CẢM PHỤC EM
CT:
(Theo Wikipepia)*: Bộ sử cổ nhất của Việt Nam đề cập đến Hai Bà Trưng
là Đại Việt sử lược. Theo sách này, thời Việt Nam còn là Giao Chỉ, Trưng
Trắc là con gái Lạc tướng ở huyện Mê Linh, lấy chồng là Thi Sách ở
huyện Chu Diên. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chồng bà Thi Sách cũng là
con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Khi lên ngôi, Hai Bà
mới đổi sang họ Trưng.
Theo một số học giả như Đào
Duy Anh, Trần Quốc Vượng..., do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột
hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời, các
Lạc tướng người Việt liên kết với nhau để chống lại nhà Hán. Trưng Trắc
kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có
chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống
lại, Thái thú Tô Định giết Thi Sách.
Trưng Trắc và
các Lạc tướng càng căm thù, cùng Trưng Nhị mang quân bản bộ về giữ Hát
Giang nay là xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Sau một thời gian chuẩn
bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi
nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của
nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai
Bà đánh hãm trị sở Luy Lâu. Tô Định phải chạy về Nam Hải (Trung Quốc).
Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai Bà lấy
được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ
Vương, hay còn gọi là Trưng Vương.
Ngày 30 tháng 1
năm Tân Sửu (41), nhà Hán thấy Trưng Trắc xưng Vương dấy quân đánh lấy
các thành ấp, nên hạ lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu
sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc
lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó
tướng, chỉ huy đạo quân lớn khoảng 2 vạn người, chia làm 2 cánh thủy, bộ
sang xâm lược. Quân Nam bấy giờ ô hợp, rất nhiều thủ lĩnh không phục
hai vua là đàn bà, lớp tan rã, lớp tự ly khai hoặc đầu hàng quân Hán.
Hai Bà thấy thế giặc mạnh lắm, không chống nổi, bèn lui quân về giữ Cấm
Khê (sử chép là Kim Khê).
Năm Quý Mão (43), Hai Bà
Trưng chống cự lại với quân nhà Hán ở Cấm Khê (nay thuộc huyện Thạch
Thất, Hà Nội) thất thế, đều tử trận. Theo truyền thuyết Việt Nam, Hai Bà
đã nhảy xuống sông Hát (tức sông Đáy, nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc
Thọ, thành phố Hà Nội) tự vẫn để bảo toàn khí tiết. Còn theo Hậu Hán
thư, sách sử của Trung Quốc, Hai Bà đã bị quân Mã Viện bắt được và chặt
đầu đem về Lạc Dương
Theo sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng:
"Trưng Vương là dòng dõi bậc thần minh, nhân lòng dân oán hận, nổi
giận, khích lệ người cùng chung mối thù (...). Bà quả là bậc anh hùng
khí khái hơn người. Tuy rằng quân mới tập hợp, bị tan rã khi đã thành
công, cũng làm hả được lòng căm phẫn của thần dân (...). Khi đất nước bị
chìm đắm, thì hầu như lại được khôi phục do một nữ chúa ở Mê Linh. Lúc
đó bậc con trai mày râu phải cúi đầu ngoan ngoãn tuân theo không dám làm
gì, chẳng đáng thẹn lắm sao?"
**: Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (8 tháng 11
năm 226) tại miền núi Quan Yên (hay Quân Yên), quận Cửu Chân, nay thuộc
làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định,
tỉnh Thanh Hóa.
Từ nhỏ, bà sớm tỏ
ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn
ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng
Trắc, Trưng Nhị". Cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu
Quốc Đạt, một hào trưởng ở Quan Yên.
Mùa
xuân năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn
ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại.
Từ
hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm
huyện trị Tư Phố nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự
lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân. Thừa thắng, lực lượng
nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.
Đang
lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời. Các nghĩa binh thấy bà làm
tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Bà đã phối hợp với ba anh em họ
Lý ở Bồ Điền đánh chiếm các vùng đất còn lại ở phía Bắc Thanh Hóa ngày
nay. Đồng thời, bà xây dựng tuyến phòng thủ từ vùng căn cứ Bồ Điền đến
cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hoá) để ngăn chặn viện binh của giặc
Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc. Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo
giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà và được
tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng
hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ. Theo truyền thuyết, để mua chuộc,
giặc đã phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp
của vùng ven biển), còn bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ
cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, nhưng Bà cũng chẳng chút tơ hào.
Được
tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục
Dận (cháu của Lục Tốn), sang làm Thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem
theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, tướng Lục Dận liền
dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia
rẽ lực lượng nghĩa quân.
Những
trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền. Song do chênh lệch về
lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên
căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai
tháng.
Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà
chống đỡ với quân Đông Ngô được năm, sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã
tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm
Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.
Chính sử Trung Quốc (Tam quốc chí) chép lại sự kiện này như sau:
"Năm Xích Ô thứ mười một, người rợ ở quận Giao Chỉ, Cửu Chân đánh
diệt thành ấp, Giao Châu nhiễu động. Lấy Lục Dận làm Giao Châu Thứ sử,
An nam Hiệu úy. Dận vào miền nam, dùng ân tín để dụ, ưa việc chiêu nạp,
hơn ba nghìn người phe đảng của bọn cừ súy Hoàng Ngô ở huyện Cao Lương
đều ra hàng. Dẫn quân xuống phía nam, tuyên bố rất thật, đem tiền của để
trao tặng. Hơn trăm tướng giặc, năm vạn người dân ở nơi sâu xa khó
quản, chẳng ai không cúi đầu, do đó Giao Châu yên bình".
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói:
"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình
ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ
không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!".
***: Được tin đại quân Tây Sơn thua to ở Trấn Ninh, Tư đồ Vũ Văn
Dũng và chồng Bùi Thị Xuân là Thái phó Trần Quang Diệu, dù biết không
thể giữ được Quy Nhơn nhưng vẫn gắng gượng đến tháng 3 cùng năm trên mới
rời bỏ thành, đem binh tượng đi đường thượng đạo qua Ai Lao ra Nghệ An,
ý là để hội quân với vua Cảnh Thịnh cùng lo chống giữ.
Sử gia C. B. Mabon kể:
"Trần
Quang Diệu cùng vợ và con gái, dẫn theo một số tàn quân chạy ra Bắc
bằng đường thượng đạo Ai Lao. Đến châu Quy Hợp, Diệu xuống Hương Sơn thì
biết tin Nghệ An đã mất. Quân sĩ của Diệu bỏ cả rồi, mấy hôm sau vợ
chồng Quang Diệu đều bị bắt cả... Vua Cảnh Thịnh cùng hai em và vài
tướng tá vượt qua sông Nhị Hà, tính trốn lên vùng Thượng du cũng bị dân
chúng bắt và đóng cũi nộp cho quân Nguyễn".
mô tả lại cái chết của mẹ con bà Bùi Thị Xuân, sử gia Phạm Văn Sơn đã có lời giới thiệu như sau:
"Mẹ con bà Bùi Thị Xuân, người ta (ý nói đến vua Gia Long) cũng rất
căm thù, nên cũng dùng hình phạt dã man nhất. Nguyên nhân là bà đã điều
khiển binh sĩ đánh vào lũy Trấn Ninh hết sức kịch liệt, đã làm cho chúa
Nguyễn và các tướng sĩ có phút phải thất thần, tưởng chừng nguy khốn đến
nơi"
Trích tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère:
"Đứa con gái trẻ của bà (Bùi Thị Xuân), một thớt voi từ từ tiến đến.
Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy. Nàng ngoảnh nhìn mẹ,
kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách: Con phải chết anh dũng để xứng
đáng là con của ta!... Đến lượt bà, nhờ lớp vải ở bên trong quấn kín
thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước
đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính
phải vội vàng bắn hỏa pháo, đâm cây nhọn sau mông con vật để nó trở nên
hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời... Nhưng trái
với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng
quanh pháp trường, rống to lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn
người xem hoảng hốt theo..."
Sau
đó Nguyễn Ánh thấy không giết được Bùi Thị Xuân bèn cho lấy dây sắt quấn
người bà vào cột rồi cho thiêu chết một cách dã man.
Ngoài
thái độ hiên ngang khi bị hành hình, người ta còn truyền rằng khi nghe
Bùi Thị Xuân bị bắt, Nguyễn Ánh bèn sai người áp giải đến trước mặt rồi
hỏi với giọng đắc chí:
Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?
Bà trả lời:
"Chúa công ta, tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà
người đi cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Tây làm tan nát cả sơn hà,
cùng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa
công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng. Còn nói về đức độ,
thì Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như
đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức, tôi nhà ngươi. Còn ngươi lại dùng tâm của
kẻ tiểu nhân mà đối với bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ
rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người là khuyến khích tôi
mình trung với mình. Chỗ hơn kém rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu
Tiên đế ta đừng thừa long quá sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước
này".
Nguyễn Ánh gằn giọng:
Người có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh?
Bà đáp:
"Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà..."
Delilah – Tom Jones (Bản Cover Nhạc Country Cổ Điển) | Bản Tình Ca Kịch Tính
Nhận xét
Đăng nhận xét