CÂU CHUYỆN TÂM LINH 71
(ĐC sưutầmtrên NET)
Nguồn: Xzone
Người chết là hết, chấm dứt tất cả? Hay chết là vĩnh
viễn tồn tại dưới dạng hồn ma bóng quế vật vờ chốn âm gian? Hay chết là
sự chuyển tiếp để chuẩn bị cho sự tái sinh sang một kiếp khác trên dương
thế? Chưa ai khẳng định hay phủ định được điều đó, và những câu chuyện
về luân hồi, tái sinh, về tiền kiếp, hậu thân… luôn có sự thu hút đặc
biệt tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây.
Nguồn: Trithucthoidai.vn
Vốn là tiến sĩ có tiếng của ngành tâm lý Mỹ, Ian
Stevenson từng làm việc tại các bệnh viện và nhiều trường đại học, tác
giả của nhiều công trình có giá trị về tâm lý, thế nhưng đến năm 48
tuổi, ông lại từ bỏ lĩnh vực đã đem lại có mình vị trí vững chắc trong
giới khoa học đó để điều tra và nghiên cứu về luân hồi. Lý do là, kinh
nghiệm trị liệu tâm lý nhiều năm cho ông thấy, cá tính của nhiều bệnh
nhân không liên quan gì đến tính chất di truyền hay môi trường giáo dục,
và ông nghĩ đó là do tiền kiếp.
Để nghiên cứu, khảo sát các “bằng chứng sống về luân hồi”, Ian Stevenson đã vận dụng kiến thức và các phương pháp chuyên môn về sử học, luật học, tâm lý học, trực tiếp gặp gỡ nhân vật và nhân chứng, tìm các tài liệu (báo chí, nhật ký, báo cáo, giấy khai sinh, hồ sơ bệnh án…). Từ con số rất lớn những trường hợp luân hồi được khảo cứu, ông đã viết nhiều bài khảo luận đăng báo và xuất bản 5 cuốn sách về lĩnh vực này.
Những trường hợp dưới đây đều đã được Ian Stevenson khảo cứu, mà điểm chung là những người đã chết khi đầu thai đã “đánh tiếng” sự trở lại của mình bằng những dấu vết trên cơ thể đứa bé mới ra đời.
Cặp song sinh nhà Pollock
Tháng 5.1057, tại Hexam Northumberland, Anh, một chiếc xe hơi mất lái lao bổ lên vỉa hè đã đâm chết Joanna11 tuổi, và Jacqueline 6 tuổi. Không chấp nhận nổi việc mất một lúc 2 đứa con gái, John Pollock đinh ninh rằng, chúng nhất định sẽ đầu thai trở lại làm con ông, dù vợ ông, bà Florence, không bao giờ tin điều đó.
Khi bà Florence mang thai vào đầu năm 1958, ông John quả quyết vợ sẽ sinh đôi dù bác sĩ khám lần nào cũng khẳng định chỉ sinh một. Nhưng sự thật là hai bé gái đã cùng ra đời vào ngày 4.10 năm đó, đặt tên là Gillian và Jennifer. Ông Pollock giật mình khi thấy Jennifer cũng có một vết bớt trên trán gần sống mũi, hệt như vết sẹo do ngã của bé Jacqueline đã chết, cũng ở vị trí đó, và cả cũng như Jacqueline, bé Jennifer có một nốt ruồi màu nâu ở vùng thắt lưng trái.
Khi nghiên cứu trường hợp này, tiến sĩ Ian Stevenson đã lấy mẫu xét nghiệm để xác định cặp song sinh này cùng trứng hay khác trứng. Kết quả: hai cô bé được tách ra từ một hợp tử duy nhất, nghĩa là có cùng một “bản sao di truyền”. Thế nhưng, trên người bé Gillian không có vết bớt hay nốt ruồi nào cả, còn 2 dấu hiệu này ở Jennifer thì giống người chị quá cố Jacqueline cả về kích thước, hình dáng lẫn vị trí.
Mặc dù ông bà Pollock không bao giờ nói với các con về những người chị đã chết, nhưng Gillian và Jennifer, trong thời gian từ 2 đến 4 tuổi, lại hay nhắc đến Joanna và Jacqueline. Chúng nhận ra ngay những đồ chơi cũ của hai chị và chơi một cách thành thạo, quen thuộc, dù lần đầu tiên trông thấy. Jennifer cũng dựa dẫm, “bám váy” chị là Gillian như Jacqueline thường ỷ lại vào Joanna trước đây.
Đến tuổi học viết, cô chị Gillian ngay từ lần đầu đã cầm bút thành thạo như người chị đã chết ở tuổi 11, còn Jennifer thì không.
Tiến sĩ Ian Stevenson theo dõi trường hợp này suốt 19 năm và nhận thấy, Gillian và Jennifer quên dần chuyện tiền kiếp, và đến năm 1985 thì hai cô không còn nhắc gì đến nữa.
Cô bé Susan chính là chị gái Winni quá cố?
Bà Charlotte Eastland ở Idaho có một đứa con gái tên là Winnie chết vì đụng xe năm 1961 khi mới 6 tuổi. Là người Cơ đốc giáo, nhưng vì quá tiếc đứa con, bà ước con gái đầu thai trở lại như trong những câu chuyện của người Ấn Độ mà bà được nghe.
Khi Winnie chết được 6 tháng và lúc bà Charlotte mang thai 2 năm sau đó với người chồng mới, cô con cả của bà là Sharon đều nằm mơ thấy Winnie trở về với gia đình. Khi bà đang nằm trên bàn đẻ, người chồng cũ cũng tưởng như nghe thấy Winnie nói: “Bố ơi con đang về”.
Susan không giống hệt Winnie về vẻ ngoài. Bé tóc vàng, mắt xanh trong khi người chị quá cố tóc đỏ, mắt nâu. Thế nhưng, cả hai cô bé đều có lông mọc sau lưng, và bên hông trái của Susan cũng có vết sẹo nhỏ đúng chỗ vết tử thương do bị xe đụng của Winnie. Tính nết, hành vi, cử chỉ của Susan cũng giống hệt Winnie ngày trước.
Lên 2 tuổi, Susan luôn tự nhận mình là Winni và nói rằng mình 6 tuổi (tuổi Winnie lúc bị chết). Khi lên 5, cô bé khẳng định mình nhiều tuổi hơn anh trai Richard, lúc đó đã 11 tuổi (so với cô bé Winnie quá cố, Richard ít hơn 3 tuổi). Xem ảnh Winnie, Susan khăng khăng đó là ảnh mình và đòi giữ. Có lần cô bé cầm bút viết vào cánh cửa bếp cái tên Winni. Bé hay nói lúc nào đi học sẽ chơi đu ở trường; đây từng là trò chơi yêu thích của Winni khi đến lớp.
Hồi Winnie còn sống, khi bé muốn ăn bánh, bà Charlotte Eastland lấy cái lọ bánh có hình con mèo, hỏi con mèo có thể cho bé mấy chiếc, rồi giả giọng mèo trả lời: “Meo, con có thể lấy một chiếc”. Chiếc lọ bị cất đi rồi quên lãng sau khi Winni chết, và chỉ được nhớ để lôi ra đựng bánh khi Susan lên 4 tuổi. Khi Susan nhìn thấy và đòi, bà vô tình hỏi con mèo nói sao, cô bé lập tức nói ngay: "Meo, con có thể lấy một chiếc".
Susan còn kể nhiều chuyện xảy ra cho Winnie khi còn sống, chẳng hạn như cuộc dạo chơi bờ biển. Bà mẹ khẳng định, cô bé nhắc lại đúng những người tham gia buổi chơi đó, thậm chí cả người chồng trước của bà và là bố đẻ của Winni, nhắc những trò họ đã chơi. Susan còn nhắc đến cậu bé Gregory, bạn chơi với Winni hồi trước, dù chưa hề nghe nói đến cậu. Cô bé cũng “nhớ” về chú George, người mà bé bảo là “con vẫn hay dừng lại thăm chú và chơi với chú một lát trên đường đến trường”. Cả cậu bé Gregory và chú George đều không sống cùng thành phố khi Susan ra đời và chưa hề gặp bé.
Susan cũng “kể”, có lần bé (thực ra là Winni) theo mẹ đến bãi chơi ném bóng, và trong lúc mẹ chơi, bé đi mua kẹo gần đấy, rồi bị một cậu bé chạy đến ôm hôn. Chuyện này, bà Eastland vẫn nhớ rất rõ chuyện này và nhớ rằng chồng bà đã rất tức giận khi nghe kể.
Bà Eastland khẳng định, tuy tin Susan chính là Winni đầu thai nhưng và chưa hề nói với các con về luân hồi vì nếu cộng đồng Cơ đốc giáo biết và tin hay “giáo dục” con về điều đó, họ sẽ trục xuất bà. Vì vậy những biểu hiện của Susan là hoàn toàn tự nhiên chứ không hề chịu ảnh hưởng, định hướng nào từ bà cả.
Còn nhiều “nghi án” khác về luân hồi với “bằng chứng” trên cơ thể người mới tái sinh, được các học giả khác ghi nhận. Chẳng hạn, một cậu bé Ấn Độ tự xưng mình là Maha Ram, người đàn ông đã chết vì bị bắn ở cự ly gần. Người ta đã tìm được một người đàn ông có tên như vậy bị dí súng săn vào ngực mà bắn. Không chỉ kể đúng chi tiết nhiều chuyện của Maha Ram lúc sinh thời, cậu bé còn có vết bớt ở ngực giống hệt vết sẹo trúng đạn của Ram.
Một người đàn ông Thái Lan cũng khẳng định ông nhớ rất rõ những kỷ niệm kiếp trước, và những chuyện này hoàn toàn trùng khớp với chuyện đời người chú đã chết vì dao đâm của ông ta. Trên ngực người đàn ông cũng có vết bớt, vị trí và hình dáng giống hệt vết dao đâm đã lấy đi tính mạng người chú.
Kỳ bí những vết sẹo luân hồi (1)
Thứ ba 12/11/2013 12:00:00 (GMT +7)
Nguồn: Xzone
Rất nhiều câu chuyện được kể như là “bằng chứng” cho sự luân hồi,
trong đó nhiều người khi sang kiếp khác vẫn mang những vết sẹo hay dấu
ấn đặc biệt trên cơ thể có liên quan đến những vết thương, bệnh tật hay
đặc điểm nhận dạng trong tiền kiếp. Dưới đây là một số câu chuyện có
thật được ghi chép lại, còn những diễn biến ấy có chứng tỏ rằng linh hồn
con người sau khi chết có luân hồi thật hay không tùy thuộc vào suy xét
của từng độc giả.
Sự trở lại của lão bộc trung thành
Trong một tạp chí về tâm linh xuất bản tại Pháp năm 1948, bác sĩ
người Pháp Maurice Delarry đã kể về trải nghiệm của chính ông về cái gọi
là sự đầu thai của một người quen biết. Trước đó, bác sĩ Delarry không
tin chuyện luân hồi, rồi những gì trải qua khi nghiên cứu về thuật cầu
cơ khiến ông dần tin chắc điều này là có thật.
Theo lời kể của Maurice Delarry, một buổi tối tháng 5/1947, vợ
chồng ông đang cầu cơ thì chiếc xe lay động, lần lượt chỉ vào 5 chữ cái,
biểu thị cái tên của linh hồn đang nhập vào cơ, đó là Felix. Họ hỏi:
“Ông Felix muốn gì?”. Linh hồn trả lời: “Tôi muốn báo cho ông bà biết
rằng một ngày gần đây tôi sẽ trở lại trong gia tộc của ông bà”. Hai vợ
chồng hỏi tại sao, linh hồn không giải thích mà chỉ khẳng định lần nữa:
“Đúng, tôi sẽ trở lại trong gia tộc của ông bà”.
Bác sĩ Maurice nói, họ hàng của ông bà rất đông và sống rải rác
khắp nơi, vậy ông Felix có thể nói rõ ông sẽ trở lại ở địa phương nào
không. Felix nói địa điểm và tên gia đình mà ông ta sẽ “tới”.
“Có chắc ông sẽ vào gia đình ông A. bà con của chúng tôi?”. “Đúng
vậy, gia đình họ hiện có hai con gái”. Vợ chồng bác sĩ hỏi Felix có biết
tên hai cô bé ấy không, linh hồn bảo có rồi đọc đúng tên, cả ngày sinh
tháng đẻ nữa. “Ông ta” cũng tiết lộ, ngày ông trở lại dương gian là
24/9/1947, vào lúc rạng sáng.
“Nhưng chúng tôi làm sao có thể biết chắc đứa bé được sinh ta ấy
chính là ông đầu thai?”, bác sĩ hỏi. Felix trả lời: “Cô J. (tên của vợ
bác sĩ) sẽ nhận ra ngay khi nhìn thấy tai phải của tôi, vì tôi chính là
Felix, người hầu trung thành của ông bà thân sinh cô ấy”.
Từng câu hỏi và trả lời trong buổi cầu cơ đó đã được bác sĩ Maurice
Delarry ghi lại để đối chứng sau này, nhưng không tiết lộ với ai. Gia
đình ông A. mà linh hồn Felix nói đến chính là gia đình chị họ của bà
bác sĩ. Lúc đó vợ chồng Delarry không hề biết người chị họ sống ở xa ấy
đã mang thai. Và 4 tháng sau, đúng ngày 24/9/1947, họ nhận được điện tín
từ chính người họ hàng ấy thông báo đã sinh hạ một bé trai lúc 8h sáng.
Ba tháng sau, vợ chồng bác sĩ mới có điều kiện đến thăm chị họ và
được gia chủ đưa vào phòng nhìn mặt em bé. Khi bà Delarry lại gần chiếc
nôi, đứa bé chăm chăm nhìn bà, miệng mỉm cười nhưng nước mắt tuôn ra,
rồi giơ tay về phía bà như đòi bế. Bố mẹ bé ngạc nhiên hết sức vì thấy
con mình trước đây không bao giờ chịu theo người lạ.
Vợ chồng bác sĩ nhìn thấy miếng vải băng ngang đầu em bé thì đoán
biết phần nào nguyên nhân, nhưng vẫn giả vờ hỏi sao phải băng, có phải
bé bị chốc lở không. Người mẹ đáp: “Không phải, vì bé có tật ở tai phải
ngay từ lúc sinh ra, vành tai chỉ dính một chút vào da đầu, bác sĩ nói
phải bôi thuốc và băng lại một thời gian cho nó liền”.
Đến lúc này, vợ chồng bác sĩ Maurice Delarry không còn nghi ngờ gì
về điều mà Felix đã thông báo trước đây cũng như sự tồn tại của luân
hồi, bởi lão bộc Felix trước đó cũng có tật ở tai y hệt như vậy.
Những vết sẹo của Corliss
Victor Vincent, một lão ngư dân sống ở Sitka, Alaska, Mỹ, qua đời
vào đầu năm 1946 vì bệnh tật. Vốn rất thân thiết với cháu gái, vốn đã
lấy chồng mang họ Chotkin, trước khi mất, Victor đã nói cho cô rằng ông
sẽ đầu thai làm con trai cô. Victor cũng chỉ hai vết sẹo ở sống mũi và
sau lưng, hậu quả của 2 lần phẫu thuật, cho cháu thấy và dặn rằng những
đặc điểm này cũng sẽ xuất hiện ở đứa bé chưa ra đời.
Một năm rưỡi sau ngày Victor Vincent chết, vào ngày 15/12/1947,
cháu gái ông, bà Chotkin, sinh hạ một đứa con trai đặt tên là Corliss
Chotkin Jr. Quả thật, em bé có hai vết sẹo ở lưng và sống mũi y hệt
Victor lúc sinh thời.
Tiến sĩ Ian Stevenson, chuyên gia tâm lý, từng đứng đầu viện nghiên
cứu về chuyên ngành này tại Ðại Học Virginia, Mỹ, nhưng sau đó dồn tâm
huyết cho việc sưu tầm, nghiên cứu các trường hợp luân hồi, đã đến “khảo
sát” trường hợp của Corliss Chotkin Jr. vào năm 1960. Ông cho biết vào
thời điểm đó, hai vết sẹo của Corrliss đã mờ dần theo thời gian nhưng
vẫn còn rất rõ ràng, đặc biệt là vết sẹo ở sau lưng. Nó rộng khoảng
0,5cm, dài 3 cm, có màu sẫm hơn so với vùng da khác và hơi lồi, xung
quanh có nhiều chấm đen giống như vết chỉ khâu quanh vết thương.
| Tiến sĩ Ian Stevenson. |
Ngoài những vết sẹo, Corrliss còn mang nhiều đặc điểm của người ông
quá cố như thích chải kiểu đầu đặc trưng của Victor, cho dù mẹ có chải
cho kiểu gì đi nữa. Cả Victor lẫn Corrliss đều thuận tay trái, thích bơi
lội, thích tàu bè, có khiếu về sửa chữa máy móc, trong khi cha đẻ của
Corrliss không hề có năng khiếu này. Còn một điều thú vị nữa, sinh thời
Victor nói với cháu gái rằng, khi đầu thai, ông sẽ không còn nói lắp như
kiếp sống cũ (một tật mà ông rất ghét mà không thể sửa), nhưng rốt cục
thì Corrliss vẫn cứ nói lắp y hệt.
Theo lời bà Chotkin kể cho tiến sĩ Ian Stevenson, năm Corrliss hơn 1
tuổi, bà tập cho con nhận biết tên mình, nhưng cậu bé thường cãi một
cách nóng nảy: “Mẹ không biết con là ai sao? Con là Kahkody đây”. Đó là
cái tên mà bà dùng để gọi Victor Vincent lúc ông còn sống.
Một người cô của bà Chotkin cũng kể lại, sau khi Victor qua đời, bà
có nằm mơ thấy ông trở về sống với nhà Chotkin, dù không hề được bà
Chotkin tiết lộ chuyện Victor nói trước sẽ đầu thai. Khi cậu bé Corrliss
được 2-3 tuổi, cậu đã nhận ra nhiều người quen cũ của Victor Vincent,
trong đó có cả vợ Victor.
Tiến sĩ Ian Stevenson, người đã gặp Corrliss cả thảy 3 lần, cho
biết kể từ khi lên 9, cậu bé dần dần ít nói đến tiền kiếp của mình, và
đến khoảng năm 1962 thì nhớ rất ít về kiếp trước. Vào năm 1972 trong lần
gặp cuối cùng, tiến sĩ nhận thấy Corrliss đã sửa được tật nói lắp. Anh
từng tham gia chiến tranh Việt Nam trong đoàn pháo binh, bị điếc một bên
do một quả đạn nổ gần, và sau khi về nước đã trở lại sinh sống ở quê
nhà Alaska.
(Còn nữa...)
Chuyện kỳ bí về những vết sẹo luân hồi (kỳ 2)
Chủ nhật 18/05/2014 12:00:00 (GMT +7)
Nguồn: Trithucthoidai.vn
Để nghiên cứu, khảo sát các “bằng chứng sống về luân hồi”, Ian Stevenson đã vận dụng kiến thức và các phương pháp chuyên môn về sử học, luật học, tâm lý học, trực tiếp gặp gỡ nhân vật và nhân chứng, tìm các tài liệu (báo chí, nhật ký, báo cáo, giấy khai sinh, hồ sơ bệnh án…). Từ con số rất lớn những trường hợp luân hồi được khảo cứu, ông đã viết nhiều bài khảo luận đăng báo và xuất bản 5 cuốn sách về lĩnh vực này.
Những trường hợp dưới đây đều đã được Ian Stevenson khảo cứu, mà điểm chung là những người đã chết khi đầu thai đã “đánh tiếng” sự trở lại của mình bằng những dấu vết trên cơ thể đứa bé mới ra đời.
Cặp song sinh nhà Pollock
Tháng 5.1057, tại Hexam Northumberland, Anh, một chiếc xe hơi mất lái lao bổ lên vỉa hè đã đâm chết Joanna11 tuổi, và Jacqueline 6 tuổi. Không chấp nhận nổi việc mất một lúc 2 đứa con gái, John Pollock đinh ninh rằng, chúng nhất định sẽ đầu thai trở lại làm con ông, dù vợ ông, bà Florence, không bao giờ tin điều đó.
Khi bà Florence mang thai vào đầu năm 1958, ông John quả quyết vợ sẽ sinh đôi dù bác sĩ khám lần nào cũng khẳng định chỉ sinh một. Nhưng sự thật là hai bé gái đã cùng ra đời vào ngày 4.10 năm đó, đặt tên là Gillian và Jennifer. Ông Pollock giật mình khi thấy Jennifer cũng có một vết bớt trên trán gần sống mũi, hệt như vết sẹo do ngã của bé Jacqueline đã chết, cũng ở vị trí đó, và cả cũng như Jacqueline, bé Jennifer có một nốt ruồi màu nâu ở vùng thắt lưng trái.
Khi nghiên cứu trường hợp này, tiến sĩ Ian Stevenson đã lấy mẫu xét nghiệm để xác định cặp song sinh này cùng trứng hay khác trứng. Kết quả: hai cô bé được tách ra từ một hợp tử duy nhất, nghĩa là có cùng một “bản sao di truyền”. Thế nhưng, trên người bé Gillian không có vết bớt hay nốt ruồi nào cả, còn 2 dấu hiệu này ở Jennifer thì giống người chị quá cố Jacqueline cả về kích thước, hình dáng lẫn vị trí.
Mặc dù ông bà Pollock không bao giờ nói với các con về những người chị đã chết, nhưng Gillian và Jennifer, trong thời gian từ 2 đến 4 tuổi, lại hay nhắc đến Joanna và Jacqueline. Chúng nhận ra ngay những đồ chơi cũ của hai chị và chơi một cách thành thạo, quen thuộc, dù lần đầu tiên trông thấy. Jennifer cũng dựa dẫm, “bám váy” chị là Gillian như Jacqueline thường ỷ lại vào Joanna trước đây.
Đến tuổi học viết, cô chị Gillian ngay từ lần đầu đã cầm bút thành thạo như người chị đã chết ở tuổi 11, còn Jennifer thì không.
Tiến sĩ Ian Stevenson theo dõi trường hợp này suốt 19 năm và nhận thấy, Gillian và Jennifer quên dần chuyện tiền kiếp, và đến năm 1985 thì hai cô không còn nhắc gì đến nữa.
Cô bé Susan chính là chị gái Winni quá cố?
Bà Charlotte Eastland ở Idaho có một đứa con gái tên là Winnie chết vì đụng xe năm 1961 khi mới 6 tuổi. Là người Cơ đốc giáo, nhưng vì quá tiếc đứa con, bà ước con gái đầu thai trở lại như trong những câu chuyện của người Ấn Độ mà bà được nghe.
Khi Winnie chết được 6 tháng và lúc bà Charlotte mang thai 2 năm sau đó với người chồng mới, cô con cả của bà là Sharon đều nằm mơ thấy Winnie trở về với gia đình. Khi bà đang nằm trên bàn đẻ, người chồng cũ cũng tưởng như nghe thấy Winnie nói: “Bố ơi con đang về”.
Susan không giống hệt Winnie về vẻ ngoài. Bé tóc vàng, mắt xanh trong khi người chị quá cố tóc đỏ, mắt nâu. Thế nhưng, cả hai cô bé đều có lông mọc sau lưng, và bên hông trái của Susan cũng có vết sẹo nhỏ đúng chỗ vết tử thương do bị xe đụng của Winnie. Tính nết, hành vi, cử chỉ của Susan cũng giống hệt Winnie ngày trước.
Lên 2 tuổi, Susan luôn tự nhận mình là Winni và nói rằng mình 6 tuổi (tuổi Winnie lúc bị chết). Khi lên 5, cô bé khẳng định mình nhiều tuổi hơn anh trai Richard, lúc đó đã 11 tuổi (so với cô bé Winnie quá cố, Richard ít hơn 3 tuổi). Xem ảnh Winnie, Susan khăng khăng đó là ảnh mình và đòi giữ. Có lần cô bé cầm bút viết vào cánh cửa bếp cái tên Winni. Bé hay nói lúc nào đi học sẽ chơi đu ở trường; đây từng là trò chơi yêu thích của Winni khi đến lớp.
Hồi Winnie còn sống, khi bé muốn ăn bánh, bà Charlotte Eastland lấy cái lọ bánh có hình con mèo, hỏi con mèo có thể cho bé mấy chiếc, rồi giả giọng mèo trả lời: “Meo, con có thể lấy một chiếc”. Chiếc lọ bị cất đi rồi quên lãng sau khi Winni chết, và chỉ được nhớ để lôi ra đựng bánh khi Susan lên 4 tuổi. Khi Susan nhìn thấy và đòi, bà vô tình hỏi con mèo nói sao, cô bé lập tức nói ngay: "Meo, con có thể lấy một chiếc".
Susan còn kể nhiều chuyện xảy ra cho Winnie khi còn sống, chẳng hạn như cuộc dạo chơi bờ biển. Bà mẹ khẳng định, cô bé nhắc lại đúng những người tham gia buổi chơi đó, thậm chí cả người chồng trước của bà và là bố đẻ của Winni, nhắc những trò họ đã chơi. Susan còn nhắc đến cậu bé Gregory, bạn chơi với Winni hồi trước, dù chưa hề nghe nói đến cậu. Cô bé cũng “nhớ” về chú George, người mà bé bảo là “con vẫn hay dừng lại thăm chú và chơi với chú một lát trên đường đến trường”. Cả cậu bé Gregory và chú George đều không sống cùng thành phố khi Susan ra đời và chưa hề gặp bé.
Susan cũng “kể”, có lần bé (thực ra là Winni) theo mẹ đến bãi chơi ném bóng, và trong lúc mẹ chơi, bé đi mua kẹo gần đấy, rồi bị một cậu bé chạy đến ôm hôn. Chuyện này, bà Eastland vẫn nhớ rất rõ chuyện này và nhớ rằng chồng bà đã rất tức giận khi nghe kể.
Bà Eastland khẳng định, tuy tin Susan chính là Winni đầu thai nhưng và chưa hề nói với các con về luân hồi vì nếu cộng đồng Cơ đốc giáo biết và tin hay “giáo dục” con về điều đó, họ sẽ trục xuất bà. Vì vậy những biểu hiện của Susan là hoàn toàn tự nhiên chứ không hề chịu ảnh hưởng, định hướng nào từ bà cả.
Còn nhiều “nghi án” khác về luân hồi với “bằng chứng” trên cơ thể người mới tái sinh, được các học giả khác ghi nhận. Chẳng hạn, một cậu bé Ấn Độ tự xưng mình là Maha Ram, người đàn ông đã chết vì bị bắn ở cự ly gần. Người ta đã tìm được một người đàn ông có tên như vậy bị dí súng săn vào ngực mà bắn. Không chỉ kể đúng chi tiết nhiều chuyện của Maha Ram lúc sinh thời, cậu bé còn có vết bớt ở ngực giống hệt vết sẹo trúng đạn của Ram.
Một người đàn ông Thái Lan cũng khẳng định ông nhớ rất rõ những kỷ niệm kiếp trước, và những chuyện này hoàn toàn trùng khớp với chuyện đời người chú đã chết vì dao đâm của ông ta. Trên ngực người đàn ông cũng có vết bớt, vị trí và hình dáng giống hệt vết dao đâm đã lấy đi tính mạng người chú.
Nhận xét
Đăng nhận xét