"Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều
vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc - tôi mới căm ghét chúng làm sao!" -Albert Einstein
"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy
cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng cháu
Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng
để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn
người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không
đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn"
Hồ Chí Minh
"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to
lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng
quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng
ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực
lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy
mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói
khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước."
Hồ Chí Minh
“Chiến
tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội,
Hải Phòng, và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến
ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn,
to đẹp hơn!” Hồ Chí Minh "Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ" Phạm Khắc Hòe
PHẦN I
Cái
"Có" tuyệt đối duy nhất trong thế giới này là Tồn Tại. Không có cái
"Không có" tuyệt đối, tức Hư Vô. Tồn Tại vì thế mà được bảo toàn, không
có sinh thêm ra
và mất bớt đi. Tồn Tại là vốn dĩ có sẵn thế. Do đó mới gọi là Tự Nhiên
Tồn Tại! Tự
Nhiên Tồn Tại là vĩnh viễn, tuyệt đối, ngoài thời gian (ngoài tầm quan
sát, theo dõi, chiêm nghiệm) nó bất biến, trong thời gian (trong tầm quan sát, theo
dõi, chiêm nghiệm) nó thường biến. Ở đây, khái niệm "quan sát", "theo dõi" phải được
mở rộng tối đa. Cho dù chúng ta chỉ tưởng tượng về Tự Nhiên Tồn Tại, thì
cũng có nghĩa chúng ta đã theo dõi nó, nghĩa là đã "nhìn" nó trong thời
gian! Suy ra, không thể có "cái nhìn", hay sự quan sát ngoài thời gian! Một
đặc tính cơ bản của Tự Nhiên Tồn Tại là "sức ỳ tồn tại". Vì Tồn Tại là
vĩnh viễn nên"sức ỳ tồn tại" là tuyệt đối. Một bộ phận hợp thành Tồn
Tại, từ Tồn Tại phát sinh ra được gọi là vật chất hay tồn tại tương đối.
Trong thế giới vật chất, vì cũng là Tồn Tại (nhưng có tính đặc thù) nên
cũng có "sức ỳ tồn tại" nhưng chỉ ở mức độ tương đối thôi và gọi là "cố
gắng tồn tại". Thể hiện của "cố gắng tồn tại" chính là "quán tính"
(khối lượng). Sinh
vật được hun đúc nên từ vật chất, thế giới sinh vật là một tập hợp nhỏ
của thế giới vật chất. Vì thuộc về vật chất nên ở sinh vật cũng có có
tính "cố gắng tồn tại" và vì là dạng vật chất đặc thù nên sự "cố gắng
tồn tại" cũng thể hiện ra một cách đặc thù với tên gọi là "cố gắng sống
còn", hay "đấu tranh sinh tồn". Có thể nói "đấu tranh sinh tồn" là qui
luật cơ bản nhất của thế giới sinh vật. Chính có sự chi phối mạnh mẽ của
qui luật "đấu tranh sinh tồn" cùng với tác động của sự tăng - giảm lạm
phát về số lượng cư dân khi có điều kiện đã làm nên hiện tượng có tính
phổ biến là lan tỏa và hội tụ dân cư tự nhiên, và những hiện tượng khác
như sự thịnh - suy, sự tranh giành, sự phân hóa tầng lớp...trong xã hội.
Quân Pháp tấn công quân Thanh ở Lạng Sơn
Lịch
sử đã chứng minh rằng hình thể đất trời sông biển Việt Nam có được như
ngày nay là kết quả của một quá trình giữ nước kiên cường, bất khuất của
Dân tộc Việt, đi đôi với quá trình đắp đập, be bờ phía Bắc là lan tỏa
dân cư một cách tương đối hòa bình xuống phía Nam trước một Chiêm Thành
tự suy tàn bởi tính hiếu chiến của nó và một Chân Lạp sình lầy, nước
đọng, hoang sơ. Có thể nói sự mở rộng lãnh thổ đó có tính hồn nhiên,
“thuận thiên”.
Dù
rằng cũng có một hai đời vua kéo quân đi xâm lấn láng giềng, nhưng nhìn
chung thì trong tâm hồn Dân tộc Việt không tồn tại ý chí bành trướng
lãnh thổ bằng bạo lực. Do đó mà cũng không thể xây Việt Nam “to” hơn
được.
Tâm
nguyện của Hồ Chí Minh, tiêu biểu cho tâm hồn cao đẹp, trong sáng của
Dân tộc Việt trong thời đại mới, là mong đất nước được độc lập, dân tộc
được tự do, Tổ quốc thịnh vượng. Vì thế, khi Hồ Chí Minh nói “to đẹp
hơn” thì nên hiểu theo nghĩa “cao đẹp hơn”, “tươi đẹp hơn”.
Như
đã nói, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra thiên thời có
một không hai cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Cách mạng
Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh - một đại anh hùng dân tộc ở thế kỷ XX
của Dân tộc Việt. Sau đây là những tư liệu lịch sử được cho là xác đáng nhất
mà chúng ta tom góp được từ các nơi, trong đó có một phần là của
wikipedia và vài đoạn trong các bài viết của "bá tánh" trên mạng
Internet.
Chiến dịch Đông Dương thuộc Pháp năm 1940 hay Chiến dịch Đông Dương lần thứ nhất là quá trình Đế quốc Nhật Bản tấn công vào Đông Dương thuộc Pháp năm 1940.
Một trong những mục đích của Nhật Bản là cắt đứt một trong những tuyến viện trợ chính của Hoa Kỳ cho Trung Quốc trong chiến tranh Trung-Nhật (1937 - 1945) qua đường cảng Hải Phòng và tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam.
Ngày 5 tháng 9 năm 1940, Nhật Bản thành lập Đông Dương phái khiển quân
để đồn trú tại Đông Dương. Lực lượng này sẽ nhận được sự hỗ trợ bằng
máy bay và tàu chiến của Nhật từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Tướng Nhật Takuma
Nishimura được giao quyền chỉ huy quân đoàn Hoa Nam, tiến hành đàm phán
với đô đốc Pháp Decoux,
toàn quyền Đông Dương, để thỏa thuận triển khai quân Nhật trên lãnh thổ
Đông Dương thuộc Pháp. Cuộc đàm phán tiến triển quá chậm chạp nên giới
tướng lãnh Nhật chỉ huy quân đoàn Hoa Nam quyết định gây hấn để phá hoại
quá trình đàm phán. Để tránh giao tranh, ngày 21 tháng 9 năm 1940, phía
Pháp đồng ý nhượng bộ, cho phép Nhật đóng 6 ngàn quân ở Bắc kỳ, được
quyền sử dụng 4 sân bay, đồng thời được quyền chuyển 25 ngàn quân qua
Bắc kỳ vào Vân Nam, quyền sử dụng cảng Hải Phòng để vận chuyển một sư đoàn thuộc quân đoàn 21.
Các binh sĩ Lục quân Đế quốc Nhật Bản tiến tới Lạng Sơn, vào tháng 9 năm 1940 tại Đông Dương thuộc Pháp.
Quân nhật tiến vào Hải Phòng thế chân quân Pháp, ngày 24/11/1940.
Binh lính Nhật Bản hành quân trên đường phố Sài Gòn
Quân Nhật trên đường d’Adran ở Sài Gòn, nay là đường Hồ Tùng Mậu.
Ngày
23-9-1940, với sự giúp đỡ của phát xít Đức, chính phủ bù nhìn của Pháp,
đứng đầu là Pêtanh đã ký hiệp ước thỏa thuận cho Nhật được đưa quân vào
Đông Dương. Toàn quyền Đờcu (Jean
Decoux) được ủy quyền trực tiếp dâng Đông Dương cho Nhật. Hồ Chí Minh dã làm bài thơ tặng Đờcu như sau:
Bài thơ Tặng Toàn quyền Đờcu[1]) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:
Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù,
Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu.
Đối dân Nam Việt thì lên mặt,
Gặp bọn Phù Tang[2]) chỉ đội khu[3])!
Về Pháp, không cơm e chết đói,
Ở đây, hút máu béo ni-nu.
Cũng như thống chế Pêtanh vậy,
Chú cứ cu cù được mãi ru!
------------------------------------------
[1])
Đờcu (Jean Decoux), Thuỷ sư đô đốc, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương từ
ngày 30-8-1940. Theo chủ trương của chính phủ Pháp, do Pêtanh cầm đầu,
Đờcu thi hành chính sách đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Y bị Nhật tống
giam trong cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 (B.T).
[2]) Phù Tang: nước Nhật (B.T).
[3]) Đội khu: đội đít, chỉ việc Toàn quyền Đờcu khuất phục, bợ đỡ quân phiệt Nhật (B.T).
Nguồn trích:
- Báo Việt Nam độc lập, số 134, ngày 11-8-1942.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 240.
- Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, 2006, t. 2, tr. 172
Bất chấp việc đàm phán đã ngã ngũ, lực lượng quân sự Nhật vẫn tiến hành
khởi sự. 9 giờ tối ngày 22 tháng 9, sư đoàn 5 tinh nhuệ trực thuộc quân
đoàn 21 Nhật tràn qua biên giới từ Long Châu vào Việt Nam qua ngả Đồng Đăng và giao tranh quyết liệt với quân Pháp tại đây. Giao tranh lan ra các đồn binh Pháp dọc biên giới. Xe bọc thép Nhật uy hiếp Lạng Sơn, buộc quân Pháp tại đây giương cờ đầu hàng. Tới lúc này các đơn vị quân thuộc địa
bắt đầu hoảng loạn rút chạy, hàng trăm lính tập rã ngũ, vứt bỏ vũ khí
lại trên đường chạy về Hà Nội. Cùng thời gian, máy bay thuộc hải quân
Nhật cất cánh từ tàu sân bay trên vịnh Bắc Bộ bắn phá các mục tiêu Pháp trên bộ ngày 24 tháng 9. Hải quân Nhật tiến hành đổ bộ 4,500 lính bộ binh và hơn một chục xe tăng ở phía nam cảng Hải Phòng, tiến hành tước khí giới quân Pháp tại Đồ Sơn. Tới tối ngày 26, quân Nhật đã chiếm sân bay Gia Lâm, trạm xe lửa từ biên giới Vân Nam vào Lào Cai và Phủ Lạng Thương
trên tuyến đường sắt từ Hà Nội-Lạng Sơn. 900 quân Nhật chiếm cảng Hải
Phòng, 600 quân khác đóng tại Hà Nội trước sự bất lực của Pháp.
Cuối tháng 10
năm đó, những toán lính Nhật đầu tiên đã tới Hà Nội.Để yên lòng kẻ hàng thần mới, Mikado (Nhật hoàng) ra chiếu phủ dụ:
“Trẫm vĩ đại. Trẫm lòng lành. Trẫm giải
phóng cho các người. Trẫm trông cậy ở các người sẽ cộng tác với Nhật Bản để “phòng thủ Đông Dương” mà chủ quyền Trẫm
công nhận là thuộc về nước Pháp”! Thế là để bảo đảm mạng sống cho khoảng trăm
ngàn Pháp kiều và quân viễn chinh, mẫu quốc Pháp bỏ rơi gần ba chục triệu dân
nô lệ da vàng bản xứ! Pháp chịu để cho phát xít Nhật biến Đông Dương thành nơi
trung chuyển và căn cứ hậu cần cùng lời hứa cộng tác về mặt quân sự với Nhật
trong trường hợp có sự tấn công của các nước Đồng minh. Tại các bãi bến thủy bộ,
hàng ngày tàu biển Nhật ra vào tấp nập, các cuộc chuyển quân và vũ khí phương
tiện chiến tranh rầm rập trên các tuyến hỏa xa và xa lộ, các sân bay ở Bắc kỳ
được dùng để tấn công các căn cứ và đường
giao thông ở Birmanie, Vân Nam, Tứ xuyên, Trùng Khánh. Máy bay chiến đấu
Nhật bay tới bay đi nhào lộn luyện tập ngay trên bầu trời Hà Nội mà không cần
xin phép. Đông Dương biến thành bãi chiến trường, chịu những trận oanh kích của
máy bay Đồng minh suốt từ Sài Gòn, Đà Nẵng dọc ra Hải phòng, Hà Nội, hàng trăm
thường dân bị chết lây! Tuy nhiên bộ máy chính quyền Pháp hầu như vẫn còn
nguyên từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở vì người Nhật khôn ngoan chẳng
những có được hậu phương ổn định mà còn được cả về kinh tế nữa. Họ thúc ép “gắn
liền kinh tế Đông Dương vào kinh tế Nhật". Gạo và cao su cứ ùn ùn chở sang Nhật
hoặc cung cấp cho quân Nhật đóng ở tiền đồn vùng biển phía Nam. Theo tài liệu của
chính quyền Decoux thì về gạo đã xuất, năm 1941: 700.000 tấn, năm 1942:
1.050.000 tấn, năm 1943: 950.000 tấn, năm 1944: 900.000 tấn; về cao su và các
khoản thương vụ khác trong mấy năm đầu thập niên 1940 đã xuất số lượng tính ra
bằng vàng tổng giá trị là 32.620kg (tính tròn), tương đương số tiền lúc đó là
22 tỷ Franc (Bác sỹ Ngô Văn Quỹ: Đêm dài Nhật-Pháp bắn nhau – NXB Trẻ 2001).
Khi chủ nghĩa phát xít đã thành tai họa của
loài người thì các quốc gia thấy cần liên kết lại tiêu diệt nó. Cùng lúc ở mặt
trận châu Âu và châu Phi, quân phát xít Đức, Ý bị đẩy lùi về tận hang ổ của
chúng, Hoa Kỳ tham chiến cả trên Đại Tây Đương và Thái Bình Dương, nước Pháp được
giải phóng, quân đội Nhật hoàng bị đánh tả tơi cả trên biển và trên lục địa. Đã
đến lúc giới quân phiệt Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách khỏi những sự
kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Vào những ngày đầu thảng 3/1945, quân Mỹ
đã chiếm được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với nam bán đảo Đông
Dương. Đề phòng tái diễn sự kiện như ở bờ biển Normandie năm trước, lúc này lại
có thêm quân Pháp làm hậu thuẫn, tất nhiên là quân Nhật ở Miến Điện, Thái Lan,
Malaixia... sẽ hết đường về bảo vệ quốc đảo Phù tang. Phát xít quyết định hất cẳng
thực dân. Ngày N, giờ G được xác định. Yếu tồ bất ngờ được Nhật khai thác đến triệt để
trong sự kiện ngày 9/3/1945. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương
vào cùng một ngày, một giờ gần như thống nhất. Quan lính Pháp qua 5 năm sống
yên phận chờ thời, dù thấy sự nghi ngờ cũng dễ bỏ qua, giờ vỡ ra thì không kịp
trở tay. Mở đầu vào đêm 9/3 bằng những “bữa tiệc máu” và kết thúc lúc sáng hôm
sau bằng những cuộc chém giết như thời trung cổ. Khi tiếng súng lệnh nổ thì những
tên lính cải trang mà dân chúng ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế,
Sài gòn... đã quen mặt, hàng ngày tỏ ra
lịch thiệp, dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào và trở thành những con quỷ dữ khát
máu, giết người không gớm tay. Riêng đối với các binh sỹ người Việt Nam thì được
đối xử tử tế vì là đồng thanh, đồng chủng, cùng trong Khối thịnh vượng chung.
Chỉ trong một đêm, trên toàn cõi Đông dương đã có 2.650 binh sỹ và sỹ quan da
trắng bị giết. Trong đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy,
91 trung úy, 9 bác sỹ và một thú y bác sỹ. (BS Ngô Văn Quỹ - sđd).
Kết cuộc là hệ thống cai
trị thực dân hoàn toàn tan rã. Toàn bộ quan chức đầu não và tướng lĩnh Tư lệnh
các cấp của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux. Hàng trăm sỹ quan và
hàng ngàn binh lính bị chết ngay tại trận hoặc trên các ngả đường trốn chạy. Cả
sáu Tập đoàn quân trên toàn cõi Đông Dương như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy vào
các cánh rừng, tìm lối thoát sang Thái Lan, Miến Điện. Số lớn chạy qua Trung
Quốc thì lại bị người Mỹ, người Hoa coi như kẻ thù, bị tấn công, bị xua đuổi từ
làng này sang làng khác, bị đói khát, bệnh tật... quân số thương vong thêm quá
nửa!
Tại kinh đô Huế, cuộc chính biến nổ ra lúc 9giờ15phút đêm 9/3, đến 10giờ sáng hôm sau thì kết thúc. Một phần tư trong số hơn một ngàn sĩ quan binh lính Pháp tử trận. Số còn lại hoặc bị bắt hoặc tẩu tán sâu vào dãy Trường Sơn. Lúc 11 giờ, Khâm sứ Nhật Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật! Cùng lúc đó, qua đài phát thanh Sài Gòn, Nhật thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9/3, đổ lỗi cho phía Pháp thiếu hẳn tinh thần cộng tác, đã tổ chức mạng gián điệp làm việc cho quân Đồng minh, đã tích trữ súng đạn được thả dù xuống, bố trí quân đội để tấn công quân Nhật. Đồng thời cũng tuyên bố từ nay chủ quyền của Pháp ở Đông Dương không còn nữa, các dân tộc ở đây được độc lập nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Ngay hôm sau, 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp (1884) được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!” (Hồi ký Phạm Khắc Hòe).
Nhật không dễ nhả ra miếng mồi Đông Dương béo bở. Trong khi vua tôi nhà
Nguyễn đang loay hoay tìm người lập nội các mới thì ngày 30/3/1945, trong một
cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, Toàn quyền Minoda (từng học Saint
Cyr) nói toạc ra bằng tiếng Pháp để không ai nhầm lẫn: “Il-y-a un grand malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle ci tout entière est
sous le contrôle militaire du Japon. L’indépendence de l’Empire d’Annam et
cellce du Cambodge on été pro clameés. La Cochinchine, non seulement se trouve
sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’aminis tration
militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine...” (Có một
sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới
sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và cũng như
của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự
mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của
Nam Kỳ) (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Sự thực là gần đến những ngày tàn Nhật mới chịu
giao lại ba tỉnh nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng (20/7), sau cùng là Nam Kỳ (14/8), đúng vào
ngày Nhật ký hiệp ước đầu hàng không điều kiện Đồng minh chống phát xít.
Chân dung một người lính Nhật Bản thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương.
Lính Nhật dán bản thông cáo về tình trạng thiết quân luật vào tháng 9/1945.
Sau
một vài năm mị dân để chuẩn bị tình thế, đến ngày 9-3-1945 thì Nhật nổ
súng hất cẳng Pháp một cách dễ dàng. Chúng vẫn giữ nguyên bộ máy cai trị
cũ, thay người Pháp thành người Nhật: thống sứ Nhật, đốc lý Nhật, chúa
ngục Nhật, hiến binh Nhật… Lúc này bộ mặt tàn bạo của phát xít Nhật mới
lộ hết chân tướng: ra sức vơ vét cướp bóc, bắt dân nhổ lúa, ngô, trồng
đay, thầu dầu phục vụ chiến tranh, đàn áp, bắt bớ phong trào Việt Minh,
gây ra nạn đói thê thảm làm chết hai triệu người. Để
tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị
Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố trao trả độc
lập cho Việt Nam.
Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước
Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Vua Bảo Đại
liền giải tán Hội đồng cơ mật gồm Thượng thư sáu bộ, tuyên bố từ nay sẽ
tự mình cầm quyền nhưng bên cạnh nhà vua là viên Đại sứ Nhật ở Đông
Dương Yokoyama làm "Tối cao cố vấn". Chỉ huy quân Nhật, tướng Tsuchihashi Yuitsu
, nghĩ rằng chỉ cần Việt Nam độc lập trên danh nghĩa và chính phủ mới
của Việt Nam phải được Nhật kiểm soát chặt chẽ. Thoạt đầu Phạm Quỳnh
được chỉ định tạm quyền nhưng ông này quá thân Pháp, ngoài ra ông ta
thấy ngay "nền độc lập" có những giới hạn như giống như hồi còn chế độ
bảo hộ Pháp: Không có tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không có
độc lập tài chính... Nhật liền chọn một nhân vật ôn hoà hơn và gần gũi
với Nhật Bản. Đó chính là Trần Trọng Kim, đang ở Singapore. Theo Daniel
Grandcléme, nhà vua Bảo Đại chẳng có vai trò gì trong việc chỉ định này.
Trần Trọng Kim
Ngày
30 tháng 03 năm 1945, Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón từ Băng Cốc về
Sài Gòn. Khoảng 5 tháng 04 năm 1945, Trần Trọng Kim đến Huế. Sau khi
được yết kiến Bảo đại và gặp Trần Đình Nam,
Trần Trọng Kim cũng tán thành giải pháp lập nội các do Ngô Đình Diệm
đứng đầu nên một bức điện thứ 2 triệu tập Ngô Đình Diệm được Tối cao cố
vấn Yokoyama nhận chuyển đi. Nhưng Ngô Đình Diệm không ra Huế (do Nhật
không chuyển điện, hay nhận điện mà từ chối). Bảo Đại triệu Trần Trọng Kim vào tiếp kiến lần thứ hai. Trần
Trọng Kim và một số trí thức có tiếng tăm được giao thành lập nội các ở
Huế vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. Đây là một dạng chính phủ nghị viện
đầu tiên tại Việt Nam và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng
đầu tiên của Việt Nam. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức
luật sư, bác sĩ, kỹ sư (một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật
sư):
Trần Đình Nam (1896-1974) y sĩ Đông Dương, Bộ trưởng Nội vụ.
Trần Văn Chương (1898 – 1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Ngoại giao.
Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Tư pháp.
Vũ Văn Hiền (1911-1963), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng tài chính.
Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), Giáo sư, Thạc sĩ toán học, Bộ trưởng giáo dục và Mỹ thuật.
Vũ Ngọc Ánh (1901-1945), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Y tế.
Lưu Văn Lang (1880-1969), Kỹ sư bách nghệ được vua Bảo đại mời làm Bộ trưởng Công chính, nhưng đến giờ chót ông từ chối vì tuổi cao.
Hồ Tá Khanh (1908-1996), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Kinh tế.
Nguyễn Hữu Thi (1899-?), Y sĩ, đại thương gia, Bộ trưởng tiếp tế.
Phan Anh (1911-1990) Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.
Cờ quẻ Ly của chính phủ Đế quốc Việt Nam, 9 tháng 3 1945 - 22 tháng 8 1945
Ngoài các thành viên Nội các, nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cùng tham gia công việc của chính quyền: Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc bộ), Bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Lân (Thị trưởng Huế), Phó bảng Đặng Văn Hướng (Tỉnh trưởng Nghệ An), Phó bảng Hà Văn Đại (Tỉnh trưởng Hà Tĩnh), Giáo sư Đặng Thai Mai (Tỉnh trưởng Thanh Hóa)… Các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum, được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu được mời làm Cố vấn đặc vụ ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ. Một chính phủ được thành lập trong bối cảnh lịch sử như chính phủ
Trần Trọng Kim, thông thường dễ bị coi là thân Nhật, là tay sai Nhật. Và
thực tế đã bị coi như vậy. Luật sư Phan Anh, một bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim, sau này viết:
“Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng được một
đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái
lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là
một bài học đau đớn!”
Giáo sư Đinh Xuân Lâm có viết: "Nội các Trần Trọng Kim, với thành
phần là những trí thức có tên tuổi, trong đó phải kể tới một số nhân vật
tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như:
Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh… Thủ đoạn của
bọn cầm quyền Nhật Bản là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng
mới dựng lên để lũng đoạn tình hình có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có
một chính phủ bù nhìn hoàn toàn để thi hành mọi ý định của chúng". Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: "Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài
chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ
Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt
Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương
vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng đóng một vai trò rất
quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian,
Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay
đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình
trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt...". Tháng 6
năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam;
đặt quốc thiều là bài "Đăng đàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ
nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".
HUẾ NĂM 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
Chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội
Nhật chiếm đóng Đông Dương. Nhật Bản đưa ra chính sách Đại Đông Á,
tuyên bố "giúp các dân tộc da vàng đánh đổ ách thống trị của thực dân
da trắng để lập nên khu vực thịnh vượng chung", nhưng thực ra đó chỉ là
một tên gọi cho ách chiếm đóng mới của quân phiệt Nhật. Vai trò của
Nhật, theo kế hoạch của người Nhật, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực
kinh tế, mà còn bảo vệ quân sự và dẫn dắt chính sách nội bộ của các nước
trong khối, miền Nam Châu Á sẽ trở thành thị trường và nơi cung cấp
nguyên liệu. Vì vậy nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính phủ
bù nhìn thân Nhật, không có thực quyền và không có được sự ủng hộ của
dân chúng. Nó được xếp chung với các chính phủ bù nhìn do Nhật thành lập
tại các nước bị họ chiếm đóng trong thế chiến thứ 2 như Mãn Châu quốc,
Chính phủ Uông Tinh Vệ, Mông Cương, Đệ nhị Cộng hòa Philipine...
Cùng với sự bại trận của Nhật Bản trong thế chiến, tất cả các chính phủ
này đều tự sụp đổ hoặc bị Đồng Minh giải thể trong năm 1945, dù cho
Cách mạng tháng Tám không nổ ra thì chính phủ này cũng sẽ bị giải thể
khi quân Đồng Minh (Anh và Pháp) tới Việt Nam vào tháng 9/1945.
Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói lớn xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.
Nạn đói Ất Dậu 1944–1945
Gần
đây, trên các trang mạng xã hội cả ở trong và ngoài nước liên tục xuất
hiện các bài viết xuyên tạc cho rằng Việt Minh là chủ mưu gây ra nạn
đói. Thậm chí có bài viết trên một trang mạng nổi tiếng về các luận
điệu xuyên tạc cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim mới thực sự đã cứu đói
cho dân còn để xảy ra nạn đói là do “họ Hồ đem gạo về Trung Cộng” (?).
Tác
giả L.A Patti trong cuốn sách Why Vietnam (Tại sao Việt Nam) đã viết:
“Mặc dù việc thiếu hụt lương thực lúc đó là do mùa màng bị thất bát
nhưng nguyên nhân chính của nạn chết đói này là do Pháp, Nhật đã cho thi
hành một chính sách mua lương thực quá tàn bạo. Cộng thêm với việc cướp
đoạt gạo trong bữa ăn của người Việt bằng cách xuất cảng gạo ra thị
trường nước ngoài và cho cất rượu để phục vụ lợi ích buôn bán của người
Pháp, chế độ thu mua lương thực đã làm cho nông dân cùng quẫn”.
Nạn đói năm 1945 đã diễn ra vô cùng thảm khốc - Ảnh tư liệu (Võ An Ninh)
Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh
nên đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc
hậu, đói kém và từ đó gây ra nhiều tai họa làm ảnh hưởng xấu đến sinh
hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi phát xít Nhật thu gom đay để chở về nước và không cho trồng lúa thì thực dân Pháp
lại dự trữ lương thực để phòng khi quân Đồng minh chưa tới thì phải
đánh bại phát xít Nhật hoặc dùng cho công cuộc tái xâm lược Việt Nam sau
này. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực ở miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.
Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp
chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm
mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay để giải quyết nạn khan hiếm vải, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật).
Quân Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam
ra Bắc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói (do gạo trong kho phải
được ưu tiên cho lính Nhật). Máy bay của quân Đồng Minh đã cho phá hủy
các trục đường sắt từ Huế trở ra Nam, phong tỏa cả đường biển khiến việc
vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc không thực hiện được.
Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói.
Tình trạng địa chủ chiếm hữu phần lớn ruộng đất khiến phần lớn nông dân không có hoặc chỉ có rất ít đất canh tác, nên không có khả năng sản xuất đủ lương thực nuôi sống gia đình. Nếu cả làng bị mất mùa, không vay mượn được họ hàng thì toàn bộ nông dân nghèo trong làng sẽ lâm vào cảnh chết đói.
Chính
phủ Đế quốc Việt Nam do Thủ tướng Trần Trọng Kim thành lập đã không thể
ngăn chặn thảm kịch này. Sự bất lực của nội các bắt nguồn từ những
nguyên nhân cụ thể:
Đa số những thành viên Chính phủ Trần Trọng Kim là những trí thức,
những người có chuyên môn cao. Không ai phủ nhận tinh thần dân tộc của
những người tham gia chính phủ này, song rõ ràng các vị là những người
ngây thơ về chính trị. Ngây thơ về chính trị này không phải người ngoài
cuộc nói mà là của một người trong cuộc: Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng
Thanh niên của Chính phủ. Luật sư Phan Anh đã viết: “"Chúng tôi đã lầm
rất lớn. Chúng tôi đã tưởng lợi dụng được một đế quốc chống một đế quốc
khác, tranh thủ quyền lợi về ta, nhưng trái lại bọn Nhật đã lợi dụng
chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa. Đó là một bài học đau đớn!"
Nhà
báo Nam Đình, cựu Đổng lý Văn phòng (Chánh Văn phòng) Bộ Tư pháp Chính
phủ Trần Trọng Kim trong hồi ký của mình cho biết ngày 8/5/1945, Tổng
trưởng Nội các Trần Trọng Kim (tức Thủ tướng) đã có Tuyên cáo của nội
các với quốc dân. Trong tuyên cáo này, Chính phủ Trần Trọng Kim có đặt
ra một nhiệm vụ quan trọng là cứu đói. Tuyên cáo nêu rõ: “Ngoài việc
tiếp tế lương thực cho nhân dân và việc chuẩn cấp cho hàng triệu người
đang bị khủng bố vì nạn đói ở miền Bắc, thuế khóa sẽ dần dần định lại…”.
La liệt những người chết đói bên đường - Ảnh tư liệu
Trước
khi chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, tức sau Tuyên cáo Việt Nam độc
lập của vua Bảo Đại ngày 11/3/1945, tại Long Xuyên, ngày 30/3/1945,
trong một cuộc họp với công chức người Việt, Toàn quyền Nhật Bản là
Minoda nói thẳng bằng tiếng Pháp về bản chất sự "độc lập" của Đế quốc
Việt Nam: “…Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc
lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc
lập của đế chế Trung kỳ và cũng như của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam
kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị
quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của Nam kỳ”.
Nạn nhân đói tại trại Giáp Bát. Ảnh: Tư liệu
Vì
không có quyền hành, lại bị máy bay Mỹ bắn phá đường vận tải từ Nam ra
Bắc nên công cuộc cứu đói của Chính phủ Trần Trọng Kim đã không thể thực
hiện được. Về sự bất lực của Chính phủ Trần Trọng Kim trong việc cứu
đói người dân, tác giả Nguyễn Duy Phương trong cuốn sách “Lịch sử độc
lập và nội các đầu tiên của Việt Nam” (quan niệm khi ấy) xuất bản năm
1945 ngay khi Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập đã tổng hợp lại
nhiều bài viết trên báo chí đương thời về sự khó khăn, bất lực này. Việt
Nam Thời báo cho biết một trong những nguyên nhân việc cứu đói của
Chính phủ Trần Trọng Kim bằng biện pháp chuyển gạo thóc từ miền Nam ra
gặp thất bại vì giao thông ngăn trở do đường sá bị phá và sự bất lực của
chính quyền: “Nạn đói ở miền Bắc là một nạn đói khủng khiếp chưa bao
giờ từng thấy. Việc tiếp tế, cứu tế lại bị giao thông ngăn trở. Trong
các ngành hoạt động, người bất lực vô dụng thì dư, mà người tâm huyết,
tài năng thì lại thiếu”.
Rõ ràng nạn đói năm 1945 là do chính sách
cai trị tàn bạo của thực dân, đế quốc mà 2 kẻ chính phạm và tòng phạm
là thực dân Pháp và Phát xít Nhật, song Chính phủ Đế quốc Việt Nam cũng
không thể vô can. Bằng chứng là họ đã không thể quản lý nổi đất nước,
lại không thể chống được nạn đầu cơ lúa gạo ở miền Bắc khi đó. Thậm chí,
miền Bắc khi ấy vẫn còn rất nhiều lúa gạo quân đội Nhật tích trữ trong
kho để nuôi quân, song ngày 13/6//1945 còn quy định: ai phạm việc phá
hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn,
gạo, đều bị kết án tử hình. Quy định cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên
10 người. Vì quy định này mà người dân dù chết đói khắp nơi song cũng
không dám kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, kết quả là hàng
chục vạn người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp.
Về việc này, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Từ 9/3 đến giữa tháng 6,
việc thu thóc tạ vẫn được thi hành trong lúc hàng chục vạn đồng bào ta
chết rũ dọc đường xó chợ. Chính phủ Trần Trọng Kim đâu dám đụng đến việc
thu thóc tạ, càng không dám đụng đến kho thóc của Nhật. Chính phủ đã
cam đoan với Nhật là tiếp tế cho Nhật bằng hoặc hơn Pháp, để xứng đáng
với cái "độc lập" mà Nhật ban cho! Cả chính phủ Trần Trọng Kim và Nhật
đều bắt buộc mọi sự vận chuyển thóc gạo từ Nam ra Bắc đều phải qua "Ủy
ban thóc gạo" ở Sài Gòn mà ủy ban này do công ty Nhật nắm. Khi tải ra
đến Bắc thì phải gom gạo cho công ty thóc gạo Bắc Kỳ 75% số lượng, công
ty này lo bảo đảm trước hết lương thực cho quân Nhật, còn lại mới bán
cho dân”.
Báo Ngày Nay khi ấy đã có bài viết với tiêu đề “Chính
phủ đã làm những gì?” để đánh giá về những việc mà Chính phủ Trần Trọng
Kim đã làm, trong đó có vấn đề cứu đói. Bài báo viết: “Vấn đề tiếp tế:
cho gạo miền Nam ra miền Bắc để ngăn ngừa sự bành trướng tối nguy của
nạn đói. Riêng về công cuộc này chúng tôi nhận thấy là ai ai cũng thất
vọng và chán nản vì sau hai tháng hô hào và tốn bao nhiêu giấy mực, dân
đói miền Bắc vẫn chưa được trông thấy một bao gạo nào ở Nam ra. Lời
tuyên bố của Thủ tướng còn vẳng bên tai chúng ta “…cần nhất cần phải
tiếp tế cho dân miền…” mà tới nay…việc làm vẫn chưa thấy đi theo lời
nói. Tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong các kho, trong các nhà
máy, tuy rằng giấy bạc vẫn xếp đầy từng xắp trong két sắt những nhà tư
bản Việt Nam, tuy rằng trong nội các vẫn có một bộ tiếp tế và tài
chính?”.
Chính Tổng trưởng nội các Trần Trọng Kim cũng đã thừa
nhận thất bại trong việc cấp bách cứu đói người dân lúc bấy giờ trong
hồi ký “Một cơn gió bụi”: “Việc quan hệ nhất trong đường nội trị lúc ấy
là phải lo sự vận tải để tiếp tế miền Bắc. Dân tình đói khổ, người chết
đói hàng ngàn, hàng vạn. Vì vậy chúng tôi lập ra Bộ Tiếp tế chuyên coi
việc vận tải thóc gạo trong Nam ra Bắc. Bộ ấy không đạt được mục đích
của Chính phủ vì sự vận tải khó khăn quá, đường xe lửa bị hư hỏng,
thuyền bè đi ngoài bể bị tàu ngầm đánh và bị cướp bóc mất cả”.
Chính
phủ Trần Trọng Kim cũng đã thành lập Bộ Tiếp tế có nhiệm vụ cứu đói.
Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim đã hoàn toàn bất lực trong việc cứu
giúp người dân trong nạn đói. Sự thất bại này có nhiều yếu tố, thế nhưng
có lẽ một trong các yếu tố quan trọng là Chính phủ này vẫn nằm dưới sự
kiểm soát gắt gao của phát xít Nhật và họ thật sự không có quyền hành.
Vì vậy, chính người đứng đầu Chính phủ Trần Trọng đã phải thừa nhận thất
bại trong công cuộc cứu đói cho dân.
Nạn nhân của nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, chính phủ Trần Trọng Kim đã bất lực trong việc cứu trợ
Về
hành chánh, Nhật đảo chính lật đổ Pháp ngày 09 tháng 03 năm 1945,
nhưng không trao trả toàn bộ chủ quyền đất nước lại cho chính quyền Đế
quốc Việt Nam, mà mãi đến tháng 7 năm 1945, sau các cuộc thương lượng
của Trần Trọng Kim, toàn quyền Nhật là Tsuchihashi
mới trả lại cho chính phủ Đế quốc Việt Nam ba thành phố nhượng địa Hà
Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1945. Về việc thu
hồi Nam Kỳ thì cuộc thương thuyết với Toàn quyền Tsuchihashi có kết quả
mặc dù lúc đầu Tsuchihashi còn do dự vì triều đình Cao Miên cũng đòi đất
Nam Kỳ. Trần Trọng Kim phái Nguyễn Văn Sâm
là khâm sai vào Sài Gòn tiếp thu. Ở ngoài Bắc thì Thống sứ Nishimura
bàn giao với khâm sai Phan Kế Toại tại Hà Nội ngày 12 Tháng 8. Ngày 14
Tháng 8, chính phủ Trần Trọng Kim công bố chính thức tiếp thu Nam Kỳ.
Chính phủ Trần Trọng Kim cũng thay chương trình học bằng tiếng Pháp bậc
tiểu học và trung học sang chương trình học bằng tiếng Việt, do học giả
Hoàng Xuân Hãn biên soạn.
Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao
dịch của chính phủ ngoại trừ lĩnh vực y tế và các văn thư liên lạc với
Pháp hoặc các công ty của người Trung Hoa. Việc Nhật chiếm đóng vào thời điểm 1945 đã gây ra những hậu quả tai hại cho Việt Nam như nạn đói năm Ất Dậu.
Vấn đề cấp thiết nhất khi đó là việc cứu đói, nhưng chính phủ Trần
Trọng Kim đã không làm được điều mình hứa hẹn, chính phủ này không có
phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm, giao thông đường bộ, đường
sắt, đường biển từ Nam ra Bắc thì bị quân Đồng minh cắt đứt nên không thể làm làm tình hình được cải thiện. Nạn đói năm Ất Dậu
đã khiến gần 2 triệu người dân Việt Nam (chủ yếu ở miền Bắc) chết đói.
Báo Ngày Nay xuất bản tháng 6/1945 nhận xét về sự bất lực hoàn toàn của
chính phủ này, viết:
“Chúng tôi nhận thấy ai ai cũng thất vọng và chán nản, vì sau hai
tháng hô hào và tốn bao giấy mực, dân đói miền Bắc cũng chưa thấy một
bao gạo nào ở Nam đưa ra. Lời tuyên bố của thủ tướng còn vang vọng bên
tai ta: “Cần nhất là phải tiếp tế cho dân đói miền Bắc” mà tới nay việc
làm vẫn chưa đi theo lời nói; tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong
các kho, các nhà máy, tuy rằng giấy bạc vẫn nằm từng xấp dày trong các
két sắt của nhà tư sản Việt Nam, tuy rằng nội các vẫn có một bộ tiếp tế
và một bộ tài chính"
Về vấn đề này, nhà sử học Trần Văn Giàu chỉ ra nguyên nhân của sự bất lực này là do tính chất bù nhìn của chính phủ Trần Trọng Kim:
“
Lẽ
dĩ nhiên, nguyên nhân trận chết đói năm 1945 chủ yếu không phải là do
chính phủ Trần Trọng Kim mà là do chế độ thực dân, là chính sách tàn bạo
của Pháp – Nhật. Sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim phần lớn là do
tính chất bù nhìn của nó. Nó không thể bớt chỗ nào thừa cho chỗ không
có. Nó không thể chống nạn đầu cơ ở miền Bắc lúc ấy vẫn còn gạo trong
các kho của quân phiệt Nhật. Nhật tích trữ lương thực để nuôi quân. Từ
9-3 đến giữa tháng 6, việc thu thóc tạ vẫn được thi hành trong lúc hàng
chục vạn đồng bào ta chết rũ dọc đường xó chợ. Chính phủ Trần Trọng Kim
đâu dám đụng đến việc thu thóc tạ, càng không dám đụng đến kho thóc.
Chính phủ đã cam đoan với Nhật là tiếp tế cho Nhật bằng hoặc hơn Pháp,
để xứng đáng với cái "độc lập" mà Nhật ban cho!Cả chính phủ Trần Trọng Kim và Nhật đều bắt buộc mọi sự vận chuyển
thóc gạo từ Nam ra Bắc đều phải qua “Ủy ban thóc gạo” ở Sài Gòn mà ủy
ban này do công ty Nhật nắm. Khi tải ra đến Bắc thì phải gom gạo cho
công ty thóc gạo Bắc kỳ 75% số lượng, công ty này lo bảo đảm trước hết
lương thực cho quân Nhật, còn lại mới bán cho dân
”
Không những vậy, Đạo dụ của chính phủ Trần Trọng Kim ngày 13/6/1945
còn quy định: ai phạm việc phá hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc
làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn, gạo, đều bị kết án tử hình.
Đạo dụ cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên 10 người. Vì đạo dụ này, nhân
dân không dám kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, hàng chục vạn
người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp.
Hiệu kỳ của Quốc trưởng Bảo Đại
Trong
khi Bộ Tiếp tế chỉ làm được vài việc vặt, thì Bộ Tài chính của Đế quốc
Việt Nam
chỉ chuyên làm một việc là gom tiền thuế của dân giao cho Nhật. Chỉ
riêng trong 5 tháng tồn tại, Chính phủ Trần Trọng Kim đã nộp cho Nhật
Bản khoản tiền 720 triệu đồng Đông Dương (Piastre), ngang với số tiền
726 triệu do chính quyền thực dân Pháp nộp cho Nhật Bản trong 5 năm
trước đó (từ 1940 tới 9/3/1945). Tổng cộng trong thời gian Thế chiến thứ
hai, người Việt Nam đã phải nộp cho Nhật khoản tiền là 1 tỷ 446 triệu
Piastre, tương đương 14 tỷ 460 triệu Franc lúc đó. Khi quân Nhật
thất trận sắp đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn
tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945 thì sụp đổ.
Con người, bất kể tốt xấu, khi tự do hành động đều vì mục đích
danh lợi, và điều đó có tính nguyên tắc. Ngày nay nhìn lại, thật là kỳ
quặc khi thấy một nước phát xít đi xâm lược lại nhủ lòng thương, trao
trả độc lập thật sự cho nhân dân nước bị xâm lược. Chỉ có thể đó là hành
động mỵ dân. Như vậy, chính phủ Trần Trọng Kim, không thể khác, phải là
chính phủ bù nhìn và Trần Trọng Kim là một con người ngây thơ hoặc
thiển cận về chính trị! Chính phủ Trần
Trọng Kim không có quân đội để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới
thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản. Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan
Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội để thực
hiện công tác trị an, bảo vệ. Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra,
lực lượng Thanh niên Tiền tuyến đã rời bỏ hàng ngũ Đế quốc Việt Nam để
quay sang ủng hộ lực lượng Việt Minh. Trường Thanh niên tiền tuyến đã
đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau
này. Mới ra mắt được 4 tháng, ngày 5/8/1945, hàng loạt thành viên nội các
Trần Trọng Kim xin từ chức: 3 bộ trưởng xin từ nhiệm, Bộ trưởng Vũ Ngọc Anh
qua đời vì trúng bom máy bay Mỹ. Các bộ trưởng khác tuyên bố bản thân
họ cũng bất lực, bởi không thể làm được việc gì nếu không được cố vấn
tối cao Nhật đồng ý, trong khi vua Bảo Đại chỉ lo ăn chơi, săn bắn mà
không quan tâm đến chính trị. Trần Trọng Kim cố gắng liên hệ nhưng các
nhân vật cấp tiến đều khước từ cộng tác, đến đầu tháng 8 thì chính Trần
Trọng Kim cũng nản lòng. Ông nói mình bị "tăng huyết áp" và không ra
khỏi nhà. Trong hồi ký của mình, Trần Trọng Kim viết về giai đoạn làm chính trị dưới sự khống chế của Nhật Bản:
“
"Nhật
Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã
theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu,
sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu
châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và
lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn
thu hết quyền lợi về mình".
Sau khi Việt Minh giành được chính quyền và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
được thành lập, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đối xử với trần Trọng Kim
cực kỳ ưu đãi, hiếm thấy ở một cuộc cách mạng nào. Ông được sống yên ổn
tự do ở nhà, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cấp tiền lương cho
ông ăn. Chính ông đã viết trong hồi ký: “Bây giờ tôi không có tiền,
may nhờ chính phủ Việt Minh ở Huế trả tôi 1.600 đồng tiền lương quá nửa
tháng 8 tôi mới có tiền chi tiêu”. Món tiền 1.600 đồng lúc ấy là không hề nhỏ, có thể mua được hai tấn gạo.
Hình
ảnh lưu lại- Năm 1945 - Nội các chính phủ Trần Trọng
Kim trình diện Hoàng Đế Bảo Đại và ra mắt quốc dân.
Tháng 6-1946, khi quân Quốc dân đảng Trung Quốc phải rút về nước, ông sang Trung Quốc tìm gặp cựu hoàng Bảo Đại
đang ở Hồng Kông. Ông cùng Bảo Đại bàn mưu tính kế khôi phục lại ngôi
báu nhà Nguyễn, có cả Cousseau, chỉ huy mật thám Pháp tham dự. Sau nhiều năm tháng ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6 tháng 2 năm 1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh Đình Thảo.
Người Pháp thu xếp cho ông trở về Sài Gòn
để vận động thành lập chính phủ mới. Về đến Sài Gòn, ông nhận ra rằng
những lời hứa hẹn của người Pháp là giả dối nên ông quyết định không làm
gì.
Năm 1948, ông qua Phnom Penh và sống với người con gái. Sau
đó, ông lại trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại Đà Lạt vào ngày 2
tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi. Ngày
nay vẫn nhiều người còn mơ hồ, bị hiểu xuyên tạc về giai đoạn lịch sử
giành độc lập đầy tự hào và cũng có phần may mắn của dân tộc Việt, nên
cần nói thêm cho rõ về âm mưu thâm độc phát xít Nhật và chính phủ danh
nghĩa, bù nhìn Trấn Trọng Kim.
Khi chủ nghĩa phát xít đã thành tai họa của
loài người thì các quốc gia thấy cần liên kết lại tiêu diệt nó. Cùng lúc ở mặt
trận châu Âu và châu Phi, quân phát xít Đức, Ý bị đẩy lùi về tận hang ổ của
chúng, Hoa Kỳ tham chiến cả trên Đại Tây Đương và Thái Bình Dương, nước Pháp được
giải phóng, quân đội Nhật hoàng bị đánh tả tơi cả trên biển và trên lục địa. Đã
đến lúc giới quân phiệt Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách khỏi những sự
kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Vào những ngày đầu thảng 3/1945, quân Mỹ
đã chiếm được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với nam bán đảo Đông
Dương. Đề phòng tái diễn sự kiện như ở bờ biển Normandie năm trước, lúc này lại
có thêm quân Pháp làm hậu thuẫn, tất nhiên là quân Nhật ở Miến Điện, Thái Lan,
Malaixia... sẽ hết đường về bảo vệ quốc đảo Phù tang. Phát xít quyết định hất cẳng
thực dân. Ngày N, giờ G được xác định. Yếu tồ bất ngờ được Nhật khai thác đến triệt để
trong sự kiện ngày 9/3/1945. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương
vào cùng một ngày, một giờ gần như thống nhất. Quan lính Pháp qua 5 năm sống
yên phận chờ thời, dù thấy sự nghi ngờ cũng dễ bỏ qua, giờ vỡ ra thì không kịp
trở tay. Mở đầu vào đêm 9/3 bằng những “bữa tiệc máu” và kết thúc lúc sáng hôm
sau bằng những cuộc chém giết như thời trung cổ. Khi tiếng súng lệnh nổ thì những
tên lính cải trang mà dân chúng ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế,
Sài gòn... đã quen mặt, hàng ngày tỏ ra
lịch thiệp, dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào và trở thành những con quỷ dữ khát
máu, giết người không gớm tay. Riêng đối với các binh sỹ người Việt Nam thì được
đối xử tử tế vì là đồng thanh, đồng chủng, cùng trong Khối thịnh vượng chung.
Chỉ trong một đêm, trên toàn cõi Đông dương đã có 2.650 binh sỹ và sỹ quan da
trắng bị giết. Trong đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy,
91 trung úy, 9 bác sỹ và một thú y bác sỹ. (BS Ngô Văn Quỹ - sđd).
Các tướng lĩnh Pháp bị bắt trong ngày Nhật đảo chính Pháp, ngày 9/3/1945.
Kết cuộc là hệ thống cai
trị thực dân hoàn toàn tan rã. Toàn bộ quan chức đầu não và tướng lĩnh Tư lệnh
các cấp của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux. Hàng trăm sỹ quan và
hàng ngàn binh lính bị chết ngay tại trận hoặc trên các ngả đường trốn chạy. Cả
sáu Tập đoàn quân trên toàn cõi Đông Dương như ong vỡ tổ, mạnh ai nấy chạy vào
các cánh rừng, tìm lối thoát sang Thái Lan, Miến Điện. Số lớn chạy qua Trung
Quốc thì lại bị người Mỹ, người Hoa coi như kẻ thù, bị tấn công, bị xua đuổi từ
làng này sang làng khác, bị đói khát, bệnh tật... quân số thương vong thêm quá
nửa!
Tại kinh đô Huế, cuộc chính
biến nổ ra lúc 9giờ15phút đêm 9/3, đến 10giờ sáng hôm sau thì kết thúc. Một
phần tư trong số hơn một ngàn sĩ quan binh lính Pháp tử trận. Số còn lại hoặc
bị bắt hoặc tẩu tán sâu vào dãy Trường Sơn. Lúc 11 giờ, Khâm sứ Nhật Yokoyama
vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt
Nam, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên
cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật! Cùng lúc đó, qua đài phát thanh Sài
Gòn, Nhật thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9/3, đổ lỗi cho phía Pháp thiếu hẳn
tinh thần cộng tác, đã tổ chức mạng gián điệp làm việc cho quân Đồng minh, đã
tích trữ súng đạn được thả dù xuống, bố trí quân đội để tấn công quân Nhật.
Đồng thời cũng tuyên bố từ nay chủ quyền của Pháp ở Đông Dương không còn nữa,
các dân tộc ở đây được độc lập nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ
chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Ngay hôm
sau, 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố:
“Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long
trọng công bố rằng:Kể từ ngày hôm
nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp (1884) được hủy bỏ và vô hiệu hóa.
Việt Nam
thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!” (Hồi ký Phạm Khắc
Hòe).
Nhật không dễ nhả ra miếng mồi Đông Dương béo bở. Trong khi vua tôi nhà
Nguyễn đang loay hoay tìm người lập nội các mới thì ngày 30/3/1945, trong một
cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, Toàn quyền Minoda (từng học Saint
Cyr) nói toạc ra bằng tiếng Pháp để không ai nhầm lẫn: “Il-y-a un grand malentendu au sujet de l’indépendance de l’Indochine. Celle ci tout entière est
sous le contrôle militaire du Japon. L’indépendence de l’Empire d’Annam et
cellce du Cambodge on été pro clameés. La Cochinchine, non seulement se trouve
sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’aminis tration
militaire japonaise. Donc, pas l’indépendance de la Cochinchine...” (Có một
sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới
sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và cũng như
của Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự
mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật Bản. Vậy thì không có sự độc lập của
Nam Kỳ) (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Sự thực là gần đến những ngày tàn Nhật mới chịu
giao lại ba tỉnh nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng (20/7), sau cùng là Nam Kỳ (14/8), đúng vào
ngày Nhật ký hiệp ước đầu hàng không điều kiện Đồng minh chống phát xít.
Tất nhiên, việc tìm một
chính quyền tay sai người bản xứ cũng được Nhật tính trước từ lâu. Cụ HuỳnhThúc Khánglà một yếu nhân trong phong
trào Duy Tân, được nhắm tới đầu tiên, đã thẳng thắn
khước từ. Nhưng cách mạng tháng Tám thành
công, sau khi tiếp xúc với Hồ Chủ tịch, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ,
trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc”.
Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng
Cụ
Huỳnh Thúc Kháng hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, sinh ngày 01 tháng 10
năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ
Thăng Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).
Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp
đèn sách. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mực
thước, đảm đang.
Cụ
Huỳnh Thúc Kháng vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi và sớm đạt giải cao
trong các kỳ thi. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương (đứng đầu kỳ
thi Hương) và đến năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Kế thừa truyền thống yêu nước
bất khuất của dân tộc Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà
dấn thân vào các hoạt động yêu nước diễn ra sôi nổi những năm đầu thế
kỷ XX. Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần
Quý Cáp đi tìm hiểu tình hình thực tế ở phía Nam, xem xét dân tình, sĩ
khí, đề xướng tân học và tìm bạn cùng chí hướng. Năm 1906, trở về Quảng
Nam khởi xướng, lãnh đạo phong trào Duy tân. Năm 1908, cụ Huỳnh Thúc
Kháng bị thực dân Pháp bắt, đày đi tù Côn Đảo suốt 13 năm (1908-1921).
Sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại tích cực hoạt động đòi
quyền lợi cho dân, cho nước.
Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ của cụ
Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia nội các Chính phủ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đầu năm 1946,
cụ làm Chủ tịch hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Tháng 5/1946, khi Chủ
tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cụ được giao chức vụ Quyền Chủ tịch
nước (31/5/1946-20/10/1946). Với cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh
đã tham gia giải quyết nhiều công việc, góp phần quan trọng điều hành bộ
máy Nhà nước, chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, chỉ đạo
giải quyết kịp thời những vấn đề về đối nội và đối ngoại theo phương
châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Huỳnh làm Đặc phái viên của Chính phủđi kinh lý miền Trung để giải thích đường lối kháng chiến, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng. Đầu năm 1947, tiếp tục hành trình đi kinh lý miền Trung, do tuổi cao, sức yếu và lâm bệnh nặng, cụ Huỳnh qua đời tại tỉnh Quảng Ngãi ngày 21/4/1947 trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả
nước. Theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi
Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi – "Thiên Ấn niên
hà" (Ấn trời đóng xuống sông).
Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh đang bị cầm tù ở Côn Đảo,
Nguyễn Hòa Hiệp là người quen biết cũ, đương nhiệm chức sư trưởng đệ tam sư
đoàn của Nhật, dẫn một viên tướng Nhật ra đảo mời hợp tác nhưng ông kiên quyết
từ chối mặc dù ông biết “Nếu phải hoàn thành
xong hình phạt tù tại Côn Nôn, tôi chắc chắn phải để xương tại đây”! Nửa
tháng sau, ông trút hơi thở cuối cùng tại nơi địa ngục trần gian ấy! (Nguyễn An
Ninh qua hồi ức của những người thân – NXB Văn học 2009).
Đó thật sự là những con
người đẹp, làm việc đẹp và viết nên trang sử đẹp, đáng là niềm
tự hào cho mỗi người Việt Nam
ta.
Ngô Đình Diệm cũng được Nhật để mắt tới nhưng họ không lạ gì con người này.
Trong tình thế ấy, Trần Trọng Kim là sự lựa chọn cuối cùng. Ông được
Nhật đưa sang Chiêu Nam
Đảo (Singapour) trước đó cả năm trời, qua Băng Cốc (Thái
Lan), về Sài Gòn, ra Huế vào giờ phút chót. Ông viết trong hồi ký “Một cơn gió
bụi”:
“Có một điều nên nói cho
rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao
giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người
mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc
trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.
“Chừng mười giờ sáng
ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến
nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi
vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi
đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.
“Tôi đệ trình vua Bảo
Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”.
Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng
đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản
bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước”.
Có ai không nghĩ rằng đó là
vở kịch được người Nhật dàn dựng từ đầu chí cuối?
Ngày 8/5/1945, chỉ một ngày
trước khi phát xít Đức đầu hàng Đồng Minh, tại Huế, Hoàng đế Bảo Đại đọc Tuyên
chiếu thành lập nội các. Tân Tổng trưởng đưa ra bản Tuyên cáo khẳng định nền
độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế và cám ơn Nhật Bản đã ra tay
“giải phóng”, kêu gọi “Quốc dân phải cố gắng sức làm việc, chịu
nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp tác với nước Đại Nhật Bản”, lấy quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam, quốc
kỳ Quẻ Ly đỏ trên nền vàng (ứng với
hoàng đế làm chủ phương Nam). Bà con kinh đô nhạo là “vương rút ruột”. Vấn
đề là có thật Nhật “giải phóng” cho Việt Nam không, hay chỉ là động tác tháo
vòng xích cũ, choàng vào cổ cái vòng xích mới xiết chặt hơn để kéo dài cơn hấp
hối của tên phát xít cuối cùng?!
Kế hoạch của tân chính phủ đưa ra thì
nhiều nhưng chỉ là những ý tưởng hão huyền. Trước hết vì chính quyền quân phiệt
Nhật kiềm chế khắt khe cả về mọi mặt. Trong khi chính phủ thì “hữu danh vô
thực”: Không lực! Không quyền! Không được nhân dân ủng hộ! Mặt trận Việt Minh
kêu gọi phải tận dụng thời cơ, tự ta giải phóng cho ta, đồng thời cảnh báo
những ai nhẹ dạ cả tin: “Lợi dụng Nhật
tức là tự để mình cho Nhật lợi dụng; lợi dụng Nhật, đi theo Nhật tức là trốn ra
ngoài hàng ngũ kháng Nhật cứu nước mà toàn thể đồng bào đương hăng hái bước
vào; lợi dụng Nhật là “đánh đu với tinh”; lợi
dụng Nhật là tự tử” (Báo Cứu quốc, số 24 ngày 25/6/1945). Yêu cầu
bức thiết lúc bấy giờ là cứu đói. Trong khi các kho thóc đầy ắp, ngoài việc cấp
ăn cho lính còn dùng thay than cho các tàu thủy, tàu hỏa và nhà máy! Khắp Bắc
Kỳ, nhiều làng vắng tanh không một bóng người, cảnh chết đói đầy đường, đầy
phố! Việt Minh hô hào phá kho thóc Nhật cứu đói cấp thời, thì tân Chính phủ lại
công bố: “Chúng tôi vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương chức Nhật Bản” và
ra lệnh kết án tử hình những ai cướp phá kho tàng ngũ cốc! Cái gọi là Bộ Tiếp
tế làm được vài việc vặt, coi như vô dụng! Bộ Tài chính chuyên làm một việc gom
tiền thuế của dân giao cho giặc! Chỉ riêng trong 5 tháng tồn tại, Chính phủ
Trần Trọng Kim đã nộp cho Nhật khoản tiền 720triệu Đồng Đông Dương (Piastre),
không thua số tiền 726triệu do chính quyền Decoux nộp trong 5 năm (1940-1945).
Cụ thể là: 1940: 6tr; 1941: 58tr; 1942: 86tr; 1943: 116tr; 1944: 360tr; 1945
cho đến ngày 9/3: 100tr. Tổng cộng trong thời gian Thế chiến hai, chính quyền
Đông Dương đã nộp cho Nhật 1 tỷ 446 triệu Piastre, tương đương 14 tỷ 460 triệu
Franc lúc đó (BS Ngô Văn Quỹ - sđd). Thật
sự đó là tội ác với nhân dân và lịch sử mà chính quyền Trần Trọng Kim không thể
chạy tội được! Vai trò lịch sử của
nội các do ông lãnh đạo thực chất là như thế. Dù rằng thành viên trong nội
các đều là những người có đủ học thức và đức hạnh, chánh trực thanh liêm, lúc
hữu sự muốn góp phần mình giúp nước nhưng trước thực tế đều thấy bị cô lập và
bất lực, rã đám dần. Sau cách mạng tháng
Tám, phân nửa các vị theo Chính phủ kháng chiến cho tới ngày thắng lợi hoàn
toàn. Một số ra định cư ở nước ngoài và hầu như không có ai hợp tác với các
chính quyền tay sai ngoại bang sau đó.
Hai tàu chở hàng và một tàu chở dầu của Nhật bị đánh chìm trên sông
Sài Gòn trong các đợt tấn công của máy bay từ tàu sân bay Mỹ USS
Ticonderoda CV-14, ngày 12/01/1945.
Ngày 2-9-1945, trên chiến hạm USS Missouri (BB-63) của Hải quân Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Nhật Bản Mamoru Shigemitsu đã văn kiện chấp nhận đầu hàng chính thức kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (Ảnh tư liệu).
Luật sư Phan Anh, người sớm nhận ra sự
thật, đứng hẳn về phía cách mạng và có những đóng góp to lớn, sau này viết: “Chúng tôi đã lầm rất lớn. Chúng tôi đã tưởng
lợi dụng được một đế quốc chống một đế quốc khác, tranh thủ quyền lợi về ta,
nhưng trái lại bọn Nhật đã lợi dụng chúng tôi, ít nhất cũng là về danh nghĩa.
Đó là một bài học đau đớn!” (Phan Anh – Con đường đi tới cách mạng tháng 8
của tôi – Báo Nhân dân số 2346 ngày 21/8/1960). Giả như có một “khoảng trống
quyền lực” mà nhân dân không được tổ chức, không có lực lượng thì làm sao giành
được chính quyền? Huống chi quyền lực vẫn nằm trong tay quân phiệt Nhật tới giờ
phút chót! Đó là sự thật lịch sử! Riêng vị Tổng trưởng nội các, sau khi quân
Nhật bị giải giáp về nước, cách mạng tháng Tám thành công, quân Pháp quay lại
tái xâm lược Việt Nam, ngài lại tìm đến cố vấn Vĩnh Thụy đang đào tẩu ở Hương
Cảng, theo lời phế đế về Sài Gòn nghe ngóng. Ở đây, vị học giả đã nhìn ra chân
tướng cái xã hội nhố nhăng này: “Tôi xem
việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Liên hiệp Pháp chỉ là một
thứ cũi chó mạ vàng! Còn về phương diện người mình, thì không có gì đáng
vui, phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả!”. Và nhìn ra một sự
thật là: “Tôi vẫn biết việc chống với
Pháp chỉ có Việt Minh mới làm nổi”. Tuy nhiên nhà nho vẫn loanh quanh xứ
trời nam, hy vọng được mời ra hợp tác
với lời an ủi của bậc thánh hiền: “Dụng
chi tắc hành. Xả chi tắc tàng” (Dùng thì ra làm việc. Bỏ thì ở ẩn). Mòn mỏi
đợi chờ, trước khi bỏ xác xứ người,ông
thầy ngán ngẩm thở than: “Nghĩ cho cùng,
ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì”!
***
Cách
mạng Việt Nam, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bước vào thời kỳ cao trào
chống Nhật, cứu nước. Bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta” của Trung ương Đảng trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động
của Đảng và của Mặt trận Việt Minh. Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ
rõ: “Nếu Nhật đem quân đánh phá khu du kích thì đội quân du kích phải
khéo dùng chiến thuật hóa chẵn thành lẻ, hóa lẻ thành chẵn phối hợp với
nhân dân đằng sau quân địch đánh phá, nhiễu loạn làm cho chúng phải rút
lui”.
Tháng
4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ của Đảng ra nghị quyết về
nhiệm vụ chống lại cuộc tấn công của Nhật vào các khu căn cứ địa, đại ý
như sau:
-
Vì là đang thời kỳ xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi
nghĩa, nên phải dùng chiến thuật đánh du kích, đánh úp địch bằng những
trận nhỏ, nắm chắc phần thắng để giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng.
- Phát động du kích thành nhiều chiến khu, nhiều căn cứ địa để đề phòng địch bao vây.
-
Dùng chiến thuật “dĩ công vi thủ” (lấy tấn công làm phòng thủ) mà đối
phó khi địch bao vây. Nếu không giữ được căn cứ thì kiên quyết rút lui
để bảo toàn lực lượng.
- Thi hành vườn không nhà trống.
- Các chiến khu và căn cứ địa phải liên kết chặt chẽ, tương ứng được với nhau.
Từ
sau ngày 9-3 đến cuối tháng 4-1945, bằng nhiều hình thức hoạt động du
kích kết hợp với nổi dậy của nhân dân địa phương, Việt Minh đã giải
phóng được phần lớn nông thôn của 6 tỉnh ở Việt Bắc, lập chính quyền
cách mạng ở những vùng đó.
Sau
khi hất cẳng Pháp, đến cuối tháng 3, quân Nhật bắt đầu tràn lên chiếm
đóng các tỉnh lỵ, sục xuống các làng xã, tiến đánh các khu du kích, đặc
biệt, vào trung tuần tháng 5, chúng huy động hàng ngàn quân mở cuộc càn
quét lớn khu căn cứ của Việt Minh ở giữa sông Lô và quốc lộ 3.
Bằng
cuộc chiến tranh du kích ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên
Quang và Thái Nguyên, các lực lượng vũ trang cách mạng và quần chúng
nhân dân đã nhanh chóng bẻ gãy các mũi tiến công càn quét của Nhật, đánh
bật chúng ra khỏi các vùng giải phóng, bao vây chúng trong một số huyện
lỵ, tỉnh lỵ, vừa giữ vững được chính quyền cách mạng, vừa tiếp tục mở
rộng vùng giải phóng.
Sau
khi Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, quân Nhật lại tiếp tục mở
các cuộc càn quét mới, nhưng đều thất bại. Không những bảo vệ vững chắc
cùng giải phóng đã tạo lập được, các lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt
Bắc đã sẵn sàng cùng toàn dân xông lên, tổng khởi nghĩa…
Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên trái) trong buổi lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân
Ngoài
căn cứ địa Việt Bắc ra, hoạt động thành lập chiến khu, căn cứ địa và
đấu tranh du kích để bảo vệ và mở rộng những địa bàn đó của Việt Minh
cũng diễn ra tại những nơi khác ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và cả ở Nam Kỳ (vùng
Tân Uyên đang manh nha trở thành căn cứ địa, sau này trở nên lừng danh
với cái tên: Chiến khu Đ). Khi
Thế chiến thứ II sắp kết thúc, Nhật còn muốn nắm lực lượng thanh niên để phục vụ
mưu đồ riêng. Ở Nam Kỳ Nhật mời Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch lập Thanh niên Tiền
phong, biểu trưng là cờ nền vàng sao
đỏ (thực ra xứ ủy Nam Kỳ đã chủ động nắm tổ chức này). Nhật cũng vận
động Bộ trưởng Phan Anh lập ra tổ chức thanh niên. Lúc này ở Bắc Kỳ đã có “Đoàn
Thanh niên cứu quốc” trong đoàn thể Việt Minh. Tổ chức “Thanh niên Phan Anh” ra
đời ở Huế. Ông bàn với giáo sư Tạ Quang Bửu là người có ảnh hưởng rất lớn trong
giới học sinh ở Huế đứng ra mở “Trường
võ bị thanh niên tiền tuyến” và mời
ông Phan Tử Lăng – võ quan chỉ huy lực lượng Bảo an binh ở kinh đô Huế và cả
Trung kỳ, làm Hiệu trưởng. Các ông đều có tinh thần dân tộc cao và sớm liên hệ
với Việt Minh. Nhà trường kêu gọi: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học,
có hiểu biết về quân sự” và hứa: “Học xong không bắt buộc ra làm việc cho chính
phủ”! Thực chất là chủ động chuẩn bị bổ sung cho lực lượng vũ trang yêu nước
khi cần. Số người ghi danh vào học khá đông, có cả một số sinh viên từ Hà Nội
vào theo học. Lá “cờ quẻ kiền” ba
sọc đỏ (tượng trưng cho người quân tử
làm điều nghĩa hiệp), được lấy làm biểu tượng của thanh niên Võ bị. Vậy
là Mặt trận Việt Minh thông qua những người yêu nước, chủ động biến tướng một
tổ chức phục vụ cho ý đồ của Nhật thành một tổ chức nòng cốt của mình. Cách
mạng thành công, đổi tên là “Trường võ
bị Thuận Hóa” và mở rộng thành phong trào “Thanh niên tiền tuyến”, góp phần đẩy mạnh phong trào “Nam tiến” sôi động trong cả nước, bổ
sung tiếp ứng kịp thời cho mặt trận phía Nam. Nước nhà vừa độc lập thì bước
ngay vào cuộc kháng chiến từ Nam lan nhanh ra Bắc. Cũng như Thanh niên Tiền
phong, Thanh niên Tiền tuyến chấm dứt
vai trò lịch sử, hợp nhất vào tổ chức Thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt
minh. Cuộc trường kỳ kháng chiến giành thống nhất, độc lập kết thúc thắng lợi,
tám học viên khóa đầu của Trường võ bị được phong quân hàm cấp tướng (Hồi ký
của Thiếu tướng QĐNDVN Mai xuân Tần).
Nhân chuyến công cán qua Trung Quốc, Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy đào nhiệm và lưu trú ở Hồng Công. Giữa năm 1948, kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” thất bại, chủ cũ tìm đến ký với phế đế cái gọi là Hiệp định Hạ Long, công nhận nền độc lập của Việt Nam nằm trong khối Liên hiệp Pháp và lập ra cái chính phủ quốc gia! Phục dựng lá “cờ quẻ kiền” làm quốc kỳ và lấy bài hát “Tiếng gọi thanh niên” (của Lưu Hữu Phước) ra đời trong phong trào thanh niên tiền khởi nghĩa, làm quốc ca. Ngay lập tức, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra tuyên bố cảnh cáo: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy. Đối với các nước trên thế giới, tôi thay mặt chính phủ và nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố không bao giờ thừa nhận những giấy tờ gì do bọn bù nhìn ấy ký kết với bất cứ nước nào”! “Quân đội quốc gia” được gấp rút nặn ra. Với lệnh Tổng động viên, học sinh trung học ở các thành thị trong vùng tạm chiếm bị dồn vào các trường sỹ quan trù bị Nam Định, Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Lá “cờ quẻ kiền” với bài ca vốn ra đời từ phong trào yêu nước sôi nổi chống ngoại xâm nhưng đã bị đánh tráo nhận vơ cho cái quốc gia ngụy tạo! Từ đấy “cờ quẻ kiền” hết đi sau “cờ tam tài” rồi “cờ hoa” trong những cuộc tàn sát, khủng bố, giết chóc đồng bào ta!
Dù sau này được biết đến là một trong những quốc gia mạnh về sản xuất xe
tăng chủ lực. Tuy nhiên, trong chiến tranh xâm lược Việt Nam
(1946-1954), Quân đội viễn chinh Pháp chủ yếu sử dụng các loại xe tăng
do Mỹ cung cấp. Ảnh: Xe tăng hạng nhẹ M5 (Mỹ chế tạo trong CTTG 2) của
Sư đoàn thiết giáp số 2 LeClerc trong hoạt động tuần tra ở miền Bắc Việt
Nam, năm 1946
Ngày
8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và ngay lập tức tấn công đội
quân Quan Đông ở Mãn Châu. Sự kiện này làm rúng động chính quyền Nhật ở
Đông Dương, gây chia rẽ, tan rã, mất tinh thần quân Nhật đóng ở đó. Mặt
khác nó cũng mở ra cơ hội cho thực dân Pháp đang lăm le khôi phục lại
địa vị của chúng ở Việt Nam.
Khoảng
giữa tháng 8-1945, Trung ương Đảng khẩn trương triệu tập Hội nghị toàn
quốc của Đảng. Giữa lúc Hội nghị đang họp thì nhận được tin Nhật tuyên
bố đầu hàng Đồng Minh. Sau khi nhận định tình hình, Hội nghị đã xác
định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”, “Tình hình vô
cùng khẩn cấp”. Ngay đêm 13-8, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập. Chủ
tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn dân tổng khởi nghĩa. Ủy ban khởi
nghĩa ra quân lệnh số 1. Tất cả các đơn vị Giải phóng quân được lệnh
chiến đấu.
Nghị quyết Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 14,15-8-1945 quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Quân lệnh số 1 của Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc, ngày 13-8-1945.
Nhân dân Hà Nội tham gia mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh tại Nhà Hát lớn Hà Nội, ngày 17-8-1945 (Ảnh tư liệu)
Quân
Nhật ở Đông Dương lúc này còn nguyên một quân đoàn (quân đoàn số 38)
với 6 vạn người vẫn trang bị đầy đủ vũ khí và các đơn vị không quân, hải
quân… cùng với lực lượng ngụy quân gồm hơn 2 vạn lính bảo an. Tuy nhiên
tinh thần chiến đấu của chúng đã không còn nữa. Trong khi đó, lực lượng
vũ trang cách mạng mới chỉ có khoảng 5 ngàn Giải phóng quân và khoảng
vài vạn dân quân tự vệ với trang bị vũ khí kém nhưng tinh thần chiến đấu
lại rất cao, thể hiện ý chí quật cường của cả một dân tộc đang khao
khát độc lập tự do hơn bao giờ hết, tựu trung trong câu nói của Hồ Chí
Minh: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Với
khí thế sục sôi cao độ đó, với sách lược mềm dẻo “trung lập hóa quân
Nhật”, trong thời cơ chín muồi có một không hai đó, chỉ trong vòng 12
ngày, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công trên hầu khắp đất
nước Việt Nam. Có thể nói sự thành công này là kết quả của hành động
kiên quyết cách mạng có thế và lực áp đảo quân thù. Lực có được là từ sự
đấu tranh bền bỉ, chuẩn bị lâu dài, thế có được là do biết chớp được
thời cơ và ở đây thời cơ đã trở thành một lực lượng quan trọng, to lớn
của cách mạng. Hay có thể nói khác đi rằng: thời cơ đã làm cho chính
quyền Nhật và tay sai ở Việt Nam trở thành một cái xác cồng kềnh nhưng đã
mất hồn và bất lực.
Cách mạng Tháng Tám - dấu mốc lịch sử vĩ đại và những nhiệm vụ đặt ra
đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên mới
Riêng ở Hà Nội kính yêu, diễn tiến của phong trào Cách mạng dẫn đến khởi nghĩa cướp chính quyền được tóm tắt như sau:
Chỉ
trong vòng 5 tháng (từ ngày Nhật đảo chính Pháp đến tháng 8-1945),
phong trào đấu tranh của công nhân, quần chúng Hà Nội bộc phát, sôi nổi
và mang tính chất tập dượt, biểu dương lực lượng chính trị. Cũng sau
ngày 9-3-1945, ở Hà Nội ra đời những lực lượng vũ trang tuyên truyền đầu
tiên. Tháng 4-1945, Thành ủy triệu tập hội nghị quyết định đẩy mạnh
việc phát triển các đội tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong, tổ
chức mua sắm vũ khí và mở các lớp huấn luyện tuyên truyền cấp tốc.
Ngày
20-4-1945, hàng trăm thanh niên nam nữ nội thành đã được huy động đến
tham dư cuộc mít tinh lớn tại xã Mễ Trì (huyện Từ Liêm). Ngày 29-4, một
cuộc mít tinh gồm hàng ngàn thanh niên được tổ chức ở chợ Canh (Hoài
Đức). Tại đây, các nữ đội viên tuyên truyền xung phong đã giải thích
tình hình và kêu gọi quần chúng tham gia Việt Minh đánh Nhật cứu nước. Trong tháng 5, Đoàn thanh niên xung phong Hoàng Diệu đột nhập diễn
thuyết ở nhiều nơi như: trường Gia Long (phố Phủ Doãn), trường Kỹ Nghệ
(phố Quang Trung), chợ Láng (quận Đống Đa), nhà máy rượu (phố Lò Đúc)…
Sang tháng 6, hoạt động xung phong tuyên truyền càng sôi nổi: nói chuyện
ở cửa trường Phêlit Phôrơ (cuối đường Trần Phú), cắt ngang buổi diễn ở
rạp Tố Như (phố Hàng Bạc) để tuyên truyền chính sách của Việt Minh, phá
cuộc mít tinh ngày 17-6 (kỷ niệm Nguyễn Thái Học) do đám Đại Việt (thân
Nhật) tổ chức ở vườn Bách Thảo với ý đồ ca ngợi phát xít Nhật… Ở vùng
ngọai thành phong trào chống Nhật và tay sai cũng phát triển rầm rộ… Ở Hà Nội, các sinh viên cánh tả tổ chức biểu tình với danh nghĩa Tổng
hội sinh viên kêu gọi Bảo Đại thoái vị, thành lập nền cộng hòa dưới sự
bảo trợ của Việt Minh, yêu cầu Việt Minh thảo luận với tất cả các đảng
phái để thành lập chính phủ Lâm thời, đồng thời kêu gọi nhân dân và các
đảng phái ủng hộ chính phủ Lâm thời bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Việt Minh phát động công nhân, nông dân cướp chính quyền trên toàn quốc.
Trước áp lực đó, Bảo Đại mời Việt Minh thành lập một chính phủ mới dưới
quyền ông thay thế chính phủ Trần Trọng Kim. Tháng 5/1945, các thành viên của các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính Đảng thân Nhật và Việt Nam Quốc dân Đảng
(Việt Quốc) gặp nhau tại Trung Quốc để thành lập một liên minh đặc biệt
nhằm phối hợp hoạt động giữa các nhóm trong nước và nhóm lưu vong trong
trường hợp Trung Quốc đưa quân vào Đông Dương. Đại Việt Dân chính Đảng
sáp nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào
tháng 8/1945, ở Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang của Đại Việt còn lực
lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn còn ở Trung Quốc. Ngày
17/8/1945, Trương Tử Anh,
Đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng, dẫn đầu một đơn vị 250 người hành
quân vào Hà Nội. Tuy nhiên ngày 19/8/1945, lực lượng này đã không ngăn
cản Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội. Tối hôm đó, các đảng viên Đại
Việt và Việt Quốc tổ chức họp nhưng không thống nhất được kế hoạch
chống Việt Minh giành chính quyền. Các đơn vị khác của Đại Việt ở các
tỉnh không thể tiến về Hà Nội do lũ sông Hồng. Quân đội của Đại Việt rút
về phía Đông và phía Tây Hà Nội chờ diễn biến tình hình.
Đại Việt Dân chính Đảng Flag of Vietnamese Nationalist Army.png Hiệu kỳ. Chủ tịch Nguyễn Tường Long Tổng bí thư Nguyễn Tường Tam Thành lập 1938 Giải tán 1945 Báo chí Ngày Nay Ý thức hệ Chủ nghĩa Tam Dân
Việt Nam Quốc dân Đảng (Flag of VNQDD.svg) Đảng kỳ. Lãnh tụ Nguyễn Thái Học Vũ Hồng Khanh Nguyễn Tường Tam Chủ tịch Trần Tử Thanh Thành lập 25 tháng 12, 1927 Báo chí Tiếng dân Tổ chức thanh niên Đoàn thanh niên Ký Con Đoàn thanh sinh Phó Đức Chính Ý thức hệ Chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa Tam Dân
Đầu
tháng 7-1945, hai đại biểu Thành ủy Hà Nội đi dự Hội nghị toàn quốc của
Đảng ở Tân Trào và một đoàn đại biểu nhân dân Hà Nội cùng lên đường đến
Tân Trào dự Quốc dân đại hội. Bước sang tháng 8, điều kiện chuẩn bị
khởi nghĩa về chủ quan đã chín muồi và tình thế thuận lợi khách quan đã
xuất hiện. Chính quyền tay sai bù nhìn ở Bắc Kỳ lúc này đã thực sự hoảng
sợ, ngỏ ý muốn gặp đại diện của Việt Minh. Ngày 13-8, Nguyễn Khang dẫn
đầu một phái đoàn Việt Minh đến gặp Khâm sai Bắc Kỳ. Trong cuộc gặp gỡ
này, phía chính phủ bù nhìn nói rõ ý muốn mời Việt Minh tham gia chính
quyền và xin ngừng bạo động chống Nhật: Họ sẽ đứng ra điều đình để Nhật
trao lại quyền độc lập(!) và cả vũ khí. Một đề nghị thật sự khôi hài!
Phía Việt Minh đã bác nó, tuyên bố rõ lập trường chống phát xít và đường
lối cách mạng của mình.
Ngày
15-8, chính phủ Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh. Ở Hà Nội, các nơi
Nhật đóng quân đều treo cờ rũ. Xứ ủy Bắc Kỳ họp ngay tại cơ sở làng Vạn
Phúc (thị xã Hà Đông), chủ động ra quyết định xúc tiến khởi nghĩa giành
chính quyền ở các tỉnh do Xứ ủy phụ trách (chủ trương của Hội nghị Đảng
toàn quốc và Quốc dân đại hội tại Tân Trào đã có nhưng chưa kịp truyền
đạt tới). Hội nghị cán bộ quân sự bất thường được Thành ủy Hà Nội triệu
tập tại chùa Hà (làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm) để bàn công tác quân sự
chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.
Một
ngày sau, tức ngày 16-8, Thành ủy lại triệu tập một hội nghị cán bộ mở
rộng ở xóm Duệ Tú (làng Dịch Vọng), để thông báo quân lệnh số 1 (vừa
nhận được) và thành lập Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội - sau này gọi là
Ủy ban khởi nghĩa. Tối hôm sau, ủy ban đã triệu tập cuộc họp tại nhà bà
Hai Nhã (làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm) để quyết định kế hoạch và ngày
giờ khởi nghĩa.
Ngày
17-8, báo chí hàng ngày đã công khai thông tin Nhật đầu hàng vô điều
kiện. Cũng trong ngày đó, cái gọi là Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ họp ở Khai
trì tiến đức (nay là phòng bán vé máy bay ở phố Lê Thái Tổ) với mục đích
tìm cách chống phá cuộc khởi nghĩa mới phát động của Việt Minh. Vào
buổi chiều, cái gọi là Tổng hội viên chức đã tổ chức một cuộc mít tinh
tại quảng trường Nhà hát thành phố, nhằm hô hào quần chúng ủng hộ chính
quyền bù nhìn. Vì Việt Minh đã có sẵn những nhân mối trong tổ chức này
nên Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội đã quyết định tương kế tựu kế, chiếm
diễn đàn để tuyên truyền cách mạng. Trong dòng người kéo về quảng
trường có những tiểu tổ tự vệ chiến đấu, những đoàn viên tuyên truyền
xung phong, hội viên các tổ chức cứu quốc… để thi hành nhiệm vụ trên.
Hai
giờ chiều, cuộc mít tinh bắt đầu. Sau lời khai mạc, một diễn giả thuộc
phe chính phủ bù nhìn chuẩn bị nói thì một đội viên tự vệ đứng cạnh lễ
đài bỗng giương cao lá cờ đỏ sao vàng. Hàng vạn người reo lên:
- Cờ Việt Minh! Cờ Việt Minh!...
Tức
khắc, từ trong đám đông dự mít tinh trên quảng trường, nhiều lá cờ đỏ
sao vàng cũng xuất hiện. Cả biển người náo động. Lính bảo an và cảnh sát
có tới hàng trăm tên, súng có trong tay nhưng bất lực.
Bên
lễ đài, cờ (quẻ ly) của bù nhìn bị hạ. Từ bao lơn Nhà hát thành phố,
một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn tỏa ra phủ kín mặt trước lễ đài. Cả biển
người lại đồng loạt vỗ tay vang dậy. Một đội viên tuyên truyền xung
phong Việt Minh bước đến trước loa phóng thanh và sau khi sự ồn ào dịu
xuống, đã nói về những chuyển biến của tình hình thế giới rồi kêu gọi
đồng bào đoàn kết, cầm vũ khí nổi dậy. Tiếp đó, một đại biểu phụ nữ lên
hô hào nữ giới tham gia khởi nghĩa.
Tiếng
reo hò hưởng ứng Việt Minh từ quần chúng tham gia mít tinh lại vang
lên. Ông Nguyễn Khang, đại diện cho Mặt trận Việt Minh kêu gọi nhân dân
Hà Nội vùng lên khởi nghĩa và đề nghị quần chúng có mặt tại cuộc mít
tinh chuyển sang biểu tình tuần hành. Đồng bào hưởng ứng ngay và nhanh
chóng xếp thành đội ngũ dưới sự hướng dẫn của các tiểu tổ tự vệ chiến
đấu, hội viên cứu quốc… Theo hiệu lệnh từ loa phóng thanh, một đoàn biểu
tình phút chốc được hình thành và bắt đầu tuần hành. Có thể nói rằng
chính thời khắc này là phút giây đầu tiên của Tổng khởi nghĩa Cách mạng
Tháng Tám ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Đoàn
biểu tình có lá cờ đỏ sao vàng dẫn đầu đi dọc phố Tràng Tiền, tới Bờ Hồ
thì rẽ sang phố Đinh Tiên Hoàng. Dọc đường, người ở hai bên hè phố nhập
vào đoàn ngày một đông. Ban đầu, đám lính bảo an và cảnh sát của chính
quyền bù nhìn còn đi trên hè, nhưng đến vườn hoa Chí Linh, theo sự vận
động của tiểu tổ tự vệ, họ cũng nhập luôn vào hàng ngũ biểu tình. Đoàn
biểu tình tiếp tục tuần hành qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Đồng Xuân, rẽ
sang phố Phan Đình Phùng. Tới đây, trời bỗng đổ mưa rào nhưng đoàn biểu
tình vẫn tiến, qua Cửa Bắc, rẽ sang phố Hùng Vương, qua Phủ toàn quyền,
xuôi theo đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ ngày nay), tới Cửa Nam thì
tản ra các ngả phố…
Bức họa lễ xuất quân của 34 chiến sỹ Giải phóng quân tại cây đa Tân Trào 8/1945
Ngay
tối hôm ấy (17-8), Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội họp bàn biện pháp cụ
thể tiến hành khởi nghĩa và quyết định khởi sự vào sáng ngày 19-8-1945.
Ngày
19-8, mới sáng ra, cả Hà Nội, trên khắp các nẻo đường đã rực rỡ rừng cờ
sao. Từ các cửa ô, từng đoàn nông dân lũ lượt tấp vào. Đồng bào ở Láng,
Mọc, Thái Hà đã tập hợp thành đội ngũ kéo đi chiếm đại lý Hoàn Long
trước khi vào nội thành dự mít tinh. Tất cả các đường ô Cầu Giấy, Chợ
Dừa, Cầu Dền, Vống Mác, Yên Phụ, các vùng Chợ Bưởi, Nghĩa Đô, và cả từ
bên kia sông Hồng, từ Gia Lâm, Ái Mộ, đồng bào nườm nượp kéo về nội
thành. Đi đầu từng đoàn là các đội tự vệ, trai thì mặc quần áo nâu chẽn
ống, đầu trần, gái thì chít khăn vuông, áo nâu, quần thâm nịt ống. Người
nào cũng có một thứ vũ khí trong tay: súng, giáo mác, mã tấu, dao phát
bờ, câu liêm, liềm, hái… cả bà con nông dân ở thị xã Hà Đông, Thanh Trì,
Thường Tín, Đan Phượng, Hoài Đức cũng nô nức về tụ hội…
Đúng
11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Sau phút mặc niệm tưởng nhớ các chiến sĩ
cách mạng đã hy sinh, ba phát súng báo hiệu lễ chào cờ. Trong tiếng
nhạc của bài “Tiến quân ca” hùng tráng, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên
giữa quảng trường. Vị đại diện Ủy ban quân sự cách mạng Thành phố lên lễ
đài đọc lời kêu gọi toàn dân khởi nghĩa. Sau đó cuộc mít tinh chuyển
thành biểu tình vũ trang, chia ra làm hai đoàn chính đi chiếm các công
sở. Một đoàn đi chiếm Phủ Khâm sai (phố Ngô Quyền), Tòa Thị chính (phố
Đinh Tiên Hoàng) và Sở cảnh sát Trung ương (phố Hàng Bài). Đoàn trước
không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Đoàn sau, lúc đầu bị quân Nhật dùng
xe tăng bít các ngả đường, nhưng sau, trước khí thế của quần chúng, địch
phải nhượng bộ. Lực lượng Cách mạng thu được 400 súng và thêm một kho
vũ khí. Ngoài ra, các đơn vị tự vệ cũng tỏa ra chiếm được kho bạc, sở
mật thám…
Đến
đây, chính quyền thành phố đã nắm trọn trong tay quần chúng cách mạng.
Cuộc khởi nghĩa ở thành phố Hà Nội đã thắng lợi.
70 năm trước, người dân cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính
quyền, vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời trước
ngày Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Ngày 16 - 17/8, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào cả nước nổi dậy. Ngày 19/8/1945 hàng vạn nhân dân Hà Nội đã xuống đường biểu tình, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cờ đỏ sao vàng ngập tràn trên các tuyến phố. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Từ ngày 14 đến 18/8, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Hai hôm sau, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải
tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà...
Chấp hành lệnh tổng khởi nghĩa của Ủy ban Kháng chiến toàn quốc
và kế hoạch của Xứ ủy Nam kỳ, ngay từ đêm 24-8-1945, quần chúng cách
mạng của Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận mang theo giáo mác, tầm
vông vạt nhọn… bằng mọi phương tiện rầm rập kéo về nội thành để tham gia
khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 28/8/2915, người dân Sài
Gòn nổi dậy giành chính quyền. Như vậy, từ ngày 14 đến 28/8, các địa
phương cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Ngày 28/8/1945, Đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở Quảng trường Nhà hát Lớn, Hà Nội
Chiều 30/8/1945 tại Huế, vua
Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, trao quốc ấn
Hoàng đế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của Chính phủ
lâm thời là ông Trần Huy Liệu
Thắng lợi của Cách mạng tháng
8/1945 và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là sự kiện lịch sử trọng
đại, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên
giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả
nước. Lần đầu tiên chế độ Dân chủ nhân dân ở Việt Nam ra đời
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường
Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc
lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
"Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo
Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay
để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
chế độ Dân chủ Cộng hòa. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát
xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!", trích Tuyên ngôn Độc lập. Tại
miền Nam, sau khi đảo Pháp, ngày 14/8/1945, Nhật cho phép Bảo Đại cử
một Khâm sai đại thần nắm quyền cai trị tại Nam Kỳ đồng thời bổ nhiệm
những người Việt thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất
vào các vị trí trong bộ máy chính quyền do các viên chức dân sự Pháp đã
bị Nhật tống giam. Ngày 16/8/1945, người Việt tiếp quản Sài Gòn. Điều
này được chào đón như một cuộc cách mạng. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm
đến Sài Gòn. Nhật chuyển giao vũ khí cho chính quyền Việt Nam và các
đảng phái thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Trong cuộc họp ngày
22/8/1945 của Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Trần Văn Giàu
thuyết phục các đảng phái trong Mặt trận chuyển giao quyền lực cho Việt
Minh vì Mặt trận có thể bị Đồng Minh xem là một tổ chức thân Nhật còn
Việt Minh lại đang hợp tác với Đồng Minh (tình báo quân sự Mỹ OSS) chống
Nhật. Ngày 23/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui,
nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ
do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Ngày 25/8/1945, tại Sài Gòn, Việt Minh
tuyên bố thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ gồm 9 người đều là
thành viên Việt Minh. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra tuyên bố họ là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên thì "với
tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim, đã có sự nhất trí toàn
vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy. Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận
đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày 25
tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn
người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng
triều cho ông Trần Huy Liệu. Ông thoái vị với lý do "Hạnh
phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy,
Trẫm đã sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện, và cũng vì mục
đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có lợi cho Tổ quốc. Xét
thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc
dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm
trọng này rằng đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết. Nay thấy nhiệt vọng
dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi
Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống
khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc
dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao Liệt Thánh vào sinh ra tử
trong gần bốn trăm năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa đến Hà
Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm
mới gần gũi quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc
dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền
điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ Cộng hòa...". Ông cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Đối
với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng
không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy
sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến
thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở
trên sự đoàn kết của toàn thể nhân dân.". Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói: "Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị". Ngày 28 tháng 8 thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên cáo cho biết: "Chính
phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc
lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là
một Chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính
phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi
ngày triệu tập được quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa
chính thức".
Ngày
24-8-1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới làng Phú Gia (huyện
Từ Liêm), hôm sau thì vào nội thành, ở tại nhà số 48 Hàng Ngang.
Ngày 28-8, danh sách Chính phủ lâm thời được công bố trên các báo chí Hà Nội.
Đúng
14 giờ ngày 2-9-1945, các thành viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời
đã có mặt trên lễ đài. Sau khi chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
“Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc
lập - tự do - hạnh phúc.
Buổi lễ tổng kết bằng “Lời thề độc lập”:
“Chúng
tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ chính
phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng
tôi xin thề: cùng Chính phủ giữ vững nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc,
chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng”. Không có dấu hiệu của cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam, Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa tôn trọng quyền sở hữu tư nhân phương tiện sản xuất, chỉ
quyết định loại bỏ các quan lại và hệ thống phân cấp hành chính và chính
trị cũ của Đế quốc Việt Nam, giải tán các Hội đồng Nhân sĩ và thay bằng
các Ủy ban Nhân dân do dân địa phương bầu ra. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
thực hiện một số cải cách nhưng thận trọng để không tạo ra sự chống đối
của giai cấp trung lưu và đại địa chủ... Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói tại Nhà hát lớn
Hà Nội. Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo
ra Bắc. Chính phủ cũng kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận
chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ
thực hiện được trong tháng 9 năm 1945 với số lượng không quá 30.000 tấn
do chiến tranh bùng nổ khi Pháp đưa quân đội vào Nam Kỳ. Trong thư gửi
đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ,
chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước,
và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn
ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo". Chính phủ
cũng chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê
điều, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, hệ thống đê tại miền
Bắc đã sửa xong. Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất. Chính phủ còn vận
động tư nhân cho mượn các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi
địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản
xuất, lương thực làm ra được dùng để cứu tế. Cuối năm 1945 đầu 1946
không còn kịp thời vụ để trồng lúa nữa, nên chính phủ phát động dành
phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp hai vụ màu (khoai lang,
đậu, bắp...) bù cho phần lúa thiếu hụt. Kết quả sản lượng màu đã tăng
gấp 4 lần so với thời kỳ trước năm 1945. Chỉ trong 5 tháng từ tháng
11/1945 đến tháng 5/1946 đã đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn
lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945.
Trong năm 1946, nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: "Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ". Giáo sư kinh tế Đặng Phong đánh giá việc giải quyết được nạn đói là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đi theo Việt Minh.
Trong các tài liệu của Việt Minh những ngày đầu sau độc lập chỉ nhắc đến
Việt Minh, tuy nhiên những ngày sau khẳng định việt Minh bao gồm Đảng
Cộng sản và các tổ chức khác, và nhấn mạnh các cuộc khởi nghĩa trước đó
như Bắc Sơn, Nam Kỳ. Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản tuyên bố
"tự giải tán" (trong khi chiến sự tại Nam Bộ rất ác liệt) đăng tải trên
báo Cứu Quốc của Việt Minh ngày 12, kèm tổ chức kỷ niệm ngày sinh Tôn
Trung Sơn. Tờ báo đăng tiểu sử nhà đại cách mạng Trung Hoa, cho biết Hồ
chủ tịch tham dự chủ tọa buổi lễ do Hội Văn hóa cứu quốc tổ chức, đề
nghị nhân dân treo cờ hai nước. Báo cũng cho biết Hiến pháp "ngăn ngừa sự lũng đoạn chính quyền của một giai cấp, một đảng phái, một cá nhân nào". Ngày 13 tháng 11 báo Cứu quốc đã tường trình "Vì
những kẻ phản bội quyền lợi dân tộc, cố ý không hiểu chính sách của
Việt Minh, phao tin trong dân chúng và dèm pha với các nước Đồng minh
rằng Việt Minh là cộng sản sẽ thực hành chính sách cộng sản, mục đích
chúng gây sự chia rẽ mặt trận dân tộc, và gieo mối hoài nghi trước thế
giới". Trước đó, báo Cứu quốc ngày 21 tháng 9 đã bác bỏ thành lập Mặt trận công nông thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất với lý do "Đã
bao năm dưới ách phát xít Nhật - Pháp chẳng những công nhân bị thất
nghiệp, nông dân bị phá sản, cả địa chủ cũng bị cướp thóc, cướp đất, tư
sản cũng bị đình đốn kỹ nghệ và thương nghiệp; ngoài ra biết bao các
từng lớp nhân dân khác đều chung một tai nạn chết đói chết rét. Việt
Minh đã liên kết các giai cấp các tầng lớp nhân dân đó đánh đuổi kẻ thù
chung, giành quyền độc lập tự do cho dân tộc... Quyền lợi của giai cấp
công nhân và tư sản, nông dân và địa chủ lúc nào cũng mâu thuẫn nhau,
nhưng lúc này phải nhân nhượng nhau, phải đặt quyền lợi quốc gia lên
trên hết". @
Trước
đó, Pháp đã vận động Anh và Mỹ cho phép đặt một phái bộ không chính
thức của Pháp ở Hà Nội. Ngày 22-8-1945, Xanhtơni (Sainteny), sĩ quan
tình báo của Pháp cùng 4 sĩ quan Pháp khác, theo chân phái đoàn Mỹ do
thiếu tá Pati (Patty) - thuộc cơ quan tình báo chiến lược Mỹ Q.S.S (tiền
thân của cục tình báo chiến lược Mỹ - C.I.A) chỉ huy, đáp máy bay từ
Côn Minh (Trung Quốc) đến Hà Nội. Do mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp mà
nhóm Xanhtơni bị cô lập ở Phủ toàn quyền cũ. Mãi hai tháng sau, nhóm này
mới được Tưởng cho phép đặt trụ sở không chính thức ở một ngôi nhà gần
trường Kỹ nghệ thực hành (ở phố Quang Trung).
Dựa
vào sự giúp đỡ của viên tướng Mỹ cố vấn cho Lư Hán là Caladơ
(Callagher), Xanhtơni mua được vũ khí của quân Tưởng để trang bị cho
lính Pháp ở trong thành. Ngoài ra, nhóm Xanhtơni còn xúc tiến việc liên
lạc móc nối với lũ quan cai trị cũ của Pháp đang sống và chờ đợi ở khách
sạn Mêtrôpôn (nay là khách sạn Thống Nhất) cũng như làm một số việc xấu
xa khác… Tất cả những hành động của nhóm Xanhtơni đều nằm trong mưu đồ
phục vụ cho việc tái chiếm Đông Dương của Pháp.
“Chủ
tịch Hồ Chí Minh tiếp ông G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng
Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ,
tháng 3-1946”
Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập trên đường thăm chính thức nước Pháp ngày 9-6-1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà lưu niệm của Đại thi hào Tagor trong
chuyến thăm Ấn Độ, tháng 2/1958. (Nguồn: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ
Chủ tịch)
Thực
ra ý đồ muốn lập lại quyền thống trị Đông Dương của Thực dân Pháp đã có
từ lâu. Ngay từ 24-3-1945, chính phủ lưu vong Đờ Gôn đã ra một tuyên bố
về Đông Dương, trong đó có đoạn:
“Đông
Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kỳ,
Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với
nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền ngoại giao sẽ do
Pháp đại diện.
Đông
Dương sẽ có một chính phủ liên bang, đứng đầu là một viên toàn quyền và
gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó. Chính
phủ liên bang sẽ là người trọng tài của 5 xứ. Bên cạnh viên toàn quyền
có một hội đồng nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất là
50% số ghế. Một quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước
Pháp…”.
Đến
tháng 6-1945, Lơcléc, một tướng Pháp cừ khôi của chính phủ Đờ Gôn trong
chiến tranh thế giới thứ hai, thuộc dòng họ quí tộc có truyền thống
binh nghiệp vào hàng lâu đời nhất của Pháp, được Đờ Gôn cử làm tư lệnh
lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông. Lực lượng này bao gồm sư đoàn
thiết giáp số 2, hai sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 và số 9 (hầu hết là
lính châu Phi). Ngoài ra còn có 6.000 lính Pháp bị đuổi dạt sang Trung
Quốc từ Bắc - Đông Dương khi Nhật đảo chính và đang ẩn náu ở đó, cùng
với khoảng 5.000 lính Pháp bị Nhật bắt giam ở Hà Nội, Sài Gòn… cũng được
“đặt dưới sự chỉ huy của tướng Lơcléc”.
Ngày
18-8-1945, Lơcléc cùng bộ phận “tiền trạm” đáp máy bay đi Xri Lanca,
liên lạc với tổng hành dinh của tư lệnh lực lượng Anh ở Đông Nam Á, với
nhiệm vụ “khẩn khoản đề nghị với Anh cho Pháp được đưa một bộ phận trang
bị nhẹ, có tính chất tượng trưng đi theo quân Anh vào tiếp quản miền
Nam Đông Dương, trong khi chờ đợi lực lượng viễn chinh tiếp tục kéo vào
sau”.
Tuy
nhiên, hành động chớp thời cơ cực kỳ mau lẹ của Cách mạng Tháng Tám
(chỉ sau Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Đồng Minh có 5 ngày,
đã thành công!) làm cho khi Hồ Chủ Tịch trịnh trọng tuyên bố với thế
giới về sự ra đời của một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập và tự
do, tại vườn hoa Ba Đình thì cả Anh, Mỹ, Tưởng, Pháp, và nói chung là cả
cái đám có tâm hồn không lấy gì làm trong sáng ấy vẫn chưa kịp kéo vào
Việt Nam.
Ngày
27-8-1945, đại tá Pháp là Xêdin nhảy dù xuống Hớn Quản, được quân Nhật
đưa về Sài Gòn, đã nhân danh ủy viên cộng hòa Pháp ở miền Nam - Đông
Dương gặp Ủy ban nhân dân Nam Bộ đòi công nhận bản tuyên bố ngày 24-3
của Đờ Gôn. Ủy ban Cách mạng kiên quyết bác bỏ và còn đòi Pháp phải công
nhận chủ quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí,
Ủy ban Cách mạng cũng tuyên bố sẵn sàng hợp tác với nước Pháp mới.
Ngày
2-9-1945, giữa lúc 50 vạn nhân dân Sài Gòn họp mít tinh mừng ngày Độc
Lập thì một số người Pháp nấp trong nhà thờ Đức Bà xả súng bắn vào đám
đông, làm chết 47 người và nhiều người khác bị thương.
Với
danh nghĩa vào giải giáp quân Nhật ở Đông Nam Á theo Hội nghị Pốtxđam,
ngày 6-9-1945, những đơn vị đầu tiên của quân Anh đã đổ bộ vào Sài Gòn.
Ngày 11-9, tư lệnh quân Anh là Grêxi (Douglas D. Gracy) đến Sài Gòn.
Ngày 12-9, một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 của quân đội Hoàng gia Anh cũng
tập kết đến nơi. Đến theo quân Anh có 120 lính thuộc trung đoàn bộ binh
thuộc địa số 5 của Pháp.
Có một sự kiện ít người biết: vào đêm 14.8.1945, khi Nhật Bản chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh, một nhóm sĩ quan phản loạn đã tiến hành đảo chính và tiến chiếm hoàng cung ở Tokyo.
Người
dân Nhật quỳ khóc bên ngoài hoàng cung khi lời tuyên bố đầu hàng của
Nhật Hoàng Hirohito phát đi ngày 15.8.1945 - Ảnh: Japan Times
Việc Nhật Bản phải đầu hàng sau khi hứng hai quả bom nguyên tử vào
tháng 8.1945 được xem là điều không thể tránh khỏi vào những ngày cuối
cùng của Thế chiến thứ hai ở Thái Bình Dương. Nhưng đó không phải là suy
nghĩ của tất cả sĩ quan Nhật Bản vào lúc ấy.
Đại diện của Nhật Bản đứng trên tàu USS Missouri (BB-63) trước khi ký văn kiện đầu hàng
Ngày này đôi khi được nhắc đến như là ngày Chiến thắng Nhật
Bản, mặc dù nó thường xuyên được dùng để ám chỉ đến ngày Thiên hoàng Hirohito tuyên bố Huấn lệnh Đầu hàng của Hoàng đế, bản tuyên bố chấp thuận các điều khoản của Tuyên bố Potsdam được sóng phát thanh truyền đi trên toàn đế quốc vào trưa ngày 15 tháng Tám theo Giờ Tiêu chuẩn Nhật Bản.
Phía
Nhật ký văn kiện đầu hàng chính thức trước sự chứng kiện của phe Đồng
minh trên boong tàu ở vịnh Tokyo vào ngày 2/9/1945. Ảnh: YouTube
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, tháng 7/1959
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thắng cảnh hồ Lasuk (Nga), tháng 7/1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957
Từ
ngày quân Anh đóng quân ở Sài Gòn, tình hình ở đây ngày càng căng
thẳng. Bất chấp chủ quyền của Việt Nam, quân Anh hành động rất ngang
ngược. Chúng lấy vũ khí của Nhật trang bị cho tù binh Pháp, dùng bọn này
thay Nhật tăng cường canh gác ở một số nơi, cấm nhân dân ta mang vũ khí
và biểu tình, ra lệnh giới nghiêm ban đêm. Nghiêm trọng hơn, ngày 15-9,
Grêxi đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang Cách mạng, buộc quân đội
Cách mạng phải rút khỏi thành phố, đòi đặt công an Cách mạng dưới quyền
chỉ huy của chúng.
Được
sự dung túng của quân Anh, bọn phản động thân Pháp ngóc đầu dậy, ra mặt
chống lại Cách mạng, chuẩn bị gây bạo loạn, lật đổ chính quyền…
Ngày
22-9, sau khi quân Anh trả tự do cho tù binh Pháp bị Nhật giam giữ
trước đó thì Pháp quyết định nhanh chóng dùng vũ lực đánh chiếm Sài Gòn.
Lực lượng của Pháp ở Sài Gòn lúc này gồm có 120 lính thuộc trung đoàn
bộ binh thuộc địa số 5, 1.400 tù binh Pháp mới được thả, cùng khoảng 500
Pháp kiều vũ trang, dựa trên thế lực và sự yểm trợ của 2.800 quân Anh
với 5.000 quân Nhật được Grêxi ra lệnh tham gia “giữ gìn trật tự”. Đáng
lẽ thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo yêu cầu Đồng Minh thì lại
ra lệnh cho quân Nhật yểm trợ người Pháp chống lại Việt Minh - một lực
lượng đứng về phe Đồng Minh chống phát xít và đã có chủ quyền đất nước.
Đó là hành động thực sự bê bối không phải của riêng Grêxi mà là sự thể
hiện của những cấu kết thực dân đen tối. Hành động đó rõ ràng là đê hèn
và mang tính tội ác đối với nhân dân Việt Nam.
Từ
khi quân Anh kéo vào, quân dân Nam Bộ đã nghiêm chỉnh chấp hành chủ
trương của Trung ương Đảng và Chính Phủ, tránh xung đột vũ trang với
Anh, và do đó mà đã rút các đơn vị vũ trang thuộc “Đệ nhất sư đoàn” Cộng
hòa vệ binh mới thành lập (gồm khoảng 10 ngàn người) ra khỏi Sài Gòn.
Trong thành phố chỉ còn lực lượng tự vệ của Công đoàn.
Đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước Việt Nam lần thứ hai. Nhân dân Nam Bộ nổi dậy kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh: Báo Quân đội nhân dân)
Nhân dân Nam Bộ ngăn sông đánh giặc. Ảnh tư liệu (Báo QĐND)
Quần
chúng Sài Gòn sôi sục căm thù, đòi cho lệnh đánh. Ngày 23-9, vào lúc 10
giờ sáng, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp hội nghị tại ngôi nhà số
625 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi) và đi đến quyết định: hết
sức tránh đụng độ với quân Anh và quân Nhật, nhưng kiên quyết đánh trả
Thực dân Pháp. Đúng vào 12 giờ trưa ngày hôm đó, nhân dân Sài Gòn nói
riêng và Nam Bộ nói chung đã đứng lên theo tiếng gọi của non sông, tiến
hành kháng chiến chống quân xâm lược Pháp. Và thế là:
“Mùa thu rồi Ngày 23 Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến Rền khắp trời Lời hoan hô Quân dân Nam nhịp bước tiến ra trận tiền Thuốc súng kém Chân tay không Mà đoàn người giàu lòng vì nước Nóp với giáo Mang ngang vai Nhưng thân trai nào kém oai hùng Cờ phấp phới bay ngang trời Sao vàng xao xuyến Khắp nơi bưng biền Một lòng nguyền với tổ tiên Ta đem thân ra đền cho nước Ta đem thân ta đền ơn trước Muôn thu sau lừng tiếng anh hào Người Việt Nam lắm chí cao…”
(Bài hát: “Nam Bộ kháng chiến”)
NAM BỘ KHÁNG CHIẾN
Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ những lới tâm huyết:
“Hỡi đồng bào Nam Bộ!
Nước
ta vừa tranh quyền độc lập thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến
tranh với Nhật thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng, hoặc chạy trốn; nay
vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật hoặc công khai lại
mò đến. Trong bốn năm, họ đã bán nước ta hai lần, nay họ lại muốn thống
trị dân ta một lần nữa.
Tôi
tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng
bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của một nhà đại cách mạng
Pháp: “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!”
Tôi
chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và đồng bào toàn quốc
sẽ hết sức ủng hộ những chiến sĩ và nhân dân đương hy sinh đấu tranh để
giữ vững nền độc lập tự do của nước nhà.
Tôi
chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu
chuộng bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.
Chúng
ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết toàn dân.
Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính
nghĩa.
Tôi
chỉ muốn dặn đồng bào Nam Bộ một lời: Đối với những người Pháp bị bắt
trong cuộc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận; nhưng phải đối
đãi họ khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp biết
rằng chúng ta chỉ đòi quyền độc lập, tự do, chứ chúng ta không vì tư thù
tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc thông minh,
văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.
Nam bộ kháng chiến”.
Một
đơn vị Nam tiến tại ga Hàng Cỏ, Hà Nội trước khi lên đường vào Nam chi
viện cho mặt trận Nam Bộ năm 1945. Ảnh: baotanglichsu.vn.
Có
câu chuyện thế này: trong khoảng thời gian quân Anh vào tiếp quản Sài
Gòn để thực thi nhiệm vụ giải giáp quân Nhật theo kế hoạch của Đồng Minh
(nhưng với cách làm thật “ngược đời”!) thì một nhóm thuộc lực lượng OSS
của Mỹ do trung tá Điuê (A. Peter Dewey) chỉ huy cũng được điều đến hỗ
trợ. Chứng kiến cách hành xử của Grêxi, tư lệnh quân Anh, với nhãn quan
nhạy bén của mình, Điuê đã thực sự lo ngại. Theo ông thì những hành động
của Grêxi là rất tai hại, thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù trong lòng
người dân Việt nhằm vào phương Tây. Ông liên tục gửi báo cáo về Mỹ chỉ
trích Grêxi. Đáp lại, Grêxi đã lệnh cho Điuê phải rời khỏi Việt Nam.
Sáng ngày 26-9-1945, Điuê ra sân bay Sài Gòn, tìm hiểu lịch bay để chuẩn
bị về Mỹ. Chiếc xe Jeep ông lái không cắm cờ Mỹ vì lệnh cấm của Grêxi
(chỉ có xe của ông ta, trong vai trò tư lệnh, mới được cắm cờ). Xe đang
chạy thì đột nhiên Điuê thấy một mớ cây nằm chắn giữa đường, đành phải
giảm tốc độ và chạy vòng lách qua. Ngay lúc đó có ba người Việt Nam đứng
ở rãnh mương bên đường. Điuê quát họ bằng tiếng Pháp. Tưởng rằng ông ta
là sĩ quan Pháp, họ đã đáp trả bằng một tràng súng máy làm bay mất phần
sau hộp sọ của ông. Điuê chính là quân nhân Mỹ đầu tiên bị giết tại
Việt Nam. Điều quá ư trớ trêu là với nhãn quan nhạy bén của mình, chính
Điuê đã tiên tri: “Nam Kỳ đang bốc cháy! Người Pháp và Anh sẽ bị kết
liễu tại đây, và chúng ta phải chạy khỏi Đông Nam Á”. Ngày 3/10/1945, 10.000 quân Pháp do Leclerc chủ huy đổ bộ xuống Sài
Gòn. Ngày 9/10/1945, Pháp Anh ký thỏa hiệp tại Luân Đôn xác định Anh
hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vĩ tuyến
16. Đêm ngày 10/10/1945, bộ đội Việt Nam tấn công sân bay Tân Sơn Nhất.
Lực lượng Việt Nam giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ
vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến. Lực
lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của Việt Nam sau
hai tuần chiến đấu liên tục. Ngày 16/10/1945, phía Việt Nam ngừng bao
vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn do lực lượng Anh, Pháp, Nhật
quá mạnh. Không quân Hoàng gia Anh và không quân Nhật tiếp tục ném bom
vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam. Phản ứng trước việc Anh dùng quân đội Nhật tấn công lực lượng Việt Nam, tướng Douglas MacArthur phát biểu: "Nếu
có gì đó làm máu tôi sôi lên thì đó là việc tôi thấy các nước Đồng Minh
của chúng ta ở Đông Dương và Java sử dụng quân Nhật để đàn áp các dân
tộc nhỏ bé này mà chúng ta đã hứa giải phóng. Đó là một sự phản bội kinh
tởm nhất.".
Douglas MacArthur
Douglas MacArthur năm 1945
Tiểu sử
Sinh
26 tháng 1, 1880 Little Rock, Arkansas
Mất
5 tháng 4, 1964 (84 tuổi) Washington, D.C.
Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một danh tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army).
Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau
đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong
Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh
dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản
mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy
không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của
Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945. Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory"
(Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur
đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Chiến tranh thế giới thứ nhất,Chiến
tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).
(Còn tiếp)
Khi tới Sài Gòn, Lơcléc đặt sở chỉ huy trong lớp rào bảo vệ của
quân Anh. Đến ngày 31-12, đã có 145 chuyến tàu biển chở tới miền Nam -
Việt Nam 27.907 lính Pháp và 2.325 xe quân sự. Thực hiện chiến thuật
“vết dầu loang”, Lơcléc đã chiếm được một số thành phố, thị xã, thị trấn
và các đầu mối giao thông quan trọng. Nhưng cuộc tiến công đánh nống ra
đó đã bị ngăn chặn ngày một tích cực và mạnh mẽ bởi cuộc chiến tranh
nhân dân đang ngày được củng cố và mang ý chí của cả một dân tộc đồng
lòng. Những dấu hiện về khả năng bị sa lầy của đội quân viễn chinh Pháp
đã bắt đầu xuất hiện. Tình hình đó đã cho viên tướng mẫn cán Lơcléc thấy
rằng nếu quân Pháp thực hiện giai đoạn 2 là “tiếp tục cuộc hành quân ra
Bắc - Việt Nam”, nhất định sẽ bị chống cự lại mạnh mẽ hơn gấp bội phần.
Hơn nữa, quân Tưởng ở Bắc Kỳ vẫn chưa chịu cho lực lượng Pháp trở lại.
Đầu năm 1946, Lơcléc điện báo về Pháp:
“…
cho tới nay đã giải tỏa được Sài Gòn và đánh thông ra miền Nam - Trung
Kỳ, nhưng đã bị chết 600, bị thương 1.600 binh lính. Việt Minh vẫn đang
tiếp tục chống cự quyết liệt. Trung bình mỗi ngày có 3 cuộc đụng độ với
Việt Minh. Không còn lực lượng dự trữ nữa. Việc chiếm lại Bắc Kỳ, dù chỉ
là một bộ phận, là điều không thể thực hiện được. Không thể nào chỉ với
khoảng một sư đoàn mà chinh phục được một xứ sở rộng bằng hai phần ba
diện tích nước Pháp, trong đó nhân dân đang hồ hởi, được vũ trang, quyết
tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập của mình”.
Bằng
nhãn quan quân sự mẫn tiệp của mình, Lơcléc chắc chắn là viên tướng
lĩnh Pháp nhìn vấn đề Việt Nam tỉnh táo nhất. Ông này cho rằng đạt được
sự thỏa thuận riêng lẻ với Tưởng Giới Thạch (cho phép quân Pháp thay
quân Tưởng làm nhiệm vụ giải phóng quân Nhật ở Bắc Kỳ) là không đủ mà
phải thương lượng nghiêm chỉnh với Việt Minh và “không nên ngần ngại
tuyên bố công nhận nền độc lập của Việt Nam”, nếu muốn đảm bảo an toàn
cho quân Pháp kéo vào Hà Nội. Trong một bức thư gửi đô đốc Đácgiăngliơ,
Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Lơcléc nhấn mạnh:
“Tôi
không hề bao giờ có ý định dùng vũ lực thuần túy để chiếm lại Đông
Dương. Kinh nghiệm ở Nam Kỳ trong mấy tháng qua đã chứng tỏ, muốn tiến
hành thắng lợi công cuộc bình định, phải có những đạo quân lớn, lớn hơn
rất nhiều mức quân số chúng ta có thể có được: Vì vậy, trong khi vẫn
chuẩn bị cho cuộc hành quân, tôi xin lưu ý ngài Cao ủy về những điểm có
lợi hơn, đó là giải pháp hòa bình, tức là một mặt thương lượng với Trung
Quốc, một mặt đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh…”
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 06-3-1946 với đại diện Pháp Sainteny.
Ông Hoàng Minh Giám đọc bản hiệp định. (ảnh tư liệu)
Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội. Từ trái
qua phải: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Nội vụ Hoàng Minh Giám, Ủy
viên Cộng hòa Jean Sainteny, Cố vấn chính trị Leon Pignon, đại diện Đảng
Xã hội Pháp Luis Caput (ảnh: Nguyễn Bá Khoản)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc
tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái
Tổ sau lễ ký.
Nhưng
với bản chất thực dân, gắn liền với dã tâm và tính ngạo mạn của nó ở
lực lượng cực hữu, trong đó có Đácgiăngliơ, chính phủ Pháp đã khăng
khăng đòi dùng bạo lực khuất phục chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa
còn non trẻ hòng duy trì chế độ thuộc địa khi xưa.
Đến
đây, chúng ta đột nhiên có một liên tưởng đến hai giai đoạn na ná giống
nhau về hình thức của hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, lần thứ
nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp. Đó là trong cuộc xâm lược lần thứ
nhất có giai đoạn: sau khi chiếm Gia Định, giặc Pháp đánh tỏa ra chiếm
lục tỉnh Nam Kỳ rồi tiến ra gây hấn Bắc Kỳ, đánh chiếm Hà Nội rồi đánh
tỏa ra chiếm Bắc Kỳ. Song song với quá trình đó là những hiệp ước được
ký giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp. Trong cuộc xâm lược lần thứ
hai cũng có giai đoạn tương tự: sau khi chiếm Sài Gòn, giặc Pháp đánh
lan ra chiếm Nam Bộ, rồi cũng tiến ra gây hấn Bắc Bộ, đánh chiếm Hà Nội
rồi mở rộng chiến tranh ra khắp Bắc Bộ. Song song với quá trình đó cũng
có những hiệp ước được ký giữa Chính phủ Việt Minh và Chính phủ Pháp.
Cũng có thể cho rằng tình thế của hai giai đoạn đó là hao hao giống
nhau. Nếu kẻ thù chính của quân dân Bắc Kỳ ở giai đoạn trước là quân
Pháp và quân Mãn Thanh thì kẻ thù chính của quân dân Bắc Bộ ở giai đoạn
sau là quân Pháp và quân Tàu Tưởng. Tuy nhiên đó chỉ là những nét phác
giống nhau bề ngoài. Sự khác nhau giữa chúng là hết sức cơ bản, có tính
tương phản rõ rệt. Ở giai đoạn trước, đối diện với thực dân Pháp là một
triều đình Huế bạc nhược, một Tự Đức đê hèn, ký hiệp ước với Pháp để cầu
hòa mà thực chất là rút lui, đầu hàng, bán nước, đưa dân tộc Việt Nam
vào vòng nô dịch ngoại bang. Ở giai đoạn sau, đối diện với thực dân Pháp
là một Chính phủ Cách mạng trung kiên, một Hồ Chí Minh anh hùng, ký
hiệp ước với Pháp cũng để cầu hòa nhưng thực chất là “hòa để tiến”,
chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ sự thống nhất và độc lập dân tộc vừa
mới giành được từ ngoại bang bằng bất kỳ giá nào.
Phải
nói rằng giai đoạn từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946 là giai đoạn khó
khăn, phức tạp và hiểm nghèo nhất của Cách mạng Việt Nam, khi mà Chính
quyền Cách mạng đang trong bước hình thành còn non yếu, trước hàng loạt
kẻ thù lăm le bóp nghẹt: giặc Pháp, giặc Tưởng, giặc phản động tay sai,
giặc đói, giặc dốt…
Chính trong lúc ngàn cân treo sợi tóc đó, thiên tài của đại anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh vụt sáng chói hơn bao giờ hết.
Đều
xuất phát từ quyền lợi ích kỷ của mình, và đều lấy Việt Nam ra làm con
bài thương lượng, Cộng hòa Pháp và Trung Hoa Dân quốc đã ký một hiệp ước
tại Trùng Khánh (Trung Quốc) vào ngày 28-2-1946, theo đó, Pháp sẽ trả
lại cho Tưởng toàn bộ các “tô giới” và “nhượng địa” trên đất Trung Quốc
để đổi lại việc Tưởng sẽ đồng ý cho quân đội Pháp kéo vào Bắc - Đông
Dương thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Cũng theo
hiệp ước này thì quá trình thay thế sẽ được tiến hành từ ngày 1 đến ngày
15 và hoàn tất vào ngày 31-3-1946 theo một kế hoạch đã bàn định giữa
Pháp và Tưởng cũng tại Trùng Khánh.
Việc
ký hiệp ước Pháp - Trung đã tạo ra một tình thế hết sức nguy hiểm. Nếu
Pháp tiến quân vào Bắc - Việt Nam thì dù với chiêu bài “tiếp quản” vẫn
là nhằm thực hiện âm mưu xâm lược. Do đó, buộc quân dân miền Bắc phải
chiến đấu để bảo vệ thành quả cách mạng. Sự bùng nổ chiến sự sẽ tạo ra
cái cớ là tình hình không ổn định để quân Tưởng ở lại làm thế lực cho
bọn phản dân hại nước Quốc Dân Đảng đánh phá chính quyền Việt Minh. Hơn
nữa, một cuộc chiến đấu xảy ra sớm như vậy mà còn phải chống lại cùng
lúc ba kẻ thù Pháp, Tưởng, bè lũ tay sai phản động, sẽ không những không
tạo ra được khoảng thời gian quí báu, cần thiết để Việt Minh chuẩn bị
chu đáo kỹ càng hơn cho Toàn quốc kháng chiến mà còn tạo ra sự bao vây,
chia cắt đối với lực lượng vũ trang Cách mạng đang trong thời kỳ củng
cố.
Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi
diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông dương lần thứ VIII
(5/1941)
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người về nước triệu tâp hội
nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường
lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên
là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng,
đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng
khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền
Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và
xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Mục
đích của cuộc Cách mạng Tháng 8 là độc lập - tự do. Sự kiện Pháp gây
hấn, đánh chiếm Nam Bộ đã lộ rõ ý chí quyết tâm xâm lược Việt Nam một
lần nữa của chúng. Do vậy lúc đó, kẻ thù số một và nguy hiểm nhất của
dân tộc Việt chính là thực dân Pháp. Một cuộc kháng chiến toàn diện
chống Pháp là không thể tránh khỏi. Nhưng cần phải trì hoãn càng lâu
càng tốt thời điểm xảy ra cuộc chiến tranh đó (không làm xuất hiện cuộc
chiến tranh đó là tốt nhất, nhưng nếu như thế thì hoặc Cách mạng phải
rời bỏ mục đích độc lập, tự do của mình, hoặc thực dân Pháp không còn
mang… bản chất thực dân nữa!), để vừa có thêm thời gian chuẩn bị tổ chức
lực lượng đánh lâu dài, vừa (và đây là điều tối quan trọng) cho quân
Tưởng rút hết đi (kéo theo là sự tan rã của bè lũ phản động trong nước),
chỉ còn phải “đấu tay đôi” với Pháp. Thực hiện được điều này là rất khó
khăn, tài năng không xuất chúng sẽ không làm được.
Dân
tộc Việt đã đặt nhiệm vụ nặng nề đó lên vai Hồ Chí Minh, người con ưu
tú nhất của mình trong một thời đại, vị đại anh hùng dân tộc mà phải
trăn trở suốt hơn 150 năm, tính từ khi Quang Trung - Nguyễn Huệ băng hà,
đất nước Việt Nam mới hun đúc nên được.
Còn
Hồ Chí Minh thì chủ động đứng ra nhận lãnh gánh vác trách nhiệm đó và
đã hoàn thành sứ mạng mà dân tộc Việt Nam trao cho, một cách tuyệt vời
nhất: kết quả tuyệt vời, phong thái tuyệt vời. Không đao to búa lớn,
không phùng má trợn mang, cũng không yếu mềm bạc nhược, không ủ dột van
nài, cương trong nhu, nhu trong cương, không phải nhu mà cũng không phải
cương, không kiêu mà cũng không nản, cứ thản như nước chảy thì bèo
trôi, ấy vậy mà việc thành. Như thế không phải là tuyệt vời nhất sao?
Đọc những tư liệu lịch sử ghi chép những hồi ức, cảm nghĩ, nhận xét,
đánh giá của các nhân vật từng trực tiếp tham gia, trực tiếp đối mặt với
Hồ Chí Minh, và của các học giả nghiên cứu lịch sử ở cả hai phía bạn,
thù về quãng đời hoạt động của ông trong những ngày tháng ấy (chưa cần
nói đến cả cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước quên thân của ông),
chúng ta thấy ở con người Hồ Chí Minh tỏa ra, ánh lên cái ý chí chủ động tiến công của Lý
Thường Kiệt, cái đĩnh đạc xác quyết của Trần Hưng Đạo, cái ung dung thấu triệt của Nguyễn
Trãi, cái kiên định sắt đá của Nguyễn Huệ. Như thế không phải là tuyệt vời
nhất sao?
Trên tàu Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long, ngày 24/3/1946. Từ trái sang phải:
Hồ Chí Minh, Jean Sainteny, Tướng Leclerc, và Thống Đốc Thierry
d’Argenlieu.
Tác giả Jean Sainteny và Hồ Chí Minh trên đường đến Vịnh Hạ Long. Lên tàu
Catalina ngày 24/3/1946.
Tựu
trung lại, phương châm hành xử của Hồ Chí Minh trong giai đoạn ngặt
nghèo đó là theo thời lựa thế, dĩ bất biến ứng vạn biến… và như thế, đó
cũng chính là sự biểu hiện của cái quan niệm vô vi vô bất vi (trông như
không làm mà lại làm được tất cả) của Đạo Gia. Sự thể hiện của Hồ Chí Minh
trong những nhận định hết sức tinh tế của ông về thị phi, trong sự đối
xử hết sức nhã nhặn và đầy nhân văn của ông ngay với cả kẻ thù xâm lược,
trong sự yêu thương trìu mến của ông khi nói đến Đại Chúng, đến “người
cùng khổ”, trong tình cảm thiết tha của ông đối với nền độc lập - tự do
của dân, của nước, trong thái độ của ông đối với chiến tranh và trong sự
căm ghét của ông đối với cường bạo, áp bức, bất công, đã làm cho tâm
hồn cộng sản của ông, hóa ra lại rất gần gũi với tâm hồn Lão Tử, một đại hiền triết của phương Đông cổ đại.
Theo
King C. Chen, nhà nghiên cứu lịch sử Trung Hoa Dân Quốc thì ngay từ
ngày 18-8-1945 đã có những tiếp xúc và thương lượng Pháp - Việt. Lúc đó
Hồ Chí Minh đã đưa ra 5 điều kiện mà nội dung chủ yếu là sự độc lập của
Việt Nam, đổi lại Việt Minh sẵn sàng chấp nhận người Pháp làm cố vấn
“chống ngoại xâm”. Mà ngoại xâm là ai nếu không phải là quân Tưởng như
sau này đã thấy? Thật rõ, Hồ Chí Minh đã “gợi ý” người Pháp chọi lại
người Trung Hoa khi mà quân Tưởng còn chưa kéo vào chiếm đóng Bắc - Việt
Nam. Ngày 20/8/1945, Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt
Nam. Ngày 30/9/1945, Nguyễn Hải Thần dẫn đầu một phái đoàn tới gặp Tiêu
Văn (cuối tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng do Lư Hán làm tổng chỉ huy, Tiêu Văn
làm phó tư lệnh vượt biên giới Việt-Trung tiến vào Việt Nam) để thảo
luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra
không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối tháng 10/1945, bảy đảng
viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần"
với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự
xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy
nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần".
Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách
xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân
quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các
bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội và du kích đi tham gia Chiến dịch
Biên Giới đóng quân ở huyện Phục Hòa, Cao Bằng (3.1951). Nguồn ảnh: Tư
liệu
Bác Hồ đến thăm các đơn vị bộ đội tham gia chiến dịch biên giới – Ảnh: Tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát núi Báo Đông (Ảnh: Tư liệu)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đường đi công tác ở Việt Bắc. Nguồn ảnh: Tư liệu
Chủ tịch
Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương
mẫu toàn quốc lần thứ nhất (1.5.1952). Nguồn ảnh: Tư liệu
Chủ tịch
Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp
quyết định mở chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ
(xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnhThái Nguyên cuối năm 1953).
Tuy nghi ngờ, thậm chí thù địch nhau nhưng các thành viên Việt Minh và
Việt Quốc vẫn gặp nhau thậm chí còn ký kết các thỏa thuận. Ngày
29/9/1945, Nguyễn Lương Bằng (Việt Minh) và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) gặp nhau và đồng ý chấm dứt xung đột, thả tù nhân và ngừng lên án nhau công khai. Ngày 19/11/1945, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần
thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán thành lập
chính phủ liên hiệp, quân đội thống nhất và kết thúc cuộc đấu tranh đảng
phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày 24/11/1945, sau buổi lễ trước trụ sở
Việt Quốc, lãnh tụ 3 tổ chức Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc ký bản ghi
nhớ cam kết các bên sẽ không tấn công lẫn nhau, đi đến thống nhất và hỗ
trợ Nam Bộ kháng chiến. Ngày
23/12/1945, Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để
thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần
đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một
chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các
đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ
Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Do các đảng phái đối lập phản đối nên Hồ Chí Minh đồng ý loại Võ Nguyên
Giáp và Trần Huy Liệu ra khỏi nội các. Các bên tổ chức Hội nghị và họp
nhiều lần để thảo luận ai sẽ nắm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ
trưởng Nội vụ đồng thời làm thế nào chia sẻ quyền lực trong Vệ quốc
quân. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là
thành viên Việt Minh. Các đảng phái đối lập hy vọng Phan Anh
sẽ chống lại việc Việt Minh cố gắng nắm toàn bộ Bộ chỉ huy và Bộ tổng
tham mưu Vệ quốc quân nhưng họ sẽ thất vọng. Hội nghị cũng xem xét các
nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn và Trần Đình Nam
xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại
vì quá chống cộng còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người
còn lại, Hồ Chí Minh đã chọn Huỳnh Thúc Kháng. Ông gửi điện cho Kháng và
cử sứ giả đến gặp ông này. Huỳnh Thúc Kháng miễn cưỡng chấp thuận.
Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín
khắp cả nước. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người
với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.
Ngày
6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu
tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có
quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại. Các đảng này cho là "trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản", "chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được". Hai đảng đối lập
trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách
mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí
Minh đã gửi thư cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh
(lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử
và đề nghị hai bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho
đến ngày Quốc hội khai mạc.
Chỉ 4 tháng sau ngày đất nước giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa - năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh, chính quyền cách mạng đã quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử
trong cả nước. Người đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân
Việt Nam, tận tay tham gia bỏ phiếu bầu cử tại các kỳ Tổng tuyển cử
trong cả nước.
Báo Quốc hội, số đặc biệt ngày 6-1-1946 đã trân trọng in ở trang đầu ảnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả bút tích lời kêu gọi của Người. Ảnh tư liệu .
Giấy
chứng minh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
chứng nhận cụ Hồ Chí Minh là đại biểu tỉnh Hà Nội tại Đại hội đại biểu
toàn quốc năm 1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu
Theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim thì
có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh. Nhưng theo Việt Minh,
cuộc bầu cử diễn ra công bằng. Đa số đại biểu trúng cử không phải là thành viên Việt Minh Trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên",
đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại
trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ
trích và không tham gia bầu cử. Sau
khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp
Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở
các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm
1946. Theo thỏa thuận với Việt Minh, phe đối lập bao gồm một số tổ chức
như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng
được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn
được nắm 70 ghế Quốc hội (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) cùng một
số vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng
phái của Chính phủ. Hai mươi thành viên Việt Cách trở thành đại biểu
quốc hội bằng một sắc lệnh hành pháp. Hồ Đắc Thành và Bồ Xuân Luật ứng
cử và cũng trở thành đại biểu quốc hội.
Ngày 2/3/1946, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng
mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Nguyễn
Đình Tri của Việt Cách làm bộ trưởng xã hội.
Theo David G. Marr, Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì một
lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng
chí của Phan Bội Châu, được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng
và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong
nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ
bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh.
Nguyễn Hải Thần
Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện
pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non
trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia,
thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn,
sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu
tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ
chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân
chúng. Võ Nguyên Giáp kể lại: "Chúng tôi phải trừng trị bọn phá hoại... Nhưng bằng mọi giá phải tránh khiêu khích và đảm bảo không xảy ra xung đột lớn".
Võ Nguyên Giáp dùng lực lượng tự vệ và các hội viên Hội Cứu Quốc phá
các cuộc biểu tình này. Khi có lộn xộn, lính Trung Quốc bắn chỉ thiên,
xông vào giải tán đám biểu tình để vãn hồi trị an. Việt Nam Quốc dân
Đảng hoảng hốt khi người Trung Hoa không giúp được gì nhiều trong việc
chống lại Việt Minh như họ mong đợi. Ông Nguyễn Duy Thanh, một người theo chủ nghĩa quốc gia buồn rầu nhớ lại: "Không có Trung Hoa ủng hộ, những đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia chẳng thể đối phó được với những người Cộng sản".
Tập đánh máy hồi ký vụ án Ôn Như Hầu của cụ Nguyễn Tạo.
Ngày
15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời
khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách
Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới
Thạch và do bất đồng về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt mùng 6 tháng 3
đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ Việt Cách là Nguyễn
Hải Thần, lãnh tụ Việt Quốc Vũ Hồng Khanh
trong chính phủ và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong
sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ
thời cơ. Mặc dù Hồ Chí Minh giữ độc quyền liên lạc với Pháp với sự trợ
giúp của Hoàng Minh Giám
nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách
nghiêm túc. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu
phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn.
Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu
hết các phiên họp. Còn theo David G. Marr, Tam là người phát ngôn có năng
lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong
đoàn. Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau,
cuối cùng rời bỏ chính phủ
(tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập
trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp
đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài.
Cụ
Nguyễn Tạo sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở làng
Thái Yên (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Năm 1923, khi vừa 18 tuổi, Nguyễn Tạo trốn
nhà đi làm cách mạng, 3 năm sau tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng. Trong
một bản viết tay gửi gia đình cụ Nguyễn Tạo ngày 23-9-2002, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp viết: “Năm 1929, tôi ra Hà Nội tìm gặp anh Nguyễn Tạo, còn
gọi là Tạo Rỗ, lúc đó là người phụ trách kỳ bộ Tân Việt Bắc Kỳ để bàn
chuyện chuyển Tân Việt thành tổ chức cộng sản. Anh Tạo đồng ý và đề nghị
lấy tên là Tân Việt Cộng sản Đảng…”.
Sau
Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí
Nguyễn Tạo chủ yếu hoạt động trong ngành Công an với các chức vụ như
Giám đốc Nghệ An Công an Cục, Trưởng ban Trinh sát Sở Liêm phóng Bắc Bộ,
Trưởng phòng Điệp báo Nha Công an Việt Nam… Trong thời gian này, đồng
chí đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật, trong đó có quá trình tham gia chỉ
đạo phá vụ án Ôn Như Hầu, Hà Nội.
Đến
ngày 12-7-2016, vụ án phố Ôn Như Hầu xảy ra đã tròn 70 năm và ngày này
đã được lấy là Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân. Thời
gian qua báo chí trong nước, nước ngoài đã viết khá nhiều về diễn biến
vụ án, cũng có một số phần tử còn xuyên tạc sự thật lịch sử, cho là cộng
sản lúc đó đã dựng lên “vở kịch” này nhằm đàn áp đảng phái khác. Là
người trực tiếp chỉ đạo đánh án, cụ Nguyễn Tạo từng viết hồi ký nói rõ
diễn biến vụ án cùng bộ mặt thật của tổ chức Đại Việt Quốc dân Đảng, thủ
phạm gây án. Ông Nguyễn Thanh Sơn, con trai cụ Nguyễn Tạo đã cung cấp
cho người viết một bản đánh máy 20 trang của cha mình, tiêu đề “Vụ giết
người ở Ôn Như Hầu”, tác giả P.D (tức Phủ Doãn, một bí danh hồi hoạt
động bí mật của cụ Nguyễn Tạo). Có thêm dòng viết tay cùng chữ ký của
tác giả trên đầu bản hồi ký: “Đồng chí Lê Hữu Qua. Anh xem, nếu có gì
thêm bớt anh cho biết. 5-8-1970”. Thiếu tướng Lê Hữu Qua, thuộc Tổng cục
An ninh, Bộ Công an, ngày đó là một trợ thủ đắc lực của cụ Nguyễn Tạo
trong vụ án. Sớm ngày 10.7.1946, Công an quận (CAQ) I (nay là quận Hoàn
Kiếm) nhận được tin báo của có một xác chết nổi trên hồ Ha-le (nay là hồ
Thiền Quang) trên phố Nguyễn Du. Theo chỉ đạo của ban chỉ huy CAQ, một
tổ công tác gồm Lê Thiết Hùng, Nguyễn Văn Khâm và Nguyễn Văn Bảo trong
lực lượng công an xung phong (CAXP) khẩn trương tới hiện trường...
Đó là biểu hiện của một âm mưu rất lớn.
Trích
hồi ký: “18 giờ chiều hôm 11-7-1946, trong một gian phòng nhỏ, chỉ vẻn
vẹn có hai cái ghế dài và một cái bàn gỗ tạp ở trụ sở Nha Công an (phố
Trần Bình Trọng), đồng chí Lê Giản, Tổng giám đốc Nha Công an, đồng chí
Nguyễn Tuấn Thức, Trưởng ty Công an Hà Nội và tôi, Trưởng phòng Điệp báo
Nha Công an đón tiếp đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Trong ngót tháng nay, chúng tôi liên tiếp báo cáo lên Trung ương Đảng và
Chính phủ về vụ Việt Nam Quốc dân (VNQD) Đảng phối hợp với bọn chỉ huy
quân đội thực dân Pháp đóng tại nội thành Hà Nội âm mưu gây rối loạn,
cướp các cơ quan và bắt cán bộ Đảng, Nhà nước ở thủ đô Hà Nội. Đồng chí
Võ Nguyên Giáp vừa ngồi xuống ghế, không cần giới thiệu, với thái độ
bình tĩnh hỏi chúng tôi: “Các đồng chí cho biết cụ thể kế hoạch của
chúng nó”. Đồng chí Lê Giản bảo tôi: “Anh theo dõi các tổ chức phản
động, anh báo cáo cụ thể âm mưu của chúng nó”. Tôi nói: “Chúng tôi có
nhiều nguồn tin khác nhau, tổ chức Đại Việt Quốc dân Đảng (trong VNQD
Đảng) định phối hợp với quân đội viễn chinh Pháp đóng tại nội thành Hà
Nội bạo động, cướp chính quyền vào ngày 14-7-1946. Cụ thể kế hoạch của
chúng là: Nhân ngày 14-7, Quốc khánh Pháp, quân đội Pháp sẽ đi duyệt
binh các đường phố lớn Hà Nội, thẳng phố Huế xuống Bạch Mai. Đảng viên
Đại Việt trang bị súng trường, súng ngắn, lựu đạn nấp trên mái nhà hoặc
các tầng gác ở các cơ sở bí mật, nhất là dọc phố Huế, ném lựu đạn, bắn
súng vào các đơn vị lê dương, lính thuộc địa Pháp. Giặc Pháp sẽ lấy cớ
Việt Minh đánh quân đội viễn chinh Pháp, vi phạm Hiệp định Sơ bộ. Quân
đội Pháp sẽ bất ngờ đánh chiếm các cơ quan công an, đài phát thanh, Bắc
Bộ phủ, các đơn vị Vệ Quốc quân, các trụ sở Việt Minh, sau đó đưa ngay
bọn thủ lĩnh Đại Việt lên lập chính phủ lâm thời”. “Anh cho tôi biết
những tổ chức lấy tin của anh”-Đồng chí Võ Nguyên Giáp lại hỏi…”. Đoạn
này người viết hồi ký nêu khá nhiều trang cụ thể về lai lịch hai “đặc
tình” là P.H bí số H120 và C3… Rồi viết tiếp: “…Hai tổ điệp báo này
không hề biết nhau, nhưng nhiều tin tức ăn khớp nhau. Đồng chí Võ Nguyên
Giáp ngắt lời tôi, nói: Hôm qua tướng Pháp Sa-lăng (Salan) gọi điện
thoại sang Quốc phòng chính phủ ta xin duyệt binh nhân ngày 14-7 trên
các đường phố Hà Nội. Tôi nghĩ: Như vậy có thêm một chứng cớ là chúng đã
phối hợp với nhau. Đồng chí Giáp nói tiếp: Các đồng chí biết rõ chúng
như vậy, cách đối phó ra sao? “Chúng tôi tin, sẽ đập tan được âm mưu của
chúng, nhưng còn phải chờ chỉ thị của Trung ương”-Tôi nói. Đồng chí Võ
Nguyên Giáp bảo: Buổi sáng mai (12-7-1946) tôi sẽ trả lời.
20
giờ ngay đêm đó (11-7) đồng chí Lê Giản lại triệu tập đồng chí Bùi Đức
Minh, đồng chí Lê Hữu Qua và tôi thảo luận kế hoạch đối phó. Câu hỏi cần
giải đáp: Đã cấp thiết phải phá vụ án này chưa? Tôi khẩn khoản: Cần
đánh ngay!... Tôi được ủy nhiệm cố lấy cho được một vật chứng, tờ hiệu
triệu hay tờ truyền đơn cổ động bạo động. 24 giờ đêm hôm đó (11-7), C3
lại bí mật báo tin cho tôi: Lời hiệu triệu và tờ truyền đơn lật đổ chính
quyền cộng sản đã in xong, một số đã gửi đi các cơ sở bí mật. Năm giờ
sáng mai thì các trụ sở công khai của Quốc dân Đảng sẽ phân tán rút hết
người, tài liệu vào bí mật. Trước trụ sở vẫn treo cờ VNQD Đảng và chỉ
còn một tên mặc đồng phục “tàu vàng” đứng gác. Ngày 14-7, chúng nhất
thiết bạo động. Như vậy chỉ còn 5 tiếng đồng hồ nữa, nếu không nhanh tay
xử lý, có thể rất nguy hiểm cho đất nước..."
Đội trinh sát đặc biệt, đơn vị chủ chốt trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng ngày 12-7-1946.
....Tới nơi, Bảo lội xuống hồ để vớt thi thể người chết – là nam giới
chừng 28 tuổi. Còn Khâm ấn vào bụng nạn nhân, thấy không có nước, phán
đoán nạn nhân chết trên cạn, sau đó mới bị quẳng xuống hồ. Sau khi đưa
thi thể nạn nhân đến nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức),
kết quả khám nghiệm trùng khớp với nhận định của tổ công tác. Xác định
là vụ án hình sự nghiêm trọng, CA Hà Nội đã triển khai các biện pháp
nghiệp vụ truy xét hung thủ.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, một số trinh sát có mặt trong một quán bán
thịt chó ở chợ Đuổi. Lúc này quán rất đông khách, nhưng câu chuyện của 4
vị khách ở bàn bên đã không thể lọt qua tai mắt các chiến sĩ công an.
Khi nghe các vị khách xì xầm bàn tán: “Quân Tưởng đã rút, quân đội Pháp
đã kéo vào Hà Nội, sẽ thuận lợi cho ta nhiều hơn cả quân Tưởng. Ông nào
làm chuyện ở hồ Ha-le rất sơ hở…đã dọn đường cho công an Việt Minh theo
dõi…”, các trinh sát đã bí mật lên xe xích-lô theo họ về phố Ôn Như Hầu.
Trước đó, những người dân ở phố Ôn Như Hầu thấy một nhóm người đi cùng
một phụ nữ vào nhà số 7 phố này. Sau đó mấy ngày, không thấy phụ nữ này
quay ra (?).
Sáng 12.7, các mũi công tác của lực lượng CAXP nhận được lệnh tập
trung tại trụ sở CAQ I. Đồng chí Trần Dung – trưởng CAQ – khen ngợi lực
lượng CAXP đã thu thập được nhiều thông tin có giá trị cho ban chuyên
án, đồng thời quán triệt lệnh của Nha CA và Ty CA Hà Nội về cuộc tổng
trấn áp bọn Quốc dân đảng để vạch trần âm mưu gây bạo loạn, cướp chính
quyền của chúng.
Ngay đêm 12.7, anh em được trang bị súng tiểu liên, cạcbin, sắc phục
CA tề chỉnh, đeo phù hiệu, phân hiệu CAXP Quận I cùng lực lượng trinh
sát CA Hà Nội nhanh chóng áp sát cổng trụ sở Quốc dân đảng ở 132 phố
Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), khiến bọn phản động không kịp trở
tay. CA đã bắt gọn 20 tên phản động, thu giữ nhiều tài liệu, chứng cứ,
trong đó một hòm sắt đựng tài liệu mật là “Kế hoạch đảo chính Chính phủ
Hồ Chí Minh”.
Tại số 7 phố Ôn Như Hầu, CA Hà Nội nhanh chóng bắt gọn toàn bộ bọn
Quốc dân đảng, trong đó có tên đầu sỏ Phan Kích Nam. Khám xét toàn bộ
ngôi nhà, ngoài việc thu được nhiều súng, 1 kiếm của Phan Kích Nam,
nhiều tài liệu gây rối, một số dụng cụ tra tấn, làm bạc giả và thuốc mê,
CA Hà Nội đã giải thoát một ông cụ ở phố Hàng Bông bị bọn chúng bắt cóc
để tống tiền, đang bị trói, giam ở gầm cầu thang, đồng thời phát hiện
thi thể một nam giới và một nữ giới bị bọn Phan Kích Nam hãm hại, chôn ở
trong vườn. Cùng thời điểm trên, hệ thống trụ sở Quốc dân đảng ở 80
Quán Thánh, Nguyễn Du, chùa Ngũ Xã, phố Lò Đúc, chợ Đuổi cũng bị triệt
phá. Ta bắt sống gần 300 tên, thu giữ nhiều vũ khí, máy in truyền đơn,
loa phóng thanh, đài điện báo cùng nhiều tang vật nhằm gây bạo loạn,
chống phá chính quyền cách mạng còn non trẻ của ta.
Với kết quả khám phá nhanh vụ Ôn Như Hầu, CA Hà Nội đã đập tan âm mưu
đen tối lật đổ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà của bọn Quốc dân
đảng câu kết với bọn phản động bên ngoài, góp phần ổn định an ninh quốc
gia đang ở thời điểm ngặt nghèo “thù trong, giặc ngoài”. Chiến công đó
đã ghi vào lịch sử truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.
Trụ sở chính của Việt Nam Quốc dân đảng ở số 7 phố Ôn Như Hầu xưa.
Vụ Ôn Như Hầu
Tài liệu được công bố của đảng cộng sản Việt Nam nói rằng tại số 7 Ôn
Như Hầu, Hà Nội, có nhiều căn hầm dùng làm nơi giam giữ và tra tấn với
nhiều dụng cụ còn dính máu. Khai quật trong vườn chuối có nhiều xác
người mà Quốc dân đảng đã thủ tiêu.
Người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói
rằng trong đó có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành
phố Hà Nội lại như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật.
- Ông Trần Tử Thanh
Trả lời về thông tin này, ông Trần Tử Thanh, hiện là Chủ tịch Hội
đồng đại biểu Quốc dân đảng, hiện sống tại Virginia, Hoa Kỳ cho rằng: “Lúc đó Việt Nam quốc dân đảng chúng tôi mới nhận trụ sở Ôn Như
Hầu mới có vài tháng thôi. Người nhà thầu đến sửa sang trụ sở đó cho
Quốc dân đảng làm việc, sau này có kể lại là khi ông ta vào làm việc thì
thấy trong khu vười chuối có vài ngôi mộ, hỏi ra thì mới biết là mộ đó
của những người Trung Hoa quốc gia họ sang đây bị bệnh chết, rồi chôn ở
đó. Dựa vào đó người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói rằng trong đó
có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành phố Hà Nội lại
như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật.”
Ông Thanh còn thuật một câu chuyện là đêm hôm trước công an Việt Minh
có đến lấy một số tử thi ở nhà xác thành phố, và sau đó đem đến số 7 Ôn
Như Hầu, nói là do Quốc dân đảng giết hại.
Cũng theo tài liệu chính thức của Việt Nam thì vụ tấn công trụ sở
Quốc dân đảng ở số 7 Ôn Như Hầu, cũng như hàng loạt cơ sở khác là nhằm
để đập tan một âm mưu đảo chính lật đổ chính phủ.
Ông Trần Tử Thanh không đồng ý: “Vụ đảo chánh lật đổ chính phủ thì chính ngay ông Võ Nguyên Giáp
cũng đã liên hệ với một sĩ quan của Pháp để chính thức xin yểm trợ cho
ông ta một số vũ khí tối tân, cũng như một số sĩ quan Pháp, để ông ta
tấn công vào các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng. Thì như vậy làm sao
nói Việt Nam Quốc dân đảng liên hệ với Pháp được, tài liệu của những
người cộng sản sau này cũng có đề cập đến vấn đề đó.”
(Không trực tiếp chứng kiến mà nói, dù có tâm tốt chăng nữa, thì cũng chỉ là dựng chuyện, xuyên tạc, không đáng tin!)
Mệnh lệnh sự vụ được ký bởi Trưởng ban Lê Hữu Qua ngày 12 tháng 7 năm 1946
Nhưng theo sử gia David G. Marr,
việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của
phái đoàn). Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách
như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh
rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho
thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc,
trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng
chiến là biểu tượng. Tấn kịch bi hài mà Hồ Chí Minh khôn khéo dàn dựng
cho bè lũ cơ hội mùa may như những con rối đã hạ màn!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà cách mạng Nguyễn Tạo. Ảnh tư liệu
Tình
hình thực tế đã làm cho Pháp thấy không thể phớt lờ sức mạnh quân sự
của một chính quyền được nhân dân ủng hộ nếu muốn tiến quân suông sẻ ra
Bắc Bộ cho dù quân Tưởng đã “mở cửa”.
Trong suốt năm 1946, mặc dù hai bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến
tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương
lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến
tranh. Tháng 2/1946, tại Lai Châu, lực lượng vũ trang của Việt Quốc và
Vệ quốc quân lần lượt giao tranh nhỏ với Pháp. Việt Quốc rút về Lào Cai
còn Vệ quốc quân rút về Sơn La. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp
Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi
lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông
Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. Do đó cùng với quá trình thương
lượng ký hiệp ước với Trung Quốc, Pháp cũng xúc tiến việc thương lượng
với Chính phủ Việt Nam. Cuộc thương thuyết Pháp - Việt được thực hiện
bởi đại diện của nước Pháp là viên trung tá tình báo, Ủy viên Cộng hòa
Xanhtơni và đại diện của Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau
khi hiệp ước Pháp - Trung được ký kết (mà không đếm xỉa gì đến ý kiến
của chính phủ Việt Nam), và được công bố vào ngày 1-3-1946, thực dân
Pháp đã chớp thời gian, ngay lập tức tổ chức lực lượng, dự định ngày 6-3
đổ bộ vào thành phố Hải Phòng (thực tế, ngày 7-3, 5.000 quân Pháp đã đổ
bộ được vào đó), ngày 9-3 sẽ tiến vào Hà Nội.
Một góc phố tại Hải Phòng bị pháo hạm của Pháp bắn phá - Ảnh Internet. Sáng 6 tháng 3 năm 1946, hạm đội Pháp do Leclerc
chỉ huy tiến vào cảng Hải Phòng. 8h30, quân Pháp tiến đến cửa sông Cấm.
Quân Trung Hoa Dân quốc đóng ở dọc sông nổ súng. 15 phút sau, quân Pháp
bắn trả. Kho đạn của quân Trung Hoa ở cảng bị bốc cháy. Một số tàu Pháp
bị bắn thủng. Quân Pháp chịu nhiều thương vong. Chiến sự kéo dài đến
11h trưa. Tối hôm đó, Hiệp định sơ bộ được ký kết với sự thỏa thuận của hai bên
Pháp-Việt. Theo đó, quân Pháp mới đủ điều kiện để vào bắc vĩ tuyến 16. Ngày 30/10/1946 Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương ra mệnh
lệnh số 938- PC cùng với toàn bộ kế hoạch chi tiết triển khai đánh chiếm
Hải Phòng. Điều này buộc quân và dân Hải Phòng nổi dậy. Hải Phòng là cửa ngõ đường biển quan trọng có vị trí đặc biệt ở miền
Bắc. Tại đây, Pháp bố trí một lực lượng mạnh, đặc biệt là pháo binh và
thiết giáp, bao gồm: Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma-rốc 4; Trung đoàn
chiến xa cơ động và một bộ phận thủy quân, không quân; tổng cộng khoảng
3000 quân. Về phía ta có Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn, 1 đại đội công an
xung phong, 1 trung đội thủy quân cùng lực lượng tự vệ và nhân dân thành
phố Hải Phòng. 9 giờ sáng ngày 20/11/1946, quân Pháp gây ra xung đột trên bến Tam Kỳ,
xả súng bắn vào chiến sĩ và dân thường. Sau đó, chúng liên tục thực hiện
các vụ nổ súng tấn công vào các vị trí trọng yếu trong thành phố bất
chấp những thỏa thuận ngừng bắn tạm thời đã ký kết trước đó. Trắng trợn
hơn, chúng gửi tối hậu thư đến Ủy ban bảo vệ thành phố, đòi giải tán các
lực lượng vũ trang của ta ra khỏi khu vực nội thành. Va-luy, Tổng Chỉ
huy quân đội Pháp ở Đông Dương từ Sài Gòn yêu cầu Chỉ huy quân Pháp tại
Hải Phòng Đép-bơ: “Phải lợi dụng vụ rắc rối ngày 20 để củng cố thêm vị trí Hải Phòng của chúng ta”.
Sự kiềm chế của quân và dân Hải Phòng đã
đến ranh giới tận cùng. Ngay khi các xung đội xảy ra, Ủy ban bảo vệ
thành phố đã phát lệnh “chuẩn bị tác chiến”. Ngay lập tức, các hàng rào,
chiến lũy được xây dựng tại các ngã tư quan trọng trong thành phố ngăn
chặn các hướng tấn công của địch.
Tàu chiến Pháp khiêu khích ở cảng Hải Phòng, ngày 5-3-1946
Ngày 21/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi thư cho Moóclie, Chỉ huy quân sự miền Bắc Đông Dương. Trong thư,
Người đề nghị hai bên cần thương lượng đề có giải pháp và trở về “Tình
trạng trước ngày 20/11 nhằm ổn định tình hình ở Hải Phòng”.
Phớt lờ đề nghị thương lượng, sáng
23/11/1946, quân Pháp tiến công khắp nơi trong thành phố. Máy bay địch
oanh tạc liên tiếp, pháo hạm từ ngoài biển bắn dữ dội vào các vị trí của
ta trong nội thành và khu vực lân cận, nhất là khu vực Nhà hát thành
phố, nhà ga, bưu điện, nhà đốc lý,… hòng hủy diệt thành phố. Bất chấp sự
tiến công ồ ạt của kẻ thù, quân và dân thành phố vẫn kiên cường bám
trụ. Dựa vào từng ổ đề kháng, tường nhà, góc phố, các chiến sĩ chiến đấu
anh dũng, hiệp đồng đánh cả mặt trước, sau lưng, bên sườn quân địch,
không cho chúng tiến công, giữ vững trận địa.
Trước tình hình đang diễn biến nghiêm
trọng, trưa ngày 23/11/1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, Người
kêu gọi “toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải
sẵn sàng bảo vệ chính quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của
ngoại kiều”.
Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chí Minh,
quân và dân thành phố Hải Phòng đã thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết
sinh”, quyết bảo vệ vị trí cửa ngõ Đông Bắc của Tổ quốc. Quân ta tổ chức
nhiều cuộc phản kích ở khu vực nhà ga, Ngã Sáu, Phố Khách, phố Ba Ti,
Nhà hát Lớn, Nhà máy đèn, Nhà máy nước; tiến công sân bay Cát Bi, đánh
địch ở khu vực Trại bảo an binh, Trại Cau... Kết quả loại khỏi chiến đấu
hơn 160 địch, thu hơn 20 súng các loại.
Ngày 26/11/1946, địch huy động lực lượng
lớn tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ,
Quang Trung, Cầu Đất nhằm đánh vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 41. Cán bộ,
chiến sĩ trung đoàn dựa vào công sự đẩy lui được nhiều đợt tiến công,
buộc chúng phải co cụm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân tộc ta có thể trường kỳ kháng chiến, nhưng thực dân Pháp không thể trường kỳ xâm lược”.
Bảy ngày đêm chiến đấu (từ ngày 20 đến ngày 26/11/1946) chống lại hàng
nghìn quân tinh nhuệ của Pháp, được trang bị vũ khí hiện đại, có sự hỗ
trợ của hải quân và không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu
trước khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Với tinh thần “Quyết tử để Tổ
quốc quyết sinh”, quân và dân thành phố Hải Phòng đã kiên cường bám trụ,
chiến đấu anh dũng, khiến kẻ địch bị bất ngờ vì phải đương đầu với sức
mạnh của toàn dân, một sức mạnh “cả thành phố một lòng, quân dân cùng
chiến đấu”. Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng để lại
nhiều bài học lớn về tác chiến trong thành phố của quân và dân ta. Cuộc
chiến đấu “có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự chuẩn bị cho
trận đánh nhiều ngày ở Thủ đô Hà Nội xảy ra sau đó một tháng” như lời
đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này. Hình ảnh Nhà hát Hải Phòng một thế kỷ trước (Ảnh tư liệu).
Do
tình hình biến chuyển nhanh chóng theo hướng ngày một nguy hiểm hơn, Hồ
Chí Minh, với mục tiêu kéo dài hòa hoãn để thoát ra khỏi cái thế tạm
gọi là “lưỡng đầu thọ địch”, đã phải chọn cách duy nhất đúng là nhượng
bộ Pháp, thỏa hiệp tạm thời với Pháp bằng một hiệp ước sơ bộ, tạo ra
khoảng thời gian “chờ đợi” đến một cuộc thương thảo mới nhằm ký kết một
hiệp ước chính thức. Ngày 6-3-1946, hiệp ước sơ bộ Việt - Pháp được ký
kết giữa Hồ Chí Minh và Xanhtơni. Nội dung chủ yếu của bản Hiệp ước này
là:
-
Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, quốc
hội riêng, tài chính riêng, quân đội riêng, nằm trong Liên bang Đông
Dương và Liên hiệp Pháp.
-
Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào Bắc Bộ, đóng quân tại nhiều
thành phố và thị xã, tại những vị trí và với số quân do Việt Nam ấn
định.
- Vấn đề thống nhất Nam Bộ, Trung Bộ, Bắc Bộ sẽ được quyết định bằng trưng cầu dân ý.
Sau
khi bản hiệp ước sơ bộ được ký kết, Hồ Chí Minh có nói với Xanhtơni:
“Nó không làm cho tôi vui mừng vì rốt cuộc, chính ông đã thắng. Ông thừa
biết là tôi muốn được hơn thế nữa…”
Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội. Từ
trái qua phải: Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Sainteny, Pignon, Caput.
Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.
Hồ
Chí Minh đã nói rất thực vì rõ ràng từ đây, Pháp lại một lần nữa được
tự do hành động ở Đông Dương. Cũng trong tháng 3-46, ông có nói đến việc
phải chờ đợi độc lập từ 5 đến 10 năm và trong thời gian đó thực hiện
các cải cách ôn hòa tạm thời dưới quyền một viên toàn quyền người Pháp. Sau khi Sainteny ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt với chính phủ Hồ Chí Minh, tại Nam Kỳ Cédille liên hệ Nguyễn Bình
đề nghị ký hiệp ước hòa bình giữa Pháp và lực lượng kháng chiến Nam Bộ.
Ngày 20/3/1946, hai bên gặp nhau tại miếu Bà Cố cách Biên Hòa 10 km.
Cédille đề nghị phía Việt Nam giải giáp dân quân, nạp khí giới cho Pháp.
Pháp sẽ hợp tác với những người kháng chiến. Phái đoàn Việt Nam không
đồng ý và trở về căn cứ kháng chiến. Về phía người Pháp, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ danh chính ngôn
thuận khi đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam để chuẩn bị tái chiếm Đông
Dương như họ đã làm ở Nam Việt Nam,
đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự ngăn cản của các
tướng lĩnh Trung Hoa Quốc dân đảng; đổi lại Pháp công nhận nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp,
có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đó là những điều
kiện mà quân đội Pháp đồng ý để lấy lại một chỗ đứng tại Bắc Kỳ.
Trung tướng Nguyễn Bình ((1906-1951) tại Đồng Tháp Mười, năm 1950
Khi
thực dân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn Nam Bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch
nước Hồ Chí Minh
cử vào Nam lo việc chỉnh đốn phong trào kháng chiến và thống nhất các
lực lượng vũ trang tại Nam Bộ. Tháng 12 năm 1945 ông được cử làm Khu
trưởng Khu 7 Nam Bộ, lập tổng hành dinh ở Làng An (Biên Hòa), sau bị
địch truy quét nên chuyển về xã An Phú (Gia Định) rồi xã An Thành, phía
nam Bến Cát.
Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, tình trạng cát cứ dần giảm bớt, các
quân phiệt cát cứ bị giải tán và hạn chế, các đơn vị bộ đội được phiên
chế thống nhất thành các chi đội Vệ quốc đoàn. Ông còn lập các ban Công
tác thành làm nhiệm vụ phá hoại sau lưng địch. Năm 1946 ông gia nhập
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày
20 tháng 1 năm 1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng và
cử làm tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ. Cùng đợt có Võ Nguyên Giáp được
phong Đại tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm,
Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình
được phong Thiếu tướng Ngày
29 tháng 9 năm 1951,
theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới.
trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích và hi sinh tại xã Srê Dốc,
huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia. Người chỉ huy lực
lượng bảo vệ ông khi ấy là cán bộ cấp tiểu đoàn Nguyễn Văn Sĩ, nay là
Thiếu tướng nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Bộ Tổng tư lệnh thông báo tin ông hi sinh ngày 31 tháng 12 năm 1951
(theo bản tin ông sinh năm 1909 tại Bần Yên Nhân, Hưng Yên). Tháng 2 năm
1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công
hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân
chương cao quý này..
Việc
ký hiệp ước 6-3 đã là cái cớ cho phe phái việt gian phản động các cơ
hội tuyên truyền kích động gây hoang mang trong xã hội. Sau khi ký Tạm ước Việt Pháp, Hồ Chí Minh bị Việt Quốc và Việt Cách chỉ
trích phản bội và hợp tác với Pháp đồng thời yêu cầu ông từ chức. Tại kỳ
họp thứ 2 Quốc hội khóa I, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phê
chuẩn Tạm ước Việt Pháp, biểu quyết tín nhiệm Hồ Chí Minh và yêu cầu ông
thành lập nội các mới.
Tại miền Nam, ngày 28/10/1946, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ theo
chỉ thị của Chính phủ Trung ương ra tuyên bố sẵn sàng thành thực thi
hành Tạm ước Việt Pháp và chống lại mọi hành động phá hoại Tạm ước đồng
thời kêu gọi dân chúng giữ kỷ luật, thi hành đúng những mệnh lệnh của
Chính phủ và tránh mọi hành động khiêu khích. Không ít người
trong dân chúng và cả trong hàng ngũ cách mạng lo âu, thất vọng. Tại một
cuộc míttinh đông đến khoảng 10 vạn người ở quảng trường Nhà hát lớn
của thành phố Hà Nội, Võ Nguyên Giáp (tư lệnh lực lượng vũ trang cách
mạng, sau này là đại tướng, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam) và
Hồ Chí Minh đã lần lượt lên giải thích vì sao phải nhượng bộ Pháp. Trong
cuộc míttinh đó, Hồ Chí Minh đã nói những lời giản dị mà đầy xúc động:
“Tôi, Hồ Chí Minh, đã luôn hướng dẫn đồng bào trên con đường tự do. Tôi
đã chiến đấu suốt đời vì độc lập của Tổ Quốc. Đồng bào đã biết rằng tôi
thà chết còn hơn phản quốc. Tôi thề với đồng bào rằng tôi đã không phản
bội đồng bào”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia
trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập
cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum,
bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp,…). Từ giữa
tháng 10/1945 đến tháng 3/1946, Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện tín cho
Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện
Mỹ và Liên Hiệp Quốc kêu gọi Mỹ và Liên Hiệp Quốc can thiệp vào Việt Nam
trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và vì lý do
nhân đạo nhưng không đến được tay những người có thẩm quyền do Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa chưa được Mỹ công nhận nên không được hồi đáp.
Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Stalin thông báo về sự ra đời của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa và đề nghị Liên Xô đưa vấn đề độc lập của Việt Nam
vào chương trình nghị sự của Liên hiệp quốc nhưng cũng không được hồi
đáp. Vào thời điểm này, Liên Xô quan tâm đến châu Âu hơn Đông Dương.
Trong lúc đó, những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc gia và những
người Pháp theo chủ nghĩa thực dân qua những mối quan hệ với giới chính
trị Trung Quốc và Pháp tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là tay sai trung
thành của Liên Xô. Ngày 5/12/1946, khi A.B. Moffat, Vụ trưởng Vụ Đông
Nam Á thuộc Bộ ngoại giao Mỹ, đến thăm Đông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao
Mỹ Acheson có điện tín chỉ dẫn trong trường hợp gặp Hồ Chí Minh "phải luôn nhớ rằng ông Hồ đã được xác định là một tay sai của Quốc tế Cộng sản".
Ngày
8-3-1946, trong một phiên họp nội các, Hồ Chí Minh đã quyết định cử một
phái đoàn đi Trùng Khánh để trình bày quan điểm của mình và tìm sự ủng
hộ của Trung Quốc; một đoàn đại biểu sang Pari để tìm một sự thỏa hiệp
dứt khoát.
Khoảng
cuối tháng 3-1946, Hồ Chí Minh đã làm việc với các nhà chức trách quân
sự của Trung Hoa Dân Quốc tại Hà Nội để tìm kiếm sự ủng hộ của họ cho
những đề nghị sau đây của ông:
-
Các nhà chức trách quân sự Trung Quốc gây sức ép mạnh mẽ với người Pháp
để buộc sớm mở cuộc thương lượng và sớm đạt tới một thỏa hiệp chính
thức với Việt Nam
- Quân đội Trung Quốc chỉ rời khỏi Việt Nam sau khi bản hiệp ước Pháp - Việt chính thức đã được ký kết.
-
Trước khi ra đi, quân đội Trung Quốc trao lại cho Việt Nam toà nhà mà
Bộ tư lệnh quân Tưởng đang đóng, tức Dinh Toàn quyền cũ, vì đây là tượng
trưng quyền cai trị nước Việt Nam, nếu nó được trao lại cho Pháp thì sẽ
có ảnh hưởng xấu lớn lao trong dân chúng.
- Quân đội đang chiếm đóng của Trung Quốc giúp đỡ chính phủ Việt Nam ngăn cản không cho Pháp tổ chức một cuộc duyệt binh.
Mười
một ngày sau khi Lơcléc cho quân đổ bộ lên Hải Phòng, ngày 18-3, Lơcléc
dẫn 1.076 quân Pháp kéo vào Hà Nội, đem theo nhiều xe vũ khí để tái vũ
trang cho đám tù binh Pháp mới được thả ra và cho cả các kiều dân Pháp
(quân Tưởng đã thỏa thuận để quân Pháp chiếm đóng Hải Phòng vào ngày
22-3, Nam Định và Đà Nẵng vào những ngày từ 24 đến 26-3…)
Theo
nhận xét của nhiều nhà viết sử thì sau khi kéo quân vào Hà Nội, cũng
trong ngày hôm đó, Lơcléc đã có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh
và qua cuộc gặp gỡ này, Lơcléc càng khẳng định ý kiến trước đó của mình,
rằng nên đàm phán nghiêm chỉnh với chính phủ Việt Nam để cố đạt được
một giải pháp hòa bình vững chắc.
Xanhtơni
dù luôn vận động hết mình cho quyền lợi Pháp ở Đông Dương thì cũng cùng
quan điểm với Lơcléc, nghĩa là nên thỏa hiệp trung thực với Hồ Chí
Minh, người mà ông này cho rằng có “tầm cỡ phi thường, thông minh, hiểu
rộng và hoàn toàn không ích kỷ”. Tuy nhiên, lực lượng cánh hữu, bảo thủ
vẫn một mực chống lại mọi sự thương lượng nghiêm chỉnh nào với chính phủ
Việt Nam mà họ coi là “những kẻ khủng bố”. Tiêu biểu và cuồng nhiệt
nhất lực lượng này là Đácgiăngliơ, nhận vật có quyền lực cao cấp nhất
của Pháp ở Đông Dương lúc đó. Chính Đờ Gôn đã quyết định Đácgiăngliơ làm
Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và ấn định rõ Đácgiăngliơ “đảm nhiệm toàn bộ
các chức vụ cũ của toàn quyền Pháp ở Đông Dương trước kia, đồng thời
kiêm nhiệm chức vụ Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang toàn Đông Dương”
trong khi “nhiệm vụ chủ yếu của đại tướng Lơcléc là trợ giúp đô đốc
Đácgiăngliơ về mặt quân sự nhằm khôi phục chủ quyền Pháp trên toàn bộ
lãnh thổ Đông Dương”. Như vậy là tại Đông Dương, Lơcléc trở thành cấp
dưới của Đácgiăngliơ. Sự phân công đó của Đờ Gôn làm cho “vị đô đốc cao
ủy và vị đại tướng tổng tư lệnh đã giẫm chân lên nhau”. Đối
với Đácgiăngliơ thì Hiệp định sơ bộ 6-3 bất quá chỉ là một đòn nghi
binh ngoại giao, ngoài ra nó không hơn gì một mớ giấy lộn. Do đó ngay từ
đầu, ông này đã hành xử hung hăng theo kiểu “kẻ mạnh” của thực dân ở
thế kỷ XIX, phớt lờ như chưa hề có bản hiệp ước vừa ký còn chưa ráo mực
đó. (Nhưng thưa ông, đã có biết bao nhiêu nước trôi qua cầu từ dạo ấy,
đã có biết bao nhiêu đổi thay làm cho trò “ngoại giao pháo hạm” đến giữa
thế kỷ XX đã trở nên vô hiệu và lố bịch, nhất là đối diện với ông không
phải là một triều đình Huế bạc nhược mà là một chính quyền nhân dân sẵn
sàng chiến đấu một mất một còn). Kể thêm: cũng như Lơcléc, Đácgiăngliơ
thuộc một dòng dõi quý tộc lâu đời ở Pháp, bắt đầu binh nghiệp từ năm
1908, sau chiến tranh thế giới thứ nhất giải ngũ đi tu, từ vị trí một
thầy dòng lên đến chức Tổng giám mục địa phận Pari, thì chiến tranh thế
giới thứ hai bùng nổ, tái ngũ theo lệnh tổng động viên, bị phát xít Đức
bắt làm tù binh, trốn thoát theo Đờ Gôn chiến đấu đến ngày Pháp được
giải phóng, được phong đô đốc và làm tổng chỉ huy lực lượng hải quân
Pháp, sau được Đờ Gôn cử sang Đông Dương làm Cao ủy, đầu năm 1947 bị
thay thế, trở về Pháp và sau một thời gian thì quay lại nhà thờ (đạo Cơ
đốc) tiếp tục… tu, cuối đời về sống ở viện dưỡng lão của một vùng quê
hẻo lánh. Một cuộc đời đặc sắc và nghe cũng thú vị đấy chứ?!
ngoại giao pháo hạm
Ngoại giao pháo hạm (Gunboat diplomacy)
Thế
nên dù Lơcléc có căn dặn (ghi rõ trong chỉ thị) binh lính khi kéo vào
Bắc - Việt Nam phải “tôn trọng chủ quyền, quốc kỳ của Việt Nam” thì đội
quân Pháp ấy cũng chẳng “ngoan” tí nào: vẫn ngông nghênh làm những điều
phạm luật, gây hấn khiêu khích, phá phách, đặc biệt là lấn chiếm một
cách có tổ chức và ngày càng nghiêm trọng. Đơn cử là ngày 27-3-1946 (tức
chỉ sau 9 ngày kéo vào Hà Nội), quân Pháp đã vi phạm Hiệp định, ngang
nhiên chiếm đóng Nhà tài chính Việt Nam (nay là Bộ Ngoại giao), treo cờ
tam tài (cờ Pháp) lên…
Ngày 16-5-1946, Hồ Chí Minh nói chuyện với Tiêu Văn về “Ba nguyên tắc trong chính sách quốc gia” của ông. Ba nguyên tắc đó là:
1- Chọn một đường lối thân Trung Quốc
2- Không đầu hàng Pháp
3- Không thực hiện cương lĩnh cộng sản trong vòng 50 năm tới
Hồ
Chí Minh giải thích với Tiêu Văn rằng ông tin ở thuyết Tam dân chủ
nghĩa. rằng chủ nghĩa cộng sản không thích hợp với nước Việt Nam lạc hậu
về công nghiệp, rằng chính phủ ông không phải là chính phủ cộng sản, và
chính sách cơ bản của chính phủ ông giống chính sách của chính phủ
Trung Quốc như Tưởng Tổng Tài (Tưởng Giới Thạch) đã tuyên bố; “Nhân dân
trước hết, quốc gia trước hết”.
Hồ
Chí Minh đã làm hết sức mình để tranh thủ tình hữu nghị và sự ủng hộ
của Trung Quốc trước khi ông đi Pháp tiến hành cuộc đàm phán.
Ngày
31-5-1946, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội tiễn đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh
và phái đoàn chính phủ Việt Nam lên đường sang Pháp đàm phán (hội nghị
được tiến hành tại Phongtenơblô). Trước khi đi, Hồ Chủ Tịch đã nói trước
nhân dân mình một lời bất hủ: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt
của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó
không bao giờ thay đổi”.
Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Bourget, Paris (22-6-1946).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thư ở Paris (7-1946).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm vùng chiến trường Normandy (17-7-1946).
Rất
có thể khi nói ra như thế, nhất là trong bối cảnh cường độ chiến tranh
đang gia tăng ở Nam Bộ, Hồ Chí Minh, trong thâm tâm đã thấy trước được
sự thất bại của Hội nghị Phôngtenơblô (Hồ Chí Minh không trực tiếp tham
gia đàm phán mà sang Pháp với tư cách là thượng khách do Chính phủ Pháp
mời). Mục đích tối thượng của chính phủ Việt Nam là độc lập, thống nhất
toàn vẹn cho đất nước. Khi tình thế đòi hỏi ở chừng mực nhất định có thể
nhân nhượng, nhưng nhân nhượng đến mức đất nước bị chia cắt và mất luôn
cả chủ quyền lãnh thổ thì không thể được. Làm cách mạng là vì một mục
đích cao cả nào đó. Để mất mục đích thì coi như cách mạng đã thất bại.
Điều dễ thấy là thực dân Pháp không bao giờ thành tâm muốn cho Việt Nam
được độc lập, thống nhất. Hành động dựa vào quân Anh đánh chiếm Sài Gòn
và ỷ vào sức mạnh quân sự vượt trội để hòng cướp lại Nam Kỳ đã lộ rõ cái
dã tâm ấy của thực dân Pháp. Ngay cả Lơcléc và Xanhtơni, nếu không nhận
thấy được sức mạnh tiềm tàng của Việt Nam thì cũng không nghĩ đến giải
pháp hòa bình cho vấn đề Việt Nam. Ngay cả trong thực tế, dù rằng hai
người này chủ trương thương lượng nghiêm túc và có quan tâm đến nền độc
lập của Việt Nam thì cũng vì quyền lợi ích kỷ của chính phủ Pháp lúc bấy
giở chứ chẳng hề có chút yêu thương, đồng cảm nào đối với dân Việt Nam
(dù nước họ vừa mới trải qua sự xâm lược của phát xít Đức và họ đã từng
phải chiến đấu để giải phóng nó).
Hai
ý chí Việt và Pháp là tương phản nhau, tùy vào mối tương quan về thế và
lực mà để tránh xung đột, có thể thỏa hiệp với nhau về một số quyền
lợi. Tuy nhiên, điểm mấu chốt nhất, cốt lõi nhất và cũng hóc búa nhất là
vấn đề Nam Bộ thì lại không giải quyết được do sự thiếu thiện chí và
cản trở quyết liệt của một bên là những kẻ còn mang nặng bản chất thèm khát xâm lược, thực dân cổ hủ,
mù quáng và một bên là những người quyết giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng vừa mới giành lại được của dân tộc.
Sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/19146. Vây quanh Bác Hồ là các sĩ
quan Pháp, sĩ quan quân đội Tưởng, cùng đại diện ngoại giao của Mỹ và
Anh. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946
Bác tại nhà sàn Việt Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp sau phiên họp Hội đồng Chính phủ tại chân đèo De, xã Tân
Trào, huyện Sơn Dương
(Còn tiếp)
Chỉ
một ngày sau khi Hồ Chí Minh rời Việt Nam, ngày 1-6-1946, Đácgiăngliơ
đã lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”, đứng đầu là Nguyễn Văn Thịnh. Hành động này hết sức ngang ngược, vi phạm thô bạo Hiệp định sơ bộ
6-3, trong đó có nêu rõ “vấn đề Nam Bộ sẽ giải quyết thông qua cuộc
trưng cầu dân ý”. Tệ hại hơn nữa, một đoàn đại biểu của cái nước tự trị
do Pháp nặn ra một cách vội vã này cũng được gửi sang Pari để thương
thuyết riêng với Pháp. Đúng là một trò hề!
Không
những thế, ngày 21-6, Đácgiăngliơ ra lệnh cho quân Pháp tiến chiếm Tây
Nguyên, mưu toan lập thêm một “xứ tự trị” giả hiệu nữa. Ngày 25-6, quân
Pháp chiếm giữ Phủ toàn quyền cũ ở Hà Nội (theo hiệp ước Việt - Pháp ký
ngày 20-4-1946 thì Phủ toàn quyền cũ không có trong danh sách những ngôi
nhà thuộc quyền của Pháp). Quân đội của thế lực thuộc địa Pháp ở Việt Nam (khoảng 1950)
Hồ
Chí Minh, lúc đó đang ở Pháp, đã gửi hai bức thư vào ngày 27-6 và 12-7
để phản đối những hành động của Đácgiăngliơ. Trong bức thư đề ngày 27-6
gửi cho Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại (thực chất là Bộ Thuộc địa) là
Mariuýt Mutê, có đoạn:
“Thái
độ khiêu khích của những người chỉ huy quân sự cục bộ Pháp là nguy cơ
làm mất thiện chí của nhân dân Việt Nam đối với nước Pháp và có thể gây
trở ngại đáng kể cho diễn biến của cuộc đàm phán ngoại giao sắp tới giữa
hai đoàn đại biểu của hai chính phủ chúng ta”.
Trong bức thư đề ngày 12-7, gửi Chính phủ Pháp ở Pari, có đoạn:
“Những
người chỉ huy quân sự Pháp ở Việt Nam, với những hành động của họ ở Nam
Bộ từ ngày 6-3, ngày càng vi phạm đến Hiệp định sơ bộ đã được ký kết
giữa Việt Nam và Pháp, là người khởi xướng và chịu trách nhiệm về hai
hành động có tính xâm lược mà bản chất của nó là làm rối loạn nghiêm
trọng đến không khí của cuộc hội nghị Pháp - Việt sắp tới”.
Cả hai bức thư đó đã chẳng có tác động gì nhiều nếu không nói rằng bị quan chức Chính phủ Pháp thờ ơ, phớt lờ.
Lâu đài Fontainebleau, nơi diễn ra Hội nghị Pháp-Việt năm 1946
Do
mâu thuẫn không hòa giải được với “thầy tu” Đácgiăngliơ bởi những quyết
định và hành động ngỗ ngược, trắng trợn của ông này nên tháng 7-1946,
Lơcléc đã xin từ chức tổng tư lệnh các lực lượng Pháp ở Viễn Đông. Sau
này, Lui Xôren, nhà sử học Pháp đã nhận định:
“Nếu
trong vấn đề Việt Nam, đại tướng Lơcléc tiêu biểu cho tương lai, chủ
trương một sự hợp tác tin cậy lẫn nhau giữa Việt Minh và nước Cộng hòa
Pháp vừa được giải phóng khỏi ách phát xít, thì đô đốc Đácgiăngliơ lại
tiêu biểu cho quá khứ lỗi thời, chủ trương một chính sách cực kỳ phản
động nhằm quay trở lại chủ nghĩa thực dân. Chính Đácgiăngliơ là một
trong những kẻ phải chịu trách nhiệm về sự bùng nổ cuộc chiến tranh Đông
Dương”.
Sau
một thời gian đàm phán Việt - Pháp (từ tháng 7 đến tháng 9-1946), điều
tất yếu xảy ra: Hội nghị Phôngtennơblô kết thúc thất bại, hai bên không
ký được hiệp ước chính thức. Tuy nhiên Hồ Chí Minh đã đạt được điều mong
muốn: trì hoãn thời điểm bùng nổ chiến tranh Đông Dương vào lúc có lợi
nhất cho Cách mạng Việt Nam, cũng như tạo thêm nhiều thiện cảm trong mọi
tầng lớp nhân dân Pháp.
Bộ Chỉ huy chiến dịch họp thảo luận kế hoạch Bắc Tây Nguyên, 1954 (Ảnh TLBTLSQG).
17/2/1954 Kết thúc chiến dịch Bắc Tây Nguyên- hoàn thành một ...
Cũng
theo nhà sử học King C. Chen thì sau thất bại của cuộc đàm phán Việt -
Pháp đó, Hồ Chí Minh đã nói với Mutê và Xanhtơni rằng: “Đừng để cho tôi
ra về như thế này. Hãy cho tôi một vũ khí nào đó để chống bọn quá
khích”. Với từ ngữ “quá khích”, không biết Hồ Chí Minh ám chỉ ai? Chúng
ta biết rằng quân Tưởng đã không đợi đến khi có một sự dàn xếp dứt khoát
giữa Việt Nam và Pháp như đã yêu cầu, mà rút hết vào tháng 6-1946. Bám
theo chúng là đám đầu têu phản cách mạng như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng
Khanh… Đám lau nhau còn lại tự nhiên mất đầu, phải thay thầy đổi chủ,
quay sang làm tay sai cho Pháp. Tại Hà Nội, bọn này định lợi dụng quân
Pháp tổ chức diễu binh nhân dịp kỷ niệm “ngày 14-7” (Ngày 14-7-1789 quần
chúng cách mạng Pháp đánh chiếm pháo đài Baxti - biểu tượng của chế độ
phong kiến Pháp, ngày này đã vĩnh viễn đi vào lịch sử vinh quang của dân
tộc Pháp và trở thành ngày Quốc Khánh của nước Cộng hòa Pháp) để tiến
hành bạo loạn. Ngày 12-7-1946, nhờ sự giúp đỡ của quần chúng và sau một
thời gian điều tra, lực lượng an ninh Cách mạng đã bất ngờ bắt giữ hơn
120 kẻ phản loạn với đầy đủ tang chứng. Khi thấy rõ những chứng cứ về
tội ác đẫm máu của chúng như giết người, bắt cóc, tống tiền, in bạc giả…
tại phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), Huỳnh Thúc Kháng,
quyền Chủ tịch nước (khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp), đã ký lệnh thi
hành nghiêm phép nước, đưa vụ này ra xét xử, tiệt trừ triệt để. Đến đây,
sự đe dọa của quân Tưởng không còn nữa, bè lũ phản cách mạng cũng tạm
thời bị dẹp yên. Vậy Hồ Chí Minh ám chỉ ai vào thời điểm ký tạm ước khi
dùng từ ngữ “quá khích” nếu không phải là chính quân Pháp ở Việt Nam?
Dù
sao thì tới khuya 14-9-1946, Hồ Chí Minh và Mutê đã ký được một tạm
ước. Tạm ước này là sự nhắc lại các điều khoản của Hiệp ước sơ bộ 6-3,
cho Pháp thêm nhiều quyền trong lĩnh vực kinh tế ở tại Bắc - Việt Nam,
còn Pháp hứa “sẽ dân chủ hơn” tại Nam Bộ. Vấn đề Nam Bộ, vẫn còn để ngỏ,
hai bên sẽ tiếp tục thương lượng tìm một giải pháp dứt khoát vào đầu
năm 1947.
Ký được tạm ước 14-9 là một bước đi tuyệt đẹp của Hồ Chí Minh.
Tạm
ước đó chắc chắn không thể loại trừ được chiến tranh, có thể về mặt giá
trị chẳng đáng là bao nhưng vẫn là một cái khiên tạm xài được và đối
với quân Pháp ở Bắc - Việt Nam nó vẫn là vòng kim cô pháp lý, dù lỏng
lẻo, nhưng có còn hơn không.
Hồ Chí Minh và Marius Moutet bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt - Pháp
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946.Tạm ước 14/9/1946: Hòa để tiến. Bài đã được xuất bản.: 12/09/2011 09:00 GMT+7 , Tác giả: Vũ Khoan.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946 (ảnh tư liệu).
Ngày 14-10-1946, lúc 15 giờ, Hồ Chí Minh về tới Hà Nội trong sự đón mừng nồng nhiệt của toàn thể nhân dân thủ đô.
Bản
tạm ước dù có thể đã làm chậm tiến trình nhưng không ngăn cản được sự
ráo riết chuẩn bị chiến tranh của những cái đầu thực dân bảo thủ của
Pháp ở Việt Nam. Ngày 23-11, quân đội Pháp công khai phá bỏ hiệp ước
bằng cách đòi kiểm soát quân sự cảng Hải Phòng và đã bắn phá thành phố
này làm rất nhiều người Việt Nam thiệt mạng (phía Pháp thừa nhận là
6.000 người, phía Việt Minh nói là 20.000 người). Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan
tại cảng Hải Phòng. Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng
định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên
quan đến xuất nhập khẩu. Ngày 30/10/1946 Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương ra mệnh
lệnh số 938- PC cùng với toàn bộ kế hoạch chi tiết triển khai đánh chiếm
Hải Phòng. Điều này buộc quân và dân Hải Phòng nổi đậy. Hải Phòng là cửa ngõ đường biển quan trọng có vị trí đặc biệt ở miền
Bắc. Tại đây, Pháp bố trí một lực lượng mạnh, đặc biệt là pháo binh và
thiết giáp, bao gồm: Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma-rốc 4; Trung đoàn
chiến xa cơ động và một bộ phận thủy quân, không quân; tổng cộng khoảng
3000 quân. Về phía ta có Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn, 1 đại đội công an
xung phong, 1 trung đội thủy quân cùng lực lượng tự vệ và nhân dân thành
phố Hải Phòng. 9 giờ sáng ngày 20/11/1946, quân Pháp gây ra xung đột trên bến Tam Kỳ,
xả súng bắn vào chiến sĩ và dân thường. Sau đó, chúng liên tục thực hiện
các vụ nổ súng tấn công vào các vị trí trọng yếu trong thành phố bất
chấp những thỏa thuận ngừng bắn tạm thời đã ký kết trước đó. Trắng trợn
hơn, chúng gửi tối hậu thư đến Ủy ban bảo vệ thành phố, đòi giải tán các
lực lượng vũ trang của ta ra khỏi khu vực nội thành. Va-luy, Tổng Chỉ
huy quân đội Pháp ở Đông Dương từ Sài Gòn yêu cầu Chỉ huy quân Pháp tại
Hải Phòng Đép-bơ: “Phải lợi dụng vụ rắc rối ngày 20 để củng cố thêm vị trí Hải Phòng của chúng ta”.
Sự kiềm chế của quân và dân Hải Phòng đã
đến ranh giới tận cùng. Ngay khi các xung đội xảy ra, Ủy ban bảo vệ
thành phố đã phát lệnh “chuẩn bị tác chiến”. Ngay lập tức, các hàng rào,
chiến lũy được xây dựng tại các ngã tư quan trọng trong thành phố ngăn
chặn các hướng tấn công của địch.
Ngày 21/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi thư cho Moóclie, Chỉ huy quân sự miền Bắc Đông Dương. Trong thư,
Người đề nghị hai bên cần thương lượng đề có giải pháp và trở về “Tình
trạng trước ngày 20/11 nhằm ổn định tình hình ở Hải Phòng”.
Phớt lờ đề nghị thương lượng, sáng
23/11/1946, quân Pháp tiến công khắp nơi trong thành phố. Máy bay địch
oanh tạc liên tiếp, pháo hạm từ ngoài biển bắn dữ dội vào các vị trí của
ta trong nội thành và khu vực lân cận, nhất là khu vực Nhà hát thành
phố, nhà ga, bưu điện, nhà đốc lý,… hòng hủy diệt thành phố. Bất chấp sự
tiến công ồ ạt của kẻ thù, quân và dân thành phố vẫn kiên cường bám
trụ. Dựa vào từng ổ đề kháng, tường nhà, góc phố, các chiến sĩ chiến đấu
anh dũng, hiệp đồng đánh cả mặt trước, sau lưng, bên sườn quân địch,
không cho chúng tiến công, giữ vững trận địa.
Các chiến sỹ tự vệ và nhân dân Hà Nội đào hầm hào, xây công sự chuẩn bị chiến đấu. Ảnh: Tư liệu
Quân và dân Thủ đô dựng chiến lũy cản bước tiến của giặc Pháp. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Hình 2: Nhân dân Hà Nội dùng đồ đạc, tài sản dựng chiến lũy trên
đường, cản bước xe tăng địch ( Phố Mai Hắc Đế tháng 12-1946). Ảnh:
TTXVN
Trước tình hình đang diễn biến nghiêm
trọng, trưa ngày 23/11/1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, Người
kêu gọi “toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải
sẵn sàng bảo vệ chính quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của
ngoại kiều”.
Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ,
quân và dân thành phố Hải Phòng đã thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết
sinh”, quyết bảo vệ vị trí cửa ngõ Đông Bắc của Tổ quốc. Quân ta tổ chức
nhiều cuộc phản kích ở khu vực nhà ga, Ngã Sáu, Phố Khách, phố Ba Ti,
Nhà hát Lớn, Nhà máy đèn, Nhà máy nước; tiến công sân bay Cát Bi, đánh
địch ở khu vực Trại bảo an binh, Trại Cau... Kết quả loại khỏi chiến đấu
hơn 160 địch, thu hơn 20 súng các loại.
Ngày
26/11/1946, địch huy động lực lượng
lớn tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ,
Quang Trung, Cầu Đất nhằm đánh vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 41. Cán bộ,
chiến sĩ trung đoàn dựa vào công sự đẩy lui được nhiều đợt tiến công,
buộc chúng phải co cụm. Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng
Việt Minh bảo vệ thành phố. Quân Tự vệ Việt Nam chỉ có súng trường
Mousqueton, mã tấu và lựu đạn
nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bảo vệ Hải Phòng. Chiến sự kéo dài cho
đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28
tháng 11.
Tin chiến sự lan ra toàn quốc. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân hãy bình tĩnh. Trong khi đó thì Võ Nguyên Giáp
yêu cầu được gặp Tướng Molière (Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt Nam) vào ngày
27/11/1946 để đàm phán. Mãi tới ngày 29/11, Tướng Molière mới chịu gặp
Giáp. Khi nói chuyện, Tướng Molière nói thẳng lập trường của Pháp là
Pháp phải kiểm soát Hải Phòng cùng các vùng phụ cận và quốc lộ số 5 (nối
liền Hà Nội với Hải Phòng) cũng như tất cả các thông lộ nối liền với
các đồn trú quân của Pháp. Nếu chính phủ Việt Nam không chấp nhận những
điều kiện này thì không có đàm phán gì hết. Đòi hỏi của Pháp khíến cho
chính quyền Việt Nam không còn hy vọng gì thương thuyết được với người
Pháp và phải chuẩn bị chiến tranh. Tất các cơ quan chính quyền Việt Nam
chuẩn bị rút lui ra khỏi thủ đô Hà Nội để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Hình 4: Pháo của bộ đội tại trận địa Láng - Hà Nội chuẩn bị khai hoả.
Hình 5: Ngày 19/12/1946, pháo đài Láng là nơI bắn phát đạn đầu tiên vào thành Hà Nội, mở đầu ngày toàn quốc kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân tộc ta có thể trường kỳ kháng chiến, nhưng thực dân Pháp không thể trường kỳ xâm lược”.
Bảy ngày đêm chiến đấu (từ ngày 20 đến ngày 26/11/1946) chống lại hàng
nghìn quân tinh nhuệ của Pháp, được trang bị vũ khí hiện đại, có sự hỗ
trợ của hải quân và không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu
trước khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Với tinh thần “Quyết tử để Tổ
quốc quyết sinh”, quân và dân thành phố Hải Phòng đã kiên cường bám trụ,
chiến đấu anh dũng, khiến kẻ địch bị bất ngờ vì phải đương đầu với sức
mạnh của toàn dân, một sức mạnh “cả thành phố một lòng, quân dân cùng
chiến đấu”. Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng để lại
nhiều bài học lớn về tác chiến trong thành phố của quân và dân ta. Cuộc
chiến đấu “có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự chuẩn bị cho
trận đánh nhiều ngày ở Thủ đô Hà Nội xảy ra sau đó một tháng” như lời
đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này. Với hành động này, coi
như Pháp đã mở lời thách thức chiến đấu với quân dân Việt Nam và như
thế, đối với một chính quyền đứng đầu là Hồ Chí Minh lấy mục đích tối
cao: “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” làm lẽ sống, thì không thể
không phát động kháng chiến. Ngày 29-11-1946, báo “Sự thật” ở Hà Nội, số
64, đăng lời kêu gọi của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương (tức
là Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật). Trong đó có
đoạn: “Sự thật đã chứng tỏ rằng: thực dân Pháp ngang nhiên khiêu hấn.
Chúng định dùng võ lực bắt ta phải nhượng bộ, nhưng không khi nào ta
chịu. Tạm ước ngày 14-9 là một bước nhân nhượng cuối cùng. Nhân nhượng
nữa là phạm đến chủ quyền đất nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân
tộc”.
Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh
Làng Sen – quê nội Bác
Tháng 6-1911, Người ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville
đến nước Pháprồi từ đó đến nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người
vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã nhận rõ
đây là đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng
xã hội.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội
pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi
đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) “Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam”, đòi
Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc
Việt Nam
Ngôi nhà số 9, ngõ hẻm Com-poăng (Paris), nơi Người trọ từ năm 1920 đến năm 1923
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội
liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922 xuất bản báo “Người cùng
khổ” ở Pháp. Trong ảnh: Hồ Chủ Tịch và tờ báo Le Paria – Người cùng khổ
Tháng 6-1923, Người từ Pháp đi Liên
Xô, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tham gia công tác của
Quốc tế cộng sản. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng
sản và được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam,
hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các
nước Đông – Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân
tộc bị áp bức ở Á Đông. Trong ảnh: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc với một số
đại biểu dự Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản lần V
Từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài
tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong
trào cách mạng trong nước và có những chỉ thị quý báu cho Ban chấp hành
Trung ương Đảng. Trong ảnh: Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc
trở lại Nga
Sau 30 năm bôn ba hải ngoại, tháng 2 năm
1941, Bác Hồ về nước trực tiếp chỉ huy phong trào cách mạng trong nước.
Bác sống và làm việc trong hang Pác Pó thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao
Bằng. Trong ảnh: Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
Ngày 24 tháng 5, Bác Hồ từ Cao Bằng về
đến Tân Trào để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Trong ảnh:
Bác Hồ ở Hang Bòng (Tân Trào, Sơn Dương)
Bữa cơm giản dị của Bác Hồ và các chiến sỹ trong những năm tháng kháng chiến ở ATK Việt Bắc
Ngày
20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân Trào, nơi Người đã
chủ trì Quốc dân Đại hội, quyết định Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945,
bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ảnh: TL
Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Và kết quả đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng 8 kỳ diệu với chiến thắng vang dội.
Ngày
22 tháng 8, Bác Hồ rời Tân Trào về
Hà Nội. Theo đề nghị của Thường vụ Trung ương Đảng, Bác Hồ rời căn cứ
địa Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) về Hà Nội để trực tiếp lãnh đạo
Tổng khởi nghĩa và chuẩn bị ra mắt Chính phủ lâm thời.
Dù
vừa trải qua cơn sốt nặng và còn mệt, Người vẫn quyết tâm lên đường.
Trên chặng đường rừng núi, do sức khỏe yếu, đôi khi Bác phải nằm cáng
tre. Ngày 25/8/1945, Người về tới ngoại thành Hà Nội và được đón về căn
nhà số 48 Hàng Ngang.
Ngày 2-9-1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lễ tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945
Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tháng 9-1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc
dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần
nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn quân, toàn dân
ta vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với
bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc. Trong ảnh: Lính Trung Hoa Dân Quốc được quân đội Pháp đưa về tập kết ở ga Hải Phòng vào tháng 1/1950,
Cuộc chiến ít biết của quân đội Anh ở Việt Nam 1945-46 - BBC ...
Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 được ký kết giữa Việt Nam và Pháp. Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946
Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra chiếm đóng miền
Bắc, âm mưu tiến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước
tình hình ấy, tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến. Trong ảnh: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến – Hồ Chí
Minh (9-12-1946)
Sau đó Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống
Pháp. Trong 9 năm, trường kỳ kháng chiến, Bác Hồ cùng với Trung ương
Đảng lãnh đạo quân và dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong
ảnh: Nhà sàn đầu tiên của Bác ở Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên
Ở chiến khu, mọi sinh hoạt của Bác… (Hình ảnh Bác Hồ và các chú bộ đội ở chiến khu)
từ làm việc…(Hình ảnh Bác Hồ ngồi làm việc trong hang động Việt Bắc năm 1951)
…
đến việc ra các quyết định quan trọng đến vận mệnh dân tộc đều hết sức
giản dị, đơn sơ. (Hình ảnh Bác Hồ chủ trì họp Bộ Chính trị quyết định mở
chiến dịch Điện Biên Phủ tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa)
Hình ảnh Bác làm việc ở chiến khu Việt Bắc
Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc
Bác tăng gia sản xuất ở chiến khu Việt Bắc
Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại chiến khu Việt Bắc
Bác Hồ đọc báo ở chiến khu Việt Bắc, năm 1951
Bác Hồ nói chuyện về tình hình cách mạng
trong nước và thế giới với cán bộ, chiến sỹ bảo vệ và phục vụ những ngày
ở Chiến khu Việt Bắc.
Ở Việt Bắc, Bác thường đi thăm bà con dân tộc
Sinh
thời Bác Hồ từng nói: “Mỗi một người dân yếu, tức là cả nước yếu, mỗi
một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe. Việc rèn luyện tập
thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.
Bác Hồ tập võ cùng các chiến sĩ (Ảnh tư liệu)
Ngoài giờ làm việc, Bác chơi thể thao và tập võ để nâng cao sức khỏe
Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp
lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội dưới sự lãnh đạo của Bác
và Đảng đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các
tỉnh Cao Bắc Lạng... Thời cơ đã đến, Bác và các đồng chí lãnh đạo của
Đảng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trường Chinh... đã họp bàn
và ra quyết định mở chiến dịch Điện BIên Phủ. Trong ảnh: Hình ảnh “Ông
Ké” trở nên quen thuộc, gần gũi với đồng bào các dân tộc.
Nhà sàn Bác Hồ - Ngôi nhà gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của Bác
Sau
này, đồng chí Trường Chinh trở thành cộng sự, người học trò gần gũi của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và được xem là nhà lãnh đạo kiệt xuất
Vào tháng 12 năm 1953, Bác và các đồng chí lãnh đạo của Đảng họp tại Việt Bắc quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ
Lán Tỉn Keo ở vị trí trên đỉnh đồi, nơi diễn ra cuộc họp của Bộ Chính
trị dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 6/12/1953 để đưa ra
quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau hai đợt tiến công ở Điện Biên Phủ, ta
đã giành được nhiều thắng lợi rất lớn và rất quan trọng. Bộ Chính trị
và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo lực lượng cả nước phối hợp hoạt động với
mặt trận Điện Biên Phủ. Trong ảnh: Bộ đội hành quân ra mặt trận.
Ngày 19-4-1954,
Bộ Chính trị ra hai nghị quyết: một chỉ đạo Điện Biên Phủ tiếp tục thấu
triệt phương châm “đánh chắc, thắng chắc”; một chỉ đạo chiến trường
trong cả nước tiếp tục thấu triệt phương châm “đánh nhỏ, ăn chắc”. Trong
ảnh: Công binh, dân công, thanh niên xung phong mở đường Tuần giáo –
Điện Biên Phủ.
56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, kiên
cường, tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp lúc bấy
giờ bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đập tan. Chiến thắng Điện Biên Phủ là
kết quả hợp thành của một loạt nhân tố dân tộc và thời đại, là đỉnh cao
chói lọi của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
thời đại mới dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong ảnh:
Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Trận địa pháo 12,7mm bắn máy bay địch tiếp tế cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Tướng lĩnh Pháp cay đắng thừa nhận thất bại ở Điện Biên Phủ
17 giờ 40 phút ngày 7-5-1954, bộ đội ta đã cắm lá cờ “Quyết
chiến quyết thắng” trên nóc hầm Tướng De Castries.
Bác Hồ trao tặng huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho chiến sỹ trinh sát đã lập nhiều thành tích xuất sắc
Ngày 7-5-1954, quân đội Pháp đại bại ở
Điện Biên Phủ. Đúng 16 giờ 30 phút, ngày 8-5-1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ về
Đông Dương khai mạc. Ngày 20-7-1954, Hiệp
định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết. Trong ảnh: thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư
lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự
tại Việt Nam.
Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về – bộ đội tiếp quản thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1954
Làng Trù – quê ngoại Bác
Nhà
số 38 Lý Thái Tổ (ngày nay là số nhà 36), phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn
Kiếm – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với thực dân Pháp bản Hiệp định Sơ
bộ, ngày 6/3/1946 Muốn xâm lược Bắc Kỳ thì trước hết phải chiếm được
Hà Nội. Cuộc xâm lăng trước, thực dân Pháp đã hành động như thế và lần
này, chúng cũng chủ trương như thế. Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3
được một tháng, tướng Valuy, chỉ huy quân Pháp đóng ở Hà Nội đã lệnh cho
quân lính: “Trong mỗi trại, ngay khi mới đến, viên chỉ huy phải đặt
ngay một kế hoạch an toàn chủ yếu. Kế hoạch này phải có phần phòng thủ
vĩnh viễn những chỗ đóng quân và nhất là phải có phần hành động để chiếm
lĩnh thành phố…”. Để chuẩn bị đánh Hà Nội, thực dân Pháp đã tăng cường
về đây, tạo nên một lực lượng mạnh áp đảo đối phương gồm: 6.500 binh
lính, 5.000 súng trường, 600 súng máy loại nhẹ, 180 súng máy loại nặng,
42 pháo hạng nặng, 22 xe tăng, 40 xe bọc thép, 4 máy bay thám thính
Moran, 4 máy bay khu trục Spitphai, 6 máy bay khu trục ném bom. Quân
dân Hà Nội cũng khẩn trương, tích cực đối phó trên nền tảng cả nước đã
mạnh lên rất nhiều về thế và lực do được quan tâm, chuẩn bị ngay từ
tháng 8-1945 và trong khoảng thời gian đủ dài của quá trình đấu tranh
ngoại giao khéo léo, dẻo dai của Hồ Chí Minh. Ngay từ ngày
19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc khẳng định: “Không sớm thì muộn,
Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Đến đầu tháng
12-1946, quân dân Hà Nội đã trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nhưng vẫn
giữ thái độ bình tĩnh chờ lệnh trước sự gây hấn ngày càng trầm trọng của
binh lính Pháp.
Hình ảnh người chiến sĩ ôm bom ba càng đã trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
Nhân vật trong bức ảnh lịch sử là liệt sỹNguyễn Văn Thiềng(bí danh Trần Thành, sinh năm 1927, tại Hà Nội). Anh là chiến sỹ cảm tử
quân thuộc Đội tự vệ thành Hoàng Diệu, người đã ôm bom ba càng dũng cảm
lao vào xe tăng địch để bảo vệ Thủ đô.
Như
một cố gắng cuối cùng để cứu vãn hòa bình, giữa tháng 12-1946, Hồ Chí
Minh đã nói với một phóng viên báo chí: “Chúng tôi muốn tránh chiến
tranh, tránh bằng mọi giá. Chúng tôi tha thiết mong ước độc lập trong
Liên hiệp Pháp: Chiến tranh không có lợi gì cả”. Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng
mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách
sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa Sainteny
một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết
xung đột. Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển
tiếp tới Paris. Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của
Cao ủy Đông Dương Georges D'Argenlieu
về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt,
Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện
diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà
Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi. Ngày 16 tháng 12, ông
lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh dựng trong
thành phố. Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Brum vào đến Sài Gòn,
Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì
hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Đến ngày 19, bức điện mới
đến Paris, khi đó đã quá muộn.
Di tích Pháo đài Láng ở phường Láng Thượng ngày nay
Đài tiếng nói Việt Nam tại hang núi chùa Trầm, xã Phụng Châu, huyện
Chương Mỹ - Nơi đã ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, sáng ngày 20/12/1946
Những
câu nói và hành động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này rất gần với
quan niệm xác đáng về chiến tranh của Lão Tử, nhà hiền triết vĩ đại của
Trung Hoa cổ đại và có lẽ của cả thế giới, với những lời khuyên dạy chí
lý:
“Ta
có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận: một là lòng từ ái (khoan dung),
hai là tính kiệm ước (tiết kiệm), ba là không dám đứng trước thiên hạ
(khiêm tốn). Vì từ ái mà sinh ra dũng cảm, vì kiệm ước mà hóa ra sung
mãn, quảng đại, vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ
thiên hạ… Vì từ ái nên hễ chiến đấu là thắng, cố thủ là vững…
“Viên
tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng, người giỏi tác chiến không tỏ ra hung
hăng, người khéo thắng địch không giao phong với địch, người khéo chỉ
huy thì tự đặt mình ở dưới người. Như vậy là có cái đức không tranh với
người, như vậy là biết dùng sức của người, như vậy là hoàn toàn hợp với
đạo”
“Thuật
dùng binh có câu: ta không dám làm chủ (tức khiêu chiến, xâm lấn) mà
chỉ muốn làm khách (tức ứng chiến, kháng chiến), không dám tiến một tấc,
thà chịu lùi một bước (nghĩa là nhượng bộ). Như vậy là dàn trận mà như
không thành hàng, xua đuổi mà không đưa cánh tay ra. Tuy có binh khí mà
như không dùng binh khí, tuy có địch mà như không chạm trán với địch. (Ở
đây, chúng ta thấy từ cái quan niệm rất đúng đắn về sự vận động của Tự
Nhiên cũng như của xã hội, về Đạo và Đức mà Lão Tử đi đến một quan niệm
hết sức sâu sắc về nghệ thuật chiến tranh, về sức mạnh vô địch của chiến
tranh nhân dân lấy lối đánh du kích đầy biến hóa làm nền tảng. Điều này
được minh chứng hùng hồn trong cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ cứu
nước của dân tộc Việt).
Họa
không gì lớn bằng khinh địch, khinh địch thì sẽ mất những vật báu của
ta. Cho nên khi hai bên cử binh giao chiến, bên nào từ ái thì bên đó
thắng lợi”.
“Dũng
cảm mà cương cường (hùng hổ) thì chết (bởi mù quáng), dũng cảm mà không
cương cường (tức là nhu nhuyễn, bình tĩnh) thì sống (linh hoạt)… Đạo
trời là không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp (giỏi ứng phó),
không kêu gọi mà (thời thế) tự tới, bình dị tự nhiên mà khéo đặt quyền
mưu…”.
Dân
tộc Việt Nam đã không còn một sự lựa chọn nào khác để sống còn trong
phẩm giá ngoài cách phải cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp và
sau này là đế quốc Mỹ ra khỏi bờ cõi. Trước đòi hỏi giải giáp lực lượng
vũ trang ở Hà Nội như một tối hậu thư của Thực dân Pháp, quân dân Hà Nội
đã buộc phải chiến đấu và thực tế đã chiến đấu vô cùng ngoan cường, mở
đầu cuộc toàn quốc kháng chiến.
Sáng mãi tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
Từ ngày 15 tháng 12 năm 1946, tình hình nóng lên từng giờ. Sáng 16 tháng 12, Valluy từ Sài Gòn
ra Hải Phòng, triệu tập Morlière, Jean Sainteny, Đe-bơ phổ biến kế
hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực phía bắc vĩ tuyến 16. Cùng ngày, lực
lượng Công an xung phong đang giữ gìn trật tự trên đường phố bị quân
Pháp bắn. Ngày 17 tháng 12, tự vệ lại bị tấn công, đồng thời hàng chục
người dân phố Hàng Bún, Yên Ninh bị tàn sát. Quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu
Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Người
Việt không phản ứng. Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng
chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai
tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở
Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi
ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12),
Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt
động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho
quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố. Ngày 18 tháng 12 năm 1946, thành phố Hà Nội có vẻ yên tĩnh, phố xá thưa thớt bóng người.Hai
ngày trước, quân Pháp nổ súng khiêu khích, gây rối ở các phố Lò
Đúc, Hàng Bột, Hàng Khoai, Đồng Xuân... nhưng quân và dân Hà Nội cảnh
giác, không bị mắc mưu, tuân thủ kỷ luật, chờ lệnh Chính phủ không bắn
trả. Hai bên đường, nhà cửa đóng kín, nhưng bên trong nhà, ban công, cửa
sổ những mái nhà bằng đều trở thành vị trí chiến đấu. Tường trong nhà,
ngoài sân, trên gác, đều đã được đục thành lỗ giao thông, mở đường đi từ
buồng này sang buồng khác, nhà này sang nhà khác, đi suốt dãy phố dọc,
luồn sang dãy phố ngang, tạo thành một trận địa chiến đấu liên hoàn. Đâu
đâu cũng xuất hiện những dòng khẩu hiệu viết trên cửa, trên tường:
"Sống chết với Thủ đô", "Thà chết không chịu trở lại làm nô lệ"... Lực
lượng phía Việt Minh gồm 2.500 Vệ quốc quân, 8.000 tự vệ, được đông đảo
nhân dân thủ đô ủng hộ, mặc dù vũ khí còn thô sơ, chỉ có 2.250 cây súng,
hầu hết là súng trường, với nhiều súng khai hậu với rất ít đạn. Trung
bình hai người mới có một quả lựu đạn.
Quân Pháp gồm có một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn xe tăng, thiết
giáp, một tiểu đoàn pháo, một bộ phận biệt kích, một bộ phận dù, cùng
với không quân và thủy quân, tổng cộng 6.500 lính chính quy cùng 7.000
kiều dân vũ trang Pháp. Vài ngàn lính Lê dương Pháp đóng tập trung trong
khu vực thành Hà Nội và một số đóng rải rác ở các địa điểm khác như Nhà
thương Đồn Thủy, dinh Toàn quyền cũ, nhà ga, nhà băng Đông Dương, cầu
Long Biên và sân bay Gia Lâm ở bờ đông sông Hồng.
.Một khẩu đội pháo của Vệ Quốc đoàn tại trận địa pháo đài Láng, tháng 12/1946. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Các chiến sĩ tự vệ Thủ đô sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, từng căn nhà. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Thiếu tướng Ngô Huy Phát, nguyên Cục trưởng Bộ Tổng tham mưu quân đội
nhân dân Việt Nam, khi đó là lính liên lạc Quân khu 2 kể, khi tiến vào
Hà Nội, quân Pháp đóng tại nhiều trọng điểm như: thành Hà Nội, Phủ toàn
quyền cũ, nhà thương Đồn Thủy, sân bay Gia Lâm... Cuối tháng 11/1946,
Pháp huy động khoảng 6.500 quân, 40 xe tăng, 19 máy bay và hàng trăm xe
quân sự.
Lực lượng vũ trang thủ đô khi đó chỉ khoảng 2.000 cây súng, mỗi tiểu
đoàn có 2-3 khẩu trung liên, 2-3 khẩu tiểu liên và carbin, còn lại toàn
súng trường. “Tôi có khẩu súng Nga cao hơn đầu vì nhỏ tuổi. Để
đánh lại xe tăng, ta chỉ có mìn tự tạo và bom ba càng. Lựu đạn thì lấy
được một ít của Nhật, của Tây, của Tàu và một ít lựu đạn Phan Đình Phùng
ta sản xuất, nhưng chất lượng kém, có quả nổ, quả không, thậm chí có
quả nổ trên tay”, thiếu tướng Ngô Huy Phát nói.
Chiều 18 tháng 12, Pháp gửi cho chính phủ Việt Minh tối
hậu thư đòi
làm nhiệm vụ trị an ở Hà Nội và đe dọa "Đến sáng 20-12 những điều đó
không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển hướng sang hành động". Sáng
19 tháng 12, Pháp gửi tiếp cho phía Việt Minh một tối hậu thư, đòi tước
vũ khí của Vệ quốc đoàn ở Hà Nội, đòi Việt Minh phải đình chỉ mọi hoạt
động chuẩn bị kháng chiến. Đối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng
trước, khi Đại tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá
thành phố. Sáng ngày 18 tháng 12,
Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm
sau. Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Brum có thể chưa đến nơi,
ông gửi một bức điện thẳng tới Paris. Sáng 19, để thể hiện thiện chí và
cố gắng cứu vãn hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố
vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Sainteny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại".
Sau khi được tin Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch
triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc,
Hà Nội, và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại, không thể nhân nhượng
thêm được nữa. Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo.
Pháo đài Xuân Tảo tại phường Xuân Tảo (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) là di tích lịch sử cách mạng quan trọng trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Đây là một trong hai
pháo đài đã nã những loạt pháo đầu tiên vào quân đội Pháp, mở màn 60
ngày đêm chiến đấu chống thực dân Pháp năm 1946.
Cuộc
chiến tranh vệ quốc thần thánh của nhân dân Việt Nam bắt đầu từ ngày
Nam Bộ kháng chiến và chính thức nổ ra từ ngày 19-12-1946 ngay tại khu
vực đã khai sinh ra đất nước Việt Nam: Cổ Loa - Thăng Long - Đông Đô -
Hà Nội. Trưa ngày 19 tháng 12, Ban Thường vụ Trung ương của chính phủ Việt Nam
điện cho các chiến khu và tỉnh ủy, thành ủy: "Giặc Pháp đã hạ tối hậu
thư và đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã
bác bỏ tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn
giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng". Đúng
20 giờ 03 ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn điện toàn thành phố phụt tắt,
pháo đài Láng (Hà Nội) nổ súng phát ra hiệu lệnh tổng tiến công, chính
thức báo hiệu cuộc chiến tranh chống Pháp lần thứ hai bắt đầu. Tới 20
giờ 30, Chính phủ Việt Nam đã phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến
đấu:
"Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!
Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng
Quốc phòng-Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc quân và
dân quân tự vệ Trung-Nam-Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt
trận giết giặc cứu nước.
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!"
Ngày 20-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh đã vang trên bầu trời Thủ Đô và khắp cả non sông: "Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta
một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống
thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm
Kháng chiến thắng lợi muôn năm
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh " Các chướng ngại vật, hầm hào được dựng nên trên các phố phường nội ô
Hà Nội. Những đội cảm tử quân được thành lập, sẵn sàng dùng bom ba càng để kích nổ tiêu diệt xe tăng Pháp.
Đại tá Nguyễn Trọng Hàm (nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô) cho
hay, Hà Nội ngày ấy “mỗi ngôi nhà là một pháo đài, mỗi đường phố là một
chiến tuyến, mỗi người dân là một chiến sĩ”. Những vật dụng tủ, giường,
bàn ghế… được mang ra đường lập thành những chiến lũy, cản đường tiến
quân của quân Pháp. Những đường giao liên được đào xuyên tường nhiều căn
nhà lại trở thành “trận đồ bát quái”, tiêu diệt sinh lực địch.
Đêm 19/12/1946, quân Pháp tiến công Bắc Bộ phủ, trụ sở của Chính phủ khi
đó (nay là Nhà khách Chính phủ số 12 Ngô Quyền). Khi chúng sử dụng xe
tăng yểm trợ, các quyết tử quân ôm bom ba càng lao vào phá hủy chiến xa.
Hàng loạt bom, chai cháy, lựu đạn từ các cửa sổ tung xuống đầu quân
Pháp khiến chúng hoảng loạn tháo chạy. 8h ngày
20/12/1946, lực lượng vũ trang thủ đô rút sang Bưu điện Bờ Hồ, cùng với
tự vệ công nhân bưu điện đánh quân Pháp đến chiều tối.
Do nhận được thông tin tình báo chính xác, nên phía Pháp không bị bất ngờ khi cuộc tấn công nổ ra,
sau đó quân Pháp đã phản công một cách quyết liệt. Quân Pháp đóng trong
thành được tung ra để ứng cứu các vị trí bị đánh, bị chiếm. Pháp tấn
công ga Hà Nội, cầu Long Biên, nhà Bưu điện, Bắc Bộ phủ... Tổng chỉ huy
và doanh trại Vệ quốc đoàn ở Hàng Bài, Sở chỉ huy tự vệ ở nhà Đấu Xảo...
nhưng ở đâu quân Pháp cũng gặp phải sức chống cự mãnh liệt của lực
lượng Việt Minh. Tướng Valluy muốn dùng không quân tiêu diệt các ổ đề
kháng, nhưng tướng Morlière chọn cách tiến quân chiếm lần lượt từng khu
phố vì như vậy sẽ không phải tàn phá hoàn toàn thành phố. Như đã thành quy luật, sáng sớm và ban ngày: quân Pháp đánh bộ đội,
xẩm tối và đêm khuya: bộ đội Việt Minh đánh và quấy phá quân Pháp. Quân
Pháp bị rơi vào thế bất lợi, khi Việt Minh ở Liên khu I nằm trong vòng
vây đánh ra, còn Liên khu II và III tạo thành gọng kìm từ ngoài vòng vây
đánh vào. Nhiều trận đánh lớn diễn ra rất ác liệt, như trận Bắc Bộ phủ
của Tiểu đoàn 101 Vệ quốc đoàn, trận Hàng Đậu, Trường Ke, trận nhà Hoa
Nam, trận Đồng Xuân của Tiểu đoàn 101 Đồng Xuân, trận Hàng Thiếc của
Tiểu đoàn 102, trận nhà Xô-va của Tiểu đoàn 103. Tại nhiều đường phố,
Việt Minh và quân Pháp giành nhau từng bờ tường góc phố, đóng xen kẽ chỉ
cách nhau 5, 3 nhà, hoặc bộ đội ở dãy số lẻ, quân Pháp ở số chẵn như ở
Hàng Giấy, Hàng Khoai...
Trong trận đánh đầu tiên này, quân Pháp tuy chiếm được Bắc Bộ phủ,
nhưng hàng trăm lính lê dương bị tiêu diệt, 4 xe tăng và xe bọc thép bị
phá hủy. Về phía bộ đội Việt Nam, 45 chiến sĩ hy sinh.
Trận đánh được xem là khốc liệt nhất trong 60 ngày đêm khói lửa là ở chợ Đồng Xuân. Với
mục tiêu đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy Liên khu 1 (nơi tập trung các
cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước), ngày 11-13/2/1947, quân Pháp cho
máy bay ném bom bắn phá liên tiếp vào chợ Đồng Xuân và các phố Hàng Cót,
Hàng Lược, Hàng Đường, Hàng Bạc, Mã Mây... Chúng sử dụng hỏa lực đánh
theo bốn hướng, hướng tấn công chủ yếu là xe tăng dẫn bộ binh đánh vào
sân bóng sau chợ, rồi tiến sang chỗ đóng quân của Ban chỉ huy tiểu đoàn
101.
Chợ Đồng Xuân, nơi diễn ra trận chiến đấu ác liệt với thực dân Pháp vào ngày 1412/1947. Ảnh: Võ Hải.
Mờ sáng 14/2/1947, máy bay Pháp tiếp tục ném bom, bắn phá chợ Đồng
Xuân và phố xung quanh. Hơn 400 quân và hàng chục xe cơ giới bao vây
chợ. Đợi cho xe tăng Pháp tiến vào khu chợ, bộ binh địch vừa tới, bộ đội
Việt Nam từ các quầy hàng xông ra đánh giáp lá cà. Sau nhiều ngày giằng
co, những người lính cảm tử quân của Hà Nội đã đẩy lui quân Pháp khỏi phố Hàng Chiếu, Hàng Gạo, chợ Đồng Xuân. Toàn trận địa trở lại nguyên vị trí ban đầu.
Theo ông Vũ Tâm, nguyên Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 101 Quyết tử Thủ đô tại Đồng Xuân, trận
chiến đấu ở chợ Đồng Xuân đi vào lịch sử thủ đô bởi 4 cái nhất: trận
đánh này quân Pháp đã sử dụng quân lớn nhất và tinh nhuệ nhất. Quân Pháp
sử dụng binh hỏa lực mạnh nhất gồm pháo binh, máy bay dội bom; trận
đánh kéo dài nhất từ 5h sáng đến 22h giờ đêm và thương vong của hai bên
nhiều nhất (quân Pháp gần 200 người, 4 xe tăng; Việt Nam hy sinh 15 bộ
đội, bị thương 19 người).
Sau trận đánh ở khu Đồng Xuân, địa bàn chiến đấu của Liên khu 1 thu hẹp nhiều. Đại tá Nguyễn Trọng Hàm (quyết tử quân Hà Nội, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô), kể lương
thực chỉ còn ăn được 5 bữa, mỗi khẩu súng còn trung bình 4-5 viên đạn.
Dù vậy, Trung đoàn Thủ đô vẫn quyết tử bám trụ, củng cố công sự, trận
địa và đề nghị tiếp tế gấp đạn súng trường và gạo, bên ngoài đánh mạnh
để kiềm chế quân địch... Nhưng những người lính lại nhận được chỉ thị
rút quân.
Thực dân Pháp tăng cường viện binh, vũ khí, trang bị và liên
tiếp thực hiện các đợt tiến công, tạo thành vòng vây, thu hẹp dần địa
bàn Thủ đô. Trước sự tấn công của kẻ thù, Trung đoàn Thủ Đô phải tìm
cách vượt ra ngoài, về các căn cứ ở hậu phương để xây dựng và phát triển
lực lượng, nhằm thực hiện kháng chiến lâu dài.
Sau 60 ngày đêm chiến đấu mở đầu toàn quốc kháng chiến, quân và dân thủ
đô đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng,
Chính phủ; tản cư được phần lớn nhân dân; đưa một khối lượng lớn máy
móc, thiết bị lên chiến khu; tiêu diệt trên 2.000 lính Pháp, bắt khoảng
400 tên, phá hủy 22 xe tăng, xe thiết giáp, 31 xe vận tải, bắn rơi
một máy bay, bắn hỏng 7 máy bay, bắn chìm 2 cano.
Các địa phương có thời gian chuẩn bị lực lượng chủ động bước vào cuộc
kháng chiến trường kỳ. Quân đội Việt Nam vừa đánh, vừa phát triển lực
lượng, từ 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân lúc đầu sau phát triển thành 3 trung
đoàn chủ lực.
Đêm 17/2/1947, trung đoàn Thủ đô rút quân khỏi Hà Nội. Được trung đoàn
phân công, tiểu đoàn 101 Đồng Xuân đi đầu theo đường gầm cầu Long Biên,
nếu gặp địch thì đánh mở đường máu để trung đoàn rút ra. Nhưng hôm đó
mưa phùn, giá rét, đêm tối như mực, lính Pháp gác trên cầu co cụm lại,
áo ca pốt trùm kín nên không hay biết cả một đoàn quân hơn 1.000 người
đang hành quân dưới gầm cầu, dưới mũi súng của họ.
Ngày 17/2/1947, sau 60 ngày đêm cầm chân quân Pháp, Trung đoàn thủ đô
bắt đầu rút khỏi nội thành, đến 3h sáng hôm sau tập kết an toàn ở Phúc
Yên. Trước khi rút đi, nhiều chàng trai, cô gái đã viết lên các bức tường câu thơ “ra đi hẹn ngày về”: “Mùa xuân đi không tiếc nữa đời hương/ Em lòng ơi giữ lấy giấc mơ hường/ Ai mải miết một trời son với phấn/ Ta hùng anh lừng hát tiến lên đường”.
Lực lượng của Trung đoàn Thủ đô chia thành từng đơn vị nhỏ cùng nhân dân
Liên khu phố I lặng lẽ đi dưới gầm cầu Long Biên, rẽ nước vượt sông
Hồng, sông Đuống, bí mật vượt qua vòng vây an toàn.
Chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, tháng 2-1947. Ảnh tư liệu
Tuy nhiên, thực dân Pháp tăng cường viện binh, vũ khí, trang bị và liên
tiếp thực hiện các đợt tiến công, tạo thành vòng vây, thu hẹp dần địa
bàn Thủ đô. Trước sự tấn công của kẻ thù, Trung đoàn Thủ Đô phải tìm
cách vượt ra ngoài, về các căn cứ ở hậu phương để xây dựng và phát triển
lực lượng, nhằm thực hiện kháng chiến lâu dài.
Trong vòng kiềm tỏa của kẻ thù, phương án rút quân như thế nào là vấn đề
rất khó khăn, phức tạp, nhất là xác định con đường rút lui bảo đảm bí
mật, an toàn. Vì vậy, cuộc rút lui phải được tổ chức như một trận đánh,
tạo thế bất ngờ với địch về ý đồ rút quân, con đường rút, thời gian rút,
bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến khác...
Trong lúc đang bế tắc tìm con đường để rút quân an toàn thì ngày
15-2-1947, đồng chí Nguyễn Ngọc Nại phụ trách Đội liên lạc vào Liên khu 1
chuyển thư từ, báo chí cho đơn vị. Chỉ huy Trung đoàn hỏi đồng chí
Nguyễn Ngọc Nại vào bằng cách nào mà địch không biết. Đồng chí Nại cho
biết đã đi qua bãi giữa, lội qua sông Hồng cách cầu Long Biên chừng
700m, khu vực này nước chỉ sâu trên đầu gối, khi đến bên này sông Hồng
thì đi dọc ven đê, qua gầm cầu Long Biên đến cột Đồng Hồ vào Liên khu 1.
Việc canh gác của địch dưới cầu Long Biên không có. Khả năng từ sau Tết
ta không có người qua lại nên địch đã bỏ vọng gác; hoặc có thể lính
canh gác sợ giá lạnh nên chui vào vọng gác trên cầu.
Đêm 17 tháng 2 năm 1947, trung đoàn Thủ đô rút quân khỏi Hà Nội. Được
trung đoàn phân công, tiểu đoàn 101 Đồng Xuân đi đầu theo đường gầm cầu Long Biên,
nếu gặp địch thì đánh mở đường máu để trung đoàn rút ra. Nhưng hôm đó
mưa phùn, giá rét, đêm tối như mực, lính Pháp gác trên cầu co cụm lại,
áo ca pốt trùm kín nên không hay biết cả một đoàn quân hơn 1.000 người
đang hành quân dưới gầm cầu, dưới mũi súng của họ. Lực lượng của Trung
đoàn Thủ đô chia thành từng đơn vị nhỏ cùng nhân dân Liên khu phố I lặng
lẽ đi dưới gầm cầu Long Biên, rẽ nước vượt sông Hồng, sông Đuống, bí mật vượt qua vòng vây an toàn.
Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 2 năm 1947, lính Pháp tổ chức lực lượng, đuổi
theo, nhưng bộ đội đã vượt sông Hồng về làng Thượng Hội thuộc huyện Đan Phượng, Hà Tây.
Riêng Đội tự vệ Hồng Hà gồm những người dân lao động ngoài bãi sông
Hồng đã chiến đấu ròng rã 60 ngày đêm, bảo vệ và nối liền con đường tiếp
tế cho dân quân Liên khu I đã có thương vong. Đó là đảng viên Nguyễn Ngọc Nại,
Tiểu đội trưởng, và 7 đồng đội khác của anh. Sáng hôm đó, họ đã trụ
vững ở bãi giữa, chiến đấu quyết liệt với lính Pháp để thu hút hỏa lực
về phía mình, bảo vệ an toàn cho cuộc rút lui chiến lược của Trung đoàn
Thủ đô và quân dân Hà Nội. Pháp trả thù kéo quân đánh vào xã Tứ Tổng
(nay là hai phường Ngọc Thụy và Tứ Liên),
là xã đã dùng thuyền đưa trung đoàn vượt sông Hồng, đốt cháy gần 30 nóc
nhà, giết chết 27 thanh niên và chọc thủng gần 40 con thuyền. Hằng năm,
người dân ở đây vẫn lấy ngày 29 tháng 1 âm lịch làm ngày giỗ trận.
Ngày 18-2-1947, toàn Trung đoàn Thủ Đô cơ động về tới địa điểm đã định.
Cuộc rút quân thắng lợi, Trung đoàn nhận được bức thư động viên của đồng
chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: "Các cấp chỉ huy. Các
chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô. Tôi thay mặt toàn thể Quân đội Quốc gia Việt
Nam hoan nghênh tinh thần anh dũng của các chiến sĩ. Các chiến sĩ đã
chiến đấu hai tháng ròng rã để giữ vững ngọn cờ nước Việt giữa Thủ đô Hà
Nội. Các chiến sĩ nêu cao tinh thần oanh liệt của dân Việt và thanh
danh rực rỡ của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Các chiến sĩ lại mở được con
đường máu vượt qua vòng vây quân địch để thực hiện chỉ thị bảo tồn chủ
lực. Các chiến sĩ sẽ tiếp tục chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta
sẽ chiến đấu 10 năm hay lâu hơn nữa nếu cần. Cho đến ngày Tổ quốc độc
lập, thống nhất. Cho đến ngày Thủ đô Hà Nội được rạng mặt Thủ đô của một
nước độc lập. Ta thề Thủ đô sẽ chiến thắng quân thù. Muôn năm, tinh
thần oanh liệt của Thủ đô. Muôn năm, tinh thần trung dũng của Trung đoàn
Thủ Đô”.
Trong đêm giao thừa đón tết Đinh Hợi, Hồ Chủ Tịch đã tới núi Trầm (thuộc ngoại thành Hà Nội) đọc bài thơ chúc mừng năm mới:
"Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến rung động non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công".
Trả lời nhà báo Mỹ Harold Issacs (tháng 3/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại sau:
"Hỏi:
Các báo chí Mỹ thường nói rằng: Việt Nam có thể trở nên một nước chư
hầu của Nga. Họ lại nói: Việt Nam là cộng sản hoặc là do cộng sản chi
phối. Theo ý Cụ thì thế nào?Trả lời: Đó là tuyên truyền láo của thực dân.
Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các đảng phái, như tôn giáo, dân
chủ, xã hội, mác xít. Có nhiều Bộ trưởng không vào đảng phái nào. Lại có
một vị hoàng tộc. Sao gọi được là cộng sản chi phối. Hỏi: Cụ có sợ Việt Nam trở thành một nước chư hầu của nước nào không? Trả lời: Không, tôi không sợ. Hỏi: Chính sách của Mỹ ở Á Châu là thế nào? Trả lời: Chỉ đứng về phía Việt Nam mà nói, thì chúng tôi tiếc rằng Mỹ
đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở
chúng tôi."
Trả lời nhà báo Mỹ A. Steele của tờ New York Herald Tribune (tháng 10/1949), Hồ Chí Minh nói: "Người
ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam,
vốn là một quốc gia. Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai
lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều
là cộng sản... Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi
biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm
phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích
là để bắt người Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?"
Trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao
là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ... Muốn độc lập
thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù
số một. Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng
mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn. Ta phải
vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng
bị tạm chiếm. Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm chó sǎn cho đế quốc Mỹ
để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt
chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân
Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc, đế quốc
Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương. Chúng ta gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta
nhất định thắng lợi."
Hình ảnh du kích quân trong tranh Nhớ một chiều Tây Bắc của Phan Kế An
Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và
các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh
tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier -
một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ
nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó"
và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải "với những đại diện chân chính của
Việt Nam". Theo sử gia William Duiker,
đây là việc né tránh vấn đề điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh. Thực
chất mục đích của Pháp là tìm cách xây dựng một chính quyền bản xứ người
Việt để làm đối trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và để thuyết phục
Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại
Đông Dương Ngay sau đó, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp
quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt
Nam. Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn
đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ
Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Bảo Đại và Pháp ký Hiệp định vịnh Hạ Long,
trong đó Pháp cam kết mập mờ về nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Những
chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp và Ngô Đình
Diệm đã chỉ trích hiệp định này là kém quá xa so với một nền độc lập
thực sự. Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký Hiệp định Vịnh
Hạ Long thứ hai, Pháp "long trọng công nhận độc lập" của Việt Nam. Tuy
nhiên, chính phủ Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát quan hệ ngoại giao và quốc
phòng, đồng thời trì hoãn việc chuyển các giao chức năng khác của chính
quyền sang những cuộc đàm phán trong tương lai.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung đoàn
trưởng Thái Dũng, Tiểu đoàn trưởng Dũng Mã đang nghiên cứu sơ đồ tác
chiến Chiến dịch Biên giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn mở
chiến dịch Biên giới năm 1950 (từ trái qua: đồng chí Trường Chinh, Hồ
Chủ tịch, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp).
Một cánh quân của bộ đội ta tiến vào chiếm cứ điểm Đông Khê trong chiến dịch Biên giới ,1950
Anh hùng La Văn Cầu. Nguồn ảnh: Internet
.
Bác Hồ cùng chiến sĩ và dân công tromg chiến dịch vào hạ tuần tháng 8 năm 1950.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận chiến dịch Biên giới năm 1950.
Tướng
Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt
Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết:
"Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của
Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp
chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại,
Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái
ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên".
Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành Hiệp ước Élysée
với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam,
nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia
Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy
giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai
trị của Pháp. Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ
không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu
trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn
đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để
điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế
độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc,
buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm
để kiếm chác)
Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn chủ trương và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954, tháng 9/1953
Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối
mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối
cao quân lực. bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp." Tháng 10/1951, nghị sĩ John F. Kennedy - về sau trở thành Tổng thống Mỹ
- đã đến Việt Nam để khảo sát. Lúc đó, Mỹ đã tài trợ một cách hào phóng
cho chiến tranh của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng Kennedy tự hỏi:
tại sao viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp chiến thắng? Ông đã hỏi
tướng De Lattre, Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương rằng: “Tại
sao ông có thể trông mong người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chiến đấu
(chống lại Việt Minh) để duy trì nước họ như một bộ phận của Pháp?". Về lại Mỹ, Kennedy phát biểu ngày 15/11/1951 trên đài phát thanh:
“Các xứ Đông Dương là những chính phủ bù nhìn, những lãnh địa của các ông hoàng (chỉ cựu hoàng Bảo Đại
và các quốc vương Lào và Campuchia) thuộc Pháp với tài nguyên to lớn
nhưng là những ví dụ điển hình của đế quốc và thực dân mà người ta có
thể thấy bất kỳ nơi đâu… Ở Đông Dương, chúng ta [Mỹ] đang liên kết với
nỗ lực tuyệt vọng của một đế chế Pháp
muốn bám lấy những mảnh còn lại của đế quốc”. Kết quả là (chúng ta)
không có sự ủng hộ sâu rộng của nhân dân Việt Nam đối với chính phủ bản
xứ (tức chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại)”
Trả
lời điện báo của một nhà báo quốc tế tháng 3/1948 khi thông báo tin Bảo
Đại chịu nhận điều kiện quân đội người Việt Nam sẽ nằm dưới quyền chỉ
huy của Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: "Ông
Vĩnh Thuỵ (tên thật của Bảo Đại) là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông
ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam
đồng ý. Vả chǎng, nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp
tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn phản quốc
ra, không có một người Việt Nam nào chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng
vậy. Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm
đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần
nữa.". Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung
Hoa Dân Quốc) ngày 3/4/1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời câu hỏi về
hiệp định Elysée như sau:
"Đối với dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu
ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng
đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn
rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập... Vĩnh
Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt
Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước,
đó là sự thực... Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết
cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu
sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả
âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và
thống nhất thật sự.".
Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Với việc mở đường cho chủ nghĩa thực dân mới vào Việt Nam, De Lattre đã mang đến cho ta một hiểm hoạ lâu dài". Trong năm 1950, Kháng chiến chống Pháp có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới.
Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)
Hình ảnh những người lính ra trận với chiếc áo choàng bằng vải dù đã trở thành biểu tượng của một thời.
Sau
chiến dịch Việt Bắc, Việt Minh dần dần tổ chức lại bộ máy và lực
lượng, bắt đầu tổ chức những trận đánh quy mô chống lại Pháp. Tháng
1/1950, Việt Minh mở một loạt các chiến dịch quân sự uy hiếp trực tiếp
đồng bằng sông Hồng. Từ tháng 2/1945 đến tháng 4/1945, Việt Minh thực
hiện những chiến dịch quy mô lớn nhằm kiểm soát Đông Bắc Bắc Bộ. Trong
năm 1950, các lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hoàn
chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45%
ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Với sự nổ ra của Chiến
tranh Triều Tiên
vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại
Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc
lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản.
Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho
các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương. Trước năm 1950, Việt
Minh vẫn giữ đường lối cân bằng trong quan hệ
quốc tế. Năm 1948, Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này đang hoạt động bí
mật dưới danh nghĩa Việt Minh nhắc nhở các cấp uỷ không viết bài công
kích Hoa Kỳ trong các tài liệu tuyên truyền và duy trì đường lối trung
lập. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các lãnh đạo Trung Quốc đã thuyết phục
Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan nghi ngờ của Stalin
về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải
tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 30/1/1950, Liên Xô thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý viện trợ vũ khí cho
họ chống Pháp. Cùng ngày, Đảng ban hành một chỉ thị bí mật cho phép thể
hiện xu hướng chống Mỹ trên các tài liệu tuyên truyền chính thức. Tháng 4
năm 1950, tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh,
khẳng định Việt Nam, cũng giống như Trung Quốc, đã lựa chọn phong trào
cộng sản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Stalin đồng thời loại bỏ tư
tưởng trung lập theo kiểu Tito. Ngày 20/7/1950, khi trả lời cuộc phỏng
vấn với đại diện Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh phát biểu công khai lên
án chủ nghĩa đế quốc
của Mỹ và sự can thiệp của Mỹ vào vấn đề nội bộ Việt Nam. Hồ Chí Minh
tuyên bố hành động viện trợ vũ khí cho Pháp mà Mỹ đang thực hiện là sự
phản dân chủ và tương tự như một cuộc xâm lăng. Trong chuyến đi tới
Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin và chủ nghĩa Stalin, thậm chí
ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. Để lấy lại thế chủ động, Pháp thực hiện tăng cường hệ thống phòng ngự
đường số 4, khoá biên giới Việt-Trung: cô lập căn cứ địa Việt Minh với
bên ngoài, thiết lập hành lang Đông-Tây, cô lập Việt Bắc với đồng bằng
Bắc bộ, chuẩn bị lực lượng để tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu
não Việt Minh. Về phía Việt Minh, Bộ chỉ huy Việt Minh nhận định
đúng ý đồ của Pháp
nên nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để mở cửa biên giới,
khai thông bàn đạp để nhận viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và khối xã
hội chủ nghĩa. Theo chủ trương này, đầu tháng 7 năm 1950, Bộ Tổng tư
lệnh Việt Minh quyết định chọn hướng chiến dịch là Cao Bằng – Lạng Sơn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (vào năm 1957), Tổng Tư lệnh Quân đội kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam.
Chiến dịch Biên giới
bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16
tháng 9, Việt Minh tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có
hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao
Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp
đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan
trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. Sang đợt hai, quân
Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân
kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê.
Việt Minh đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu
diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua
đợt ba, Việt Minh tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên
tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận
Cao-Bắc-Lạng. Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy
Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn
khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập,
Lạng Sơn... Đến ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục
tiêu đề ra, Việt Minh chủ động kết thúc chiến dịch.
Thắng lợi của Việt Minh trong chiến dịch này đã làm phá sản chiến lược
quân sự chính trị của Pháp, phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt
Bắc, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh
lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu, mở đầu cầu tiếp nhận viện
trợ. Vành đai đồn bốt bao vây Việt Bắc đã bị phá hủy hoàn toàn. Đồng
thời chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội.
Bộ chỉ huy Pháp được cải tổ, dẫn đến việc tướng Jean de Lattre de Tassigny lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
Đại tướng De Lattre de Tassigny, Tổng chỉ huy Quân đội kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương
Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Kể từ đây Quân đội Nhân dân Việt Nam
bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Cũng từ năm 1950, Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ từ các nước Xã hội chủ
nghĩa. Trong bối cảnh Pháp được Mỹ giúp sức muốn nhanh chóng giành thắng
lợi, kết thúc chiến tranh còn thế và lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
chưa thực sự lớn mạnh, viện trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, Pháp tổ
chức Phòng tuyến Tassigny để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang
chủ động tiến công, các chiến dịch liên tiếp của Quân đội Nhân dân Việt
Nam - Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh
- đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một
lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ.Từ cuối năm
1950, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô
lớn theo kiểu kinh điển. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các chiến
dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh bị thất bại trước quân Pháp do
tướng Jean de Lattre de Tassigny chỉ huy. Chiến dịch Hòa Bình
mà de Lattre mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành "cối xay thịt" đối
với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội
Nhân dân Việt Nam
chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến
thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong
vòng cung phòng thủ của Pháp.
Cuối năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc
giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái
(2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Cuộc tấn công vào Phú Thọ để cứu vãn tình
thế của Salan thất bại. Salan liền cho củng cố Nà Sản, xây dựng vị trí
này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đại đoàn 304 truy kích địch trên đường số 6 trong Chiến dịch Hòa Bình, tháng 2/1952
Ở miền Trung, Quân đội Nhân dân Việt Nam
đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của Pháp ở Tây
Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà
Nẵng, và Nha Trang. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thể thành công là Nam Kỳ và Campuchia. Mùa
xuân năm 1953, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức một lực lượng lớn
tiến công quân Pháp ở Lào, với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ
Souphanouvong. Do hậu cần quá xa nên Quân đội Nhân dân Việt Nam không
tiến công quân Pháp ở Cánh đồng Chum. Đây được coi là thành công lớn của Pháp.
Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu QĐND
Việt Nam) chuẩn bị sa bàn Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, phục vụ Đại tướng
Võ Nguyên Giáp nghiên cứu và giao nhiệm vụ cho các đơn vị (Nguồn ảnh:
Báo điện tử Quân đội nhân dân)
Trải qua cuộc sống “ngủ rừng ăn cơm vắt”, mũi sung chĩa đầu nhưng vẫn
hiên ngang, bất khuất. Đến năm 1954, ông được làm tiểu đội trưởng, tham
gia chiến dịch 56 ngày đêm và chiến dịch Điện Biên Phủ, phá tan cứ điểm
mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp.
Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi, đến năm 1959 ông Hiếu trở về quê
hương thì mẹ đã qua đời vì quá thương nhớ con vì nghĩ con không còn
sống. Năm 1960, ông Hiếu cưới vợ là cô dân quân 20 tuổi Trịnh Thị Cống,
người cùng xã và sinh được 5 người con. Đến năm 1966, ông tham gia sư
đoàn 338, tiếp tục tham gia chống Mỹ ở chiến trường B cho đến tận năm
1974 mới ra quân, về làng với quân hàm trung úy, mang trong mình thương
tật hạng 2/4 và 24 năm tuổi quân.
Đầu
tháng 1 năm 1947, thành lập Trung đoàn Thủ Đô với lực lượng là chiến sĩ
và tự vệ Hà Nội, trung đoàn này về sau là nòng cốt của Sư đoàn Quân
tiên phong 308, chỉ huy Vương Thừa Vũ (ban đầu gọi là Đại đoàn).
Sư đoàn có mệnh danh là Sư đoàn Thép, được các sử gia và các nhà nghiên
cứu tại Việt Nam cũng như quốc tế coi là một trong những sư đoàn xuất
sắc nhất trên thế giới. (Xem Phillip Davidson, Vietnam at war,)
Theo công sứ Mỹ O'Sullivan, người Việt Nam chiến đấu với một sự "ngoan
cường và dũng cảm chưa từng thấy", gợi lại hình ảnh binh lính Nhật trong
Đại chiến thế giới lần thứ hai
Với lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ, thiếu thốn, phải chống lại
lực lượng tinh nhuệ được vũ trang hiện đại của Pháp, cầm chân và tiêu
hao quân Pháp trong gần 2 tháng là một kỳ công đáng khích lệ cho quân
đội non trẻ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các lực lượng Quyết tử Việt Nam đã thực hiện chiến thuật chiến tranh đô
thị cầm chân quân Pháp, tạo thời gian để chính quyền Việt Nam rút ra và
tổ chức cuộc chiến tranh lâu dài, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng
nhanh của quân Pháp, tạo điều kiện sau này để chính quyền Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa giành thắng lợi quyết định cuối cùng tại trận Điện Biên Phủ.
Về phía Pháp, chiếm được Hà Nội với tổn thất tương đối nhỏ (chừng vài trăm thương vong trên tổng số chừng 110.000 quân Pháp
có mặt tại Đông Dương vào đầu năm 1947) cũng là một chiến thắng. Quân
Pháp tin tưởng sau khi chiếm được Hà Nội, họ sẽ có thể dễ dàng và nhanh
chóng bình định được toàn bộ Việt Nam, nhưng cuộc chiến đã kéo dài 9
năm, kết thúc tại chiến trường Điện Biên Phủ với thất bại hoàn toàn của
người Pháp. Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh,
phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3
giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau
đúng như vậy.
Cầm
cự: bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19/12/1946 đến hết Chiến
dịch Việt Bắc. Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng chiến, cầm cự miền Nam,
miền Trung, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp, Toàn quốc kháng
chiến ở các tỉnh, Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản
lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc.
Phòng
ngự: sau chiến dịch Việt Bắc đến hết Chiến dịch Biên giới. Có các chiến
dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên
giới.
Phản
công: Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Đồng Bằng, Chiến dịch Hoàng Hoa
Thám, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Hòa Bình, Chiến dịch Thượng Lào, Kế
hoạch Navarre, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ,
Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương
(21/7/1954).
Phương
pháp tiến hành chiến tranh của quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(lấy tên chính thức là Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1950) chỉ đơn giản
là "Toàn dân-toàn diện-trường kỳ kháng chiến",
gồm hai điều: đánh tiêu hao, phân tán lực lượng địch và từng bước xây
dựng lực lượng, giành thế chủ động để đẩy địch vào tình thế bị động đối
phó. Khi có đủ lực lượng sẽ tung đòn đánh lớn vào những vùng mà địa thế,
tương quan binh lực có lợi để giành những thắng lợi chiến lược. Phương
pháp này đã đi suốt lịch sử lớn mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, và
vẫn phát huy hiệu quả trong kháng chiến chống Mỹ sau đó. Tuy "đơn giản"
nhưng cả Pháp và Mỹ đều không thể chống lại chiến lược chiến tranh nhân
dân này, bởi như tướng De Castries đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của
Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc".
Hồ Chí Minh cùng các chiến sĩ cách mạng tại căn cứ địa Việt Bắc.
Bộ đội pháo binh Sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947. Ảnh: qdnd.vn
Hồ
Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa
bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rải
truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng
chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng
chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và
gây chiến",
rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái
độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi
phục. Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi
tái đàm phán. Ngày 23 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư
cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng
Philippe Leclerc de Hauteclocque,
đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông
chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới
tại Paris trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3. Nhà Xã hội chủ nghĩa Marius Moutet đã được gửi đến tìm hiểu về triển
vọng chính trị, và trở về với kết luận rằng chỉ có một giải pháp quân sự
đã được hứa hẹn. Như Đô đốc d'Argenlieu, Moutet tin rằng có thể sẽ
không có cuộc đàm phán với Hồ Chí Minh. Ông đã viết về "vỡ mộng tàn nhẫn của thỏa thuận mà không thể được đưa vào hiệu lực...", và tuyên bố rằng: "Chúng
tôi không còn có thể nói về một thỏa thuận tự do giữa Pháp và Việt
Nam... Trước bất kỳ cuộc đàm phán ngày hôm nay, cần thiết phải có một
quyết định quân sự". Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như
Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại
biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc
lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán một cuộc hòa giải với những đại diện chân chính ở Việt Nam.
Trả
lời phỏng vấn với Tướng Georges Catroux vào tháng 1 năm 1947 ở Moscow,
bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Mikhailovich Molotov
nói rằng “ông hy vọng rằng Pháp và Việt Nam có thể đạt được một thoả
thuận khiến cho cả đôi bên đều hài lòng,” và không dẫn đến việc tái
thiết “một chế độ cai trị thực dân”. Liên Xô không trợ giúp cho Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và cũng không đưa vấn đề Việt Nam ra Liên hiệp quốc.Cũng trong năm 1947, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô hỗ trợ
cuộc kháng chiến của họ bao gồm viện trợ quân sự và kinh tế, cung cấp
chuyên gia quân sự, tuyên truyền quốc tế có lợi cho Việt Nam và giúp
Việt Nam tham gia Liên Hiệp Quốc nhưng Liên Xô phớt lờ những yêu cầu này.
Trước khi về tiếp quản Thủ đô, cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong được nghe
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Người căn
dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước.” (19/9/1954) Đại biểu dự Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt phấn khởi chúc mừng
Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Mặt trận Liên
Việt (3/1951)
Trong tháng hai, năm 1947, người Pháp đưa các điều kiện để Hồ Chí
Minh đầu hàng vô điều kiện. Hồ thẳng thừng bác bỏ những, yêu cầu người
đại diện Pháp, "Nếu bạn ở vị trí của tôi, bạn sẽ chấp nhận họ chăng?... Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát". Tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh kêu gọi chính phủ Pháp và người Pháp: "Một
lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng nhân dân Việt Nam mong muốn
chỉ thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp, và chúng tôi cam kết
bảo đảm quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp..". Ngày 19 tháng 4 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp, đề nghị nối lại đàm phán trên cơ sở "hai nước anh em trong Liên hiệp Pháp, một liên hiệp của những người tự do, hiểu biết và yêu thương nhau". Trong khi đó, Thủ tướng Ramadier tuyên bố trong tháng 3 năm 1947, rằng: "Chúng
ta phải bảo vệ cuộc sống và tài sản của người Pháp, của người nước
ngoài, bạn bè ở Đông Dương của chúng ta có niềm tin vào tự do Pháp"
Nhưng
tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân
sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy Pháp
mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên "đàm
phán bằng mọi giá". Những người thân cận ông như Pierre Messmer và Paul
Mus
cũng thiên về chiều hướng đối thoại. Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp
chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch
liệt việc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước mà họ
chỉ gọi bằng cái tên Việt Minh, tổ chức nắm đa số trong chính phủ. Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám,
Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức
và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt
các điều kiện đòi quân đội Việt Nam hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa
bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát trận đánh mở màn của bộ đội ở Đông Khê trong Chiến dịch Biên Giới (1950
Theo tài liệu của Mỹ, rất sớm trong chiến tranh, Pháp đã tăng nỗi ám
ảnh về âm mưu của Cộng sản Việt Nam. D'Argenlieu đô đốc ở Sài Gòn kêu
gọi một chính sách quốc tế phối hợp để các cường quốc phương Tây chống
lại sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, bắt đầu với Việt Nam.
Trong Quốc hội thảo luận vào tháng 3 năm 1947, một đại biểu cánh hữu cáo
buộc rằng bạo lực tại Việt Nam đã được chỉ đạo từ Moskva: "Chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương là một phương tiện, cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc Liên Xô."
Cả chính phủ lẫn người dân Pháp chú ý tuyên bố tháng 1 năm 1947 của tướng Leclerc: "Chống chủ nghĩa cộng sản sẽ là một công cụ vô dụng chừng nào vấn đề của chủ nghĩa dân tộc còn chưa được giải quyết."
Về phần mình, Hồ Chí Minh đã ban hành kháng cáo lặp đi lặp lại để Pháp
ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi
Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui
về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự"...
Mùa
hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí
thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng
cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng
có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những
nơi mình lựa chọn. Quân chủ lực chính quy của Việt Nam tổ chức như quân
đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền
của Việt Nam. Quân đội và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức
lực lượng dân quân du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa
công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch.
Hoàn
thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên
Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, cuộc
hành quân Léa tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến
nhanh nhưng đã không định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của
đối phương. Lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhanh
chóng được phân tán, sử dụng du kích vận động chiến, bất thần phục kích,
đánh tiêu hao quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Pháp không đạt được
mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng cũng đã cắt được đường số 4 và
kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với
thế giới bên ngoài.
Đại biểu ba nước Đông Dương Việt – Miên – Lào (1952)
Cuộc chiến tranh du kích tại đồng
bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Ở mọi nơi, bộ đội Việt Nam vẫn tự do đi
lại, tuyển quân, thu thuế. Có những hội tề (chính quyền làng xã
trong vùng Pháp kiểm soát) được lập ra để che mắt Pháp nhưng hành động
theo Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi
đóng thuế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các đội du kích được thành lập
khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân
chủ lực giữ đồng bằng Bắc Bộ.
Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông
dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất
cho Việt Nam. Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về
chính trị, khi tướng Nguyễn Bình
- Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam tại Nam Bộ ra sách lược: Tổ chức lại
lực lượng vũ trang các giáo phái để biên chế chính quy thành Vệ quốc
đoàn. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất
là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích (Hòa Hảo cho rằng Việt
Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ) cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo đều
chấm dứt hợp tác với Việt Minh để tạm thời hợp tác với Pháp chống Việt
Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng hợp tác với Pháp
chống lại Việt Minh. Sau chiến dịch Léa,
xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn
công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng.
Nhưng cũng tại đồng bằng, lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phân tán thành các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung,
tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa
làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp.
Các cán bộ của chính quyền và mặt trận Việt Minh
vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng
này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men,
lương thực, vải vóc... cho Việt Nam. Tại các chiến khu, chính quyền
Việt Nam củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có
thể kháng chiến lâu dài. Lực lượng vũ trang và du kích đồng bằng
sông Hồng tổ chức các trận chiến quấy rối quân Pháp. Cuối chiến tranh,
quân địa phương và du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp trong vùng đồng
bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội phải tụ thành đoàn
lớn, nhiều xe tăng và lính bảo vệ mới đi thoát. Các đường bộ bị đào bới
ngăn cản xe cơ giới, đường sắt bóc hết gang thép làm vũ khí.
Hình ảnh giản dị của Hồ Chí Minh-một vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt
Nam, đã tạo nên biết bao nguồn cảm xúc cho các văn nghệ sĩ. Để rồi từ
đây, nhiều tác phẩm giá trị về nhiều mặt đã ra đời.
Nhà
thơ Tố Hữu thấy Hồ Chí Minh cưỡi ngựa đi giữa núi rừng chiến khu như
một ông tiên bèn viết bài thơ Việt Bắc, trong đó có đoạn:
"Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, dẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…"
Tại
miền Trung Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát từ Hội An đến
Mũi Đại Lãnh,
gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do
lực lượng chính trị và quân sự tại đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với
chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến
khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các
giáo phái người Việt như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Năm 1948, quân
Pháp tổ chức cuộc hành quân Véga nhằm phá hủy cơ quan đầu não kháng
chiến ở Nam Bộ và nhiều cuộc hành quân khác vào Đồng Tháp Mười nhưng đều
thất bại. Cuối năm 1949, quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền tướng
M. Carpentier mất quyền chủ động. Cho đến thời điểm này, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng kêu gọi Pháp hãy ngừng bắn và tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Ông viết:
"Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những
người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn
thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh
họ như anh em bầu bạn. Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những
người Pháp quân phiệt. Nói cho rõ hơn là: Cũng như những nước độc lập
khác cự tuyệt quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình, nhân dân Việt
Nam kiên quyết cự tuyệt quân đội Pháp đóng ở Việt Nam."
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập"
nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị
thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân,
nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở
châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản
viện trợ về tài chính và quân sự tại ATK Định Hóa..
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu
chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở
Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40
khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn
dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết
giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo,
24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio.
Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F
Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47
cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất
bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương
khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến
tranh của Pháp ở Đông Dương.
Về phía Pháp, chiếm được Hà Nội với tổn thất tương đối nhỏ (chừng vài trăm thương vong trên tổng số chừng 110.000 quân Pháp
có mặt tại Đông Dương vào đầu năm 1947) cũng là một chiến thắng. Quân
Pháp tin tưởng sau khi chiếm được Hà Nội, họ sẽ có thể dễ dàng và nhanh
chóng bình định được toàn bộ Việt Nam, nhưng cuộc chiến đã kéo dài 9
năm, kết thúc tại chiến trường Điện Biên Phủ với thất bại hoàn toàn của
người Pháp. Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh,
phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3
giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau
đúng như vậy.
Cầm
cự: bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19/12/1946 đến hết Chiến
dịch Việt Bắc. Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng chiến, cầm cự miền Nam,
miền Trung, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp, Toàn quốc kháng
chiến ở các tỉnh, Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản
lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc.
Phòng
ngự: sau chiến dịch Việt Bắc đến hết Chiến dịch Biên giới. Có các chiến
dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên
giới.
Phản
công: Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Đồng Bằng, Chiến dịch Hoàng Hoa
Thám, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Hòa Bình, Chiến dịch Thượng Lào, Kế
hoạch Navarre, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ,
Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương
(21/7/1954).
Ở
các vùng khác, Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công phối hợp đồng bộ từ
Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc Pháp phân tán
xé lẻ khối quân cơ động. Việt Minh tiến đánh Tây Bắc, Pháp không còn
lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục đông-xuân 1953-1954. Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre,
đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự,
Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi
là "Kế hoạch Navarre". Ngày
18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con én")
vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy
được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Lạng
Sơn,
quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền
thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ
trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1.
Bộ đội cùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc xẻ núi, làm đường vào trận địa.
Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954. Từ phải sang trái:
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp,
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trần Đăng Ninh, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng.
Tuyến đường goòng bắc qua sông ở Bồng Sơn (Bình Định)
để phục vụ kháng chiến chống Pháp
Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp
rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ
điểm Na Sản để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte
vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến
trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên
của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho
là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch Quân đội Nhân
dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là chiến
trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là sự suy đoán sai của
Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam. Ngày 12 tháng 4 năm 1953 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến quân sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược". Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor
đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược
chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam
sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là
một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển
và có tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị
tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp.
Bảo đảm hậu cần mở đầu Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954
Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn,
cách Hà Nội 200 dặm
đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau
những trận đánh nống thất bại, đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân
đội Nhân dân Việt Nam, Navarre cho rằng khi đó Quân đội Nhân dân Việt
Nam không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy
hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ. Khi
đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng
sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực
lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho
lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc
phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến
cục đông-xuân 1953-1954
để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các
vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý
tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong
tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh. Chiến
dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm
1954 đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam nắm giữ mảng lớn còn lại của
vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng
Trung và Nam Lào. Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp
khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở
vùng núi Tây Bắc hiểm trở đã hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến
nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ.
Bộ đội Đại đoàn 316 cùng lực lượng địa phương mở đường cơ động Tuần Giáo-Điện Biên Phủ trong Đông-Xuân 1953-1954.
Đại
tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4
sư đoàn với một số lượng lớn pháo
xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu
được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này đang
tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương
không cho Pháp tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng
không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Liên Xô
về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận
tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam bao vây quân
Pháp ở Điện Biên Phủ. Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày
13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu hàng. Ở Washington đã có
cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự,
nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này do chính
quyền Anh sẽ không ủng hộ. Cục diện chiến trường Đông Dương, tại
thời điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa kiểm soát khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ yếu là các vùng
nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành
phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố
lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt
Minh kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt
Nam, quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp chiếm ưu thế, quân đội
riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm
soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Máy bay Pháp ném bom napalm vào vị trí của Đại đoàn 320 trong Cuộc hành quân Mouette (Hải Âu)
Trận
Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần
thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai
Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), giữa Quân đội
Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và quân đội Liên hiệp Pháp (gồm lực lượng
viễn chinh Pháp, lê dương Pháp, phụ lực quân bản xứ và Quân đội Quốc gia
Việt Nam, tiền thân của quân ngụy Việt Nam Cộng Hòa sau này). Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp
1945 – 1954 của Việt Nam. Bằng thắng lợi quyết định này, lực lượng
QĐNDVN do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp tại Điện
Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1954, sau suốt 2 tháng chịu trận.
Giữa trận này, quân Pháp đã gia tăng lên đến 16.000 người nhưng vẫn
không thể chống nổi các đợt tấn công của QĐNDVN. Thực dân Pháp đã không
thể bình định Việt Nam bất chấp nhiều năm chiến đấu và sự hỗ trợ ngày
càng gia tăng của Hoa Kỳ, và họ đã không còn khả năng để tiếp tục ứng chiến sau thảm bại này.
Trên
phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân
đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng quân đội của một cường
quốc châu Âu bằng sức mạnh quân sự. Được xem là một thảm họa bất ngờ đối
với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương
Tây, đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc
nước này phải hòa đàm và rút ra khỏi Đông Dương, các thuộc địa của Pháp ở
Châu Phi được cổ vũ mạnh mẽ cũng đồng loạt nổi dậy. Chỉ riêng trong năm
1960, 17 nước châu Phi đã giành được độc lập và đến năm 1967, Pháp đã
buộc phải trao trả độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp. Qua
đó, đại thắng của QĐNDVN trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn được xem
là một thảm họa đánh dấu thất bại hoàn toàn của nước Pháp trong nỗ lực
tái gây dựng thuộc địa Đông Dương nói riêng và đế quốc thực dân của mình
nói chung sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, qua đó chấm
dứt thời đại hơn 400 năm của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển trên thế giới.
Chiếc mũ cối (ở đây là mũ thời Đệ nhị Đế chế Pháp) là một hình tượng đại diện cho chủ nghĩa thực dân.
Đến
cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, quân Pháp lâm
vào thế bị động trên chiến trường. Trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã thiết lập được quyền kiểm soát vững chắc tại nhiều khu
vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng... và nhiều khu
vực ở đồng bằng Bắc bộ. Nước Pháp hầu như không còn đủ sức chịu đựng
gánh nặng chiến tranh Đông Dương và đã phải cầu viện sự trợ giúp của Hoa
Kỳ. Kết quả là tới năm 1954, 80% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do
Hoa Kỳ chi trả. Tới năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên
tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện
trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa. Tổng cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn
tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân. Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều
có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình mà
không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Sự
phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Henri Navarre than phiền trong hồi ký: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm
được Tổng thống Dwight D. Eisenhower mời sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7,
Eisenhower quyết định dành 400 triệu đô la cho Đông Dương để "tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự".
Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và được
chấp nhận 385 triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông
Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp nhiều trang bị, vũ khí,
trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại.
Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gắn huy chương lên quân kỳ của trường Sĩ quan
trừ bị Thủ Đức. sau lưng ông là Tổng trưởng Quốc phòng Phan Huy Quát.
Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre
sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ
sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh. Kế hoạch của bộ chỉ
huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:
Bước thứ nhất: Thu Đông 1953 và Xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở
miền Bắc,
tập trung một lực lượng cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với
cuộc tiến công của Việt Minh; thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam
nhằm chiếm đóng 3 tỉnh ở đồng bằng Liên khu 5; đồng thời đẩy mạnh việc
mở rộng Quân đội Quốc gia Việt Nam (QGVN) và xây dựng một đội quân cơ
động lớn đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của Việt Minh.
Bước thứ hai: Từ Thu Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục
tiêu trên, sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên
chiến trường chính giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc Việt Minh phải
chấp nhận điều đình theo những điều kiện của Pháp, nếu khước từ, quân cơ
động chiến lược của Pháp sẽ tập trung mọi nỗ lực loại trừ chủ lực Việt
Minh.
Từ
hàng ngũ quân đội Pháp, Stefan Kubiak đã đứng trong hàng quân của Việt
Minh, chiến đấu như một người cộng sản. Với những đóng góp của mình vì
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, người lính lê dương đó
đã được vinh dự mang họ Bác Hồ.
Trong
ký ức của cựu chiến binh Điện Biên Phủ Nguyễn Xuân Tính (phường Trung
Đô, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) vẫn in đậm hình ảnh của một người lính
ngoại quốc cao lớn. Họ gặp nhau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ đang ở
giai đoạn ác liệt nhất. Qua sự “sửng sốt” ban đầu về một người lính “mắt
xanh, mũi lõ” trong hàng ngũ Bộ đội Cụ Hồ là sự ngưỡng mộ, kính phục
của người lính Việt Nam. Và họ đã gọi nhau bằng hai từ “đồng chí”.
Stefan Kubiak - Đại tá Hồ Chí Toán (Ảnh tư liệu).
Cựu
chiến binh Nguyễn Xuân Tính nhớ lại: “Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ vào
giai đoạn ác liệt nhất, tôi còn nhớ rất rõ, ngày đó, tôi được lệnh theo
đồng chí Toàn - Thủ trường đơn vị sang Đại đội Pháo binh. Trên trận địa
pháo, tôi quá đỗi ngạc nhiên khi thấy một người nước ngoài cao lớn trong
bộ trang phục Bộ đội Cụ Hồ. Ông đang say sưa tính toán các phương án,
cự ly trên tấm bản đồ tác chiến.
Như
đọc được sự ngạc nhiên trong mắt tôi, đồng chí Toàn kể sơ qua về người
lính Tây ở trong hàng ngũ của Bộ đội Cụ Hồ. Thì ra, đó là Stefan Kubiak,
một người dân Ba Lan, đã từng đứng “bên kia chiến tuyến”.
Sinh
ra ở Ba Lan, Stefan Kubiak lớn lên và bị cuốn vào cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất. Khi kết thúc chiến tranh, ông bị rơi vào tay quân Pháp và
bị cưỡng bức vào đội quân lê dương ngoại quốc rồi được đưa tới Việt
Nam. Người lính ấy đã được dạy cầm súng bắn vào những người "chống lại
sự khai phá văn minh của Pháp quốc".
Thế
nhưng, những ngày tháng cầm súng, người lính lê dương này nhận ra rằng
mình đang cố gắng tiêu diệt những người đang bảo vệ Tổ quốc của mình
trước sự xâm lăng của ngoại bang. Bằng tinh thần dũng cảm, gan dạ và
tình yêu đất nước, con người hồn hậu nơi đây, Stefan Kubiak đã rời bỏ
hàng ngũ những người lính lê dương để đứng vào hàng ngũ những người
chiến đấu vì chính nghĩa.
Để thực hiện kế hoạch này, người Pháp cho tiến hành xây dựng và tập
trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng lực lượng phụ lực quân (Forces suppletives) bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam,
càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng
Khu V, Navarre được chính phủ Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ.
Điều quan trọng hơn, Kế hoạch Navarre được Mỹ tán thành. Viện trợ của Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh của Pháp. Kế hoạch Navarre chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Edgar Faure
nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ Franc. Ở Hội
đồng Tham mưu trưởng cũng như Hội đồng Quốc phòng Mỹ,
người ta bàn nên bớt cho Navarre nhiệm vụ bảo vệ nước Lào đề ra trong
kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu, nhưng Pháp không muốn bỏ Lào. Thống chế
Alphonse Juin,
người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn mạnh: cần trao cho Bộ
Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào,
đồng thời lưu ý Liên Xô và Trung Quốc nguy cơ xung đột quốc tế có thể
diễn ra nếu Lào bị chiếm. Tướng Navarre xác nhận nếu QĐNDVN đánh Thượng
Lào
thì ông không thể đương đầu được, Navarre yêu cầu chính phủ ra chỉ thị
rõ rệt nếu trường hợp đó xảy ra. Điều đó liên quan mật thiết đến việc
xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau này.
dân công hỏa tuyến Đoàn xe thồ đi vào huyền thoại (ảnh tư liệu)
Trước mùa khô 1953-1954, so sánh lực lượng về quân số, Pháp đã vượt
lên khá xa. Tổng quân số của Pháp là 445.000 người, gồm 146.000 quân Âu
Phi (33%) và 299.000 quân Việt (67%). Tổng quân số của QĐNDVN là 252.000
người. Như vậy, quân Pháp đông hơn 193.000 người. Chỉ riêng lực lượng
phụ lực quân bản xứ do các sĩ quan Pháp chỉ huy cũng đã đông hơn 47.000
người. Lực lượng cụ thể 2 bên lúc này như sau: - Về bộ binh, Pháp có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu
đoàn; quân phụ lực bản xứ có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung
đoàn,
6 tiểu đoàn và 10 đại đội; quân phụ lực bản xứ có 1 trung đoàn và 7 đại
đội. Về không quân, Pháp có 580 máy bay; quân phụ lực bản xứ có 25 máy
bay thám thính và liên lạc. Về hải quân, Pháp có 391 tàu; quân phụ lực
bản xứ có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi. Lực lượng QĐNDVN vẫn đơn
thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung đoàn
và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, QĐNDVN có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn và 4
đại đội. Về phòng không, QĐNDVN có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn. - Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, QĐNDVN có tổng cộng 127 tiểu đoàn
so với 267 tiểu đoàn của Pháp. Biên chế tiểu đoàn của QĐNDVN là 635
người; biên chế tiểu đoàn Pháp từ 800 - 1.000 người. Về viện trợ, từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 6 năm 1954, Việt Minh nhận
được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn các loại, trị giá 34
triệu đôla. Giá trị này chỉ bằng 0,85% lượng viện trợ mà Mỹ cấp cho
Pháp. Pháp tuy có ưu thế vượt trội về binh lực, nhưng thế trận chiến tranh nhân dân
của QĐNDVN đã làm cho Pháp phải phân tán trên khắp các chiến trường.
Không những Pháp không thể tập trung toàn bộ ưu thế đó vào một trận đánh
quyết định, mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào
các đại đoàn chủ lực QĐNDVN trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn,
thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm nhiệm vụ chiếm đóng, chỉ còn 82
tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến thuật và chiến lược. Già nửa lực
lượng cơ động Pháp, 44 tiểu đoàn, phải tập trung trên miền Bắc để đối
phó với chủ lực QĐNDVN. Vào thời điểm này, nếu tính chung trên chiến
trường Bắc Bộ, lực lượng QĐNDVN mới bằng 2/3 lực lượng Pháp (76 tiểu
đoàn/112 tiểu đoàn), nhưng tính riêng lực lượng cơ động chiến lược, thì
lực lượng QĐNDVN đã vượt hơn về số tiểu đoàn (56/44).
Quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20/11/1953. Máy bay ném bom B-26 Invader do Mỹ viện trợ là loại máy bay ném bom chính của Pháp tại Điện Biên Phủ.
Xe tăng M24 Chaffee của Pháp do Mỹ viện trợ Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn." Theo đó QĐNDVN sẽ mở một loạt chiến dịch tại nhiều vùng để phân tán
binh lực địch, không cho quân Pháp co cụm tạo thành một lực lượng cơ
động đủ mạnh để xoay chuyển tình thế.
Trên chiến trường Bắc Bộ, sẽ mở cuộc tiến công lên hướng Tây
Bắc, tiêu diệt quân Pháp còn chiếm đóng Lai Châu, uy hiếp quân Pháp ở
Thượng Lào.
Hướng thứ hai, là Trung Lào.
Hướng
thứ ba, là Hạ Lào, đề nghị quân Pathet Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam
mở cuộc tiến công vào hai hướng này, nhằm tiêu diệt sinh lực địch và
giải phóng đất đai.
Hướng thứ tư, là bắc Tây Nguyên.
Vùng
tự do ba tỉnh Liên khu 5 sẽ là mục tiêu chính những cuộc tiến công đánh
chiếm của Pháp trong mùa khô này, cần chuẩn bị sẵn sàng đón đánh.
Hội
chứng Thượng Lào, trong đó có kinh đô Luông Phabăng, luôn luôn ám ảnh
Navarre. Nếu cả miền cực Bắc Đông Dương rơi vào quyền kiểm soát của Việt
Minh
sẽ là một nguy cơ lớn cho cuộc chiến tranh. Nó sẽ mang lại những ảnh
hưởng chính trị tai hại, vì nước Pháp bất lực trong việc bảo vệ các quốc
gia liên kết. Tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Bộ, nhiệt liệt tán đồng ý
kiến này. Điện Biên Phủ là một thung lũng phì nhiêu ở Tây Bắc Việt Nam. Dài
15 km, rộng 5 km, giữa thung lũng có sông Nậm Rốm chảy qua cánh đồng do
người Thái
cầy cấy. Một sân bay bỏ phế từ lâu, có từ thời Nhật, nằm dọc theo sông
Nậm Rốm về phía bắc lòng chảo. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 300 km về phía
tây, cách Lai Châu
80 km về phía nam. Xung quanh là núi đồi trập trùng bao quanh tứ phía,
rừng già khắp nơi làm chỗ ẩn náu dễ dàng cho quân du kích. Cũng như Lai
Châu và Nà Sản, Điện Biên Phủ là một điểm chiến lược bảo vệ tây bắc Lào
và thủ đô Vạn Tượng
(Luang Prabang). Tướng Cogny nhấn mạnh: Điện Biên Phủ là một căn cứ bộ
binh - không quân (base aéroterrestre) lý tưởng, là "chiếc chìa khoá"
của Thượng Lào. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền Tây Bắc Việt
Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân
chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh
sẽ bị nghiền nát tại đó.
Ngày 2 tháng 11 năm 1953, Navarre đã chỉ thị cho Cogny từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 11, chậm nhất là ngày 1 tháng 12,
phải đánh chiếm Điện Biên Phủ để thiết lập một điểm ngăn chặn bảo vệ
cho Thượng Lào. Cuộc hành binh đánh chiếm Điện Biên Phủ có bí danh là "Hải Ly"(Cuộc hành quân Castor), chỉ huy là tướng Jean Gilles. Ngày
20 tháng 11, lúc 11 giờ sáng, 63 chuyến máy bay C-47 Dakota thả 3.000
lính dù và chiến cụ xuống Điện Biên Phủ. Thiếu tá Marcel Bigeard và Tiểu
đoàn 6 Dù thuộc địa (6e BPC) nhảy xuống điểm DZ (dropping zone) Tây
Bắc, Thiếu tá Jean Bréchignac
và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Dù nhẹ số 1 (II/1er RCP) nhảy xuống điểm DZ
phía nam. Tiểu đoàn của Bigeard nhảy trúng khu vực có 1 tiểu đoàn QĐNDVN
đang tập dượt nên bị chống cự mãnh liệt. Máy bay Pháp phải yểm trợ đến 4
giờ chiều QĐNDVN mới rút lui với tổn thất vài chục người. Pháp thiệt
hại 16 người chết, 47 bị thương.
Có tổng cộng 34.931 dân công phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ (28.619 dân công đi bộ, 6.312 dân công đi cùng với xe đạp thồ) (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sự Quân sự Việt Nam)
Dân công hỏa tuyến với những chiếc xe đạp thồ góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại
Hai ngày sau, ngày 21 và 22 tháng 11, liên tiếp 3 tiểu đoàn Dù nữa
được thả xuống cùng với một đại đội pháo binh. Ngày 24 tháng 11,
phi đạo được sửa chữa xong, phi cơ lại đáp xuống được. Vậy là từ ngày
20 tới ngày 22 tháng 11 năm 1953, Pháp đã ném xuống cánh đồng Mường
Thanh 6 tiểu đoàn dù, khoảng 4.500 quân. Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Navarre đã quyết định "chấp nhận chiến đấu ở Điện Biên Phủ".
Phương Tây coi đây là một sự chuyển hướng có tính chiến lược của
Navarre, vì Điện Biên Phủ không nằm trong kế hoạch mùa khô 1953 - 1954.
Ngày 7 tháng 12, Đại táChristian de Castries
được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm, chuẩn bị đương
đầu với một cuộc tiến công. Có người hỏi Navarre vì sao lại trao quyền
chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá?
Navarre trả lời: "Cả tôi lẫn Cogny đều không trông lon mà xét người
nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định:
trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn
Castries". Ngày 15 tháng 12, lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tiếp tục tăng lên 11 tiểu đoàn. Ngày 24 tháng 12,
Navarre tới Điện Biên Phủ dự lễ Giáng sinh với quân đồn trú. Tại Điện
Biên Phủ, một tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện, chạy suốt chiều dài cánh
đồng Mường Thanh, hai bên bờ sông Nậm Rốm. Sau này có những ý kiến chỉ trích các tướng lĩnh Pháp đã "mắc một lỗi sơ đẳng"
khi thiết lập một căn cứ ở nơi quá xa xôi hẻo lánh, dễ bị bao vây cô
lập để rồi bại trận. Nhưng ở vào thời điểm đó, với những yêu cầu chiến
lược và chính trị của Pháp trong cuộc chiến (phải giữ bằng được Lào),
thì việc thiết lập này là yêu cầu tất yếu và không thể khác được, như
Navarre đã viết: "Có cần bảo vệ Lào hay không? Tôi thì chỉ còn một cách chấp nhận phương án chiến đấu ở Điện Biên Phủ."Hơn nữa, các chỉ huy Pháp tin rằng lợi thế công nghệ vượt trội và sự trợ
giúp của Mỹ sẽ giúp họ đánh bại được QĐNDVN vốn có trang bị thô sơ hơn
nhiều. Jean Pouget sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Navarre, viết: "...có
thể khẳng định là không một ai trong số hơn 50 chính khách, các tướng
lĩnh đã tới thăm Điện Biên Phủ, phát hiện được cái thế thua đã phơi bày
sẵn...". Tướng Navarre viết: "Theo ông de Chevigné vừa ở đó về 2-3 "thật là bất khả xâm phạm. Vả lại, họ không dám tiến công đâu.". Tướng Cogny thì tin tưởng: "Chúng ta đến đây là buộc Việt Minh phải giao chiến, không nên làm gì thêm để họ phải sợ mà lảng đi". Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Tới
lúc này, quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vẫn có thể mở một con đường rút
lui. Vì sao Navarre không làm điều đó khi thấy nguy cơ một trận đánh sẽ
xảy ra? Theo tôi, Navarre vẫn muốn Điện Biên Phủ sẽ làm vai trò "chiếc
nhọt tụ độc" trên miền Bắc.". Theo đó, Điện Biên Phủ ra đời nhằm thu
hút chủ lực QĐNDVN, tại đó Pháp sẽ dùng ưu thế hỏa lực vượt trội để
tiêu diệt. Nhưng thực ra, Navarre đã bị cuốn theo các hoạt động trong Chiến cục đông-xuân 1953-1954
của QĐNDVN mà ông không hề biết. Trận đánh xảy ra không bất ngờ mà nó
đã nằm trong dự tính của QĐNDVN về một thắng lợi quyết định để kết thúc
chiến tranh.
Pháo
cao xạ 37 ly của quân ta lần đầu tiên xuất trận trong chiến dịch Điện
Biên Phủ đã làm cho quân Pháp hết sức bất ngờ, bối rối và bị thiệt hại
đáng kể (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)
Hội nghị Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến
dịch tại Mường Phăng (Sở chỉ huy cuối cùng) hạ quyết tâm tiêu diệt Tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 22/4/1954....
Bộ đội kéo pháo vào lần 2 chuẩn bị tác chiến theo phương án "đánh chắc, tiến chắc"...
Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo “Đêm
tối, đường dốc, dây kéo pháo đứt, pháo lao nhanh xuống dốc. Trước cảnh
hiểm nghèo đó, anh hô anh em: “thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo”, và buông
tay lái xông lên trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo. Pháo
bị vướng nghiêng tựa vào bờ, nhờ đó đơn vị giữ được pháo không rơi xuống
vực.”
Ngày 22/4/1954, vị trí 206 bị quân đội ta tiêu diệt, quân địch còn sống sót giơ tay xin hàng. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Về phía Việt Nam, kể từ sau năm 1950 do nối thông
biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung
Quốc và Liên Xô, QĐNDVN đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại
đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm
đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố. Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam nhìn nhận trận
Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội
để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của
quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết
chiến chiến lược của QĐNDVN. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là
Đảng Cộng sản Việt Nam) đã hạ quyết tâm: "Tiêu
diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong
chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương." Thời gian hoạt động ở Tây Bắc sẽ chia làm hai đợt:
Đợt 1: Đại đoàn 316 tiến hành đánh Lai Châu
và kết thúc vào cuối tháng 1 năm 1954. Sau đó, bộ đội nghỉ ngơi, chấn
chỉnh một thời gian khoảng 20 ngày, tập trung đầy đủ lực lượng để đánh
Điện Biên Phủ.
Đợt 2: Tiến công Điện Biên Phủ. Thời gian đánh Điện Biên Phủ ước
tính 45 ngày. Nếu Pháp không tăng cường thêm nhiều quân, có thể rút ngắn
hơn. Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4 năm 1954. Phần lớn lực
lượng sau đó sẽ rút, một bộ phận ở lại tiếp tục phát triển sang Lào cùng
với bộ đội Lào uy hiếp Luông Pha Bang.
Trước trận đánh, về tương quan lực lượng:
Lực
lượng QĐNDVN tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ
binh (304, 308, 312, 316), 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo
binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng
cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được
tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công
pháo 351 (công binh – pháo binh). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh
chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch.
Thiếu tướng Đặng Kim Giang làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Ông Lê
Liêm làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch.
Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội
bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại
đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu - sau đợt 1
được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả
xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155 ly (4 khẩu), 2
đại đội súng cối 120 ly (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe
tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200
chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay
liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng). Lực lượng này gồm khoảng
16.200 quân.
Pháo binh là lực lượng không thể thiếu trong những trận đánh của chiến dịch.
Pháo lựu 105MM do Mỹ sản xuất viện trợ cho quân đội Pháp. Khẩu pháo được
quân đội Việt Nam thu giữ trong chiến dịch Biên giới 1950, sau đó được
Đại đội 806, Trung đoàn 45, Đại đoàn 351 sử dụng và bắn những quả đạn
đầu tiên vào cứ điểm Him Lam trong trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ
ngày 13/3/1954.
Hình ảnh bộ đội hò kéo pháo được tái hiện vô cùng sinh động. Đây
là khẩu pháo cao xạ 37mm của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383, Trung đoàn
367, Đại đoàn công pháo 351, đã bắn rơi chiếc máy bay trinh sát Monra
đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ ngày 14/3/1954.
Hình
ảnh “Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng” trở thành một trong những
tấm gương tiêu biểu trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Chiến tranh
Đông Dương.
Giá trị bảo vật quốc gia của khẩu pháo số hiệu
510681 gắn liền với sự kiện đêm 1/2/1954. Đại đội 827, Tiểu đoàn 394 của
Trung đoàn Cao xạ 367 khi ấy nhận nhiệm vụ đưa khẩu pháo này vượt qua
những con dốc dựng đứng. Tại Dốc Chuối - nỗi ám ảnh với độ dốc kinh
hoàng và những khúc cua tay áo nghẹt thở, dây tời pháo bất ngờ bị đứt.
khối thép nặng hơn 2 tấn có ngy cơ lao xuống vực sâu. Khẩu đội trưởng Tô
Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn bánh pháo và anh dũng hy sinh. Trong
suốt 56 ngày đêm "khoét núi ngủ hầm", khẩu pháo này đã cùng đơn vị
bắn rơi 3 máy bay địch, trong đó có một chiếc máy bay ném bom Helldiver
vốn là niềm tự hào của không quân Pháp.
Tổng cộng tất cả là 10 trung tâm đề
kháng được đặt theo tên phụ nữ Pháp:
Gabrielle (Bắc), Béatrice, Dominique (Đông), Eliane, Isabelle (Nam),
Junon, Claudine, Françoise (Tây), Huguette và Anne Marie. 10 trung tâm
đề kháng lại chia ra thành 49 cứ điểm phòng thủ kiên cố liên hoàn trang
bị hỏa lực mạnh yểm trợ lẫn nhau; có 2 sân bay: Mường Thanh và Hồng Cúm
để lập cầu hàng không. Tổng công quân Pháp ban đầu có hơn 10.800 quân,
cùng với đó là 2.150 lính phụ lực bản xứ và QGVN. Trong trận đánh có
thêm hơn 4.300 lính (trong đó có 1.901 lính phụ lực bản xứ) được tiếp
viện cho lòng chảo. Đại tá Christian de Castries (trong thời gian chiến
dịch được thăng hàm Chuẩn tướng) là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm. Hỏa
lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ: một ở Mường Thanh, một ở
Hồng Cúm,
có thể yểm trợ lẫn cho nhau, và cho tất cả các cứ điểm khác mới khi bị
tiến công. Ngoài hỏa lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi trung tâm đề
kháng còn có hỏa lực riêng, bao gồm nhiều súng cối các cỡ, súng phun
lửa, và các loại súng bắn thẳng bố trí thành hệ thống vừa tự bảo vệ, vừa
yểm hộ cho những cứ điểm chung quanh. Hỗ trợ cho Điện Biên Phủ là
lực lượng không quân Liên hiệp Pháp, và không quân dân sự Mỹ. Tổng cộng
Pháp huy động 100 máy bay C-47 Dakota, cộng thêm 16 máy bay C-119 của
Mỹ. Máy bay ném bom gồm 48 chiếc B-26 Invader, 8 oanh tạc cơ Privater.
Máy bay cường kích gồm 227 chiếc F6F Hellcat, F8F Bearcat và F4U
Corsair. Điện Biên Phủ có hai sân bay. Sân bay chính ở Mường Thanh, và
sân bay dự bị ở Hồng Cúm, nối liền với Hà Nội, Hải Phòng
bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiến máy
bay vận tải tiếp tế khoảng 200 - 300 tấn hàng, và thả dù khoảng 100 -
150 tấn. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm ba phân khu yểm hộ lẫn nhau. Mỗi cứ
điểm đều có khả năng phòng ngự độc lập. Nhiều cứ điểm được tổ chức lại
thành cụm cứ điểm, gọi là "trung tâm đề kháng theo kiểu phức hợp",
có lực lượng cơ động, hỏa lực riêng, hệ thống công sự vững chắc, chung
quanh là hào giao thông và hàng rào dây kẽm gai,
khả năng phòng ngự khá mạnh. Mỗi một phân khu gồm nhiều trung tâm đề
kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng, cũng như toàn bộ tập đoàn
cứ điểm, đều có hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, chịu được đạn
pháo 105mm. Hệ thống công sự phụ (hàng rào, bãi dây thép gai, bãi mìn)
dày đặc, hệ thống hỏa lực rất mạnh. Pháp đã rải xuống hàng ngàn km dây kẽm gai,
chôn hàng vạn các loại mìn: mìn phát sáng, mìn sát thương, mìn cóc
nhảy, mìn chứa xăng khô napalm để thiêu cháy hàng loạt bộ binh... Phương
tiện chống đạn khói, máy hồng ngoại tuyến bắn đêm, áo chống đạn, súng
phóng lựu hiện đại nhất cũng được cung cấp.
Liên
tiếp thất bại trước mục tiêu quay lại xâm lược Việt Nam, cuối năm 1953,
Pháp chọn Điện Biên Phủ để làm đồn trú. Pháp cho tiến hành xây dựng và
tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình
định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V.,
Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ
Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh. Tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ được ra đời án ngữ miền Tây Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông
với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn
công. Theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
(Trong ảnh là Phó tổng thống Mỹ Ních-xơn kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ tháng 1/1954).
Pháp
tập trung xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một
“Pháo đài không thể công phá”, nhằm thu hút lực lượng của ta vào đây để
tiêu diệt. Điện Biên Phủ trở thành khâu chính, là trung tâm của kế hoạch
quân sự Na Va. (Trong ảnh là Trung tướng O Danien - Chủ tịch hội đồng
cố vấn của Mỹ ở Đông Dương kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ tháng
3/1954).
Điện
Biên Phủ được Pháp xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông
Dương, gồm các tiểu đoàn bộ binh và quân dù thiện chiến nhất của Pháp,
có hỏa lực mạnh của pháo, xe tăng và không quân chi viện, kết hợp với hệ
thống công sự và chiến hào vững chắc, với lưới thép gai và lưới mìn dày
đặc.
Hầm súng 12,7mm của Pháp.
Theo đánh giá thì khu trung tâm tập đoàn cứ điểm chỉ rộng khoảng 2,5 km
vuông đã có tới 12 khẩu 105mm, 4 khẩu 155mm, 24 khẩu cối 120 và 81mm và
một số dự trữ đạn dược đồ sộ (tương đương từ 6 đến 9 cơ số đạn trước
trận đánh, hơn 10 vạn viên) là quá mạnh. Navarre đã viết trong hồi ký: "Tất
cả đều có những cảm tưởng thuận lợi trước sức mạnh phòng thủ của tập
đoàn cứ điểm và tinh thần tốt của đạo quân đóng ở đây. Không một ai mảy
may tỏ ý lo ngại... Chưa có một quan chức dân sự hoặc quân sự nào đến
thăm (bộ trưởng Pháp và nước ngoài, những tham mưu trưởng của Pháp,
những tướng lĩnh Mỹ) mà không kinh ngạc trước sự hùng mạnh của nó cũng
như không bày tỏ với tôi tình cảm của họ". Về phía QĐNDVN, tuy có quân số đông đảo hơn nhiều đối phương nhưng
chưa có kinh nghiệm đánh công kiên lớn trên cấp tiểu đoàn. Theo lý
thuyết quân sự "Ba tấn một thủ", bên tấn công phải mạnh hơn bên
phòng thủ ít nhất là 3 lần cả về quân số lẫn hỏa lực thì mới là cân bằng
lực lượng. Về quân số, QĐNDVN chỉ vừa đạt tỉ lệ này, nhưng về hỏa lực
và trang bị thì lại kém hơn hẳn so với Pháp. Như các cuộc chiến tranh
trước đó đã cho thấy, một nhóm nhỏ quân phòng thủ trong công sự kiên cố
trên cao, sử dụng hỏa lực mạnh như đại liên có thể chặn đứng và gây
thương vong nặng nề cho lực lượng tấn công đông hơn nhiều lần. Tiêu biểu
như trận Iwo Jima,
quân Mỹ dù áp đảo 5 lần về quân số và hàng chục lần về hỏa lực nhưng
vẫn bị quân Nhật phòng thủ trong các lô cốt gây thương vong nặng nề. Trong từng trận đánh cụ thể, việc tiếp cận đồn Pháp cũng không dễ
dàng. Khi Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20 tháng 11 năm 1953,
một trong những công việc đầu tiên của họ là san phẳng mọi chướng ngại
vật trong thung lũng, để tạo điều kiện tối đa cho tầm nhìn và tầm tác xạ
của các loại hoả lực, tiếp đó là để lấy nguyên vật liệu nhằm xây dựng
tập đoàn cứ điểm. Hàng nghìn dân vốn sống ở trung tâm Điện Biên Phủ được
dồn vào khu vực bản Noong Nhai. Hơn nữa, các loại hỏa lực như xe tăng,
lựu pháo, súng cối, súng phóng lựu, DKZ
v...v... không bao giờ ngồi yên. Để có thể xung phong tiếp cận hàng
rào, bộ đội Việt Nam phải chạy khoảng 200 m giữa địa hình trống trải dày
đặc dây kẽm gai và bãi mìn, phơi mình trước hỏa lực Pháp mà không hề có
xe thiết giáp và chướng ngại vật che chắn. Chỉ huy Pháp tự tin rằng,
nếu QĐNDVN chỉ biết học theo Chiến thuật biển người mà Trung Quốc áp
dụng ở Triều Tiên, thì quân tấn công dù đông đảo tới đâu cũng sẽ bị bom,
pháo và đại liên Pháp tiêu diệt nhanh chóng. Và đặc biệt khó khăn lớn nhất của QĐNDVN là khâu tiếp tế hậu cần.
Phía Pháp cho rằng QĐNDVN không thể đưa pháo lớn (cỡ 105mm trở lên) vào
Điện Biên Phủ, các khó khăn hậu cần của QĐNDVN là không thể khắc phục
nổi nhất là khi mùa mưa
đến. Navarre lý luận rằng Điện Biên Phủ ở xa hậu cứ Việt Minh
300–400 km, qua rừng rậm, núi cao, QĐNDVN không thể tiếp tế nổi lương
thực, đạn dược cho 4 đại đoàn
được, giỏi lắm chỉ một tuần lễ là QĐNDVN sẽ phải rút lui vì cạn tiếp
tế. Trái lại quân Pháp sẽ được tiếp tế bằng máy bay, trừ khi sân bay bị
phá hủy do đại bác của QĐNDVN. Navarre cho rằng trường hợp này khó có
thể xảy ra vì sân bay ở quá tầm trọng pháo 105 ly của QĐNDVN, và dù
QĐNDVN mang được pháo tới gần thì tức khắc sẽ bị máy bay và trọng pháo
Pháp hủy diệt ngay. Vì các lý do trên, khi thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, các
tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã đánh giá sai khả năng của đối phương và đều tự
tin cho rằng Điện Biên Phủ là "pháo đài bất khả chiến bại", là "cái bẫy để nghiền nát chủ lực Việt Minh". Nếu QĐNDVN tấn công sẽ chỉ chuốc lấy thảm bại
Tướng Cogny đã trả lời phỏng vấn rằng: "Chúng ta đã có một hỏa lực
mạnh đủ sức quét sạch đối phương đông gấp 4-6 lần… Tôi sẽ làm tất cả để
bắt tướng Giáp phải "ăn bụi" và chừa cái thói muốn đóng vai một nhà
chiến lược lớn". Tướng Navarre nhận xét: "Làm cho Việt Minh tiến
xuống khu lòng chảo! Đó là mơ ước của đại tá Castries và toàn ban tham
mưu. Họ mà xuống là chết với chúng ta... Và cuối cùng, chúng ta có được
cái mà chúng ta đang cần: đó là mục tiêu, một mục tiêu tập trung mà
chúng ta có thể " quất cho tơi bời". Charles Piroth, chỉ huy pháo binh thì tự đắc: "Trọng
pháo thì ở đây tôi đã có đủ rồi… Nếu tôi được biết trước 30 phút, tôi
sẽ phản pháo rất kết quả. Việt Minh không thể nào đưa được pháo đến tận
đây; nếu họ đến, chúng tôi sẽ đè bẹp ngay... và ngay cả khi họ tìm được
cách đến, tiếp tục bắn, họ cũng không có khả năng tiếp tế đầy đủ đạn
dược để gây khó khăn thật sự cho chúng tôi!" Pierre Schoenderffer, phóng viên mặt trận của Pháp, nhớ rõ câu trả lời của Piroth: "Thưa tướng quân, không có khẩu đại bác nào của Việt Minh bắn được 3 phát mà không bị pháo binh của chúng ta tiêu diệt!".
Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam làm việc với Tổng cục Cung cấp
tính toán bước đầu, phải huy động cho chiến dịch 4.200 tấn gạo (chưa kể
gạo cho dân công), 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn
đường. Tất cả đều phải vận chuyển qua chặng đường dài 500 km phần lớn là
đèo dốc hiểm trở, máy bay Pháp thường xuyên đánh phá. Theo kinh nghiệm
vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc
(năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy nếu
cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên
phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn, và phải huy động gần 2 triệu
dân công để gánh. Cả hai con số này đều cao gấp nhiều lần so với kế
hoạch dự kiến ban đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị
và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp quyết đoán. Một mặt động viên
nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh
làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ
như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... nhằm giảm đến mức tối đa lượng
lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.
Henri Eugène Navarre
(31/7/1898-26/9/1983) là một tướng quân đội Pháp từng tham gia chiến đấu
trong Chiến tranh thế giới I, Chiến tranh thế giới II và là Tổng chỉ
huy quân đội Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ.
Báo chí nước ngoài từng ca ngợi Navarre như một danh tướng có thể “uốn nắn lại tình hình Đông Dương…”
Henri Navarre sinh trưởng trong một gia
đình nhiều đời làm Chưởng lý quan tòa và luật sư vùng Normandie, Pháp.
Khi tham gia quân đội Pháp Navarre từng phục vụ ở Đội kỵ binh Saint
Germain số 16, chỉ huy đội kỵ binh Maroc số 3. Trong Thế chiến lần thứ
II, Navarre chỉ huy sư đoàn Constantine ở Algeria (Bắc Phi). Khi sang
làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Navarre là tướng
4 sao, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương (NATO). Báo
chí nước ngoài từng ca ngợi Navarre như một danh tướng có thể “uốn nắn
lại tình hình Đông Dương…”
Ngày 07/5/1953, Tướng Henri Navarre được
cử sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Trong lúc quân đội
Pháp ngày càng lún sâu và bế tắc và thất bại ở Tây Bắc và Thượng Lào
(1952, 1953), khi nhận chức, vị tướng quân đội Pháp đã tuyên bố đầy tự
tin: “Bây giờ chúng ta có thể nhìn thấy rõ chiến thắng (ở Việt Nam)
giống như nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm”.
Navarre quyết định chọn Điện Biên Phủ là
căn cứ điểm phòng ngự chiến lược, mạnh nhất Đông Dương khi đó, với ý đồ
chặn đường tiếp tế của Việt Minh đi qua Lào đồng thời thực hiện chiến
lược tập trung dồn lực lượng theo kiểu “con nhím” khiến kẻ thù khi tấn
công sẽ bị tiêu hao sinh lực và thất bại. Navarre tính toán rằng để
chiếm lại tuyến đường tiếp tế này, Tướng Giáp sẽ phải tiến hành một cuộc
tấn công qui mô lớn vào Điện Biên Phủ, tổ chức chiến tranh kiểu truyền
thống và khi đó quân đội Pháp sẽ có lợi thế.
Tổng
cộng trong thời gian tiến hành chiến dịch, Việt Minh đã huy động được
hơn 26 vạn dân công từ các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên
khu 4…,
20.911 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng, đóng góp cho chiến dịch 25.000 tấn
lương thực. Trừ số tiêu hao dọc đường, số tới được mặt trận để cung cấp
cho quân đội là 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62 tấn đường, 577 tấn
thịt, 565 tấn lương khô. Ngoài ra, từ Thanh Hóa, Hòa Bình, Vĩnh Yên,
Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ…
cũng đã huy động được hơn 7.000 xe cút kít, 1.800 xe trâu, 325 xe ngựa,
hàng chục ngàn xe đạp thồ để phục vụ hậu cần chiến dịch. Ngoài
ra, Pháp cũng đã đánh giá sai khả năng pháo binh của QĐNDVN khi
cho rằng đối phương vốn không có xe cơ giới nên không thể mang pháo lớn
(lựu pháo 105 mm và pháo phòng không 37 mm) vào Điện Biên Phủ mà chỉ có
thể mang loại pháo nhẹ là sơn pháo
75 mm trợ chiến mà thôi. Đối lại, những người lính QĐNDVN đã khôn khéo
tháo rời các khẩu pháo rồi dùng sức người để kéo, sau khi đến đích thì
ráp lại. Bằng cách đó họ đã đưa được lựu pháo 105 mm lên bố trí trong
các hầm pháo có nắp khoét sâu vào các sườn núi, xây dựng thành các trận
địa pháo rất nguy hiểm và lợi hại, từ trên cao có khả năng khống chế rất
tốt lòng chảo Điện Biên Phủ mà lại rất an toàn trước pháo binh và máy
bay đối phương. Với thế trận hỏa lực này, các khẩu pháo của QĐNDVN chỉ
cách mục tiêu 5–7 km, chỉ bằng một nửa tầm bắn tối đa để bắn chính xác
hơn, ít tốn đạn và sức công phá cao hơn, thực hiện được nguyên tắc "phân tán hỏa khí, tập trung hỏa lực", từ nhiều hướng bắn vào một trung tâm, ngược lại pháo binh Pháp lại bố trí ở trung tâm, phơi mình trên trận địa. Mặc dù vậy, việc sử dụng đạn pháo 105mm của QĐNDVN trong chiến dịch
rất tiết kiệm. Trước mỗi trận đánh có hiệp đồng binh chủng, số lượng đạn
pháo đều phải được duyệt trước. Ngoài ra, các trung đoàn, đại đoàn
muốn xin pháo chi viện thì cứ 3 viên phải được phép của Tham mưu trưởng
chiến dịch, 5 viên trở lên phải được đích thân Tổng tư lệnh duyệt. Bởi
với dự trữ chỉ có hơn 15.000 viên, nếu bắn cấp tập theo kiểu "không tiếc đạn" như Pháp thì các khẩu pháo sẽ hết đạn chỉ sau vài ngày. Bên cạnh đó, các chỉ huy pháo binh QĐNDVN còn lập trận địa nghi binh –
dùng gỗ thui đen thành khẩu pháo giả, nghếch nòng lên, khi trận địa
thật phát hỏa thì chiến sĩ phụ trách nghi binh từ trong công sự, ném bộc
phá, tung lên không trung, làm cho 80% bom đạn của Pháp dùng phản pháo
đã dồn vào đánh trận địa giả, đồng thời bảo vệ được những trọng pháo quý
giá của mình. Suốt chiến dịch, pháo binh QĐNDVN chỉ hỏng một pháo
105mm. Đây là một nguyên nhân làm cho pháo binh Pháp dù có các thiết bị
phản pháo hiện đại vẫn bị thất bại. Tướng Võ Nguyên Giáp về sau nhận xét: "Thực
tế kinh nghiệm này của chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành truyền
thống chiến đấu dùng thô sơ đánh hiện đại của quân đội ta trong suốt
chiều dài chống Mỹ cứu nước.". Còn tướng Paul Ély, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp khi diễn ra trận Điện Biên Phủ nhận định: "Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và một lòng tin."Ngày
14 tháng 1
năm 1954 tại hang Thẩm Púa, tướng Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch phổ
biến lệnh tác chiến bí mật với phương án "đánh nhanh thắng nhanh" và
ngày nổ súng dự định là 20 tháng 1. Nhiệm vụ thọc sâu giao cho Đại đoàn
308,
đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ. Đại đoàn 308 sẽ đánh vào tập đoàn cứ
điểm từ hướng tây, xuyên qua những vị trí nằm trên cánh đồng, thọc thẳng
tới sở chỉ huy của de Castries. Các đại đoàn 312, 316
nhận nhiệm vụ, đột kích vào hướng Đông, nơi có những cao điểm trọng
yếu. Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm
bằng tiến công ồ ạt đồng loạt, thọc sâu, đã được Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam, Quân ủy Trung ương cùng Bộ Tổng tham mưu phê duyệt với sự
nhất trí của đoàn cố vấn quân sự trung ương Trung Quốc, bởi đánh sớm
khi Pháp chưa tập trung đủ lực lượng và củng cố công sự thì có nhiều khả
năng giành chiến thắng.
Tướng De Castries trong hầm ẩn nấp tại Điện Biên Phủ
Ngày 7/12/1953, Đại tá Christian de
Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm, chuẩn
bị đương đầu với một cuộc tiến công. Có người hỏi Navarre vì sao lại
trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một
đại tá? Navarre trả lời: "Cả tôi lẫn Cogny đều không trông lon mà xét
người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng
định: Trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn
Castries".
Tuy nhiên, tài điều quân linh hoạt và
sáng suốt của Tướng Giáp trong trận đánh Điện Biên Phủ đã khiến Tướng De
Castries phải thốt lên rằng: “Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không
biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị
cao cấp nào”.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954,
ngay sát giờ nổ súng, Tướng Giáp đã hạ lệnh rút hết quân đội, pháo binh
ra khỏi vị trí, lùi thời điểm tiến đánh, chuyển từ “đánh nhanh thắng
nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Đây chính là yếu buộc quân đội Pháp tại
Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5/1954 sau 2 tháng chịu trận. Dù
triển khai tới 16.000 binh sĩ nhưng quân đội Pháp vẫn không thể chống đỡ
trước các cuộc tấn công dồn dập của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thậm
chí, sau nhiều năm chiến đấu tại Việt Nam và nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ
từ phía Mỹ, quân đội Pháp vẫn không thể tiếp tục ứng chiến sau thất bại
Điện Biên Phủ.
“Ông chỉ huy những chiến dịch tưởng chừng
không thể thắng, đưa ra những quyết định mà có lẽ không một vị tướng
nào dám thực hiện. Đặc biệt, Tướng Giáp rất giỏi khi tổ chức, bố trí
những trận đánh du kích lấy ít địch nhiều”, Tướng De Castries nhận định.
Do một đơn vị trọng pháo QĐNDVN vào trận địa chậm nên ngày nổ súng
được quyết định lùi lại thêm 5 ngày đến 17 giờ ngày 25 tháng 1. Sau đó,
do tin về ngày nổ súng bị lộ, Pháp biết được, Bộ chỉ huy chiến dịch
quyết định hoãn lại 24 giờ, chuyển sang 26 tháng 1. Ngày và đêm 25 tháng 1, tướng Giáp suy nghĩ và quyết định phải cho lui quân do ba khó khăn rõ rệt:
Bộ
đội chủ lực cho đến thời điểm đó chưa thành công trong việc đánh các
công sự nằm liên hoàn trong một cứ điểm. Ví dụ tại trận Nà Sản bộ đội đã
không thành công, và bị thương vong nhiều.
Trận này là một trận đánh hiệp đồng lớn, nhưng pháo binh và bộ binh chưa qua tập luyện, chưa qua diễn tập.
QĐNDVN từ trước chỉ quen tác chiến ban đêm ở những địa hình dễ ẩn
náu, chưa có kinh nghiệm tấn công đồn ban ngày trên địa hình bằng phẳng,
nhất là với một đối phương có ưu thế tập trung máy bay, pháo binh, xe tăng chi viện.
Tướng Giáp cho rằng phương án "Đánh nhanh thắng nhanh" mang
nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên không thể đảm
bảo chắc thắng. Ông kiên quyết tổ chức lại trận đánh theo phương án "Đánh chắc, tiến chắc", đánh dài ngày theo kiểu "bóc vỏ" dần tập đoàn cứ điểm. Cuộc họp Đảng ủy, Bộ chỉ huy QĐNDVN sáng 26 tháng 1
không đi đến được ý kiến thống nhất tuy không ai tin rằng trận này sẽ
chắc thắng. Tuy nhiên, tướng Giáp quyết định hoãn cuộc tấn công chiều
hôm đó. Ông kết luận: Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc
thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng
nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công.
Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo
ra. Trong vòng gần 2 tháng sau đó, pháo được kéo ra, QĐNDVN tiếp tục đánh
nghi binh, mở đường rộng hơn, dài hơn chung quanh núi rừng Điện Biên
Phủ, rồi lại kéo pháo vào, xây dựng công sự kiên cố hơn, hào được đào
sâu hơn, tiếp cận gần hơn căn cứ của quân Pháp, lương thảo, vũ khí từ
hậu phương dồn lên cho mặt trận nhiều hơn. Tất cả chuẩn bị cho trận đánh
dài ngày, có thể sang đến cả mùa mưa. Về chiến thuật tác chiến bộ binh, từ những kinh nghiệm thu được ở Hòa Bình, Nà Sản,
Bộ chỉ huy QĐNDVN chủ trương tiêu diệt dần từng trung tâm đề kháng,
từng cứ điểm từ ngoài vào trong, thu hẹp phạm vi chiếm đóng cho tới lúc
Pháp không còn sức kháng cự. Không sử dụng lối đánh xung phong trực diện
mà dùng cách đánh vây lấn, đào hào áp sát cứ điểm địch. Cách đánh này
cần một thời gian chuẩn bị và chiến đấu dài ngày, thường gọi là "Đánh chắc Tiến chắc", cũng còn được gọi là "đánh bóc vỏ".
Bộ binh được đường hào che chắn và có được vị trí tiến công gần nhất có
thể, sẽ hạn chế tối đa thương vong khi tấn công.Sau này, tướng Giáp cho
rằng đây là quyết định khó khăn nhất trong
đời cầm quân của mình. Việc điều chỉnh phương châm tác chiến này kéo
theo việc phải chuẩn bị lại hậu cần cho chiến dịch, nhu cầu hậu cần sẽ
tăng lên gấp nhiều lần, diễn ra trong mùa mưa và phải bố trí lại sơ đồ
các trận địa pháo, phải kéo pháo ra khỏi các sườn núi rồi kéo lại vào
các vị trí mới. QĐNDVN đã quyết tâm thực hiện và đã thực hiện được với
một nỗ lực rất lớn.
Sau này khi tổng kết về chiến thắng của QĐNDVN tại Điện Biên Phủ, các
tướng lĩnh và các nhà nghiên cứu của hai bên đều thống nhất được với
nhau: một nguyên nhân chính làm nên chiến thắng của QĐNDVN tại trận đánh
này là đã huy động được rất lớn nguồn sức người để đảm bảo hậu cần cho
chiến dịch, một việc mà Pháp cho rằng không thể giải quyết được. Trong
hồi ký Navarre cũng khẳng định: "Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng
25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng
không may cho chúng ta, ông ta đã nhận ra điều đó và đây là một trong
những lý do khiến ông ta tạm ngưng tiến công.".Phát hiện lực
lượng lớn của QĐNDVN đang tiến về lòng chảo Điện Biên, de
Castries liên tục tung lực lượng giải tỏa các ngọn đồi. Theo Benard Fall
thì từ ngày 6 tháng 12 năm 1953 đến 13 tháng 3 năm 1954, de Castries đã
huy động một nửa lực lượng của tập đoàn cứ điểm vào những cuộc hành
binh giải tỏa: "Theo những bản kê mới nhất từ Điện Biên Phủ gửi về, thiệt hại của binh đoàn đồn trú từ 20 tháng 11 đến 15 tháng 2
đã lên tổng số 32 sĩ quan, 96 hạ sĩ quan và 836 binh lính, tương đương
với 10% số sĩ quan và hạ sĩ quan và 8% binh lính ở thung lũng. Nói cách
khác, số tổn thất của người Pháp tương đương với một tiểu đoàn bộ binh
nhưng số sĩ quan là của hai tiểu đoàn. Trong tổng số này còn chưa tính
đến số thiệt hại của các đơn vị trong cuộc hành binh Pollux". Xuất thân là thầy giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành chính trị
gia, tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là
biểu tượng của nhiều thế hệ người dân về ý chí kiên cường và niềm tự hào
dân tộc.
Con đường đi tới thành công của đại tướng cũng gắn với những tuyên ngôn
bất hủ không chỉ trong lúc điều binh, khiển tướng mà ngay cả khi ông đã
về với đời thường, con người ông vẫn toát lên trách nhiệm của một người
chỉ huy tài ba. Cùng điểm lại một vài câu nói bất hủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để
hiểu hơn về lòng yêu nước, sự nhiệt huyết luôn cháy rực trong con người
anh hùng này. "... Giải phóng dân tộc là nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước..."
Navarre đã viết trong cuốn hồi ký của mình:"Trong thời gian này, đại
tá Castries thực hành những trận chiến đấu mạnh mẽ có tính thăm dò xung
quanh Điện Biên Phủ. Ở khắp nơi, quân Pháp đều vấp phải những đơn vị bộ
đội vững vàng và phòng ngự rất giỏi của địch. Chúng ta bị thiệt hại khá
nặng nề. Rõ ràng là vòng vây chung quanh tập đoàn cứ điểm không hề bị
rạn nứt" Ngày 11 tháng 3 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới các chiến sĩ: "Các
chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng
rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa
qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang
sắp tới... Chúc các chú thắng to!" Cùng ngày, lệnh động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ mở cuộc tiến công
vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được gửi tới các đơn vị: "Chiến
dịch Điện Biên Phủ sắp bắt đầu! Đây là chiến dịch công kiên quy mô lớn
nhất trong lịch sử quân đội ta... Đánh thắng ở Điện Biên Phủ, chúng ta
sẽ phá tan kế hoạch Nava, giáng một đòn chí tử vào âm mưu mở rộng chiến
tranh của bọn đế quốc Pháp - Mỹ. Chiến dịch thắng lợi sẽ có ảnh hưởng
vang dội trong nước và ngoài nước, sẽ là một cống hiến xứng đáng vào
phong trào hòa bình thế giới đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt - Miên -
Lào... Giờ ra trận đã đến! Tất cả các cán bộ và chiến sĩ, tất cả các đơn
vị, tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên, thi đua lập công, giật
lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của Hồ Chủ tịch". Chiến dịch diễn ra trong 56 ngày đêm nhưng các trận đánh không diễn
ra liên tục, vì QĐNDVN có khó khăn trong hậu cần nên không thể tiến công
liên tục mà chia thành các đợt tiến công. Sau mỗi đợt lại tổ chức lại
quân số, bổ sung hậu cần.
Lúc 17 giờ 05 phút chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, lực lượng QĐNDVN chính thức nổ súng... Chiến dịch được tiến hành làm ba đợt. Đợt 1 từ 13 tháng 3 đến 17 tháng 3, QĐNDVN tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Các đơn vị được bố trí như sau: Đại đoàn 312 (thiếu trung đoàn 165)
tiến công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam. Trung đoàn 165 (312) và
trung đoàn 88 (đại đoàn 308) tiêu diệt trung tâm đề kháng đồi Độc Lập.
Trung đoàn 36 (308) tiêu diệt trung tâm đề kháng Bản Kéo. Trung đoàn 57
(đại đoàn 304) kiềm chế pháo binh đối phương ở Hồng Cúm.
Những chỉ huy quân Pháp tại Điện Biên Phủ, năm 1954. Ảnh tư liệu
Tướng De Castries và các tướng lĩnh sĩ quan pháp bàn luận kế hoạch xây dựng chốt giữ cứ điểm Điện Biên Phủ
Tướng René Cogny (người cầm gậy), Christian de Castries (không đội mũ), và tướng Henri Navarre (giữa).
Để bảo đảm nguyên tắc "trận đầu phải thắng", tham mưu đã bố trí một
lực lượng mạnh hơn quân Pháp gấp 3 lần, nếu kể cả lực lượng dự phòng,
gấp 5 lần, có kế hoạch phòng pháo, phòng không, chống phản kích, dự kiến
các tình huống cơ bản và cách xử lý trong quá trình diễn biến chiến
đấu. Công tác kiểm tra được thực hiện tỉ mỉ. Chỉ sau năm ngày chiến đấu, cánh cửa phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ đã mở toang. Lực lượng phản kích Pháp không thể giành lại những
vị trí đã mất, đặc biệt chỗ dựa của tập đoàn cứ điểm là sân bay đã bị
uy hiếp nghiêm trọng. Ngày 20/3/1954, Tổng tham mưu trưởng Pháp - Ely,
được phái sang Mỹ cầu viện. Ely phát biểu công khai: "Pháp không thể thắng được với phương tiện hiện có trong tay" và yêu cầu Mỹ tăng cường giúp đỡ vũ khí, đặc biệt là máy bay ném bom B-26, và nếu cần thì can thiệp bằng không quân. Mới
chưa hết ba ngày chiến đấu, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã tiêu thụ
một số lượng đạn dược khổng lồ: 12.600 viên đại bác 105 ly, 10.000 viên
đạn cối 120 ly, 3.000 viên đạn trọng pháo 155 ly, chiếm gần nửa số lượng
dự trữ. 11 khẩu súng cối
120 ly bị phá hủy hoàn toàn, và 4 khẩu đại bác 105, 155 ly hỏng cần
được thay thế. Nhưng con nhím Điện Biên Phủ lúc này không chỉ cần có đạn
dược và lương thực. Pháp cần vận chuyển cho binh đoàn đồn trú những thứ
tối cần thiết không thể thả bằng dù, và di tản thương binh đã làm cho
những căn hầm cứu chữa dưới lòng đất bên bờ sông Nậm Rốm
trở nên ngột ngạt. Nhưng do chiến hào của QĐNDVN đã vào gần, đặc biệt
là sự tiếp cận của súng máy phòng không, những cuộc hạ cánh ban đêm trở
nên hết sức khó khăn. Pháo cao xạ đã trở thành nỗi kinh hoàng đối với
những viên phi công Pháp và Mỹ. Các loại máy bay chiến đấu vận tải, kể
cả pháo đài bay B-24 Liberator của Hoa Kỳ, liên tiếp bị bắn rơi trên bầu
trời Điện Biên Phủ.
Cột khói bốc lên sau trận đánh mở màn trên đồi Him Lam, ngày 13/3/1954. Ảnh: Getty
Tổng kết đợt 1, QĐNDVN đã tiêu diệt hoàn toàn 2 tiểu đoàn tinh nhuệ, 1 tiểu đoàn và 3 đại đội quân Quốc gia Việt Nam
bị bắt, tổng cộng 2.000 lính đã bị loại khỏi vòng chiến đấu, 12 máy bay
bị bắn rơi. Báo cáo kết luận tại Hội nghị sơ kết đợt 1 chiến dịch đã
kết luận phải tiếp tục "nắm vững phương châm và chủ trương tác chiến, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn 2".
Đợt
2 từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh phân
khu trung tâm đặc biệt là dãy điểm cao quan trọng phía đông, vây lấn bóp
nghẹt tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công vào phân khu trung tâm chủ yếu nhằm chiếm dẫy đồi phía đông khống chế cánh đồng Mường Thanh
(các cụm Dominique và Eliane) với hơn một vạn quân, nằm trên dãy đồi
phía đông và ken nhặt với nhau trên cánh đồng hai bên bờ sông Nậm Rốm.
Hơn ba mươi cứ điểm ở đây được chia thành 4 trung tâm đề kháng mang tên
những cô gái: Huguette, Claudine, Eliane, Dominique. Mỗi trung tâm đề
kháng gồm nhiều cứ điểm. Huguette và Claudine gồm khoảng hai chục cứ
điểm ở phía tây, nằm trên cánh đồng bằng phẳng bên hữu ngạn sông Nậm
Rốm. Eliane và Dominique ở phía đông, gồm hơn một chục cứ điểm tiếp giáp
nhau bên tả ngạn sông Nậm Rốm, có những cao điểm lợi hại kiểm soát toàn
bộ trận địa khu trung tâm. Trong số các cao điểm này, Eliane 2 (đồi A1)
giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó khống chế một phạm vi khá rộng
gồm cả khu vực sở chỉ huy của de Castries và hai chiếc cầu trên sông Nậm
Rốm.
Một máy bay của Pháp bị bắn rơi sau khi trúng pháo phòng không của bộ
đội Việt Nam. Việc người Việt Nam có thể di chuyển những khẩu pháo lớn
vượt qua những địa hình khó khăn, tiến vào các vị trí chiến lược quan
trọng của Pháp khiến binh sĩ nước này kinh ngạc trước khả năng của bộ
đội Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma/Getty Images.
Những sĩ quan chỉ huy không quân
Pháp trong tình trạng hoang mang tột độ, đại tá Nico, chỉ huy không quân
vận tải ở Hà Nội điện than phiền với tướng Logrin, Tư lệnh không lực
Viễn Đông rằng tuy các máy bay ở Điện Biên Phủ đã bay cao nhưng vẫn bị
cao xạ Việt Minh bắn rơi.
Chủ trương của Đảng ủy Mặt trận trong đợt 2 là tập trung ưu thế binh hỏa
lực đánh chiếm đồng thời các cao điểm phía đông. Trong số này, có 5 cao
điểm quan trọng. Đó là các cao điểm E, D1 thuộc trung tâm đề kháng
Dominique, và các cao điểm C1, C2, A1 thuộc trung tâm đề kháng Eliane. 18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Tại cao điểm C1 (Eliane 1), QĐNDVN lần đầu mở rào bằng đạn phóng bộc
lôi. Sau 5 phút tiểu đoàn 215 của Trung đoàn 98 đã dọn xong cửa mở qua
bảy lần rào dây thép gai, sau đó xung phong. Được sự hỗ trợ của pháo
binh, trong 10 phút, đại đội 38 đã chiếm được chiếc lô cốt nằm trên mỏm
đất cao nhất nhô lên trên đỉnh đồi, được gọi là mỏm Cột Cờ, và cắm lá cờ
Quyết chiến Quyết thắng lên nóc sở chỉ huy. Quân Pháp dồn về
những lô cốt ở khu vực phía tây, gọi pháo bắn vào trận địa. Các chiến sĩ
QĐNDVN xung kích dùng lưỡi lê, lựu đạn lao lên đánh giáp lá cà. Trận
đánh diễn ra đúng 45 phút. Toàn bộ một đại đội 140 lính thuộc tiểu đoàn
I/4e RTM bị tiêu diệt hoặc bắt sống. Số thương vong của QĐNDVN là 10
người. Đồi C2 (Eliane 4) kế tiếp C1 bởi một dải đất hình yên ngựa. 23 giờ, một
trung đội của đại đội 35 đột nhập được một đoạn hào của C2, chiếm liên
tiếp 11 lô cốt
và ụ súng. Tuy nhiên lực lượng phía sau qua nhiều lần xung phong đều bị
hỏa lực rất mạnh của Pháp cản lại. Tiểu đoàn 215 quyết định lui về C1
tiếp tục chuẩn bị tạo điều kiện tiến công C2 ban ngày. Tại cao điểm D1 (Dominique 2), Trung đoàn 209
sử dụng hai tiểu đoàn 166 và 154, thời gian mở cửa đột phá cũng diễn ra
nhanh. Chỉ sau 5 phút, ở hướng chính, tiểu đoàn 166 đã phá xong ba lượt
hàng rào và xung phong vào căn cứ, thọc sâu chia cắt đội hình Pháp ra
từng mảng để tiêu diệt. Tuy nhiên, ở hướng phụ, giao thông hào đã bị
Pháp lấp mất 50 mét, tiểu đoàn 154 tiến vào gặp lầy, mở cửa chậm bị hỏa
lực trong đồn khống chế, phải mất gần một giờ mới lọt vào trong đồn.
Viên đại úy Garandeau, chỉ huy tiểu đoàn III/3e RTA, bị pháo vùi chết
trong hầm của sở chỉ huy. Sau hai giờ chiến đấu, QĐNDVN chiếm toàn bộ
đồi D1.
Bộ đội Việt Nam tấn công những cứ điểm của Pháp tại sân bay Mường Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 4/1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo đen) cùng các tướng lĩnh quân đội Việt
Nam hoạch định kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ tháng 3/1954. Đợt tấn
công đầu tiên của bộ đội Việt Nam nhắm vào các điểm chốt Him Lam, Độc
Lập và Bản Kéo của quân đội thực dân Pháp diễn ra từ ngày 13/3 đến 17/3.
Xe tăng Pháp quần thảo trên cánh đồng Mường Thanh
Quân Pháp khốn quẫn trong cứ điểm Điện Biên
Máy bay của quân Pháp bị bắn hạ ở chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954. Ảnh tư liệu
Tướng De Castries trong hầm chỉ huy tại cứ điểm Điện Biên Phủ
Tại cao điểm E (Dominique 1), pháo nổ đúng lúc diễn ra
cuộc thay quân
giữa một đại đội của tiểu đoàn III/3e RTA với đại đội của tiểu đoàn 5e
BPVN tới thay thế đang tập trung dọc giao thông hào không có hầm trú ẩn.
Toàn bộ quân số của 2 đại đội với đầy đủ trang bị, cùng đại đội súng
cối hạng nặng nằm giữa vị trí bị pháo bắn tiêu diệt. Hai mũi tiến công
của tiểu đoàn 16 và tiểu đoàn 428 (trung đoàn 141) mở cửa qua hàng rào
dây kẽm gai
và bãi mìn và chiếm toàn bộ cứ điểm vào lúc 19 giờ 45 phút. Đại đoàn
tiếp tục điều tiểu đoàn 130 tiến công sang D2, các đơn vị vừa chiếm được
đồi E phát triển vào các ngọn đồi ở phía trong. Cuộc chiến đấu kéo dài
cho đến khi trời sáng. Tại đồi A1 (Eliane 2), trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An
chủ động ra lệnh cho hỏa lực của trung đoàn bắn vào cứ điểm yểm hộ cho
xung kích mở cửa trong nửa giờ. Tuy nhiên, pháo binh Pháp lúc này đã kịp
phản pháo, bắn dữ dội vào cửa mở. Mất hơn nửa giờ, hai mũi tiến công
của các tiểu đoàn 251 và 249 mới vượt qua 100 mét rào và bãi mìn lọt vào
đồn. Pháp đã dựa vào địa thế tự nhiên của quả đồi, bố trí công trình
phòng thủ thành ba tuyến. Bên ngoài, ở tiền duyên là tuyến chống cự chủ
yếu. Tuyến trung gian có đặt trận địa hỏa lực. Trên đỉnh đồi là tuyến cố
thủ và sở chỉ huy. Trong cứ điểm có nhiều tuyến chiến hào và giao thông
hào liên hoàn. Tất cả các lô cốt và hầm trú ẩn đều có nắp đậy, chịu
được đạn súng cối và pháo. Lực lượng QĐNDVN bị tổn thất nhiều khi vượt qua cửa mở. Lúc này cuộc chiến đấu trên những cao điểm khác đã kết thúc, Pháp dồn tất cả hỏa lực đại bác và súng cối
vào A1 mong cứu vãn tình hình. Các đợt xung phong của tiểu đoàn 255
cũng không vượt qua hàng rào lửa đại bác. Quá nửa đêm, cuộc chiến đấu
tại A1 diễn ra giằng co. Mỗi bên giữ được nửa đồi. Sở chỉ huy nhận định: Bộ đội đã hoàn thành phần quan trọng nhiệm vụ
đợt 2, nhưng vẫn chưa chiếm được cao điểm phòng ngự then chốt A1. Trung
đoàn 174 đã sử dụng cả lực lượng dự bị, không còn khả năng giải quyết
A1, trung đoàn 98
đánh xuống C2 không thành công, đã bị tiêu hao, cần điều một đơn vị
khác tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1, và phòng ngự ở C1 ban
ngày. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: Các đơn vị khẩn trương tổ chức
trận địa phòng ngự trên các cao điểm C1, D1, E, chuẩn bị đánh địch phản
kích ban ngày, quyết không để địch chiếm lại. Đại đoàn 308 đưa trung
đoàn 102 từ phía tây sang phía đông, tiếp tục tiến công tiêu diệt A1 và
phòng ngự tại C1.
Các mỏm đồi có tính sống còn đối với tập đoàn cứ điểm, đặc biệt là các
đồi A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2). Một mặt, Pháp dựa
vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương (légionnaire) phản kích các cứ điểm này vì có tính sống còn với quân Pháp. Ngày 31 tháng 3, Tiểu đoàn 8e BPC lợi dụng màn khói đại bác tiến lên bò
lên Dominique 2. Lúc này lực lượng cảnh giới của QĐNDVN đã tử thương khi
pháo Pháp bắn phá. Sau 25 phút, Pháp chiếm lại gần hết đồi D1, dồn đại
đội phòng ngự vào một góc. Bộ đội Việt Nam dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh
lui những đợt phản kích của Pháp, quyết tử giữ mảnh đồi còn lại. Tuy
đường dây điện thoại đã đứt, nhưng đài quan sát trung đoàn phát hiện kịp
thời sự có mặt của quân Pháp trên D1, lập tức dùng pháo bắn chặn và
điều lực lượng lên tăng viện. Hai đại đội
chi viện đã đảo lộn thế trận. Đại úy Pichelin, chỉ huy đại đội dù xung
kích, tử trận. Thấy tình thế bất lợi, Tiểu đoàn trưởng Tourret yêu cầu
thiếu tá Bigeard tiếp viện thêm lực lượng. Bigeard đáp: "Tôi không còn gì trong tay. Nếu không giữ được nữa thì biến!"
Sau 1 giờ chiến đấu, quân Pháp rút về Mường Thanh. Bigeard đã không
chiếm lại được Dominique 2 mà còn phải bỏ luôn cả Dominique 5 (D3) do
một đại đội Thái bảo vệ và rút trận địa pháo tại Dominique 5 (210), vì
biết những cao điểm này không thể đứng vững nếu đã mất Dominique 2. 1
giờ 30 chiều cùng ngày, Bigeard trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn dù 6e
BPC và 5e BPVN tiến lên Eliane 1. Đại đội 273 của trung đoàn 102 đã có
mặt trên cao điểm từ buổi sáng cùng với bộ phận còn lại của đại đội 35
trung đoàn 98
đánh trả. Lần này Pháp chiếm được điểm cao Cột Cờ, đẩy những chiến sĩ
phòng ngự vào thế bất lợi. Pháo binh không thể tiếp tục yểm hộ vì không
phân biệt được vị trí 2 bên. Các chiến sĩ đã lấy vải dù trắng buộc lên
đầu súng làm chuẩn cho pháo binh. Trong lúc pháo nổ dồn dập, trung đoàn
đưa một bộ phận tăng viện theo đường hào mới đào phía đồi D, cùng với
những người phòng ngự đánh bật quân Pháp khỏi Cột Cờ, khôi phục lại trận
địa. 16 giờ, Bigeard buộc phải ra lệnh rút lui, để lại trận địa gần 100
lính Pháp tử trận. Những cuộc phản kích của Pháp ngày 31 tháng 3 đã hoàn toàn thất bại. 10
giờ tối, Chỉ huy trưởng Phân khu Trung tâm Langlais gọi điện thoại cho
Bigeard, hỏi có thể giữ được những gì còn lại trong đêm nay không!
Bigeard trả lời: "Thưa Đại tá, chừng nào còn một người sống sót, tôi sẽ không bỏ Eliane (A1)". A1 đã trở thành "thành luỹ cuối cùng" (dernier rempart) của tập đoàn cứ điểm. Để
chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, phía QĐNDVN đã
áp dụng chiến thuật "vây lấn" rất có hiệu quả bằng việc đào các giao
thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của
Pháp. Những tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km và việc đào công sự được
thực hiện liên tục thường xuyên. Dựa trên những yêu cầu về chiến thuật,
QĐNDVN đã xây dựng hai loại đường hào: đường hào trục dùng cho việc cơ
động pháo, vận chuyển thương binh, điều động bộ đội với số lượng lớn và
đường hào tiếp cận địch của bộ binh.
Loại đường hào thứ nhất chạy một vòng rộng bao quanh toàn bộ trận địa địch ở phân khu trung tâm.
Loại đường hào thứ hai chạy từ những vị trí trú quân của đơn vị
trong rừng đổ ra cánh đồng cắt ngang đường hào trục, tiến vào vị trí sẽ
tiêu diệt.
Các loại đường hào này đều có chiều sâu 1,7 mét và không quá rộng để
bảo đảm an toàn trước bom đạn địch, giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển.
Đáy của đường hào bộ binh rộng 0,5 mét, đáy hào trục rộng 1,2 mét. Dọc
đường hào, bộ binh có hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để
đối phó với những cuộc tiến công của Pháp. Suốt ngày đêm, từng
giờ, những chiến hào nổi, chiến hào ngầm của bộ đội
nhích dần đến gần phân khu trung tâm. Từ những đầu hào chỉ cách quân
Pháp vài chục mét, bộ đội dùng ĐKZ bắn sập dần những lô cốt, ụ súng.
Chiến hào tiến vào gần còn mang cho quân Pháp nhiều tai họa khác. Hàng
rào dây kẽm gai và bãi mìn của cứ điểm lúc này lại trở thành những vật
chướng ngại bảo vệ an toàn cho chính những người tiến công.
Quân
Pháp sống trong những điều kiện cực kỳ khủng khiếp. Trên diện tích
1 km vuông, một khoảng rộng bên bờ sông phải dành cho bệnh viện và cái
"hố chung". Nếu tập đoàn cứ điểm không ngừng thu hẹp thì khu vực dành
cho thương binh và người chết cũng không ngừng phát triển. Công binh
Pháp ra sức đào thêm những nhánh hào mới để mở rộng bệnh viện nhưng vẫn
không đủ chỗ cho thương binh. Nhiều thương binh phải nằm ngay tại cứ
điểm. Chiếc máy xúc duy nhất còn lại chỉ chuyên vào việc đào hố chôn
người chết. Danh mục đồ tiếp tế cho Điện Biên Phủ có thêm một yêu cầu
khẩn cấp, đó là thuốc sát trùng và thuốc diệt côn trùng DDT.
Ruồi nhặng kéo tới đẻ trứng trên những vết thương. Thương binh nặng nằm
trên những chiếc giường ba tầng, sáu người trong một căn hầm nhỏ. Nhiều
người bị thương sọ não và mắc chứng hoại thư. Máu mủ của những người
nằm bên trên nhảy xuống những người nằm bên dưới. Những cẳng tay, cẳng
chân, những ống tiêm chôn ngay trong đường hầm, khi trời mưa, nước bên
ngoài chảy vào, tất cả lại lềnh bềnh nổi lên. Phần lớn những bộ phận lọc
nước đã bị hỏng. Những viên chỉ huy ra lệnh cho binh lính đào giếng
nhưng chỉ thấy một thứ nước váng dầu đục ngầu. Rời công sự đi lượm dù
hoặc lấy nước là làm mồi cho lính bắn tỉa, khó trở về an toàn. Điện Biên
Phủ khẩn thiết yêu cầu gửi thật nhiều ống nhòm ngầm (kính tiềm vọng) vì
nhô đầu lên khỏi chiến hào để quan sát đã trở thành mạo hiểm. Một trung đoàn QĐNDVN trong một tuần đã thu được 776 dù với đủ cả
đạn, gạo, đồ hộp, sữa, dầu hỏa... Số hàng này Pháp đã phải dùng khoảng
30 chuyến Đakôta để chuyên chở lên đây. Đại đoàn 304
thu được 600 viên đạn pháo 105 ly, 3.000 viên đạn cối 120 ly và 81 ly,
hàng tấn đạn các cỡ khác, hàng chục tấn lương thực, thuốc men. Tổng số
đạn pháo thu được là hơn 5.500 viên, tương đương 1/3 kho đạn của QĐNDVN,
đã bổ sung đáng kể tình trạng thiếu đạn vào cuối chiến dịch. Cuốn "Nhật ký chiến sự" của Jean Pouget ghi nhận: "Có tới 50% kiện
hàng rơi ngoài bãi thả. Ngày 1-4, hơn một nửa số hàng thả rơi ngoài vị
trí. Ngày 6-4, hơn mười khẩu pháo không giật 75mm thả xuống Điện Biên,
lính Pháp chỉ thu được hai khẩu, số còn lại coi như làm quà cho Việt
Minh. Ngày 9-4, trong tổng số 195 tấn hàng tiếp tế đã thả chỉ thu
được... 6 tấn. Ngày 13-4, máy bay C-119
của Mỹ đã "trút toàn bộ số đạn pháo 105mm xuống trận địa Việt Minh, coi
như tiếp tế đạn cho đối phương!". Ngày 18-4, hơn 30 tấn hàng "rơi lạc"
sang trận địa Việt Minh. Ngày 27-4, có tới 70% số dù hàng rơi lạc mục
tiêu. Ngày 5-5, hầu hết số hàng do C-119 thả xuống đều rơi xuống trận
địa Việt Minh" Để động viên tinh thần cho lính Pháp ở Điện Biên Phủ, tháng 4 năm
1954, chính phủ Pháp đã thăng quân hàm trước thời hạn cho de Castries,
từ Đại tá lên Chuẩn tướng (nhiều tài liệu tiếng Việt ghi là Thiếu
tướng). Ngày 15 tháng 4, lúc 16 giờ, một chiếc C-119 bay đến lượn mấy
vòng rồi thả xuống một loạt dù, trong đó có một chiếc dù đỏ rơi gần trận
địa QĐNDVN. Nó được đưa về trụ sở trung đoàn. Trong hòm toàn những gói
quà gồm thuốc lá, rượu, xúc xích, áo may ô, lưỡi dao cạo râu, và một lá
thư màu hồng của vợ Castries gửi cho chồng nhân dịp được thăng lên
tướng. Số hàng này được giữ lại và trao cho de Castries 1 tháng sau, khi
ông ta đã trở thành tù binh. Cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ càng ngày càng yếu thế cho phía
Pháp. Tình cảnh của quân Pháp ngày càng bi đát và đi đến cùng cực. Điện
Biên Phủ cho thấy khi bị bao vây cô lập thì một tiền đồn dù mạnh đến đâu
rồi cũng sẽ bị tiêu diệt. Ngày 20-3, tướng Ely, tổng tham mưu
trưởng Pháp bay sang Washington nhờ Mỹ chi viện. Tổng thống Hoa Kỳ
Eisenhower đã mắc nợ với cử tri Mỹ lời 1 hứa khi tranh cử là sẽ tạo một
không khí hòa dịu trong tình hình quốc tế đang bị đầu độc vì chiến tranh
Lạnh
giữa Tây và Đông. Nhưng ông ta không thể giữ thái độ thờ ơ trước lời
kêu cứu của nhà cầm quyền Pháp. Trong hồi ký "Không có thêm những Việt
Nam mới" (No more Vietnams), Tổng thống Nixon viết: "Đô đốc Radford,
chủ tịch Hội đồng Tham mưu trương liên quân, đề nghị chúng ta dùng 60
máy bay ném bom B-29 ở Philippines mở các cuộc đột kích vào ban đêm để
tiêu diệt các vị trí của Việt Minh. Và đặt ra kế hoạch mang tên "Cuộc
hành binh Chim kền kền" (Opération Vautour) nhằm đạt cùng mục tiêu với
ba quả bom nguyên tử chiến thuật nhỏ". Những phe phái "diều
hâu" ở Washington cũng xúc tiến kế hoạch. Ngày 3 tháng 4 năm 1954, Ngoại
trưởng Mỹ John Dulles và đô đốc Arthur Radford
họp với 8 nghị sĩ có thế lực trong Quốc hội, thuộc hai đảng Dân chủ và
Cộng hòa, phổ biến ý định của Tổng thống muốn có một nghị quyết cho phép
sử dụng lực lượng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Dương. Dulles nhấn
mạnh Đông Dương sụp đổ có thể dẫn tới mất toàn bộ Đông Nam Á, Hoa Kỳ
cuối cùng sẽ bị đẩy về quần đảo Hawaii. Nếu Mỹ không giúp Pháp thì hậu
quả sẽ là Pháp phải từ bỏ chiến tranh Đông Dương.
Ngày 20/11/1953, Pháp bắt đầu nhảy dù
xuống Điện Biên Phủ, và xây dựng nơi đây thành pháo đài bất khả xâm
phạm. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Việc Pháp chọn Điện Biên Phủ làm pháo
đài, điểm cố thủ nhận được nhiều đánh giá khác nhau. Trong cuốn sách "Kể
chuyện đất nước", nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện phải thốt lên: "Từ
máy bay nhìn xuống, người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Navarre, một
trong những tướng tài ba nhất của thực dân Pháp lại đem quân tự nhốt vào
vào cái "chậu" bốn bề bịt kín thế này... Đi bộ từ đồng bằng lên, nhớ
lại cảnh đoàn dân công trèo đèo lội suối dưới làn bom đạn của địch...
người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Tướng Giáp lại dẫn những đơn vị chủ
lực của mình từ nơi xa xôi đến đây để giao chiến trong hoàn cảnh vô cùng
không thuận lợi?"... Nhưng lịch sử có lý của nó. Thực tiễn trên chiến
trường sau đó đã chứng minh điều đó. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tinh nhuệ
và được trang bị vũ khí tối tân với hệ thống phòng ngự liên hoàn. Tại
đây, Pháp xây dựng 2 sân bay là Mường Thanh và Hồng Cúm, để tiếp viện và
di chuyển quân sĩ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Tại Điện Biên Phủ, Pháp còn nhận được sự
hỗ trợ rất lớn của đồng minh Mỹ về hậu cần và vũ khí. Trong ảnh, máy bay
vận tải hạng nặng C119 của Mỹ chuẩn bị cất cánh chở hàng giúp thực dân
Pháp.(Nguồn: Báo Đầu tư)
Về lực lượng, Pháp có 16.000 quân tại
Điện Biên Phủ, được bố trí ở 3 phân khu. Phân khu Bắc gồm Him Lam, Độc
Lập, Bản Kéo. Phân khu trung tâm gồm các cao điểm phía Đông, sân bay
Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh. Phân khu Nam gồm cụm
cứ điểm và sân bay Hồng Cúm. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Với quân tướng đông, hỏa lực mạnh, hệ
thống công sự vật cản vững chắc, quân lương đầy đủ, người Pháp cho rằng
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là "pháo đài khổng lồ không thể
công phá". Pháp tin rằng, quân đội Việt Minh với cách đánh truyền thống,
khó khăn thiếu thốn về vũ khí, lương thực, sẽ dễ dàng sa lưới. Vì thế,
ngay từ đầu năm 1954, Pháp cho máy bay rải tuyền đơn thách thức Việt
Minh tấn công. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Về phía Đảng Lao Động Việt Nam, dù thấy
trước nhiều khó khăn, nhưng xác định Điện Biên Phủ là cơ hội lớn sẽ tạo
nên bước ngoặt chiến lược, từ đó chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ,
nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương vẫn xem xét các phương án tiến
đánh Điện Biên Phủ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp xác
định, quân Pháp tuy từ xa đến, song có hỏa lực mạnh, vũ khí hiện đại,
công sự kiên cố, nếu không có phương án tác chiến đúng đắn thì khó có
thể thắng địch. Xác định rõ khó khăn và tầm quan trọng của mặt trận này,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Trận này rất
quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng
không đánh". (Nguồn: Báo Đầu tư)
Ngày 14/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
đã đưa ra phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" và dự định ngày nổ
súng là 20/1. Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3
ngày đêm bằng những đợt tiến công ồ ạt. Song một đơn vị đại bác vào
trận địa chậm và kế hoạch bị lộ nên lịch tấn công dời đến ngày 26/1.
Ngày đêm 25/1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ và đưa ra quyết định
chuyển từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh", sang "đánh chắc, tiến
chắc", đánh dài ngày theo kiểu bóc vỏ từng cứ điểm đối phương. Quyết
định đó của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này được ông coi là "quyết định
khó khăn nhất trong đời cầm quân" của ông. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Để khắc phục vấn đề hậu cần, Đảng Lao
động Việt Nam đã huy động tối đa sức người, sức của. Dân quân tham gia
chiến dịch lên đến 260.000 người, cao gấp nhiều lần bộ đội chiến đấu.
Tính tổng cả chiến dịch đã huy động tới 12 triệu ngày công. Trong ảnh,
công an bảo vệ dân quân mở đường cho chiến dịch Điện Biên Phủ. (Nguồn:
Báo Đầu tư)
Bên cạnh xe cơ giới, chiến dịch Điện Biên
Phủ đã huy động hơn 20 nghìn chiếc xe đạp thồ tham gia vận chuyển hàng
hóa, vũ khí. Ban đầu, một xe chỉ chở được 100 kg, nhưng sau, dân quân
Việt Nam đã cải tiến thêm tay ngai, quấn lốp, để mỗi xe chở được trên
200 kg, có xe 300 kg. Xe của chiến sĩ Ma Văn Thắng, quê Phú Thọ chở
được 352 kg, đạt kỷ lục trong chiếndịch Điện Biên Phủ. Lực lượng xe đạp
thồ của dân quân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành
một trong những kỳ tích về quyết tâm và sức người trong điều kiện chiến
tranh. (Nguồn: Báo Đàu tư)
Đường vận chuyển trên sông Nậm Na cũng
được khai thông. Dân công đã đóng được 11.600 bè gỗ, tổ chức vận chuyển
được 1.700 tấn gạo. Để chống chọi với thời tiết núi rừng khắc nghiệt,
các đơn vị bộ đội tổ chức ăn sạch, ở sạch, dựng bếp Hoàng Cầm, tăng gia
sản xuất. Vì thế trong chiến dịch sức khỏe bộ đội tốt, không có dịch
bệnh xảy ra. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Trong khi đó, Pháp không ngờ quân đội
Việt Minh đã tháo lựu pháo 105 mm và pháo cao xạ 37 mm, dùng sức người
kéo vào lòng chảo Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Minh cũng xây dựng được
hệ thống giao thông hào chằng chịt hơn 400 km, và ngày càng khép chặt
vòng vây quân Pháp. Để đem đến quyết định thắng lợi trên đồi A1, quân
đội Việt Nam đã gỡ mìn, lấy thuốc nổ, chuẩn bị khối bộc phá 1000 kg.
(Nguồn: Báo Đầu tư)
17h30 ngày 13/3/1954, Đại tướng, Tổng tư
lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Đợt 1
từ13/3 đến 17/3, Việt Minh tấn công vào phân khu Bắc. Sau 5 ngày đã làm
chủ Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Chiến thắng này mở rộngcánh cửa phía bắc
Điện Biên Phủ và khích lệ tinh thần chiến sĩ. (Nguồn: Báo Đầu tư)
Đợt 2 của chiến dịch bắt đầu từ ngày 30/3
đến 30/4, tiến công vào tập đoàn cứ điểm phía Đông, gồm các ngọn đồi
C1, E, D, A1. Trong đợt tiến công lần 2, một thời gian biểu mới được áp
dụng cho bộ đội là ngủ ngày, đánh suốt đêm. Việt Minh dùng chiến thuật
vây lấn bằng hệ thống giao thông hào dần bao vây, siết chặt, đào hào cắt
ngang cả sân bay, vào tận chân lô cốt cố thủ của địch. (Nguồn: Báo Đầu
tư)
Ngày 9 tháng 4,
tại Washington, Eisenhower họp với Radford, các tham
mưu trưởng ba quân chủng và nhiều sĩ quan cao cấp khác xem xét lần cuối
mọi mặt tình hình. Rát pho là người duy nhất ủng hộ một cuộc can thiệp
của Mỹ dù là đơn phương để tránh sự thất trận ở Điện Biên Phủ. Các Tham
mưu trưởng Hải quân, Không quân tỏ vẻ không mặn mà. Riêng Tham mưu
trưởng Lục quân Matthew Ridgway phản đối quyết liệt. Ridgway viện dẫn sự
thất bại thảm hại từ cuộc hành binh "Bóp nghẹt" (Strangle) của Mỹ ở
Triều Tiên,
nhằm tiêu diệt con đường tiếp tế, để chứng minh sự hạn chế của những
hành động bằng không quân trong loại chiến tranh này. Ridgway cho rằng
những cuộc ném bom sẽ dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến tranh mới bằng bộ
binh tốn kém với lối thoát không rõ ràng ở lục địa châu Á. Ý kiến của Ridgway được nhiều người tán đồng và kế hoạch Chim kền kền
bị đình chỉ. Nhưng mười năm sau, cũng tại Việt Nam, nhà cầm quyền Mỹ đã
quên những kinh nghiệm này.
Đợt
3 từ 1 tháng 5 đến 7 tháng 5,
QĐNDVN đánh dứt điểm dẫy đồi phía đông và tổng tiến công tiêu diệt các
vị trí còn lại. Sau khi lực lượng của Pháp đã trở nên tuyệt vọng, suy
kiệt, bổ sung bằng dù không còn đủ để duy trì sức chiến đấu, và quân
Pháp ở Bắc Bộ cũng đã hết lính dù và lính lê dương (légionnaire) có thể
ném tiếp xuống Điện Biên Phủ, QĐNDVN tổ chức đợt đánh dứt điểm các quả
đồi phía đông. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, công binh
Việt Nam đào đường hầm từ trận địa tại A1 tới dưới hầm ngầm, đưa bộc
phá với số lượng lớn vào đặt rồi cho nổ. Một đội đặc biệt gồm 25 cán bộ,
chiến sĩ do Nguyễn Phú Xuyên Khung,
cán bộ công binh của Bộ, trực tiếp chỉ huy, đã tiến hành công việc ngay
trước mũi súng quân Pháp, trong tầm kiểm soát của lựu đạn, khắc phục
thêm khó khăn: thiếu không khí, đèn, đuốc mang vào hầm đều bị tắt, số
đất moi từ lòng núi ra ngày càng nhiều không được để cho quân Pháp phát
hiện. Các chiến sĩ phòng ngự tại A1 đã có kế hoạch chiến đấu không cho
quân Pháp tiến xuống cửa hầm, dù phải hy sinh tới người cuối cùng, để
bảo vệ bí mật tuyệt đối ý đồ đào hầm. Tại phía đông, trung đoàn 98 tiến công cứ điểm C1 lần thứ hai. Thiếu tá
Jean Bréchignac, vẫn đặt sở chỉ huy trên Eliane 4, đã linh cảm trận đánh
Eliane 1 sắp nổ ra. Ngày 1 tháng 5, Bréchignac quyết định đưa đại đội 3
của tiểu đoàn dù tiêm kích số 2 lên thay thế cho đại đội Clédic đã bị
tiêu hao, đồng thời ra lệnh cho đại đội 1 sẵn sàng tham gia phản kích.
Thừa
thắng xông lên, quân đội Việt Nam mở đợt tấn công lần
3, từ ngày 1/5 đến 7/5, Việt Minh đánh chiếm các cứ điểm còn lại. Riêng
đồi A1, cứ điểm được xây dựng kiên cố nhất đã tiến hành tới 4 đợt tiến
công nhưng chỉ chiếm được nửa quả đồi. Đêm 6/5, quân đội Việt Nam phải
dùng 1000 tấn thuốc nổ bí mật phá sập hệ thống hầm ngầm, chiếm được quả
đồi.
17h30 ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm của Tướng De Castries.
Tướng
De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải
ra hàng. Sau này De Castries - người từng theo học Trường Quân sự Saint
Cyr nổi tiếng thế giới - đã thốt lên rằng: "Điều làm tôi hết sức ngạc
nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường,
học viện võ bị cao cấp nào".
Toàn bộ 16.000 lính Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoặc bắt sau khi kết thúc chiến dịch.
Sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương.
Đại diện cho Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam, ông Tạ Quang Bửu, ký hiệp định đình chiến năm 1954.
Thiếu tướng Delteil thay mặt Bộ Tổng
tư lệnh Quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương ký bản hiệp định đình
chiến ở Việt Nam và Lào ở Hội nghị Geneva.
Ngày
1-5, Đại đội 811 của QĐNDVN đã có 20 ngày đêm phòng ngự tại C1, được
lệnh rời khỏi trận địa 200 mét cho hỏa pháo chuẩn bị. Sơn pháo
đặt trên đồi D1 nhắm từng hỏa điểm trên C1 bắn phá. Dứt tiếng pháo, tổ
bộc phá lập tức mở những hàng rào cự mã ngăn cách, đưa bộ đội xông lên
phía Cột Cờ. Chỉ sau năm phút, QĐNDVN đã chiếm được Cột Cờ. Lực lượng dù
xung kích của Pháp mới lên tiếp viện bắn xối xả vào khu vực Cột Cờ. Tuy
nhiên, Đại đội 1480 từ phía dưới tiến lên đã kịp thời có mặt, cùng với
811 hình thành hai mũi tiến công chia cắt quân Pháp để tiêu diệt. Nửa đêm, toàn bộ quân Pháp bị tiêu diệt. Dây thép gai và mìn lấy từ
trận địa lập tức được trải ra sườn đồi thành một bãi chướng ngại dày
đặc, đề phòng quân Pháp phản kích. Sau hơn 30 ngày đêm liên tục chiến
đấu, trận đánh tại C1 lúc này đã kết thúc. Ở phía đông sông Nậm Rốm, hai tiểu đoàn 166 và 154 của trung đoàn 209 tiến công các cứ điểm 505 và 505A (Dominique 3).
Một đại đội của tiểu đoàn6e BPCvà những đơn vị lính Algérie, lính Thái
tại đây, do tiểu đoàn trưởng Chenel chỉ huy, chống cự khá quyết liệt. 2
giờ sáng ngày 2 tháng 5, trung đoàn 209 tiêu diệt hoàn toàn hai cứ điểm
này, chấm dứt sự tồn tại của trung tâm đề kháng Dominique. Trên cánh đồng phía tây, trận đánh tiêu diệt cứ điểm 811A (Huguette 5) của trung đoàn 88
diễn ra rất nhanh chóng. Với những đường hào đã đào xuyên qua hàng rào
cứ điểm, bộ đội bất thần tổ chức xung phong. Toàn bộ đại đội Âu Phi vừa
tới thay quân để tăng cường phòng thủ cứ điểm này, bị diệt gọn trong
vòng không đầy 80 phút. Như vậy, ngay trong đêm đầu của đợt tiến cống thứ ba, Pháp đã mất
thêm bốn cứ điểm: C1, 505, 505A ở phía đông, và 311A ở phía tây. Đêm ngày 4 tháng 5, trên cánh đồng phía tây, sau khi tiêu diệt 311A, đại đoàn 308
tiếp tục đánh 311B '(Huguette 4)' ở phía trong. Trung đoàn 36 tiêu diệt
1 đại đội gồm lính lê dương và lính Maroc, đưa trận địa tới gần trung
tâm đề kháng Lili (Lilie, từ Claudine mới tách ra), tấm bình phong cuối
cùng che chở cho sở chỉ huy Đờ Cát ở hướng này. Buổi sáng, Pháp phản
kích định chiếm lại nhưng thất bại. Cũng trong ngày 5 tháng 5,
trung đoàn 174 báo cáo đường hầm ở A1 đã hoàn thành. Trong đêm, một tấn
bộc phá chia thành những gói hai mươi kg, được đưa vào đặt dưới hầm
ngầm Pháp. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1954, tiểu đoàn 255 của 174 phòng ngự
suốt 34 ngày đêm trên đồi A1 được lệnh rút qua Đồi Cháy làm lực lượng
dự bị. Tiếng nổ của khối bộc phá trên đồi A1 được chọn làm hiệu lệnh
xung phong cho đợt tiến công tối hôm đó. Trước giờ G năm phút, các
chiến sĩ ở chiến hào xuất phát xung phong
được lệnh quay lưng về A1, nhắm mắt, há mồm đề phòng sóng xung kích và
ánh chớp của ngàn cân bộc phá. Đúng 20 giờ 30, một tiếng nổ trầm, trên
đồi A1 có một đám khói lớn phụt lên. Khối bộc phá nổ cách hầm ngầm vài
chục mét thổi bay chiếc lô cốt bên trên, diệt phần lớn đại đội dù 2 của
Trung úy Edme (Étmơ) đóng ở đây. Nguyễn Hữu An lập tức ra lệnh cho pháo
của trung đoàn nổ súng. Khối bộc phá
một tấn đã tiêu diệt một phần tuyến ngang gây khó khăn cho các đơn vị
đánh A1 trong đợt trước, tạo nên một cửa mở quan trọng giúp cho hai đại
đội
của tiểu đoàn 249 xung phong thuận lợi. Trên đỉnh đồi, lính dù dựa vào
chiến hào và công sự đã được củng cố trong thời gian qua ra sức chống đỡ
chờ quân viện. Quá nửa đêm, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An quyết định
đưa đại đội dự bị của tiểu đoàn 249 vào giải quyết trận đánh. Bộ đội
chia thành từng tổ nhỏ tiêu diệt dần dần từng ụ đề kháng của quân Pháp. 4 giờ sáng ngày 7 tháng 5
năm 1954, Đại úy Jean Pouget chỉ còn lại 34 lính dù. Quân dù đã sử dụng
đến những viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng. Pouget bị thương nặng và bị
bắt. Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" tung
bay trên cao điểm A1 báo hiệu giờ tàn của tập đoàn cứ điểm. Tiến quân tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập
Lính Pháp phản kích cứ điểm Độc Lập, bị bộ đội đánh trả quyết liệt phải tháo chạy
Đến
sáng ngày 7 tháng 5,
QĐNDVN đã tiến công tiêu diệt cứ điểm C2, 506, 507, 310F. Các quả đồi
phía đông này đã thất thủ hoàn toàn mà phía Pháp không còn lực lượng khả
dĩ chiếm lại. Tại Mường Thanh, 12 giờ, Langlais triệu tập cuộc họp các
chỉ huy tiểu đoàn. Lần này vắng mặt những người chỉ huy dù. Theo kế
hoạch Albatross,
quân Pháp sẽ mở cuộc phá vây vào 20 giờ ngày hôm nay, mồng 7 tháng 5.
Nhưng con đường cách đây ba ngày còn để ngỏ phía nam Junon, đã bị ba
đường hào cắt ngang. Chỉ huy các tiểu đoàn lần lượt báo cáo đơn vị mình
không ở trong trạng thái thực hiện một cuộc phá vây mà họ tin là khó
sống sót. Những người dự họp đều nhận thấy: dù có hy sinh phần lớn quân
rút chạy, cũng khó giúp cho một nhóm người thoát khỏi thung lũng. Cuộc
tiến công của những người lính kiệt sức nhắm vào những vị trí được đối
phương bảo vệ vững chắc, sẽ là một hành động tự sát. Đúng 3 giờ chiều, các đại đoàn được lệnh: "Không
cần đợi trời tối, lập tức mở cuộc tổng công kích vào Mường Thanh. Đơn
vị phía đông đánh thẳng vào khu vực trung tâm, đơn vị phía tây giáp công
sang, cùng tiến vào sở chỉ huy của địch. Phải đánh thật mạnh, bao vây
thật chặt, không để cho Đờ Cát hoặc bất cứ tên địch nào chạy thoát". QĐNDVN
tổng tiến công trên khắp các mặt trận. Quân Pháp đã sức tàn lực kiệt,
rệu rã kéo cờ quyết định đầu hàng. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật
lập tức dẫn đại đội 360 luồn dưới làn đạn của những khẩu trọng liên bốn
nòng, băng qua cầu Mường Thanh. Nhận thấy quân Pháp hầu như không chống
cự, Tạ Quốc Luật nhảy lên mặt đất, dùng một lính bảo an người Việt dẫn
theo đường tắt tiến thật nhanh tới sở chỉ huy của de Castries. Các đài
quan sát báo cáo về: "Quân ta từ ba phía đang đánh vào khu trung tâm,
312 từ phía đông tiến qua cầu Mường Thanh, 308 từ phía tây mở đường qua
sân bay, và từ phía tây nam mở đường vào Lili, hướng về sở chỉ huy của
Đờ Cát. Quân địch chỉ chống cự lẻ tẻ." Lúc đó, Đại đội 360 chỉ còn 5 người: Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Nguyễn Văn Lam và Đào Văn Hiếu.
Khoảng 17 giờ, sau khi dùng thủ pháo tiêu diệt tổ bảo vệ ở phòng ngoài
sát cửa ra vào, 5 chiến sĩ vượt qua gian hầm thứ 2, tiến vào gian hầm
giữa khá rộng có tướng de Castries và các sĩ quan Pháp đang ở đấy. Tạ
Quốc Luật nói bằng tiếng Pháp, đại ý: "Các ông hàng đi. Các ông thua
rồi. Các ông phải ra lệnh cho các ổ đề kháng bỏ súng, đầu hàng và điện
về Hà Nội không cho máy bay ném bom xuống Điện Biên nữa".
Sau đó, nhóm chiến sĩ dẫn giải tù binh lên khỏi hầm, đi về phía cầu
Mường Thanh rồi bàn giao cho Nguyễn Thăng Bình - Trung đoàn Phó Trung
đoàn 209 - trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Tiểu đoàn 130. 5 giờ 30 chiều,
đại đoàn 312 báo cáo lên: "Toàn bộ quân địch tại khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt được tướng Đờ Cát". Cụm phân khu Nam Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào
nhưng bị các đơn vị QĐNDVN đuổi theo, tất cả đã bị bắt không đi thoát.
Gần 12.000 quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đều bị bắt làm tù binh. Dù
quân Pháp đã phải gia tăng quân số lên đến 16.000 người, họ đã không
thể nào lật ngược thế cờ.
Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh.
Thiệt hại về phía Pháp là 1.747 tới 2.293 người chết, 5.240 tới 6.650
người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh. Toàn
bộ 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 10 đại đội
Quân đội Quốc gia Việt Nam bị tiêu diệt. Tổng số sĩ quan và hạ sĩ quan
bị diệt và bị bắt là 1.706, gồm 1 chuẩn tướng, 16 đại tá và trung tá,
353 sĩ quan từ thiếu úy đến thiếu tá. Thiệt hại về phía Mỹ là 2 phi công
chết và 1 bị thương. Về không quân, Pháp bị tổn thất 59 phi cơ bị phá hủy (38 chiếc bị bắn
rơi, 21 chiếc bị phá hủy khi đậu trên sân bay), trong đó có 3 máy bay
khác bị phá hủy trước ngày 13 tháng 3
năm 1954, 2 trực thăng cũng bị phá hủy. Ngoài ra còn có 186 phi cơ khác
bị trúng đạn và hư hại ở các mức độ khác nhau. Phía Mỹ có 1 phi cơ
C-119 bị bắn rơi. Về trang bị nặng, Pháp mất toàn bộ trang bị vũ khí, xe
tăng và pháo binh ở Điện Biên Phủ. Phía QĐNDVN thu giữ 3 xe tăng, 28
đại bác, 5.915 súng các loại, 20.000 lít xăng dầu cùng rất nhiều đạn
dược, quân trang quân dụng khác. Thiệt hại về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam theo hồ sơ quân y của Việt Nam là 4.020 người chết, 9.691 người bị thương,và 792 mất tích.Hiện nay tại Điện Biên Phủ, có 3 nghĩa trang liệt sĩ trận này là nghĩa
trang phía gần đồi Độc Lập, nghĩa trang gần đồi Him Lam và nghĩa trang
gần đồi A1, lần lượt các nghĩa trang trên có 2.432 ngôi, 896 ngôi và 648
ngôi mộ, tổng cộng là 3.976 ngôi. Do một trận lũ lớn vào năm 1954 cuốn
trôi các bia mộ nên 3.972 mộ đều là liệt sĩ vô danh. Chỉ có 4 ngôi được
đặt riêng biệt là mộ các anh hùng Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Trần Can là còn biết được. Ngày hôm sau, 8 tháng 5 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen: "Quân
ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời ngợi
khen cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào đia
phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi tuy lớn nhưng
mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan
khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh độc lập, thống
nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng
đều phải trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn... " Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp và chúc mừng Bộ tổng tham mưu và
đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại đây bằng kinh nghiệm chính trị, ông đã
nói một câu chúc mừng kèm dự đoán chính xác: "Chúc mừng chú (Võ
Nguyên Giáp) thắng trận. Nhưng đừng chủ quan, còn phải đánh với Mỹ nữa.
Sớm muộn gì chúng cũng sẽ nhảy vào Đông Dương thế chỗ Pháp" Thế
là, sau 55 ngày đêm "khoét núi,ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn
non, gan không núng, chí không mòn...", cứ điểm Điện Biên Phủ đã thất
thủ, toàn bộ hơn 16.000 quân
Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh.
Quân đội nhân dân Việt Nam tấn
công những cứ điểm của Pháp tại sân bay Mường Thanh trong chiến dịch
Điện Biên Phủ tháng 4/1954. Chiến thắng của quân đội Việt Nam đánh dấu
sự sụp đổ của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, khiến thế giới
kinh ngạc về kỳ tích của một quân đội kém ưu thế hơn về khí tài quân sự
trước nước Pháp
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà làm phim Liên Xô tại chiến khu Việt Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đạo diễn Roman Karmen tại Việt Bắc năm 1954
Roman Karmen (1906 - 1978):
là một trong những nhà làm phim tài liệu vĩ đại
nhất thế kỷ XX. Cuộc đời nghệ thuật của ông rất đa dạng trong các vai
trò: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, nhà báo, nhà sư phạm điện ảnh.
Những thước phim tư liệu mà Karmen để lại thật sự là những thiên anh
hùng ca huyền thoại.
Đạo
diễn Roman Karmen cùng hai đồng sự Xôviết Evghenhi Mukhin và Vladimia
Echurin được Nhà nước Liên Xô giao nhiệm vụ sang Việt Nam làm phim tài
liệu vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Được sự chỉ
dẫn của Bác Hồ, sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp và nhân dân Việt
Nam, Karmen đã miệt mài lao động, hoàn thành xuất sắc bộ phim màu "Việt
Nam" (1954) ghi lại những giây phút hào hùng nhất của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và những năm tháng hòa bình đầu tiên ở miền Bắc Việt
Nam.
Đối với nền điện ảnh cách
mạng Việt Nam non trẻ, Karmen như người thầy, người anh, người bạn lớn.
Bộ phim "Việt Nam" của ông đã để lại dấu ấn và những kinh nghiệm sâu sắc
cho nền điện ảnh Việt Nam. Ngày 18-7-1955, đạo diễn Roman Karmen vinh
dự được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
Còn đối với thực dân Pháp,
trận này là một thất bại thảm hại và bất ngờ. Mặc dù đã chiến đấu nhiều
năm và về sau còn được Hoa Kỳ trợ giúp đắc lực, Pháp đã không thể bình
định Việt Nam. Thảm bại này khiến cho họ không còn nhân lực và ý chí để
mà tiếp tục ứng chiến. Một ngày sau khi Pháp để Điện Biên Phủ thất thủ,
ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương.
Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính
thức chấm dứt chế độ thực dân
Pháp tại Đông Dương. Dù đã áp dụng kỹ nghệ "Chiến tranh hiện đại", Pháp
đã không thể nào tránh khỏi những biến cố này. Nhiều Sĩ quan nổi giận
trước thất bại chính trị và quân sự này và họ lại đổ tội cho các chính
trị gia, giống như hồi bị Đức đánh bại năm 1940.
Sau này, Bộ trưởng quốc phòng Pháp Marcel Bigeard,
nguyên là trung tá phó chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sang
thăm Việt Nam năm 1993, nhìn lại chiến trường cũ, đã có một câu với một
nhà quay phim nước ngoài: "Nếu tôi là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh". Còn tướng De Castries, sau khi thất bại trở về Pháp, đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc". Chỉ huy phó của Tập đoàn cứ điểm, đại tá Pierre Langlais cũng viết trong cuốn hồi ký Điện Biên Phủ của ông rằng: "Ở
Điện Biên Phủ, nếu người ta muốn nhìn thẳng vào sự thật, thì ắt phải
thấy rằng viện trợ cho Việt Minh chỉ là một giọt nước đặt bên cạnh dòng
thác vật tư của Mỹ đổ vào cho người Pháp chúng ta". Nhà báo Pháp Giuyn Roa khẳng định: "Không
phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre mà chính là
những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300 kg hàng và đẩy bằng sức người,
những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm
nilông. Cái đã đánh bại tướng Navarre không phải bởi các phương tiện mà
là sự thông minh và ý chí của đối phương..." Trận Điện Biên Phủ được coi là một trong những trận đánh được phân tích tỉ mỉ nhất trong lịch sử. Thắng lợi quyết định
của lực lượng Việt Minh dưới quyền Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch ác
liệt đánh dấu sự chấm dứt của Chiến tranh Đông Dương, chính trận chiến
này đã đưa Việt Nam lên trở thành quốc gia thuộc địa đầu tiên dùng vũ
lực buộc quân đội một nước phương Tây rút về nước, giành được độc lập,
được xem là một đòn giáng mạnh vào nước Pháp nói riêng và thế giới phương Tây nói chung. (1940-2005) Theo cuốn The French Secret Services của sử gia Douglas Porch, thảm bại Điện Biên Phủ đã "thay đổi diễn tiến lịch sử Pháp" và sánh vai với các thất bại trước kia của Pháp dưới quyền tướng Joseph Joffre (1914)
và Maurice Gamelin (1940). Được chiến thắng của người Việt Nam cổ vũ,
các khu vực thuộc địa ở châu Phi cũng đồng loạt nổi dậy. Điện
Biên Phủ là chiến thắng
quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam
trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. Trên phương diện quốc tế trận này
có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc
địa,nghèo nàn và lạc hậu châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của
một cường quốc hiện đại châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí
duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc
nước này ra khỏi Đông Dương. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết:
"Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng ta đã chứng minh một
chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc thuộc
địa bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến
đấu cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để
chiến thắng quân đội xâm lược hùng mạnh của một nước đế quốc chủ nghĩa" Lúc này phần lớn lãnh thổ Việt Nam trong tay Việt Minh. Các vùng kiểm
soát bao gồm hầu hết miền Bắc (trừ Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Móng
Cái,...) hầu hết Bắc Trung Bộ (trừ duyên hải nhỏ Quảng Bình đến Quảng
Nam), hầu hết Trung Trung Bộ (gồm cả Quảng Ngãi, Quy Nhơn,...), Bắc Tây
Nguyên, một phần nhỏ Nam Tây Nguyên, một phần cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ
(trong đó có các địa phương phía nam đồng bằng sông Hồng, bắc Tây
Nguyên và một số vùng khác, cùng với một số thị xã nhỏ ở miền bắc có
Việt Trì, một số thị xã nam đồng bằng sông Hồng, Công Tum, An Khê...mới
giành được). Phần lớn lãnh thổ Lào (vùng núi phía đông), một phần lãnh
thổ Campuchia (đông bắc, nhỏ hơn là vùng rừng núi tây và tây nam, một
phần đông nam) thuộc phe cách mạng. Nhìn
vào lịch sử, nước Pháp đã tạo ra nhiều sự kiện chấn động thế giới, cả
tự hào lẫn hổ thẹn. Dân tộc Pháp đã để lại trong lịch sử sự oanh liệt,
quả cảm bao nhiêu thì tầng lớp thống trị quí tộc - thực dân của nó cũng
để lại sự nhục nhã, yếu hèn bấy nhiêu. Biểu hiện nhục nhã nhất của thực
dân Pháp là hành động của chúng ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam. Bị
phát xít Đức thôn tính dễ dàng tại chính quốc, bị Nhật hất cẳng quá dễ dàng ở thuộc địa, phải xin
xỏ, chạy chọt Đồng Minh (Anh - Mỹ) để vào Nam Bộ; ký hiệp ước thua thiệt với Tàu Tưởng để thực ra là
xin xỏ vào Bắc Bộ; lật lọng hiệp ước với chính phủ Việt Minh, bước
đường cùng lại phải đi xin xỏ Mỹ để rồi vẫn cứ bị Việt Minh đánh tan ở
Điện Biên Phủ, đành phải “bán cái” cho Mỹ. Trận Điện Biên Phủ đã là cái
mốc đánh dấu sự suy tàn không khắc phục nổi của chủ nghĩa thực dân cũ
trên khắp thế giới.
Sau
9 năm kháng chiến trường kỳ, trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự,
phản công, đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng, quân
dân việt nam đã đánh bại quân xâm lược Pháp bằng trận tiêu diệt tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954). Đúng là:
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
(Thơ Tố Hữu)
Hội
nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi
phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không
đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra
thảo luận. Do sức ép của Trung Quốc và Liên Xô, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đồng ý với một bản hiệp định mang lại cho họ ít hơn những gì họ đã giành
được trên chiến trường.
Tuy ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam được tuyên bố độc lập, và điều
quan trọng là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công
nhận, nhưng Việt Nam bị tạm thời chia đôi thành hai khu vực quân sự để
hai bên quân đội, Việt Minh và Pháp, tập kết. Quân Pháp sẽ rút dần khỏi
Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử đi đến thống nhất Việt Nam sẽ được thực
hiện trong vòng 2 năm.
Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về – bộ đội tiếp quản thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1954
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trái) và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đón Bác Hồ tại Hà Nội hồi năm 1955. “ Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ" và khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng".
Cũng trong ngày này Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh
treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm phản
đối sự chia đôi đất nước. Tuy nhiên, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà đã lên tiếng: "Những
ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần
phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2
năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và giàu
mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm
qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu
tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý
vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây".Ngày
20-7-1954, Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sĩ) về Đông Dương kết thúc. Bản Tuyên
ngôn chính trị của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được
công bố. Hòa bình được lập lại trên cơ sở Pháp và các cường quốc dự Hội
nghị (riêng Mỹ đã không chịu ký vào bản Tuyên bố chung) công nhận sự độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Lào;
Cămpuchia; quân viễn chinh Pháp phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam (lấy vĩ
tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời); công việc nội bộ của Việt
Nam, do Việt Nam tự giải quyết (sẽ thực hiện tổng tuyển cử tự do vào
tháng 7-1956 để đi tới thống nhất đất nước); đến năm 1956, quân Pháp
phải rút hết khỏi Đông Dương.
Hiệp
định Giơnevơ là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ
nhưng rất vẻ vang của nhân dân Đông Dương, trong đó, cuộc đấu tranh vũ
trang chống thực dân Pháp của quân dân Việt Nam mang tính vừa là nền
tảng vừa là xung kích và có ý nghĩa quyết định. Dân tộc Việtcó
quyền tự hào về tinh thần quốc tế trong sáng của mình và cũng hoàn toàn
có quyền tự hào về tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta” (lời Hồ
Chí Minh). Trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp này, thương vong của Pháp là
140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương. Quân bản
xứ ở Đông Dương có 419.000 chết, bị thương hoặc bị bắt.
Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và ca nô, 9.283 xe quân
sự, 255 pháo, 504 xe quân sự và 130 nghìn súng các loại. Số thương vong
của Việt Minh được Pháp ước tính khoảng 175.000 - 300.000 chết và
300.000 - 500.000 bị thương (hiện vẫn chưa có số liệu kiểm chứng từ phía
Việt Nam).Khoảng 125.000–400.000 dân thường thiệt mạng. Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Càng về
cuối cuộc chiến, sự phản đối chiến tranh trong lòng nước Pháp ngày càng
dữ dội hơn. Đại tướng Pháp Henry Navare viết:
"Các
đảng viên Cộng sản (Pháp) ngay từ lúc này đã tích cực bênh vực Việt
Minh. Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đối với họ là một "cuộc chiến
tranh bẩn thỉu". Còn đối với những người khác, đây là một "cuộc chiến
tranh nhục nhã", "cuộc chiến tranh không dám xưng tên""
— Henry Navare
Chi phí cho cuộc xâm lược của Pháp tăng hàng năm theo
cấp số nhân.
Năm 1945: 3 tỷ Franc; năm 1946: 27 tỷ Franc; năm 1947: 53 tỷ Franc; năm
1948: 89 tỷ Franc; năm 1949: 130 tỷ Franc; năm 1950: 201 tỷ Franc; năm
1951: 308 tỷ Franc; năm 1952: 535 tỷ Franc. Tổng cộng trong toàn bộ cuộc
chiến, nước Pháp đã chi phí 3.370 tỷ Franc (vượt dự kiến 2.385 tỷ
Franc), tương đương gần 60 tỷ USD theo thời giá 2008, (trung bình là 1
tỉ Franc/ngày), bằng 28% giá trị GDP của Pháp năm 1953. Chính phủ Pháp
thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính
phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu hồi, 8 tổng
chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận.
Thành
quả đạt được là rất to lớn song chưa toàn vẹn, chưa tương xứng với
thắng lợi quân sự mà nhân dân Đông Dương gặt hái được. Bị như vậy là do
áp lực của những cường quốc tham gia hội nghị Giơnevơ mang tâm hồn vụ
lợi, ích kỷ, kẻ thì điên cuồng chống cộng, kẻ không chống cộng thì đem
thí quyền lợi của dân tộc anh em, đồng chí hướng nhằm bảo vệ quyền lợi
của dân tộc mình một cách hẹp hòi,ích kỷ,
không mã thượng.
16
giờ ngày 9-10-1954, tốp lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên sang
phía Gia Lâm. Nếu tính từ năm 1873 (Hà Thành thất thủ lần thứ nhất) thì
sau đúng 81 năm bị xâm lăng, Hà Nội mới sạch bóng quân xâm lược Pháp.
Nhiều phóng viên phương Tây chứng kiến quang cảnh lễ hạ cờ cuối cùng của
quân viễn chinh Pháp đã mô tả: “Từng phân đội lính Âu Phi mệt mỏi, ngán
ngẩm trong những bộ quần áo ướt sũng nước mưa đứng trước cột cờ sơn
trắng. Sau bài kèn, cờ từ từ hạ. Tướng Pháp là Mátxông đỡ lấy lá cờ 3
sắc ướt nhẽo, gập lại, buồn bã bước ra giao cho quan năm Đăcrăngsơ - một
sĩ quan chuyên coi đám lính gác thành từ ngày quân Pháp gây chiến tại
Hà Nội - nói vài câu với giọng trầm buồn… Khi đội kèn lại nổi lên, với
một điệu rầu rĩ rồi kết thúc… thì mặt nhiều sĩ quan của Pháp ướt đẫm
những nước… những giọt nước mắt hòa lẫn nước mưa…”
Sáng
ngày 10-10-1954, sư đoàn 308 với đầy đủ các đơn vị bộ binh, pháo binh,
cao xạ, cơ giới… , đại diện cho quân đội nhân dân Việt Nam, mở cuộc hành
quân khải hoàn từ 5 cửa ô tiến vào Hà Nội. Đi đầu đoàn quân ấy là Trung
đoàn Thủ Đô, lực lượng đã đánh những trận quyết tử kìm chân Pháp tại Hà
Nội trong những ngày đầu Toàn quốc Kháng chiến. Chúng ta có thể chiêm
ngưỡng quang cảnh đó trong những câu hát sau đây:
“Trùng trùng say trong câu hát
Lớp lớp đoàn quân tiến về
Chúng ta đi reo vang
Lúc quân thù đầu hàng
Cờ Hà Nội tung bay trên phố.
Trùng trùng quân đi như sóng
Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời
Chúng ta đem vinh quang
Sức dân tộc trở về
Người Hà Nội tươi vui từ đây.
Năm cửa ô đón chào đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón ngày mở năm cánh đào
Nhỏ giọt sương xuống long lanh
…
Trùng trùng…”
Chiều
ngày 10-10-1954, vào lúc 15 giờ, hàng vạn nhân dân Hà Nội dự lễ chào cờ
Chiến Thắng. Cờ đỏ sao vàng, tượng trưng thiêng liêng của Tổ quốc Việt
Nam thống nhất độc lập và tự do phần phật trên đỉnh Cột Cờ như phượng
múa, rồng bay giữa bầu trời thu gió lộng.
Tuy
nhiên cuộc chiến đấu giành quyền sống cơ bản của Dân tộc Việt vẫn chưa
kết thúc. Chỉ mới có một nửa đất nước được hoàn toàn giải phóng, còn nửa
kia, phần phía Nam từ vĩ tuyến 17, từ bên kia bờ sông Hiền Lương trở
xuống đến Mũi Cà mau còn phải chờ đợi thêm hai năm nữa để thực hiện hiệp
thương tổng tuyển cử theo như qui định của Hiệp định Giơnevơ.
Trong
khi Việt nam tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định, chờ ngày
thống nhất, Bắc và Nam xum họp một nhà (ai mà không thấy kết quả tổng
tuyển cử tự do nếu xảy ra thì cũng chỉ là thủ tục, hình thức vì ý chí
thống nhất của Dân tộc Việt đã quá rõ ràng) thì Đế quốc Mỹ lại ra sức
phá bỏ Hiệp định đó, dựng nên chính quyền tay sai ở Miền Nam.
Sống
trên một dải đất trù phú chim trời cá nước, rừng vàng biển bạc, nhưng
cũng gặp biết bao nhiêu gian lao, tình thế hiểm nghèo, Dân tộc Việt đã
được hun đúc nên những đức tính hiếm có: chan hòa, vị tha, thông minh,
kiên cường,
bất khuất, mã thượng, tin người. Cũng vì mã thượng mà Dân tộc ấy đã thực
hiện theo đúng tinh thần của Hiệp định Giơnevơ. Cũng vì tin người mà
Dân tộc ấy đã không ngờ lại phải lên đường chiến đấu với kẻ xâm lược mới
là Đế quốc Mỹ - cường quốc số một thế giới và không kém phát xít Đức về
sự tàn bạo, trong suốt 20 năm ròng rã nữa. Cũng vì thông minh, kiên
cường mà Dân tộc ấy đã làm cho cuộc chiến tranh vệ quốc của mình trở
thành cuộc kháng chiến thần thánh, được toàn thể nhân loại ngưỡng mộ,
cảm phục. Cũng vì bất khuất mà suốt mấy ngàn năm, Dân tộc ấy vẫn hiên
ngang tồn tại bên cạnh một gã láng giềng khổng lồ xấu tính, luôn túc
trực trong mình âm mưu bành trướng, xâm lược. Cũng vì chan hòa, vị tha
mà sau khi đánh cho “Mỹ cút, ngụy
nhào”, Dân tộc ấy lại chủ động bắt tay với chính quyền Mỹ, xóa đi mọi
hiềm khích để cùng nhau gác lại quá khứ, hướng tới một tương lai vì lợi
ích của hai dân tộc Việt - Mỹ và cũng đồng thời vì lợi ích của cả nhân
loại.
***
Mỹ
nhòm ngó Đông Dương từ lúc nào? Không thể biết đích xác được! Vì sao?
Vì lịch sử là quan niệm có chứng thực của nhà khảo cổ trước di tích; là
sự lược thuật tóm tắt theo quan niệm của người chép sử đương thời; là
quan niệm lại, là suy tư lại của các nhà viết sử hậu thế trước lịch sử
đã qua cùng với những phát hiện mới. Nói gọn lại, lịch sử là biên niên,
lược thuật, đánh giá theo quan niệm của nhà sử học về một hiện thực đã
lùi vào quá khứ. Chính vì phụ thuộc vào quan niệm của con người chép sử
mà một hiện thực đã qua có nhiều lịch sử về nó và những lịch sử đó
thường là không đầy đủ sự kiện, phiến diện và kém xác thực. Tuy nhiên
một lịch sử được viết nên từ quan sát, từ suy tư trên quan niệm của Đức
Huyền Diệu, nghĩa là lấy tình yêu thương đồng loại, yêu thương cuộc sống
làm nền tảng lý luận thì bao giờ cũng có độ tin cậy cao nhất.
Một cố vấn Mỹ và binh lính Việt Nam Cộng hòa Cuối 1963, ở Nam Việt Nam có 16.300 cố vấn quân sự Mỹ làm việc, có nhiệm vụ trưức hết là đào tạo quân đội Nam Việt Nam.
Theo
biên niên sử thì ngay từ năm 1819, tức là chỉ 36 năm sau khi nước Mỹ
giành được độc lập, người ta đã thấy những chiến thuyền Mỹ tới Việt Nam,
dò theo sông Đồng Nai lên Sài Gòn. Năm 1832, thuyền buôn Mỹ xuất hiện ở
vùng biển Trung Bộ và bỏ neo ở Vũng Lâm, Phú Yên. Năm 1836, chiến
thuyền Mỹ xuất hiện và bỏ neo ở Vịnh Sơn Trà, Đà Nẵng. Dù có mon men đến
bờ Tây - Thái Bình Dương như thế thì một nước Mỹ tư bản non trẻ cũng
không thể chen chân vào được trước những nước tư bản “gạo cội” như Anh,
Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha… (đã chiếm những vùng béo bở nhất). Nước Mỹ
chỉ còn cách xây dựng thế lực của mình và chờ đợi.
Chiến
tranh lần thứ nhất kết thúc đã tạo ra cơ hội bành trướng thế lực cho
Mỹ. Sau chiến tranh, các nước tư bản nói chung “nghèo đi” bởi bị tàn phá
thì Mỹ lại giàu lên và nhanh chóng trở thành cường quốc tư bản số một.
Tại hội nghị “chia phần” của các nước tư bản thắng trận họp ở Pari, tổng
thống Mỹ lúc đó là Uynsơn đã tung ra chương trình “14 điểm” nhằm khẳng
định vị thế của Mỹ trong các cường quốc tư bản thế giới. Tại Hội nghị ở
Oasinhtơn năm 1921, đế quốc Mỹ bắt đầu lớn tiếng mặc cả thị trường đối
với các cường quốc tư bản khác, đòi quyền lợi ở vùng Viễn Đông và Tây -
Thái Bình Dương. Cũng năm 1921, tại Nữu Ước (Mỹ), đã thành lập Ban
nghiên cứu thuộc địa Pháp - Mỹ nhằm tìm cách đầu tư tư bản Mỹ vào các
thuộc địa của Pháp. Tại buổi chiêu đãi do Ban này tổ chức, Anbe Xarô, Bộ
trưởng Bộ thuộc địa và Quyền trưởng phái đoàn Pháp tại Hội nghị
Oasinhtơn đã đọc diễn văn ngỏ ý mời các công ty tư bản Mỹ đầu tư vào
Đông Dương. Do có sự phản ứng mạnh của giới kinh doanh Pháp có nhiều
quyền lợi ở hải ngoại mà tư bản Mỹ chưa giám đầu tư vốn nhiều vào Đông
Dương mà chỉ đứng lại ở quan hệ buôn bán. Nếu như trong những năm 1925 -
1929, hàng nhập khẩu từ Đông Dương chỉ chiếm 2,6% tổng số hàng nhập
khẩu vào Mỹ thì đến những năm 1935 - 1939 đã tăng lên đến 6,6% (riêng
cao su là 94% , thiếc là 3% trong tổng giá trị hàng mà Mỹ mua của Đông
Dương).
Cách đây gần 80 năm, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã rất chủ động và nhiệt thành mở đường cho quan hệ
Việt - Mỹ. Tiếc là do hoàn cảnh lịch sử, cả hai nước đã phải trải qua
những trang sử đau thương trước khi trở thành Đối tác toàn diện của
nhau.
Ngay sau khi giành lại được độc lập, bên cạnh việc củng cố, xây dựng
chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã có những hoạt động tích cực mở rộng quan hệ quốc tế.
Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau đó hơn 1 tháng, ngày 17/10/1945, Bác Hồ
đã gửi điện văn cho Tổng thống Mỹ khi đó là Harry Truman, đề nghị phía
Mỹ công nhận nước Việt Nam.
Trong hai năm 1945 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện
gửi Tổng thống Harry Truman, 3 thư và điện gửi Bộ trưởng Ngoại giao
James Byrnes.
Trong chuyến thăm Mỹ vào 7/2013, tại cuộc hội đàm ở Nhà Trắng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã giới thiệu với Tổng thống Obama bức thư Bác Hồ
gửi Tổng thống Truman ngày 16/2/1946, trong đó bày tỏ Việt Nam mong
muốn được “hoàn toàn độc lập” và ý nguyện thiết lập “hợp tác đầy đủ” với
Mỹ.
Đến tháng 5/2022, nhân dịp thăm và làm việc tại Mỹ và Liên Hợp Quốc, ở
thủ đô Washington DC, trong cuộc tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, Thủ tướng Phạm Minh Chính
khi trao đổi về quan hệ song phương Việt Nam - Mỹ đã nhấn mạnh quan hệ
hai nước có lịch sử đặc biệt, ngay từ khi Việt Nam mới giành độc lập năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới Tổng thống Mỹ Truman, trong
đó đặc biệt là lá thư ngày 16/2/1946. (Bức thư gốc hiện đang được lưu giữ tại Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ)
Chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ lại tạo ra cơ hội mới đầy thuận lợi cho
Mỹ dấn sâu vào Đông Dương. Tại Hội nghị Cairô (Ai Cập) năm 1943, tổng
thống Mỹ là F. Rudơven đã đề ra ba giải pháp cho Đông Dương khi chiến
tranh kết thúc:
1- Trả lại cho Pháp
2- Trao cho Tưởng Giới Thạch như là một món chiến lợi phẩm
3- Cho Đông Dương độc lập nhưng trước đó phải đặt dưới sự công quản quốc tế một thời gian.
Đến
tháng 1-1944, Rudơven gạt hai giải pháp đầu, chọn giải pháp thứ ba và
xác định rõ Mỹ phải có chân trong ban quản trị quốc tế ấy. Ngày
24-1-1944, trong một ghi chép, Rudơven có viết: “Nước Pháp đã chiếm một
nước 30 triệu dân, trong gần 100 năm và nhân dân trở nên tồi tệ hơn lúc
họ mới đến… Nước Pháp đã vắt kiệt họ trong 100 năm. Nhân dân Đông Dương
có quyền được hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”. Tại cuộc họp báo trên tàu
Quiney Adamn của Mỹ ngày 23-2-1945, Rudơven tiết lộ rằng Đông Dương sẽ
được lãnh đạo bởi một ban quản trị gồm “1 người Pháp, 1 hoặc 2 người
Đông Dương, 1 người Trung Quốc, 1 người Nga và vì họ ở trên bờ biển nên
cũng có 1 người Mỹ và có thể có 1 người Philippin”.
Rudơven
có thể là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của nước Mỹ, nhưng trong việc đề ra
giải pháp giải quyết vấn đề Đông Dương thì vẫn bị cái bản chất kẻ cả,
ích kỷ của thực dân - đế quốc làm cho mù quáng, thiển cận. Tại sao không
để cho nhân dân Đông Dương tự quyết vận mạng của mình? Tại sao nhân dân
Đông Dương lại không được cái quyền cơ bản như nhân dân Mỹ, đã ghi
trong hiến pháp Mỹ là “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền
tự do và mưu cầu hạnh phúc”? Rudơven “chê” thực dân Pháp là vì “thương”
nhân dân Đông Dương thực sự như đã nói hay là vì mục đích nào khác? Muốn
trả lời những câu hỏi ấy, phải nhìn vào hành động thực tế của Mỹ ở Đông
Dương.
Cuối
năm 1944, một máy bay Mỹ bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy. Phi
công phải nhảy dù vùng núi gần tỉnh lỵ Cao Bằng. Quân Nhật lùng sục
nhưng không bắt được viên phi công vì người này đã được Việt Minh cứu,
đưa về cơ sở cách mạng. Sô (Shaw), tên người phi công Mỹ, được Việt Minh
tổ chức đưa về Côn Minh (Trung Quốc), nơi đóng của một lực lượng không
quân Mỹ. Đến biên giới Việt - Trung, Sô được gặp Hồ Chí Minh. Trong cuộc
nói chuyện, Sô đã đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Nhân tiện,
cũng cần gặp một số cán bộ Việt Minh ở đó nên Hồ Chí Minh đã nhận lời.
Những người Mỹ ở Côn Minh (đang giúp Tưởng chống Nhật) đã cảm ơn Hồ Chí
Minh sự giúp đỡ cho Sô và tặng Việt Minh một số tiền và thuốc men. Hồ
Chí Minh chỉ nhận thuốc men, không nhận tiền. Khi Tổng tư lệnh không
quân Mỹ ở Trung Quốc, tướng Sênôn (Chenault) hỏi Hồ Chí Minh rằng Việt
Minh có vui lòng giúp đỡ, tổ chức cứu những phi công Đồng Minh bị rơi ở
Đông Dương không, thì ông đáp rằng bổn phận của những người cách mạng
Việt Nam là giúp đỡ Đồng Minh để cùng nhau chống phát xít.
Đây
là một cơ hội tốt để Mỹ thực hiện ý đồ của Rudơven về Đông Dương. Vì
vậy, ngày 16-7-1945, một nhóm sĩ quan tình báo Mỹ (OSS) đã nhảy dù xuống
căn cứ địa Việt Bắc trên danh nghĩa tổ chức cứu giúp phi công Đồng Minh
và giúp đỡ Việt Minh (chia làm 2 toán, nhảy dù làm 2 đợt).
Hồ
Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để cùng
với những người Mỹ này tổ chức thành một đơn vị gọi là “Bộ đội Việt -
Mỹ” với quân số gần 200 người do Đàm Quang Trung chỉ huy và thiếu tá Mỹ
là Tômát đóng vai trò là tham mưu trưởng đại đội. Trong gần một tháng ở
chiến khu Việt Bắc, đơn vị này tập trung vào việc huấn luyện quân sự, về
chiến thuật du kích, sử dụng vũ khí mới… Máy bay Mỹ có thả dù tiếp tế
cho Bộ đội Việt - Mỹ một số vũ khí.
Ngày
16-8-1945, một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân, xuất phát
từ Tân Trào (Tuyên Quang) tiến đánh quân Nhật và tay sai ở thị xã Thái
Nguyên. Đại đội Việt - Mỹ cũng được lệnh hành quân tham gia trong cuộc
tiến công này.
Ngày
20-8-1945, 400 binh lính bảo an do quản Khiêm chỉ huy đã đầu hàng quân
cách mạng. Với số vũ khí mới thu được gồm 600 súng trường và một số súng
máy, Quân giải phóng tổ chức thêm hai chi đội vũ trang mới. Đại đội
Việt - Mỹ được bổ sung quân số để trở thành chi đội 4 do Đàm Quang Trung
làm chi đội trưởng và thiếu tá Tômát vẫn đóng vai trò tham mưu trưởng
chi đội.
Chi
đội 4 vừa thành lập xong thì được lệnh đưa một trung đội quay lại Tân
Trào đón Hồ Chí Minh cùng 2 đại đội cấp tốc hành quân về Hà Nội, một đại
đội ở lại tiếp tục đánh Nhật ở Thái Nguyên. Trong bộ phận về Hà Nội có
những người Mỹ. Ngày 9-9-1945, Thiếu tá Tômát cùng nhóm quân nhân, tình
báo người Mỹ này chấm dứt nhiệm vụ và trở về nước.
Sự
kiện chớp thời cơ, nhanh chóng thành công của Cách mạng Tháng Tám và
nhanh chóng tuyên bố Việt Nam độc lập của chính phủ lâm thời do Hồ Chí
Minh đứng đầu, ngoài mọi tiên liệu của các lực lượng Đồng Minh đã làm
cho kế hoạch của Rudơven về Đông Dương phá sản.
Tổng thống Mỹ Harry S. Truman là người đã đặt nền móng cho sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, đã chuyển từ thái độ thờ ơ sang trực tiếp hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương.
Bức thư ngày 16/2/1946, Bác viết: “An ninh và tự do chỉ có thể được
bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực
dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường
quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp
chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực
Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc
lập của chúng tôi".
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư viết, mục tiêu của Việt Nam là độc lập
hoàn toàn và hợp tác đầy đủ với Mỹ: "Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để
làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.
Trước đó, trong thư gửi Tổng thống Harry Truman ngày 18/1/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam nồng nhiệt hoan nghênh bài phát
biểu của Tổng thống Truman ngày 28/10/1945, trong đó nêu rõ các nguyên
tắc bình đẳng và quyền tự quyết được nêu ra trong các Hiến chương Đại
Tây Dương và San Francisco”.
Những bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman ngày 18/1/1946 và 15/7/1969 nhưng đều không được trả lời
Cuối thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ hy vọng “Mỹ sẽ giúp nhân dân
Việt Nam đạt được độc lập và ủng hộ nhân dân Việt Nam trong quá trình
tái thiết đất nước” và cam kết nếu nhận được sự ủng hộ của Mỹ, “Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa sẽ đóng góp công sức vào việc xây dựng hòa bình và
thịnh vượng trên thế giới.
Năm 1969, khi Mỹ ngày càng sa lầy và chịu tổn thất nặng nề cũng như
sự chỉ trích mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế và cả trong chính nước Mỹ,
Tổng thống Richard Nixon đã phải gửi bức thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh
ngày 15/7/1969 thể hiện mong muốn đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến
tranh ở Việt Nam.
Thư của Tổng thống Richard Nixon gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh
ngày 15/7/1969 (trái) và thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày
25/8/1969.
Và hơn 1 tháng sau, tuy sức khỏe suy yếu nhiều, Bác vẫn dành tâm
nguyện cho dân cho nước, cho nền độc lập của dân tộc khi gửi lá thư phúc
đáp tới Tổng thống Mỹ.
Nội dung thư Bác viết: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi yêu chuộng hòa
bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự...
Trong thư, ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình
công bằng. Muốn vậy, Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút
quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân
miền Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước
ngoài".
Chiến tranh đã ngăn lại những bước hợp tác từ hai phía và mọi thứ chỉ
thực sự được khởi tạo và phát triển khi ngày 12/7/1995, Tổng thống Mỹ
Bill Clinton và Thủ tướng Võ Văn Kiệt chính thức tuyên bố bình thường
hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao.
Bộ đôi Eisenhower-Nixon năm 1952. Phó tổng thống Nixon từng trực tiếp sang Đông Dương và thị sát việc Pháp xây dựng cụm cứ điểm Điện Biên Phủ.
Chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ lại tạo ra cơ hội mới đầy thuận lợi cho
Mỹ dấn sâu vào Đông Dương. Tại Hội nghị Cairô (Ai Cập) năm 1943, tổng
thống Mỹ là F. Rudơven đã đề ra ba giải pháp cho Đông Dương khi chiến
tranh kết thúc:
1- Trả lại cho Pháp
2- Trao cho Tưởng Giới Thạch như là một món chiến lợi phẩm
3- Cho Đông Dương độc lập nhưng trước đó phải đặt dưới sự công quản quốc tế một thời gian.
Đến
tháng 1-1944, Rudơven gạt hai giải pháp đầu, chọn giải pháp thứ ba và
xác định rõ Mỹ phải có chân trong ban quản trị quốc tế ấy. Ngày
24-1-1944, trong một ghi chép, Rudơven có viết: “Nước Pháp đã chiếm một
nước 30 triệu dân, trong gần 100 năm và nhân dân trở nên tồi tệ hơn lúc
họ mới đến… Nước Pháp đã vắt kiệt họ trong 100 năm. Nhân dân Đông Dương
có quyền được hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”. Tại cuộc họp báo trên tàu
Quiney Adamn của Mỹ ngày 23-2-1945, Rudơven tiết lộ rằng Đông Dương sẽ
được lãnh đạo bởi một ban quản trị gồm “1 người Pháp, 1 hoặc 2 người
Đông Dương, 1 người Trung Quốc, 1 người Nga và vì họ ở trên bờ biển nên
cũng có 1 người Mỹ và có thể có 1 người Philippin”.
Rudơven
có thể là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của nước Mỹ, nhưng trong việc đề ra
giải pháp giải quyết vấn đề Đông Dương thì vẫn bị cái bản chất kẻ cả,
ích kỷ của thực dân - đế quốc làm cho mù quáng, thiển cận. Tại sao không
để cho nhân dân Đông Dương tự quyết vận mạng của mình? Tại sao nhân dân
Đông Dương lại không được cái quyền cơ bản như nhân dân Mỹ, đã ghi
trong hiến pháp Mỹ là “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền
tự do và mưu cầu hạnh phúc”? Rudơven “chê” thực dân Pháp là vì “thương”
nhân dân Đông Dương thực sự như đã nói hay là vì mục đích nào khác? Muốn
trả lời những câu hỏi ấy, phải nhìn vào hành động thực tế của Mỹ ở Đông
Dương.
Tướng Edward Lansdale, chỉ huy cố vấn Mỹ ở Việt Nam
Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm "Con rối Sài Gòn"
Cuối
năm 1944, một máy bay Mỹ bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy. Phi
công phải nhảy dù vùng núi gần tỉnh lỵ Cao Bằng. Quân Nhật lùng sục
nhưng không bắt được viên phi công vì người này đã được Việt Minh cứu,
đưa về cơ sở cách mạng. Sô (Shaw), tên người phi công Mỹ, được Việt Minh
tổ chức đưa về Côn Minh (Trung Quốc), nơi đóng của một lực lượng không
quân Mỹ. Đến biên giới Việt - Trung, Sô được gặp Hồ Chí Minh. Trong cuộc
nói chuyện, Sô đã đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Nhân tiện,
cũng cần gặp một số cán bộ Việt Minh ở đó nên Hồ Chí Minh đã nhận lời.
Những người Mỹ ở Côn Minh (đang giúp Tưởng chống Nhật) đã cảm ơn Hồ Chí
Minh sự giúp đỡ cho Sô và tặng Việt Minh một số tiền và thuốc men. Hồ
Chí Minh chỉ nhận thuốc men, không nhận tiền. Khi Tổng tư lệnh không
quân Mỹ ở Trung Quốc, tướng Sênôn (Chenault) hỏi Hồ Chí Minh rằng Việt
Minh có vui lòng giúp đỡ, tổ chức cứu những phi công Đồng Minh bị rơi ở
Đông Dương không, thì ông đáp rằng bổn phận của những người cách mạng
Việt Nam là giúp đỡ Đồng Minh để cùng nhau chống phát xít.
Đây
là một cơ hội tốt để Mỹ thực hiện ý đồ của Rudơven về Đông Dương. Vì
vậy, ngày 16-7-1945, một nhóm sĩ quan tình báo Mỹ (OSS) đã nhảy dù xuống
căn cứ địa Việt Bắc trên danh nghĩa tổ chức cứu giúp phi công Đồng Minh
và giúp đỡ Việt Minh (chia làm 2 toán, nhảy dù làm 2 đợt).
Hồ
Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để cùng
với những người Mỹ này tổ chức thành một đơn vị gọi là “Bộ đội Việt -
Mỹ” với quân số gần 200 người do Đàm Quang Trung chỉ huy và thiếu tá Mỹ
là Tômát đóng vai trò là tham mưu trưởng đại đội. Trong gần một tháng ở
chiến khu Việt Bắc, đơn vị này tập trung vào việc huấn luyện quân sự, về
chiến thuật du kích, sử dụng vũ khí mới… Máy bay Mỹ có thả dù tiếp tế
cho Bộ đội Việt - Mỹ một số vũ khí.
Ngày
16-8-1945, một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân, xuất phát
từ Tân Trào (Tuyên Quang) tiến đánh quân Nhật và tay sai ở thị xã Thái
Nguyên. Đại đội Việt - Mỹ cũng được lệnh hành quân tham gia trong cuộc
tiến công này.
Ngày
20-8-1945, 400 binh lính bảo an do quản Khiêm chỉ huy đã đầu hàng quân
cách mạng. Với số vũ khí mới thu được gồm 600 súng trường và một số súng
máy, Quân giải phóng tổ chức thêm hai chi đội vũ trang mới. Đại đội
Việt - Mỹ được bổ sung quân số để trở thành chi đội 4 do Đàm Quang Trung
làm chi đội trưởng và thiếu tá Tômát vẫn đóng vai trò tham mưu trưởng
chi đội.
Chi
đội 4 vừa thành lập xong thì được lệnh đưa một trung đội quay lại Tân
Trào đón Hồ Chí Minh cùng 2 đại đội cấp tốc hành quân về Hà Nội, một đại
đội ở lại tiếp tục đánh Nhật ở Thái Nguyên. Trong bộ phận về Hà Nội có
những người Mỹ. Ngày 9-9-1945, Thiếu tá Tômát cùng nhóm quân nhân, tình
báo người Mỹ này chấm dứt nhiệm vụ và trở về nước.
Sự
kiện chớp thời cơ, nhanh chóng thành công của Cách mạng Tháng Tám và
nhanh chóng tuyên bố Việt Nam độc lập của chính phủ lâm thời do Hồ Chí
Minh đứng đầu, ngoài mọi tiên liệu của các lực lượng Đồng Minh đã làm
cho kế hoạch của Rudơven về Đông Dương phá sản. Theo chính phủ Mỹ, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự
quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu
Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc
đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp
thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa gặp xung
đột với mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản
và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại châu Âu. Một số đồng minh NATO
khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự
mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả
các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết
hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành
phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu..
Hoa Kỳ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với
sức mạnh của Xô Viết ở châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ II. Từ tháng
9 năm 1945, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á. Hồ Chí Minh
nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình
Dương,
ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc
giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại,
cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y
tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Công
thức Pôtxđam chia Đông Dương thành hai khu vực giải giáp của Đồng Minh
qua vĩ tuyến 16 đã tạo ra khả năng Pháp được quân Anh ủng hộ và sự “thỏa
hiệp” của Tưởng, độc chiếm Đông Dương lần thứ hai.
Ngày
16-9-1945, tức 12 ngày sau khi Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”
tại quảng trường Ba Đình, tướng Mỹ là Galêgiơ (Gallaghet) đã bay đến Hà
Nội để tìm hiểu xu hướng chính trị của chính phủ Việt Minh và đề nghị
để Mỹ đảm nhiệm khôi phục hệ thống giao thông, đường sắt và sân bay. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dứt khoát khước từ. Ngày 20-9-1945, Galêgiơ báo cáo
về Mỹ: “Đảng Việt Nam, Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo, rõ ràng đang
ngồi trên lưng ngựa. Hồ Chí Minh này là một nhà hoạt động cách mạng lão
thành và là tù nhân chính trị nhiều năm, là sản phẩm của Mátxcơva, một
người cộng sản… Bây giờ họ đã tuyên bố nền độc lập của họ…” Từ năm 1949, sau khi Nội chiến Trung Quốc
kết thúc, tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khuynh hướng thân
Liên Xô tại nhiều nước Ả Rập, giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn
sóng đi theo chủ nghĩa Cộng sản tại các nước thế giới thứ ba. Trong điện
tín số 831 ngày 3/2/1947 gửi cho Đại sứ quán Mỹ tại Paris, bộ trưởng
Ngoại giao Mỹ George Marshall nhận định "chúng
ta không thấy có lợi ích gì trong việc nền cai trị đế quốc thực dân lại
được thay thế bởi nền triết lý và các tổ chức chính trị bắt nguồn từ
Kremlin và do Kremlin kiểm soát". Chính phủ Mỹ đưa ra Thuyết domino,
theo đó Mỹ tin rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các
quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ bị đe dọa. Bởi vậy, Mỹ bắt đầu viện
trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh (chỉ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa), một tổ chức/chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô
và Trung Quốc. Tháng 5-1949, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson,
dù chẳng có chứng cớ nào về các mối liên lạc giữa Hồ Chí Minh với
Kremlin, đã chỉ thị cho đại diện Mỹ tại Hà Nội cảnh báo những người quốc
gia Việt Nam có ý định liên minh với Việt Minh, bằng những lời lẽ sau
đây:"Qua hiểu biết về quá trình đào tạo của ông Hồ, không thể có
nhận định nào khác hơn ông Hồ là một tên Cộng sản quốc tế thực thụ vì rõ
ràng ông Hồ đã không thể chối cãi được các mối liên hệ với Moscow và
chủ nghĩa cộng sản quốc tế và là một người châu Á được đề cao trong báo
chí quốc tế cộng sản và được họ ủng hộ. Hơn nữa Mỹ đã không hề bị xúc
động bởi tính chất dân tộc chủ nghĩa của lá cờ đỏ với ngôi sao vàng." Mỹ tuyên bố "ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện "lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản"
ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ
trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho
là "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc".
Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt
khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước
những mối đe dọa lo lớn hơn tại châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2
mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc
chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ
dự kiến, người Pháp sau khi chiến thắng sẽ - "một cách cao cả" - rút khỏi Đông Dương.
Bắt
đầu từ đó, đế quốc Mỹ tích cực hoạt động theo hướng tạo ra một chính
phủ đối lập với chính phủ Hồ Chí Minh. Những chuyến đi công cán ngoại
giao của Uyliam Bulít, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp, cố vấn tối cao của tổng
thống Mỹ khi đó là Truman, đã chứng minh cho nhận định trên.
Ngày 14-9-1951, tướng Pháp De Lattre sang gặp Tổng thống Harry S.Truman
và lô hàng gồm nhiều chiến cụ và khí giới: 9.000 súng tiểu liên, 500
đại liên, 5.000 xe chuyên chở đủ loại, 600 máy truyền tin và các xe
chiến đấu, máy bay, tàu hải quân, tàu sửa chữa... của Mỹ đã được “viện
trợ” cho Pháp. Tính từ tháng 7-1950 đến ngày 1-1-1952, Mỹ đã cung cấp
cho Pháp vũ khí và trang bị quân sự trị giá gần 300 triệu USD.
Năm 1953, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã đề ra “học thuyết Eisenhower”,
lấy chiến lược “trả đũa ào ạt” làm chiến lược quân sự toàn cầu mới.
Tháng 7-1953, Mỹ phê chuẩn “Kế hoạch Navarre” của bộ chỉ huy Pháp, gánh
chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu USD. Tính đến
tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã “viện
trợ” cho chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương gồm 360 máy bay,
1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe
quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy.
Tổng kết lại, nếu như năm 1950, Mỹ chỉ “viện trợ” quân sự 10 triệu USD
cho Pháp trong cuộc chiến tranh thì đến năm 1954, số lượng này đã tăng
lên đến 1,1 tỷ USD, chiếm 78% chi phí chiến tranh xâm lược của Pháp ở
Đông Dương. Từ năm 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự
của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương đã vượt quá 3,5 tỷ
USD. Tướng Pháp Navarre sau này viết trong hồi ký rằng: “Địa vị của
chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”.
Sau 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng Chiến thắng
Điện Biên Phủ, Việt Nam đã buộc thực dân Pháp phải ký vào Hiệp định
Geneva để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhưng Mỹ
đã ra sức tuyên truyền kêu gọi người dân miền Bắc (đặc biệt là đồng bào
Thiên Chúa giáo) di cư vào Nam. Mỹ đã sử dụng 1.455.000USD, 41 lượt tàu
biển và 19 máy bay vận tải cho việc này.
Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là "một
trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng
trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm
đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng
bất kỳ giá nào".
Một số khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ
sự tồn tại của các chính phủ thân Mỹ tại Đông Nam Á, không chỉ nhằm làm
"tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu
dài của "Quyền lực tư bản" Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á.
Vào ngày 25-6-1954, Mỹ đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng
cái gọi là “Quốc gia Việt Nam”. Ngô Đình Diệm là ai? Đây là tên tay sai
từng làm quan cho triều đình Huế và là tên tay sai bị Pháp hắt hủi nhưng
được Mỹ lựa chọn, đào tạo.
Bằng một loạt “trò hề chính trị” như trò “trưng cầu dân ý” để phế truất
Bảo Đại rồi tự suy tôn mình làm tổng thống (tháng 10-1955), rồi tổ chức
bầu cử riêng rẽ, lập cái gọi là “quốc hội lập hiến” (tháng 5-1956), ban
hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” (tháng 10-1956). Ngô
Đình Diệm trắng trợn phá hoại việc thống nhất Việt Nam, đồng thời xé bỏ
luôn Hiệp định Geneva.
Lầu Năm Góc đã khẳng định: “Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo
của Hoa Kỳ”. Bởi vậy, không lạ gì Mỹ là quốc gia đầu tiên “công nhận”
Việt Nam Cộng hòa.
Trước hết, Mỹ muốn Đông Dương là một vùng tự trị, không chịu ảnh hưởng cộng sản mà liên kết với phương Tây, trước hết là Pháp.
Để phù
hợp với “nguyện vọng” của Mỹ, Pháp đã vực dậy ông vua cuối cùng của
triều Nguyễn và “đã chết” là Bảo Đại làm con bài. Sợ Bảo Đại, kẻ nhu
nhược, bốc đồng và trác táng có thể quan hệ bí mật với chính phủ Hồ Chí
Minh, Pháp đưa ra phương án giải tán “nước Nam Kỳ tự trị” để thành lập
một chính quyền Việt Nam “tự trị” do Pháp đỡ đầu về quốc phòng và ngoại
giao (thực chất thì cũng như chính sách bảo hộ hồi thế kỷ XIX). Vài
“chính khách” Việt Nam do Pháp nặn ra, kéo đến Hồng Công thuyết phục Bảo
Đại và ngày 7-12-1947, tại Vịnh Hạ Long, ký thỏa thuận với Pháp. Theo
đó Pháp “cho” Việt Nam độc lập nhưng kiểm soát quân đội, tài chính và
ngoại giao. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại ký thỏa ước của thỏa thuận vịnh Hạ
Long: Pháp “giữ hộ” Việt Nam vấn đề quốc phòng, tài chính, ngoại giao.
Năm 1946, ngày 25-5, Tại Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ là
luật sư Béziat gửi cho Cao Ủy Pháp một bức thư chính thức xin thành lập
một chính phủ lâm thời của nước Cọng Hòa Nam Kỳ. Ngày 27-5, Cao ủy Pháp
trả lời tạm thời chấp thuận việc thành lập chính phủ đó. Tuy nhiên
cũng lưu ý rằng “Nam Kỳ là một mãnh đất thuộc di sản Quốc gia Pháp” cho nên cần phải được Quốc hội Pháp thông qua (Hsltr/Quốc gia Pháp).
*( Nam Kỳ là đất bị quân Pháp đánh chiếm
rồi bắt vua Tự Đức phải bán cho họ vào năm 1874 với giá do họ ấn định.
Từ đó nước Việt Nam có hai nước là nước An Nam của nhà Nguyễn và nước
Nam Kỳ của Pháp. Tháng 3 năm 1945 Nhật chiếm Nam Kỳ của Pháp rồi tháng 6
năm 1945 giao lại cho Bảo Đại, nhập trở lại nước Việt Nam. Giờ đây
Pháp thành lập nước Nam Kỳ tự trị để tách ra Nam Kỳ khỏi Việt Nam như
trước.
Năm
1950, sau khi đánh bật được tập đoàn cờ bạc Ma Cao, thế lực của Bảo Đại
đã hoàn toàn độc chiếm trung tâm cờ bạc Đại Thế Giới ở Sài Gòn.
Bảo Đại - Ông vua bù nhìn.
Năm
1950, Truman chủ trương không chỉ “giữ chân” cộng sản ở Châu Âu mà còn
phải tích cực ngăn chặn cộng sản ở Châu Á. Ngay lập tức, Dean Rush thông
báo: “Các tài nguyên của Mỹ phải được triển khai để ngăn Cộng sản chiếm
Đông Dương và Đông nam Á”. Đến đây, Mỹ đã tỏ ra quyết tâm giữ Đông
Dương hơn cả Pháp.
(Nhưng
tại sao đế quốc Mỹ nói riêng và cả thế giới tư bản nói chung lại căm
ghét, lo lắng và chống cộng điên cuồng như vậy? Nguyên nhân là, những
người theo chủ nghĩa Cộng sản cho rằng muốn xây dựng một xã hội tươi
đẹp, không còn cảnh người bóc lột người thì phải làm cuộc cách mạng vô
sản và mục tiêu của cuộc cách mạng ấy là đập tan chính quyền tư sản, xóa
bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu đó của cuộc
cách mạng vô sản rõ ràng là cực đoan, duy ý chí và mù quáng bởi vì chỉ
có thể cố gắng cải tạo mặt trái xấu xa của nhân tính, cái tàn dư tàn
bạo, độc ác của xã hội phong kiến, chứ không thể tiêu diệt được một
phương thức kinh tế - xã hội xuất hiện một cách tự nhiên theo trình độ
của tiến trình xã hội phù hợp với đạo lý. Hay có thể nói, trong thời đại
ngày nay, hành động xóa bỏ nền sản xuất tư bản là trái đạo lý tự nhiên. Loài
người tồn tại được là vừa nhờ có những con người độc lập, tự do, vừa chịu sự ràng buộc. Độc lập, tự
do tương đối là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển. Dù là nô lệ đi chăng nữa thì
cũng không thể mất hết độc lập, tự do nếu còn tồn tại. Độc lập, tự do
làm xuất hiện ý chí sáng tạo ở mỗi con người và khi tư hữu (về tư liệu sản xuất)
vẫn còn là quyền lợi thì không thể xóa bỏ được ý chí tư hữu.
Tiếp
theo, nguyên nhân để cách mạng vô sản đề ra cái mục tiêu ấy của nó
chính là quan niệm thiếu biện chứng của học thuyết Mác về sự phân tầng
xã hội dưới luận đề “Giai cấp và đấu tranh giai cấp”. Sự phân
tầng xã
hội là hiện tượng có thực và nó luôn vận động, chuyển hóa, biến đổi theo
điều kiện, hoàn cảnh cũng luôn biến đổi trong từng thời gian, từng giai
đoạn vận động xã hội. Chúng ta quan niệm rằng chỉ khi hai tầng lớp dân
cư xã
hội do có hiện tượng bóc lột mà phát sinh mâu thuẫn gay gắt, đối kháng
nhau về mưu cầu sống còn thì lúc đó mới được gọi là phân tầng
giai cấp và như thế trong xã hội, nếu xuất hiện giai cấp thì chỉ có thể
là hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, mà biểu hiện phổ biến để phân biệt
giữa hai giai cấp ấy là hữu sản - vô sản, là giàu - nghèo, tạm thời có
quyền lực - không có quyền lực… Vậy thì bản thân những biểu hiện tương
phản hữu sản - vô sản, giàu - nghèo chưa hẳn là thực sự phân tầng giai
cấp.
Theo
Mác thì: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”. Đó là câu nói theo ý kiến
chúng ta là vừa đúng vừa không đúng và nếu bỏ “của sản xuất” đi thì đúng
hơn.
Theo
Lê Nin định nghĩa thì đấu tranh giai cấp là “Cuộc đấu tranh của quần
chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền,
đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những công nhân
làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp
tư sản”. Định nghĩa như vậy là chưa rõ ràng và dễ gây ngộ nhận. Cách
định nghĩa sau đây trong giáo trình “Triết học Mác - Lê Nin” (NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004) là đúng hơn:
“Thực
chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về
mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai
cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc
lột”.
Theo
chúng ta, cách mạng vô sản là cuộc đi đòi lại quyền lợi chính đáng của
quần chúng đã bị giai cấp thống trị chiếm đoạt một cách không chính
đáng, xóa bỏ chính quyền đã trở nên phản động, tàn bạo để xây dựng một
chính quyền mới do dân và vì dân.
Có
lẽ, lí luận vế giai cấp và đấu tranh giai cấpchưa hợp lí dẫn đến nhận
thức về chuyên chính vô sản còn cực đoan, sai lầm nên dẫn đến những hành
động thật đáng tiếc trong giai đoạn đầu cải cách ruộng đất
Karl Marx, triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cao trào cách mạng
1930 – 1931 mà tiêu biểu là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh
mẽ. Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Đảng và giai cấp công nhân,
nhân dân lao động chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám
năm 1945. HẬU QUẢ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP:
Địa chủ phải quỳ xuống đất, bị trói 2 tay ra sau lưng nghe kể tội.
Sau khi nghe kể tội sẽ bị xử bắn công khai.
Bà Cát Hạnh Long, một ân nhân của “cách mạng” thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
FB
Nguyễn Thông: “Bắn một người đã góp cho cách mạng gần 1.000 lượng vàng,
đã cưu mang chính mình và hàng nghìn đồng chí mình khi khó khăn, người
có 2 con trai thì cả hai con lúc ấy đang là sĩ quan cấp trung đoàn, bắn
xong biết sai nhưng không hề công khai xin lỗi, bồi thường danh dự và
vật chất
Một người làm thuê đang đấu tố chủ cũ, sau đấu tố là hành quyết công khai.
(Cải cách ruộng đất 1953-1957)
Hình ảnh một trong hàng trăm hàng ngàn vụ đấu tố của cộng sản
"Hình ảnh về cải cách ruộng đất do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp năm 1955 tại Việt Nam"
Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất (Ảnh: internet)
Sau khi xác định các thành phần xong, thì bắt đầu đấu tố…
Cuối
cùng, cách hiểu máy móc, thiếu biện chứng về sự phân tầng xã hội của
chủ nghĩa Mác dẫn đến quan niệm gay gắt cực tả, thái quá của cách mạng
vô sản, là có nguyên nhân một phần về thực tại xã hội đương thời đó, có
vẻ như đích đáng với thời đại hình thành hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ
nghĩa, khi mà tích lũy tư bản là một quá trình chất chồng tội ác, tràn
ngập máu và nước mắt, khi mà mặt trái tàn bạo của nhân tính nổi trội đến
mức gắn liền thành như bản chất của chủ nghĩa tư bản, làm dấy lên phong
trào trừng trị tàn bạo, trong đó không ít những mưu đồ trả thù cá nhân
nhỏ nhen, vị kỷ.
Ngày
nay, loài người đã sáng tỏ được nhiều điều. Các chế độ xã hội, dù có
mang nhãn mác nào đi chăng nữa, dù hình thức có khác nhau thế nào chăng
nữa thì cũng không thể bài trừ nhau dã man, do đó xử sự tốt nhất là thay cho
đối đầu, nên đối thoại nhau có chừng mực và chung sống hòa bình, hướng sự xâu xé nhau
trong nội bộ giống loài ra “bên ngoài”: Đồng lòng đi cải biến tự nhiên
vì quyền lợi sống còn của chung loài người.
Đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lăng,ách
đô hộ của thực dân - đế quốc và đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị
chống lại giai cấp thống trị là hai cuộc đấu tranh khác nhau nhưng tương
tự nhau. Xét trên khía cạnh phụng sự Đức Huyền Diệu, đảm bảo sự tồn tại
của loài người thì hai cuộc đấu tranh đó có mục đích như nhau và không
phải là đi tiêu diệt tư hữu.) *** Cuối
tháng 1-1950, khi thực dân Pháp hợp pháp hóa chính quyền Bảo Đại thì
lập tức ngày 7-2-1950, Mỹ liền công nhận chính phủ bù nhìn đó để nhằm
hợp thức hóa việc viện trợ quân sự cho bọn tay sai không qua tay Pháp.
Ngày 7-9-1951, “Hội nghị hợp tác kinh tế” giữa Mỹ và chính quyền bù nhìn
Việt Nam đã đi đến ký kết văn bản qui định việc Mỹ sẽ viện trợ kinh tế
và kỹ thuật cho Việt gian. Từ đó viện trợ Mỹ không ngừng tăng: nếu như
năm 1950 - 1951 Mỹ chi 13% cho tổng chi phí chiến tranh thì năm 1952 lên
38%, năm 1953 lên 45%; năm 1954 lên 80%. Viện trợ này thực chất cũng là
cho Pháp. Ngay từ 29-6-1950, 8 chiếc C-47 đã bắt đầu chở hàng viện trợ
đến Đông Dương và sau 4 năm, Mỹ đã viện trợ cho cuộc chiến tranh của
Pháp và tay sai trên dưới 3 tỷ đô la.
Máy bay C-119 của Mỹ đang thả lính dù Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Trước
nguy cơ Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ dẫn đến thua trận trong cuộc
chiến tranh Đông Dương, tổng thống Mỹ lúc đó là Aixenhao đã xin quốc hội
Mỹ cho toàn quyền hành động, trong đó có việc sử dụng từ 1 đến 6 quả
bom nguyên tử, theo kế hoạch của Đalét.
Sự
cay cú và hoảng sợ trước nỗi ám ảnh cộng sản bành trướng đã làm cho
chính phủ tư sản Mỹ định giở trò côn đồ, độc ác. Sự dự tính dùng bom
nguyên tử chống lại một dân tộc nhỏ bé đi đòi quyền tự quyết của mình và
chưa từng hiềm khích trực tiếp đã bộc lộ ra cái nhân tính tàn bạo, tiểu
nhân của những nhà lãnh đạo chóp bu cái cường quốc được cho là số 1 thế
giới và tự nhận là tự do dân chủ nhất thế giới. Về vấn đề “răn đe”
nguyên tử này, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên tổng tư lệnh Quân đội
nhân dân Việt Nam, trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Cuba là
Angulo (đăng trên tạp chí Bôhêmia (Cuba) số tháng 1-6 năm 1984), đã thổ
lộ:
“Oasinhtơn
đề nghị cung cấp cho Pari bom nguyên tử chiến thuật để đánh vào quân
đội Việt Nam đang bao vây Điện Biên Phủ. Chúng tôi nhận được tin là hai
chính phủ đã bàn bạc khả năng dùng vũ khí nguyên tử chống lực lượng của
chúng tôi. Nhưng chúng tôi nhận thấy không có nhiều khả năng là loại vũ
khí đó được sử dụng. Một mặt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ rơi
vào thế phòng thủ và chỉ củng cố được những vị trí sẵn có. Mặt khác,
Quân đội nhân dân Việt Nam không kiểm soát các thành phố lớn, mà rải rác
trong một hậu phương bao la và các đơn vị tác chiến ở Điện Biên Phủ
ngày một tiến sát quân thù.
Con
bài vũ khí nguyên tử không dễ dàng, nhưng mặc dù vậy chúng tôi vẫn chỉ
thị cho các đơn vị của chúng tôi sẵn sàng chống lại sự nhiễm xạ bằng mọi
biện pháp sẵn có. Cho dù có dùng vũ khí này, họ (tức là Mỹ - Pháp) cũng
sẽ không đạt được gì hết”.
Thực
tế cho thấy dù thực dân Pháp tán thành nhưng cho đến cuối tháng 4-1954,
kế hoạch sử dụng bom nguyên tử - còn gọi là kế hoạch Vơtua (Vantour),
đã không được thực hiện.
Là
một thành viên tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng đế quốc Mỹ đã không chịu
ký vào bản tuyên ngôn chung vì đang ôm ấp những mưu đồ chống cộng điên
cuồng ở Đông Dương. Mỹ đã ngang nhiên lập ra khối Đông - Nam Á (SEATO),
đặt miền Nam - Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này, ráo riết hất cẳng
Pháp để trực tiếp can thiệp vào Đông Dương. Sau
khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve, Quốc gia Việt
Nam cùng Pháp tập kết về vùng phía Nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam.
Phi cơ - "siêu pháo đài" B-29 (ảnh: olive-drab.com)
Ngày
10-8-1954, Mỹ điều đô đốc Xabin ra Hà Nội trực tiếp điều hành kế hoạch
tuyên truyền, cưỡng ép đồng bào di cư. Từ tháng 6-1954, Mỹ đã tổ chức
một cơ quan huấn luyện biệt kích, gián điệp núp dưới cái tên “Phái đoàn
quân sự Sài Gòn” (S.M.M), đóng trụ sở tại Hà Nội. Sự kiện nổ mìn phá sập
Chùa Một Cột ngày 10-9-1954 là có sự nhúng tay của tổ chức này. Theo kế hoạch, quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến
hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành.
Không thể chấp nhận việc Hồ Chí Minh sẽ thắng cử và lập chính phủ trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc
tuyển cử không thể diễn ra nhằm chia cắt Việt Nam vĩnh viễn thành 2
quốc gia. Hoa Kỳ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam
Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng dân chủ hay không. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale (sĩ quan cao cấp của Tình báo Mỹ
và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953) đã huấn luyện các lực
lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ
quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị
quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối".
Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự
Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia
Việt Nam
ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực
tiếp cho Quốc gia Việt Nam.
Trong những năm 1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho
các lực lượng thường trực Quốc gia Việt Nam, gồm 170.000 quân và lực
lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của Quốc gia Việt Nam
là do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ
khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ
này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội
khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế
chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm
Đến lúc này lại
xảy ra mâu thuẫn giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm với Quốc trưởng Bảo Đại
(nguyên là Hoàng đế nhà Nguyễn). Năm 1955, nhờ gian lận trong một cuộc
trưng cầu dân ý (mà các tài liệu ngày nay của chính phủ Việt Nam thường
gọi là "trò hề trưng cầu dân ý"), thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất
Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của chính phủ Việt Nam
Cộng hoà.
Sau đó, Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội
này ban hành Hiến pháp thành lập Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa
Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn, ngày ban hành Hiến pháp
26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ Nhất Cộng hòa. Việt Nam
Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và
được Mỹ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam.
Bằng
việc đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thay thế ông vua Bảo Đại khét tiếng ăn
chơi và hoàn toàn ngớ ngẩn về chính trị, Đế quốc Mỹ đã chính thức chấm
dứt sự dính líu của Pháp ở Đông Dương. Đó cũng chính là sự “bàn giao
lịch sử” giữa chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên đất
nước Việt Nam.
Vậy Ngô Đình Diệm là ai?
Ngô Đình Diệm
VNCH xuất sinh từ gian lận:
Cuộc
trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 gián tiếp đem đến sự cáo
chung Quốc gia Việt Nam. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Tổng thống Ngô Đình
Diệm ký quyết định ban hành bản Lâm thời Hiến pháp số 1, sự kiện này
được coi là quốc khánh của Việt Nam Cộng hòa. VNCH xuất sinh từ gian lận!
Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ
Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo
Công giáo lâu đời ở Việt Nam. Vào thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào
Nha đã cải đạo cho dòng họ ông, nên tên thánh của ông là Gioan Baotixita
(João Batista). Cha ông là Ngô Đình Khả và mẹ ông là Phạm Thị
Thân, quê quán ở làng Đại Phong xã Phong Thủy huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình. Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh, theo Nguyễn Thân
một người hợp tác với chính phủ Liên bang Đông Dương (thuộc Pháp) đàn
áp các phong trào chống Pháp như nhóm Văn Thân của ngự sử Phan Đình
Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông Khả từng làm tới Thượng thư triều đình
nhà Nguyễn kiêm Phụ đạo Đại thần và cũng là cố vấn của vua Thành Thái.
John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963. Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà LạtÔng Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957 Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamaraPhó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Là
người mộ đạo, Ngô Đình Khả dẫn gia đình ông đi lễ mỗi buổi sáng. Năm
1907,
thấy chính quyền bảo hộ Pháp phế bỏ và đày vua Thành Thái sang Phi
Châu, ông Ngô Đình Khả xin từ quan về quê làm ruộng để tỏ sự bất mãn. Có
thuyết khác cho rằng, vì ông Khả không chịu ký vào đơn yêu cầu Thành
Thái thoái vị, nên bị chính quyền bảo hộ Pháp cách chức. Dù đã từ quan
nhưng ông Ngô Đình Khả vẫn đủ sức để chu cấp cho các con ông ăn học. Lúc nhỏ, Ngô Đình Diệm ngoài giúp cha làm ruộng còn cùng người anh
Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng Pellerin Huế. Cảm thấy cuộc sống ở
trường dòng quá khắt khe, ông đã bỏ trường dòng. Năm 1913, lúc 12
tuổi, Ngô Đình Diệm thi vào trường Collège Quốc học, học chương trình
tổng hợp bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trưởng giáo (tức hiệu trưởng)
trường là Ngô Đình Khả, cha ông.
Theo Moyar, cá tính độc lập quá mức của Ngô Đình Diệm không thích hợp
với các khuôn phép trong nhà thờ. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn thừa
hưởng từ cha tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược.Tốt nghiệp trung học
với thành tích học tập xuất sắc ở trường Collège Quốc học, Ngô Đình
Diệm được trao học bổng đi học ở Paris. Nhưng ông đã từ chối. Năm 1918,
ông nhập học Trường Hậu bổ (trường Hành chính công và Luật) ở Hà Nội,
một trường danh tiếng của Pháp đào tạo công chức người Việt. Trong lúc
học ở trường Hậu bổ, Ngô Đình Diệm yêu con gái của thầy dạy
học và đây là mối tình duy nhất trong cuộc đời ông. Sau khi người con
gái đó quyết định vào Nữ tu viện, Ngô Đình Diệm sống độc thân suốt phần
đời còn lại. Theo Nhân Hưng, mối tình đầu của Ngô Đình Diệm là với tiểu
thư Trang Đài, con gái út của quan Thượng thư họ Nguyễn ở An Cựu, Huế. Sau
khi tốt nghiệp trường Hậu bổ với vị trí đứng nhất lớp vào năm 1921, Ngô
Đình Diệm nối bước anh cả Ngô Đình Khôi (lúc này đang làm việc trong Bộ
Binh
triều đình Huế) vào quan trường. Bắt đầu bằng chức quan thấp nhất, Ngô
Đình Diệm từng bước được thăng chức. Nơi làm việc đầu tiên của ông là
thư viện hoàng gia ở Huế. Trong cùng năm, ông làm tri huyện Hương Trà,
Thừa Thiên. Năm 1926, Ngô Đình Diệm làm tri phủ Hải Lăng, Quảng Trị, sau đó làm quản đạo phủ Ninh Thuận
Xác chết của Ngô Đình Diệm ở phía sau APC, đã bị xử tử trên đường đến trụ sở quân đội
Trong
suốt thời gian làm quan, Ngô Đình Diệm có tiếng là người mẫn
cán, công chính, là nhà lãnh đạo Công giáo và là người theo chủ nghĩa
dân tộc. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc Công giáo ở Việt Nam từ thập niên
1920 đến thập niên 1930 cũng tạo điều kiện cho sự thăng tiến trong quan
trường của Ngô Đình Diệm. Sự thăng tiến nhanh chóng của Ngô Đình Diệm
một phần nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu
Bài
(anh trai ông, Ngô Đình Khôi, là con rể của ông Nguyễn Hữu Bài). Nguyễn
Hữu Bài (1863–1935) là một người Công giáo ủng hộ việc bản địa hóa Nhà
thờ Việt Nam và tăng quyền lực hành chính cho chế độ quân chủ.
Nguyễn Hữu Bài được người Pháp đánh giá cao, trở thành người bảo trợ
cho Ngô Đình Diệm do mối quan hệ chặt chẽ về gia đình cũng như tôn giáo. Năm
1929, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận. Làm quan
ở Bình Thuận ông có tiếng về đạo đức làm việc. Vào các năm 1930 và
1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy đầu tiên của
nông dân do những người cộng sản tổ chức.
Theo Fall, Ngô Đình Diệm vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách
mạng. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, nhưng có
thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại. Ngày 8 tháng 4, năm
1933, Bảo Đại (1913-1997) đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết
định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ
giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải,
Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc
kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm,
Vương Tứ Đại. Ngô Đình Diệm nhận lời Bảo Đại làm Thượng thư Bộ Lại (Bộ
Nội vụ ngày nay) theo lobby của Nguyễn Hữu Bài. Ông là vị thượng thư trẻ
tuổi nhất trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.Thời gian này ông
được bầu làm Tổng thư ký đứng đầu ủy ban cải cách
hành chính. Ông đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền bảo hộ
Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884, hai
là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các
vấn đề kể cả chính trị. Việc thống nhất chủ yếu để buộc chính quyền Bảo
hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một
viện tổng trú sứ (résident général)
ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì các đề
xướng không được chấp nhận, ông từ chức Thượng thư Bộ Lại ngày 12 tháng 7 năm 1933, chỉ sau 3 tháng nhậm chức.
Ngô Đình Diệm lên án Hoàng đế Bảo Đại "chẳng là gì mà chỉ là công cụ
trong tay người Pháp", và đã vứt bỏ các huân chương, chức tước được Bảo
Đại trao. Sau đó người Pháp đã dọa bắt và lưu đày Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm (áo dài)
Tháng 9 năm 1933, Thượng thư Bộ lại Ngô Đình Diệm từ chức (Theo một tài liệu khác thì ông từ chức ngày12 tháng 7năm1933).
Tháng 12.1933 cụ Phan Bội Châu cho đăng bài thơ Vô đề (5) trên báo
Tiếng Dân, sau đó cụ xác nhận là làm để tặng Ngô Đình Diệm với “cái lòng
khen”; nhưng khi biết Ngô Đình Diệm muốn trở lại làm quan thì cụ Phan
cho rằng, “cái quan niệm của tôi đối với ông ấy từ trước đều vứt đi”:
Ai biết trời Nam hãy có người, Sịch nghe tưởng ngỡ sấm bên tai. Lông hồng coi nhẹ vàng muôn lượng, Ngôi quý xem dường dép nửa đôi. Phơi tỏ cùng trời gan đỏ chói, Nhá nhem thây kệ mắt đen thui. Ví chăng kịp lúc làm vai vế, Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi.
Sau
khi từ chức Thượng thư Bộ Lại, Ngô Đình Diệm trở về làm một thường dân
sống ở Huế cùng gia đình ông, nhưng vẫn bị giám sát. Ông dành thời gian
cho việc đọc sách, thiền định, đi lễ nhà thờ, làm vườn, đi săn, và chụp
ảnh nghiệp dư.
Ngoài ra, ông đẩy mạnh các hoạt động dân tộc chủ nghĩa qua việc gặp gỡ
và giao lưu với các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như Phan Bội Châu,
một người bạn của ông. Phan Bội Châu là nhà hoạt động chống thực dân mà
Ngô Đình Diệm kính trọng vì kiến thức Nho giáo uyên thâm của ông, và vì
Phan Bội Châu lập luận rằng những lời dạy của Nho giáo có thể được áp
dụng cho Việt Nam hiện đại.
Ngô Đình Diệm ngấm ngầm ủng hộ Hoàng thân Cường Để
đang sống lưu vong tại Nhật nhằm thực hiện một cuộc cách mạng lật đổ
chính quyền bảo hộ Pháp. Ông bị xem là quá khích giống như Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam. Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan
Long, Lê Văn Kim,... tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận
động chính giới Pháp tại Paris bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre
Pasquier.
Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú
tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên
toàn quyền mới Eugene René Robin đã bãi bỏ chỉ định của Pasquier. Ông
vào Huế dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Ngô Đình
Thục làm Giám học.
Thời
kỳ 1942-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Đại
Việt Phục hưng Hội, dựa Nhật chống Pháp với thành phần nòng cốt là quan
lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7
năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm ở
tại phủ Cam. Trong thư gửi Toàn quyền Đông Dương, ông Thục kêu gọi Pháp
ân xá cho em mình:
"Nếu hoạt động của hai em tôi được
chứng tỏ là có hại cho quyền
lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam,
và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ
nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống
cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền
Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại
Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận
...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là
không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã
phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình
đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của
những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định
thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng
thân phụ tôi là Ngô Đình Khả
đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và
khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình
thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không
sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp".
Nhờ
sự giúp đỡ của hiến binh Nhật,
ông thoát nạn và về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau vài ngày, người
Nhật đưa Ngô Đình Diệm vào Đà Nẵng rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng
vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật. Ông cũng được Việt Nam
Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để ủy nhiệm công việc vận
động nhân sự ở Trung Kỳ để chống Pháp.
Thượng Thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm (thứ hai từ phải).5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn
Tổng Thống Diệm ôm hôn tướng Dương Văn Minh, theo cácnguồnthì sau này chính tướng Minh ra lệnh hạ sát anh em Tổng Thống trong cuộc đảo chánh 1963 vì tư thù
Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Ủy ban Kiến quốc với mục tiêu phò
tá hoàng thân Cường Để. Tuy nhiên Nhật không ủng hộ Cường Để về nước
làm vua mà ủng hộ Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là
Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính
quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.Sau khi Bảo
Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh giành chính
quyền, Ngô Đình Diệm cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt
Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên ngoại trừ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn.
Anh cả Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khôi cùng con trai mình là Ngô Đình
Huân trên đường bị du kích giải ra Hà Nội thì bị lực lượng áp tải này xử
bắn do nghi ngờ ông định chống lại lực lượng Việt Minh. Nguyên do là
trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ngô Đình Khôi khuyên hoàng đế Bảo Đại
đừng thoái vị vì ông đã tích trữ được một số vũ khí, lại có thêm Ngô
Đình Huân giữ vai trò liên lạc giữa triều đình Huế và Đế quốc Nhật Bản,
nên có người tố cáo cha con ông Khôi có âm mưu cấu kết với Nhật chống
lại Việt Minh.
Thời điểm đó, một đơn vị biệt kích Pháp nhảy dù xuống miền Tây Thừa
Thiên và bị Việt Minh bắt, nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan
lại bản xứ để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Ngô Đình Diệm bị
giải ra Hà Nội. Sau đó Ngô Đình Nhu cũng bị Việt Minh bắt giam rồi được
thả. Theo phim tài liệu Sứ mệnh đặc biệt của Đài Truyền hình Việt
Nam nói về chuyến công tác phía nam của ông Hoàng Quốc Việt trong Cách
mạng Tháng Tám, thì ông Hoàng Quốc Việt (sau khi nghe ông Hải, Bí thư
Ban cán sự Đảng tỉnh Quảng Ngãi
báo cáo đã bắt được Ngô Đình Diệm) đã thả ông Diệm theo chỉ thị của Hồ
Chí Minh rằng các nhân sĩ trí thức phải được thả ra, và đưa ông Diệm ra
Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ông Ngô Đình Diệm được giao làm cố vấn cho Vĩnh
Thụy, là cố vấn tối cao của Chính phủ. Gia đình trị họ ngô: Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn
Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục,
em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình
Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy
Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc bản tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng hòa, ngày 26 tháng 10 năm 1955 (sân Dinh Độc Lập).
Ngô Đình Diệm bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang nhưng được trả tự do theo lệnh ân xá vào năm 1946.
Theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp Hồ Chí Minh. Ngô
Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh của ông thì được Hồ
Chí Minh giải thích rằng đó một hành động tự phát của du kích địa phương
do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Sau đó, cũng theo tài liệu của Mỹ, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ
chức thủ tướng vì cho rằng ông có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời
rằng ông chỉ đồng ý lời mời đó với điều kiện ông được Việt Minh thông
báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này, và do đó Ngô Đình Diệm từ chối hợp
tác với Hồ Chí Minh.Sau khi được Việt Minh phóng thích, Ngô Đình Diệm duy trì các mối liên
lạc với một số lãnh đạo Việt Minh với hy vọng có thể thuyết phục họ bỏ
Hồ Chí Minh và quay sang ủng hộ ông. Những cuộc trao đổi này khơi dậy
những quan tâm đáng kể trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong
năm 1947-1948. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đình Diệm và Ngô
Ðình Thục, thậm chí còn có tin đồn Ngô Đình Diệm đã lôi kéo được tướng
Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ
(về sau tin đồn này được xác định là không đúng). Ông cũng tìm cách liên
minh với các lãnh đạo các đảng phái quốc gia. Giữa năm 1947, ông liên
minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lãnh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Ðại Việt Quốc dân Ðảng. Tháng
2 năm 1948, Ngô Đình Diệm và các lãnh đạo phe quốc gia gặp nhau
tại Sài Gòn để thảo ra một kế hoạch đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập
của Việt Nam. Năm 1948, khi cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong ở Hồng Kông
đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, Ngô Đình Diệm sang
Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong "vấn đề độc lập dân tộc".
Ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền
của Việt Nam. Sau đó khi Bảo Đại ký hiệp định với Pháp ở Hạ Long
cho Việt Nam một nền độc lập hạn chế, Ngô Đình Diệm tỏ ra thất vọng.
Ông từ chối lời mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại với lý
do "không tin người Pháp, càng không tin vào nền độc lập nửa vời mà Pháp vẽ ra", và quay về Huế sống với Ngô Đình Cẩn và có thời gian Ngô Đình Diệm lên sống với vợ chồng Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt. Miller
thấy rằng những tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ nói lên
được một hiểu biết mơ hồ về Diệm cho đến tháng 5/1954. Theo Miller, Bảo
Đại quyết định chọn Diệm vào chức vụ Thủ tướng là bởi ông hoàng này công
nhận rằng Diệm “là một người tốt nhất cho công việc, bởi
vì sự không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông ấy có đủ năng lực
để chống lại chủ nghĩa cộng sản… Ông ấy thực sự là một người rất thích
hợp với hoàn cảnh hiện tại”. Diệm đã chứng minh lời của quốc
trưởng nhận xét về năng lực của mình là không sai. Trong thời kỳ hậu
hiệp định Geneva, phớt lờ chiến lược hòa giải và cải tổ của Hoa Kỳ, Diệm
đã trấn áp và dẹp tan những đối thủ chính trị của Diệm mà không có bất
kỳ một sự thỏa hiệp nào để kiểm soát thành công quân đội quốc gia, giành
lấy quyền lực từ những viên tướng thân Pháp, thực hiện chương trình
kiến quốc của ông. Những kiến giải của Miller về thời kỳ này
không những đưa ra một sự hiểu biết mới về Diệm, mà còn thách thức các
nhà sử học nhận thức lại lịch sử quan hệ Mỹ-Diệm ngay từ buổi đầu. Sự bất đồng tư tưởng này đã khuấy đục liên minh Mỹ-Diệm
trong quá trình triển khai một trong những chương trình kiến quốc quan
trọng nhất: phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với mấu chốt của vấn
đề là giải quyết tình trạng dư thừa dân số bằng cách di dân. Trên bình diện quốc gia, Diệm khởi động chương trình tự
cung tự cấp như là một đặc trưng trong viễn kiến của Diệm về phát triển
cộng đồng để phát động sự tham gia tự giác và đóng góp của toàn dân vào
những mục tiêu công ích của nhà nước. Kế hoạch dinh điền của Diệm không tránh khỏi sự phàn nàn từ phía Mỹ. Miller đã phân tích rất sâu sắc sự khác biệt của hai
trường phái kiến quốc của Mỹ sau thế chiến thứ II bao gồm chủ nghĩa tân
thời cao cấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khoa học và kỹ thuật, và
chủ nghĩa tân thời bậc thấp chú trọng vào các chương trình phát triển ở
phạm vi hẹp mang tính địa phương. Cả hai trường phái này đều
không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ không thể Tây hóa
lối sống và điều kiện kinh tế xã hội của người Việt. Do
vậy, dù đồng ý với quan điểm của Hoa Kỳ là cần cung cấp nguyên liệu sản
xuất cho dân tái định cư, nhưng Diệm bảo lưu quan điểm của mình, rằng
việc cung cấp tư liệu sản xuất không quan trọng bằng nghĩa vụ và bổn
phận tự lập của cộng đồng. Do đó ông sẵn sàng tiếp tục thực hiện
kế hoạch mà không cần sự trợ giúp của Mỹ. Mối bất hòa về chương trình
dinh điền, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đẩy Washington
và Saigon vào một tình trạng tồi tệ mới. Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công
cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng
sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm. Miller chứng minh rằng không phải mọi hoạt động quân sự
của Diệm đều do Mỹ điều khiển hoàn toàn, thậm chí còn xảy ra những bất
đồng trong nội bộ Mỹ.
Về xây dựng lực lượng, ví dụ, phái bộ cố
vấn của đại học Michigan (MSUG) muốn phát triển Lực lượng Bảo an như là
một lực lượng cảnh sát dân sự, trong khi đó các cố vấn quân sự Mỹ (MAAG)
lại muốn lực lượng này là một mô hình bán quân sự hoạt động như một đội
quân phụ trợ.
Còn với Diệm, Bảo an là một lực lượng lai ghép,
kết hợp quyền lực của cảnh sát như quyền giám sát, giam cầm, và phản
gián với năng lực quân sự.
Chỉ trích các giải pháp của cố vấn Mỹ
không phù hợp với quan điểm của mình, cũng như hoàn cảnh an ninh của
miền Nam Việt Nam, Diệm tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng Bảo an
như một nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích. Là
một cựu quan chức có nhiều trải nghiệm về cách trị dân, hơn ai hết,
Diệm hiểu rằng: để cai quản vùng nông thôn cần kết hợp các giải pháp
chính trị, quân sự, xã hội và kinh tế Ngược lại, Diệm không bao giờ có quan điểm Dân chủ là một
sự cạnh tranh mang tính đa nguyên giữa các đối thủ, đảng phái, và tư
tưởng.
Thay vì vậy, Diệm cho rằng nền móng dân chủ của ấp chiến
lược là huy động sức mạnh toàn thể dân chúng tham gia vào cuộc chiến
chống lại kẻ thù của chế độ.
Miller không thể không thừa nhận
rằng dù có nhiều khiếm khuyết và bất cập, nhưng Ấp Chiến Lược là một
chương trình thành công, tạo nên một bước ngoặt đáng ghi nhận trong cuộc
chiến chống lại Cộng sản ở miền Nam, mang lại hy vọng cho một chiến
thắng chung cuộc. Trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 vẫn không dập tắt sự lạc
quan của Diệm, vì vậy họ Ngô đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn
bị kế hoạch Bắc tiến, chiếm lại miền Bắc Việt Nam. Và cuối cùng,
Diệm muốn Mỹ viện trợ vũ khí và các nguyên vật liệu khác nhưng không
chấp nhận sự việc các cố vấn Mỹ can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.
Từ
năm 1961, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải liên tục tăng cường lực lượng
nhằm đối phó với các hoạt động khủng bố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam (thành lập cuối năm 1960 tại chiến khu Tây Ninh)
Ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đình Diệm cho đăng một tuyên bố hoàn
toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách đòi hỏi quyền tự trị lãnh thổ
cho Việt Nam. Ðồng thời, ông cũng thông báo không có ý định hợp tác với
Việt Minh và kêu gọi một phong trào chống thực dân mới dưới sự lãnh đạo
của “những thành viên đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” với ý định thách thức Việt Minh bằng cách lôi kéo một số người muốn bỏ Việt Minh để ủng hộ ông.
Ngô Đình Diệm cũng tuyên bố viễn kiến về một cuộc cách mạng xã hội
ngang với những cương lĩnh chính trị từ các đối thủ của ông: “... nên
biết rằng cuộc tranh đấu hiện tại không phải chỉ là một cuộc chiến đấu
cho độc lập Tổ quốc về phương diện chính trị mà thôi, mà còn là một cách
mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam. Ðể
cho tất cả mọi người trong nước Việt Nam mới có đủ phương tiện để sống
xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự, tôi chủ
trương những sự cải cách xã hội hết sức tân tiến và mạnh bạo, miễn là
phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự do nẩy nở.”
Tuyên bố của ông được nhiều người đọc và được chú ý trên khắp Việt Nam,
nhưng nó không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng dành cho Ngô Đình
Diệm, cũng không gây tác hại gì cho “giải pháp Bảo Ðại”. Trên thực tế,
hiệu quả của nó là chấm dứt
Sau đó, ông cùng anh mình là Giám mục Ngô Đình Thục và người em Ngô Đình Nhu thành lập Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo.
Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một phong trào mới có thể áp đảo cả Pháp và
Việt Minh. Ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột,
cố gắng xây dựng và duy trì quan hệ với cả hai phía. Ngô Đình Diệm hy
vọng có thể có thêm thời gian để mở rộng nhóm ủng hộ mình và gây thiệt
hại cho cả hai đối thủ. Năm 1950, Việt Minh cố gắng giết Ngô Đình
Diệm trên đường ông đi thăm anh là Giám mục Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long.
Ông theo anh là Giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, rồi sau đó sang Nhật
gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây. Trong thời gian ở Nhật, ông gặp tướng Douglas MacArthur
chỉ huy quân Mỹ tại Nhật để thuyết phục Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt
Nam, nhưng tướng Douglas MacArthur tiếp kiến ông và Giám mục Ngô Đình
Thục rất lạnh nhạt, không có biểu hiện gì cho thấy tướng Douglas
MacArthur sẽ ủng hộ Việt Nam. Theo lời khuyên của Wesley Fishel, giáo sư
chính trị Đại học Michigan, ông Diệm sang Hoa Kỳ để thuyết phục Tổng
thống Mỹ Eisenhower ủng hộ Việt Nam độc lập.
Tháng 9 năm 1950, Ngô Đình Diệm đến Washington gặp các viên chức Bộ
Ngoại giao Mỹ nhưng ông không gây được ấn tượng với họ. Sau khi gặp, một
quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhận xét Ngô Đình Diệm “quan tâm ngang
bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân,
thay vì giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối
mặt ngày hôm nay”. Tháng 10 năm 1950, Ngô Đình Diệm sang Vatican gặp
Giáo hoàng rồi đến Paris gặp các quan chức Việt và Pháp đồng thời đề
nghị Bảo Ðại bổ nhiệm ông làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam với điều kiện
ông có đủ thẩm quyền để chỉ đạo các cơ quan hành chính tại Việt Nam
nhưng Bảo Đại chỉ trả lời chung chung
Cố
vấn Ngô Đình Nhu có 4 người con: Ngô-Đình Trác, Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ
Thuỷ và Ngô-Đình Lệ Quyên. Kể từ sau khi hai anh em Ngô-Đình Diệm và
Ngô-Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô-Đình cũng trải qua nhiều biến cố.
Hai
người con gái của Ngô-Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô-Đình Lệ Thủy và Ngô-Đình
Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông.
Theo
Luật sư Lâm Lễ Trinh trong một cuộc phỏng vấn, ông Ngô-Đình Diệm là Tổng Thống,
nhưng khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hoà công lớn là của ông Ngô-Đình Nhu. Ông
Ngô-Đình Quỳnh nhớ về Cha như là một người kín đáo và tận tuỵ cho đất nước.
Thời gian hai năm kế tiếp
Ngô Đình Diệm sang Mỹ phần lớn lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở
New Jersey và trường dòng Ossining ở New York.
Ông dùng đủ mọi cách để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower
nhưng cũng không thành công vì Mỹ đang bận tham chiến tại Triều Tiên và
Mỹ không muốn làm mất lòng người Pháp. Đây cũng là thời kỳ Ngô Đình Diệm
gặp Hồng y Spellman,
người đồng ý làm trung gian để ông có cơ hội diện kiến với những nhân
vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ. Qua trung gian của Hồng y
Spellman, ông Diệm đã gặp gỡ và tranh thủ được tình cảm của dân biểu
Walter H. Judd, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, nhất là Thượng nghị sĩ
John F. Kennedy (Kennedy sau này trở thành Tổng thống Mỹ).
Ngô Đình Diệm tìm kiếm sự hỗ trợ của người Mỹ cho những kế hoạch chính
trị của ông cũng như thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện đại
hoá và khả năng biến đổi Việt Nam dựa trên nền công nghệ Mỹ. Ðặc biệt,
ông tìm cách khai thác những quan tâm chính thức mới (của Mỹ) trong việc
“hỗ trợ kỹ thuật” cho nước ngoài. Cũng nhờ sự giới thiệu của Spellman
và một vài nhân vật cấp cao của CIA, Ngô Đình Diệm vào ở ẩn ở các chủng
viện lớn như Maryknoll, Lakewood rồi vào trường đại học Michigan tham
gia một số khóa học. Có thể nói, người đã giúp đỡ ông Diệm rất nhiều khi
ở Mỹ là Hồng y Spellman. Nhà sử học John Cooney đã viết:
"Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng y Spellman đã
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị
của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở
thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman
nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi chính khách: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng."
Năm
1954, Ngô Đình Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn
(con trai của cụ Thân thần phụ chính Tôn Thất Hân). Tại đây, với sự yểm
trợ của Ngô Đình Luyện, Diệm bắt đầu vận động trong giới chính khách
Việt sống lưu vong. Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (về sau là Tổng thống Mỹ) tuyên bố: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ
Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó.
Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng
ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta -
chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những
nhu cầu của nó”. Sau 4 năm Hiệp định Elysée
được ký kết, lãnh đạo các đảng phái quốc gia đang mất hết kiên nhẫn với
Bảo Đại và chiến lược giành độc lập từng bước trong Liên hiệp Pháp của
Bảo Ðại. Pháp rất ít khi nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Quốc
gia Việt Nam chỉ độc lập trên danh nghĩa. Đa số lãnh đạo phe quốc gia
thất vọng với thủ tướng Nguyễn Văn Tâm,
nổi tiếng thân Pháp và chuyên quyền. Họ cũng nổi giận vì quyết định đơn
phương của Paris trong việc phá giá đồng bạc Đông Dương vào đầu tháng 5
năm 1953, vi phạm những thoả thuận trước đó với các quốc gia thuộc Liên
hiệp Pháp, đồng thời làm gia tăng lạm phát và khó khăn ở Đông Dương.
Lợi dụng tình thế này Ngô Đình Nhu khéo léo kích động sự bất mãn và gợi ý
triệu tập Đại hội Đoàn kết các đảng phái quốc gia tại Sài Gòn vào đầu
tháng 9, sau khi Bảo Đại rời Việt Nam đi Pháp. Đại hội Đoàn kết diễn ra
ngày 5, 6 tháng 9 năm 1953 không xây dựng được liên minh nào và cũng
không đưa ra lập trường chính trị chính thức nào.
Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào
tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời
Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên. Trong hình ông đang đứng
nói chuyện với viên sỹ quan Pháp khi vừa đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà
Nội vào tháng 3/1954, vẫn trong bộ âu phục chải chuốt quen thuộc cùng
cặp kính râm lịch lãm (Ảnh: Life)
Tháng 10 năm 1953, các
đảng phái quốc gia lại nhóm họp và phê chuẩn quyết định bác bỏ sự tham
dự của Việt Nam vào Liên hiệp Pháp và ủng hộ việc độc lập hoàn toàn.
Đứng trước sự bất mãn tăng cao của các lãnh đạo đảng phái, tôn giáo, Bảo
Đại phải thân thiện hơn với Ngô Đình Diệm và cân nhắc lại khả năng bổ
nhiệm ông vào chức thủ tướng. Ngày 26 tháng 10, Bảo Ðại gặp Ngô Đình
Diệm ở Cannes để thăm dò lòng trung thành của ông này với Bảo Đại và khả
năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Tháng 12, 1953, Bảo Đại cách chức
Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và bổ nhiệm Nguyễn Phúc Bửu Lộc,
một thành viên của hoàng tộc, làm thủ tướng. Đầu tháng 3 năm 1954, sau
khi Bảo Đại chấp thuận trên nguyên tắc việc thành lập Quốc hội mới, Ngô
Đình Nhu và những đồng minh của ông xuất bản một bài viết ở Sài Gòn thúc
ép Bảo Đại nhượng bộ thêm. Đầu năm 1954, trong khi Pháp đang gặp khó khăn tại trận Điện Biên
Phủ, Bảo Đại liên tục nhờ người chuyển lời với ông Diệm đang ở Hoa Kỳ,
yêu cầu ông trở về nước thành lập chính phủ mới. Ông Diệm tiếp tục từ
chối lời mời của Bảo Đại với lý do không tin tưởng vào người Pháp. Sau
khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán hiệp ước trao trả hoàn
toàn độc lập cho Việt Nam. Ngày 16/6/1954, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Ngô
Đình Diệm tại Pháp. Ông Diệm đồng ý trở về nước làm Thủ tướng theo lời
mời của Bảo Đại với điều kiện Bảo Đại phải đồng ý để chính phủ do ông
thành lập được toàn quyền về chính trị và quân sự. Bảo Đại đồng ý với
yêu cầu này, sau đó ông Diệm về nước và chính thức được bổ nhiệm làm thủ
tướng. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới với nội các
gồm 18 người. Sau này Bảo Đại viết trong hồi ký của mình: “Từ những gì tôi biết về ông, tôi biết rằng ông Diệm là một người
khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín và xu hướng thiên về Thiên Chúa
của ông. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện tại, không có một lựa chọn nào tốt
hơn. Ông được người Mỹ biết đến, và họ đánh giá cao tính không khoan
nhượng của ông. Trong mắt họ, ông là người xứng đáng với chức vụ đó
nhất, và Washington sẽ không dè xẻn trong việc ủng hộ ông. Bởi vì quá
khứ [của ông Diệm] và bởi vì sự hiện diện của người em ông ở vị trí hàng
đầu của “Phong trào Công đoàn Quốc gia”, ông sẽ có được sự cộng tác của
những người quốc gia thế lực nhất, những người đã hạ bệ ông Tâm và ông
Bửu-Lộc. Cuối cùng, cũng vì tính không khoan nhượng và sự cuồng tín của
mình, ông là người ta có thể trông cậy được trong việc chống lại chủ
nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như
vậy.” Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để
giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất
để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh
và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập
một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị
chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn
thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp
pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia
không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam
Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Công thức này đòi hỏi một sự hợp
tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có
thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Edgar Faure (sau này là
thủ tướng Pháp) cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị điên... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta",
hơn nữa Pháp đang bị chia rẽ chính trị nội bộ và gặp khó khăn tại
Algérie nên rất miễn cưỡng trong việc giúp đỡ Quốc gia Việt Nam do đó Mỹ
đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.
Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu
Ngày 23/10/1954, tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm
chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Quốc
gia Việt Nam sẽ nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không
qua nhà đương cục Pháp như trước. Theo ông cơ hội duy nhất cho chính phủ quốc gia Việt Nam đứng vững được
là phải thoát khỏi những ảnh hưởng còn sót lại của Pháp, và ông quyết
định phải thực hiện mục tiêu đó. Quan điểm của Ngô Đình Diệm là "Muốn
thuyết phục được nhân dân Việt Nam là chính quyền này độc lập thì cần
thiết về mặt chính trị phải tỏ ra là chống thực dân và đặc biệt là chống
Pháp".Chỉ
sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền
phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương (một cơ quan do Pháp thành
lập), từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam
mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Quốc gia
Việt Nam quản lý. Tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp trong vòng năm
tháng thực hiện chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam mọi công tác của Quân
đội Quốc gia Việt Nam còn phụ thuộc vào bộ chỉ huy Liên hiệp Pháp. Phản ứng lại hành động của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đang từng bước loại
bỏ ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam, Pháp muốn duy trì ảnh hưởng tại miền
Nam nhưng lại gặp phải một Thủ tướng có tinh thần dân tộc nên họ tìm
mọi cách loại bỏ để thay thế bằng một người lãnh đạo thân Pháp. Thông
qua một số nhân vật ngoại giao như đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Douglas Dillon
tại Paris, Pháp tìm cách thuyết phục Mỹ đồng ý loại trừ ông Diệm bằng
cách chỉ trích ông thiếu năng lực và không có khả năng đại diện nhân dân
vì không có được sự cộng tác và ủng hộ của các phe phái tại Miền Nam do
đó không có khả năng thắng trong cuộc Tổng tuyển cử dự tính được tổ
chức năm 1956. Tài liệu mật số 1691/5 (ngày 15 tháng 4 năm 1955)
của Bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận Pháp muốn giữ vai trò lịch sử lâu dài của
mình tại Việt Nam và bảo vệ những đầu tư kinh tế, tài chính của Pháp
tại đây.
Viên sĩ quan dù cao cấp về sau trở thành tướng nổi loạn Nguyễn Chánh
Thi đã nhận xét về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm – Nhu: “Cứ
hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại miền Trung, có một linh
mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau họ là
sức mạnh chính quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con
chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải
xử theo ý của linh mục A, linh mục B, không thì mất chức. Một số linh
mục dưới chế độ Ngô Đình Diệm, họ sống như các ông vua của một xứ xưa
kia!..”.
Cũng theo linh mục Trần Tam Tỉnh, đáp lại các lời chỉ trích, giám mục
Thục nói với ICI, tạp chí Công giáo số 15/4/1963, rằng “Trên bàn giấy
của tôi chồng chất cả lô đơn xin tôi can thiệp cho họ ơn này, ơn nọ, khổ
thay thường chỉ là thế tục. Tôi không thể dửng dưng được trước lời kêu
gọi của họ! ở vào địa vị của tôi các ông sẽ xử sự như thế nào?”. Giả dối
đến thế là cùng!
Lúc
đó, Quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn ở Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm
trong Liên Hiệp Pháp, và Tổng Tham mưu Trưởng quân đội, tướng Nguyễn Văn
Hinh (con trai cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, người nổi tiếng thân Pháp)
là một sĩ quan cũ trong Không quân Pháp, có vợ là người Pháp. Cảnh sát
do lực lượng Bình Xuyên nắm giữ (thủ lĩnh là tướng Lê Văn Viễn),
ngay cả lực lượng an ninh văn phòng phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng do
cảnh sát gửi đến. Chính vì thế Pháp tìm cách loại trừ Ngô Đình Diệm
hoặc bằng một cuộc đảo chính, hoặc bằng cách thuyết phục Bảo Đại cách
chức ông Diệm và bất hợp tác với Mỹ trong việc huấn luyện quân đội Quốc
gia Việt Nam. Pháp tổ chức một cuộc họp chính trị có sự tham dự của
tướng Nguyễn Văn Hinh, lãnh đạo các giáo phái, một số quan chức Pháp và
đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn để đề nghị mọi người đồng ý thay
thế chính phủ Diệm. Tướng Nguyễn Văn Hinh có tham vọng làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam bắt đầu công khai chống lại Thủ tướng Diệm và còn khoe "Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.".
Ngô Đình Diệm đối phó bằng cách ra lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Hinh đi
nghỉ để nghiên cứu trong sáu tuần và phải xuất ngoại trong 24 giờ. Tướng
Nguyễn Văn Hinh bất tuân thượng lệnh. Một tuần sau, ông cho phổ biến
tuyên bố về việc ông không tuân lệnh ông Diệm và một điện tín ông đã gửi
thẳng cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp. Cùng ngày, Ngô Đình
Diệm tuyên bố tướng Hinh nổi loạn. Tướng Hinh cho xe thiết giáp bảo vệ
tư dinh của mình, đồng thời phái một lực lượng bao vây Dinh Độc Lập.
Trong thời gian 6 tuần tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc. Ngày 20
tháng 9 năm 1954,
15 bộ Trưởng trong nội các Ngô Đình Diệm đồng loạt từ chức. Quân đội
dưới quyền tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh để tấn công.
Trước tình thế đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi công điện cho Đại sứ Donald R. Heath và tướng John W. O'Daniel chỉ thị phải "nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh)
rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho
quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị
tổng tham mưu trưởng và các sĩ quan cao cấp." Cố vấn quân sự Mỹ là Edward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau khi Ngô Đình Nhu
và Edward Lansdale phát hiện được âm mưu đảo chính của tướng Nguyễn Văn
Hinh, Edward Lansdale đã mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng
Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ mát. Thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo
chính đã không thể tiến hành được. Ngô
Đình Diệm đã buộc tướng Nguyễn Văn Hinh từ chức, giao quyền lại cho
tướng Nguyễn Văn Vỹ. Nguyễn Văn Hinh chạy đến Paris vào ngày 13 tháng 11
năm 1954. Ngô Đình Diệm đồng thời cương quyết từ chối cho thủ lĩnh Lực
lượng Bình Xuyên là tướng Bảy Viễn (tức Lê Văn Viễn) tham gia chính
quyền dù Bảy Viễn đe dọa "tắm máu" Sài Gòn nếu yêu cầu của mình không
được đáp ứng. Tháng
12 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh
tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định
Geneve và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau
đó Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp
Pháp. Ngày 22 tháng 3 năm 1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam
rút toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam. Ngày 26 tháng 4 năm 1956,
Pháp giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn. Ngoài ra
Thủ tướng Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với Quốc trưởng Bảo Đại khi
ông thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 chính thức sát nhập vùng
đất Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của
người Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên
Trung phần được dùng lại. Ông còn tổ chức những chiến dịch tuyên truyền
chống lại Quốc trưởng Bảo Đại.
Quốc
trưởng Bảo Đại thấy không điều khiển được Ngô Đình Diệm cũng tán thành
theo người Pháp, gây áp lực đòi Mỹ rút lại mọi ủng hộ cho chính phủ Ngô
Đình Diệm và gây sức ép buộc ông này từ chức. Bảo Đại muốn đưa Nguyễn
Văn Xuân lên làm Thủ tướng, hoặc Phó thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh làm Tổng
Tham mưu trưởng còn tướng Bình Xuyên, Bảy Viễn làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Các giáo phái lớn tại miền Nam không quyết định hoàn toàn ủng hộ bên
nào.
Ông Ngô Đình Khả, 5
người con trai Thục-Diệm-Nhu-Luyện-Cẩn và con dâu Trần Lệ Xuân.
Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại ra thông cáo từ văn
phòng của ông ở Paris tuyên bố cách chức Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô
Đình Diệm với lý do "việc dùng các biện pháp công an trị và chế độ độc tài
cá nhân phải kết thúc, tôi không thể tiếp tục để tên tuổi và quyền lực
của mình vào tay một người sẽ khiến cả nước rơi vào đổ nát, đói kém và
chiến tranh.". Tuy nhiên Ngô Đình Diệm đã chặn được thông điệp này khiến nó không đến được với dân chúng.Sau
đó, Tổng thống Mỹ, Eisenhower cử ông Joseph Lawton Collins thay thế
Donald R. Heath làm đại sứ tại Việt Nam. Tướng Pháp Paul Ély thuyết phục
Collins chống Ngô Đình Diệm. Collins chỉ trích Ngô Đình Diệm yếu kém và
đề nghị Mỹ tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm. Collins quay về Mỹ vài lần,
thuyết phục chính phủ Mỹ
gây sức ép buộc Ngô Đình Diệm từ chức. Thời điểm này, chính phủ của Ngô
Đình Diệm cũng như bản thân ông tồn tại được thực chất là nhờ những tác
động hết sức cần thiết của những người bạn là dân biểu và thượng nghị
sĩ Mỹ mà ông đã tranh thủ được khi sang Mỹ vận động vào năm 1950. Khi
Collins yêu cầu Washington phải thay thế Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Hoa
Kỳ, Dulles tham vấn Thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Thượng nghị sĩ Mike
Mansfield khen ngợi Ngô Đình Diệm hết lời nên Ngoại trưởng Dulles chỉ
thị Collins tiếp tục ủng hộ ông Diệm.
Hình ảnh điển hình ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời
du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám
dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại,
cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi
chánh, hai là bị tiêu diệt.
Khi
Collins trở về Mỹ, ngày 22 tháng 4 năm 1955, ông dùng bữa trưa với Tổng
thống Eisenhower. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại
diện Bộ Quốc phòng và Trung ương Tình báo
để thuyết phục các quan chức Mỹ khác đồng ý thay thế Ngô Đình Diệm và
phải có kế hoạch hành động ngay tức khắc. Collins đề nghị ông Phan Huy
Quát thay thế Ngô Đình Diệm. Ngày 27 tháng 4 năm 1955, Ngoại trưởng Mỹ
Dulles gửi điện cho Collins rằng "Tướng Collins và Ely phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp
có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và
Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức
tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và
chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định..." Mật
điện này lọt ra ngoài, Thủ tướng Diệm biết được nên đã ra lệnh tấn công
quân Bình Xuyên trong lúc ông Collins còn đang trên đường về Sài Gòn,
điều này khiến Mỹ không thể hỗ trợ lực lượng nào tại Việt Nam gây sức ép
buộc Diệm từ chức. Sau đó Bộ ngoại giao Mỹ tiếp tục sẵn sàng xem xét
các đề nghị thay thế Ngô Đình Diệm nhưng không tìm thấy chính trị gia
nào có thể cạnh tranh với Diệm. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"
nhưng ông bác bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vốn được dự
kiến diễn ra vào tháng 7 năm 1956 theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định
Genève với lý do không thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do
ở miền Bắc. và bác bỏ ngay cả những thảo luận sơ khởi với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa về vấn đề tuyển cử thống nhất Việt Nam. Hành động này khiến
Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây.
Theo
Mortimer T. Cohen thì Ngô Đình Diệm không chấp nhận tổng tuyển cử, vì
ông biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh,
vì ông là một George Washington của Việt Nam. Báo cáo của CIA gửi Tổng
thống Mỹ Eisenhower cũng cho rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh
nếu mở cuộc tổng tuyển cử. Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm
thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17 để không thực
hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho
việc thống nhất Việt Nam vì vậy đã không bao giờ được tổ chức. Năm 1956, Ngoại trưởng Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Trong tình thế này, Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève.
Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Theo
Cecil B. Currey, Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam
Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không. Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ Việt Nam có viết: "Cho
nên mới tháng 9 năm 1954 nghĩa là hai tháng sau ngày ký Hiệp định đình
chiến thì chúng đã nghĩ ra "sáng kiến" là làm thử tổng tuyển cử vài nơi ở
miền Nam. Ở Vĩnh Trà (Nam Bộ), tay sai của Ngô Đình Diệm tìm cách mua
chuộc nhân dân bằng cách đưa vải về một làng, phát cho dân rồi tuyên
truyền cho Bảo Đại, phát phiếu cho dân làng bầu. Kết quả mà chúng lo sợ
đã đến: chúng đã không mua chuộc nổi: 95% số phiếu dồn cho Hồ Chủ tịch,
Bảo Đại chỉ được 5%. Chúng uất đến tận cổ. Báo cáo kết quả lên "thượng
cấp" thì lại bị chỉnh một mẻ nên thân. "Thượng cấp" cho là chúng không
tích cực tuyên truyền vận động, và bắt chúng phải làm lại. Chúng lại tìm
cách mua chuộc một lần nữa. Một số vải, gạo, thuốc men, đưa về để phát
cho dân, kèm theo một đợt tuyên truyền thứ hai. Nhưng cũng như lần
trước, không ai chịu để chúng mua chuộc. Kết quả cuộc bỏ phiếu thứ hai
là 100% bầu Hồ Chủ tịch. Ở cực Nam Liên khu V cũng diễn ra trò hề tương
tự, và cũng thất bại không kém chua cay".
Khi Quốc
trưởng Bảo Đại ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp để tường trình về
việc trấn áp Bình Xuyên thì ông đã sửa soạn ra đi nhưng những người ủng
hộ ông can ngăn. Theo tướng Trần Văn Đôn thì Bảo Đại dự định khi Ngô
Đình Diệm ra khỏi nước sẽ cách chức liền, đưa Lê Văn Viễn, Tư lệnh Bình
Xuyên lên làm Thủ tướng. Tại
miền Nam, từ 1954-1955, với cương vị thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu
phục lực lượng Bình Xuyên, lực lượng vũ trang của các giáo phái Hoà Hảo,
Cao Đài được Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông. Trong nước, ông
được Ủy ban Cách mạng Quốc gia
gồm nhiều đoàn thể, đảng phái ủng hộ. Ông cũng được gần một triệu người
di cư hậu thuẫn mạnh mẽ. Ngoài nước, Ngô Đình Diệm đã cương quyết chống
trả kế hoạch lật đổ ông của hai tướng Ély-Collins nên bây giờ được
Washington ủng hộ. Quốc gia Việt Nam tổ chức cuộc trưng cầu dân ý
miền Nam Việt Nam, 1955
đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành
Quốc trưởng. Cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận như tại Sài
Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ
có 450.000 cử tri ghi tên. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ
chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành
Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Chính thể
mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và
sau đó ông được bầu làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam. Hai
năm sau, năm 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu
tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng hoà. Ngày 22 tháng 10 năm 1960, Tổng thống Mỹ, Eisenhower gửi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm "Chúng
tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã
biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà
nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình
trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay
thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng...".
VNCH tảo thanh phiến quân Bình Xuyên cuối tháng 4-1955 tại Saigon – Photo by Howard Sochurek
SAIGON (5/5/1955) KINH HOÀNG GIỮA TIẾNG NỔ ẦM ẦM CỦA CUỘC NỘI CHIẾN
— Người dân tỵ nạn Nam VN sợ hãi co rúm người lại cạnh bên một ngôi nhà
gỗ tại Saigon trong trận giao tranh bằng súng cối giữa binh sĩ của TT
Ngô Đình Diệm với các phiến quân Bình Xuyên. Người phụ nữ đang khóc lấy
tay bịt tai để chận bớt âm thanh của trận giao tranh. Người phụ nữ lớn
tuổi ở bên phải túm chặt túi đồ trong lúc nhìn về phía đang giao tranh.
Các lực lượng của ông Diệm đã tuyên bố thắng lợi hoàn toàn đối với quân
phiến loạn vào hôm thứ tư, khi các nhà lãnh đạo khắp Nam VN tập họp để
xem xét tình hình. (Ảnh của Tạp chí Life từ AP Wirephoto)
Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: "Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền". Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa
là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông. Ông ban phát ân huệ cho
thuộc cấp theo ngẫu hứng, bất chấp năng lực lẫn tình hình thực tế. Không
có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều sử gia gọi Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa
là Ngô triều. Theo nhiều hồi ký của tướng lĩnh dưới thời ông Diệm kể
lại, thì khi vào cửa Tam quan ở các đền thờ vua chúa, ông Diệm thường
nói: "Các ông đi cổng hai bên, vì cổng giữa chỉ có vua mới được đi. Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc này". Dứt câu, ông Diệm đi vào bằng cổng giữa. Nội chuyện xây dựng Dinh Độc Lập và ý định dời đô từ Sài Gòn lên cao nguyên
đã khiến ông Diệm càng trở nên xa cách với giới tướng lĩnh. Ngay cả
người gần gũi với gia đình ông như tướng Trần Văn Đôn còn bất mãn với sự
độc đoán này của ông Diệm. Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng nhận xét:
"Lúc
ấy sau ba lần thắng Bình Xuyên và áp dụng biện pháp mạnh đối với các
giáo phái, thắng lợi, Ngô Đình Diệm bắt đầu có lông có cánh, ra mặt
chống Bảo Đại, không đi Pháp để trình với Quốc trưởng về các biến cố ở
nước nhà, mà ở lì trong nước tập làm độc tài
cỏ, đưa họ hàng lên nắm hết các chức vụ quan trọng… Nam Việt Nam lúc
bấy giờ là một nhà nước cảnh sát do hai gia đình quan lại Trần Văn và
Ngô Đình nắm hết quyền hành. Gia đình Trần Văn còn trung thành phần nào
với tập tục cổ truyền của nhà vua Bảo Đại, chớ họ Ngô Đình thì trắng
trợn ly khai với chế độ cũ và nuôi cái mộng lập một triều đại mới: triều
đại Ngô Đình.Cố nhiên muốn thực hiện mộng đó, phải tàn ác diệt trừ những cá
nhân, đoàn thể chống đối, mà cá nhân và đoàn thể chống đối lúc ấy là
những người gốc ở miền Bắc và miền Nam chỉ muốn nhà Ngô giữ lời đã hứa
là tổ chức một cuộc bầu cử để họ có thể bầu người đại diện của họ lên lo
việc nước. Theo những người có tiếng là chống đối này, ông Diệm “là một
lính nhảy dù do Mỹ thả từ trên trời xuống mà không có rễ ở dưới đất”. Báo chí cúi đầu theo răm rắp, suy tôn Ngô tổng thống. Vào chiếu
bóng, rạp hát, phải chào cờ và đứng nghiêm nghe nhạc trổi bài “Toàn dân
Việt Nam biết ơn Ngô tổng thống – Ngô tổng thống, Ngô tổng thống… muôn
năm” cho đến khi lá cờ vàng sọc đỏ mờ dần cùng với cái hình ông Diệm lùn
mập. Báo chí không lúc nào ngưng suy tôn Ngô tổng thống. Mọi việc đều
trơn tru, êm đẹp. Nếu không có Ngô tổng thống thì toàn dân chết không
còn một mống. Muôn năm, muôn năm!"
Quyết tâm tránh các biện pháp mà Ngô Đình Diệm coi là
"ăn cướp và tra
tấn dã man" như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc, Tổng thống
Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất
vượt quá giới hạn, chứ không tịch thu.
Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các
nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi
trong kỳ hạn sáu năm để mua.
Tuy vậy, đường lối Cải cách điền địa mà
Ngô Đình Diệm đề ra bị nông dân miền Nam phản đối dữ dội. Trong khi Việt
Minh đã giảm thuế, xóa nợ và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho
nông dân nghèo, Ngô Đình Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại.
Đến cuối thời Ngô Đình Diệm, 10% chủ đất đã nắm giữ 55% đất canh tác cả
miền Nam. Nông dân phải trả lại đất cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê
đất và phải nộp cho quân đội. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông
thôn, quân đội của Ngô Đình Diệm bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp". Đất của các Giáo xứ Công giáo
thì còn được Ngô Đình Diệm thiên vị, cho miễn thuế và hạn mức. Kết quả
là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập
trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Sau khi lên làm
tổng thống, ông giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình
Nhu
làm cố vấn và cả hai người đều sử dụng các phương pháp cứng rắn để
chống lại những người kháng chiến Việt Minh được sự hỗ trợ của chính
quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Trong khi nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa được xây dựng trên học thuyết xã hội chủ nghĩa thì hai
anh em xây dựng Chủ nghĩa nhân vị như là một học thuyết làm nền tảng ý
thức hệ cho nhà nước ở miền Nam Việt Nam với chính đảng Cần lao Nhân vị. Theo
Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến
Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng
Quân đội Nhân dân ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17.
Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành
vẫn được bố trí ở lại.
Đồng thời một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh
nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ
chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm lực lượng vũ trang giáo
phái để dự phòng cho việc phải chiến đấu vũ trang trở lại. Việt Minh
cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần.
Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu
chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng
ngũ đối phương.
Tội ác của chế độ VNCH
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định "Những
hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián
tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc
ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng
sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới
đồng thời cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Dù vậy hệ thống tổ chức bí mật của Việt Minh vẫn tiếp tục tồn tại và
phản kháng bằng cách tuyên truyền chống chính phủ, tổ chức những cuộc
biểu tình chính trị gây sức ép lên chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Chính
quyền Ngô Đình Diệm đối phó với những cuộc đấu tranh chính trị
bằng cách thực hiện chiến dịch tố cáo cộng sản nằm vùng nhằm loại bỏ
những cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Chính quyền của Ngô Đình Diệm
luôn luôn quan niệm cộng sản là kẻ thù chính, nhiệm vụ phản công là tối
ưu, phải đẩy mạnh nhiệm vụ chống cộng. Ông Ngô Đình Diệm rất nổi tiếng với các khẩu hiệu: "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót";
thể hiện quyết tâm chống Chủ nghĩa Cộng sản tới cùng của ông. Để thể
hiện lập trường sẽ tận diệt cán bộ Việt Minh, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố
công khai:
"Thấy cộng sản ở đâu là phải bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho cộng sản cũng bắn bỏ ngay"
Theo báo Nhân dân, ngay từ cuối năm 1954, theo lệnh Mỹ, chính quyền
Ngô Đình Diệm đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh,
Chợ Được, Mỏ Cày, Củ Chi, Bình Thành,v.v. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố cộng"
giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; tháng 6-1955, mở chiến dịch
Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp
của Việt Minh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến hành các chiến dịch tố
cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một
cách quyết liệt
không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như
hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Những biện pháp cứng rắn nhất được áp dụng,
ví dụ ngày 16-8-1954, quân Việt Nam Cộng hoà đã nổ súng trấn áp đoàn
biểu tình ở thị xã Gò Công, bắn chết 8 người và 162 người bị thương.
Trong
thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có
48.250 người bị tống giam,
theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành
quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn
hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung.
Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân
chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt
Minh) vào rừng lập chiến khu. Việt Minh đáp trả bằng những cuộc biểu
tình đòi thả cán bộ của họ hoặc tổ chức các cuộc diệt ác trừ gian - tiêu diệt nhân viên và cộng tác viên của chính quyền Ngô Đình Diệm được gọi là "bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm".
☜ Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless
War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press,
1989, trang 149: “Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là
con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào
khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên
tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền
của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn
dựng đứng.”
(Careful later studies, however, have estimated that the true figures
for those executed in the noerthern land reform may have been more like
1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed
according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on
the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)
Đưa ra những tài liệu phản biện như trên không có nghĩa là tôi
biện hộ cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất của Việt Minh mà chỉ là đối với tôi, những
tài liệu ngụy tạo để chống Cộng như trên có thể thích hợp trong thời chiến, nhưng
nay viết lại lịch sử thì phải viết cho đúng với sự thật, bất kể sự thật đó
là như thế nào. Mặt khác, nếu số người bị giết trong cuộc Cải Cách Ruộng
Đất như trên mà gọi là “genocide” thì số 300000 (3 trăm
ngàn) người chết oan trong chiến dịch tố Cộng của Ngô Đình Diệm thì gọi
là gì?
Trên đây là một số trong những hình ảnh
trong chính sách Tố Cộng tàn nhẫn của chính quyền miền Nam.
Để
tăng tính uy hiếp, Việt Nam Cộng hòa sử dụng cả máy chém
để hành quyết phạm nhân. Nhiều vụ xử chém của Việt Nam Cộng hòa được
diễn ra công khai trước dân chúng, đầu phạm nhân được đem bêu để cảnh
cáo. Báo The Straits Times (Singapore) ngày 24 tháng 7 năm 1959 có bài
viết tường thuật cảnh 1.000 người dân xem xử chém ở Sài Gòn. Báo Buổi
sáng (Sài Gòn) ngày 15-10-1959 có viết: “Theo
một phán quyết của phiên xử vắng mặt của Tòa án Quân sự Đặc biệt ngày
02 tháng 10, Nguyễn Văn Lép, tức Tư Út Lép, một Việt Cộng, đã bị tuyên
án tử hình. Cách đây một tuần, Lép đã bị sa vào lưới của Cảnh sát trong
một khu rừng ở Tây Ninh. Bản án tử hình đã được thi hành … Hiện đầu và
gan của tên tử tù đã được Hội đồng xã Hào Đước cho đem bêu trước dân
chúng". Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua
luật số 91 mang tên
Luật 10-59, sau đó được tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký
ban hành. Luật này quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt
với lý do "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa",
mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt
Nam. Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không
cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai,
xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ
tử hình có cả máy chém.
Sau khi luật này được ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính
quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng
viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị thiệt hại nặng nề. Như vậy, có thể thấy, được
sự hà hơi tiếp sức của Mỹ và sau khi thu tóm quyền lực, củng cố cái
chính thể phản bội quyền lợi của Dân tộc Việt có tên gọi là Việt Nam
Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm quay sang ra sức triệt phá các cơ sở cách mạng,
lùng sục ráo riết, bắt bớ và giết chóc hàng loạt những người từng tham
gia cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp mà chúng gọi là Việt Cộng
và người kháng chiến cũ. Sự đàn áp khốc liệt đó với cao trào là luật
10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam - Việt Nam đã gây ra biết bao nhiêu
đau thương, tang tóc cho đồng bào miền Nam, và đặc biệt nghiêm trọng là
nó đã chà đạp tan nát Hiệp định Giơnevơ, làm cho sự chờ đợi 2 năm xum
họp nước nhà của toàn thể nhân dân Việt Nam trở thành vô vọng.
Bài thơ “Ngô
Thuốc Độc Ngợi Ca máy Chém” (trích từ “Chế Lan Viên Toàn tập”) và những tài
liệu Việt Mỹ dưới đây
(kể cả tài liệu của Việt Nam Cọng hòa) đã chứng minh Đạo Luật 10/59 và
chiếc máy chém do Pháp để lại đã từng là nỗi hãi hùng của nhân dân miền Nam dưới
thời Ngô Đình Diệm. Biết bao người dân vô tội cũng đã bị chết oan vì bọn Mật vụ
Cần Lao Công giáo ác ôn vu oan giá họa vì tư thù … Chế độ Diệm nhờ hai đế quốc Mỹ
và Vatican mà thành hình, chế độ nầy được cho là thay Pháp nhưng lại vẫn duy trì hai di sản của Thực dân Pháp
để lại: Đó là Đạo dụ số 10 để đạp
các tôn giáo khác xuống bùn cho Công giáo được đặc quyền đặc lợi, và chiếc máy chém hãi hùng chặt đầu những
ngưòi yêu nước. - NG
Ngô thuốc độc ngợi ca
máy chém
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Việt gian thành chí sĩ
Chúng nó mua máy Mỹ
Về cắt đầu dân ta...
Tiếng Ngô thuốc độc:
Ngô bảo: giết người là trọng đại
Việc máu Ngô xem như việc nhà
Huống nữa nay làm nên Tống thống
Giết người, không thể giết qua loa
Lối chém Nam Triều khá hủ hậu
Nhiều gươm mà ít kiếm ra máu
Nước mình tiếng thế nhưng đông dân
Giết người, máu phải cho đầy chậu
Quan Mỹ ngày nay vốn đại tài
Xoẹt qua một lúc, chục đầu rơi
Tính xem! Mười máy kia cùng chém
Ngô có ngay một trăm nụ cười
Đã chém còn bày lắm khó khăn
Pháp trường với không phải pháp trường!
Đâu là Tổ quốc, đấy, Ngô chém
Nơi nào chẳng kiếm được đầu dân!
Chém kiểu Ngô đây quả rất tiện
(Ưu tiên cho những đầu kháng chiến)
Ngô thề có trời, Ngô thương dân
Máy đến tận nhà dân để chém
Máy dong miền Đông, dong miền Tây
Chỉ huy đã có ông quan thầy
Nghề chém như nghề Ngô Tổng thống
Nơi nào có máu thì đi ngay
Lối chém ngày xưa cũng lắm tuồng
Chém chui chém nhủi chả ra hồn
Như sợ mặt trời uống mất máu
Chém người phải trốn giữa mù sương
Ngô chém bây giờ rất hãnh diện
Thầy Mỹ về trông, quan khách đến
Máu người, Ngô để cho người xem
Không có mặt trời thì bật điện
Lũ báo nhà Ngô văn viết... mau
Bút ngâm trong máu đỏ đồng bào
Tâu rằng: Ngô chém rất... nhân vị
Toàn rặt sọ dừa dân... cần lao
Máy Ngô đi trước, mồm theo sau
Mồm phun đỏ máu câu từng câu
Khen: Ngô yêu nước như yêu máu
Máu rơi một sắc, văn trăm màu
Lại ca: thầy Mỹ xưa cho bom
Giờ cho máu chém siêu linh hồn
Xương người vây trắng dinh Ngô ở
Máu người thắp đỏ phố U-ôn
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Trăm sự đều của Mỹ
Máy chém thì... nhân vị
Sơn màu U.S.A.
Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (Vũ Thị Thường sưu
tầm và biên soạn)
Máy chém (Guillotine) thời Ngô Đình Diệm được sử dụng tại
miền Nam để chặt đầu nhân dân yêu nước, hiện được trưng bày
tại Bảo tàng Chứng tích Tội ác Chiến tranh, Sài
Gòn
Nói đến tội ác của chế độ VNCH thì pkải kể đến khu Chín Hầm:
Chín Hầm vốn là một kho tàng
trữ vũ khí do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941. Năm 1946 thực dân
Pháp quay lại và biến nơi đây thành nơi giam giữ tù binh. Từ năm 1954, Cố vấn Trung phần Ngô Đình Cẩn đã dùng nơi này
để biệt giam những người Cộng sản và một số người dân Huế đấu tranh
chống chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô. Khu trại giam Chín Hầm gồm các căn hầm được phân bố trên 2/3 quả đồi, cửa hầm hướng xuống chân
đồi. Hầm có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, xây dựng kiên
cố bằng bê tông cốt sắt, trần hầm có độ dày 0,5m. Trừ hầm số 1 chìm sâu
xuống lòng đất, các hầm còn lại đều nổi lên mặt đất từ 1/3 đến 2/3
chiều cao của hầm. Trong hầm được chia thành 2
dãy xà lim chuồng cọp, mỗi chuồng rộng 0,9m, dài 0,2m, cao 1,5m phía
trên đầu là một lưới sắt, mỗi hầm có 1 lỗ thông hơi nhỏ.
Gọi là Chín Hầm nhưng thực
ra chỉ có 8 hầm và 1 căn nhà gác (thường gọi là hầm số 9). Đây là một
khu nhà tầng được thiết kế như một pháo đài, dùng làm nơi làm việc của
các tay sai dưới quyền Ngô Đình Cẩn. Đây cũng là nơi tra tấn, khảo cung
những người có án nhẹ. Riêng hầm số 6 được gọi là
"địa ngục trần gian", được sử dụng để tra tấn tù nhân bằng những hình
thức cực kỳ tàn bạo như đóng người lên tường, dùng dao xẻo thịt... Rất
nhiều chiến sĩ cách mạng đã hi sinh trong căn phòng này. Hầm số 8 giam giữ tù nhân là
tình báo - Năm 1963 khi bà con miền Trung lên nhà giam Chín Hầm đập phá
đến căn hầm số 8 người ta thấy nhà tình báo - Đại tá Nguyễn Minh Vân là một trong ba đồng chí còn sống sót. Dưới sự cai trị của Ngô Đình
Cẩn, Chín Hầm đã chứng kến cái chết của hàng trăm tù nhân, phần lớn do
bị tra tấn, một phần do bệnh tật, đói rét từ điều kiện sống vô cùng cực
khổ.
Ngay ngày gia đình họ Ngô bị
đảo chính 2/11/1963), Ngô Đình Cẩn bị bắt, người dân xứ Huế dưới sự
lánh đạo của các cán bộ cách mạng tại địa phương đã lên khu Chín Hầm phá
các nhà giam và giải phóng cho các tù nhân ở đây. Ảnh: Một chốt gác
được phục dựng.
Trong những năm sau đó, Chín
Hầm bỏ hoang. Chịu sự phá hủy của chiến tranh và thời tiết, khu nhà
giam khét tiếng một thời chỉ còn là phế tích đổ nát. Đến năm 1993, nơi
đây đã được công nhận là một di tích lịch sử. Ảnh: Một bức tường của hầm
số 3.
Khu di tích lịch sử Chín Hầm nằm dưới chân núi Thiên Thai, thuộc xã Thủy An, thành phố Huế là một địa danh lịch sử gắn liền với tên tuổi của Ngô Đình Cẩn, nhân vật được mệnh danh là "Bạo chúa miền Trung" dưới thời Ngô Đình Diệm.
Có
những thông tin khác nhau về việc Ngô Đình Diệm muốn Hoa Kỳ (và cả
Trung Hoa Dân Quốc) đưa quân vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam hay
không. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Ngô Đình Diệm nhờ Linh mục
Raymond de Jaegher, người Bỉ quốc tịch Mỹ, xin với Đại sứ Mỹ Elbridge
Durbrow cho Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Sài gòn với lý do bảo vệ
công dân Mỹ và kiểm soát phi trường Tân Sơn Nhất.
Chân dung Trần Lệ Xuân vào thập niên 1950
Trần
Lệ Xuân, thường được biết đến với tên gọi Madame Nhu, sinh ngày
22 tháng 8 năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình quý tộc Bắc bộ. Bà
là con gái của ông Trần Văn Chương, một luật sư nổi tiếng, và bà Nam
Trân, một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong giới thượng lưu. Tuổi thơ của
bà Xuân được bao bọc trong sự giàu sang và giáo dục tốt đẹp, chuẩn bị
cho bà một tương lai đầy triển vọng. Bà lớn lên trong môi trường giáo
dục truyền thống và tinh hoa, nơi mà sự khôn ngoan, trí tuệ và sự thanh
lịch được coi trọng. Những
ảnh hưởng từ gia đình và sự khắt khe của người mẹ đã hình thành nên
tính cách mạnh mẽ và độc lập của bà, giúp bà trở nên tự tin và đầy bản
lĩnh. Năm 1943, ở tuổi 19, Trần Lệ Xuân kết hôn với Ngô Đình Nhu, một
nhân vật có tầm ảnh hưởng trong chính quyền Việt Nam.
Bà Trần Lệ Xuân từng cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng,
tượng này có khuôn mặt giống hệt hai mẹ con bà: Trần Lệ Xuân - Ngô Đình
Lệ Thủy. Nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng Trưng Trắc có
khuôn mặt giống với bà và Trưng Nhị có khuôn mặt giống với con gái của
bà là Lệ Thuỷ. Thời điểm ấy, nhà thơ Đông Hồ có bài thơ châm biếm “Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng” như sau :
"Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng Đón gió lại qua người ưỡn ẹo Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng Khuynh thành mặt đó y con ả Điêu khắc tay ai khéo cái thằng! Chót vót đứng cao càng ngã nặng Có ngày gãy cổ đứt ngang lưng... Đây một hình xưa nhục nước non Thay hai hình mới đứng thon von Mình ni lông xát lưng eo thắt Ngực xu chiêng nâng vú nở tròn Tưởng đứng hiên ngang em với chị Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con Dòng sông Bến Nghé, dòng sông Hát Lưu xú lưu phương tiếng để còn".
Theo sử gia Joseph Buttinger thì “Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam”.
Do đó sau này, ngày 2–11–1963, khi họ Ngô vừa bị đảo chính, nhiều người
dân Sài Gòn đã kéo nhau dùng một dây sắt nối với một tàu thủy để kéo
sập tượng đài này, và chở trên xe xích lô máy đi diễu khắp Sài Gòn chiếc
đầu tượng mang gương mặt bà Xuân.
Ngày 20 tháng 10 năm
1961, tướng Mỹ Maxwell D. Taylor
hội thảo với Ngô Đình Diệm lần đầu tiên, Ngô Đình Diệm đề nghị một hiệp
ước hỗ trợ quân sự, gia tăng quân số Việt Nam Cộng Hòa và yểm trợ không
quân của Mỹ. Ngày 27 tháng 10 năm 1961, Taylor hội thảo với Ngô Đình
Diệm lần thứ hai và đề nghị đưa bộ binh Mỹ
vào miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ chính thức là cứu lụt, Diệm rất tán
thành. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm "không
những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh, mà còn
tuyên bố đại đa số dân miền Nam chào đón (welcome) việc này." Trong
buổi họp ngày 13 tháng 10 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
Cộng hòa Nguyễn Đình Thuần đã đề nghị Mỹ hãy duyệt gấp những yêu cầu của
Tổng thống Diệm, trong đó đó đề nghị Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc (Đài
Loan) gửi quân đến Việt Nam, cụ thể:
Gửi thêm các phi đoàn khu trục cơ AD-6 và các phi công dân sự Mỹ để điều khiển máy bay.
Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân Việt
Nam Cộng Hòa. Một phần quân số này sẽ đóng gần vĩ tuyến 17 để Việt Nam
Cộng Hòa rảnh tay chống quân du kích dân tộc thiểu số ở Tây nguyên.
Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị (của ông Diệm) xin
Trung Hoa Dân Quốc gửi một sư đoàn quân tác chiến vào khu vực hành quân ở
vùng Tây Nam.
Còn theo lời Bùi Kiến Thành,
cộng sự thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì đến năm 1962, Ngô
Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào Việt Nam mà muốn đàm phán với chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính vì điều này mà người Mỹ đã chỉ đạo các
tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khởi động cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình
Diệm: "... Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người
Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử
không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân
dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng
tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể
nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng Hòa)
cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì
kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể
chấp nhận được... Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ
đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan,
dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn sẽ
thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho
mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để
không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam... Qua sự trung
gian của đại sứ
Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp… qua các cuộc đi săn bắn
của ông Nhu
trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẻ, chưa hẳn là
thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì
họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và họ đưa việc này ra cho mấy
ông tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu
"bán nước cho cộng sản", vì vậy các anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô
Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các
anh cho cộng sản... Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định
rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không
thể làm được cho nên chờ tới năm 1964 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng
rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô
Đình Diệm bị lật đổ,
Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một
số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hòa... Người Mỹ
không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ
ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế
khác... Việc đảo chánh Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn
Minh, ông ta chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ
cũng như mấy ông kia cũng chỉ là con cờ, còn người chỉ huy, đưa ra tất
cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này là người Mỹ, mà người
đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá tình báo Lucien Conein, ngồi
thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia, thành
ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của
Mỹ, nghe có cay đắng không?". Từ
năm 1957 đến năm 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hai lần nhưng
ông may mắn thoát chết. Lần đầu tiên do Hà Minh Trí, một người cộng sản
dưới lốt thành viên Cao Đài thực hiện ngày 22 tháng 2 năm 1957 tại "Hội
chợ Kinh tế Cao nguyên" ở Buôn Ma Thuột, lần thứ hai do hai phi công
thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, vốn
là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng, ném bom vào dinh Tổng thống ngày 27
tháng 2 năm 1962.
Hà Minh Trí là ai?
Hà Minh Trí (thường được biết đến là, Đại tá Mười Thương; 1935-2020) là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sĩ quan cao cấp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Nguyên tên khai sinh của ông là Phan Văn Điền, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1935, tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Nhà nghèo, cha ông đi làm lính khố xanh, do tham gia Binh biến Đô Lương và bị xử tử khi ông mới 5 tuổi. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông bỏ nhà lưu lạc vào Nam, vào tận Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, ông được một cán bộ Việt Minh nhận nuôi và đặt cho cái tên mới: Đinh Văn Phú. Ông tham gia cách mạng từ đây.
Chân dung Anh hùng, Đại tá Phan Văn Điền
....Tháng 10/1956, ông MườiThương được giao nhiệm vụ ám sát Tổng thống Việt
Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm khi ông ta lên Tây Ninh, nhưng do tổ chức
không nắm chính xác ngày, giờ nên kế hoạch không thực hiện được. Cũng
trong năm đó, ông lại chủ động đề xuất cho thực hiện nhiệm vụ này vào
đêm Noel tại Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (TPHCM ngày nay), nhưng lại một
lần nữa kế hoạch bất thành do lịch trình của Ngô Đình Diệm đột ngột thay
đổi.
Tháng 2 năm 1957, Hà Minh Trí cùng các đồng đội vạch ra kế hoạch tỉ mỉ cho việc ám sát lần ba Ngô Đình Diệm. Sáng ngày 22 tháng 2, hội chợ Tây Nguyên khai mạc. Hà Minh Trí trong bộ trang phục cải trang đã tiến gần hàng rào bảo vệ,
chỉ cách vị trí tổng thống Diệm đứng chưa đầy 20 mét. Khi tất cả chuẩn
bị chào cờ, ông nổ súng vào mục tiêu đã định. Tuy nhiên, súng chỉ nổ 2 phát thì bị hóc. Do bị cưa nòng và báng súng
nên độ chính xác của súng bị giảm đi rất nhiều, vì vậy đạn không đi đúng
mục tiêu và bắn trúng vào Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Công. Hà
Minh Trí nhanh chóng bị lực lượng an ninh bắt giữ.
Đảo
chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1960 là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên
tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn ChánhThi và trung tá Vương Văn
Đông
cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài
Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh
quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quần chúng.
Kế hoạch đảo chính đã được Vương Văn Đông và các quan chức bất bình
với chế độ Ngô Đình Diệm, trong đó có Đại tá Nguyễn Chánh Thi, chuẩn bị
trong một năm. Vương Văn Đông đã cấu kết được với một trung đoàn xe thiết giáp, một đơn vị hải quân và ba tiểu đoàn
quân nhảy dù. Cuộc đảo chính được dự định vào 5 giờ sáng ngày 11 tháng
11. Tuy nhiên kế hoạch đã được thực hiện không hiệu quả, quân nổi loạn
đã không tuân thủ chiến thuật đã được viết ra như chiếm giữ đài phát
thanh và phong tỏa các con đường vào đô thành Sài Gòn. Họ cũng đã không
thể cắt đường dây liên lạc điện đàm vào dinh Độc Lập,
điều này khiến cho Ngô Đình Diệm có thể liên lạc được với các đơn vị
trung thành đến bảo vệ mình. Quân đảo chính đã bao vây dinh Độc Lập
nhưng trì hoãn tấn công trong 36 giờ vì tin rằng Ngô Đình Diệm sẽ tuân
thủ theo yêu sách của họ. Lợi dụng thời gian trì hoãn này, Ngô Đình Diệm
đã xuống tầng hầm dinh Độc Lập và viết một bài diễn văn hứa hẹn sẽ có
bầu cử tự do và công bằng và các biện pháp tự do khác. Khi các thỏa hiệp
đang được phát trên các phương tiện truyền thông ngày 12 tháng 11,
lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao
tranh diễn ra chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết,
trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem giao tranh. Lực
lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.
Sau
cuộc chiến là một cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm với những người chỉ
trích và nhiều bộ trưởng nội các bị bỏ tù. Một số sĩ quan quân đội và
chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình
Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.
Các
mối quan hệ của chế độ Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ đã trở nên tồi tệ hơn
trong năm 1963, do sự bất mãn ngày một tăng trong phần lớn Phật tử ở
miền Nam Việt Nam. Tháng 5 năm 1963, ở Huế
một thành phố trung tâm của đạo Phật, theo Topmiller, người anh của Ngô
Đình Diệm là tổng Giám mục Ngô Đình Thục
đã cấm phật tử và nhà chùa treo cờ nhà Phật trong lễ Phật đản căn cứ
trên quy định cấm treo các loại cờ tôn giáo ở nơi công cộng. Còn theo
tác giả Nguyễn Hiền Đức, Ngô Đình Cẩn chỉ thị cho Tỉnh trưởng
yêu cầu ban Tổ chức lễ Phật Đản chỉ cần thông báo cho toàn thể tín đồ
Phật giáo đừng treo cờ Phật giáo trong ngày lễ, Phật tử nào đã treo cờ
rồi thì cứ để cho treo hết lễ
Vài ngày trước đó thì người Công giáo lại được phép treo cờ trong các
lễ kỷ niệm của họ. Tuy nhiên, sau đó Phật giáo và chính quyền thành phố
Huế đã đạt được thỏa thuận cho phép dân chúng treo cờ Phật giáo. Nhưng thượng tọa Thích Trí Quang vẫn quyết định tiếp tục đấu tranh nhằm chống lại quy định của chính quyền.
Trong lúc Phật tử tụ tập trước đài phát thanh Huế chờ nghe bài diễn văn
của Thượng tọa Thích Trí Quang đã xảy ra vụ nổ giết chết 9 thường dân
không vũ trang. Mặc dù tỉnh trưởng bày tỏ sự cảm thông và chia buồn sâu
sắc đối với thân nhân những người chết và đề xuất bồi thường cho gia
đình nạn nhân, nhưng tỉnh trưởng vẫn nhất quyết phủ nhận lực lượng của
chính phủ đàn áp giết chết người biểu tình, đồng thời cho rằng Việt Cộng
là thủ phạm. Theo Karnow, lực lượng an ninh quân đội Việt Nam Cộng hòa đã đàn áp cuộc
biểu tình của Phật giáo. Ngô Đình Diệm và những người cùng phe cáo buộc
Việt Cộng phải chịu trách nhiệm về những cái chết của thường dân và
tuyên bố những người biểu tình phải chịu trách nhiệm về tình trạng bạo
lực. Các tổ chức Phật giáo đã đưa ra một bản Tuyên ngôn gồm 5 điểm: tự do
treo cờ tôn giáo, chấm dứt bắt bớ bừa bãi, bồi thường cho các nạn nhân
Huế, các quan chức chịu trách nhiệm về vụ đàn áp phải bị xử lý và bình
đẳng tôn giáo.
Hình ảnh một cuộc đàn áp Phật giáo của chính
quyền độc tài Ngô Đình Điệm năm 1963 - Ảnh: tư liệu của GHPGVN tỉnh
Thừa Thiên - Huế
Cuộc diễu hành của phật tử Huế ngày 8/5/1963 - Ảnh: HALSCuộc
biểu tình của đồng bào phật tử và SV,HS trước chợ Bến Thành Sài Gòn.
Cảnh sát chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắn chết nữ sinh Quách Thị Trang
Đoàn biểu tình của Tăng Ni và Phật tử ngồi tại chỗ- khi quân đội và cảnh sát chặn lại trên đường đi, năm 1963 (ảnh của Corbis)
Quần
chúng Phật giáo Miền Trung và Thừa Thiên-Huế xuống đường năm
1966
Bức ảnh của M.Browne gây xúc động đến mức tổng thống Mỹ John F.Kennedy phải thốt lên “Không một bức ảnh thời sự nào trong lịch sử thế giới lại tạo ra nhiều cảm xúc đến thế!”. Tổng
thống đã phải ra lệnh tái lượng giá chính sách đối với Việt Nam và chỉ
thị Đại sứ Henry Cabot Lodge qua nhận nhiệm sở ở Sài Gòn
Chính quyền cấm các cuộc biểu tình, ra lệnh cho
quân đội
cảnh sát bắt giữ những người tham gia vào các cuộc tuần hành biểu tình.
Ngày 3 tháng 6 năm 1963, người biểu tình cố gắng diễu hành qua chùa Từ
Đàm. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng hơi cay và chó nghiệp vụ tấn
công người biểu tình 6 lần để giải tán đám đông nhưng bất thành, cuối
cùng quân đội sử dụng hóa chất lỏng màu nâu đỏ để tưới vào đám đông
người biểu tình đang cầu nguyện, kết quả là 67 người phải nhập viện vì
nhiễm độc. Lệnh giới nghiêm sau đó đã được chính quyền Diệm ban hành. Để
xoa dịu Phật giáo, ngày 4 tháng 6 năm 1963, Chính phủ Ngô Đình Diệm
thành lập Ủy ban Liên bộ để nghiên cứu giải quyết những nguyện vọng của
Phật giáo, do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Một phái đoàn hỗn
hợp của hai bên được gửi ra Huế để giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh
Quang, Báo Quốc, và Chùa Diệu Đế, đồng thời kêu gọi Phật tử trở về sinh
hoạt bình thường, kiên nhẫn chờ đợi hành động của chính quyền. Bước ngoặt của cuộc khủng khoảng Phật giáo năm 1963 đến vào tháng 6, khi hòa thượng Thích Quảng Đức
tự thiêu giữa một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn để phản đối các chính sách
của Diệm; bức ảnh chụp lại cảnh tượng này đã nhanh chóng phổ biến trên
khắp thế giới, và đối với nhiều người những hình ảnh này đã chứng minh
cho sự thất bại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Một số nhà sư khác đã tự thiêu, noi gương theo hòa thượng Thích Quảng Đức. Trước
tình hình đó, Ủy ban Liên bộ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Ủy
ban Liên phái của Phật giáo sau khi thảo luận đã ra bản Thông cáo chung
với nội dung cho phép treo cờ Phật giáo nơi công cộng nhưng phải kèm
theo cờ quốc gia, chính phủ hứa sẽ thay thế dụ số 10 bằng một đạo luật
mới do Quốc hội ban hành, lập Ban điều tra để xem xét tất cả các đơn
khiếu nại của Phật giáo, phóng thích những người liên quan đến cuộc đấu
tranh của Phật giáo, những sinh hoạt tôn giáo thuần túy và thường xuyên
không diễn ra nơi công cộng không cần xin phép, tạo điều kiện cho Phật
giáo xây chùa, trừng phạt các cán bộ có trách nhiệm trong sự kiện Phật
đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 nếu thật sự họ có lỗi, trợ giúp các nạn nhân
trong sự kiện Phật đản. Sau khi bản Thông cáo chung được công bố,
phía Phật giáo cho rằng các
chính quyền địa phương đang ngầm chống lại việc thực thi Thông cáo
chung nên tiếp tục đấu tranh.
Cuộc đấu tranh của Phật giáo khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa do
Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo mất uy tín cả trong lẫn ngoài nước.
Điều này buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi hòa giải
giữa chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Phật giáo. Tuy nhiên Phật giáo không
chấp nhận hòa giải mà vẫn tiếp tục đấu tranh.
năm 1963 và vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức
Trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức
Chính phủ Hoa Kỳ ngày càng thất vọng với những hình ảnh công bố các
nhà lãnh đạo không được ưa chuộng cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm
sử dụng lý lẽ chống cộng truyền thống của mình, buộc tội những người
chống đối là cộng sản. Khi các cuộc biểu tình chống chính phủ của Ngô
Đình Diệm vẫn tiếp tục trong suốt mùa hè năm 1963, thì các lực lượng đặc
biệt trung thành với chính phủ đã tiến hành một cuộc đột kích tàn bạo
vào chùa Xá Lợi ở Sài Gòn
vào tháng 8 cùng năm. Chùa bị phá hoại, các nhà sư bị đánh đập, hài cốt
hỏa táng của hòa thượng Thích Quảng Đức, bao gồm cả trái tim của ông
được những phật tử coi là một di tích tôn giáo, cũng bị lực lượng an
ninh tịch thu. Các
cuộc tấn công đồng thời được thực hiện trên toàn Việt Nam Cộng hòa,
chùa Từ Đàm ở Huế bị cướp phá, tượng phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm bị phá hủy
và di thể một nhà sư đã tạ thế cũng bị đưa đi.
Khi dân chúng đến để bảo vệ các nhà sư đã đụng độ với quân đội và cảnh
sát, dẫn đến 30 thường dân thiệt mạng và 200 người khác bị thương.
Tổng cộng đã có 1.400 nhà sư bị bắt, khoảng 30 nhà sư bị thương trên
toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ đã cho thấy quan điểm không tán
thành chính quyền của Diệm khi đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge, Jr.
tới thăm một ngôi chùa. Không có thêm các cuộc biểu tình của Phật tử
xảy ra trong thời gian nắm quyền còn lại của Ngô Đình Diệm (khoảng 5
tháng). Trong
thời gian này, em dâu của Ngô Đình Diệm là Trần Lệ Xuân, một người từng
theo đạo Phật và sau cải đạo sang Công giáo, có thể coi Trần Lệ Xuân là
đệ nhất phu nhân de facto
(trên thực tế) do Ngô Đình Diệm không lập gia đình; Trần Lệ Xuân đã đổ
thêm dầu vào lửa khi chế giễu các vụ tự thiêu của các nhà sư, coi họ là
"thịt nướng" (barbecues), và tuyên bố "Nếu các phật tử muốn có thêm thịt
nướng, Tôi sẽ vui mừng cung cấp xăng cho họ" (nguyên văn: If the Buddhists want to have another barbecue, I will be glad to supply the gasoline).
Các cuộc tấn công vào chùa chiền đã làm dấy lên băn khoăn lo lắng lan
rộng trong công chúng ở Sài Gòn. Sinh viên đại học Sài Gòn đã bãi khóa
và tổ chức các cuộc bạo động, dẫn đến việc bắt giữ, bỏ tù và đóng cửa
các trường đại học; điều này đã lặp lại tại Đại học Huế.
Khi học sinh trung học diễu hành biểu tình, Ngô Đình Diệm cũng đã bắt
học sinh; trên 1.000 học sinh từ các trường trung học ở Sài Gòn, hầu hết
là con em các công chức dân sự Sài Gòn, đã bị gửi tới các trại cải tạo,
theo báo cáo bao gồm cả trẻ em lên năm, bị buộc tội vẽ và viết các câu,
hình vẽ chống chính phủ. Bộ trưởng ngoại giao của Diệm là Vũ Văn Mẫu
đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối. Khi ông cố gắng
rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn
Độ, thì bị bắt và bị quản thúc. Ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Nhu chỉ đạo lực lượng an ninh của đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ
ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở
Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc. Họ mặc đồng phục của quân đội
trong khi đột kích để cho mọi người thấy rằng Quân đội chính phủ đứng
sau lưng họ trong cuộc đàn áp này. Lực lượng của Ngô Đình Nhu đã bắt hơn
400 nhà sư đang ngồi trước tượng Đức Phật. Hàng ngàn phật tử khác cũng
bị bắt giữ trên cả nước (riêng tại Sài Gòn là 1.400 người) với lý do "Phật giáo là tay sai của Việt cộng".
Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo
Phật giáo bị bắt giữ, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê
liệt.
Đoàn biểu tình bị cản lại bởi những lớp rào kẽm
gai; lớp cảnh sát, công an, mật vụ võ trang; lớp xe cứu hỏa và xe cộ
khác... Họ đã cố gắng mấy lần phá vỡ được những hàng rào dây kẽm gai để
tiến tới, nhưng phần vì lớp kẽm gai quá kiên cố được thiết lập dàn ra
phía sau những chiếc xe cứu hỏa, với lực lượng cảnh sát, mật vụ được huy
động đến quá đông đảo được trang bị đầy đủ, đằng đằng sát khí; phần nữa
vì tôn trọng tinh thần "bất bạo động" của thông bạch và các lãnh đạo
Phật Giáo, nên họ đã dừng lại theo lời đề nghị của Đại Đức Thích Quảng
Độ - người điều động cuộc tuần hành - yên tỉnh ngồi xuống mặt đường đồng
thanh niệm Phật. Đoàn người lúc bấy giờ chỉ mới cách chùa Giác Minh
500m.
Trong lúc này các toán võ trang luôn lợi dụng
sự hiền hòa của đoàn người, thừa cơ hoặc hành hung; hoặc dùng xe ủi một
tu sĩ; hoặc uy hiếp, cướp máy chụp hình, máy quay phim của các Tu Sĩ,
Phật Tử và Thông Tín Viên.
Sau nửa giờ niệm Phật, quần chúng Phật Tử lặng
yên nghe Đại Đức Thích Quảng Độ, hướng dẫn tinh thần cuộc biểu tình,
đứng lên giải thích rõ ràng về cuộc vận động của Phật Giáo. Dùng loa
phóng thanh, Đại Đức chậm rãi nói về chính nghĩa của cuộc tranh đấu cũng
như cuộc tuyệt thực đợt 2 của Tăng Ni và Tín Đồ toàn quốc. Từ hai đầu
đường Phan Thanh Giản và các đường phố lân cận như Nguyễn Thiện Thuật...
quần chúng đều đứng lại lắng nghe. Cửa sổ trên những tầng lầu đều được
mở ra, đồng bào xuất hiện trên sân thượng các nhà hai bên khu phố để
nghe Đại Đức thuyết trình. Lực lượng cảnh sát dùng loa microphone hòng
che lấp lời giải thích, nhưng chùa Giác Minh đã dùng máy khuyếch đại
thanh khá mạnh đáp trả hữu hiệu, lời giải thích của Đại Đức Quảng Độ vẫn
nghe rất rõ.
Đúng 10 giờ, hàng dây kẽm gai mở ra, Đại Đức Thích
Quảng Liên được một xe chở tới yêu cầu giải tán. Song quần chúng Phật Tử
kiên trì giữ vững lập trường, cam chịu mọi sự đàn áp nếu nguyện vọng
của họ không thành tựu.
10g15', tiếng niệm Phật vẫn đều đều, nhưng vào
10g30', cuộc đàn áp thật sự bắt đầu. Từng lớp người võ trang xô vào cướp
giật biểu ngữ, xô đẩy, hành hung đoàn biểu tình yếu thế. Tăng Ni và
những người điều động cuộc tuần hành bị tấn công bằng báng súng và gậy
gộc trước sự chứng kiến của giới báo chí, thông tín viên, quan sát viên
quốc nội và quốc tế cùng hằng ngàn Phật Tử, dân chúng bên đường. Tiếng
la hét của phụ nữ và trẻ em vang dậy. Nhiều vị Tăng, Ni bị đánh ngã quỵ.
Nhiều vị khác bị bắt liệng lên xe cảnh sát chở đi.
Bị đàn áp quá dữ dội, đoàn biểu tình mất bình
tỉnh không chịu nổi đã từ từ rút lui về chùa Giác Minh và chùa Từ Quang
sát cạnh không kháng cự. Cảnh sát đuổi theo sát họ đến cổng chùa Giác
Minh. Và khi Phật Giáo Đồ vừa yên lặng trong chùa, một hàng rào kẽm gai
lập tức được thiết lập chắn kín cổng chùa Giác Minh và Từ Quang, mở đầu
cho cuộc phong tỏa trên 600 Tăng Ni, Phật Tử bị cô lập trong chùa 54 giờ
đồng hồ với bao sự đe dọa và thiếu thốn nhu cầu sinh hoạt thử thách ý
chí, tinh thần bảo vệ đạo pháp của họ.
Cũng vào sáng ngày
17.7.1963, đúng 8g15', gần 400 Tăng Ni tập họp tại chánh điện chùa Xá
Lợi. Sau khi lễ Phật và mặc niệm trước bảo điện, vị đại diện Ủy Ban Liên
Phái Bảo Vệ Phật Giáo ngõ lời ngắn gọn rồi đoàn Tăng Ni sắp hàng tuần
tự tiến ra đường Bà Huyện Thanh Quan, qua đường Lê Văn Thạch, rẽ lên
đường Nguyễn Thông, Ngô Thời Nhiệm, Lê Văn Duyệt, và thẳng hướng về Chợ
Bến Thành.
Trên lộ trình, đoàn diễn hành gặp nhiều trở
ngại như hàng rào kẽm gai, các đội công lực tìm đủ mọi biện pháp đẩy
lui, nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua trở ngại tiến được về tập hợp gần
đông đủ tại vườn hoa trước cửa Nam chợ Bến Thành, chỉ trừ khoảng trên 10
vị chạy sau bị nhân viên công lực bắt lại.
Cuộc diễn hành này, nhờ yếu tố tốc hành bất
ngờ, đã làm cho các lực lượng cảnh sát đối phó không kịp trong bước đầu.
Đến khi các lực lượng võ trang được huy động đầy đủ, thì đa số chư Tăng
Ni đã đến được địa điểm định trước là chợ Bến Thành. Tại đây, một biểu
ngữ được quý Tăng Ni trương lên: “Yêu cầu Chánh Phủ thực thi bản Thông Cáo Chung”.
Lập tức vòng đai cảnh sát chiến đấu xiết chặt, buộc chư Tăng Ni hạ cờ
Phật Giáo và biểu ngữ xuống, nhưng Tăng Ni không ai tuân lệnh, họ cương
quyết không hạ.
Lúc này các lực lượng cảnh sát chiến đấu đã bao
vây quanh đám biểu tình dưới quyền chỉ huy của ông Trần Văn Tư - Giám
Đốc Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Vị đại diện Tăng Ni đứng lên yêu cầu được nói
về mục đích của cuộc biểu tình diễn hành. Ông Trần Văn Tư ra lệnh cho vị đại diện chỉ được nói trong ba phút, ông nói: “Mau lên để chúng tôi còn thi hành nhiệm vụ”.
Vị đại diện Tăng Ni tuyên bố:
“Chúng tôi đến đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng:
Bản Thông Cáo Chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính Phủ đã không
thực thi nghiêm chỉnh mà còn dùng đủ mọi cách để khủng bố, bao vây, bắt
bớ, xuyên tạc Phật Giáo Đồ”.
Lúc này, đồng bào trong chợ đã đổ xô ra rất
đông, và từ các ngả đường quần chúng cũng kéo tới chật ních. Tuyên bố
xong, vị đại diện yêu cầu nhân viên công lực giải tỏa để cho Tăng Ni
được tự do đi về chùa Xá Lợi trong trật tự, nhưng viên Giám Đốc Cảnh Sát
nhất quyết từ chối, và ra lệnh cho thuộc cấp thi hành cái gọi là "dùng biện pháp thích nghi” để ngăn chặn cuộc diễn hành trở về chùa Xá Lợi, mà ông biết là sẽ vô cùng đông đảo.
Trong khi chờ đợi sự giải tỏa của cảnh sát, các
vị Tăng Ni ngồi xuống đất bắt đầu niệm Phật. Do dự vài giây trước đoàn
người tay không thản nhiên ngồi chắp tay tuyên Phật hiệu, cuộc đàn áp
bắt đầu... Nhân viên công lực võ trang xông ập vào đánh đập, đấm đá, và
cứ 2, 3 người tóm 1 nhà tu liệng lên xe bịt bùng trong khi chư Tăng, Ni
chống cự lại bằng cách quàng lấy tay nhau từng chuỗi dài để bảo vệ nhau.
Tình thế trở nên hỗn loạn!
Sau những phút đầu bất lực và nhận thấy cuộc
đàn áp xảy ra trước mặt quần chúng đông đảo như vậy là không hay, viên
Giám Đốc Cảnh Sát thay đổi sách lược. Ông ra lệnh ngừng sự bắt ép rồi
đích thân tới bắt tay vị đại diện Tăng Ni điều đình: "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ, xin thề với ông rằng: Chúng tôi sẽ đưa các ông về chùa Xá Lợi".
Thấy cuộc biểu tình đã đạt được kết quả và chư
Tăng Ni nhiều người đã bị mất sức; thêm nữa tuy sẵn lòng tin thì ít,
nhưng thấy vị Giám Đốc Nha Cảnh Sát, nhân viên cao cấp của chính phủ,
một người biểu hiện cho đức "thành tín" đối với quốc gia, đã lấy danh dự
mà hứa sẽ chở chư Tăng Ni về chùa bằng xe cảnh sát, vị đại diện bằng
lòng và Tăng Ni lần lượt lên xe.
Đoàn xe chuyển hướng chạy về đường Trần Hưng
Đạo, Đồng Khánh trước hằng vạn con mắt của đồng bào ngơ ngác nhìn theo.
Tăng Ni trên xe hoài nghi kêu cứu ầm ĩ, song vẫn hy vọng ngã đường này
vẫn còn có thể về chùa Xá Lợi. Nhưng những chiếc xe này khi đến ngã tư
Tổng Đốc Phương, thay vì chạy về chùa Xá Lợi, lại rẽ hướng về Lục Tỉnh.
Đến đây Tăng Ni biết mình đã bị lừa gạt, tập trung đập cửa xe rầm rầm;
các vị ngồi trước người lấy chân đạp thắng xe, người gạt tay lái cho xe
đâm vào lề đường; nhiều vị mở cửa xe lao mình xuống đường khi xe đang
chạy với tốc độ rất nhanh. Thấy vậy, các xe cây của cảnh sát buộc phải
ngừng lại. Tất cả Tăng Ni nhào xuống xe tập hợp lại thành một khối giữa
công lộ.
Bấy
giờ, cảnh sát, kẽm gai, xe cây lại bao vây họ chặt chẽ hơn trước. Hai
vị Cảnh Sát Trưởng đến gần chư Tăng Ni, tự xưng là đại diện ông Giám Đốc
Cảnh Sát, hứa lần này "Chúng tôi sẽ lấy xe công lực chở quý ông về chùa Xá Lợi".
Sợ sẽ bị lừa gạt lần nữa như vừa rồi, Tăng Ni nhất quyết từ chối, chỉ
yêu cầu được tự do đi bộ về chùa. Họ ngồi xuống đất để đòi hỏi sự giải
tỏa của lực lượng cảnh sát. Nhưng cảnh sát không giải tán. Vài lời dằng
co qua lại giữa viên đại diện chính quyền và vị đại diện Tăng Ni chưa đi
đến đâu thì bổng nhiên cảnh sát chiến đấu được lệnh xông vào đàn áp.
Cuộc đàn áp lần này xảy ra khốc liệt gấp mấy
lần trước nhiều: Chư Tăng Ni bị đánh đập, đấm đá, bóp họng, thoi túi bụi
vào chỗ hiểm... Quần chúng ở đây không đông đảo như ở chợ Bến Thành và
giới báo chí không có mặt, vì vậy chư Tăng, Ni bị hành hung một cách tàn
nhẫn và quăng ném lên xe như những con thú vật.
Trong lúc Tăng Ni đang bối rối thì đoàn xe đã phóng nhanh về hướng ngoại thành...
Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Giáo hoàng Phaolô VI
và các tổ chức Công giáo, đã lên án Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Thục đến
Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, Trần Lệ Xuân dẫn phái đoàn
Quốc hội đi nước ngoài bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tổ chức Liên
Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình hình
đàn áp Phật giáo. Từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam
với sự hậu thuẫn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời tiến hành đấu
tranh vũ trang đã làm cho tình hình an ninh ở miền Nam bị xáo trộn. Lực
lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã kiểm soát được
phần lớn vùng nông thôn bất chấp các kế hoạch quốc sách như Ấp Chiến
lược và Khu Trù mật của Ngô Đình Diệm. Việc tập trung quyền lực
vào gia đình, đảo ngược các chính sách cải cách ruộng đất của Việt Minh
trước đây cũng như chính sách cai trị đất nước bị coi là thiên vị với
thiểu số người Công giáo tạo ra những mầm mống xung đột giữa Công giáo
và Phật giáo cũng như sự bất mãn trong đội ngũ tướng lĩnh quan chức, sự
chống đối của đông đảo người theo đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, người Thượng,
trí thức và nông dân. Hơn nữa Ngô Đình Diệm còn bị các chính trị gia
đối lập chỉ trích là độc tài, gia đình trị, bất lực trong việc ổn định
xã hội và chống Cộng thiếu hiệu quả.
Thiếu tá điệp viên CIA Lucien Conein, Nguồn: OntheNet
Anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu nảy sinh bất đồng từ đầu năm 1963.
Vì trận thua nặng của quân đội Việt Nam cộng hòa tại trận Ấp Bắc, khi đó tại Nam Việt Nam đã có 12.000 cố vấn quân sự
Mỹ khiến giới quân sự Mỹ liên tục chê bai khả năng quân sự của các
tướng Việt Nam Cộng Hòa và đòi để các tướng Mỹ nắm quyền chỉ huy. Ngô
Đình Nhu tỏ ra bất mãn về việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải nghe
theo những khuyến cáo quân sự của người Mỹ nên quyết định tìm hướng đi
mới, tỏ ý định yêu cầu Mỹ rút bớt cố vấn quân sự về nước và tìm cách
tiếp xúc với những người cộng sản ở Hà Nội. Người ta đánh giá rằng việc
này là quyết định riêng của Ngô Đình Nhu, còn Ngô Đình Diệm không có
được sự uyển chuyển về chính trị như vậy.
Do những ý định mới của Ngô Đình Nhu, người Mỹ bắt đầu tìm cách thay
thế Ngô Đình Diệm, cắt một nửa viện trợ cho chính quyền Sài Gòn.
Tháng 7 năm 1963, đại sứ Mỹ Frederick Nolting, người bị xem là quá bao
che cho chính quyền họ Ngô, bị thay thế. Cùng lúc đó nổ ra biến cố Phật giáo, 1963
làm chính quyền Sài Gòn càng lung lay. Theo tướng Pháp Paul Ély thì vào
giữa năm 1963, quyền lực của Ngô Đình Diệm chỉ còn giới hạn trong phạm
vi Sài Gòn.
Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự (Saigon 22/4/1964). Nguồn UPI
Gia đình Ngô Đình Khả có 8 người con, gồm 6 trai 2 gái. Trong 6 người
cháu thì có Ngô Đình Huân (con Khôi) bị bắn chết, và Lệ Thủy (con Nhu –
Xuân) bị chết vì tại nạn xe hơi. Còn 1 người thì bị chết vì khủng hoảng
tinh thần là Ngô Đình Thục rồi tới bố mẹ ruột Lệ Xuân là Trần Văn
Chương cũng bị bắn chết vì đứa em của Lệ Xuân. Xem như vậy là gia đình
nhà Ngô và họ Trần tuy có lên đến tột đỉnh danh vọng, nhưng lại kết thúc
bằng những cái chết thảm khốc. Âu cũng là ân oán phải trả, vì chính mấy
người bị giết chết như Diệm, Nhu, Cẩn, Huân, khi còn quyền hành trong
tay đã tàn sát nhiều người vô tội, oán thù chồng chất
Ngô Đình Cẩn được linh mục rửa tội trước giờ bị hành quyết
Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn.
Cùng với việc chống Cộng không đạt được kết quả và
không xoa dịu được
cuộc đấu tranh của Phật giáo được xem là nguyên nhân dẫn tới sự mất uy
tín trầm trọng của chính quyền Ngô Đình Diệm trước các lực lượng chính
trị hợp pháp khác tại miền Nam và trước chính quyền Hoa Kỳ. Sự kiện Phật
Đản, 1963
xảy ra là giọt nước tràn ly dẫn tới hành động đảo chính của một nhóm
tướng lĩnh vốn bất mãn với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô
Đình Diệm. Chính phủ Mỹ đề nghị Ngô Đình Diệm bớt đàn áp tàn bạo đối với
Phật giáo và sinh viên để lấy lại hình ảnh dân chủ hơn của chính quyền,
nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo. Đứng trước tình thế đó, chính phủ
Kennedy buộc phải gây sức ép đối với chính quyền của Ngô Đình Diệm.
Căng thẳng với người Mỹ ngày càng tăng, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe
theo vì ông vẫn tự tin cho rằng người Mỹ không thể tìm ra người thay thế
tốt hơn mình ở vị trí Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Vì thế chính phủ Mỹ
cuối cùng quyết định bỏ rơi ông. Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ
Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính được lên
kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, do tướng
Dương Văn Minh cầm đầu đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ John F. Kennedy xin ý
kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29 tháng 10
năm 1963 giữa Kennedy và các cố vấn cho thấy Kennedy sau khi họp với 15
cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra
được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot
Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk
truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân
viên CIA Lucien Conein. Lucien Conein, đặc vụ của CIA, trở thành
đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính,
do Trần Văn Đôn đứng đầu. Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông
biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công.
Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn
Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông
báo về ý định đảo chính ông ta nói: "Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi
phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc
đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.". Sau đó Conein bí
mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất
cứ hành động ám sát nào. Tướng Trần Văn Đôn trả lời "Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.".
Theo một nguồn khác, Conein cung cấp cho nhóm tướng lĩnh Việt Nam Cộng
hòa một số tiền mặt lên tới 40.000 USD để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo
chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô
Đình Diệm.
Cảnh sát giữ an ninh tại
chùa Ấn Quang sau khi sư sãi bị bắt 9-1963.
Cảnh sát dã chiến hốt
biểu tình lên xe cây 9-1963.
Cảnh sát hốt biểu tình
lên xe 9-1963.
Học sinh trường Võ
Trường Toản, cạnh bên trường Trưng Vương, gần Sở Thú Saigon biểu tình 8-1963.
Sinh viên Y khoa chào
mừng GS Phạm Biểu Tâm, khoa trưởng Đại Học Y Khoa Saigon, được trả tự do.
Cảnh sát dã chiến trên
đường đi giữ an ninh.
Sư sãi xếp dọn chùa Xá
Lợi 9-1963.
Sinh viên Đại Học Khoa
Học sửa soạn biểu tình chống chính phủ 8-1963.
12-1963 Minh Cồ và
Henry Cobot Lodge Jr.
12-1963 Minh Cồ , Henry
Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara.
12-1963 Họp báo Minh Cồ,
Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara.
12-1962 Minh Cồ
Dinh Gia Long, nơi TT
Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu cư ngụ khi đảo
chánh diễn biến trưa
ngày 1-11-1963
11-1963 dân chúng Sài
Gòn ăn mừng sau ngày đảo chánh tại phòng trà.
11-1963 Sư ăn mừng sau
ngày đảo chánh.
11-1963 Tượng đài Hai Bà
Trưng sau ngày đảo chánh.
11-1963 Chùa Xá Lợi
sau ngày đảo chánh.
11-1963 Dinh Gia Long
sau ngày đảo chánh.
11-1963 Thành Cộng
Hòa sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh tại Câu Lạc Bộ.
11-1963 Minh Cồ và
Thơ Lé sau ngày đảo chánh.
11-1963 Minh Cồ trả
lời báo chí sau ngày đảo chánh.
11-1963 Trần Văn
Đôn bí danh "Đôn lầm" trên Đại Lộ Thống Nhất sau ngày đảo chánh.
Các binh sĩ thiết giáp
tham gia cuộc đảo chánh 1-11-1963.
9-1963 Nơi tạm giam sư
sãi biểu tình.
9-1963 Tôn Thất Đính và
Nguyễn Văn Là họp báo sau khi ban hành thiết quân luật để bảo vệ chính phủ N Đ
Diệm.
9-1963 Robert S.
McNamara & Trung Tướng Đỗ Cao Trí.
Ngày 30 tháng 10 năm 1963, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ
Roger Hilsman gửi đến Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một bức mật thư mà ông này
gọi đó là "Hoàng hôn của các thần linh". Trong bức mật thư này có đoạn: "Chúng ta cần khuyến khích nhóm đảo chính chiến đấu đến cùng và phá tan Dinh Độc Lập
(nếu cần) để đạt được thắng lợi. Điều kiện cho gia đình họ Ngô là đầu
hàng vô điều kiện, vì nếu không họ sẽ tìm cách gạt bỏ được lực lượng đảo
chính lẫn sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Nếu gia đình họ Ngô bị bắt sống, vợ
chồng ông Nhu phải nhanh chóng bị tống xuất sang Pháp hay bất cứ nước
nào muốn nhận họ. Riêng ông Diệm, tùy thuộc vào ý muốn của các tướng
lĩnh tham gia đảo chính".
Tướng Dương Văn Minh
và các đồng mưu lên kế hoạch lật đổ chính phủ của Ngô Đình Diệm vào
ngày 1 tháng 11
năm 1963 bằng một cuộc đảo chính nhanh gọn chóng vánh. Ngày 1 tháng 11
năm 1963, lực lượng đảo chính đưa quân đội tới chiếm đóng tất cả các vị
trí trọng yếu ở Sài Gòn, chặn mọi cửa ngõ ra vào nội đô. Tại dinh tổng
thống, chỉ có một lực lượng nhỏ trung thành bảo vệ cho Ngô Đình Diệm và
Ngô Đình Nhu, các tướng lĩnh đảo chính kêu gọi Ngô Đình Diệm đầu hàng và
Ngô Đình Diệm sẽ được ra nước ngoài sống lưu vong nếu đầu hàng. Tuy
nhiên tối hôm đó, Ngô Đình Diệm và đoàn tùy tùng đã trốn thoát khỏi dinh
tổng thống bằng một đường hầm tới Chợ Lớn, về lánh nạn tại nhà thờ Cha
Tam - Chợ Lớn. Sáng sớm ngày 2 tháng 11,
Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lực lượng đảo chính bắt, cuộc đảo
chính tới đây là kết thúc, phe đảo chính chỉ còn việc thành lập chính
phủ mới. Hành động đảo chính đã đưa Việt Nam Cộng hòa đến tình trạng
khủng hoảng lãnh đạo trong một thời gian cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu
trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sáng ngày hôm sau Ngô Đình Diệm cùng với Ngô Đình Nhu gọi điện và ra
hàng lực lượng đảo chính. Hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị
đại úy Nguyễn Văn Nhung
giết bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M-113, theo lệnh
của tướng Dương Văn Minh, khi chiếc xe đang trên đường tới Bộ Tổng tham
mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, là người đã tiến hành vụ
khám nghiệm thì anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị bắn từ sau gáy ra
phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị hành
hung trước khi bị bắn. Xác Ngô Đình Nhu thì bị đâm nhiều nhát, áo rách
nát và đầy máu.
Sau khi biết tin Ngô Đình Diệm bị lật đổ và ám sát, phát biểu của Hồ Chí Minh được thuật lại như sau "Tôi không thể nào tin người Mỹ lại ngu ngốc đến vậy". Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam nói rõ hơn: "Hậu quả của cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 sẽ trái với những tính
toán của đế quốc Mỹ... Diệm là một trong số những nhân vật mạnh nhất
chống lại nhân dân và Chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những gì có thể làm
nhằm cố gắng đè bẹp cách mạng đã được Diệm thực hiện. Diệm là một trong
những tay sai có tài nhất của đế quốc Mỹ ... Trong số những người chống cộng
ở miền Nam Việt Nam hoặc đang lưu vong ở nước ngoài, không ai có đủ tài
lực chính trị và khả năng làm người khác tuân phục. Do đó, chính quyền
tay sai sẽ không thể vững bền. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963
sẽ không phải là cuộc đảo chính cuối cùng."
Khi
biết Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính và giết chết, Tổng thống
Mỹ John F. Kennedy bị choáng váng và ưu tư thoáng buồn. Bốn giờ chiều ngày
2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình
Nhu đã bị giết, Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng
tiếng Pháp: "C’est formidable! C’est formidable!" (Thật là tuyệt diệu. Thật là tuyệt diệu). Các
cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính
trị Xã hội, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào
Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đới,
các xóm Đạo võ trang,… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản
ứng. Cả cấu trúc chính trị mà họ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ
trong 24 tiếng đồng hồ.
Người bắn hạ anh em Ngô Đình Diệm nói gì?
Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê, khi đó đang sống ở Sài Gòn, đã ghi lại không khí vui mừng của người dân ở thời điểm đó:
"Từ
7 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin
dinh Gia Long
bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò
reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự
giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín
năm trời đăng đẳng” - Bác sĩ Dương Tấn Tươi. Còn thi sĩ Đông Hồ
thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn
bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản
ứng chỉ có chứng ấy thì cho thấy quần chúng Việt Nam năm 1963 này cũng
đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự kiềm hãm sức giận dữ
hung hãn của mình rồi đó.”
Nhà báo đương thời tại
miền Nam, ông Vũ Bằng ghi lại không khí của người dân miền Nam lúc đó
khi nghe tin vụ đảo chính và việc anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị
giết:
"Lúc
ấy, tôi đang làm cho tờ “Dân Chúng”. Tôi còn nhớ bầu không khí nẩy lửa
đó, ai cũng hăng say muốn thấy Ngô Đình Diệm và bộ sậu, bị chết đâm chết
chém… có một điều chắc chắn là tình thế lúc đó đã chín mùi và dân chúng
đã thấy cách gì cũng phải hạ ngay Ngô Đình Diệm.Người ta muốn biết ai đã giết Diệm - Nhu, nhưng không ai biết đích
xác; dù sao Diệm - Nhu chết đi thì đại đa số dân chúng cũng mừng. Có
người mổ heo
cúng tế; có người lập bàn thờ cảm tạ trời đất; còn thì hầu hết nhà nào
cũng làm tiệc, rủ bè bạn, thân thích đến để nhậu nhẹt cho “phỉ chí tang
bồng”.
Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng khiến cho các
lãnh đạo Á Châu
là đồng minh của Mỹ phải cảm thấy lo ngại cho mình. Về sau, Tổng thống
(Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon: "Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu
chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ
thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn
nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ." Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho biết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được
chôn trong những ngôi mộ không tên trong một nghĩa trang bên cạnh ngôi
nhà của đại sứ Hoa Kỳ. Sau này tìm hiểu, thì ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Áo quan
của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một
nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội
quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Ngô Đình Diệm,
còn chiếc hạng vừa dành cho ông Ngô Đình Nhu. Trong khoảng thập niên
1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc
Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu
(Nghĩa trang Nhân dân số 6B) ngày nay. Hiện tại, mộ ông Ngô Đình Diệm
và ông Ngô Đình Nhu chính thức đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu. Mộ hai ông
nằm hai bên mộ mẹ - bà Phạm Thị Thân. Ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn
cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên
thánh và "Huynh" (chỉ ông Ngô Đình Diệm) hoặc "Đệ" (ông Ngô Đình Nhu),
sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh. Cuộc
đời ngắn ngủi của Ngô Đình Diệm, không thể nói khác được, là cuộc đời
mang nhiều tội lỗi đối với dân tộc Việt Nam. Do thiển cận về chính trị,
hận thù cộng sản đến điên cuồng và đam mê quyền lực ích kỷ đến mù quáng,
mà đã phản bội Bảo Đại, lập chính phủ gia đình trị, phá vỡ Hiệp định
Genève, đàn áp tôn giáo, tàn sát dã man những người cộng sản, gây ra
cảnh chia cắt đất nước thành hai miền với miền Nam đầu rơi máu chảy. Tình
hình đó buộc nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung
lại phải cầm súng đứng lên tiếp tục đấu tranh vũ trang chống thù trong
giặc ngoài.
Để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới, và tranh thủ sự ủng
hộ của các tầng lớp tiến bộ trên thế giới, Cách mạng Việt Nam đã thành
lập một tổ chức tại Miền Nam, lấy tên gọi “Mặt trận dân tộc giải phóng
Miền Nam - Việt Nam” với vị chủ tịch được bầu lên là luật sư Nguyễn Hữu
Thọ, có lực lượng vũ trang gọi là “Quân giải phóng”. Từ đây Cuộc chiến
tranh vệ quốc thần thánh của Dân tộc Việt bước vào giai đoạn khốc liệt
nhất mà vẻ vang nhất, suốt 15 năm ròng rã. Từ đây, Miền Nam trở thành
Tiền tuyến lớn, Miền bắc trở thành Hậu phương lớn. Tiền tuyến lớn nêu
cao tinh thần bất khuất vô song, càng đánh càng mạnh, càng ghi được
những chiến công hiển hách trước cường quốc số 1 thế giới về sự giàu có
và tàn bạo. Hậu phương lớn đã đem hết “tinh thần và lực lượng”, chi viện
tiếp tế đến tận cùng khả năng sức người, sức của của mình và cả những
ủng hộ, đóng góp qúi báu của anh em bầu bạn trên thế giới cho Tiền tuyến
lớn bằng mọi phương tiện, mọi ngả đường có thể, trong đó chủ yếu, có
tính quyết định và đã lừng danh trong lịch sử là “đường mòn Hồ Chí Minh”
trên biển Đông với những con tàu không số, và nhất là “đường mòn Hồ Chí
Minh” trên dãy Trường Sơn với những “đoàn xe chạy đêm, chạy ngày” bất
kể mưa bom bão đạn. Tất cả đã trở thành huyền thoại có tựa đề: “Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận cờ và mệnh lệnh chiến đấu trước
giờ xuất kích tại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ảnh
tư liệu
Chiến
tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc
liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979). Đây
là cuộc chiến giữa hai bên, một bên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa ở miền
Nam Việt Nam cùng một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Úc, New Zealand,
Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines tham chiến trực tiếp; một bên là Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại miền
Nam Việt Nam phối hợp cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được sự viện trợ
vũ khí và chuyên gia từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên
Xô và Trung Quốc. Tại Việt Nam, truyền thông đại chúng dùng tên
Kháng chiến chống Mỹ hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc
chiến tranh này, cũng là để phân biệt với các cuộc kháng chiến khác đã
xảy ra ở Việt Nam như chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung
Quốc.
Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam khẳng định rằng bản
chất của cuộc chiến là kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm
lược của Hoa Kỳ cũng như mô tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một
chính thể tay sai của các thế lực ngoại bang.Các nguồn tài liệu chính
thống còn khẳng định rằng đó không phải là
một cuộc nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm hoặc là chiến tranh vì ý
thức hệ mà là kháng chiến giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
tuyên bố: "Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia
đình, Tổ quốc chúng tôi..Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của
thịt Việt Nam...Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có
thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” Ngoại trưởng Xuân Thủy, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
"Mỹ
không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam mà trái
lại đã tiến hành có hệ thống một chính sách can thiệp, xâm lược và chiến
tranh, chà đạp lên các quyền đó"
Ngày
20-09-1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai
đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
"Sự
can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương
Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm
Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến
tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành
động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ...Nước
Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới
và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái
giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ".
Tên
gọi ít được sử dụng hơn là Chiến tranh Đông Dương lần 2, được dùng để
phân biệt với Chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-1955), Chiến tranh Đông
Dương lần 3 (1975-1989, gồm 3 cuộc xung đột ở Campuchia và biên giới
phía Bắc Việt Nam). Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau: Người Mỹ
thường quan niệm "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi họ trực tiếp
tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965
đến 1975). Nhưng quan điểm chung và chính thống hiện nay của chính phủ
Việt Nam
vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 hoặc 1955 đến 1975, vì
theo họ nguồn gốc của chiến tranh bắt nguồn từ các kế hoạch can thiệp
của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vốn bắt đầu diễn ra ngay từ năm 1954 (ngày
chiến thắng Điện Biên Phủ, năm kết thúc chiến tranh Đông Dương). Theo
tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Chiến tranh Việt Nam được Mỹ coi
là bắt đầu từ ngày 1/11/1955 khi Nhóm chuyên gia hỗ trợ quân sự Mỹ (U.S.
Military Assistance Advisory Group - MAAG) tại Việt Nam được thành lập.
Từ
năm 1943, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á nhằm chống lại
quân Nhật đóng ở đây. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai
trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương,
ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc
giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp
các tin tức tình báo cho Hoa Kỳ, tuyên truyền chống Nhật. Đổi lại, cơ
quan tình báo Hoa Kỳ OSS
(U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cung cấp vũ khí,
phương tiện liên lạc, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt
Minh. Ngày
28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ
Harry Truman kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập non trẻ
của Việt Nam, nhưng không được hồi đáp vì Mỹ xem Hồ Chí Minh là "tay
sai của Quốc tế cộng sản"
nên phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam. Cuối tháng 9
năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước,
chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Để thi hành chính sách chống Cộng, Hoa Kỳ lập ra nhiều tổ chức quân sự
liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng
thủ song phương và khu vực. Bên cạnh đó là một hệ thống căn cứ quân sự
dày đặc để bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa. Tại những khu vực có tính
địa chiến lược cao, Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự, thâm chí
khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia
(1954-1975), Cuba (1961), Dominica (1965). Mặc dù thất bại tại nhiều nơi
đặc biệt là ở Việt Nam, Lào, Cuba nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện
chính sách này nhưng với những hình thức khác. Từ thập niên 1980, Hoa Kỳ
chuyển sang chính sách "Vượt lên ngăn chặn", có nghĩa là can thiệp trực
tiếp vào nội bộ các nước Xã hội chủ nghĩa. Năm 1953, mỗi
tháng, Mỹ viện trợ cho Pháp 20.000 tấn vũ khí và quân
nhu mỗi tháng, sau đó Mỹ đồng ý tăng lên 100.000 tấn/tháng, đổi lại
chính phủ Mỹ yêu cầu Pháp phải có kết quả cụ thể. Khi chiến tranh chấm
dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 78% chiến phí cho Pháp, thậm chí phi công Mỹ
cũng tham gia chiến đấu cùng Pháp trong trận Điện Biên Phủ.
Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có
cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ đâu kiểm tra tình hình không cần
sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Việc Mỹ trực tiếp tham chiến tại
chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Thậm chí khi
Điện Biên Phủ nguy cấp, Mỹ đã tính tới chuyện dùng bom nguyên tử để cứu
nguy cho Pháp. Tuy nhiên công thức "Viện trợ Mỹ, viễn chinh Pháp, quân bản xứ" vẫn không cứu vãn được thất bại. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu tại Đông Dương. Trước
khi Hiệp ước Genève được ký kết 6 tuần, ngày 4/6/1954, Pháp đã đàm phán
với Quốc gia Việt Nam bản dự thảo Hiệp ước Matignon (1954),
nếu được ký chính thức thì Quốc gia Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập khỏi
Liên hiệp Pháp. Chính phủ này sẽ không còn bị ràng buộc bởi những hiệp
ước do Pháp ký kết. Tuy nhiên, Hiệp ước Matignon (1954)
chưa được Quốc hội Pháp và Tổng thống Pháp phê chuẩn. Bên cạnh đó, cũng
có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp
định Geneva, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một
chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng,
tài chính, thương mại, kinh tế.
Tuy nhiên, Hiệp ước Genève đã diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định
Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn
thành. Quốc gia Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên hiệp Pháp và do
đó vẫn phải tuân thủ những Hiệp định do Liên hiệp Pháp ký kết.
Tuy
nhiên, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã từ chối ký và không công nhận
Hiệp định Genève, đồng thời ra Tuyên bố Hiệp định Genève chứa "những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam" và "không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", bởi Bộ Tư lệnh Pháp đã "nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ" và "tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam". Tuyên bố cũng cho biết Quốc gia Việt Nam sẽ "tự
dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng
liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc
lập, và Tự do cho xứ sở".
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng tuyên bố của Quốc gia Việt Nam là vô
giá trị vì họ vẫn là một phần của Liên hiệp Pháp. Phái đoàn Hoa Kỳ cũng
từ chối ký Hiệp định và tuyên bố không bị ràng buộc vào những quy định
ấy, nhưng nói thêm nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động
bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm
trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với vấn đề tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, chính phủ Mỹ nêu rõ quan điểm "tiếp
tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do
được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng".
Theo Hồ Chí Minh, do Quốc gia Việt Nam vẫn chưa độc lập khỏi Liên hiệp
Pháp nên không thể tham gia Hội nghị và ký kết Hiệp định với tư cách một
quốc gia và Quốc gia Việt Nam vẫn phải chịu ràng buộc bởi những thỏa
thuận giữa Việt Minh và Pháp.Ngay
sau khi Hiệp định Geneva được ký kết chỉ vài ngày, trả lời Thông tấn xã
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ
Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo
đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân
chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao
đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định
đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược,
chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế
Đông Dương cùng Đông Nam Á.". Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân
dân Việt Nam, lực lượng đã giành thắng lợi sau cuộc chiến, tập kết về
miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam
cùng với quân đội Pháp tập kết về miền Nam, tập kết dân sự và chính trị
theo nguyên tắc tự nguyện. Theo thống kê của Ủy ban Quốc tế Giám sát
Đình chiến có 892.876 dân thường di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt
Nam,
trong khi 140.000 người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp
dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia
Việt Nam. Chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam
Cộng hòa) từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Thủ tướng
Ngô Đình Diệm đưa ra là "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông "nghi ngờ về việc có thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc".
Khi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm còn ra nhiều
tuyên bố công kích chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đáp lại những
cáo buộc này, Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng:
"Đó
là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng
tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng
tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.". Ngay
từ tháng 3/1961, khi Chủ tịch Quốc hội Pháp Jacques Chaban-Delmas có
chuyến sang Mỹ, Thống chế Pháp Charles de Gaulle nhờ ông này nhắn lại
với Tổng thống Mỹ “đừng để sa lầy trong vấn đề Việt Nam, ở đó Mỹ có thể mất cả lực lượng lẫn linh hồn của mình”. Ngày 31/5/1961, tiếp Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại Paris, Thống chế Pháp Charles de Gaulle cảnh báo: “Người Pháp chúng tôi có kinh nghiệm về chuyện đó. Người Mỹ các
ông trước đây [chỉ các tổng thống Mỹ tiền nhiệm] từng muốn thay chỗ
chúng tôi ở Đông Dương. Và hôm nay ông muốn nối gót chúng tôi để nhen
lại ngọn lửa chiến tranh mà chúng tôi đã kết thúc. Tôi xin báo trước cho
ông biết: các ông sẽ từ từ sa vào vũng lầy quân sự và chính trị không
đáy, bất chấp những tổn thất [nhân mạng] và chi tiêu [tiền của] mà các
ông có thể phung phí ở đó".
Tháng
6-1961, Kennơđy nhận định: “Mỹ phải chứng tỏ quyền lực của chúng ta là
đáng tin cậy và Việt Nam là chỗ thích hợp”. Khi G. Ball báo trước là ở
Việt Nam có thể phải cần đến sự hiện diện của 300 ngàn quân Mỹ, Kennơđy
cười mũi và nói thẳng: “Chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra”. Một năm sau, số
quân Mỹ đã là 23 ngàn người và vẫn tiếp tục tăng!
Chính
thể Việt Nam Cộng Hòa là một quái thai của mẹ Pháp, bố Mỹ và mang hồn
ma triều đình Huế. Chính khách Việt Nam Cộng Hòa là một đám vụ lợi tầm
thường thích xa lông, thèm xôi thịt. Tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa là một
lũ đầu gấu tứ xứ mò về, coi nghiệp binh là một nghề kiếm chác danh lợi
từ bảo kê, trộm cướp đến buôn lậu, chống cộng chỉ vì bổng lộc cho nên
luôn xâu xé nhau, luôn tranh quyền đoạt lợi của nhau và sẵn sàng lật
thầy, phản chủ.
Là
con đẻ của bố Mỹ, sống được là nhờ bố Mỹ nhưng Ngô Đình Diệm “càng lớn”
càng tỏ ra bướng bỉnh, ngỗ ngược, không chịu vâng lời bố, khờ khạo muốn
làm “chí sĩ”, đòi cái “gia đình trị” của mình được độc lập, tự do. Thế
là Mỹ bật đèn xanh cho đám lau nhau “Hội đồng tướng lĩnh” ngụy lật đổ.
Sẵn máu côn đồ, chúng giết luôn Diệm và Nhu (Ngô Đình Nhu, em ruột Diệm,
đóng vai “cố vấn” nhưng có quyền lực át cả Diệm) bằng đâm dao và bắn
súng nát bấy thân thể một cách đê hèn, không qua xét xử. Riêng “lãnh
chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn (em ruột Diệm - Nhu) thì “được” xử bắn và nghe nói
không chịu nhả 6 triệu đôla gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ để đổi lấy chuyến
bay Dakota thoát thân sang Singapo (khi nghe đến người ra giá này, Cẩn
đã thốt lên: “Chết tao rồi!”).
Chính
quyền Sài Gòn thời hậu Diệm - Nhu, bị giới quân sự khống chế, lũng
đoạn. Các tướng lĩnh gài bẫy đạp đá nhau liên miên để tranh giành chức
quyền với mục đích duy nhất là đục khoét, trộm cướp, kiếm chác càng
nhiều danh lợi cho bản thân càng tốt.
Với
một chính quyền như vậy thì lực lượng vũ trang của nó cũng chẳng ra gì.
Thực tế chiến trường cho thấy cái chiến lược “chiến tranh đặc biệt”: bộ
binh ngụy + cố vấn và hỏa lực Mỹ đã nhanh chóng phá sản vì không đương
đầu nổi với Quân giải phóng.
Ba
tuần sau cái chết của Diệm, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Kennơđy cũng
bị bắn chết kiểu găngxtơ. Việc điều hành chiến tranh ở Việt Nam chuyển
sang tay Giônsơn (Johnson). Giônsơn thổ lộ: “Mất cái xã hội vĩ đại là
một ý nghĩ đáng sợ, nhưng còn chưa đáng sợ bằng ý nghĩ phải chịu trách
nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến tranh với cộng sản, không còn gì tồi
tệ hơn điều đó”.
Mắc
Namara được cử đến Sài Gòn để nhận định tình hình tại chỗ, quan sát
thấy sự bệ rạc của chính quyền Sài Gòn, đã báo cáo với Giônsơn: “Không
lật ngược được tình hình, cừ đà này thì hai ba tháng tới, khá lắm cũng
sẽ là chính phủ trung lập, điều chắc chắn hơn là một quốc gia do cộng
sản kiểm soát ở Sài Gòn”. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đòi phải
dùng biện pháp mạnh, đột kích bằng không quân ra miền Bắc - Việt Nam,
trinh sát cả Lào và Cămpuchia, Mỹ cần phải nắm lấy quyền chủ động điều
hành cuộc chiến tranh. Đây chính là bước đi khởi đầu của chiến lược
“chiến tranh cục bộ” - quân Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường
Việt Nam. Trong bài “Lực lượng đặc nhiệm trong hành động ở ngoài khơi
Việt Nam”, W.Cagle viết: “Để gìn giữ Việt Nam, chiến lược quân sự của Mỹ
có hai mục tiêu liên kết với nhau: tiến hành một chiến lược bằng bộ
binh và không quân đánh bại đối phương ngay ở Nam - Việt Nam hoặc buộc
họ phải rút quân, còn ở bên ngoài thì dùng không quân và hải quân tiến
công Bắc - Việt Nam để buộc họ phải đình chỉ xâm lược”. Thực tế cho thấy
Nhà Trắng đã quyết tâm để theo hướng này vì sau khi đã tạo ra cái cớ
“Vịnh Bắc Bộ” và ra đòn trả đũa ngày 5-8-1964, thì ngày 7-2-1965, Tổng
thống Giônsơn đã quyết định bắt đầu chiến dịch “Sấm rền”, ném bom bắn
phá Bắc - Việt Nam kéo dài suốt 37 tháng, theo kiểu leo thang.
Theo
Stanley Karnow, nhà báo Mỹ, có mặt tại Việt nam từ năm 1959, thì vào
tháng 6-1964, Mỹ đã có dự thảo nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ”. Sự kiện “Vịnh
Bắc Bộ” là do Mỹ cố tạo dựng nên, lừa dối dư luận Mỹ (rằng là ngày
2-8-1964 xảy ra đụng độ giữa 3 tàu phóng lôi Bắc-
Việt Nam và tàu chiến Maddox của Mỹ; 8 giờ tối 4-8, thuyền trưởng
Kerrick có cảm giác (!) là tàu mình lại bị tiến công nhưng không quan
sát thấy gì…), để có cớ phát động cuộc bắn phá miền Bắc - Việt Nam bằng
không quân. Trong khi Herrick còn chưa biết “mô, tê” ra sao thì cũng là
đủ cho phát ngôn viên Lầu Năm Góc khẳng định về “một cuộc tiến công có
dự liệu đã xảy ra” và ở Mỹ, trước nửa đêm 4-8-1964, Giônsơn đã trịnh
trọng thông báo trước ống kính truyền hình là “đòn trả miếng đang xảy ra
trong lúc tôi đang nói với người Mỹ”. Ở Bắc - Việt Nam trong ngày
5-8-1964 đã có 64 lần chiếc máy bay Mỹ xuất kích đánh vào 4 căn cứ hải
quân và 1 kho dầu.
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối phó với chiến tranh trên không
rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow)
ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy
bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai). Tại
Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay
Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ
Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành
người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền
đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa
trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt
Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại
nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Chiến tranh không quân nhắm
vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự.
Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị
đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình,
là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến
Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận với Trung Quốc đưa một bộ
phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở một số vị trí
quan trọng như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1,
nhưng không được vượt quá phía nam Hà Nội. Sau đó một số lượng đáng kể
nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6
năm 1965. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965
đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có
khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo
phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải.
Lực lượng này không được phép tham chiến mà chỉ để giúp Việt Nam sửa
chữa cầu, đường bị bom Mỹ phá. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải thích quân Trung Quốc sang Việt Nam do
lo ngại việc Mỹ có thể đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Ông Barry
Zorthian, phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, cho biết Mỹ không mở
rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam vì sợ Trung Quốc sẽ tham chiến.
Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc"
thì khẳng định mục tiêu của Trung Quốc "thâm hiểm" hơn: đó là tạo tiếng
tốt "viện trợ Việt Nam", tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ
latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô; cũng là để gây khó khăn cho
việc vận chuyển hàng viện trợ khối xã hội chủ nghĩa quá cảnh Trung Quốc
nhằm hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, qua đó khiến Việt
Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Trung Quốc ngoài mặt muốn giúp
Việt Nam tu sửa thiệt hại do không quân Mỹ, nhưng năm 1968 họ lại khuyến
khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu (năm 1965) còn có sự tham chiến của
các binh lính, sĩ quan tên lửa Liên Xô trực tiếp tác chiến đồng thời
huấn luyện binh sĩ Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa phòng không và
đội đặc nhiệm GRU thuộc Tổng cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu các
lực lượng vũ trang Liên Xô huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Việt Nam và
tham gia thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt
Nam, phụ nữ đóng một vai trò quan trọng đem lại thành công cho những
cuộc chiến thần thánh. Đã có biết bao phụ nữ tham gia kháng chiến với
câu khẩu hiệu đã trở nên rất quen thuộc trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, “đánh cho
để dài tóc, đánh cho để đen răng”, hay “còn cái lai quần cũng đánh”. Phụ nữ đã tham gia chiến đấu trong tất cả những cuộc chiến giành
độc lập của Việt Nam. Rất nhiều những cuốn sách đã từng được các tác
giả người nước ngoài viết, trong đó phân tích về những chiến tranh tại
Việt Nam, lý do tại sao một dân tộc bé nhỏ lại có thể chiến thắng một
cường quốc lớn trên thế giới. Trong đó, cuốn sách Vietnamese Women At War
của tác giả Sandra Taylor đã khai thác cuộc chiến từ một khía cạnh rất
khác. Bà sang Việt Nam, thực hiện những cuộc phỏng vấn với các nữ du
kích, nữ thanh niên xung phong, nữ tình báo… để có thể lý giải được
nguồn động lực to lớn nào đã đem lại cho họ sức mạnh kỳ diệu tới vậy,
những trải nghiệm của về cuộc chiến ra sao. Có thể nói chưa một đất nước
dân tộc nào có lối đánh du kích tài tình như Việt Nam và mỗi người dân
đều có thể trở thành chiến sĩ.
Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục
năm nên trong nhiều gia đình, đàn ông luôn vắng bóng vì họ phải ra
chiến trường chiến đấu còn phụ nữ ở nhà cũng tham gia vào những đội du
kích, tự vệ địa phương, có những người tham gia vào lực lượng thanh
niên xung phong ngoài mặt trận thậm chí tham gia vào lực lượng tình
báo, biệt kích. Bằng mọi cách phụ nữ đã đóng góp sức mình cho cuộc
chiến thần thánh của dân tộc.
Dáng đi thất thểu, ngủ gục ngay trên đống đổ nát, nét mặt mệt mỏi, đau
đớn... là những hình ảnh thường gặp ở lính Mỹ sau những trận chiến tại
chiến trường Việt Nam.
William J. Duiker, tác giả của cuốn sách Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam
(Tạm dịch: Cuộc chiến thần thánh - Chủ nghĩa dân tộc và cuộc cách mạng
ở hai miền Việt Nam) từng nói ông vô cùng ấn tượng với những người phụ
nữ Việt Nam, họ là những người đã góp phần xây dựng nên trận địa pháo
Điện Biên Phủ, đào nên địa đạo Củ Chi, họ là những anh hùng thầm lặng
trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc. Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách tổng hợp các truyện ngắn viết về người Việt Nam di cư từng giành giải Pulitzer - A Good Scent from a Strange Mountain (Tạm
dịch: Mùi hương trên núi lạ) chia sẻ: “Tất cả lính Mỹ đều có nhận định
rằng phụ nữ ở Việt Nam trong chiến đấu dũng cảm và ngoan cường không
kém gì nam giới. Trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng thần
thánh của Việt Nam trước một lực lượng quân đội hùng mạnh như Mỹ, có
một mảnh ghép vô cùng quan trọng, đó là nhờ có sự tham gia của phụ nữ.
Họ là một trong những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua”.
Le Ly Hayslip, một nữ nhà văn gốc Việt nhận định: “Phụ nữ Việt Nam
không phải là những nạn nhân chiến tranh mà vượt lên trên hoàn cảnh,
họ đã tham gia trực tiếp và chủ động vào cuộc chiến, trở thành những
người chiến thắng và viết tiếp những trang sử về truyền thống yêu nước
và lòng dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc.” Cuộc
sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay
cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn
để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu
rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa
lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự
vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ
huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa
tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm
đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và
bệnh tật. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến.
Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam.
Các tổ chức quần chúng trên có vai trò nhất định trong việc giữ vững
tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính
sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số
thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố
hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là
các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca
ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên
nhập ngũ. Các nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cùng
xây dựng một cố gắng tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống
nhất và quy củ".
Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc rất cao, họ vẫn có thể chấp
nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
Người
cha ôm thi thể con nhìn lên chiếc xe bọc thép chở lính Việt Nam Cộng
hòa. Đứa bé thiệt mạng khi quân Việt Nam Cộng hoà tấn công du kích trong
một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh chụp ngày 19/3/1964.
Lính Việt Nam Cộng hoà dùng chuôi dao găm đánh một nông dân vì đã cung
cấp thông tin không chính xác về hoạt động của du kích ở một ngôi làng ở
phía Tây Sài Gòn. Ảnh chụp ngà
Một
phi công Mỹ quan sát máy bay ném bom napalm oanh tạc các địa điểm trên
lãnh thổ Việt Nam. Mục đích của những cuộc ném bom là nhằm làm rụng lá,
chết cây để dễ dàng phát hiện ra đối phương trong rừng sâu.
Bác
sĩ Joseph Wolfe (ở giữa bức ảnh) điều trị cho một binh sĩ bị thương tại
một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất thuộc căn cứ hải quân Mỹ đóng tại
Khe Sanh hồi tháng 3/1968.
Hai cha con bị nghi là "Việt cộng" bị dẫn về trụ sở
.
Mặc dù bị thương đến mức phải băng kín một mắt nhưng binh sĩ Thomas
Cole vẫn giúp đỡ đồng đội mình là trung sĩ Harrison Pell.
Binh
lính Sài Gòn thực hiện cuộc đổ bộ quy mô lớn ở khu vực đồng bằng sông
Cửu Long và đặt một số thiết bị trên thuyền. Họ băng qua những cánh đồng
ngập nước, có nơi nước sâu ngập đến nửa người để tìm diệt những chiến
sĩ Giải phóng
Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của Quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn
khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh
chụp ngày 9/1/1966.
Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô
con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng
7/1963.
Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.
.
Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.
Lính Mỹ lau nước mắt khi quỳ bên cạnh thi thể của đồng đội được bọc
trong vải pon-sô sau cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu phi quân sự. Ảnh
chụp ngày 18/6/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú
ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh
chụp ngày 9/1/1966.
Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hối sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.
Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rừng Việt Nam trong lễ tưởng
niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh
chụp ngày 9/10/1965.
Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi
thể của lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại đồn điền cao su Michelin, cách
Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.
Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt,
Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật
trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này
đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc
(ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang).
Ngoài ra những người cộng sản cũng tiếp tục đánh phá cơ cấu hành chính
của Việt Nam Cộng hòa. Tính đến năm 1963 lực lượng du kích đã ám sát
6.700 người và thực hiện 18.200 vụ bắt cóc. Quân đội Việt Nam Cộng hòa
trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Trong
các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên
toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình
Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và
các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rất nhiều
chiến thắng tại các địa bàn khác: Ba Gia, An Lão, Võ Su... Một
số nghị sĩ Mỹ khuyên Giônsơn: “Sớm tìm đường ra khỏi Việt Nam, nơi đáng
lẽ chúng ta không nên có mặt”. Nhưng giữa trưa ngày 28-7-1965, Giônsơn
phát biểu trên đài truyền hình: “Chúng ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của
Óetmolen (Westmoreland). Chúng ta không thể bị đánh bại bằng vũ khí.
Chúng ta sẽ trụ lại ở Việt Nam”. Cùng ngày hôm đó, Giônsơn đã thông báo
quyết định tăng thêm 44 tiểu đoàn chiến đấu ở Việt Nam.
Giai đoạn 1965-1968 là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam, được gọi với cái tênChiến
tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức
tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson
phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm
quét sạch lực lượng Quân Giải phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến
tranh trong phạm vi Việt Nam, không để nó lan ra ngoài vòng kiểm soát,
đụng chạm đến khối Xã hội Chủ nghĩa để có thể dẫn đến một cuộc chiến
tranh như Chiến tranh Triều Tiên.
Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng họ đã thất
bại trong mục tiêu đánh bại lực lượng Quân Giải phóng. Các đồng minh lớn
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm
viện trợ giúp nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất
tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam để các cường quốc này vươn lên
giành vị thế đứng đầu thế giới.
Chuỗi ngày “địa ngục” của lính Mỹ ở Việt Nam:
Một lính thủy đánh bộ Mỹ lội trong bùn lầy. Những bức ảnh chỉ được công bố lần đầu 5 năm sau khi được chụp, tháng 2/1971.
Được sự hộ tống của xe tăng và chiến đấu cơ trong
khu rừng khô phía trước, lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn số 2, Hạm đội 5, bắt
đầu tấn công.
4 lính thủy quân lục chiến Mỹ bê xác người đồng
đội sau khi đơn vị của họ trúng đạn gần đồi 484. Bên phải là phóng viên
ảnh người Pháp Catherine Leroy (1945 – 2006), cô đã bị cắt ra ngoài bức
ảnh khi đăng trên tờ LIFE hồi đó.
Hình ảnh tiêu biểu của những lính thủy đánh bộ Mỹ
trong những ngày này là dầm mình trong bùn đất, xung quanh là cây cối
lởm chởm vì đạn pháo và súng trường. Binh lính bị thương, băng bó, mũ
sắt, áo jacket dính máu... ở khắp chiến trường, nơi cách xa nhà họ hàng
nghìn dặm.
Một lính Mỹ bị thương sau cuộc càn quét trên cánh đồng. Bức ảnh này không được công bố trong phóng sự gốc của LIFE.
Đội quân mệt mỏi của Mỹ sau trận đánh tại khu vực phía nam khu phi quân sự DMZ.
Một lính Mỹ khác bị thương băng bó kín mít.
Các lính Mỹ ăn đồ hộp trong giờ nghỉ ngơi giữa trận chiến.
Một lính Mỹ được phát bánh thánh khi tạm yên tiếng súng một ngày tháng 10/1966.
Theo tuyên bố của chính phủ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tấn công quân sự là trái với Hiệp định Genève, và chính phủ Mỹ
tuyên bố lý do việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam là để
bảo vệ Việt Nam Cộng hòa theo những điều khoản của Hiệp ước SEATO
do Việt Nam Cộng hòa được đặt dưới sự bảo hộ quân sự của SEATO. Tổng
thống Mỹ có quyền đưa quân trợ giúp Việt Nam Cộng hòa theo quy định của
Hiến pháp Mỹ và theo Hiệp ước SEATO đã được Thượng viện Mỹ chấp thuận.
Hơn nữa Quốc hội Mỹ đã ban hành nghị quyết ngày 10/8/1964 cho phép quân
đội Mỹ được hoạt động tại Việt Nam và ủng hộ những hành động của Tổng
thống Mỹ đối với Việt Nam. Chính vì thế Tổng thống Mỹ có quyền điều quân
đến Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh của Quốc hội Mỹ.
(sau này, để tránh việc tổng thống Mỹ lạm dụng đưa quân ra nước ngoài
theo ý bản thân, luật này được sửa lại và việc đưa quân nhất thiết phải
được Quốc hội Mỹ thông qua).
TT&HĐ III - 32/tR
Để phù
hợp với “nguyện vọng” của Mỹ, Pháp đã vực dậy ông vua cuối cùng của
triều Nguyễn và “đã chết” là Bảo Đại làm con bài. Sợ Bảo Đại, kẻ nhu
nhược, bốc đồng và trác táng có thể quan hệ bí mật với chính phủ Hồ Chí
Minh, Pháp đưa ra phương án giải tán “nước Nam Kỳ tự trị” để thành lập
một chính quyền Việt Nam “tự trị” do Pháp đỡ đầu về quốc phòng và ngoại
giao (thực chất thì cũng như chính sách bảo hộ hồi thế kỷ XIX). Vài
“chính khách” Việt Nam do Pháp nặn ra, kéo đến Hồng Công thuyết phục Bảo
Đại và ngày 7-12-1947, tại Vịnh Hạ Long, ký thỏa thuận với Pháp. Theo
đó Pháp “cho” Việt Nam độc lập nhưng kiểm soát quân đội, tài chính và
ngoại giao. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại ký thỏa ước của thỏa thuận vịnh Hạ
Long: Pháp “giữ hộ” Việt Nam vấn đề quốc phòng, tài chính, ngoại giao.
Năm 1946, ngày 25-5, Tại Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ là
luật sư Béziat gửi cho Cao Ủy Pháp một bức thư chính thức xin thành lập
một chính phủ lâm thời của nước Cọng Hòa Nam Kỳ. Ngày 27-5, Cao ủy Pháp
trả lời tạm thời chấp thuận việc thành lập chính phủ đó. Tuy nhiên
cũng lưu ý rằng “Nam Kỳ là một mãnh đất thuộc di sản Quốc gia Pháp” cho nên cần phải được Quốc hội Pháp thông qua (Hsltr/Quốc gia Pháp).
*( Nam Kỳ là đất bị quân Pháp đánh chiếm
rồi bắt vua Tự Đức phải bán cho họ vào năm 1874 với giá do họ ấn định.
Từ đó nước Việt Nam có hai nước là nước An Nam của nhà Nguyễn và nước
Nam Kỳ của Pháp. Tháng 3 năm 1945 Nhật chiếm Nam Kỳ của Pháp rồi tháng 6
năm 1945 giao lại cho Bảo Đại, nhập trở lại nước Việt Nam. Giờ đây
Pháp thành lập nước Nam Kỳ tự trị để tách ra Nam Kỳ khỏi Việt Nam như
trước.
Năm
1950, sau khi đánh bật được tập đoàn cờ bạc Ma Cao, thế lực của Bảo Đại
đã hoàn toàn độc chiếm trung tâm cờ bạc Đại Thế Giới ở Sài Gòn.
Bảo Đại - Ông vua bù nhìn.
Năm
1950, Truman chủ trương không chỉ “giữ chân” cộng sản ở Châu Âu mà còn
phải tích cực ngăn chặn cộng sản ở Châu Á. Ngay lập tức, Dean Rush thông
báo: “Các tài nguyên của Mỹ phải được triển khai để ngăn Cộng sản chiếm
Đông Dương và Đông nam Á”. Đến đây, Mỹ đã tỏ ra quyết tâm giữ Đông
Dương hơn cả Pháp.
(Nhưng
tại sao đế quốc Mỹ nói riêng và cả thế giới tư bản nói chung lại căm
ghét, lo lắng và chống cộng điên cuồng như vậy? Nguyên nhân là, những
người theo chủ nghĩa Cộng sản cho rằng muốn xây dựng một xã hội tươi
đẹp, không còn cảnh người bóc lột người thì phải làm cuộc cách mạng vô
sản và mục tiêu của cuộc cách mạng ấy là đập tan chính quyền tư sản, xóa
bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu đó của cuộc
cách mạng vô sản rõ ràng là cực đoan, duy ý chí và mù quáng bởi vì chỉ
có thể cố gắng cải tạo mặt trái xấu xa của nhân tính, cái tàn dư tàn
bạo, độc ác của xã hội phong kiến, chứ không thể tiêu diệt được một
phương thức kinh tế - xã hội xuất hiện một cách tự nhiên theo trình độ
của tiến trình xã hội phù hợp với đạo lý. Hay có thể nói, trong thời đại
ngày nay, hành động xóa bỏ nền sản xuất tư bản là trái đạo lý tự nhiên. Loài
người tồn tại được là vừa nhờ có những con người độc lập, tự do, vừa chịu sự ràng buộc. Độc lập, tự
do tương đối là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển. Dù là nô lệ đi chăng nữa thì
cũng không thể mất hết độc lập, tự do nếu còn tồn tại. Độc lập, tự do
làm xuất hiện ý chí sáng tạo ở mỗi con người và khi tư hữu (về tư liệu sản xuất)
vẫn còn là quyền lợi thì không thể xóa bỏ được ý chí tư hữu.
Tiếp
theo, nguyên nhân để cách mạng vô sản đề ra cái mục tiêu ấy của nó
chính là quan niệm thiếu biện chứng của học thuyết Mác về sự phân tầng
xã hội dưới luận đề “Giai cấp và đấu tranh giai cấp”. Sự phân
tầng xã
hội là hiện tượng có thực và nó luôn vận động, chuyển hóa, biến đổi theo
điều kiện, hoàn cảnh cũng luôn biến đổi trong từng thời gian, từng giai
đoạn vận động xã hội. Chúng ta quan niệm rằng chỉ khi hai tầng lớp dân
cư xã
hội do có hiện tượng bóc lột mà phát sinh mâu thuẫn gay gắt, đối kháng
nhau về mưu cầu sống còn thì lúc đó mới được gọi là phân tầng
giai cấp và như thế trong xã hội, nếu xuất hiện giai cấp thì chỉ có thể
là hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, mà biểu hiện phổ biến để phân biệt
giữa hai giai cấp ấy là hữu sản - vô sản, là giàu - nghèo, tạm thời có
quyền lực - không có quyền lực… Vậy thì bản thân những biểu hiện tương
phản hữu sản - vô sản, giàu - nghèo chưa hẳn là thực sự phân tầng giai
cấp.
Theo
Mác thì: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”. Đó là câu nói theo ý kiến
chúng ta là vừa đúng vừa không đúng và nếu bỏ “của sản xuất” đi thì đúng
hơn.
Theo
Lê Nin định nghĩa thì đấu tranh giai cấp là “Cuộc đấu tranh của quần
chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền,
đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những công nhân
làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp
tư sản”. Định nghĩa như vậy là chưa rõ ràng và dễ gây ngộ nhận. Cách
định nghĩa sau đây trong giáo trình “Triết học Mác - Lê Nin” (NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004) là đúng hơn:
“Thực
chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về
mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai
cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc
lột”.
Theo
chúng ta, cách mạng vô sản là cuộc đi đòi lại quyền lợi chính đáng của
quần chúng đã bị giai cấp thống trị chiếm đoạt một cách không chính
đáng, xóa bỏ chính quyền đã trở nên phản động, tàn bạo để xây dựng một
chính quyền mới do dân và vì dân.
Có
lẽ, lí luận vế giai cấp và đấu tranh giai cấpchưa hợp lí dẫn đến nhận
thức về chuyên chính vô sản còn cực đoan, sai lầm nên dẫn đến những hành
động thật đáng tiếc trong giai đoạn đầu cải cách ruộng đất
Karl Marx, triết gia cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cao trào cách mạng
1930 – 1931 mà tiêu biểu là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh
mẽ. Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Đảng và giai cấp công nhân,
nhân dân lao động chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám
năm 1945. HẬU QUẢ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP:
Địa chủ phải quỳ xuống đất, bị trói 2 tay ra sau lưng nghe kể tội.
Sau khi nghe kể tội sẽ bị xử bắn công khai.
Bà Cát Hạnh Long, một ân nhân của “cách mạng” thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
FB
Nguyễn Thông: “Bắn một người đã góp cho cách mạng gần 1.000 lượng vàng,
đã cưu mang chính mình và hàng nghìn đồng chí mình khi khó khăn, người
có 2 con trai thì cả hai con lúc ấy đang là sĩ quan cấp trung đoàn, bắn
xong biết sai nhưng không hề công khai xin lỗi, bồi thường danh dự và
vật chất
Một người làm thuê đang đấu tố chủ cũ, sau đấu tố là hành quyết công khai.
(Cải cách ruộng đất 1953-1957)
Hình ảnh một trong hàng trăm hàng ngàn vụ đấu tố của cộng sản
"Hình ảnh về cải cách ruộng đất do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp năm 1955 tại Việt Nam"
Phú nông và địa chủ bị chôn sống trong cải cách ruộng đất (Ảnh: internet)
Sau khi xác định các thành phần xong, thì bắt đầu đấu tố…
Cuối
cùng, cách hiểu máy móc, thiếu biện chứng về sự phân tầng xã hội của
chủ nghĩa Mác dẫn đến quan niệm gay gắt cực tả, thái quá của cách mạng
vô sản, là có nguyên nhân một phần về thực tại xã hội đương thời đó, có
vẻ như đích đáng với thời đại hình thành hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ
nghĩa, khi mà tích lũy tư bản là một quá trình chất chồng tội ác, tràn
ngập máu và nước mắt, khi mà mặt trái tàn bạo của nhân tính nổi trội đến
mức gắn liền thành như bản chất của chủ nghĩa tư bản, làm dấy lên phong
trào trừng trị tàn bạo, trong đó không ít những mưu đồ trả thù cá nhân
nhỏ nhen, vị kỷ.
Ngày
nay, loài người đã sáng tỏ được nhiều điều. Các chế độ xã hội, dù có
mang nhãn mác nào đi chăng nữa, dù hình thức có khác nhau thế nào chăng
nữa thì cũng không thể bài trừ nhau dã man, do đó xử sự tốt nhất là thay cho
đối đầu, nên đối thoại nhau có chừng mực và chung sống hòa bình, hướng sự xâu xé nhau
trong nội bộ giống loài ra “bên ngoài”: Đồng lòng đi cải biến tự nhiên
vì quyền lợi sống còn của chung loài người.
Đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lăng,ách
đô hộ của thực dân - đế quốc và đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị
chống lại giai cấp thống trị là hai cuộc đấu tranh khác nhau nhưng tương
tự nhau. Xét trên khía cạnh phụng sự Đức Huyền Diệu, đảm bảo sự tồn tại
của loài người thì hai cuộc đấu tranh đó có mục đích như nhau và không
phải là đi tiêu diệt tư hữu.) *** Cuối
tháng 1-1950, khi thực dân Pháp hợp pháp hóa chính quyền Bảo Đại thì
lập tức ngày 7-2-1950, Mỹ liền công nhận chính phủ bù nhìn đó để nhằm
hợp thức hóa việc viện trợ quân sự cho bọn tay sai không qua tay Pháp.
Ngày 7-9-1951, “Hội nghị hợp tác kinh tế” giữa Mỹ và chính quyền bù nhìn
Việt Nam đã đi đến ký kết văn bản qui định việc Mỹ sẽ viện trợ kinh tế
và kỹ thuật cho Việt gian. Từ đó viện trợ Mỹ không ngừng tăng: nếu như
năm 1950 - 1951 Mỹ chi 13% cho tổng chi phí chiến tranh thì năm 1952 lên
38%, năm 1953 lên 45%; năm 1954 lên 80%. Viện trợ này thực chất cũng là
cho Pháp. Ngay từ 29-6-1950, 8 chiếc C-47 đã bắt đầu chở hàng viện trợ
đến Đông Dương và sau 4 năm, Mỹ đã viện trợ cho cuộc chiến tranh của
Pháp và tay sai trên dưới 3 tỷ đô la.
Máy bay C-119 của Mỹ đang thả lính dù Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Trước
nguy cơ Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ dẫn đến thua trận trong cuộc
chiến tranh Đông Dương, tổng thống Mỹ lúc đó là Aixenhao đã xin quốc hội
Mỹ cho toàn quyền hành động, trong đó có việc sử dụng từ 1 đến 6 quả
bom nguyên tử, theo kế hoạch của Đalét.
Sự
cay cú và hoảng sợ trước nỗi ám ảnh cộng sản bành trướng đã làm cho
chính phủ tư sản Mỹ định giở trò côn đồ, độc ác. Sự dự tính dùng bom
nguyên tử chống lại một dân tộc nhỏ bé đi đòi quyền tự quyết của mình và
chưa từng hiềm khích trực tiếp đã bộc lộ ra cái nhân tính tàn bạo, tiểu
nhân của những nhà lãnh đạo chóp bu cái cường quốc được cho là số 1 thế
giới và tự nhận là tự do dân chủ nhất thế giới. Về vấn đề “răn đe”
nguyên tử này, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên tổng tư lệnh Quân đội
nhân dân Việt Nam, trong một lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Cuba là
Angulo (đăng trên tạp chí Bôhêmia (Cuba) số tháng 1-6 năm 1984), đã thổ
lộ:
“Oasinhtơn
đề nghị cung cấp cho Pari bom nguyên tử chiến thuật để đánh vào quân
đội Việt Nam đang bao vây Điện Biên Phủ. Chúng tôi nhận được tin là hai
chính phủ đã bàn bạc khả năng dùng vũ khí nguyên tử chống lực lượng của
chúng tôi. Nhưng chúng tôi nhận thấy không có nhiều khả năng là loại vũ
khí đó được sử dụng. Một mặt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ rơi
vào thế phòng thủ và chỉ củng cố được những vị trí sẵn có. Mặt khác,
Quân đội nhân dân Việt Nam không kiểm soát các thành phố lớn, mà rải rác
trong một hậu phương bao la và các đơn vị tác chiến ở Điện Biên Phủ
ngày một tiến sát quân thù.
Con
bài vũ khí nguyên tử không dễ dàng, nhưng mặc dù vậy chúng tôi vẫn chỉ
thị cho các đơn vị của chúng tôi sẵn sàng chống lại sự nhiễm xạ bằng mọi
biện pháp sẵn có. Cho dù có dùng vũ khí này, họ (tức là Mỹ - Pháp) cũng
sẽ không đạt được gì hết”.
Thực
tế cho thấy dù thực dân Pháp tán thành nhưng cho đến cuối tháng 4-1954,
kế hoạch sử dụng bom nguyên tử - còn gọi là kế hoạch Vơtua (Vantour),
đã không được thực hiện.
Là
một thành viên tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng đế quốc Mỹ đã không chịu
ký vào bản tuyên ngôn chung vì đang ôm ấp những mưu đồ chống cộng điên
cuồng ở Đông Dương. Mỹ đã ngang nhiên lập ra khối Đông - Nam Á (SEATO),
đặt miền Nam - Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này, ráo riết hất cẳng
Pháp để trực tiếp can thiệp vào Đông Dương. Sau
khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve, Quốc gia Việt
Nam cùng Pháp tập kết về vùng phía Nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam.
Phi cơ - "siêu pháo đài" B-29 (ảnh: olive-drab.com)
Ngày
10-8-1954, Mỹ điều đô đốc Xabin ra Hà Nội trực tiếp điều hành kế hoạch
tuyên truyền, cưỡng ép đồng bào di cư. Từ tháng 6-1954, Mỹ đã tổ chức
một cơ quan huấn luyện biệt kích, gián điệp núp dưới cái tên “Phái đoàn
quân sự Sài Gòn” (S.M.M), đóng trụ sở tại Hà Nội. Sự kiện nổ mìn phá sập
Chùa Một Cột ngày 10-9-1954 là có sự nhúng tay của tổ chức này. Theo
kế hoạch, quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến
hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho
Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ
bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành.
Không thể chấp nhận việc Hồ Chí Minh sẽ thắng cử và lập chính phủ trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc
tuyển cử không thể diễn ra nhằm chia cắt Việt Nam vĩnh viễn thành 2
quốc gia. Hoa Kỳ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam
Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng dân chủ hay không. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale (sĩ quan cao cấp của Tình báo Mỹ
và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953) đã huấn luyện các lực
lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ
quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị
quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối".
Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự
Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia
Việt Nam
ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực
tiếp cho Quốc gia Việt Nam.
Trong những năm 1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho
các lực lượng thường trực Quốc gia Việt Nam, gồm 170.000 quân và lực
lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của Quốc gia Việt Nam
là do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ
khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ
này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội
khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế
chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm
Đến lúc này lại
xảy ra mâu thuẫn giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm với Quốc trưởng Bảo Đại
(nguyên là Hoàng đế nhà Nguyễn). Năm 1955, nhờ gian lận trong một cuộc
trưng cầu dân ý (mà các tài liệu ngày nay của chính phủ Việt Nam thường
gọi là "trò hề trưng cầu dân ý"), thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất
Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của chính phủ Việt Nam
Cộng hoà.
Sau đó, Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội
này ban hành Hiến pháp thành lập Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa
Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn, ngày ban hành Hiến pháp
26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ Nhất Cộng hòa. Việt Nam
Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và
được Mỹ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam.
Bằng
việc đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thay thế ông vua Bảo Đại khét tiếng ăn
chơi và hoàn toàn ngớ ngẩn về chính trị, Đế quốc Mỹ đã chính thức chấm
dứt sự dính líu của Pháp ở Đông Dương. Đó cũng chính là sự “bàn giao
lịch sử” giữa chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên đất
nước Việt Nam.
Vậy Ngô Đình Diệm là ai?
Ngô Đình Diệm
VNCH xuất sinh từ gian lận:
Cuộc
trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 gián tiếp đem đến sự cáo
chung Quốc gia Việt Nam. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Tổng thống Ngô Đình
Diệm ký quyết định ban hành bản Lâm thời Hiến pháp số 1, sự kiện này
được coi là quốc khánh của Việt Nam Cộng hòa. VNCH xuất sinh từ gian lận!
Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ
Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo
Công giáo lâu đời ở Việt Nam. Vào thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào
Nha đã cải đạo cho dòng họ ông, nên tên thánh của ông là Gioan Baotixita
(João Batista). Cha ông là Ngô Đình Khả và mẹ ông là Phạm Thị
Thân, quê quán ở làng Đại Phong xã Phong Thủy huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình. Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh, theo Nguyễn Thân
một người hợp tác với chính phủ Liên bang Đông Dương (thuộc Pháp) đàn
áp các phong trào chống Pháp như nhóm Văn Thân của ngự sử Phan Đình
Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông Khả từng làm tới Thượng thư triều đình
nhà Nguyễn kiêm Phụ đạo Đại thần và cũng là cố vấn của vua Thành Thái.
John F. Kennedy (phía sau bên phải) trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 1951Robert S. McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor gặp Kennedy sau chuyến đi thăm Nam Việt Nam của họ năm 1963. Học viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà LạtÔng Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957Tổng thống Dwight D. Eisenhower chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ trong tháng Năm 1957 Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamaraPhó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Là
người mộ đạo, Ngô Đình Khả dẫn gia đình ông đi lễ mỗi buổi sáng. Năm
1907,
thấy chính quyền bảo hộ Pháp phế bỏ và đày vua Thành Thái sang Phi
Châu, ông Ngô Đình Khả xin từ quan về quê làm ruộng để tỏ sự bất mãn. Có
thuyết khác cho rằng, vì ông Khả không chịu ký vào đơn yêu cầu Thành
Thái thoái vị, nên bị chính quyền bảo hộ Pháp cách chức. Dù đã từ quan
nhưng ông Ngô Đình Khả vẫn đủ sức để chu cấp cho các con ông ăn học. Lúc nhỏ, Ngô Đình Diệm ngoài giúp cha làm ruộng còn cùng người anh
Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng Pellerin Huế. Cảm thấy cuộc sống ở
trường dòng quá khắt khe, ông đã bỏ trường dòng. Năm 1913, lúc 12
tuổi, Ngô Đình Diệm thi vào trường Collège Quốc học, học chương trình
tổng hợp bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trưởng giáo (tức hiệu trưởng)
trường là Ngô Đình Khả, cha ông.
Theo Moyar, cá tính độc lập quá mức của Ngô Đình Diệm không thích hợp
với các khuôn phép trong nhà thờ. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn thừa
hưởng từ cha tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược.Tốt nghiệp trung học
với thành tích học tập xuất sắc ở trường Collège Quốc học, Ngô Đình
Diệm được trao học bổng đi học ở Paris. Nhưng ông đã từ chối. Năm 1918,
ông nhập học Trường Hậu bổ (trường Hành chính công và Luật) ở Hà Nội,
một trường danh tiếng của Pháp đào tạo công chức người Việt. Trong lúc
học ở trường Hậu bổ, Ngô Đình Diệm yêu con gái của thầy dạy
học và đây là mối tình duy nhất trong cuộc đời ông. Sau khi người con
gái đó quyết định vào Nữ tu viện, Ngô Đình Diệm sống độc thân suốt phần
đời còn lại. Theo Nhân Hưng, mối tình đầu của Ngô Đình Diệm là với tiểu
thư Trang Đài, con gái út của quan Thượng thư họ Nguyễn ở An Cựu, Huế. Sau
khi tốt nghiệp trường Hậu bổ với vị trí đứng nhất lớp vào năm 1921, Ngô
Đình Diệm nối bước anh cả Ngô Đình Khôi (lúc này đang làm việc trong Bộ
Binh
triều đình Huế) vào quan trường. Bắt đầu bằng chức quan thấp nhất, Ngô
Đình Diệm từng bước được thăng chức. Nơi làm việc đầu tiên của ông là
thư viện hoàng gia ở Huế. Trong cùng năm, ông làm tri huyện Hương Trà,
Thừa Thiên. Năm 1926, Ngô Đình Diệm làm tri phủ Hải Lăng, Quảng Trị, sau đó làm quản đạo phủ Ninh Thuận
Xác chết của Ngô Đình Diệm ở phía sau APC, đã bị xử tử trên đường đến trụ sở quân đội
Trong
suốt thời gian làm quan, Ngô Đình Diệm có tiếng là người mẫn
cán, công chính, là nhà lãnh đạo Công giáo và là người theo chủ nghĩa
dân tộc. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc Công giáo ở Việt Nam từ thập niên
1920 đến thập niên 1930 cũng tạo điều kiện cho sự thăng tiến trong quan
trường của Ngô Đình Diệm. Sự thăng tiến nhanh chóng của Ngô Đình Diệm
một phần nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu
Bài
(anh trai ông, Ngô Đình Khôi, là con rể của ông Nguyễn Hữu Bài). Nguyễn
Hữu Bài (1863–1935) là một người Công giáo ủng hộ việc bản địa hóa Nhà
thờ Việt Nam và tăng quyền lực hành chính cho chế độ quân chủ.
Nguyễn Hữu Bài được người Pháp đánh giá cao, trở thành người bảo trợ
cho Ngô Đình Diệm do mối quan hệ chặt chẽ về gia đình cũng như tôn giáo. Năm
1929, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận. Làm quan
ở Bình Thuận ông có tiếng về đạo đức làm việc. Vào các năm 1930 và
1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy đầu tiên của
nông dân do những người cộng sản tổ chức.
Theo Fall, Ngô Đình Diệm vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách
mạng. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, nhưng có
thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại. Ngày 8 tháng 4, năm
1933, Bảo Đại (1913-1997) đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết
định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ
giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải,
Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc
kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm,
Vương Tứ Đại. Ngô Đình Diệm nhận lời Bảo Đại làm Thượng thư Bộ Lại (Bộ
Nội vụ ngày nay) theo lobby của Nguyễn Hữu Bài. Ông là vị thượng thư trẻ
tuổi nhất trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.Thời gian này ông
được bầu làm Tổng thư ký đứng đầu ủy ban cải cách
hành chính. Ông đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền bảo hộ
Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884, hai
là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các
vấn đề kể cả chính trị. Việc thống nhất chủ yếu để buộc chính quyền Bảo
hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một
viện tổng trú sứ (résident général)
ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì các đề
xướng không được chấp nhận, ông từ chức Thượng thư Bộ Lại ngày 12 tháng 7 năm 1933, chỉ sau 3 tháng nhậm chức.
Ngô Đình Diệm lên án Hoàng đế Bảo Đại "chẳng là gì mà chỉ là công cụ
trong tay người Pháp", và đã vứt bỏ các huân chương, chức tước được Bảo
Đại trao. Sau đó người Pháp đã dọa bắt và lưu đày Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm (áo dài)
Tháng 9 năm 1933, Thượng thư Bộ lại Ngô Đình Diệm từ chức (Theo một tài liệu khác thì ông từ chức ngày12 tháng 7năm1933).
Tháng 12.1933 cụ Phan Bội Châu cho đăng bài thơ Vô đề (5) trên báo
Tiếng Dân, sau đó cụ xác nhận là làm để tặng Ngô Đình Diệm với “cái lòng
khen”; nhưng khi biết Ngô Đình Diệm muốn trở lại làm quan thì cụ Phan
cho rằng, “cái quan niệm của tôi đối với ông ấy từ trước đều vứt đi”:
Ai biết trời Nam hãy có người, Sịch nghe tưởng ngỡ sấm bên tai. Lông hồng coi nhẹ vàng muôn lượng, Ngôi quý xem dường dép nửa đôi. Phơi tỏ cùng trời gan đỏ chói, Nhá nhem thây kệ mắt đen thui. Ví chăng kịp lúc làm vai vế, Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi.
Sau
khi từ chức Thượng thư Bộ Lại, Ngô Đình Diệm trở về làm một thường dân
sống ở Huế cùng gia đình ông, nhưng vẫn bị giám sát. Ông dành thời gian
cho việc đọc sách, thiền định, đi lễ nhà thờ, làm vườn, đi săn, và chụp
ảnh nghiệp dư.
Ngoài ra, ông đẩy mạnh các hoạt động dân tộc chủ nghĩa qua việc gặp gỡ
và giao lưu với các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như Phan Bội Châu,
một người bạn của ông. Phan Bội Châu là nhà hoạt động chống thực dân mà
Ngô Đình Diệm kính trọng vì kiến thức Nho giáo uyên thâm của ông, và vì
Phan Bội Châu lập luận rằng những lời dạy của Nho giáo có thể được áp
dụng cho Việt Nam hiện đại.
Ngô Đình Diệm ngấm ngầm ủng hộ Hoàng thân Cường Để
đang sống lưu vong tại Nhật nhằm thực hiện một cuộc cách mạng lật đổ
chính quyền bảo hộ Pháp. Ông bị xem là quá khích giống như Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam. Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan
Long, Lê Văn Kim,... tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận
động chính giới Pháp tại Paris bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre
Pasquier.
Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú
tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên
toàn quyền mới Eugene René Robin đã bãi bỏ chỉ định của Pasquier. Ông
vào Huế dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Ngô Đình
Thục làm Giám học.
Thời
kỳ 1942-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Đại
Việt Phục hưng Hội, dựa Nhật chống Pháp với thành phần nòng cốt là quan
lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7
năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm ở
tại phủ Cam. Trong thư gửi Toàn quyền Đông Dương, ông Thục kêu gọi Pháp
ân xá cho em mình:
"Nếu hoạt động của hai em tôi được
chứng tỏ là có hại cho quyền
lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam,
và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ
nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống
cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền
Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại
Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận
...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là
không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã
phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình
đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của
những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định
thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng
thân phụ tôi là Ngô Đình Khả
đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và
khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình
thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không
sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp".
Nhờ
sự giúp đỡ của hiến binh Nhật,
ông thoát nạn và về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau vài ngày, người
Nhật đưa Ngô Đình Diệm vào Đà Nẵng rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng
vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật. Ông cũng được Việt Nam
Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để ủy nhiệm công việc vận
động nhân sự ở Trung Kỳ để chống Pháp.
Thượng Thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm (thứ hai từ phải).5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn
Tổng Thống Diệm ôm hôn tướng Dương Văn Minh, theo cácnguồnthì sau này chính tướng Minh ra lệnh hạ sát anh em Tổng Thống trong cuộc đảo chánh 1963 vì tư thù
Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Ủy ban Kiến quốc với mục tiêu phò
tá hoàng thân Cường Để. Tuy nhiên Nhật không ủng hộ Cường Để về nước
làm vua mà ủng hộ Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là
Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính
quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.Sau khi Bảo
Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh giành chính
quyền, Ngô Đình Diệm cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt
Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên ngoại trừ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn.
Anh cả Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khôi cùng con trai mình là Ngô Đình
Huân trên đường bị du kích giải ra Hà Nội thì bị lực lượng áp tải này xử
bắn do nghi ngờ ông định chống lại lực lượng Việt Minh. Nguyên do là
trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Ngô Đình Khôi khuyên hoàng đế Bảo Đại
đừng thoái vị vì ông đã tích trữ được một số vũ khí, lại có thêm Ngô
Đình Huân giữ vai trò liên lạc giữa triều đình Huế và Đế quốc Nhật Bản,
nên có người tố cáo cha con ông Khôi có âm mưu cấu kết với Nhật chống
lại Việt Minh.
Thời điểm đó, một đơn vị biệt kích Pháp nhảy dù xuống miền Tây Thừa
Thiên và bị Việt Minh bắt, nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan
lại bản xứ để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Ngô Đình Diệm bị
giải ra Hà Nội. Sau đó Ngô Đình Nhu cũng bị Việt Minh bắt giam rồi được
thả. Theo phim tài liệu Sứ mệnh đặc biệt của Đài Truyền hình Việt
Nam nói về chuyến công tác phía nam của ông Hoàng Quốc Việt trong Cách
mạng Tháng Tám, thì ông Hoàng Quốc Việt (sau khi nghe ông Hải, Bí thư
Ban cán sự Đảng tỉnh Quảng Ngãi
báo cáo đã bắt được Ngô Đình Diệm) đã thả ông Diệm theo chỉ thị của Hồ
Chí Minh rằng các nhân sĩ trí thức phải được thả ra, và đưa ông Diệm ra
Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ông Ngô Đình Diệm được giao làm cố vấn cho Vĩnh
Thụy, là cố vấn tối cao của Chính phủ. Gia đình trị họ ngô: Dòng họ Ngô Đình: (hình năm 1963, từ trái sang) Cố vấn
Ngô Đình Nhu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục,
em gái tổng thống Diệm, bà mẹ (ngồi), bà Trần Lệ Xuân, ông Ngô Đình
Cẩn. Hàng con cháu: Trác, Quỳnh, Lệ Quyên, Lệ Thủy
Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc bản tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng hòa, ngày 26 tháng 10 năm 1955 (sân Dinh Độc Lập).
Ngô Đình Diệm bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang nhưng được trả tự do theo lệnh ân xá vào năm 1946.
Theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp Hồ Chí Minh. Ngô
Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh của ông thì được Hồ
Chí Minh giải thích rằng đó một hành động tự phát của du kích địa phương
do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Sau đó, cũng theo tài liệu của Mỹ, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ
chức thủ tướng vì cho rằng ông có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời
rằng ông chỉ đồng ý lời mời đó với điều kiện ông được Việt Minh thông
báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này, và do đó Ngô Đình Diệm từ chối hợp
tác với Hồ Chí Minh.Sau khi được Việt Minh phóng thích, Ngô Đình Diệm duy trì các mối liên
lạc với một số lãnh đạo Việt Minh với hy vọng có thể thuyết phục họ bỏ
Hồ Chí Minh và quay sang ủng hộ ông. Những cuộc trao đổi này khơi dậy
những quan tâm đáng kể trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ trong
năm 1947-1948. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đình Diệm và Ngô
Ðình Thục, thậm chí còn có tin đồn Ngô Đình Diệm đã lôi kéo được tướng
Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ
(về sau tin đồn này được xác định là không đúng). Ông cũng tìm cách liên
minh với các lãnh đạo các đảng phái quốc gia. Giữa năm 1947, ông liên
minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lãnh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Ðại Việt Quốc dân Ðảng. Tháng
2 năm 1948, Ngô Đình Diệm và các lãnh đạo phe quốc gia gặp nhau
tại Sài Gòn để thảo ra một kế hoạch đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập
của Việt Nam. Năm 1948, khi cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong ở Hồng Kông
đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, Ngô Đình Diệm sang
Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong "vấn đề độc lập dân tộc".
Ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền
của Việt Nam. Sau đó khi Bảo Đại ký hiệp định với Pháp ở Hạ Long
cho Việt Nam một nền độc lập hạn chế, Ngô Đình Diệm tỏ ra thất vọng.
Ông từ chối lời mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại với lý
do "không tin người Pháp, càng không tin vào nền độc lập nửa vời mà Pháp vẽ ra", và quay về Huế sống với Ngô Đình Cẩn và có thời gian Ngô Đình Diệm lên sống với vợ chồng Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt. Miller
thấy rằng những tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ nói lên
được một hiểu biết mơ hồ về Diệm cho đến tháng 5/1954. Theo Miller, Bảo
Đại quyết định chọn Diệm vào chức vụ Thủ tướng là bởi ông hoàng này công
nhận rằng Diệm “là một người tốt nhất cho công việc, bởi
vì sự không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông ấy có đủ năng lực
để chống lại chủ nghĩa cộng sản… Ông ấy thực sự là một người rất thích
hợp với hoàn cảnh hiện tại”. Diệm đã chứng minh lời của quốc
trưởng nhận xét về năng lực của mình là không sai. Trong thời kỳ hậu
hiệp định Geneva, phớt lờ chiến lược hòa giải và cải tổ của Hoa Kỳ, Diệm
đã trấn áp và dẹp tan những đối thủ chính trị của Diệm mà không có bất
kỳ một sự thỏa hiệp nào để kiểm soát thành công quân đội quốc gia, giành
lấy quyền lực từ những viên tướng thân Pháp, thực hiện chương trình
kiến quốc của ông. Những kiến giải của Miller về thời kỳ này
không những đưa ra một sự hiểu biết mới về Diệm, mà còn thách thức các
nhà sử học nhận thức lại lịch sử quan hệ Mỹ-Diệm ngay từ buổi đầu. Sự bất đồng tư tưởng này đã khuấy đục liên minh Mỹ-Diệm
trong quá trình triển khai một trong những chương trình kiến quốc quan
trọng nhất: phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với mấu chốt của vấn
đề là giải quyết tình trạng dư thừa dân số bằng cách di dân. Trên bình diện quốc gia, Diệm khởi động chương trình tự
cung tự cấp như là một đặc trưng trong viễn kiến của Diệm về phát triển
cộng đồng để phát động sự tham gia tự giác và đóng góp của toàn dân vào
những mục tiêu công ích của nhà nước. Kế hoạch dinh điền của Diệm không tránh khỏi sự phàn nàn từ phía Mỹ. Miller đã phân tích rất sâu sắc sự khác biệt của hai
trường phái kiến quốc của Mỹ sau thế chiến thứ II bao gồm chủ nghĩa tân
thời cao cấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khoa học và kỹ thuật, và
chủ nghĩa tân thời bậc thấp chú trọng vào các chương trình phát triển ở
phạm vi hẹp mang tính địa phương. Cả hai trường phái này đều
không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ không thể Tây hóa
lối sống và điều kiện kinh tế xã hội của người Việt. Do
vậy, dù đồng ý với quan điểm của Hoa Kỳ là cần cung cấp nguyên liệu sản
xuất cho dân tái định cư, nhưng Diệm bảo lưu quan điểm của mình, rằng
việc cung cấp tư liệu sản xuất không quan trọng bằng nghĩa vụ và bổn
phận tự lập của cộng đồng. Do đó ông sẵn sàng tiếp tục thực hiện
kế hoạch mà không cần sự trợ giúp của Mỹ. Mối bất hòa về chương trình
dinh điền, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đẩy Washington
và Saigon vào một tình trạng tồi tệ mới. Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công
cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng
sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm. Miller chứng minh rằng không phải mọi hoạt động quân sự
của Diệm đều do Mỹ điều khiển hoàn toàn, thậm chí còn xảy ra những bất
đồng trong nội bộ Mỹ.
Về xây dựng lực lượng, ví dụ, phái bộ cố
vấn của đại học Michigan (MSUG) muốn phát triển Lực lượng Bảo an như là
một lực lượng cảnh sát dân sự, trong khi đó các cố vấn quân sự Mỹ (MAAG)
lại muốn lực lượng này là một mô hình bán quân sự hoạt động như một đội
quân phụ trợ.
Còn với Diệm, Bảo an là một lực lượng lai ghép,
kết hợp quyền lực của cảnh sát như quyền giám sát, giam cầm, và phản
gián với năng lực quân sự.
Chỉ trích các giải pháp của cố vấn Mỹ
không phù hợp với quan điểm của mình, cũng như hoàn cảnh an ninh của
miền Nam Việt Nam, Diệm tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng Bảo an
như một nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích. Là
một cựu quan chức có nhiều trải nghiệm về cách trị dân, hơn ai hết,
Diệm hiểu rằng: để cai quản vùng nông thôn cần kết hợp các giải pháp
chính trị, quân sự, xã hội và kinh tế Ngược lại, Diệm không bao giờ có quan điểm Dân chủ là một
sự cạnh tranh mang tính đa nguyên giữa các đối thủ, đảng phái, và tư
tưởng.
Thay vì vậy, Diệm cho rằng nền móng dân chủ của ấp chiến
lược là huy động sức mạnh toàn thể dân chúng tham gia vào cuộc chiến
chống lại kẻ thù của chế độ.
Miller không thể không thừa nhận
rằng dù có nhiều khiếm khuyết và bất cập, nhưng Ấp Chiến Lược là một
chương trình thành công, tạo nên một bước ngoặt đáng ghi nhận trong cuộc
chiến chống lại Cộng sản ở miền Nam, mang lại hy vọng cho một chiến
thắng chung cuộc. Trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 vẫn không dập tắt sự lạc
quan của Diệm, vì vậy họ Ngô đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn
bị kế hoạch Bắc tiến, chiếm lại miền Bắc Việt Nam. Và cuối cùng,
Diệm muốn Mỹ viện trợ vũ khí và các nguyên vật liệu khác nhưng không
chấp nhận sự việc các cố vấn Mỹ can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.
Ngày 20-12-1960, các thành viên của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên thệ trong Lễ thành lập Mặt trận. Ảnh:
dangcongsan.vn
Từ
năm 1961, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải liên tục tăng cường lực lượng
nhằm đối phó với các hoạt động khủng bố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam (thành lập cuối năm 1960 tại chiến khu Tây Ninh)
Ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đình Diệm cho đăng một tuyên bố hoàn
toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée bằng cách đòi hỏi quyền tự trị lãnh thổ
cho Việt Nam. Ðồng thời, ông cũng thông báo không có ý định hợp tác với
Việt Minh và kêu gọi một phong trào chống thực dân mới dưới sự lãnh đạo
của “những thành viên đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc” và đặc biệt là “những người kháng chiến” với ý định thách thức Việt Minh bằng cách lôi kéo một số người muốn bỏ Việt Minh để ủng hộ ông.
Ngô Đình Diệm cũng tuyên bố viễn kiến về một cuộc cách mạng xã hội
ngang với những cương lĩnh chính trị từ các đối thủ của ông: “... nên
biết rằng cuộc tranh đấu hiện tại không phải chỉ là một cuộc chiến đấu
cho độc lập Tổ quốc về phương diện chính trị mà thôi, mà còn là một cách
mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam. Ðể
cho tất cả mọi người trong nước Việt Nam mới có đủ phương tiện để sống
xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự, tôi chủ
trương những sự cải cách xã hội hết sức tân tiến và mạnh bạo, miễn là
phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự do nẩy nở.”
Tuyên bố của ông được nhiều người đọc và được chú ý trên khắp Việt Nam,
nhưng nó không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng dành cho Ngô Đình
Diệm, cũng không gây tác hại gì cho “giải pháp Bảo Ðại”. Trên thực tế,
hiệu quả của nó là chấm dứt
Sau đó, ông cùng anh mình là Giám mục Ngô Đình Thục và người em Ngô Đình Nhu thành lập Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo.
Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một phong trào mới có thể áp đảo cả Pháp và
Việt Minh. Ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột,
cố gắng xây dựng và duy trì quan hệ với cả hai phía. Ngô Đình Diệm hy
vọng có thể có thêm thời gian để mở rộng nhóm ủng hộ mình và gây thiệt
hại cho cả hai đối thủ. Năm 1950, Việt Minh cố gắng giết Ngô Đình
Diệm trên đường ông đi thăm anh là Giám mục Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long.
Ông theo anh là Giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, rồi sau đó sang Nhật
gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây. Trong thời gian ở Nhật, ông gặp tướng Douglas MacArthur
chỉ huy quân Mỹ tại Nhật để thuyết phục Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt
Nam, nhưng tướng Douglas MacArthur tiếp kiến ông và Giám mục Ngô Đình
Thục rất lạnh nhạt, không có biểu hiện gì cho thấy tướng Douglas
MacArthur sẽ ủng hộ Việt Nam. Theo lời khuyên của Wesley Fishel, giáo sư
chính trị Đại học Michigan, ông Diệm sang Hoa Kỳ để thuyết phục Tổng
thống Mỹ Eisenhower ủng hộ Việt Nam độc lập.
Tháng 9 năm 1950, Ngô Đình Diệm đến Washington gặp các viên chức Bộ
Ngoại giao Mỹ nhưng ông không gây được ấn tượng với họ. Sau khi gặp, một
quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhận xét Ngô Đình Diệm “quan tâm ngang
bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân,
thay vì giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối
mặt ngày hôm nay”. Tháng 10 năm 1950, Ngô Đình Diệm sang Vatican gặp
Giáo hoàng rồi đến Paris gặp các quan chức Việt và Pháp đồng thời đề
nghị Bảo Ðại bổ nhiệm ông làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam với điều kiện
ông có đủ thẩm quyền để chỉ đạo các cơ quan hành chính tại Việt Nam
nhưng Bảo Đại chỉ trả lời chung chung
Cố
vấn Ngô Đình Nhu có 4 người con: Ngô-Đình Trác, Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ
Thuỷ và Ngô-Đình Lệ Quyên. Kể từ sau khi hai anh em Ngô-Đình Diệm và
Ngô-Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô-Đình cũng trải qua nhiều biến cố.
Hai
người con gái của Ngô-Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô-Đình Lệ Thủy và Ngô-Đình
Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông.
Theo
Luật sư Lâm Lễ Trinh trong một cuộc phỏng vấn, ông Ngô-Đình Diệm là Tổng Thống,
nhưng khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hoà công lớn là của ông Ngô-Đình Nhu. Ông
Ngô-Đình Quỳnh nhớ về Cha như là một người kín đáo và tận tuỵ cho đất nước.
Thời gian hai năm kế tiếp
Ngô Đình Diệm sang Mỹ phần lớn lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở
New Jersey và trường dòng Ossining ở New York.
Ông dùng đủ mọi cách để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower
nhưng cũng không thành công vì Mỹ đang bận tham chiến tại Triều Tiên và
Mỹ không muốn làm mất lòng người Pháp. Đây cũng là thời kỳ Ngô Đình Diệm
gặp Hồng y Spellman,
người đồng ý làm trung gian để ông có cơ hội diện kiến với những nhân
vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ. Qua trung gian của Hồng y
Spellman, ông Diệm đã gặp gỡ và tranh thủ được tình cảm của dân biểu
Walter H. Judd, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, nhất là Thượng nghị sĩ
John F. Kennedy (Kennedy sau này trở thành Tổng thống Mỹ).
Ngô Đình Diệm tìm kiếm sự hỗ trợ của người Mỹ cho những kế hoạch chính
trị của ông cũng như thu hút những người Mỹ tin vào phát triển, hiện đại
hoá và khả năng biến đổi Việt Nam dựa trên nền công nghệ Mỹ. Ðặc biệt,
ông tìm cách khai thác những quan tâm chính thức mới (của Mỹ) trong việc
“hỗ trợ kỹ thuật” cho nước ngoài. Cũng nhờ sự giới thiệu của Spellman
và một vài nhân vật cấp cao của CIA, Ngô Đình Diệm vào ở ẩn ở các chủng
viện lớn như Maryknoll, Lakewood rồi vào trường đại học Michigan tham
gia một số khóa học. Có thể nói, người đã giúp đỡ ông Diệm rất nhiều khi
ở Mỹ là Hồng y Spellman. Nhà sử học John Cooney đã viết:
"Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng y Spellman đã
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị
của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở
thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman
nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi chính khách: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng."
Năm
1954, Ngô Đình Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn
(con trai của cụ Thân thần phụ chính Tôn Thất Hân). Tại đây, với sự yểm
trợ của Ngô Đình Luyện, Diệm bắt đầu vận động trong giới chính khách
Việt sống lưu vong. Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (về sau là Tổng thống Mỹ) tuyên bố: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ
Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó.
Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng
ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta -
chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những
nhu cầu của nó”. Sau 4 năm Hiệp định Elysée
được ký kết, lãnh đạo các đảng phái quốc gia đang mất hết kiên nhẫn với
Bảo Đại và chiến lược giành độc lập từng bước trong Liên hiệp Pháp của
Bảo Ðại. Pháp rất ít khi nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Quốc
gia Việt Nam chỉ độc lập trên danh nghĩa. Đa số lãnh đạo phe quốc gia
thất vọng với thủ tướng Nguyễn Văn Tâm,
nổi tiếng thân Pháp và chuyên quyền. Họ cũng nổi giận vì quyết định đơn
phương của Paris trong việc phá giá đồng bạc Đông Dương vào đầu tháng 5
năm 1953, vi phạm những thoả thuận trước đó với các quốc gia thuộc Liên
hiệp Pháp, đồng thời làm gia tăng lạm phát và khó khăn ở Đông Dương.
Lợi dụng tình thế này Ngô Đình Nhu khéo léo kích động sự bất mãn và gợi ý
triệu tập Đại hội Đoàn kết các đảng phái quốc gia tại Sài Gòn vào đầu
tháng 9, sau khi Bảo Đại rời Việt Nam đi Pháp. Đại hội Đoàn kết diễn ra
ngày 5, 6 tháng 9 năm 1953 không xây dựng được liên minh nào và cũng
không đưa ra lập trường chính trị chính thức nào.
Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào
tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời
Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên. Trong hình ông đang đứng
nói chuyện với viên sỹ quan Pháp khi vừa đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà
Nội vào tháng 3/1954, vẫn trong bộ âu phục chải chuốt quen thuộc cùng
cặp kính râm lịch lãm (Ảnh: Life)
Tháng 10 năm 1953, các
đảng phái quốc gia lại nhóm họp và phê chuẩn quyết định bác bỏ sự tham
dự của Việt Nam vào Liên hiệp Pháp và ủng hộ việc độc lập hoàn toàn.
Đứng trước sự bất mãn tăng cao của các lãnh đạo đảng phái, tôn giáo, Bảo
Đại phải thân thiện hơn với Ngô Đình Diệm và cân nhắc lại khả năng bổ
nhiệm ông vào chức thủ tướng. Ngày 26 tháng 10, Bảo Ðại gặp Ngô Đình
Diệm ở Cannes để thăm dò lòng trung thành của ông này với Bảo Đại và khả
năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Tháng 12, 1953, Bảo Đại cách chức
Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và bổ nhiệm Nguyễn Phúc Bửu Lộc,
một thành viên của hoàng tộc, làm thủ tướng. Đầu tháng 3 năm 1954, sau
khi Bảo Đại chấp thuận trên nguyên tắc việc thành lập Quốc hội mới, Ngô
Đình Nhu và những đồng minh của ông xuất bản một bài viết ở Sài Gòn thúc
ép Bảo Đại nhượng bộ thêm. Đầu năm 1954, trong khi Pháp đang gặp khó khăn tại trận Điện Biên
Phủ, Bảo Đại liên tục nhờ người chuyển lời với ông Diệm đang ở Hoa Kỳ,
yêu cầu ông trở về nước thành lập chính phủ mới. Ông Diệm tiếp tục từ
chối lời mời của Bảo Đại với lý do không tin tưởng vào người Pháp. Sau
khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán hiệp ước trao trả hoàn
toàn độc lập cho Việt Nam. Ngày 16/6/1954, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Ngô
Đình Diệm tại Pháp. Ông Diệm đồng ý trở về nước làm Thủ tướng theo lời
mời của Bảo Đại với điều kiện Bảo Đại phải đồng ý để chính phủ do ông
thành lập được toàn quyền về chính trị và quân sự. Bảo Đại đồng ý với
yêu cầu này, sau đó ông Diệm về nước và chính thức được bổ nhiệm làm thủ
tướng. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới với nội các
gồm 18 người. Sau này Bảo Đại viết trong hồi ký của mình: “Từ những gì tôi biết về ông, tôi biết rằng ông Diệm là một người
khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín và xu hướng thiên về Thiên Chúa
của ông. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện tại, không có một lựa chọn nào tốt
hơn. Ông được người Mỹ biết đến, và họ đánh giá cao tính không khoan
nhượng của ông. Trong mắt họ, ông là người xứng đáng với chức vụ đó
nhất, và Washington sẽ không dè xẻn trong việc ủng hộ ông. Bởi vì quá
khứ [của ông Diệm] và bởi vì sự hiện diện của người em ông ở vị trí hàng
đầu của “Phong trào Công đoàn Quốc gia”, ông sẽ có được sự cộng tác của
những người quốc gia thế lực nhất, những người đã hạ bệ ông Tâm và ông
Bửu-Lộc. Cuối cùng, cũng vì tính không khoan nhượng và sự cuồng tín của
mình, ông là người ta có thể trông cậy được trong việc chống lại chủ
nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như
vậy.” Kế hoạch của Mỹ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để
giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất
để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh
và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập
một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị
chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn
thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp
pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia
không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam
Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Công thức này đòi hỏi một sự hợp
tác từ cả Pháp và Mỹ để hỗ trợ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Pháp không có
thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Edgar Faure (sau này là
thủ tướng Pháp) cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị điên... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta",
hơn nữa Pháp đang bị chia rẽ chính trị nội bộ và gặp khó khăn tại
Algérie nên rất miễn cưỡng trong việc giúp đỡ Quốc gia Việt Nam do đó Mỹ
đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.
Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu - Ảnh tư liệu
Ngày 23/10/1954, tổng thống Hoa Kỳ - Eisenhower gửi công hàm
chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Quốc
gia Việt Nam sẽ nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không
qua nhà đương cục Pháp như trước. Theo ông cơ hội duy nhất cho chính phủ quốc gia Việt Nam đứng vững được
là phải thoát khỏi những ảnh hưởng còn sót lại của Pháp, và ông quyết
định phải thực hiện mục tiêu đó. Quan điểm của Ngô Đình Diệm là "Muốn
thuyết phục được nhân dân Việt Nam là chính quyền này độc lập thì cần
thiết về mặt chính trị phải tỏ ra là chống thực dân và đặc biệt là chống
Pháp".Chỉ
sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền
phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương (một cơ quan do Pháp thành
lập), từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam
mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Quốc gia
Việt Nam quản lý. Tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp trong vòng năm
tháng thực hiện chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam mọi công tác của Quân
đội Quốc gia Việt Nam còn phụ thuộc vào bộ chỉ huy Liên hiệp Pháp. Phản ứng lại hành động của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đang từng bước loại
bỏ ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam, Pháp muốn duy trì ảnh hưởng tại miền
Nam nhưng lại gặp phải một Thủ tướng có tinh thần dân tộc nên họ tìm
mọi cách loại bỏ để thay thế bằng một người lãnh đạo thân Pháp. Thông
qua một số nhân vật ngoại giao như đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Douglas Dillon
tại Paris, Pháp tìm cách thuyết phục Mỹ đồng ý loại trừ ông Diệm bằng
cách chỉ trích ông thiếu năng lực và không có khả năng đại diện nhân dân
vì không có được sự cộng tác và ủng hộ của các phe phái tại Miền Nam do
đó không có khả năng thắng trong cuộc Tổng tuyển cử dự tính được tổ
chức năm 1956. Tài liệu mật số 1691/5 (ngày 15 tháng 4 năm 1955)
của Bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận Pháp muốn giữ vai trò lịch sử lâu dài của
mình tại Việt Nam và bảo vệ những đầu tư kinh tế, tài chính của Pháp
tại đây.
Viên sĩ quan dù cao cấp về sau trở thành tướng nổi loạn Nguyễn Chánh
Thi đã nhận xét về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm – Nhu: “Cứ
hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại miền Trung, có một linh
mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau họ là
sức mạnh chính quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con
chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải
xử theo ý của linh mục A, linh mục B, không thì mất chức. Một số linh
mục dưới chế độ Ngô Đình Diệm, họ sống như các ông vua của một xứ xưa
kia!..”.
Cũng theo linh mục Trần Tam Tỉnh, đáp lại các lời chỉ trích, giám mục
Thục nói với ICI, tạp chí Công giáo số 15/4/1963, rằng “Trên bàn giấy
của tôi chồng chất cả lô đơn xin tôi can thiệp cho họ ơn này, ơn nọ, khổ
thay thường chỉ là thế tục. Tôi không thể dửng dưng được trước lời kêu
gọi của họ! ở vào địa vị của tôi các ông sẽ xử sự như thế nào?”. Giả dối
đến thế là cùng!
Lúc
đó, Quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn ở Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm
trong Liên Hiệp Pháp, và Tổng Tham mưu Trưởng quân đội, tướng Nguyễn Văn
Hinh (con trai cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, người nổi tiếng thân Pháp)
là một sĩ quan cũ trong Không quân Pháp, có vợ là người Pháp. Cảnh sát
do lực lượng Bình Xuyên nắm giữ (thủ lĩnh là tướng Lê Văn Viễn),
ngay cả lực lượng an ninh văn phòng phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng do
cảnh sát gửi đến. Chính vì thế Pháp tìm cách loại trừ Ngô Đình Diệm
hoặc bằng một cuộc đảo chính, hoặc bằng cách thuyết phục Bảo Đại cách
chức ông Diệm và bất hợp tác với Mỹ trong việc huấn luyện quân đội Quốc
gia Việt Nam. Pháp tổ chức một cuộc họp chính trị có sự tham dự của
tướng Nguyễn Văn Hinh, lãnh đạo các giáo phái, một số quan chức Pháp và
đại sứ Mỹ Donald R. Heath tại Sài Gòn để đề nghị mọi người đồng ý thay
thế chính phủ Diệm. Tướng Nguyễn Văn Hinh có tham vọng làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam bắt đầu công khai chống lại Thủ tướng Diệm và còn khoe "Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.".
Ngô Đình Diệm đối phó bằng cách ra lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Hinh đi
nghỉ để nghiên cứu trong sáu tuần và phải xuất ngoại trong 24 giờ. Tướng
Nguyễn Văn Hinh bất tuân thượng lệnh. Một tuần sau, ông cho phổ biến
tuyên bố về việc ông không tuân lệnh ông Diệm và một điện tín ông đã gửi
thẳng cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp. Cùng ngày, Ngô Đình
Diệm tuyên bố tướng Hinh nổi loạn. Tướng Hinh cho xe thiết giáp bảo vệ
tư dinh của mình, đồng thời phái một lực lượng bao vây Dinh Độc Lập.
Trong thời gian 6 tuần tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc. Ngày 20
tháng 9 năm 1954,
15 bộ Trưởng trong nội các Ngô Đình Diệm đồng loạt từ chức. Quân đội
dưới quyền tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh để tấn công.
Trước tình thế đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi công điện cho Đại sứ Donald R. Heath và tướng John W. O'Daniel chỉ thị phải "nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh)
rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho
quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị
tổng tham mưu trưởng và các sĩ quan cao cấp." Cố
vấn quân sự Mỹ là Edward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính
phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực
lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quân
đội Việt Nam Cộng hòa. Sau khi Ngô Đình Nhu
và Edward Lansdale phát hiện được âm mưu đảo chính của tướng Nguyễn Văn
Hinh, Edward Lansdale đã mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng
Nguyễn Văn Hinh đi nghỉ mát. Thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo
chính đã không thể tiến hành được. Ngô
Đình Diệm đã buộc tướng Nguyễn Văn Hinh từ chức, giao quyền lại cho
tướng Nguyễn Văn Vỹ. Nguyễn Văn Hinh chạy đến Paris vào ngày 13 tháng 11
năm 1954. Ngô Đình Diệm đồng thời cương quyết từ chối cho thủ lĩnh Lực
lượng Bình Xuyên là tướng Bảy Viễn (tức Lê Văn Viễn) tham gia chính
quyền dù Bảy Viễn đe dọa "tắm máu" Sài Gòn nếu yêu cầu của mình không
được đáp ứng. Tháng
12 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh
tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định
Geneve và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau
đó Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp
Pháp. Ngày 22 tháng 3 năm 1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam
rút toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam. Ngày 26 tháng 4 năm 1956,
Pháp giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn. Ngoài ra
Thủ tướng Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với Quốc trưởng Bảo Đại khi
ông thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 chính thức sát nhập vùng
đất Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của
người Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên
Trung phần được dùng lại. Ông còn tổ chức những chiến dịch tuyên truyền
chống lại Quốc trưởng Bảo Đại.
Quốc
trưởng Bảo Đại thấy không điều khiển được Ngô Đình Diệm cũng tán thành
theo người Pháp, gây áp lực đòi Mỹ rút lại mọi ủng hộ cho chính phủ Ngô
Đình Diệm và gây sức ép buộc ông này từ chức. Bảo Đại muốn đưa Nguyễn
Văn Xuân lên làm Thủ tướng, hoặc Phó thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh làm Tổng
Tham mưu trưởng còn tướng Bình Xuyên, Bảy Viễn làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Các giáo phái lớn tại miền Nam không quyết định hoàn toàn ủng hộ bên
nào.
Ông Ngô Đình Khả, 5
người con trai Thục-Diệm-Nhu-Luyện-Cẩn và con dâu Trần Lệ Xuân.
Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại ra thông cáo từ văn
phòng của ông ở Paris tuyên bố cách chức Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô
Đình Diệm với lý do "việc dùng các biện pháp công an trị và chế độ độc tài
cá nhân phải kết thúc, tôi không thể tiếp tục để tên tuổi và quyền lực
của mình vào tay một người sẽ khiến cả nước rơi vào đổ nát, đói kém và
chiến tranh.". Tuy nhiên Ngô Đình Diệm đã chặn được thông điệp này khiến nó không đến được với dân chúng.Sau
đó, Tổng thống Mỹ, Eisenhower cử ông Joseph Lawton Collins thay thế
Donald R. Heath làm đại sứ tại Việt Nam. Tướng Pháp Paul Ély thuyết phục
Collins chống Ngô Đình Diệm. Collins chỉ trích Ngô Đình Diệm yếu kém và
đề nghị Mỹ tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm. Collins quay về Mỹ vài lần,
thuyết phục chính phủ Mỹ
gây sức ép buộc Ngô Đình Diệm từ chức. Thời điểm này, chính phủ của Ngô
Đình Diệm cũng như bản thân ông tồn tại được thực chất là nhờ những tác
động hết sức cần thiết của những người bạn là dân biểu và thượng nghị
sĩ Mỹ mà ông đã tranh thủ được khi sang Mỹ vận động vào năm 1950. Khi
Collins yêu cầu Washington phải thay thế Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Hoa
Kỳ, Dulles tham vấn Thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Thượng nghị sĩ Mike
Mansfield khen ngợi Ngô Đình Diệm hết lời nên Ngoại trưởng Dulles chỉ
thị Collins tiếp tục ủng hộ ông Diệm.
Hình ảnh điển hình ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời
du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám
dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại,
cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi
chánh, hai là bị tiêu diệt.
Khi
Collins trở về Mỹ, ngày 22 tháng 4 năm 1955, ông dùng bữa trưa với Tổng
thống Eisenhower. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại
diện Bộ Quốc phòng và Trung ương Tình báo
để thuyết phục các quan chức Mỹ khác đồng ý thay thế Ngô Đình Diệm và
phải có kế hoạch hành động ngay tức khắc. Collins đề nghị ông Phan Huy
Quát thay thế Ngô Đình Diệm. Ngày 27 tháng 4 năm 1955, Ngoại trưởng Mỹ
Dulles gửi điện cho Collins rằng "Tướng Collins và Ely phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp
có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và
Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức
tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và
chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định..." Mật
điện này lọt ra ngoài, Thủ tướng Diệm biết được nên đã ra lệnh tấn công
quân Bình Xuyên trong lúc ông Collins còn đang trên đường về Sài Gòn,
điều này khiến Mỹ không thể hỗ trợ lực lượng nào tại Việt Nam gây sức ép
buộc Diệm từ chức. Sau đó Bộ ngoại giao Mỹ tiếp tục sẵn sàng xem xét
các đề nghị thay thế Ngô Đình Diệm nhưng không tìm thấy chính trị gia
nào có thể cạnh tranh với Diệm. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"
nhưng ông bác bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vốn được dự
kiến diễn ra vào tháng 7 năm 1956 theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định
Genève với lý do không thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do
ở miền Bắc. và bác bỏ ngay cả những thảo luận sơ khởi với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa về vấn đề tuyển cử thống nhất Việt Nam. Hành động này khiến
Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây.
Theo
Mortimer T. Cohen thì Ngô Đình Diệm không chấp nhận tổng tuyển cử, vì
ông biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh,
vì ông là một George Washington của Việt Nam. Báo cáo của CIA gửi Tổng
thống Mỹ Eisenhower cũng cho rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh
nếu mở cuộc tổng tuyển cử. Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm
thành lập một chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17 để không thực
hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử tự do cho
việc thống nhất Việt Nam vì vậy đã không bao giờ được tổ chức. Năm 1956, Ngoại trưởng Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Trong tình thế này, Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève.
Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Theo
Cecil B. Currey, Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam
Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không. Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ Việt Nam có viết: "Cho
nên mới tháng 9 năm 1954 nghĩa là hai tháng sau ngày ký Hiệp định đình
chiến thì chúng đã nghĩ ra "sáng kiến" là làm thử tổng tuyển cử vài nơi ở
miền Nam. Ở Vĩnh Trà (Nam Bộ), tay sai của Ngô Đình Diệm tìm cách mua
chuộc nhân dân bằng cách đưa vải về một làng, phát cho dân rồi tuyên
truyền cho Bảo Đại, phát phiếu cho dân làng bầu. Kết quả mà chúng lo sợ
đã đến: chúng đã không mua chuộc nổi: 95% số phiếu dồn cho Hồ Chủ tịch,
Bảo Đại chỉ được 5%. Chúng uất đến tận cổ. Báo cáo kết quả lên "thượng
cấp" thì lại bị chỉnh một mẻ nên thân. "Thượng cấp" cho là chúng không
tích cực tuyên truyền vận động, và bắt chúng phải làm lại. Chúng lại tìm
cách mua chuộc một lần nữa. Một số vải, gạo, thuốc men, đưa về để phát
cho dân, kèm theo một đợt tuyên truyền thứ hai. Nhưng cũng như lần
trước, không ai chịu để chúng mua chuộc. Kết quả cuộc bỏ phiếu thứ hai
là 100% bầu Hồ Chủ tịch. Ở cực Nam Liên khu V cũng diễn ra trò hề tương
tự, và cũng thất bại không kém chua cay".
Khi Quốc
trưởng Bảo Đại ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp để tường trình về
việc trấn áp Bình Xuyên thì ông đã sửa soạn ra đi nhưng những người ủng
hộ ông can ngăn. Theo tướng Trần Văn Đôn thì Bảo Đại dự định khi Ngô
Đình Diệm ra khỏi nước sẽ cách chức liền, đưa Lê Văn Viễn, Tư lệnh Bình
Xuyên lên làm Thủ tướng. Tại
miền Nam, từ 1954-1955, với cương vị thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu
phục lực lượng Bình Xuyên, lực lượng vũ trang của các giáo phái Hoà Hảo,
Cao Đài được Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông. Trong nước, ông
được Ủy ban Cách mạng Quốc gia
gồm nhiều đoàn thể, đảng phái ủng hộ. Ông cũng được gần một triệu người
di cư hậu thuẫn mạnh mẽ. Ngoài nước, Ngô Đình Diệm đã cương quyết chống
trả kế hoạch lật đổ ông của hai tướng Ély-Collins nên bây giờ được
Washington ủng hộ. Quốc gia Việt Nam tổ chức cuộc trưng cầu dân ý
miền Nam Việt Nam, 1955
đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành
Quốc trưởng. Cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận như tại Sài
Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ
có 450.000 cử tri ghi tên. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ
chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành
Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Chính thể
mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và
sau đó ông được bầu làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam. Hai
năm sau, năm 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu
tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng hoà. Ngày 22 tháng 10 năm 1960, Tổng thống Mỹ, Eisenhower gửi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm "Chúng
tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã
biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà
nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình
trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay
thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng...".
VNCH tảo thanh phiến quân Bình Xuyên cuối tháng 4-1955 tại Saigon – Photo by Howard Sochurek
SAIGON (5/5/1955) KINH HOÀNG GIỮA TIẾNG NỔ ẦM ẦM CỦA CUỘC NỘI CHIẾN
— Người dân tỵ nạn Nam VN sợ hãi co rúm người lại cạnh bên một ngôi nhà
gỗ tại Saigon trong trận giao tranh bằng súng cối giữa binh sĩ của TT
Ngô Đình Diệm với các phiến quân Bình Xuyên. Người phụ nữ đang khóc lấy
tay bịt tai để chận bớt âm thanh của trận giao tranh. Người phụ nữ lớn
tuổi ở bên phải túm chặt túi đồ trong lúc nhìn về phía đang giao tranh.
Các lực lượng của ông Diệm đã tuyên bố thắng lợi hoàn toàn đối với quân
phiến loạn vào hôm thứ tư, khi các nhà lãnh đạo khắp Nam VN tập họp để
xem xét tình hình. (Ảnh của Tạp chí Life từ AP Wirephoto)
Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: "Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền". Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa
là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông. Ông ban phát ân huệ cho
thuộc cấp theo ngẫu hứng, bất chấp năng lực lẫn tình hình thực tế. Không
có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều sử gia gọi Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa
là Ngô triều. Theo nhiều hồi ký của tướng lĩnh dưới thời ông Diệm kể
lại, thì khi vào cửa Tam quan ở các đền thờ vua chúa, ông Diệm thường
nói: "Các ông đi cổng hai bên, vì cổng giữa chỉ có vua mới được đi. Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc này". Dứt câu, ông Diệm đi vào bằng cổng giữa. Nội chuyện xây dựng Dinh Độc Lập và ý định dời đô từ Sài Gòn lên cao nguyên
đã khiến ông Diệm càng trở nên xa cách với giới tướng lĩnh. Ngay cả
người gần gũi với gia đình ông như tướng Trần Văn Đôn còn bất mãn với sự
độc đoán này của ông Diệm. Nhà báo đương thời tại miền Nam, ông Vũ Bằng nhận xét:
"Lúc
ấy sau ba lần thắng Bình Xuyên và áp dụng biện pháp mạnh đối với các
giáo phái, thắng lợi, Ngô Đình Diệm bắt đầu có lông có cánh, ra mặt
chống Bảo Đại, không đi Pháp để trình với Quốc trưởng về các biến cố ở
nước nhà, mà ở lì trong nước tập làm độc tài
cỏ, đưa họ hàng lên nắm hết các chức vụ quan trọng… Nam Việt Nam lúc
bấy giờ là một nhà nước cảnh sát do hai gia đình quan lại Trần Văn và
Ngô Đình nắm hết quyền hành. Gia đình Trần Văn còn trung thành phần nào
với tập tục cổ truyền của nhà vua Bảo Đại, chớ họ Ngô Đình thì trắng
trợn ly khai với chế độ cũ và nuôi cái mộng lập một triều đại mới: triều
đại Ngô Đình.Cố nhiên muốn thực hiện mộng đó, phải tàn ác diệt trừ những cá
nhân, đoàn thể chống đối, mà cá nhân và đoàn thể chống đối lúc ấy là
những người gốc ở miền Bắc và miền Nam chỉ muốn nhà Ngô giữ lời đã hứa
là tổ chức một cuộc bầu cử để họ có thể bầu người đại diện của họ lên lo
việc nước. Theo những người có tiếng là chống đối này, ông Diệm “là một
lính nhảy dù do Mỹ thả từ trên trời xuống mà không có rễ ở dưới đất”. Báo chí cúi đầu theo răm rắp, suy tôn Ngô tổng thống. Vào chiếu
bóng, rạp hát, phải chào cờ và đứng nghiêm nghe nhạc trổi bài “Toàn dân
Việt Nam biết ơn Ngô tổng thống – Ngô tổng thống, Ngô tổng thống… muôn
năm” cho đến khi lá cờ vàng sọc đỏ mờ dần cùng với cái hình ông Diệm lùn
mập. Báo chí không lúc nào ngưng suy tôn Ngô tổng thống. Mọi việc đều
trơn tru, êm đẹp. Nếu không có Ngô tổng thống thì toàn dân chết không
còn một mống. Muôn năm, muôn năm!"
Quyết tâm tránh các biện pháp mà Ngô Đình Diệm coi là
"ăn cướp và tra
tấn dã man" như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc, Tổng thống
Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất
vượt quá giới hạn, chứ không tịch thu.
Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các
nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi
trong kỳ hạn sáu năm để mua.
Tuy vậy, đường lối Cải cách điền địa mà
Ngô Đình Diệm đề ra bị nông dân miền Nam phản đối dữ dội. Trong khi Việt
Minh đã giảm thuế, xóa nợ và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho
nông dân nghèo, Ngô Đình Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại.
Đến cuối thời Ngô Đình Diệm, 10% chủ đất đã nắm giữ 55% đất canh tác cả
miền Nam. Nông dân phải trả lại đất cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê
đất và phải nộp cho quân đội. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông
thôn, quân đội của Ngô Đình Diệm bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp". Đất của các Giáo xứ Công giáo
thì còn được Ngô Đình Diệm thiên vị, cho miễn thuế và hạn mức. Kết quả
là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập
trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Sau khi lên làm
tổng thống, ông giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình
Nhu
làm cố vấn và cả hai người đều sử dụng các phương pháp cứng rắn để
chống lại những người kháng chiến Việt Minh được sự hỗ trợ của chính
quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Trong khi nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa được xây dựng trên học thuyết xã hội chủ nghĩa thì hai
anh em xây dựng Chủ nghĩa nhân vị như là một học thuyết làm nền tảng ý
thức hệ cho nhà nước ở miền Nam Việt Nam với chính đảng Cần lao Nhân vị. Theo
Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến
Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng
Quân đội Nhân dân ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17.
Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành
vẫn được bố trí ở lại.
Đồng thời một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh
nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ
chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm lực lượng vũ trang giáo
phái để dự phòng cho việc phải chiến đấu vũ trang trở lại. Việt Minh
cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần.
Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu
chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng
ngũ đối phương.
Tội ác của chế độ VNCH
Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định "Những
hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián
tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc
ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng
sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới
đồng thời cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Dù vậy hệ thống tổ chức bí mật của Việt Minh vẫn tiếp tục tồn tại và
phản kháng bằng cách tuyên truyền chống chính phủ, tổ chức những cuộc
biểu tình chính trị gây sức ép lên chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Chính
quyền Ngô Đình Diệm đối phó với những cuộc đấu tranh chính trị
bằng cách thực hiện chiến dịch tố cáo cộng sản nằm vùng nhằm loại bỏ
những cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Chính quyền của Ngô Đình Diệm
luôn luôn quan niệm cộng sản là kẻ thù chính, nhiệm vụ phản công là tối
ưu, phải đẩy mạnh nhiệm vụ chống cộng. Ông Ngô Đình Diệm rất nổi tiếng với các khẩu hiệu: "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót";
thể hiện quyết tâm chống Chủ nghĩa Cộng sản tới cùng của ông. Để thể
hiện lập trường sẽ tận diệt cán bộ Việt Minh, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố
công khai:
"Thấy cộng sản ở đâu là phải bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho cộng sản cũng bắn bỏ ngay"
Theo báo Nhân dân, ngay từ cuối năm 1954, theo lệnh Mỹ, chính quyền
Ngô Đình Diệm đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh,
Chợ Được, Mỏ Cày, Củ Chi, Bình Thành,v.v. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố cộng"
giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; tháng 6-1955, mở chiến dịch
Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp
của Việt Minh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến hành các chiến dịch tố
cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... một
cách quyết liệt
không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như
hoàn cảnh lịch sử Việt Nam. Những biện pháp cứng rắn nhất được áp dụng,
ví dụ ngày 16-8-1954, quân Việt Nam Cộng hoà đã nổ súng trấn áp đoàn
biểu tình ở thị xã Gò Công, bắn chết 8 người và 162 người bị thương.
Trong
thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có
48.250 người bị tống giam,
theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành
quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn
hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung.
Điều này đã làm biến dạng mô hình xã hội, suy giảm niềm tin của dân
chúng vào chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy những người kháng chiến (Việt
Minh) vào rừng lập chiến khu. Việt Minh đáp trả bằng những cuộc biểu
tình đòi thả cán bộ của họ hoặc tổ chức các cuộc diệt ác trừ gian - tiêu diệt nhân viên và cộng tác viên của chính quyền Ngô Đình Diệm được gọi là "bọn ác ôn và bọn do thám chỉ điểm".
☜ Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless
War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press,
1989, trang 149: “Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là
con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào
khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên
tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền
của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn
dựng đứng.”
(Careful later studies, however, have estimated that the true figures
for those executed in the noerthern land reform may have been more like
1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed
according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on
the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)
Đưa ra những tài liệu phản biện như trên không có nghĩa là tôi
biện hộ cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất của Việt Minh mà chỉ là đối với tôi, những
tài liệu ngụy tạo để chống Cộng như trên có thể thích hợp trong thời chiến, nhưng
nay viết lại lịch sử thì phải viết cho đúng với sự thật, bất kể sự thật đó
là như thế nào. Mặt khác, nếu số người bị giết trong cuộc Cải Cách Ruộng
Đất như trên mà gọi là “genocide” thì số 300000 (3 trăm
ngàn) người chết oan trong chiến dịch tố Cộng của Ngô Đình Diệm thì gọi
là gì?
Trên đây là một số trong những hình ảnh
trong chính sách Tố Cộng tàn nhẫn của chính quyền miền Nam.
Để
tăng tính uy hiếp, Việt Nam Cộng hòa sử dụng cả máy chém
để hành quyết phạm nhân. Nhiều vụ xử chém của Việt Nam Cộng hòa được
diễn ra công khai trước dân chúng, đầu phạm nhân được đem bêu để cảnh
cáo. Báo The Straits Times (Singapore) ngày 24 tháng 7 năm 1959 có bài
viết tường thuật cảnh 1.000 người dân xem xử chém ở Sài Gòn. Báo Buổi
sáng (Sài Gòn) ngày 15-10-1959 có viết: “Theo
một phán quyết của phiên xử vắng mặt của Tòa án Quân sự Đặc biệt ngày
02 tháng 10, Nguyễn Văn Lép, tức Tư Út Lép, một Việt Cộng, đã bị tuyên
án tử hình. Cách đây một tuần, Lép đã bị sa vào lưới của Cảnh sát trong
một khu rừng ở Tây Ninh. Bản án tử hình đã được thi hành … Hiện đầu và
gan của tên tử tù đã được Hội đồng xã Hào Đước cho đem bêu trước dân
chúng". Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua
luật số 91 mang tên
Luật 10-59, sau đó được tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký
ban hành. Luật này quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt
với lý do "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa",
mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt
Nam. Theo luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không
cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai,
xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ
tử hình có cả máy chém.
Sau khi luật này được ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính
quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng
viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị thiệt hại nặng nề. Như vậy, có thể thấy, được
sự hà hơi tiếp sức của Mỹ và sau khi thu tóm quyền lực, củng cố cái
chính thể phản bội quyền lợi của Dân tộc Việt có tên gọi là Việt Nam
Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm quay sang ra sức triệt phá các cơ sở cách mạng,
lùng sục ráo riết, bắt bớ và giết chóc hàng loạt những người từng tham
gia cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp mà chúng gọi là Việt Cộng
và người kháng chiến cũ. Sự đàn áp khốc liệt đó với cao trào là luật
10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam - Việt Nam đã gây ra biết bao nhiêu
đau thương, tang tóc cho đồng bào miền Nam, và đặc biệt nghiêm trọng là
nó đã chà đạp tan nát Hiệp định Giơnevơ, làm cho sự chờ đợi 2 năm xum
họp nước nhà của toàn thể nhân dân Việt Nam trở thành vô vọng.
Bài thơ “Ngô
Thuốc Độc Ngợi Ca máy Chém” (trích từ “Chế Lan Viên Toàn tập”) và những tài
liệu Việt Mỹ dưới đây
(kể cả tài liệu của Việt Nam Cọng hòa) đã chứng minh Đạo Luật 10/59 và
chiếc máy chém do Pháp để lại đã từng là nỗi hãi hùng của nhân dân miền Nam dưới
thời Ngô Đình Diệm. Biết bao người dân vô tội cũng đã bị chết oan vì bọn Mật vụ
Cần Lao Công giáo ác ôn vu oan giá họa vì tư thù … Chế độ Diệm nhờ hai đế quốc Mỹ
và Vatican mà thành hình, chế độ nầy được cho là thay Pháp nhưng lại vẫn duy trì hai di sản của Thực dân Pháp
để lại: Đó là Đạo dụ số 10 để đạp
các tôn giáo khác xuống bùn cho Công giáo được đặc quyền đặc lợi, và chiếc máy chém hãi hùng chặt đầu những
ngưòi yêu nước. - NG
Ngô thuốc độc ngợi ca
máy chém
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Việt gian thành chí sĩ
Chúng nó mua máy Mỹ
Về cắt đầu dân ta...
Tiếng Ngô thuốc độc:
Ngô bảo: giết người là trọng đại
Việc máu Ngô xem như việc nhà
Huống nữa nay làm nên Tống thống
Giết người, không thể giết qua loa
Lối chém Nam Triều khá hủ hậu
Nhiều gươm mà ít kiếm ra máu
Nước mình tiếng thế nhưng đông dân
Giết người, máu phải cho đầy chậu
Quan Mỹ ngày nay vốn đại tài
Xoẹt qua một lúc, chục đầu rơi
Tính xem! Mười máy kia cùng chém
Ngô có ngay một trăm nụ cười
Đã chém còn bày lắm khó khăn
Pháp trường với không phải pháp trường!
Đâu là Tổ quốc, đấy, Ngô chém
Nơi nào chẳng kiếm được đầu dân!
Chém kiểu Ngô đây quả rất tiện
(Ưu tiên cho những đầu kháng chiến)
Ngô thề có trời, Ngô thương dân
Máy đến tận nhà dân để chém
Máy dong miền Đông, dong miền Tây
Chỉ huy đã có ông quan thầy
Nghề chém như nghề Ngô Tổng thống
Nơi nào có máu thì đi ngay
Lối chém ngày xưa cũng lắm tuồng
Chém chui chém nhủi chả ra hồn
Như sợ mặt trời uống mất máu
Chém người phải trốn giữa mù sương
Ngô chém bây giờ rất hãnh diện
Thầy Mỹ về trông, quan khách đến
Máu người, Ngô để cho người xem
Không có mặt trời thì bật điện
Lũ báo nhà Ngô văn viết... mau
Bút ngâm trong máu đỏ đồng bào
Tâu rằng: Ngô chém rất... nhân vị
Toàn rặt sọ dừa dân... cần lao
Máy Ngô đi trước, mồm theo sau
Mồm phun đỏ máu câu từng câu
Khen: Ngô yêu nước như yêu máu
Máu rơi một sắc, văn trăm màu
Lại ca: thầy Mỹ xưa cho bom
Giờ cho máu chém siêu linh hồn
Xương người vây trắng dinh Ngô ở
Máu người thắp đỏ phố U-ôn
Tiếng vọng trong gió:
Xứ "ông" Diệm cộng hoà
Trăm sự đều của Mỹ
Máy chém thì... nhân vị
Sơn màu U.S.A.
Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (Vũ Thị Thường sưu
tầm và biên soạn)
Máy chém (Guillotine) thời Ngô Đình Diệm được sử dụng tại
miền Nam để chặt đầu nhân dân yêu nước, hiện được trưng bày
tại Bảo tàng Chứng tích Tội ác Chiến tranh, Sài
Gòn
Nói đến tội ác của chế độ VNCH thì pkải kể đến khu Chín Hầm:
Chín Hầm vốn là một kho tàng
trữ vũ khí do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941. Năm 1946 thực dân
Pháp quay lại và biến nơi đây thành nơi giam giữ tù binh. Từ năm 1954, Cố vấn Trung phần Ngô Đình Cẩn đã dùng nơi này
để biệt giam những người Cộng sản và một số người dân Huế đấu tranh
chống chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô. Khu trại giam Chín Hầm gồm các căn hầm được phân bố trên 2/3 quả đồi, cửa hầm hướng xuống chân
đồi. Hầm có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, xây dựng kiên
cố bằng bê tông cốt sắt, trần hầm có độ dày 0,5m. Trừ hầm số 1 chìm sâu
xuống lòng đất, các hầm còn lại đều nổi lên mặt đất từ 1/3 đến 2/3
chiều cao của hầm. Trong hầm được chia thành 2
dãy xà lim chuồng cọp, mỗi chuồng rộng 0,9m, dài 0,2m, cao 1,5m phía
trên đầu là một lưới sắt, mỗi hầm có 1 lỗ thông hơi nhỏ.
Gọi là Chín Hầm nhưng thực
ra chỉ có 8 hầm và 1 căn nhà gác (thường gọi là hầm số 9). Đây là một
khu nhà tầng được thiết kế như một pháo đài, dùng làm nơi làm việc của
các tay sai dưới quyền Ngô Đình Cẩn. Đây cũng là nơi tra tấn, khảo cung
những người có án nhẹ. Riêng hầm số 6 được gọi là
"địa ngục trần gian", được sử dụng để tra tấn tù nhân bằng những hình
thức cực kỳ tàn bạo như đóng người lên tường, dùng dao xẻo thịt... Rất
nhiều chiến sĩ cách mạng đã hi sinh trong căn phòng này. Hầm số 8 giam giữ tù nhân là
tình báo - Năm 1963 khi bà con miền Trung lên nhà giam Chín Hầm đập phá
đến căn hầm số 8 người ta thấy nhà tình báo - Đại tá Nguyễn Minh Vân là một trong ba đồng chí còn sống sót. Dưới sự cai trị của Ngô Đình
Cẩn, Chín Hầm đã chứng kến cái chết của hàng trăm tù nhân, phần lớn do
bị tra tấn, một phần do bệnh tật, đói rét từ điều kiện sống vô cùng cực
khổ.
Ngay ngày gia đình họ Ngô bị
đảo chính 2/11/1963), Ngô Đình Cẩn bị bắt, người dân xứ Huế dưới sự
lánh đạo của các cán bộ cách mạng tại địa phương đã lên khu Chín Hầm phá
các nhà giam và giải phóng cho các tù nhân ở đây. Ảnh: Một chốt gác
được phục dựng.
Trong những năm sau đó, Chín
Hầm bỏ hoang. Chịu sự phá hủy của chiến tranh và thời tiết, khu nhà
giam khét tiếng một thời chỉ còn là phế tích đổ nát. Đến năm 1993, nơi
đây đã được công nhận là một di tích lịch sử. Ảnh: Một bức tường của hầm
số 3.
Khu di tích lịch sử Chín Hầm nằm dưới chân núi Thiên Thai, thuộc xã Thủy An, thành phố Huế là một địa danh lịch sử gắn liền với tên tuổi của Ngô Đình Cẩn, nhân vật được mệnh danh là "Bạo chúa miền Trung" dưới thời Ngô Đình Diệm.
Có
những thông tin khác nhau về việc Ngô Đình Diệm muốn Hoa Kỳ (và cả
Trung Hoa Dân Quốc) đưa quân vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam hay
không. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Ngô Đình Diệm nhờ Linh mục
Raymond de Jaegher, người Bỉ quốc tịch Mỹ, xin với Đại sứ Mỹ Elbridge
Durbrow cho Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Sài gòn với lý do bảo vệ
công dân Mỹ và kiểm soát phi trường Tân Sơn Nhất.
Chân dung Trần Lệ Xuân vào thập niên 1950
Trần
Lệ Xuân, thường được biết đến với tên gọi Madame Nhu, sinh ngày
22 tháng 8 năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình quý tộc Bắc bộ. Bà
là con gái của ông Trần Văn Chương, một luật sư nổi tiếng, và bà Nam
Trân, một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong giới thượng lưu. Tuổi thơ của
bà Xuân được bao bọc trong sự giàu sang và giáo dục tốt đẹp, chuẩn bị
cho bà một tương lai đầy triển vọng. Bà lớn lên trong môi trường giáo
dục truyền thống và tinh hoa, nơi mà sự khôn ngoan, trí tuệ và sự thanh
lịch được coi trọng. Những
ảnh hưởng từ gia đình và sự khắt khe của người mẹ đã hình thành nên
tính cách mạnh mẽ và độc lập của bà, giúp bà trở nên tự tin và đầy bản
lĩnh. Năm 1943, ở tuổi 19, Trần Lệ Xuân kết hôn với Ngô Đình Nhu, một
nhân vật có tầm ảnh hưởng trong chính quyền Việt Nam.
Bà Trần Lệ Xuân từng cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng,
tượng này có khuôn mặt giống hệt hai mẹ con bà: Trần Lệ Xuân - Ngô Đình
Lệ Thủy. Nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng Trưng Trắc có
khuôn mặt giống với bà và Trưng Nhị có khuôn mặt giống với con gái của
bà là Lệ Thuỷ. Thời điểm ấy, nhà thơ Đông Hồ có bài thơ châm biếm “Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng” như sau :
"Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng Đón gió lại qua người ưỡn ẹo Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng Khuynh thành mặt đó y con ả Điêu khắc tay ai khéo cái thằng! Chót vót đứng cao càng ngã nặng Có ngày gãy cổ đứt ngang lưng... Đây một hình xưa nhục nước non Thay hai hình mới đứng thon von Mình ni lông xát lưng eo thắt Ngực xu chiêng nâng vú nở tròn Tưởng đứng hiên ngang em với chị Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con Dòng sông Bến Nghé, dòng sông Hát Lưu xú lưu phương tiếng để còn".
Theo sử gia Joseph Buttinger thì “Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam”.
Do đó sau này, ngày 2–11–1963, khi họ Ngô vừa bị đảo chính, nhiều người
dân Sài Gòn đã kéo nhau dùng một dây sắt nối với một tàu thủy để kéo
sập tượng đài này, và chở trên xe xích lô máy đi diễu khắp Sài Gòn chiếc
đầu tượng mang gương mặt bà Xuân.
Ngày 20 tháng 10 năm
1961, tướng Mỹ Maxwell D. Taylor
hội thảo với Ngô Đình Diệm lần đầu tiên, Ngô Đình Diệm đề nghị một hiệp
ước hỗ trợ quân sự, gia tăng quân số Việt Nam Cộng Hòa và yểm trợ không
quân của Mỹ. Ngày 27 tháng 10 năm 1961, Taylor hội thảo với Ngô Đình
Diệm lần thứ hai và đề nghị đưa bộ binh Mỹ
vào miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ chính thức là cứu lụt, Diệm rất tán
thành. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm "không
những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh, mà còn
tuyên bố đại đa số dân miền Nam chào đón (welcome) việc này." Trong
buổi họp ngày 13 tháng 10 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
Cộng hòa Nguyễn Đình Thuần đã đề nghị Mỹ hãy duyệt gấp những yêu cầu của
Tổng thống Diệm, trong đó đó đề nghị Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc (Đài
Loan) gửi quân đến Việt Nam, cụ thể:
Gửi thêm các phi đoàn khu trục cơ AD-6 và các phi công dân sự Mỹ để điều khiển máy bay.
Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc quân Mỹ “cố vấn tác chiến” cho quân Việt
Nam Cộng Hòa. Một phần quân số này sẽ đóng gần vĩ tuyến 17 để Việt Nam
Cộng Hòa rảnh tay chống quân du kích dân tộc thiểu số ở Tây nguyên.
Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị (của ông Diệm) xin
Trung Hoa Dân Quốc gửi một sư đoàn quân tác chiến vào khu vực hành quân ở
vùng Tây Nam.
Còn theo lời Bùi Kiến Thành,
cộng sự thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì đến năm 1962, Ngô
Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào Việt Nam mà muốn đàm phán với chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính vì điều này mà người Mỹ đã chỉ đạo các
tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khởi động cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình
Diệm: "... Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người
Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử
không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân
dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng
tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể
nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng Hòa)
cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì
kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể
chấp nhận được... Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ
đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan,
dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn sẽ
thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho
mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để
không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam... Qua sự trung
gian của đại sứ
Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp… qua các cuộc đi săn bắn
của ông Nhu
trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẻ, chưa hẳn là
thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì
họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và họ đưa việc này ra cho mấy
ông tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu
"bán nước cho cộng sản", vì vậy các anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô
Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các
anh cho cộng sản... Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định
rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không
thể làm được cho nên chờ tới năm 1964 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng
rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô
Đình Diệm bị lật đổ,
Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một
số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hòa... Người Mỹ
không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ
ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế
khác... Việc đảo chánh Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn
Minh, ông ta chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ
cũng như mấy ông kia cũng chỉ là con cờ, còn người chỉ huy, đưa ra tất
cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này là người Mỹ, mà người
đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá tình báo Lucien Conein, ngồi
thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia, thành
ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của
Mỹ, nghe có cay đắng không?". Từ
năm 1957 đến năm 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hai lần nhưng
ông may mắn thoát chết. Lần đầu tiên do Hà Minh Trí, một người cộng sản
dưới lốt thành viên Cao Đài thực hiện ngày 22 tháng 2 năm 1957 tại "Hội
chợ Kinh tế Cao nguyên" ở Buôn Ma Thuột, lần thứ hai do hai phi công
thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, vốn
là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng, ném bom vào dinh Tổng thống ngày 27
tháng 2 năm 1962.
Hà Minh Trí là ai?
Hà Minh Trí (thường được biết đến là, Đại tá Mười Thương;
1935-2020) là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sĩ quan cao cấp của
lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Nguyên tên khai sinh của ông là Phan Văn Điền, sinh
ngày 18 tháng 8 năm 1935, tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, Nghệ An.
Nhà nghèo, cha ông đi làm lính khố xanh, do tham gia Binh biến Đô Lương
và bị xử tử khi ông mới 5 tuổi. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng
3 năm 1945, ông bỏ nhà lưu lạc vào Nam, vào tận Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại
đây, ông được một cán bộ Việt Minh nhận nuôi và đặt cho cái tên mới: Đinh Văn Phú. Ông tham gia cách mạng từ đây.
Chân dung Anh hùng, Đại tá Phan Văn Điền
....Tháng 10/1956, ông MườiThương được giao nhiệm vụ ám sát Tổng thống Việt
Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm khi ông ta lên Tây Ninh, nhưng do tổ chức
không nắm chính xác ngày, giờ nên kế hoạch không thực hiện được. Cũng
trong năm đó, ông lại chủ động đề xuất cho thực hiện nhiệm vụ này vào
đêm Noel tại Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (TPHCM ngày nay), nhưng lại một
lần nữa kế hoạch bất thành do lịch trình của Ngô Đình Diệm đột ngột thay
đổi.
Tháng 2 năm 1957, Hà Minh Trí
cùng các đồng đội vạch ra kế hoạch tỉ mỉ cho việc ám sát lần ba Ngô
Đình Diệm. Sáng ngày 22 tháng 2, hội chợ Tây Nguyên khai mạc. Hà Minh
Trí trong bộ trang phục cải trang đã tiến gần hàng rào bảo vệ,
chỉ cách vị trí tổng thống Diệm đứng chưa đầy 20 mét. Khi tất cả chuẩn
bị chào cờ, ông nổ súng vào mục tiêu đã định. Tuy nhiên, súng chỉ nổ 2
phát thì bị hóc. Do bị cưa nòng và báng súng
nên độ chính xác của súng bị giảm đi rất nhiều, vì vậy đạn không đi đúng
mục tiêu và bắn trúng vào Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Công. Hà
Minh Trí nhanh chóng bị lực lượng an ninh bắt giữ.
Đảo
chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1960 là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên
tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn ChánhThi và trung tá Vương Văn
Đông
cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài
Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh
quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quần chúng.
Kế hoạch đảo chính đã được Vương Văn Đông và các quan chức bất bình
với chế độ Ngô Đình Diệm, trong đó có Đại tá Nguyễn Chánh Thi, chuẩn bị
trong một năm. Vương Văn Đông đã cấu kết được với một trung đoàn xe thiết giáp, một đơn vị hải quân và ba tiểu đoàn
quân nhảy dù. Cuộc đảo chính được dự định vào 5 giờ sáng ngày 11 tháng
11. Tuy nhiên kế hoạch đã được thực hiện không hiệu quả, quân nổi loạn
đã không tuân thủ chiến thuật đã được viết ra như chiếm giữ đài phát
thanh và phong tỏa các con đường vào đô thành Sài Gòn. Họ cũng đã không
thể cắt đường dây liên lạc điện đàm vào dinh Độc Lập,
điều này khiến cho Ngô Đình Diệm có thể liên lạc được với các đơn vị
trung thành đến bảo vệ mình. Quân đảo chính đã bao vây dinh Độc Lập
nhưng trì hoãn tấn công trong 36 giờ vì tin rằng Ngô Đình Diệm sẽ tuân
thủ theo yêu sách của họ. Lợi dụng thời gian trì hoãn này, Ngô Đình Diệm
đã xuống tầng hầm dinh Độc Lập và viết một bài diễn văn hứa hẹn sẽ có
bầu cử tự do và công bằng và các biện pháp tự do khác. Khi các thỏa hiệp
đang được phát trên các phương tiện truyền thông ngày 12 tháng 11,
lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao
tranh diễn ra chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết,
trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem giao tranh. Lực
lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.
Sau
cuộc chiến là một cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm với những người chỉ
trích và nhiều bộ trưởng nội các bị bỏ tù. Một số sĩ quan quân đội và
chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình
Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.
Các
mối quan hệ của chế độ Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ đã trở nên tồi tệ hơn
trong năm 1963, do sự bất mãn ngày một tăng trong phần lớn Phật tử ở
miền Nam Việt Nam. Tháng 5 năm 1963, ở Huế
một thành phố trung tâm của đạo Phật, theo Topmiller, người anh của Ngô
Đình Diệm là tổng Giám mục Ngô Đình Thục
đã cấm phật tử và nhà chùa treo cờ nhà Phật trong lễ Phật đản căn cứ
trên quy định cấm treo các loại cờ tôn giáo ở nơi công cộng. Còn theo
tác giả Nguyễn Hiền Đức, Ngô Đình Cẩn chỉ thị cho Tỉnh trưởng
yêu cầu ban Tổ chức lễ Phật Đản chỉ cần thông báo cho toàn thể tín đồ
Phật giáo đừng treo cờ Phật giáo trong ngày lễ, Phật tử nào đã treo cờ
rồi thì cứ để cho treo hết lễ
Vài ngày trước đó thì người Công giáo lại được phép treo cờ trong các
lễ kỷ niệm của họ. Tuy nhiên, sau đó Phật giáo và chính quyền thành phố
Huế đã đạt được thỏa thuận cho phép dân chúng treo cờ Phật giáo. Nhưng thượng tọa Thích Trí Quang vẫn quyết định tiếp tục đấu tranh nhằm chống lại quy định của chính quyền.
Trong lúc Phật tử tụ tập trước đài phát thanh Huế chờ nghe bài diễn văn
của Thượng tọa Thích Trí Quang đã xảy ra vụ nổ giết chết 9 thường dân
không vũ trang. Mặc dù tỉnh trưởng bày tỏ sự cảm thông và chia buồn sâu
sắc đối với thân nhân những người chết và đề xuất bồi thường cho gia
đình nạn nhân, nhưng tỉnh trưởng vẫn nhất quyết phủ nhận lực lượng của
chính phủ đàn áp giết chết người biểu tình, đồng thời cho rằng Việt Cộng
là thủ phạm. Theo Karnow, lực lượng an ninh quân đội Việt Nam Cộng hòa đã đàn áp cuộc
biểu tình của Phật giáo. Ngô Đình Diệm và những người cùng phe cáo buộc
Việt Cộng phải chịu trách nhiệm về những cái chết của thường dân và
tuyên bố những người biểu tình phải chịu trách nhiệm về tình trạng bạo
lực. Các tổ chức Phật giáo đã đưa ra một bản Tuyên ngôn gồm 5 điểm: tự do
treo cờ tôn giáo, chấm dứt bắt bớ bừa bãi, bồi thường cho các nạn nhân
Huế, các quan chức chịu trách nhiệm về vụ đàn áp phải bị xử lý và bình
đẳng tôn giáo.
Hình ảnh một cuộc đàn áp Phật giáo của chính
quyền độc tài Ngô Đình Điệm năm 1963 - Ảnh: tư liệu của GHPGVN tỉnh
Thừa Thiên - Huế
Cuộc diễu hành của phật tử Huế ngày 8/5/1963 - Ảnh: HALSCuộc
biểu tình của đồng bào phật tử và SV,HS trước chợ Bến Thành Sài Gòn.
Cảnh sát chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắn chết nữ sinh Quách Thị Trang
Đoàn biểu tình của Tăng Ni và Phật tử ngồi tại chỗ- khi quân đội và cảnh sát chặn lại trên đường đi, năm 1963 (ảnh của Corbis)
Quần
chúng Phật giáo Miền Trung và Thừa Thiên-Huế xuống đường năm
1966
Bức ảnh của M.Browne gây xúc động đến mức tổng thống Mỹ John F.Kennedy phải thốt lên “Không một bức ảnh thời sự nào trong lịch sử thế giới lại tạo ra nhiều cảm xúc đến thế!”. Tổng
thống đã phải ra lệnh tái lượng giá chính sách đối với Việt Nam và chỉ
thị Đại sứ Henry Cabot Lodge qua nhận nhiệm sở ở Sài Gòn
Chính quyền cấm các cuộc biểu tình, ra lệnh cho
quân đội
cảnh sát bắt giữ những người tham gia vào các cuộc tuần hành biểu tình.
Ngày 3 tháng 6 năm 1963, người biểu tình cố gắng diễu hành qua chùa Từ
Đàm. Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng hơi cay và chó nghiệp vụ tấn
công người biểu tình 6 lần để giải tán đám đông nhưng bất thành, cuối
cùng quân đội sử dụng hóa chất lỏng màu nâu đỏ để tưới vào đám đông
người biểu tình đang cầu nguyện, kết quả là 67 người phải nhập viện vì
nhiễm độc. Lệnh giới nghiêm sau đó đã được chính quyền Diệm ban hành. Để
xoa dịu Phật giáo, ngày 4 tháng 6 năm 1963, Chính phủ Ngô Đình Diệm
thành lập Ủy ban Liên bộ để nghiên cứu giải quyết những nguyện vọng của
Phật giáo, do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu. Một phái đoàn hỗn
hợp của hai bên được gửi ra Huế để giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh
Quang, Báo Quốc, và Chùa Diệu Đế, đồng thời kêu gọi Phật tử trở về sinh
hoạt bình thường, kiên nhẫn chờ đợi hành động của chính quyền. Bước ngoặt của cuộc khủng khoảng Phật giáo năm 1963 đến vào tháng 6, khi hòa thượng Thích Quảng Đức
tự thiêu giữa một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn để phản đối các chính sách
của Diệm; bức ảnh chụp lại cảnh tượng này đã nhanh chóng phổ biến trên
khắp thế giới, và đối với nhiều người những hình ảnh này đã chứng minh
cho sự thất bại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Một số nhà sư khác đã tự thiêu, noi gương theo hòa thượng Thích Quảng Đức. Trước
tình hình đó, Ủy ban Liên bộ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Ủy
ban Liên phái của Phật giáo sau khi thảo luận đã ra bản Thông cáo chung
với nội dung cho phép treo cờ Phật giáo nơi công cộng nhưng phải kèm
theo cờ quốc gia, chính phủ hứa sẽ thay thế dụ số 10 bằng một đạo luật
mới do Quốc hội ban hành, lập Ban điều tra để xem xét tất cả các đơn
khiếu nại của Phật giáo, phóng thích những người liên quan đến cuộc đấu
tranh của Phật giáo, những sinh hoạt tôn giáo thuần túy và thường xuyên
không diễn ra nơi công cộng không cần xin phép, tạo điều kiện cho Phật
giáo xây chùa, trừng phạt các cán bộ có trách nhiệm trong sự kiện Phật
đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 nếu thật sự họ có lỗi, trợ giúp các nạn nhân
trong sự kiện Phật đản. Sau khi bản Thông cáo chung được công bố,
phía Phật giáo cho rằng các
chính quyền địa phương đang ngầm chống lại việc thực thi Thông cáo
chung nên tiếp tục đấu tranh.
Cuộc đấu tranh của Phật giáo khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa do
Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo mất uy tín cả trong lẫn ngoài nước.
Điều này buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm ra thông điệp kêu gọi hòa giải
giữa chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Phật giáo. Tuy nhiên Phật giáo không
chấp nhận hòa giải mà vẫn tiếp tục đấu tranh.
năm 1963 và vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức
Trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức
Chính phủ Hoa Kỳ ngày càng thất vọng với những hình ảnh công bố các
nhà lãnh đạo không được ưa chuộng cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm
sử dụng lý lẽ chống cộng truyền thống của mình, buộc tội những người
chống đối là cộng sản. Khi các cuộc biểu tình chống chính phủ của Ngô
Đình Diệm vẫn tiếp tục trong suốt mùa hè năm 1963, thì các lực lượng đặc
biệt trung thành với chính phủ đã tiến hành một cuộc đột kích tàn bạo
vào chùa Xá Lợi ở Sài Gòn
vào tháng 8 cùng năm. Chùa bị phá hoại, các nhà sư bị đánh đập, hài cốt
hỏa táng của hòa thượng Thích Quảng Đức, bao gồm cả trái tim của ông
được những phật tử coi là một di tích tôn giáo, cũng bị lực lượng an
ninh tịch thu. Các
cuộc tấn công đồng thời được thực hiện trên toàn Việt Nam Cộng hòa,
chùa Từ Đàm ở Huế bị cướp phá, tượng phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm bị phá hủy
và di thể một nhà sư đã tạ thế cũng bị đưa đi.
Khi dân chúng đến để bảo vệ các nhà sư đã đụng độ với quân đội và cảnh
sát, dẫn đến 30 thường dân thiệt mạng và 200 người khác bị thương.
Tổng cộng đã có 1.400 nhà sư bị bắt, khoảng 30 nhà sư bị thương trên
toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ đã cho thấy quan điểm không tán
thành chính quyền của Diệm khi đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge, Jr.
tới thăm một ngôi chùa. Không có thêm các cuộc biểu tình của Phật tử
xảy ra trong thời gian nắm quyền còn lại của Ngô Đình Diệm (khoảng 5
tháng). Trong
thời gian này, em dâu của Ngô Đình Diệm là Trần Lệ Xuân, một người từng
theo đạo Phật và sau cải đạo sang Công giáo, có thể coi Trần Lệ Xuân là
đệ nhất phu nhân de facto
(trên thực tế) do Ngô Đình Diệm không lập gia đình; Trần Lệ Xuân đã đổ
thêm dầu vào lửa khi chế giễu các vụ tự thiêu của các nhà sư, coi họ là
"thịt nướng" (barbecues), và tuyên bố "Nếu các phật tử muốn có thêm thịt
nướng, Tôi sẽ vui mừng cung cấp xăng cho họ" (nguyên văn: If the Buddhists want to have another barbecue, I will be glad to supply the gasoline).
Các cuộc tấn công vào chùa chiền đã làm dấy lên băn khoăn lo lắng lan
rộng trong công chúng ở Sài Gòn. Sinh viên đại học Sài Gòn đã bãi khóa
và tổ chức các cuộc bạo động, dẫn đến việc bắt giữ, bỏ tù và đóng cửa
các trường đại học; điều này đã lặp lại tại Đại học Huế.
Khi học sinh trung học diễu hành biểu tình, Ngô Đình Diệm cũng đã bắt
học sinh; trên 1.000 học sinh từ các trường trung học ở Sài Gòn, hầu hết
là con em các công chức dân sự Sài Gòn, đã bị gửi tới các trại cải tạo,
theo báo cáo bao gồm cả trẻ em lên năm, bị buộc tội vẽ và viết các câu,
hình vẽ chống chính phủ. Bộ trưởng ngoại giao của Diệm là Vũ Văn Mẫu
đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối. Khi ông cố gắng
rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn
Độ, thì bị bắt và bị quản thúc. Ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Nhu chỉ đạo lực lượng an ninh của đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ
ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở
Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc. Họ mặc đồng phục của quân đội
trong khi đột kích để cho mọi người thấy rằng Quân đội chính phủ đứng
sau lưng họ trong cuộc đàn áp này. Lực lượng của Ngô Đình Nhu đã bắt hơn
400 nhà sư đang ngồi trước tượng Đức Phật. Hàng ngàn phật tử khác cũng
bị bắt giữ trên cả nước (riêng tại Sài Gòn là 1.400 người) với lý do "Phật giáo là tay sai của Việt cộng".
Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo
Phật giáo bị bắt giữ, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê
liệt.
Đoàn biểu tình bị cản lại bởi những lớp rào kẽm
gai; lớp cảnh sát, công an, mật vụ võ trang; lớp xe cứu hỏa và xe cộ
khác... Họ đã cố gắng mấy lần phá vỡ được những hàng rào dây kẽm gai để
tiến tới, nhưng phần vì lớp kẽm gai quá kiên cố được thiết lập dàn ra
phía sau những chiếc xe cứu hỏa, với lực lượng cảnh sát, mật vụ được huy
động đến quá đông đảo được trang bị đầy đủ, đằng đằng sát khí; phần nữa
vì tôn trọng tinh thần "bất bạo động" của thông bạch và các lãnh đạo
Phật Giáo, nên họ đã dừng lại theo lời đề nghị của Đại Đức Thích Quảng
Độ - người điều động cuộc tuần hành - yên tỉnh ngồi xuống mặt đường đồng
thanh niệm Phật. Đoàn người lúc bấy giờ chỉ mới cách chùa Giác Minh
500m.
Trong lúc này các toán võ trang luôn lợi dụng
sự hiền hòa của đoàn người, thừa cơ hoặc hành hung; hoặc dùng xe ủi một
tu sĩ; hoặc uy hiếp, cướp máy chụp hình, máy quay phim của các Tu Sĩ,
Phật Tử và Thông Tín Viên.
Sau nửa giờ niệm Phật, quần chúng Phật Tử lặng
yên nghe Đại Đức Thích Quảng Độ, hướng dẫn tinh thần cuộc biểu tình,
đứng lên giải thích rõ ràng về cuộc vận động của Phật Giáo. Dùng loa
phóng thanh, Đại Đức chậm rãi nói về chính nghĩa của cuộc tranh đấu cũng
như cuộc tuyệt thực đợt 2 của Tăng Ni và Tín Đồ toàn quốc. Từ hai đầu
đường Phan Thanh Giản và các đường phố lân cận như Nguyễn Thiện Thuật...
quần chúng đều đứng lại lắng nghe. Cửa sổ trên những tầng lầu đều được
mở ra, đồng bào xuất hiện trên sân thượng các nhà hai bên khu phố để
nghe Đại Đức thuyết trình. Lực lượng cảnh sát dùng loa microphone hòng
che lấp lời giải thích, nhưng chùa Giác Minh đã dùng máy khuyếch đại
thanh khá mạnh đáp trả hữu hiệu, lời giải thích của Đại Đức Quảng Độ vẫn
nghe rất rõ.
Đúng 10 giờ, hàng dây kẽm gai mở ra, Đại Đức Thích
Quảng Liên được một xe chở tới yêu cầu giải tán. Song quần chúng Phật Tử
kiên trì giữ vững lập trường, cam chịu mọi sự đàn áp nếu nguyện vọng
của họ không thành tựu.
10g15', tiếng niệm Phật vẫn đều đều, nhưng vào
10g30', cuộc đàn áp thật sự bắt đầu. Từng lớp người võ trang xô vào cướp
giật biểu ngữ, xô đẩy, hành hung đoàn biểu tình yếu thế. Tăng Ni và
những người điều động cuộc tuần hành bị tấn công bằng báng súng và gậy
gộc trước sự chứng kiến của giới báo chí, thông tín viên, quan sát viên
quốc nội và quốc tế cùng hằng ngàn Phật Tử, dân chúng bên đường. Tiếng
la hét của phụ nữ và trẻ em vang dậy. Nhiều vị Tăng, Ni bị đánh ngã quỵ.
Nhiều vị khác bị bắt liệng lên xe cảnh sát chở đi.
Bị đàn áp quá dữ dội, đoàn biểu tình mất bình
tỉnh không chịu nổi đã từ từ rút lui về chùa Giác Minh và chùa Từ Quang
sát cạnh không kháng cự. Cảnh sát đuổi theo sát họ đến cổng chùa Giác
Minh. Và khi Phật Giáo Đồ vừa yên lặng trong chùa, một hàng rào kẽm gai
lập tức được thiết lập chắn kín cổng chùa Giác Minh và Từ Quang, mở đầu
cho cuộc phong tỏa trên 600 Tăng Ni, Phật Tử bị cô lập trong chùa 54 giờ
đồng hồ với bao sự đe dọa và thiếu thốn nhu cầu sinh hoạt thử thách ý
chí, tinh thần bảo vệ đạo pháp của họ.
Cũng vào sáng ngày
17.7.1963, đúng 8g15', gần 400 Tăng Ni tập họp tại chánh điện chùa Xá
Lợi. Sau khi lễ Phật và mặc niệm trước bảo điện, vị đại diện Ủy Ban Liên
Phái Bảo Vệ Phật Giáo ngõ lời ngắn gọn rồi đoàn Tăng Ni sắp hàng tuần
tự tiến ra đường Bà Huyện Thanh Quan, qua đường Lê Văn Thạch, rẽ lên
đường Nguyễn Thông, Ngô Thời Nhiệm, Lê Văn Duyệt, và thẳng hướng về Chợ
Bến Thành.
Trên lộ trình, đoàn diễn hành gặp nhiều trở
ngại như hàng rào kẽm gai, các đội công lực tìm đủ mọi biện pháp đẩy
lui, nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua trở ngại tiến được về tập hợp gần
đông đủ tại vườn hoa trước cửa Nam chợ Bến Thành, chỉ trừ khoảng trên 10
vị chạy sau bị nhân viên công lực bắt lại.
Cuộc diễn hành này, nhờ yếu tố tốc hành bất
ngờ, đã làm cho các lực lượng cảnh sát đối phó không kịp trong bước đầu.
Đến khi các lực lượng võ trang được huy động đầy đủ, thì đa số chư Tăng
Ni đã đến được địa điểm định trước là chợ Bến Thành. Tại đây, một biểu
ngữ được quý Tăng Ni trương lên: “Yêu cầu Chánh Phủ thực thi bản Thông Cáo Chung”.
Lập tức vòng đai cảnh sát chiến đấu xiết chặt, buộc chư Tăng Ni hạ cờ
Phật Giáo và biểu ngữ xuống, nhưng Tăng Ni không ai tuân lệnh, họ cương
quyết không hạ.
Lúc này các lực lượng cảnh sát chiến đấu đã bao
vây quanh đám biểu tình dưới quyền chỉ huy của ông Trần Văn Tư - Giám
Đốc Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Vị đại diện Tăng Ni đứng lên yêu cầu được nói
về mục đích của cuộc biểu tình diễn hành. Ông Trần Văn Tư ra lệnh cho vị đại diện chỉ được nói trong ba phút, ông nói: “Mau lên để chúng tôi còn thi hành nhiệm vụ”.
Vị đại diện Tăng Ni tuyên bố:
“Chúng tôi đến đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng:
Bản Thông Cáo Chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính Phủ đã không
thực thi nghiêm chỉnh mà còn dùng đủ mọi cách để khủng bố, bao vây, bắt
bớ, xuyên tạc Phật Giáo Đồ”.
Lúc này, đồng bào trong chợ đã đổ xô ra rất
đông, và từ các ngả đường quần chúng cũng kéo tới chật ních. Tuyên bố
xong, vị đại diện yêu cầu nhân viên công lực giải tỏa để cho Tăng Ni
được tự do đi về chùa Xá Lợi trong trật tự, nhưng viên Giám Đốc Cảnh Sát
nhất quyết từ chối, và ra lệnh cho thuộc cấp thi hành cái gọi là "dùng biện pháp thích nghi” để ngăn chặn cuộc diễn hành trở về chùa Xá Lợi, mà ông biết là sẽ vô cùng đông đảo.
Trong khi chờ đợi sự giải tỏa của cảnh sát, các
vị Tăng Ni ngồi xuống đất bắt đầu niệm Phật. Do dự vài giây trước đoàn
người tay không thản nhiên ngồi chắp tay tuyên Phật hiệu, cuộc đàn áp
bắt đầu... Nhân viên công lực võ trang xông ập vào đánh đập, đấm đá, và
cứ 2, 3 người tóm 1 nhà tu liệng lên xe bịt bùng trong khi chư Tăng, Ni
chống cự lại bằng cách quàng lấy tay nhau từng chuỗi dài để bảo vệ nhau.
Tình thế trở nên hỗn loạn!
Sau những phút đầu bất lực và nhận thấy cuộc
đàn áp xảy ra trước mặt quần chúng đông đảo như vậy là không hay, viên
Giám Đốc Cảnh Sát thay đổi sách lược. Ông ra lệnh ngừng sự bắt ép rồi
đích thân tới bắt tay vị đại diện Tăng Ni điều đình: "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ, xin thề với ông rằng: Chúng tôi sẽ đưa các ông về chùa Xá Lợi".
Thấy cuộc biểu tình đã đạt được kết quả và chư
Tăng Ni nhiều người đã bị mất sức; thêm nữa tuy sẵn lòng tin thì ít,
nhưng thấy vị Giám Đốc Nha Cảnh Sát, nhân viên cao cấp của chính phủ,
một người biểu hiện cho đức "thành tín" đối với quốc gia, đã lấy danh dự
mà hứa sẽ chở chư Tăng Ni về chùa bằng xe cảnh sát, vị đại diện bằng
lòng và Tăng Ni lần lượt lên xe.
Đoàn xe chuyển hướng chạy về đường Trần Hưng
Đạo, Đồng Khánh trước hằng vạn con mắt của đồng bào ngơ ngác nhìn theo.
Tăng Ni trên xe hoài nghi kêu cứu ầm ĩ, song vẫn hy vọng ngã đường này
vẫn còn có thể về chùa Xá Lợi. Nhưng những chiếc xe này khi đến ngã tư
Tổng Đốc Phương, thay vì chạy về chùa Xá Lợi, lại rẽ hướng về Lục Tỉnh.
Đến đây Tăng Ni biết mình đã bị lừa gạt, tập trung đập cửa xe rầm rầm;
các vị ngồi trước người lấy chân đạp thắng xe, người gạt tay lái cho xe
đâm vào lề đường; nhiều vị mở cửa xe lao mình xuống đường khi xe đang
chạy với tốc độ rất nhanh. Thấy vậy, các xe cây của cảnh sát buộc phải
ngừng lại. Tất cả Tăng Ni nhào xuống xe tập hợp lại thành một khối giữa
công lộ.
Bấy
giờ, cảnh sát, kẽm gai, xe cây lại bao vây họ chặt chẽ hơn trước. Hai
vị Cảnh Sát Trưởng đến gần chư Tăng Ni, tự xưng là đại diện ông Giám Đốc
Cảnh Sát, hứa lần này "Chúng tôi sẽ lấy xe công lực chở quý ông về chùa Xá Lợi".
Sợ sẽ bị lừa gạt lần nữa như vừa rồi, Tăng Ni nhất quyết từ chối, chỉ
yêu cầu được tự do đi bộ về chùa. Họ ngồi xuống đất để đòi hỏi sự giải
tỏa của lực lượng cảnh sát. Nhưng cảnh sát không giải tán. Vài lời dằng
co qua lại giữa viên đại diện chính quyền và vị đại diện Tăng Ni chưa đi
đến đâu thì bổng nhiên cảnh sát chiến đấu được lệnh xông vào đàn áp.
Cuộc đàn áp lần này xảy ra khốc liệt gấp mấy
lần trước nhiều: Chư Tăng Ni bị đánh đập, đấm đá, bóp họng, thoi túi bụi
vào chỗ hiểm... Quần chúng ở đây không đông đảo như ở chợ Bến Thành và
giới báo chí không có mặt, vì vậy chư Tăng, Ni bị hành hung một cách tàn
nhẫn và quăng ném lên xe như những con thú vật.
Trong lúc Tăng Ni đang bối rối thì đoàn xe đã phóng nhanh về hướng ngoại thành...
Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Giáo hoàng Phaolô VI
và các tổ chức Công giáo, đã lên án Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Thục đến
Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, Trần Lệ Xuân dẫn phái đoàn
Quốc hội đi nước ngoài bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tổ chức Liên
Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình hình
đàn áp Phật giáo. Từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam
với sự hậu thuẫn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời tiến hành đấu
tranh vũ trang đã làm cho tình hình an ninh ở miền Nam bị xáo trộn. Lực
lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã kiểm soát được
phần lớn vùng nông thôn bất chấp các kế hoạch quốc sách như Ấp Chiến
lược và Khu Trù mật của Ngô Đình Diệm. Việc tập trung quyền lực
vào gia đình, đảo ngược các chính sách cải cách ruộng đất của Việt Minh
trước đây cũng như chính sách cai trị đất nước bị coi là thiên vị với
thiểu số người Công giáo tạo ra những mầm mống xung đột giữa Công giáo
và Phật giáo cũng như sự bất mãn trong đội ngũ tướng lĩnh quan chức, sự
chống đối của đông đảo người theo đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, người Thượng,
trí thức và nông dân. Hơn nữa Ngô Đình Diệm còn bị các chính trị gia
đối lập chỉ trích là độc tài, gia đình trị, bất lực trong việc ổn định
xã hội và chống Cộng thiếu hiệu quả.
Thiếu tá điệp viên CIA Lucien Conein, Nguồn: OntheNet
Anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu nảy sinh bất đồng từ đầu năm 1963.
Vì trận thua nặng của quân đội Việt Nam cộng hòa tại trận Ấp Bắc, khi đó
tại Nam Việt Nam đã có 12.000 cố vấn quân sự
Mỹ khiến giới quân sự Mỹ liên tục chê bai khả năng quân sự của các
tướng Việt Nam Cộng Hòa và đòi để các tướng Mỹ nắm quyền chỉ huy. Ngô
Đình Nhu tỏ ra bất mãn về việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải nghe
theo những khuyến cáo quân sự của người Mỹ nên quyết định tìm hướng đi
mới, tỏ ý định yêu cầu Mỹ rút bớt cố vấn quân sự về nước và tìm cách
tiếp xúc với những người cộng sản ở Hà Nội. Người ta đánh giá rằng việc
này là quyết định riêng của Ngô Đình Nhu, còn Ngô Đình Diệm không có
được sự uyển chuyển về chính trị như vậy.
Do những ý định mới của Ngô Đình Nhu, người Mỹ bắt đầu tìm cách thay
thế Ngô Đình Diệm, cắt một nửa viện trợ cho chính quyền Sài Gòn.
Tháng 7 năm 1963, đại sứ Mỹ Frederick Nolting, người bị xem là quá bao
che cho chính quyền họ Ngô, bị thay thế. Cùng lúc đó nổ ra biến cố Phật
giáo, 1963
làm chính quyền Sài Gòn càng lung lay. Theo tướng Pháp Paul Ély thì vào
giữa năm 1963, quyền lực của Ngô Đình Diệm chỉ còn giới hạn trong phạm
vi Sài Gòn.
Ông Ngô Đình Cẩn tại tòa án quân sự (Saigon 22/4/1964). Nguồn UPI
Gia đình Ngô Đình Khả có 8 người con, gồm 6 trai 2 gái. Trong 6 người
cháu thì có Ngô Đình Huân (con Khôi) bị bắn chết, và Lệ Thủy (con Nhu –
Xuân) bị chết vì tại nạn xe hơi. Còn 1 người thì bị chết vì khủng hoảng
tinh thần là Ngô Đình Thục rồi tới bố mẹ ruột Lệ Xuân là Trần Văn
Chương cũng bị bắn chết vì đứa em của Lệ Xuân. Xem như vậy là gia đình
nhà Ngô và họ Trần tuy có lên đến tột đỉnh danh vọng, nhưng lại kết thúc
bằng những cái chết thảm khốc. Âu cũng là ân oán phải trả, vì chính mấy
người bị giết chết như Diệm, Nhu, Cẩn, Huân, khi còn quyền hành trong
tay đã tàn sát nhiều người vô tội, oán thù chồng chất
Ngô Đình Cẩn được linh mục rửa tội trước giờ bị hành quyết
Ngô Đình Cẩn sau khi bị bắn.
Cùng với việc chống Cộng không đạt được kết quả và
không xoa dịu được
cuộc đấu tranh của Phật giáo được xem là nguyên nhân dẫn tới sự mất uy
tín trầm trọng của chính quyền Ngô Đình Diệm trước các lực lượng chính
trị hợp pháp khác tại miền Nam và trước chính quyền Hoa Kỳ. Sự kiện Phật
Đản, 1963
xảy ra là giọt nước tràn ly dẫn tới hành động đảo chính của một nhóm
tướng lĩnh vốn bất mãn với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô
Đình Diệm. Chính phủ Mỹ đề nghị Ngô Đình Diệm bớt đàn áp tàn bạo đối với
Phật giáo và sinh viên để lấy lại hình ảnh dân chủ hơn của chính quyền,
nhưng Ngô Đình Diệm không nghe theo. Đứng trước tình thế đó, chính phủ
Kennedy buộc phải gây sức ép đối với chính quyền của Ngô Đình Diệm.
Căng thẳng với người Mỹ ngày càng tăng, nhưng Ngô Đình Diệm không nghe
theo vì ông vẫn tự tin cho rằng người Mỹ không thể tìm ra người thay thế
tốt hơn mình ở vị trí Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Vì thế chính phủ Mỹ
cuối cùng quyết định bỏ rơi ông. Henry Cabot Lodge, Jr. đại sứ
Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa sau khi biết về âm mưu đảo chính được lên
kế hoạch bởi các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, do tướng
Dương Văn Minh cầm đầu đã báo cáo cho Tổng thống Mỹ John F. Kennedy xin ý
kiến. Biên bản cuộc họp ngày 29 tháng 10
năm 1963 giữa Kennedy và các cố vấn cho thấy Kennedy sau khi họp với 15
cố vấn ngoại giao cao cấp và chuyên gia an ninh quốc gia không đưa ra
được ý kiến thống nhất về vấn đề này mà để cho đại sứ Mỹ Henry Cabot
Lodge, Jr. tùy cơ ứng biến. Tại Washington, ngoại trưởng Dean Rusk
truyền đạt quyết định đến Đại sứ Lodge ở Sài Gòn. Lodge báo tin cho nhân
viên CIA Lucien Conein. Lucien Conein, đặc vụ của CIA, trở thành
đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính,
do Trần Văn Đôn đứng đầu. Ngày 3 tháng 10 năm 1963, Conein gặp tướng Minh là người nói cho ông
biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hỗ trợ nếu nó thành công.
Trong phim tài liệu Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày của đạo diễn
Michael Maclear, nhân viên CIA Lucien Conein kể lại rằng khi được thông
báo về ý định đảo chính ông ta nói: "Lệnh mà tôi nhận là thế này: Tôi
phải cho Tướng Minh biết rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc
đảo chính của họ, và tôi đã truyền đạt điều này.". Sau đó Conein bí
mật gặp tướng Trần Văn Đôn để nói với ông này rằng Hoa Kỳ phản đối bất
cứ hành động ám sát nào. Tướng Trần Văn Đôn trả lời "Được rồi, nếu anh không thích điều đó chúng ta sẽ không nói về nó nữa.".
Theo một nguồn khác, Conein cung cấp cho nhóm tướng lĩnh Việt Nam Cộng
hòa một số tiền mặt lên tới 40.000 USD để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo
chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô
Đình Diệm.
Cảnh sát giữ an ninh tại
chùa Ấn Quang sau khi sư sãi bị bắt 9-1963.
Cảnh sát dã chiến hốt
biểu tình lên xe cây 9-1963.
Cảnh sát hốt biểu tình
lên xe 9-1963.
Học sinh trường Võ
Trường Toản, cạnh bên trường Trưng Vương, gần Sở Thú Saigon biểu tình 8-1963.
Sinh viên Y khoa chào
mừng GS Phạm Biểu Tâm, khoa trưởng Đại Học Y Khoa Saigon, được trả tự do.
Cảnh sát dã chiến trên
đường đi giữ an ninh.
Sư sãi xếp dọn chùa Xá
Lợi 9-1963.
Sinh viên Đại Học Khoa
Học sửa soạn biểu tình chống chính phủ 8-1963.
12-1963 Minh Cồ và
Henry Cobot Lodge Jr.
12-1963 Minh Cồ , Henry
Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara.
12-1963 Họp báo Minh Cồ,
Henry Cobot Lodge Jr. và Robert McNamara.
12-1962 Minh Cồ
Dinh Gia Long, nơi TT
Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu cư ngụ khi đảo
chánh diễn biến trưa
ngày 1-11-1963
11-1963 dân chúng Sài
Gòn ăn mừng sau ngày đảo chánh tại phòng trà.
11-1963 Sư ăn mừng sau
ngày đảo chánh.
11-1963 Tượng đài Hai Bà
Trưng sau ngày đảo chánh.
11-1963 Chùa Xá Lợi
sau ngày đảo chánh.
11-1963 Dinh Gia Long
sau ngày đảo chánh.
11-1963 Thành Cộng
Hòa sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh.
11-1963 Tôn Thất
Đính sau ngày đảo chánh tại Câu Lạc Bộ.
11-1963 Minh Cồ và
Thơ Lé sau ngày đảo chánh.
11-1963 Minh Cồ trả
lời báo chí sau ngày đảo chánh.
11-1963 Trần Văn
Đôn bí danh "Đôn lầm" trên Đại Lộ Thống Nhất sau ngày đảo chánh.
Các binh sĩ thiết giáp
tham gia cuộc đảo chánh 1-11-1963.
9-1963 Nơi tạm giam sư
sãi biểu tình.
9-1963 Tôn Thất Đính và
Nguyễn Văn Là họp báo sau khi ban hành thiết quân luật để bảo vệ chính phủ N Đ
Diệm.
9-1963 Robert S.
McNamara & Trung Tướng Đỗ Cao Trí.
Ngày 30 tháng 10 năm 1963, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ
Roger Hilsman gửi đến Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một bức mật thư mà ông này
gọi đó là "Hoàng hôn của các thần linh". Trong bức mật thư này có đoạn: "Chúng ta cần khuyến khích nhóm đảo chính chiến đấu đến cùng và phá tan Dinh Độc Lập
(nếu cần) để đạt được thắng lợi. Điều kiện cho gia đình họ Ngô là đầu
hàng vô điều kiện, vì nếu không họ sẽ tìm cách gạt bỏ được lực lượng đảo
chính lẫn sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Nếu gia đình họ Ngô bị bắt sống, vợ
chồng ông Nhu phải nhanh chóng bị tống xuất sang Pháp hay bất cứ nước
nào muốn nhận họ. Riêng ông Diệm, tùy thuộc vào ý muốn của các tướng
lĩnh tham gia đảo chính".
Tướng Dương Văn Minh
và các đồng mưu lên kế hoạch lật đổ chính phủ của Ngô Đình Diệm vào
ngày 1 tháng 11
năm 1963 bằng một cuộc đảo chính nhanh gọn chóng vánh. Ngày 1 tháng 11
năm 1963, lực lượng đảo chính đưa quân đội tới chiếm đóng tất cả các vị
trí trọng yếu ở Sài Gòn, chặn mọi cửa ngõ ra vào nội đô. Tại dinh tổng
thống, chỉ có một lực lượng nhỏ trung thành bảo vệ cho Ngô Đình Diệm và
Ngô Đình Nhu, các tướng lĩnh đảo chính kêu gọi Ngô Đình Diệm đầu hàng và
Ngô Đình Diệm sẽ được ra nước ngoài sống lưu vong nếu đầu hàng. Tuy
nhiên tối hôm đó, Ngô Đình Diệm và đoàn tùy tùng đã trốn thoát khỏi dinh
tổng thống bằng một đường hầm tới Chợ Lớn, về lánh nạn tại nhà thờ Cha
Tam - Chợ Lớn. Sáng sớm ngày 2 tháng 11,
Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lực lượng đảo chính bắt, cuộc đảo
chính tới đây là kết thúc, phe đảo chính chỉ còn việc thành lập chính
phủ mới. Hành động đảo chính đã đưa Việt Nam Cộng hòa đến tình trạng
khủng hoảng lãnh đạo trong một thời gian cho đến khi Nguyễn Văn Thiệu
trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sáng ngày hôm sau Ngô Đình Diệm cùng với Ngô Đình Nhu gọi điện và ra
hàng lực lượng đảo chính. Hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị
đại úy Nguyễn Văn Nhung
giết bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M-113, theo lệnh
của tướng Dương Văn Minh, khi chiếc xe đang trên đường tới Bộ Tổng tham
mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, là người đã tiến hành vụ
khám nghiệm thì anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị bắn từ sau gáy ra
phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị hành
hung trước khi bị bắn. Xác Ngô Đình Nhu thì bị đâm nhiều nhát, áo rách
nát và đầy máu.
Sau khi biết tin Ngô Đình Diệm bị lật đổ và ám sát, phát biểu của Hồ Chí Minh được thuật lại như sau "Tôi không thể nào tin người Mỹ lại ngu ngốc đến vậy". Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam nói rõ hơn: "Hậu quả của cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 sẽ trái với những tính
toán của đế quốc Mỹ... Diệm là một trong số những nhân vật mạnh nhất
chống lại nhân dân và Chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những gì có thể làm
nhằm cố gắng đè bẹp cách mạng đã được Diệm thực hiện. Diệm là một trong
những tay sai có tài nhất của đế quốc Mỹ ... Trong số những người chống cộng
ở miền Nam Việt Nam hoặc đang lưu vong ở nước ngoài, không ai có đủ tài
lực chính trị và khả năng làm người khác tuân phục. Do đó, chính quyền
tay sai sẽ không thể vững bền. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963
sẽ không phải là cuộc đảo chính cuối cùng."
Khi
biết Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính và giết chết, Tổng thống
Mỹ John F. Kennedy bị choáng váng và ưu tư thoáng buồn. Bốn giờ chiều ngày
2 tháng 11 năm 1963, khi được thông báo anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình
Nhu đã bị giết, Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, đã vui vẻ thốt lên bằng
tiếng Pháp: "C’est formidable! C’est formidable!" (Thật là tuyệt diệu. Thật là tuyệt diệu). Các
cơ quan do Ngô Đình Diệm lập ra như Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính
trị Xã hội, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào
Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cộng hòa, Phụ nữ Liên đới,
các xóm Đạo võ trang,… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản
ứng. Cả cấu trúc chính trị mà họ Ngô xây dựng trong 9 năm đã sụp đổ
trong 24 tiếng đồng hồ.
Người bắn hạ anh em Ngô Đình Diệm nói gì?
Nhà sử học Nguyễn Hiến Lê, khi đó đang sống ở Sài Gòn, đã ghi lại không khí vui mừng của người dân ở thời điểm đó:
"Từ
7 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin
dinh Gia Long
bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò
reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự
giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín
năm trời đăng đẳng” - Bác sĩ Dương Tấn Tươi. Còn thi sĩ Đông Hồ
thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn
bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản
ứng chỉ có chứng ấy thì cho thấy quần chúng Việt Nam năm 1963 này cũng
đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự kiềm hãm sức giận dữ
hung hãn của mình rồi đó.”
Nhà báo đương thời tại
miền Nam, ông Vũ Bằng ghi lại không khí của người dân miền Nam lúc đó
khi nghe tin vụ đảo chính và việc anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu bị
giết:
"Lúc
ấy, tôi đang làm cho tờ “Dân Chúng”. Tôi còn nhớ bầu không khí nẩy lửa
đó, ai cũng hăng say muốn thấy Ngô Đình Diệm và bộ sậu, bị chết đâm chết
chém… có một điều chắc chắn là tình thế lúc đó đã chín mùi và dân chúng
đã thấy cách gì cũng phải hạ ngay Ngô Đình Diệm.Người ta muốn biết ai đã giết Diệm - Nhu, nhưng không ai biết đích
xác; dù sao Diệm - Nhu chết đi thì đại đa số dân chúng cũng mừng. Có
người mổ heo
cúng tế; có người lập bàn thờ cảm tạ trời đất; còn thì hầu hết nhà nào
cũng làm tiệc, rủ bè bạn, thân thích đến để nhậu nhẹt cho “phỉ chí tang
bồng”.
Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm cũng khiến cho các
lãnh đạo Á Châu
là đồng minh của Mỹ phải cảm thấy lo ngại cho mình. Về sau, Tổng thống
(Pakistan), Ayub Khan, đã nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon: "Cuộc thảm sát gia đình Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu
chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Làm đồng minh với Mỹ
thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn
nữa là nên làm kẻ thù của Hoa Kỳ." Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho biết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được
chôn trong những ngôi mộ không tên trong một nghĩa trang bên cạnh ngôi
nhà của đại sứ Hoa Kỳ. Sau này tìm hiểu, thì ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Áo quan
của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một
nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội
quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Ngô Đình Diệm,
còn chiếc hạng vừa dành cho ông Ngô Đình Nhu. Trong khoảng thập niên
1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc
Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu
(Nghĩa trang Nhân dân số 6B) ngày nay. Hiện tại, mộ ông Ngô Đình Diệm
và ông Ngô Đình Nhu chính thức đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu. Mộ hai ông
nằm hai bên mộ mẹ - bà Phạm Thị Thân. Ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn
cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên
thánh và "Huynh" (chỉ ông Ngô Đình Diệm) hoặc "Đệ" (ông Ngô Đình Nhu),
sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh. Cuộc
đời ngắn ngủi của Ngô Đình Diệm, không thể nói khác được, là cuộc đời
mang nhiều tội lỗi đối với dân tộc Việt Nam. Do thiển cận về chính trị,
hận thù cộng sản đến điên cuồng và đam mê quyền lực ích kỷ đến mù quáng,
mà đã phản bội Bảo Đại, lập chính phủ gia đình trị, phá vỡ Hiệp định
Genève, đàn áp tôn giáo, tàn sát dã man những người cộng sản, gây ra
cảnh chia cắt đất nước thành hai miền với miền Nam đầu rơi máu chảy. Tình
hình đó buộc nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước Việt Nam nói chung
lại phải cầm súng đứng lên tiếp tục đấu tranh vũ trang chống thù trong
giặc ngoài.
Để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới, và tranh thủ sự ủng
hộ của các tầng lớp tiến bộ trên thế giới, Cách mạng Việt Nam đã thành
lập một tổ chức tại Miền Nam, lấy tên gọi “Mặt trận dân tộc giải phóng
Miền Nam - Việt Nam” với vị chủ tịch được bầu lên là luật sư Nguyễn Hữu
Thọ, có lực lượng vũ trang gọi là “Quân giải phóng”. Từ đây Cuộc chiến
tranh vệ quốc thần thánh của Dân tộc Việt bước vào giai đoạn khốc liệt
nhất mà vẻ vang nhất, suốt 15 năm ròng rã. Từ đây, Miền Nam trở thành
Tiền tuyến lớn, Miền bắc trở thành Hậu phương lớn. Tiền tuyến lớn nêu
cao tinh thần bất khuất vô song, càng đánh càng mạnh, càng ghi được
những chiến công hiển hách trước cường quốc số 1 thế giới về sự giàu có
và tàn bạo. Hậu phương lớn đã đem hết “tinh thần và lực lượng”, chi viện
tiếp tế đến tận cùng khả năng sức người, sức của của mình và cả những
ủng hộ, đóng góp qúi báu của anh em bầu bạn trên thế giới cho Tiền tuyến
lớn bằng mọi phương tiện, mọi ngả đường có thể, trong đó chủ yếu, có
tính quyết định và đã lừng danh trong lịch sử là “đường mòn Hồ Chí Minh”
trên biển Đông với những con tàu không số, và nhất là “đường mòn Hồ Chí
Minh” trên dãy Trường Sơn với những “đoàn xe chạy đêm, chạy ngày” bất
kể mưa bom bão đạn. Tất cả đã trở thành huyền thoại có tựa đề: “Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận cờ và mệnh lệnh chiến đấu trước
giờ xuất kích tại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ảnh
tư liệu
Chiến
tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc
liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979). Đây
là cuộc chiến giữa hai bên, một bên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa ở miền
Nam Việt Nam cùng một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Úc, New Zealand,
Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines tham chiến trực tiếp; một bên là Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại miền
Nam Việt Nam phối hợp cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được sự viện trợ
vũ khí và chuyên gia từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên
Xô và Trung Quốc. Tại Việt Nam, truyền thông đại chúng dùng tên
Kháng chiến chống Mỹ hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước để chỉ cuộc
chiến tranh này, cũng là để phân biệt với các cuộc kháng chiến khác đã
xảy ra ở Việt Nam như chống Pháp, chống Nhật, chống Mông Cổ, chống Trung
Quốc.
Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam khẳng định rằng bản
chất của cuộc chiến là kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm
lược của Hoa Kỳ cũng như mô tả chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một
chính thể tay sai của các thế lực ngoại bang.Các nguồn tài liệu chính
thống còn khẳng định rằng đó không phải là
một cuộc nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm hoặc là chiến tranh vì ý
thức hệ mà là kháng chiến giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
tuyên bố: "Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia
đình, Tổ quốc chúng tôi..Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của
thịt Việt Nam...Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có
thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” Ngoại trưởng Xuân Thủy, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:
"Mỹ
không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam mà trái
lại đã tiến hành có hệ thống một chính sách can thiệp, xâm lược và chiến
tranh, chà đạp lên các quyền đó"
Ngày
20-09-1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai
đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:
"Sự
can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương
Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm
Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến
tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành
động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ...Nước
Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới
và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái
giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ".
Tên
gọi ít được sử dụng hơn là Chiến tranh Đông Dương lần 2, được dùng để
phân biệt với Chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-1955), Chiến tranh Đông
Dương lần 3 (1975-1989, gồm 3 cuộc xung đột ở Campuchia và biên giới
phía Bắc Việt Nam). Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau: Người Mỹ
thường quan niệm "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi họ trực tiếp
tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965
đến 1975). Nhưng quan điểm chung và chính thống hiện nay của chính phủ
Việt Nam
vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 hoặc 1955 đến 1975, vì
theo họ nguồn gốc của chiến tranh bắt nguồn từ các kế hoạch can thiệp
của Hoa Kỳ vào Việt Nam, vốn bắt đầu diễn ra ngay từ năm 1954 (ngày
chiến thắng Điện Biên Phủ, năm kết thúc chiến tranh Đông Dương). Theo
tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, Chiến tranh Việt Nam được Mỹ coi
là bắt đầu từ ngày 1/11/1955 khi Nhóm chuyên gia hỗ trợ quân sự Mỹ (U.S.
Military Assistance Advisory Group - MAAG) tại Việt Nam được thành lập.
Từ
năm 1943, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á nhằm chống lại
quân Nhật đóng ở đây. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai
trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương,
ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc
giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp
các tin tức tình báo cho Hoa Kỳ, tuyên truyền chống Nhật. Đổi lại, cơ
quan tình báo Hoa Kỳ OSS
(U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cung cấp vũ khí,
phương tiện liên lạc, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt
Minh. Ngày
28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ
Harry Truman kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập non trẻ
của Việt Nam, nhưng không được hồi đáp vì Mỹ xem Hồ Chí Minh là "tay
sai của Quốc tế cộng sản"
nên phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam. Cuối tháng 9
năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước,
chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Để thi hành chính sách chống Cộng, Hoa Kỳ lập ra nhiều tổ chức quân sự
liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng
thủ song phương và khu vực. Bên cạnh đó là một hệ thống căn cứ quân sự
dày đặc để bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa. Tại những khu vực có tính
địa chiến lược cao, Hoa Kỳ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự, thâm chí
khi chưa có sự đồng ý của Liên hợp quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia
(1954-1975), Cuba (1961), Dominica (1965). Mặc dù thất bại tại nhiều nơi
đặc biệt là ở Việt Nam, Lào, Cuba nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện
chính sách này nhưng với những hình thức khác. Từ thập niên 1980, Hoa Kỳ
chuyển sang chính sách "Vượt lên ngăn chặn", có nghĩa là can thiệp trực
tiếp vào nội bộ các nước Xã hội chủ nghĩa. Năm 1953, mỗi
tháng, Mỹ viện trợ cho Pháp 20.000 tấn vũ khí và quân
nhu mỗi tháng, sau đó Mỹ đồng ý tăng lên 100.000 tấn/tháng, đổi lại
chính phủ Mỹ yêu cầu Pháp phải có kết quả cụ thể. Khi chiến tranh chấm
dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 78% chiến phí cho Pháp, thậm chí phi công Mỹ
cũng tham gia chiến đấu cùng Pháp trong trận Điện Biên Phủ.
Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có
cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ đâu kiểm tra tình hình không cần
sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Việc Mỹ trực tiếp tham chiến tại
chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Thậm chí khi
Điện Biên Phủ nguy cấp, Mỹ đã tính tới chuyện dùng bom nguyên tử để cứu
nguy cho Pháp. Tuy nhiên công thức "Viện trợ Mỹ, viễn chinh Pháp, quân bản xứ" vẫn không cứu vãn được thất bại. Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu tại Đông Dương. Trước
khi Hiệp ước Genève được ký kết 6 tuần, ngày 4/6/1954, Pháp đã đàm phán
với Quốc gia Việt Nam bản dự thảo Hiệp ước Matignon (1954),
nếu được ký chính thức thì Quốc gia Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập khỏi
Liên hiệp Pháp. Chính phủ này sẽ không còn bị ràng buộc bởi những hiệp
ước do Pháp ký kết. Tuy nhiên, Hiệp ước Matignon (1954)
chưa được Quốc hội Pháp và Tổng thống Pháp phê chuẩn. Bên cạnh đó, cũng
có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Hiệp
định Geneva, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một
chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng,
tài chính, thương mại, kinh tế.
Tuy nhiên, Hiệp ước Genève đã diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định
Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn
thành. Quốc gia Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên hiệp Pháp và do
đó vẫn phải tuân thủ những Hiệp định do Liên hiệp Pháp ký kết.
Tuy
nhiên, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã từ chối ký và không công nhận
Hiệp định Genève, đồng thời ra Tuyên bố Hiệp định Genève chứa "những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam" và "không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", bởi Bộ Tư lệnh Pháp đã "nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ" và "tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam". Tuyên bố cũng cho biết Quốc gia Việt Nam sẽ "tự
dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng
liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc
lập, và Tự do cho xứ sở".
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng tuyên bố của Quốc gia Việt Nam là vô
giá trị vì họ vẫn là một phần của Liên hiệp Pháp. Phái đoàn Hoa Kỳ cũng
từ chối ký Hiệp định và tuyên bố không bị ràng buộc vào những quy định
ấy, nhưng nói thêm nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động
bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm
trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế". Trong Tuyên bố của mình, đối với vấn đề tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, chính phủ Mỹ nêu rõ quan điểm "tiếp
tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do
được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng".
Theo Hồ Chí Minh, do Quốc gia Việt Nam vẫn chưa độc lập khỏi Liên hiệp
Pháp nên không thể tham gia Hội nghị và ký kết Hiệp định với tư cách một
quốc gia và Quốc gia Việt Nam vẫn phải chịu ràng buộc bởi những thỏa
thuận giữa Việt Minh và Pháp.Ngay
sau khi Hiệp định Geneva được ký kết chỉ vài ngày, trả lời Thông tấn xã
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ
Hiệp định để chia cắt Việt Nam: "Theo
đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân
chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao
đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định
đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược,
chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế
Đông Dương cùng Đông Nam Á.". Kết quả Hiệp định: Quân đội Nhân
dân Việt Nam, lực lượng đã giành thắng lợi sau cuộc chiến, tập kết về
miền Bắc. Lực lượng Quốc gia Việt Nam
cùng với quân đội Pháp tập kết về miền Nam, tập kết dân sự và chính trị
theo nguyên tắc tự nguyện. Theo thống kê của Ủy ban Quốc tế Giám sát
Đình chiến có 892.876 dân thường di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt
Nam,
trong khi 140.000 người khác từ miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp
dần dần rút khỏi miền Nam và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia
Việt Nam. Chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam
Cộng hòa) từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do với lý do mà Thủ tướng
Ngô Đình Diệm đưa ra là "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng ông "nghi ngờ về việc có thể đảm bảo những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc".
Khi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm còn ra nhiều
tuyên bố công kích chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đáp lại những
cáo buộc này, Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng:
"Đó
là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng
tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng
tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.". Ngay
từ tháng 3/1961, khi Chủ tịch Quốc hội Pháp Jacques Chaban-Delmas có
chuyến sang Mỹ, Thống chế Pháp Charles de Gaulle nhờ ông này nhắn lại
với Tổng thống Mỹ “đừng để sa lầy trong vấn đề Việt Nam, ở đó Mỹ có thể mất cả lực lượng lẫn linh hồn của mình”. Ngày 31/5/1961, tiếp Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại Paris, Thống chế Pháp Charles de Gaulle cảnh báo: “Người Pháp chúng tôi có kinh nghiệm về chuyện đó. Người Mỹ các
ông trước đây [chỉ các tổng thống Mỹ tiền nhiệm] từng muốn thay chỗ
chúng tôi ở Đông Dương. Và hôm nay ông muốn nối gót chúng tôi để nhen
lại ngọn lửa chiến tranh mà chúng tôi đã kết thúc. Tôi xin báo trước cho
ông biết: các ông sẽ từ từ sa vào vũng lầy quân sự và chính trị không
đáy, bất chấp những tổn thất [nhân mạng] và chi tiêu [tiền của] mà các
ông có thể phung phí ở đó".
Tháng
6-1961, Kennơđy nhận định: “Mỹ phải chứng tỏ quyền lực của chúng ta là
đáng tin cậy và Việt Nam là chỗ thích hợp”. Khi G. Ball báo trước là ở
Việt Nam có thể phải cần đến sự hiện diện của 300 ngàn quân Mỹ, Kennơđy
cười mũi và nói thẳng: “Chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra”. Một năm sau, số
quân Mỹ đã là 23 ngàn người và vẫn tiếp tục tăng!
Cuộc đấu tranh đầy đau thương nh7ng bất khuất và ngút trời căm thù của quâ dân ta trước bạo lực điên cuồng của Mỹ - ngụy
Xác người dân Việt Nam chết xếp hàng dài
Những bức hình dưới đây có nhiều cảnh tang thương, ghê rợn, vì vậy bạn
đọc cân nhắc trước khi xem chúng để tránh sợ hãi, mất ngủ...
Ảnh chụp ngày 8/3/1965 tại một trận càn quét của Mỹ ở Đà Nẵng
Những các bạo hình, tra tấn kinh hoàng cứ ngõ trong địa ngục của lính VNCH
Một phụ nữ bị tình nghi là VC bị lính VNCH tra tấn năm 1965
Một người dân vô tội nằm chết bên đường năm 1972 tại Quảng Trị
Lính VNCH đánh
một người bị tình nghi là quân Giải phóng trong tháng 10/1965. Ông là
một trong 15 người bị bắt sau trận càn. Ảnh: AP
Sau khi lính Mỹ
càn vào một ngôi làng cách Sài Gòn 72 km, ngày 12/9/1966, những người
tình nghi sẽ được bàn giao cho quân đội của chính quyền Sài Gòn. Hai đứa
bé cũng bị bịt mắt.
Ảnh lưu tại
Gettyimages, chụp năm 1963, có chú thích "Lính Nam Việt Nam (tuyển từ
các tộc thiểu số người Thượng) đang chụp ảnh với những cái đầu Việt Cộng
bị chặt"
Bob kerrey nhân vật chủ chốt trong cuộc thảm sát kinh hoàng tại Thạnh Phong
Ngày 22/05/1964 một người lính VC bị lính VNCH tra tấn bằng cách buộc sau xe kéo lê trên đường đến chết (ảnh flashbak)
Bức ảnh Chiến tranh Việt Nam ghi lại hành động tàn ác của Mỹ được sử dụng làm bìa album cho ban nhạc rock San Diego
Ngày 12 tháng 12
năm 1965 “hatchet team” of B Company, 502nd Battalion, 101st Airborne
Division, đã giết chết rất nhiều lính VC và treo đầu trong rừng (ảnh
flashbak)
Cách tra tấn phổ biến của lính Mỹ, Ngụy đối với tù nhân VC (ảnh của washingtonpost)
30 Tháng 10 Năm
1965, Đà Nẵng, Việt Nam - Hình ảnh các chiến sĩ du kích bị lính Thủy
quân lục chiến Hoa Kỳ giết trong cuộc tấn công ngày 30 tháng 10 ở ngoại ô
Đà Nẵng.
Cách
đây 42 năm, sáng ngày 16/3/1968, tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng
Sơn Mỹ, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã đồng loạt nã súng vào 504
thường dân vô tội, đa số họ là phụ nữ và trẻ em: 182 phụ nữ trong đó có
17 người mang thai, 173 trẻ em, 60 người già và 89 trung niên. Vụ
thảm sát là một vết đen tội ác không thể xóa mà quân đội Mỹ đã gây ra
cho nhân dân Việt Nam, tạo nên làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược
Việt Nam ngay trên đất Mỹ và trên toàn thế giới. Tại buổi lễ, 504 tiếng
chuông được ngân lên tưởng niệm 504 đồng bào bị thảm sát.
Ngày 8/6/1972, em Phạm Thị Kim Phúc, 9 tuổi vô cùng đau đớn vừa chạy vừa la hét trong tình trạng bị cháy bởi bom napal của máy bay giặc Mỹ ném xuống một làng quê của huyện Trảng Bàng Tây Ninh. Bức ảnh do Nick Út (một người Mỹ gốc Việt) chụp đã gây chấn động thế giới và ông được giải thưởng Pulitzer.
Chính
thể Việt Nam Cộng Hòa là một quái thai của mẹ Pháp, bố Mỹ và mang hồn
ma triều đình Huế. Chính khách Việt Nam Cộng Hòa là một đám vụ lợi tầm
thường thích xa lông, thèm xôi thịt. Tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa là một
lũ đầu gấu tứ xứ mò về, coi nghiệp binh là một nghề kiếm chác danh lợi
từ bảo kê, trộm cướp đến buôn lậu, chống cộng chỉ vì bổng lộc cho nên
luôn xâu xé nhau, luôn tranh quyền đoạt lợi của nhau và sẵn sàng lật
thầy, phản chủ.
Là
con đẻ của bố Mỹ, sống được là nhờ bố Mỹ nhưng Ngô Đình Diệm “càng lớn”
càng tỏ ra bướng bỉnh, ngỗ ngược, không chịu vâng lời bố, khờ khạo muốn
làm “chí sĩ”, đòi cái “gia đình trị” của mình được độc lập, tự do. Thế
là Mỹ bật đèn xanh cho đám lau nhau “Hội đồng tướng lĩnh” ngụy lật đổ.
Sẵn máu côn đồ, chúng giết luôn Diệm và Nhu (Ngô Đình Nhu, em ruột Diệm,
đóng vai “cố vấn” nhưng có quyền lực át cả Diệm) bằng đâm dao và bắn
súng nát bấy thân thể một cách đê hèn, không qua xét xử. Riêng “lãnh
chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn (em ruột Diệm - Nhu) thì “được” xử bắn và nghe nói
không chịu nhả 6 triệu đôla gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ để đổi lấy chuyến
bay Dakota thoát thân sang Singapo (khi nghe đến người ra giá này, Cẩn
đã thốt lên: “Chết tao rồi!”).
Chính
quyền Sài Gòn thời hậu Diệm - Nhu, bị giới quân sự khống chế, lũng
đoạn. Các tướng lĩnh gài bẫy đạp đá nhau liên miên để tranh giành chức
quyền với mục đích duy nhất là đục khoét, trộm cướp, kiếm chác càng
nhiều danh lợi cho bản thân càng tốt.
Với
một chính quyền như vậy thì lực lượng vũ trang của nó cũng chẳng ra gì.
Thực tế chiến trường cho thấy cái chiến lược “chiến tranh đặc biệt”: bộ
binh ngụy + cố vấn và hỏa lực Mỹ đã nhanh chóng phá sản vì không đương
đầu nổi với Quân giải phóng.
Ba
tuần sau cái chết của Diệm, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Kennơđy cũng
bị bắn chết kiểu găngxtơ. Việc điều hành chiến tranh ở Việt Nam chuyển
sang tay Giônsơn (Johnson). Giônsơn thổ lộ: “Mất cái xã hội vĩ đại là
một ý nghĩ đáng sợ, nhưng còn chưa đáng sợ bằng ý nghĩ phải chịu trách
nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến tranh với cộng sản, không còn gì tồi
tệ hơn điều đó”.
Mắc
Namara được cử đến Sài Gòn để nhận định tình hình tại chỗ, quan sát
thấy sự bệ rạc của chính quyền Sài Gòn, đã báo cáo với Giônsơn: “Không
lật ngược được tình hình, cừ đà này thì hai ba tháng tới, khá lắm cũng
sẽ là chính phủ trung lập, điều chắc chắn hơn là một quốc gia do cộng
sản kiểm soát ở Sài Gòn”. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đòi phải
dùng biện pháp mạnh, đột kích bằng không quân ra miền Bắc - Việt Nam,
trinh sát cả Lào và Cămpuchia, Mỹ cần phải nắm lấy quyền chủ động điều
hành cuộc chiến tranh. Đây chính là bước đi khởi đầu của chiến lược
“chiến tranh cục bộ” - quân Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường
Việt Nam. Trong bài “Lực lượng đặc nhiệm trong hành động ở ngoài khơi
Việt Nam”, W.Cagle viết: “Để gìn giữ Việt Nam, chiến lược quân sự của Mỹ
có hai mục tiêu liên kết với nhau: tiến hành một chiến lược bằng bộ
binh và không quân đánh bại đối phương ngay ở Nam - Việt Nam hoặc buộc
họ phải rút quân, còn ở bên ngoài thì dùng không quân và hải quân tiến
công Bắc - Việt Nam để buộc họ phải đình chỉ xâm lược”. Thực tế cho thấy
Nhà Trắng đã quyết tâm để theo hướng này vì sau khi đã tạo ra cái cớ
“Vịnh Bắc Bộ” và ra đòn trả đũa ngày 5-8-1964, thì ngày 7-2-1965, Tổng
thống Giônsơn đã quyết định bắt đầu chiến dịch “Sấm rền”, ném bom bắn
phá Bắc - Việt Nam kéo dài suốt 37 tháng, theo kiểu leo thang.
Theo
Stanley Karnow, nhà báo Mỹ, có mặt tại Việt nam từ năm 1959, thì vào
tháng 6-1964, Mỹ đã có dự thảo nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ”. Sự kiện “Vịnh
Bắc Bộ” là do Mỹ cố tạo dựng nên, lừa dối dư luận Mỹ (rằng là ngày
2-8-1964 xảy ra đụng độ giữa 3 tàu phóng lôi Bắc-
Việt Nam và tàu chiến Maddox của Mỹ; 8 giờ tối 4-8, thuyền trưởng
Kerrick có cảm giác (!) là tàu mình lại bị tiến công nhưng không quan
sát thấy gì…), để có cớ phát động cuộc bắn phá miền Bắc - Việt Nam bằng
không quân. Trong khi Herrick còn chưa biết “mô, tê” ra sao thì cũng là
đủ cho phát ngôn viên Lầu Năm Góc khẳng định về “một cuộc tiến công có
dự liệu đã xảy ra” và ở Mỹ, trước nửa đêm 4-8-1964, Giônsơn đã trịnh
trọng thông báo trước ống kính truyền hình là “đòn trả miếng đang xảy ra
trong lúc tôi đang nói với người Mỹ”. Ở Bắc - Việt Nam trong ngày
5-8-1964 đã có 64 lần chiếc máy bay Mỹ xuất kích đánh vào 4 căn cứ hải
quân và 1 kho dầu.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Mỹ hà hơi, tiếp sức cho Ngô Đình
Diệm xây dựng miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ, ngụy tiến hành
chiến lược “chiến tranh một phía”, đổ tiền, của xây dựng chính quyền và
ngụy quân và tìm diệt các cơ sở cách mạng, phá hoại Hiệp định Geneva.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt đầu. Trong ảnh, bộ đội địa
phương tiến công trận Núi Thành, ngày 28/5/1965.
Dân quân tải đạn, phục vụ chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nữ dân quân Nguyễn Thị Kim Lai xã Hương Phong, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) bắt sống phi công Rôbíncơn, ngày 20/9/1965.
Năm 1966 bức ảnh O du kích nhỏ được trưng bày trong Triển lãm ảnh
toàn quốc và lập tức gây được tiếng vang lớn. Khi xem bức ảnh này, Nhà
thơ Tố Hữu đã nảy ra những câu thơ hay, có thể coi là mẫu mực của loại
thơ "xem ảnh đề thơ" hoặc là "vịnh ảnh" và bình bức ảnh bằng bốn câu thơ:
“
O du kích nhỏ giương cao súng. Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu. Ra thế! To gan hơn béo bụng. Anh hùng đâu cứ phải mày râu!
”
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối phó với chiến tranh trên không
rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow)
ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy
bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ở Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Hòn Gai).
Với khẩu lệnh “Địch phá ta cứ đi”, các con đường ngày
càng dài thêm, quân đi như nước chảy, các kho quân lương dọc đường đầy
ắp, đủ tiếp tế cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Cầu Đoan Vĩ trên đường
số 1 bị đánh sập. Các chiến sĩ Thanh niên xung phong Tiểu đội 2, Đại đội 317 Truông Bồn san lấp hố bom. (Ảnh: Báo Nghệ An)
Vào một đêm tháng 6/1966 tại cầu Gián
Khuốt đoạn qua sông Đáy trên quốc lộ 1A, chị Nguyễn Thị Phúc - đội viên
Đại đội TNXP 193 Nam Hà đang chỉ đường cho đoàn xe qua cầu phao trong
đêm, bất ngờ một loạt bom nổ giữa đầu cầu và cô bị cưa cụt một cẳng
chân. Không kịp cấp cứu, máu ra nhiều, cô gái đã hy sinh. Ngay đêm sau,
nhiều đội viên nữ trong đơn vị đã tranh nhau làm nhiệm vụ thay chị
Phúc. Tấm ảnh mang tên “Đường ra tiền phương” vẫn sống mãi trên các
trang báo, tạp chí mãi tới nay.
Tại
Bãi Cháy, bộ đội cao xạ phòng không đã chủ động đánh trước khi máy bay
Mỹ oanh kích. Hai máy bay Mỹ loại A-4 Skyhawk bị bắn rơi. Phi công Mỹ
Everett Alvarez nhảy dù xuống biển đã bị dân chài bắt sống, trở thành
người tù binh Mỹ đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền
đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hóa
trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt
Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại
nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Chiến tranh không quân nhắm
vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự.
Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị
đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình,
là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến
Hải - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận với Trung Quốc đưa một bộ
phận quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam đóng ở một số vị trí
quan trọng như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường Quốc lộ 1,
nhưng không được vượt quá phía nam Hà Nội. Sau đó một số lượng đáng kể
nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc, bắt đầu từ tháng 6
năm 1965. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965
đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có
khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lửa đất đối không, pháo
phòng không, các đơn vị công binh làm đường, dò mìn, và vận tải.
Lực lượng này không được phép tham chiến mà chỉ để giúp Việt Nam sửa
chữa cầu, đường bị bom Mỹ phá. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải thích quân Trung Quốc sang Việt Nam do
lo ngại việc Mỹ có thể đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Ông Barry
Zorthian, phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, cho biết Mỹ không mở
rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam vì sợ Trung Quốc sẽ tham chiến.
Sách "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc"
thì khẳng định mục tiêu của Trung Quốc "thâm hiểm" hơn: đó là tạo tiếng
tốt "viện trợ Việt Nam", tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ
latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô; cũng là để gây khó khăn cho
việc vận chuyển hàng viện trợ khối xã hội chủ nghĩa quá cảnh Trung Quốc
nhằm hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, qua đó khiến Việt
Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Trung Quốc ngoài mặt muốn giúp
Việt Nam tu sửa thiệt hại do không quân Mỹ, nhưng năm 1968 họ lại khuyến
khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu (năm 1965) còn có sự tham chiến của
các binh lính, sĩ quan tên lửa Liên Xô trực tiếp tác chiến đồng thời
huấn luyện binh sĩ Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa phòng không và
đội đặc nhiệm GRU thuộc Tổng cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu các
lực lượng vũ trang Liên Xô huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Việt Nam và
tham gia thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.
Thượng sỹ không quân Lyle Goodin vác thi thể của một phụ nữ lớn
tuổi, người bán hàng rong ở góc phố gần đó, khi một trái bom nổ trong
chiếc xe ô tô đỗ trên đường Hàm Nghi gần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ngày
30/3/1965.
Một người lính Mỹ đội mũ có khẩu hiệu viết bằng tay trên mũ (Chiến
tranh là địa ngục) (tháng 6/1965) . Người lính này phục vụ trong Lữ đoàn
Kỵ binh 173 bảo vệ sân bay Phước Vĩnh.
Lính Việt Nam Cộng hòa tự chăm sóc vết thương sau khi chiến đấu căng
thẳng với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cheo Reo đầu tháng
7/1965.
Ngày 3/9/1965, một người lính Việt Nam Cộng hòa quỳ xuống gần dãy
bao bố đựng xác đồng đội ở bờ ruộng tại đảo Tân Định ở Đồng bằng sông
Cửu Long. Sau hai ngày tuần tra mà không tìm được địch, đơn vị này bị
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bao vây tấn công. Sau đó máy bay trực
thăng Mỹ nhầm lính Việt Nam Cộng hòa là Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam nên đã xả súng vào đơn vị này. Những lính bị chết sau đó được máy
bay trực thăng thu nhặt.
Lính cứu thương Thomas Cole chỉ còn một mắt không bị băng tiếp tục
chữa trị cho Thượng sỹ Harrison Pell trong một trận giao tranh ngày
30/1/1966. Bức ảnh này được đăng trang bìa tạp chí Life ngày 11/2/1966
và những bức ảnh của Henry Huet về trận đánh ở An Thi giành được giải
Vàng Robert Capa từ Câu lạc bộ Báo chí nước ngoài.
Một lính Thủy quân lục chiến Mỹ đang cố cứu sống một đồng đội bị
thương nặng gần khu phi quân sự (DMZ) giữa tháng 9/1966. Một số Thủy
quân lục chiến bị chết khi Đại đội Tiên phong Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung
đoàn Thủy quân lục chiến số 26 bị tấn công trên một quốc lộ cách khu phi
quân sự khoảng 1,6 km về phía Nam. Người lính Thủy quân Lục chiến bị
thương này sau đó đã chết
Khi những người lính khác đang trợ giúp đồng đội bị thương, một
người lính dù của Đại đội A, Sư đoàn Không vận 101 chỉ dẫn một máy bay
trực thăng cứu thương qua khu rừng để đón những lính bị thương trong
cuộc tuần tra kéo dài 5 ngày gần Huế vào tháng 4/1968.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt
Nam, phụ nữ đóng một vai trò quan trọng đem lại thành công cho những
cuộc chiến thần thánh. Đã có biết bao phụ nữ tham gia kháng chiến với
câu khẩu hiệu đã trở nên rất quen thuộc trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, “đánh cho
để dài tóc, đánh cho để đen răng”, hay “còn cái lai quần cũng đánh”. Phụ nữ đã tham gia chiến đấu trong tất cả những cuộc chiến giành
độc lập của Việt Nam. Rất nhiều những cuốn sách đã từng được các tác
giả người nước ngoài viết, trong đó phân tích về những chiến tranh tại
Việt Nam, lý do tại sao một dân tộc bé nhỏ lại có thể chiến thắng một
cường quốc lớn trên thế giới. Trong đó, cuốn sách Vietnamese Women At War
của tác giả Sandra Taylor đã khai thác cuộc chiến từ một khía cạnh rất
khác. Bà sang Việt Nam, thực hiện những cuộc phỏng vấn với các nữ du
kích, nữ thanh niên xung phong, nữ tình báo… để có thể lý giải được
nguồn động lực to lớn nào đã đem lại cho họ sức mạnh kỳ diệu tới vậy,
những trải nghiệm của về cuộc chiến ra sao. Có thể nói chưa một đất nước
dân tộc nào có lối đánh du kích tài tình như Việt Nam và mỗi người dân
đều có thể trở thành chiến sĩ.
Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục
năm nên trong nhiều gia đình, đàn ông luôn vắng bóng vì họ phải ra
chiến trường chiến đấu còn phụ nữ ở nhà cũng tham gia vào những đội du
kích, tự vệ địa phương, có những người tham gia vào lực lượng thanh
niên xung phong ngoài mặt trận thậm chí tham gia vào lực lượng tình
báo, biệt kích. Bằng mọi cách phụ nữ đã đóng góp sức mình cho cuộc
chiến thần thánh của dân tộc.
Dáng đi thất thểu, ngủ gục ngay trên đống đổ nát, nét mặt mệt mỏi, đau
đớn... là những hình ảnh thường gặp ở lính Mỹ sau những trận chiến tại
chiến trường Việt Nam.
William J. Duiker, tác giả của cuốn sách Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam
(Tạm dịch: Cuộc chiến thần thánh - Chủ nghĩa dân tộc và cuộc cách mạng
ở hai miền Việt Nam) từng nói ông vô cùng ấn tượng với những người phụ
nữ Việt Nam, họ là những người đã góp phần xây dựng nên trận địa pháo
Điện Biên Phủ, đào nên địa đạo Củ Chi, họ là những anh hùng thầm lặng
trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc. Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách tổng hợp các truyện ngắn viết về người Việt Nam di cư từng giành giải Pulitzer - A Good Scent from a Strange Mountain (Tạm
dịch: Mùi hương trên núi lạ) chia sẻ: “Tất cả lính Mỹ đều có nhận định
rằng phụ nữ ở Việt Nam trong chiến đấu dũng cảm và ngoan cường không
kém gì nam giới. Trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng thần
thánh của Việt Nam trước một lực lượng quân đội hùng mạnh như Mỹ, có
một mảnh ghép vô cùng quan trọng, đó là nhờ có sự tham gia của phụ nữ.
Họ là một trong những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua”.
Le Ly Hayslip, một nữ nhà văn gốc Việt nhận định: “Phụ nữ Việt Nam
không phải là những nạn nhân chiến tranh mà vượt lên trên hoàn cảnh,
họ đã tham gia trực tiếp và chủ động vào cuộc chiến, trở thành những
người chiến thắng và viết tiếp những trang sử về truyền thống yêu nước
và lòng dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc.” Cuộc
sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay
cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn
để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu
rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa
lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự
vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ
huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa
tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm
đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và
bệnh tật. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến.
Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng Lao động Việt Nam.
Các tổ chức quần chúng trên có vai trò nhất định trong việc giữ vững
tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính
sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số
thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố
hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là
các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca
ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên
nhập ngũ. Các nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cùng
xây dựng một cố gắng tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống
nhất và quy củ".
Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc rất cao, họ vẫn có thể chấp
nhận hy sinh cao hơn nữa để giành được thắng lợi cuối cùng.
Người
cha ôm thi thể con nhìn lên chiếc xe bọc thép chở lính Việt Nam Cộng
hòa. Đứa bé thiệt mạng khi quân Việt Nam Cộng hoà tấn công du kích trong
một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh chụp ngày 19/3/1964.
Lính Việt Nam Cộng hoà dùng chuôi dao găm đánh một nông dân vì đã cung
cấp thông tin không chính xác về hoạt động của du kích ở một ngôi làng ở
phía Tây Sài Gòn. Ảnh chụp ngà
Một
phi công Mỹ quan sát máy bay ném bom napalm oanh tạc các địa điểm trên
lãnh thổ Việt Nam. Mục đích của những cuộc ném bom là nhằm làm rụng lá,
chết cây để dễ dàng phát hiện ra đối phương trong rừng sâu.
Bác
sĩ Joseph Wolfe (ở giữa bức ảnh) điều trị cho một binh sĩ bị thương tại
một bệnh viện dã chiến dưới lòng đất thuộc căn cứ hải quân Mỹ đóng tại
Khe Sanh hồi tháng 3/1968.
Hai cha con bị nghi là "Việt cộng" bị dẫn về trụ sở
.
Mặc dù bị thương đến mức phải băng kín một mắt nhưng binh sĩ Thomas
Cole vẫn giúp đỡ đồng đội mình là trung sĩ Harrison Pell.
Binh
lính Sài Gòn thực hiện cuộc đổ bộ quy mô lớn ở khu vực đồng bằng sông
Cửu Long và đặt một số thiết bị trên thuyền. Họ băng qua những cánh đồng
ngập nước, có nơi nước sâu ngập đến nửa người để tìm diệt những chiến
sĩ Giải phóng
Trung tá quân đội Mỹ George Eyster được đặt nằm lên cáng sau khi trúng đạn của Quân đội Việt Nam. Ảnh chụp ngày 16/1/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú ẩn
khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh
chụp ngày 9/1/1966.
Một người phụ nữ Việt Nam bế trên tay cậu con nhỏ và kéo theo một cô
con gái, vội vàng chạy ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy. Ảnh chụp tháng
7/1963.
Lính Mỹ cho một đồng đội bị thương uống nước. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.
.
Lính Mỹ bị thương được điều trị ngay tại chiến trường. Ảnh chụp ngày 2/4/1967.
Lính Mỹ lau nước mắt khi quỳ bên cạnh thi thể của đồng đội được bọc
trong vải pon-sô sau cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu phi quân sự. Ảnh
chụp ngày 18/6/1966.
Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, đơn vị Bộ binh số 28 Mỹ, bò đi tìm nơi trú
ẩn khi bị quân đội Việt Nam tấn công bất ngờ khi đang ngồi ăn trưa. Ảnh
chụp ngày 9/1/1966.
Thuỷ quân lục chiến Mỹ nghe nhịp tim của một đồng đội đang hấp hối sau khi bị thương vào đầu. Ảnh chụp ngày 19/9/1966.
Lính bộ binh Mỹ cầu nguyện trong một khu rừng Việt Nam trong lễ tưởng
niệm đồng đội chết trong cuộc tấn công đồn điền cao su Michelin. Ảnh
chụp ngày 9/10/1965.
Một người tải thương Việt Nam đeo mặt nạ để tránh mùi khi đi qua thi
thể của lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại đồn điền cao su Michelin, cách
Sài Gòn 45 dặm về phía Đông Bắc. Ảnh chụp ngày 27/11/1965.
Sau gần hai năm đối phó với chiến tranh đặc biệt,
Quân Giải phóng miền Nam đã đúc kết kinh nghiệm đối phó với chiến thuật
trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Điều này
đã tạo ra thắng lợi cho họ trong trận Ấp Bắc
(ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang).
Ngoài ra những người cộng sản cũng tiếp tục đánh phá cơ cấu hành chính
của Việt Nam Cộng hòa. Tính đến năm 1963 lực lượng du kích đã ám sát
6.700 người và thực hiện 18.200 vụ bắt cóc. Quân đội Việt Nam Cộng hòa
trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Trong
các năm 1963 và 1964 Quân Giải phóng miền Nam thắng thế tiến công trên
toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình
Giã tại tỉnh Bà Rịa làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và
các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rất nhiều
chiến thắng tại các địa bàn khác: Ba Gia, An Lão, Võ Su... Một
số nghị sĩ Mỹ khuyên Giônsơn: “Sớm tìm đường ra khỏi Việt Nam, nơi đáng
lẽ chúng ta không nên có mặt”. Nhưng giữa trưa ngày 28-7-1965, Giônsơn
phát biểu trên đài truyền hình: “Chúng ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của
Óetmolen (Westmoreland). Chúng ta không thể bị đánh bại bằng vũ khí.
Chúng ta sẽ trụ lại ở Việt Nam”. Cùng ngày hôm đó, Giônsơn đã thông báo
quyết định tăng thêm 44 tiểu đoàn chiến đấu ở Việt Nam.
Giai đoạn 1965-1968 là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam, được gọi với cái tênChiến
tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức
tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson
phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang nhằm
quét sạch lực lượng Quân Giải phóng; mặt khác, họ phải kiềm chế chiến
tranh trong phạm vi Việt Nam, không để nó lan ra ngoài vòng kiểm soát,
đụng chạm đến khối Xã hội Chủ nghĩa để có thể dẫn đến một cuộc chiến
tranh như Chiến tranh Triều Tiên.
Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc kiềm chế, nhưng họ đã thất
bại trong mục tiêu đánh bại lực lượng Quân Giải phóng. Các đồng minh lớn
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm
viện trợ giúp nước này chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất
tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam để các cường quốc này vươn lên
giành vị thế đứng đầu thế giới.
Chuỗi ngày “địa ngục” của lính Mỹ ở Việt Nam:
Một lính thủy đánh bộ Mỹ lội trong bùn lầy. Những bức ảnh chỉ được công bố lần đầ
5 năm sau khi được chụp, tháng 2/1971.
Được sự hộ tống của xe tăng và chiến đấu cơ trong
khu rừng khô phía trước, lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn số 2, Hạm đội 5, bắt
đầu tấn công.
4 lính thủy quân lục chiến Mỹ bê xác người đồng
đội sau khi đơn vị của họ trúng đạn gần đồi 484. Bên phải là phóng viên
ảnh người Pháp Catherine Leroy (1945 – 2006), cô đã bị cắt ra ngoài bức
ảnh khi đăng trên tờ LIFE hồi đó.
Hình ảnh tiêu biểu của những lính thủy đánh bộ Mỹ
trong những ngày này là dầm mình trong bùn đất, xung quanh là cây cối
lởm chởm vì đạn pháo và súng trường. Binh lính bị thương, băng bó, mũ
sắt, áo jacket dính máu... ở khắp chiến trường, nơi cách xa nhà họ hàng
nghìn dặm.
Một lính Mỹ bị thương sau cuộc càn quét trên cánh đồng. Bức ảnh này không được công bố trong phóng sự gốc của LIFE.
Đội quân mệt mỏi của Mỹ sau trận đánh tại khu vực phía nam khu phi quân sự DMZ.
Một lính Mỹ khác bị thương băng bó kín mít.
Các lính Mỹ ăn đồ hộp trong giờ nghỉ ngơi giữa trận chiến.
Một lính Mỹ được phát bánh thánh khi tạm yên tiếng súng một ngày tháng 10/1966.
Theo tuyên bố của chính phủ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tấn công quân sự là trái với Hiệp định Genève, và chính phủ Mỹ
tuyên bố lý do việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam là để
bảo vệ Việt Nam Cộng hòa theo những điều khoản của Hiệp ước SEATO
do Việt Nam Cộng hòa được đặt dưới sự bảo hộ quân sự của SEATO. Tổng
thống Mỹ có quyền đưa quân trợ giúp Việt Nam Cộng hòa theo quy định của
Hiến pháp Mỹ và theo Hiệp ước SEATO đã được Thượng viện Mỹ chấp thuận.
Hơn nữa Quốc hội Mỹ đã ban hành nghị quyết ngày 10/8/1964 cho phép quân
đội Mỹ được hoạt động tại Việt Nam và ủng hộ những hành động của Tổng
thống Mỹ đối với Việt Nam. Chính vì thế Tổng thống Mỹ có quyền điều quân
đến Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh của Quốc hội Mỹ.
(sau này, để tránh việc tổng thống Mỹ lạm dụng đưa quân ra nước ngoài
theo ý bản thân, luật này được sửa lại và việc đưa quân nhất thiết phải
được Quốc hội Mỹ thông qua).
Do vậy, nhiều nhà sử học coi 2 cuộc chiến thực chất chỉ là 1 và gọi đó là "Cuộc chiến mười ngàn ngày", giai đoạn hòa bình 1955-1959 thực chất chỉ là chặng nghỉ tạm thời. Theo Daniel Ellsberg,
ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: Ban đầu là Pháp và Mỹ, sau
đó Mỹ nắm hoàn toàn. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh
của người Việt Nam - dù không phải là tất cả người Việt - nhưng cũng đủ
để duy trì cuộc chiến đấu chống lại vũ khí, cố vấn cho tới quân viễn
chinh của Mỹ.
Theo Alfred McCoy, nhìn lại những chính sách của Mỹ sau khi Hiệp định
Geneva được ký kết, những tài liệu Ngũ Giác Đài đã kết luận rằng "Nam Việt Nam về cơ bản là một sáng tạo của Hoa Kỳ": "Không
có Mỹ hỗ trợ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở
miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956. Không có Mỹ đe dọa can thiệp,
Nam Việt Nam không thể từ chối thậm chí cả việc thảo luận về cuộc Tổng
tuyển cử năm 1956 theo Hiệp định Geneva mà không bị lực lượng vũ trang
của Việt Minh lật đổ. Không có viện trợ Mỹ trong những năm tiếp theo thì
chế độ Diệm và nền độc lập của Nam Việt Nam hầu như cũng không thể nào
tồn tại được.". Tháng 9 năm 1960, sau khi đấu tranh chính trị hoà bình để thống nhất
đất nước theo tinh thần của Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève
không có kết quả, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ
các hoạt động đấu tranh vũ trang và chính trị của lực lượng Việt Minh
miền Nam.
Đến thời điểm này, sự căng thẳng của lực lượng Việt Minh ở miền Nam đã
lên đến mức mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ủng hộ đấu tranh vũ trang ở
phía Nam vĩ tuyến 17. Hội nghị Trung ương Đảng Lao động lần thứ 15
(tháng 1-1959) quyết định: "Phải qua con đường đấu tranh cách mạng
bằng bạo lực, mà cụ thể là dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là
chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị thực
dân kiểu mới của Mỹ và tập đoàn quân sự tay sai của Mỹ.". Như vậy năm 1960
trở thành một năm có biến động lớn, mở ra một giai đoạn mới của Chiến
tranh Việt Nam. Các nỗ lực đàm phán chính trị nhằm thống nhất Việt Nam
đã không có kết quả, từ nay đấu tranh vũ trang sẽ là phương hướng chủ
yếu.
Chính
phủ Ngô Đình Diệm nhanh chóng thanh lọc bộ máy cầm quyền, đưa những
người trung thành với ông vào các vị trí quan trọng. Nhà nước Việt Nam
Cộng hòa,
lúc đó mang biểu hiện của hình thức tập quyền, chính trị của quốc gia
phụ thuộc rất nhiều vào các đặc tính cá nhân của Ngô Đình Diệm và gia
đình ông. Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cấp tốc trang bị và huấn luyện
với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, vào
thời điểm đó xét về trang bị được xem là đứng đầu khu vực Đông Nam Á,
vượt trội hơn Quân đội Nhân dân Việt Nam - đang là đối thủ tiềm tàng ở
miền Bắc. Đánh giá về chế độ Việt Nam Cộng hòa, giáo sư Mỹ Noam Chomsky đã nói rằng: "Chính
phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng
đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ.
Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi
theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị,
trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp". Ngay cả Lầu Năm Góc cũng nhận xét: "Không
có Mỹ giúp đỡ thì Diệm hầu như chắc chắn không thể củng cố quyền lực ở
miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1955-1956... Nam Việt Nam về bản chất là
một sáng tạo của Hoa Kỳ". Đầu năm 1961, Tổng thống Mỹ John F Kennedy ký lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam”,
với mục đích phá hoại miền Bắc Việt Nam. Chiến dịch này nằm dưới sự chỉ
đạo của CIA, sau được Lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đã đề ra các biện
pháp chủ yếu là sử dụng lực lượng đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa (gián
điệp biệt kích) còn gọi là “Liên đội quan sát số 1”,
gồm phần đông là lính Việt Nam Cộng hòa có gốc là dân miền Bắc di cư.
CIA và lực lượng đặc biệt Mỹ trực tiếp chỉ đạo, huấn luyện, trang bị để
các nhóm biệt kích này đột nhập vào phá hoại miền Bắc, hình thức chủ yếu
là sử dụng các tiểu đội biệt kích dù. Đến năm 1968 thì các chiến dịch này dừng lại do đã thất bại nặng nề:
gần 500 lính biệt kích bị tử trận, bị bắt hoặc trở thành điệp viên hai
mang, trong khi gần như không gây thiệt hại được gì cho đối phương.
Riêng ngành công an Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với 19 chuyên án đã câu
nhử, bắt sống hoặc tiêu diệt được 121 lính biệt kích. Các đội biệt kích
phần lớn bị bắt ngay sau khi nhảy dù, một số thoát được nhưng không bao
lâu cũng bị bắt do bị dân địa phương chỉ điểm cho công an truy bắt. Cựu
bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara và cựu Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Westmoreland,
đã bị chỉ trích nặng nề vì chiến dịch trên. Chương trình này được giữ
kín suốt nhiều năm, về sau được tiết lộ trong cuốn sách của Sedgwick Tourison
nhan đề "Secret Army, Secret War: Washington's Tragic Spy Operation in
North Vietnam" (Naval Institute Special Warfare) viết tháng 9 năm 1995.
Từ năm 1960, với chủ trương "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội" của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa,
quân Giải phóng ở chiến trường miền Nam phát động liên tiếp các đợt
tiến công quy mô kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang mà
cao trào là phong trào Đồng khởi. Phong trào này gây cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm
lúng túng trong việc lập lại trật tự, dẫn đến một phần đáng kể của nông
thôn miền Nam đã thành vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát (cuối năm
1960). Tới cuối năm 1960, quân Giải phóng Miền nam đã kiểm soát 600/1298
xã ở Nam Bộ, 904/3829 thôn ở đồng bằng ven biển Trung bộ và 320/5721
thôn ở Tây Nguyên. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, quân Giải phóng đã lập
chính quyền tự quản ở 1.383 xã. Đứng trước tình hình trên, tướng Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam để hỗ trợ gấp cho Việt Nam Cộng hòa. Kế hoạch Staley-Taylor (hay chiến tranh đặc biệt)
với việc sử dụng chủ yếu quân lực Việt Nam Cộng hòa đã được trang bị
bằng vũ khí tối tân do Mỹ cung cấp và thực hiện các kế hoạch quân sự do
cố vấn Mỹ hoạch định. Nhà nước Hoa Kỳ cũng tăng thêm nguồn viện trợ kinh
tế cho chính phủ Ngô Đình Diệm nhằm tăng quân số và tiêu dùng cho các
chi phí quân sự. Với khả năng cơ động cao, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã
giành được những thắng lợi nhất định. Đồng thời, chính phủ Việt Nam
Cộng hòa thắt chặt chính sách Ấp chiến lược nhằm cách ly quân Giải phóng với dân chúng. Ngay
từ tháng 4-1961, tổng thống Mỹ lúc đó là Kennơđy đã cho chuẩn bị một
chương trình toàn diện nhằm chống lại sự “thống trị” của cộng sản ở Việt
Nam; đưa quân đội Việt Nam Cộng Hòa (quân Ngụy) từ 150 ngàn lên 170
ngàn người, số cố vấn Mỹ từ 700 lên 800 người. Thực tế sau đó, số cố vấn
Mỹ đã tăng đến hơn 3 ngàn và phi công Mỹ đã bay chiến đấu.
Trận đặc công Việt Nam ‘xé xác’ Rồng Xanh Hàn Quốc năm 1967
Thứ hai, 11/04/2016, 05:09 (GMT+7)
- Sau
trận đánh hủy diệt khiến 420 binh lính Hàn Quốc thiệt mạng, 6 tên còn
sống sót ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập thể, một
số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
Trước năm 1965 chính phủ Đại Hàn Dân Quốc đã gửi các đơn vị quân y và
các võ sư sang tham gia vào các hoạt động giao lưu với chính phủ Việt
Nam Cộng Hòa nhằm dọn đường cho việc tham gia chính thức vào chiến
trường Việt Nam sau này. Từ năm 1965 trở đi lần lượt các đơn vị chiến
đấu của Đại Hàn lần lượt cập bến quân cảng Đà Nẵng và chính thức tham
chiến. Đó là Sư đoàn bộ binh Capital có cái tên rất kêu “Mãnh hổ” đóng
quân ở Qui Nhơn, tiếp theo là sư đoàn bộ binh “Bạch Mã” đóng ở Phú Yên,
Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến “Rồng Xanh” đóng quân tại Quảng Ngãi, Hội
An.
So với lực lượng giải phóng quân của ta thì quân Hàn Quốc được huấn
luyện rất bài bản và được chọn lựa kỹ càng. Chúng rất thành thạo về các
chiến thuật “phản” du kích, kỹ chiến thuật điêu luyện. Được huấn luyện
đào tạo theo các giáo trình huấn luyện biệt kích của Mỹ, chúng rất gan
lỳ và được đầu độc nặng nề về lòng căm thù chế độ Cộng sản. Ngoài ra
ngay cả người Mỹ cũng phải kính nể về trình độ võ thuật của lính Hàn
Quốc. Tiêu chuẩn của binh lính tham gia vào các đơn vị kể trên là phải
có trình độ cao đăng môn Teakwon-do hoặc Happkido truyền thống của Đại
Hàn.
Lính Hàn Quốc có thể độc lập tác chiến và tự tìm cách duy trì sự sống
trong rừng sâu khi bị lạc đơn vị trong chiến đấu một thời gian tương
đối lâu. Chúng nghiên cứu quy luật chiến đấu và hoạt động của du kích ta
rất kỹ lưỡng và đối phó khá hiệu quả trong thời gian đầu. Chúng tổ chức
các đợt càn quét lớn và rộng, đêm đêm chia quân đi phục kích các vị trí
nghi ngờ với sự kiên trì và tính kỷ luật cao độ. Khi đi càn chúng luôn
luôn đi đầu, trực thăng Mỹ và pháo binh yểm trợ trên đầu và bộ binh Mỹ
ủng hộ vòng ngoài.
Quân Hàn Quốc hoạt động gần như là độc lập với quân VNCH và không tin
tưởng vào đồng minh trong vấn đề tác chiến. Chúng sẵn sàng nổ súng tiêu
diệt mà không cần bắn cảnh cáo khi có một dân vệ VNCH đi lạc đường vào
khu vực mà chúng chiếm giữ.
Quân ta gặp khá nhiều khó khăn và tổn thất khi đối đầu với lính Hàn
Quốc. Chúng rất lỳ lợm trong việc phục kích và khủng bố dân trong các
vùng chiếm đóng với cách thức hết sức dã man.
Quân đội Hàn Quốc gây ra rất nhiều tội ác man rợ, trời không dung đất
không tha như giết hại cùng một lúc 500 dân làng ở Tịnh Sơn Sơn Tịnh
Quảng Ngải với thành phần chủ yếu là người già trẻ em và phụ nữ để khủng
bố răn đe mọi người không được ủng hộ du kích và trả thù cho những tên
bị quân ta tiêu diệt…
Tư lệnh miền đã nhận được rất nhiều thư tố cáo và yêu cầu trừng trị
lũ giặc đánh thuê man rợ của chi hội phụ nữ và dân trong vùng bị chúng
chiếm đóng. Quân ta đã tập trung lại và thề tiêt diệt bọn Đại Hàn để trả
thù cho các chiến sĩ và đồng bào hy sinh vơi khẩu hiệu viết bằng máu:
“Xé xác Rồng Xanh, Phanh thây Mãnh Hổ! Máu phải trả bằng máu, quyết trả
thù cho đồng bào Bình Sơn, Sơn Tịnh bị Nam Triều Tiên sát hại”.
Các chiến sĩ ta và trận với quyết tâm cao cùng với vành khăn tang
trắng quấn trên đầu để tưởng nhớ những đồng bào bị giặc sát hại. Và các
hoạt động “Khai tử Rồng Xanh ” liên tục diễn ra.
Vào một ngày giữa năm 1966, như thường lệ lính Hàn Quốc lên trực
thăng đi càn khá đông, chúng đổ bộ xuống một cánh đồng mà không biết đã
có tiểu đoàn 48 quân giải phóng bố trí trận địa bao vây phục sẵn. Đợi
bọn giặc vào thật gần cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng, địch bị bất ngờ
chống cự yếu ớt và tháo chạy tìm đường thoát thân. Quyết không để kẻ thù
chạy thoát quân ta nhất loạt xung phong truy kích tiêu diệt địch. Cuối
trận đánh địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, bỏ lại hơn 200 xác chết,
chỉ có một số ít tháo chạy được.
Sau đó, nhiều đại đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gọn trong các trận bao
vây và phục kích của ta. Địch bắt đầu hoang mang và chùn tay hơn khi đi
càn quét.
Tuy nhiên, tinh thần của chúng chỉ gục ngã hẳn sau một trận đánh lớn,
trận đánh giáng một đòn mạnh vào quân đội Hàn Quốc rung động đến cả
Seoul và làm Tổng thống Park Chung Hee phải điên đầu. Đó là trận tấn
công một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn “Rồng Xanh” nổi tiếng
tàn ác khát máu đóng đóng tại đồi tranh Quang Thạnh tỉnh Quảng Ngãi vào
năm 1967.
Trận đánh này có ý nghĩa rất lớn, nó củng cố tinh thần cho quân giải
phóng, làm hả lòng hả dạ đồng bào Quản Ngãi nơi quân giặc đã gây ra
nhiều tội ác tày trời. Làm tan rã ý chí chiến đấu và sự hung hăng của
quân Hàn Quốc đánh thuê. Đặc biệt, trận này không phải là ta phục kích
đánh lẻ tẻ mà đánh tiêu diệt xoá xổ một lực lượng cỡ tiểu đoàn trong một
căn cứ phòng ngự vững chắc được kết cấu bởi một hệ thống các công sự
phòng ngự kèm các lô-cốt cố thủ bao quanh bởi một hệ thống dây kẽm gai
gài mìn nhiều tầng được giám sát bảo vệ bởi các tốp lính đi tuần và canh
gác cẩn mật. Diễn biến trận Quang Thạnh ngày 15/2/1967
Tư lệnh miền đã cân nhắc rất kỹ các kế hoạch tấn công vào cứ điểm đồi
tranh Quang Thạnh. Mục tiêu của ta đề ra là phối hợp các tiểu đoàn
chiến đấu vận động bí mật tiếp cận mục tiêu theo hình thức đặc công. Đến
nơi tạo 4 cửa mở ở bốn góc bằng cách gài bộc phá để phá đồng loạt các
hàng rào dây kẽm gai sau đó đồng loạt xung phong tiến vào tiêu diệt quân
địch trong cứ điểm bằng AK, lựu đạn và súng phun lửa kết hợp với DKZ và
B-40 ở bên ngoài. Yếu tố bất ngờ đóng vai trò chủ đạo và trận đánh phải
sẽ diễn ra vào khoảng 10 giờ tối và phải kết thúc trước càng nhanh càng
tốt trước khi trời sáng để đề phòng quân địch ở các căn cứ khác kéo đến
tiếp viện và hạn chế hoả lực của phi pháo bắn tiếp cứu
Trận đánh bắt đầu đúng như kế hoạch, ta dùng 4 mũi tấn công bí mật
tiếp cận từ các hướng, giữa các mũi tấn công luôn luôn đảm bảo liên lạc
thông suốt với nhau và với ban chỉ huy trận đánh. Tuy nhiên do rải lộ
tiêu không tốt mà một mũi tấn công bị lạc đường mất liên lạc và không
đến vị trí tập kết được. Mặc dù chỉ còn ba mũi nhưng ta vẫn quyết định
tấn công cứ điểm. Ta đã thành công trong việc bịt mắt bọn đi tuần và bọn
gác bên ngoài. 3 mũi bí mật tiếp cận các cửa mở và đã đặt bộc phá xong,
chỉ huy trận đánh ra lệnh đồng loạt phát hoả để mở các cửa.
Sau những tiếng nổ của bộc phá và DKZ, B-40 cùng lựu đạn. Quân ta
nhất loạt xung phong đột phá qua các cửa mở dùng AK bắn xối xả vào các
giao thông hào, các ụ phòng ngự có đặt trung liên, và các khu dã chiến
cho lính ngủ nửa chìm nửa nổi. Bọn địch bị hoàn toàn bất ngờ , vòng
ngoài nhanh chóng bị hoả lực của ta tiêu diệt. Số còn lại lùi vào bên
trong vừa phản kích dữ dội vừa tìm cách tập trung lực lượng dựa vào các
lô cốt phòng ngự. Nắm được ý đồ của địch, ta vừa tăng cường sức tiến
công vừa bao vây chia cắt địch theo từng khu vực để tiêu diệt và gọi
hàng.
Mặc dù sức tấn công của ta mạnh ở 3 mũi nhưng do thiếu một mũi tấn
công thứ tư cho nên việc chia cắt cô lập địch thành các khu nhỏ để bao
vây tiêu diệt triệt để trở nên khó khăn. Quân Hàn Quốc dựa vào các
lô-cốt hầm ngầm điên cuồng chống cự bằng trung liên, nhất quyết không
đầu hàng. Ta dùng súng phun lửa và lựu đạn tiêu diệt các ụ phòng ngự
ngoan cố này.
Đến gần sáng, ta làm chủ phần lớn cứ điểm, căn cứ ngổn ngang xác
địch. Do sơ hở, ta để một đại đội thuộc sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ từ bên
ngoài đánh vào tiếp cứu và chúng co cụm vào 2 lô-cốt kiên cố nhất ở trên
cao, dùng hoả lực chống cự quyết liệt…
Lúc này phi pháo ở bên ngoài bắn vào dữ dội hơn. Do bên trong căn cứ
lúc này chủ yếu là quân ta cho nên chỉ huy trận đánh ra lệnh giải quyết
số thương binh tử sĩ và rút lui dần vì nếu kéo dài đến sáng sẽ không có
lợi.
4 giờ sáng quân ta rút lui an toàn ra khỏi căn cứ đồi tranh Quang Thạnh.
Mặc dù không tiêu diệt được 100% quân số địch, không bắt được tù binh
nhưng số mà ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu đủ để xoá sổ tiểu
đoàn lính thuỷ đánh bộ của Lữ đoàn Rồng Xanh đóng tại đây. Trận này ta
tiêu diệt tại chỗ 420 lính Hàn Quốc (chúng có khoảng 500 tên trong căn
cứ).
Đây là một trận đánh lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh qụy Lữ
đoàn thuỷ quân lục chiến Rồng Xanh, giáng một đòn chí tử vào đội quân
đánh thuê tàn ác, củng cố tinh thần cho bộ đội khu Năm về khả năng đánh
địch trong cứ điểm phòng ngự kiên cố. Âm vang của trận đánh lớn đến nỗi
làm lình Hàn Quốc sống sót mất hết tinh thần. Sau trận đánh, sáu tên
lính Park Chung Hee ở một đơn vị Rồng Xanh đã rút chốt lựu đạn tự tử tập
thể, một số tự bắn vào chân để phản đối lệnh đi càn của chỉ huy.
Ở các nơi có bọn Đại Hàn đóng quân, một số đem súng tìm du kích để
đầu hàng. Một số thông qua dân nhắn bộ đội giải phóng đừng có bắn chúng,
đổi lại chúng sẽ chỉ đi càn lấy lệ
Sau chiến thắng này bà con ta hả lòng hả dạ và yên tâm bám đất ủng hộ
du kích kiên quyết không vào các ấp chiến lược do địch cưỡng chế.
(Theo VnDefence)Hết TT&HĐ III - 32/$
Hết TT&HĐ III - 32/$, TIẾP TỤC hết TT&HĐ III - 32/>
Gắn liền với sự thất bại của cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Nam- Việt Nam là tướng tư lệnh chiến trường Oétmolen.
William Childs Westmoreland (26 tháng 3 năm 1914 – 18 tháng 7 năm 2005)
Nếu
đại tướng Mắcxoen Taylo, trước khi làm đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã từng được
đánh giá là “một nhà chiến lược tầm cỡ quốc tế, thông minh, sắc sảo, có
tầm mắt nhìn xa trông rộng, có quan điểm táo bạo, độc đáo” thì đại
tướng Oétmolen cũng được nhận xét là “một vị chỉ huy lỗi lạc, tự tin, có
tri thức quân sự, có kinh nghiệm chiến đấu, có tác phong xông xáo…”
Theo
lời tự thuật của Oétmolen thi ông ta xuất thân từ một gia đình quí tộc
Anh, di cư sang Mỹ từ thế kỷ XVII. Dòng họ Nêvin (Neville) này, sau khi
đã có chân trên mảnh đất trù phú ở “Tân thế giới” và trở thành trại chủ
kiêm tư sản tại bang Carôlina Nam, thì đổi tên dòng họ từ Nêvin sang
Oétmolen (nghĩa đen là thêm đất ở miền Tây). Oétmolen chào đời vào năm
xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất: 1914. Sau này, khi đã là một
quân nhân, ông ta thường nói vui: “Tôi sinh ra dưới ánh sáng của sao Hỏa
(sao tượng trưng cho Thần chiến tranh). Do đó, dù đã có thêm mảnh đất ở
miền Tây để sinh cư lập nghiệp, vẫn cứ phải liên tục chinh chiến ở
nhiều mảnh đất phía Đông!”
Oétmolen
tốt nghiệp Cao đẳng quân sự Xitaden bang Carôlina Nam năm 1936 khi vừa
chớm 22 tuổi với quân hàm thiếu úy. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
bùng nổ. Trận “thử lửa” đầu tiên của Oétmolen là vào năm 1942. Lúc này
Oétmolen đã là thiếu tá, chỉ huy một tiểu đoàn pháo binh trong đội lính
của sư đoàn 9 Mỹ. Chính Oétmolen đã dẫn đầu tiểu đoàn của mình, hành
quân cấp tốc suốt 4 ngày đêm vượt qua dãy núi Átlát trên biên giới
Angiêri - Tuynidi, kịp thời bắn yểm trợ cho các đơn vị bộ binh Mỹ trong
trận chiến đấu quyết liệt với đạo quân phát xít Đức do tướng Rômmen chỉ
huy trên chiến trường Bắc Phi. Sau trận này Oétmolen được thăng trung
tá. Tiếp tục xông pha trên chiến trường Châu Âu và khi chiến tranh thế
giới thứ hai kết thúc thì Oétmolen đã là đại tá sư đoàn trưởng, trở về
nước tiếp tục bổ túc lý luận quân sự và học thêm môn nhảy dù. Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ảnh tư liệu. Bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Ảnh tư liệu.Đồng
chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3trong
cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.Lữ đoàn không vận số 2, Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ đổ bộ vào Quy Nhơn, 19-9-1965. Ảnh: Francois Sully.Sư đoàn “Mãnh hổ” Nam Triều Tiên đổ bộ vào Quy Nhơn tháng 10-1965. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
Giữa
năm 1952, Oétmolen được điều động sang chiến trường Triều Tiên với
cương vị đại tá lữ đoàn trưởng lữ dù 187. Với tác phong “năng nổ, xông
xáo”, năm 1953, Oétmolen được thăng cấp thiếu tướng. Lúc này Oétmolen
mới 39 tuổi và là “viên tướng trẻ nhất trong quân đội Mỹ hồi đó”. Liền
sau đó, Oétmolen được cử làm sĩ quan huấn luyện rồi làm chỉ huy trưởng
Học viện quân sự Oét Pôintơ - Học viện nổi tiếng nhất nước Mỹ.
Ngày
15-12-1963, Oétmolen được lệnh điều động sang Nam - Việt Nam. Cả Nhà
Trắng và Lầu Năm Góc khi đó đều không hình dung được rằng chỉ sau một
thời gian ngắn, Oétmolen sẽ là người thống lĩnh một đạo quân viễn chinh
lớn nhất của nước Mỹ để tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài nhất, hao
người tốn của nhất, thất bại chua cay nhất trong toàn bộ lịch sử nước
Mỹ, cách xa nước Mỹ đúng nửa vòng trái đất.
Lúc
đầu, Oétmolen mới chỉ được giao nhiệm vụ làm phó cho tướng Hakin, tư
lệnh bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Nam - Việt Nam. Tướng Uylơ, lúc đó
là Tổng tham mưu trưởng lục quân Mỹ, đã đặt rất nhiều hy vọng vào
Oétmolen. Uylơ đã khẳng định với Mắc Namara, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ,
rằng Oétmolen, với bề dày kinh nghiệm chiến đấu và huấn luyện “nhất định
sẽ làm tròn nhiệm vụ đào tạo quân Nam - Việt Nam (quân Ngụy) trở thành
một đạo quân chống cộng cừ khôi nhất ở Châu Á”.
Về
phần mình, mặc dù được cả Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Tòa đại sứ Mỹ ở Sài
Gòn rất tin cậy, đánh giá rất cao, nhưng Oétmolen vẫn “không hề tỏ ra
chủ quan, tự phụ, ngược lại còn rất khiêm tốn”. Chính Oétmolen bộc bạch
rằng trước khi sang Nam - Việt Nam “nhận công tác khó khăn phức tạp nhất
trong cuộc đời hoạt động quân sự của mình”, ông ta đã bỏ ra một thời
gian để nghiên cứu các tác phẩm quân sự của Tôn Tử, tìm hiểu nghệ thuật
quân sự của Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ, đồng thời đọc kỹ nhiều bài
viết của đại tướng Võ Nguyên Giáp, hơn nữa còn tìm gặp tướng Mắc Áctơ -
Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương trong
chiến tranh thế giới thứ hai, để “xin ý kiến về việc đàn áp phong trào
nổi dậy ở Châu Á”. Áctơ đã cho Oétmolen một lời khuyên: “Cần phải liên
tục tiến công và tận dụng sức mạnh hủy diệt của hỏa lực”. Đồng bào miền Nam biểu tình đòi quân Mỹ rút về nước. Ảnh tư liệu. Các chiến sĩ vận chuyển lương thực vào chiến trường. Ảnh tư liệu.Các chiến sĩ vận tải vận chuyển vũ khí vào chiến trường cho Sư đoàn 3. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3.
Tháng
6-1964, Oétmolen thay Hakin làm Tư lệnh trưởng bộ chỉ huy viện trợ quân
sự Mỹ ở Sài Gòn mà thực chất là Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Nam - Việt
Nam. Đối với chiến dịch “Sấm rền”, Oétmolen cho rằng “sớm nhất thì cũng
đến tháng 6 (năm 1965) mới thấy kết quả của chiến dịch ném bom Bắc -
Việt Nam và trong khi đó, quân đội Nam - Việt Nam cần được Mỹ chi viện
để bảo vệ phòng tuyến trước sức mạnh ngày càng lớn của Việt Cộng…”, và
“Nếu có một cuộc phản công vào mùa hè của việt Cộng thì không chắc có sự
cầm cự được lâu ở miền Nam để chờ cho việc ném bom trở nên có hiệu quả”
(Tài liệu mật Lầu Năm Góc). Do đó Oétmolen đã đưa ra yêu cầu phải có
ngay 200 ngàn quân Mỹ “để giữ cho khỏi bị thất bại trong một thời gian
đủ cho Mỹ có thể đưa thêm quân tới” (Tài liệu mật Lầu Năm Góc).
Như
đã kể, “tháng 7-1965, Giônsơn đã chấp thuận cho Oétmolen 44 tiểu đoàn
quân chiến đấu Mỹ và thông qua chiến lược “Tìm và diệt” mà “ý nghĩa cơ
bản” trong chiến lược “Tìm và diệt” là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận
xứ sở của kẻ địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi
nào trên đất nước… và giáng cho địch những đòn thật nặng nề” (Tài liệu
mật Lầu Năm Góc). Cũng theo tài liệu này thì sau đó Oétmolen còn báo cáo
là ông ta cần thêm 24 tiểu đoàn Mỹ (hoặc 100 ngàn quân) nữa để phục vụ
cho “giai đoạn giành thắng lợi” bắt đầu vào năm 1966. Các chiến sĩ trên đường hành quân. Ảnh tư liệu Các chiến sĩ tiến công địch. Ảnh tư liệu. Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu. Các chiến sĩ truy kích địch. Ảnh tư liệu.Các chiến sĩ Trung đoàn 22 chiếm lĩnh lô cốt trung tâm Minh Long. Ảnh tư liệu.
Kế
hoạch của Oétmolen chỉ rõ rằng: “có đủ lực lượng để giành thế chủ động
từ tay Việt Cộng vào khoảng năm 1966. Khi bước vào thế phản công và có
thêm lực lượng tăng cường thỏa đáng thì sẽ đánh bại kẻ địch vào cuối
1967”.
Thật
là một kế hoạch “quá đã”! Thoạt đầu, Mắc Namara cũng phải thốt lên:
“Trong lịch sử quân đội Mỹ, tôi chưa hề thấy có vị tướng cầm quân nào
tài giỏi hơn thế”, để khen ngợi Oétmolen. Chính Mắc Namara đã ký giấy
chuẩn chi 2 tỷ đô la để xây dựng một hàng rào điện tử mang tên ông ta,
chạy suốt dọc vĩ tuyến 17 nhằm ngăn chặn quân chủ lực Bắc - Việt Nam
thâm nhập vào miền Nam. Còn tổng thống Giônsơn thì gọi Oétmolen bằng
cách trìu mến là “Oétxky” và trao cho ông này một tấm “ngân phiếu
trắng”, muốn xin bao nhiêu quân cũng được, muốn chi bao nhiêu tiền cũng
được, miễn là kết thúc chiến tranh ở Nam - Việt Nam trong năm 1967, là
năm bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ.
Hầu
hết các nhà bình luận quân sự ở các nước tư bản đều nhận xét, trong
lịch sử quân sự Hoa kỳ, “chưa có vị tướng cầm quân nào được hỗ trợ đắc
lực như tướng Oestmolen”. Để “bình định” một khu vực chỉ bằng một nửa
nước Triều Tiên, Oétmolen nhanh chóng có được một đạo quân viễn chinh
vượt quá cột mốc 500 ngàn quân và hơn hẳn tổng số các lực lượng Mỹ đã
tham gia chiến tranh Triều Tiên trong những năm 1950 - 1953. Hơn thế
nữa, tất cả những đơn vị thiện chiến nhất của nước Mỹ như lính thủy đánh
bộ, sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ”, sư đoàn bộ binh “Tia chớp nhiệt đới”…
đều được điều động tới Nam - Việt Nam. Ngoài ra, Oétmolen còn được đặc
quyền sử dụng cả máy bay ném bom chiến lược cực kỳ hiện đại lúc bấy giờ
gọi là “pháo đài B52” để ném bom “trải thảm” cố hủy diệt các căn cứ Việt
Cộng. Chưa kể cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân vẫn
đang ráo riết tiến hành ở Bắc - Việt Nam. Các chiến sĩ Trung đoàn 22 trong chiến hào đánh Mỹ. Ảnh tư liệu.Máy
bay trực thăng của Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ bị các chiến sĩ Sư đoàn 3
bắn hạn ngày 13-10-1965 tại Hội Sơn, huyện Phù Cát. Ảnh tư liệu.Một đơn vị của Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 đổ bộ xuống Bồng Sơn trong cuộc hành quân Cái Chày tháng 01-1966. Ảnh tư liệu Chiến sĩ thông tin trên chiến hào đánh địch. Ảnh tư liệu.Du kích Hoài Nhơn cùng các chiến sĩ Trung đoàn 22 chiến đấu bảo vệ quê hương. Ảnh tư liệu Sư đoàn 3. Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu. Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu. Các chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệuCác chiến sĩ tấn công địch. Ảnh tư liệu.Các chiến sĩ truy kích địch ở Hoài Nhơn. Ảnh t
Được
sự tăng viện ồ ạt từ Mỹ đủ mọi loại phương tiện chiến tranh hiện đại,
kể cả bom napan, kể cả chất độc hóa học phát quang cây, rừng gọi là chất độc màu da cam hay Điôxin, Oétmolen đã có trong tay, vào cuối năm 1965,
một lực lượng chiến tranh có ưu thế tuyệt đối (nhìn từ ngoài vào số
lượng nổi trội!) về mọi mặt so với đối phương, tạo nên tương quan về lực
lượng trên chiến trường đột ngột nghiêng về phía Mỹ - Ngụy. Nhờ thế
Oétmolen đã chủ động tung ra đòn phản công chiến lược mạnh mẽ “Tìm và diệt” mùa khô năm 1965-1966 với kế hoạch 5 mũi tiến công vào 5 vùng ưu
tiên tìm diệt gồm Nam - Phú Yên, Tây - Quảng Ngãi, Bắc - Bình Dương, Bắc
- Củ Chi, Bến Cát thuộc Bình Dương. Chiến trường miền Nam suốt 4 tháng
trời đầy bão lửa.
Ngay
sau khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự
thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền
Nam
bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy
tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để
lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn
vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Cố vấn Edward
Lansdale
đề xuất ý kiến, cho rằng nếu như có thể chiếm được lòng dân miền Nam
thì du kích sẽ không có chỗ để trốn, nhưng kế hoạch đã thất bại Tháng
11 năm 1965 đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt tại vùng thung lũng
sông Ia Drang, gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kon Tum. Hai trung
đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1
Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là
hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany,
diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn, và tuy cùng
tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm.
Lính Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Mỹ trong trận đánh ở Hoài Nhơn. Ảnh tư liệu. Trực thăng Mỹ đổ quân. Ảnh tư liệu. Lĩnh Mỹ đi càn quét, đốt nhà dân ở Bình Định. Ảnh tư liệu.Chú
thích ở góc trái trên bức ảnh: Lính của Sư đoàn kỵ binh số 1 của Mỹ
xông vào trong làng. Chúng được tin tình báo: “Có 1 trung đội Việt Cộng ở
trong làng”, nhưng tôi chả thấy Việt Cộng ở đâu mà chỉ thấy dân thường
trong khói lửa. Năm 1966. Tại Bình Định. IncredibleImage4u.blogsPost.com
Trận địa pháo của quân Mỹ. Ảnh tư liệu
Lính Mỹ chuyển quân. Ảnh tư liệu.
Lính Mỹ bị thương vong. Ảnh tư liệu
Lính Hàn Quốc đi càn
Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp
đảo của Mỹ. Phía Mỹ có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều
vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ
khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B-52, bom napal và trực thăng
vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn
vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực
tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát
những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại
hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời
chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi
xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân.
Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình
rừng núi quen thuộc của đối phương, và vũ khí của họ cũng không phát huy
hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.
Tháng
5-1966, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lúc đó là Cabốt Lốt, không hiểu sao lại gửi
về cho Giônsơn một bản báo cáo mà “Tài liệu mật Lầu Năm Góc” gọi là bản
báo cáo gồm 7 số “0”:
1-“0” làm hao tổn Việt Cộng.
2-“0” tiêu diệt được đơn vị chính qui lớn nào của Việt Cộng.
3-“0” ngăn được du kích phát triển.
4-“0” ổn định được hậu phương.
5-“0” giành được chủ động.
6-“0” ngăn được đà suy sụp của quân đội Sài Gòn (ngụy quân).
7-“0” tăng cường và bổ sung kịp được lực lượng của Mỹ.
Trong
khi đó, Cục tình báo trung ương Mỹ đánh giá về cuộc đánh phá Bắc - Việt
Nam bằng không quân: “Ném bom đã tỏ ra ít có tác dụng đối với Bắc -
Việt Nam”. Cuộc họp của 47 nhà bác học đại diện cho những phần tử ưu tú
nhất của nước Mỹ thì đánh giá kết quả của chiến dịch Sấm rền là: “Tính
đến tháng 7-1960, các hoạt động ném bom của Mỹ ở Bắc - Việt Nam đã không
có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể nào đến khả năng của Hà Nội trong việc
tiến hành và hỗ trợ các hoạt động quân sự ở Nam - Việt Nam như mức hiện
"Lính chuột" là một lực lượng đặc biệt được Mỹ đào tạo
riêng biệt cho nhiệm vụ chui xuống những địa đạo chật hẹp dưới lòng Củ
Chi để lục soát, gài thuốc nổ hoặc tần công các lực lượng du kích, quân
giải phóng của ta đang lẩn trốn, chiến đấu bên dưới những đoạn đường hầm
này. Nguồn ảnh: Archive.
Những người lính "Lính chuột" (Rat tunnel) được trang bị vũ khí rất gọn
nhẹ, chỉ bao gồm một khẩu súng lục M1911 và mặt nạ phòng độc. Nguồn ảnh:
Vietnamwar
Do thể hình của người Mỹ quá to lớn, những người lính Chuột thường được
chọn từ những binh lính gốc Á hoặc những người có thể hình nhỏ con. Ảnh:
Một lính chuột của Mỹ đang cầm theo bọc thuốc nổ chuẩn bị được mang
xuống đặt dưới hầm. Nguồn ảnh: Rat.
Đây là một nhiệm vụ cực kỳ mạo hiểm vì rất có thể bên dưới những
đoạn địa đạo Củ Chi, các lực lượng của ta đang phục kích sẵn. Nguồn ảnh:
Tunnel
Hệ thống địa đạo Củ Chi khiến Mỹ rất đau đầu khi không biết làm cách nào
có thể vô hiệu hóa hoàn toàn được những đoạn hầm dài hàng trăm kilomets
này. Nguồn ảnh: Archive.
Sử dụng cả ống nghe để tìm tiếng động dưới lòng đất. Dù Mỹ có sử dụng
hơi gas độc, bơm nước vào hầm hay sử dụng bom xuyên phá, địa đạo Củ Chi
vẫn là bất khả xâm phạm vì nó có quy mô quá lớn. Nguồn ảnh: Archive
Địa đạo Củ Chi có chiều dài tổng cộng khoảng 250 mét với hàng nghìn lối
ra vào được ngụy trang rất tinh vi, binh lính Mỹ chỉ có thể tiếp cận
được khoảng một vài trăm mét khu vực ngoại vi của địa đạo, chưa từng có
bằng chứng nào ghi nhận lại việc Mỹ có thể tiến vào được những khu vực
sâu nhất của hệ thống hầm ngầm lớn bậc nhất thế giới này. Nguồn ảnh:
Archive.
Ở miền Nam Việt Nam, người Mỹ đã mang 500 con chó và sau đó tăng dần
theo thời gian và lên đến 5000 con chó vào năm 1966. Nhiệm vụ của những
chú chó này là trinh sát, tuần tra, dò mìn cũng như đánh hơi, lùng sục,
phát hiện bộ đội ta. Những con chó được mang qua Việt Nam đều là những
con chó thuộc dạng thông minh với khứu giác nhạy bén như Béc Giê, Béc Bỉ, Rottweiler,Doberman.
Chúng toàn là những con chó được tuyển chọn kĩ lưỡng từ những trại chó
trên khắp nước Mỹ và được huấn luyện chuyên nghiệp và có thể chiến đấu
linh hoạt tại nhiều địa hình. Những con chó này đều được đeo quân hàm có
lương thưởng và khi qua đời được lễ tang giống con người.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sau khi thất bại liên tiếp của quân
đội Mỹ trước sự mưu chí dũng cảm của du kích và bộ đội địa phương tại
những vùng kháng chiến tại Miền Nam nước ta. Người Mỹ đã cho rất nhiều
công nghệ đến với mục đích tìm ra du kích như Máy ngửi ( Một dòng máy
phát hiện ra hơi người tương tự loài chó), Hàng rào điện tử MC Namara,
và một số vũ khí đi càn để có thể tìm thấy nơi ẩn náu của du kích nước
ta. Tuy vậy mọi kế hoạch đều bị phá sản, vì vậy người Mỹ đã cho sử dụng
chó nghiệp vụ tại nước ta.
Chiến thuật của Quân đội Mỹ khi sử dụng chó nghiệp vụ là cho chúng đi
càn cùng với lực lượng mặt đất. Mỗi tổ đội chó nghiệp vụ được phân ra
cứ 5 người đi cùng với 2 chú chó nghiệp vụ, 1 con dự bị và 1 con làm chỉ
huy. Mỗi tiểu đội Mỹ khi đi càn qua khu vực nghi ngời có du kích Việt
Nam. Người Mỹ tin rằng, với khứu giác nhạy bén của những chú chó nghiệp
vụ thì lính Mỹ dễ dàng tìm thấy ổ phục kích hay những đường hầm, hào do
du kích Việt Nam.
Tuy nhiên, lý thuyết là như vậy nhưng thực tế chiến trường Việt Nam
nó khác với những gì người Mỹ nghĩ. Khi biết được rằng, người Mỹ sử dụng
chó nghiệp vụ nhằm đánh hơi vị trí của lực lượng kháng chiến thì họ đã
nghĩ ra nhiều kế nhằm vô hiệu hóa chó nghiệp vụ của Mỹ. Như dùng ớt hay
những chất thải của người và động vật để làm loạn mùi khiến chó nghiệp
vụ Mỹ bị mất khứu giác. Hoặc bẫy chó nghiệp vụ Mỹ.
Tại địa đạo Củ Chi để
đánh lừa chó nghiệp vụ của Mỹ, các chiến sĩ cách mạng đã để đồ đạc của
quân đội Mỹ như quần áo ở các lỗ thông gió, lối vào đường hầm... Chính
vì vậy, những con chó đó không phát hiện ra khói nấu ăn và đốt củi từ
dưới lòng địa đạo bốc lên.
Theo nhiều số liệu thống kê chính thức, Mỹ đã triển khai sang Việt Nam
ít nhất 4000 chú chó quân sự, số lượng tối đa có thể lên tới 5000 con.
Ảnh: History.net
Hiệp hội Chó Chiến tranh của Mỹ ghi nhận, chỉ có 204 chú chó nghiệp vụ
được quay về Mỹ sau khi cuộc chiến kết thúc. Tuy nhiên, quân đội Mỹ cũng
chỉ ghi nhận 350 trường hợp chó nghiệp vụ chết trong chiến đấu, số
lượng còn lại là một ẩn số. Ảnh: History.net
Thời
kỳ đầu hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ ta phải giữ bí mật
tuyệt đối, tránh để địch phát hiện, khẩu hiệu nêu phương châm hoạt động
tất cả phải thực hiện “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”
được thực hiện rất cụ thể cho từng trường hợp.
Đi
không dấu là việc rất khó. Nếu chỉ một vài người đi thì dấu vết hằn
trên mặt đất không nhiều, đi khéo léo thì địch không phát hiện được. Nếu
cả đoàn nhiều người đi thì phải có bộ phận ở sau xóa dấu vết, khi đi
qua những chỗ như vạt cỏ, đường đất thì dùng ni lông lót đường để không
lưu lại cỏ bị giẫm đạp, không để lại dấu dép. Có trường hợp phải lấy
nước rửa chỗ bùn sình do dép làm dính mặt đất. Đi không dấu còn phải giữ
bí mật cả chỗ căng võng; thường phải lót miếng nylon bên trong tránh
làm cho cây có dấu siết của dây dù căng vào thân cây. Tất cả những thứ
ta sử dụng đều phải chôn giấu, kể cả việc đi đại tiện.
Căn
cứ ở trong rừng, người ra vào phải hạn chế nhưng vẫn phải đi nhiều lần
nhiều ngày sẽ nổi rõ con đường mòn là địch sẽ phát hiện ngay. Ta phải
khắc phục bằng cách kê những khúc cây để khi đi bước chân lên đómà
không đưa chân xuống mặt đất, có đoạn dài cả trăm mét, khi địch càn ta
thu các khúc cây cất đi và xóa dấu vết. Chung quanh căn cứ ta thường làm
dấu như cây ngã tự nhiên ở rừng. Lúc cần ta sẽ gài trái (mìn) để ngăn
chặn địch.
Đi
không dấu không phải ai cũng ý thức thực hiện thật tốt, khi Mỹ vào địch
“xúc” dân ra vùng chúng kiểm soát vùng căn cứ không còn dân chỉ còn lực
lượng du kích, các cơ quan trú đóng, ăn ở sinh hoạt phải bí mật, ta
thường đào hầm ở các bụi tre ở phân tán lực lượng vài ba người một địa
điểm.
Nơi
cơ quan trú đóng thì đào lò Hoàng Cầm để không bốc khói lên trên cao mà
bị máy bay địch phát hiện. Nơi đi qua một lần thì khi nấu phải tránh
củi tươi để hạn chế khói và canh máy bay, có nơi phải chờ chiều tối mới
nhóm lửa, không tránh khỏi gặp trường hợp nồi cơm đang sôi phải tắt lửa
để máy bay địch không phát hiện.
Khi
hành quân phải giữ im lặng tuyệt đối, người đi trước ra dấu người đi
sau bằng động tác đã quy ước để họ nhận biết thực hiện. Đôi lúc cũng xảy
ra “sự cố” do người đi sau hiểu sai ám hiệu của người đi trước
Hầm chông gây ra nỗi khiếp đảm cho lính Mỹ
Hầm chông bẫy cọp – GIS (lính Mỹ)
đang cơ động nhẹ nhàng trên đường mòn, bất ngờ đất dưới chân anh ta sụt
xuống và lính Mỹ rơi vào một cái hố đầy chông tre hoặc chông sắt sắc
nhọn. Nếu như anh ta may mắn và không chết ngay, anh ta sẽ gào lên vì
đau đớn, các binh sĩ còn lại sẽ xúm vào tìm cách lôi anh ta lên khỏi cái
hầm chông kinh hoàng đó. Thông thường xung quanh hầm chông đó có những
cửa bí mật, những hỏa điểm đáng sợ của các xạ thủ du kích bắn tỉa.
Cuộc chiến tranh nhân dân của ta nảy sinh nhiều sáng tạo độc đáo.
Hầm chông, hố đinh: Đây là vũ khí thô sơ bất cứ người dân nào cũng làm được để đánh giặc.
Hầm
chông thì đào sâu chừng quá ngực tới cần cổ, bề rộng chừng 8 tấc, bề
dài chừng 1,2 m, bên dưới đặt một bàn nhiều cây chông bằng tre vót nhọn
hoặc bằng sắt có ngạnh. Vị trí đào hầm chông được chọn nơi địch sẽ đi
qua hoặc sẽ vào chỗ đó như nơi treo kẻng, khẩu hiệu… Khi địch càn, ta
ngụy trang mặt hầm như đất thường, thế là chúng lọt xuống hầm những cây
chông đâm vào chân vào háng nhất là gặp chông sắc có ngạnh địch không
cách nào cưa được phải khiêng cả người cùng cái bàn chông đi đến nơi có
điều kiện để cưa cây chông. Chỉ vài trường hợp như vậy, địch không dám
càn tiếp mà phải rút lui.
Hố
đinh là hố có những cây đinh dài hơn một tấc, được gắn vào miếng gỗ lớn
hơn bàn chân, hố đặt bàn đinh này chỉ sâu tới quá đầu gối được đào và
đặt nơi địch sẽ đi qua. Khi chúng đi sẽ sụp chân xuống hố các cây đinh
đâm vào bàn chân, bị thương không thể đi tiếp được nên cũng lui quân.
Thời
mới đồng khởi ở Bến Tre, ta dùng ong vò vẽ đánh giặc bọn ngụy rất sợ.
Tổ ong vò vẽ khối cầu vỏ khá chắc vì chúng làm bằng vỏ cây pha với phân
bò, có hai cửa ra vào, ta chờ trời tối lấy giấy dán cửa miệng rồi lấy
vải bọc lại dời chúng đến đặt ở địa điểm bố trí đánh địch thì mở cửa cho
nó hoạt động bình thường. Khi địch vào tới gần ta kéo dây cột làm tổ
ong vỡ bay ra đuổi đốt bọn lính chạy trối chết. Thế là cuộc càn quét
địch phải chuyển hướng đi hoặc rút lui để “bảo toàn lực lượng”.
Ở
một số nơi, người dân, du kích đánh địch bằng nhiều cách rất sáng tạo.
Chẳng hạn, ta dùng tên ná được tẩm thuốc độc, chờ địch đến gần ta núp
trong bụi chờ địch đi tới nhắm bắn vào tên chỉ huy là ngăn cả cuộc “hành
quân”. Có khi ta lợi dụng nơi con đường hẹp hai bên là vách núi, địch
phải đi qua bố trí những tảng đá to trên cao, khi địch tới ta đẩy cho đá
lăn xuống... Thế là ta bẻ gãy cuộc càn của chúng không cần một viên
đạn.
Có
nơi du kích tự chế vũ khí thô sơ bằng cách làm một quả cầu gắn vào rất
nhiều mũi cây nhọn chỉa ra tứ phía có sợi dây để kéo lên xuống bố trí
trên trục đường giặc sẽ đi qua điều khiển cho quả cầu này lao xuống ngay
đầu bọn lính đang đi trên đường. Có trường hợp quả cầu lao trúng ngay
bọn đi đầu, thế là chúng chạy thụt mạng.
Ở
Bến Tre, du kích có sáng kiến dùng cây chôn xuống đất thành hình chữ X
rồi cột vào hai đầu phía trên chữ X dây thun làm bằng ruột bánh xe hơi
cách như ná giàn thun khổng lồ. Phải hai người kéo khi bắn mới đi được
xa. Địch vào đúng tầm, lựu đạn “nả” vào chúng liên tiếp, địch lớp chết
lớp bị thương mà không biết Việt Cộng từ đâu ném lựu đạn tới.
Khi
Mỹ vào, bom đạn nhiều, chúng bỏ bom bừa bãi, có những quả bom to không
nổ, ta thu cưa lấy thuốc nổ sản xuất mìn để đánh xe tăng, xe cơ giới của
địch khi chúng càn vào vùng giải phóng. Mìn được ta chế tạo từ trái bom
bi làm ngòi và khối thuốc nổ bao bên ngoài theo kiểu mìn gạt, ở hạt nổ
có chỗ gắn cái cây vào sau khi đem chôn trên đường xe tăng chạy qua vướn
cái cây bật hạt nổ làm nổ cả trái mìn. Đây là cách đánh Mỹ dễ nhất, chỉ
cần người gan dạ là đánh được. Với cách đánh này du kích Củ Chi nhiều
người được phong chiến sĩ diệt cơ giới các cấp.
Đại
hội dũng sĩ Củ Chi đã từng tổng kết rút ra 10 kinh nghiệm đánh Mỹ khá
tài tình, ai cũng đánh Mỹ được cả. Đó là: 1. Ai ai cũng đánh được. 2. Vũ
khí gì cũng đánh được. 3. Nhiều cũng đánh, ít cũng đánh, một người cũng
đánh, một tổ cũng đánh và đều đánh thắng Mỹ. 4. Ở đâu cũng đánh được
Mỹ, chỉ cần tích cực bám địch tìm địch mà đánh là được. 5. Ngày cũng
đánh, đêm cũng đánh được Mỹ. 6. Địch phản công cũng là cơ hội tốt để ta
diệt chúng. 7. Đánh cả ở tiền tuyến, đánh cả ở hậu phương địch, đánh đều
khắp, làm cho địch bối rối, bị động thì càng đánh dễ dàng hơn. 8. Đánh ở
trong xã, ấp chiến lược và cả ở ngoài xã, ấp chiến đấu, chỉ cần nêu cao
quyết tâm tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt.9.
Du kích có khả năng đánh thắng tất cả mọi binh chủng của Mỹ. 10. Đánh
cả bằng vũ khí, chính trị, binh vận làm cho địch tan rã nhanh chóng.
Một số loại vũ khí thô sơ của du kích Việt Nam thời chống Mỹ
Các loại bẫy trong chiến tranh Việt Nam được lực lượng du kích miền Nam
sử dụng rất rộng rãi. Rẻ tiền, dễ làm, hiệu quả cao, muôn hình vạn trạng
và khiến quân Mỹ khiếp sợ là đặc điểm ưu việt của những loại bẫy thủ
công này. (Ảnh: Scout)
Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi
chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn
tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh:
Pinterest) Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi
chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn
tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh:
Pinterest)
Ngoài việc bẫy sát thương thông thường, những loại bẫy này còn được bôi
chất bẩn khiến vết thương của binh lính Mỹ nhiễm trùng nặng, có thể dẫn
tới tử vong hoặc phải cắt chi nếu không được cứu chữa kịp thời. (Ảnh:
Pinterest)
Sơ Đồ Địa Đạo Củ Chi
Hệ
thống địa đạo chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, từ đường “xương sống”
(đường chính) tỏa ra vô số nhánh dài ngắn, ăn thông với nhau, hoặc độc
lập chấm dứt tùy theo địa hình. Chung quanh cửa hầm lên xuống được bố
trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái (gọi là tử địa), có cả mìn lớn
chống tăng và mâm phóng bom bi chống máy bay trực thăng đổ chụp, nhằm
tiêu diệt ngăn chặn quân địch tới gầnTrong
chiến tranh, giặc thả bom, giết chết trâu bò... khiến Củ Chi như vùng
đất chết. Người cán bộ sống trong vùng địch, ban ngày náu mình dưới hầm
bí mật, ban đêm mới lên khỏi mặt đất, đi hoạt động
Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, địa đạo Củ Chi là một nỗi thất
vọng lớn, câu hỏi khó đối với quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng
hòa. Mỹ và Australia từng
cố gắng phát hiện và xâm nhập địa đạo bằng nhiều cách, song tất cả nỗ
lực đều thất bại. Quân đội Mỹ thậm chí từng dùng máy ủi san bằng những
khoảng rừng, ngôi làng, cánh đồng lớn và rải chất độc da cam, ném bom
napal, rưới xăng để tận diệt động thực vật. Nhưng kỳ lạ thay, Việt Minh
vẫn an toàn và tiếp tục sống, chiến đấu vì đất nước.
Mùa
Xuân 1975, nhiều cánh quân lớn của Quân đoàn 3 và nhiều đơn vị chủ lực,
địa phương tiến vào giải phóng thị trấn Củ Chi và dinh lũy cuối cùng
của địch tại Sài Gòn, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, vào
lúc 11 giờ ngày 30/4/1975.
Dù sao, Oétmolen vẫn tự tin. Trong thời kỳ cuối năm 1966 đến đầu năm
1967, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông này, quân Mỹ liên tiếp mở hàng
loạt chiến dịch tiến công qui mô lớn vào khu vực chiến khu C (ở Tây
Ninh), khu “tam giác sắt” Củ Chi (ở phía Bắc Sài Gòn), chiến khu Đ (ở
miền Đông - Nam Bộ). Lúc này, tướng Oétmolen “khiêm tốn, thận trọng”
thuở nào bắt đầu ngạo mạn, huênh hoang, tuyên bố: với chiến lược “Tìm và
diệt” đánh vào tận “hang ổ Việt Cộng”, “chỉ đến giữa năm 1967 là đánh
“gãy xương sống” Việt Cộng”. Tất cả các cuộc hành quân “Tìm và diệt” của
Mỹ vào 5 vùng “đặc biệt ưu tiên” nói trên nhằm tiêu diệt và quét sạch
Việt Cộng ở các vùng bao quanh một khu vực căn cứ quan trọng nhất là Bắc
- Tây Ninh, để thực hiện một chiến dịch lớn nhất có tên là “Gianxơn
Xiti” nhằm tiêu diệt cho được cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh tại
miền Nam - Việt Nam của Việt Cộng. Đây là một chiến dịch mà Tổng chỉ huy
Oétmolen cho là quyết định cuộc chiến vào cuối năm 1967 như đã dự định.
Côlơ (W. Cagle), phụ tá đặc biệt của Tổng thống Mỹ thì báo cáo cho
Giônsơn sau chuyến đi thực tế ở miền Nam vào tháng 2-1967: “Tôi trở về
lạc quan hơn bao giờ hết… Một cách tốn kém, đắt đỏ, nhưng hiển nhiên
không cần bàn cãi, chúng ta đang thắng ở miền Nam. Chỉ có ít chương
trình của chúng ta - nhân sự hoặc quân sự là đạt nhiều hiệu quả, nhưng
chúng đang nghiền nát kẻ thù dưới sức nặng và số lượng tuyệt đối…”. Vào
tháng 3-1967, Oétmolen điện cho Bộ chỉ huy Thái Bình Dương: “Do kết quả
của việc tăng cường binh lực và do thành công của chúng ta nên chúng ta
đã có thể đề ra kế hoạch và khởi xướng một cuộc tổng phản công. Hiện nay
chúng ta giành được thế chủ động chiến thuật và đang tiến hành các cuộc
hành quân tiến công liên tục, nhỏ bé và đôi khi với qui mô lớn để tiêu
hao lực lượng địch, để phá hủy các căn cứ của địch và làm tan rã hạ tầng
cơ sở của chúng, để ngăn chặn đường giao thông thủy bộ của chúng và
thuyết phục chúng rằng với sức mạnh tiến công của chúng ta kèm theo các
hoạt động tâm lý, chúng nhất định thất bại”.
Kết
quả thực tế đã ngược hẳn với ước mơ dự tính của Oétmolen. Chiến dịch
“Tìm và diệt” lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti đã không tìm thấy
“kẻ địch”. Thế mà “kẻ địch” lại thường xuất hiện bất ngờ khắp mọi nơi
khi thì lẻ tẻ, khi thì từng đơn vị nhỏ, nhưng cũng có lúc đông cỡ trung
đoàn, sư đoàn giáng cho Mỹ - Ngụy những đòn thất điên bát đảo. Hơn một
vạn lính Mỹ - Ngụy thương vong, gần 1.000 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng
và thiết giáp bị phá hủy, hàng trăm máy bay bị bắn rơi, hàng trăm khẩu
pháo bị phá hỏng, và đặc biệt là Đài phát thanh của Mặt trận giải phóng
không hề ngừng phát sóng. Đây là một thất bại vô cùng nặng nề và cũng vô
cùng bất ngờ đối với quân Mỹ. Vào những tháng cuối 1967, tình trạng sa
lầy, bế tắc của quân Mỹ làm cho Đin Rátxcơ, bộ trưởng ngoại giao Mỹ khi
đó phải than thở: “Năm 1967 là năm đau khổ và khốc liệt đối với Mỹ trong
chiến tranh Việt Nam, ngay tại nước Mỹ, tình thế thật rối bời, dư luận
chia rẽ, tiến thoái lưỡng nan”.
Trong
cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”, xuất bản năm 1985 tại Nữu Ước,
nhà sử học có tiếng của Mỹ là Gabrich Côncô viết: “… dù ưu thế nhân lực
của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa cộng lại, đến năm 1967 là 4,7 trên 1 so với
Cách mạng nhưng Cách mạng đã ghìm được Mỹ và đồng minh Mỹ đến mức lực
lượng tiến công của Cách mạng vượt lực lượng tiến công của Mỹ và do đó,
lực lượng Cách mạng nắm được chủ động về chiến thuật và cả chiến lược
nữa”.
Đến
cuối năm 1967, cả chiến dịch “Sấm rền” cũng như hàng rào điện tử
Mác-Namara đều coi như vô hiệu, không ngăn chặn được sự chi viện của Bắc
- Việt Nam cho Tiền tuyến lớn của nó, hơn nữa, chỉ tính riêng năm 1967,
dù đã bị bắn rơi 1067 máy bay và bị bắt sống 161 phi công, không lực Mỹ
vẫn, theo đánh giá của các nhà phân tích cao cấp Mỹ, “không hề làm giảm
sút tinh thần nhân dân miền Bắc”, “không hề làm lung lay ý chí Hà Nội”.
Dựa
vào hệ thống đường ngầm, công sự, chiến hào, chiến sĩ và nhân dân Củ
Chi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nên những chiến công thần kỳ.
Quân đội Mỹ lần đầu vào đất Củ Chi gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ
các địa đạo trong vùng căn cứ hiểm yếu, đã phải thốt lên: “Làng ngầm”,
“Mật khu nguy hiểm”… Bất chấp các chiến dịch Tìm - Diệt của quân Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải
phóng tiếp tục mở rộng vùng kiểm soát tại nông thôn. Từ 1964 đến 1965,
vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam.
Đầu năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã quản lý 4 triệu dân sống
trong vùng giải phóng, 6 triệu rưỡi dân nữa sống trong vùng có cơ sở
hoạt động bí mật của Mặt trận, Mỹ và chính phủ Sài Gòn chỉ kiểm soát
được khoảng 4 triệu dân sống ở vùng đô thị. Qua 3 năm chiến đấu
trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên
chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải
phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể
giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho
cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết
định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Nhân
dân Mỹ chán ngán, làn sóng chống chiến tranh đối với chính phủ Mỹ ngày
một dâng cao. Bản thân trong nội bộ chính quyền Mỹ cũng rạn nứt, mâu
thuẫn, chia làm hai phe chủ chiến (gọi là phe Diều hâu) và chủ hòa (gọi
là phe Bồ câu). Phe Bồ câu gồm Mắc Namara cùng một số cộng tác viên ở Bộ
quốc phòng Mỹ, một số nhà vạch kế hoạch dân sự cấp cao, thì chủ trương
giảm qui mô cuộc chiến, rút lui khỏi Việt Nam. Phe Diều hâu gồm các
tướng lĩnh, đứng đầu là Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Tư
lệnh Thái Bình Dương và tướng Oétmolen, Tư lệnh Chiến trường Nam - Việt
Nam, thì thúc giục mở rộng chiến tranh cả trên bộ, trên không và ra cả
Đông Dương. Ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh tuyên bố lập trường và điều kiện cho việc
đối thoại Việt-Mỹ là:
"Muốn
nói chuyện thì trước hết phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và
mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động
chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện được".
Giônsơn
hoàn toàn bị động, lúng túng, hoang mang, không dứt khoát được, tiến
cũng sợ mà lui cũng sợ, hoàn toàn bế tắc. Tuy nhiên, như một vớt vát
niềm tin cuối cùng vào Oétmolen, Giônsơn đã quyết định đưa sang Nam -
Việt Nam thêm 100 ngàn quân Mỹ nữa, nâng tổng số ở đó (không kể quân
ngụy Sài Gòn và quân đồng minh (thực chất là chư hầu) lên 430 ngàn quân
vào cuối tháng 12-1967. Trên một diện tích khu vực nhỏ hẹp chỉ có 17 vạn
km vuông (diện tích Nam - Việt Nam) thì số quân Mỹ như thế đã tạo ra
một mật độ chưa có cuộc chiến tranh nào đạt tới.
Kênh
truyền hình Mỹ CNN vừa công bố dánh sách 12 công trình ngầm hấp dẫn du
khách nhất thế giới, trong đó có Địa Đạo Củ Chi của Việt Nam. Một cụm
công trình ngầm đươc mệnh danh là mảnh đất thép đã đi vào lịch sử đấu
tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại của thế kỷ 20
và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới đồng thời là một lỗi
khiếp đảm của quân Mỹ – Nguỵ…
Địa
đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít
bị sụt lở. Nằm cách trung tâm Tp.Hồ Chí Minh khoảng 70 km về hướng đông
bắc. Đây là nơi thu nhỏ trận đồ biến hóa của quân và dân Củ Chi trong
cuộc kháng chiến lâu dài ác liệt suốt 30 năm chống kẻ thù xâm lược giành
độc lập, tự do cho Tổ quốc, là một công trình kiến trúc độc đáo, nằm
sâu trong lòng đất, có nhiều tầng, nhiều ngõ ngách như màng nhện, có nơi
ăn ở, hội họp và chiến đấu với tổng chiều dài hơn 200 km…
Hơn
20 năm xây dựng, địa đạo Củ Chi đã được hoàn thành không phải bằng một
kỹ thuật hiện đại mà là từ bàn tay của những con người đất thép quyết
giữ gìn từng tấc đất quê hương. Trong đó có những đôi tay của biết bao
người mẹ, người chị, người em, vốn chỉ là những con người chân chất giản
dị nhưng đã viết nên những trang sử hào hùng biết bao cho dân tộc. Và
từ đó, Củ Chi đã là “ngôi nhà” của biết bao lớp lớp chiến sĩ với lối
đánh du kích thông minh đã bao phen làm giặc Mỹ kinh hồn bạt vía, góp
phần to lớn vào công cuộc giải phóng quê hương.
Hệ
thống địa đạo được chia ra làm 3 tầng, từ đường “xương sống” toả ra vô
số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài
Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe
tăng, xe bọc thép….Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ.
Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng
hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo,
nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với
địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực,
có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có
cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn
nghệ.
Quân
đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục tấn công vào hệ thống
địa đạo bằng đủ phương tiện: bom, bơm nước vào địa đạo, hơi ngạt… nhưng
do hệ thống địa đạo được thiết kế có thể cô lập từng phần nên bị hư hại
không nhiều. Quân đội Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện các cửa
vào (được ngụy trang) và phát hiện các cửa thông gió (thường được đặt
giữa các bụi cây). Biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng chó nghiệp vụ. Ban
đầu có một số cửa vào và lỗ thông gió bị chó nghiệp vụ phát hiện do chó
ngửi được hơi người. Tuy nhiên, sau đó, những người ở dưới địa đạo đã
dùng xà phòng của Mỹ đặt ở cửa hầm và cửa thông gió nên chó nghiệp vụ
không thể phát hiện ra.
Trong
suốt thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, địa đạo Củ Chi là một nỗi thất vọng
lớn, câu hỏi khó đối với quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mỹ
và Australia từng cố gắng phát hiện và xâm nhập địa đạo bằng nhiều cách,
song tất cả nỗ lực đều thất bại. …. Không thể giành ưu thế bằng chiến
tranh hóa học, quân đội Mỹ bắt đầu cắt cử nhiều binh lính xuống địa đạo.
Những người này được gọi là “chuột đường hầm”. Họ được trang bị súng
máy, dao, đèn pin. Song với sự phức tạp của hệ thống và không có đường
lui, binh sĩ Mỹ hầu hết thiệt mạng.
Một
trong giải pháp tiêu diệt quân địch hiệu quả và gây lên lỗi khiếp đảm
của quân địch mỗi khi chúng tiến đanh Củ Chi đó là hệ thống vũ khi thô
sơ do chính quân và dân Củ Chi tự chế và nó đóng một vai trò quan trọng,
nó bẻ gẫy ý chí xâm lược của kẻ thù. Chúng ta hãy xem những vũ khí tự
chế – sự khiếp sợ mà người Việt Nam dành cho quân xâm lược như: Hầm
Chông Bẫy Cọp, Chông Thò, Chông Hom, Chông cánh, Chông cần cối, Chông
nách, Chông bồ cào, chông cánh cửa, chông tự động ….. Đó là thứ vũ khí
tự tạo không đơn thuần chỉ sát thương, mà còn tạo lên những cơn ác mộng
kinh hoàng cho người còn lại…
Sau
khi chiến tranh kết thúc, khu di tích lịch sử này đã trở thành một khu
du lịch hấp dẫn, thu hút hàng ngàn du khách trong nước và nước ngoài
tham quan mỗi ngày. Ngoài việc len lỏi vào các đường hầm để cảm nhận
được không khí năm xưa, khách du lịch còn được nghe giới thiệu, được xem
lại những đoạn phim tư liệu về thời chiến đấu oanh liệt của du kích Củ
Chi, được thưởng thức món khoai mì chấm muối mè dân dã mà ngon miệng.
Bên cạnh đó, du khách còn được tham gia môn thể thao bắn súng để thử khả
năng tinh nhuệ và chính xác của mình. Và chắc chắn rằng ai cũng cảm
thấy thật dễ chịu khi len lỏi vào những cánh rừng trung quân lá xanh
ngút ngàn, ngồi đong đưa trên những chiếc võng, hoài niệm một chút về
quá khứ, để biết rằng cuộc sống thanh bình ngày hôm nay được đánh đổi
biết bao sự hy sinh của những con người năm xưa trên khắp đất nước Việt
Nam….
Sau
cuộc phản công “tìm diệt” thất bại trong mùa khô năm 1966-1967 của Mỹ,
với lực lượng được tăng cường, Oétmolen lại gấp rút chuẩn bị cuộc phản
công lần thứ 3 vào vùng chiến khu C, Đ, bằng những cuộc hành quân “ngăn
ngừa” ở tỉnh Phước Long, đồng thời dự kiến mở 4 cuộc hành quân mang tên
chung là “York” càn quét vùng biên giới Lào ở 4 tỉnh phía Bắc nhằm lập
lại quyền kiểm soát ở miền tây Trị - Thiên.
Giữa
lúc Oétmolen đang ráo riết triển khai lực lượng để thực hiện ý đồ đó
thì Quân giải phóng Miền Nam mở đợt hoạt động quân sự Thu - Đông nhằm
tiêu diệt, tiêu hao thêm một bộ phận binh lực Mỹ - Ngụy, buộc chúng phải
bị động hơn nữa về chiến lược, tranh thủ mở rộng vùng giải phóng, củng
cố thế trận và quyền chủ động chiến trường, đồng thời mở ra cho Giônsơn
thấy leo thang chiến tranh là phiêu lưu, giành thắng lợi quân sự trên
chiến trường Việt Nam là vô vọng.
Trước
cuộc tiến công dồn dập của Quân giải phóng từ Quảng Trị cho đến đồng
bằng sông Cửu Long (chiến sự ác liệt nhất trong mùa mưa năm 1967 là ở
Tây Nguyên và Trị Thiên), cùng lúc với tin tức tình báo cho thấy Quân
giải phóng đang di chuyển những đơn vị lớn từ vùng biên giới về đồng
bằng, các trung tâm dân cư, kể cả Sài Gòn, Oétmolen hốt hoảng ra lệnh
hủy bỏ kế hoạch phản công lần 3, điều phối lại lực lượng chuyển sang
phòng ngự bị động theo 2 hướng chính là xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên.
Đến
đây, một thời cơ mới cho công cuộc giải phóng miền Nam của Cách mạng
Việt Nam đã xuất hiện. Bộ chính trị và Ban chấp hành Đảng Lao động Việt
Nam nhận định: “Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ
chiến lược lớn, đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về
chiến lược”, “tình hình ấy cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách
mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ Tổng tiến
công và nổi dậy để giành thắng lợi quyết định”, do đó “Nhiệm vụ trọng
đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của
ta lên bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích - tổng
khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định” (Nghị quyết Hội nghị lần thức
14 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, tháng 1-1968).
Sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam gia tăng cường độ bắt đầu
vào ngày 02.03 với chiến dịch “Sấm rền” “Operation Rolling Thunder”,
tiến hành không kích miền Bắc Việt Nam với cường độ cao. Chiến dịch
Rolling Thunder kéo dài 3 năm rưỡi ở nhiều cấp độ khác nhau.
Căn cứ và sân bay của Mỹ trở thành mục tiêu tấn công thường xuyên
của quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trong ảnh là kết quả của một vụ
pháo kích của Quân Giải phóng vào căn cứ không quân Biên Hòa 11. 1964;
bốn quân nhân Mỹ thiệt mạng , một số máy bay bị phá hủy. (Ảnh: USAF)
Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến viễn chinh số 9 đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng
nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của Quân Giải Phóng vào các lực lượng
của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Sự gia tăng với cường độ lớn các cuộc tấn công vào lực lượng quân sự
Mỹ và tình hình bất ổn chính trị của chính quyền Sai Gòn đã khiến cho
Tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh Mỹ ở Việt Nam, tướng 4 sao William
Westmoreland chính thức yêu cầu triển khai lực lượng bộ binh vào tháng
01..
Thủy quân lục chiến được triển khai !: 08.03, khoảng 4,000 yards
(3,6 km) cách bờ biển Việt Nam, thủy quân lục chiến Mỹ chuẩn bị tiến vào
đất liền từ các tàu đổ bộ thuộc lực lượng Amphibious Task Force 76.
Trong ảnh là Lính thủy đánh bộ Mỹ trên tàu USS Vancouver. (USMC)
Lực lượng đổ bộ đường biển bao gồm các tàu chỉ huy USS Mount
McKinley, tàu vận tải USS Henrico, tàu chở hàng USS Union, tàu vận tải
đổ bộ có đà tàu USS Vancouver. (USMC).
Sau thời gian chậm trễ do thời tiết gây ra sóng lớn, 06:00 ngày hôm
sau, hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến viễn chinh số 9
cập bờ tại bàn đạp RED Beach 2, phía bắc của căn cứ không quân. (USMC)
Thủy quân lục chiến mang vũ khí và trang thiết bị trên bờ. Các xe thiết giáp cũng đổ bộ tự hành từ tàu đổ bộ hạng nặng Xe tăng đổ bộ lên bờ biển Những chiếc xe tăng lần lượt cập bờ biển Một góc quan sát lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên bờ biển (USMC)
Lính Mỹ triển khai trận địa phòng ngự ven bờ biển nơi đổ bộ(USMC) Hai binh sĩ Mỹ đào đặp trận địa súng máy M60 (USMC)
Chuẩn Tướng Frederick K. Karch (bên phải), chỉ huy trưởng lực lượnglữ
đoàn 9 Thủy quân Lục chiến Mỹ bàn bạc ngay trên bãi biển với các tướng
quân đội Sài Gòn Thi và Lâm ngay trong khi đổ bộ. (USMC)
Lính thủy đánh bộ Mỹ hành quân về vị trí trú quân. Quân đội Sải Gòn
đảm nhiệm bảo vệ các tuyến đường hành quân xung quan căn cứ không quân
Đà Nẵng Hành quân về căn cứ
Chính quyền Sài Gòn đã tổ chức cho các học sinh địa phương chào đón
lực lượng viễn chinh đến Đà nẵng - Việt Nam, băng cờ khẩu hiệu dăng trên
những tuyến đường hành quân. Trong hình, cổng chào với khẩu hiệu "Chào
mừng đến Việt Nam", trẻ em địa phương tò mò và hiếu kỳ nhìn ngắm những
xe quân sự Mỹ ở ngoại ô Đà Nẵng. (USMC)
Lực lượng tăng cường và trang thiết bị được trực thăng vận từ Okinawa
và các căn cứ khác ở Việt Nam vào thành phố Đà Nẵng . Những phân đội
đầu tiên của tiểu đoàn Thủy quân lục chiến số 3 đến căn cứ không quân
sau buổi chiều hôm đó.
Lực lượng triển khai ban đầu được giới hạn nghiêm ngặt về phương thức
tác chiến và chỉ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ, mệnh lệnh từ Bộ tổng
tham mưu trưởng liên quân xác định "các lực lượng Hải quân Hoa Kỳ sẽ
không tham gia vào các trận đánh tấn công VC trong thời gian kế tiếp."
Trong hình là hoàn thành việc xây dựng trận địa bazooka gần bãi biển
ngày D-Day. (USMC)
Lĩnh thủy đánh bộ nhanh chóng xây dựng trận địa phòng thủ trong và
xung quanh sân bay, thiết lập các đồn, các trận địa pháo, định vị
cáctrận địa tên lửa đất -đối-không HAWK. Trong hình, một vị trí súng
bazoka 120mm trên Đồi 327 phía tây nam sân bay. (USMC) Trận địa lựu pháo 105 mm của lính thủy đánh bộ (USMC) Một chiếc xe ủi hạng nhẹ đang mở đường vào vị trí phòng ngự trên đồi 327. (USMC) Lính thủy đánh bộ chất hàng lên hai chiếc trực thăng vận tải tại sân bay Đà Nẵng Hai trực thăng vận tải hạ cánh xuống cao điểm 327
Lực lượng Lính thủy đánh bộ Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ sân bay, lực lượng
quân lực ARVN có nhiệm vụ bảo vệ thành phố Đà Nẵng và các khu vực dân cư
các cuộc tấn công của Quân Giải Phóng tiếp tục gia tăng, Mỹ đã buộc
phải gia tăng số lượng bộ binh tham chiến. các lực lượng Thủy quân lục
chiến tiếp tục được yêu cầu bổ sung được yêu cầu để củng cố tuyến phòng
ngự tại Đà Nẵng và ở gần sân bay Huế / Phú Bài. (USMC)
Tháng 4, Tổng thống Mỹ Johnson đã dỡ bỏ các hạn chế hoạt động tác
chiến, các tiểu đoàn bộ binh Mỹ có thể mở rộng phạm vị hoạt động, tiến
hành các chiến dịch truy quét xa căn cứ nhằm mục đích "Tìm và diệt" Quân
Giải Phóng Những cuộc hành quân càn quét "Tìm và diệt" của Lính thủy đánh bộ Mỹ được triển khai bắt đầu từ tháng Sáu.
Cuộc đổ bộ Lính thủy đánh bộ Mỹ vào Đà Năng là mở đầu cho gần 10 năm
nước Mỹ ngập sâu vào vũng lầy "chiến tranh cục bộ", gia tăng cường độ
chiến tranh và cũng gia tăng số lượng lính Mỹ tử thương trên chiến
trường Việt Nam, một sai lầm khủng khiếp trong "chiến lược viễn chinh"
của Washington trong khu vực địa chính trị Đông Nam Á.
Nghị
quyết cũng nhận định rằng: “Ta tiến hành tổng công kích - tổng khởi
nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc
chiến tranh thế giới (như trường hợp Cách mạng Tháng Mười Nga, hay Cách
mạng Tháng Tám) mà là trong khi địch còn trên 1 triệu quân và một tiềm
lực chiến tranh lớn”.
Nghị quyết còn dự kiến 3 khả năng là:
“1
- Ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công
kích và khởi nghĩa vùng yếu, ở các đô thị lớn và đập tan được mọi phản
kích của địch, làm địch thất bại đến mức không thể gượng lại được, đè
bẹp được ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương
lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục đích, yêu cầu của ta.
2
- Tuy ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch cố gắng tập trung
và tăng viện thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại những vị trí quan
trọng, các đô thị lớn, nhất là thủ đô, và dựa vào các căn cứ để tiếp tục
chiến đấu với ta.
3
- Mỹ động viên và tăng viện thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh
thêm một bước ra miền Bắc Việt Nam, sang Lào, Cămpuchia, hòng xoay cục
diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng.”
“Chúng
ta phải nỗ lực phi thường, đem hết tinh thần và lực lượng quyết tâm
chiến đấu giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất”.
Dù “… khả năng thứ 3 có rất ít, nhưng chúng ta cũng phải luôn sẵn sàng
chủ động đối phó mọi tình huống có thể xảy ra”.
Saigon. Ông Henry Cabot Lodge, Đại sứ chỉ định Hoa Kỳ đến miền Nam Việt
Nam (trái) được chào đón bởi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu chủ tịch hội
đồng tướng lĩnh. Ông Lodge đã tiến hành một chuyến đi thực tế để tìm
kiếm, khảo sát đánh giá tình hình kinh tế, chính trị, quân sự các và
tình huống ở đây
Ê-mi-ly, con đi cùng cha Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc... - Đi đâu cha? - Ra bờ sông Pô-tô-mác - Xem gì cha? - Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác. Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe Đừng có hỏi cha nhiều con nhé! Cha bế con đi, tối con về với mẹ...
Oa-sinh-tơn Buổi hoàng hôn Ôi những linh hồn Còn, mất Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật! Giôn-xơn! Tội ác bay chồng chất Cả nhân loại căm hờn Con quỷ Vàng trên mặt đất. Mày không thể mượn nước sơn Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật! Mắc Na-ma-ra Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma Của toà nhà năm góc
Ê-mi-ly, con đi cùng cha Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc... - Đi đâu cha? - Ra bờ sông Pô-tô-mác - Xem gì cha? - Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác. Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe Đừng có hỏi cha nhiều con nhé! Cha bế con đi, tối con về với mẹ...
Oa-sinh-tơn Buổi hoàng hôn Ôi những linh hồn Còn, mất Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật! Giôn-xơn! Tội ác bay chồng chất Cả nhân loại căm hờn Con quỷ Vàng trên mặt đất. Mày không thể mượn nước sơn Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật! Mắc Na-ma-ra Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma Của toà nhà năm góc
Ê-mi-ly, con đi cùng cha Sau khôn lớn, con thuộc đường, khỏi lạc... - Đi đâu cha? - Ra bờ sông Pô-tô-mác - Xem gì cha? - Không, con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác. Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe Đừng có hỏi cha nhiều con nhé! Cha bế con đi, tối con về với mẹ...
Oa-sinh-tơn Buổi hoàng hôn Ôi những linh hồn Còn, mất Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật! Giôn-xơn! Tội ác bay chồng chất Cả nhân loại căm hờn Con quỷ Vàng trên mặt đất. Mày không thể mượn nước sơn Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật! Mắc Na-ma-ra Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma Của toà nhà năm góc Mỗi góc một châu Mày vẫn chui đầu Trong lửa nóng Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng.
Hãy nhìn đây! Nhìn ta phút này! Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay Ta là Hôm nay Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là Mãi mãi! Ta đứng đây, Với trái tim vĩ đại Của trăm triệu con người Nước Mỹ. Để đốt sáng đến chân trời Một ngọn đèn Công lý.
Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ Nhân danh ai? Bay mang những B.52 Những na-pan, hơi độc Từ toà Bạch Ốc Từ đảo Guy-am Đến Việt Nam Để ám sát hoà bình và tự do dân tộc Để đốt những nhà thương, trường học Giết những con người chỉ biết yêu thương Giết những trẻ em chỉ biết đi trường Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ!
Nhân danh ai? Bay chôn tuổi thanh xuân của chúng ta trong những quan tài Ôi những người con trai khoẻ đẹp Có thể biến thiên nhiên thành điện, thép Cho con người hạnh phúc hôm nay!
Nhân danh ai? Bay đưa ta đến những rừng dày Những hố chông, những đồng lầy kháng chiến Những làng phố đã trở nên pháo đài ẩn hiện Những ngày đêm đất chuyển trời rung... Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!
Hãy chết đi, chết đi Tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ! Và xin nghe, nước Mỹ ta ơi! Tiếng thương đau, tiếng căm giận đời đời Của một người con. Của một con người thế kỷ.
Ê-mi-ly, con ôi! Trời sắp tối rồi... Cha không bế con về được nữa! Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa Đêm nay mẹ đến tìm con Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn Cho cha nhé. Và con sẽ nói giùm với mẹ: Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!
Oa-sinh-tơn Buổi hoàng hôn Ôi những linh hồn Còn mất? Đã đến phút lòng ta sáng nhất! Ta đốt thân ta Cho ngọn lửa chói loà Sự thật. 7-11-1965
Em bé Ê-mi-ly, 18 tháng, là con gái út của No-man Mô-ri-xơn. Yêu con tha
thiết, ngày 2-11-1965, anh Mô-ri-xơn đã bế Ê-mi-ly từ nhà đến Lầu năm
góc, và tại đấy, sau khi đặt Ê-mi-ly xuống đất rồi nhìn con lần cuối
cùng, người cha anh dũng đó đã châm lửa tự thiêu để phản đối cuộc chiến
tranh xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ ở Việt Nam.
Theo
đánh giá của phía Mỹ, có luồng ý kiến chủ yếu là giới cầm quyền như
Oétmolen, Bâncơ (Bunker), Kitxingo (Kissinger)… cho rằng “cuộc tiến công
Tết là một sự thất bại to lớn về quân sự của Cộng sản, về mặt tâm lý
thì là một sự đảo ngược có tính quyết định”. Họ dẫn giải: “… họ (tức
Việt Cộng) đã bị tiêu hao lực lượng tinh túy nhất của họ. Sự suy thoái
một cách nhanh chóng về số quân đưa vào Nam trong mùa xuân và mùa hạ
cùng với các yêu cầu cấp bách về nhân lực để chống lụt ở miền Bắc là sự
chứng minh cụ thể về những khó khăn mà chính quyền Hà Nội đã vướng
phải sau khi mất quân năm 1968…”. Tuy nhiên số đông ý kiến nghiêng về
phía nhìn nhận sự thất bại của Mỹ. Mắcxoen Taylo cho biết: “Những tin
tức chính thức từ Việt Nam phát đi sau cuộc tiến công (tức là tin nói
rằng Cộng sản bị thất bại về quân sự) không làm ai tin cả mà còn bị lên
án như định che dấu, biện bạch cho kẻ phản bội hoặc không được để ý
đến”. Leslie Gelb và Richard H. Betts cũng nói: cuộc tiến công Tết là
“bước rẽ trên đường đi”, là “một đòn chí mạng đánh vào chính sách kiên
trì của Hoa Kỳ, bắt buộc Giônsơn phải xem lại chính sách đó”, là “ một
chiến thắng có tính chất quyết định của Cộng Sản”, “Về chính trị, đây là
một đòn sấm sét, một thắng lợi vô cùng to lớn, họ đã làm sụp đổ sự tín
nhiệm đối với Giônsơn”. Mc Carthy nói một cách hài hước: “nếu chiếm
một phần lớn sứ quán Mỹ, một phần thành phố Huế, Đà Lạt và các tỉnh lớn
khác ở Vùng 4 có nghĩa là thất bại hoàn toàn thì theo kiểu lôgic đó,
tôi cho rằng nếu Việt Cộng chiếm toàn miền Nam, chính quyền sẽ tuyên bố
họ (Việt Cộng) sụp đổ hoàn toàn.”.
Trang bìa cuốn "Huấn thị điều hành căn bản Kế hoạch Phụng Hoàng" Tập số 3, bản kín (mật) số hiệu 2211
Tờ bướm tuyên truyền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về chiến dịch
Đội SEAL 1 trên thuyền tấn công xuôi dòng sông Hậu (ảnh chụp tháng 11/1967). Ảnh: J. D. Randall.
Tuy
nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải
những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Trong việc lập kế hoạch cho cuộc
tổng tiến công, họ đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình
hình và duy ý chí. Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của
đối phương và đánh giá quá cao khả năng của họ, nên Quân Giải phóng đã
phải chịu thương vong lớn. Một số tướng lĩnh của Hoa Kỳ dự đoán trước đó
rằng cuộc tấn công của Quân Giải phóng sẽ không nhận được sự ủng hộ của
người dân. Tuy nhiên, theo quan sát của giới báo chí trên chiến trường,
diễn biến của các đợt tấn công đã chứng minh điều ngược lại.
Trong việc lập kế hoạch tiến công Mậu Thân 1968, các cấp chỉ huy chiến
đấu của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch đâu là mục tiêu
chính trị thực chất của cuộc tiến công và đâu là mục tiêu được phổ biến
rộng rãi trong quân để cổ vũ khí thế chiến đấu.Mục tiêu thực chất là đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và
chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Còn mục tiêu
được phổ biến tuyên truyền trong cán bộ binh sĩ để nâng cao sĩ khí là
trận cuối cùng "đánh dứt điểm" đối phương. Các cán bộ chiến trường khi
lập kế hoạch tác chiến cũng tin tưởng vào quyết tâm đánh dứt điểm của
cấp trên nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối
cùng. Điều sai lầm nữa cho Quân Giải phóng là họ đã không linh hoạt thay
đổi tuỳ theo tình hình.
Khi thấy chưa đạt được mục tiêu trong đợt tấn công đầu tiên họ đã phát
động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ
và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của
họ càng lớn. Nếu
đánh giá thật khách quan thì,
theo ý kiến chúng ta, trong chiến dịch Mậu Thân, chỉ nên thực hiện đợt I
và đợt II. Vì chỉ với hai đợt tấn công đó cùng với chiến thắng Khe
Xanh, Quân Giải phóng cũng đạt được những mục tiêu chính trị đề ra theo
như ý Lê Duẩn. Xét riêng trên lĩnh vực quân sự thuần túy, tổng tiến
công
tết Mậu Thân không phải là một chiến thắng đúng nghĩa và thiếu tính nhân
đạo vì nó đã được
tiến hành một cách duy ý chí, không đến nơi đến chốn và nặng ảo tưởng về
một cuộc nổi dậy cướp chính quyền của quần chúng cách mạng! Không khí
sục sôi cách mạng của quần chúng trong những ngày của tháng 8 - 1945 đã
qua lâu rồi!
Nhưng trên
bước
đường đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, sự vấp váp, phán đoán sai lầm gây nên tổn thất là
chuyện thông cảm được!...
Trung đội SEAL tên là “X-quang” chụp ảnh trên bến tàu gần tỉnh Bến Tre. Ảnh: National Archives’.
Một
lính biệt kích hải quân Mỹ ôm súng máy hạng nhẹ Stoner 63A Commando
đang quan sát động tĩnh (ảnh chụp tháng 10/1968 ở Đồng bằng sông Cửu
Long). Ảnh: National Archives.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét