quát thay thế Ngô Đình Diệm. Ngày 27 tháng 4 năm 1955, Ngoại trưởng Mỹ Dulles gửi điện cho Collins rằng "Tướng Collins và Ely phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định..."
Mật điện này lọt ra ngoài, Thủ tướng Diệm biết được nên đã ra lệnh tấn công quân Bình Xuyên trong lúc ông Collins còn đang trên đường về Sài Gòn, điều này khiến Mỹ không thể hỗ trợ lực lượng nào tại Việt Nam gây sức ép buộc Diệm từ chức. Sau đó Bộ ngoại giao Mỹ tiếp tục sẵn sàng xem xét các đề nghị thay thế Ngô Đình Diệm nhưng không tìm thấy chính trị gia nào có thể cạnh tranh với Diệm.
Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông bác bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vốn được dự kiến diễn ra vào tháng 7 năm 1956 theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève với lý do không thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc. và bác bỏ ngay cả những thảo luận sơ khởi với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề tuyển cử thống nhất Việt Nam. Hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. 
 Theo Mortimer T. Cohen thì Ngô Đình Diệm không chấp nhận tổng tuyển cử, vì ông biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh, vì ông là một George Washington của Việt Nam. Báo cáo của CIA gửi Tổng thống Mỹ Eisenhower cũng cho rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu mở cuộc tổng tuyển cử. Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17 để không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam vì vậy đã không bao giờ được tổ chức.
     Năm 1956, Ngoại trưởng Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Trong tình thế này, Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Theo Cecil B. Currey, Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không.
    Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ Việt Nam có viết: "Cho nên mới tháng 9 năm 1954 nghĩa là hai tháng sau ngày ký Hiệp định đình chiến thì chúng đã nghĩ ra "sáng kiến" là làm thử tổng tuyển cử vài nơi ở miền Nam. Ở Vĩnh Trà (Nam Bộ), tay sai của Ngô Đình Diệm tìm cách mua chuộc nhân dân bằng cách đưa vải về một làng, phát cho dân rồi tuyên truyền cho Bảo Đại, phát phiếu cho dân làng bầu. Kết quả mà chúng lo sợ đã đến: chúng đã không mua chuộc nổi: 95% số phiếu dồn cho Hồ Chủ tịch, Bảo Đại chỉ được 5%. Chúng uất đến tận cổ. Báo cáo kết quả lên "thượng cấp" thì lại bị chỉnh một mẻ nên thân. "Thượng cấp" cho là chúng không tích cực tuyên truyền vận động, và bắt chúng phải làm lại. Chúng lại tìm cách mua chuộc một lần nữa. Một số vải, gạo, thuốc men, đưa về để phát cho dân, kèm theo một đợt tuyên truyền thứ hai. Nhưng cũng như lần trước, không ai chịu để chúng mua chuộc. Kết quả cuộc bỏ phiếu thứ hai là 100% bầu Hồ Chủ tịch. Ở cực Nam Liên khu V cũng diễn ra trò hề tương tự, và cũng thất bại không kém chua cay".
      Khi Quốc trưởng Bảo Đại ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp để tường trình về việc trấn áp Bình Xuyên thì ông đã sửa soạn ra đi nhưng những người ủng hộ ông can ngăn. Theo tướng Trần Văn Đôn thì Bảo Đại dự định khi Ngô Đình Diệm ra khỏi nước sẽ cách chức liền, đưa Lê Văn Viễn, Tư lệnh Bình Xuyên lên làm Thủ tướng.
Tại miền Nam, từ 1954-1955, với cương vị thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu phục lực lượng Bình Xuyên, lực lượng vũ trang của các giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài được Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông. Trong nước, ông được Ủy ban Cách mạng Quốc gia gồm nhiều đoàn thể, đảng phái ủng hộ. Ông cũng được gần một triệu người di cư hậu thuẫn mạnh mẽ. Ngoài nước, Ngô Đình Diệm đã cương quyết chống trả kế hoạch lật đổ ông của hai tướng Ély-Collins nên bây giờ được Washington ủng hộ.
Quốc gia Việt Nam tổ chức cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận như tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên.
Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và sau đó ông được bầu làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam. Hai năm sau, năm 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng hoà.
Ngày 22 tháng 10 năm 1960, Tổng thống Mỹ, Eisenhower gửi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm "Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng...".

                         Saigon 1955 - Attacking the Binh Xuyen Rebels | Flickr

VNCH tảo thanh phiến quân Bình Xuyên cuối tháng 4-1955 tại Saigon – Photo by Howard Sochurek

                            Giao chiến giữa quân Bình Xuyên và Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn  năm 1955. Trang chủ: https://www.hinhanhlichsu.org/ Youtube:  https://www.youtube.com/@hinhanhlichsu Cuộc nổi loạn của quân Bình Xuyên  năm 1955

SAIGON (5/5/1955) KINH HOÀNG GIỮA TIẾNG NỔ ẦM ẦM CỦA CUỘC NỘI CHIẾN — Người dân tỵ nạn Nam VN sợ hãi co rúm người lại cạnh bên một ngôi nhà gỗ tại Saigon trong trận giao tranh bằng súng cối giữa binh sĩ của TT Ngô Đình Diệm với các phiến quân Bình Xuyên. Người phụ nữ đang khóc lấy tay bịt tai để chận bớt âm thanh của trận giao tranh. Người phụ nữ lớn tuổi ở bên phải túm chặt túi đồ trong lúc nhìn về phía đang giao tranh. Các lực lượng của ông Diệm đã tuyên bố thắng lợi hoàn toàn đối với quân phiến loạn vào hôm thứ tư, khi các nhà lãnh đạo khắp Nam VN tập họp để xem xét tình hình. (Ảnh của Tạp chí Life từ AP Wirephoto)


Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: "Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền". Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông. Ông ban phát ân huệ cho thuộc cấp theo ngẫu hứng, bất chấp năng lực lẫn tình hình thực tế. Không có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều sử gia gọi Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa là Ngô triều. Theo nhiều hồi ký của tướng lĩnh dưới thời ông Diệm kể lại, thì khi vào cửa Tam quan ở các đền thờ vua chúa, ông Diệm thường nói: "Các ông đi cổng hai bên, vì cổng giữa chỉ có vua mới được đi. Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc này". Dứt câu, ông Diệm đi vào bằng cổng giữa. Nội chuyện xây dựng Dinh Độc Lập và ý định dời đô từ Sài Gòn lên cao nguyên đã khiến ông Diệm càng trở nên xa cách với giới tướng lĩnh. Ngay cả người gần gũi với gia đình ông như tướng Trần Văn Đôn còn bất mãn với sự độc đoán này của ông Diệm.
Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng nhận xét:
Quyết tâm tránh các biện pháp mà Ngô Đình Diệm coi là "ăn cướp và tra tấn dã man" như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn, chứ không tịch thu. Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi trong kỳ hạn sáu năm để mua.

                                   Image
    
 Tuy vậy, đường lối Cải cách điền địa mà Ngô Đình Diệm đề ra bị nông dân miền Nam phản đối dữ dội. Trong khi Việt Minh đã giảm thuế, xóa nợ và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nghèo, Ngô Đình Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại. Đến cuối thời Ngô Đình Diệm, 10% chủ đất đã nắm giữ 55% đất canh tác cả miền Nam. Nông dân phải trả lại đất cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê đất và phải nộp cho quân đội. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông thôn, quân đội của Ngô Đình Diệm bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp". Đất của các Giáo xứ Công giáo thì còn được Ngô Đình Diệm thiên vị, cho miễn thuế và hạn mức. Kết quả là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên làm tổng thống, ông giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình Nhu làm cố vấn và cả hai người đều sử dụng các phương pháp cứng rắn để chống lại những người kháng chiến Việt Minh được sự hỗ trợ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Trong khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng trên học thuyết xã hội chủ nghĩa thì hai anh em xây dựng Chủ nghĩa nhân vị như là một học thuyết làm nền tảng ý thức hệ cho nhà nước ở miền Nam Việt Nam với chính đảng Cần lao Nhân vị.
Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng Quân đội Nhân dân ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17. Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Đồng thời một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm lực lượng vũ trang giáo phái để dự phòng cho việc phải chiến đấu vũ trang trở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương.
                                 
                                                               Tội ác của chế độ VNCH    
 
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới đồng thời cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Dù vậy hệ thống tổ chức bí mật của Việt Minh vẫn tiếp tục tồn tại và phản kháng bằng cách tuyên truyền chống chính phủ, tổ chức những cuộc biểu tình chính trị gây sức ép lên chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đối phó với những cuộc đấu tranh chính trị bằng cách thực hiện chiến dịch tố cáo cộng sản nằm vùng nhằm loại bỏ những cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Chính quyền của Ngô Đình Diệm luôn luôn quan niệm cộng sản là kẻ thù chính, nhiệm vụ phản công là tối ưu, phải đẩy mạnh nhiệm vụ chống cộng. Ông Ngô Đình Diệm rất nổi tiếng với các khẩu hiệu: "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót"; thể hiện quyết tâm chống Chủ nghĩa Cộng sản tới cùng của ông. Để thể hiện lập trường sẽ tận diệt cán bộ Việt Minh, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố công khai:
Theo báo Nhân dân, ngay từ cuối năm 1954, theo lệnh Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh, Chợ Được, Mỏ Cày, Củ Chi, Bình Thành,v.v. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố cộng" giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; tháng 6-1955, mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một cách quyết liệt không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Những biện pháp cứng rắn nhất được áp dụng, ví dụ ngày 16-8-1954, quân Việt Nam Cộng hoà đã nổ súng trấn áp đoàn biểu tình ở thị xã Gò Công, bắn chết 8 người và 162 người bị thương.
Trong thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có 48.250 người bị tống giam, theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung. Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt Minh) vào rừng lập chiến khu. Việt Minh đáp trả bằng những cuộc biểu tình đòi thả cán bộ của họ hoặc tổ chức các cuộc diệt ác trừ gian - tiêu diệt nhân viên và cộng tác viên của chính quyền Ngô Đình Diệm được gọi là "bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm".
 
Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War:  Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:
“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả,  hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.”
(Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)
Đưa ra những tài liệu phản biện như trên không có nghĩa là tôi biện hộ cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất của Việt Minh mà chỉ là đối với tôi, những tài liệu ngụy tạo để chống Cộng như trên có thể thích hợp trong thời chiến, nhưng nay viết lại lịch sử thì phải viết cho đúng với sự thật, bất kể sự thật đó là như thế nào.  Mặt khác, nếu số người  bị giết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất như trên mà gọi là “genocide” thì số 300000 (3 trăm ngàn) người chết oan trong chiến dịch tố Cộng của Ngô Đình Diệm thì gọi là gì?

  
                     
Trên đây là một số trong những hình ảnh trong chính sách Tố Cộng tàn nhẫn của chính quyền miền Nam.

     Để tăng tính uy hiếp, Việt Nam Cộng hòa sử dụng cả máy chém để hành quyết phạm nhân. Nhiều vụ xử chém của Việt Nam Cộng hòa được diễn ra công khai trước dân chúng, đầu phạm nhân được đem bêu để cảnh cáo. Báo The Straits Times (Singapore) ngày 24 tháng 7 năm 1959 có bài viết tường thuật cảnh 1.000 người dân xem xử chém ở Sài Gòn. Báo Buổi sáng (Sài Gòn) ngày 15-10-1959 có viết: “Theo một phán quyết của phiên xử vắng mặt của Tòa án Quân sự Đặc biệt ngày 02 tháng 10, Nguyễn Văn Lép, tức Tư Út Lép, một Việt Cộng, đã bị tuyên án tử hình. Cách đây một tuần, Lép đã bị sa vào lưới của Cảnh sát trong một khu rừng ở Tây Ninh. Bản án tử hình đã được thi hành … Hiện đầu và gan của tên tử tù đã được Hội đồng xã Hào Đước cho đem bêu trước dân chúng".
Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59, sau đó được tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký ban hành. Luật này quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt với lý do "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa", mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai, xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Sau khi luật này được ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị thiệt hại nặng nề.
Như vậy, có thể thấy, được sự hà hơi tiếp sức của Mỹ và sau khi thu tóm quyền lực, củng cố cái chính thể phản bội quyền lợi của Dân tộc Việt có tên gọi là Việt Nam Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm quay sang ra sức triệt phá các cơ sở cách mạng, lùng sục ráo riết, bắt bớ và giết chóc hàng loạt những người từng tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp mà chúng gọi là Việt Cộng và người kháng chiến cũ. Sự đàn áp khốc liệt đó với cao trào là luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam - Việt Nam đã gây ra biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho đồng bào miền Nam, và đặc biệt nghiêm trọng là nó đã chà đạp tan nát Hiệp định Giơnevơ, làm cho sự chờ đợi 2 năm xum họp nước nhà của toàn thể nhân dân Việt Nam trở thành vô vọng.

Bài thơ “Ngô Thuốc Độc Ngợi Ca máy Chém” (trích từ “Chế Lan Viên Toàn tập”) và những tài liệu Việt Mỹ dưới đây (kể cả tài liệu của Việt Nam Cọng hòa) đã chứng minh Đạo Luật 10/59 và chiếc máy chém do Pháp để lại đã từng là nỗi hãi hùng của nhân dân miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm. Biết bao người dân vô tội cũng đã bị chết oan vì bọn Mật vụ Cần Lao Công giáo ác ôn vu oan giá họa vì tư thù … Chế độ Diệm nhờ hai đế quốc Mỹ và Vatican mà thành hình, chế độ nầy được cho là thay Pháp nhưng lại vẫn duy trì hai di sản của Thực dân Pháp để lại: Đó là Đạo dụ số 10 để đạp các tôn giáo khác xuống bùn cho Công giáo được đặc quyền đặc lợi, và chiếc máy chém hãi hùng chặt đầu những ngưòi yêu nước.  - NG
Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Việt gian thành chí sĩ
Chúng nó mua máy Mỹ
Về cắt đầu dân ta...

Tiếng Ngô thuốc độc:
Ngô bảo: giết người là trọng đại
Việc máu Ngô xem như việc nhà
Huống nữa nay làm nên Tống thống
Giết người, không thể giết qua loa

Lối chém Nam Triều khá hủ hậu
Nhiều gươm mà ít kiếm ra máu
Nước mình tiếng thế nhưng đông dân
Giết người, máu phải cho đầy chậu

Quan Mỹ ngày nay vốn đại tài
Xoẹt qua một lúc, chục đầu rơi
Tính xem! Mười máy kia cùng chém
Ngô có ngay một trăm nụ cười

Đã chém còn bày lắm khó khăn
Pháp trường với không phải pháp trường!
Đâu là Tổ quốc, đấy, Ngô chém
Nơi nào chẳng kiếm được đầu dân!

Chém kiểu Ngô đây quả rất tiện
(Ưu tiên cho những đầu kháng chiến)
Ngô thề có trời, Ngô thương dân
Máy đến tận nhà dân để chém

Máy dong miền Đông, dong miền Tây
Chỉ huy đã có ông quan thầy
Nghề chém như nghề Ngô Tổng thống
Nơi nào có máu thì đi ngay

Lối chém ngày xưa cũng lắm tuồng
Chém chui chém nhủi chả ra hồn
Như sợ mặt trời uống mất máu
Chém người phải trốn giữa mù sương

Ngô chém bây giờ rất hãnh diện
Thầy Mỹ về trông, quan khách đến
Máu người, Ngô để cho người xem
Không có mặt trời thì bật điện

Lũ báo nhà Ngô văn viết... mau
Bút ngâm trong máu đỏ đồng bào
Tâu rằng: Ngô chém rất... nhân vị
Toàn rặt sọ dừa dân... cần lao

Máy Ngô đi trước, mồm theo sau
Mồm phun đỏ máu câu từng câu
Khen: Ngô yêu nước như yêu máu
Máu rơi một sắc, văn trăm màu

Lại ca: thầy Mỹ xưa cho bom
Giờ cho máu chém siêu linh hồn
Xương người vây trắng dinh Ngô ở
Máu người thắp đỏ phố U-ôn

Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Trăm sự đều của Mỹ
Máy chém thì... nhân vị
Sơn màu U.S.A.
 

Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (Vũ Thị Thường sưu tầm và biên soạn)


Máy chém (Guillotine) thời Ngô Đình Diệm được sử dụng tại
miền Nam để chặt đầu nhân dân yêu nước, hiện được trưng bày
tại Bảo tàng Chứng tích Tội ác Chiến tranh, Sài Gòn
        
 
Nói đến tội ác của chế độ VNCH thì pkải kể đến khu Chín Hầm:
                            Chín Hầm - Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia

 Có những thông tin khác nhau về việc Ngô Đình Diệm muốn Hoa Kỳ (và cả Trung Hoa Dân Quốc) đưa quân vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam hay không.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Ngô Đình Diệm nhờ Linh mục Raymond de Jaegher, người Bỉ quốc tịch Mỹ, xin với Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow cho Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Sài gòn với lý do bảo vệ công dân Mỹ và kiểm soát phi trường Tân Sơn Nhất.
                                               
                               Chân dung Trần Lệ Xuân vào thập niên 1950

Trần Lệ Xuân, thường được biết đến với tên gọi Madame Nhu, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình quý tộc Bắc bộ. Bà là con gái của ông Trần Văn Chương, một luật sư nổi tiếng, và bà Nam Trân, một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong giới thượng lưu. Tuổi thơ của bà Xuân được bao bọc trong sự giàu sang và giáo dục tốt đẹp, chuẩn bị cho bà một tương lai đầy triển vọng. Bà lớn lên trong môi trường giáo dục truyền thống và tinh hoa, nơi mà sự khôn ngoan, trí tuệ và sự thanh lịch được coi trọng. Những ảnh hưởng từ gia đình và sự khắt khe của người mẹ đã hình thành nên tính cách mạnh mẽ và độc lập của bà, giúp bà trở nên tự tin và đầy bản lĩnh. Năm 1943, ở tuổi 19, Trần Lệ Xuân kết hôn với Ngô Đình Nhu, một nhân vật có tầm ảnh hưởng trong chính quyền Việt Nam.

 Bà Trần Lệ Xuân từng cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, tượng này có khuôn mặt giống hệt hai mẹ con bà: Trần Lệ Xuân - Ngô Đình Lệ Thủy. Nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng Trưng Trắc có khuôn mặt giống với bà và Trưng Nhị có khuôn mặt giống với con gái của bà là Lệ Thuỷ. Thời điểm ấy, nhà thơ Đông Hồ có bài thơ châm biếm “Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng” như sau :

"Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngã nặng
Có ngày gãy cổ đứt ngang lưng...
Đây một hình xưa nhục nước non
Thay hai hình mới đứng thon von
Mình ni lông xát lưng eo thắt
Ngực xu chiêng nâng vú nở tròn
Tưởng đứng hiên ngang em với chị
Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con
Dòng sông Bến Nghé, dòng sông Hát
Lưu xú lưu phương tiếng để còn".

 Theo sử gia Joseph Buttinger thì “Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam”. Do đó sau này, ngày 2–11–1963, khi họ Ngô vừa bị đảo chính, nhiều người dân Sài Gòn đã kéo nhau dùng một dây sắt nối với một tàu thủy để kéo sập tượng đài này, và chở trên xe xích lô máy đi diễu khắp Sài Gòn chiếc đầu tượng mang gương mặt bà Xuân.

Ngày 20 tháng 10 năm 1961, tướng Mỹ Maxwell D. Taylor hội thảo với Ngô Đình Diệm lần đầu tiên, Ngô Đình Diệm đề nghị một hiệp ước hỗ trợ quân sự, gia tăng quân số Việt Nam Cộng Hòa và yểm trợ không quân của Mỹ. Ngày 27 tháng 10 năm 1961, Taylor hội thảo với Ngô Đình Diệm lần thứ hai và đề nghị đưa bộ binh Mỹ vào miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ chính thức là cứu lụt, Diệm rất tán thành. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm "không những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh, mà còn tuyên bố đại đa số dân miền Nam chào đón (welcome) việc này."
Trong buổi họp ngày 13 tháng 10 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Đình Thuần đã đề nghị Mỹ hãy duyệt gấp những yêu cầu của Tổng thống Diệm, trong đó đó đề nghị Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) gửi quân đến Việt Nam, cụ thể:
  • Gửi thêm các phi đoàn khu trục cơ AD-6 và các phi công dân sự Mỹ để điều khiển máy bay.
  • Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân Việt Nam Cộng Hòa. Một phần quân số này sẽ đóng gần vĩ tuyến 17 để Việt Nam Cộng Hòa rảnh tay chống quân du kích dân tộc thiểu số ở Tây nguyên.
  • Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị (của ông Diệm) xin Trung Hoa Dân Quốc gửi một sư đoàn quân tác chiến vào khu vực hành quân ở vùng Tây Nam.
Còn theo lời Bùi Kiến Thành, cộng sự thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì đến năm 1962, Ngô Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào Việt Nam mà muốn đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính vì điều này mà người Mỹ đã chỉ đạo các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khởi động cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm: "... Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng Hòa) cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được... Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn sẽ thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam... Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp… qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẻ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và họ đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu "bán nước cho cộng sản", vì vậy các anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các anh cho cộng sản... Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 1964 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hòa... Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác... Việc đảo chánh Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, ông ta chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia cũng chỉ là con cờ, còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này là người Mỹ, mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá tình báo Lucien Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia, thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, nghe có cay đắng không?".
      Từ năm 1957 đến năm 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hai lần nhưng ông may mắn thoát chết. Lần đầu tiên do Hà Minh Trí, một người cộng sản dưới lốt thành viên Cao Đài thực hiện ngày 22 tháng 2 năm 1957 tại "Hội chợ Kinh tế Cao nguyên" ở Buôn Ma Thuột, lần thứ hai do hai phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, vốn là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng, ném bom vào dinh Tổng thống ngày 27 tháng 2 năm 1962.
Hà Minh Trí là ai?
 Hà Minh Trí (thường được biết đến là, Đại tá Mười Thương; 1935-2020) là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sĩ quan cao cấp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Nguyên tên khai sinh của ông là Phan Văn Điền, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1935, tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Nhà nghèo, cha ông đi làm lính khố xanh, do tham gia Binh biến Đô Lương và bị xử tử khi ông mới 5 tuổi. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông bỏ nhà lưu lạc vào Nam, vào tận Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, ông được một cán bộ Việt Minh nhận nuôi và đặt cho cái tên mới: Đinh Văn Phú. Ông tham gia cách mạng từ đây.
 
                                         
                                           Chân dung Anh hùng, Đại tá Phan Văn Điền
....Tháng 10/1956, ông MườiThương được giao nhiệm vụ ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm khi ông ta lên Tây Ninh, nhưng do tổ chức không nắm chính xác ngày, giờ nên kế hoạch không thực hiện được. Cũng trong năm đó, ông lại chủ động đề xuất cho thực hiện nhiệm vụ này vào đêm Noel tại Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (TPHCM ngày nay), nhưng lại một lần nữa kế hoạch bất thành do lịch trình của Ngô Đình Diệm đột ngột thay đổi.
     Tháng 2 năm 1957, Hà Minh Trí cùng các đồng đội vạch ra kế hoạch tỉ mỉ cho việc ám sát lần ba Ngô Đình Diệm. Sáng ngày 22 tháng 2, hội chợ Tây Nguyên khai mạc. Hà Minh Trí trong bộ trang phục cải trang đã tiến gần hàng rào bảo vệ, chỉ cách vị trí tổng thống Diệm đứng chưa đầy 20 mét. Khi tất cả chuẩn bị chào cờ, ông nổ súng vào mục tiêu đã định. Tuy nhiên, súng chỉ nổ 2 phát thì bị hóc. Do bị cưa nòng và báng súng nên độ chính xác của súng bị giảm đi rất nhiều, vì vậy đạn không đi đúng mục tiêu và bắn trúng vào Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Công. Hà Minh Trí nhanh chóng bị lực lượng an ninh bắt giữ.
        Đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1960 là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn ChánhThi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quần chúng.
     Kế hoạch đảo chính đã được Vương Văn Đông và các quan chức bất bình với chế độ Ngô Đình Diệm, trong đó có Đại tá Nguyễn Chánh Thi, chuẩn bị trong một năm. Vương Văn Đông đã cấu kết được với một trung đoàn xe thiết giáp, một đơn vị hải quân và ba tiểu đoàn quân nhảy dù. Cuộc đảo chính được dự định vào 5 giờ sáng ngày 11 tháng 11. Tuy nhiên kế hoạch đã được thực hiện không hiệu quả, quân nổi loạn đã không tuân thủ chiến thuật đã được viết ra như chiếm giữ đài phát thanh và phong tỏa các con đường vào đô thành Sài Gòn. Họ cũng đã không thể cắt đường dây liên lạc điện đàm vào dinh Độc Lập, điều này khiến cho Ngô Đình Diệm có thể liên lạc được với các đơn vị trung thành đến bảo vệ mình. Quân đảo chính đã bao vây dinh Độc Lập nhưng trì hoãn tấn công trong 36 giờ vì tin rằng Ngô Đình Diệm sẽ tuân thủ theo yêu sách của họ. Lợi dụng thời gian trì hoãn này, Ngô Đình Diệm đã xuống tầng hầm dinh Độc Lập và viết một bài diễn văn hứa hẹn sẽ có bầu cử tự do và công bằng và các biện pháp tự do khác. Khi các thỏa hiệp đang được phát trên các phương tiện truyền thông ngày 12 tháng 11, lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh diễn ra chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem giao tranh. Lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.                                                                          
Sau cuộc chiến là một cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm với những người chỉ trích và nhiều bộ trưởng nội các bị bỏ tù. Một số sĩ quan quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam. 
      Các mối quan hệ của chế độ Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ đã trở nên tồi tệ hơn trong năm 1963, do sự bất mãn ngày một tăng trong phần lớn Phật tử ở miền Nam Việt Nam. Tháng 5 năm 1963, ở Huế một thành phố trung tâm của đạo Phật, theo Topmiller, người anh của Ngô Đình Diệm là tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã cấm phật tử và nhà chùa treo cờ nhà Phật trong lễ Phật đản căn cứ trên quy định cấm treo các loại cờ tôn giáo ở nơi công cộng. Còn theo tác giả Nguyễn Hiền Đức, Ngô Đình Cẩn chỉ thị cho Tỉnh trưởng yêu cầu ban Tổ chức lễ Phật Đản chỉ cần thông báo cho toàn thể tín đồ Phật giáo đừng treo cờ Phật giáo trong ngày lễ, Phật tử nào đã treo cờ rồi thì cứ để cho treo hết lễ
       Vài ngày trước đó thì người Công giáo lại được phép treo cờ trong các lễ kỷ niệm của họ. Tuy nhiên, sau đó Phật giáo và chính quyền thành phố Huế đã đạt được thỏa thuận cho phép dân chúng treo cờ Phật giáo. 
    Nhưng thượng tọa Thích Trí Quang vẫn quyết định tiếp tục đấu tranh nhằm chống lại quy định của chính quyền. Trong lúc Phật tử tụ tập trước đài phát thanh Huế chờ nghe bài diễn văn của Thượng tọa Thích Trí Quang đã xảy ra vụ nổ giết chết 9 thường dân không vũ trang. Mặc dù tỉnh trưởng bày tỏ sự cảm thông và chia buồn sâu sắc đối với thân nhân những người chết và đề xuất bồi thường cho gia đình nạn nhân, nhưng tỉnh trưởng vẫn nhất quyết phủ nhận lực lượng của chính phủ đàn áp giết chết người biểu tình, đồng thời cho rằng Việt Cộng là thủ phạm. Theo Karnow, lực lượng an ninh quân đội Việt Nam Cộng hòa đã đàn áp cuộc biểu tình của Phật giáo. Ngô Đình Diệm và những người cùng phe cáo buộc Việt Cộng phải chịu trách nhiệm về những cái chết của thường dân và tuyên bố những người biểu tình phải chịu trách nhiệm về tình trạng bạo lực. Các tổ chức Phật giáo đã đưa ra một bản Tuyên ngôn gồm 5 điểm: tự do treo cờ tôn giáo, chấm dứt bắt bớ bừa bãi, bồi thường cho các nạn nhân Huế, các quan chức chịu trách nhiệm về vụ đàn áp phải bị xử lý và bình đẳng tôn giáo.
 
                 
             Hình ảnh một cuộc đàn áp Phật giáo của chính quyền độc tài Ngô Đình Điệm năm 1963 - Ảnh: tư      liệu  của  GHPGVN tỉnh Thừa Thiên - Huế
                 
                      Cuộc diễu hành của phật tử Huế ngày 8/5/1963 - Ảnh: HALS
                   Lần đầu công bố ảnh về cuộc đấu tranh chống đàn áp Phật giáo ...
      Cuộc biểu tình của đồng bào phật tử và SV,HS trước chợ Bến Thành Sài Gòn. Cảnh sát chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắn chết nữ sinh Quách Thị Trang
                                Lần đầu công bố ảnh về cuộc đấu tranh chống đàn áp Phật giáo 1963 | Báo Dân  trí
Đoàn biểu tình của Tăng Ni và Phật tử ngồi tại chỗ- khi quân đội và cảnh sát chặn lại trên đường đi, năm 1963 (ảnh của Corbis)


                           
                 Quần chúng Phật giáo Miền Trung và Thừa Thiên-Huế xuống đường năm 1966
                            
Bức ảnh của M.Browne gây xúc động đến mức tổng thống Mỹ John F.Kennedy phải thốt lên “Không một bức ảnh thời sự nào trong lịch sử thế giới lại tạo ra nhiều cảm xúc đến thế!”. Tổng thống đã phải ra lệnh tái lượng giá chính sách đối với Việt Nam và chỉ thị Đại sứ Henry Cabot Lodge qua nhận nhiệm sở ở Sài Gòn
 
 Chính quyền cấm các cuộc biểu tình, ra lệnh cho quân đội cảnh sát bắt giữ những người tham gia vào các cuộc tuần hành biểu tình. Ngày 3 tháng 6 năm 1963, người biểu tình cố gắng diễu hành qua chùa Từ Đàm. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng hơi cay và chó nghiệp vụ tấn công người biểu tình 6 lần để giải tán đám đông nhưng bất thành, cuối cùng quân đội sử dụng hóa chất lỏng màu nâu đỏ để tưới vào đám đông người biểu tình đang cầu nguyện, kết quả là 67 người phải nhập viện vì nhiễm độc. Lệnh giới nghiêm sau đó đã được chính quyền Diệm ban hành.
Để xoa dịu Phật giáo, ngày 4 tháng 6 năm 1963, Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ để nghiên cứu giải quyết những nguyện vọng của Phật giáo, do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Một phái đoàn hỗn hợp của hai bên được gửi ra Huế để giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh Quang, Báo Quốc, và Chùa Diệu Đế, đồng thời kêu gọi Phật tử trở về sinh hoạt bình thường, kiên nhẫn chờ đợi hành động của chính quyền.
Bước ngoặt của cuộc khủng khoảng Phật giáo năm 1963 đến vào tháng 6, khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn để phản đối các chính sách của Diệm; bức ảnh chụp lại cảnh tượng này đã nhanh chóng phổ biến trên khắp thế giới, và đối với nhiều người những hình ảnh này đã chứng minh cho sự thất bại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Một số nhà sư khác đã tự thiêu, noi gương theo hòa thượng Thích Quảng Đức.
       Trước tình hình đó, Ủy ban Liên bộ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Ủy ban Liên phái của Phật giáo sau khi thảo luận đã ra bản Thông cáo chung với nội dung cho phép treo cờ Phật giáo nơi công cộng nhưng phải kèm theo cờ quốc gia, chính phủ hứa sẽ thay thế dụ số 10 bằng một đạo luật mới do Quốc hội ban hành, lập Ban điều tra để xem xét tất cả các đơn khiếu nại của Phật giáo, phóng thích những người liên quan đến cuộc đấu tranh của Phật giáo, những sinh hoạt tôn giáo thuần túy và thường xuyên không diễn ra nơi công cộng không cần xin phép, tạo điều kiện cho Phật giáo xây chùa, trừng phạt các cán bộ có trách nhiệm trong sự kiện Phật đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 nếu thật sự họ có lỗi, trợ giúp các nạn nhân trong sự kiện Phật đản.
Sau khi bản Thông cáo chung được công bố, phía Phật giáo cho rằng các chính quyền địa phương đang ngầm chống lại việc thực thi Thông cáo chung nên tiếp tục đấu tranh. Cuộc đấu tranh của Phật giáo khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo mất uy tín cả trong lẫn ngoài nước. Điều này buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi hòa giải giữa chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Phật giáo. Tuy nhiên Phật giáo không chấp nhận hòa giải mà vẫn tiếp tục đấu tranh.

                                      
                      năm 1963 và vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức 
 
                                                   
                                            Trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức
 
       Chính phủ Hoa Kỳ ngày càng thất vọng với những hình ảnh công bố các nhà lãnh đạo không được ưa chuộng cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm sử dụng lý lẽ chống cộng truyền thống của mình, buộc tội những người chống đối là cộng sản. Khi các cuộc biểu tình chống chính phủ của Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục trong suốt mùa hè năm 1963, thì các lực lượng đặc biệt trung thành với chính phủ đã tiến hành một cuộc đột kích tàn bạo vào chùa Xá Lợi ở Sài Gòn vào tháng 8 cùng năm. Chùa bị phá hoại, các nhà sư bị đánh đập, hài cốt hỏa táng của hòa thượng Thích Quảng Đức, bao gồm cả trái tim của ông được những phật tử coi là một di tích tôn giáo, cũng bị lực lượng an ninh tịch thu.
    Các cuộc tấn công đồng thời được thực hiện trên toàn Việt Nam Cộng hòa, chùa Từ Đàm ở Huế bị cướp phá, tượng phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm bị phá hủy và di thể một nhà sư đã tạ thế cũng bị đưa đi. Khi dân chúng đến để bảo vệ các nhà sư đã đụng độ với quân đội và cảnh sát, dẫn đến 30 thường dân thiệt mạng và 200 người khác bị thương. Tổng cộng đã có 1.400 nhà sư bị bắt, khoảng 30 nhà sư bị thương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ đã cho thấy quan điểm không tán thành chính quyền của Diệm khi đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge, Jr. tới thăm một ngôi chùa. Không có thêm các cuộc biểu tình của Phật tử xảy ra trong thời gian nắm quyền còn lại của Ngô Đình Diệm (khoảng 5 tháng).
     Trong thời gian này, em dâu của Ngô Đình Diệm là Trần Lệ Xuân, một người từng theo đạo Phật và sau cải đạo sang Công giáo, có thể coi Trần Lệ Xuân là đệ nhất phu nhân de facto (trên thực tế) do Ngô Đình Diệm không lập gia đình; Trần Lệ Xuân đã đổ thêm dầu vào lửa khi chế giễu các vụ tự thiêu của các nhà sư, coi họ là "thịt nướng" (barbecues), và tuyên bố "Nếu các phật tử muốn có thêm thịt nướng, Tôi sẽ vui mừng cung cấp xăng cho họ" (nguyên văn: If the Buddhists want to have another barbecue, I will be glad to supply the gasoline). Các cuộc tấn công vào chùa chiền đã làm dấy lên băn khoăn lo lắng lan rộng trong công chúng ở Sài Gòn. Sinh viên đại học Sài Gòn đã bãi khóa và tổ chức các cuộc bạo động, dẫn đến việc bắt giữ, bỏ tù và đóng cửa các trường đại học; điều này đã lặp lại tại Đại học Huế. Khi học sinh trung học diễu hành biểu tình, Ngô Đình Diệm cũng đã bắt học sinh; trên 1.000 học sinh từ các trường trung học ở Sài Gòn, hầu hết là con em các công chức dân sự Sài Gòn, đã bị gửi tới các trại cải tạo, theo báo cáo bao gồm cả trẻ em lên năm, bị buộc tội vẽ và viết các câu, hình vẽ chống chính phủ. Bộ trưởng ngoại giao của Diệm là Vũ Văn Mẫu đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối. Khi ông cố gắng rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn Độ, thì bị bắt và bị quản thúc.
    Ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Nhu chỉ đạo lực lượng an ninh của đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc. Họ mặc đồng phục của quân đội trong khi đột kích để cho mọi người thấy rằng Quân đội chính phủ đứng sau lưng họ trong cuộc đàn áp này. Lực lượng của Ngô Đình Nhu đã bắt hơn 400 nhà sư đang ngồi trước tượng Đức Phật. Hàng ngàn phật tử khác cũng bị bắt giữ trên cả nước (riêng tại Sài Gòn là 1.400 người) với lý do "Phật giáo là tay sai của Việt cộng". Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo bị bắt giữ, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt.

      
    Đoàn biểu tình bị cản lại bởi những lớp rào kẽm gai; lớp cảnh sát, công an, mật vụ võ trang; lớp xe cứu hỏa và xe cộ khác... Họ đã cố gắng mấy lần phá vỡ được những hàng rào dây kẽm gai để tiến tới, nhưng phần vì lớp kẽm gai quá kiên cố được thiết lập dàn ra phía sau những chiếc xe cứu hỏa, với lực lượng cảnh sát, mật vụ được huy động đến quá đông đảo được trang bị đầy đủ, đằng đằng sát khí; phần nữa vì tôn trọng tinh thần "bất bạo động" của thông bạch và các lãnh đạo Phật Giáo, nên họ đã dừng lại theo lời đề nghị của Đại Đức Thích Quảng Độ - người điều động cuộc tuần hành - yên tỉnh ngồi xuống mặt đường đồng thanh niệm Phật. Đoàn người lúc bấy giờ chỉ mới cách chùa Giác Minh 500m.
 
     Trong lúc này các toán võ trang luôn lợi dụng sự hiền hòa của đoàn người, thừa cơ hoặc hành hung; hoặc dùng xe ủi một tu sĩ; hoặc uy hiếp, cướp máy chụp hình, máy quay phim của các Tu Sĩ, Phật Tử và Thông Tín Viên.
      Sau nửa giờ niệm Phật, quần chúng Phật Tử lặng yên nghe Đại Đức Thích Quảng Độ, hướng dẫn tinh thần cuộc biểu tình, đứng lên giải thích rõ ràng về cuộc vận động của Phật Giáo. Dùng loa phóng thanh, Đại Đức chậm rãi nói về chính nghĩa của cuộc tranh đấu cũng như cuộc tuyệt thực đợt 2 của Tăng Ni và Tín Đồ toàn quốc. Từ hai đầu đường Phan Thanh Giản và các đường phố lân cận như Nguyễn Thiện Thuật... quần chúng đều đứng lại lắng nghe. Cửa sổ trên những tầng lầu đều được mở ra, đồng bào xuất hiện trên sân thượng các nhà hai bên khu phố để nghe Đại Đức thuyết trình. Lực lượng cảnh sát dùng loa microphone hòng che lấp lời giải thích, nhưng chùa Giác Minh đã dùng máy khuyếch đại thanh khá mạnh đáp trả hữu hiệu, lời giải thích của Đại Đức Quảng Độ vẫn nghe rất rõ.
       Đúng 10 giờ, hàng dây kẽm gai mở ra, Đại Đức Thích Quảng Liên được một xe chở tới yêu cầu giải tán. Song quần chúng Phật Tử kiên trì giữ vững lập trường, cam chịu mọi sự đàn áp nếu nguyện vọng của họ không thành tựu.
 
10g15', tiếng niệm Phật vẫn đều đều, nhưng vào 10g30', cuộc đàn áp thật sự bắt đầu. Từng lớp người võ trang xô vào cướp giật biểu ngữ, xô đẩy, hành hung đoàn biểu tình yếu thế. Tăng Ni và những người điều động cuộc tuần hành bị tấn công bằng báng súng và gậy gộc trước sự chứng kiến của giới báo chí, thông tín viên, quan sát viên quốc nội và quốc tế cùng hằng ngàn Phật Tử, dân chúng bên đường. Tiếng la hét của phụ nữ và trẻ em vang dậy. Nhiều vị Tăng, Ni bị đánh ngã quỵ. Nhiều vị khác bị bắt liệng lên xe cảnh sát chở đi.
 
 
     Bị đàn áp quá dữ dội, đoàn biểu tình mất bình tỉnh không chịu nổi đã từ từ rút lui về chùa Giác Minh và chùa Từ Quang sát cạnh không kháng cự. Cảnh sát đuổi theo sát họ đến cổng chùa Giác Minh. Và khi Phật Giáo Đồ vừa yên lặng trong chùa, một hàng rào kẽm gai lập tức được thiết lập chắn kín cổng chùa Giác Minh và Từ Quang, mở đầu cho cuộc phong tỏa trên 600 Tăng Ni, Phật Tử bị cô lập trong chùa 54 giờ đồng hồ với bao sự đe dọa và thiếu thốn nhu cầu sinh hoạt thử thách ý chí, tinh thần bảo vệ đạo pháp của họ.
 

      Cũng vào sáng ngày 17.7.1963, đúng 8g15', gần 400 Tăng Ni tập họp tại chánh điện chùa Xá Lợi. Sau khi lễ Phật và mặc niệm trước bảo điện, vị đại diện Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ngõ lời ngắn gọn rồi đoàn Tăng Ni sắp hàng tuần tự tiến ra đường Bà Huyện Thanh Quan, qua đường Lê Văn Thạch, rẽ lên đường Nguyễn Thông, Ngô Thời Nhiệm, Lê Văn Duyệt, và thẳng hướng về Chợ Bến Thành.
   Trên lộ trình, đoàn diễn hành gặp nhiều trở ngại như hàng rào kẽm gai, các đội công lực tìm đủ mọi biện pháp đẩy lui, nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua trở ngại tiến được về tập hợp gần đông đủ tại vườn hoa trước cửa Nam chợ Bến Thành, chỉ trừ khoảng trên 10 vị chạy sau bị nhân viên công lực bắt lại.
      Cuộc diễn hành này, nhờ yếu tố tốc hành bất ngờ, đã làm cho các lực lượng cảnh sát đối phó không kịp trong bước đầu. Đến khi các lực lượng võ trang được huy động đầy đủ, thì đa số chư Tăng Ni đã đến được địa điểm định trước là chợ Bến Thành. Tại đây, một biểu ngữ được quý Tăng Ni trương lên: “Yêu cầu Chánh Phủ thực thi bản Thông Cáo Chung”. Lập tức vòng đai cảnh sát chiến đấu xiết chặt, buộc chư Tăng Ni hạ cờ Phật Giáo và biểu ngữ xuống, nhưng Tăng Ni không ai tuân lệnh, họ cương quyết không hạ.
     Lúc này các lực lượng cảnh sát chiến đấu đã bao vây quanh đám biểu tình dưới quyền chỉ huy của ông Trần Văn Tư - Giám Đốc Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Vị đại diện Tăng Ni đứng lên yêu cầu được nói về mục đích của cuộc biểu tình diễn hành. Ông Trần Văn Tư ra lệnh cho vị đại diện chỉ được nói trong ba phút, ông nói: “Mau lên để chúng tôi còn thi hành nhiệm vụ”.
Vị đại diện Tăng Ni tuyên bố:
“Chúng tôi đến đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng: Bản Thông Cáo Chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính Phủ đã không thực thi nghiêm chỉnh mà còn dùng đủ mọi cách để khủng bố, bao vây, bắt bớ, xuyên tạc Phật Giáo Đồ”.
      Lúc này, đồng bào trong chợ đã đổ xô ra rất đông, và từ các ngả đường quần chúng cũng kéo tới chật ních. Tuyên bố xong, vị đại diện yêu cầu nhân viên công lực giải tỏa để cho Tăng Ni được tự do đi về chùa Xá Lợi trong trật tự, nhưng viên Giám Đốc Cảnh Sát nhất quyết từ chối, và ra lệnh cho thuộc cấp thi hành cái gọi là "dùng biện pháp thích nghi” để ngăn chặn cuộc diễn hành trở về chùa Xá Lợi, mà ông biết là sẽ vô cùng đông đảo.
     Trong khi chờ đợi sự giải tỏa của cảnh sát, các vị Tăng Ni ngồi xuống đất bắt đầu niệm Phật. Do dự vài giây trước đoàn người tay không thản nhiên ngồi chắp tay tuyên Phật hiệu, cuộc đàn áp bắt đầu... Nhân viên công lực võ trang xông ập vào đánh đập, đấm đá, và cứ 2, 3 người tóm 1 nhà tu liệng lên xe bịt bùng trong khi chư Tăng, Ni chống cự lại bằng cách quàng lấy tay nhau từng chuỗi dài để bảo vệ nhau. Tình thế trở nên hỗn loạn!
 
      
 Sau những phút đầu bất lực và nhận thấy cuộc đàn áp xảy ra trước mặt quần chúng đông đảo như vậy là không hay, viên Giám Đốc Cảnh Sát thay đổi sách lược. Ông ra lệnh ngừng sự bắt ép rồi đích thân tới bắt tay vị đại diện Tăng Ni điều đình: "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ, xin thề với ông rằng: Chúng tôi sẽ đưa các ông về chùa Xá Lợi".
    Thấy cuộc biểu tình đã đạt được kết quả và chư Tăng Ni nhiều người đã bị mất sức; thêm nữa tuy sẵn lòng tin thì ít, nhưng thấy vị Giám Đốc Nha Cảnh Sát, nhân viên cao cấp của chính phủ, một người biểu hiện cho đức "thành tín" đối với quốc gia, đã lấy danh dự mà hứa sẽ chở chư Tăng Ni về chùa bằng xe cảnh sát, vị đại diện bằng lòng và Tăng Ni lần lượt lên xe.
       Đoàn xe chuyển hướng chạy về đường Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh trước hằng vạn con mắt của đồng bào ngơ ngác nhìn theo. Tăng Ni trên xe hoài nghi kêu cứu ầm ĩ, song vẫn hy vọng ngã đường này vẫn còn có thể về chùa Xá Lợi. Nhưng những chiếc xe này khi đến ngã tư Tổng Đốc Phương, thay vì chạy về chùa Xá Lợi, lại rẽ hướng về Lục Tỉnh. Đến đây Tăng Ni biết mình đã bị lừa gạt, tập trung đập cửa xe rầm rầm; các vị ngồi trước người lấy chân đạp thắng xe, người gạt tay lái cho xe đâm vào lề đường; nhiều vị mở cửa xe lao mình xuống đường khi xe đang chạy với tốc độ rất nhanh. Thấy vậy, các xe cây của cảnh sát buộc phải ngừng lại. Tất cả Tăng Ni nhào xuống xe tập hợp lại thành một khối giữa công lộ.
      Bấy giờ, cảnh sát, kẽm gai, xe cây lại bao vây họ chặt chẽ hơn trước. Hai vị Cảnh Sát Trưởng đến gần chư Tăng Ni, tự xưng là đại diện ông Giám Đốc Cảnh Sát, hứa lần này "Chúng tôi sẽ lấy xe công lực chở quý ông về chùa Xá Lợi". Sợ sẽ bị lừa gạt lần nữa như vừa rồi, Tăng Ni nhất quyết từ chối, chỉ yêu cầu được tự do đi bộ về chùa. Họ ngồi xuống đất để đòi hỏi sự giải tỏa của lực lượng cảnh sát. Nhưng cảnh sát không giải tán. Vài lời dằng co qua lại giữa viên đại diện chính quyền và vị đại diện Tăng Ni chưa đi đến đâu thì bổng nhiên cảnh sát chiến đấu được lệnh xông vào đàn áp.
Cuộc đàn áp lần này xảy ra khốc liệt gấp mấy lần trước nhiều: Chư Tăng Ni bị đánh đập, đấm đá, bóp họng, thoi túi bụi vào chỗ hiểm... Quần chúng ở đây không đông đảo như ở chợ Bến Thành và giới báo chí không có mặt, vì vậy chư Tăng, Ni bị hành hung một cách tàn nhẫn và quăng ném lên xe như những con thú vật.
      Trong lúc Tăng Ni đang bối rối thì đoàn xe đã phóng nhanh về hướng ngoại thành... 
 
     

         Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Giáo hoàng Phaolô VI và các tổ chức Công giáo, đã lên án Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Thục đến Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, Trần Lệ Xuân dẫn phái đoàn Quốc hội đi nước ngoài bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tổ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình hình đàn áp Phật giáo.
       Từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam với sự hậu thuẫn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời tiến hành đấu tranh vũ trang đã làm cho tình hình an ninh ở miền Nam bị xáo trộn. Lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã kiểm soát được phần lớn vùng nông thôn bất chấp các kế hoạch quốc sách như Ấp Chiến lược và Khu Trù mật của Ngô Đình Diệm.
       Việc tập trung quyền lực vào gia đình, đảo ngược các chính sách cải cách ruộng đất của Việt Minh trước đây cũng như chính sách cai trị đất nước bị coi là thiên vị với thiểu số người Công giáo tạo ra những mầm mống xung đột giữa Công giáo và Phật giáo cũng như sự bất mãn trong đội ngũ tướng lĩnh quan chức, sự chống đối của đông đảo người theo đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, người Thượng, trí thức và nông dân. Hơn nữa Ngô Đình Diệm còn bị các chính trị gia đối lập chỉ trích là độc tài, gia đình trị, bất lực trong việc ổn định xã hội và chống Cộng thiếu hiệu quả.
                                             Thiếu tá điệp viên CIA Lucien Conein, Nguồn: OntheNet     
                                  Thiếu tá điệp viên CIA Lucien  Conein, Nguồn: OntheNet 

     Anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu nảy sinh bất đồng từ đầu năm 1963. Vì trận thua nặng của quân đội Việt Nam cộng hòa tại trận Ấp Bắc, khi đó tại Nam Việt Nam đã có 12.000 cố vấn quân sự Mỹ khiến giới quân sự Mỹ liên tục chê bai khả năng quân sự của các tướng Việt Nam Cộng Hòa và đòi để các tướng Mỹ nắm quyền chỉ huy. Ngô Đình Nhu tỏ ra bất mãn về việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải nghe theo những khuyến cáo quân sự của người Mỹ nên quyết định tìm hướng đi mới, tỏ ý định yêu cầu Mỹ rút bớt cố vấn quân sự về nước và tìm cách tiếp xúc với những người cộng sản ở Hà Nội. Người ta đánh giá rằng việc này là quyết định riêng của Ngô Đình Nhu, còn Ngô Đình Diệm không có được sự uyển chuyển về chính trị như vậy. Do những ý định mới của Ngô Đình Nhu, người Mỹ bắt đầu tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm, cắt một nửa viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Tháng 7 năm 1963, đại sứ Mỹ Frederick Nolting, người bị xem là quá bao che cho chính quyền họ Ngô, bị thay thế. Cùng lúc đó nổ ra biến cố Phật giáo, 1963 làm chính quyền Sài Gòn càng lung lay. Theo tướng Pháp Paul Ély thì vào giữa năm 1963, quyền lực của Ngô Đình Diệm chỉ còn giới hạn trong phạm vi Sài Gòn.
                             Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự (Saigon  /4/1964). Nguồn UPI
                     Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự  (Saigon 22/4/1964). Nguồn UPI

Gia đình Ngô Đình Khả có 8 người con, gồm 6 trai 2 gái. Trong 6 người cháu thì có Ngô Đình Huân (con Khôi) bị bắn chết, và Lệ Thủy (con Nhu – Xuân) bị chết vì tại nạn xe hơi. Còn 1 người thì bị chết vì khủng hoảng tinh thần là Ngô Đình Thục rồi tới bố mẹ ruột Lệ Xuân là Trần Văn Chương cũng bị bắn chết vì đứa em của Lệ Xuân. Xem như vậy là gia đình nhà Ngô và họ Trần tuy có lên đến tột đỉnh danh vọng, nhưng lại kết thúc bằng những cái chết thảm khốc. Âu cũng là ân oán phải trả, vì chính mấy người bị giết chết như Diệm, Nhu, Cẩn, Huân, khi còn quyền hành trong tay đã tàn sát nhiều người vô tội, oán thù chồng chất
                                    Linh mục làm lễ rửa tội cho Ngô Đình Cẩn trước giờ ra pháp trường.
Ngô Đình Cẩn được linh mục rửa tội trước giờ bị hành quyết
                                             Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn. 
             Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn. 

     Cùng với việc chống Cộng không đạt được kết quả và không xoa dịu được cuộc đấu tranh của Phật giáo được xem là nguyên nhân dẫn tới sự mất uy tín trầm trọng của chính quyền Ngô Đình Diệm trước các lực lượng chính trị hợp pháp khác tại miền Nam và trước chính quyền Hoa Kỳ. Sự kiện Phật Đản, 1963 xảy ra là giọt nước tràn ly dẫn tới hành động đảo chính của một nhóm tướng lĩnh vốn bất mãn với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Chính phủ Mỹ đề nghị Ngô Đình Diệm bớt đàn áp tàn bạo đối với Phật giáo và sinh viên để lấy lại hình ảnh dân chủ hơn của chính quyền, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo. Đứng trước tình thế đó, chính phủ Kennedy buộc phải gây sức ép đối với chính quyền của Ngô Đình Diệm. Căng thẳng với người Mỹ ngày càng tăng, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo vì ông vẫn tự tin cho rằng người Mỹ không thể tìm ra người thay thế tốt hơn mình ở vị trí Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Vì thế chính phủ Mỹ cuối cùng quyết định bỏ rơi ông.
     Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, do tướng Dương Văn Minh cầm đầu đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ John F. Kennedy xin ý kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29 tháng 10 năm 1963 giữa Kennedy và các cố vấn cho thấy Kennedy sau khi họp với 15 cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân viên CIA Lucien Conein.
Lucien Conein, đặc vụ của CIA, trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu.
     Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công. Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông báo về ý định đảo chính ông ta nói: "Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.". Sau đó Conein bí mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động ám sát nào. Tướng Trần Văn Đôn trả lời "Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.". Theo một nguồn khác, Conein cung cấp cho nhóm tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa một số tiền mặt lên tới 40.000 USD để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm. 


                          

                        Cảnh sát giữ an ninh tại chùa Ấn Quang sau khi sư sãi bị bắt 9-1963.
 
                         

                                    Cảnh sát dã chiến hốt biểu tình lên xe cây 9-1963.
 
                        

                                        Cảnh sát hốt biểu tình lên xe 9-1963.


                        

Học sinh trường Võ Trường Toản, cạnh bên trường Trưng Vương, gần Sở Thú Saigon biểu tình 8-1963.

                       

Sinh viên Y khoa chào mừng GS Phạm Biểu Tâm, khoa trưởng Đại Học Y Khoa Saigon, được trả tự do.

                    

                           Cảnh sát dã chiến trên đường đi giữ an ninh.

                    

                                            Sư sãi xếp dọn chùa Xá Lợi 9-1963.

                        

              Sinh viên Đại Học Khoa Học sửa soạn biểu tình chống chính phủ 8-1963.

                        

                                   12-1963 Minh Cồ và Henry Cobot Lodge Jr.
 
                        

                     12-1963 Minh Cồ , Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara. 

                           

                 12-1963 Họp báo Minh Cồ, Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara. 

                              

                                                             12-1962  Minh Cồ

                        

       Dinh Gia Long, nơi TT Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu cư ngụ khi đảo

     chánh diễn biến trưa ngày 1-11-1963

                        

              11-1963 dân chúng Sài Gòn ăn mừng sau ngày đảo chánh tại phòng trà.

                        

                                          11-1963 Sư ăn mừng sau ngày đảo chánh.

                  

                           11-1963 Tượng đài Hai Bà Trưng sau ngày đảo chánh.

                               

                                   11-1963 Chùa Xá Lợi sau ngày đảo chánh.

                

                             11-1963 Dinh Gia Long sau ngày đảo chánh.

                  

                                11-1963 Thành Cộng Hòa sau ngày đảo chánh.

                              

                                  11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh.

                   

                                 11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh.

                         

                          11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh tại Câu Lạc Bộ.

                      

                              11-1963 Minh Cồ và Thơ Lé sau ngày đảo chánh.

                       

                                11-1963 Minh Cồ trả lời báo chí sau ngày đảo chánh.

                       

      11-1963 Trần Văn Đôn bí danh "Đôn lầm" trên Đại Lộ Thống Nhất sau ngày đảo chánh. 

                      

Các binh sĩ thiết giáp tham gia cuộc đảo chánh 1-11-1963.
 
                      

                                            9-1963 Nơi tạm giam sư sãi biểu tình. 

                      

9-1963 Tôn Thất Đính và Nguyễn Văn Là họp báo sau khi ban hành thiết quân luật để bảo vệ chính phủ N Đ Diệm.

                     

                           9-1963 Robert S. McNamara & Trung Tướng Đỗ Cao Trí.
 
     Ngày 30 tháng 10 năm 1963, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ Roger Hilsman gửi đến Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một bức mật thư mà ông này gọi đó là "Hoàng hôn của các thần linh". Trong bức mật thư này có đoạn:
"Chúng ta cần khuyến khích nhóm đảo chính chiến đấu đến cùng và phá tan Dinh Độc Lập (nếu cần) để đạt được thắng lợi. Điều kiện cho gia đình họ Ngô là đầu hàng vô điều kiện, vì nếu không họ sẽ tìm cách gạt bỏ được lực lượng đảo chính lẫn sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Nếu gia đình họ Ngô bị bắt sống, vợ chồng ông Nhu phải nhanh chóng bị tống xuất sang Pháp hay bất cứ nước nào muốn nhận họ. Riêng ông Diệm, tùy thuộc vào ý muốn của các tướng lĩnh tham gia đảo chính".
Tướng Dương Văn Minh và các đồng mưu lên kế hoạch lật đổ chính phủ của Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 bằng một cuộc đảo chính nhanh gọn chóng vánh. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đưa quân đội tới chiếm đóng tất cả các vị trí trọng yếu ở Sài Gòn, chặn mọi cửa ngõ ra vào nội đô. Tại dinh tổng thống, chỉ có một lực lượng nhỏ trung thành bảo vệ cho Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, các tướng lĩnh đảo chính kêu gọi Ngô Đình Diệm đầu hàng và Ngô Đình Diệm sẽ được ra nước ngoài sống lưu vong nếu đầu hàng. Tuy nhiên tối hôm đó, Ngô Đình Diệm và đoàn tùy tùng đã trốn thoát khỏi dinh tổng thống bằng một đường hầm tới Chợ Lớn, về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam - Chợ Lớn. Sáng sớm ngày 2 tháng 11, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lực lượng đảo chính bắt, cuộc đảo chính tới đây là kết thúc, phe đảo chính chỉ còn việc thành lập chính phủ mới. Hành động đảo chính đã đưa Việt Nam Cộng hòa đến tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trong một thời gian cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.
    Sáng ngày hôm sau Ngô Đình Diệm cùng với Ngô Đình Nhu gọi điện và ra hàng lực lượng đảo chính. Hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị đại úy Nguyễn Văn Nhung giết bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M-113, theo lệnh của tướng Dương Văn Minh, khi chiếc xe đang trên đường tới Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị hành hung trước khi bị bắn. Xác Ngô Đình Nhu thì bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.
Sau khi biết tin Ngô Đình Diệm bị lật đổ và ám sát, phát biểu của Hồ Chí Minh được thuật lại như sau   "Tôi không thể nào tin người Mỹ lại ngu ngốc đến vậy". Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam nói rõ hơn:
   "Hậu quả của cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 sẽ trái với những tính toán của đế quốc Mỹ... Diệm là một trong số những nhân vật mạnh nhất chống lại nhân dân và Chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những gì có thể làm nhằm cố gắng đè bẹp cách mạng đã được Diệm thực hiện. Diệm là một trong những tay sai có tài nhất của đế quốc Mỹ  ... Trong số những người chống cộng ở miền Nam Việt Nam hoặc đang lưu vong ở nước ngoài, không ai có đủ tài lực chính trị và khả năng làm người khác tuân phục. Do đó, chính quyền tay sai sẽ không thể vững bền. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 sẽ không phải là cuộc đảo chính cuối cùng."
    Khi biết Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính và giết chết, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy bị choáng váng và ưu tư thoáng buồn. Bốn giờ chiều ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu đã bị giết, Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng tiếng Pháp: "C’est formidable! C’est formidable!" (Thật là tuyệt diệu. Thật là tuyệt diệu).
Các cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đới, các xóm Đạo võ trang,… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản ứng. Cả cấu trúc chính trị mà họ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ.

                                              Người bắn hạ anh em Ngô Đình Diệm nói gì?


    Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê, khi đó đang sống ở Sài Gòn, đã ghi lại không khí vui mừng của người dân ở thời điểm đó:
"Từ 7 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin dinh Gia Long bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín năm trời đăng đẳng” - Bác sĩ Dương Tấn Tươi. Còn thi sĩ Đông Hồ thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy thì cho thấy quần chúng Việt Nam năm 1963 này cũng đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự kiềm hãm sức giận dữ hung hãn của mình rồi đó.”
     Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng ghi lại không khí của người dân miền Nam lúc đó khi nghe tin vụ đảo chính và việc anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị giết:
    Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng khiến cho các lãnh đạo Á Châu là đồng minh của Mỹ phải cảm thấy lo ngại cho mình. Về sau, Tổng thống (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon:
   "Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ."
     Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho biết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong những ngôi mộ không tên trong một nghĩa trang bên cạnh ngôi nhà của đại sứ Hoa Kỳ. Sau này tìm hiểu, thì ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Ngô Đình Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Ngô Đình Nhu. Trong khoảng thập niên 1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu (Nghĩa trang Nhân dân số 6B) ngày nay. Hiện tại, mộ ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu chính thức đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu. Mộ hai ông nằm hai bên mộ mẹ - bà Phạm Thị Thân. Ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên thánh và "Huynh" (chỉ ông Ngô Đình Diệm) hoặc "Đệ" (ông Ngô Đình Nhu), sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh
      Cuộc đời ngắn ngủi của Ngô Đình Diệm, không thể nói khác được, là cuộc đời mang nhiều tội lỗi đối với dân tộc Việt Nam. Do thiển cận về chính trị, hận thù cộng sản đến điên cuồng và đam mê quyền lực ích kỷ đến mù quáng, mà đã phản bội Bảo Đại, lập chính phủ gia đình trị, phá vỡ Hiệp định Genève, đàn áp tôn giáo, tàn sát dã man những người cộng sản, gây ra cảnh chia cắt đất nước thành hai miền với miền Nam đầu rơi máu chảy.
    Tình hình đó buộc nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung lại phải cầm súng đứng lên tiếp tục đấu tranh vũ trang chống thù trong giặc ngoài.
       
       Để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới, và tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp tiến bộ trên thế giới, Cách mạng Việt Nam đã thành lập một tổ chức tại Miền Nam, lấy tên gọi “Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam - Việt Nam” với vị chủ tịch được bầu lên là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, có lực lượng vũ trang gọi là “Quân giải phóng”. Từ đây Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của Dân tộc Việt bước vào giai đoạn khốc liệt nhất mà vẻ vang nhất, suốt 15 năm ròng rã. Từ đây, Miền Nam trở thành Tiền tuyến lớn, Miền bắc trở thành Hậu phương lớn. Tiền tuyến lớn nêu cao tinh thần bất khuất vô song, càng đánh càng mạnh, càng ghi được những chiến công hiển hách trước cường quốc số 1 thế giới về sự giàu có và tàn bạo. Hậu phương lớn đã đem hết “tinh thần và lực lượng”, chi viện tiếp tế đến tận cùng khả năng sức người, sức của của mình và cả những ủng hộ, đóng góp qúi báu của anh em bầu bạn trên thế giới cho Tiền tuyến lớn bằng mọi phương tiện, mọi ngả đường có thể, trong đó chủ yếu, có tính quyết định và đã lừng danh trong lịch sử là “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển Đông với những con tàu không số, và nhất là “đường mòn Hồ Chí Minh” trên dãy Trường Sơn với những “đoàn xe chạy đêm, chạy ngày” bất kể mưa bom bão đạn. Tất cả đã trở thành huyền thoại có tựa đề: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

                                   CỜ GIẢI PHÓNG: LÁ CỜ CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM Hòa  chung với không khí tưng bừng, phấn khởi của cả nước hân hoan chào mừng
                                    Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,
                                             sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
                                 Thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - một tất yếu lịch sử
                        
     Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận cờ và mệnh lệnh chiến đấu trước giờ xuất kích tại cuộc Tổng tiến    công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu  
       Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979). Đây là cuộc chiến giữa hai bên, một bên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam cùng một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines tham chiến trực tiếp; một bên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại miền Nam Việt Nam phối hợp cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được sự viện trợ vũ khí và chuyên gia từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Tại Việt Nam, truyền thông đại chúng dùng tên Kháng chiến chống Mỹ hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc chiến tranh này, cũng là để phân biệt với các cuộc kháng chiến khác đã xảy ra ở Việt Nam như chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung Quốc. Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam khẳng định rằng bản chất của cuộc chiến là kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Hoa Kỳ cũng như mô tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một chính thể tay sai của các thế lực ngoại bang.Các nguồn tài liệu chính thống còn khẳng định rằng đó không phải là một cuộc nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm hoặc là chiến tranh vì ý thức hệ mà là kháng chiến giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tuyên bố: 
      "Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi..Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” 
      Ngoại trưởng Xuân Thủy, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
Ngày 20-09-1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
        "Sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ...Nước Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ". 
Tên gọi ít được sử dụng hơn là Chiến tranh Đông Dương lần 2, được dùng để phân biệt với Chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-1955), Chiến tranh Đông Dương lần 3 (1975-1989, gồm 3 cuộc xung đột ở Campuchia và biên giới phía Bắc Việt Nam).
Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau: Người Mỹ thường quan niệm "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi họ trực tiếp tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965 đến 1975). Nhưng quan điểm chung và chính thống hiện nay của chính phủ Việt Nam vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 hoặc 1955 đến 1975, vì theo họ nguồn gốc của chiến tranh bắt nguồn từ các kế hoạch can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vốn bắt đầu diễn ra ngay từ năm 1954 (ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, năm kết thúc chiến tranh Đông Dương). Theo tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Chiến tranh Việt Nam được Mỹ coi là bắt đầu từ ngày 1/11/1955 khi Nhóm chuyên gia hỗ trợ quân sự Mỹ (U.S. Military Assistance Advisory Group - MAAG) tại Việt Nam được thành lập.
Từ năm 1943, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á nhằm chống lại quân Nhật đóng ở đây. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho Hoa Kỳ, tuyên truyền chống Nhật. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập non trẻ của Việt Nam, nhưng không được hồi đáp vì Mỹ xem Hồ Chí Minh là "tay sai của Quốc tế cộng sản" nên phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Để thi hành chính sách chống Cộng, Hoa Kỳ lập ra nhiều tổ chức quân sự liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng thủ song phương và khu vực. Bên cạnh đó là một hệ thống căn cứ quân sự dày đặc để bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa. Tại những khu vực có tính địa chiến lược cao, Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự, thâm chí khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia (1954-1975), Cuba (1961), Dominica (1965). Mặc dù thất bại tại nhiều nơi đặc biệt là ở Việt Nam, Lào, Cuba nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách này nhưng với những hình thức khác. Từ thập niên 1980, Hoa Kỳ chuyển sang chính sách "Vượt lên ngăn chặn", có nghĩa là can thiệp trực tiếp vào nội bộ các nước Xã hội chủ nghĩa.
     Năm 1953, mỗi tháng, Mỹ viện trợ cho Pháp 20.000 tấn vũ khí và quân nhu mỗi tháng, sau đó Mỹ đồng ý tăng lên 100.000 tấn/tháng, đổi lại chính phủ Mỹ yêu cầu Pháp phải có kết quả cụ thể. Khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 78% chiến phí cho Pháp, thậm chí phi công Mỹ cũng tham gia chiến đấu cùng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ đâu kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Việc Mỹ trực tiếp tham chiến tại chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Thậm chí khi Điện Biên Phủ nguy cấp, Mỹ đã tính tới chuyện dùng bom nguyên tử để cứu nguy cho Pháp.
     Tuy nhiên công thức "Viện trợ Mỹ, viễn chinh Pháp, quân bản xứ" vẫn không cứu vãn được thất bại. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu tại Đông Dương.
     Trước khi Hiệp ước Genève được ký kết 6 tuần, ngày 4/6/1954, Pháp đã đàm phán với Quốc gia Việt Nam bản dự thảo Hiệp ước Matignon (1954), nếu được ký chính thức thì Quốc gia Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập khỏi Liên hiệp Pháp. Chính phủ này sẽ không còn bị ràng buộc bởi những hiệp ước do Pháp ký kết. Tuy nhiên, Hiệp ước Matignon (1954) chưa được Quốc hội Pháp và Tổng thống Pháp phê chuẩn. Bên cạnh đó, cũng có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp định Geneva, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng, tài chính, thương mại, kinh tế. Tuy nhiên, Hiệp ước Genève đã diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn thành. Quốc gia Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên hiệp Pháp và do đó vẫn phải tuân thủ những Hiệp định do Liên hiệp Pháp ký kết.
Tuy nhiên, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã từ chối ký và không công nhận Hiệp định Genève, đồng thời ra Tuyên bố Hiệp định Genève chứa "những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam" và "không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", bởi Bộ Tư lệnh Pháp đã "nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ" và "tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam". Tuyên bố cũng cho biết Quốc gia Việt Nam sẽ "tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở". Tuy nhiên, nhiều người cho rằng tuyên bố của Quốc gia Việt Nam là vô giá trị vì họ vẫn là một phần của Liên hiệp Pháp. Phái đoàn Hoa Kỳ cũng từ chối ký Hiệp định và tuyên bố không bị ràng buộc vào những quy định ấy, nhưng nói thêm nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với vấn đề tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, chính phủ Mỹ nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng". Theo Hồ Chí Minh, do Quốc gia Việt Nam vẫn chưa độc lập khỏi Liên hiệp Pháp nên không thể tham gia Hội nghị và ký kết Hiệp định với tư cách một quốc gia và Quốc gia Việt Nam vẫn phải chịu ràng buộc bởi những thỏa thuận giữa Việt Minh và Pháp. Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết chỉ vài ngày, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á.".
Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng đã giành thắng lợi sau cuộc chiến, tập kết về miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam cùng với quân đội Pháp tập kết về miền Nam, tập kết dân sự và chính trị theo nguyên tắc tự nguyện. Theo thống kê của Ủy ban Quốc tế Giám sát Đình chiến có 892.876 dân thường di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, trong khi 140.000 người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam.

    Chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Thủ tướng Ngô Đình Diệm đưa ra là "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông "nghi ngờ về việc có thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Khi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm còn ra nhiều tuyên bố công kích chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đáp lại những cáo buộc này, Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng: "Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.".
Ngay từ tháng 3/1961, khi Chủ tịch Quốc hội Pháp Jacques Chaban-Delmas có chuyến sang Mỹ, Thống chế Pháp Charles de Gaulle nhờ ông này nhắn lại với Tổng thống Mỹ “đừng để sa lầy trong vấn đề Việt Nam, ở đó Mỹ có thể mất cả lực lượng lẫn linh hồn của mình”. Ngày 31/5/1961, tiếp Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại Paris, Thống chế Pháp Charles de Gaulle cảnh báo:
“Người Pháp chúng tôi có kinh nghiệm về chuyện đó. Người Mỹ các ông trước đây [chỉ các tổng thống Mỹ tiền nhiệm] từng muốn thay chỗ chúng tôi ở Đông Dương. Và hôm nay ông muốn nối gót chúng tôi để nhen lại ngọn lửa chiến tranh mà chúng tôi đã kết thúc. Tôi xin báo trước cho ông biết: các ông sẽ từ từ sa vào vũng lầy quân sự và chính trị không đáy, bất chấp những tổn thất [nhân mạng] và chi tiêu [tiền của] mà các ông có thể phung phí ở đó".
Tháng 6-1961, Kennơđy nhận định: “Mỹ phải chứng tỏ quyền lực của chúng ta là đáng tin cậy và Việt Nam là chỗ thích hợp”. Khi G. Ball báo trước là ở Việt Nam có thể phải cần đến sự hiện diện của 300 ngàn quân Mỹ, Kennơđy cười mũi và nói thẳng: “Chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra”. Một năm sau, số quân Mỹ đã là 23 ngàn người và vẫn tiếp tục tăng!
Chính thể Việt Nam Cộng Hòa là một quái thai của mẹ Pháp, bố Mỹ và mang hồn ma triều đình Huế. Chính khách Việt Nam Cộng Hòa là một đám vụ lợi tầm thường thích xa lông, thèm xôi thịt. Tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa là một lũ đầu gấu tứ xứ mò về, coi nghiệp binh là một nghề kiếm chác danh lợi từ bảo kê, trộm cướp đến buôn lậu, chống cộng chỉ vì bổng lộc cho nên luôn xâu xé nhau, luôn tranh quyền đoạt lợi của nhau và sẵn sàng lật thầy, phản chủ.
       Là con đẻ của bố Mỹ, sống được là nhờ bố Mỹ nhưng Ngô Đình Diệm “càng lớn” càng tỏ ra bướng bỉnh, ngỗ ngược, không chịu vâng lời bố, khờ khạo muốn làm “chí sĩ”, đòi cái “gia đình trị” của mình được độc lập, tự do. Thế là Mỹ bật đèn xanh cho đám lau nhau “Hội đồng tướng lĩnh” ngụy lật đổ. Sẵn máu côn đồ, chúng giết luôn Diệm và Nhu (Ngô Đình Nhu, em ruột Diệm, đóng vai “cố vấn” nhưng có quyền lực át cả Diệm) bằng đâm dao và bắn súng nát bấy thân thể một cách đê hèn, không qua xét xử. Riêng “lãnh chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn (em ruột Diệm - Nhu) thì “được” xử bắn và  nghe nói không chịu nhả 6 triệu đôla gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ để đổi lấy chuyến bay Dakota thoát thân sang Singapo (khi nghe đến người ra giá này, Cẩn đã thốt lên: “Chết tao rồi!”).
Chính quyền Sài Gòn thời hậu Diệm - Nhu, bị giới quân sự khống chế, lũng đoạn. Các tướng lĩnh gài bẫy đạp đá nhau liên miên để tranh giành chức quyền với mục đích duy nhất là đục khoét, trộm cướp, kiếm chác càng nhiều danh lợi cho bản thân càng tốt.
Với một chính quyền như vậy thì lực lượng vũ trang của nó cũng chẳng ra gì. Thực tế chiến trường cho thấy cái chiến lược “chiến tranh đặc biệt”: bộ binh ngụy + cố vấn và hỏa lực Mỹ đã nhanh chóng phá sản vì không đương đầu nổi với Quân giải phóng.
Ba tuần sau cái chết của Diệm, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Kennơđy cũng bị bắn chết kiểu găngxtơ. Việc điều hành chiến tranh ở Việt Nam chuyển sang tay Giônsơn (Johnson). Giônsơn thổ lộ: “Mất cái xã hội vĩ đại là một ý nghĩ đáng sợ, nhưng còn chưa đáng sợ bằng ý nghĩ phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến tranh với cộng sản, không còn gì tồi tệ hơn điều đó”.
Mắc Namara được cử đến Sài Gòn để nhận định tình hình tại chỗ, quan sát thấy sự bệ rạc của chính quyền Sài Gòn, đã báo cáo với Giônsơn: “Không lật ngược được tình hình, cừ đà này thì hai ba tháng tới, khá lắm cũng sẽ là chính phủ trung lập, điều chắc chắn hơn là một quốc gia do cộng sản kiểm soát ở Sài Gòn”. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đòi phải dùng biện pháp mạnh, đột kích bằng không quân ra miền Bắc - Việt Nam, trinh sát cả Lào và Cămpuchia, Mỹ cần phải nắm lấy quyền chủ động điều hành cuộc chiến tranh. Đây chính là bước đi khởi đầu của chiến lược “chiến tranh cục bộ” - quân Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Trong bài “Lực lượng đặc nhiệm trong hành động ở ngoài khơi Việt Nam”, W.Cagle viết: “Để gìn giữ Việt Nam, chiến lược quân sự của Mỹ có hai mục tiêu liên kết với nhau: tiến hành một chiến lược bằng bộ binh và không quân đánh bại đối phương ngay ở Nam - Việt Nam hoặc buộc họ phải rút quân, còn ở bên ngoài thì dùng không quân và hải quân tiến công Bắc - Việt Nam để buộc họ phải đình chỉ xâm lược”. Thực tế cho thấy Nhà Trắng đã quyết tâm để theo hướng này vì sau khi đã tạo ra cái cớ “Vịnh Bắc Bộ” và ra đòn trả đũa ngày 5-8-1964, thì ngày 7-2-1965, Tổng thống Giônsơn đã quyết định bắt đầu chiến dịch “Sấm rền”, ném bom bắn phá Bắc - Việt Nam kéo dài suốt 37 tháng, theo kiểu leo thang.
     Theo Stanley Karnow, nhà báo Mỹ, có mặt tại Việt nam từ năm 1959, thì vào tháng 6-1964, Mỹ đã có dự thảo nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ”. Sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” là do Mỹ cố tạo dựng nên, lừa dối dư luận Mỹ (rằng là ngày 2-8-1964 xảy ra đụng độ giữa 3 tàu phóng lôi Bắc  - Việt Nam và tàu chiến Maddox của Mỹ; 8 giờ tối 4-8, thuyền trưởng Kerrick có cảm giác (!) là tàu mình lại bị tiến công nhưng không quan sát thấy gì…), để có cớ phát động cuộc bắn phá miền Bắc - Việt Nam bằng không quân. Trong khi Herrick còn chưa biết “mô, tê” ra sao thì cũng là đủ cho phát ngôn viên Lầu Năm Góc khẳng định về “một cuộc tiến công có dự liệu đã xảy ra” và ở Mỹ, trước nửa đêm 4-8-1964, Giônsơn đã trịnh trọng thông báo trước ống kính truyền hình là “đòn trả miếng đang xảy ra trong lúc tôi đang nói với người Mỹ”. Ở Bắc - Việt Nam trong ngày 5-8-1964 đã có 64 lần chiếc máy bay Mỹ xuất kích đánh vào 4 căn cứ hải quân và 1 kho dầu.
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai).
    Tại Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo.
     Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận với Trung Quốc đưa một bộ phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở một số vị trí quan trọng như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1, nhưng không được vượt quá phía nam Hà Nội. Sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6 năm 1965. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải. Lực lượng này không được phép tham chiến mà chỉ để giúp Việt Nam sửa chữa cầu, đường bị bom Mỹ phá. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải thích quân Trung Quốc sang Việt Nam do lo ngại việc Mỹ có thể đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Ông Barry Zorthian, phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, cho biết Mỹ không mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam vì sợ Trung Quốc sẽ tham chiến. Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc" thì khẳng định mục tiêu của Trung Quốc "thâm hiểm" hơn: đó là tạo tiếng tốt "viện trợ Việt Nam", tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô; cũng là để gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng viện trợ khối xã hội chủ nghĩa quá cảnh Trung Quốc nhằm hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, qua đó khiến Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Trung Quốc ngoài mặt muốn giúp Việt Nam tu sửa thiệt hại do không quân Mỹ, nhưng năm 1968 họ lại khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu (năm 1965) còn có sự tham chiến của các binh lính, sĩ quan tên lửa Liên Xô trực tiếp tác chiến đồng thời huấn luyện binh sĩ Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa phòng không và đội đặc nhiệm GRU thuộc Tổng cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Việt Nam và tham gia thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.
    
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, phụ nữ đóng một vai trò quan trọng đem lại thành công cho những cuộc chiến thần thánh. Đã có biết bao phụ nữ tham gia kháng chiến với câu khẩu hiệu đã trở nên rất quen thuộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, “đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng”, hay “còn cái lai quần cũng đánh”.
     Phụ nữ đã tham gia chiến đấu trong tất cả những cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam. Rất nhiều những cuốn sách đã từng được các tác giả người nước ngoài viết, trong đó phân tích về những chiến tranh tại Việt Nam, lý do tại sao một dân tộc bé nhỏ lại có thể chiến thắng một cường quốc lớn trên thế giới. Trong đó, cuốn sách Vietnamese Women At War của tác giả Sandra Taylor đã khai thác cuộc chiến từ một khía cạnh rất khác. Bà sang Việt Nam, thực hiện những cuộc phỏng vấn với các nữ du kích, nữ thanh niên xung phong, nữ tình báo… để có thể lý giải được nguồn động lực to lớn nào đã đem lại cho họ sức mạnh kỳ diệu tới vậy, những trải nghiệm của về cuộc chiến ra sao. Có thể nói chưa một đất nước dân tộc nào có lối đánh du kích tài tình như Việt Nam và mỗi người dân đều có thể trở thành chiến sĩ.
Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm nên trong nhiều gia đình, đàn ông luôn vắng bóng vì họ phải ra chiến trường chiến đấu còn phụ nữ ở nhà cũng tham gia vào những đội du kích, tự vệ địa phương, có những người tham gia vào lực lượng thanh niên xung phong ngoài mặt trận thậm chí tham gia vào lực lượng tình báo, biệt kích. Bằng mọi cách phụ nữ đã đóng góp sức mình cho cuộc chiến thần thánh của dân tộc.

                                                   








Dáng đi thất thểu, ngủ gục ngay trên đống đổ nát, nét mặt mệt mỏi, đau đớn... là những hình ảnh thường gặp ở lính Mỹ sau những trận chiến tại chiến trường Việt Nam.
 
  William J. Duiker, tác giả của cuốn sách Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (Tạm dịch: Cuộc chiến thần thánh - Chủ nghĩa dân tộc và cuộc cách mạng ở hai miền Việt Nam) từng nói ông vô cùng ấn tượng với những người phụ nữ Việt Nam, họ là những người đã góp phần xây dựng nên trận địa pháo Điện Biên Phủ, đào nên địa đạo Củ Chi, họ là những anh hùng thầm lặng trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc.
    Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách tổng hợp các truyện ngắn viết về người Việt Nam di cư từng giành giải Pulitzer - A Good Scent from a Strange Mountain (Tạm dịch: Mùi hương trên núi lạ) chia sẻ: “Tất cả lính Mỹ đều có nhận định rằng phụ nữ ở Việt Nam trong chiến đấu dũng cảm và ngoan cường không kém gì nam giới. Trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng thần thánh của Việt Nam trước một lực lượng quân đội hùng mạnh như Mỹ, có một mảnh ghép vô cùng quan trọng, đó là nhờ có sự tham gia của phụ nữ. Họ là một trong những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua”.
Le Ly Hayslip, một nữ nhà văn gốc Việt nhận định: “Phụ nữ Việt Nam không phải là những nạn nhân chiến tranh mà vượt lên trên hoàn cảnh, họ đã tham gia trực tiếp và chủ động vào cuộc chiến, trở thành những người chiến thắng và viết tiếp những trang sử về truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc.”
     Cuộc sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và bệnh tật.
    Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam. Các tổ chức quần chúng trên có vai trò nhất định trong việc giữ vững tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên nhập ngũ. Các nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cùng xây dựng một cố gắng tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống nhất và quy củ". Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc rất cao, họ vẫn có thể chấp nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
     86457739_116855729881574_1715681749322694656_n
Người cha ôm thi thể con nhìn lên chiếc xe bọc thép chở lính Việt Nam Cộng hòa. Đứa bé thiệt mạng khi quân Việt Nam Cộng hoà tấn công du kích trong một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh chụp ngày 19/3/1964.
                                        85105677_116855639881583_375554710616145920_n
Lính Việt Nam Cộng hoà dùng chuôi dao găm đánh một nông dân vì đã cung cấp thông tin không chính xác về hoạt động của du kích ở một ngôi làng ở phía Tây Sài Gòn. Ảnh chụp ngà
 
                           85190874_116854863214994_5095925082627244032_n

Một phi công Mỹ quan sát máy bay ném bom napalm oanh tạc các địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Mục đích của những cuộc ném bom là nhằm làm rụng lá, chết cây để dễ dàng phát hiện ra đối phương trong rừng sâu.

                         85254221_116854646548349_2952377540225794048_n

Bác sĩ Joseph Wolfe (ở giữa bức ảnh) điều trị cho một binh sĩ bị thương tại một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất thuộc căn cứ hải quân Mỹ đóng tại Khe Sanh hồi tháng 3/1968.

                           86415466_116855506548263_5912786188258770944_n 
                                        Hai cha con bị nghi là "Việt cộng" bị dẫn về trụ sở                             

                                        .86502410_116854386548375_3112784819155632128_n 

                                     Mặc dù bị thương đến mức phải băng kín một mắt nhưng binh sĩ Thomas Cole vẫn giúp đỡ đồng đội mình là trung sĩ Harrison Pell.

                            86871685_116855416548272_2203179830411788288_n

Binh lính Sài Gòn thực hiện cuộc đổ bộ quy mô lớn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đặt một số thiết bị trên thuyền. Họ băng qua những cánh đồng ngập nước, có nơi nước sâu ngập đến nửa người để tìm diệt những chiến sĩ Giải phóng

Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/2966.

Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của Quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/1966.

 

                                    Binh sĩ thuộc Tiểu Đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966. 
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.
 
Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng 7/1963.

Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng 7/1963.

Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

.
Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

 

                                
Lính Mỹ lau nước mắt khi quỳ bên cạnh thi thể của đồng đội được bọc trong vải pon-sô sau cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu phi quân sự. Ảnh chụp ngày 18/6/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu Đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.

Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.


Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hội sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.

Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hối sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.

 

Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rửng Việt Nam trong lễ tưởng niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh chụp ngày 9/10/1965.

Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rừng Việt Nam trong lễ tưởng niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh chụp ngày 9/10/1965.

Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi thể của lính Mỹ và Việt Nam tại đồn điền cao su Michelin, cách Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.

Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi thể của lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại đồn điền cao su Michelin, cách Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.

 

 
Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt, Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang). Ngoài ra những người cộng sản cũng tiếp tục đánh phá cơ cấu hành chính của Việt Nam Cộng hòa. Tính đến năm 1963 lực lượng du kích đã ám sát 6.700 người và thực hiện 18.200 vụ bắt cóc. Quân đội Việt Nam Cộng hòa trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Trong các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rất nhiều chiến thắng tại các địa bàn khác: Ba Gia, An Lão, Võ Su... Một số nghị sĩ Mỹ khuyên Giônsơn: “Sớm tìm đường ra khỏi Việt Nam, nơi đáng lẽ chúng ta không nên có mặt”. Nhưng giữa trưa ngày 28-7-1965, Giônsơn phát biểu trên đài truyền hình: “Chúng ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của Óetmolen (Westmoreland). Chúng ta không thể bị đánh bại bằng vũ khí. Chúng ta sẽ trụ lại ở Việt Nam”. Cùng ngày hôm đó, Giônsơn đã thông báo quyết định tăng thêm 44 tiểu đoàn chiến đấu ở Việt Nam.

Giai đoạn 1965-1968 là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam, được gọi với cái tên Chiến tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm quét sạch lực lượng Quân Giải phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến tranh trong phạm vi Việt Nam, không để nó lan ra ngoài vòng kiểm soát, đụng chạm đến khối Xã hội Chủ nghĩa để có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh như Chiến tranh Triều Tiên. Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng họ đã thất bại trong mục tiêu đánh bại lực lượng Quân Giải phóng. Các đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm viện trợ giúp nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam để các cường quốc này vươn lên giành vị thế đứng đầu thế giới.

Chuỗi ngày “địa ngục” của lính Mỹ ở Việt Nam:


Một lính thủy đánh bộ Mỹ lội trong bùn lầy. Những bức ảnh chỉ được công bố lần đầu 5 năm sau khi được chụp, tháng 2/1971.

 

Được sự hộ tống của xe tăng và chiến đấu cơ trong khu rừng khô phía trước, lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn số 2, Hạm đội 5, bắt đầu tấn công.

 

4 lính thủy quân lục chiến Mỹ bê xác người đồng đội sau khi đơn vị của họ trúng đạn gần đồi 484. Bên phải là phóng viên ảnh người Pháp Catherine Leroy (1945 – 2006), cô đã bị cắt ra ngoài bức ảnh khi đăng trên tờ LIFE hồi đó.

 

 

Hình ảnh tiêu biểu của những lính thủy đánh bộ Mỹ trong những ngày này là dầm mình trong bùn đất, xung quanh là cây cối lởm chởm vì đạn pháo và súng trường. Binh lính bị thương, băng bó, mũ sắt, áo jacket dính máu... ở khắp chiến trường, nơi cách xa nhà họ hàng nghìn dặm.

 

 

Một lính Mỹ bị thương sau cuộc càn quét trên cánh đồng. Bức ảnh này không được công bố trong phóng sự gốc của LIFE.

 

 

Đội quân mệt mỏi của Mỹ sau trận đánh tại khu vực phía nam khu phi quân sự DMZ.

 

 

Một lính Mỹ khác bị thương băng bó kín mít.

 

Các lính Mỹ ăn đồ hộp trong giờ nghỉ ngơi giữa trận chiến.

  

                
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  Một lính Mỹ được phát bánh thánh khi tạm yên tiếng súng một ngày tháng 10/1966.

Theo tuyên bố của chính phủ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công quân sự là trái với Hiệp định Genève, và chính phủ Mỹ tuyên bố lý do việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam là để bảo vệ Việt Nam Cộng hòa theo những điều khoản của Hiệp ước SEATO do Việt Nam Cộng hòa được đặt dưới sự bảo hộ quân sự của SEATO. Tổng thống Mỹ có quyền đưa quân trợ giúp Việt Nam Cộng hòa theo quy định của Hiến pháp Mỹ và theo Hiệp ước SEATO đã được Thượng viện Mỹ chấp thuận. Hơn nữa Quốc hội Mỹ đã ban hành nghị quyết ngày 10/8/1964 cho phép quân đội Mỹ được hoạt động tại Việt Nam và ủng hộ những hành động của Tổng thống Mỹ đối với Việt Nam. Chính vì thế Tổng thống Mỹ có quyền điều quân đến Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh của Quốc hội Mỹ. (sau này, để tránh việc tổng thống Mỹ lạm dụng đưa quân ra nước ngoài theo ý bản thân, luật này được sửa lại và việc đưa quân nhất thiết phải được Quốc hội Mỹ thông qua). 

TT&HĐ III - 32/tR  

Để phù hợp với “nguyện vọng” của Mỹ, Pháp đã vực dậy ông vua cuối cùng của triều Nguyễn và “đã chết” là Bảo Đại làm con bài. Sợ Bảo Đại, kẻ nhu nhược, bốc đồng và trác táng có thể quan hệ bí mật với chính phủ Hồ Chí Minh, Pháp đưa ra phương án giải tán “nước Nam Kỳ tự trị” để thành lập một chính quyền Việt Nam “tự trị” do Pháp đỡ đầu về quốc phòng và ngoại giao (thực chất thì cũng như chính sách bảo hộ hồi thế kỷ XIX). Vài “chính khách” Việt Nam do Pháp nặn ra, kéo đến Hồng Công thuyết phục Bảo Đại và ngày 7-12-1947, tại Vịnh Hạ Long, ký thỏa thuận với Pháp. Theo đó Pháp “cho” Việt Nam độc lập nhưng kiểm soát quân đội, tài chính và ngoại giao. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại ký thỏa ước của thỏa thuận vịnh Hạ Long: Pháp “giữ hộ” Việt Nam vấn đề quốc phòng, tài chính, ngoại giao.

Năm 1946, ngày 25-5, Tại Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ là luật sư Béziat gửi cho Cao Ủy Pháp một bức thư chính thức xin thành lập một chính phủ lâm thời của nước Cọng Hòa Nam Kỳ.  Ngày 27-5, Cao ủy Pháp trả lời tạm thời chấp thuận việc thành lập chính phủ đó.  Tuy nhiên cũng lưu ý rằng “Nam Kỳ là một mãnh đất thuộc di sản Quốc gia Pháp” cho nên cần phải được Quốc hội Pháp thông qua (Hsltr/Quốc gia Pháp).
*( Nam Kỳ là đất bị quân Pháp đánh chiếm rồi bắt vua Tự Đức phải bán cho họ vào năm 1874 với giá do họ ấn định.  Từ đó nước Việt Nam có hai nước là nước An Nam của nhà Nguyễn và nước Nam Kỳ của Pháp.  Tháng 3 năm 1945 Nhật chiếm Nam Kỳ của Pháp rồi tháng 6 năm 1945 giao lại cho Bảo Đại, nhập trở lại nước Việt Nam.  Giờ đây Pháp thành lập nước Nam Kỳ tự trị để tách ra Nam Kỳ khỏi Việt Nam như trước.                           
Năm 1950, sau khi đánh bật được tập đoàn cờ bạc Ma Cao, thế lực của Bảo Đại đã hoàn toàn độc chiếm trung tâm cờ bạc Đại Thế Giới ở Sài Gòn. 

                                          Bảo Đại - Ông vua bù nhìn. 

                                                          Bảo Đại - Ông vua bù nhìn.

 

Năm 1950, Truman chủ trương không chỉ “giữ chân” cộng sản ở Châu Âu mà còn phải tích cực ngăn chặn cộng sản ở Châu Á. Ngay lập tức, Dean Rush thông báo: “Các tài nguyên của Mỹ phải được triển khai để ngăn Cộng sản chiếm Đông Dương và Đông nam Á”. Đến đây, Mỹ đã tỏ ra quyết tâm giữ Đông Dương hơn cả Pháp.
(Nhưng tại sao đế quốc Mỹ nói riêng và cả thế giới tư bản nói chung lại căm ghét, lo lắng và chống cộng điên cuồng như vậy? Nguyên nhân là, những người theo chủ nghĩa Cộng sản cho rằng muốn xây dựng một xã hội tươi đẹp, không còn cảnh người bóc lột người thì phải làm cuộc cách mạng vô sản và mục tiêu của cuộc cách mạng ấy là đập tan chính quyền tư sản, xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu đó của cuộc cách mạng vô sản rõ ràng là cực đoan, duy ý chí và mù quáng bởi vì chỉ có thể cố gắng cải tạo mặt trái xấu xa của nhân tính, cái tàn dư tàn bạo, độc ác của xã hội phong kiến, chứ không thể tiêu diệt được một phương thức kinh tế - xã hội xuất hiện một cách tự nhiên theo trình độ của tiến trình xã hội phù hợp với đạo lý. Hay có thể nói, trong thời đại ngày nay, hành động xóa bỏ nền sản xuất tư bản là trái đạo lý tự nhiên. Loài người tồn tại được là vừa nhờ có những con người độc lập, tự do, vừa chịu sự ràng buộc. Độc lập, tự do tương đối là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển. Dù là nô lệ đi chăng nữa thì cũng không thể mất hết độc lập, tự do nếu còn tồn tại. Độc lập, tự do làm xuất hiện ý chí sáng tạo ở mỗi con người và khi tư hữu (về tư liệu sản xuất) vẫn còn là quyền lợi thì không thể xóa bỏ được ý chí tư hữu.

Tiếp theo, nguyên nhân để cách mạng vô sản đề ra cái mục tiêu ấy của nó chính là quan niệm thiếu biện chứng của học thuyết Mác về sự phân tầng xã hội dưới luận đề “Giai cấp và đấu tranh giai cấp”. Sự phân tầng xã hội là hiện tượng có thực và nó luôn vận động, chuyển hóa, biến đổi theo điều kiện, hoàn cảnh cũng luôn biến đổi trong từng thời gian, từng giai đoạn vận động xã hội. Chúng ta quan niệm rằng chỉ khi hai tầng lớp dân cư xã hội do có hiện tượng bóc lột mà phát sinh mâu thuẫn gay gắt, đối kháng nhau về mưu cầu sống còn thì lúc đó mới được gọi là phân tầng giai cấp và như thế trong xã hội, nếu xuất hiện giai cấp thì chỉ có thể là hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, mà biểu hiện phổ biến để phân biệt giữa hai giai cấp ấy là hữu sản - vô sản, là giàu - nghèo, tạm thời có quyền lực - không có quyền lực… Vậy thì bản thân những biểu hiện tương phản hữu sản - vô sản, giàu - nghèo chưa hẳn là thực sự phân tầng giai cấp.
Theo Mác thì: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”. Đó là câu nói theo ý kiến chúng ta là vừa đúng vừa không đúng và nếu bỏ “của sản xuất” đi thì đúng hơn.
Theo Lê Nin định nghĩa thì đấu tranh giai cấp là “Cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”. Định nghĩa như vậy là chưa rõ ràng và dễ gây ngộ nhận. Cách định nghĩa sau đây trong giáo trình “Triết học Mác - Lê Nin” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004) là đúng hơn:
“Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc lột”.
Theo chúng ta, cách mạng vô sản là cuộc đi đòi lại quyền lợi chính đáng của quần chúng đã bị giai cấp thống trị chiếm đoạt một cách không chính đáng, xóa bỏ chính quyền đã trở nên phản động, tàn bạo để xây dựng một chính quyền mới do dân và vì dân.
Có lẽ, lí luận vế giai cấp và đấu tranh giai cấpchưa hợp lí dẫn đến nhận thức về chuyên chính vô sản còn cực đoan, sai lầm nên dẫn đến những hành động thật đáng tiếc trong giai đoạn đầu cải cách ruộng đất

                                                 
                      Karl Marx, triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội.
                       95 năm Xô Viết – Nghệ Tĩnh: Vạn sự khởi đầu nan
  Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà tiêu biểu là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ. Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân lao động chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
HẬU QUẢ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP: 
 
                                
                   Địa chủ phải quỳ xuống đất, bị trói 2 tay ra sau lưng nghe kể tội.
                  Sau khi nghe kể tội sẽ bị xử bắn công khai.
 
                              Không có mô tả ảnh. 
Bà Cát Hạnh Long, một ân nhân của “cách mạng” thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
FB Nguyễn Thông: “Bắn một người đã góp cho cách mạng gần 1.000 lượng vàng, đã cưu mang chính mình và hàng nghìn đồng chí mình khi khó khăn, người có 2 con trai thì cả hai con lúc ấy đang là sĩ quan cấp trung đoàn, bắn xong biết sai nhưng không hề công khai xin lỗi, bồi thường danh dự và vật chất
                         
Một người làm thuê đang đấu tố chủ cũ, sau đấu tố là hành quyết công khai.
                                                (Cải cách ruộng đất 1953-1957)
                   Hình ảnh một trong hàng trăm hàng ngàn vụ đấu tố của cộng sản
                       
  "Hình ảnh về cải cách ruộng đất do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp năm 1955 tại Việt Nam"
                      Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất. (Ảnh: internet) 
                     Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất                      (Ảnh: internet)

                                          
                               Sau khi xác định các thành phần xong, thì bắt đầu đấu tố…

Cuối cùng, cách hiểu máy móc, thiếu biện chứng về sự phân tầng xã hội của chủ nghĩa Mác dẫn đến quan niệm gay gắt cực tả, thái quá của cách mạng vô sản, là có nguyên nhân một phần về thực tại xã hội đương thời đó, có vẻ như đích đáng  với thời đại hình thành hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, khi mà tích lũy tư bản là một quá trình chất chồng tội ác, tràn ngập máu và nước mắt, khi mà mặt trái tàn bạo của nhân tính nổi trội đến mức gắn liền thành như bản chất của chủ nghĩa tư bản, làm dấy lên phong trào trừng trị tàn bạo, trong đó không ít những mưu đồ trả thù cá nhân nhỏ nhen, vị kỷ.
Ngày nay, loài người đã sáng tỏ được nhiều điều. Các chế độ xã hội, dù có mang nhãn mác nào đi chăng nữa, dù hình thức có khác nhau thế nào chăng nữa thì cũng không thể bài trừ nhau dã man, do đó xử sự tốt nhất là thay cho đối đầu, nên đối thoại nhau có chừng mực và chung sống hòa bình, hướng sự xâu xé nhau trong nội bộ giống loài ra “bên ngoài”: Đồng lòng đi cải biến tự nhiên vì quyền lợi sống còn của chung loài người.
Đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lăng, ách đô hộ của thực dân - đế quốc và đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thống trị là hai cuộc đấu tranh khác nhau nhưng tương tự nhau. Xét trên khía cạnh phụng sự Đức Huyền Diệu, đảm bảo sự tồn tại của loài người thì hai cuộc đấu tranh đó có mục đích như nhau và không phải là đi tiêu diệt tư hữu.)
                                                               ***
Cuối tháng 1-1950, khi thực dân Pháp hợp pháp hóa chính quyền Bảo Đại thì lập tức ngày 7-2-1950, Mỹ liền công nhận chính phủ bù nhìn đó để nhằm hợp thức hóa việc viện trợ quân sự cho bọn tay sai không qua tay Pháp. Ngày 7-9-1951, “Hội nghị hợp tác kinh tế” giữa Mỹ và chính quyền bù nhìn Việt Nam đã đi đến ký kết văn bản qui định việc Mỹ sẽ viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt gian. Từ đó viện trợ Mỹ không ngừng tăng: nếu như năm 1950 - 1951 Mỹ chi 13% cho tổng chi phí chiến tranh thì năm 1952 lên 38%, năm 1953 lên 45%; năm 1954 lên 80%. Viện trợ này thực chất cũng là cho Pháp. Ngay từ 29-6-1950, 8 chiếc C-47 đã bắt đầu chở hàng viện trợ đến Đông Dương và sau 4 năm, Mỹ đã viện trợ cho cuộc chiến tranh của Pháp và tay sai trên dưới 3 tỷ đô la.
 
                                
                   Máy bay C-119 của Mỹ đang thả lính dù Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Trước nguy cơ Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ dẫn đến thua trận trong cuộc chiến tranh Đông Dương, tổng thống Mỹ lúc đó là Aixenhao đã xin quốc hội Mỹ cho toàn quyền hành động, trong đó có việc sử dụng từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử, theo kế hoạch của Đalét.
Sự cay cú và hoảng sợ trước nỗi ám ảnh cộng sản bành trướng đã làm cho chính phủ tư sản Mỹ định giở trò côn đồ, độc ác. Sự dự tính dùng bom nguyên tử chống lại một dân tộc nhỏ bé đi đòi quyền tự quyết của mình và chưa từng hiềm khích trực tiếp đã bộc lộ ra cái nhân tính tàn bạo, tiểu nhân của những nhà lãnh đạo chóp bu cái cường quốc được cho là số 1 thế giới và tự nhận là tự do dân chủ nhất thế giới. Về vấn đề “răn đe” nguyên tử này, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Cuba là Angulo (đăng trên tạp chí Bôhêmia (Cuba) số tháng 1-6 năm 1984), đã thổ lộ:
“Oasinhtơn đề nghị cung cấp cho Pari bom nguyên tử chiến thuật để đánh vào quân đội Việt Nam đang bao vây Điện Biên Phủ. Chúng tôi nhận được tin là hai chính phủ đã bàn bạc khả năng dùng vũ khí nguyên tử chống lực lượng của chúng tôi. Nhưng chúng tôi nhận thấy không có nhiều khả năng là loại vũ khí đó được sử dụng. Một mặt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ rơi vào thế phòng thủ và chỉ củng cố được những vị trí sẵn có. Mặt khác, Quân đội nhân dân Việt Nam không kiểm soát các thành phố lớn, mà rải rác trong một hậu phương bao la và các đơn vị tác chiến ở Điện Biên Phủ ngày một tiến sát quân thù.
Con bài vũ khí nguyên tử không dễ dàng, nhưng mặc dù vậy chúng tôi vẫn chỉ thị cho các đơn vị của chúng tôi sẵn sàng chống lại sự nhiễm xạ bằng mọi biện pháp sẵn có. Cho dù có dùng vũ khí này, họ (tức là Mỹ - Pháp) cũng sẽ không đạt được gì hết”.
Thực tế cho thấy dù thực dân Pháp tán thành nhưng cho đến cuối tháng 4-1954, kế hoạch sử dụng bom nguyên tử - còn gọi là kế hoạch Vơtua (Vantour), đã không được thực hiện.
Là một thành viên tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng đế quốc Mỹ đã không chịu ký vào bản tuyên ngôn chung vì đang ôm ấp những mưu đồ chống cộng điên cuồng ở Đông Dương. Mỹ đã ngang nhiên lập ra khối Đông - Nam Á (SEATO), đặt miền Nam - Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này, ráo riết hất cẳng Pháp để trực tiếp can thiệp vào Đông Dương.
Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve, Quốc gia Việt Nam cùng Pháp tập kết về vùng phía Nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam. 
 
                                  
 Phi  cơ - "siêu pháo đài" B-29 (ảnh: olive-drab.com)
 
Ngày 10-8-1954, Mỹ điều đô đốc Xabin ra Hà Nội trực tiếp điều hành kế hoạch tuyên truyền, cưỡng ép đồng bào di cư. Từ tháng 6-1954, Mỹ đã tổ chức một cơ quan huấn luyện biệt kích, gián điệp núp dưới cái tên “Phái đoàn quân sự Sài Gòn” (S.M.M), đóng trụ sở tại Hà Nội. Sự kiện nổ mìn phá sập Chùa Một Cột ngày 10-9-1954 là có sự nhúng tay của tổ chức này.
Theo kế hoạch, quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành. Không thể chấp nhận việc Hồ Chí Minh sẽ thắng cử và lập chính phủ trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra nhằm chia cắt Việt Nam vĩnh viễn thành 2 quốc gia. Hoa Kỳ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng dân chủ hay không.
Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale (sĩ quan cao cấp của Tình báo Mỹ và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953) đã huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối". Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho Quốc gia Việt Nam. 
Trong những năm 1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực Quốc gia Việt Nam, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của Quốc gia Việt Nam là do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
                    Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm  
                                      Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm
      
      Đến lúc này lại xảy ra mâu thuẫn giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm với Quốc trưởng Bảo Đại (nguyên là Hoàng đế nhà Nguyễn). Năm 1955, nhờ gian lận trong một cuộc trưng cầu dân ý (mà các tài liệu ngày nay của chính phủ Việt Nam thường gọi là "trò hề trưng cầu dân ý"), thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này ban hành Hiến pháp thành lập Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn, ngày ban hành Hiến pháp 26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ Nhất Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và được Mỹ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam.
Bằng việc đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thay thế ông vua Bảo Đại khét tiếng ăn chơi và hoàn toàn ngớ ngẩn về chính trị, Đế quốc Mỹ đã chính thức chấm dứt sự dính líu của Pháp ở Đông Dương. Đó cũng chính là sự “bàn giao lịch sử” giữa chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước Việt Nam.

Vậy Ngô Đình Diệm là ai?

                                                 Ngô Đình Diệm
                                                                      Ngô Đình Diệm

VNCH xuất sinh từ gian lận:
  
Cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 gián tiếp đem đến sự cáo chung Quốc gia Việt Nam. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký quyết định ban hành bản Lâm thời Hiến pháp số 1, sự kiện này được coi là quốc khánh của Việt Nam Cộng hòa. VNCH xuất sinh từ gian lận!

      Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo Công giáo lâu đời ở Việt Nam. Vào thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã cải đạo cho dòng họ ông, nên tên thánh của ông là Gioan Baotixita (João Batista).
     Cha ông là Ngô Đình Khả và mẹ ông là Phạm Thị Thân, quê quán ở làng Đại Phong xã Phong Thủy huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh, theo Nguyễn Thân một người hợp tác với chính phủ Liên bang Đông Dương (thuộc Pháp) đàn áp các phong trào chống Pháp như nhóm Văn Thân của ngự sử Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông Khả từng làm tới Thượng thư triều đình nhà Nguyễn kiêm Phụ đạo Đại thần và cũng là cố vấn của vua Thành Thái.

                        John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951
           John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951
                       Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963.
Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963.
                       Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
                                         Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
             Ông Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957
Ông Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957
            Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957
Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957
           Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara
           Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara
          Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
      Là người mộ đạo, Ngô Đình Khả dẫn gia đình ông đi lễ mỗi buổi sáng. Năm 1907, thấy chính quyền bảo hộ Pháp phế bỏ và đày vua Thành Thái sang Phi Châu, ông Ngô Đình Khả xin từ quan về quê làm ruộng để tỏ sự bất mãn. Có thuyết khác cho rằng, vì ông Khả không chịu ký vào đơn yêu cầu Thành Thái thoái vị, nên bị chính quyền bảo hộ Pháp cách chức. Dù đã từ quan nhưng ông Ngô Đình Khả vẫn đủ sức để chu cấp cho các con ông ăn học.
      Lúc nhỏ, Ngô Đình Diệm ngoài giúp cha làm ruộng còn cùng người anh Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng Pellerin Huế. Cảm thấy cuộc sống ở trường dòng quá khắt khe, ông đã bỏ trường dòng.
Năm 1913, lúc 12 tuổi, Ngô Đình Diệm thi vào trường Collège Quốc học, học chương trình tổng hợp bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trưởng giáo (tức hiệu trưởng) trường là Ngô Đình Khả, cha ông.
      Theo Moyar, cá tính độc lập quá mức của Ngô Đình Diệm không thích hợp với các khuôn phép trong nhà thờ. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn thừa hưởng từ cha tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược.Tốt nghiệp trung học với thành tích học tập xuất sắc ở trường Collège Quốc học, Ngô Đình Diệm được trao học bổng đi học ở Paris. Nhưng ông đã từ chối. Năm 1918, ông nhập học Trường Hậu bổ (trường Hành chính công và Luật) ở Hà Nội, một trường danh tiếng của Pháp đào tạo công chức người Việt. Trong lúc học ở trường Hậu bổ, Ngô Đình Diệm yêu con gái của thầy dạy học và đây là mối tình duy nhất trong cuộc đời ông. Sau khi người con gái đó quyết định vào Nữ tu viện, Ngô Đình Diệm sống độc thân suốt phần đời còn lại. Theo Nhân Hưng, mối tình đầu của Ngô Đình Diệm là với tiểu thư Trang Đài, con gái út của quan Thượng thư họ Nguyễn ở An Cựu, Huế.
       Sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ với vị trí đứng nhất lớp vào năm 1921, Ngô Đình Diệm nối bước anh cả Ngô Đình Khôi (lúc này đang làm việc trong Bộ Binh triều đình Huế) vào quan trường. Bắt đầu bằng chức quan thấp nhất, Ngô Đình Diệm từng bước được thăng chức. Nơi làm việc đầu tiên của ông là thư viện hoàng gia ở Huế. Trong cùng năm, ông làm tri huyện Hương Trà, Thừa Thiên.
Năm 1926, Ngô Đình Diệm làm tri phủ Hải Lăng, Quảng Trị, sau đó làm quản đạo phủ Ninh Thuận
 
                                   
            Xác chết của Ngô Đình Diệm ở phía sau APC, đã bị xử tử trên đường đến trụ sở quân đội
                                                                    
     Trong suốt thời gian làm quan, Ngô Đình Diệm có tiếng là người mẫn cán, công chính, là nhà lãnh đạo Công giáo và là người theo chủ nghĩa dân tộc. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc Công giáo ở Việt Nam từ thập niên 1920 đến thập niên 1930 cũng tạo điều kiện cho sự thăng tiến trong quan trường của Ngô Đình Diệm. Sự thăng tiến nhanh chóng của Ngô Đình Diệm một phần nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài (anh trai ông, Ngô Đình Khôi, là con rể của ông Nguyễn Hữu Bài). Nguyễn Hữu Bài (1863–1935) là một người Công giáo ủng hộ việc bản địa hóa Nhà thờ Việt Nam và tăng quyền lực hành chính cho chế độ quân chủ. Nguyễn Hữu Bài được người Pháp đánh giá cao, trở thành người bảo trợ cho Ngô Đình Diệm do mối quan hệ chặt chẽ về gia đình cũng như tôn giáo.
      Năm 1929, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận. Làm quan ở Bình Thuận ông có tiếng về đạo đức làm việc. Vào các năm 1930 và 1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy đầu tiên của nông dân do những người cộng sản tổ chức. Theo Fall, Ngô Đình Diệm vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách mạng. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, nhưng có thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại.
Ngày 8 tháng 4, năm 1933, Bảo Đại (1913-1997) đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Ngô Đình Diệm nhận lời Bảo Đại làm Thượng thư Bộ Lại (Bộ Nội vụ ngày nay) theo lobby của Nguyễn Hữu Bài. Ông là vị thượng thư trẻ tuổi nhất trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.Thời gian này ông được bầu làm Tổng thư ký đứng đầu ủy ban cải cách hành chính. Ông đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền bảo hộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884, hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề kể cả chính trị. Việc thống nhất chủ yếu để buộc chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một viện tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì các đề xướng không được chấp nhận, ông từ chức Thượng thư Bộ Lại ngày 12 tháng 7 năm 1933, chỉ sau 3 tháng nhậm chức. Ngô Đình Diệm lên án Hoàng đế Bảo Đại "chẳng là gì mà chỉ là công cụ trong tay người Pháp", và đã vứt bỏ các huân chương, chức tước được Bảo Đại trao. Sau đó người Pháp đã dọa bắt và lưu đày Ngô Đình Diệm.
 
                                    Ngô Đình Diệm (áo dài)  
                                                                 Ngô Đình Diệm (áo dài)

  Tháng 9 năm 1933, Thượng thư Bộ lại Ngô Đình Diệm từ chức (Theo một tài liệu khác thì ông từ chức ngày 12 tháng 7 năm 1933). Tháng 12.1933 cụ Phan Bội Châu cho đăng bài thơ Vô đề (5) trên báo Tiếng Dân, sau đó cụ xác nhận là làm để tặng Ngô Đình Diệm với “cái lòng khen”; nhưng khi biết Ngô Đình Diệm muốn trở lại làm quan thì cụ Phan cho rằng, “cái quan niệm của tôi đối với ông ấy từ trước đều vứt đi”:
Ai biết trời Nam hãy có người, 
Sịch nghe tưởng ngỡ sấm bên tai.
Lông hồng coi nhẹ vàng muôn lượng,
Ngôi quý xem dường dép nửa đôi.
Phơi tỏ cùng trời gan đỏ chói,
Nhá nhem thây kệ mắt đen thui.
Ví chăng kịp lúc làm vai vế,
Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi.

     Sau khi từ chức Thượng thư Bộ Lại, Ngô Đình Diệm trở về làm một thường dân sống ở Huế cùng gia đình ông, nhưng vẫn bị giám sát. Ông dành thời gian cho việc đọc sách, thiền định, đi lễ nhà thờ, làm vườn, đi săn, và chụp ảnh nghiệp dư. Ngoài ra, ông đẩy mạnh các hoạt động dân tộc chủ nghĩa qua việc gặp gỡ và giao lưu với các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như Phan Bội Châu, một người bạn của ông. Phan Bội Châu là nhà hoạt động chống thực dân mà Ngô Đình Diệm kính trọng vì kiến thức Nho giáo uyên thâm của ông, và vì Phan Bội Châu lập luận rằng những lời dạy của Nho giáo có thể được áp dụng cho Việt Nam hiện đại.
       Ngô Đình Diệm ngấm ngầm ủng hộ Hoàng thân Cường Để đang sống lưu vong tại Nhật nhằm thực hiện một cuộc cách mạng lật đổ chính quyền bảo hộ Pháp. Ông bị xem là quá khích giống như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam. Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim,... tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đã bãi bỏ chỉ định của Pasquier. Ông vào Huế dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Ngô Đình Thục làm Giám học.
Thời kỳ 1942-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Đại Việt Phục hưng Hội, dựa Nhật chống Pháp với thành phần nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm ở tại phủ Cam. Trong thư gửi Toàn quyền Đông Dương, ông Thục kêu gọi Pháp ân xá cho em mình:
"Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận
...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp".
Nhờ sự giúp đỡ của hiến binh Nhật, ông thoát nạn và về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau vài ngày, người Nhật đưa Ngô Đình Diệm vào Đà Nẵng rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật. Ông cũng được Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để ủy nhiệm công việc vận động nhân sự ở Trung Kỳ để chống Pháp.

                                                       Thượng Thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm (thứ hai từ phải). 5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn
 
  Tổng Thống Diệm ôm hôn tướng Dương Văn Minh, theo các nguồn thì sau này chính tướng Minh ra lệnh hạ sát anh em Tổng Thống trong cuộc đảo chánh 1963 vì tư thù

     Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Ủy ban Kiến quốc với mục tiêu phò tá hoàng thân Cường Để. Tuy nhiên Nhật không ủng hộ Cường Để về nước làm vua mà ủng hộ Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.Sau khi Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh giành chính quyền, Ngô Đình Diệm cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên ngoại trừ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn. Anh cả Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khôi cùng con trai mình là Ngô Đình Huân trên đường bị du kích giải ra Hà Nội thì bị lực lượng áp tải này xử bắn do nghi ngờ ông định chống lại lực lượng Việt Minh. Nguyên do là trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ngô Đình Khôi khuyên hoàng đế Bảo Đại đừng thoái vị vì ông đã tích trữ được một số vũ khí, lại có thêm Ngô Đình Huân giữ vai trò liên lạc giữa triều đình Huế và Đế quốc Nhật Bản, nên có người tố cáo cha con ông Khôi có âm mưu cấu kết với Nhật chống lại Việt Minh. Thời điểm đó, một đơn vị biệt kích Pháp nhảy dù xuống miền Tây Thừa Thiên và bị Việt Minh bắt, nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan lại bản xứ để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Ngô Đình Diệm bị giải ra Hà Nội. Sau đó Ngô Đình Nhu cũng bị Việt Minh bắt giam rồi được thả. Theo phim tài liệu Sứ mệnh đặc biệt của Đài Truyền hình Việt Nam nói về chuyến công tác phía nam của ông Hoàng Quốc Việt trong Cách mạng Tháng Tám, thì ông Hoàng Quốc Việt (sau khi nghe ông Hải, Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Quảng Ngãi báo cáo đã bắt được Ngô Đình Diệm) đã thả ông Diệm theo chỉ thị của Hồ Chí Minh rằng các nhân sĩ trí thức phải được thả ra, và đưa ông Diệm ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ông Ngô Đình Diệm được giao làm cố vấn cho Vĩnh Thụy, là cố vấn tối cao của Chính phủ.

                                Gia đình trị họ ngô:
                               
Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy 
 
                        Không có mô tả ảnh. 
Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc bản tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng hòa, ngày 26 tháng 10 năm 1955 (sân Dinh Độc Lập).

Ngô Đình Diệm bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang nhưng được trả tự do theo lệnh ân xá vào năm 1946. Theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp Hồ Chí Minh. Ngô Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh của ông thì được Hồ Chí Minh giải thích rằng đó một hành động tự phát của du kích địa phương do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó, cũng theo tài liệu của Mỹ, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì cho rằng ông có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời đó với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này, và do đó Ngô Đình Diệm từ chối hợp tác với Hồ Chí Minh.Sau khi được Việt Minh phóng thích, Ngô Đình Diệm duy trì các mối liên lạc với một số lãnh đạo Việt Minh với hy vọng có thể thuyết phục họ bỏ Hồ Chí Minh và quay sang ủng hộ ông. Những cuộc trao đổi này khơi dậy những quan tâm đáng kể trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong năm 1947-1948. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đình Diệm và Ngô Ðình Thục, thậm chí còn có tin đồn Ngô Đình Diệm đã lôi kéo được tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ (về sau tin đồn này được xác định là không đúng). Ông cũng tìm cách liên minh với các lãnh đạo các đảng phái quốc gia. Giữa năm 1947, ông liên minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lãnh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Ðại Việt Quốc dân Ðảng.
Tháng 2 năm 1948, Ngô Đình Diệm và các lãnh đạo phe quốc gia gặp nhau tại Sài Gòn để thảo ra một kế hoạch đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập của Việt Nam. Năm 1948, khi cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong ở Hồng Kông đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, Ngô Đình Diệm sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong "vấn đề độc lập dân tộc". Ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền của Việt Nam. Sau đó khi Bảo Đại ký hiệp định với Pháp ở Hạ Long cho Việt Nam một nền độc lập hạn chế, Ngô Đình Diệm tỏ ra thất vọng. Ông từ chối lời mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại với lý do "không tin người Pháp, càng không tin vào nền độc lập nửa vời mà Pháp vẽ ra", và quay về Huế sống với Ngô Đình Cẩn và có thời gian Ngô Đình Diệm lên sống với vợ chồng Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt.

Miller thấy rằng những tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ nói lên được một hiểu biết mơ hồ về Diệm cho đến tháng 5/1954. Theo Miller, Bảo Đại quyết định chọn Diệm vào chức vụ Thủ tướng là bởi ông hoàng này công nhận rằng Diệm “là một người tốt nhất cho công việc, bởi vì sự không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông ấy có đủ năng lực để chống lại chủ nghĩa cộng sản… Ông ấy thực sự là một người rất thích hợp với hoàn cảnh hiện tại”.
Diệm đã chứng minh lời của quốc trưởng nhận xét về năng lực của mình là không sai. Trong thời kỳ hậu hiệp định Geneva, phớt lờ chiến lược hòa giải và cải tổ của Hoa Kỳ, Diệm đã trấn áp và dẹp tan những đối thủ chính trị của Diệm mà không có bất kỳ một sự thỏa hiệp nào để kiểm soát thành công quân đội quốc gia, giành lấy quyền lực từ những viên tướng thân Pháp, thực hiện chương trình kiến quốc của ông.
Những kiến giải của Miller về thời kỳ này không những đưa ra một sự hiểu biết mới về Diệm, mà còn thách thức các nhà sử học nhận thức lại lịch sử quan hệ Mỹ-Diệm ngay từ buổi đầu.

Sự bất đồng tư tưởng này đã khuấy đục liên minh Mỹ-Diệm trong quá trình triển khai một trong những chương trình kiến quốc quan trọng nhất: phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với mấu chốt của vấn đề là giải quyết tình trạng dư thừa dân số bằng cách di dân.
Trên bình diện quốc gia, Diệm khởi động chương trình tự cung tự cấp như là một đặc trưng trong viễn kiến của Diệm về phát triển cộng đồng để phát động sự tham gia tự giác và đóng góp của toàn dân vào những mục tiêu công ích của nhà nước.
Kế hoạch dinh điền của Diệm không tránh khỏi sự phàn nàn từ phía Mỹ.
 

Miller đã phân tích rất sâu sắc sự khác biệt của hai trường phái kiến quốc của Mỹ sau thế chiến thứ II bao gồm chủ nghĩa tân thời cao cấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khoa học và kỹ thuật, và chủ nghĩa tân thời bậc thấp chú trọng vào các chương trình phát triển ở phạm vi hẹp mang tính địa phương.
Cả hai trường phái này đều không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ không thể Tây hóa lối sống và điều kiện kinh tế xã hội của người Việt.
 

Do vậy, dù đồng ý với quan điểm của Hoa Kỳ là cần cung cấp nguyên liệu sản xuất cho dân tái định cư, nhưng Diệm bảo lưu quan điểm của mình, rằng việc cung cấp tư liệu sản xuất không quan trọng bằng nghĩa vụ và bổn phận tự lập của cộng đồng.
Do đó ông sẵn sàng tiếp tục thực hiện kế hoạch mà không cần sự trợ giúp của Mỹ. Mối bất hòa về chương trình dinh điền, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đẩy Washington và Saigon vào một tình trạng tồi tệ mới.

Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm. 
Miller chứng minh rằng không phải mọi hoạt động quân sự của Diệm đều do Mỹ điều khiển hoàn toàn, thậm chí còn xảy ra những bất đồng trong nội bộ Mỹ.

Về xây dựng lực lượng, ví dụ, phái bộ cố vấn của đại học Michigan (MSUG) muốn phát triển Lực lượng Bảo an như là một lực lượng cảnh sát dân sự, trong khi đó các cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) lại muốn lực lượng này là một mô hình bán quân sự hoạt động như một đội quân phụ trợ.

Còn với Diệm, Bảo an là một lực lượng lai ghép, kết hợp quyền lực của cảnh sát như quyền giám sát, giam cầm, và phản gián với năng lực quân sự.

Chỉ trích các giải pháp của cố vấn Mỹ không phù hợp với quan điểm của mình, cũng như hoàn cảnh an ninh của miền Nam Việt Nam, Diệm tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng Bảo an như một nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích. Là một cựu quan chức có nhiều trải nghiệm về cách trị dân, hơn ai hết, Diệm hiểu rằng: để cai quản vùng nông thôn cần kết hợp các giải pháp chính trị, quân sự, xã hội và kinh tế

Ngược lại, Diệm không bao giờ có quan điểm Dân chủ là một sự cạnh tranh mang tính đa nguyên giữa các đối thủ, đảng phái, và tư tưởng.

Thay vì vậy, Diệm cho rằng nền móng dân chủ của ấp chiến lược là huy động sức mạnh toàn thể dân chúng tham gia vào cuộc chiến chống lại kẻ thù của chế độ.

Miller không thể không thừa nhận rằng dù có nhiều khiếm khuyết và bất cập, nhưng Ấp Chiến Lược là một chương trình thành công, tạo nên một bước ngoặt đáng ghi nhận trong cuộc chiến chống lại Cộng sản ở miền Nam, mang lại hy vọng cho một chiến thắng chung cuộc. Trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 vẫn không dập tắt sự lạc quan của Diệm, vì vậy họ Ngô đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch Bắc tiến, chiếm lại miền Bắc Việt Nam.
Và cuối cùng, Diệm muốn Mỹ viện trợ vũ khí và các nguyên vật liệu khác nhưng không chấp nhận sự việc các cố vấn Mỹ can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.
                                 Ngày 20-12-1960: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập 
Ngày 20-12-1960, các thành viên của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên thệ trong Lễ thành lập Mặt trận. Ảnh: dangcongsan.vn 
Từ năm 1961, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải liên tục tăng cường lực lượng nhằm đối phó với các hoạt động khủng bố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (thành lập cuối năm 1960 tại chiến khu Tây Ninh)
Ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đình Diệm cho đăng một tuyên bố hoàn toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách đòi hỏi quyền tự trị lãnh thổ cho Việt Nam. Ðồng thời, ông cũng thông báo không có ý định hợp tác với Việt Minh và kêu gọi một phong trào chống thực dân mới dưới sự lãnh đạo của “những thành viên đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” với ý định thách thức Việt Minh bằng cách lôi kéo một số người muốn bỏ Việt Minh để ủng hộ ông. Ngô Đình Diệm cũng tuyên bố viễn kiến về một cuộc cách mạng xã hội ngang với những cương lĩnh chính trị từ các đối thủ của ông: “... nên biết rằng cuộc tranh đấu hiện tại không phải chỉ là một cuộc chiến đấu cho độc lập Tổ quốc về phương diện chính trị mà thôi, mà còn là một cách mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam. Ðể cho tất cả mọi người trong nước Việt Nam mới có đủ phương tiện để sống xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự, tôi chủ trương những sự cải cách xã hội hết sức tân tiến và mạnh bạo, miễn là phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự do nẩy nở.” Tuyên bố của ông được nhiều người đọc và được chú ý trên khắp Việt Nam, nhưng nó không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng dành cho Ngô Đình Diệm, cũng không gây tác hại gì cho “giải pháp Bảo Ðại”. Trên thực tế, hiệu quả của nó là chấm dứt 

 Sau đó, ông cùng anh mình là Giám mục Ngô Đình Thục và người em Ngô Đình Nhu thành lập Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo. Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một phong trào mới có thể áp đảo cả Pháp và Việt Minh. Ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột, cố gắng xây dựng và duy trì quan hệ với cả hai phía. Ngô Đình Diệm hy vọng có thể có thêm thời gian để mở rộng nhóm ủng hộ mình và gây thiệt hại cho cả hai đối thủ.
       Năm 1950, Việt Minh cố gắng giết Ngô Đình Diệm trên đường ông đi thăm anh là Giám mục Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long. Ông theo anh là Giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, rồi sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây.
        Trong thời gian ở Nhật, ông gặp tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân Mỹ tại Nhật để thuyết phục Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, nhưng tướng Douglas MacArthur tiếp kiến ông và Giám mục Ngô Đình Thục rất lạnh nhạt, không có biểu hiện gì cho thấy tướng Douglas MacArthur sẽ ủng hộ Việt Nam. Theo lời khuyên của Wesley Fishel, giáo sư chính trị Đại học Michigan, ông Diệm sang Hoa Kỳ để thuyết phục Tổng thống Mỹ Eisenhower ủng hộ Việt Nam độc lập. Tháng 9 năm 1950, Ngô Đình Diệm đến Washington gặp các viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng ông không gây được ấn tượng với họ. Sau khi gặp, một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhận xét Ngô Đình Diệm “quan tâm ngang bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân, thay vì giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối mặt ngày hôm nay”. Tháng 10 năm 1950, Ngô Đình Diệm sang Vatican gặp Giáo hoàng rồi đến Paris gặp các quan chức Việt và Pháp đồng thời đề nghị Bảo Ðại bổ nhiệm ông làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam với điều kiện ông có đủ thẩm quyền để chỉ đạo các cơ quan hành chính tại Việt Nam nhưng Bảo Đại chỉ trả lời chung chung 

                         image
Cố vấn Ngô Đình Nhu có 4 người con: Ngô-Đình Trác, Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ Thuỷ và Ngô-Đình Lệ Quyên. Kể từ sau khi hai anh em Ngô-Đình Diệm và Ngô-Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô-Đình cũng trải qua nhiều biến cố.
Hai người con gái của Ngô-Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô-Đình Lệ Thủy và Ngô-Đình Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông.
 
image
Theo Luật sư Lâm Lễ Trinh trong một cuộc phỏng vấn, ông Ngô-Đình Diệm là Tổng Thống, nhưng khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hoà công lớn là của ông Ngô-Đình Nhu. Ông Ngô-Đình Quỳnh nhớ về Cha như là một người kín đáo và tận tuỵ cho đất nước.  
  
    Thời gian hai năm kế tiếp Ngô Đình Diệm sang Mỹ phần lớn lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New York. Ông dùng đủ mọi cách để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower nhưng cũng không thành công vì Mỹ đang bận tham chiến tại Triều Tiên và Mỹ không muốn làm mất lòng người Pháp. Đây cũng là thời kỳ Ngô Đình Diệm gặp Hồng y Spellman, người đồng ý làm trung gian để ông có cơ hội diện kiến với những nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ. Qua trung gian của Hồng y Spellman, ông Diệm đã gặp gỡ và tranh thủ được tình cảm của dân biểu Walter H. Judd, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, nhất là Thượng nghị sĩ John F. Kennedy (Kennedy sau này trở thành Tổng thống Mỹ). Ngô Đình Diệm tìm kiếm sự hỗ trợ của người Mỹ cho những kế hoạch chính trị của ông cũng như thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện đại hoá và khả năng biến đổi Việt Nam dựa trên nền công nghệ Mỹ. Ðặc biệt, ông tìm cách khai thác những quan tâm chính thức mới (của Mỹ) trong việc “hỗ trợ kỹ thuật” cho nước ngoài. Cũng nhờ sự giới thiệu của Spellman và một vài nhân vật cấp cao của CIA, Ngô Đình Diệm vào ở ẩn ở các chủng viện lớn như Maryknoll, Lakewood rồi vào trường đại học Michigan tham gia một số khóa học. Có thể nói, người đã giúp đỡ ông Diệm rất nhiều khi ở Mỹ là Hồng y Spellman. Nhà sử học John Cooney đã viết:
"Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi chính khách: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng."
       Năm 1954, Ngô Đình Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn (con trai của cụ Thân thần phụ chính Tôn Thất Hân). Tại đây, với sự yểm trợ của Ngô Đình Luyện, Diệm bắt đầu vận động trong giới chính khách Việt sống lưu vong.
        Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (về sau là Tổng thống Mỹ) tuyên bố:
“Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”.
        Sau 4 năm Hiệp định Elysée được ký kết, lãnh đạo các đảng phái quốc gia đang mất hết kiên nhẫn với Bảo Đại và chiến lược giành độc lập từng bước trong Liên hiệp Pháp của Bảo Ðại. Pháp rất ít khi nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Quốc gia Việt Nam chỉ độc lập trên danh nghĩa. Đa số lãnh đạo phe quốc gia thất vọng với thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, nổi tiếng thân Pháp và chuyên quyền. Họ cũng nổi giận vì quyết định đơn phương của Paris trong việc phá giá đồng bạc Đông Dương vào đầu tháng 5 năm 1953, vi phạm những thoả thuận trước đó với các quốc gia thuộc Liên hiệp Pháp, đồng thời làm gia tăng lạm phát và khó khăn ở Đông Dương. Lợi dụng tình thế này Ngô Đình Nhu khéo léo kích động sự bất mãn và gợi ý triệu tập Đại hội Đoàn kết các đảng phái quốc gia tại Sài Gòn vào đầu tháng 9, sau khi Bảo Đại rời Việt Nam đi Pháp. Đại hội Đoàn kết diễn ra ngày 5, 6 tháng 9 năm 1953 không xây dựng được liên minh nào và cũng không đưa ra lập trường chính trị chính thức nào.
  Tháng 10 năm 1953, các đảng phái quốc gia lại nhóm họp và phê chuẩn quyết định bác bỏ sự tham dự của Việt Nam vào Liên hiệp Pháp và ủng hộ việc độc lập hoàn toàn. Đứng trước sự bất mãn tăng cao của các lãnh đạo đảng phái, tôn giáo, Bảo Đại phải thân thiện hơn với Ngô Đình Diệm và cân nhắc lại khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Ngày 26 tháng 10, Bảo Ðại gặp Ngô Đình Diệm ở Cannes để thăm dò lòng trung thành của ông này với Bảo Đại và khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Tháng 12, 1953, Bảo Đại cách chức Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và bổ nhiệm Nguyễn Phúc Bửu Lộc, một thành viên của hoàng tộc, làm thủ tướng. Đầu tháng 3 năm 1954, sau khi Bảo Đại chấp thuận trên nguyên tắc việc thành lập Quốc hội mới, Ngô Đình Nhu và những đồng minh của ông xuất bản một bài viết ở Sài Gòn thúc ép Bảo Đại nhượng bộ thêm.
        Đầu năm 1954, trong khi Pháp đang gặp khó khăn tại trận Điện Biên Phủ, Bảo Đại liên tục nhờ người chuyển lời với ông Diệm đang ở Hoa Kỳ, yêu cầu ông trở về nước thành lập chính phủ mới. Ông Diệm tiếp tục từ chối lời mời của Bảo Đại với lý do không tin tưởng vào người Pháp. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán hiệp ước trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam. Ngày 16/6/1954, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Ngô Đình Diệm tại Pháp. Ông Diệm đồng ý trở về nước làm Thủ tướng theo lời mời của Bảo Đại với điều kiện Bảo Đại phải đồng ý để chính phủ do ông thành lập được toàn quyền về chính trị và quân sự. Bảo Đại đồng ý với yêu cầu này, sau đó ông Diệm về nước và chính thức được bổ nhiệm làm thủ tướng. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới với nội các gồm 18 người. Sau này Bảo Đại viết trong hồi ký của mình:
      “Từ những gì tôi biết về ông, tôi biết rằng ông Diệm là một người khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín và xu hướng thiên về Thiên Chúa của ông. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện tại, không có một lựa chọn nào tốt hơn. Ông được người Mỹ biết đến, và họ đánh giá cao tính không khoan nhượng của ông. Trong mắt họ, ông là người xứng đáng với chức vụ đó nhất, và Washington sẽ không dè xẻn trong việc ủng hộ ông. Bởi vì quá khứ [của ông Diệm] và bởi vì sự hiện diện của người em ông ở vị trí hàng đầu của “Phong trào Công đoàn Quốc gia”, ông sẽ có được sự cộng tác của những người quốc gia thế lực nhất, những người đã hạ bệ ông Tâm và ông Bửu-Lộc. Cuối cùng, cũng vì tính không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông là người ta có thể trông cậy được trong việc chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như vậy.” Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Công thức này đòi hỏi một sự hợp tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Edgar Faure (sau này là thủ tướng Pháp) cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị điên... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta", hơn nữa Pháp đang bị chia rẽ chính trị nội bộ và gặp khó khăn tại Algérie nên rất miễn cưỡng trong việc giúp đỡ Quốc gia Việt Nam do đó Mỹ đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.

                                     Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu
 Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu

       Ngày 23/10/1954, tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.
       Theo ông cơ hội duy nhất cho chính phủ quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải thoát khỏi những ảnh hưởng còn sót lại của Pháp, và ông quyết định phải thực hiện mục tiêu đó. Quan điểm của Ngô Đình Diệm là "Muốn thuyết phục được nhân dân Việt Nam là chính quyền này độc lập thì cần thiết về mặt chính trị phải tỏ ra là chống thực dân và đặc biệt là chống Pháp".Chỉ sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương (một cơ quan do Pháp thành lập), từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Quốc gia Việt Nam quản lý. Tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp trong vòng năm tháng thực hiện chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam mọi công tác của Quân đội Quốc gia Việt Nam còn phụ thuộc vào bộ chỉ huy Liên hiệp Pháp. 
Phản ứng lại hành động của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đang từng bước loại bỏ ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam, Pháp muốn duy trì ảnh hưởng tại miền Nam nhưng lại gặp phải một Thủ tướng có tinh thần dân tộc nên họ tìm mọi cách loại bỏ để thay thế bằng một người lãnh đạo thân Pháp. Thông qua một số nhân vật ngoại giao như đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Douglas Dillon tại Paris, Pháp tìm cách thuyết phục Mỹ đồng ý loại trừ ông Diệm bằng cách chỉ trích ông thiếu năng lực và không có khả năng đại diện nhân dân vì không có được sự cộng tác và ủng hộ của các phe phái tại Miền Nam do đó không có khả năng thắng trong cuộc Tổng tuyển cử dự tính được tổ chức năm 1956. Tài liệu mật số 1691/5 (ngày 15 tháng 4 năm 1955) của Bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận Pháp muốn giữ vai trò lịch sử lâu dài của mình tại Việt Nam và bảo vệ những đầu tư kinh tế, tài chính của Pháp tại đây.
                             img0000356A
Viên sĩ quan dù cao cấp về sau trở thành tướng nổi loạn Nguyễn Chánh Thi đã nhận xét về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm – Nhu: “Cứ hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại miền Trung, có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau họ là sức mạnh chính quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải xử theo ý của linh mục A, linh mục B, không thì mất chức. Một số linh mục dưới chế độ Ngô Đình Diệm, họ sống như các ông vua của một xứ xưa kia!..”.
Cũng theo linh mục Trần Tam Tỉnh, đáp lại các lời chỉ trích, giám mục Thục nói với ICI, tạp chí Công giáo số 15/4/1963, rằng “Trên bàn giấy của tôi chồng chất cả lô đơn xin tôi can thiệp cho họ ơn này, ơn nọ, khổ thay thường chỉ là thế tục. Tôi không thể dửng dưng được trước lời kêu gọi của họ! ở vào địa vị của tôi các ông sẽ xử sự như thế nào?”. Giả dối đến thế là cùng!

        Lúc đó, Quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn ở Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm trong Liên Hiệp Pháp, và Tổng Tham mưu Trưởng quân đội, tướng Nguyễn Văn Hinh (con trai cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, người nổi tiếng thân Pháp) là một sĩ quan cũ trong Không quân Pháp, có vợ là người Pháp. Cảnh sát do lực lượng Bình Xuyên nắm giữ (thủ lĩnh là tướng Lê Văn Viễn), ngay cả lực lượng an ninh văn phòng phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng do cảnh sát gửi đến. Chính vì thế Pháp tìm cách loại trừ Ngô Đình Diệm hoặc bằng một cuộc đảo chính, hoặc bằng cách thuyết phục Bảo Đại cách chức ông Diệm và bất hợp tác với Mỹ trong việc huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam. Pháp tổ chức một cuộc họp chính trị có sự tham dự của tướng Nguyễn Văn Hinh, lãnh đạo các giáo phái, một số quan chức Pháp và đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn để đề nghị mọi người đồng ý thay thế chính phủ Diệm.
Tướng Nguyễn Văn Hinh có tham vọng làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam bắt đầu công khai chống lại Thủ tướng Diệm và còn khoe "Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.". Ngô Đình Diệm đối phó bằng cách ra lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ để nghiên cứu trong sáu tuần và phải xuất ngoại trong 24 giờ. Tướng Nguyễn Văn Hinh bất tuân thượng lệnh. Một tuần sau, ông cho phổ biến tuyên bố về việc ông không tuân lệnh ông Diệm và một điện tín ông đã gửi thẳng cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp. Cùng ngày, Ngô Đình Diệm tuyên bố tướng Hinh nổi loạn. Tướng Hinh cho xe thiết giáp bảo vệ tư dinh của mình, đồng thời phái một lực lượng bao vây Dinh Độc Lập. Trong thời gian 6 tuần tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc. Ngày 20 tháng 9 năm 1954, 15 bộ Trưởng trong nội các Ngô Đình Diệm đồng loạt từ chức. Quân đội dưới quyền tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh để tấn công. 
     Trước tình thế đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi công điện cho Đại sứ Donald R. Heath và tướng John W. O'Daniel chỉ thị phải "nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh) rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị tổng tham mưu trưởng và các sĩ quan cao cấp."
Cố vấn quân sự Mỹ là Edward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
        Sau khi Ngô Đình Nhu và Edward Lansdale phát hiện được âm mưu đảo chính của tướng Nguyễn Văn Hinh, Edward Lansdale đã mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ mát. Thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo chính đã không thể tiến hành được.
Ngô Đình Diệm đã buộc tướng Nguyễn Văn Hinh từ chức, giao quyền lại cho tướng Nguyễn Văn Vỹ. Nguyễn Văn Hinh chạy đến Paris vào ngày 13 tháng 11 năm 1954. Ngô Đình Diệm đồng thời cương quyết từ chối cho thủ lĩnh Lực lượng Bình Xuyên là tướng Bảy Viễn (tức Lê Văn Viễn) tham gia chính quyền dù Bảy Viễn đe dọa "tắm máu" Sài Gòn nếu yêu cầu của mình không được đáp ứng.
       Tháng 12 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định Geneve và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp. Ngày 22 tháng 3 năm 1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam rút toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam. Ngày 26 tháng 4 năm 1956, Pháp giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn.
        Ngoài ra Thủ tướng Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với Quốc trưởng Bảo Đại khi ông thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 chính thức sát nhập vùng đất Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại. Ông còn tổ chức những chiến dịch tuyên truyền chống lại Quốc trưởng Bảo Đại.
       Quốc trưởng Bảo Đại thấy không điều khiển được Ngô Đình Diệm cũng tán thành theo người Pháp, gây áp lực đòi Mỹ rút lại mọi ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm và gây sức ép buộc ông này từ chức. Bảo Đại muốn đưa Nguyễn Văn Xuân lên làm Thủ tướng, hoặc Phó thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng còn tướng Bình Xuyên, Bảy Viễn làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Các giáo phái lớn tại miền Nam không quyết định hoàn toàn ủng hộ bên nào.
 
 
 Ông Ngô Đình Khả, 5 người con trai Thục-Diệm-Nhu-Luyện-Cẩn và con dâu Trần Lệ Xuân.

Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại ra thông cáo từ văn phòng của ông ở Paris tuyên bố cách chức Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm với lý do "việc dùng các biện pháp công an trị và chế độ độc tài cá nhân phải kết thúc, tôi không thể tiếp tục để tên tuổi và quyền lực của mình vào tay một người sẽ khiến cả nước rơi vào đổ nát, đói kém và chiến tranh.". Tuy nhiên Ngô Đình Diệm đã chặn được thông điệp này khiến nó không đến được với dân chúng.Sau đó, Tổng thống Mỹ, Eisenhower cử ông Joseph Lawton Collins thay thế Donald R. Heath làm đại sứ tại Việt Nam. Tướng Pháp Paul Ély thuyết phục Collins chống Ngô Đình Diệm. Collins chỉ trích Ngô Đình Diệm yếu kém và đề nghị Mỹ tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm. Collins quay về Mỹ vài lần, thuyết phục chính phủ Mỹ gây sức ép buộc Ngô Đình Diệm từ chức. Thời điểm này, chính phủ của Ngô Đình Diệm cũng như bản thân ông tồn tại được thực chất là nhờ những tác động hết sức cần thiết của những người bạn là dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ mà ông đã tranh thủ được khi sang Mỹ vận động vào năm 1950. Khi Collins yêu cầu Washington phải thay thế Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Dulles tham vấn Thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Thượng nghị sĩ Mike Mansfield khen ngợi Ngô Đình Diệm hết lời nên Ngoại trưởng Dulles chỉ thị Collins tiếp tục ủng hộ ông Diệm.

                             
               Hình ảnh điển hình ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh
 Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.

Khi Collins trở về Mỹ, ngày 22 tháng 4 năm 1955, ông dùng bữa trưa với Tổng thống Eisenhower. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc phòng và Trung ương Tình báo để thuyết phục các quan chức Mỹ khác đồng ý thay thế Ngô Đình Diệm và phải có kế hoạch hành động ngay tức khắc. Collins đề nghị ông Phan Huy Quát thay thế Ngô Đình Diệm. Ngày 27 tháng 4 năm 1955, Ngoại trưởng Mỹ Dulles gửi điện cho Collins rằng "Tướng Collins và Ely phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định..."
Mật điện này lọt ra ngoài, Thủ tướng Diệm biết được nên đã ra lệnh tấn công quân Bình Xuyên trong lúc ông Collins còn đang trên đường về Sài Gòn, điều này khiến Mỹ không thể hỗ trợ lực lượng nào tại Việt Nam gây sức ép buộc Diệm từ chức. Sau đó Bộ ngoại giao Mỹ tiếp tục sẵn sàng xem xét các đề nghị thay thế Ngô Đình Diệm nhưng không tìm thấy chính trị gia nào có thể cạnh tranh với Diệm.
Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông bác bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vốn được dự kiến diễn ra vào tháng 7 năm 1956 theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève với lý do không thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc. và bác bỏ ngay cả những thảo luận sơ khởi với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề tuyển cử thống nhất Việt Nam. Hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. 
 Theo Mortimer T. Cohen thì Ngô Đình Diệm không chấp nhận tổng tuyển cử, vì ông biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh, vì ông là một George Washington của Việt Nam. Báo cáo của CIA gửi Tổng thống Mỹ Eisenhower cũng cho rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu mở cuộc tổng tuyển cử. Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17 để không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam vì vậy đã không bao giờ được tổ chức.
     Năm 1956, Ngoại trưởng Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Trong tình thế này, Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Theo Cecil B. Currey, Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không.
    Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ Việt Nam có viết: "Cho nên mới tháng 9 năm 1954 nghĩa là hai tháng sau ngày ký Hiệp định đình chiến thì chúng đã nghĩ ra "sáng kiến" là làm thử tổng tuyển cử vài nơi ở miền Nam. Ở Vĩnh Trà (Nam Bộ), tay sai của Ngô Đình Diệm tìm cách mua chuộc nhân dân bằng cách đưa vải về một làng, phát cho dân rồi tuyên truyền cho Bảo Đại, phát phiếu cho dân làng bầu. Kết quả mà chúng lo sợ đã đến: chúng đã không mua chuộc nổi: 95% số phiếu dồn cho Hồ Chủ tịch, Bảo Đại chỉ được 5%. Chúng uất đến tận cổ. Báo cáo kết quả lên "thượng cấp" thì lại bị chỉnh một mẻ nên thân. "Thượng cấp" cho là chúng không tích cực tuyên truyền vận động, và bắt chúng phải làm lại. Chúng lại tìm cách mua chuộc một lần nữa. Một số vải, gạo, thuốc men, đưa về để phát cho dân, kèm theo một đợt tuyên truyền thứ hai. Nhưng cũng như lần trước, không ai chịu để chúng mua chuộc. Kết quả cuộc bỏ phiếu thứ hai là 100% bầu Hồ Chủ tịch. Ở cực Nam Liên khu V cũng diễn ra trò hề tương tự, và cũng thất bại không kém chua cay".
      Khi Quốc trưởng Bảo Đại ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp để tường trình về việc trấn áp Bình Xuyên thì ông đã sửa soạn ra đi nhưng những người ủng hộ ông can ngăn. Theo tướng Trần Văn Đôn thì Bảo Đại dự định khi Ngô Đình Diệm ra khỏi nước sẽ cách chức liền, đưa Lê Văn Viễn, Tư lệnh Bình Xuyên lên làm Thủ tướng.
Tại miền Nam, từ 1954-1955, với cương vị thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu phục lực lượng Bình Xuyên, lực lượng vũ trang của các giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài được Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông. Trong nước, ông được Ủy ban Cách mạng Quốc gia gồm nhiều đoàn thể, đảng phái ủng hộ. Ông cũng được gần một triệu người di cư hậu thuẫn mạnh mẽ. Ngoài nước, Ngô Đình Diệm đã cương quyết chống trả kế hoạch lật đổ ông của hai tướng Ély-Collins nên bây giờ được Washington ủng hộ.
Quốc gia Việt Nam tổ chức cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận như tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên.
Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và sau đó ông được bầu làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam. Hai năm sau, năm 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng hoà.
Ngày 22 tháng 10 năm 1960, Tổng thống Mỹ, Eisenhower gửi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm "Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng...".

                         Saigon 1955 - Attacking the Binh Xuyen Rebels | Flickr

VNCH tảo thanh phiến quân Bình Xuyên cuối tháng 4-1955 tại Saigon – Photo by Howard Sochurek

                            Giao chiến giữa quân Bình Xuyên và Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn  năm 1955. Trang chủ: https://www.hinhanhlichsu.org/ Youtube:  https://www.youtube.com/@hinhanhlichsu Cuộc nổi loạn của quân Bình Xuyên  năm 1955

SAIGON (5/5/1955) KINH HOÀNG GIỮA TIẾNG NỔ ẦM ẦM CỦA CUỘC NỘI CHIẾN — Người dân tỵ nạn Nam VN sợ hãi co rúm người lại cạnh bên một ngôi nhà gỗ tại Saigon trong trận giao tranh bằng súng cối giữa binh sĩ của TT Ngô Đình Diệm với các phiến quân Bình Xuyên. Người phụ nữ đang khóc lấy tay bịt tai để chận bớt âm thanh của trận giao tranh. Người phụ nữ lớn tuổi ở bên phải túm chặt túi đồ trong lúc nhìn về phía đang giao tranh. Các lực lượng của ông Diệm đã tuyên bố thắng lợi hoàn toàn đối với quân phiến loạn vào hôm thứ tư, khi các nhà lãnh đạo khắp Nam VN tập họp để xem xét tình hình. (Ảnh của Tạp chí Life từ AP Wirephoto)


Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: "Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền". Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông. Ông ban phát ân huệ cho thuộc cấp theo ngẫu hứng, bất chấp năng lực lẫn tình hình thực tế. Không có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều sử gia gọi Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa là Ngô triều. Theo nhiều hồi ký của tướng lĩnh dưới thời ông Diệm kể lại, thì khi vào cửa Tam quan ở các đền thờ vua chúa, ông Diệm thường nói: "Các ông đi cổng hai bên, vì cổng giữa chỉ có vua mới được đi. Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc này". Dứt câu, ông Diệm đi vào bằng cổng giữa. Nội chuyện xây dựng Dinh Độc Lập và ý định dời đô từ Sài Gòn lên cao nguyên đã khiến ông Diệm càng trở nên xa cách với giới tướng lĩnh. Ngay cả người gần gũi với gia đình ông như tướng Trần Văn Đôn còn bất mãn với sự độc đoán này của ông Diệm.
Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng nhận xét:
Quyết tâm tránh các biện pháp mà Ngô Đình Diệm coi là "ăn cướp và tra tấn dã man" như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn, chứ không tịch thu. Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi trong kỳ hạn sáu năm để mua.

                                   Image
    
 Tuy vậy, đường lối Cải cách điền địa mà Ngô Đình Diệm đề ra bị nông dân miền Nam phản đối dữ dội. Trong khi Việt Minh đã giảm thuế, xóa nợ và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nghèo, Ngô Đình Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại. Đến cuối thời Ngô Đình Diệm, 10% chủ đất đã nắm giữ 55% đất canh tác cả miền Nam. Nông dân phải trả lại đất cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê đất và phải nộp cho quân đội. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông thôn, quân đội của Ngô Đình Diệm bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp". Đất của các Giáo xứ Công giáo thì còn được Ngô Đình Diệm thiên vị, cho miễn thuế và hạn mức. Kết quả là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên làm tổng thống, ông giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình Nhu làm cố vấn và cả hai người đều sử dụng các phương pháp cứng rắn để chống lại những người kháng chiến Việt Minh được sự hỗ trợ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Trong khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng trên học thuyết xã hội chủ nghĩa thì hai anh em xây dựng Chủ nghĩa nhân vị như là một học thuyết làm nền tảng ý thức hệ cho nhà nước ở miền Nam Việt Nam với chính đảng Cần lao Nhân vị.
Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng Quân đội Nhân dân ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17. Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Đồng thời một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm lực lượng vũ trang giáo phái để dự phòng cho việc phải chiến đấu vũ trang trở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương.
                                 
                                                               Tội ác của chế độ VNCH    
 
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới đồng thời cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Dù vậy hệ thống tổ chức bí mật của Việt Minh vẫn tiếp tục tồn tại và phản kháng bằng cách tuyên truyền chống chính phủ, tổ chức những cuộc biểu tình chính trị gây sức ép lên chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đối phó với những cuộc đấu tranh chính trị bằng cách thực hiện chiến dịch tố cáo cộng sản nằm vùng nhằm loại bỏ những cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Chính quyền của Ngô Đình Diệm luôn luôn quan niệm cộng sản là kẻ thù chính, nhiệm vụ phản công là tối ưu, phải đẩy mạnh nhiệm vụ chống cộng. Ông Ngô Đình Diệm rất nổi tiếng với các khẩu hiệu: "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót"; thể hiện quyết tâm chống Chủ nghĩa Cộng sản tới cùng của ông. Để thể hiện lập trường sẽ tận diệt cán bộ Việt Minh, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố công khai:
Theo báo Nhân dân, ngay từ cuối năm 1954, theo lệnh Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh, Chợ Được, Mỏ Cày, Củ Chi, Bình Thành,v.v. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố cộng" giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; tháng 6-1955, mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một cách quyết liệt không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Những biện pháp cứng rắn nhất được áp dụng, ví dụ ngày 16-8-1954, quân Việt Nam Cộng hoà đã nổ súng trấn áp đoàn biểu tình ở thị xã Gò Công, bắn chết 8 người và 162 người bị thương.
Trong thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có 48.250 người bị tống giam, theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung. Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt Minh) vào rừng lập chiến khu. Việt Minh đáp trả bằng những cuộc biểu tình đòi thả cán bộ của họ hoặc tổ chức các cuộc diệt ác trừ gian - tiêu diệt nhân viên và cộng tác viên của chính quyền Ngô Đình Diệm được gọi là "bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm".
 
Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War:  Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:
“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả,  hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.”
(Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)
Đưa ra những tài liệu phản biện như trên không có nghĩa là tôi biện hộ cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất của Việt Minh mà chỉ là đối với tôi, những tài liệu ngụy tạo để chống Cộng như trên có thể thích hợp trong thời chiến, nhưng nay viết lại lịch sử thì phải viết cho đúng với sự thật, bất kể sự thật đó là như thế nào.  Mặt khác, nếu số người  bị giết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất như trên mà gọi là “genocide” thì số 300000 (3 trăm ngàn) người chết oan trong chiến dịch tố Cộng của Ngô Đình Diệm thì gọi là gì?

  
                     
Trên đây là một số trong những hình ảnh trong chính sách Tố Cộng tàn nhẫn của chính quyền miền Nam.

     Để tăng tính uy hiếp, Việt Nam Cộng hòa sử dụng cả máy chém để hành quyết phạm nhân. Nhiều vụ xử chém của Việt Nam Cộng hòa được diễn ra công khai trước dân chúng, đầu phạm nhân được đem bêu để cảnh cáo. Báo The Straits Times (Singapore) ngày 24 tháng 7 năm 1959 có bài viết tường thuật cảnh 1.000 người dân xem xử chém ở Sài Gòn. Báo Buổi sáng (Sài Gòn) ngày 15-10-1959 có viết: “Theo một phán quyết của phiên xử vắng mặt của Tòa án Quân sự Đặc biệt ngày 02 tháng 10, Nguyễn Văn Lép, tức Tư Út Lép, một Việt Cộng, đã bị tuyên án tử hình. Cách đây một tuần, Lép đã bị sa vào lưới của Cảnh sát trong một khu rừng ở Tây Ninh. Bản án tử hình đã được thi hành … Hiện đầu và gan của tên tử tù đã được Hội đồng xã Hào Đước cho đem bêu trước dân chúng".
Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59, sau đó được tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký ban hành. Luật này quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt với lý do "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa", mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai, xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Sau khi luật này được ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị thiệt hại nặng nề.
Như vậy, có thể thấy, được sự hà hơi tiếp sức của Mỹ và sau khi thu tóm quyền lực, củng cố cái chính thể phản bội quyền lợi của Dân tộc Việt có tên gọi là Việt Nam Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm quay sang ra sức triệt phá các cơ sở cách mạng, lùng sục ráo riết, bắt bớ và giết chóc hàng loạt những người từng tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp mà chúng gọi là Việt Cộng và người kháng chiến cũ. Sự đàn áp khốc liệt đó với cao trào là luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam - Việt Nam đã gây ra biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho đồng bào miền Nam, và đặc biệt nghiêm trọng là nó đã chà đạp tan nát Hiệp định Giơnevơ, làm cho sự chờ đợi 2 năm xum họp nước nhà của toàn thể nhân dân Việt Nam trở thành vô vọng.

Bài thơ “Ngô Thuốc Độc Ngợi Ca máy Chém” (trích từ “Chế Lan Viên Toàn tập”) và những tài liệu Việt Mỹ dưới đây (kể cả tài liệu của Việt Nam Cọng hòa) đã chứng minh Đạo Luật 10/59 và chiếc máy chém do Pháp để lại đã từng là nỗi hãi hùng của nhân dân miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm. Biết bao người dân vô tội cũng đã bị chết oan vì bọn Mật vụ Cần Lao Công giáo ác ôn vu oan giá họa vì tư thù … Chế độ Diệm nhờ hai đế quốc Mỹ và Vatican mà thành hình, chế độ nầy được cho là thay Pháp nhưng lại vẫn duy trì hai di sản của Thực dân Pháp để lại: Đó là Đạo dụ số 10 để đạp các tôn giáo khác xuống bùn cho Công giáo được đặc quyền đặc lợi, và chiếc máy chém hãi hùng chặt đầu những ngưòi yêu nước.  - NG
Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Việt gian thành chí sĩ
Chúng nó mua máy Mỹ
Về cắt đầu dân ta...

Tiếng Ngô thuốc độc:
Ngô bảo: giết người là trọng đại
Việc máu Ngô xem như việc nhà
Huống nữa nay làm nên Tống thống
Giết người, không thể giết qua loa

Lối chém Nam Triều khá hủ hậu
Nhiều gươm mà ít kiếm ra máu
Nước mình tiếng thế nhưng đông dân
Giết người, máu phải cho đầy chậu

Quan Mỹ ngày nay vốn đại tài
Xoẹt qua một lúc, chục đầu rơi
Tính xem! Mười máy kia cùng chém
Ngô có ngay một trăm nụ cười

Đã chém còn bày lắm khó khăn
Pháp trường với không phải pháp trường!
Đâu là Tổ quốc, đấy, Ngô chém
Nơi nào chẳng kiếm được đầu dân!

Chém kiểu Ngô đây quả rất tiện
(Ưu tiên cho những đầu kháng chiến)
Ngô thề có trời, Ngô thương dân
Máy đến tận nhà dân để chém

Máy dong miền Đông, dong miền Tây
Chỉ huy đã có ông quan thầy
Nghề chém như nghề Ngô Tổng thống
Nơi nào có máu thì đi ngay

Lối chém ngày xưa cũng lắm tuồng
Chém chui chém nhủi chả ra hồn
Như sợ mặt trời uống mất máu
Chém người phải trốn giữa mù sương

Ngô chém bây giờ rất hãnh diện
Thầy Mỹ về trông, quan khách đến
Máu người, Ngô để cho người xem
Không có mặt trời thì bật điện

Lũ báo nhà Ngô văn viết... mau
Bút ngâm trong máu đỏ đồng bào
Tâu rằng: Ngô chém rất... nhân vị
Toàn rặt sọ dừa dân... cần lao

Máy Ngô đi trước, mồm theo sau
Mồm phun đỏ máu câu từng câu
Khen: Ngô yêu nước như yêu máu
Máu rơi một sắc, văn trăm màu

Lại ca: thầy Mỹ xưa cho bom
Giờ cho máu chém siêu linh hồn
Xương người vây trắng dinh Ngô ở
Máu người thắp đỏ phố U-ôn

Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Trăm sự đều của Mỹ
Máy chém thì... nhân vị
Sơn màu U.S.A.
 

Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (Vũ Thị Thường sưu tầm và biên soạn)


Máy chém (Guillotine) thời Ngô Đình Diệm được sử dụng tại
miền Nam để chặt đầu nhân dân yêu nước, hiện được trưng bày
tại Bảo tàng Chứng tích Tội ác Chiến tranh, Sài Gòn
        
 
Nói đến tội ác của chế độ VNCH thì pkải kể đến khu Chín Hầm:
                            Chín Hầm - Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia

 Có những thông tin khác nhau về việc Ngô Đình Diệm muốn Hoa Kỳ (và cả Trung Hoa Dân Quốc) đưa quân vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam hay không.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Ngô Đình Diệm nhờ Linh mục Raymond de Jaegher, người Bỉ quốc tịch Mỹ, xin với Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow cho Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Sài gòn với lý do bảo vệ công dân Mỹ và kiểm soát phi trường Tân Sơn Nhất.
                                               
                               Chân dung Trần Lệ Xuân vào thập niên 1950

Trần Lệ Xuân, thường được biết đến với tên gọi Madame Nhu, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình quý tộc Bắc bộ. Bà là con gái của ông Trần Văn Chương, một luật sư nổi tiếng, và bà Nam Trân, một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong giới thượng lưu. Tuổi thơ của bà Xuân được bao bọc trong sự giàu sang và giáo dục tốt đẹp, chuẩn bị cho bà một tương lai đầy triển vọng. Bà lớn lên trong môi trường giáo dục truyền thống và tinh hoa, nơi mà sự khôn ngoan, trí tuệ và sự thanh lịch được coi trọng. Những ảnh hưởng từ gia đình và sự khắt khe của người mẹ đã hình thành nên tính cách mạnh mẽ và độc lập của bà, giúp bà trở nên tự tin và đầy bản lĩnh. Năm 1943, ở tuổi 19, Trần Lệ Xuân kết hôn với Ngô Đình Nhu, một nhân vật có tầm ảnh hưởng trong chính quyền Việt Nam.

 Bà Trần Lệ Xuân từng cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, tượng này có khuôn mặt giống hệt hai mẹ con bà: Trần Lệ Xuân - Ngô Đình Lệ Thủy. Nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng Trưng Trắc có khuôn mặt giống với bà và Trưng Nhị có khuôn mặt giống với con gái của bà là Lệ Thuỷ. Thời điểm ấy, nhà thơ Đông Hồ có bài thơ châm biếm “Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng” như sau :

"Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngã nặng
Có ngày gãy cổ đứt ngang lưng...
Đây một hình xưa nhục nước non
Thay hai hình mới đứng thon von
Mình ni lông xát lưng eo thắt
Ngực xu chiêng nâng vú nở tròn
Tưởng đứng hiên ngang em với chị
Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con
Dòng sông Bến Nghé, dòng sông Hát
Lưu xú lưu phương tiếng để còn".

 Theo sử gia Joseph Buttinger thì “Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam”. Do đó sau này, ngày 2–11–1963, khi họ Ngô vừa bị đảo chính, nhiều người dân Sài Gòn đã kéo nhau dùng một dây sắt nối với một tàu thủy để kéo sập tượng đài này, và chở trên xe xích lô máy đi diễu khắp Sài Gòn chiếc đầu tượng mang gương mặt bà Xuân.

Ngày 20 tháng 10 năm 1961, tướng Mỹ Maxwell D. Taylor hội thảo với Ngô Đình Diệm lần đầu tiên, Ngô Đình Diệm đề nghị một hiệp ước hỗ trợ quân sự, gia tăng quân số Việt Nam Cộng Hòa và yểm trợ không quân của Mỹ. Ngày 27 tháng 10 năm 1961, Taylor hội thảo với Ngô Đình Diệm lần thứ hai và đề nghị đưa bộ binh Mỹ vào miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ chính thức là cứu lụt, Diệm rất tán thành. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm "không những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh, mà còn tuyên bố đại đa số dân miền Nam chào đón (welcome) việc này."
Trong buổi họp ngày 13 tháng 10 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Đình Thuần đã đề nghị Mỹ hãy duyệt gấp những yêu cầu của Tổng thống Diệm, trong đó đó đề nghị Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) gửi quân đến Việt Nam, cụ thể:
  • Gửi thêm các phi đoàn khu trục cơ AD-6 và các phi công dân sự Mỹ để điều khiển máy bay.
  • Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân Việt Nam Cộng Hòa. Một phần quân số này sẽ đóng gần vĩ tuyến 17 để Việt Nam Cộng Hòa rảnh tay chống quân du kích dân tộc thiểu số ở Tây nguyên.
  • Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị (của ông Diệm) xin Trung Hoa Dân Quốc gửi một sư đoàn quân tác chiến vào khu vực hành quân ở vùng Tây Nam.
Còn theo lời Bùi Kiến Thành, cộng sự thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì đến năm 1962, Ngô Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào Việt Nam mà muốn đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính vì điều này mà người Mỹ đã chỉ đạo các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khởi động cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm: "... Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng Hòa) cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được... Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn sẽ thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam... Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp… qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẻ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và họ đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu "bán nước cho cộng sản", vì vậy các anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các anh cho cộng sản... Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 1964 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hòa... Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác... Việc đảo chánh Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, ông ta chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia cũng chỉ là con cờ, còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này là người Mỹ, mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá tình báo Lucien Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia, thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, nghe có cay đắng không?".
      Từ năm 1957 đến năm 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hai lần nhưng ông may mắn thoát chết. Lần đầu tiên do Hà Minh Trí, một người cộng sản dưới lốt thành viên Cao Đài thực hiện ngày 22 tháng 2 năm 1957 tại "Hội chợ Kinh tế Cao nguyên" ở Buôn Ma Thuột, lần thứ hai do hai phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, vốn là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng, ném bom vào dinh Tổng thống ngày 27 tháng 2 năm 1962.
Hà Minh Trí là ai?
 Hà Minh Trí (thường được biết đến là, Đại tá Mười Thương; 1935-2020) là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sĩ quan cao cấp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Nguyên tên khai sinh của ông là Phan Văn Điền, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1935, tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Nhà nghèo, cha ông đi làm lính khố xanh, do tham gia Binh biến Đô Lương và bị xử tử khi ông mới 5 tuổi. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông bỏ nhà lưu lạc vào Nam, vào tận Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, ông được một cán bộ Việt Minh nhận nuôi và đặt cho cái tên mới: Đinh Văn Phú. Ông tham gia cách mạng từ đây.
 
                                         
                                           Chân dung Anh hùng, Đại tá Phan Văn Điền
....Tháng 10/1956, ông MườiThương được giao nhiệm vụ ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm khi ông ta lên Tây Ninh, nhưng do tổ chức không nắm chính xác ngày, giờ nên kế hoạch không thực hiện được. Cũng trong năm đó, ông lại chủ động đề xuất cho thực hiện nhiệm vụ này vào đêm Noel tại Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (TPHCM ngày nay), nhưng lại một lần nữa kế hoạch bất thành do lịch trình của Ngô Đình Diệm đột ngột thay đổi.
     Tháng 2 năm 1957, Hà Minh Trí cùng các đồng đội vạch ra kế hoạch tỉ mỉ cho việc ám sát lần ba Ngô Đình Diệm. Sáng ngày 22 tháng 2, hội chợ Tây Nguyên khai mạc. Hà Minh Trí trong bộ trang phục cải trang đã tiến gần hàng rào bảo vệ, chỉ cách vị trí tổng thống Diệm đứng chưa đầy 20 mét. Khi tất cả chuẩn bị chào cờ, ông nổ súng vào mục tiêu đã định. Tuy nhiên, súng chỉ nổ 2 phát thì bị hóc. Do bị cưa nòng và báng súng nên độ chính xác của súng bị giảm đi rất nhiều, vì vậy đạn không đi đúng mục tiêu và bắn trúng vào Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Công. Hà Minh Trí nhanh chóng bị lực lượng an ninh bắt giữ.
        Đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1960 là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn ChánhThi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quần chúng.
     Kế hoạch đảo chính đã được Vương Văn Đông và các quan chức bất bình với chế độ Ngô Đình Diệm, trong đó có Đại tá Nguyễn Chánh Thi, chuẩn bị trong một năm. Vương Văn Đông đã cấu kết được với một trung đoàn xe thiết giáp, một đơn vị hải quân và ba tiểu đoàn quân nhảy dù. Cuộc đảo chính được dự định vào 5 giờ sáng ngày 11 tháng 11. Tuy nhiên kế hoạch đã được thực hiện không hiệu quả, quân nổi loạn đã không tuân thủ chiến thuật đã được viết ra như chiếm giữ đài phát thanh và phong tỏa các con đường vào đô thành Sài Gòn. Họ cũng đã không thể cắt đường dây liên lạc điện đàm vào dinh Độc Lập, điều này khiến cho Ngô Đình Diệm có thể liên lạc được với các đơn vị trung thành đến bảo vệ mình. Quân đảo chính đã bao vây dinh Độc Lập nhưng trì hoãn tấn công trong 36 giờ vì tin rằng Ngô Đình Diệm sẽ tuân thủ theo yêu sách của họ. Lợi dụng thời gian trì hoãn này, Ngô Đình Diệm đã xuống tầng hầm dinh Độc Lập và viết một bài diễn văn hứa hẹn sẽ có bầu cử tự do và công bằng và các biện pháp tự do khác. Khi các thỏa hiệp đang được phát trên các phương tiện truyền thông ngày 12 tháng 11, lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh diễn ra chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem giao tranh. Lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.                                                                          
Sau cuộc chiến là một cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm với những người chỉ trích và nhiều bộ trưởng nội các bị bỏ tù. Một số sĩ quan quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam. 
      Các mối quan hệ của chế độ Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ đã trở nên tồi tệ hơn trong năm 1963, do sự bất mãn ngày một tăng trong phần lớn Phật tử ở miền Nam Việt Nam. Tháng 5 năm 1963, ở Huế một thành phố trung tâm của đạo Phật, theo Topmiller, người anh của Ngô Đình Diệm là tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã cấm phật tử và nhà chùa treo cờ nhà Phật trong lễ Phật đản căn cứ trên quy định cấm treo các loại cờ tôn giáo ở nơi công cộng. Còn theo tác giả Nguyễn Hiền Đức, Ngô Đình Cẩn chỉ thị cho Tỉnh trưởng yêu cầu ban Tổ chức lễ Phật Đản chỉ cần thông báo cho toàn thể tín đồ Phật giáo đừng treo cờ Phật giáo trong ngày lễ, Phật tử nào đã treo cờ rồi thì cứ để cho treo hết lễ
       Vài ngày trước đó thì người Công giáo lại được phép treo cờ trong các lễ kỷ niệm của họ. Tuy nhiên, sau đó Phật giáo và chính quyền thành phố Huế đã đạt được thỏa thuận cho phép dân chúng treo cờ Phật giáo. 
    Nhưng thượng tọa Thích Trí Quang vẫn quyết định tiếp tục đấu tranh nhằm chống lại quy định của chính quyền. Trong lúc Phật tử tụ tập trước đài phát thanh Huế chờ nghe bài diễn văn của Thượng tọa Thích Trí Quang đã xảy ra vụ nổ giết chết 9 thường dân không vũ trang. Mặc dù tỉnh trưởng bày tỏ sự cảm thông và chia buồn sâu sắc đối với thân nhân những người chết và đề xuất bồi thường cho gia đình nạn nhân, nhưng tỉnh trưởng vẫn nhất quyết phủ nhận lực lượng của chính phủ đàn áp giết chết người biểu tình, đồng thời cho rằng Việt Cộng là thủ phạm. Theo Karnow, lực lượng an ninh quân đội Việt Nam Cộng hòa đã đàn áp cuộc biểu tình của Phật giáo. Ngô Đình Diệm và những người cùng phe cáo buộc Việt Cộng phải chịu trách nhiệm về những cái chết của thường dân và tuyên bố những người biểu tình phải chịu trách nhiệm về tình trạng bạo lực. Các tổ chức Phật giáo đã đưa ra một bản Tuyên ngôn gồm 5 điểm: tự do treo cờ tôn giáo, chấm dứt bắt bớ bừa bãi, bồi thường cho các nạn nhân Huế, các quan chức chịu trách nhiệm về vụ đàn áp phải bị xử lý và bình đẳng tôn giáo.
 
                 
             Hình ảnh một cuộc đàn áp Phật giáo của chính quyền độc tài Ngô Đình Điệm năm 1963 - Ảnh: tư      liệu  của  GHPGVN tỉnh Thừa Thiên - Huế
                 
                      Cuộc diễu hành của phật tử Huế ngày 8/5/1963 - Ảnh: HALS
                   Lần đầu công bố ảnh về cuộc đấu tranh chống đàn áp Phật giáo ...
      Cuộc biểu tình của đồng bào phật tử và SV,HS trước chợ Bến Thành Sài Gòn. Cảnh sát chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắn chết nữ sinh Quách Thị Trang
                                Lần đầu công bố ảnh về cuộc đấu tranh chống đàn áp Phật giáo 1963 | Báo Dân  trí
Đoàn biểu tình của Tăng Ni và Phật tử ngồi tại chỗ- khi quân đội và cảnh sát chặn lại trên đường đi, năm 1963 (ảnh của Corbis)


                           
                 Quần chúng Phật giáo Miền Trung và Thừa Thiên-Huế xuống đường năm 1966
                            
Bức ảnh của M.Browne gây xúc động đến mức tổng thống Mỹ John F.Kennedy phải thốt lên “Không một bức ảnh thời sự nào trong lịch sử thế giới lại tạo ra nhiều cảm xúc đến thế!”. Tổng thống đã phải ra lệnh tái lượng giá chính sách đối với Việt Nam và chỉ thị Đại sứ Henry Cabot Lodge qua nhận nhiệm sở ở Sài Gòn
 
 Chính quyền cấm các cuộc biểu tình, ra lệnh cho quân đội cảnh sát bắt giữ những người tham gia vào các cuộc tuần hành biểu tình. Ngày 3 tháng 6 năm 1963, người biểu tình cố gắng diễu hành qua chùa Từ Đàm. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng hơi cay và chó nghiệp vụ tấn công người biểu tình 6 lần để giải tán đám đông nhưng bất thành, cuối cùng quân đội sử dụng hóa chất lỏng màu nâu đỏ để tưới vào đám đông người biểu tình đang cầu nguyện, kết quả là 67 người phải nhập viện vì nhiễm độc. Lệnh giới nghiêm sau đó đã được chính quyền Diệm ban hành.
Để xoa dịu Phật giáo, ngày 4 tháng 6 năm 1963, Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập Ủy ban Liên bộ để nghiên cứu giải quyết những nguyện vọng của Phật giáo, do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Một phái đoàn hỗn hợp của hai bên được gửi ra Huế để giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh Quang, Báo Quốc, và Chùa Diệu Đế, đồng thời kêu gọi Phật tử trở về sinh hoạt bình thường, kiên nhẫn chờ đợi hành động của chính quyền.
Bước ngoặt của cuộc khủng khoảng Phật giáo năm 1963 đến vào tháng 6, khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn để phản đối các chính sách của Diệm; bức ảnh chụp lại cảnh tượng này đã nhanh chóng phổ biến trên khắp thế giới, và đối với nhiều người những hình ảnh này đã chứng minh cho sự thất bại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Một số nhà sư khác đã tự thiêu, noi gương theo hòa thượng Thích Quảng Đức.
       Trước tình hình đó, Ủy ban Liên bộ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Ủy ban Liên phái của Phật giáo sau khi thảo luận đã ra bản Thông cáo chung với nội dung cho phép treo cờ Phật giáo nơi công cộng nhưng phải kèm theo cờ quốc gia, chính phủ hứa sẽ thay thế dụ số 10 bằng một đạo luật mới do Quốc hội ban hành, lập Ban điều tra để xem xét tất cả các đơn khiếu nại của Phật giáo, phóng thích những người liên quan đến cuộc đấu tranh của Phật giáo, những sinh hoạt tôn giáo thuần túy và thường xuyên không diễn ra nơi công cộng không cần xin phép, tạo điều kiện cho Phật giáo xây chùa, trừng phạt các cán bộ có trách nhiệm trong sự kiện Phật đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 nếu thật sự họ có lỗi, trợ giúp các nạn nhân trong sự kiện Phật đản.
Sau khi bản Thông cáo chung được công bố, phía Phật giáo cho rằng các chính quyền địa phương đang ngầm chống lại việc thực thi Thông cáo chung nên tiếp tục đấu tranh. Cuộc đấu tranh của Phật giáo khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo mất uy tín cả trong lẫn ngoài nước. Điều này buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi hòa giải giữa chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Phật giáo. Tuy nhiên Phật giáo không chấp nhận hòa giải mà vẫn tiếp tục đấu tranh.

                                      
                      năm 1963 và vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức 
 
                                                   
                                            Trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức
 
       Chính phủ Hoa Kỳ ngày càng thất vọng với những hình ảnh công bố các nhà lãnh đạo không được ưa chuộng cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm sử dụng lý lẽ chống cộng truyền thống của mình, buộc tội những người chống đối là cộng sản. Khi các cuộc biểu tình chống chính phủ của Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục trong suốt mùa hè năm 1963, thì các lực lượng đặc biệt trung thành với chính phủ đã tiến hành một cuộc đột kích tàn bạo vào chùa Xá Lợi ở Sài Gòn vào tháng 8 cùng năm. Chùa bị phá hoại, các nhà sư bị đánh đập, hài cốt hỏa táng của hòa thượng Thích Quảng Đức, bao gồm cả trái tim của ông được những phật tử coi là một di tích tôn giáo, cũng bị lực lượng an ninh tịch thu.
    Các cuộc tấn công đồng thời được thực hiện trên toàn Việt Nam Cộng hòa, chùa Từ Đàm ở Huế bị cướp phá, tượng phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm bị phá hủy và di thể một nhà sư đã tạ thế cũng bị đưa đi. Khi dân chúng đến để bảo vệ các nhà sư đã đụng độ với quân đội và cảnh sát, dẫn đến 30 thường dân thiệt mạng và 200 người khác bị thương. Tổng cộng đã có 1.400 nhà sư bị bắt, khoảng 30 nhà sư bị thương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ đã cho thấy quan điểm không tán thành chính quyền của Diệm khi đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge, Jr. tới thăm một ngôi chùa. Không có thêm các cuộc biểu tình của Phật tử xảy ra trong thời gian nắm quyền còn lại của Ngô Đình Diệm (khoảng 5 tháng).
     Trong thời gian này, em dâu của Ngô Đình Diệm là Trần Lệ Xuân, một người từng theo đạo Phật và sau cải đạo sang Công giáo, có thể coi Trần Lệ Xuân là đệ nhất phu nhân de facto (trên thực tế) do Ngô Đình Diệm không lập gia đình; Trần Lệ Xuân đã đổ thêm dầu vào lửa khi chế giễu các vụ tự thiêu của các nhà sư, coi họ là "thịt nướng" (barbecues), và tuyên bố "Nếu các phật tử muốn có thêm thịt nướng, Tôi sẽ vui mừng cung cấp xăng cho họ" (nguyên văn: If the Buddhists want to have another barbecue, I will be glad to supply the gasoline). Các cuộc tấn công vào chùa chiền đã làm dấy lên băn khoăn lo lắng lan rộng trong công chúng ở Sài Gòn. Sinh viên đại học Sài Gòn đã bãi khóa và tổ chức các cuộc bạo động, dẫn đến việc bắt giữ, bỏ tù và đóng cửa các trường đại học; điều này đã lặp lại tại Đại học Huế. Khi học sinh trung học diễu hành biểu tình, Ngô Đình Diệm cũng đã bắt học sinh; trên 1.000 học sinh từ các trường trung học ở Sài Gòn, hầu hết là con em các công chức dân sự Sài Gòn, đã bị gửi tới các trại cải tạo, theo báo cáo bao gồm cả trẻ em lên năm, bị buộc tội vẽ và viết các câu, hình vẽ chống chính phủ. Bộ trưởng ngoại giao của Diệm là Vũ Văn Mẫu đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối. Khi ông cố gắng rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn Độ, thì bị bắt và bị quản thúc.
    Ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Nhu chỉ đạo lực lượng an ninh của đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc. Họ mặc đồng phục của quân đội trong khi đột kích để cho mọi người thấy rằng Quân đội chính phủ đứng sau lưng họ trong cuộc đàn áp này. Lực lượng của Ngô Đình Nhu đã bắt hơn 400 nhà sư đang ngồi trước tượng Đức Phật. Hàng ngàn phật tử khác cũng bị bắt giữ trên cả nước (riêng tại Sài Gòn là 1.400 người) với lý do "Phật giáo là tay sai của Việt cộng". Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo bị bắt giữ, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt.

      
    Đoàn biểu tình bị cản lại bởi những lớp rào kẽm gai; lớp cảnh sát, công an, mật vụ võ trang; lớp xe cứu hỏa và xe cộ khác... Họ đã cố gắng mấy lần phá vỡ được những hàng rào dây kẽm gai để tiến tới, nhưng phần vì lớp kẽm gai quá kiên cố được thiết lập dàn ra phía sau những chiếc xe cứu hỏa, với lực lượng cảnh sát, mật vụ được huy động đến quá đông đảo được trang bị đầy đủ, đằng đằng sát khí; phần nữa vì tôn trọng tinh thần "bất bạo động" của thông bạch và các lãnh đạo Phật Giáo, nên họ đã dừng lại theo lời đề nghị của Đại Đức Thích Quảng Độ - người điều động cuộc tuần hành - yên tỉnh ngồi xuống mặt đường đồng thanh niệm Phật. Đoàn người lúc bấy giờ chỉ mới cách chùa Giác Minh 500m.
 
     Trong lúc này các toán võ trang luôn lợi dụng sự hiền hòa của đoàn người, thừa cơ hoặc hành hung; hoặc dùng xe ủi một tu sĩ; hoặc uy hiếp, cướp máy chụp hình, máy quay phim của các Tu Sĩ, Phật Tử và Thông Tín Viên.
      Sau nửa giờ niệm Phật, quần chúng Phật Tử lặng yên nghe Đại Đức Thích Quảng Độ, hướng dẫn tinh thần cuộc biểu tình, đứng lên giải thích rõ ràng về cuộc vận động của Phật Giáo. Dùng loa phóng thanh, Đại Đức chậm rãi nói về chính nghĩa của cuộc tranh đấu cũng như cuộc tuyệt thực đợt 2 của Tăng Ni và Tín Đồ toàn quốc. Từ hai đầu đường Phan Thanh Giản và các đường phố lân cận như Nguyễn Thiện Thuật... quần chúng đều đứng lại lắng nghe. Cửa sổ trên những tầng lầu đều được mở ra, đồng bào xuất hiện trên sân thượng các nhà hai bên khu phố để nghe Đại Đức thuyết trình. Lực lượng cảnh sát dùng loa microphone hòng che lấp lời giải thích, nhưng chùa Giác Minh đã dùng máy khuyếch đại thanh khá mạnh đáp trả hữu hiệu, lời giải thích của Đại Đức Quảng Độ vẫn nghe rất rõ.
       Đúng 10 giờ, hàng dây kẽm gai mở ra, Đại Đức Thích Quảng Liên được một xe chở tới yêu cầu giải tán. Song quần chúng Phật Tử kiên trì giữ vững lập trường, cam chịu mọi sự đàn áp nếu nguyện vọng của họ không thành tựu.
 
10g15', tiếng niệm Phật vẫn đều đều, nhưng vào 10g30', cuộc đàn áp thật sự bắt đầu. Từng lớp người võ trang xô vào cướp giật biểu ngữ, xô đẩy, hành hung đoàn biểu tình yếu thế. Tăng Ni và những người điều động cuộc tuần hành bị tấn công bằng báng súng và gậy gộc trước sự chứng kiến của giới báo chí, thông tín viên, quan sát viên quốc nội và quốc tế cùng hằng ngàn Phật Tử, dân chúng bên đường. Tiếng la hét của phụ nữ và trẻ em vang dậy. Nhiều vị Tăng, Ni bị đánh ngã quỵ. Nhiều vị khác bị bắt liệng lên xe cảnh sát chở đi.
 
 
     Bị đàn áp quá dữ dội, đoàn biểu tình mất bình tỉnh không chịu nổi đã từ từ rút lui về chùa Giác Minh và chùa Từ Quang sát cạnh không kháng cự. Cảnh sát đuổi theo sát họ đến cổng chùa Giác Minh. Và khi Phật Giáo Đồ vừa yên lặng trong chùa, một hàng rào kẽm gai lập tức được thiết lập chắn kín cổng chùa Giác Minh và Từ Quang, mở đầu cho cuộc phong tỏa trên 600 Tăng Ni, Phật Tử bị cô lập trong chùa 54 giờ đồng hồ với bao sự đe dọa và thiếu thốn nhu cầu sinh hoạt thử thách ý chí, tinh thần bảo vệ đạo pháp của họ.
 

      Cũng vào sáng ngày 17.7.1963, đúng 8g15', gần 400 Tăng Ni tập họp tại chánh điện chùa Xá Lợi. Sau khi lễ Phật và mặc niệm trước bảo điện, vị đại diện Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ngõ lời ngắn gọn rồi đoàn Tăng Ni sắp hàng tuần tự tiến ra đường Bà Huyện Thanh Quan, qua đường Lê Văn Thạch, rẽ lên đường Nguyễn Thông, Ngô Thời Nhiệm, Lê Văn Duyệt, và thẳng hướng về Chợ Bến Thành.
   Trên lộ trình, đoàn diễn hành gặp nhiều trở ngại như hàng rào kẽm gai, các đội công lực tìm đủ mọi biện pháp đẩy lui, nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua trở ngại tiến được về tập hợp gần đông đủ tại vườn hoa trước cửa Nam chợ Bến Thành, chỉ trừ khoảng trên 10 vị chạy sau bị nhân viên công lực bắt lại.
      Cuộc diễn hành này, nhờ yếu tố tốc hành bất ngờ, đã làm cho các lực lượng cảnh sát đối phó không kịp trong bước đầu. Đến khi các lực lượng võ trang được huy động đầy đủ, thì đa số chư Tăng Ni đã đến được địa điểm định trước là chợ Bến Thành. Tại đây, một biểu ngữ được quý Tăng Ni trương lên: “Yêu cầu Chánh Phủ thực thi bản Thông Cáo Chung”. Lập tức vòng đai cảnh sát chiến đấu xiết chặt, buộc chư Tăng Ni hạ cờ Phật Giáo và biểu ngữ xuống, nhưng Tăng Ni không ai tuân lệnh, họ cương quyết không hạ.
     Lúc này các lực lượng cảnh sát chiến đấu đã bao vây quanh đám biểu tình dưới quyền chỉ huy của ông Trần Văn Tư - Giám Đốc Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Vị đại diện Tăng Ni đứng lên yêu cầu được nói về mục đích của cuộc biểu tình diễn hành. Ông Trần Văn Tư ra lệnh cho vị đại diện chỉ được nói trong ba phút, ông nói: “Mau lên để chúng tôi còn thi hành nhiệm vụ”.
Vị đại diện Tăng Ni tuyên bố:
“Chúng tôi đến đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng: Bản Thông Cáo Chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính Phủ đã không thực thi nghiêm chỉnh mà còn dùng đủ mọi cách để khủng bố, bao vây, bắt bớ, xuyên tạc Phật Giáo Đồ”.
      Lúc này, đồng bào trong chợ đã đổ xô ra rất đông, và từ các ngả đường quần chúng cũng kéo tới chật ních. Tuyên bố xong, vị đại diện yêu cầu nhân viên công lực giải tỏa để cho Tăng Ni được tự do đi về chùa Xá Lợi trong trật tự, nhưng viên Giám Đốc Cảnh Sát nhất quyết từ chối, và ra lệnh cho thuộc cấp thi hành cái gọi là "dùng biện pháp thích nghi” để ngăn chặn cuộc diễn hành trở về chùa Xá Lợi, mà ông biết là sẽ vô cùng đông đảo.
     Trong khi chờ đợi sự giải tỏa của cảnh sát, các vị Tăng Ni ngồi xuống đất bắt đầu niệm Phật. Do dự vài giây trước đoàn người tay không thản nhiên ngồi chắp tay tuyên Phật hiệu, cuộc đàn áp bắt đầu... Nhân viên công lực võ trang xông ập vào đánh đập, đấm đá, và cứ 2, 3 người tóm 1 nhà tu liệng lên xe bịt bùng trong khi chư Tăng, Ni chống cự lại bằng cách quàng lấy tay nhau từng chuỗi dài để bảo vệ nhau. Tình thế trở nên hỗn loạn!
 
      
 Sau những phút đầu bất lực và nhận thấy cuộc đàn áp xảy ra trước mặt quần chúng đông đảo như vậy là không hay, viên Giám Đốc Cảnh Sát thay đổi sách lược. Ông ra lệnh ngừng sự bắt ép rồi đích thân tới bắt tay vị đại diện Tăng Ni điều đình: "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ, xin thề với ông rằng: Chúng tôi sẽ đưa các ông về chùa Xá Lợi".
    Thấy cuộc biểu tình đã đạt được kết quả và chư Tăng Ni nhiều người đã bị mất sức; thêm nữa tuy sẵn lòng tin thì ít, nhưng thấy vị Giám Đốc Nha Cảnh Sát, nhân viên cao cấp của chính phủ, một người biểu hiện cho đức "thành tín" đối với quốc gia, đã lấy danh dự mà hứa sẽ chở chư Tăng Ni về chùa bằng xe cảnh sát, vị đại diện bằng lòng và Tăng Ni lần lượt lên xe.
       Đoàn xe chuyển hướng chạy về đường Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh trước hằng vạn con mắt của đồng bào ngơ ngác nhìn theo. Tăng Ni trên xe hoài nghi kêu cứu ầm ĩ, song vẫn hy vọng ngã đường này vẫn còn có thể về chùa Xá Lợi. Nhưng những chiếc xe này khi đến ngã tư Tổng Đốc Phương, thay vì chạy về chùa Xá Lợi, lại rẽ hướng về Lục Tỉnh. Đến đây Tăng Ni biết mình đã bị lừa gạt, tập trung đập cửa xe rầm rầm; các vị ngồi trước người lấy chân đạp thắng xe, người gạt tay lái cho xe đâm vào lề đường; nhiều vị mở cửa xe lao mình xuống đường khi xe đang chạy với tốc độ rất nhanh. Thấy vậy, các xe cây của cảnh sát buộc phải ngừng lại. Tất cả Tăng Ni nhào xuống xe tập hợp lại thành một khối giữa công lộ.
      Bấy giờ, cảnh sát, kẽm gai, xe cây lại bao vây họ chặt chẽ hơn trước. Hai vị Cảnh Sát Trưởng đến gần chư Tăng Ni, tự xưng là đại diện ông Giám Đốc Cảnh Sát, hứa lần này "Chúng tôi sẽ lấy xe công lực chở quý ông về chùa Xá Lợi". Sợ sẽ bị lừa gạt lần nữa như vừa rồi, Tăng Ni nhất quyết từ chối, chỉ yêu cầu được tự do đi bộ về chùa. Họ ngồi xuống đất để đòi hỏi sự giải tỏa của lực lượng cảnh sát. Nhưng cảnh sát không giải tán. Vài lời dằng co qua lại giữa viên đại diện chính quyền và vị đại diện Tăng Ni chưa đi đến đâu thì bổng nhiên cảnh sát chiến đấu được lệnh xông vào đàn áp.
Cuộc đàn áp lần này xảy ra khốc liệt gấp mấy lần trước nhiều: Chư Tăng Ni bị đánh đập, đấm đá, bóp họng, thoi túi bụi vào chỗ hiểm... Quần chúng ở đây không đông đảo như ở chợ Bến Thành và giới báo chí không có mặt, vì vậy chư Tăng, Ni bị hành hung một cách tàn nhẫn và quăng ném lên xe như những con thú vật.
      Trong lúc Tăng Ni đang bối rối thì đoàn xe đã phóng nhanh về hướng ngoại thành... 
 
     

         Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Giáo hoàng Phaolô VI và các tổ chức Công giáo, đã lên án Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Thục đến Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, Trần Lệ Xuân dẫn phái đoàn Quốc hội đi nước ngoài bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tổ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình hình đàn áp Phật giáo.
       Từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam với sự hậu thuẫn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời tiến hành đấu tranh vũ trang đã làm cho tình hình an ninh ở miền Nam bị xáo trộn. Lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã kiểm soát được phần lớn vùng nông thôn bất chấp các kế hoạch quốc sách như Ấp Chiến lược và Khu Trù mật của Ngô Đình Diệm.
       Việc tập trung quyền lực vào gia đình, đảo ngược các chính sách cải cách ruộng đất của Việt Minh trước đây cũng như chính sách cai trị đất nước bị coi là thiên vị với thiểu số người Công giáo tạo ra những mầm mống xung đột giữa Công giáo và Phật giáo cũng như sự bất mãn trong đội ngũ tướng lĩnh quan chức, sự chống đối của đông đảo người theo đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, người Thượng, trí thức và nông dân. Hơn nữa Ngô Đình Diệm còn bị các chính trị gia đối lập chỉ trích là độc tài, gia đình trị, bất lực trong việc ổn định xã hội và chống Cộng thiếu hiệu quả.
                                             Thiếu tá điệp viên CIA Lucien Conein, Nguồn: OntheNet     
                                  Thiếu tá điệp viên CIA Lucien  Conein, Nguồn: OntheNet 

     Anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu nảy sinh bất đồng từ đầu năm 1963. Vì trận thua nặng của quân đội Việt Nam cộng hòa tại trận Ấp Bắc, khi đó tại Nam Việt Nam đã có 12.000 cố vấn quân sự Mỹ khiến giới quân sự Mỹ liên tục chê bai khả năng quân sự của các tướng Việt Nam Cộng Hòa và đòi để các tướng Mỹ nắm quyền chỉ huy. Ngô Đình Nhu tỏ ra bất mãn về việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải nghe theo những khuyến cáo quân sự của người Mỹ nên quyết định tìm hướng đi mới, tỏ ý định yêu cầu Mỹ rút bớt cố vấn quân sự về nước và tìm cách tiếp xúc với những người cộng sản ở Hà Nội. Người ta đánh giá rằng việc này là quyết định riêng của Ngô Đình Nhu, còn Ngô Đình Diệm không có được sự uyển chuyển về chính trị như vậy. Do những ý định mới của Ngô Đình Nhu, người Mỹ bắt đầu tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm, cắt một nửa viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Tháng 7 năm 1963, đại sứ Mỹ Frederick Nolting, người bị xem là quá bao che cho chính quyền họ Ngô, bị thay thế. Cùng lúc đó nổ ra biến cố Phật giáo, 1963 làm chính quyền Sài Gòn càng lung lay. Theo tướng Pháp Paul Ély thì vào giữa năm 1963, quyền lực của Ngô Đình Diệm chỉ còn giới hạn trong phạm vi Sài Gòn.
                             Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự (Saigon  /4/1964). Nguồn UPI
                     Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự  (Saigon 22/4/1964). Nguồn UPI

Gia đình Ngô Đình Khả có 8 người con, gồm 6 trai 2 gái. Trong 6 người cháu thì có Ngô Đình Huân (con Khôi) bị bắn chết, và Lệ Thủy (con Nhu – Xuân) bị chết vì tại nạn xe hơi. Còn 1 người thì bị chết vì khủng hoảng tinh thần là Ngô Đình Thục rồi tới bố mẹ ruột Lệ Xuân là Trần Văn Chương cũng bị bắn chết vì đứa em của Lệ Xuân. Xem như vậy là gia đình nhà Ngô và họ Trần tuy có lên đến tột đỉnh danh vọng, nhưng lại kết thúc bằng những cái chết thảm khốc. Âu cũng là ân oán phải trả, vì chính mấy người bị giết chết như Diệm, Nhu, Cẩn, Huân, khi còn quyền hành trong tay đã tàn sát nhiều người vô tội, oán thù chồng chất
                                    Linh mục làm lễ rửa tội cho Ngô Đình Cẩn trước giờ ra pháp trường.
Ngô Đình Cẩn được linh mục rửa tội trước giờ bị hành quyết
                                             Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn. 
             Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn. 

     Cùng với việc chống Cộng không đạt được kết quả và không xoa dịu được cuộc đấu tranh của Phật giáo được xem là nguyên nhân dẫn tới sự mất uy tín trầm trọng của chính quyền Ngô Đình Diệm trước các lực lượng chính trị hợp pháp khác tại miền Nam và trước chính quyền Hoa Kỳ. Sự kiện Phật Đản, 1963 xảy ra là giọt nước tràn ly dẫn tới hành động đảo chính của một nhóm tướng lĩnh vốn bất mãn với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Chính phủ Mỹ đề nghị Ngô Đình Diệm bớt đàn áp tàn bạo đối với Phật giáo và sinh viên để lấy lại hình ảnh dân chủ hơn của chính quyền, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo. Đứng trước tình thế đó, chính phủ Kennedy buộc phải gây sức ép đối với chính quyền của Ngô Đình Diệm. Căng thẳng với người Mỹ ngày càng tăng, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo vì ông vẫn tự tin cho rằng người Mỹ không thể tìm ra người thay thế tốt hơn mình ở vị trí Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Vì thế chính phủ Mỹ cuối cùng quyết định bỏ rơi ông.
     Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính được lên kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, do tướng Dương Văn Minh cầm đầu đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ John F. Kennedy xin ý kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29 tháng 10 năm 1963 giữa Kennedy và các cố vấn cho thấy Kennedy sau khi họp với 15 cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân viên CIA Lucien Conein.
Lucien Conein, đặc vụ của CIA, trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu.
     Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công. Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông báo về ý định đảo chính ông ta nói: "Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.". Sau đó Conein bí mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động ám sát nào. Tướng Trần Văn Đôn trả lời "Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.". Theo một nguồn khác, Conein cung cấp cho nhóm tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa một số tiền mặt lên tới 40.000 USD để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm. 


                          

                        Cảnh sát giữ an ninh tại chùa Ấn Quang sau khi sư sãi bị bắt 9-1963.
 
                         

                                    Cảnh sát dã chiến hốt biểu tình lên xe cây 9-1963.
 
                        

                                        Cảnh sát hốt biểu tình lên xe 9-1963.


                        

Học sinh trường Võ Trường Toản, cạnh bên trường Trưng Vương, gần Sở Thú Saigon biểu tình 8-1963.

                       

Sinh viên Y khoa chào mừng GS Phạm Biểu Tâm, khoa trưởng Đại Học Y Khoa Saigon, được trả tự do.

                    

                           Cảnh sát dã chiến trên đường đi giữ an ninh.

                    

                                            Sư sãi xếp dọn chùa Xá Lợi 9-1963.

                        

              Sinh viên Đại Học Khoa Học sửa soạn biểu tình chống chính phủ 8-1963.

                        

                                   12-1963 Minh Cồ và Henry Cobot Lodge Jr.
 
                        

                     12-1963 Minh Cồ , Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara. 

                           

                 12-1963 Họp báo Minh Cồ, Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara. 

                              

                                                             12-1962  Minh Cồ

                        

       Dinh Gia Long, nơi TT Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu cư ngụ khi đảo

     chánh diễn biến trưa ngày 1-11-1963

                        

              11-1963 dân chúng Sài Gòn ăn mừng sau ngày đảo chánh tại phòng trà.

                        

                                          11-1963 Sư ăn mừng sau ngày đảo chánh.

                  

                           11-1963 Tượng đài Hai Bà Trưng sau ngày đảo chánh.

                               

                                   11-1963 Chùa Xá Lợi sau ngày đảo chánh.

                

                             11-1963 Dinh Gia Long sau ngày đảo chánh.

                  

                                11-1963 Thành Cộng Hòa sau ngày đảo chánh.

                              

                                  11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh.

                   

                                 11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh.

                         

                          11-1963 Tôn Thất Đính sau ngày đảo chánh tại Câu Lạc Bộ.

                      

                              11-1963 Minh Cồ và Thơ Lé sau ngày đảo chánh.

                       

                                11-1963 Minh Cồ trả lời báo chí sau ngày đảo chánh.

                       

      11-1963 Trần Văn Đôn bí danh "Đôn lầm" trên Đại Lộ Thống Nhất sau ngày đảo chánh. 

                      

Các binh sĩ thiết giáp tham gia cuộc đảo chánh 1-11-1963.
 
                      

                                            9-1963 Nơi tạm giam sư sãi biểu tình. 

                      

9-1963 Tôn Thất Đính và Nguyễn Văn Là họp báo sau khi ban hành thiết quân luật để bảo vệ chính phủ N Đ Diệm.

                     

                           9-1963 Robert S. McNamara & Trung Tướng Đỗ Cao Trí.
 
     Ngày 30 tháng 10 năm 1963, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ Roger Hilsman gửi đến Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một bức mật thư mà ông này gọi đó là "Hoàng hôn của các thần linh". Trong bức mật thư này có đoạn:
"Chúng ta cần khuyến khích nhóm đảo chính chiến đấu đến cùng và phá tan Dinh Độc Lập (nếu cần) để đạt được thắng lợi. Điều kiện cho gia đình họ Ngô là đầu hàng vô điều kiện, vì nếu không họ sẽ tìm cách gạt bỏ được lực lượng đảo chính lẫn sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Nếu gia đình họ Ngô bị bắt sống, vợ chồng ông Nhu phải nhanh chóng bị tống xuất sang Pháp hay bất cứ nước nào muốn nhận họ. Riêng ông Diệm, tùy thuộc vào ý muốn của các tướng lĩnh tham gia đảo chính".
Tướng Dương Văn Minh và các đồng mưu lên kế hoạch lật đổ chính phủ của Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 bằng một cuộc đảo chính nhanh gọn chóng vánh. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đưa quân đội tới chiếm đóng tất cả các vị trí trọng yếu ở Sài Gòn, chặn mọi cửa ngõ ra vào nội đô. Tại dinh tổng thống, chỉ có một lực lượng nhỏ trung thành bảo vệ cho Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, các tướng lĩnh đảo chính kêu gọi Ngô Đình Diệm đầu hàng và Ngô Đình Diệm sẽ được ra nước ngoài sống lưu vong nếu đầu hàng. Tuy nhiên tối hôm đó, Ngô Đình Diệm và đoàn tùy tùng đã trốn thoát khỏi dinh tổng thống bằng một đường hầm tới Chợ Lớn, về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam - Chợ Lớn. Sáng sớm ngày 2 tháng 11, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lực lượng đảo chính bắt, cuộc đảo chính tới đây là kết thúc, phe đảo chính chỉ còn việc thành lập chính phủ mới. Hành động đảo chính đã đưa Việt Nam Cộng hòa đến tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trong một thời gian cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.
    Sáng ngày hôm sau Ngô Đình Diệm cùng với Ngô Đình Nhu gọi điện và ra hàng lực lượng đảo chính. Hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị đại úy Nguyễn Văn Nhung giết bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M-113, theo lệnh của tướng Dương Văn Minh, khi chiếc xe đang trên đường tới Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị hành hung trước khi bị bắn. Xác Ngô Đình Nhu thì bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.
Sau khi biết tin Ngô Đình Diệm bị lật đổ và ám sát, phát biểu của Hồ Chí Minh được thuật lại như sau   "Tôi không thể nào tin người Mỹ lại ngu ngốc đến vậy". Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam nói rõ hơn:
   "Hậu quả của cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 sẽ trái với những tính toán của đế quốc Mỹ... Diệm là một trong số những nhân vật mạnh nhất chống lại nhân dân và Chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những gì có thể làm nhằm cố gắng đè bẹp cách mạng đã được Diệm thực hiện. Diệm là một trong những tay sai có tài nhất của đế quốc Mỹ  ... Trong số những người chống cộng ở miền Nam Việt Nam hoặc đang lưu vong ở nước ngoài, không ai có đủ tài lực chính trị và khả năng làm người khác tuân phục. Do đó, chính quyền tay sai sẽ không thể vững bền. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 sẽ không phải là cuộc đảo chính cuối cùng."
    Khi biết Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính và giết chết, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy bị choáng váng và ưu tư thoáng buồn. Bốn giờ chiều ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu đã bị giết, Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng tiếng Pháp: "C’est formidable! C’est formidable!" (Thật là tuyệt diệu. Thật là tuyệt diệu).
Các cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đới, các xóm Đạo võ trang,… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản ứng. Cả cấu trúc chính trị mà họ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ.

                                              Người bắn hạ anh em Ngô Đình Diệm nói gì?


    Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê, khi đó đang sống ở Sài Gòn, đã ghi lại không khí vui mừng của người dân ở thời điểm đó:
"Từ 7 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin dinh Gia Long bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín năm trời đăng đẳng” - Bác sĩ Dương Tấn Tươi. Còn thi sĩ Đông Hồ thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy thì cho thấy quần chúng Việt Nam năm 1963 này cũng đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự kiềm hãm sức giận dữ hung hãn của mình rồi đó.”
     Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng ghi lại không khí của người dân miền Nam lúc đó khi nghe tin vụ đảo chính và việc anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị giết:
    Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng khiến cho các lãnh đạo Á Châu là đồng minh của Mỹ phải cảm thấy lo ngại cho mình. Về sau, Tổng thống (Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon:
   "Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ."
     Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho biết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong những ngôi mộ không tên trong một nghĩa trang bên cạnh ngôi nhà của đại sứ Hoa Kỳ. Sau này tìm hiểu, thì ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Ngô Đình Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Ngô Đình Nhu. Trong khoảng thập niên 1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu (Nghĩa trang Nhân dân số 6B) ngày nay. Hiện tại, mộ ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu chính thức đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu. Mộ hai ông nằm hai bên mộ mẹ - bà Phạm Thị Thân. Ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên thánh và "Huynh" (chỉ ông Ngô Đình Diệm) hoặc "Đệ" (ông Ngô Đình Nhu), sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh
      Cuộc đời ngắn ngủi của Ngô Đình Diệm, không thể nói khác được, là cuộc đời mang nhiều tội lỗi đối với dân tộc Việt Nam. Do thiển cận về chính trị, hận thù cộng sản đến điên cuồng và đam mê quyền lực ích kỷ đến mù quáng, mà đã phản bội Bảo Đại, lập chính phủ gia đình trị, phá vỡ Hiệp định Genève, đàn áp tôn giáo, tàn sát dã man những người cộng sản, gây ra cảnh chia cắt đất nước thành hai miền với miền Nam đầu rơi máu chảy.
    Tình hình đó buộc nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung lại phải cầm súng đứng lên tiếp tục đấu tranh vũ trang chống thù trong giặc ngoài.
       
       Để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới, và tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp tiến bộ trên thế giới, Cách mạng Việt Nam đã thành lập một tổ chức tại Miền Nam, lấy tên gọi “Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam - Việt Nam” với vị chủ tịch được bầu lên là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, có lực lượng vũ trang gọi là “Quân giải phóng”. Từ đây Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của Dân tộc Việt bước vào giai đoạn khốc liệt nhất mà vẻ vang nhất, suốt 15 năm ròng rã. Từ đây, Miền Nam trở thành Tiền tuyến lớn, Miền bắc trở thành Hậu phương lớn. Tiền tuyến lớn nêu cao tinh thần bất khuất vô song, càng đánh càng mạnh, càng ghi được những chiến công hiển hách trước cường quốc số 1 thế giới về sự giàu có và tàn bạo. Hậu phương lớn đã đem hết “tinh thần và lực lượng”, chi viện tiếp tế đến tận cùng khả năng sức người, sức của của mình và cả những ủng hộ, đóng góp qúi báu của anh em bầu bạn trên thế giới cho Tiền tuyến lớn bằng mọi phương tiện, mọi ngả đường có thể, trong đó chủ yếu, có tính quyết định và đã lừng danh trong lịch sử là “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển Đông với những con tàu không số, và nhất là “đường mòn Hồ Chí Minh” trên dãy Trường Sơn với những “đoàn xe chạy đêm, chạy ngày” bất kể mưa bom bão đạn. Tất cả đã trở thành huyền thoại có tựa đề: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

                                   CỜ GIẢI PHÓNG: LÁ CỜ CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM Hòa  chung với không khí tưng bừng, phấn khởi của cả nước hân hoan chào mừng
                                    Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,
                                             sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
                                 Thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - một tất yếu lịch sử
                        
     Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận cờ và mệnh lệnh chiến đấu trước giờ xuất kích tại cuộc Tổng tiến    công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu  
       Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979). Đây là cuộc chiến giữa hai bên, một bên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam cùng một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines tham chiến trực tiếp; một bên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại miền Nam Việt Nam phối hợp cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được sự viện trợ vũ khí và chuyên gia từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Tại Việt Nam, truyền thông đại chúng dùng tên Kháng chiến chống Mỹ hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc chiến tranh này, cũng là để phân biệt với các cuộc kháng chiến khác đã xảy ra ở Việt Nam như chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung Quốc. Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam khẳng định rằng bản chất của cuộc chiến là kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Hoa Kỳ cũng như mô tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một chính thể tay sai của các thế lực ngoại bang.Các nguồn tài liệu chính thống còn khẳng định rằng đó không phải là một cuộc nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm hoặc là chiến tranh vì ý thức hệ mà là kháng chiến giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tuyên bố: 
      "Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi..Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” 
      Ngoại trưởng Xuân Thủy, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
Ngày 20-09-1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
        "Sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ...Nước Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ". 
Tên gọi ít được sử dụng hơn là Chiến tranh Đông Dương lần 2, được dùng để phân biệt với Chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-1955), Chiến tranh Đông Dương lần 3 (1975-1989, gồm 3 cuộc xung đột ở Campuchia và biên giới phía Bắc Việt Nam).
Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau: Người Mỹ thường quan niệm "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi họ trực tiếp tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965 đến 1975). Nhưng quan điểm chung và chính thống hiện nay của chính phủ Việt Nam vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 hoặc 1955 đến 1975, vì theo họ nguồn gốc của chiến tranh bắt nguồn từ các kế hoạch can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vốn bắt đầu diễn ra ngay từ năm 1954 (ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, năm kết thúc chiến tranh Đông Dương). Theo tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Chiến tranh Việt Nam được Mỹ coi là bắt đầu từ ngày 1/11/1955 khi Nhóm chuyên gia hỗ trợ quân sự Mỹ (U.S. Military Assistance Advisory Group - MAAG) tại Việt Nam được thành lập.
Từ năm 1943, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á nhằm chống lại quân Nhật đóng ở đây. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho Hoa Kỳ, tuyên truyền chống Nhật. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập non trẻ của Việt Nam, nhưng không được hồi đáp vì Mỹ xem Hồ Chí Minh là "tay sai của Quốc tế cộng sản" nên phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Để thi hành chính sách chống Cộng, Hoa Kỳ lập ra nhiều tổ chức quân sự liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng thủ song phương và khu vực. Bên cạnh đó là một hệ thống căn cứ quân sự dày đặc để bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa. Tại những khu vực có tính địa chiến lược cao, Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự, thâm chí khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia (1954-1975), Cuba (1961), Dominica (1965). Mặc dù thất bại tại nhiều nơi đặc biệt là ở Việt Nam, Lào, Cuba nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách này nhưng với những hình thức khác. Từ thập niên 1980, Hoa Kỳ chuyển sang chính sách "Vượt lên ngăn chặn", có nghĩa là can thiệp trực tiếp vào nội bộ các nước Xã hội chủ nghĩa.
     Năm 1953, mỗi tháng, Mỹ viện trợ cho Pháp 20.000 tấn vũ khí và quân nhu mỗi tháng, sau đó Mỹ đồng ý tăng lên 100.000 tấn/tháng, đổi lại chính phủ Mỹ yêu cầu Pháp phải có kết quả cụ thể. Khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 78% chiến phí cho Pháp, thậm chí phi công Mỹ cũng tham gia chiến đấu cùng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ đâu kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Việc Mỹ trực tiếp tham chiến tại chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Thậm chí khi Điện Biên Phủ nguy cấp, Mỹ đã tính tới chuyện dùng bom nguyên tử để cứu nguy cho Pháp.
     Tuy nhiên công thức "Viện trợ Mỹ, viễn chinh Pháp, quân bản xứ" vẫn không cứu vãn được thất bại. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu tại Đông Dương.
     Trước khi Hiệp ước Genève được ký kết 6 tuần, ngày 4/6/1954, Pháp đã đàm phán với Quốc gia Việt Nam bản dự thảo Hiệp ước Matignon (1954), nếu được ký chính thức thì Quốc gia Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập khỏi Liên hiệp Pháp. Chính phủ này sẽ không còn bị ràng buộc bởi những hiệp ước do Pháp ký kết. Tuy nhiên, Hiệp ước Matignon (1954) chưa được Quốc hội Pháp và Tổng thống Pháp phê chuẩn. Bên cạnh đó, cũng có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp định Geneva, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng, tài chính, thương mại, kinh tế. Tuy nhiên, Hiệp ước Genève đã diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn thành. Quốc gia Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên hiệp Pháp và do đó vẫn phải tuân thủ những Hiệp định do Liên hiệp Pháp ký kết.
Tuy nhiên, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã từ chối ký và không công nhận Hiệp định Genève, đồng thời ra Tuyên bố Hiệp định Genève chứa "những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam" và "không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", bởi Bộ Tư lệnh Pháp đã "nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ" và "tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam". Tuyên bố cũng cho biết Quốc gia Việt Nam sẽ "tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở". Tuy nhiên, nhiều người cho rằng tuyên bố của Quốc gia Việt Nam là vô giá trị vì họ vẫn là một phần của Liên hiệp Pháp. Phái đoàn Hoa Kỳ cũng từ chối ký Hiệp định và tuyên bố không bị ràng buộc vào những quy định ấy, nhưng nói thêm nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với vấn đề tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, chính phủ Mỹ nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng". Theo Hồ Chí Minh, do Quốc gia Việt Nam vẫn chưa độc lập khỏi Liên hiệp Pháp nên không thể tham gia Hội nghị và ký kết Hiệp định với tư cách một quốc gia và Quốc gia Việt Nam vẫn phải chịu ràng buộc bởi những thỏa thuận giữa Việt Minh và Pháp. Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết chỉ vài ngày, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á.".
Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng đã giành thắng lợi sau cuộc chiến, tập kết về miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam cùng với quân đội Pháp tập kết về miền Nam, tập kết dân sự và chính trị theo nguyên tắc tự nguyện. Theo thống kê của Ủy ban Quốc tế Giám sát Đình chiến có 892.876 dân thường di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, trong khi 140.000 người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam.

    Chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Thủ tướng Ngô Đình Diệm đưa ra là "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông "nghi ngờ về việc có thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Khi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm còn ra nhiều tuyên bố công kích chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đáp lại những cáo buộc này, Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng: "Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.".
Ngay từ tháng 3/1961, khi Chủ tịch Quốc hội Pháp Jacques Chaban-Delmas có chuyến sang Mỹ, Thống chế Pháp Charles de Gaulle nhờ ông này nhắn lại với Tổng thống Mỹ “đừng để sa lầy trong vấn đề Việt Nam, ở đó Mỹ có thể mất cả lực lượng lẫn linh hồn của mình”. Ngày 31/5/1961, tiếp Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại Paris, Thống chế Pháp Charles de Gaulle cảnh báo:
“Người Pháp chúng tôi có kinh nghiệm về chuyện đó. Người Mỹ các ông trước đây [chỉ các tổng thống Mỹ tiền nhiệm] từng muốn thay chỗ chúng tôi ở Đông Dương. Và hôm nay ông muốn nối gót chúng tôi để nhen lại ngọn lửa chiến tranh mà chúng tôi đã kết thúc. Tôi xin báo trước cho ông biết: các ông sẽ từ từ sa vào vũng lầy quân sự và chính trị không đáy, bất chấp những tổn thất [nhân mạng] và chi tiêu [tiền của] mà các ông có thể phung phí ở đó".
Tháng 6-1961, Kennơđy nhận định: “Mỹ phải chứng tỏ quyền lực của chúng ta là đáng tin cậy và Việt Nam là chỗ thích hợp”. Khi G. Ball báo trước là ở Việt Nam có thể phải cần đến sự hiện diện của 300 ngàn quân Mỹ, Kennơđy cười mũi và nói thẳng: “Chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra”. Một năm sau, số quân Mỹ đã là 23 ngàn người và vẫn tiếp tục tăng!
 
Cuộc đấu tranh đầy đau thương nh7ng bất khuất và ngút trời căm thù của quâ dân ta trước bạo lực điên cuồng của Mỹ - ngụy
      12235015_520467038127317_1690254687215993364_n           
 
                 images 

Xác người dân Việt Nam chết xếp hàng dài
Những bức hình dưới đây có nhiều cảnh tang thương, ghê rợn, vì vậy bạn đọc cân nhắc trước khi xem chúng để tránh sợ hãi, mất ngủ...
07 tháng 2 năm 1966, tại Bong Son, những người tình nghi là VC bị bắt, và lính Mỹ đã giết tổng cộng 475 người trong trận càn này (© Bettmann/CORBIS)
Ngày 4 tháng 12 năm 1966, Sài Gòn, Hình ảnh các chiến sĩ VC hi sinh sắp nằm cạnh nhau trên mặt đất (ảnh Bettmann © / Corbis)
Chân dung người lính VC từ bắc vào nam, nằm lại chiến trường đưòng 13
Ngày 06 tháng 04 năm1972 tại Quảng Trị
Ngày 11/6/1967 một ngôi mộ tập thể lính VC bị giết và chôn tập thể (ảnh © Christian Simonpietri / Sygma / Corbis)


Ảnh chụp ngày 8/3/1965 tại một trận càn quét của Mỹ ở Đà Nẵng
Những các bạo hình, tra tấn kinh hoàng cứ ngõ trong địa ngục của lính VNCH
Một phụ nữ bị tình nghi là VC bị lính VNCH tra tấn năm 1965
Một người dân vô tội nằm chết bên đường năm 1972 tại Quảng Trị
Lính VNCH đánh một người bị tình nghi là quân Giải phóng trong tháng 10/1965. Ông là một trong 15 người bị bắt sau trận càn. Ảnh: AP
Sau khi lính Mỹ càn vào một ngôi làng cách Sài Gòn 72 km, ngày 12/9/1966, những người tình nghi sẽ được bàn giao cho quân đội của chính quyền Sài Gòn. Hai đứa bé cũng bị bịt mắt.

Một người anh hùng yêu nước bị đem ra sử tội
Hình ảnh tra tấn của an ninh Nam Việt Nam với một người đàn ông nghi là VC ngày19 tháng tư năm 1965 ảnh của Bettmann © / Corbis
Ảnh lưu tại Gettyimages, chụp năm 1963, có chú thích "Lính Nam Việt Nam (tuyển từ các tộc thiểu số người Thượng) đang chụp ảnh với những cái đầu Việt Cộng bị chặt"
Một cảnh lính VNCH tra tấn tù nhân.
Ngày 26 tháng 4 năm 1965, Bình Hưng, Nam Việt Nam --- Một du kích Việt Cộng bị giam trong lồng sắt sau khi bị bắt ngày 25 tháng 4. Tù nhân này bị bắt khi một lực lượng tuần tra bờ biển tiến hành một cuộc đột kích bất ngờ vào ngôi làng đánh cá nhỏ (Hình ảnh của Bettmann © / Corbis)
Bob kerrey nhân vật chủ chốt trong cuộc thảm sát kinh hoàng tại Thạnh Phong
Ngày 22/05/1964 một người lính VC bị lính VNCH tra tấn bằng cách buộc sau xe kéo lê trên đường đến chết (ảnh flashbak)

Bức ảnh Chiến tranh Việt Nam ghi lại hành động tàn ác của Mỹ được sử dụng làm bìa album cho ban nhạc rock San Diego
Ngày 12 tháng 12 năm 1965 “hatchet team” of B Company, 502nd Battalion, 101st Airborne Division, đã giết chết rất nhiều lính VC và treo đầu trong rừng (ảnh flashbak)





Cách tra tấn phổ biến của lính Mỹ, Ngụy đối với tù nhân VC (ảnh của washingtonpost)







30 Tháng 10 Năm 1965, Đà Nẵng, Việt Nam - Hình ảnh các chiến sĩ du kích bị lính Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ giết trong cuộc tấn công ngày 30 tháng 10 ở ngoại ô Đà Nẵng.
Cách đây 42 năm, sáng ngày 16/3/1968, tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã đồng loạt nã súng vào 504 thường dân vô tội, đa số họ là phụ nữ và trẻ em: 182 phụ nữ trong đó có 17 người mang thai, 173 trẻ em, 60 người già và 89 trung niên. Vụ thảm sát là một vết đen tội ác không thể xóa mà quân đội Mỹ đã gây ra cho nhân dân Việt Nam, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngay trên đất Mỹ và trên toàn thế giới. Tại buổi lễ, 504 tiếng chuông được ngân lên tưởng niệm 504 đồng bào bị thảm sát.
                      Ngày 8-6-1972: Nick Út chụp bức ảnh “Em bé Napalm”
Ngày 8/6/1972, em Phạm Thị Kim Phúc, 9 tuổi vô cùng đau đớn vừa chạy vừa la hét trong tình trạng bị cháy bởi bom napal của máy bay giặc Mỹ ném xuống một làng quê của huyện Trảng Bàng Tây Ninh.
Bức ảnh do Nick Út (một người Mỹ gốc Việt) chụp đã gây chấn động thế giới và ông được giải thưởng Pulitzer.
 
Chính thể Việt Nam Cộng Hòa là một quái thai của mẹ Pháp, bố Mỹ và mang hồn ma triều đình Huế. Chính khách Việt Nam Cộng Hòa là một đám vụ lợi tầm thường thích xa lông, thèm xôi thịt. Tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa là một lũ đầu gấu tứ xứ mò về, coi nghiệp binh là một nghề kiếm chác danh lợi từ bảo kê, trộm cướp đến buôn lậu, chống cộng chỉ vì bổng lộc cho nên luôn xâu xé nhau, luôn tranh quyền đoạt lợi của nhau và sẵn sàng lật thầy, phản chủ.
       Là con đẻ của bố Mỹ, sống được là nhờ bố Mỹ nhưng Ngô Đình Diệm “càng lớn” càng tỏ ra bướng bỉnh, ngỗ ngược, không chịu vâng lời bố, khờ khạo muốn làm “chí sĩ”, đòi cái “gia đình trị” của mình được độc lập, tự do. Thế là Mỹ bật đèn xanh cho đám lau nhau “Hội đồng tướng lĩnh” ngụy lật đổ. Sẵn máu côn đồ, chúng giết luôn Diệm và Nhu (Ngô Đình Nhu, em ruột Diệm, đóng vai “cố vấn” nhưng có quyền lực át cả Diệm) bằng đâm dao và bắn súng nát bấy thân thể một cách đê hèn, không qua xét xử. Riêng “lãnh chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn (em ruột Diệm - Nhu) thì “được” xử bắn và  nghe nói không chịu nhả 6 triệu đôla gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ để đổi lấy chuyến bay Dakota thoát thân sang Singapo (khi nghe đến người ra giá này, Cẩn đã thốt lên: “Chết tao rồi!”).
Chính quyền Sài Gòn thời hậu Diệm - Nhu, bị giới quân sự khống chế, lũng đoạn. Các tướng lĩnh gài bẫy đạp đá nhau liên miên để tranh giành chức quyền với mục đích duy nhất là đục khoét, trộm cướp, kiếm chác càng nhiều danh lợi cho bản thân càng tốt.
Với một chính quyền như vậy thì lực lượng vũ trang của nó cũng chẳng ra gì. Thực tế chiến trường cho thấy cái chiến lược “chiến tranh đặc biệt”: bộ binh ngụy + cố vấn và hỏa lực Mỹ đã nhanh chóng phá sản vì không đương đầu nổi với Quân giải phóng.
Ba tuần sau cái chết của Diệm, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Kennơđy cũng bị bắn chết kiểu găngxtơ. Việc điều hành chiến tranh ở Việt Nam chuyển sang tay Giônsơn (Johnson). Giônsơn thổ lộ: “Mất cái xã hội vĩ đại là một ý nghĩ đáng sợ, nhưng còn chưa đáng sợ bằng ý nghĩ phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến tranh với cộng sản, không còn gì tồi tệ hơn điều đó”.
Mắc Namara được cử đến Sài Gòn để nhận định tình hình tại chỗ, quan sát thấy sự bệ rạc của chính quyền Sài Gòn, đã báo cáo với Giônsơn: “Không lật ngược được tình hình, cừ đà này thì hai ba tháng tới, khá lắm cũng sẽ là chính phủ trung lập, điều chắc chắn hơn là một quốc gia do cộng sản kiểm soát ở Sài Gòn”. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đòi phải dùng biện pháp mạnh, đột kích bằng không quân ra miền Bắc - Việt Nam, trinh sát cả Lào và Cămpuchia, Mỹ cần phải nắm lấy quyền chủ động điều hành cuộc chiến tranh. Đây chính là bước đi khởi đầu của chiến lược “chiến tranh cục bộ” - quân Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Trong bài “Lực lượng đặc nhiệm trong hành động ở ngoài khơi Việt Nam”, W.Cagle viết: “Để gìn giữ Việt Nam, chiến lược quân sự của Mỹ có hai mục tiêu liên kết với nhau: tiến hành một chiến lược bằng bộ binh và không quân đánh bại đối phương ngay ở Nam - Việt Nam hoặc buộc họ phải rút quân, còn ở bên ngoài thì dùng không quân và hải quân tiến công Bắc - Việt Nam để buộc họ phải đình chỉ xâm lược”. Thực tế cho thấy Nhà Trắng đã quyết tâm để theo hướng này vì sau khi đã tạo ra cái cớ “Vịnh Bắc Bộ” và ra đòn trả đũa ngày 5-8-1964, thì ngày 7-2-1965, Tổng thống Giônsơn đã quyết định bắt đầu chiến dịch “Sấm rền”, ném bom bắn phá Bắc - Việt Nam kéo dài suốt 37 tháng, theo kiểu leo thang.
     Theo Stanley Karnow, nhà báo Mỹ, có mặt tại Việt nam từ năm 1959, thì vào tháng 6-1964, Mỹ đã có dự thảo nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ”. Sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” là do Mỹ cố tạo dựng nên, lừa dối dư luận Mỹ (rằng là ngày 2-8-1964 xảy ra đụng độ giữa 3 tàu phóng lôi Bắc  - Việt Nam và tàu chiến Maddox của Mỹ; 8 giờ tối 4-8, thuyền trưởng Kerrick có cảm giác (!) là tàu mình lại bị tiến công nhưng không quan sát thấy gì…), để có cớ phát động cuộc bắn phá miền Bắc - Việt Nam bằng không quân. Trong khi Herrick còn chưa biết “mô, tê” ra sao thì cũng là đủ cho phát ngôn viên Lầu Năm Góc khẳng định về “một cuộc tiến công có dự liệu đã xảy ra” và ở Mỹ, trước nửa đêm 4-8-1964, Giônsơn đã trịnh trọng thông báo trước ống kính truyền hình là “đòn trả miếng đang xảy ra trong lúc tôi đang nói với người Mỹ”. Ở Bắc - Việt Nam trong ngày 5-8-1964 đã có 64 lần chiếc máy bay Mỹ xuất kích đánh vào 4 căn cứ hải quân và 1 kho dầu.
 
                           tnb-26659-01-1690365462.jpg
  Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Mỹ hà hơi, tiếp sức cho Ngô Đình Diệm xây dựng miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ, ngụy tiến hành chiến lược “chiến tranh một phía”, đổ tiền, của xây dựng chính quyền và ngụy quân và tìm diệt các cơ sở cách mạng, phá hoại Hiệp định Geneva. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt đầu. Trong ảnh, bộ đội địa phương tiến công trận Núi Thành, ngày 28/5/1965.
                       
         Dân quân tải đạn, phục vụ chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.                              

                                                 
Nữ dân quân Nguyễn Thị Kim Lai xã Hương Phong, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) bắt sống phi công Rôbíncơn, ngày 20/9/1965.
Năm 1966 bức ảnh O du kích nhỏ được trưng bày trong Triển lãm ảnh toàn quốc và lập tức gây được tiếng vang lớn. Khi xem bức ảnh này, Nhà thơ Tố Hữu đã nảy ra những câu thơ hay, có thể coi là mẫu mực của loại thơ "xem ảnh đề thơ" hoặc là "vịnh ảnh" và bình bức ảnh bằng bốn câu thơ:
  
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai).
                      Các chiến sĩ Thanh niên xung phong Tiểu đội 2, Đại đội 317 Truông Bồn san lấp hố bom. (Ảnh: Báo Nghệ An)
      Với khẩu lệnh “Địch phá ta cứ đi”, các con đường ngày càng dài thêm, quân đi như nước chảy, các kho quân lương dọc đường đầy ắp, đủ tiếp tế cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Cầu Đoan Vĩ trên đường số 1 bị đánh sập. Các chiến sĩ Thanh niên xung phong Tiểu đội 2, Đại đội 317 Truông Bồn san lấp hố bom. (Ảnh: Báo Nghệ An)
                        Không có mô tả ảnh.
Vào một đêm tháng 6/1966 tại cầu Gián Khuốt đoạn qua sông Đáy trên quốc lộ 1A, chị Nguyễn Thị Phúc - đội viên Đại đội TNXP 193 Nam Hà đang chỉ đường cho đoàn xe qua cầu phao trong đêm, bất ngờ một loạt bom nổ giữa đầu cầu và cô bị cưa cụt một cẳng chân. Không kịp cấp cứu, máu ra nhiều, cô gái đã hy sinh. Ngay đêm sau, nhiều đội viên nữ trong đơn vị đã tranh nhau làm nhiệm vụ thay chị Phúc. Tấm ảnh mang tên “Đường ra tiền phương” vẫn sống mãi trên các trang báo, tạp chí mãi tới nay.

Tại Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo.
     Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận với Trung Quốc đưa một bộ phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở một số vị trí quan trọng như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1, nhưng không được vượt quá phía nam Hà Nội. Sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6 năm 1965. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải. Lực lượng này không được phép tham chiến mà chỉ để giúp Việt Nam sửa chữa cầu, đường bị bom Mỹ phá. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải thích quân Trung Quốc sang Việt Nam do lo ngại việc Mỹ có thể đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Ông Barry Zorthian, phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, cho biết Mỹ không mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam vì sợ Trung Quốc sẽ tham chiến. Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc" thì khẳng định mục tiêu của Trung Quốc "thâm hiểm" hơn: đó là tạo tiếng tốt "viện trợ Việt Nam", tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô; cũng là để gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng viện trợ khối xã hội chủ nghĩa quá cảnh Trung Quốc nhằm hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, qua đó khiến Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Trung Quốc ngoài mặt muốn giúp Việt Nam tu sửa thiệt hại do không quân Mỹ, nhưng năm 1968 họ lại khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu (năm 1965) còn có sự tham chiến của các binh lính, sĩ quan tên lửa Liên Xô trực tiếp tác chiến đồng thời huấn luyện binh sĩ Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa phòng không và đội đặc nhiệm GRU thuộc Tổng cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Việt Nam và tham gia thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.
                         Hang thong tan AP to chuc trien lam anh ve chien tranh Viet Nam
   Thượng sỹ không quân Lyle Goodin vác thi thể của một phụ nữ lớn tuổi, người bán hàng rong ở góc phố gần đó, khi một trái bom nổ trong chiếc xe ô tô đỗ trên đường Hàm Nghi gần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ngày 30/3/1965.
                                     Hang thong tan AP to chuc trien lam anh ve chien tranh Viet Nam
Một người lính Mỹ đội mũ có khẩu hiệu viết bằng tay trên mũ (Chiến tranh là địa ngục) (tháng 6/1965) . Người lính này phục vụ trong Lữ đoàn Kỵ binh 173 bảo vệ sân bay Phước Vĩnh.
                       Hang thong tan AP to chuc trien lam anh ve chien tranh Viet Nam
 Lính Việt Nam Cộng hòa tự chăm sóc vết thương sau khi chiến đấu căng thẳng với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cheo Reo đầu tháng 7/1965.
                                       Hang thong tan AP to chuc trien lam anh ve chien tranh Viet Nam
 Ngày 3/9/1965, một người lính Việt Nam Cộng hòa quỳ xuống gần dãy bao bố đựng xác đồng đội ở bờ ruộng tại đảo Tân Định ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sau hai ngày tuần tra mà không tìm được địch, đơn vị này bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bao vây tấn công. Sau đó máy bay trực thăng Mỹ nhầm lính Việt Nam Cộng hòa là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nên đã xả súng vào đơn vị này. Những lính bị chết sau đó được máy bay trực thăng thu nhặt.

Lính cứu thương Thomas Cole chỉ còn một mắt không bị băng tiếp tục chữa trị cho Thượng sỹ Harrison Pell trong một trận giao tranh ngày 30/1/1966. Bức ảnh này được đăng trang bìa tạp chí Life ngày 11/2/1966 và những bức ảnh của Henry Huet về trận đánh ở An Thi giành được giải Vàng Robert Capa từ Câu lạc bộ Báo chí nước ngoài.

                                Không có mô tả ảnh.

  Một lính Thủy quân lục chiến Mỹ đang cố cứu sống một đồng đội bị thương nặng gần khu phi quân sự (DMZ) giữa tháng 9/1966. Một số Thủy quân lục chiến bị chết khi Đại đội Tiên phong Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Thủy quân lục chiến số 26 bị tấn công trên một quốc lộ cách khu phi quân sự khoảng 1,6 km về phía Nam. Người lính Thủy quân Lục chiến bị thương này sau đó đã chết
                        
Khi những người lính khác đang trợ giúp đồng đội bị thương, một người lính dù của Đại đội A, Sư đoàn Không vận 101 chỉ dẫn một máy bay trực thăng cứu thương qua khu rừng để đón những lính bị thương trong cuộc tuần tra kéo dài 5 ngày gần Huế vào tháng 4/1968.
 
 Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, phụ nữ đóng một vai trò quan trọng đem lại thành công cho những cuộc chiến thần thánh. Đã có biết bao phụ nữ tham gia kháng chiến với câu khẩu hiệu đã trở nên rất quen thuộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, “đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng”, hay “còn cái lai quần cũng đánh”.
     Phụ nữ đã tham gia chiến đấu trong tất cả những cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam. Rất nhiều những cuốn sách đã từng được các tác giả người nước ngoài viết, trong đó phân tích về những chiến tranh tại Việt Nam, lý do tại sao một dân tộc bé nhỏ lại có thể chiến thắng một cường quốc lớn trên thế giới. Trong đó, cuốn sách Vietnamese Women At War của tác giả Sandra Taylor đã khai thác cuộc chiến từ một khía cạnh rất khác. Bà sang Việt Nam, thực hiện những cuộc phỏng vấn với các nữ du kích, nữ thanh niên xung phong, nữ tình báo… để có thể lý giải được nguồn động lực to lớn nào đã đem lại cho họ sức mạnh kỳ diệu tới vậy, những trải nghiệm của về cuộc chiến ra sao. Có thể nói chưa một đất nước dân tộc nào có lối đánh du kích tài tình như Việt Nam và mỗi người dân đều có thể trở thành chiến sĩ.
Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm nên trong nhiều gia đình, đàn ông luôn vắng bóng vì họ phải ra chiến trường chiến đấu còn phụ nữ ở nhà cũng tham gia vào những đội du kích, tự vệ địa phương, có những người tham gia vào lực lượng thanh niên xung phong ngoài mặt trận thậm chí tham gia vào lực lượng tình báo, biệt kích. Bằng mọi cách phụ nữ đã đóng góp sức mình cho cuộc chiến thần thánh của dân tộc.

                                                   








Dáng đi thất thểu, ngủ gục ngay trên đống đổ nát, nét mặt mệt mỏi, đau đớn... là những hình ảnh thường gặp ở lính Mỹ sau những trận chiến tại chiến trường Việt Nam.
 
  William J. Duiker, tác giả của cuốn sách Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (Tạm dịch: Cuộc chiến thần thánh - Chủ nghĩa dân tộc và cuộc cách mạng ở hai miền Việt Nam) từng nói ông vô cùng ấn tượng với những người phụ nữ Việt Nam, họ là những người đã góp phần xây dựng nên trận địa pháo Điện Biên Phủ, đào nên địa đạo Củ Chi, họ là những anh hùng thầm lặng trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc.
    Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách tổng hợp các truyện ngắn viết về người Việt Nam di cư từng giành giải Pulitzer - A Good Scent from a Strange Mountain (Tạm dịch: Mùi hương trên núi lạ) chia sẻ: “Tất cả lính Mỹ đều có nhận định rằng phụ nữ ở Việt Nam trong chiến đấu dũng cảm và ngoan cường không kém gì nam giới. Trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng thần thánh của Việt Nam trước một lực lượng quân đội hùng mạnh như Mỹ, có một mảnh ghép vô cùng quan trọng, đó là nhờ có sự tham gia của phụ nữ. Họ là một trong những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua”.
Le Ly Hayslip, một nữ nhà văn gốc Việt nhận định: “Phụ nữ Việt Nam không phải là những nạn nhân chiến tranh mà vượt lên trên hoàn cảnh, họ đã tham gia trực tiếp và chủ động vào cuộc chiến, trở thành những người chiến thắng và viết tiếp những trang sử về truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc.”
     Cuộc sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và bệnh tật.
    Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam. Các tổ chức quần chúng trên có vai trò nhất định trong việc giữ vững tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên nhập ngũ. Các nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cùng xây dựng một cố gắng tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống nhất và quy củ". Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc rất cao, họ vẫn có thể chấp nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
     86457739_116855729881574_1715681749322694656_n
Người cha ôm thi thể con nhìn lên chiếc xe bọc thép chở lính Việt Nam Cộng hòa. Đứa bé thiệt mạng khi quân Việt Nam Cộng hoà tấn công du kích trong một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh chụp ngày 19/3/1964.
                                        85105677_116855639881583_375554710616145920_n
Lính Việt Nam Cộng hoà dùng chuôi dao găm đánh một nông dân vì đã cung cấp thông tin không chính xác về hoạt động của du kích ở một ngôi làng ở phía Tây Sài Gòn. Ảnh chụp ngà
 
                           85190874_116854863214994_5095925082627244032_n

Một phi công Mỹ quan sát máy bay ném bom napalm oanh tạc các địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Mục đích của những cuộc ném bom là nhằm làm rụng lá, chết cây để dễ dàng phát hiện ra đối phương trong rừng sâu.

                         85254221_116854646548349_2952377540225794048_n

Bác sĩ Joseph Wolfe (ở giữa bức ảnh) điều trị cho một binh sĩ bị thương tại một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất thuộc căn cứ hải quân Mỹ đóng tại Khe Sanh hồi tháng 3/1968.

                           86415466_116855506548263_5912786188258770944_n 
                                        Hai cha con bị nghi là "Việt cộng" bị dẫn về trụ sở                             

                                        .86502410_116854386548375_3112784819155632128_n 

                                     Mặc dù bị thương đến mức phải băng kín một mắt nhưng binh sĩ Thomas Cole vẫn giúp đỡ đồng đội mình là trung sĩ Harrison Pell.

                            86871685_116855416548272_2203179830411788288_n

Binh lính Sài Gòn thực hiện cuộc đổ bộ quy mô lớn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đặt một số thiết bị trên thuyền. Họ băng qua những cánh đồng ngập nước, có nơi nước sâu ngập đến nửa người để tìm diệt những chiến sĩ Giải phóng

Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/2966.

Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của Quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/1966.

 

                                    Binh sĩ thuộc Tiểu Đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966. 
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.
 
Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng 7/1963.

Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng 7/1963.

Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

.
Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.

 

                                
Lính Mỹ lau nước mắt khi quỳ bên cạnh thi thể của đồng đội được bọc trong vải pon-sô sau cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu phi quân sự. Ảnh chụp ngày 18/6/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu Đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.

Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh chụp ngày 9/1/1966.


Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hội sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.

Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hối sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.

 

Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rửng Việt Nam trong lễ tưởng niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh chụp ngày 9/10/1965.

Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rừng Việt Nam trong lễ tưởng niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh chụp ngày 9/10/1965.

Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi thể của lính Mỹ và Việt Nam tại đồn điền cao su Michelin, cách Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.

Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi thể của lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại đồn điền cao su Michelin, cách Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.

 

 
Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt, Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang). Ngoài ra những người cộng sản cũng tiếp tục đánh phá cơ cấu hành chính của Việt Nam Cộng hòa. Tính đến năm 1963 lực lượng du kích đã ám sát 6.700 người và thực hiện 18.200 vụ bắt cóc. Quân đội Việt Nam Cộng hòa trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Trong các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rất nhiều chiến thắng tại các địa bàn khác: Ba Gia, An Lão, Võ Su... Một số nghị sĩ Mỹ khuyên Giônsơn: “Sớm tìm đường ra khỏi Việt Nam, nơi đáng lẽ chúng ta không nên có mặt”. Nhưng giữa trưa ngày 28-7-1965, Giônsơn phát biểu trên đài truyền hình: “Chúng ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của Óetmolen (Westmoreland). Chúng ta không thể bị đánh bại bằng vũ khí. Chúng ta sẽ trụ lại ở Việt Nam”. Cùng ngày hôm đó, Giônsơn đã thông báo quyết định tăng thêm 44 tiểu đoàn chiến đấu ở Việt Nam.

Giai đoạn 1965-1968 là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam, được gọi với cái tên Chiến tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm quét sạch lực lượng Quân Giải phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến tranh trong phạm vi Việt Nam, không để nó lan ra ngoài vòng kiểm soát, đụng chạm đến khối Xã hội Chủ nghĩa để có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh như Chiến tranh Triều Tiên. Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng họ đã thất bại trong mục tiêu đánh bại lực lượng Quân Giải phóng. Các đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm viện trợ giúp nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam để các cường quốc này vươn lên giành vị thế đứng đầu thế giới.

              Chuỗi ngày “địa ngục” của lính Mỹ ở Việt Nam:

 

 

 

 

 

 

Một lính thủy đánh bộ Mỹ lội trong bùn lầy. Những bức ảnh chỉ được công bố lần đầ

5 năm sau khi được chụp, tháng 2/1971.

 

Được sự hộ tống của xe tăng và chiến đấu cơ trong khu rừng khô phía trước, lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn số 2, Hạm đội 5, bắt đầu tấn công.

 

4 lính thủy quân lục chiến Mỹ bê xác người đồng đội sau khi đơn vị của họ trúng đạn gần đồi 484. Bên phải là phóng viên ảnh người Pháp Catherine Leroy (1945 – 2006), cô đã bị cắt ra ngoài bức ảnh khi đăng trên tờ LIFE hồi đó.

 

 

Hình ảnh tiêu biểu của những lính thủy đánh bộ Mỹ trong những ngày này là dầm mình trong bùn đất, xung quanh là cây cối lởm chởm vì đạn pháo và súng trường. Binh lính bị thương, băng bó, mũ sắt, áo jacket dính máu... ở khắp chiến trường, nơi cách xa nhà họ hàng nghìn dặm.

 

 

Một lính Mỹ bị thương sau cuộc càn quét trên cánh đồng. Bức ảnh này không được công bố trong phóng sự gốc của LIFE.

 

 

Đội quân mệt mỏi của Mỹ sau trận đánh tại khu vực phía nam khu phi quân sự DMZ.

 

 

Một lính Mỹ khác bị thương băng bó kín mít.

 

Các lính Mỹ ăn đồ hộp trong giờ nghỉ ngơi giữa trận chiến.

  

                
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  Một lính Mỹ được phát bánh thánh khi tạm yên tiếng súng một ngày tháng 10/1966.

Theo tuyên bố của chính phủ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công quân sự là trái với Hiệp định Genève, và chính phủ Mỹ tuyên bố lý do việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam là để bảo vệ Việt Nam Cộng hòa theo những điều khoản của Hiệp ước SEATO do Việt Nam Cộng hòa được đặt dưới sự bảo hộ quân sự của SEATO. Tổng thống Mỹ có quyền đưa quân trợ giúp Việt Nam Cộng hòa theo quy định của Hiến pháp Mỹ và theo Hiệp ước SEATO đã được Thượng viện Mỹ chấp thuận. Hơn nữa Quốc hội Mỹ đã ban hành nghị quyết ngày 10/8/1964 cho phép quân đội Mỹ được hoạt động tại Việt Nam và ủng hộ những hành động của Tổng thống Mỹ đối với Việt Nam. Chính vì thế Tổng thống Mỹ có quyền điều quân đến Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh của Quốc hội Mỹ. (sau này, để tránh việc tổng thống Mỹ lạm dụng đưa quân ra nước ngoài theo ý bản thân, luật này được sửa lại và việc đưa quân nhất thiết phải được Quốc hội Mỹ thông qua). 

Do vậy, nhiều nhà sử học coi 2 cuộc chiến thực chất chỉ là 1 và gọi đó là "Cuộc chiến mười ngàn ngày", giai đoạn hòa bình 1955-1959 thực chất chỉ là chặng nghỉ tạm thời. Theo Daniel Ellsberg, ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: Ban đầu là Pháp và Mỹ, sau đó Mỹ nắm hoàn toàn. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - dù không phải là tất cả người Việt - nhưng cũng đủ để duy trì cuộc chiến đấu chống lại vũ khí, cố vấn cho tới quân viễn chinh của Mỹ. Theo Alfred McCoy, nhìn lại những chính sách của Mỹ sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, những tài liệu Ngũ Giác Đài đã kết luận rằng "Nam Việt Nam về cơ bản là một sáng tạo của Hoa Kỳ": "Không có Mỹ hỗ trợ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956. Không có Mỹ đe dọa can thiệp, Nam Việt Nam không thể từ chối thậm chí cả việc thảo luận về cuộc Tổng tuyển cử năm 1956 theo Hiệp định Geneva mà không bị lực lượng vũ trang của Việt Minh lật đổ. Không có viện trợ Mỹ trong những năm tiếp theo thì chế độ Diệm và nền độc lập của Nam Việt Nam hầu như cũng không thể nào tồn tại được.".  
Tháng 9 năm 1960, sau khi đấu tranh chính trị hoà bình để thống nhất đất nước theo tinh thần của Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève không có kết quả, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ các hoạt động đấu tranh vũ trang và chính trị của lực lượng Việt Minh miền Nam. Đến thời điểm này, sự căng thẳng của lực lượng Việt Minh ở miền Nam đã lên đến mức mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ủng hộ đấu tranh vũ trang ở phía Nam vĩ tuyến 17. Hội nghị Trung ương Đảng Lao động lần thứ 15 (tháng 1-1959) quyết định: "Phải qua con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực, mà cụ thể là dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ và tập đoàn quân sự tay sai của Mỹ.".
Như vậy năm 1960 trở thành một năm có biến động lớn, mở ra một giai đoạn mới của Chiến tranh Việt Nam. Các nỗ lực đàm phán chính trị nhằm thống nhất Việt Nam đã không có kết quả, từ nay đấu tranh vũ trang sẽ là phương hướng chủ yếu.
Chính phủ Ngô Đình Diệm nhanh chóng thanh lọc bộ máy cầm quyền, đưa những người trung thành với ông vào các vị trí quan trọng. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, lúc đó mang biểu hiện của hình thức tập quyền, chính trị của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các đặc tính cá nhân của Ngô Đình Diệm và gia đình ông. Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cấp tốc trang bị và huấn luyện với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, vào thời điểm đó xét về trang bị được xem là đứng đầu khu vực Đông Nam Á, vượt trội hơn Quân đội Nhân dân Việt Nam - đang là đối thủ tiềm tàng ở miền Bắc.
Đánh giá về chế độ Việt Nam Cộng hòa, giáo sư Mỹ Noam Chomsky đã nói rằng: "Chính phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ. Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp". Ngay cả Lầu Năm Góc cũng nhận xét: "Không có Mỹ giúp đỡ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956... Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ".
Đầu năm 1961, Tổng thống Mỹ John F Kennedy ký lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam”, với mục đích phá hoại miền Bắc Việt Nam. Chiến dịch này nằm dưới sự chỉ đạo của CIA, sau được Lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đã đề ra các biện pháp chủ yếu là sử dụng lực lượng đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa (gián điệp biệt kích) còn gọi là “Liên đội quan sát số 1”, gồm phần đông là lính Việt Nam Cộng hòa có gốc là dân miền Bắc di cư. CIA và lực lượng đặc biệt Mỹ trực tiếp chỉ đạo, huấn luyện, trang bị để các nhóm biệt kích này đột nhập vào phá hoại miền Bắc, hình thức chủ yếu là sử dụng các tiểu đội biệt kích dù.
Đến năm 1968 thì các chiến dịch này dừng lại do đã thất bại nặng nề: gần 500 lính biệt kích bị tử trận, bị bắt hoặc trở thành điệp viên hai mang, trong khi gần như không gây thiệt hại được gì cho đối phương. Riêng ngành công an Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với 19 chuyên án đã câu nhử, bắt sống hoặc tiêu diệt được 121 lính biệt kích. Các đội biệt kích phần lớn bị bắt ngay sau khi nhảy dù, một số thoát được nhưng không bao lâu cũng bị bắt do bị dân địa phương chỉ điểm cho công an truy bắt. Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara và cựu Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Westmoreland, đã bị chỉ trích nặng nề vì chiến dịch trên. Chương trình này được giữ kín suốt nhiều năm, về sau được tiết lộ trong cuốn sách của Sedgwick Tourison nhan đề "Secret Army, Secret War: Washington's Tragic Spy Operation in North Vietnam" (Naval Institute Special Warfare) viết tháng 9 năm 1995.
Từ năm 1960, với chủ trương "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội" của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, quân Giải phóng ở chiến trường miền Nam phát động liên tiếp các đợt tiến công quy mô kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang mà cao trào là phong trào Đồng khởi. Phong trào này gây cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự, dẫn đến một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát (cuối năm 1960). Tới cuối năm 1960, quân Giải phóng Miền nam đã kiểm soát 600/1298 xã ở Nam Bộ, 904/3829 thôn ở đồng bằng ven biển Trung bộ và 320/5721 thôn ở Tây Nguyên. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, quân Giải phóng đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã.
Đứng trước tình hình trên, tướng Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam để hỗ trợ gấp cho Việt Nam Cộng hòa. Kế hoạch Staley-Taylor (hay chiến tranh đặc biệt) với việc sử dụng chủ yếu quân lực Việt Nam Cộng hòa đã được trang bị bằng vũ khí tối tân do Mỹ cung cấp và thực hiện các kế hoạch quân sự do cố vấn Mỹ hoạch định. Nhà nước Hoa Kỳ cũng tăng thêm nguồn viện trợ kinh tế cho chính phủ Ngô Đình Diệm nhằm tăng quân số và tiêu dùng cho các chi phí quân sự. Với khả năng cơ động cao, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giành được những thắng lợi nhất định. Đồng thời, chính phủ Việt Nam Cộng hòa thắt chặt chính sách Ấp chiến lược nhằm cách ly quân Giải phóng với dân chúng. 
Ngay từ tháng 4-1961, tổng thống Mỹ lúc đó là Kennơđy đã cho chuẩn bị một chương trình toàn diện nhằm chống lại sự “thống trị” của cộng sản ở Việt Nam; đưa quân đội Việt Nam Cộng Hòa (quân Ngụy) từ 150 ngàn lên 170 ngàn người, số cố vấn Mỹ từ 700 lên 800 người. Thực tế sau đó, số cố vấn Mỹ đã tăng đến hơn 3 ngàn và phi công Mỹ đã bay chiến đấu.   - Sau trận đánh hủy diệt khiến 420 binh lính Hàn Quốc thiệt mạng, 6 tên còn sống sót ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.    Trước năm 1965 chính phủ Đại Hàn Dân Quốc đã gửi các đơn vị quân y và các võ sư sang tham gia vào các hoạt động giao lưu với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhằm dọn đường cho việc tham gia chính thức vào chiến trường Việt Nam sau này. Từ năm 1965 trở đi lần lượt các đơn vị chiến đấu của Đại Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham chiến. Đó là Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng quân ở Qui Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh “Bạch Mã” đóng ở Phú Yên, Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội An.
So với lực lượng giải phóng quân của ta thì quân Hàn Quốc được huấn luyện rất bài bản và được chọn lựa kỹ càng. Chúng rất thành thạo về các chiến thuật “phản” du kích, kỹ chiến thuật điêu luyện. Được huấn luyện đào tạo theo các giáo trình huấn luyện biệt kích của Mỹ, chúng rất gan lỳ và được đầu độc nặng nề về lòng căm thù chế độ Cộng sản. Ngoài ra ngay cả người Mỹ cũng phải kính nể về trình độ võ thuật của lính Hàn Quốc. Tiêu chuẩn của binh lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải có trình độ cao đăng môn Teakwon-do hoặc Happkido truyền thống của Đại Hàn.
Lính Hàn Quốc có thể độc lập tác chiến và tự tìm cách duy trì sự sống trong rừng sâu khi bị lạc đơn vị trong chiến đấu một thời gian tương đối lâu. Chúng nghiên cứu quy luật chiến đấu và hoạt động của du kích ta rất kỹ lưỡng và đối phó khá hiệu quả trong thời gian đầu. Chúng tổ chức các đợt càn quét lớn và rộng, đêm đêm chia quân đi phục kích các vị trí nghi ngờ với sự kiên trì và tính kỷ luật cao độ. Khi đi càn chúng luôn luôn đi đầu, trực thăng Mỹ và pháo binh yểm trợ trên đầu và bộ binh Mỹ ủng hộ vòng ngoài.
Quân Hàn Quốc hoạt động gần như là độc lập với quân VNCH và không tin tưởng vào đồng minh trong vấn đề tác chiến. Chúng sẵn sàng nổ súng tiêu diệt mà không cần bắn cảnh cáo khi có một dân vệ VNCH đi lạc đường vào khu vực mà chúng chiếm giữ.
Quân ta gặp khá nhiều khó khăn và tổn thất khi đối đầu với lính Hàn Quốc. Chúng rất lỳ lợm trong việc phục kích và khủng bố dân trong các vùng chiếm đóng với cách thức hết sức dã man.
Quân đội Hàn Quốc gây ra rất nhiều tội ác man rợ, trời không dung đất không tha như giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn Sơn Tịnh Quảng Ngải với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng bố răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên bị quân ta tiêu diệt…
Tư lệnh miền đã nhận được rất nhiều thư tố cáo và yêu cầu trừng trị lũ giặc đánh thuê man rợ của chi hội phụ nữ và dân trong vùng bị chúng chiếm đóng. Quân ta đã tập trung lại và thề tiêt diệt bọn Đại Hàn để trả thù cho các chiến sĩ và đồng bào hy sinh vơi khẩu hiệu viết bằng máu: “Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu phải trả bằng máu, quyết trả thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam Triều Tiên sát hại”.
Các chiến sĩ ta và trận với quyết tâm cao cùng với vành khăn tang trắng quấn trên đầu để tưởng nhớ những đồng bào bị giặc sát hại. Và các hoạt động “Khai tử Rồng Xanh ” liên tục diễn ra.
Vào một ngày giữa năm 1966, như thường lệ lính Hàn Quốc lên trực thăng đi càn khá đông, chúng đổ bộ xuống một cánh đồng mà không biết đã có tiểu đoàn 48 quân giải phóng bố trí trận địa bao vây phục sẵn. Đợi bọn giặc vào thật gần cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch bị bất ngờ chống cự yếu ớt và tháo chạy tìm đường thoát thân. Quyết không để kẻ thù chạy thoát quân ta nhất loạt xung phong truy kích tiêu diệt địch. Cuối trận đánh địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, bỏ lại hơn 200 xác chết, chỉ có một số ít tháo chạy được.
Sau đó, nhiều đại đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gọn trong các trận bao vây và phục kích của ta. Địch bắt đầu hoang mang và chùn tay hơn khi đi càn quét.
Tuy nhiên, tinh thần của chúng chỉ gục ngã hẳn sau một trận đánh lớn, trận đánh giáng một đòn mạnh vào quân đội Hàn Quốc rung động đến cả Seoul và làm Tổng thống Park Chung Hee phải điên đầu. Đó là trận tấn công một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn “Rồng Xanh” nổi tiếng tàn ác khát máu đóng đóng tại đồi tranh Quang Thạnh tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1967.
Trận đánh này có ý nghĩa rất lớn, nó củng cố tinh thần cho quân giải phóng, làm hả lòng hả dạ đồng bào Quản Ngãi nơi quân giặc đã gây ra nhiều tội ác tày trời. Làm tan rã ý chí chiến đấu và sự hung hăng của quân Hàn Quốc đánh thuê. Đặc biệt, trận này không phải là ta phục kích đánh lẻ tẻ mà đánh tiêu diệt xoá xổ một lực lượng cỡ tiểu đoàn trong một căn cứ phòng ngự vững chắc được kết cấu bởi một hệ thống các công sự phòng ngự kèm các lô-cốt cố thủ bao quanh bởi một hệ thống dây kẽm gai gài mìn nhiều tầng được giám sát bảo vệ bởi các tốp lính đi tuần và canh gác cẩn mật.
Diễn biến trận Quang Thạnh ngày 15/2/1967
Tư lệnh miền đã cân nhắc rất kỹ các kế hoạch tấn công vào cứ điểm đồi tranh Quang Thạnh. Mục tiêu của ta đề ra là phối hợp các tiểu đoàn chiến đấu vận động bí mật tiếp cận mục tiêu theo hình thức đặc công. Đến nơi tạo 4 cửa mở ở bốn góc bằng cách gài bộc phá để phá đồng loạt các hàng rào dây kẽm gai sau đó đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt quân địch trong cứ điểm bằng AK, lựu đạn và súng phun lửa kết hợp với DKZ và B-40 ở bên ngoài. Yếu tố bất ngờ đóng vai trò chủ đạo và trận đánh phải sẽ diễn ra vào khoảng 10 giờ tối và phải kết thúc trước càng nhanh càng tốt trước khi trời sáng để đề phòng quân địch ở các căn cứ khác kéo đến tiếp viện và hạn chế hoả lực của phi pháo bắn tiếp cứu
Trận đánh bắt đầu đúng như kế hoạch, ta dùng 4 mũi tấn công bí mật tiếp cận từ các hướng, giữa các mũi tấn công luôn luôn đảm bảo liên lạc thông suốt với nhau và với ban chỉ huy trận đánh. Tuy nhiên do rải lộ tiêu không tốt mà một mũi tấn công bị lạc đường mất liên lạc và không đến vị trí tập kết được. Mặc dù chỉ còn ba mũi nhưng ta vẫn quyết định tấn công cứ điểm. Ta đã thành công trong việc bịt mắt bọn đi tuần và bọn gác bên ngoài. 3 mũi bí mật tiếp cận các cửa mở và đã đặt bộc phá xong, chỉ huy trận đánh ra lệnh đồng loạt phát hoả để mở các cửa.
Sau những tiếng nổ của bộc phá và DKZ, B-40 cùng lựu đạn. Quân ta nhất loạt xung phong đột phá qua các cửa mở dùng AK bắn xối xả vào các giao thông hào, các ụ phòng ngự có đặt trung liên, và các khu dã chiến cho lính ngủ nửa chìm nửa nổi. Bọn địch bị hoàn toàn bất ngờ , vòng ngoài nhanh chóng bị hoả lực của ta tiêu diệt. Số còn lại lùi vào bên trong vừa phản kích dữ dội vừa tìm cách tập trung lực lượng dựa vào các lô cốt phòng ngự. Nắm được ý đồ của địch, ta vừa tăng cường sức tiến công vừa bao vây chia cắt địch theo từng khu vực để tiêu diệt và gọi hàng.
Mặc dù sức tấn công của ta mạnh ở 3 mũi nhưng do thiếu một mũi tấn công thứ tư cho nên việc chia cắt cô lập địch thành các khu nhỏ để bao vây tiêu diệt triệt để trở nên khó khăn. Quân Hàn Quốc dựa vào các lô-cốt hầm ngầm điên cuồng chống cự bằng trung liên, nhất quyết không đầu hàng. Ta dùng súng phun lửa và lựu đạn tiêu diệt các ụ phòng ngự ngoan cố này.
Đến gần sáng, ta làm chủ phần lớn cứ điểm, căn cứ ngổn ngang xác địch. Do sơ hở, ta để một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ từ bên ngoài đánh vào tiếp cứu và chúng co cụm vào 2 lô-cốt kiên cố nhất ở trên cao, dùng hoả lực chống cự quyết liệt…
Lúc này phi pháo ở bên ngoài bắn vào dữ dội hơn. Do bên trong căn cứ lúc này chủ yếu là quân ta cho nên chỉ huy trận đánh ra lệnh giải quyết số thương binh tử sĩ và rút lui dần vì nếu kéo dài đến sáng sẽ không có lợi.
4 giờ sáng quân ta rút lui an toàn ra khỏi căn cứ đồi tranh Quang Thạnh.
Mặc dù không tiêu diệt được 100% quân số địch, không bắt được tù binh nhưng số mà ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu đủ để xoá sổ tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn Rồng Xanh đóng tại đây. Trận này ta tiêu diệt tại chỗ 420 lính Hàn Quốc (chúng có khoảng 500 tên trong căn cứ).
Đây là một trận đánh lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh qụy Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến Rồng Xanh, giáng một đòn chí tử vào đội quân đánh thuê tàn ác, củng cố tinh thần cho bộ đội khu Năm về khả năng đánh địch trong cứ điểm phòng ngự kiên cố. Âm vang của trận đánh lớn đến nỗi làm lình Hàn Quốc sống sót mất hết tinh thần. Sau trận đánh, sáu tên lính Park Chung Hee ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
Ở các nơi có bọn Đại Hàn đóng quân, một số đem súng tìm du kích để đầu hàng. Một số thông qua dân nhắn bộ đội giải phóng đừng có bắn chúng, đổi lại chúng sẽ chỉ đi càn lấy lệ
Sau chiến thắng này bà con ta hả lòng hả dạ và yên tâm bám đất ủng hộ du kích kiên quyết không vào các ấp chiến lược do địch cưỡng chế.
(Theo VnDefence) Hết TT&HĐ III - 32/$

Hết TT&HĐ III - 32/$, TIẾP TỤC hết TT&HĐ III - 32/>

 Gắn liền với sự thất bại của cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Nam  - Việt Nam là tướng tư lệnh chiến trường Oétmolen.

                                   

        William Childs Westmoreland (26 tháng 3 năm 1914 – 18 tháng 7 năm 2005)                   

Nếu đại tướng Mắcxoen Taylo, trước khi làm đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã từng được đánh giá là “một nhà chiến lược tầm cỡ quốc tế, thông minh, sắc sảo, có tầm mắt nhìn xa trông rộng, có quan điểm táo bạo, độc đáo” thì đại tướng Oétmolen cũng được nhận xét là “một vị chỉ huy lỗi lạc, tự tin, có tri thức quân sự, có kinh nghiệm chiến đấu, có tác phong xông xáo…”
Theo lời tự thuật của Oétmolen thi ông ta xuất thân từ một gia đình quí tộc Anh, di cư sang Mỹ từ thế kỷ XVII. Dòng họ Nêvin (Neville) này, sau khi đã có chân trên mảnh đất trù phú ở “Tân thế giới” và trở thành trại chủ kiêm tư sản tại bang Carôlina Nam, thì đổi tên dòng họ từ Nêvin sang Oétmolen (nghĩa đen là thêm đất ở miền Tây). Oétmolen chào đời vào năm xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất: 1914. Sau này, khi đã là một quân nhân, ông ta thường nói vui: “Tôi sinh ra dưới ánh sáng của sao Hỏa (sao tượng trưng cho Thần chiến tranh). Do đó, dù đã có thêm mảnh đất ở miền Tây để sinh cư lập nghiệp, vẫn cứ phải liên tục chinh chiến ở nhiều mảnh đất phía Đông!”
Oétmolen tốt nghiệp Cao đẳng quân sự Xitaden bang Carôlina Nam năm 1936 khi vừa chớm 22 tuổi với quân hàm thiếu úy. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Trận “thử lửa” đầu tiên của Oétmolen là vào năm 1942. Lúc này Oétmolen đã là thiếu tá, chỉ huy một tiểu đoàn pháo binh trong đội lính của sư đoàn 9 Mỹ. Chính Oétmolen đã dẫn đầu tiểu đoàn của mình, hành quân cấp tốc suốt 4 ngày đêm vượt qua dãy núi Átlát trên biên giới Angiêri - Tuynidi, kịp thời bắn yểm trợ cho các đơn vị bộ binh Mỹ trong trận chiến đấu quyết liệt với đạo quân phát xít Đức do tướng Rômmen chỉ huy trên chiến trường Bắc Phi. Sau trận này Oétmolen được thăng trung tá. Tiếp tục xông pha trên chiến trường Châu Âu và khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc thì Oétmolen đã là đại tá sư đoàn trưởng, trở về nước tiếp tục bổ túc lý luận quân sự và học thêm môn nhảy dù.
             P1-1
      Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ảnh tư liệu.
            P1-2
      Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ảnh tư liệu.
            P1-3
Đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
           P1-4
Lữ đoàn không vận số 2, Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ đổ bộ vào Quy Nhơn, 19-9-1965. Ảnh: Francois Sully.
P1-5
Sư đoàn “Mãnh hổ” Nam Triều Tiên đổ bộ vào Quy Nhơn tháng 10-1965. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
Giữa năm 1952, Oétmolen được điều động sang chiến trường Triều Tiên với cương vị đại tá lữ đoàn trưởng lữ dù 187. Với tác phong “năng nổ, xông xáo”, năm 1953, Oétmolen được thăng cấp thiếu tướng. Lúc này Oétmolen mới 39 tuổi và là “viên tướng trẻ nhất trong quân đội Mỹ hồi đó”. Liền sau đó, Oétmolen được cử làm sĩ quan huấn luyện rồi làm chỉ huy trưởng Học viện quân sự Oét Pôintơ - Học viện nổi tiếng nhất nước Mỹ.
Ngày 15-12-1963, Oétmolen được lệnh điều động sang Nam - Việt Nam. Cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc khi đó đều không hình dung được rằng chỉ sau một thời gian ngắn, Oétmolen sẽ là người thống lĩnh một đạo quân viễn chinh lớn nhất của nước Mỹ để tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài nhất, hao người tốn của nhất, thất bại chua cay nhất trong toàn bộ lịch sử nước Mỹ, cách xa nước Mỹ đúng nửa vòng trái đất.
Lúc đầu, Oétmolen mới chỉ được giao nhiệm vụ làm phó cho tướng Hakin, tư lệnh bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Nam - Việt Nam. Tướng Uylơ, lúc đó là Tổng tham mưu trưởng lục quân Mỹ, đã đặt rất nhiều hy vọng vào Oétmolen. Uylơ đã khẳng định với Mắc Namara, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, rằng Oétmolen, với bề dày kinh nghiệm chiến đấu và huấn luyện “nhất định sẽ làm tròn nhiệm vụ đào tạo quân Nam - Việt Nam (quân Ngụy) trở thành một đạo quân chống cộng cừ khôi nhất ở Châu Á”.
Về phần mình, mặc dù được cả Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn rất tin cậy, đánh giá rất cao, nhưng Oétmolen vẫn “không hề tỏ ra chủ quan, tự phụ, ngược lại còn rất khiêm tốn”. Chính Oétmolen bộc bạch rằng trước khi sang Nam - Việt Nam “nhận công tác khó khăn phức tạp nhất trong cuộc đời hoạt động quân sự của mình”, ông ta đã bỏ ra một thời gian để nghiên cứu các tác phẩm quân sự của Tôn Tử, tìm hiểu nghệ thuật quân sự của Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ, đồng thời đọc kỹ nhiều bài viết của đại tướng Võ Nguyên Giáp, hơn nữa còn tìm gặp tướng Mắc Áctơ - Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai, để “xin ý kiến về việc đàn áp phong trào nổi dậy ở Châu Á”. Áctơ đã cho Oétmolen một lời khuyên: “Cần phải liên tục tiến công và tận dụng sức mạnh hủy diệt của hỏa lực”.
           P1-6
       Đồng bào miền Nam biểu tình đòi quân Mỹ rút về nước. Ảnh tư liệu.
            P1-7
         Các chiến sĩ vận chuyển lương thực vào chiến trường. Ảnh tư liệu.
                   P1-8
Các chiến sĩ vận tải vận chuyển vũ khí vào chiến trường cho Sư đoàn 3. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
Tháng 6-1964, Oétmolen thay Hakin làm Tư lệnh trưởng bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Sài Gòn mà thực chất là Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Nam - Việt Nam. Đối với chiến dịch “Sấm rền”, Oétmolen cho rằng “sớm nhất thì cũng đến tháng 6 (năm 1965) mới thấy kết quả của chiến dịch ném bom Bắc - Việt Nam và trong khi đó, quân đội Nam - Việt Nam cần được Mỹ chi viện để bảo vệ phòng tuyến trước sức mạnh ngày càng lớn của Việt Cộng…”, và “Nếu có một cuộc phản công vào mùa hè của việt Cộng thì không chắc có sự cầm cự được lâu ở miền Nam để chờ cho việc ném bom trở nên có hiệu quả” (Tài liệu mật Lầu Năm Góc). Do đó Oétmolen đã đưa ra yêu cầu phải có ngay 200 ngàn quân Mỹ “để giữ cho khỏi bị thất bại trong một thời gian đủ cho Mỹ có thể đưa thêm quân tới” (Tài liệu mật Lầu Năm Góc).
Như đã kể, “tháng 7-1965, Giônsơn đã chấp thuận cho Oétmolen 44 tiểu đoàn quân chiến đấu Mỹ và thông qua chiến lược “Tìm và diệt” mà “ý nghĩa cơ bản” trong chiến lược “Tìm và diệt” là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của kẻ địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên đất nước… và giáng cho địch những đòn thật nặng nề” (Tài liệu mật Lầu Năm Góc). Cũng theo tài liệu này thì sau đó Oétmolen còn báo cáo là ông ta cần thêm 24 tiểu đoàn Mỹ (hoặc 100 ngàn quân) nữa để phục vụ cho “giai đoạn giành thắng lợi” bắt đầu vào năm 1966.
                          P1-15
                          Các chiến sĩ trên đường hành quân. Ảnh tư liệu

              P1-9
                            Các chiến sĩ tiến công địch. Ảnh tư liệu.
             P1-16
                              Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu.
            P1-17
                     Các chiến sĩ truy kích địch. Ảnh tư liệu.
            P1-18
Các chiến sĩ Trung đoàn 22 chiếm lĩnh lô cốt trung tâm Minh Long. Ảnh tư liệu.
Kế hoạch của Oétmolen chỉ rõ rằng: “có đủ lực lượng để giành thế chủ động từ tay Việt Cộng vào khoảng năm 1966. Khi bước vào thế phản công và có thêm lực lượng tăng cường thỏa đáng thì sẽ đánh bại kẻ địch vào cuối 1967”.
Thật là một kế hoạch “quá đã”! Thoạt đầu, Mắc Namara cũng phải thốt lên: “Trong lịch sử quân đội Mỹ, tôi chưa hề thấy có vị tướng cầm quân nào tài giỏi hơn thế”, để khen ngợi Oétmolen. Chính Mắc Namara đã ký giấy chuẩn chi 2 tỷ đô la để xây dựng một hàng rào điện tử mang tên ông ta, chạy suốt dọc vĩ tuyến 17 nhằm ngăn chặn quân chủ lực Bắc - Việt Nam thâm nhập vào miền Nam. Còn tổng thống Giônsơn thì gọi Oétmolen bằng cách trìu mến là “Oétxky” và trao cho ông này một tấm “ngân phiếu trắng”, muốn xin bao nhiêu quân cũng được, muốn chi bao nhiêu tiền cũng được, miễn là kết thúc chiến tranh ở Nam - Việt Nam trong năm 1967, là năm bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ.
Hầu hết các nhà bình luận quân sự ở các nước tư bản đều nhận xét, trong lịch sử quân sự Hoa kỳ, “chưa có vị tướng cầm quân nào được hỗ trợ đắc lực như tướng Oestmolen”. Để “bình định” một khu vực chỉ bằng một nửa nước Triều Tiên, Oétmolen nhanh chóng có được một đạo quân viễn chinh vượt quá cột mốc 500 ngàn quân và hơn hẳn tổng số các lực lượng Mỹ đã tham gia chiến tranh Triều Tiên trong những năm 1950 - 1953. Hơn thế nữa, tất cả những đơn vị thiện chiến nhất của nước Mỹ như lính thủy đánh bộ, sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ”, sư đoàn bộ binh “Tia chớp nhiệt đới”… đều được điều động tới Nam - Việt Nam. Ngoài ra, Oétmolen còn được đặc quyền sử dụng cả máy bay ném bom chiến lược cực kỳ hiện đại lúc bấy giờ gọi là “pháo đài B52” để ném bom “trải thảm” cố hủy diệt các căn cứ Việt Cộng. Chưa kể cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân vẫn đang ráo riết tiến hành ở Bắc - Việt Nam.
              P1-24
          Các chiến sĩ Trung đoàn 22 trong chiến hào đánh Mỹ. Ảnh tư liệu.
                P1-25
Máy bay trực thăng của Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ bị các chiến sĩ Sư đoàn 3 bắn hạn ngày 13-10-1965 tại Hội Sơn, huyện Phù Cát. Ảnh tư liệu.
                P1-26
Một đơn vị của Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 đổ bộ xuống Bồng Sơn trong cuộc hành quân Cái Chày tháng 01-1966. Ảnh tư liệu

      P1-29
          Chiến sĩ thông tin trên chiến hào đánh địch. Ảnh tư liệu.
    P1-38
Du kích Hoài Nhơn cùng các chiến sĩ Trung đoàn 22 chiến đấu bảo vệ quê hương. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
P1-41
          Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu.
P1-46
             Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu.
        P1-52
               Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu
P1-62
Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu.
P1-32
Các chiến sĩ truy kích địch ở Hoài Nhơn. Ảnh t

  Được sự tăng viện ồ ạt từ Mỹ đủ mọi loại phương tiện chiến tranh hiện đại, kể cả bom napan, kể cả chất độc hóa học phát quang cây, rừng gọi là chất độc màu da cam hay Điôxin, Oétmolen đã có trong tay, vào cuối năm 1965, một lực lượng chiến tranh có ưu thế tuyệt đối (nhìn từ ngoài vào số lượng nổi trội!) về mọi mặt so với đối phương, tạo nên tương quan về lực lượng trên chiến trường đột ngột nghiêng về phía Mỹ - Ngụy. Nhờ thế Oétmolen đã chủ động tung ra đòn phản công chiến lược mạnh mẽ “Tìm và diệt” mùa khô năm 1965-1966 với kế hoạch 5 mũi tiến công vào 5 vùng ưu tiên tìm diệt gồm Nam - Phú Yên, Tây - Quảng Ngãi, Bắc - Bình Dương, Bắc - Củ Chi, Bến Cát thuộc Bình Dương. Chiến trường miền Nam suốt 4 tháng trời đầy bão lửa.

Ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Cố vấn Edward Lansdale đề xuất ý kiến, cho rằng nếu như có thể chiếm được lòng dân miền Nam thì du kích sẽ không có chỗ để trốn, nhưng kế hoạch đã thất bại 
Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt tại vùng thung lũng sông Ia Drang, gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kon Tum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany, diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn, và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm.

                      P1-27
           Lính Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ trong trận đánh ở Hoài Nhơn. Ảnh tư liệu.
                      P1-30
                                     Trực thăng Mỹ đổ quân. Ảnh tư liệu.
                           P1-31
                            Lĩnh Mỹ đi càn quét, đốt nhà dân ở Bình Định. Ảnh tư liệu.
                          P1-37
Chú thích ở góc trái trên bức ảnh: Lính của Sư đoàn kỵ binh số 1 của Mỹ xông vào trong làng. Chúng được tin tình báo: “Có 1 trung đội Việt Cộng ở trong làng”, nhưng tôi chả thấy Việt Cộng ở đâu mà chỉ thấy dân thường trong khói lửa. Năm 1966. Tại Bình Định. IncredibleImage4u.blogsPost.com

                       P1-40 
                                                 Trận địa pháo của quân Mỹ. Ảnh tư liệu
                                               P1-47 

                                                   Lính Mỹ chuyển quân. Ảnh tư liệu.

                     P1-51
                                    Lính Mỹ bị thương vong. Ảnh tư liệu
                             
                             
                                                            Lính Hàn Quốc đi càn 
 

Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ. Phía Mỹ có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B-52, bom napal và trực thăng vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương, và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.

 

Tháng 5-1966, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lúc đó là Cabốt Lốt, không hiểu sao lại gửi về cho Giônsơn một bản báo cáo mà “Tài liệu mật Lầu Năm Góc” gọi là bản báo cáo gồm 7 số “0”:
1-     “0” làm hao tổn Việt Cộng.
2-     “0” tiêu diệt được đơn vị chính qui lớn nào của Việt Cộng.
3-     “0” ngăn được du kích phát triển.
4-     “0” ổn định được hậu phương.
5-     “0” giành được chủ động.
6-     “0” ngăn được đà suy sụp của quân đội Sài Gòn (ngụy quân).
7-     “0” tăng cường và bổ sung kịp được lực lượng của Mỹ.
Trong khi đó, Cục tình báo trung ương Mỹ đánh giá về cuộc đánh phá Bắc - Việt Nam bằng không quân: “Ném bom đã tỏ ra ít có tác dụng đối với Bắc - Việt Nam”. Cuộc họp của 47 nhà bác học đại diện cho những phần tử ưu tú nhất của nước Mỹ thì đánh giá kết quả của chiến dịch Sấm rền là: “Tính đến tháng 7-1960, các hoạt động ném bom của Mỹ ở Bắc - Việt Nam đã không có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể nào đến khả năng của Hà Nội trong việc tiến hành và hỗ trợ các hoạt động quân sự ở Nam - Việt Nam như mức hiện
                         
 "Lính chuột" là một lực lượng đặc biệt được Mỹ đào tạo riêng biệt cho nhiệm vụ chui xuống những địa đạo chật hẹp dưới lòng Củ Chi để lục soát, gài thuốc nổ hoặc tần công các lực lượng du kích, quân giải phóng của ta đang lẩn trốn, chiến đấu bên dưới những đoạn đường hầm này. Nguồn ảnh: Archive.                               
Những người lính "Lính chuột" (Rat tunnel) được trang bị vũ khí rất gọn nhẹ, chỉ bao gồm một khẩu súng lục M1911 và mặt nạ phòng độc. Nguồn ảnh: Vietnamwar
                       
Do thể hình của người Mỹ quá to lớn, những người lính Chuột thường được chọn từ những binh lính gốc Á hoặc những người có thể hình nhỏ con. Ảnh: Một lính chuột của Mỹ đang cầm theo bọc thuốc nổ chuẩn bị được mang xuống đặt dưới hầm. Nguồn ảnh: Rat.
                           
Đây là một nhiệm vụ cực kỳ mạo hiểm vì rất có thể bên dưới những đoạn địa đạo Củ Chi, các lực lượng của ta đang phục kích sẵn. Nguồn ảnh: Tunnel
                         
Hệ thống địa đạo Củ Chi khiến Mỹ rất đau đầu khi không biết làm cách nào có thể vô hiệu hóa hoàn toàn được những đoạn hầm dài hàng trăm kilomets này. Nguồn ảnh: Archive.
                                
 Sử dụng cả ống nghe để tìm tiếng động dưới lòng đất. Dù Mỹ có sử dụng hơi gas độc, bơm nước vào hầm hay sử dụng bom xuyên phá, địa đạo Củ Chi vẫn là bất khả xâm phạm vì nó có quy mô quá lớn. Nguồn ảnh: Archive
                            
Địa đạo Củ Chi có chiều dài tổng cộng khoảng 250 mét với hàng nghìn lối ra vào được ngụy trang rất tinh vi, binh lính Mỹ chỉ có thể tiếp cận được khoảng một vài trăm mét khu vực ngoại vi của địa đạo, chưa từng có bằng chứng nào ghi nhận lại việc Mỹ có thể tiến vào được những khu vực sâu nhất của hệ thống hầm ngầm lớn bậc nhất thế giới này. Nguồn ảnh: Archive.
 
                        
Ở miền Nam Việt Nam, người Mỹ đã mang 500 con chó và sau đó tăng dần theo thời gian và lên đến 5000 con chó vào năm 1966. Nhiệm vụ của những chú chó này là trinh sát, tuần tra, dò mìn cũng như đánh hơi, lùng sục, phát hiện bộ đội ta. Những con chó được mang qua Việt Nam đều là những con chó thuộc dạng thông minh với khứu giác nhạy bén như Béc Giê, Béc Bỉ, Rottweiler, Doberman. Chúng toàn là những con chó được tuyển chọn kĩ lưỡng từ những trại chó trên khắp nước Mỹ và được huấn luyện chuyên nghiệp và có thể chiến đấu linh hoạt tại nhiều địa hình. Những con chó này đều được đeo quân hàm có lương thưởng và khi qua đời được lễ tang giống con người.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sau khi thất bại liên tiếp của quân đội Mỹ trước sự mưu chí dũng cảm của du kích và bộ đội địa phương tại những vùng kháng chiến tại Miền Nam nước ta. Người Mỹ đã cho rất nhiều công nghệ đến với mục đích tìm ra du kích như Máy ngửi ( Một dòng máy phát hiện ra hơi người tương tự loài chó), Hàng rào điện tử MC Namara, và một số vũ khí đi càn để có thể tìm thấy nơi ẩn náu của du kích nước ta. Tuy vậy mọi kế hoạch đều bị phá sản, vì vậy người Mỹ đã cho sử dụng chó nghiệp vụ tại nước ta.

Chiến thuật của Quân đội Mỹ khi sử dụng chó nghiệp vụ là cho chúng đi càn cùng với lực lượng mặt đất. Mỗi tổ đội chó nghiệp vụ được phân ra cứ 5 người đi cùng với 2 chú chó nghiệp vụ, 1 con dự bị và 1 con làm chỉ huy. Mỗi tiểu đội Mỹ khi đi càn qua khu vực nghi ngời có du kích Việt Nam. Người Mỹ tin rằng, với khứu giác nhạy bén của những chú chó nghiệp vụ thì lính Mỹ dễ dàng tìm thấy ổ phục kích hay những đường hầm, hào do du kích Việt Nam.

Tuy nhiên, lý thuyết là như vậy nhưng thực tế chiến trường Việt Nam nó khác với những gì người Mỹ nghĩ. Khi biết được rằng, người Mỹ sử dụng chó nghiệp vụ nhằm đánh hơi vị trí của lực lượng kháng chiến thì họ đã nghĩ ra nhiều kế nhằm vô hiệu hóa chó nghiệp vụ của Mỹ. Như dùng ớt hay những chất thải của người và động vật để làm loạn mùi khiến chó nghiệp vụ Mỹ bị mất khứu giác. Hoặc bẫy chó nghiệp vụ Mỹ.           

Tại địa đạo Củ Chi để đánh lừa chó nghiệp vụ của Mỹ, các chiến sĩ cách mạng đã để đồ đạc của quân đội Mỹ như quần áo ở các lỗ thông gió, lối vào đường hầm... Chính vì vậy, những con chó đó không phát hiện ra khói nấu ăn và đốt củi từ dưới lòng địa đạo bốc lên.

                                            Lý giải việc chó quân sự của Mỹ chết như ngả rạ ở Việt Nam - Ảnh 2. 

Theo nhiều số liệu thống kê chính thức, Mỹ đã triển khai sang Việt Nam ít nhất 4000 chú chó quân sự, số lượng tối đa có thể lên tới 5000 con. Ảnh: History.net

                                Lý giải việc chó quân sự của Mỹ chết như ngả rạ ở Việt Nam - Ảnh 7.

Hiệp hội Chó Chiến tranh của Mỹ ghi nhận, chỉ có 204 chú chó nghiệp vụ được quay về Mỹ sau khi cuộc chiến kết thúc. Tuy nhiên, quân đội Mỹ cũng chỉ ghi nhận 350 trường hợp chó nghiệp vụ chết trong chiến đấu, số lượng còn lại là một ẩn số. Ảnh: History.net

Thời kỳ đầu hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ ta phải giữ bí mật tuyệt đối, tránh để địch phát hiện, khẩu hiệu nêu phương châm hoạt động tất cả phải thực hiện “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” được thực hiện rất cụ thể cho từng trường hợp.
Đi không dấu là việc rất khó. Nếu chỉ một vài người đi thì dấu vết hằn trên mặt đất không nhiều, đi khéo léo thì địch không phát hiện được. Nếu cả đoàn nhiều người đi thì phải có bộ phận ở sau xóa dấu vết, khi đi qua những chỗ như vạt cỏ, đường đất thì dùng ni lông lót đường để không lưu lại cỏ bị giẫm đạp, không để lại dấu dép. Có trường hợp phải lấy nước rửa chỗ bùn sình do dép làm dính mặt đất. Đi không dấu còn phải giữ bí mật cả chỗ căng võng; thường phải lót miếng nylon bên trong tránh làm cho cây có dấu siết của dây dù căng vào thân cây. Tất cả những thứ ta sử dụng đều phải chôn giấu, kể cả việc đi đại tiện.
Căn cứ ở trong rừng, người ra vào phải hạn chế nhưng vẫn phải đi nhiều lần nhiều ngày sẽ nổi rõ con đường mòn là địch sẽ phát hiện ngay. Ta phải khắc phục bằng cách kê những khúc cây để khi đi bước chân lên đómà không đưa chân xuống mặt đất, có đoạn dài cả trăm mét, khi địch càn ta thu các khúc cây cất đi và xóa dấu vết. Chung quanh căn cứ ta thường làm dấu như cây ngã tự nhiên ở rừng. Lúc cần ta sẽ gài trái (mìn) để ngăn chặn địch.
Đi không dấu không phải ai cũng ý thức thực hiện thật tốt, khi Mỹ vào địch “xúc” dân ra vùng chúng kiểm soát vùng căn cứ không còn dân chỉ còn lực lượng du kích, các cơ quan trú đóng, ăn ở sinh hoạt phải bí mật, ta thường đào hầm ở các bụi tre ở phân tán lực lượng vài ba người một địa điểm.
Nơi cơ quan trú đóng thì đào lò Hoàng Cầm để không bốc khói lên trên cao mà bị máy bay địch phát hiện. Nơi đi qua một lần thì khi nấu phải tránh củi tươi để hạn chế khói và canh máy bay, có nơi phải chờ chiều tối mới nhóm lửa, không tránh khỏi gặp trường hợp nồi cơm đang sôi phải tắt lửa để máy bay địch không phát hiện.
Khi hành quân phải giữ im lặng tuyệt đối, người đi trước ra dấu người đi sau bằng động tác đã quy ước để họ nhận biết thực hiện. Đôi lúc cũng xảy ra “sự cố” do người đi sau hiểu sai ám hiệu của người đi trước
 Hầm chông gây ra nỗi khiếp đảm cho lính Mỹ

Hầm chông bẫy cọp – GIS (lính Mỹ) đang cơ động nhẹ nhàng trên đường mòn, bất ngờ đất dưới chân anh ta sụt xuống và lính Mỹ rơi vào một cái hố đầy chông tre hoặc chông sắt sắc nhọn. Nếu như anh ta may mắn và không chết ngay, anh ta sẽ gào lên vì đau đớn, các binh sĩ còn lại sẽ xúm vào tìm cách lôi anh ta lên khỏi cái hầm chông kinh hoàng đó. Thông thường xung quanh hầm chông đó có những cửa bí mật, những hỏa điểm đáng sợ của các xạ thủ du kích bắn tỉa.

Cuộc chiến tranh nhân dân của ta nảy sinh nhiều sáng tạo độc đáo.

Hầm chông, hố đinh: Đây là vũ khí thô sơ bất cứ người dân nào cũng làm được để đánh giặc.

Hầm chông thì đào sâu chừng quá ngực tới cần cổ, bề rộng chừng 8 tấc, bề dài chừng 1,2 m, bên dưới đặt một bàn nhiều cây chông bằng tre vót nhọn hoặc bằng sắt có ngạnh. Vị trí đào hầm chông được chọn nơi địch sẽ đi qua hoặc sẽ vào chỗ đó như nơi treo kẻng, khẩu hiệu… Khi địch càn, ta ngụy trang mặt hầm như đất thường, thế là chúng lọt xuống hầm những cây chông đâm vào chân vào háng nhất là gặp chông sắc có ngạnh địch không cách nào cưa được phải khiêng cả người cùng cái bàn chông đi đến nơi có điều kiện để cưa cây chông. Chỉ vài trường hợp như vậy, địch không dám càn tiếp mà phải rút lui.

Hố đinh là hố có những cây đinh dài hơn một tấc, được gắn vào miếng gỗ lớn hơn bàn chân, hố đặt bàn đinh này chỉ sâu tới quá đầu gối được đào và đặt nơi địch sẽ đi qua. Khi chúng đi sẽ sụp chân xuống hố các cây đinh đâm vào bàn chân, bị thương không thể đi tiếp được nên cũng lui quân.

Thời mới đồng khởi ở Bến Tre, ta dùng ong vò vẽ đánh giặc bọn ngụy rất sợ. Tổ ong vò vẽ khối cầu vỏ khá chắc vì chúng làm bằng vỏ cây pha với phân bò, có hai cửa ra vào, ta chờ trời tối lấy giấy dán cửa miệng rồi lấy vải bọc lại dời chúng đến đặt ở địa điểm bố trí đánh địch thì mở cửa cho nó hoạt động bình thường. Khi địch vào tới gần ta kéo dây cột làm tổ ong vỡ bay ra đuổi đốt bọn lính chạy trối chết. Thế là cuộc càn quét địch phải chuyển hướng đi hoặc rút lui để “bảo toàn lực lượng”.

Ở một số nơi, người dân, du kích đánh địch bằng nhiều cách rất sáng tạo. Chẳng hạn, ta dùng tên ná được tẩm thuốc độc, chờ địch đến gần ta núp trong bụi chờ địch đi tới nhắm bắn vào tên chỉ huy là ngăn cả cuộc “hành quân”. Có khi ta lợi dụng nơi con đường hẹp hai bên là vách núi, địch phải đi qua bố trí những tảng đá to trên cao, khi địch tới ta đẩy cho đá lăn xuống... Thế là ta bẻ gãy cuộc càn của chúng không cần một viên đạn.

Có nơi du kích tự chế vũ khí thô sơ bằng cách làm một quả cầu gắn vào rất nhiều mũi cây nhọn chỉa ra tứ phía có sợi dây để kéo lên xuống bố trí trên trục đường giặc sẽ đi qua điều khiển cho quả cầu này lao xuống ngay đầu bọn lính đang đi trên đường. Có trường hợp quả cầu lao trúng ngay bọn đi đầu, thế là chúng chạy thụt mạng.

Ở Bến Tre, du kích có sáng kiến dùng cây chôn xuống đất thành hình chữ X rồi cột vào hai đầu phía trên chữ X dây thun làm bằng ruột bánh xe hơi cách như ná giàn thun khổng lồ. Phải hai người kéo khi bắn mới đi được xa. Địch vào đúng tầm, lựu đạn “nả” vào chúng liên tiếp, địch lớp chết lớp bị thương mà không biết Việt Cộng từ đâu ném lựu đạn tới.    

Khi Mỹ vào, bom đạn nhiều, chúng bỏ bom bừa bãi, có những quả bom to không nổ, ta thu cưa lấy thuốc nổ sản xuất mìn để đánh xe tăng, xe cơ giới của địch khi chúng càn vào vùng giải phóng. Mìn được ta chế tạo từ trái bom bi làm ngòi và khối thuốc nổ bao bên ngoài theo kiểu mìn gạt, ở hạt nổ có chỗ gắn cái cây vào sau khi đem chôn trên đường xe tăng chạy qua vướn cái cây bật hạt nổ làm nổ cả trái mìn. Đây là cách đánh Mỹ dễ nhất, chỉ cần người gan dạ là đánh được. Với cách đánh này du kích Củ Chi nhiều người được phong chiến sĩ diệt cơ giới các cấp.

Đại hội dũng sĩ Củ Chi đã từng tổng kết rút ra 10 kinh nghiệm đánh Mỹ khá tài tình, ai cũng đánh Mỹ được cả. Đó là: 1. Ai ai cũng đánh được. 2. Vũ khí gì cũng đánh được. 3. Nhiều cũng đánh, ít cũng đánh, một người cũng đánh, một tổ cũng đánh và đều đánh thắng Mỹ. 4. Ở đâu cũng đánh được Mỹ, chỉ cần tích cực bám địch tìm địch mà đánh là được. 5. Ngày cũng đánh, đêm cũng đánh được Mỹ. 6. Địch phản công cũng là cơ hội tốt để ta diệt chúng. 7. Đánh cả ở tiền tuyến, đánh cả ở hậu phương địch, đánh đều khắp, làm cho địch bối rối, bị động thì càng đánh dễ dàng hơn. 8. Đánh ở trong xã, ấp chiến lược và cả ở ngoài xã, ấp chiến đấu, chỉ cần nêu cao quyết tâm tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt.  9. Du kích có khả năng đánh thắng tất cả mọi binh chủng của Mỹ. 10. Đánh cả bằng vũ khí, chính trị, binh vận làm cho địch tan rã nhanh chóng.

                                 Chông đu, loại vũ khí thô sơ nhân dân Tây Nguyên sử dụng để đánh địch càn quét trong kháng chiến chống Mỹ. Hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Quốc gia.

                               Chông đu được nhân dân Nam Bộ dùng để đánh địch càn quét trong kháng chiến chống Mỹ.
                               Chông mổ do quân dân Quân khu 7 sản xuất và sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ.


                              Chông chữ T đồng bào dân tộc Tây Nguyên chế tạo và sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ.


                                    

                              Bẫy gây nổ cài vào củi đun nhân dân Nam Định sản xuất và sử dụng đánh địch đi càn trong kháng chiến chống Pháp. Sau đó loại vũ khí thô sơ này cũng được sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ ở Nam Bộ.


                             Một số loại vũ khí thô sơ của du kích Việt Nam thời chống Mỹ

                              soi-nhung-loai-bay-o-viet-nam-khien-linh-my-khoc-thet

Các loại bẫy trong chiến tranh Việt Nam được lực lượng du kích miền Nam sử dụng rất rộng rãi. Rẻ tiền, dễ làm, hiệu quả cao, muôn hình vạn trạng và khiến quân Mỹ khiếp sợ là đặc điểm ưu việt của những loại bẫy thủ công này. (Ảnh: Scout)

                           Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh: Pinterest) Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh: Pinterest)  

                              soi-nhung-loai-bay-o-viet-nam-khien-linh-my-khoc-thet-hinh-2

 Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh: Pinterest)

Sơ Đồ Địa Đạo Củ Chi Là Gì? Tổng Quan Về Hệ Thống Địa Đạo Lịch Sử

 
                                                        Sơ Đồ Địa Đạo Củ Chi

Hệ thống địa đạo chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, từ đường “xương sống” (đường chính) tỏa ra vô số nhánh dài ngắn, ăn thông với nhau, hoặc độc lập chấm dứt tùy theo địa hình. Chung quanh cửa hầm lên xuống được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái (gọi là tử địa), có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng bom bi chống máy bay trực thăng đổ chụp, nhằm tiêu diệt ngăn chặn quân địch tới gần
Trong chiến tranh, giặc thả bom, giết chết trâu bò... khiến Củ Chi như vùng đất chết. Người cán bộ sống trong vùng địch, ban ngày náu mình dưới hầm bí mật, ban đêm mới lên khỏi mặt đất, đi hoạt động

        Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, địa đạo Củ Chi là một nỗi thất vọng lớn, câu hỏi khó đối với quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mỹ và Australia từng cố gắng phát hiện và xâm nhập địa đạo bằng nhiều cách, song tất cả nỗ lực đều thất bại. Quân đội Mỹ thậm chí từng dùng máy ủi san bằng những khoảng rừng, ngôi làng, cánh đồng lớn và rải chất độc da cam, ném bom napal, rưới xăng để tận diệt động thực vật. Nhưng kỳ lạ thay, Việt Minh vẫn an toàn và tiếp tục sống, chiến đấu vì đất nước. 

      Mùa Xuân 1975, nhiều cánh quân lớn của Quân đoàn 3 và nhiều đơn vị chủ lực, địa phương tiến vào giải phóng thị trấn Củ Chi và dinh lũy cuối cùng của địch tại Sài Gòn, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, vào lúc 11 giờ ngày 30/4/1975.

Dù sao, Oétmolen vẫn tự tin. Trong thời kỳ cuối năm 1966 đến đầu năm 1967, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông này, quân Mỹ liên tiếp mở hàng loạt chiến dịch tiến công qui mô lớn vào khu vực chiến khu C (ở Tây Ninh), khu “tam giác sắt” Củ Chi (ở phía Bắc Sài Gòn), chiến khu Đ (ở miền Đông - Nam Bộ). Lúc này, tướng Oétmolen “khiêm tốn, thận trọng” thuở nào bắt đầu ngạo mạn, huênh hoang, tuyên bố: với chiến lược “Tìm và diệt” đánh vào tận “hang ổ Việt Cộng”, “chỉ đến giữa năm 1967 là đánh “gãy xương sống” Việt Cộng”. Tất cả các cuộc hành quân “Tìm và diệt” của Mỹ vào 5 vùng “đặc biệt ưu tiên” nói trên nhằm tiêu diệt và quét sạch Việt Cộng ở các vùng bao quanh một khu vực căn cứ quan trọng nhất là Bắc - Tây Ninh, để thực hiện một chiến dịch lớn nhất có tên là “Gianxơn Xiti” nhằm tiêu diệt cho được cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh tại miền Nam - Việt Nam của Việt Cộng. Đây là một chiến dịch mà Tổng chỉ huy Oétmolen cho là quyết định cuộc chiến vào cuối năm 1967 như đã dự định. Côlơ (W. Cagle), phụ tá đặc biệt của Tổng thống Mỹ thì báo cáo cho Giônsơn sau chuyến đi thực tế ở miền Nam vào tháng 2-1967: “Tôi trở về lạc quan hơn bao giờ hết… Một cách tốn kém, đắt đỏ, nhưng hiển nhiên không cần bàn cãi, chúng ta đang thắng ở miền Nam. Chỉ có ít chương trình của chúng ta - nhân sự hoặc quân sự là đạt nhiều hiệu quả, nhưng chúng đang nghiền nát kẻ thù dưới sức nặng và số lượng tuyệt đối…”. Vào tháng 3-1967, Oétmolen điện cho Bộ chỉ huy Thái Bình Dương: “Do kết quả của việc tăng cường binh lực và do thành công của chúng ta nên chúng ta đã có thể đề ra kế hoạch và khởi xướng một cuộc tổng phản công. Hiện nay chúng ta giành được thế chủ động chiến thuật và đang tiến hành các cuộc hành quân tiến công liên tục, nhỏ bé và đôi khi với qui mô lớn để tiêu hao lực lượng địch, để phá hủy các căn cứ của địch và làm tan rã hạ tầng cơ sở của chúng, để ngăn chặn đường giao thông thủy bộ của chúng và thuyết phục chúng rằng với sức mạnh tiến công của chúng ta kèm theo các hoạt động tâm lý, chúng nhất định thất bại”.
Kết quả thực tế đã ngược hẳn với ước mơ dự tính của Oétmolen. Chiến dịch “Tìm và diệt” lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti đã không tìm thấy “kẻ địch”. Thế mà “kẻ địch” lại thường xuất hiện bất ngờ khắp mọi nơi khi thì lẻ tẻ, khi thì từng đơn vị nhỏ, nhưng cũng có lúc đông cỡ trung đoàn, sư đoàn giáng cho Mỹ - Ngụy những đòn thất điên bát đảo. Hơn một vạn lính Mỹ - Ngụy thương vong, gần 1.000 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng và thiết giáp bị phá hủy, hàng trăm máy bay bị bắn rơi, hàng trăm khẩu pháo bị phá hỏng, và đặc biệt là Đài phát thanh của Mặt trận giải phóng không hề ngừng phát sóng. Đây là một thất bại vô cùng nặng nề và cũng vô cùng bất ngờ đối với quân Mỹ. Vào những tháng cuối 1967, tình trạng sa lầy, bế tắc của quân Mỹ làm cho Đin Rátxcơ, bộ trưởng ngoại giao Mỹ khi đó phải than thở: “Năm 1967 là năm đau khổ và khốc liệt đối với Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, ngay tại nước Mỹ, tình thế thật rối bời, dư luận chia rẽ, tiến thoái lưỡng nan”.
Trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, xuất bản năm 1985 tại Nữu Ước, nhà sử học có tiếng của Mỹ là Gabrich Côncô viết: “… dù ưu thế nhân lực của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa cộng lại, đến năm 1967 là 4,7 trên 1 so với Cách mạng nhưng Cách mạng đã ghìm được Mỹ và đồng minh Mỹ đến mức lực lượng tiến công của Cách mạng vượt lực lượng tiến công của Mỹ và do đó, lực lượng Cách mạng nắm được chủ động về chiến thuật và cả chiến lược nữa”.
Đến cuối năm 1967, cả chiến dịch “Sấm rền” cũng như hàng rào điện tử Mác-Namara đều coi như vô hiệu, không ngăn chặn được sự chi viện của Bắc - Việt Nam cho Tiền tuyến lớn của nó, hơn nữa, chỉ tính riêng năm 1967, dù đã bị bắn rơi 1067 máy bay và bị bắt sống 161 phi công, không lực Mỹ vẫn, theo đánh giá của các nhà phân tích cao cấp Mỹ, “không hề làm giảm sút tinh thần nhân dân miền Bắc”, “không hề làm lung lay ý chí Hà Nội”.
​Dựa vào hệ thống đường ngầm, công sự, chiến hào, chiến sĩ và nhân dân Củ Chi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nên những chiến công thần kỳ. Quân đội Mỹ lần đầu vào đất Củ Chi gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ các địa đạo trong vùng căn cứ hiểm yếu, đã phải thốt lên: “Làng ngầm”, “Mật khu nguy hiểm”…
Bất chấp các chiến dịch Tìm - Diệt của quân Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tiếp tục mở rộng vùng kiểm soát tại nông thôn. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam. Đầu năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã quản lý 4 triệu dân sống trong vùng giải phóng, 6 triệu rưỡi dân nữa sống trong vùng có cơ sở hoạt động bí mật của Mặt trận, Mỹ và chính phủ Sài Gòn chỉ kiểm soát được khoảng 4 triệu dân sống ở vùng đô thị.
Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Nhân dân Mỹ chán ngán, làn sóng chống chiến tranh đối với chính phủ Mỹ ngày một dâng cao. Bản thân trong nội bộ chính quyền Mỹ cũng rạn nứt, mâu thuẫn, chia làm hai phe chủ chiến (gọi là phe Diều hâu) và chủ hòa (gọi là phe Bồ câu). Phe Bồ câu gồm Mắc Namara cùng một số cộng tác viên ở Bộ quốc phòng Mỹ, một số nhà vạch kế hoạch dân sự cấp cao, thì chủ trương giảm qui mô cuộc chiến, rút lui khỏi Việt Nam. Phe Diều hâu gồm các tướng lĩnh, đứng đầu là Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Tư lệnh Thái Bình Dương và tướng Oétmolen, Tư lệnh Chiến trường Nam - Việt Nam, thì thúc giục mở rộng chiến tranh cả trên bộ, trên không và ra cả Đông Dương.
Ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh tuyên bố lập trường và điều kiện cho việc đối thoại Việt-Mỹ là:
Giônsơn hoàn toàn bị động, lúng túng, hoang mang, không dứt khoát được, tiến cũng sợ mà lui cũng sợ, hoàn toàn bế tắc. Tuy nhiên, như một vớt vát niềm tin cuối cùng vào Oétmolen, Giônsơn đã quyết định đưa sang Nam - Việt Nam thêm 100 ngàn quân Mỹ nữa, nâng tổng số ở đó (không kể quân ngụy Sài Gòn và quân đồng minh (thực chất là chư hầu) lên 430 ngàn quân vào cuối tháng 12-1967. Trên một diện tích khu vực nhỏ hẹp chỉ có 17 vạn km vuông (diện tích Nam - Việt Nam) thì số quân Mỹ như thế đã tạo ra một mật độ chưa có cuộc chiến tranh nào đạt tới.

Kênh truyền hình Mỹ CNN vừa công bố dánh sách 12 công trình ngầm hấp dẫn du khách nhất thế giới, trong đó có Địa Đạo Củ Chi của Việt Nam. Một cụm công trình ngầm đươc mệnh danh là mảnh đất thép đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại của thế kỷ 20 và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới đồng thời là một lỗi khiếp đảm của quân Mỹ – Nguỵ…
Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Nằm cách trung tâm Tp.Hồ Chí Minh khoảng 70 km về hướng đông bắc. Đây là nơi thu nhỏ trận đồ biến hóa của quân và dân Củ Chi trong cuộc kháng chiến lâu dài ác liệt suốt 30 năm chống kẻ thù xâm lược giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, là một công trình kiến trúc độc đáo, nằm sâu trong lòng đất, có nhiều tầng, nhiều ngõ ngách như màng nhện, có nơi ăn ở, hội họp và chiến đấu với tổng chiều dài hơn 200 km…
Hơn 20 năm xây dựng, địa đạo Củ Chi đã được hoàn thành không phải bằng một kỹ thuật hiện đại mà là từ bàn tay của những con người đất thép quyết giữ gìn từng tấc đất quê hương. Trong đó có những đôi tay của biết bao người mẹ, người chị, người em, vốn chỉ là những con người chân chất giản dị nhưng đã viết nên những trang sử hào hùng biết bao cho dân tộc. Và từ đó, Củ Chi đã là “ngôi nhà” của biết bao lớp lớp chiến sĩ với lối đánh du kích thông minh đã bao phen làm giặc Mỹ kinh hồn bạt vía, góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng quê hương.
Hệ thống địa đạo được chia ra làm 3 tầng, từ đường “xương sống” toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép….Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục tấn công vào hệ thống địa đạo bằng đủ phương tiện: bom, bơm nước vào địa đạo, hơi ngạt… nhưng do hệ thống địa đạo được thiết kế có thể cô lập từng phần nên bị hư hại không nhiều. Quân đội Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện các cửa vào (được ngụy trang) và phát hiện các cửa thông gió (thường được đặt giữa các bụi cây). Biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng chó nghiệp vụ. Ban đầu có một số cửa vào và lỗ thông gió bị chó nghiệp vụ phát hiện do chó ngửi được hơi người. Tuy nhiên, sau đó, những người ở dưới địa đạo đã dùng xà phòng của Mỹ đặt ở cửa hầm và cửa thông gió nên chó nghiệp vụ không thể phát hiện ra.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, địa đạo Củ Chi là một nỗi thất vọng lớn, câu hỏi khó đối với quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mỹ và Australia từng cố gắng phát hiện và xâm nhập địa đạo bằng nhiều cách, song tất cả nỗ lực đều thất bại. …. Không thể giành ưu thế bằng chiến tranh hóa học, quân đội Mỹ bắt đầu cắt cử nhiều binh lính xuống địa đạo. Những người này được gọi là “chuột đường hầm”. Họ được trang bị súng máy, dao, đèn pin. Song với sự phức tạp của hệ thống và không có đường lui, binh sĩ Mỹ hầu hết thiệt mạng.
Một trong giải pháp tiêu diệt quân địch hiệu quả và gây lên lỗi khiếp đảm của quân địch mỗi khi chúng tiến đanh Củ Chi đó là hệ thống vũ khi thô sơ do chính quân và dân Củ Chi tự chế và nó đóng một vai trò quan trọng, nó bẻ gẫy ý chí xâm lược của kẻ thù. Chúng ta hãy xem những vũ khí tự chế – sự khiếp sợ mà người Việt Nam dành cho quân xâm lược như: Hầm Chông Bẫy Cọp, Chông Thò, Chông Hom, Chông cánh, Chông cần cối, Chông nách, Chông bồ cào, chông cánh cửa, chông tự động ….. Đó là thứ vũ khí tự tạo không đơn thuần chỉ sát thương, mà còn tạo lên những cơn ác mộng kinh hoàng cho người còn lại…
Sau khi chiến tranh kết thúc, khu di tích lịch sử này đã trở thành một khu du lịch hấp dẫn, thu hút hàng ngàn du khách trong nước và nước ngoài tham quan mỗi ngày. Ngoài việc len lỏi vào các đường hầm để cảm nhận được không khí năm xưa, khách du lịch còn được nghe giới thiệu, được xem lại những đoạn phim tư liệu về thời chiến đấu oanh liệt của du kích Củ Chi, được thưởng thức món khoai mì chấm muối mè dân dã mà ngon miệng. Bên cạnh đó, du khách còn được tham gia môn thể thao bắn súng để thử khả năng tinh nhuệ và chính xác của mình. Và chắc chắn rằng ai cũng cảm thấy thật dễ chịu khi len lỏi vào những cánh rừng trung quân lá xanh ngút ngàn, ngồi đong đưa trên những chiếc võng, hoài niệm một chút về quá khứ, để biết rằng cuộc sống thanh bình ngày hôm nay được đánh đổi biết bao sự hy sinh của những con người năm xưa trên khắp đất nước Việt Nam….
Sau cuộc phản công “tìm diệt” thất bại trong mùa khô năm 1966-1967 của Mỹ, với lực lượng được tăng cường, Oétmolen lại gấp rút chuẩn bị cuộc phản công lần thứ 3 vào vùng chiến khu C, Đ, bằng những cuộc hành quân “ngăn ngừa” ở tỉnh Phước Long, đồng thời dự kiến mở 4 cuộc hành quân mang tên chung là “York” càn quét vùng biên giới Lào ở 4 tỉnh phía Bắc nhằm lập lại quyền kiểm soát ở miền tây Trị - Thiên.
Giữa lúc Oétmolen đang ráo riết triển khai lực lượng để thực hiện ý đồ đó thì Quân giải phóng Miền Nam mở đợt hoạt động quân sự Thu - Đông nhằm tiêu diệt, tiêu hao thêm một bộ phận binh lực Mỹ - Ngụy, buộc chúng phải bị động hơn nữa về chiến lược, tranh thủ mở rộng vùng giải phóng, củng cố thế trận và quyền chủ động chiến trường, đồng thời mở ra cho Giônsơn thấy leo thang chiến tranh là phiêu lưu, giành thắng lợi quân sự trên chiến trường Việt Nam là vô vọng.
Trước cuộc tiến công dồn dập của Quân giải phóng từ Quảng Trị cho đến đồng bằng sông Cửu Long (chiến sự ác liệt nhất trong mùa mưa năm 1967 là ở Tây Nguyên và Trị Thiên), cùng lúc với tin tức tình báo cho thấy Quân giải phóng đang di chuyển những đơn vị lớn từ vùng biên giới về đồng bằng, các trung tâm dân cư, kể cả Sài Gòn, Oétmolen hốt hoảng ra lệnh hủy bỏ kế hoạch phản công lần 3, điều phối lại lực lượng chuyển sang phòng ngự bị động theo 2 hướng chính là xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên.
Đến đây, một thời cơ mới cho công cuộc giải phóng miền Nam của Cách mạng Việt Nam đã xuất hiện. Bộ chính trị và Ban chấp hành Đảng Lao động Việt Nam nhận định: “Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn, đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược”, “tình hình ấy cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ Tổng tiến công và nổi dậy để giành thắng lợi quyết định”, do đó “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định” (Nghị quyết Hội nghị lần thức 14 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, tháng 1-1968).

                                
Sự can thiệp quân sự của Mỹ vào  Việt Nam gia tăng cường độ bắt đầu vào ngày 02.03 với chiến dịch “Sấm rền” “Operation Rolling Thunder”, tiến hành không kích miền Bắc Việt Nam với cường độ cao. Chiến dịch Rolling Thunder kéo dài 3 năm rưỡi ở nhiều cấp độ khác nhau. 

                               

Căn cứ và sân bay của Mỹ trở thành mục tiêu tấn công  thường xuyên của quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trong ảnh là kết quả của một vụ pháo kích của Quân Giải phóng vào căn cứ không quân Biên Hòa 11. 1964; bốn quân nhân Mỹ thiệt mạng , một số máy bay bị phá hủy. (Ảnh: USAF)

                                 
Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến viễn chinh số 9 đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của Quân Giải Phóng vào các lực lượng của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.
                                
Sự gia tăng với cường độ lớn các cuộc tấn công vào lực lượng quân sự Mỹ và tình hình bất ổn chính trị của chính quyền Sai Gòn đã khiến cho Tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh Mỹ ở Việt Nam, tướng 4 sao William Westmoreland chính thức yêu cầu triển khai lực lượng bộ binh vào tháng 01..

                             
Thủy quân lục chiến được triển khai !:  08.03, khoảng 4,000 yards (3,6 km) cách bờ biển Việt Nam, thủy quân lục chiến Mỹ chuẩn bị tiến vào đất liền từ các tàu đổ bộ thuộc lực lượng Amphibious Task Force 76. Trong ảnh là Lính thủy đánh bộ Mỹ trên tàu USS Vancouver. (USMC)

                             
Lực lượng đổ bộ đường biển bao gồm các tàu chỉ huy USS Mount McKinley, tàu vận tải USS Henrico, tàu chở hàng USS Union, tàu vận tải đổ bộ có đà tàu USS Vancouver. (USMC).
                    
                              
Sau thời gian chậm trễ do thời tiết gây ra sóng lớn,  06:00 ngày hôm sau,  hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến viễn chinh số 9 cập bờ tại bàn đạp RED Beach 2, phía bắc của căn cứ không quân. (USMC)
                              
Thủy quân lục chiến mang vũ khí và trang thiết bị trên bờ.
                             
                              Các xe thiết giáp cũng đổ bộ tự hành từ tàu đổ bộ hạng nặng
                             
                                                          Xe tăng đổ bộ lên bờ biển
                              
                                              Những chiếc xe tăng lần lượt cập bờ biển
                              
                  Một góc quan sát lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên bờ biển (USMC)


                              
                         Lính Mỹ triển khai trận địa phòng ngự ven bờ biển nơi đổ bộ(USMC)
                               
                                        Hai binh sĩ Mỹ đào đặp trận địa súng máy M60 (USMC)
                               
Chuẩn Tướng Frederick K. Karch (bên phải), chỉ huy trưởng lực lượnglữ đoàn 9 Thủy quân Lục chiến Mỹ bàn bạc ngay trên bãi biển với các tướng quân đội Sài Gòn  Thi và Lâm ngay trong khi đổ bộ. (USMC)
                              
Lính thủy đánh bộ Mỹ hành quân về vị trí trú quân. Quân đội Sải Gòn đảm nhiệm bảo vệ các tuyến đường hành quân xung quan căn cứ không quân Đà Nẵng
                              
                                                             Hành quân về căn cứ
                              
Chính quyền Sài Gòn đã tổ chức cho các học sinh địa phương chào đón lực lượng viễn chinh đến Đà nẵng - Việt Nam, băng cờ khẩu hiệu dăng trên những tuyến đường hành quân. Trong hình, cổng chào với khẩu hiệu "Chào mừng đến Việt Nam", trẻ em địa phương tò mò và hiếu kỳ nhìn ngắm những xe quân sự Mỹ ở ngoại ô Đà Nẵng. (USMC)
                              
Lực lượng tăng cường và trang thiết bị được trực thăng vận từ Okinawa và các căn cứ khác ở Việt Nam vào  thành phố Đà Nẵng .  Những phân đội đầu tiên của tiểu đoàn Thủy quân lục chiến số 3 đến căn cứ không quân sau buổi chiều hôm đó.
                               
Lực lượng triển khai ban đầu được giới hạn nghiêm ngặt về phương thức tác chiến và chỉ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ, mệnh lệnh từ Bộ tổng tham mưu trưởng liên quân xác định "các lực lượng Hải quân Hoa Kỳ sẽ không tham gia vào các trận đánh tấn công VC trong thời gian kế tiếp." Trong hình là hoàn thành việc xây dựng trận địa bazooka gần bãi biển ngày D-Day. (USMC)
                              
Lĩnh thủy đánh bộ nhanh chóng xây dựng trận địa phòng thủ trong và xung quanh sân bay, thiết lập các đồn, các trận địa pháo, định vị cáctrận địa tên lửa đất -đối-không HAWK. Trong hình, một vị trí súng bazoka 120mm trên Đồi 327 phía tây nam sân bay. (USMC)
                              
                                  Trận địa lựu pháo 105 mm của lính thủy đánh bộ (USMC)
                              
            Một chiếc xe ủi hạng nhẹ đang mở đường vào vị trí phòng ngự trên đồi 327. (USMC)
                              
                 Lính thủy đánh bộ chất hàng lên hai chiếc trực thăng vận tải tại sân bay Đà Nẵng
                               
                                        Hai trực thăng vận tải hạ cánh xuống cao điểm 327
                               
Lực lượng Lính thủy đánh bộ Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ sân bay, lực lượng quân lực ARVN có nhiệm vụ bảo vệ thành phố Đà Nẵng và các khu vực dân cư
                                
các cuộc tấn công của Quân Giải Phóng tiếp tục gia tăng, Mỹ đã buộc phải gia tăng số lượng bộ binh tham chiến. các  lực lượng  Thủy quân lục chiến tiếp tục được yêu cầu bổ sung được yêu cầu để củng cố tuyến phòng ngự tại Đà Nẵng và ở gần sân bay Huế / Phú Bài. (USMC)
                                 
Tháng 4, Tổng thống Mỹ Johnson đã dỡ bỏ các hạn chế hoạt động tác chiến, các tiểu đoàn bộ binh Mỹ có thể mở rộng phạm vị hoạt động, tiến hành các chiến dịch truy quét xa căn cứ nhằm mục đích "Tìm và diệt" Quân Giải Phóng
                                 
                                  
Những cuộc hành quân càn quét "Tìm và diệt" của Lính thủy đánh bộ Mỹ được triển khai bắt đầu từ tháng Sáu.
Cuộc đổ bộ Lính thủy đánh bộ Mỹ vào Đà Năng là mở đầu cho gần 10 năm nước Mỹ ngập sâu vào vũng lầy "chiến tranh cục bộ", gia tăng cường độ chiến tranh và cũng gia tăng số lượng lính Mỹ tử thương trên chiến trường Việt Nam, một sai lầm khủng khiếp trong "chiến lược viễn chinh" của Washington trong khu vực địa chính trị Đông Nam Á.


Nghị quyết cũng nhận định rằng: “Ta tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc chiến tranh thế giới (như trường hợp Cách mạng Tháng Mười Nga, hay Cách mạng Tháng Tám) mà là trong khi địch còn trên 1 triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn”.
Nghị quyết còn dự kiến 3 khả năng là:
“1 - Ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công kích và khởi nghĩa vùng yếu, ở các đô thị lớn và đập tan được mọi phản kích của địch, làm địch thất bại đến mức không thể gượng lại được, đè bẹp được ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục đích, yêu cầu của ta.
2 - Tuy ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch cố gắng tập trung và tăng viện thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại những vị trí quan trọng, các đô thị lớn, nhất là thủ đô, và dựa vào các căn cứ để tiếp tục chiến đấu với ta.
3 - Mỹ động viên và tăng viện thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh thêm một bước ra miền Bắc Việt Nam, sang Lào, Cămpuchia, hòng xoay cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.”
“Chúng ta phải nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng quyết tâm chiến đấu giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất”. Dù “… khả năng thứ 3 có rất ít, nhưng chúng ta cũng phải luôn sẵn sàng chủ động đối phó mọi tình huống có thể xảy ra”.

Bộ chính trị Trung ương Đảng kêu gọi: “Đạp bằng mọi gian khổ, hy sinh, vượt qua mọi thử thách khó khăn, dũng cảm và mưu trí tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến tới thống nhất nước nhà”, đồng thời giao cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng phương án hành động.  Phương án hành động đó đã được Quận ủy Trung ương và Bộ tổng tư lệnh xác định cụ thể là: “Cùng với đòn thế tiến công của bộ đội chủ lực mà chiến trường chính là đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, là đòn tiến công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố qui mô trên toàn miền Nam kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô thị, mở đầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Nam Bộ, Trị - Thiên, Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn”.

                      
20 Tháng Năm 1965, miền Nam Việt Nam --- Việc giữ liên lạc tốt với các đơn vị khác là điều bắt buộc phải làm khi các đơn vị lính Mỹ đang truy lung du kích trong rừng núi Việt Nam. --- Hình ảnh của Corbis ©
                        
Ngày 21 tháng 5 năm 1965, Khe Sanh, miền Nam Việt Nam --- : Một nhóm tuần tra Úc-Mỹ có mặt tại mốc trên biên giới Lào-Nam Việt Nam. Các binh sĩ hiện đang đóng quân tại Khe Sanh, khoảng 75 dặm phía tây bắc của Đà Nẵng và ít hơn 10 dặm từ biên giới Lào. Hình (Trái sang phải) là: Thượng sĩ nhất Richard - Fresno, California; Ted Wade - Entrace, Tupera Lake, New South Wales, Australia; SFC Anthony Tufts - Westford, Massachusetts, và Pavia Pete - Rockhampton, Queensland, Australia . --- Hình ảnh của Bettmann © / Corbis – Chiến tranh bắt đầu lan sang các nước bên 
  cạnh

                                                      
Ngày 24 Tháng Năm 1965, Biên Hòa, miền Nam Việt Nam --- : Một quân dù của sư 173 giúp đồng đội leo lên một bờ sông trong khi tuần tra. Một cố vấn quân đội Mỹ đã thiệt mạng và một bị bắt khi du kích Cộng sản phục kích một tiểu đoàn chính phủ Nam Việt Nam trong một khu rừng 150 dặm về phía tây nam Sài Gòn. --- Hình ảnh của Bettmann © / Corbis
                     
Ngày 29 tháng 5 năm 1965, Westminster, London, Anh, Vương quốc Anh --- London, Anh: Ca sĩ Joan Baez trong cuộc biểu. tình chống chiến tranh Việt Nam tại quảng trường Trafalgar. --- Hình ảnh của Bettmann © / Corbis
                     
Ngày 29 tháng 5 năm 1965, Biên Hòa, miền Nam Việt Nam --- Các thành viên của Lữ đoàn dù 173 Mỹ xem bản đồ kế hoạch truy lung du kích hoạt động trong rừng rậm. --- Hình ảnh của Corbis ©
                      
Ngày 29 tháng 5 năm 1965, London, Anh, Vương quốc Anh --- Ca sĩ Folksinger Joan Baez hát cho một đám đông tụ tập tại cột Nelson tại quảng trường Trafalgar London 9 tháng 5 sau khi nhóm biểu.tình được hình thành từ Hyde Park để phản đối chiến tranh tại Việt Nam. Cuộc *** được tổ chức bởi các Chiến dịch Giải trừ quân bị hạt nhân, Uỷ ban 100, hai nhóm hòa bình người Anh . --- Hình ảnh của Bettmann © / Corbis

                     
Saigon. Ông Henry Cabot Lodge, Đại sứ chỉ định Hoa Kỳ đến miền Nam Việt Nam (trái) được chào đón bởi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu chủ tịch hội đồng tướng lĩnh. Ông Lodge đã tiến hành một chuyến đi thực tế để tìm kiếm, khảo sát đánh giá tình hình kinh tế, chính trị, quân sự các và tình huống ở đây

                                    

 Năm 1965. --- Hình ảnh của Corbi
Ông Henry Cabot Lodge (trái), đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, được chào đón bới Phó Thủ tướng Nam Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của Corbis ©

 
                       
Năm 1965, Plaines des Joncs, Việt Nam --- Ranger máy bay trực thăng bay trên một nhóm các binh sĩ miền Nam Việt Nam tuần tra trong vùng đất Plains Joncs. Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis
                       
Năm 1965, Binh sĩ Nam Việt Nam --- Mỹ di chuyển trên một con đường nhỏ vào rừng trong chiến dịch tìm và diệt Năm 1965. --- Hình ảnh của Corbis ©
                       
Năm 1965, phía nam của Chu Lai, Việt Nam --- Lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bị thương trong khi thực thi chiến dịch "Starlight", gần Chu Lai. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis
                                 
Năm 1965, phía bắc Vingtao, Việt Nam --- Máy bay trực thăng Huey (UH1) bắn bắc tên lửa 2,75 inch . --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis
                           
Năm 1960, USA --- Norman Morrison được biết đến như là người Quaker vào năm 1965 đã tự thiêu bên ngoài Lầu Năm Góc để phản đối chiến tranh Việt Nam. --- Hình ảnh của Bettmann © / Corb

 

Ê-mi-ly, con

 Kính tặng No-man Mô-ri-xơn

 Ê-mi-ly, con đi cùng cha
Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc...
- Đi đâu cha?
- Ra bờ sông Pô-tô-mác
- Xem gì cha?
- Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.
Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe
Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe
Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!
Cha bế con đi, tối con về với mẹ...

Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn, mất
Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!
Giôn-xơn!
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất.
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật!
Mắc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc

Ê-mi-ly, con đi cùng cha
Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc...
- Đi đâu cha?
- Ra bờ sông Pô-tô-mác
- Xem gì cha?
- Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.
Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe
Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe
Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!
Cha bế con đi, tối con về với mẹ...

Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn, mất
Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!
Giôn-xơn!
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất.
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật!
Mắc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc

Ê-mi-ly, con đi cùng cha
Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc...
- Đi đâu cha?
- Ra bờ sông Pô-tô-mác
- Xem gì cha?
- Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.
Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe
Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe
Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!
Cha bế con đi, tối con về với mẹ...

Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn, mất
Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!
Giôn-xơn!
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất.
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật!
Mắc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc                                                   
Mỗi góc một châu
Mày vẫn chui đầu
Trong lửa nóng
Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng.

Hãy nhìn đây!
Nhìn ta phút này!
Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay
Ta là Hôm nay
Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là Mãi mãi!
Ta đứng đây,
Với trái tim vĩ đại
Của trăm triệu con người
Nước Mỹ.
Để đốt sáng đến chân trời
Một ngọn đèn
Công lý.

Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ
Nhân danh ai?
Bay mang những B.52
Những na-pan, hơi độc
Từ toà Bạch Ốc
Từ đảo Guy-am
Đến Việt Nam
Để ám sát hoà bình và tự do dân tộc
Để đốt những nhà thương, trường học
Giết những con người chỉ biết yêu thương
Giết những trẻ em chỉ biết đi trường
Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ!

Nhân danh ai?
Bay chôn tuổi thanh xuân của chúng ta trong những quan tài
Ôi những người con trai khoẻ đẹp
Có thể biến thiên nhiên thành điện, thép
Cho con người hạnh phúc hôm nay!

Nhân danh ai?
Bay đưa ta đến những rừng dày
Những hố chông, những đồng lầy kháng chiến
Những làng phố đã trở nên pháo đài ẩn hiện
Những ngày đêm đất chuyển trời rung...
Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng
Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng
Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ
Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!

Hãy chết đi, chết đi
Tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ!
Và xin nghe, nước Mỹ ta ơi!
Tiếng thương đau, tiếng căm giận đời đời
Của một người con. Của một con người thế kỷ.

Ê-mi-ly, con ôi!
Trời sắp tối rồi...
Cha không bế con về được nữa!
Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa
Đêm nay mẹ đến tìm con
Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn
Cho cha nhé.
Và con sẽ nói giùm với mẹ:
Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!

Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn mất?
Đã đến phút lòng ta sáng nhất!
Ta đốt thân ta
Cho ngọn lửa chói loà
Sự thật.
7-11-1965

 Em bé Ê-mi-ly, 18 tháng, là con gái út của No-man Mô-ri-xơn. Yêu con tha thiết, ngày 2-11-1965, anh Mô-ri-xơn đã bế Ê-mi-ly từ nhà đến Lầu năm góc, và tại đấy, sau khi đặt Ê-mi-ly xuống đất rồi nhìn con lần cuối cùng, người cha anh dũng đó đã châm lửa tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ ở Việt Nam.


                    
Năm 1965, miền Nam Việt Nam --- Hai kỹ sư quân sự người Mỹ đứng nhìn một bunker Cộng phát nổ. --- Hình ảnh của Corbis ©
                               
Năm 1965, gần Chu Phong, Thung lũng Ia Đrăng, Việt Nam --- Binh sĩ thuộc sư đòan Kỵ binh số 1 Hoa Kỳ hành quân xuyên qua khu rừng trên đường tới núi Chu Phong, trong thung lũng Ida Drang. Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis

                   
Sky Crane máy bay trực thăng CH-54A thuộc sư đoàn không kỵ binh số 1 tại An Khê, Việt Nam. Năm 1965. --- Hình ảnh của Corbis ©

                    
Năm 1965, chiến khu D, Việt Nam --- Các binh sĩ thuộc sư đoàn không kỵ binh 173 Hoa Kỳ 173 tuần tra ở chiến khu D. Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis
                   
Năm 1965, gần Biên Hòa, Việt Nam --- Một lính truyền tin Mỹ trong một lúc nghỉ ngơi --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis

                   
Năm 1965, The Delta, tỉnh Cao Lanh, Việt Nam --- A Đơn vị biệt kích Nam Việt Nam (biệt đội Phượng Hoàng) với cờ của lực lượng giải phóng miền Nam i. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis

                    
Năm 1965, Việt Nam --- Một sĩ quan quân đội Mỹ xem xét và hướng dẫn sử dụng vũ khí cho lính địa phương vùng cao Ảnh của Bộ sưu tập Hulton-Deutsch © / Corbis

                     
Năm 1965, Việt Nam --- lính Mỹ di chuyển qua đồng cỏ trong chiến dịch tìm và diệt . --- Hình ảnh của Corbis ©

                      
Năm 1965, Việt Nam --- Một người lính Mỹ đọc một tài liệu thu được của Việt Cộng. Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của Corbis ©

                     
Năm 1965, Việt Nam --- Hình ảnh lính Mỹ hành quân qua đồng cỏ tại Việt Nam. Năm 1965. --- Hình ảnh của Corbis ©

                               
Năm 1965, chiến khu C, Việt Nam --- Một máy bay trực thăng y tế Hoa Kỳ hạ cách theo tín hiệu khói để sơ tán lính của trung đoàn dù 173 bị thương và sống sót bị thương sau khi họ bị phục kích ở chiến khu C. Việt Nam, năm 1965. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis

                                   
Năm 1965, Cánh đồng Chum, Việt Nam --- Một toán quân của miền Nam Việt Nam lội qua sông trên Cánh đồng Chum. Việt Nam, năm 1966. --- Hình ảnh của © Page Tim / Corbis – Hình như có sự nhầm lẫn vì cánh đồng Chum ở Bên Laos   

Theo đánh giá của phía Mỹ, có luồng ý kiến chủ yếu là giới cầm quyền như Oétmolen, Bâncơ (Bunker), Kitxingo (Kissinger)… cho rằng “cuộc tiến công Tết là một sự thất bại to lớn về quân sự của Cộng sản, về mặt tâm lý thì là một sự đảo ngược có tính quyết định”. Họ dẫn giải: “… họ (tức Việt Cộng) đã bị tiêu hao lực lượng tinh túy nhất của họ. Sự suy thoái một cách nhanh chóng về số quân đưa vào Nam trong mùa xuân và mùa hạ cùng với các yêu cầu cấp bách về nhân lực để chống lụt ở miền Bắc là sự chứng minh cụ thể về những khó khăn mà chính quyền Hà Nội đã vướng phải sau khi mất quân năm 1968…”. Tuy nhiên số đông ý kiến nghiêng về phía nhìn nhận sự thất bại của Mỹ. Mắcxoen Taylo cho biết: “Những tin tức chính thức từ Việt Nam phát đi sau cuộc tiến công (tức là tin nói rằng Cộng sản bị thất bại về quân sự) không làm ai tin cả mà còn bị lên án như định che dấu, biện bạch cho kẻ phản bội hoặc không được để ý đến”. Leslie Gelb và Richard H. Betts cũng nói: cuộc tiến công Tết là “bước rẽ trên đường đi”, là “một đòn chí mạng đánh vào chính sách kiên trì của Hoa Kỳ, bắt buộc Giônsơn phải xem lại chính sách đó”, là “ một chiến thắng có tính chất quyết định của Cộng Sản”, “Về chính trị, đây là một đòn sấm sét, một thắng lợi vô cùng to lớn, họ đã làm sụp đổ sự tín nhiệm đối với Giônsơn”. Mc Carthy nói một cách hài hước: “nếu chiếm một phần lớn sứ quán Mỹ, một phần thành phố Huế, Đà Lạt và các tỉnh lớn khác ở Vùng 4 có nghĩa là thất bại hoàn toàn thì theo kiểu lôgic đó, tôi cho rằng nếu Việt Cộng chiếm toàn miền Nam, chính quyền sẽ tuyên bố họ (Việt Cộng) sụp đổ hoàn toàn.”.
                                                https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/19/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Ph%C6%B0%E1%BB%A3ng_Ho%C3%A0ng_3.jpg
Trang bìa cuốn "Huấn thị điều hành căn bản Kế hoạch Phụng Hoàng" Tập số 3, bản kín (mật) số hiệu 2211

Tờ bướm tuyên truyền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về chiến dịch
 

              Biệt kích SEAL tác động chiến tranh Việt Nam thế nào?
Đội SEAL 1 trên thuyền tấn công xuôi dòng sông Hậu (ảnh chụp tháng 11/1967). Ảnh: J. D. Randall.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Trong việc lập kế hoạch cho cuộc tổng tiến công, họ đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí. Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của họ, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Một số tướng lĩnh của Hoa Kỳ dự đoán trước đó rằng cuộc tấn công của Quân Giải phóng sẽ không nhận được sự ủng hộ của người dân. Tuy nhiên, theo quan sát của giới báo chí trên chiến trường, diễn biến của các đợt tấn công đã chứng minh điều ngược lại. Trong việc lập kế hoạch tiến công Mậu Thân 1968, các cấp chỉ huy chiến đấu của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch đâu là mục tiêu chính trị thực chất của cuộc tiến công và đâu là mục tiêu được phổ biến rộng rãi trong quân để cổ vũ khí thế chiến đấu. Mục tiêu thực chất là đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Còn mục tiêu được phổ biến tuyên truyền trong cán bộ binh sĩ để nâng cao sĩ khí là trận cuối cùng "đánh dứt điểm" đối phương. Các cán bộ chiến trường khi lập kế hoạch tác chiến cũng tin tưởng vào quyết tâm đánh dứt điểm của cấp trên nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng. Điều sai lầm nữa cho Quân Giải phóng là họ đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Khi thấy chưa đạt được mục tiêu trong đợt tấn công đầu tiên họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của họ càng lớn.
Nếu đánh giá thật khách quan thì, theo ý kiến chúng ta, trong chiến dịch Mậu Thân, chỉ nên thực hiện đợt I và đợt II. Vì chỉ với hai đợt tấn công đó cùng với chiến thắng Khe Xanh, Quân Giải phóng cũng đạt được những mục tiêu chính trị đề ra theo như ý Lê Duẩn. Xét riêng trên lĩnh vực quân sự thuần túy, tổng tiến công tết Mậu Thân không phải là một chiến thắng đúng nghĩa và thiếu tính nhân đạo vì nó đã được tiến hành một cách duy ý chí, không đến nơi đến chốn và nặng ảo tưởng về một cuộc nổi dậy cướp chính quyền của quần chúng cách mạng! Không khí sục sôi cách mạng của quần chúng trong những ngày của tháng 8 - 1945 đã qua lâu rồi!
Nhưng trên bước đường đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, sự vấp váp, phán đoán sai lầm gây nên tổn thất là chuyện thông cảm được!...

Trung đội SEAL tên là “X-quang” chụp ảnh trên bến tàu gần tỉnh Bến Tre. Ảnh: National Archives’.
Một lính biệt kích hải quân Mỹ ôm súng máy hạng nhẹ Stoner 63A Commando đang quan sát động tĩnh (ảnh chụp tháng 10/1968 ở Đồng bằng sông Cửu Long). Ảnh: National Archives.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32