THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG (CHƯƠNG VIII: NÓNG – LẠNH)
THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG 48/a
Thứ Bảy, tháng 10 24, 2015CHƯƠNG VIII: NÓNG – LẠNH
“Nhiệt thể hiện ở chuyển động của các hạt vật chất.”
M.V. Lômônôxốp
“Tính
chất kỳ lạ nhất của năng lượng là khả năng biến đổi của nó. Một trong
những dạng phổ biến nhất của năng lượng trong tự nhiên là năng lượng
chuyển động hay động năng. Năng lượng nhiệt là nguồn dự trữ động năng
của các phân tử hoặc nguyên tử chuyển động hỗn loạn và liên tục.”
K.A Gladkov
Con
người sẽ không có khả năng nhận thức tự nhiên nếu không phân biệt được
các sự vật - hiện tượng. Để phân biệt được các sự vật - hiện tượng một
cách nhất quán mà cùng nhau tìm hiểu về chúng thì phải đặt tên, định
nghĩa nêu ra những đặc điểm… của chúng. Từ đó mà xuất hiện các khái
niệm. Có thể nói, hệ thống các khái niệm là bà đỡ cho con người nhận
thức tự nhiên và con người chỉ có thể nhận thức được tự nhiên thông qua
hệ thống các khái niệm mà nó chủ động sáng tạo ra. Nhận thức càng sâu
rộng thì hệ thống khái niệm càng phong phú và bản thân mỗi khái niệm
cũng theo đó mà đòi hỏi một nội hàm hoàn thiện hơn. Do tính chủ quan,
siêu hình không thể loại trừ được của tư duy nhận thức mà các khái niệm
cũng hàm chứa sự bảo thủ, lạc hậu. Vì vậy, có lần chúng ta đã nói: khái
niệm như con dao hai lưỡng, mở đường cho nhận thức tiến lên nhưng nhiều
khi cũng làm trì trệ nhận thức, thậm chí là làm cho nhận thức mới bị lầm
lạc. Có thể lấy khái niệm vật chất làm ví dụ điển hình. Thời cổ đại,
vật chất nói chung được hiểu là bao gồm các vật thể hữu hình, cảm tính,
đang tồn tại trong Vũ Trụ.
Sự thể hiện đa dạng của vật chất và sự xuất hiện – tiêu vong của vạn
vật cũng như sự chuyển hóa qua lại giữa chúng đã hướng triết học cổ đại
đến suy lý: phải có một hoặc vài dạng vật chất đóng vai trò nguồn gốc
của các chất, nền tảng tạo sinh vạn vật. Vì không những không thể giải
quyết rốt ráo được mà còn đầy ngây thơ và mâu thuẫn về nguồn gốc vật
chất, nên không còn con đường nào khác là phải “nhờ đến” Thượng Đế để
khắc phục khâu cuối cùng này.
Khái
niệm vật chất mang tính trực giác ở thời cổ đại, về đại thể, đến thời
cận đại vẫn tồn tại. Vào thế kỷ XVII - XVIII, người ta vẫn cho rằng vật
chất là tên gọi chung của tất cả các vật thể có chất lượng muôn màu muôn
vẻ tồn tại trong Vũ Trụ
và những vật thể này là gồm những hạt rất nhỏ, không thể phân chia được
nữa tích hợp nên, còn không gian và thời gian là những tồn tại đặc biệt
bên cạnh vật chất chứ không phải là vật chất. Khi cơ học Niutơn ra đời
thì vật chất gắn liền luôn với khối lượng: đã là vật chất thì phải có
khối lượng và khối lượng trở thành thể hiện cơ bản số một của vật chất.
Trong
khi vật lý thực nghiệm tiến như vũ bão trên bước đường đi khám phá
những bí ẩn của tự nhiên thì khái niệm về vật chất vẫn hầu như dẫm chân
tại chỗ. Tình hình đó đã làm cho nhận thức vật lý nhiều khi gặp phải
những hoang mang bối rối và hướng tới quan niệm sai lầm mà phải đến cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mới (tạm coi là) khắc phục được. Vào thời kỳ
này, sự mâu thuẫn giữa khái niệm vật chất đầy tính bảo thủ và những phát
kiến vật lý đã ở mức cao độ, đòi hỏi phải được giải quyết.
Chính
Anhxtanh là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ đặc biệt khăng khít,
không thể tách rời được giữa không - thời gian và vật chất. Ông cho
rằng vật chất không thể tồn tại được nếu không có không - thời gian và
ngược lại, không - thời gian cũng không thể tồn tại được nếu vật chất
biến mất. (Nhưng vật chất có thể biến mất được không và biến đi đâu? Đó
là câu hỏi mà Anhxtanh đã không đặt ra!). Tuy nhiên, một cách sâu sắc
và có tính hệ thống hơn, phải cho rằng Lênin mới là người đầu tiên đưa
khái niệm vật chất dứt khoát lên một tầm cao mới, phù hợp hơn mà cũng
gần chân lý hơn (dù chúng ta cho là vẫn phạm sai lầm!). Kế thừa những quan niệm triết
học tiến bộ của những nhà triết học đi trước, tiếp thu những phát kiến
và thành tựu khoa học mới của đương thời, Lênin cho rằng, vật chất
không có giới hạn tận cùng về cấu trúc, nghĩa là có thể phân chia các
hạt vi mô đến vô tận (tổng của nhỏ vô tận làm sao bằng lớn vô tận
được!?). Theo ông, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng
cụ thể của vật chất, và vật chất nói chung là vô hạn, vô tận, không
sinh ra mà cũng không mất đi. Bên cạnh đó, Lênin cũng cho rằng không
gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và gắn liền với vật
chất, là phương thức tồn tại của vật chất, không thể có một dạng vật
chất nào tồn tại được ở bên ngoài không gian và thời gian, mà cũng
không thể có không và thời gian nào tồn tại ở ngoài vật chất (?).
Dù
quan niệm của Lênin về vật chất đã rất “thoáng” rồi thì vẫn chưa ổn
thỏa. Dựa vào quan niệm ấy sẽ không bao giờ thấy được bản chất đích thực
của thời gian.
Tương
tự như khái niệm vật chất, khái niệm năng lượng cũng đã trở nên bảo
thủ, lạc hậu trước những khám phá vật lý của thế kỷ XX, làm cho các nhà
vật lý lúng túng và thiếu nhất quán trong việc nhận thức về mối quan
hệ giữa vật chất và năng lượng. Ngày nay năng lượng vẫn được hiểu theo
giáo trình cơ học cổ điển. Theo giáo trình này, tất cả các dạng cụ thể
của vật chất vận động đều có năng lượng. Năng lượng là một đại lượng đặc
trưng (số đo) mức độ vận động của vật chất. Một vật ở trạng thái xác
định thì có một năng lượng xác định. Khi vật tương tác với các vật bên
ngoài thì nó sẽ biến đổi trạng thái và trao đổi năng lượng với các vật
bên ngoài. Nhưng thực chất của sự trao đổi năng lượng này xảy ra như thế
nào? Có thể rằng dùng từ "chuyển hóa" chính xác hơn chăng? Và động
năng chính là dạng nguyên thủy, dạng cội nguồn của năng lượng?
Rõ
ràng với khái niệm về năng lượng đã lỗi thời như thế, khó tránh khỏi
“chuệch choạc” trong nhận thức nhiều hiện tượng vật lý, trong đó có
không ít những hiện tượng rất đơn giản. Chẳng hạn, nếu cho rằng hai vật
va chạm nhau sẽ phải trao đổi động năng (một dạng của năng lượng) của
chúng cho nhau, thì phải đi đến hình dung: năng lượng dù hoàn toàn lệ
thuộc vào vật chất, là đặc trưng cho mức độ vận động (gồm số lượng và
cường độ vận động) của vật, thì cũng có vẻ như một tồn tại thực và tương
đối độc lập như vật chất. Đó là một điều rất khó hình dung. Nếu hai vật
đó đứng yên thì năng lượng của mỗi vật bằng bao nhiêu, có bằng 0 không?
Không bao giờ! Chỉ có thể nói động năng của chúng bằng 0 so với nhau và
đặc biệt là chỉ theo đánh giá của hệ quan sát thấy chúng đứng yên mà
thôi. Nếu một vật có khối lượng m thì năng lượng toàn phần của nó, nếu qui đổi ra động năng, đúng bằng mc2.
Lượng năng lượng này luôn được bảo toàn dù vật ở bất cứ trạng thái (mức
độ, cách thức) vận động nào, miễn khối lượng của nó không suy suyển.
Làm sao hiểu được điều đó nếu dựa trên khái niệm năng lượng của cơ học
cổ điển?
Dù
hai thực thể có vật chất khác nhau đến mấy chăng nữa nhưng khi khối
lượng của chúng bằng nhau thì năng lượng toàn phần của chúng hoàn toàn
như nhau. Từ đó, nói rộng ra, đa dạng vật chất trong Vũ Trụ đều được
biểu thị bởi một dạng năng lượng duy nhất. Nói cách khác các thực thể
vật chất trong Vũ Trụ đều đồng nhất với nhau về mặt năng lượng và chỉ có
thể khác nhau về mặt khối lượng. Nếu năng lượng là đại lượng đặc trưng
cho vận động của vật chất thì khối lượng là đại lượng đặc trưng cho
chính vật chất (và có thể gọi bằng một cái khác, đúng hơn: chất lượng?
Nếu hai vật có thể tích bằng nhau thì vật có khối lượng lớn hơn phải có
chất lượng hơn, xét về mặt năng lượng.). Điều đó sẽ tiếp tục dẫn đến
suy lý: vậy thì có thể qui mọi dạng chất của vạn vật về một dạng chất
duy nhất. Chất này đóng vai trò là nguồn gốc của các chất cụ thể khác
nhau. Thậm chí cần phải cho rằng đa dạng vật chất thực ra đều được cấu
tạo nên bởi cùng chất đó, chỉ vì cách thức vận động nội tại và cấu trúc
nội tại của chúng tương đối khác nhau mà chúng khác nhau. Vậy, nếu
loại bỏ được yếu tố làm cho vật chất thể hiện ra tính vận động của
chúng thì sự đồng nhất về chất của chúng sẽ “lộ diện”. Nhưng yếu tố đó
là yếu tố nào? Chỉ có thể là yếu tố thời gian! Rốt cuộc, một năng lượng
toàn phần nào đó, nếu loại bỏ yếu tố mang thời gian tính đi, sẽ “hiện
nguyên hình” ra lượng vật chất nguyên thủy. Có thể nói: vật chất là
năng lượng được “nhìn thấy” (được cảm nhận) ngoài thời gian, còn năng lượng là vật chất
được “nhìn thấy” (được cảm nhận) trong thời gian.
Theo
triết học duy tồn thì không thể có Hư Vô được, cho nên chất nguyên thủy
nói trên phải lấp đầy Vũ Trụ. Mà lấp đầy Vũ Trụ chỉ có thể là không
gian cho nên phải dẫn đến quan niệm không gian cũng chính là chất nguyên
thủy cần tìm. Nhưng chỉ cần quan sát thông thường cũng nhận ra, trong
Vũ Trụ đâu chỉ có toàn không gian mà còn có vạn vật - hiện tượng nữa. Do
đó phải đi đến suy lý: ngoài không gian ra, còn có một chất nữa, thực
chất vẫn là không gian nhưng có mức độ vận động khác với không gian (mà
chúng ta gọi là trạng thái bị kích thích tột độ) nên cũng tương đối phân
biệt được với không gian. Chất này đã được chúng ta gọi là KG. Chất KG
chính là chất của vạn vật trong Vũ Trụ và năng lượng là chất ấy được
thấy trong tình trạng đang vận động của nó.
Vì
vạn vật trong Vũ Trụ có muôn hình vạn trạng, to nhỏ khác nhau, có thể
phân chia các vật to hơn thành nhiều vật nhỏ hơn hay ngược lại, có thể
tập hợp những vật nhỏ hơn thành vật lớn hơn. Điều đó cho thấy có thể
tích tụ và phân tán KG và một thực thể KG thì phải có cấu trúc, phải có
một sự liên kết vận động theo cách thức nào đó giữa các phần tử KG hợp
thành thực thể KG. Phần tử KG cũng là thực thể KG nên có thể phân chia
nó thành những phần tử KG nhỏ hơn nữa. Nhưng có thể phân chia KG nhỏ đến
vô tận như Lênin quan niệm được không? Có mà cũng không, tuy nhiên
trong Vũ Trụ thực tại thì nhất quyết là không thể! (Nhỏ vô hạn coi như
tương đương với Hư Vô (hư vô tuyệt đối). Dù là vô vàn thì Hư Vô không
thể hợp thành Tồn Tại (tồn tại tuyệt đối) được! Hay một cách toán học
cũng dễ dàng thấy: nếu tổng của hai số nhỏ vô hạn cũng là số nhỏ vô hạn
thì phải suy ra tổng vô hạn số nhỏ vô hạn không thể hợp thành số lớn vô
hạn được. Nhìn theo góc độ khác: số nhỏ vô hạn là số rất gần với số 0 và
nhỏ hơn rất nhiều so với số 1; số lớn vô hạn là số lớn hơn rất nhiều so
với số 1; hai số ấy là tương phản nghịch đảo của nhau nên tích của
chúng chỉ có thể đúng bằng 1 chứ không thể bằng chính số lớn vô hạn
được!). Vậy, phải tồn tại một lượng KG nhỏ nhất tuyệt đối đóng vai trò
đơn vị hợp thành những thực thể KG có qui mô to nhỏ khác nhau, và chúng
ta gọi lượng KG đơn vị ấy là hạt KG. Đây chính là nguyên nhân sâu xa
nhất làm cho vật chất có tính gián đoạn và kéo theo năng lượng cũng có
tính gián đoạn, hay nói cách khác, sự tồn tại lượng tử vật chất và lượng
tử năng lượng là một tất yếu hiển nhiên.
Nếu
tin theo khái niệm vật chất của Lênin và khái niệm năng lượng của cơ
học cổ điển thì sẽ không bao giờ giải thích được vì sao lại có hiện
tượng lượng tử hóa trong Vũ Trụ vi mô mà vật lý học đã phát hiện ra.
Đến
đây, có thể thấy, khi hai vật có khối lượng bằng nhau thì chúng có năng
lượng toàn phần bằng nhau. Tùy theo trạng thái vận động (cụ thể ở đây
là chuyển động) của mỗi vật so với nhau như thế nào mà có thể chúng có
động năng khác nhau, nhưng không thể nói đơn thuần vật nào có động năng
lớn hơn vật nào, mà chỉ đánh giá được như thế theo quan điểm chủ quan
của mỗi hệ quan sát chúng. Khi hai vật đó va chạm nhau mà không bị “sứt
mẻ” gì (nghĩa là khối lượng của mỗi vật vẫn như cũ) thì không phải chúng
trao đổi năng lượng cho nhau, mà thực chất là chỉ làm biến đổi trạng
thái vận động của nhau và được thấy (có phần chủ quan) là sự biến thái
năng lượng toàn phần theo cách chuyển hóa qua lại giữa nội năng và động
năng ở mỗi vật.
Khi
nói hai vật thực sự trao đổi năng lượng của chúng cho nhau thì cũng
đồng nghĩa là hai vật đó trao đổi vật chất cho nhau. Quá trình đó tất
yếu làm ảnh hưởng ít, nhiều đến tính chất và lượng chất (hay trạng thái
vận động và năng lượng toàn phần) của mỗi vật đó. Một cách tổng quát:
khi một thực thể KG thu, phát hoặc đồng thời thu - phát năng lượng thì
đi kèm với quá trình đó là quá trình biến đổi trạng thái vận động và
năng lượng toàn phần của bản thân thực thể KG. Sự biến đổi đó, tùy thuộc
vào quan điểm, qui ước, đánh giá chủ quan của quan sát - nhận thức, đến
một mức độ nào đó, sẽ làm cho thực thể KG không tồn tại là nó nữa, mà
biến thành thực thể KG khác hoặc những thực thể KG khác. Chúng ta cho
rằng thu - phát bức xạ điện từ là dạng cơ bản nhất, phổ biến nhất của
thu - phát năng lượng. Có thể nói, thu - phát bức xạ điện từ đóng vai
trò quyết định bậc nhất đối với tồn tại và vận động vật chất trong toàn
Vũ Trụ.
Động
năng hay thế năng là những dạng thể hiện cụ thể của năng lượng. Trong
hiện thực, ngoài hai dạng đó ra còn có dạng rất phổ biến mà cũng tối
quan trọng đối với đời sống con người, đó là nhiệt năng. Và thêm nữa,
theo qui ước, còn có nhiều dạng năng lượng khác nữa như: điện năng,
quang năng…
Nhiệt là gì? Nhiệt từ đâu mà có?
Đó
là hai câu hỏi đơn giản, rất dễ trả lời nếu theo sách giáo khoa về
nhiệt học. Nhưng để có câu trả lời như nhiệt học ngày nay chỉ ra, loài
người đã phải trải qua một thời gian rất dài lâu để tìm hiểu, với biết
bao nhiêu công sức mò mẫm, trăn trở, với biết bao nhiêu lần “lên bờ
xuống ruộng” đầy gian lao.
Nhiệt
có liên quan đến cảm giác nóng - lạnh của con người. Đó là điều mà ngày
nay ai cũng biết. Có liên quan thôi chứ nhiệt không phải nóng lạnh.
Nóng thì chắc chắn là có hàm chứa nhiệt rồi nhưng lạnh như băng tuyết
không phải là không hàm chứa nhiệt. Điều đó ít người biết hơn.
Có
lẽ ý niệm về nhiệt độ và nhiệt, ở một mức độ sơ khai nào đó, đã xuất
hiện từ thời thượng cổ. Quá trình đi tìm hiểu bản chất của nhiệt bắt đầu
bằng quá trình xem xét sự cháy. Vào thời cổ đại, quan niệm coi quá
trình cháy là quá trình phân hủy vật thể cháy kèm theo sự giải phóng một
chất lỏng tinh tế không nhìn thấy được (sau này được gọi là “chất
cháy”) đã ngự trị trong xã hội và hằn sâu trong tâm thức của những nhà
bác học thời đó tới mức trở thành một quan niệm truyền thống, không còn
bàn cãi, tiếp tục tồn tại ở châu Âu đến hết thời trung cổ.
Vào
đầu thế kỷ XVII, người ta vẫn quan niệm sự cháy của các vật thể và sự
phân hủy chất cháy đồng thời sinh ra sản phẩm dễ bay hơi. Đến lúc đó
người ta vẫn chưa biết vai trò quan trọng của không khí đối với quá
trình cháy dù trước đó các nhà luyện kim và các nhà hóa học đã biết rằng
để duy trì ngọn lửa thì cần phải có không khí. Sau này, năm 1665, nhà
vật lý nổi tiếng người Anh tên là R. Huc (Robert Hook, 1635 - 1703), có
công bố tác phẩm “Micrographia”, trong đó có trình bày lý thuyết chung
về sự cháy. Theo lý thuyết này, không khí có chứa một chất đặc biệt
giống như chất có trong diêm tiêu ở trạng thái liên kết. Chất này có khả
năng hòa tan mọi vật thể cháy khi nhiệt độ các vật thể này đủ cao. Quá
trình đó sẽ làm xuất hiện ngọn lửa, tạo ra sản phẩm của sự “hòa tan” các
vật thể là ở thể rắn, lỏng hay khí. Trong diêm tiêu, chất có khả năng
hòa tan vật thể cháy nằm ở trạng thái bị
ép chặt cho nên lượng chất đó chứa trong một thể tích diên tiêu nhiều
hơn trong một thể tích không khí tương đương. Nếu đốt cháy vật thể trong
một bình kín thì khi vật thể cháy đã hòa tan bão hòa vào “dung môi”,
quá trình cháy sẽ dừng lại. Nhưng nếu tiếp tục cung cấp không khí, tức
là tiếp tục thêm “dung môi” vào bình, thì quá trình cháy tiếp tục cho
đến khi “hòa tan” hết vật thể cháy.
Giôn
Maiốp (J. Mayow, 1640 - 1679), một thầy thuốc ở Ocspho (nước Anh) đã
phát triển quan điểm của Huc trong bản luận văn “Về diêm tiêu và rượu
không khí của diêm tiêu”, xuất bản năm 1669. Theo Maiốp, trong không khí
có một chất dung môi có khả năng hòa tan các chất cháy mà ông gọi là
“rượu không khí của diêm tiêu”. Chính nhờ có dung môi này mà các chất
cháy mới cháy được trong không khí và không khí mới có khả năng duy trì
sự cháy. Sau đó Maiốp còn cho rằng “rượu không khí của diêm tiêu” cấu
tạo từ những hạt “lửa không khí”. Những hạt này có khả năng kết hợp với
các kim loại khí nung nóng, do đó là tăng khối lượng kim loại.
Trong
quá trình thực hành nhiều thí nghiệm về sự cháy, Maiốp còn phát hiện ra
một điều quan trọng mà trước đó chưa từng biết: hạt “lửa không khí”
không những cần cho sự cháy mà còn cần cho sự thở nữa.
Phát
kiến của Maiốp là thực sự tiến bộ, bởi vì “rượu không khí của diêm
tiêu” chính là Ôxy và hạt “lửa không khí” chính là phân tử hay nguyên tử
ôxy. Tuy nhiên, phát kiến đó không được thừa nhận rộng rãi, không những
là do quan niệm truyền thống về sự cháy có từ thời cổ đại vẫn còn đè
nặng tâm trí giới nghiên cứu, mà còn do Maiốp qua đời quá sớm (vào tuổi
38), chưa kịp tiến hành đủ thí nghiệm để chứng minh một cách thuyết phục
phát kiến của mình.
Có
lẽ vào thời tối cổ, loài người nguyên thủy đã biết đến “chất” gốm,
“chất” kim loại và cũng biết rằng đó là những “sản phẩm” do sự phun trào
núi lửa ngẫu nhiên tạo thành. Biết cách tạo ra “sự cháy” và dùng lửa
phục vụ cho đời sống là một cuộc cách mạng vô song của loài người. Nhờ
có suy nghĩ và ngọn lửa mà vào khoảng cuối thời đại đồ đá mới, loài
người đã chế tạo được những công cụ phục vụ cho lao động và sinh hoạt
mang chất liệu hiếm có trong thiên nhiên, gọi là đồ gốm, muộn hơn một
chút là đồ đồng. Có thể nói đó là bước đi đầu tiên của nghề luyện kim.
Thời
đại đồng thau ở Trung Hoa xuất hiện khoảng đầu thiên niên kỷ II TCN và
phồn vinh nhất vào nửa đầu triều đại nhà Chu (khoảng năm 1066 - 256
TCN), lúc này nghề sản xuất vũ khí cũng như công cụ và đồ dùng sinh hoạt
đã đạt tới trình độ rất cao. Đặc biệt nổi tiếng là những chiếc vạc ba
chân (gọi là “đỉnh”). Phải chăng đó chính là những chiếc lò luyện kim
đan đầu tiên (tổng hợp các chất không quí thành chất quý, chưng cất ra
thuốc (hoàn toàn ảo tưởng) “trường sinh bất lão”) của người Trung Hoa
cổ? Sau này, ở châu Âu trung cổ, những chiếc đỉnh đó được huyền bí hóa
thành một phương tiện ma thuật - bình “triết học” - nó “nảy sinh” các
viên đá triết học, hoặc chỗ tiến hành các quá trình biến đổi kim loại
không quí thành vàng (kim). Phải chăng thuật ngữ “giả kim thuật” có
xuất xứ từ đây, lúc đầu có nghĩa là là cách thức chế tạo ra chất quí,
sau được hiểu rộng ra và xuất hiện thuật ngữ “kỹ thuật luyện kim
(loại)”. Có một điều kể cũng thú vị: dù phần lớn các nhà lịch sử hóa
học cho rằng tên gọi “Chymeia” (Hóa học) có nguồn gốc từ chữ “chemi”
hay “chuama”, nghĩa là “đất đen”, đồng thời cũng là tên gọi của toàn
thể đất nước Ai Cập (một số học giả có ý kiến hơi khác rằng chữ “Khima”
đã có trong các bản viết tay Ai Cập từ thế kỷ III TCN và tên gọi
“Chymea” theo cách hiểu ban đầu có thể là “nghệ thuật nấu kim loại”),
thì cũng không ít nhà nghiên cứu cho rằng “chymeia” xuất phát từ tiếng
“kim” (vàng) của Trung Hoa. Vào thời kỷ giả kim thuật Ả Rập (thế kỷ
VII), người Ả rập thêm tiếp đầu ngữ “al” và thành thuật ngữ
“alchymeia”, mang ý nghĩa là biến đổi các kim loại không quí thành quí,
chế thuốc trường sinh…
Rôbớt
Bôi (Robert Boyle), người Anh, là nhà nghiên cứu khoa học rất xuất sắc
trong thế kỷ XVII ở châu Âu. Ông chào đời ngày 25-1-1627 (và mất năm
1691). Hoạt động của Bôi phản ánh rực rỡ các trào lưu mới trong khoa học
lúc đó và trước hết là chống lại những quan niệm tín điều của triết học
kinh viện cũng như những quan niệm lạc hậu còn lưu lại của thời kỳ giả
kim thuật. Ông bắt đầu nổi tiếng nhờ phát biểu định luật về chất khí của
mình mà ngày nay được gọi là định luật Bôi - Mariốt (nhà vật lý học
người Pháp, Mariốt phát biểu định luật này sau Bôi 17 năm nhưng lập luận
sáng tỏ hơn). Bôi có nhiều đóng góp lớn trong nhiều lĩnh vực nghiên cứ
như : quang học, nhiệt học, điện học, âm học… Tuy nhiên, cống hiến chủ
yếu của Bôi thuộc về lĩnh vực hóa học. Ông là một trong những đại diện
nổi bật nhất của hóa học thực nghiệm và được Angghen đánh giá là “đã làm
cho hóa học trở thành khoa học”. Những dòng sau đây của Bôi, hiểu rộng
ra, là cương lĩnh của khoa học thực nghiệm nói chung: “Tôi nhìn hóa học
theo một quan điểm hoàn toàn khác, không như một thầy thuốc hay như một
nhà giả kim thuật mà như một nhà triết học. Ở đây, tôi muốn vạch ra một
kế hoạch cho triết học hóa học mà tôi hy vọng có thể thực hiện và hoàn
thiện được bằng những thí nghiệm và quan sát của mình. Nếu có những
người thừa nhận kết quả của khoa học chân chính gần với trái tim mình
hơn là những quyền lợi cá nhân thì có thể dễ dàng chỉ cho họ thấy rằng
họ có thể đóng góp cho thế giới những công lao to lớn nhất khi họ mang
hết sức mình ra tiến hành thực nghiệm, thu thập các quan sát và đừng xây
dựng một lý thuyết nào nếu chưa kiểm tra trước tính chất của nó bằng
thực nghiệm”.
Chính
Bôi chứ không ai khác, sau khi phê phán quan niệm nguyên tố của Aristốt
(“nguyên tố lửa”) và của các nhà giả kim thuật, đã đi đến định nghĩa:
nguyên tố là những vật thể xác định, nguyên thủy và đơn giản, hoàn toàn
không trộn lẫn và không cấu tạo từ các nguyên tố khác, và ngược lại,
nguyên tố là thành phần hợp thành của các vật thể hỗn hợp, được tạo
thành khi phân hủy vật thể hỗn hợp. Định nghĩa của Bôi đã rất hữu ích
đối với sự phát triển hóa học thời đó.
Bôi
đã nghiên cứu hiện tượng cháy và cũng đã nhận thấy có một thành phần
không khí mà ông gọi là “chất sống” tham gia vào quá trình cháy. Kết
luận rút ra của ông là nếu không có không khí thì không có sự cháy và
vật thể cháy trong một bình kín sẽ nhanh chóng bị tắt. Bôi còn làm những
thí nghiệm về nung nóng kim loại và nhận thấy sự tăng trọng lượng kim
loại khi nung nóng. Tuy nhiên, ông đã phạm sai lầm khi cho rằng các hạt
“chất lửa” cực kỳ tinh tế từ sự cháy của than đang đốt đã “xuyên qua”
thủy tinh của bình cổ cong để kết hợp với kim loại làm tăng trọng lượng
của kim loại. Từ đó, Bôi cho rằng “chất lửa” phải có trọng lượng. Về
sau, nhà hóa học nổi tiếng người Hà Lan, tên là H. Buahavơ (Hermann
Boerhaave, 1668-1738), đã cân những mảnh kim loại khi chưa nung rồi cân
lại khi chúng đã bị nung nóng đỏ thì thấy trọng lượng hai lần cân ấy
không khác gì nhau. Từ đó, ông rút ra kết luận: “chất lửa” không có
trọng lượng).
Vào
thế kỷ XVII, sự phát triển ngành luyện kim, ngành sản xuất thủy tinh…
đã đòi hỏi nhu cầu lớn về nhiên liệu. Tình hình đó đặt nặng lên vai các
nhà hóa học và tạo hướng ưu tiên cho họ: nghiên cứu cách sử dụng nhiên
liệu tiết kiệm hơn, đồng thời, tìm những chất thay thế cho than gỗ.
Stan
(G. E. Stahl, 1659-1734), người Đức, là một nhà nghiên cứu khoa học có
tài. Thời kỳ đầu, khi còn làm việc ở Yen, nơi ông tốt nghiệp đại học và
trở thành thầy thuốc, Stan vẫn hầu như tin theo lý thuyết giả kim thuật.
Tuy nhiên, nhiều thợ luyện kim đã làm cho ông chú ý đến những hiện
tượng gây tổn thất cho ngành sản xuất này, đi sâu nghiên cứu về khai
thác quặng cũng như luyện kim và trở thành người rất am hiểu kỹ thuật
chế luyện kim loại. Stan đã viết: “Những người thợ rèn, thợ đúc đồng,
đúc chuông, thợ làm khuy than phiền về nỗi là sau quá trình nung nóng
những kim loại (không hoàn hảo) trong không khí, chúng bị cháy mất một
phần và phân hủy thành tro… Vì sao xảy ra hiện tượng đó?... Làm thế nào
để tránh được những điều bất lợi này và phục hồi lại kim loại đã bị tổn
thất? Những vấn đề như vậy ngay cả những người thợ có nhiều kinh nghiệm
cũng không thể hiểu nổi”.
Để
tìm hiểu những vấn đề đó, Stan đã tiến hành nhiều thí nghiệm, trong đó
có thí nghiệm mà ông gọi là “thí nghiệm mới tổng hợp lưu huỳnh”, và đi
đến kết luận: lưu huỳnh được cấu tạo từ một phần axít (axit sunfuric) và
một phần khác là “nguyên tố cháy” có chứa trong than. Sau đó ông mở
rộng kết luận: “nguyên tố cháy” có chứa trong than và các chất béo tham
gia vào cả thành phần của các kim loại không quí. “Nguyên tố cháy” được
Stan gọi là “Phlôgistôn” (xuất phát từ tiếng Hi Lạp “phlogistos” có
nghĩa là cháy). Thuyết Phlôgistôn về sự cháy ra đời!
Những năm về sau, Stan tiếp tục phát triển và đến năm 1723 thì hoàn chỉnh học thuyết của mình.
Thuyết phlôgistôn dần được thừa nhận rộng rãi trong giới hóa học nhờ những hoạt động của các học trò Stan.
Theo
thuyết này, Phlôgistôn là thành phần quyết định tính chất cháy được của
vật thể. Trên cơ sở luận điểm đó, Stan đã giải thích mối quan hệ giữa
phlôgistôn với lửa. Ông cho rằng lửa (hay nhiệt) cần thiết cho việc thực
hiện các quá trình hóa học nhưng không thể xem như một thành phần của
vật thể thoát ra khi vật thể phân hủy, nghĩa là ông phủ nhận “nguyên tố
lửa” của Arixtốt. Còn phlôgistôn, sau khi được giải phóng khỏi vật thể
cháy, có thể kết hợp với các vật chất khác, đặc biệt có thể kết hợp với
không khí thành một hợp chất rất bền vững. Khi vật chất cháy, phlôgistôn
bay ra, chuyển động xoáy và kết hợp với không khí tạo thành ngọn lửa.
Stan cho rằng, phlôgistôn nằm trong bồ hóng là thứ phlôgistôn tinh khiết
nhất. Tuy nhiên, Stan không coi phlôgistôn như một chất cụ thể nào, mà
cho rằng phlôgistôn chỉ có tính vật chất khi nó kết hợp với một chất
khác trong vật thể hỗn hợp, lúc đó nó có thể thể hiện dưới dạng ngọn lửa
khi nung nóng. Còn ở trạng thái tự do thì phlôgistôn là một thứ không
xác định, không cụ thể. (Ngày nay, có thể thấy thuyết phlôgistôn là một
sai lầm “đáng yêu” tương tự như thuyết địa tâm: là thể tương phản của
chân lý khoa học. Quá trình đốt cháy kim loại trong không khí thành vôi
hay xỉ (tức là ôxyt kim loại) chính là một quá trình ôxy hóa khử và như
vậy, có thể viết:
kim loại – phlôgistôn = Kim loại + ôxy = vôi kim loại (tức là ôxýt kim loại)
hay ôxy = – phlôgistôn)
Đến
giữa thế kỷ XVIII, thuyết phlôgistôn đã được thừa nhận khắp châu Âu.
Quan niệm về phlôgistôn trong các quá trình cháy đã làm hồi sinh quan
niệm cổ về sự tồn tại và vai trò của các “chất lỏng không có trọng
lượng” trong các quá trình hóa học, đặc biệt là quan niệm coi nhiệt như
một chất lỏng không có trọng lượng, có khả năng “chảy” từ vật thể này
sang vật thể khác. Tuy rằng ngay từ đầu thế kỷ XVIII, một số nhà vật lý
học như Đềcác, Huc nêu nhiều lý lẽ bác bỏ quan niệm “chất lỏng nhiệt” và
cũng chứng minh cho quan niệm cơ học về bản chất nhiệt, nhưng đến giữa
thế kỷ XVIII thì ý kiến của họ hầu như bị lãng quên. Thuyết phlôgistôn
cùng với quan niệm tồn tại các “chất lỏng không trọng lượng”, trong đó
có “chất nhiệt” vẫn nghiễm nhiên ngự trị trong khoa học.
Như
có lần chúng ta đã kể, Lômônôxốp là một nhà bác học vĩ đại, một trong
những đại diện xuất sắc nhất của nền khoa học Nga thế kỷ XVIII. Ông nổi
tiếng là một thiên tài bách khoa: vừa là nhà vật lý học, hóa học, địa
chất học, khí tượng học…, vừa là nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, vừa
là thi sĩ, nghệ sĩ… Puskin, nhà thơ thiên tài người Nga đã viết thế này:
“Lômônôxốp đã xây dựng trường đại học đầu tiên của nước Nga và nói đúng
hơn, ông chính là trường đại học đầu tiên của nước Nga”.
Công
lao to lớn của Lômônôxốp trong việc thúc đẩy nhận thức của nhân loại về
tự nhiên lên một tầm cao mới là bất tử, không thể phủ nhận được. Một
cống hiến đặc biệt quan trọng của ông cho khoa học là lý thuyết cơ học
về nhiệt hay thuyết nguyên tử - phân tử về nhiệt. Lập luận một cách chặt
chẽ, ông đã giải thích bản chất của nhiệt theo hướng cơ học mà Đềcác,
Húc… nêu ra trước đó, đưa đến quan niệm đúng đắn về nhiệt, và quan niệm
này mang tính vượt thời đại. Ngay trong những luận văn đầu tiên của
mình, Lômônôxốp đã cố gắng chứng minh rằng “nhiệt thể hiện ở chuyển động
của các hạt vật chất”.
Lômônôxốp
chính là người đầu tiên phát biểu nguyên lý bảo toàn vật chất và chuyển
động dưới hình thức rõ ràng và chặt chẽ. Ông viết: “Khi một vật thể
truyền chuyển động cho một vật thể khác và làm cho vật thể này chuyển
động nhanh hơn, thì nó chỉ truyền một phần chuyển động đúng bằng phần
chuyển động mà nó mất”, và: “Mọi biến đổi trong thiên nhiên đều xảy ra
sao cho lấy từ vật thể này bao nhiêu thì thêm vào vật thể khác bất
nhiêu, nếu ở chỗ này vật chất bớt đi bao nhiêu thì ở chỗ khác vật chất
tăng lên bấy nhiêu…”. Trên cơ sở nguyên lý này, Lômônôxốp đã lập luận về
chuyển động nhiệt của các phân tử. Trong công trình “Bàn về tính rắn và
tính lỏng của các vật”, ông viết: “Trước tiên, tôi đã chứng minh rằng,
ngọn lửa sơ đẳng của Arixtốt hoặc các chất nhiệt đặc biệt - theo cách
nói những nhà thông thái mới… chỉ là một điều bịa đặt , và tôi đã khẳng
định rằng lửa và chuyển động quay của các tiểu phân, đặc biệt chẳng qua
chỉ là do của các chất đã tạo ra vật”.
Những
kết luận và chứng minh cuối cùng của Lômônôxốp về bản chất nhiệt được
trình bày trong bản luận văn “Luận về bản chất của nóng và lạnh” viết
năm 1744, công bố năm 1750. Ông viết: “Vật thể A khi tác dụng lên vật
thể B không thể truyền cho vật thể B một tốc độ lớn hơn tốc độ của chính
bản thân A. Vì vậy, nếu vật B lạnh nhúng vào vật A nóng thì chuyển động
của các hạt vật A sẽ gây cho các hạt vật B chuyển động nhiệt, nhưng các
hạt vật B không thể bị kích thích đến mức chuyển động nhanh hơn là
chuyển động nhiệt của các hạt vật A và vì vậy vật B lạnh nhúng vào vật A
nóng tất nhiên không thể nhận một lượng nhiệt lớn hơn lượng nhiệt mà
vật A có”. Có thể coi phát biểu này là dạng sơ khai, là tiền thân của
nguyên lý II nhiệt động học (đến nửa sau thế kỷ XIX mới chính thức được
khám phá!).
Cũng
trong bản luận văn nói trên, Lômônôxốp đã dựa vào quan niệm mà ông nêu
ra về bản chất của nhiệt để nói về giới hạn của nóng và lạnh. Theo ông,
vì không thể nêu ra một giới hạn cao nhất cho tốc độ chuyển động của các
hạt nên mức độ nóng của vật thể cũng không thể có giới hạn cao nhất,
trái lại vì giới hạn thấp nhất của chuyển động là đứng yên (vận tốc bằng
0) nên tất nhiên phải có một giới hạn lạnh nhất, tương ứng với sự ngừng
hoàn toàn chuyển động của các hạt hợp thành vật thể. Đó chính là nhiệt
độ không tuyệt đối mà ngày nay đã được xác định là OoK (độ Kenvin) hay -273oC (độ Celsi).
Quan
niệm tiên tiến của Lômônôxốp về bản chất của nhiệt tỏ ra hoàn toàn xa
lạ và không thể hiểu nổi đối với số đông các nhà khoa học thời đó. Chính
vì vậy mà khi “Luận về bàn chất của nóng và lạnh” của ông xuất hiện ở
Đức, nó đã gây ra những chê bai và cả đả kích của những người theo quan
niệm về sự tồn tại của các “chất lỏng có trọng lượng”.
Có
một điều đáng tiếc nhỏ, tuy Lômônôxốp đã quan niệm nói chung là đúng
đắn về cấu tạo vật chất và bản chất của nhiệt cũng như không thừa nhận
về sự tồn tại của các “chất lỏng không có trọng lượng, song ông lại
không những không từ bỏ thuyết phlôgistôn mà còn dùng nó để giải thích
các hiện tượng hóa học, tính chất kim loại…
Sự
phát triển kiến thức hóa học sau khoảng 100 năm để đáp ứng đòi hỏi ngày
một nâng cao về trình độ sản xuất cũng như nhận thức trong thời kỳ đầu
tư bản chủ nghĩa, đã đạt đến độ chín muồi làm sụp đổ thuyết phlôgistôn
vào cuối thế kỷ XVIII, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hóa học mà
nhiều người mệnh danh là “Cuộc cách mạng trong hóa học”. Về thời kỳ này,
Angghen đã đánh giá khá xác đáng: “Bằng công trình thực nghiệm hàng thế
kỷ của mình, thuyết Phlôgistôn lần đầu tiên đã cung cấp đủ tài liệu để
Lavoaziê có thể tìm thấy trong chất ôxy mà Phistly mới điều chế được
hình ảnh thực tế lộn ngược của chất phlôgistôn hoang đường và do đó lật
nhào cả thuyết phlôgistôn. Nhưng điều đó không có nghĩa là loại trừ mọi
kết quả thực nghiệm của những người theo thuyết phlôgistôn. Ngược lại,
các kết quả này tiếp tục tồn tại, chỉ cần đảo ngược lại cách diễn đạt
chúng, chuyển từ ngôn ngữ của thuyết phlôgistôn sang ngôn ngữ hóa học
hiện đại…
Angtoan
Lôrăng Lavoaziê (Antoine Loran Alvoisier) là nhà bác học thiên tài
người Pháp, có kiến thức bách khoa uyên bác, thuộc vào danh sách các bậc
vĩ nhân của nhân loại, và được vinh danh là người sáng lập ra hóa học
hiện đại. Ông sinh ra ngày 26-8-1743 và là con của một luật sư làm biện
lý tại nghị viện Pháp.
Sau
khi tốt nghiệp đại học, Lavoaziê không đi theo con đường của cha mà gia
nhập vào hàng ngũ các nhà khoa học tự nhiên. Tháng 5-1768, Lavoaziê trở
thành viện hàn lâm khoa học Pari. Năm 1772, ông được bầu là viện sĩ
viện hàn lâm khoa học Pari. Năm 1778, Lavoaziê trở thành viện sĩ ăn
lượng và năm 1785 thì được cử làm giám đốc viện hàn lâm khoa học Pari.
Năm 1788, ông trở thành hội viên Hội hoàng gia Luân Đôn (tức là Viện hàn
lâm khoa học Anh).
Con
đường tiến thân trong khoa học của Lavoaziê nói chung là thuận lợi và
vinh quang. Còn con đường tiến thân trong đời sống xã hội cũng thuận
buồm xuôi gió, gặt hái không ít danh lợi, nhưng kết thúc bất ngờ một
cách bí ẩn. Năm 1768, Lavoaziê nhận làm việc với Sở thầu thuế. Ở nước
Pháp quân chủ, Sở thầu thuế là một cơ quan kinh doanh được chính phủ
giao cho trách nhiệm thu thuế của nhân dân. Hàng năm, Sở thầu thuế phải
nộp cho nhà nước một số tiền nhất định, số tiền dư còn lại, những người
thầu thuế chia nhau hưởng riêng. Với cách làm như vậy, những người thầu
thuế kiếm được rất nhiều tiền và giàu lên nhanh chóng (tất nhiên là một
cách tỉ lệ thuận với mức độ oán ghét của dân chúng. Chẳng hạn, năm 1763
tổng số tiền sở thầu thuế nộp cho nhà nước là 90 frăng, năm 1763 nộp 112
frăng, nhưng số tiền mà họ thu được của dân chúng gấp 3 lần những số
tiền đó. Chính quyết định làm việc ở sở thầu thuế của Lavoaziê đã dẫn
ông đến thảm họa kết thúc đời mình.
Ngày
14-7-1789, quần chúng cách mạng đánh chiếm ngục Basti, mở đầu cho cuộc
cách mạng tư sản Pháp, làm sụp đổ hoàn toàn chế độ quân chủ chuyên chế ở
nước Pháp. Năm 1789 cũng được coi là năm của “cuộc cách mạng hóa học”
bằng sự ra đời cuốn sách nổi tiếng về hóa học của Lavoaziê có tựa đề
“Khái luận về hóa học”. Đó là cuốn sách giáo khoa với ngôn ngữ giản dị,
dễ hiểu, trình bày những cơ sở lý thuyết của môn hóa học mới. Trong lời
phê bình cuốn sách này, Fuốcra và Cađêđờvô nhân danh Hội canh nông đã
viết: “Không còn nghi ngờ gì nữa, Lavoaziê là một trong những người có
ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc cách mạng tốt lành trong hóa học khí của
thời đại chúng ta”.
Tháng
3-1792, Quốc hội ra sắc lệnh giải thể Sở thầu thuế, ngày 10-8-1793,
Viện hàn lâm khoa học Pari bị đóng cửa. Tháng 10-1793, Hội nghị Quốc ước
ra lệnh bắt giam những người tham gia Sở thầu thuế và bắt họ phải báo
cáo chi tiết các công việc đã làm cùng với các bản thanh toán. Bản tổng
kết này do Lavoaziê làm xong vào tháng 4-1794. Ngày 7-5-1794, 28 người
thầu thuế bị buộc tội là “thủ phạm và tòng phạm trong những âm mưu nhằm
giúp kẻ thù của nước Pháp bằng cách cưỡng đoạt và bóc lột nhân dân Pháp
qua sưu cao thuế nặng… thu lạm thuế đến 6 - 10 % tài sản của nhân dân
trong khi theo luật pháp, chỉ cho phép thu 4 %, chiếm riêng lợi nhuận
đáng lẽ phải thuộc về Ngân khố quốc gia, cưỡng đoạt của nhân dân và của
quốc gia những tài sản lớn đáng lẽ dùng để đài thọ cho cuộc chiến tranh
chống liên minh của bọn độc tài và đã chuyển số tiền đó cho bọn độc tài,
kẻ thù của nước Pháp”. Với tội trạng đã qui kết đó, Lavoaziê và các
đồng sự của ông bị kết án tử hình.
Buổi
chiều ngày 8-5-1794, bản án được thi hành. Tài sản của Lavoazie bị tịch
biên. Khi biết tin Lavoaziê phải lên máy chém, nhà toán học nổi tiếng
Lagrăng, người Pháp, đã nói: “Chỉ cần một nháy mắt là người ta chặt xong
một cái đầu, nhưng có lẽ hàng trăm năm cũng chưa tạo được một cái đầu
như thế”.
Năm
1796, bản án được xem xét lại. Sau đó, người ta đã phục hồi danh dự cho
Lavoaziê và trả lại tài sản đã tịch biên cho người vợ góa của ông.
Đóng
góp của Lavoaziê đối với hóa học là to lớn. Một trong những đóng góp
quan trọng của ông là khẳng định sự tồn tại của nguyên tố ôxy và từ đó
đánh đổ thuyết phlôgistôn.
Lúc
đầu, dựa trên các kết quả thí nghiệm của mình về sự đốt cháy, Lavoaziê
rút ra được: không khí không đơn giản như các nhà nghiên cứu khi đó vẫn
ngộ nhận mà là một hỗn hợp hay hợp chất của một số chất khí có tính chất
khác nhau, trong đó có chất khí vừa cần thiết cho việc duy trì sự cháy,
vừa “thuận lợi nhất cho sự hô hấp” (và sau này chính Lavoaziê đề nghị
đặt tên cho nó là “ôxy” - tiếng Pháp là “oxygène”, tiếng La tinh là
“oxygenium”, có nghĩa: “sinh ra axít").
Vốn
là người cẩn thận, Lavoaziê thực hiện nhiều thí nghiệm do mình đề ra
nữa theo hướng khẳng định sự tồn tại của ôxy, vai trò của nó đối với sự
cháy và ôxy hóa kim loại. Cuối cùng, ngày 28-6-1785, Lavoaziê dã trình
bày bản luận văn được chuẩn bị kỹ lưỡng của mình có tựa đề: “Luận về
Phlôgistôn - Tiếp tục lý thuyết cháy và vôi hóa công bố năm 1777”, trước
Viện hàn lâm khoa học Pari. Trong đó có đoạn viết: “Nhiệm vụ của tôi
trong bản luận văn này là phát triển lý thuyết cháy mà tôi đã công bố
năm 1777. Lý thuyết của tôi chứng minh rằng phlôgistôn của Stan chẳng
qua là một chất tưởng tượng mà ông đã giả thiết một cách không có căn cứ
là có mặt trong kim loại, trong lưu huỳnh, phốt pho, trong mọi vật thể
cháy được. Lý thuyết của tôi cho thấy nếu không dùng đến khái niệm phlôgistôn
thì hiện tượng cháy và nung nóng sẽ được giải thích một cách đơn giản
và dễ dàng hơn rất nhiều so với khi dùng khái niệm phlôgistôn. Tuy vậy,
tôi không mong đợi quan điểm của tôi sẽ được mọi người thừa nhận trong
chốc lát. Đầu óc con người thường quen nhìn nhận sự vật theo cách cũ, và
những người nào trong môi trường hoạt động của mình vẫn quen xem xét
thiên nhiên theo quan điểm cũ sẽ khó mà hiểu nổi những quan điểm mới.
Như vậy, hãy để cho thời gian xác nhận hoặc bác bỏ ý kiến của tôi”.
Khi
nói về công lao của Lavoaziê trong việc khám phá ra ôxy và giải thích
đúng đắn bản chất của sự cháy, Angghen viết: “Pristly và Sile đã mô tả
ôxy nhưng không hiểu được rằng cái gì trong tay họ. Họ vẫn là “tù nhân”
của phạm trù Phlôgistôn mà họ kế thừa từ những người đi trước. Nhân tố
để lật nhào toàn bộ các quan điểm của thuyết phlôgistôn và để tiến hành
cuộc cách mạng hóa học đã lọt vào tay họ một cách vô ích. Nhưng chẳng
bao lâu sau Pristly, ở Pari, Lavoaziê đã thông báo về khám phá của mình.
Chính Lavoaziê, được dẫn dắt bởi
các sự kiện mới, đã xem xét lại toàn bộ hóa học Phlôgistôn và lần đầu
tiên khám phá ra rằng dạng không khí mới đó (ôxy) là một nguyên tố hóa
học mới. Khi đó, không phải thứ Phlôgistôn thần bí được giải phóng khỏi
vật thể cháy mà chính là nguyên tố mới đó đã kết hợp với vật thể. Như
vậy, lần đầu tiên ông đã đảo ngược toàn bộ lý thuyết hóa học Phlôgistôn.
Và thậm chí, nếu như Lavoaziê không cần mô tả ôxy như ông đã khẳng định
là một khám phá đồng thời và độc lập với những người khác thì thực chất
vấn đề, vẫn là chính. Lavoaziê khám phá ra ôxy chứ không phải hai người
đã mô tả ôxy mà không biết cái họ đã mô tả là gì”.
Lavoaziê
cũng rất quan tâm tới vấn đề giải thích bản chất của “chất lửa”, tức
bản chất của nhiệt. Ngay từ những công trình nghiên cứu đầu tiên
Lavoaziê đã đề cập đến và sau này, vào những năm 80 của thế kỷ XVIII,
ông đã cùng với Laplaxơ tiến hành nhiều khảo cứu về nhiệt. Khi thuyết
ôxy đã bắt đầu hình thành rõ nét thì đồng thời nhiều công trình nghiên
cứu về bản chất nhiệt của Lavoaziê cũng được công bố.
Nếu
quan niệm về bản chất sự cháy của Lavoaziê là đúng đắn mang tính cách
mạng thì quan niệm về bản chất nhiệt của ông có tính “lưỡng lự” giữa
quan niệm vượt thời đại của Lômônôxốp trước đây và quan niệm lạc hậu có
từ thời cổ đại. Trong “luận văn về nhiệt”, ông viết: “Các nhà vật lý học
có quan điểm khác nhau về bản chất nhiệt… Nhiều người ủng hộ thuyết
chất lỏng nhiệt, một số người khác cho rằng nhiệt chính là kết quả
chuyển động của các phần tử vật chất mà ta không nhận biết được”, hay:
“Mọi người đều biết rằng các vật thể, thậm chí cả những vật thể chặt chẽ
nhất cũng có chứa vô số các lỗ nhỏ mà thể tích của chúng lớn hơn rất
nhiều so với phần thể tích vật chất chiếm. Chính nhờ có những không gian
trống này mà các hạt vật chất cực kỳ bé nhỏ đó có thể tự do giao động
theo mọi phương, và tất nhiên ta có thể nghĩ rằng các hạt nằm trong
trạng thái dao động liên tục. Nếu dao động tăng lên đến một mức giới hạn
nào đó thì vật thể sẽ bị phân hủy. Chuyển động nội tại này chính là
nhiệt theo quan điểm của các nhà vật lý mà chúng tôi nhắc đến”.
Trên
cơ sở quan niệm cơ học về nhiệt đó, Lavoaziê và Laplaxơ đã giải thích
hiện tượng truyền nhiệt và đưa ra kết luận: “Theo quan điểm này, nhiệt
tức là lực sống bắt nguồn từ những chuyển động không thấy được của các
phân tử vật thể: nó là tổng các tích số giữa khối lượng của mỗi phân tử
với bình phương vận tốc của phân tử”. Tuy nhiên, về sau Lavoaziê và
Laplaxơ lại nhận xét rằng thuyết chất lỏng nhiệt cũng giải thích đúng
được nhiều hiện tượng như thuyết động học phân tử về nhiệt. Từ đó
Lavoaziê hoàn toàn từ bỏ quan niệm động học phân tử về nhiệt và chuyển
hẳn sang quan niệm chất lỏng nhiệt. Theo ông: “Chất lỏng này hết sức đặc
biệt, rất tinh tế, rất đàn hồi, khối lượng của nó nhỏ đến mức không thể
dùng dụng cụ để xác định, nó có thể xâm nhập vào các vật thể kể cả
những vật thể đặc khít nhất, và được các nhà vật ký học hiện đại gọi là
chất nhiệt (calorique)”.
Kể
ra thì cũng rất khó hình dung nhiệt lại là do tổng hợp những chuyển
động của các hạt tế vi hợp thành vật thể tạo ra và gây cảm giác nóng -
lạnh ở con người, nhất là vào khoảng thời gian cuối thế kỷ XVIII, khi mà
nhận thức khoa học về cấu tạo vật chất còn rất mơ hồ. Năm 1869, nhà bác
học xuất chúng người Nga, D. I. Menđêlêép (1834 - 1907) khám phá ra qui
luật biến đổi tuần hoàn về tính chất hóa học của vật chất (định luật
tuần hoàn) thì nhận thức khoa học về cấu tạo vật chất vẫn rất hời hợt và
chủ yếu là do suy đoán. Thậm chí có thể cho rằng mãi đến năm 1897 mới
thực sự bắt đầu cuộc khám phá cấu trúc vật chất trong thực tiễn, khi mà
nhà vật lý học người Anh, J. J. Thomson, phát hiện ra hạt điện tử bằng
con đường thực nghiệm.
Điều
đó giải thích vì sao quan niệm “chất nhiệt” vẫn là quan niệm chính
thống về bản chất nhiệt đến tận giữa thế kỷ XIX, trong khoảng thời gian
mà nhiều bằng chứng ám chỉ về “nguồn gốc” cơ học của nhiệt đã xuất hiện.
Ngay từ năm 1790, một bá tước tên là Rumford (ở Munich) đã thực hiện
thí nghiệm là ngâm một nòng súng vào trong một bình nước, dùng chiếc
khoan cùn khoan nó trong 2 giờ thì nước sôi, rồi đi đến kết luận: nhiệt
là một dạng của chuyển động. Nhưng đa số các ngành nghiên cứu khoa học
vẫn cho rằng ma sát đã làm “chất nhiệt” chảy ra khỏi vật…
Khái
niệm “công” được hình thành trước tiên trong kỹ thuật, do đòi hỏi của
thực tiễn chế tạo và sử dụng máy móc thiết bị trong sán xuất. Và giữa
thế kỷ XVIII, để nói về khả năng hoạt động của máy hơi nước, người ta
nêu rõ trong một giờ nó nâng được bao nhiêu thùng nước lên độ cao nào.
Máy
hơi nước được dùng ngày càng rộng rãi làm này sinh yêu cầu nghiên cứu
một cách có hệ thống và sâu sắc hơn quá trình tạo sinh công từ nhiệt để
nâng cao hiệu suất máy. Xađi Cácnô (1793 - 1832) là người được sinh ra
để lãnh sứ mạng thực hiện bước đầu tiên cho công cuộc nghiên cứu ấy.
Năm
1824, Cácnô công bố tác phẩm khoa học: “Những suy nghĩ về chuyển động
lực của lửa”. Trong đó, ông đề ra định hướng cho nghiên cứu hiện tượng
biến đổi từ nhiệt ra công: “Muốn nghiên cứu nguyên tắc tạo ra chuyển
động từ nhiệt một cách đầy đủ… cần phải lập luận không những đối với máy
hơi nước, mà còn đối với mọi loại động cơ nhiệt có thể nghĩ ra được,
mặc dù chất được sử dụng là chất nào và cách thực hiện tác dụng là cách
nào”. Nghĩa là cần phải nghiên cứu hiện tượng một cách chung nhất, tổng
quát nhất để rút ra được những nguyên lý, định luật áp dụng đúng cho tất
cả các trường hợp cụ thể trong thực tiễn tạo ra công từ nhiệt.
Trong
tác phẩm đó, Cácnô vẫn là người theo quan niệm chất nhiệt, và cho rằng
chất nhiệt là một thực thể không thể phá hủy được, bởi thế những biến
đổi nhiệt độ của các vật đều gắn liền với việc chuyển nhiệt từ vật này
sang vật khác. Hơn nữa, ông còn viết: “Sự xuất hiện lực chuyển động
trong máy hơi nước không phải do thực sự đã tiêu hao chất nhiệt, mà là
do sự vận chuyển của chất nhiệt từ vật nóng đến vật lạnh… Động lượng của
nó chỉ phụ thuộc vào tác nhân dùng để gây ra nó, số lượng của nó chỉ
phụ thuộc vào nhiệt độ của các vật mà suy đến cùng, giữa chúng đã diễn
ra sự di chuyển chất nhiệt”.
Điều
lạ lùng lý thú là dù trên cơ sở quan niệm chất nhiệt, Cácnô vẫn đánh
giá đúng đắn vai trò nhiệt độ của nguồn nóng và nguồn lạnh, quan trọng
hơn, đã khám phá ra dưới dạng tiềm ẩn một trong ba nguyên lý cơ bản nhất
của nhiệt động học (nguyên lý thứ 2).
Tuy
nhiên về sau, Cácnô đã có những nghi ngờ đối với quan niệm chất nhiệt
và có lẽ cuối cùng, ông đã rời bỏ nó song chưa kịp chỉnh sửa lại tác
phẩm nổi tiếng đã công bố của mình thì ông đã qua đời vì bệnh tả (lúc đó
ông mới 36 tuổi!). Trong di cảo của Cácnô được công bố sau khi ông mất,
người ta đọc được những dòng này: “Những luận điểm cơ bản mà lý thuyết
nhiệt dựa vào cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng. Một vài dữ kiện của thí
nghiệm không thể giải thích được trong tình hình hiện nay của lý
thuyết”. “Nếu như một giả thuyết nào đó đã không còn đủ khả năng giải
thích các hiện tượng, thì cần phải vứt bỏ nó đi. Giả thuyết về chất
nhiệt như là thực thể vật chất, chính là đang ở trong tình trạng đó”.
“Nhiệt… là chuyển đông đã thay đổi hình dạng. Nơi nào mà lực chuyển động
bị hủy diệt thì đồng thời xuất hiện nhiệt với một lượng tỷ lệ chính xác
với lượng lực chuyển động đã mất đi. Ngược lại: khi nhiệt biến đi, bao
giờ cũng xuất hiện lực chuyển động… Nói đúng ra, lực chuyển động không
bao giờ được tạo ra, không bao giờ bị hủy diệt: thực ra thì nó thay đổi
hình dạng, tức là lúc thì gây ra loại chuyển động này, lúc thì gây ra
loại chuyển động khác, nhưng không bao giờ biến mất”.
Có
thể thấy Cácnô là người đã tạo nền móng của nhiệt động lực học và đồng
thời là người trong thực tế bổ những nhát cuốc đầu tiên đào hố chôn quan
niệm chất nhiệt. Ngày nay trong khoa học, nhiệt được quan niệm là một
dạng của năng lượng và có tên gọi là “nhiệt lượng”.
***
Toàn bộ những
hiểu biết về nhiệt và về những thể hiện của nó mà loài người tích lũy được từ
trước đến nay, đã được đúc kết, hệ thống hóa lại thành một khối kiến thức tương
đối độc lập để phục vụ cho việc truyền thụ cũng như nghiên cứu, mang tên:
“Nhiệt học”. Trong đó nhiệt động học là một bộ phận của nó, cũng là bộ phận
mang tính nền tảng, nòng cốt.
“Thế giới”
nhiệt học mà loài người tạo dựng được từ quá trình nhận thức tự nhiên khách
quan theo khả năng chủ quan của mình, dù không vĩ đại bằng toán học hay vật lý
học, nhưng cũng thực sự rộng lớn và cũng muôn hình vạn trạng cảnh sắc, cũng
phong phú kỳ hoa dị thảo. Sau đây, chúng ta sẽ “du lịch” đây đó trong thế giới
ấy, nhưng chỉ đến những nơi mình thích, để quan chiêm một phen theo cách “cưỡi
ngựa xem hoa”, rồi nếu lúc nào cảm thấy cần thiết, sẽ đưa ra những lời “bình
loạn” kiểu “ngây thơ cụ”, nghĩa là già đầu mà nghĩ ngợi ngớ ngẩn như con nít
hoang tưởng.
Nhiệt học định
nghĩa: nhiệt độ là một đại lượng đặc trưng cho mức độ nóng lạnh của một thực
thể (một hệ). Có bốn loại thang dùng để đo nhiệt độ: thang Kelvin (oK), thang Celsi (oC), thang Fahrenheit (oF), thang Rankine (oR). Nhưng thông dụng nhất là hai thang oK và oC. Theo qui ước, hơi nước sôi ở áp suất tiêu chuẩn (1,033
átmốtphe) có nhiệt độ 100 oC và nước đá đang tan ở
cùng cám áp suất là 0 oC. Thang oK được dùng làm thang đo
nhiệt độ Quốc tế, sử dụng trong khoa học cơ bản. Mối quan hệ giữa oK và oC là:
ToK=toC+173,16
Theo quan niệm
của nhiệt học, giới hạn dưới tuyệt đối của nhiệt độ là 0 oK và không có giới hạn
trên
). Tuy nhiên, theo một số tài liệu hiện nay đã công bố thì
nhiệt độ thấp nhất có thể đạt được trong thực tế là Tmin=2.10-9 oK và nhiệt độ cao nhất
(tại thời điểm vụ nổ Big Bang) ước tính cỡ Tmax=2.1030 oK.
Nhiệt học cho
rằng có 3 cách truyền nhiệt từ nơi này sang nơi khác, từ vật này sang vật khác,
đó là dẫn nhiệt, đối lưu nhiệt và bức xạ nhiệt.
Dẫn nhiệt là
phương thức truyền nhiệt chủ yếu trong các vật rắn. Hiện tượng được giải thích
như sau. Các nguyên tử cấu tạo nên vật, nhận năng lượng từ ngọn lửa và dao động
mạnh lên. Các dao động này truyền được từ nguyên tử này sang nguyên tử khác
thông qua va chạm. Các va chạm này truyền liên tiếp năng lượng từ nguyên tử đầu
cho đến nguyên tử cuối cùng. Bằng cách đó, vùng có nhiệt độ cao mở rộng dần dọc
theo thanh kim loại, nghĩa là đã có sự truyền nhiệt lượng từ nơi có nhiệt độ
cao hơn đến nơi có nhiệt độ thấp hơn.
Còn dẫn nhiệt
trong chất khí được giải thích là do chuyển động nhiệt của các phân tử ở nơi có
nhiệt độ cao hơn dịch chuyển đến nơi có nhiệt độ thấp hơn và ngược lại Các phân
tử ở nơi có nhiệt độ cao truyền năng lượng cho các phân tử ở nơi có nhiệt độ
thấp thông qua va chạm, làm cho phân tử có nhiệt độ thấp nóng lên còn phân tử
có nhiệt độ cao thì lạnh đi.
Đối lưu nhiệt
thường xảy ra với chất lỏng và chất khí. Các phần chất lưu (lỏng và khí) khi bị
nung sẽ nhận được nhiệt lượng và bị giãn nở, khối lượng riêng của chúng khi đó
trở nên nhỏ hơn nên phải di dời lên trên và các phần mạnh hơn phải di dời xuống
dưới. Quá trình liên tục như vậy tạo thành dòng gọi là dòng đối lưu. Dòng đối
lưu mang nhiệt lượng từ vùng này sang vùng khác. Dễ thấy: đối lưu là sự vận
chuyển khối lượng vật chất mang năng lượng khác nhau giữa vùng nhiệt độ cao và
vùng nhiệt độ thấp.
Phương thức
truyền nhiệt cuối cùng là bức xạ nhiệt. Bức xạ là một dạng năng lượng nên vật
bức xạ phải tiêu hao nội năng. Quá trình bức xạ nhiệt là quá trình một vật bị
nung nóng lên nhiệt độ cao thì bức xạ ra nhiệt mà nó nhận từ môi trường trở lại
môi trường.
Trong thực tế,
sự truyền nhiệt thường đồng thời theo cả ba phương thức đó.
Quan
niệm như
trên về sự truyền nhiệt của nhiệt học đã thật sự đích đáng chưa? Chúng
ta nói
dứt khoát là chưa, một khi nhận thức về năng lượng chưa rõ ràng! Quan
niệm như vậy dẫn đến trước tiên phải quan niệm năng lượng,
do đó mà cả nhiệt lượng, có thể thoát ly vật chất và thực sự có khả năng
tồn
tại một cách độc lập. Nhưng theo chúng ta thì năng lượng nói chung và
nhiệt
lượng nói riêng không những không thể tách rời vật chất mà còn chính là
vật
chất vận động. Truyền năng lượng là khái niệm để chỉ chuyển hóa năng
lượng. Truyền nhiệt là một dạng đặc biệt của truyền năng lượng mà thôi.
Theo chúng ta,
cần phải hiểu thuật ngữ “truyền năng lượng” một cách linh động. Một vật thực sự
truyền năng lượng cho một vật khác thì vật truyền phải tổn hao khối lượng mà
vật được truyền sẽ nhận thêm khối lượng đúng bằng lượng khối lượng mà vật
truyền bị tổn hao. Còn hai vật sau khi va chạm nhau mà khối lượng của chúng
không đổi thì về mặt hình thức và tùy theo quan điểm chủ quan của hệ quan sát
mà có thể cho rằng vật nào truyền động năng cho vật nào, nhưng thực chất chúng
chỉ làm “biến dạng” năng lượng toàn phần của nhau mà thôi. (Cần hiểu thuật ngữ
“biến dạng năng lượng toàn phần” theo nghĩa rất rộng, gồm cả biến dạng vật chất
lẫn vận động, biến dạng đến tận cùng khả năng có thể, miễn năng lượng toàn phần
không đổi - tương tự như biến đổi tôpô trong toán học).
Như vậy, có thể
cho rằng, trong Vũ Trụ, có hai phương thức truyền năng lượng cơ bản, tạm gọi là
phương thức “thực” và phương thức “ảo”. Truyền năng lượng theo phương thức “ảo”
là làm chuyển hóa năng lượng toàn phần mà không làm biến đổi khối lượng đối với các thực thể tham gia và trái lại,
truyền năng lượng theo phương thức “thực” là làm tăng giảm năng lượng toàn phần luôn kèm theo biến đổi khối lượng của các
thực thể tham gia vào quá trình truyền. Điều cần nhấn mạnh ở đây là dù truyền
năng lượng theo phương thức nào thì cũng kèm theo quá trình làm biến dạng năng lượng
toàn phần của các thực thể tham gia, và dễ thấy được: với mức độ biến dạng nào
đó, năng lượng toàn phần có thể phục hồi lại được như cũ, vượt qua mức độ biến
dạng đó, sẽ không thể hổi phục được. Tuân theo nguyên lý tác dụng tương hỗ mà
phương thức nào cũng có tính trao đổi dù trực tiếp hay gián tiếp. Năng lượng là một đại lượng vô hướng nhưng sự truyền năng
lượng thì phải có phương hướng (tính véctơ). Điều đó cho thấy, bản thân năng
lượng có tác dụng làm biến đổi (“biến đổi” là khái niệm bao hàm cả sự biến dạng
lẫn sự tăng - giảm về mặt lượng) năng lượng toàn phần và muốn thế, phải thông qua, phải
nhờ đến sự truyền năng lượng. Chính sự truyền năng lượng đã làm cho các thực thể
được truyền năng lượng bị biến đổi năng lượng toàn phần và tuân theo nguyên lý
tác dụng tương hỗ mà các thực thể truyền năng lượng cũng bị biến đổi năng lượng
toàn phần nhưng theo chiều ngược lại.
Theo nguyên lý
ưu tiên lan truyền KG thì các hạt KG luôn “lựa chọn” truyền theo hướng có mật
độ KG thấp nhất, hay nói cách khác, hướng ưu tiên lan truyền KG luôn là từ nơi
có mật độ KG (kích thích) cao đến nơi có mật độ KG thấp nhất. Mật độ KG có ảnh hưởng trái
chiều đến khả năng đáp ứng chuyển hóa KG, nghĩa là mật độ KG càng cao thì càng
cản trở chuyển hóa KG và ngược lại. Nhưng chuyển hóa KG là không thể ngừng được
và hơn nữa, không thể bị chậm trễ được, cho nên khi mật độ năng lượng tăng,
năng lượng ở đó phải chuyển hóa để đáp ứng chuyển hóa KG trong điều kiện mới
theo hướng tăng cường vận động đối với các phần tử vật chất hợp thành. Vì mức
độ vận động của một thực thể cao hay thấp không phụ thuộc vào khối lượng của nó
mà chỉ phụ thuộc vào thành phần vận tốc bình phương (v2) nên muốn tăng cường vận động cho thực thể thì phải làm năng
lượng toàn phần của nó chuyển hóa sao cho v2 tăng
lên. Mức độ vận
động của các phần tử vật chất tăng làm xuất hiện xu thế chuyển động
hướng ra
ngoài vùng mật độ năng lượng cao của các phần tử vật chất. Như vậy, phải
cho
rằng nói chung, hướng của sự truyền năng lượng, một cách tự nhiên, bao
giờ cũng
từ thực thể có mức vận động nội tại cao hơn đến thực thể có mức vận động
nội
tại thấp hơn. (Trong trường hợp truyền năng lượng hình thức, hay ảo, thì
cũng
hình thức, ở một phương nào đó, mức vận động (vận tốc) của thực thể
truyền năng
lượng cao hơn mức vận động của thực thể được truyền). Trong trường hợp
việc truyền năng lượng ra môi trường bị chậm lại hoặc ngừng do bị cản
trở thì vật sẽ bị nóng lên (do mức hỗn loạn trong chuyển động phân tử
tăng!) đến mức có thể bị phá hủy!
Truyền năng
lượng một cách tự nhiên hay cưỡng bức đều phải có tác động từ bên ngoài, xuất
hiện trước hoặc đồng thời với quá trình truyền năng lượng. Hay nói cách khác
muốn truyền năng lượng thì phải “tốn công”. “Công” hay “công sức” là khái niệm
đã xuất hiện từ lâu trong đời sống hàng ngày và trở thành một khái niệm vật lý
vào khoảng giữa thế kỷ XVIII ở châu Âu. Theo chúng ta, công là đại lượng đặc
trưng cho sự truyền năng lượng.
Giả sử có một
thực thể truyền đi một năng lượng theo phương thức kèm theo sự biến đổi khối
lượng với một vận tốc là v và một khối lượng là m thì coi như nó phải
“tốn” một động năng đúng bằng động năng nó truyền đi là mv2 (xét về mặt năng lượng
thì lượng mất đi phải là: mc2=moc2+mv2. Tuy nhiên, vì chỉ chú ý tới khối lượng như thói quen trong
đời sống hàng ngày, hay chính xác là vìnênstyle="font-family: "times new roman"; mso-bidi-font-size: 16.0pt;">mv2!). Lượng động năng ấy, nếu qui đổi ra công (ký hiệu là A) thì phải bằng công A. Một cách hình thức, có thể nói thực thể đã tốn một công A để truyền đi một năng
lượng dưới dạng động năng là mv2.
Từ biểu thức mv=F.t quen thuộc, chúng ta
có thể viết:
với S là quãng đường tác
dụng của lực F.
Theo định nghĩa
của vật lý về công thì:
A=F.S
Trong trường
hợp sự truyền năng lượng trên không kèm theo biến đổi khối lượng thì thực thể
truyền năng lượng, một cách hình thức cũng phải tốn công để chuyển hóa năng lượng giữa động năng và nội năng. Nếu năng lượng nó
“truyền” đi là mv2 thì cũng tốn một công
là A=F.S. (Tùy theo quan điểm chủ quan của quan sát mà trong trường
hợp này, thực thể được truyền lại đóng vai trò là thực thể chủ động truyền năng
lượng và do đó nó phải tốn một công đúng bằng A).
Dạng có tính
phổ biến và có vai trò quyết định đến tồn tại và vận động trong tự nhiên, của
phương thức truyền năng lượng kèm theo biến đổi khối lượng chính là bức xạ điện
từ.
Động năng là
dạng năng lượng dễ nhận thức được, thậm chí thế năng, dù khó khăn hơn, cũng có
thể hình dung được như một dạng tiềm ẩn của năng lượng. Còn đối với nhiệt thì
vô cùng khó nhận thức. Ngày nay, nếu không là tất cả mọi người thì cũng đại đa
số cho rằng nhiệt đã được nhận thức đến tận tường. Theo thiển ý của chúng ta,
cho đến nay, nhận thức về nhiệt của loài người vẫn chưa đầy đủ và hơn nữa có
thể còn phạm không nhiều thì ít sai lầm.
Như đã biết, nhiệt là một dạng của năng lượng? Nếu thế, theo quan niệm của chúng ta về năng
lượng, ở một góc độ khác, phải thấy nó có liên quan tới năng lượng toàn phần (mc2) và vật chất (m), nghĩa là có thể phải quay lại với
quan niệm về sự tồn tại thực sự của “chất nhiệt” có khối lượng. Hơn nữa, nó cũng phải được
truyền đi ít ra là theo một trong hai phương thức truyền mà chúng ta hình dung
ở trên. Truyền theo cách thứ nhất là không thể được rồi vì trong hiện thực có
“tìm mỏi mắt” cũng đố hề thấy một vật được cấu thành thuần túy từ “chất nhiệt”.
Vậy thì chỉ còn cách truyền thứ hai, tức là một thực thể mang nhiệt (có nhiệt
độ lớn hơn hay có mức vận động cao hơn) truyền một luồng các phần tử chất nhiệt
(với tổng số nhiệt qui ra động năng là n.mv2 , với n là số lượng các phần
tử) cho một thực thể khác (có nhiệt độ thấp hơn hay có mức vận động thấp hơn).
Nhưng từ đâu xuất hiện các phần tử nhiệt trong thực thể mang nhiệt khi trước
đó, lúc chưa bị nung nóng, thực thể không có hoặc có thì cũng rất ít? Hay trong
quá trình thực thể bị nung nóng, các phần tử nhiệt đã “thẩm thấu” vào ngày một
nhiều và do đó cũng làm cho thực thể tăng dần nhiệt độ? Đã là phần tử chất có
khối lượng thì phải có cấu trúc nội tại, nhưng lại không phải chất thông thường
để được xếp vào bảng tuần hoàn Menđêlêép, vậy thì phần tử nhiệt có phải là bức
xạ tương tự như bức xạ điện từ hoặc chính là bức xạ điện từ không? Không! Vì
nếu là thế thì làm sao giải thích được những hiện tượng truyền nhiệt trong khí
quyển?
Theo nhiệt học công thức tính nhiệt lượng của một vật là:
Theo nhiệt học công thức tính nhiệt lượng của một vật là:
- m, khối lượng vật, đo bằng đơn vị kg
- c là nhiệt dung riêng của chất làm vật (J/kg.K).
- Δt, Thay đổi nhiệt độ, đo bằng đơn vị o
- Q, Nhiệt lượng, đo bằng đơn vị J
Hay một cách định tính: Muốn làm
thay đổi nhiệt độ của một vật, có thể bằng cách truyền nhiệt, hoặc bằng
cách thực hiện công (chuyển hóa công cơ học thành nhiệt năng), hoặc
bằng cả hai cách ấy.
Rốt cuộc lại thì nhiệt, một cách rõ ràng, hình thành như thế nào?
Rốt cuộc lại thì nhiệt, một cách rõ ràng, hình thành như thế nào?
Thực
nghiệm chỉ
ra rằng, chất khí là một tập hợp các phân tử chuyển động hỗn loạn, không
ngừng
(gọi là chuyển động Brao hay chuyển động nhiệt). Theo qui ước của nhiệt
học,
khí lý tưởng là khí được hợp thành từ các phân tử được qui về thành các
chất điểm,
chuyển động không ngừng va chạm lẫn nhau gây ra sự hỗn loạn gọi là
chuyển động
nhiệt, ngoài ra, giữa các phân tử ấy không còn tương tác hút - đẩy nào
khác. Chung qui lại, theo hiểu biết hiện nay, hiện tượng nhiệt là do chuyển động Brao gây ra, mức độ chuyển động hỗn loạn của các phân tử tạo ra mức độ khác nhau về nhiệt độ. Có thể nói một cách ngắn gọn, sự truyền nhiệt là bằng cách nào đó làm tăng mức độ vận động (cưỡng bức?) hỗn loạn trong nội tại vât!
Suy ra từ các
kết quả thực nghiệm, nhiệt học thiết lập được một phương trình gọi là phương
trình trạng thái của khí lý tưởng.
Trong hóa học,
để đo khối lượng các nguyên tử, phân tử, người ta thường dùng một đơn vị qui
ước gọi là “đơn vị cácbon”, viết tắt: đvc. Đơn vị các bon bằng 1/12 khối lượng của nguyên
tử C12, tức là khoảng 1,662.10-24
g. Ngoài đơn vị đo khối lượng đó, người ta còn dùng đơn vị
nguyên tử gam (hay phân tử gam). Nguyên tử gam (hay phân tử gam) của một nguyên
tố là lượng nguyên tố đó tính ra gam, có số chỉ gam bằng số chỉ khối lượng
(đvc), nguyên tử (hay số chỉ khối lượng phân tử). Số nguyên tử (hay phân tử)
trong một nguyên tử gam (hay phân tử gam) của các chất đều bằng nhau. Các nhà
hóa học đã xác định được trong một nguyên tử gam (12g) chất đồng vị cácbon C12 có chứa N=6,0221.1023 hạt nguyên tử C12. Số N được gọi là số
Avôgadrô. Việc xác định được số N là một thành tựu đáng
nể của hóa học.
Khái niệm
nguyên tử gam (và phân tử gam) được mở rộng và ngày nay trong hóa học, người ta
thường dùng khái niệm “mol”. “Mol” là lượng chất có chứa số nguyên tử hay phân
tử, hay số ion, số điện tử… (gọi chung là vi hạt) bằng số N. Như vậy, khối lượng một mol chất bằng tổng khối lượng của N vi hạt của mol chất
đó. Thực nghiệm đã xác nhận rằng, ở cùng điều kiện áp suất và nhiệt độ, một mol
phân tử của các chất khí khác nhau đều chiếm một thể tích như nhau.
Đối với một mol
khí bất kỳ, thì trong điều kiện áp suất p, nhiệt độ T, luôn chiếm đúng một thể tích là v, nghĩa là:
với R được gọi là hằng số
khí lý tưởng.
Đó cũng chính
là phương trình trạng thái khí lý tưởng viết cho một mol khí.
Điều kiện gọi
là tiêu chuẩn khi:
T=To=273 (oK)
Trong điều kiện
đó, thể tích của một mol khí đúng bằng 22,4.103
cm3. Như vậy:
Giả sử khối
lượng mol của mol khí đó là
thì với một khối lượng m bất kỳ của nó, nó sẽ
chiếm một thể tích:
Vậy, dạng tổng
quát của phương trình trạng thái khí lý tưởng là:
Hãy xét một
trường hợp cụ thể là tăng nhiệt độ (khối lượng khí là không đổi). Lúc đó tích p.v của vế trái tăng lên.
Nếu giữ cho p không đổi thì v phải tăng và ngược
lại, nếu giữ cho v không đổi thì p phải tăng. Bằng cách
nào thể tích v tăng lên được khi khối
lượng của khí không tăng (cũng có nghĩa là năng lượng toàn phần của nó không
tăng)? Có thể thấy trong trường hợp giữ nguyên v và p tăng, thì sự tăng ấy
chỉ có thể là do vận tốc trung bình của các phân tử tăng lên, nghĩa là xảy ra
sự chuyển hóa năng lượng toàn phần trung bình của phân tử theo chiều làm tăng
động năng trung bình của chúng. Chỉ có nguyên nhân duy nhất làm cho động năng
trung bình tăng là số lần va chạm trung bình trong một đơn vị thời gian giữa
các phân tử với nhau tăng lên, hay nói cách khác là mức độ hỗn loạn của chuyển
động nhiệt tăng lên. Nhiệt học nói rằng sự tăng này biểu hiện ra là sự tăng
nhiệt độ, hay: nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cho mức độ hỗn loạn của chuyển động
nhiệt.
Chúng ta không
thể phủ nhận được nhiệt độ của khối khí tăng là do có sự nung nóng từ bên
ngoài, nhưng vẫn không thể hiểu được cách thức cụ thể làm tăng nhiệt độ khối
khí của sự nung nóng thông qua thành bình chứa không khí. Dễ hình dung: vì thành
bình có cấu trúc chặt chẽ hơn nên mức độ hỗn loạn của chuyển động của các phân
tử, nguyên tử cấu thành nên nó khó hỗn loạn hơn mức độ hỗn loạn của chuyển động
nhiệt trong khối khí, dẫn đến nhiệt độ của bình thấp hơn nhiệt độ của khí. Vậy
làm thế nào thành bình làm tăng nhiệt độ của khối khí được?
Bây giờ, chúng
ta xét trường hợp giữ p không đổi và v tăng khi T tăng. Muốn thế, phải
tạo điều kiện cho khối khí giãn nở một cách tương ứng với sự tăng nhiệt độ, sao
cho phương trình cơ bản của khí lý tưởng luôn nghiệm đúng. Tuy nhiên, thể tích
tăng lên sẽ làm cho xác xuất va chạm giữa các phân tử giảm xuống dẫn đến mức
hỗn loạn của chuyển động nhiệt, nghĩa là nhiệt độ của khối khí giảm theo. Điều
suy lý đó cho thấy hình như sự tăng nhiệt độ đã không tương xứng với sự tăng
thể tích của khối khí và quá trình đó không thỏa mãn phương trình cơ bản của
khí lý tưởng. Thế nhưng thực nghiệm chứng tỏ rằng trường hợp này vẫn xảy ra và
không xâm phạm đến phương trình cơ bản của khí lý tưởng (định luật Gay-lussac).
Vậy thì có nên nghi ngờ quan niệm của nhiệt học, cho rằng nhiệt độ là biểu hiện
mức độ hỗn loạn của chuyển động nhiệt?
Thuyết động họcphân tử khí là bộ phận không thể thiếu được trong nội dung của nhiệt học.
Dựa vào các sự
kiện thực nghiệm và quan niệm theo thuyết động học phân tử khí, người ta đã
thiết lập được một phương trình đối với khí lý tưởng, đóng vai trò là linh hồn
của thuyết đó và được gọi là “phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử
các chất khí”.
Dạng tổng quát
của nó là:
với: p là áp suất
no là mật độ phân tử khí
Vì theo vật lý
học:
(với m là khối lượng của phân
tử khí)
Nên phương
trình tổng quát trên còn có thể viết:
Từ phương trình
trạng thái khí lý tưởng có thể rút ra:
với M ở đây là khối lượng
của khối khí.
Kết hợp với
phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử, chúng ta sẽ có biểu diễn:
Từ đó suy ra:
Nhân và chia vế
cuối của biểu diễn cho
thì sẽ có biểu diễn áp
dụng cho một mol khí:
với N là số Avôgadrô
Có lẽ hai biểu
diễn trên đã hướng người ta đến quan niệm: nhiệt độ là thước đo động năng trung
bình chuyển động tịnh tiến của các phân tử, hay: nhiệt độ là thước đo mức độ
chuyển động hỗn loạn của các phân tử.
| Amedeo Avogadro | |
|---|---|
| Sinh | 9 tháng 8, 1776 Turin, Ý |
| Mất | 9 tháng 7, 1856 (79 tuổi) Turin, Ý |
| Ngành | Vật lý |
Chúng ta cho
rằng quan niệm đó về nhiệt độ là một ngộ nhận hoặc nếu có đúng thì chỉ đúng ở
góc độ hình thức nào đó và cũng chỉ trong một phạm vi hạn hẹp. Bởi vì trong quá
trình thiết lập phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử, người ta đã
“vô tình” làm cho đại lượng thể tích mất đi (chỉ còn tiềm ẩn trong mật độ no) và mặc nhiên cho no là không đổi. Và khi
kết hợp phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử với phương trình trạng
thái khí lý tưởng, để đi đến hai biểu thức áp dụng cho một mol khí, người ta
không những triệt tiêu luôn sự hiện diện của no mà cả áp suất p - hai đại lượng mà nếu
không có chúng thì sẽ không tạo ra các điều kiện làm xuất hiện hiện tượng dẫn
đến việc thiết lập các biểu diễn toán học ấy. Làm như thế, rõ ràng đã khỏa lấp
trường hợp biến đổi trạng thái đẳng áp của khối khí và phương trình cơ bản của
thuyết động học phân tử chỉ áp dụng đúng riêng cho trường hợp biến đổi trạng
thái đẳng tích của khối khí mà thôi.
Đối chiếu hai
phương trình (phương trình trạng thái và phương trình cơ bản) viết cho một mol
khí lý tưởng, chúng ta còn rút ra biểu diễn:
Có thể diễn
dịch biểu diễn đó như sau: trong một không gian cô lập hoàn toàn với bên ngoài,
nhưng thỏa mãn điều kiện các giá trị tuyệt đối của các phân tử khí phải được
bảo toàn (kể cũng lạ!!!) có thể tích v (v không phải là tổng thể
tích của các phân tử!) và nhiệt độ T, tồn tại một động năng bằng tổng động năng
của N phân tử khí mà hai
phần ba lượng động năng đó tạo ra một áp suất là p. Cũng có thể diễn dịch theo cách thứ hai: tích pv là một hàm của nhiệt
độ T và nó luôn bằng hai
phần ba tổng động năng của N phân tử khí mà mỗi
phân tử khí có động năng coi như bằng
. Diễn dịch này dẫn chúng ta đến một hình dung. Giả sử vùng
không gian có thể tích v không đổi đó không bị
cô lập với bên ngoài về mặt truyền nhiệt và do ảnh hưởng về nhiệt của môi
trường bên ngoài mà mol khí chuyển hóa trạng thái, có nhiệt độ chuyển từ T1 sang T2 . Theo biểu diễn vừa nêu, chúng ta viết:
Vế đầu diễn tả
sự va chạm của các phân tử với vách ngăn cách vùng không gian có thể tích v và môi trường ngoài.
Đó là những va chạm đàn hồi hoàn toàn theo điều kiện đã cho nên có thể biểu
diễn vế đầu tiên dưới dạng “công” A (với A=F.s). Vế cuối biểu diễn lượng động năng có mối quan hệ nhân -
quả với công A, và để cho đơn giản có thể ký hiệu nó là w. Vế giữa không biết là cái gì nhưng chắc chắn phải là biểu
diễn về một lượng gì đó có thứ nguyên năng lượng, tương đương với công A và động năng w. Hơn nữa sự xuất hiện của nó có nguyên nhân từ sự biến đổi
nhiệt độ. Vậy, chúng ta gọi nó là “nhiệt lượng” (người ta gọi là năng lượng nhiệt!)
và ký hiệu là Q. Từ những qui ước đó, chúng ta có một biểu diễn hình thức:
A=Q=w
Theo nhiệt học,
nếu T2>T1, thì có sự truyền từ môi trường vào vùng không gian cô lập
một nhiệt lượng là Q. Lượng Q tác động đến các phân
tử khí làm sinh ra lượng động năng w. Lượng động năng này chuyển hóa thành công A khi các phân tử khí va
chạm với vách ngăn, tác động đến các phần tử của vách ngăn làm động năng của
các phần tử này tăng lên, đồng thời theo nguyên lý tác động tương hỗ thì các
phần tử này cũng lại tốn một công đúng bằng A làm phục hồi lại động
năng của các phân tử khí tham gia va chạm. Ở đây, một câu hỏi được đặt ra: thực
chất thì lượng Q được truyền từ môi
trường ngoài vào vùng không gian cô lập như thế nào?
Nếu đặt nhiệt
kế vào vùng không gian cô lập thì sẽ thấy sự tăng nhiệt độ. Nhưng điều cần biết
ở đây là lượng nhiệt truyền vào vùng không gian trực tiếp làm tăng nhiệt độ hay
trước hết nó làm cho mức chuyển động hỗn loạn tăng lên (số phân tử khí va đập
vào nhiệt kế trong một đơn vị thời gian) và chính mức chuyển động hỗn loạn tăng
lên mới trực tiếp làm tăng nhiệt độ? Nhiệt mà phải thông qua sự chuyển động hỗn
loạn của các phân tử khí để thể hiện nhiệt độ chứ không trực tiếp thể hiện được
thì thật là quá ư khôi hài! Vậy, chỉ còn một cách nghĩ: nhiệt lượng Q của môi trường ngoài,
khi vào vùng không gian cô lập đã chuyển hóa thành lượng động năng w. Nhưng thực chất, lượng động năng w xuất hiện lại hoàn
toàn có nguyên nhân từ sự biến dạng năng lượng toàn phần của mol khí. Nghĩa là
trong không gian cô lập không hề tồn tại lượng Q một cách độc lập và
phi vật chất.
Thế thì nguyên
nhân nào làm cho năng lượng toàn phần của mol khí bị biến dạng theo hướng làm
tăng động năng của các phân tử khí? Chỉ có thể là vách ngăn cách vùng không
gian cô lập với môi trường ngoài nếu trong vùng không gian cô lập không còn gì
khác ngoài các phân tử khí. Sự biến dạng năng lượng toàn phần của vách ngăn
theo hướng động năng của các phân tử, nguyên tử cấu thành nên nó tăng lên, và
từ đó tác động mạnh hơn đến các phân tử của mol khí. Tương tự như vậy, đến lượt
nguyên nhân làm biến dạng năng lượng toàn phần của vách ngăn theo lượng làm
tăng động động năng của các vi hạt của nó là do biến dạng năng lượng của vùng
không gian lân cận bao quanh vách ngăn của môi trường ngoài theo hướng tăng
động năng của các vi hạt của môi trường.
Suy luận đến
đây, chúng ta cho rằng bản chất của các đại lượng: nhiệt độ, nhiệt lượng, cũng
như của cái gọi là sự truyền nhiệt có vẻ như đã bắt đầu hé lộ.
Bằng bất cứ
cách nào, miễn làm tăng động năng trung bình (vận tốc trung bình) các vi hạt
của một khối khí, khối nước hay một vật của khối khí, khối nước hay của vật sẽ
tăng lên. Như vậy, nhiệt độ là sự thể hiện mức độ chuyển động hỗn loạn của các
vi hạt, nhiệt độ càng cao thì mức độ hỗn loạn đó càng cao và ngược lại. Do cấu
trúc phi Ơclit của Vũ Trụ ở tầng vi mô mà nhiệt độ tuyệt đối bằng 0 (T=0 oK) chỉ khi động năng trung bình của các vi hạt trong khối khí,
khối nước hay vật tuyệt đối bằng 0, và đó là hiện tượng không bao giờ có thể
xảy ra được trong Vũ Trụ thực tại. Một cách hình thức, có thể nói nhiệt được
truyền đi nhưng cần hiểu rằng thực chất là động năng được truyền đi nhờ va chạm
giữa các vi hạt. Cái gọi là nhiệt lượng hay nhiệt năng thực chất là hai phần ba
tổng lượng động năng của các phân tử khí đối với chất khí, hay theo những tỷ lệ
nào đó đối với chất lỏng cũng như chất rắn. Sự tồn tại và lan truyền của “chất
nhiệt phi khối lượng” là ảo tưởng bao nhiêu thì sự tồn tại và lan truyền của
nhiệt năng phi vật chất cũng ảo tưởng bấy nhiêu.
Quan
niệm về
nhiệt và nhiệt độ như trên có thể đúng nhưng chưa “hoàn hảo”. Không ít
hiện
tượng về nhiệt rất khó hiểu nếu dựa trên quan niệm đó. Chẳng hạn nung
nóng một
cục sắt rồi đặt vào một chỗ kín gió và không có nắng. Tất nhiên nhiệt độ
của
cục sắt hạ dần xuống do nó truyền nhiệt ra xung quanh. Nhưng hình như
khi nhiệt
độ của cục sắt bằng với nhiệt độ môi trường rồi thì nó vẫn tiếp tục hạ
nhiệt độ
và trở thành lạnh hơn so với không khí xung quanh nó. Có xảy ra như vậy
không
và nếu có vậy thì phải chăng nguyên nhân là do hiện tượng thu - phát bức
xạ
điện từ? Để cục sắt đó ngoài nắng (không khí) thì dần dần cục sắt đó sẽ
nóng
hơn môi trường không khí xung quanh nó, thậm chí là nóng bỏng tay. Có
thể giải
thích là vì cục sắt đó nhận được nhiều bức xạ Mặt Trời. Vậy thì mức độ
hỗn loạn
trong vận động của các phân tử, nguyên tử của cục sắt có lớn hơn mức độ
hỗn
loạn của các phân tử khí xung quanh cục sắt ấy không? Đây có lẽ là câu
hỏi hay nhất về nhiệt: ở tầng cấu trúc vi mô nào của vật chất thì một
thực thể vật chất không còn cảm nhận được nhiệt nữa?
Phải chăng cần
phải tìm nguyên nhân làm xuất hiện nhiệt độ và sự tăng giảm nhiệt độ ở tầng vi
mô sâu hơn nữa, dưới phân tử, nguyên tử và thậm chí là dưới cả điện tử: tầng
hiện hữu các bức xạ điện từ?
Vào cuối thế kỷ
XIX, các nhà vật lý quan niệm rằng vật chất và bức xạ điện từ (một dạng năng
lượng) có thể tồn tại độc lập với nhau. Quan niệm đó tất yếu dẫn đến phải cho
rằng chúng không thể tương tác với nhau được. Tuy nhiên, mọi hiện tượng vật lý
diễn ra trong thiên nhiên lại chỉ ra rằng vật chất và bức xạ gắn bó mật thiết
với nhau và giữa chúng thường xuyên xảy ra tương tác. Để hiểu thấu đáo bản chất
vật chất và bức xạ, các nhà vật lý buộc phải đi sâu nghiên cứu cơ chế tương tác
giữa chúng.
Điện động lực
học Mắcxoen, quang học cũng như quang phổ học lúc đó dù có phát hiện và tìm
cách giải thích được một số biểu hiện thuộc tầng sâu vi mô trong nội tại vật
chất và mối quan hệ giữa vật chất và bức xạ, nhưng còn rất hạn chế, nhất là
trong trong việc tìm hiểu qui luật của hiện tượng thu - phát bức xạ. Hơn nữa,
những lý thuyết ấy đã tỏ ra bất lực trong việc giải quyết những hiện tượng khác
lạ, mới nảy sinh liên quan đến cấu trúc vi mô của vật chất.
Trong tình hình
đó, các nhà vật lý đã chuyển hướng tập trung nghiên cứu đến nhiệt động lực học,
một lý thuyết đáng tin cậy vì đã kinh qua thử thách trong nhiều năm, và họ cũng
thấy ở đó một tiềm năng giúp tiến sâu vào thế giới vi mô.
Sau đây, chúng
ta sẽ kể tóm tắt quá trình các nhà vật lý đi khám phá bản chất của hiện tượng
mà họ gọi là “bức xạ nhiệt” để rồi từ đó làm bùng phát một cuộc cách mạng long
trời lở đất về nhận thức tự nhiên. Nhưng trước hết chúng ta sẽ liệt kê một số
khái niệm, qui ước đóng vai trò mở đường.
Mức độ bức xạ
(hay phát xạ) của một vật được đặc trưng bởi một đại lượng gọi là “công suất
bức xạ”, ký hiệu:
, tức là năng lượng toàn phần mà vật bức xạ theo mọi phương
ra môi trường xung quanh trong một đơn vị thời gian. Nếu gọi
là công suất bức xạ ra
bức xạ có bước sóng
thì:
Nếu kích thước
của 2 nguồn bức xạ nào đó khác nhau thì dù công suất bức xạ của chúng có bằng
nhau, cũng không được coi là tương đương nhau. Nghĩa là chỉ với
thôi, vẫn chưa đủ đặc
trưng cho nguồn bức xạ. Do đó, để so sánh các nguồn, người ta xây dựng thêm
khái niệm “năng suất bức xạ” (hay độ trưng năng lượng và độ chói năng lượng). Theo
định nghĩa, năng suất bức xạ toàn phần E của một nguồn là công
suất bức xạ từ đơn vị diện tích mặt ngoài của nguồn phát theo mọi phương. Nếu d
là công suất bức xạ từ
diện tích nguyên tố d
thì:
Cũng có thể xác
định năng suất bức xạ ứng với một bước sóng
nào đó và có được đại
lượng được gọi là “năng suất bức xạ riêng phần”, ký hiệu:
. Mối liên hệ giữa ET và
được biểu diễn bằng
biểu thức:
Nếu năng suất
bức xạ riêng phần tính theo tần số
thì ký hiệu:
, và như vậy cũng có:
Vì
và vận tốc ánh sáng
được xác định là
nên có thể suy ra:
hay:
Giả sử một diện
tích
nào đó của bề mặt vật
bị một công suất bức xạ
chiếu đến từ mọi
phương trong góc khối
mà vật chỉ hấp thụ
được một phần năng lượng đó bằng
thì tỷ số:
được gọi là “hệ
số hấp thụ” của vật ở bước sóng
. Chỉ số T nói lên hệ số hấp thụ
phụ thuộc vào nhiệt độ.
Từ đây, xuất
hiện thêm một khái niệm mới, đó là “vật đen tuyệt đối”. Vật đen tuyệt đối là
vật có
với mọi bức xạ và ở
mọi nhiệt độ.
Thực tế chỉ ra
rằng khi một vật có nhiệt độ đủ cao, vượt qua một ngưỡng giới hạn nào đó thì nó
trở thành vật phát bức xạ nhiệt. Vật lý học định nghĩa: bức xạ nhiệt là quá
trình trong đó vật bức xạ đơn thuần do được nung nóng lên nhiệt độ cao. (Như
vậy, một cách tương đối, các quá trình hóa phát quang, điện phát quang, quang
phát quang đều không được coi là bức xạ nhiệt. Theo chúng ta quan niệm: thu -
phát bức xạ là hiện tượng mang tính thường xuyên phổ biến toàn Vũ Trụ, vì vậy
mọi vật trong bất cứ tình trạng nào cũng đều thu - phát bức xạ ở một mức độ nào
đó mà có tính nổi trội hay không nổi trội, đột biến hay không đột biến, hơn
nữa, bức xạ nào, không nhiều thì ít, cũng gây ảnh hưởng đến nhiệt độ của vật
hấp thụ chúng). Trong quá trình bức xạ nhiệt, vật nhận nhiệt lượng của môi
trường xung quanh rồi lại bức xạ vào môi trường ấy và trạng thái của vật trong
quá trình bức xạ là không đổi (thực ra không phải lúc nào cũng như vậy, đây là
một quan niệm sai lầm dựa trên cơ sở cho rằng nhiệt, cũng như năng lượng, có thể tồn tại độc lập!).
Cũng theo vật
lý học, bức xạ nhiệt có những đặc điểm:
- Trạng thái
bức xạ (thành phần phổ và cường độ bức xạ) phụ thuộc nhiệt độ của vật.
- Trạng thái
bức xạ phụ thuộc bản chất của vật. Năm 1809, Prêvô (Prevost) phát biểu thành
qui luật: “Nếu hai vật hấp thụ những năng lượng khác nhau thì sự bức xạ của
chúng cũng khác nhau”.
- Bức xạ nhiệt
là bức xạ cân bằng. Các nhà vật lý cho rằng đây là đặc điểm quan trọng nhất của
bức xạ nhiệt, dựa vào nó để phân biệt với các loại bức xạ khác. Giả sử có một
vật bức xạ được đặt trong một bình chân không, có vỏ phản xạ lý tưởng, không
thấu nhiệt (không hấp thụ nhiệt). Như vậy, bức xạ do vật phát ra được vỏ bình
phản xạ lại toàn bộ và vật phát bức xạ lại thu được một phần bức xạ mà chính nó
phát ra trước đó. Vì năng lượng toàn phần của hệ - gồm các bức xạ của trường
bức xạ và bản thân nội năng của vật bức xạ - luôn không đổi nên đến một lúc nào
đó, mức độ thu và phát bức xạ của vật sẽ bằng nhau, nói cách khác, giữa vật và
trường bức xạ do nó tạo ra thiết lập được một sự cân bằng động bền vững, lúc đó
nhiệt độ trong toàn hệ trở nên ổn định. (Đây là một hình dung đúng đắn dù dựa
trên quan niệm sai lầm. Nó gợi ra những ý dẫn tới quan niệm hợp lý hơn về nhiệt
cũng như nhiệt độ).
Áp dụng định
luật bảo toàn năng lượng cho quá trình bức xạ và hấp thụ nhiệt trong nghiên cứu
về sự bức xạ cân bằng nhiệt, năm 1859, Kiếcsốp (Kirchhoff, 1824-1887) đã rút ra
định luật: “Tỷ số giữa năng suất bức xạ và hệ số hấp thụ của một vật không phụ
thuộc vào bản chất của vật mà chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ và bước sóng”.
| Gustav Robert Kirchhoff | |
|---|---|
Gustav Kirchhoff
|
|
| Sinh | 12 tháng 3, 1824 Königsberg, Đông Prussia |
| Mất | 17 tháng 10, 1887 (63 tuổi) Berlin, Đức |
| Nơi cư trú | Đức |
| Ngành | Nhà vật lý |
| Nổi tiếng vì | Định luật mạch Kirchhoff Định luật Kirchhoff cho bức xạ nhiệt Định luật Kirchhoff cho Phổ học |
| Giải thưởng | Huy chương Rumford |
Ký hiệu hệ số
tỷ lệ (còn được gọi là mật độ thông lượng riêng của trường bức xạ hay năng suất
bức xạ riêng phần của vật đen) là
thì biểu diễn toán học
của định luật là:
Có ba hệ quả
được rút ra từ định luật Kiếcsốp:
Mật độ thông
lượng riêng của trường bức xạ cân bằng chính bằng năng suất bức xạ riêng của
vật đen tuyệt đối.
Ở cùng nhiệt độ
và ứng với cùng bước sóng, vật nào hấp thu mạnh hơn thì cũng bức xạ mạnh hơn.
(Đây là định luật Prêvô đã được chính xác hóa).
Năng suất bức xạ
của một vật không đen bằng hệ số hấp thụ của nó nhân với năng suất bức xạ của
vật đen.
Kiếcsốp thiết
lập định luật trên hoàn toàn dựa vào các lập luận về quá trình cân bằng nhiệt
động theo các nguyên lý của nhiệt động học. Vì vậy, năng suất bức xạ riêng phần
của vật đen, hàm
, trở thành trung tâm chú ý của các nhà vật lý cuối thế kỷ
XIX. Việc xác định chính xác dạng của hàm đó là yêu cầu chính yếu của nghiên
cứu bức xạ nhiệt.
Đó là một nhiệm
vụ không dễ dàng chút nào. Phải ròng rã sau 40 năm lao tâm khổ tứ, các nhà vật
lý mới hoàn thành được. Sau này, vào năm 1913, trong cuốn “Vật lý và hiện
thực”, Anhxtanh có viết: “Nếu có thể đặt lên bàn cân toàn bộ chất não mà các
nhà vật lý đã hiến tế cho tế đàn của hàm số phổ biến này, ta sẽ có được một bức
tranh hùng tráng và mới thấy hết được sự hy sinh cay nghiệt! Hơn nữa, cả cơ học
cổ điển cũng làm vật hy sinh cho nó, và cũng không thể nhìn thấy trước các
phương trình Mắcxoen có qua nổi sự khủng hoảng do hàm số này tạo ra hay không”.
Sau này, vào năm 1913, Anhxtanh có ví von mức độ khó khăn gian khổ trong công
cuộc đi định dạng chính xác hàm
như sau: “Thật là một
điều cao quí nếu chúng ta đặt lên được một bàn cân chất liệu của các bộ óc đã
được các nhà vật lý tế thần trên bàn thờ của hàm số phổ quát
này!”.
Trong một thời
gian dài, các nhà vật lý cũng chỉ tiếp cận được đến việc xác định qui luật biến
đổi đối với năng suất bức xạ của vật đen. Năm 1879. dựa trên các phép đo của
mình và cả của một số người khác, Stêphan đã đi đến kết luận: năng suất bức xạ
toàn phần của vật tăng tỷ lệ với lũy thừa bậc 4 của nhiệt độ tuyệt đối của vật.
Sau đó, các phép đo chỉ ra rằng phát biểu này chỉ đúng với vật đen tuyệt đối.
Đến năm 1884, Bônzman đã dựa trên các quan điểm nhiệt động học và xuất phát từ
ý tưởng về sự tồn tại của một số áp suất bức xạ, chứng minh được bằng lý thuyết
kết luận của Stêphan và nêu lên thành định luật (sau này có tên là
Stêphan-Bônzman): năng suất bức xạ toàn phần của vật đen phải tỷ lệ với lũy
thừa bậc 4 của nhiệt độ, tức là:
với a là hằng sốStêphan-Bônzman, được xác định bằng thực nghiệm.
Định luật
Stêphan-Bônzman được kiểm nghiệm nhiều lần từ nhiệt độ 100oC đến nhiệt độ cao nhất
có thể thực hiện và đo được.
Có thể thấy
rằng mãi đến năm 1893 mới có bước đột phá thực sự trong công cuộc đi tìm dạng
chính xác của hàm
. Đó là năm Viên (Wilhelm Wien, 1864-1928), xuất phát từ lý
thuyết nhiệt động lực học trong nghiên cứu lý thuyết quá trình nén đoạn nhiệt
bức xạ, đã tìm được hàm
dưới dạng:
hay:
với c là vận tốc truyền sáng
trong chân không.
Dù vẫn chưa
tường minh thì dạng trên đã cho thấy được qui luật phân bố của
theo
và T (hay của
theo
và T). Từ đó, Viên rút ra định luật sau này gọi là “định luật
dịch chuyển Viên”: “Bước sóng
ứng với cực đại của
năng suất bức xạ (
) biến thiên tỷ lệ nghịch với nhiệt độ tuyệt đối của vật
đen”.
| Ludwig Boltzmann | |
|---|---|
Ludwig Eduard Boltzmann (1844-1906)
|
|
| Sinh | 20 tháng 2, 1844 Viên, Đế quốc Áo |
| Mất | 5 tháng 9, 1906 (62 tuổi) Duino, Ý |
| Nơi cư trú | |
| Ngành | Vật lý |
| Nổi tiếng vì | Hằng số Boltzmann Phương trình Boltzmann Phân bố Boltzmann Định luật Stefan-Boltzmann |
Biểu diễn toán
học của định luật:
với b là hằng số không phụ
thuộc nhiệt độ.
Định luật dịch
chuyển Viên được thực nghiệm hoàn toàn xác nhận và được ứng dụng rộng rãi trong
kỹ thuật. Chẳng hạn, dựa vào nó người ta biết được nhiệt độ lớp quang cầu của
Mặt Trời bằng 6150
oK. Bức xạ ở nhiệt độ đó của Mặt Trời khi đến Trái Đất, và bị
khí quyển làm sai lệch, có cực đại rơi đúng vào vùng màu lục (
). Quá trình tiến hóa thích nghi đã làm cho mắt người nhạy
nhất với bức xạ này. Hay nhờ định luật dịch chuyển mà người ta thấy rằng đối
với các nguồn sáng nhiệt thông dụng, nhiệt độ nằm trong khoảng 2000
oK (đèn dầu hỏa) đến 2500
oK (đèn dây tóc), do đó
cực đại bức xạ rơi vào miền hồng ngoại (khoảng 1,2
đến 1,5
), làm cho phần lớn năng lượng bị phát tán, chỉ còn từ 2% đến
3% năng lượng có ý nghĩa thắp sáng.
Năm 1896, Viên
đưa ra một công thức về sự phân bố năng lượng trong phổ của vật đen tuyệt đối.
Trong một thời gian khá lâu, áp dụng trong miền tần số cao, nó tỏ ra phù hợp
với thực nghiệm. Nhưng sau đó, khi thực nghiệm ở miền tần số thấp, kết quả tính
toán theo công thức đó không còn ăn khớp nữa và nghiêm trọng hơn, năng lượng
bức xạ có xu hướng tiến tới lớn vô cùng khi tần số tiến tới 0. Đó là một điều
vô lý.
Từ đó cho tới
năm 1900, nhiều nhà vật lý tiếp tục nỗ lực trong nghiên cứu bức xạ nhiệt và đề
xuất thêm một số công thức nữa. Đáng chú ý nhất là công thức của Rêlây. Sau đó
Ginxơ, bằng một con đường khác, cũng đi đến được công thức này, do đó nó được
gọi là “công thức Rêlây-Ginxơ”.
Rêlây coi vật
đen tuyệt đối là một hốc kín chứa đầy sóng đứng điện từ (sóng đứng là sóng được
hợp thành từ 2 sóng phẳng có cùng biên độ, truyền cùng phương nhưng ngược
chiều) của các dao động tử điều hòa. Mật độ sóng đứng (số lượng sóng trong một
đơn vị thể tích) trong hốc có tần số trong khoảng từ
đến
là
. Hồi đó, mọi nhà vật lý đều quan niệm năng lượng có tính
liên tục và như vậy mỗi sóng đúng có thể có năng lượng bất kỳ trong khoảng từ 0
đến
. Tuân theo phân bố thống kê Bônzman, năng lượng trung bình
ứng với một sóng đứng là:
Với k là hằng
số Bônzman, nó được xác định:
Trên cơ sở đó,
Rêlây thiết lập được:
Sau
đó Ginxơ, bằng một con đường khác cũng đến được công thức này nên nó
được gọi là “công thức Rêlây-Ginxơ”. Công thức này cũng không được thực
nghiệm chấp nhận. Điều đáng chú ý là nếu công thức Viên tỏ ra phù hợp
với thực nghiệm ở miền tần số cao và tỏ ra phi lý ở miền tần số thấp,
thì công thức Rêlây-Ginxơ lại phù hợp với thực nghiệm ở miền tần số thấp
nhưng phi lý ở miền tần số cao. Hơn nữa, đối với công thức Rêlây-Ginxơ,
khi tính năng suất bức xạ toàn phần của vật đen tuyệt đối thì dẫn đến
một kết quả kỳ quặc, trái với thực tế: năng suất bức xạ toàn phần của
vật đen ở mọi nhiệt độ đều lớn vô cùng!
Công
thức Rêlây-Ginxơ làm choáng váng các nhà vật lý để rồi họ phải gọi nó
bằng những cái tên đáng sợ như: “Tai biến tử ngoại”, “Thảm họa tử
ngoại”, “Khủng hoảng tử ngoại”. Có tình hình đó là bởi vì các đường cong
thực nghiệm hoàn toàn chính xác, đáng tin cậy và đã có ứng dụng thực tế
quan trọng, nhưng công thức Rêlây-Ginxơ cũng tỏ ra hoàn toàn hợp lý về
mặt lý thuyết, có lập luận chặt chẽ không thể phủ nhận được và dựa trên
những định luật nhiệt động lực học đã được thực nghiệm kiểm chứng kỹ
càng và cũng qua thử thách lâu dài trong ứng dụng thực tiễn. Vậy mà thực
nghiệm và lý thuyết lại mâu thuẫn nhau gay gắt đến mức không thể dung
hòa được. Nhưng nếu không khắc phục được sự bất hòa ấy thì vì thực tiễn
có tính rõ ràng hơn, chân thực hơn, có sức thuyết phục hơn, cho nên chỉ
còn cách phải xem xét lại lý thuyết, nghĩa là phải rà soát lại những
khái niệm và suy lý của tư duy khoa học, hoặc chí ít cũng phải vượt qua
định kiến thời đại để điều chỉnh lý thuyết sao cho phù hợp với thực
nghiệm. Nói cách khác: nhiệm vụ của lý thuyết là giải thích đúng đắn
thực tiễn chứ không phải bắt thực tiễn phục tùng nó, cho nên một khi lý
thuyết mâu thuẫn với thực tiễn thì nó phải vừa xem xét lại thực tiễn vừa
tích cực tư duy sáng tạo để tự sửa mình cho phù hợp. Chúng ta cho rằng
đó là phương hướng mang tính tất yếu của mọi nghiên cứu, nhận thức khoa
học. Chính vì thế mà có thể nói công thức Rêlây-Ginxơ đến như một tiếng
pháo báo hiệu tình huống đã chín muồi cho hàm
(hay
) xuất hiện dưới dạng đích đáng nhất của nó.
Max Planck
sinh ngày 23-4-1858 ở Kiel, là con của một giáo sư luật. Năm lên 9
tuổi, Planck theo gia đình đến định cư tại Munich. Sau khi tốt nghiệp tú
tài (năm 1874), ông theo học vật lý và năm 21 tuổi, ông bảo vệ thành
công luận án tiến sĩ tại Đại học Munich và trở thành nhà vật lý lý
thuyết. Năm 1885, Planck được phong hàm giáo sư trường Đại học Kiel và
trở thành giáo sư thực thụ tại trường Đại học Berlin năm 1889. Năm 1907,
sau khi nhà vật lý nổi tiếng Boonzman (thầy giáo trước đây của ông) qua
đời, ông được cử sang đại học Viên (Áo) để thay thế. Ít lâu sau ông trở
lại Berlin và làm việc ở đó cho đến cuối đời. Từ năm 1930 cho đến khi
mất ông làm giám đốc Viện nghiên cứu vật lý lý thuyết nổi tiếng Hoàng đế
Wilhelm. Sau khi ông mất, viện này đổi tên thành Viện Planck.
Xét
về đời tư, Max Planck là người phải chịu nỗi bất hạnh cùng cực. Năm
1909, vợ ông tên là Marie Planck mất sau 22 năm chung sống hạnh phúc.
Năm 1916, người con trai lớn tên là Karl của ông chết trận gần Verdun.
Năm sau, người con gái Grete của ông chết khi sinh con đầu lòng. Hai năm
sau, người con gái sinh đôi cùng Grete, sau khi lấy người chồng góa của
Grete cũng chết giống như thế. Năm 1945, trước khi chiến tranh kết
thúc, đứa con trai út Ervin thương yêu nhất của ông bị Đức quốc xã hành
quyết vì có tên trong danh sách một tổ chức ám sát Hitle. Như vậy, Max
Planck có bốn người con thì cả bốn người con đều chết trước ông và đều
chết trong những trường hợp tai ương không đáng. Dù Planck là người có
tinh thần chịu đựng mà như Anhxtanh nói: “… giữ mình đứng thẳng và can
đảm tuyệt vời”, thì cũng có lần ông đã phải thốt lên: “Sự đau đớn của
tôi không thể diễn tả được bằng lời… Tôi lại cố gắng ngày qua ngày, để
có lại sức, để cam chịu với số phận này…”.
Nhưng
xét về sự nghiệp nghiên cứu khoa học thì Max Planck là nhà khoa học
thành đạt, có được thành công mà không phải ai cũng có được và về cuối
đời thì ở tột đỉnh vinh quang. Quan sát ở góc độ này, phải cho rằng ông
là người hạnh phúc.
Đời người nhiều khi thật kỳ lạ, cứ như sống theo lý trí trong số phận đã an bài!
Có
lẽ cũng là định mệnh mà luận văn tiến sĩ của Max Planck có nội dung bàn
về nguyên lý thứ hai và khái niệm entropi của nhiệt động lực học. Để
rồi trong những năm kế tiếp, ông nghiên cứu những hệ luận từ nguyên lý
thứ hai và áp dụng khái niệm entropi lên các trạng thái cân bằng
nhiệt-điện học của các hệ thống lý-hóa. Quá trình nghiên cứu đó đã dẫn
ông, vào giữa những năm 1890, đến với những khảo cứu các cân bằng bức xạ
nhiệt động học và lĩnh vực lý thuyết bức xạ nhiệt.
Các
nhà vật lý theo thuyết nguyên tử lúc bấy giờ, mà Bônzman là đại diện
xuất sắc, đã quan niệm rằng, các định luật của nhiệt động lực học là thể
hiện những qui luật mang tính thống kê về vận động của số đông phân tử,
nguyên tử. Nghiên cứu trên cơ sở quan niệm đó, năm 1877, Bônzman đã
phát hiện ra một cách định tính mối quan hệ tỷ lệ giữa entropi (S) và
xác suất (W), và đi đến hệ thức:
S ~ log w
(Entropi tỷ lệ với lôgarít xác suất)
Hệ
thức ấy chỉ ra: các quá trình nhiệt động xảy ra trong tự nhiên “hầu
như” đều là bất thuận nghịch (tuân theo nguyên lý hai, nhưng dù xác suất
có khi là rất thấp thì quá trình thuận nghịch cũng có thể xảy ra.
Lúc
đầu, vì là người đặt niềm tin vào sự tất định, coi các nguyên lý nhiệt
động lực học, chủ yếu là nguyên lý hai, là những hệ luận chặt chẽ của
các định luật điện từ đã biết, mà mọi quá trình nhiệt động phải tuân
thủ, không có ngoại lệ, cho nên Planck đã kiên quyết phủ nhận luận điểm
của Bônzman. Trong một bài viết năm 1881, ông đã khẳng định: “Định lý cơ
bản thứ hai của thuyết nhiệt học cơ (nguyên lý thứ hai của nhiệt động
lực học – NV), nếu được thực hiện triệt để, sẽ không dung hợp với thuyết
nguyên tử”, và rằng: “…có nhiều dấu hiệu đối với tôi chứng tỏ rằng, mặc
dù có những thành công lớn đến nay của thuyết nguyên tử, nhưng người ta
cuối cùng phải quyết định từ bỏ nó và trở về với giả thuyết vật chất
liên tục (không chia cắt được – NV)”. Planck chắc nghĩ rằng có thể tìm
thấy ở bài toán đi tìm hàm
(hay
)
sự chứng minh tính tất định của nguyên lý thứ hai, vì theo ông sóng
điện từ là liên tục, tương ứng với “vật chất liên tục” của ông. Đó cũng
là lý do khiến ông càng kiên trì đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bức xạ.
Nhưng mọi nỗ lực nghiên cứu của Planck dựa trên nhiệt động lực học và
điện động lực học thuần túy đã không đem lại kết quả mong muốn, không
những không suy diễn một cách lý thuyết ra được hàm năng suất bức xạ
riêng phần của vật đen, mà còn đi đến bế tắc hoàn toàn. Có lẽ khi Viên
mới đưa ra công thức về bức xạ riêng phần của vật đen, Planck đã tin là
nó đúng và cố gắng chứng minh bằng lý thuyết cho nó, hoặc giả có thể từ
đó rút ra được dạng hàm đúng. Tuy nhiên, ông cũng đã thất bại.
Lúc
này, một phần vì bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của nguyên tử
được tích lũy ngày càng nhiều, một phần vì không còn cách nào khác,
Planck đã phải quay lại nghiên cứu theo phương pháp thống kê mà Bônzman
đề ra mà ông đã từng bác bỏ. Sau này, Planck có thổ lộ rằng đó chính là,
theo đúng lời ông nói, “hành động của sự tuyệt vọng”, và: “Bởi vì không
còn con đường nào khác mở ra cho tôi, nên tôi tìm cách thử với phương
pháp Bônzman”. Việc đầu tiên Planck tiến hành nghiên cứu theo hướng mới
là hoàn thiện cơ học thống kê Bônzman-Mắcxoen.
Ngày nay, trên bia mộ Bônzman, ai cũng thấy dòng khắc:
Đó chính là sự ghi nhớ công lao và sự tôn vinh của người đời đối với nhà vật lý tài năng này.
Nhưng thực ra chính Planck mới là người đầu tiên viết ra hệ thức định lượng dưới dạng cuối cùng đó. Ngay hằng số tỷ lệ k, dù được gọi là hằng số Bônzman, thì cũng do Planck dẫn ra và đưa vào hệ thức.
Bằng
con đường lý thuyết, Planck cũng thu được công thức Rêlây-Ginxơ và cũng
chững lại ở đó, chưa tìm ra hướng phát triển tiếp theo để khắc phục
điểm yếu “chết người” của nó. Không chịu bất lực, Planck xoay sang cách
thức ít nhà vật lý lý thuyết thực hiện: trước hết, dò tìm cho được một
cách biểu diễn toán học thỏa mãn về mặt định tính qui luật bức xạ mà
thực nghiệm đã chỉ ra, sau đó dựa vào những dữ liệu phong phú và đáng
tin cậy của thực nghiệm mà thêm vào các tham số, điều chỉnh chúng để có
được công thức mà kết quả định lượng của nó phù hợp với kết quả thu được
từ thực nghiệm, cuối cùng mới đi tìm cơ sở lý thuyết cho công thức ấy.
Có
lẽ trong khoảng nửa đầu năm 1899, bằng cách tiếp cận như trên, Planck
đã dò tìm được biểu diễn mô tả đúng các đường cong thực nghiệm ở mọi tần
số và nhiệt độ, đó là:

Trong đó: a1, a2, c1, c2 là các hằng số.
Biểu
diễn trên đã đúng rồi thì cần phải giải thích được ý nghĩa vật lý của
nó hay nói cách khác phải “lý thuyết hóa” nó để nó trở thành một biểu
diễn tổng quát. Đây chính là lúc ông buộc phải chuyển sang thử theo
phương pháp của Bônzman.
Khoảng
tháng 5 – 1899, trong một lần đi dạo với Erwin, con trai út của ông lúc
đó mới 7 tuổi, Planck có lẽ không kìm chế được sự phấn khích trong
lòng, đã thổ lộ rằng, ông sắp có một “khám phá lớn nhất cũng quan trọng
như khám phá của Niutơn hay Côpécnic”. Planck nói thế với hàm ý gì? Phải
chăng hằng số k đã ló
dạng trong ông, và ông tin rằng đã tìm được một bước đi duy nhất đúng
dẫn đến kết quả mà ông hằng mong mỏi và từ lâu đã hạ quyết tâm: “…tôi
phải đạt được một kết quả tích cực, trong mọi hoàn cảnh, bằng mọi giá”.
Sau khi đã thiết lập được hệ thức tỷ lệ giữa entropi và lôgarít xác suất W, Planck hình dung một mô hình lưới gồm N bộ cộng hưởng (resonator) với một tần số riêng
và
có thể phát hay thu một lượng năng lượng điện từ bất kỳ. Tuy nhiên, nếu
cho phép như thế thì khối lượng xác suất trong hệ thức
sẽ
có trị số vô cùng lớn kéo theo entropi cũng có trị số vô cùng lớn. Đó
là điều phi lý! Vì vậy, đây cũng là điều cốt lõi, phải giả thuyết rằng
mỗi một bộ cộng hưởng chỉ được phép phát ra hay hấp thụ một năng lượng
điện từ cơ bản, cố định và hữu hạn là
. Như vậy, với năng lượng tổng thể là E, chỉ có
phần
năng lượng phân bố cho các bộ cộng hưởng. Trên cơ sở suy luận hợp lý
đó, Planck thông qua các bước tính toán đã xác định được năng lượng
trung bình của mỗi bộ cộng hưởng, và sau đó khi kết hợp với những biểu
diễn, công thức mà ông đã có trước đó, có lẽ vào khoảng nửa cuối năm
1899, ông đã thiết lập được hàm
dưới dạng:
Cũng
vào khoảng thời gian trên, với những phương pháp đo đạc chính xác hơn,
H. Rubens và F. Kurlbaum ở Berlin đã phát hiện ra công thức của Viên
chưa hoàn toàn chính xác (nên nhớ rằng nếu viết dưới dạng hiện đại, công
thức Viên chỉ khác công thức Planck là không có con số -1 ở mẫu số!).
Ngày 7-10-1900, Chủ nhật, Rubens đến thăm Planck và thông báo riêng về
phát hiện đó. Ngay tối hôm đó, Planck, bằng một phép nội suy đã đi đến
một quyết định có tính đột phá: thay
bằng
, hay có thể viết:
và
phát biểu thành văn như một giả thuyết: Năng lượng của một dao động tử
không thể có trị số bất kỳ, mà bao giờ cũng là bội số nguyên của một
năng lượng nguyên tố
, trong đó
là tần số của dao động tử, h là một hằng số Vũ trụ mới.
Ngay
lúc đó, bản thân Planck vẫn không thấy được cái ý nghĩa sâu xa ẩn chứa
trong phát kiến của mình. Bởi vì ông chỉ coi đó như một giải pháp toán
học thuần túy hình thức.
Sau
này, người ta cho rằng đó là bước đi thần kỳ. Nhưng lúc sinh thời,
Planck chỉ nói: “Định luật được đoán ra một cách may mắn”. Còn chúng ta
nói: đó là bước đi tất yếu, đã được chuẩn bị ngay từ khi Planck quyết
định ứng dụng phương pháp Bônzman trong nghiên cứu bức xạ.
Cuối
cùng, sau trên dưới 40 năm hao tổn biết bao trí lực, các nhà vật lý đã
khám phá được dạng phổ quát của hàm năng suất bức xạ riêng phần dưới tên
gọi “công thức Planck”:
hay:
Ngày
14-12-1900, Planck trình bày kết quả của ông tại buổi họp của Hội Vật
lý Berlin dưới đầu đề: “Định luật phân bố nhiệt trong quang phổ chuẩn”.
Hôm
đó, Planck đâu biết ông đã khơi mào một cuộc cách mạng thật sự vĩ đại
trong nhận thức vật lý và cũng đâu biết rằng khi ông công bố công thức
của ông về bức xạ của vật đen tuyệt đối thì cũng là lúc thuyết lượng tử
được khai sinh, như sau này mọi người đã thừa nhận.
Thường
vẫn vậy, khi một quan niệm đã khắc sâu vào tâm trí con người rồi thì
khó lòng mà từ bỏ nó. Từ sau năm 1901, người ta coi ý tưởng lượng tử như
một giả thuyết phụ trợ nhằm giải quyết bài toán trong lĩnh vực bức xạ,
hằng số Planck (h)
như đại lượng có tính chất hiện tượng luận nhằm giúp diễn tả các kết
quả đo đạc và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị thay thế bằng một cái gì đó từ
nền vật lý cổ điển. Điều đáng chú ý là dù có thế thì vẫn có những người
và chính Plank bằng những cách tiếp cận khác cũng dẫn đến công thức
Planck. Cách tiếp cận đơn giản nhưng mang tính kinh điển là của
Anhxtanh. Có lẽ chính trong khoảng thời gian này, Planck đã lờ mờ ý thức
được tầm quan trọng trong việc nhận thức hằng số h, và có nói:
“Hằng số đó hoặc giả là một đại lượng giả tạo, khi đó thì tất cả việc
rút ra định luật bức xạ về nguyên tắc là sai, chỉ là một trò chơi trống
rỗng và vô nghĩa với các công thức, hoặc giả việc rút ra định luật bức
xạ đã dựa trên một thực tại vật lý nào đó, khi đó lượng tử tác dụng phải
mang một ý nghĩa cơ bản trong vật lý học, và bản thân nó là một cái gì
đó hoàn toàn mới, chưa từng hay biết. Điều đó phải làm nảy sinh một bước
ngoặt trong tư duy vật lý của chúng ta, đã có cơ sở vững chắc từ thời
Lepnit và Niutơn, những người đã phát minh ra phép tính vi phân dựa trên
giả thuyết về tính liên tục của mọi quan hệ nhân quả”.
Anhxtanh là người rất nhanh, có lẽ là nhanh nhất trong số những nhà vật lý đương thời đó, hiểu rằng giả thuyết lượng tử của Planck không phải chỉ là một biện pháp tình thế, mà là một thực thể vật lý có tính chất cách mạng. Từ nhận định đó, Anhxtanh táo bạo đưa ra giả thuyết về lượng tử ánh sáng. Ngược với quan niệm truyền thống lúc bấy giờ xem ánh sáng là sóng điện từ của Mắcxoen, giả thuyết này lại cho rằng ánh sáng gồm các thực thể có cấu tạo hạt, gọi là hạt “phôtôn” mang những gói năng lượng
Vào
tháng 7-1947, một trong những vị khách cuối cùng đến thăm Planck (lúc
này đã 89 tuổi), đã ghi lại cảm nghĩ: “Đứng trước tôi là một trong những
con người vĩ đại của thế giới trí tuệ mà bi kịch cá nhân đã không lấy
đi được chút nào nhân cách”.
Ngày
4-10-1947, Planck tạ thế. Quan tài được quàn ba ngày tại nhà thờ thành
phố Gơttingen. Người đến viếng chật ních. Wilhelm Westphal, người thuộc
giới vật lý Berlin và rất gần gũi với gia đình Planck đã nhận xét: “Tuy
cuộc đời vĩ đại của ông đã hạ xuống, không chiếu sáng mà bị bao bọc bởi
một lớp mây dày của đau khổ. Nhưng chúng ta biết rằng trong tương lai xa
nó sẽ chiếu sáng”.
Tờ
“The New York Times” vào ngày 5-10-1947 đã đăng bài cáo phó. Trong đó
có đoạn viết: “Planck là một trong những người trí thức khổng lồ của thế
kỷ XX, một trong những trí thức ngoại hạng của tất cả mọi thời đại. Như
người cha của thuyết lượng tử, ông được xếp hạng với những người bất tử
của khoa học, như Ácximét, Gallilê, Niutơn và Anhxtanh”.
***
Vận
động vật chất, truy cho đến cùng là chuyển hóa không gian. Chuyển hóa
không gian nhằm khẳng định tính tuyệt đối tồn tại của Tự Nhiên Tồn Tại.
Tuyệt đối tồn tại là đâu đâu cũng tồn tại, lúc nào cũng tồn tại, tồn
tại đến tuyệt cùng giới hạn và tồn tại đến vĩnh viễn. Tự nhiên là vốn dĩ
như thế và phải như thế chứ không thể khác. Chính vì vậy mà không gian
phải là một thực thể thống nhất, tuyệt đối không thể phân tách được
nhưng đồng thời cũng được phân định tương đối đến tận cùng giới hạn xét
về mặt tồn tại. Sự phân định cơ bản nhất, dẫn đến một hình ảnh Vũ Trụ
như chúng ta đang quan chiêm, chính là sự phân định không gian thành hai
thể môi trường không gian và vật chất Không Gian. Vì môi trường không
gian (viết tắt là kg) và vật chất Không Gian (viết tắt là KG) không thể
là sự hợp thành từ Hư Vô (hư vô tuyệt đối) được nên tất nhiên phải tồn
tại đơn vị nhỏ nhất tuyệt đối, không thể phân chia được của kg là hạt kg
, và hai đơn vị tương phản nhau, tuyệt đối nhỏ nhất, không thể phân chia được của KG là hạt KG
và hạt KG
. Hai hạt KG tương phản
và
thực chất là hai hạt kg
có trạng thái nội tại bị kích thích đến tột độ theo hai chiều trái ngược nhau.
Có
thể thấy quan niệm trên vừa mang màu sắc triết học, vừa mang màu sắc
vật lý học. Nhưng quan niệm đó đã phù hợp với thực tại khách quan chưa?
Chúng ta đặt niềm tin không lay chuyển vào luận thuyết của triết học duy
tồn nên cho rằng luận điểm đó là đích đáng và có thể coi nó như một dấu
gạch ngang, nối triết học duy tồn với vật lý học. Nghĩa là, từ vật lý
học, có thể rút ra những luận điểm suy tư của triết học duy tồn và ngược
lại, quan niệm của triết học duy tồn về tự nhiên là kim chỉ nam đối với
việc thiết lập nhiều công thức ban đầu (!) cho các hiện tượng vật lý.
Theo
quan niệm của triết học duy tồn thì không thể có Hư Vô trong thực tại
và phải có giới hạn ở vô cùng nhỏ. Đã tồn tại giới hạn ở vô cùng nhỏ thì
tuân theo nguyên lý tương phản, phải tồn tại giới hạn ở vô cùng lớn.
Điều đó có nghĩa là Vũ Trụ không thể lớn vô hạn. Vũ Trụ hữu hạn thì
không gian cũng hữu hạn và được bảo toàn. Nhưng hiểu như thế nào về một
Vũ Trụ hữu hạn bởi vì khó mà hình dung được cái “mặt bao bọc” đóng vai
trò biên giới của nó và bên ngoài nó là cái gì? Rốt cuộc, phải cho rằng
Vũ Trụ hữu hạn nhưng vô biên, hay đơn giản hơn, hiểu như Lão Tử: đi xa
cũng có nghĩa là trở về. Nếu từ một vị trí nào đó, chúng ta ra đi trên
một quĩ đạo tự do không bị bất cứ một ràng buộc hay cưỡng bức nào cả và
có tuổi thọ đủ cho cuộc hành trình thì rồi sẽ đến một ngày chúng ta về
lại vị trí xuất phát. Hình dung như thế cũng hay, nhưng hình dung sau
đây hay hơn: Vũ Trụ được “phân ra” thành hai miền ảo, thực và hai miền
ấy bao bọc lẫn nhau bởi một lớp “rìa” vừa thực vừa ảo. Chúng ta ở miền
nào thì miền đó là Vũ Trụ thực và miền kia là Vũ Trụ ảo. Nếu Vũ Trụ thực
là hữu hạn thì Vũ Trụ ảo là vô hạn. Vì rìa phân cách hai Vũ Trụ là một
tồn tại vừa ảo vừa thực cho nên có thể có một rìa mà cũng có thể có vô
vàn rìa. Ở góc độ “thấy” một rìa, nếu chúng ta từ Vũ Trụ thực “bước qua”
rìa ấy, thì vì chúng ta là thực nên Vũ Trụ ảo biến thành thực, còn Vũ
Trụ thực mà chúng ta vừa rời khỏi lập tức biến thành ảo. Đó chính là “ra
đi đồng nghĩa với quay về”. Ở góc độ “thấy” vô vàn rìa thì coi như ở
đâu trong Vũ Trụ thực cũng là rìa và nếu chúng ta đang đi thì lúc nào
cũng bước qua rìa và như vậy, lúc nào cũng đi về phía tâm của Vũ Trụ
thực.
Đó
là một hình dung đã đạt đến tột độ của sự hoang tưởng nhưng không phải
là không có lý và hơn nữa, có thể rút ra từ đó một kết luận “cực kỳ chân
lý”: không thể toàn thể không gian được bảo toàn tuyệt đối mà cả hai
thể của chúng là kg và KG, xét như hai lực lượng độc lập với nhau, cũng
được bảo toàn tuyệt đối. Nếu từ Vũ Trụ thực, một lực lượng KG vận động
qua rìa vào miền Vũ Trụ ảo thì tại đó đồng thời cũng có một lực lượng KG
như thế từ Vũ Trụ ảo vận động qua rìa vào miền Vũ Trụ thực. Giả sử
chúng ta là một lượng lượng KG thực “xông tới” một tấm gương thì có thể
coi mặt gương là rìa Vũ Trụ, vì trong gương (coi như miền Vũ Trụ ảo)
cũng có một lực lượng KG ảo giống hệt chúng ta, “xông tới” mặt gương. Sự
chuyển hóa KG giữa hai miền ảo và thực khi qua rìa Vũ Trụ cũng tương tự
như thế chăng? Hỏi thế mà suy ngẫm thôi chứ chúng ta đừng dại gì xông
thẳng vào gương để “thực nghiệm”. Làm thế, nếu không chấn thương sọ não
thì cũng sứt đầu mẻ trán. Còn vẫn “gàn bướng” quyết tâm xông vào gương
cho bằng được thì vì là giả sử thôi nên dại gì mà không giả sử thêm
rằng, mặt gương có tính đàn hồi hoàn toàn, để chúng ta xông vào gương
chỉ phải chịu một tác động tương đối ôn hòa rồi tuân theo nguyên lý tác
dụng tương hỗ, lại xông ra khỏi gương theo tốc độ và phương như cũ nhưng
ngược chiều về nơi chúng ta đã xuất phát. Giả sử này dẫn ra ý niệm: xét
theo một khía cạnh nhất định, có thể coi rìa Vũ Trụ có tính đàn hồi lý
tưởng và chuyển hóa KG ở đó hoàn toàn tuân theo nguyên lý tác dụng tương
hỗ.
Vô
cùng khó hình dung Tự Nhiên Tồn Tại lại vận hành như thế. Nhưng nếu Tự
Nhiên Tồn Tại không vận hành như thế, thì với những hiện tượng tự nhiên
mà loài người khám phá được cho tới nay, có thể còn khó hình dung hơn.
Dù chắc chẳng một ai ngoài chúng ta tin nổi một Vũ Trụ “tuy một mà hai,
tuy hai mà một”, đầy huyễn hoặc như thế, thì chúng ta vẫn không nao
núng: về nguyên tắc, phải như thế chứ không thể khác được.
Những
hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, dù được thấy rất khác nhau, vì tuân
theo những nguyên lý, qui luật khác nhau, nhưng những nguyên lý, qui
luật ấy chỉ là những dạng đặc thù của những nguyên lý, qui luật phổ quát
hơn nữa, và vì thế, tất cả các nguyên lý, qui luật đều qui về một mối,
một nguồn cội duy nhất, nghĩa là tất cả các nguyên lý và qui luật về tồn
tại và vận động của Vũ Trụ đều là dạng đặc thù của nguyên lý duy nhất
mà chúng ta đã gọi là “nguyên lý Tự Nhiên”. Chính vì thế mà giữa nhiều
hiện tượng, dù có vẻ khác nhau đến mấy, không nhiều thì ít, không chỗ
này thì chỗ khác, cũng có nét tương tự. Phải cho rằng sự tương tự là đặc
tính phổ quát của tự nhiên và hơn nữa là một nguyên lý của tự nhiên.
Nếu không có nguyên lý này thì mẫu hành tinh của Bo về cấu trúc nguyên
tử Hydrô đã không thể giải thích thỏa đáng được bất cứ hiện tượng nào
thể hiện ra từ vận động nội tại của Hydrô. Có lẽ rất nhiều người không
biết vì không để ý: trong lịch sử nghiên cứu khoa học, rất nhiều trường
hợp nhờ có nguyên lý tương tự mà nhiều phát kiến khoa học có giá trị đã
được sáng tạo ra.
Nếu
cần đưa ra thêm thí dụ về sự tương tự nhau của hai hiện tượng vật chất
vận động, rất khác nhau, thậm chí xét trên phương diện nào đó có thể
nói khác nhau một cách bản chất, thì chúng ta dễ dàng “trưng bày” được
ngay lập tức: không đâu xa lạ, đó chính là trường hợp chuyển động hỗn
loạn của các phân tử khí trong thuyết nhiệt động học và sự nhiễu loạn
bức xạ trong thuyết bức xạ nhiệt. Nếu trong thuyết nhiệt động học,
nguyên nhân của nhiệt độ là sự chuyển động hỗn loạn của các phân tử
khí, thì trong thuyết bức xạ nhiệt, nguyên nhân của nhiệt độ là sự vận
động nhiễu loạn của bức xạ điện từ. Thậm chí có thể nói, hiện tượng xảy
ra trong hộp chứa khí lý tưởng thỏa mãn phương trình cơ bản của nhiệt
động học hoàn toàn tương tự với hiện tượng xảy ra trong hốc đen tuyệt
đối chứa bức xạ thỏa mãn phương trình cơ bản của thuyết bức xạ nhiệt
(công thức Planck), nếu xét về mặt vận động vật chất có liên quan đến
nhiệt độ. Thậm chí, có thể nói, bức xạ nhiệt là nguyên nhân của các
hiện tượng nhiệt động học!
Để
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu, nhiệt học đưa ra khái
niệm “hệ” (hệ thống), và định nghĩa: hệ là gồm một vùng không gian nhất
định và số đông các phân tử hoạt động trong đó. Để có thể khám phá một
cách khách quan nhất về bản chất của đối tượng nghiên cứu, nhiệt học
cũng đưa ra khái niệm “hệ cô lập”, và định nghĩa: hệ cô lập là hệ được
cách ly một cách lý tưởng (tuyệt đối) về phương diện nào đó (chẳng hạn
là cách ly nhiệt, cách ly lượng, cách ly hiệu ứng hấp dẫn,…) hoặc tất cả
mọi phương diện với môi trường bên ngoài hệ. Như vậy, hộp chứa khí lý
tưởng và hốc đen tuyệt đối chứa bức xạ nói trên, theo nhiệt học, chính
là hai hệ cô lập không những về mặt nhiệt mà còn về nhiều mặt khác.
Nếu hai hệ đó, trong suốt quá trình tồn tại của chúng luôn ổn định trạng thái (P,V,T không
đổi), thì chúng ta nói chúng đã bị cô lập hoàn toàn với môi trường bên
ngoài không những về mặt trao đổi năng lượng mà cả về mặt không gian.
Tuy nhiên sự cô lập ấy vẫn chưa tuyệt đối vì vẫn xảy ra hiện tượng va
chạm, tác động tương hỗ làm chuyển hóa năng lượng của nhau giữa môi
trường ngoài (mà “vách” phân cách là đại diện của nó) và mỗi hệ đó. Chỉ
khi nào cách ly được cả về phương diện va chạm thì hai hệ đó mới bị cô
lập tuyệt đối. Nhưng bằng cách nào có thể cách ly tuyệt đối được sự va
chạm mà áp suất P vẫn tồn tại? Không thể có cách nào dù là trong tưởng tượng!
Như
vậy, hai hệ cô lập đó có vận động vật chất tương tự nhau về phương diện
nhiệt động học, và rất “gần gũi” nhau vì đều có những thể hiện sau đây:
- Thể tích kg không đổi
- Năng lượng toàn phần không đổi
- Áp suất không đổi
- Nhiệt độ không đổi
Có thể diễn giải 4 thể hiện đó ra như thế này:
- Môi trường không gian được bảo toàn
- Lực lượng KG được bảo toàn
- Vận động vật chất được bảo toàn
- Luôn tồn tại cân bằng động
Bốn
diễn giải ấy chính là bốn đặc tính cơ bản của Vũ Trụ thực tại mà triết
học duy tồn đã hình dung ra. Do đó có thể rút ra ở đây một kết luận đầy
lý thú: có thể coi hai hệ cô lập nói trên là hai hình ảnh thu nhỏ của Vũ
Trụ thực tại, hay cũng có thể coi Vũ Trụ thực tại là một hệ cân bằng
nhiệt động vĩ đại. (Cân bằng nhiệt động thực ra cũng là cân bằng động,
vì ở tầng nấc vi mô nào đó, ở một trạng thái vận động vật chất nào đó,
nếu chúng ta đến được đó(!), thì vận động vật chất không còn gây ra cảm
giác mang khái niệm "nhiệt" nữa. Thí dụ, một tia sáng từ Mặt Trời đến
Trái Đất, nhiệt độ của nó là bao nhiêu trên dặm đường Vũ Trụ? không thể
xác định được! Nếu lúc đó, mức độ vận động hỗn loạn trong nội tại nó so
với khi ở Mặt Trời bằng 0, thì nhiệt độ của nó phải bằng 0. Có thể như
thế nhưng làm sao đo? Vì chúng ta đưa bất cứ dụng cụ đo nào đến đó đều,
ngay lập tức, làm tăng mức độ vận động nội tại của tia sáng, làm nhiệt
độ của nó tăng lên mất rồi!).
Từ
kết luận đó còn rút ra được một kết luận lý thú khác nữa: Vũ Trụ thực
tại không thể bị cô lập tuyệt đối, nó “đóng” mà cũng “mở”, không “đóng”
mà cũng không “mở”, là cả hai mà cũng không phải cả hai.
Một
câu hỏi bật ra: vì hai hệ cô lập đó là hoàn toàn tương tự nhau xét về
mặt nhiệt động học, hơn nữa cũng có những thể hiện ám chỉ đến những đặc
tính cơ bản nhất của Vũ Trụ thực tại, đều có thể được coi là một Vũ Trụ
thực tại thu nhỏ, nên có thể nào từ phương trình cơ bản của nhiệt động
học suy ra được phương trình cơ bản của bức xạ nhiệt và ngược lại? Có
khả năng lắm chứ!
Để
thiết lập phương trình cơ bản, các nhà nhiệt động học đã hình dung chất
khí trong hệ cô lập là khí lý tưởng. Theo qui ước về các phân tử khí lý
tưởng trong nhiệt học, chúng ta cho rằng có thể thay thế các phân tử
khí bằng các phần tử vật chất bất kỳ nào đó, miễn chúng đủ nhỏ để được
coi như chất điểm và không tương tác nhau bởi một nguyên nhân nào khác
ngoài sự va chạm. Chúng ta quan niệm về sự tồn tại của các hạt KG
, vậy có thể thay thế những hạt này cho phân tử khí lý tưởng không? Không được, bởi vì khi “nhốt”, các
trong
hệ cô lập, chúng mang điện tích nên sẽ hút đẩy điện từ nhau và như thế
là trái với qui ước. Hơn nữa, theo thời gian để cuối cùng chỉ còn lại
gồm các hạt
hoặc các hạt
và duy nhất một hạt
(dương hoặc âm) tồn tại độc lập (vì KG phải được bảo toàn nên nếu có một hiện tượng hủy cặp giữa hai
trái dấu xảy ra thì cũng đồng thời xảy ra hiện tượng một cặp hạt
(hạt kg) bị kích thích thành hai hạt
trái dấu ở đâu đó). Hạt
là hạt trung tính, nên giữa hai hạt
không
có lý do nào hút hay đẩy nhau hết nếu không “va chạm” nhau, và kích cỡ
của nó, xét về độ nhỏ, “chẳng thấm vào đâu” so với “tầm vóc vĩ đại” của
hạt phân tử khí mà các nhà nhiệt học qui ước trong việc thiết lập phương
trình cơ bản của nhiệt động học, thì sẽ có được một “chất khí” lý tưởng
hơn cả lý tưởng!
Trên
cơ sở nhận định đó, chúng ta bước vào một cuộc thực nghiệm giả tưởng
trong thế giới hoang đường với mục đích tìm lời đáp cho câu hỏi lớn:
nhiệt và nhiệt độ đích thực là gì?
Giả sử có một mol hạt
bị nhốt trong một quả cầu rỗng. Theo qui ước của nhiệt học, mol hạt
và
dung tích của quả cầu hợp thành một hệ nhiệt động. Mặt trong của quả
cầu có tính cách ly lý tưởng (không thấu nhiệt, không co giãn, nhưng
hoàn toàn đàn hồi). Như vậy hệ nhiệt động trong quả cầu trở thành hệ cô
lập lý tưởng như chúng ta mong muốn. Hơn nữa, chúng ta qui ước hệ cô lập
ấy đang ở trạng thái cân bằng nhiệt động trong điều kiện:
PV = RT
(với P, V , T là các tham số áp suất, thể tích, nhiệt độ của trạng thái ấy
R là hằng số khí lý tưởng)
Ở
đây, cần nói lại lần nữa rằng, không thể có cách nào ngăn chặn được
tương tác cơ học giữa hệ nhiệt động đã bị cô lập đến mức tối đa với môi
trường bên ngoài, bởi vì đó là một hiện tượng tất yếu đảm bảo cho hệ cô
lập đó tồn tại và bảo toàn. Nói cách khác, không thể loại trừ được
nguyên nhân làm xảy ra hiện tượng tương tác cơ học giữa hệ nhiệt động cô
lập tối đa và môi trường ngoài, bởi vì nguyên nhân đó chính là yêu cầu
nghiêm ngặt về chuyển hóa KG làm cho các hạt
phải vận động đến tận cùng khả năng của chúng, đứng yên (và xoáy cực đều) là tạm thời, lan truyền trong kg là thường xuyên.
Suy ra từ qui ước, kg của hệ cân bằng nhiệt động cô lập đang xét được coi là thuần túy Ơclít, các
trong đó coi như
chuyển động thẳng, va chạm nhau tạo nên một chuyển động hỗn loạn đến
mức độ nào đó và ổn định ở mức đó. Tuy nhiên, xét về mặt năng lượng thì
khi hệ cô lập ổn định ở trạng thái cân bằng nhiệt động, mật độ năng
lượng phải đồng nhất trong toàn kg của hệ.
Bỏ qua năng lượng của môi trường kg (cho bằng 0) thì năng lượng toàn phần của hệ là:
MC2=nm1c2
MC2=nm1c2
với m1 là khối lượng của hạt
n là tổng số hạt
có trong hệ (số Avôgadrô)
Như
chúng ta đã quan niệm, môi trường kg có cấu trúc mạng khối (nghĩa là
cũng mang tính lượng tử). Vì vậy thể tích kg của hệ cô lập đang xét được
biểu diễn:
V*=Na1
với a1 bằng 2V lần lượng tử thể tích của hệ cô lập, tương đương với thể tích của hạt kg
. N là tổng số các lượng tử a1. Đương nhiên N>n.
Nếu ký hiệu
(đọc là “rô”) là mật độ năng lượng của hệ cô lập cân bằng nhiệt động thì:
Về
mặt vật chất, rõ ràng là có sự phân bố đồng nhất trong hệ cô lập cân
bằng nhiệt động. Tuy nhiên, đó không phải là một cảnh tĩnh tại. Vận động
vật chất trong hệ đâu đâu cũng xảy ra và xảy ra thường xuyên.
Hạt
lan truyền tự do trong chân không bao giờ cũng với vận tốc c. Nhưng trong một hệ có kg bị cô lập và khống chế bởi các hạt
khác,
chúng phải lan truyền với những vận tốc có giá trị khác nhau và thường
xuyên đổi hướng do có va chạm giữa chúng với nhau và với mặt cầu cách ly
hệ. Như vậy, khi vận tốc trong hệ cô lập, năng lượng toàn phần của một
hạt
vẫn
là một bất biến, nhưng sự chuyển hóa giữa hai thành phần năng lượng:
nội năng (năng lượng xoáy) và động năng của nó, thường xuyên chuyển hóa
qua lại nhau. Có thể viết mối quan hệ giữa các năng lượng ấy bằng biểu
diễn quen thuộc:
m1c2=m01c2+m1v2
với v là vận tốc tịnh tiến của hạt
, có giá trị nào đó trong khoảng từ 0 đến c.
Khi v=0, hạt
“đứng” một chỗ và xoáy nội tại mạnh nhất có thể (không nên nghĩ khi va chạm, hạt
mới có v=0, cần phải hiểu thuật ngữ “va chạm” một cách linh động bởi vì hai hạt
trong
thực tại không thể tiếp xúc với nhau được như hai vật vĩ mô do nguyên
lý ưu tiên lan truyền trong chuyển hóa KG làm xuất hiện một hiệu ứng đẩy
“từ xa” giữa chúng). Khi v=c, sự xoáy nội tại của hạt
bằng 0 (tạm thời không thể hiện nội tại!).
Chính vì thế mà dù có sự phân bố đều đặn năng lượng toàn phần trong hệ cô lập thì vận động vật chất trong đó vẫn được bảo toàn.
Khi
hệ cô lập trong trạng thái cân bằng nhiệt động thì tổng hòa các tương
tác xảy ra trong đó mang tính đối xứng (đúng hơn, gọi là tương phản đối
ứng). Tính đối xứng tương tác ấy thể hiện rõ nhất ở hệ cô lập dạng cầu.
Chẳng hạn, có thể hình dung rằng trên bất cứ phương nào qua tâm hệ cũng
đều có một cặp động năng tác động trái chiều nhau, tạo nên một cặp lực
cùng độ lớn nhưng ngược chiều, cùng lúc gây áp lực lên mặt cầu. Hay có
thể thấy, tổng véctơ các áp lực lên mặt cầu bằng 0. Chúng ta cho rằng
đặc tính này đã tác động đến giá trị động năng trung bình cũng như giá
trị nội năng trung bình của các hạt
trong hệ phải bằng nhau. Nếu gọi động năng trung bình là
và nội năng trung bình là
thì:
Vì 
Nên: 
Gọi mật độ động năng trung bình trong hệ là
thì có thể viết:
Phân tích kết quả của quá trình triển khai thành nhóm theo ý chúng ta:
Có thể viết lại nhóm thứ ba thành một biểu diễn có hai vế:
Ở vế đầu, thành phần
chính là lượng tử diện tích của mặt cầu, thành phần còn lại không khác lực ly tâm của một hạt
quay quanh tâm cầu, tác động lên lượng tử diện tích mặt cầu. Lực đó tương đương với tiềm lực của một hạt
đang lan truyền tự do trong chân không, nhân với
.
Có thể kết luận rằng, nhóm thứ ba biểu diễn một “lượng tử” áp lực của
hệ cô lập tác dụng lên một lượng tử diện tích của mặt cầu. Còn nhóm thứ
hai đóng vai trò như một hệ số điều chỉnh theo hướng giảm độ lớn của
lượng tử áp suất ấy.
Chung qui lại, nếu gọi P là áp suất của hệ tác động lên mặt cầu và nhớ lại những ký hiệu ở trên thì sẽ viết được một biểu diễn ngắn gọn hơn:
Chuyển đổi lại một chút sẽ có được phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử viết cho một mol khí:
(với
trong trường hợp mol hạt
đóng vai trò khí lý tưởng)
Vì PV=RT (phương trình trạng thái khí lý tưởng) nên cách viết thứ hai của phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử là:
với k là hằng số Bônzơman.
Để tìm lại các giá trị R, n, k… chúng ta đưa phương trình cơ bản viết cho 1 mol
về điều kiện tiêu chuẩn:
Biết khối lượng của một hạt
là:
m1=0,2048.10-28
Với số Avôgadrô là n thì khối lượng thực của một mol hạt
bằng:
n.m1=n.0,2048.10-28
Biết khối lượng thực của nguyên tử cácbon là 20.10-24 g thì xác định được khối lượng thực của một đơn vị khối lượng tính theo thang đơn vị cácbon (dvc) bằng:
Vậy khối lượng thực của một mol hạt
là:
Từ đó số Avôgadrô được xác định là:
Có một ngộ nhận “chết người”! Thể tích Na1 là lượng thể tích thực, với a1 (thể tích chiếm chỗ của
đóng vai trò lượng tử đơn vị của nó). Phải cho rằng lượng tử thể tích thật sự trong thực tại phải là ao với a1=2ao. Theo qui ước về đơn vị thể tích thì ao phải có số trị 1. Muốn thế, cần phải có biểu diễn:
với V là thể tích thực của hệ cô lập đang xét, viết theo thang đo thể tích có đơn vị đo qui ước là 1cm3.
(Đó là kết quả suy đoán bắt chước theo cách Planck: “Hành động của sự tuyệt vọng”!!!)
Từ biểu diễn suy đoán đó, sẽ có:
Hay:
Nếu ở điều kiện tiêu chuẩn, Vo=22,4.103 cm3, thì Po sẽ bằng:
Chúng ta có quyền chọn điều kiện tiêu chuẩn mới, nếu không đúng hơn thì cũng… để cho tiện hơn:
Po=106 g/cms2
Vo=22,6492416.103 cm3
Bước
đột phá ngoạn mục của Planck là trong điều kiện quan niệm vật chất liên
tục, năng lượng liên tục đã trở thành truyền thống và đang ở thế hoàn
toàn áp đảo trong vật lý học, và chính ông cũng đang tin tưởng sâu sắc
vào điều đó, đã đưa ra được khái niệm về lượng tử năng lượng.
Triết
học duy tồn, bằng con đường suy lý thuần túy đã đi đến khẳng định:
lượng tử vật chất là một thực tại khách quan, và như vậy, năng lượng
cũng dứt khoát không thể liên tục. Hơn nữa năng lượng không thể tồn tại
ngoài vật chất, vì nó thực ra chỉ là hình ảnh khác của vật chất, là vật
chất trong tình trạng vận động.
Như
chúng ta đã quan niệm, lượng vật chất nhỏ nhất có thể tồn tại độc lập
(xét trong dạng thể hiện là KG của không gian) chính là hạt
. Nếu Planck đưa ra biểu diễn:
Thì chúng ta cũng học đòi, đưa ra biểu diễn:
Một cách hoàn toàn hình thức và hú họa, chúng ta biến đổi đại lượng mec2 để dò tìm giá trị của h và
:
Phân ra như thế để thành phần đầu có được thứ nguyên của hằng số h (là
) và thành phần sau có được thứ nguyên của tần số
(là
).
Đưa giá trị bằng số của de và te vào, rồi tiếp tục biến đổi:
Từ đó, có thể viết:
Trong các tài liệu vật lý học ngày nay, hằng số Planck được xác định:
Để cho phù hợp, chúng ta lấy 0,64.10-26 (
) làm hằng số đó, và có:
Với:
(Hz đọc là “hec”, bằng
)
Cứ cho là chúng ta đã thành công khi qua được năng lượng toàn phần của
từ dạng mec2 về dạng
, tương tự như dạng mà Planck đã đưa ra, nhưng đó là tự nhiên hay giả tạo, và hơn nữa khi viết
dưới dạng
thì ta nói về môi trường, khi viết
dưới dạng mec2 thì ta nói về thực thể, nếu đó là một thực tại khách quan thì duyên cớ nào đã làm cho h* phải tăng lên 1020 lần và
phải giảm xuống 10-20 để về với dạng mà vật lý hiện đại đã hoàn toàn công nhận sự đúng đắn của nó?
Theo quan niệm của chúng ta, tốc độ lan truyền của
bằng c - vận tốc cực đại tuyệt đối trong Vũ Trụ thực tại – và:
Từ đó có thể hình dung: bước sóng ngắn nhất có thể tồn tại trong Vũ Trụ là 3.10-28 và tần số cao nhất có thể tồn tại trong Vũ Trụ là 1038 dao động trong 1s.
Đối với các bức xạ điện từ, do vận tốc lan truyền của chúng xấp xỉ bằng c hoặc đúng bằng c, nên tồn tại mối quan hệ giữa bước sóng (biểu hiện của chuyển động di dời) và tần số (biểu hiện của vận động xoáy nội tại):
tăng thì
giảm một cách tương ứng, và ngược lại, sao cho c không
đổi, hay năng lượng toàn phần không đổi. Tuy nhiên có thể suy đoán
rằng, mỗi loại bức xạ điện từ đều có một tần số cực đại, do đó có một
bước sóng cực tiểu đặc trưng cho nó, và khi lan truyền tự do trong chân
không thì sự lan truyền đó luôn mang giá trị tần số và bước sóng đó. Khi
một bức xạ điện từ lan truyền từ môi trường chân không sang môi trường
khác (gọi là chiết quang hơn) thì tùy thuộc vào điều kiện của môi trường
ấy, không những vận tốc lan truyền của bức xạ phải nhỏ hơn c mà
bước sóng và tần số lan truyền cũng phải biến đổi giá trị cho phù hợp.
Có thể suy rộng: một bức xạ điện từ lan truyền “tự do” trong bất cứ môi
trường thuần nhất và “mở” (không cô lập) nào cũng được đặc trưng bởi một
tần số và bước sóng xác định. Khi lan truyền trong môi trường chiết
quang hơn, bức xạ điện từ phải giảm xuống tốc độ c'<c (đo
theo đơn vị thời gian của hệ quan sát đặt trong chân không), và nếu
năng lượng toàn phần của nó không đổi (nó vẫn là nó) thì cường độ vận
động nội tại của nó phải tăng lên một cách tương ứng. Có thể gán cho vận
động (chính là sự xoáy) nội tại của một bức xạ điện từ một vận tốc chu
vi biểu kiến nào đó, và khi cường độ xoáy nội tại của bức xạ điện từ
tăng lên thì chỉ có thể là vận tốc chu vi đó tăng lên về giá trị (đây
chính là nguyên nhân sâu xa nhất của hiện tượng khúc xạ). Rõ ràng, theo
góc độ nhìn nhận này thì tần số của bức xạ không tăng. Tuy nhiên nếu đo
theo đơn vị thời gian của môi trường mà bức xạ đang lan truyền trong đó
thì khi bước sóng lan truyền của bức xạ thay đổi so với giá trị của nó
trong chân không, tần số lan truyền cũng phải thay đổi theo sao cho vận
tốc của bức xạ cũng được thấy là bằng G.
Khi
một số đông bức xạ điện từ phải lan truyền (vì không thể không lan
truyền theo yêu cầu về bảo toàn chuyển hóa KG) trong một vùng chân
không đã bị cô lập thì chúng không còn được lan truyền tự do nữa mà
mang tính cưỡng bức, thường xuyên thay đổi hướng và chuyển hóa qua lại
giữa động năng (vận động tịnh tiến) và nội năng (vận động xoáy). Tùy
thuộc vào mật độ bức xạ điện từ trong vùng chân không cô lập mà tác
động cưỡng bức (kích thích) đến sự vận động mà từng bức xạ điện từ,
tính một cách trung bình cao hay thấp, nhiều hay ít…, thể hiện thông qua
các thông số trạng thái: áp suất, thể tích, nhiệt độ. (Chú ý, cần phải
thấy rằng đến một tầng nấc vi mô nào đó, sẽ không còn cảm nhận nhiệt
độ, áp suất...nữa. Có lẽ trong tương lai, phải xây dựng một nền tảng
nhận thức khác!...)
Xét
ở góc độ về nhịp điệu chuyển hóa KG, vận động của một bức xạ điện từ,
dù là trong vùng kg cô lập bị kích thích mạnh, miễn nó vẫn là nó (vẫn
đảm bảo được sự liên kết nội tại), thì tần số của nó vẫn không đổi. Tính
đối xứng của vùng chân không bị cô lập cùng với tổng hòa vận động của
số đông các bức xạ điện từ sẽ dẫn đến hình thành một vùng môi trường cân
bằng động, hay nhìn ở góc độ khác là một hệ cô lập có nội tại ở trạng
thái cân bằng nhiệt động.
Theo
chúng ta quan niệm, thực thể đóng vai trò lượng tử nhỏ nhất có thể tồn
tại lâu dài một cách độc lập của bức xạ điện từ là hạt
. Nó tồn tại dưới hai dạng cơ bản là một điểm xoáy (hạt xoáy) khi định xứ và là một dây sóng khi lan truyền với vận tốc c. Có thể biểu diễn toán học hai dạng ấy:
Với
cũng mang nội dung năng lượng toàn phần
m1 khối lượng của 
Quan niệm như thế sẽ phải dẫn đến cho rằng hạt
không
phải là bức xạ điện từ dù “quĩ đạo” lan truyền của nó cũng có dạng
sóng. Vậy tần số cực đại trong Vũ Trụ không phải là tần số vận động nội
tại của
mà chính là tần số
của
.
Giả sử có k hạt
rời rạc hợp thành một luồng bức xạ điện từ lan truyền đồng hướng trong chân không thì có thể viết:
và hiểu rằng, một khi thấy năng lượng toàn phần của luồng bức xạ điện từ ấy tăng hoặc giảm thì có nghĩa là số lượng các hạt
đã được thêm vào hoặc bớt đi.
Nhưng nếu k hạt
ấy có mối liên kết nào đó với nhau hợp thành một thực thể bức xạ điện từ thì không thể biểu diễn:
Biểu
diễn như thế sẽ dẫn đến ngộ nhận rằng, sự tăng giảm tần số dẫn đến sự
tăng giảm về khối lượng của thực thể bức xạ điện từ hoặc ngược lại, một
cách tỷ lệ thuận. Nhưng trong thực tại đã không xảy ra như thế. Trong
môi trường mở và thuần nhất, một thực thể bức xạ điện từ, tùy thuộc vào
năng lượng toàn phần của nó mà có một giá trị tần số xác định, và giá
trị này không đổi. Theo quan niệm của chúng ta thì lượng tử nhỏ nhất của
bức xạ điện từ là
.
Biểu diễn toán học về nó chỉ ra rằng năng lượng toàn phần của nó là
lượng năng lượng nhỏ tuyệt đối nhưng tần số mà nó mang lại có giá trị
cực đại tuyệt đối trong Vũ Trụ thực tại. Từ đó suy ra: một thực thể bức
xạ điện từ có năng lượng toàn phần (hay khối lượng) lớn hơn của
thì tần số của nó phải nhỏ hơn tần số của
.
Không thể có chuyện trong hai thực thể bức xạ điện từ, thực thể nào có
khối lượng (hay tần số) lớn hơn thì tần số (hay khối lượng) của nó cũng
lớn hơn của thực thể kia. Nghĩa là quá trình làm hình thành nên các thực
thể bức xạ điện từ phải tuân theo qui luật khối lượng tỷ lệ nghịch với
tần số.
Vì có thể viết:
Và:
Nên:
Khi cho rằng:
Thì:
Từ đó, đối với
có thể biểu diễn:
Suy ra:
Năm
1924, nhà vật lý học người Pháp tên là Louis De Broghe đã có ý tưởng
tách bạch, mở rộng quan niệm sóng – hạt về ánh sáng và cho rằng không
chỉ ánh sáng mà nói chung, mọi hạt vật chất đều mang tính sóng. Nếu có
thể thì các công thức mô tả tính chất sóng của các hạt và tính chất sóng
của ánh sáng phải trùng nhau. Từ đó, ông nêu ra giả thuyết:
Chuyển động của một hạt tự do với xung lượng p=mv và năng lượng (động năng) E được biểu diễn bằng một sóng phẳng lan truyền theo phương chuyển động của hạt với bước sóng
và tần số
thỏa mãn hệ thức:
Từ hai hệ thức đó có thể suy ra được:
, với
.
Sóng phẳng vật chất đó được gọi là sóng De Broglie (sóng D.B). Sự tồn tại của nó đã được thực nghiệm vật lý xác nhận.
Từ biểu thức suy ra vừa rồi của chúng ta cũng dẫn đến giả thuyết về sự tồn tại (ảo) của sóng DB.
Sự
chuyển hóa qua lại giữa động năng của một vật và nội năng của nó gợi
nên ý niệm (dù là giả tưởng): động năng cực đại của một vật bằng năng
lượng toàn phần của nó. Ý niệm cho thấy vì sao Broglie xuất phát từ một
phán đoán đúng, thông qua một dẫn dắt ngộ nhận lại đi đến một kết quả
đúng.
Giả sử có một thực thể có khối lượng mv, có năng lượng toàn phần hay động năng cực đại E=mvc2. Hoàn toàn có thể viết biểu thức suy ra của chúng ta cho mv:
Suy ra:
Hay:
Vì cho rằng thực thể đó đang chuyển động với vận tốc v nào đó và nó vẫn là nó (nghĩa là liên kết nội tại của nó chưa bị phá vỡ) nên khối lượng mv vẫn được bảo toàn hay nói cách khác là không đổi, do đó chỉ còn một khả năng xảy ra:
Cuối cùng:
Khi bức xạ
từ chân không lan truyền vào môi trường chiết quang hơn thì tốc độ của nó giảm xuống từ c còn c'. Gọi bước sóng và chu kỳ của bức xạ
trong chân không là
và
. Trong môi trường chiết quang hơn, hai giá trị bước sóng và chu kỳ ấy chuyển biến thành
và
.
Để tiếp tục tìm hiểu vì sao h*=h.1020,
trước hết, chúng ta viết lại hai biểu thức (1’) và (2’) trong số 6 biểu
thức mà chúng ta đã từng thiết lập được và cho rằng chúng rất cơ bản,
với điều kiện
:
Và:
Với
là quãng đường lan truyền tịnh tiến đạt được trong chân không của
sau khoảng thời gian
.
X1 là quãng đường lan truyền tịnh tiến đạt được trong môi trường chiết quang hơn của
sau khoảng thời gian t1 (đo theo đơn vị thời gian trong môi trường chiết quang ấy).
v có
thứ nguyên vận tốc, nhưng không phải là vận tốc thực của một vật nào mà
chỉ đóng vai trò như số chỉ mức vận động (hoạt động) hay sự cản trở vận
động… của môi trường chiết quang đang xét. Nếu qui ước mức cản trở vận
động trong chân không bằng 0 thì mức đó trong môi trường chiết quang
đang xét là bằng v.
Khi môi trường chiết quang là thuần nhất và mở (không cô lập) thì v tương đối nhỏ, do đó sự chênh lệch giữa
và
, giữa
và
ít, có khi không đáng kể và có thể cho
.
Khi
môi trường là một vùng kg bị cô lập hoàn toàn một cách lý tưởng (nhớ là
không thể tuyệt đối được!) và trong đó gồm số đông các hạt
,
thì mức chiết quang trong môi trường ấy tăng vọt có tính đột biến, và
tính thuần nhất bị thay thế bằng tính nhiễu loạn (hỗn loạn), làm cản trở
nghiêm trọng đến tốc độ lan truyền tịnh tiến của
. Tuy nhiên, sự chuyển hóa KG kịp thời là không thể vi phạm được, cho nên mức độ vận động của
vẫn được bảo đảm, nghĩa là đại lượng mvc2 của nó vẫn bảo toàn. Vì v tăng rất cao nên c' giảm xuống rất thấp làm cho lượng động năng tịnh tiến của
cũng
suy giảm mạnh theo. Nhưng vì chuyển hóa KG là không thể trì hoãn được
nên coi như lượng động năng suy giảm đó đồng thời cũng nhanh chóng
chuyển hóa thành năng lượng xoáy nội tại của
(thành phần m01c2), và vận động này trở nên nổi trội, thể hiện “lấn át” vận động tịnh tiến của
.
Muốn thế, phải suy đoán rằng, sự cản trở đến lan truyền bức xạ điện từ
của một môi trường có nguyên nhân từ mật độ vật chất và vận động vật
chất trong môi trường ấy, và được “phân ra” thành hai thành phần có mối
quan hệ nhân quả mật thiết với nhau. Một thành phần có tác dụng chủ yếu
cản trở sự lan truyền thẳng và thành phần kia có tác dụng cản trở sự lan
truyền xoáy của bức xạ điện từ. Khi sự cản trở lan truyền tịnh tiến của
bức xạ điện từ tăng lên thì sự cản trở lan truyền xoáy của bức xạ điện
từ giảm xuống và ngược lại. Có thể dựa vào biểu thức cơ bản (4) trong
trường hợp
để biểu diễn sự cản trở ấy như sau:
với: M là mức cản trở tổng hợp của môi trường
Vm: thể tích của môi trường
m: tổng khối lượng vật chất trong môi trường
mc2: năng lượng toàn phần của môi trường
V: số chỉ mức độ cản trở lan truyền tịnh tiến của bức xạ điện từ
U: số chỉ mức độ cản trở lan truyền xoáy của bức xạ điện từ
Trong chân không, V=0, do đó U=C, suy ra bức xạ điện từ truyền thẳng. Trong vùng chân không hạn định và bị cô lập, số đông lượng hạt
trong đó làm ảnh hưởng mạnh đến V và U, có thể làm đạt đến tình trạng U=0, do đó V=C, nghĩa là tất cả các
hiện diện trong môi trường đó đều định xứ và xoáy hết khả năng.
Tình
trạng đó rõ ràng là lý tưởng, phi thực! Dù sao thì cũng có thể rút ra
kết luận: vận động nội tại của một hệ cô lập, ít nhiều gì cũng đều có
tính xoáy.
(còn tiếp)
(còn tiếp)
THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG 48/d
Thứ Bảy, tháng 12 05, 2015CHƯƠNG VIII: NÓNG – LẠNH
“Nhiệt thể hiện ở chuyển động của các hạt vật chất.”
M.V. Lômônôxốp
“Tính
chất kỳ lạ nhất của năng lượng là khả năng biến đổi của nó. Một trong
những dạng phổ biến nhất của năng lượng trong tự nhiên là năng lượng
chuyển động hay động năng. Năng lượng nhiệt là nguồn dự trữ động năng
của các phân tử hoặc nguyên tử chuyển động hỗn loạn và liên tục.”
K.A Gladkov
(tiếp theo)
Như vậy, trong chân không, xét về mặt cản trở U,
có thể nói là mức chiết quang đạt cực đại, và mọi môi trường khác chân
không, về mặt cản trở, đều kém chiết quang hơn, đó là những môi trường
kg bị cô lập, chứa số đông bức xạ điện từ là những môi trường kém chiết
quang nhất.
Trên cơ sở hình dung đó và đặt
thì sẽ suy đoán ra biểu thức:
Nếu C' là tốc độ lan truyền tịnh tiến của
thì C'' là tốc độ xoáy của nó. Có thể thấy khi U<<V thì C''>>C', nghĩa là có thể có trường hợp dù C'' vẫn nhỏ hơn C nhưng coi như xấp xỉ bằng C. Khi
, tỷ số
dù vẫn nhỏ hơn 1 thì cũng “rất gần” với 1. Có thể biểu diễn sự rất gần ấy là:
Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện mối quan hệ:
Chúng ta đã có một phát hiện về sự biểu hiện lạ lùng nhưng kỳ diệu của lượng tử
.
Trước hết, chúng ta nhắc lại:
Từ đó, chúng ta dò được một biểu diễn mới:
Và: 
Chưa hết lạ lùng vì còn có:
và: 2,882=8,2944
Theo
qui ước về thang đo nhiệt độ và thực nghiệm vật lý chỉ ra số chỉ nhiệt
độ của một mol khí ở điều kiện tiêu chuẩn thì có thể phân bố lại 1010 sao cho phù hợp với thực nghiệm vật lý như sau:
Nghĩa là: 
Vậy thì hằng số Bônzman cũng được xác định:
Ôi,
Thực Tại và Hoang Đường, tưởng là muôn trùng cách biệt mà sao gần gũi
nhau đến thế! Phải chăng, khi đã đắm đuối yêu tin thì Hoang Đường là
thực tại, và khi sự yêu tin ấy đã rạn vỡ thì Thực Tại cũng bỗng chốc trở
nên Hoang Đường?! Mới hay, chân lý khách quan nhiều khi cũng trú ngụ ở
những nơi tầm thường, đơn giản nhất. Nhưng chính ở những nơi ấy, chân lý
lại ít bị phát giác nhất và nếu có bị nhận diện thì cũng thường là hời
hợt qua loa. Chắc rằng từ xưa tới nay, chưa có một nhà triết học nào lại
có ý định tìm chân lý ở phép nhân 1x1=12=1.
Để
tưởng thưởng cho sự phát hiện ra một biểu hiện lạ lùng và tuyệt diệu
của tự nhiên ở trên, và cũng để giải lao cho đỡ mệt mỏi, chúng ta ngâm
bài thơ:
TUYỆT TÁC
Nếu ai hỏi bông hoa nào thắm nhất
Thì anh nói rằng bông hoa đó là em
Chẳng phải bông hồng, bông huệ, bông sen
Bông bạc, bông vàng, bông kim cương chăng nữa
Nếu trời bảo cho anh hai người vợ.
Anh chọn vợ rồi lại sẽ lựa thêm em.
Khuôn mặt thanh xuân tỏa ngát êm đềm
Làn tóc vén hờ khéo khoe vầng trán mịn
Ánh mắt trong veo thoáng vương buồn thánh thiện
Bầu má trinh nguyên chan chứa hiền ngoan.
Chiếc mũi thon vẽ lên nét đoan trang
Đôi môi thắm đã đến thời ngọt lịm
Khi em cười là bộ niềm e thẹn
Vì cố giấu đi hàng răng trắng tinh khôi
Cổ em cao, tròn lẳn, mướt ánh ngời
Vươn ngạo nghễ say sưa vầng nhật nguyệt
Tượng Vệ Nữ còn đôi khi tỳ vết
Em tiên giáng trần, toàn bích những đường cong.
Trên đời này thắm nhất là bông em
Hiển hiện bên đường, có biết mình rực rỡ
Mà rúc rích cười hồn nhiên trong lá, cỏ
Chưa lọt mắt ai nên chưa biết đợi chờ?
Khách vãng lai nào có thể ngờ
Bên vệ đường có bông hoa tươi thắm
Người ta đến chỉ dừng chân đứng ngắm
Cảnh sắc đẩu đâu, non nước tít xa vời…
Họ biết đâu rằng tuyệt tác rất gần thôi!
Tầm
quan trọng đặc biệt của điều vừa phát hiện ra là ở chỗ nó đã mách bảo
cho chúng ta biết rằng, thực sự có mối quan hệ sâu sắc giữa hiện tượng
chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí và hiện tượng nhiễu loạn bức xạ
điện từ. Thậm chí, sự phát hiện ấy đã hé lộ về bản chất đích thực của
nhiệt và nhiệt độ.
Hoàn
toàn là do ngẫu nhiên nhưng không hẳn là tình cờ mà chúng ta phát hiện
được mối quan hệ giữa lượng tử bức xạ và nhiệt độ tồn tại ngay trong
phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử. Dù sao đi nữa thì chúng
ta không thể không có chút ít vui mừng và tự hào nào về sự phát hiện
ấy. Chính vì vậy mà chúng ta đã tự thưởng cho mình bài thơ tự sáng tác ở
trên, và bây giờ, để tự nịnh mình một cách… khách quan(?!), chúng ta
nhắc lại lời của nhà nghiên cứu lịch sử khoa học tên là Norwood Russell
Hanson: “Người quan sát mẫu mực không phải là người thấy và thông báo
lại cái những người quan sát bình thường đã thấy và thông báo lại, mà là
người thấy trong các sự vật quen thuộc cái chưa ai từng thấy”.
Không
phải sau bất cứ sự hoan hỉ, vui thú tưng bừng nào cũng đều có tâm trạng
mãn nguyện hoàn toàn. Đúng là như vậy! Lúc này, sau khi đã tự nịnh, tự
sướng, tự tung hô vang trời rồi, chúng ta bỗng cảm thấy hời hợt dạ: biết
đâu chừng cái biểu thức:
thực
ra chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi và cũng chỉ đúng trong điều
kiện tiêu chuẩn? Dễ thấy rằng vế trái của biểu thức là một bất biến, R là hằng số, vậy T làm sao biến đổi được?
Trước một câu hỏi như thế mà không chột dạ mới lạ!
Tuy
nhiên, sự chột dạ của chúng ta tồn tại không lâu lắm. Bởi vì chính câu
hỏi về sự biến đổi nhiệt độ ấy lại gợi ý ra một cách giải thích khả dĩ.
Làm
sao mà thay đổi được nhiệt độ của một hệ khi hệ đó đã ở trạng thái cân
bằng nhiệt động và nhất là đã bị cô lập một cách lý tưởng? Nên nhớ rằng,
phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử ở dạng nguyên thủy chỉ
biểu diễn mối quan hệ nhân quả giữa ba đại lượng đặc trưng cho trạng
thái của một hệ cô lập là động năng trung bình của phân tử khí
, áp suất P và thể tích V mà không hề đả động gì đến nhiệt độ To. Nghĩa là phương trình cơ bản chỉ nêu ra rằng, nếu cho trước một hệ cô lập có
thì
này không đổi, do đó tích PV của hệ cũng không đổi. Nếu cho V (hay P) tăng (hay giảm) thì P (hay V) buộc phải giảm (tăng theo) một cách tương ứng, sao cho
không đổi. Như vậy, T không đổi mặc nhiên là điều kiện tất nhiên của phương trình cơ bản.
Chỉ
khi đặt mối liên hệ giữa phương trình cơ bản của nhiệt động học và
phương trình trạng thái khí lý tưởng và kết hợp chúng lại với nhau thì
từ đó mới rút ra được biểu thức biểu diễn mối quan hệ giữa
và T. Vì
hay tích PV không đổi nên T cũng
không thể biến đổi được. Như vậy, biểu diễn ấy không phải là cảnh được
trích ra từ một bộ phim sống động về sự biến đổi của T mà chỉ là bức ảnh chụp trạng thái của một hệ cô lập chứa một mol
vào
bất cứ lúc nào, với bất cứ trạng thái cân bằng nhiệt động nào của hệ,
và bức ảnh đó bao giờ cũng cho thấy duy nhất một giá trị T không đổi.
Giả sử chúng ta làm giảm V, do đó làm tăng P của một hệ nhiệt động có
(không đổi), và quá trình đó tuân theo phương trình cơ bản của nhiệt động học (nghĩa là T không
đổi trong suốt quá trình). Thể tích giảm làm áp suất tăng là báo hiệu
mật độ phân tử khí của hệ tăng. Có thể nói ngược lại: mật độ phân tử khí
tăng (trong khi số lượng phân tử khí không tăng và cả
của hệ cũng không tăng) là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tăng áp suất P của
hệ. Theo chúng ta thì hiện tượng này được giải thích như sau: mật độ
tăng sẽ làm cho mức hỗn loạn của chuyển động phân tử tăng lên, dẫn đến
số lần các va chạm trong đơn vị thời gian của các phân tử khí tăng lên
theo, từ đó mà xuất hiện một số phận phân tử khí có động năng cao hơn
mức động năng cao nhất khi chưa tăng mật độ, đến đập vào vách ngăn giữa
hệ cô lập với môi trường ngoài gây tăng P; tuy nhiên sự tăng động năng ấy phải tuân theo điều kiện (qui luật nào đó)
vẫn không đổi.
Chúng ta cho rằng sự giải thích định tính về hiện tượng V giảm, P tăng
tuân theo phương trình cơ bản của nhiệt động học như trên là thỏa đáng.
Nếu vậy, phải xét lại quan niệm của nhiệt học ngày nay: sự vận động hỗn
loạn của phân tử, nguyên tử khí là nguyên nhân làm xuất hiện nhiệt độ
(sự nóng – lạnh). Trên cơ sở quan niệm đó không thể giải thích được vì
sao trong trường hợp ở trên, rõ ràng là mức độ hỗn loạn trong chuyển
động của các phân tử khí tăng lên mà nhiệt độ T không tăng.
Bây giờ, chúng ta chuyển sang giả tưởng khác. Cho một hệ thỏa mãn hệ thức
,
trong đó chứa một mol khí lý tưởng cô lập về mặt trao đổi vật chất
nhưng không cô lập về mặt truyền nhiệt với môi trường ngoài, và đang ở
trạng thái có nhiệt độ T. Muốn tăng (hay giảm) T, chúng ta chỉ có cách làm tăng (hay giảm) nhiệt độ của môi trường chứa hệ sao cho nhiệt độ đó cao hơn (hoặc thấp hơn) T.
Theo quan điểm của nhiệt học, do có sự truyền nhiệt từ ngoài vào (hoặc
từ trong hệ ra) làm cho mức độ hỗn loạn của chuyển động các phân tử khí
trong hệ tăng lên (hoặc giảm xuống) mà dẫn đến nhiệt độ T của hệ tăng (hoặc giảm đi).
Quan điểm đó đã vi phạm đến thuyết động học phân tử do chính nhiệt học xây dựng nên. Chỉ cần xét trường hợp T tăng cũng thấy điều đó. Khi T của hệ tăng thì theo phương trình trạng thái khí lý tưởng, tích P.V phải tăng. Nhưng theo phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử thì khi P.V tăng,
phải tăng lên một cách tương ứng. Nhưng
tăng
đồng nghĩa với mức độ hỗn loạn của chuyển động các phân tử khí trong hệ
tăng lên, và sự tăng mức độ hỗn loạn này phải liên quan tới sự tăng mật
độ phân tử khí. Làm sao tăng mật độ phân tử khí khi không có sự trao
đổi chất với bên ngoài trong khi V không
giảm mà thậm chí còn tăng? Hơn nữa nhiệt truyền từ môi trường vào hệ
bằng cách nào nếu không thông qua sự va chạm giữa các phân tử của vách
ngăn và của hệ? Nếu trong quá trình truyền nhiệt vào hệ, bằng cách nào
đó cho P không đổi, nghĩa là cho V tăng lên một cách tương ứng, thì quá trình đó chỉ dừng lại khi nhiệt độ môi trường và nhiệt độ của hệ bằng nhau. Khi P không
đổi thì có nghĩa lực va chạm tạo ra áp suất của các phân tử trên vách
ngăn không đổi nhưng diện tích vách ngăn tăng lên nên số lượng các lực
ấy phải tăng lên. Nhưng làm sao mà số lượng lực gây áp suất trên vách
ngăn tăng lên được khi mật độ phân tử khí giảm xuống có nguyên nhân từ
sự tăng V? Ngoài ra, mật độ phân tử khí giảm xuống thì mức độ
chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí giảm theo, làm xuất hiện một
quá trình tự giảm nhiệt độ của hệ “bên cạnh” sự làm tăng nhiệt độ hệ của
môi trường bên ngoài…
Bức
tranh với nhiều cảnh mâu thuẫn nhau đến kỳ dị như thế có phù hợp với
thực tại không? Chúng ta không tin nó phù hợp với thực tại, và ngay cả
thế giới hoang đường cũng không dung túng nó. Bởi vì nó là đứa con ảo
tưởng được sinh ra từ sự hôn phối giữa thực chứng cực đoan và suy tưởng
mê lầm. Nói toạc ra: tại chính bản thân chúng ta đây còn… dốt, chứ chẳng
tại ai cả.
Chúng ta viết lại phương trình trạng thái khí lý tưởng dưới dạng tổng quát của nó:
Với m là tổng khối lượng của các phân tử khí
Xét trường hợp cho tích PV tăng trong điều kiện m không đổi. Rõ ràng PV tăng sẽ làm mật độ phân tử khí trong hệ tăng dẫn đến mức độ hỗn loạn của chuyển động phân tử tăng và do đó làm tăng nhiệt độ T. Để tránh tăng nhiệt độ do ma sát, chúng ta tăng PV một
cách từ từ chậm rãi, trong điều kiện hệ đã được cách nhiệt (cô lập về
mặt truyền nhiệt) với môi trường ngoài. Hỏi: trong “thực tế” nhiệt độ
của hệ có tăng theo đúng qui luật mà phương trình tổng quát ở trên chỉ
ra không, hay tốc độ tăng không đáng kể, thậm chí là không tăng? Trong
đời sống hàng ngày chúng ta thấy rất rõ điều này: hai bình khí áp chứa
lượng khí bằng nhau, dù có tích PV khác
nhau, vẫn có thể bằng nhau về nhiệt độ. Vậy thì nhiệt độ có liên quan
như thế nào đến sự chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí?
Trong thực tế còn có hiện tượng: khi tăng PV của
một bình chứa khí kín, và được cách nhiệt (hệ cô lập về mặt truyền
nhiệt và trao đổi vật chất), không thể làm tăng nhiệt độ trong bình lên
đến nhiệt độ cần có để tạo ra được lượng PV ấy.
Nghĩa là quá trình ấy không tuân theo, ít ra là một cách định lượng,
phương trình tổng quát về trạng thái khí. Nói nôm na: quá trình chuyển
nhiệt thành công hiệu quả hơn quá trình chuyển công thành nhiệt.
Đến đây, chúng ta xét lại trường hợp tăng nhiệt độ của hệ (bình khí) nhưng không làm tăng PV của
nó. Quá trình nung nóng bình không cho phép nó truyền nhiệt ra bên
ngoài và nó cũng đang bị cô lập về mặt trao đổi vật chất với bên ngoài.
Vậy thì nhiệt “đi đâu” để đảm bảo cho phương trình trạng thái nghiệm
đúng? Tuân theo phương trình trạng thái thì chỉ có câu trả lời duy nhất:
cho dù có nung nóng lâu bao nhiêu thời gian đi nữa, nhiệt độ trong bình
vẫn giữ nguyên số đo như trước khi bị nung nóng. Rất lạ?! Hay là khi
tăng T, không thể giữ được PV không đổi?
Nếu đem bình đó đặt vào môi trường có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ T trong
bình rất nhiều và nếu bình không cách nhiệt thì nó có truyền nhiệt ra
môi trường không? Tất nhiên là có rồi! Khi nhiệt từ trong bình truyền ra
ngoài thì mức độ chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí trong đó
giảm. Nhưng chuyển động hỗn loạn giảm mức độ chỉ khi mật độ phân tử khí
trong bình giảm, và vì khối lượng m không đổi nên V phải tăng. Nhưng nếu không cho V tăng?
Thì mật độ phân tử khí trong bình không đổi làm cho mức độ hỗn loạn
chuyển động của các phân tử khí được bảo toàn và không thể xảy ra sự
truyền nhiệt từ trong bình ra môi trường.
Thật
là tệ hại! Tất cả mọi ngả đường đi tìm lời biện minh để bảo vệ sự đúng
đắn của phương trình trạng thái khí lý tưởng và phương trình cơ bản của
thuyết nhiệt động phân tử đều dẫn đến bế tắc! Tương tự như trường hợp
của Planck khi ông trong nỗi tuyệt vọng cùng cực, đã phải bám víu vào
cái mà ông không muốn bám vì theo quan niệm truyền thống của ông là
không thể tưởng tượng nổi, ở đây cũng vậy, tình huống đã đặt ra: là tư
duy tỉnh táo cấm lựa chọn cái không thể chọn nhưng vẫn phải “cắm đầu”
chọn vì chỉ còn duy nhất cái đó.
Đó là cái tỷ số
hiện
diện trong hai phương trình cơ bản của nhiệt động học. Để cứu vãn hai
phương trình cơ bản đó vượt thoát khỏi sự “chà đạp” của “trái núi” mâu
thuẫn thì phải cho rằng có sự biến đổi khối lượng m trong
các quá trình biến đổi nhiệt động của một hệ dù có cô lập hay không cô
lập. Chẳng hạn khi nung nóng một hệ trong khi từ bên ngoài tác động sao
cho PV không tăng thì nhiệt độ trong hệ vẫn tăng dù có thể là chậm. Nhiệt độ trong hệ tăng kèm theo với sự giảm của m làm cho tỷ số
giảm
một cách tương ứng, sao cho thỏa mãn hai phương trình cơ bản của nhiệt
động học. Hay, chẳng hạn dùng tác động từ bên ngoài làm tăng PV của một hệ để tăng nhiệt độ hệ. Tuy nhiên, quá trình tăng PV đó cũng đồng thời làm giảm
, dẫn đến tăng tỷ số
, do đó nhiệt độ trong hệ tăng ít.
Theo
quan niệm của triết học duy tồn thì trong Vũ Trụ thực tại không thể
cách ly tuyệt đối được một thực thể KG bất kỳ với môi trường chứa nó.
Trên cơ sở quan niệm đó, xét riêng về phương diện nhiệt động, chúng ta
có thể nêu ra nội dung có ý nghĩa như là một nguyên lý cơ bản. Không thể
cô lập triệt để được về mặt trao đổi vật chất với môi trường ngoài đối
với mọi quá trình xảy ra trong các hệ nhiệt động.
Tuân theo nguyên lý đó, buộc tỷ số
phải tăng, giảm phù hợp trong một quá trình nhiệt động, nghĩa là m hay
phải
biến đổi. Nhưng biến đổi bằng cách nào khi về mặt trực giác cũng thấy
rằng các phân tử khí đã bị “nhốt” trong hệ cô lập không thể vượt thoát
qua vách ngăn ra ngoài và các phân tử khí ở môi trường ngoài không thể
đi xuyên qua vách ngăn xâm nhập vào hệ được?
Nếu suy ngẫm kỹ, chúng ta thấy điều tế nhị này: tỷ số
có,
tính phổ biến, áp dụng cho mọi chất khí được chọn làm khí lý tưởng. Nó
không cần “đếm xỉa” đến khối lượng của một phân tử khí của chất khí được
chọn làm khí lý tưởng trong hệ cô lập và chỉ “quan tâm” tới vấn đề có
bao nhiêu mol khí trong hệ cô lập đang xét, nghĩa là có bao nhiêu hạt
phân tử khí trong đó. Xét cho đến cùng thì một phân tử khí lý tưởng cũng
chỉ là sự hợp thành của một lượng hạt
nào
đó, và lượng này là không đổi ở mọi phân tử khí lý tưởng trong hệ cô
lập đang xét. Do đó, có thể thay thế một phân tử khí lý tưởng bằng một
bức xạ điện từ
và
bỏ thuật ngữ “khí lý tưởng” đi thì hai phương trình cơ bản của nhiệt
động học vẫn giữ nguyên dạng nhưng mang một ý nghĩa hoàn toàn mới, thật
sự sâu sắc.
Trên cơ sở phân tích đó và kết hợp với hai phương trình cơ bản của nhiệt động học, chúng ta nêu ra biểu diễn tổng quát:
Với: N là tổng số bức xạ điện từ (hay hạt)
, nó được xác định:
N=n.a
Với n là số Avôgadrô
a là số chỉ lượng mol hạt
có trong hệ nhiệt động
P, V, T là áp suất, thể tích và nhiệt độ của hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động nào đó.
Chúng ta biến đổi vế đầu của biểu diễn:
Nếu không chú ý đến thứ nguyên thì:
Do đó:
Khi a=1 và hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động trong điều kiện tiêu chuẩn thì:
Thành phần
dễ gây ngộ nhận về mặt thứ nguyên của biểu diễn (năng lượng bình phương). Do vậy, chúng ta triển khai
dưới dạng hơi khác:
Đặt 
Nghĩa là b=a.1,8432.1018 và là số tự nhiên.
Vậy: 
Ở đây, có thể hiểu: b là tổng số bức xạ
có trong hệ.
Chắc rằng, sự hình thành các bức xạ điện từ “nặng” hơn bức xạ
có
liên quan mật thiết đến mật độ bức xạ trong hệ nhiệt động. Khi mật độ
bức xạ tăng cao, trước yêu cầu nghiêm ngặt về chuyển hóa KG, xu hướng
lan truyền thoát ra ngoài hệ (nơi có mật độ bức xạ thấp hơn) trở nên rõ
rệt. Khi hướng ưu tiên lan truyền ấy bị cản trở, sẽ nảy sinh xu thế các
bức xạ kết hợp nhau lại thành những bức xạ có tần số thấp hơn nhưng
“nặng” hơn. Đó là sự chuyển biến làm giảm động năng tịnh tiến, tăng
cường động năng xoáy, nhằm mục đích chống lại sự nhiễu loạn bức xạ có
nguy cơ đạt mức thái quá. Mật độ càng cao thì hiện tượng kết hợp đó càng
xảy ra nhiều trong một khoảng thời gian nhất định, và qui mô của một
kết hợp cũng tăng. Có lẽ đó là cách làm hình thành nên các hạt cơ bản ở
tầng hạ nguyên tử, những tiền đề làm xuất hiện các thực thể KG ở tầng vĩ
mô, từ các nguyên tố vật chất đến các hành tinh, thiên hà.
Giả sử trong một hệ cô lập có b bức xạ
và đang ở trạng thái cân bằng nhiệt động nào đó, mở ra điều kiện kết hợp hoàn toàn, k bức xạ
thành một bức xạ
thì số lượng bức xạ
trong hệ lúc này (thay thế số lượng bức xạ
) là:
và năng lượng bức xạ
(thay thế cho năng lượng bức xạ
) là:
Như vậy:
Thực
tại chỉ ra rằng trong một trạng thái cân bằng nhiệt động không phải chỉ
có một loại mà có nhiều loại bức xạ cũng tồn tại (dù có thể trong số đó
có một loại có số lượng lớn nhất đóng vai trò đặc trưng), cho nên có
thể gọi
là
lượng bức xạ trung bình, đại diện chung cho các loại bức xạ có thể có ở
trạng thái cân bằng nhiệt động nào đó của một hệ cô lập tương đối.
(Trên
cơ sở giả thuyết về sóng vật chất của Broglie, chúng ta dễ dàng diễn
giải biểu diễn nêu trên trở về biểu diễn theo quan niệm của nhiệt động
học truyền thống!)
Kết
luận quan trọng rút ra được ở đây: chuyển động hỗn loạn của các phân tử
khí không phải là nguyên nhân đích thực (hay nguyên nhân chính yếu) tạo
ra hiện tượng nhiệt và nhiệt độ. Chuyển động đó chỉ là kết quả và đồng
thời là sự thể hiện ra của vận động vật chất ở tầng vi mô sâu hơn nữa –
tầng nền tảng. Đó là sự vận động nhiễu loạn của (số đông) bức xạ điện
từ. Chính sự vận động nhiễu loạn của các bức xạ điện từ mới là “thủ
phạm” trực tiếp gây ra hiện tượng nhiệt độ và sự truyền nhiệt. Tác nhân
cơ bản và chủ yếu quyết định đến xu hướng của quá trình nhiệt động trong
một hệ chính là mật độ bức xạ điện từ trong đó. Do yêu cầu nghiêm ngặt
phải chuyển hóa KG để đảm bảo Tồn Tại mà mức độ vận động nhiễu loạn của
các bức xạ điện từ tăng, giảm tùy thuộc vào sự tăng, giảm mật độ của
chúng. Cũng chính vì yêu cầu tuyệt đối nghiêm ngặt về chuyển hóa KG mà
không thể ngăn chặn tuyệt đối được sự thu, phát bức xạ điện từ giữa một
hệ (gọi là) cô lập và môi trường chứa hệ ấy.
Với
quan niệm về bản chất của nhiệt và nhiệt độ như trên, hơn nữa, nếu quan
niệm đó là đích đáng thì cần phải xây dựng lại lý thuyết nhiệt động
học, đưa nó lên tầm mức khái quát hơn, trong đó nhiệt động học chất khí,
chất lỏng, chất rắn… cũng như bức xạ nhiệt, đều chỉ là bộ phận của nó,
là những hệ quả được suy ra từ nội dung cơ sở gọi là “Nhiệt động học bức
xạ” và biểu diễn toán học tổng quát nhất có thể là:
với: b=1,84321.1018a, là tổng số bức xạ 
Biểu
diễn ấy có xác đáng không? Chúng ta không khẳng định dứt khoát, song vô
cùng tin tưởng vì đã thấy được trong Vũ Trụ hoang tưởng có một dẫn dắt
khác.
Trước hết chúng ta viết lại biểu thức cơ bản (6) áp dụng cho
:
với: m1 là khối lượng của 
d1 là đường kính danh nghĩa của 
t1 là chu kỳ vận động của 
Tiếp theo, chúng ta viết:
với V là thể tích một mol 
n là số Avôgadrô
Nên:
Có thể thay biểu diễn đó bằng:
Nên:
Ở vế trái của biểu diễn, coi như đã biết các giá trị bằng số của
, R, T, n. Tính ra:
Vậy, không cần tính cũng biết:
Tuy nhiên nếu tính ra thì thật ngạc nhiên vì nó bằng:
1,6276……1031
Thì ra, vì sai lầm trong nhận định, chúng ta đã bỏ sót “ông tướng”: 0,06144.10-4. Khi đưa “ông tướng” vào thì lúc đó:
Biết
và thực hiện vài thao tác, chúng ta sẽ trở về biểu diễn:
với 
Khi a=1 thì
một cách tự nhiên, trạng thái của hệ cân bằng nhiệt động ở điều kiện
chuẩn. Khi a=0, trong hệ không hiện diện một bức xạ điện từ nào, nghĩa
là môi trường kg trong hệ trống rỗng năng lượng, do đó T= oK . Chúng ta gọi trạng thái T=oK,
là
trạng thái cực hạn dưới. Thế thì có trạng thái cực hạn trên không?
Chúng ta có một hình dung vui! Giả sử có thể giữ nguyên giá trị Vo của hệ, đồng thời có thể phát đến cùng khả năng bức xạ
vào
hệ trong khi hệ không thể phát bức xạ trả lại môi trường ngoài. Quá
trình đó sẽ làm cho mật độ bức xạ trong hệ tăng lên đến cực hạn.
Chúng ta cho rằng, mật độ năng lượng khi đạt đến mức cực đại tuyệt đối cũng là khi các bức xạ điện từ “nặng” hơn bức xạ
,
được hợp thành từ quá trình tăng mật độ trước đó lại phân rã thành các
bức xạ điện từ “nhẹ” hơn để rồi phân rã hoàn toàn thành bức xạ
. Lúc này, vì động năng tịnh tiến của mỗi bức xạ
đều chuyển hóa hoàn toàn thành động năng xoáy nội tại nên các
đều
định xứ và biểu hiện như một hạt có nội tại xoáy. Phải coi đó là tình
trạng nhiễu loại ở mức cao nhất của bức xạ điện từ mà trong thực tại
khách quan may ra chỉ có thể xảy ra trong lòng các ngôi sao một cách hi
hữu. Tuy nhiên cần phải hoang tưởng ra tình trạng đó để tìm nhiệt độ cực
hạn trên của Vũ Trụ.
Trước đây, chúng ta đã từng suy đoán: để đảm bảo chuyển hóa KG thì khi định xứ và xoáy tột độ, nội tại
phải gồm 3 hạt kg (hạt không gian thông thường) và 2 hạt KG
trái
dấu (hạt không gian bị kích thích tột độ). Nếu quan sát ở trên cùng một
bình diện (loại bỏ sự tương phản âm – dương và nghịch đảo) thì thể tích
của 3 hạt
,
,
có giá trị như nhau, bằng
và:
Tuy nhiên, vì đơn vị độ dài trong hệ nhiệt động đang xét, so với chân không đã tăng lên 10201020 lần (như đã trình bày khi bàn về hằng số Planck) nên chỉ còn:
Do có hiện tượng trội lặn, một nửa thể tích “lẩn khuất” vào môi trường kg mà lượng thể tích của
được coi là “có thực” chỉ còn:
Từ những suy diễn tương đối “trơ tráo” đó, chúng ta thấy rằng khi hệ đạt mật độ hạt
cực đại tới hạn thì số hạt
là:
Vậy nhiệt độ tới hạn trên có thể có trong Vũ Trụ là:
Có
thể vượt qua, cao hơn nhiệt độ đó không? Hãy tưởng tượng rằng khi nội
tại một hệ cô lập (một vùng nhỏ nào đó trong những ngôi sao nóng nhất)
“lăm le” vượt qua mật độ tới hạn, lập tức nhiều hạt
sẽ phải phân ra thành hai hạt
trái dấu. Những hạt
trái
dấu trong đó trước sau gì cũng tương tác nhau để thành 2 hạt kg (hiện
tượng hủy cặp, hòa nhập về môi trường kg). Khi trong hệ xuất hiện một sự
hủy cặp như vậy, thì vì lực lượng KG là tuyệt đối bảo toàn nên sẽ đồng
thời xuất hiện một cặp hạt
trái dấu trong môi trường kg bên ngoài hệ.
Kể ra cũng vui đấy chứ!...
***
Tiếp
tục “vui đùa” với nhiệt động học, chúng ta lại giả sử có một hệ dạng
cầu bị cô lập với môi trường ngoài và trong môi trường kg của hệ không
có gì khác ngoài số đông các bức xạ
. Hệ này được minh họa dưới dạng mặt cắt ở hình 1 và được gọi là Ho.
Trạng thái của hệ là cân bằng nhiệt động tại:
Ở
trạng thái cân bằng nhiệt động, có hiện tượng phân bố đều trong hệ về
mặt năng lượng nói chung (hay về số lượng bức xạ điện từ
) với mật độ:
Gọi áp suất tại mặt vách ngăn là Po thì:
Po được hiểu là áp lực theo hướng kính tác động từ trong ra lên một đơn vị thể tích của vách ngăn hệ Ho với môi trường ngoài. Câu hỏi đặt ra là vào lúc đó áp suất tại điểm A trong hệ Ho (xem hình 1) có đúng bằng Po không?
Đó là câu hỏi thuộc hàng ngớ ngẩn nhất trên đời, nhưng hóa ra vì thế mà lại… quá hay!
Dễ thấy, tuân theo nguyên lý tác dụng tương hỗ, khi hệ Ho gây ra áp suất Po lên mặt cầu phân cách (có diện tích So) của môi trường ngoài thì coi như đồng thời môi trường ngoài cũng gây ra một áp suất lên hệ Ho, có giá trị Po, đồng phương nhưng ngược chiều với Po (nghĩa là hướng về tâm O).
Nguyên
lý Pascal phát biểu: áp suất đặt lên chất lỏng chứa trong một bình kín
được truyền hoàn toàn lên mọi điểm của chất lỏng và lên thành bình chứa.
Nếu hệ Ho là
một khối chất lỏng thì đó là một khối chất lỏng tĩnh (vì ở trạng thái
cân bằng nhiệt động) và do đó áp suất tại điểm A phải bằng Po (nhớ rằng tổng áp lực tác dụng lên A bằng 0).
Nhận
định đó dẫn đến phải coi điểm A, dù có thể là rất nhỏ, như một thực thể
có diện tích bề mặt hẳn hoi, hiện hữu trong thế giới vĩ mô (không gian
nổi trôi tính Ơclít). Bởi vì áp suất là sự thể hiện ra trong thế giới vĩ
mô quá trình vận động và tương tác tổng hợp của số đông các thực thể vi
mô và chỉ hiện hữu trong thế giới vi mô. Nói nôm na, chỉ khi tại A xuất
hiện một phần tử thực thể thuộc thế giới vĩ mô, làm hiện hữu một phần
tử diện tích thì ở đó mới tồn tại một áp suất và trong trường hợp khối
chất lỏng Ho có
trạng thái cân bằng nhiệt động thì giá trị đại số của áp suất ấy là
không đổi tại bất cứ điểm nào có phần tử diện tích trong nội tại Ho. Còn nếu không, không hề tồn tại áp suất trong lòng hệ Ho.
Đối
với một nhà vật lý thực chứng cổ điển thì hình dung đó là không thể tin
được. Nhưng dù là không thể tin được thì cũng không có cách nào để xác
minh được. Từ trước đây rất lâu và cho đến tận ngày nay, có lẽ chưa có
nhà vật lý thực nghiệm nào đặt vấn đề nghi ngờ về sự tồn tại của một đại
lượng vật lý nào đó trước và sau khi thiết bị đo xác nhận chắc chắn về
sự tồn tại của nó. Muốn xác định tại A có tồn tại áp suất Po hay
không, nhà vật lý thực nghiệm phải đưa vật thử, đầu dò hay nói chung là
thiết bị đo trực tiếp đến đó. Sau khi thiết bị đo chỉ ra chắc chắn rằng
thực sự tồn tại một áp suất Po ở đó thì nhà vật lý thực nghiệm tin tưởng Po thực sự tồn tại ở đó cho dù có hiện diện thiết bị đo ở đó hay không.
Sự
mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại độc lập, của một đại lượng vật lý tại
nơi mà thiết bị đo chỉ ra chính là điểm xuất phát dẫn đến ngộ nhận “vĩ
đại” về sự tồn tại trường hấp dẫn, trường điện từ…, nói chung là trường
lực, như một thực thể có cấu trúc vật chất và tương đối độc lập với môi
trường chân không. Không khó chỉ ra cái sai lầm về quan điểm trong sự
ngộ nhận ấy. Rõ ràng là lực chỉ xuất hiện trong tương tác (cơ học). Một
khi không xảy ra tương tác thì lực cũng không thể hiện. Một vật chuyển
động với vận tốc
không
bao giờ phát tác ra lực mà như chúng ta vẫn quen thừa nhận, nó chỉ hàm
chứa một (xung) lực, hay nói chính xác hơn là hàm chứa một tiềm xung lực
(dưới dạng động lượng).
Tuy
nhiên cái quan niệm về lực đã trở thành truyền thống ấy (tiềm xung lực
là động lượng) vẫn chưa hoàn hảo, thậm chí là còn có phần sai lạc. Bởi
vì chính nguyên lý tác dụng tương hỗ đã chỉ ra, một vật đứng yên (
=0)
trước quan sát, nghĩa là lúc đó nó không hề có động lượng, vẫn hàm chứa
xung lực và lập tức phát tác lực nếu bị tác động. Nhưng nếu vật đứng
yên chưa phát tác lực thì xung lực của nó ẩn dấu dưới dạng tiềm xung lực
nào khi mà nó không hề có động lượng? Đến đây, có thể rút ra kết luận:
không có bất kỳ cách nào xác định được (xung) lực của một vật khi nó
không tương tác (cơ học) với môi trường bởi vì lúc đó lực của nó không
hề tồn tại; chỉ khi một vật bị cản trở chuyển động (va chạm với một vật
khác), hay bị biến đổi trạng thái chuyển động (đứng yên là trạng thái
chuyển động đặc biệt), nghĩa là năng lượng toàn phần của nó bị chuyển
hóa, thì khi đó nó mới phát tác lực để chống lại sự cản trở, sự biến đổi
ấy. Tùy theo mục đích nghiên cứu, hoặc đôi khi thuần túy chỉ là theo ý
thích chủ quan của quan sát mà trong thực tế tiềm lực được triển khai
theo hai dạng, hoặc là xung lực (F.t, khi đánh giá theo động lượng m.
) hoặc là động lực (F.S, khi đánh giá theo động năng
).
Quay lại khối chất lỏng Ho.
Vì không xuất hiện một thực thể nào tại A trong thế giới vĩ mô nên ở đó
không xảy ra tương tác nào và do đó cũng không tồn tại áp suất mà tương
tự như trường hợp vật chuyển động và va chạm cơ học nêu ra ở trên, thay
cho sự tồn tại áp suất tại A là sự tồn tại cái tạm gọi là “áp suất ảo”
hay “tiềm áp suất”.
Đối với hệ nhiệt động bức xạ Ho, tình hình cũng hoàn toàn giống như thế. Dù quan sát ở góc độ nào trong tầng nấc vĩ mô thì đều chỉ thấy sự hiện diện áp suất Po tại vách ngăn cách ly So: hệ Ho tác động lên mặt So của môi trường ngoài một áp suất Po, đồng thời môi trường ngoài cũng tác động lên mặt So của hệ Ho một áp suất có giá trị đúng bằng Po. Ngoài ra, tại điểm A hay tại bất cứ một điểm nào khác trong Ho đều
không hề hiện diện bất cứ một áp suất nào, và chỉ có thể hình dung rằng
tại những điểm ấy tồn tại một thứ gì đó đóng vai trò như là “mầm mống”
làm xuất hiện áp suất, hay còn có thể gọi là “áp suất ảo”, “tiền áp
suất”. Chỉ khi tại A hay tại bất cứ vị trí nào khác xuất hiện một thực
thể có diện tích bề mặt “ổn định” và nhận biết được trong thế giới vĩ mô
thì lúc đó, áp suất ảo hay tiền áp suất mới chuyển hóa thành áp suất
thực sự với giá trị Po. (Cần chú ý: khi xuất hiện một thực thể ngoại lai trong Ho thì lập tức nó ít nhiều gì cũng gây ảnh hưởng đến mọi thông số trạng thái của Ho.
Như vậy, có thể suy ra, không thể xác định chính xác một giá trị thông
số trạng thái nhiệt động bằng đo đạc thực nghiệm! Ở đây, chúng ta coi
thực thể ngoại lai ở A đủ lớn để làm xuất hiện áp suất và đủ nhỏ để bỏ
qua sự ảnh hưởng của nó đến trạng thái nhiệt động của hệ Ho).
Như vậy, khi hệ Ho ở
trạng thái cân bằng nhiệt động thì không những năng lượng bức xạ mà cả
tiền áp suất đều được phân bố đều khắp trong hệ. Nếu cho xuất hiện một
thực thể có kích cỡ phù hợp tại A thì trên bề mặt thực thể sẽ xuất hiện
một áp suất Po,
và dưới tác động nhiễu loạn của số đông bức xạ trong điều kiện cân bằng
nhiệt động, thực thể đó dao động quanh một điểm cân bằng nhất định mà
dưới góc độ quan sát ở tầng nấc vĩ mô nào đó, có thể cho rằng thực thể
đứng yên một chỗ, nghĩa là có thể cho rằng lúc đó, hệ Ho đang ở trong trạng thái cân bằng tồn tại tương đối.
Có
thể lấy biên độ dao động quanh điểm cân bằng của một thực thể hiện diện
trong một hệ cân bằng nhiệt động để đánh giá “mức độ tĩnh tại” của hệ
ấy: biên độ dao động càng lớn thì “mức độ tĩnh tại” càng giảm, nghĩa là
mức độ “động” càng cao, và ngược lại.
Cần
nhắc lại và nhấn mạnh rằng, không những bản thân Vũ Trụ là một thực thể
cân bằng động vĩ đại, mà nội tại của mọi thực thể tồn tại trong Vũ Trụ
luôn ở trạng thái cân bằng động. Nghĩa là ngay cả trong quá trình đang
chuyển hóa từ trạng thái cân bằng động này sang trạng thái cân bằng động
khác thì sự cân bằng trong vận động của nội tại mọi thực thể vẫn được
duy trì. Chỉ tùy thuộc vào nhận định chủ quan, vào mục đích nghiên cứu
của quan sát về một mặt nào đó, một bộ phận nào đó trong vận động nội
tại của thực thể và đã thông qua qui ước, mà lúc đó mới có thể nói đến
sự mất cân bằng nội tại (về mặt đó, bộ phận đó).
Khi
nói vận động nội tại của một thực thể luôn ở trong tình thế cân bằng
động thì không có nghĩa là đối với thực thể đó chỉ có duy nhất một tình
thế cân bằng động nội tại. Có rất nhiều tình thế cân bằng động đối với
vận động nội tại của một thực thể. Tùy thuộc vào sự vận động của môi
trường ngoài và sự tương tác giữa môi trường ngoài với thực thể mà vận
động nội tại của thực thể ở tình thế cân bằng động nào hoặc phải chuyển
biến từ tình thế này sang tình thế khác. Một tình thế cân bằng động
tương đối ổn định và được duy trì ở mức độ lâu, mau nào đó theo thời
gian thì được gọi là trạng thái cân bằng động của nội tại thực thể. Có
thể phân biệt các trạng thái cân bằng động của nội tại một thực thể với
nhau dựa vào mức độ “động” hay “mức độ tĩnh tại” của chúng. Một trạng
thái có mức độ “động” cao hơn được gọi là bị kích thích hơn.
Vận
động nội tại của một thực thể, do một nguyên nhân nào đó bị kích thích
lên trạng thái cân bằng động có mức độ “động” cao nào đó, thì khi không
còn bị kích thích nữa, nó luôn có xu hướng chuyển hóa về trạng thái cân
bằng động có “mức độ động” thấp nhất hay “mức độ tĩnh tại” cao nhất mà
điều kiện cho phép (thường là trạng thái tương hợp với môi trường
ngoài). Suy rộng ra, có thể nâng lên thành nguyên lý tổng quát: Vận động
nội tại của mọi thực thể, một cách tự nhiên, luôn có xu hướng chuyển
biến về trạng thái cân bằng động có mức độ tĩnh tại thấp nhất trong điều
kiện cho phép. Phát biểu cách khác, vận động nội tại của một thực thể
luôn có xu hướng chống lại sự kích thích vận động từ bên ngoài và do đó
luôn cố gắng đạt tới trạng thái tĩnh tại tuyệt đối, nhưng yêu cầu nghiêm
ngặt về chuyển hóa KG lại không cho phép trạng thái đó xuất hiện, cho
nên chỉ có thể xuất hiện trạng thái tĩnh tại tương đối.
Cân
bằng nhiệt động là sự thể hiện ra trong thế giới vĩ mô của tình thế hay
trạng thái cân bằng động của vận động tổng hợp hình thành nên từ số
đông bức xạ điện từ vận động và tương tác lẫn nhau. Do đó cân bằng nhiệt
động không thể không tuân thủ những qui luật, nguyên lý thao túng, chi
phối đến quá trình vận động cân bằng. Cụ thể, chẳng hạn khi nung nóng
một hệ nhiệt động (chứa toàn bức xạ
)
thì cũng có nghĩa là đã “nạp” cho hệ đó một lượng bức xạ từ môi trường
ngoài. Lượng bức xạ đó làm cho mật độ năng lượng bức xạ trong hệ tăng
lên, kéo theo mức độ nhiễu loạn bức xạ tăng lên. Thể hiện sự tăng mức độ
nhiễu loạn chính là sự tăng nhiệt độ và áp suất.
Giả sử nung nóng hệ nhiệt động bức xạ Ho từ nhiệt độ T1 lên nhiệt độ T2 rồi
ngưng không nung nóng nữa và cô lập nó, không cho xảy ra sự trao đổi
bức xạ giữa nó với môi trường ngoài. Có thể thấy do bị nung nóng (kích
thích) mà trạng thái cân bằng nhiệt động của Ho đang ở mức độ tĩnh tại cao (T1) biến chuyển lên mức độ tĩnh tại thấp hơn (T2). Khi không còn bị kích thích nữa (điều kiện môi trường ngoài trở về như trước khi có sự nung nóng), vận động nội tại của hệ Ho có xu hướng trở về với trạng thái cân bằng nhiệt động ban đầu. Tuy nhiên, do mật độ bức xạ trong hệ Ho đã tăng lên so với trước khi nung nóng nên hệ Ho không thể trở về trạng thái cân bằng nhiệt động ban đầu (có nhiệt độ T1) được nữa, mà chỉ đạt đến trạng thái cân bằng nhiệt động T'1 (với T1<T'1<T2), có mức độ tĩnh lặng thấp hơn của trạng thái T1 nhưng cao hơn của trạng thái T2.
Cái
mà các nhà nhiệt học thời trung cổ và cận đại gọi là chất nhiệt hay các
nhà nhiệt học thời hiện đại gọi là nhiệt lượng thực ra chính là năng
lượng bức xạ điện từ chứ không có gì huyền bí cả. Giá trị mật độ năng
lượng bức xạ của một hệ nhiệt động cũng là một chỉ thị về sự hàm chứa
nhiệt lượng của hệ đó. Vậy thì nguyên nhân trực tiếp nào làm xảy ra hiện
tượng giảm nhiệt độ dẫn đến áp suất giảm trong khi giá trị mật độ năng
lượng bức xạ (nghĩa là nhiệt lượng) của hệ không đổi? Nhiều khả năng có
như thế là vì khi nung nóng hệ, nhiều bức xạ có tần số thấp hơn tần số
của phần lớn bức xạ trong hệ trước khi bị nung nóng, thâm nhập vào hệ và
đồng thời cũng xảy ra sự hợp thành các bức xạ có tần số thấp hơn từ một
số bức xạ có tần số cao hơn của bản thân hệ. Khi không còn sự nung nóng
nữa (sự kích thích bị triệt tiêu) thì các bức xạ có tần số thấp ấy phân
rã đến mức nhất định thành các bức xạ có tần số cao hơn cho phù hợp với
điều kiện mới. Quá trình này đồng thời cũng làm cho mức độ nhiễu loạn
trong lan truyền bức xạ - nguyên nhân của hiện tượng nóng – lạnh và sự
tăng giảm nhiệt độ xuất hiện trong thế giới vĩ mô - giảm xuống. Khi mức
độ nhiễu loạn trong vận động nội tại của hệ cô lập Ho giảm xuống đến nhiệt độ T1 như đã nói thì quá trình giảm đó dừng lại. Lúc đó, vận động nội tại của Ho cũng
đạt được trạng thái cân bằng nhiệt động tĩnh lặng nhất, bình ổn nhất
trong điều kiện mới và vì vậy mà trạng thái ấy cũng có tính duy trì lâu
dài.
Sự biến chuyển vận động nội tại của hệ cô lập Ho từ
tình thế cân bằng nhiệt động có mức tĩnh lặng thấp nhất về tình thế cân
bằng nhiệt động có mức tĩnh lặng cao nhất và tồn tại ổn định lâu dài
một cách tự nhiên ở tình thế ấy đã làm nảy ra suy lý dẫn chúng ta đến
nhận định: vận động nội tại của một hệ cô lập ở trạng thái cân bằng
nhiệt động, nếu xét trên bình diện một tổng thể, một hợp thành từ vận
động và tương tác lẫn nhau của số đông bức xạ, thì phải có tính điều
hòa, tính chu kỳ, tính trật tự, nghĩa là vận động ấy phải có tính qui
luật hay phải chịu sự chi phối chủ yếu của những yếu tố mang tính tất
định, còn nếu xét trên bình diện là một “hỗn tạp” của đông đúc các bức
xạ cụ thể vận động và tương tác lẫn nhau, thì ít nhiều gì cũng đồng thời
có tính ngẫu nhiên, xác suất. Như vậy, trong số các trạng thái cân bằng
nhiệt động có thể có trong một điều kiện nhất định của một hệ cô lập,
trạng thái cân bằng nhiệt động có mức độ tĩnh tại cao nhất cũng là trạng
thái có mức độ vận động nhiễu loạn thấp nhất.
Để hiểu được vì sao sau khi không còn bị kích thích (bị nung nóng) và lập tức bị cô lập thì hệ Ho,
dù trong tình trạng đã có sự phân bố đồng đều trong hệ về mặt năng
lượng bức xạ cũng như giá trị mật độ năng lượng bức xạ của nó không đổi
theo thời gian (nghĩa là có sự bảo toàn về mặt nhiệt lượng mà hệ hàm
chứa), vẫn tự điều chỉnh được vận động nội tại từ trạng thái cân bằng
nhiệt động có mức nhiễu loạn cao hơn xuống trạng thái cân bằng nhiệt
động có mức nhiễu loạn thấp nhất trong điều kiện mới và hơn nữa, duy trì
được vận động tự nhiên một cách bình ổn, lâu dài trong trạng thái tĩnh
lặng tương đối ấy, chúng ta cần phải thừa nhận rằng có hai loại nhiễu
loạn bức xạ: một loại có tính tất yếu, mặc định, vốn dĩ, là kết quả của
sự phải lan truyền đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt về chuyển hóa KG trong
phạm vi môi trường kg đã bị hạn định của hệ cô lập, loại thứ hai có tính
ngẫu nhiên, tạm thời, là kết quả của sự đột biến vận động của hệ cô
lập. Mặt khác, cũng cần phải thừa nhận rằng, hệ cô lập Ho vận
động nội tại được ngay cả khi ở trạng thái cân bằng nhiệt động có mức
tĩnh lặng cao nhất, là do về mặt năng lượng bức xạ nói chung thì có sự
phân bố đều đặn, đồng nhất trong toàn hệ, nhưng về mặt động năng tịnh
tiến (hay là về mặt động năng xoáy) lại phân bố có sự chênh lệch tương
đối theo phân vùng và sự phân vùng đó theo hoạch định sao cho khi bức xạ
lan truyền theo một hướng ưu tiên nào đó lần lượt qua các phân vùng kế
tiếp theo đó, thì động năng tịnh tiến (hay động năng xoáy) của bức xạ
chuyển hóa tăng hay giảm một cách đều đặn, và đặc biệt quan trọng là nhờ
có sự hiện diện và tác dụng của vách ngăn của môi trường ngoài mà tổng
động năng tịnh tiến (hay là tổng động năng xoáy) của hệ Ho luôn được bảo toàn và bằng một nửa năng lượng bức xạ toàn phần của nó.
Từ
quan niệm đó, chúng ta đi đến hình dung: khi số đông bức xạ điện từ lan
truyền tự nhiên trong môi trường chân không, nghĩa là sự lan truyền của
từng bức xạ không ảnh hưởng đến nhau cũng như luồng lan truyền của tập
hợp các bức xạ không bị cản trở, ngăn chặn bởi ngoại vật, thì sự vận
động ấy coi như hoàn toàn không bị nhiễu loạn, nghĩa là không thể hiện
nhiệt độ (T = 0 oK).
Điều tế nhị là bằng thực nghiệm, không thể xác nhận được nhận định đó,
bởi vì không thể dùng bất cứ thứ gì “thò” vào luồng bức xạ đang lan
truyền ấy để đo nhiệt độ mà không gây ra sự nhiễu loạn cho sự lan truyền
ấy. Rõ ràng là không thể đo được nhiệt độ 0 tuyệt đối (0 oK),
và quan trọng hơn: không thể triệt tiêu được nhiệt độ (hay sự nhiễu
loạn vận động) nội tại của bất cứ hệ nhiệt động nào, của bất cứ thực thể
nào tồn tại trong Vũ Trụ.
Như vậy, khi hệ cô lập Ho bị kích thích (bị nung nóng) đến nhiệt độ T2,
nghĩa là nó đã nhận thêm một lượng bức xạ nhất định từ môi trường
ngoài, làm mật độ năng lượng bức xạ của nó tăng lên do đó mà mức độ
nhiễu loạn vận động ở cả hai dạng tất yếu và ngẫu nhiên tăng lên. Khi
triệt tiêu kích thích của môi trường ngoài thì lập tức mức độ nhiễu loạn
dưới dạng ngẫu nhiên cũng nhanh chóng giảm xuống, kéo theo sự giảm mức
độ nhiễu xạ nói chung và thể hiện ra chủ yếu dưới dạng nhiễu loạn tất
yếu, có tính bình ổn lâu dài. Khi mức nhiễu loạn đã đạt đến tối thiểu
trong điều kiện mới thì cũng là lúc vận động nội tại của hệ Ho đạt
đến trạng thái cân bằng nhiệt động có mức tĩnh lặng cao nhất, nghĩa là
“êm đềm” nhất, hài hòa nhất và do đó mà cũng có tính “bền” nhất.
Rõ ràng là nếu không có vách ngăn cách ly của môi trường ngoài thì hệ cô lập Ho không
thể duy trì được sự vận động điều hòa trong trạng thái tĩnh lặng nhất
của nó. Nhờ có vách ngăn đó (xét trong trường hợp lý tưởng), không những
năng lượng bức xạ toàn phần của hệ Ho được
bảo toàn mà tổng động năng tịnh tiến cũng như tổng động năng xoáy cũng
được bảo toàn. Có thể tưởng tượng mặt ngăn cách (nhờ có nguyên lý tác
dụng tương hỗ) đóng vai trò như một mặt thu phát cân bằng bức xạ của môi
trường ngoài đối với hệ Ho, nghĩa là nó thu bao nhiêu bức xạ của hệ Ho thì cũng phát ra bấy nhiêu bức xạ “trả lại” cho hệ Ho. Nếu hình dung ở góc độ ngược lại, cũng có thể cho rằng hệ Ho là một nguồn thu phát cân bằng bức xạ đối với môi trường ngoài, nghĩa là tại mặt tiếp xúc của Ho với mặt ngăn cách So, hệ Ho thu được bao nhiêu bức xạ từ môi trường ngoài thì cũng phát “trả lại” đúng bằng ngần ấy bức xạ cho môi trường ngoài.
Nếu chỉ chú ý tới sự phát bức xạ của hệ Ho thôi thì hệ Ho đã gây ra áp suất Po lên mặt cầu ngăn cách So và về mặt định lượng thì:
với
là mật độ năng lượng bức xạ trong Ho
Bây
giờ, giả sử rằng có một mặt cầu ảo (không thực sự tồn tại mà chỉ hiện
hữu trong tư duy thôi!) đi qua điểm A và đồng tâm với mặt So, gọi là SA. Có thể hình dung được mặt SA làm hình thành nên một hệ cô lập ảo dạng cầu có tâm là điểm O, gọi là HA. Quá trình phát bức xạ của hệ HA cũng phải gây ra một áp suất ảo (tiềm áp suất) là PA. Về mặt giá trị:
Kết
quả đó xác nhận nguyên lý Pascal và ám chỉ về sự tồn tại của trạng thái
cân bằng tĩnh tại tuyệt đối. Nhưng “rất may”, đó là một kết quả ảo,
không thực, vì PA chỉ là khả năng chứ không phải hiện thực. Muốn cho pA là một hiện thực thì thực nghiệm phải “nhúng mũi” vào đó. Nhưng đã “nhúng mũi” vào đó thì hệ Ho không thoát khỏi bị lũng đoạn vận động nội tại và lúc đó, kết quả sẽ phải là:
Nếu sự lũng đoạn ấy là nhỏ, không đáng kể, thì:
Nghĩa
là nguyên lý Pascal, nếu có đúng thì chỉ đúng trong thế giới vĩ mô và
mang tính tương đối nên cũng chỉ có khả năng ám chỉ về một trạng thái
cân bằng tĩnh tại tương đối mà thôi.
Như
chúng ta đã quan niệm, tiềm xung lực là một tồn tại ảo “ẩn chứa” trong
động năng của một vật chuyển động. Khi động năng của vật đó chuyển biến
thì xung lực tương tác mới xuất hiện. Đó chính là quá trình từ khả năng
biến thành hiện thực. Tương tự như vậy, trong hệ Ho, tiềm áp lực của bức xạ
ẩn tàng trong động năng tịnh tiến của nó. Xét trên một đơn vị diện tích thì tiềm áp lực ấy cũng chính là tiềm áp suất.
Quan niệm trên đã được “toán học hóa” bằng biểu diễn:
với 
và n là số Avôgadrô
Nếu V là thể tích của hệ thực thì p là áp suất thực, nếu V là thể tích của hệ ảo thì p là áp suất ảo (tiềm áp suất).
Đại lượng m1c2 chính là năng lượng toàn phần của bức xạ
và nó còn được viết:
với d1 là đường kính của giả hạt
(khi bức xạ
định xứ)
t1 là chu kỳ xoáy của giả hạt
Vận tốc c là một cực đại bất biến nên khi bức xạ
lan truyền trên đường tròn tâm O với đường kính D thuộc mặt cầu của hệ thực (hoặc ảo) có thể tích V thì thời gian lan truyền hết chu vi đường tròn đó phải là T sao cho:
Trong khi đó, thể tích V của hệ đang xét được tính ra:
với S là diện tích mặt cầu ngăn cách của hệ
Như vậy, có thể viết:
với aht là gia tốc hướng tâm (hoặc ly tâm) của bức xạ
và có thể cho rằng m1a chính
là xung lực (hoặc tiềm xung lực) tạo nên áp lực (hay tiềm áp lực) lên
bề mặt phân cách của hệ thực (hoặc hệ ảo) đó. Nhưng có lẽ biểu diễn sau
đây mới xác đáng hơn chăng:
với a là gia tốc tịnh tiến có phương xuyên tâm hệ của hạt
.
Áp dụng biểu diễn đó cho trường hợp hệ thực Ho và hệ ảo HA thì:
Và:
Với quan niệm số lượng bức xạ phân bố đều trong hệ cô lập và cân bằng nhiệt động, đồng thời thấy rằng ao = aA thì rõ ràng Po = pA.
Nếu chỉ chú ý về mặt phát bức xạ
theo hướng kính từ trong ra thì lượng bức xạ
phát ra từ mặt cầu SA của hệ HA trong một đơn vị thời gian phải bằng lượng bức xạ
gây ra áp suất Po trên bề mặt So của hệ Ho trong đơn vị thời gian đó. Điều này mâu thuẫn với quan niệm mật độ bức xạ phân bố đồng đều, nghĩa là mâu thuẫn với kết quả Po = pA.
Điều cần giải quyết ở đây là phải dung hòa cho được mâu thuẫn chứ không phải tìm cách loại bỏ kết quả nào trong hai kết quả
và
.
Để làm được điều đó, trước hết chúng ta viết lại phương trình trạng thái khí lý tưởng trong trường hợp tổng quát:
với T* là nhiệt độ được xác định theo phương trình đó và T là nhiệt độ được tính theo biểu diễn ngoại suy của chúng ta. Dễ thấy:
Biết m là tổng khối lượng của lực lượng bức xạ
có trong hệ Ho,
là khối lượng của một mol bức xạ
, có thể viết:
và trong trường hợp đang xét ở đây:
m = N’.m1
Vậy: 
Hay: 
Từ đó sẽ có:
Và:
Quan sát ở góc độ pA = Po, có thể viết:
Và từ đó có thể trở về với phương trình cơ bản của thuyết động học phân tử viết cho một mol hạt.
Muốn cho biểu diễn trên cũng đúng trong trường hợp
thì phải biện luận rằng mật độ bức xạ
(cũng có nghĩa là mật độ năng lượng toàn phần của lực lượng bức xạ
)
đúng là được phân bố đều đặn trong hệ cân bằng nhiệt động cô lập, nhưng
xét riêng về mặt động năng tịnh tiến của chúng thì có sự phân bố tăng
(hoặc giảm) đều theo một hướng xác định, tuân theo một qui luật nhất
định.
Trên
cơ sở suy đoán đó, đồng thời trên cơ sở suy đoán về hướng ưu tiên thu -
phát bức xạ trong hệ cầu cô lập và cân bằng nhiệt động Ho,
chúng ta cho rằng có sự phân bố tăng dần về mặt động năng tịnh tiến từ
tâm hệ ra ngoài theo hướng kính, nghĩa là động năng tịnh tiến của bức xạ
tại mặt cầu ảo SA phải nhỏ hơn của bức xạ
tại mặt cầu So. Muốn thế, chỉ còn một khả năng duy nhất là tốc độ lan truyền theo hướng kính và từ tâm ra của một bức xạ
tại mặt cầu ảo SA (có DA<Do) phải nhỏ hơn tốc độ lan truyền theo hướng ấy khi nó đạt tới So. Gọi tốc độ lan truyền của bức xạ
đang xét tại So là Co và tại SA là CA thì có thể biểu diễn:
Co>CA
Cần
thấy rằng khi môi trường không gian của một hệ cô lập có mức năng lượng
lớn hơn môi trường kg chân không (được qui ước bằng 0) thì bao giờ tốc
độ lan truyền bức xạ trong đó cũng phải nhỏ hơn tốc độ lan truyền trong
chân không, nghĩa là trong trường hợp ở đây:
C>Co>CA
với: C là tốc độ lan truyền cực đại tuyệt đối trong Vũ Trụ thực tại.
Mặt khác, theo như chúng ta đã dẫn dắt bằng lập luận, rõ ràng phải có:
Nghĩa là, nếu “qui đổi” Do, DA và To, TA về thang đo khoảng cách và thời gian của hệ quan sát trong chân không (ngoài hệ Ho) thì hai đường kính đó cũng như hai thời gian đó bằng nhau.
Tuy
nhiên, nếu xét kỹ quá trình qui đổi về thang đo khoảng cách và thời
gian của hệ quan sát trong môi trường kg chân không, sẽ phát hiện ra một
“tế nhị” tuyệt vời. Đó là Do và DA đều được xác định hay cho trước bởi hệ quan sát trong môi trường kg chân không (ngoài hệ Ho) theo thang đo khoảng cách của hệ ấy chứ không phải là các giá trị được xác định bởi hệ quan sát ở trong hệ Ho. Do đó, trong quá trình chuyển đổi các giá trị khoảng cách và thời gian đang xét, chỉ cần chuyển đổi To và TA sang theo thang đo thời gian của hệ quan sát trong chân không, và như vậy, sau khi chuyển đổi chúng ta có:
Do, DA, T
với: T là giá trị thời gian đã qui đổi của To và của cả TA.
Đến đây, dù vẫn còn một “đống tổ chảng” hoài nghi thì chúng ta cũng cứ viết:
Và:
Biểu diễn cho thấy
và qua đó còn có thể rút ra được:
là giá trị cực đại trong hệ Ho; mọi giá trị tiềm áp suất trong đó đều nhỏ hơn nó, hơn nữa, bắt đầu từ
, giá trị tiềm áp suất giảm dần theo hướng kính từ mặt So đến
tâm O của hệ, và tại tâm O, tiềm áp suất bằng cực tiểu. Có thể thiết
lập được biểu diễn toán học nêu ra qui luật giảm ấy. Trước hết, chúng ta
hãy xác định sự chênh lệch giá trị giữa
và PA:
Giả sử rằng mức chênh lệch ấy vô cùng nhỏ, nghĩa là
, lúc đó có thể viết:
với dR là khoảng cách giữa hai mặt cầu So và SA.
Có thể tưởng tượng trong hệ Ho, mặt cầu So như là “mặt đất”, mặt có “mức thế năng” (động năng xoáy của bức xạ
) thấp nhất và điểm O là điểm “cao nhất” có thể lan truyền tới của một bức xạ
. Để diễn tả ý niệm ấy chúng ta đổi ký hiệu dR thành dh với h=Ro là độ cao cực đại tính từ “mặt đất” So.
Nhớ rằng tiềm áp suất giảm tỉ lệ nghịch với sự tăng độ cao thì từ biểu diễn và thay ký hiệu Po bằng P, chúng ta sẽ có biểu diễn dưới dạng tích phân:
Sau khi lấy tích phân và biến đổi về dạng hàm mũ sẽ được:
(còn tiếp)
THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG 48/e
Thứ Hai, tháng 12 21, 2015CHƯƠNG VIII: NÓNG – LẠNH
“Nhiệt thể hiện ở chuyển động của các hạt vật chất.”
M.V. Lômônôxốp
“Tính
chất kỳ lạ nhất của năng lượng là khả năng biến đổi của nó. Một trong
những dạng phổ biến nhất của năng lượng trong tự nhiên là năng lượng
chuyển động hay động năng. Năng lượng nhiệt là nguồn dự trữ động năng
của các phân tử hoặc nguyên tử chuyển động hỗn loạn và liên tục.”
K.A Gladkov
(tiếp theo)
Đây là biểu diễn toán học của qui luật biến đổi tiềm áp suất trong hệ Ho.
Có thể viết thành phần số mũ của cơ số e dưới dạng khác vì:
Ở phần V, chương IV, chúng ta có đề xuất ra một loại gia tốc hướng tâm (hoặc ly tâm) mà theo ký hiệu qui ước ở đây, nó có dạng:
Đặt gia tốc ấy là
thì công thức tính Ph được viết lại:
Rất có thể biểu diễn này đích đáng hơn biểu diễn trên về sự phân bố tiềm áp suất của lực lượng bức xạ
Nếu qui luật trên thực sự tồn tại thì “quĩ đạo” lan truyền có tính phổ biến của một bức xạ
trong hệ Ho có thể có dạng như đường q được
minh họa ở hình 1, và đặc biệt hơn, sẽ dẫn đến ý niệm: trong môi trường
kg nội tại của mọi hệ cô lập và cân bằng nhiệt động có áp suất Po lớn
hơn áp suất của môi trường ngoài, luôn tồn tại một hiệu ứng dãn nở
(ngược với hiệu ứng hấp dẫn) “đẩy” các bức xạ lan truyền theo hướng
xuyên tâm, từ (trọng) tâm ra ngoài. Hãy tưởng tượng Vũ Trụ là một hệ cô
lập và cân bằng nhiệt động thì nó chính là một hệ có tính giãn nớ
(ảo)!!!
Chúng ta biết rằng tích PV có thứ nguyên năng lượng. Sự có mặt của P còn
cho biết năng lượng ấy, nếu xét theo thuyết động học phân tử, chính là
một phần động năng của các hạt khí lý tưởng trong hệ nhiệt động và trong
trường hợp hệ cô lập cân bằng nhiệt động thì đúng bằng:
(với m là khối lượng của một hạt khí và v là vận tốc trung bình của các hạt khí). Theo quan niệm của chúng ta, nguyên nhân
sâu xa nhất làm cho chuyển động hỗn loạn (chuyển động Brao) của các hạt
khí trong một hệ cô lập được duy trì là nhờ có sự tương tác giữa chúng
và lực lượng bức xạ. Do yêu cầu nghiêm ngặt về chuyển hóa KG mà vận động
của bức xạ điện từ (hay có thể gọi là bức xạ KG) là không thể triệt
tiêu được. Nếu trong hệ cô lập không hiện diện lực lượng bức xạ KG cùng
với vận động của nó thì trong thực tại khách quan, các hạt khí của hệ đó
không thể chuyển động Brao được, thậm chí là cũng không chuyển động di
dời vị trí.
Khi trong hệ Ho, ngoài lực lượng bức xạ
còn
có một số lượng đáng kể các hạt (phân tử) khí lý tưởng thì vì sự chiếm
chỗ của các hạt khí lý tưởng đó mà các thông số trạng thái nhiệt động (P, V, T) của Ho ít nhiều bị biến đổi đi.
Chúng
ta cho rằng, nếu số lượng phân tử khí trong một hệ cô lập cân bằng
nhiệt động đủ nhiều thì chuyển động hỗn loạn của chúng phản ánh gần đúng
sự vận động của khối bức xạ
trong
hệ ấy. Nghĩa là trong một khoảng biến đổi các thông số trạng thái nhiệt
động nào đó và với một độ chính xác nhất định, có thể dùng các phương
trình trạng thái khí lý tưởng và phương trình cơ bản của thuyết động học
phân tử thay cho biểu diễn toán học về mối quan hệ nhân quả giữa vận
động của khối bức xạ
và các thông số trạng thái P, V, T mà
chúng ta đã đề xuất (dù biểu diễn đó có thể vẫn ở dạng sơ phác, chưa
chuẩn, nhưng chúng ta tin , chí ít là về mặt định tính, nó phản ánh đúng
thực tại).
Thực
ra, phương trình trạng thái khí lý tưởng vẫn còn cho ra kết quả rất sai
biệt so với kết quả rút ra được từ thực hành thí nghiệm. Theo nhiệt học
giải thích, đó là do trong thực tế, kích thước của các phân tử khí
không thể bỏ qua được, vì vậy, thể tích dành cho chuyển động tự do của
chúng phải nhỏ hơn thể tích của hệ cô lập. Nghĩa là thể tích thực của hệ
cô lập không phải bằng V mà chỉ bằng V-b, trong đó b là
số hạng hiệu đính phụ thuộc vào bản chất của chất khí. Mặt khác, khi
đối với khí lý tưởng, các phân tử được qui ước không tương tác nhau, thì
đối với khí thực trong thực tế, các phân tử của chúng ít nhiều có tương
tác với nhau. Do đó, áp suất trong hệ cô lập không phải bằng P mà phải bằng P+Pi . Người ta đã chứng minh được Pi tỉ lệ với bình phương mật độ phân tử khí trong hệ (N2 / V2) cho nên có thể viết:
trong đó,
là hệ số tỷ lệ phụ thuộc vào bản chất chất khí.
Qua
đúc kết thực nghiệm và giải thích theo tinh thần trên, năm 1873, nhà
vật lý Vandevan thiết lập được phương trình trạng thái mang tên ông đối
với khí thực:
với: m2 là khối lượng của khí thực trong hệ
V là thể tích của khí thực
Nếu viết cho một mol khí thực thì vì lúc này
nên phương trình có dạng:
với
là thể tích của một mol khí thực
Thực
nghiệm chứng tỏ phương trình Vandevan có thể áp dụng được cho khí thực
trong một giới hạn rộng của áp suất và nhiệt độ. Tuy nhiên phương trình
đó không áp dụng được đối với các trạng thái hỗn hợp.
Để đến với phương trình trạng thái có dạng như của Vandevan, chúng ta có cách giải thích khác.
Như
chúng ta đã quan niệm, nguyên nhân sâu xa nhất về những biểu hiện nhiệt
và nhiệt độ trong thế giới vĩ mô chính là sự vận động có tính hỗn loạn
của khối bức xạ trong thế giới vi mô. Do đó biểu diễn toán học đích
thực, phù hợp với thực tại về mối quan hệ nhân quả ấy phải được viết đối
với vận động ấy của khối bức xạ. Tuy nhiên, khi trong hệ nhiệt động cô
lập xuất hiện các phân tử khí và số lượng phân tử khí đủ lớn thì vì sự
vận động tổng hợp của khối phân tử khí là sự phản ánh và phản ánh tương
đối đúng tính chất vận động của khối bức xạ nên trên cơ sở vận động của
khối khí cũng có thể thiết lập được một cách gần đúng sự biến đổi trạng
thái của hệ nhiệt động cô lập. Dù sao, chúng ta vẫn cho rằng biểu diễn:
(với: V là thể tích bất kỳ của khối khí có khối lượng M
N là số lượng phân tử khí trong hệ nhiệt động cô lập
m là khối lượng một phân tử khí
là chưa xác thực. Vì sao? Vì ở đây, tốc độ trung bình
là
kết quả tính toán theo suy luận của hệ quan sát trong môi trường kg
chân không (ngoài hệ nhiệt động cô lập). Vì môi trường kg trong hệ nhiệt
động cô lập có mức hoạt động (mức năng lượng bởi tồn tại bức xạ) cao
hơn mức hoạt động của môi trường kg chân không bên ngoài hệ (được qui
ước bằng 0) cho nên khi qui đổi giá trị
ra theo thang đo thời gian của hệ quan sát trong môi trường kg chân không bên ngoài hệ thì sẽ có giá trị
*, với:
Giả
sử quãng đường trung bình di dời trong một đơn vị thời gian được xác
định bởi hệ quan sát đặt trong hệ cân bằng nhiệt động cô lập là X'.
Nếu qui đổi ra theo thang đo khoảng cách của hệ quan sát trong chân
không ngoài hệ cô lập, thì theo biểu thức (2’) trong số sáu biểu thức cơ
bản mà chúng ta đã thiết lập và nêu ra trước đây, với trường hợp cos=0,
sẽ có:
Với
là đại diễn mức năng lượng của hệ
cân bằng nhiệt động cô lập so với chân không.
Gọi thời gian trung bình để hạt phân tử đạt được quãng đường ấy là t, thì hệ quan sát ngoài hệ sẽ xác định được:
Đó cũng chính là:
Suy ra:
Nếu tưởng tượng rằng vận tốc toàn phần của phân tử khí trong hệ đang xét là w còn
và
là hai vận tốc thành phần của nó thì từ biểu thức cơ bản (4) trong sáu biểu thức cơ bản vừa nhắc lại, với trường hợp
, cũng rút ra được:
Và suy ra:
Thay
cho
trong biểu thức (*) thì chúng ta có được biểu diễn mới:
Hay:
Chúng ta cho rằng biểu diễn (*)(*) mới là biểu diễn xác đáng nhất của thuyết động học phân tử khí. Có thể đưa nó về dạng mà Vandevan đã xác lập. Biết:
Giữ cho nhiệt độ T của hệ cô lập không đổi, nghĩa là theo quan niệm của chúng ta giữ cho lượng bức xạ
Quá trình tăng (hay giảm) thể tích của hệ cô lập trong điều kiện nhiệt độ T không
đổi sẽ làm cho mật độ năng lượng giảm (hoặc tăng) một cách thích ứng,
kéo theo sự giảm (hoặc tăng) một cách tương ứng đồng thời cả mức năng
lượng (ở đây là
) lẫn áp suất (ở đây là P) của hệ. Như vậy, có thể tìm được một số
sao cho:
Đến đây với vài thao tác đơn giản, chúng ta sẽ có phương trình dạng mà Vandevan đã thiết lập.
Nếu
cái quan niệm giữa bức xạ và nhiệt (cũng như nhiệt độ) có mối quan hệ
nhân – quả một cách trực tiếp là có lý thì cần phải cho rằng giữa biểu
diễn (*)(*)(*) và công thức Planck có mối quan hệ gắn bó và rất có thể
suy ra từ biểu diễn đó công thức Planck.
Khi hệ cô lập cân bằng nhiệt động Ho chỉ chứa toàn bức xạ thì vận động nội tại của nó phải diễn tiến theo qui luật mà công thức Planck đã chỉ ra vì hệ Ho lúc này chính là một hốc đen tuyệt đối, và đồng thời cũng phải tuân theo qui luật mà biểu diễn (*)(*)(*) đã nêu ra.
Trên cơ sở nhận định đó, chúng ta viết lại biểu diễn:
Xét mối quan hệ giữa áp suất Po trên mặt ngăn cách hệ Ho với môi trường bên ngoài và trên áp suất pA trên mặt giả cầu SA, lập luận như đã trình bày phía trên, chúng ta sẽ thiết lập được biểu diễn tương tự như biểu diễn (*)(*)(*):
Khi h là vô cùng nhỏ thì có thể coi:
với m là khối lượng trung bình của bức xạ phát (hoặc thu) qua SA
Từ biểu diễn đó có thể viết lại:
với mc2 là năng lượng toàn phần trung bình tính cho một bức xạ được phát (hoặc thu) qua SA
Đó là một biểu diễn chẳng khác nào bức tranh tĩnh tại hay ảnh chụp vì tất cả các đại lượng trong đó đều ở tình trạng bất động.
Trong
hiện thực mà chúng ta đang sống, có một hiện tượng rất ít người chú ý
đến. Chẳng hạn, khi thấy một chiếc xe tải chở một tảng đá thì chúng ta
thường nghĩ đơn thuần là chiếc xe tải đang chở một khối lượng vật chất M nào đó đến đâu đó chứ ít khi nghĩ cặn kẽ hơn là xe tải đang di dời một năng lượng MC2.
Cách nghĩ thứ nhất có nguồn gốc sâu xa từ cảm nhận trực giác về vật
chất trong hiện thực. Cách nghĩ thứ hai xuất phát từ trình độ nhận thức
về bản chất vật chất đã trở nên sâu sắc mà người có công đầu có lẽ là
Anhxtanh.
Trên cơ sở cách nghĩ thứ nhất mà vật lý học đi đến quan niệm: nếu vận tốc chiếc xe tải là v thì tảng đá đã được “nạp” một động lượng là Mv (theo Niutơn) hay một động năng Mv2 (theo Lépnit). Còn theo Anhxtanh thì khi tảng đá đứng yên khối lượng của nó chỉ là Mo<M (nghĩa là năng lượng toàn phần của tảng đá lúc này bằng Moc2). Chỉ khi chuyển động với vận tốc v, khối lượng của tảng đá mới là M (vì
Anhxtanh cho rằng khối lượng của một vật tăng theo sự tăng vận tốc của
nó) và năng lượng toàn phần của tảng đá lúc này (cũng theo Anhxtanh)
bằng:
Nghĩa là tảng đá được nạp thêm một lượng năng lượng dưới dạng động năng.
Nhưng
thử hỏi: sự được nạp thêm động năng (hay động lượng) ấy có thực chất
không hay chỉ có tính giả tạo, hình thức? (Theo quan niệm mới của chúng
ta thì động năng của một vật là Mv2,
khi tương tác với vật khác, tuân theo nguyên lý tương hỗ và bỏ qua ma
sát, nó làm cho vật thứ hai (có cùng khối lượng M!) có lượng động năng
đúng bằng 1/2Mv2, lượng này chuyển hóa từ năng lượng toàn phần của bản thân vật thứ hai mà thành chứ không phải do vật gây ra va chạm truyền cho như quan niệm xưa nay!).
Nhưng chúng ta đã quan niệm thì hiện tượng đó không phải là hoàn toàn
giả tạo, không phải đơn thuần chỉ là sự ngộ nhận của con người. Rõ ràng
là tùy thuộc vào vị trí, trạng thái chuyển động so với hệ quan sát
cũng như sự nhận định chủ quan của hệ quan sát mà thấy tảng đá nhận
thêm hay cho bớt, ít hay nhiều động năng (hay động lượng). Cần phải
khẳng định rằng, sự tồn tại và vận động của tảng đá là duy nhất đối với
chính nó, hơn nữa, sự tăng hay giảm năng lượng của nó chỉ có thể xảy
ra khi thực sự nó nhận được thêm khối lượng từ bên ngoài hay cho đi bớt
khối lượng của nó (qua đây mới thấy năng lượng không thể tác rời khỏi
vất chất, hay có thể nói: không có khối lượng, thì không có năng
lượng!). Trong cùng một thời điểm, sự hiện hữu khác nhau của nó trước
những hệ quan sát khác nhau chỉ là hình thức, được qui định bởi mối
quan hệ khách quan về góc độ, vị trí, trạng thái chuyển động… giữa nó
với mỗi hệ quan sát và sự nhận định, đánh giá chủ quan của nó của mỗi
hệ quan sát ấy. Như vậy, thực tại khách quan là duy nhất, nhưng sự thể
hiện của nó trước những hệ quan sát khác nhau là khác nhau, hay có thể
nói: trước mỗi thực thể quan sát, thực tại khách quan biến thành hiện
thực của thực thể quan sát đó. Như vậy, hiện thực là thực tại khách quan
được xác định bởi một thực thể quan sát theo cách đặc thù của nó. Điều
đó cũng có nghĩa là mỗi thực thể quan sát, mỗi hệ quan sát đều có một
hiện thực phù hợp với nó. Trên cơ sở hiện thực ấy, quan sát và tư duy
tìm hiểu và nhận thức Tự Nhiên Tồn Tại. Quá trình nhận thức sẽ ngày
càng nâng cao trình độ hiểu biết và trình độ hiểu biết càng cao sẽ làm
cho hiện thực trực giác thuở ban đầu càng trở nên được trừu tượng hóa,
và đến một lúc nào đó, hiện thực sẽ trở nên hoàn toàn thấu suốt, sáng
tỏ, hoàn toàn xác đáng, tương hợp với thực tại khách quan hơn bao giờ
hết.
Quan
niệm năng lượng của một vật biến đổi theo sự biến đổi vận tốc của vật
lý cổ điển cũng như quan niệm khối lượng của vật biến đổi theo sự biến
đổi vận tốc của Anhxtanh, đã mâu thuẫn gay gắt, không thể dung hòa được
với nguyên lý bảo toàn năng lượng hay khối lượng – một nguyên lý thuộc
hàng cơ bản nhất của Tự Nhiên.
Để
giải quyết mâu thuẫn đó, trước sau gì vật lý học cũng tất yếu phải thừa
nhận quan niệm về vật chất và năng lượng như triết học duy tồn đã quan
niệm, với biểu diễn tổng quát:
MC2=MoC2+MV2
(hay: MC=MoC+MV)
Như vậy, tảng đá có khối lượng M nghĩa là nó có một năng lượng toàn phần Mc2 và
năng lượng đó là bất biến về giá trị tuyệt đối (nếu bỏ qua hiện tượng
thu-phát bức xạ!) trong suốt quá trình tồn tại của tảng đá. Giả sử rằng
tảng đá đứng yên tuyệt đối trong Vũ Trụ (nghĩa là vận tốc di dời của nó
bằng 0 so với “điểm”
-
“vị trí” của hạt KG thông thường, mà theo hình dung của chúng ta là hạt
KG thông thường đứng yên một cách tuyệt đối trong vĩnh hằng!), lúc đó,
cũng một cách tuyệt đối, năng lượng nội tại của nó bằng năng lượng toàn
phần của nó. Khi tảng đá di dời với vận tốc w trước một hệ quan sát đặt tại điểm
nào
đó (nghĩa là hệ quan sát đứng yên tuyệt đối), thì năng lượng toàn phần
của tảng đá cũng phải tuyệt đối chuyển hóa một cách thực sự thành hai
thành phần nội năng và động năng, và:
MC2=MoC2+Mw2
là một biểu diễn tuyệt đối.
Nhưng
trong hiện thực của chúng ta, không thể xác định được một hệ quan sát
có đứng yên tuyệt đối hay không, cho nên nếu nó đứng yên thì sự đứng yên
ấy là “không chắc chắn”, do đó, chỉ mang tính tương đối (và thậm chí là
theo qui ước). Nếu tảng đá chuyển động với vận tốc V so
với hệ quan sát đứng yên tương đối thì năng lượng toàn phần của nó sẽ
phải chuyển hóa theo quan điểm đánh giá của hệ quan sát ấy, và vì thế mà
biểu diễn:
MC2=MoC2+MV2
cũng
mang tính “phập phù”, có thể là tuyệt đối, có thể là tương đối thuần
túy (do trình độ kỹ thuật, trình độ hiểu biết… gây ra) của quan sát thì
tính chủ quan của nó vẫn còn và đây là tính chủ quan có nguồn gốc khách
quan, không thể loại bỏ được. Vì hiện thực là phản ánh thực tại khách
quan trước quan sát nên nó cũng mang tính khách quan. Nhưng do quan sát
có tính đặc thù chủ quan nên hiện thực đồng thời còn nhuộm màu chủ quan.
Do đó, nếu thực tại là một khách quan tuyệt đối thì có thể nói: hiện
thực là một khách quan tương đối. Có thể nói khách quan tương đối là
khách quan tuyệt đối thể hiện qua lăng kính đặc thù của quan sát và tư
duy nhận thức.
Thời
cổ đại, do chưa nhận biết được tính tương đối của hiện thực khách quan
cũng như tin chắc vào quan sát trực giác mà con người cho rằng Trái Đất
đứng yên còn tất cả thiên thể trong Vũ Trụ vận động quanh nó. Thuyết Địa
tâm của Ptôlêmê là sự đúc kết quan sát bầu trời của một thời đại trên
quan niệm ấy.
Trong
một thời gian rất dài, đến hơn 1000 năm, thuyết địa tâm của Ptôlêmê đã
ngự trị trong niềm tin con người như là một chân lý không còn bàn cãi và
bất di bất dịch. Phải đợi đến khi châu Âu vượt qua Đêm trường trung cổ,
bước vào thời kỳ Phục Hưng, mới xuất hiện những ý kiến (không công
khai) nghi ngờ thuyết địa tâm đó. Vào thế kỷ XIV, Orexem, một giám mục
người Pháp, đã cho rằng, mọi chuyển động đều có thể được nhìn nhận một
cách tương đối. Đó là một phát kiến cực kỳ quí báu và mang tính cách
mạng vào thời điểm ấy. Phát kiến của Orexem không thể không tác động đến
Côpecnic, khích lệ ông, trên cơ sở các kết quả đo đạc thiên văn thu
thập được từ trước cho đến lúc đó, đề ra thuyết Nhật tâm, cho rằng Mặt
Trời mới đứng yên, còn các thiên thể, trong đó có Trái Đất, thì quay
quanh nó.
Ngày
nay, ai cũng thừa nhận Mặt Trời đứng yên còn Trái Đất quay quanh Mặt
Trời. Nhưng ít người để ý rằng nói như thế là đã có một thỏa thuận ngầm
(một qui ước ngầm) và chỉ đúng trong một phạm vi nhất định. Câu nói đó
chỉ đúng trong phạm vi hiện thực là Thái Dương Hệ. Nếu mở rộng hiện thực
khảo sát ra đến phạm vi dải Ngân Hà thì nhận định Mặt Trời đứng yên là
sai, vì hoạt cảnh của Thái Dương Hệ trong mối tương quan với tâm Ngân Hà
đã hiện lên rất khác biệt. Hiện tượng đó chính là do bị chi phối bởi
tính khách quan tương đối của hiện thực và tính khách quan tương đối của
hiện thực cũng là một sự thực khách quan không thể bác bỏ được. Tuy
nhiên, không phải vì sự chi phối đó mà con người không thể nhận thức
được sự vận động vật chất trong hiện thực của mình. Một khi đã biểu diễn
toán học một cách chính xác vận động của Thái Dương Hệ cũng như của
từng thiên thể của nó đối với tâm Ngân Hà thì dễ dàng rút ra được hoạt
cảnh trong Thái Dương Hệ khi hạn chế phạm vi hiện thực khảo cứu là chính
bản thân Thái Dương Hệ.
Tính
tương đối của chuyển động là có thực, trạng thái và quĩ đạo của một
chuyển động có thể được thấy khác nhau trong những phạm vi hiện thực
khác nhau. Hơn nữa, trong cùng một phạm vi hiện thực, có thể qui ước một
cách tùy tiện đâu là đứng yên, đâu là chuyển động. Làm được như thế là
vì trong hiện thực, con người không thể xác định dứt khoát được giữa hai
mặt tuyệt đối và tương đối của chuyển động, nhưng sâu xa hơn nữa là nhờ
đặc tính tương phản đối ứng (trong đó có đối xứng, thuận nghịch…) của
Tự Nhiên. Chính vì vậy mà thuyết địa tâm trong nghiên cứu thiên văn,
thuyết Phlôgistôn trong nghiên cứu hóa học mới có thể xuất hiện và ngự
trị trong khoa học một thời gian dài được.
Dễ
thấy sự qui ước là con dao hai lưỡi, có thể làm sáng tỏ hiện thực hơn
nhưng cũng có thể gây ngộ nhận, làm hiểu sai hiện thực. Một qui ước đúng
đắn, trước hết và trên hết, bao giờ cũng phải phù hợp thực sự với hiện
thực khách quan. Trong phạm vi Thái Dương Hệ mà qui ước Trái Đất đứng
yên còn Mặt Trời quay quanh Trái Đất thì đó là qui ước lầm lạc, phi hiện
thực và trước sau gì cũng bị đào thải trên con đường nhận thức khoa
học. Đây cũng chính là sự bộc lộ ra tính khách quan của qui ước.
Trong
hiện thực, chuyển động và đứng yên không chỉ bộc lộ ra tính tương đối
mà đồng thời còn bộc lộ ra tính tuyệt đối của chúng. Dù nói chung, hiện
thực của con người là vô cùng rộng lớn, nhưng vì những lý do như đã
trình bày, luôn phải qui ước (hay coi như ngầm thỏa thuận) phạm vi, qui
mô hiện thực khi khoa học nói chung và vật lý học nói riêng muốn nghiên
cứu hiệu quả các hiện tượng xảy ra trong đó. Chẳng hạn, khi con người
nghiên cứu sự chuyển động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời và xác
định được quĩ đạo của chúng có dạng đường elíp, thì coi như (dù vô ý
thức) đã qui ước phạm vi hiện thực là Thái Dương Hệ, coi Thái Dương Hệ
là một hiện thực độc lập, không có mối quan hệ nào đối với bên ngoài nó.
Đó là một qui ước ngầm, qui ước mà như không qui ước, thậm chí là hoàn
toàn vô tình, nhưng chính vì thế mà nó hợp lý và những kết quả nghiên
cứu rút ra được một cách phi mâu thuẫn nội tại đều phù hợp thực sự với
hiện thực khách quan. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chuyển động của các hành
tinh ấy trong dải Ngân Hà thì mặc nhiên phải mở rộng phạm vi hiện thực
của nghiên cứu khoa học ra qui mô rộng lớn bằng dải Ngân Hà. Rõ ràng là
trong hiện thực ấy, vì Mặt Trời chuyển động quay quanh tâm Ngân Hà nên
dù các hành tinh của Thái Dương Hệ vẫn quay quanh Mặt Trời thì quĩ đạo
của chúng không còn dạng đường elíp nữa. Do đó, cùng diễn tả chuyển động
của các hành tinh trong Thái Dương Hệ thì ở những phạm vi hiện thực
khác nhau, sẽ phải có những biểu diễn toán học khác nhau. Dù sao, vì
cùng diễn tả về một thực tại khách quan duy nhất, cũng như sự chuyển
biến biểu diễn toán học về chuyển động của các hành tinh từ phạm vi hiện
thực này sang phạm vi hiện thực khác là có tính chủ quan, hình thức và
đồng điệu nên có thể chuyển động chúng một cách tương ứng thành nhau. Đó
cũng chính là một trong những bộc lộ về tính tương đối của chuyển động
và đứng yên.
Hoàn
toàn có thể qui ước phạm vi hiện thực là Thái Dương Hệ để nghiên cứu
những hiện tượng chuyển động xảy ra trên Trái Đất. Trong hiện thực ấy,
rõ ràng chỉ có Mặt Trời là đứng yên, còn tất cả các hành tinh của nó đều
chuyển động. Do đó, một cách hợp lý, đương nhiên phải chọn (tâm) Mặt
Trời làm mốc so sánh, nghĩa là làm gốc tọa độ qui chiếu.
Làm
như thế quả là ngược đời, “đường quang không đi, lại đâm quàng bụi
rậm”! Về mặt thực tiễn và ứng dụng thì đó là hành động ngô nghê, phi lý.
Khi Trái Đất quay quanh Mặt Trời thì tất cả những gì thuộc về nó cũng
quay quanh Mặt Trời như thế (ở đây, chúng ta bỏ qua sự tự quay của Trái
Đất) cho nên hoàn toàn có loại bỏ, không cần chú ý đến chuyển động ấy
trong việc xác định trạng thái chuyển động của một vật nào đó trên mặt
đất cũng thỏa mãn yêu cầu ứng dụng thực tiễn. Sau đó nếu có “nhà thông
thái rỗi hơi” nào muốn qui chiếu biểu diễn chuyển động của vật ấy về gốc
tọa độ Mặt Trời thì chỉ việc “thêm” vào biểu diễn ấy những thông số
chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời là… xong ngay một công trình
không đến nỗi vô tích sự, vì ít ra cũng chọc được cho thiên hạ cười một
mẻ lộn ruột.
Như
vậy, dù vô tình hay hữu ý, dù qui ước hay không qui ước, mặc nhiên tồn
tại một phạm vi hiện thực nhất định đối với những khảo sát chuyển động
của vạn vật (động học, động lực học) ở một mức độ tổng quát nào đó mà
những kết quả toán học thiết lập được, nếu vượt ra khỏi phạm vi đó sẽ
không còn nghiệm đúng nữa. Điều đó cho thấy một qui ước hợp lý (phù hợp
với hiện thực), dù là chủ quan thì đồng thời cũng mang tính khách quan.
Chẳng hạn, khi xác định chiếc xe tải chở tảng đá chạy với vận tốc v,
thì có nghĩa chúng ta đã mặc nhiên thừa nhận phạm vi hiện thực là môi
trường ở bề mặt Trái Đất và vận tốc ấy là so với (cột) mốc đứng yên nào
đó trên mặt đất. Nếu lúc đó chúng ta cố tình qui ước phạm vi hiện thực
là Thái Dương Hệ thì rõ ràng cái qui ước ấy hoàn toàn chủ quan, khiên
cưỡng và do đó mà cũng thiếu tính khách quan. Có lẽ chính vì điều đó mà
xưa kia, trong niềm tin mù quáng vào cảm nhận trực giác, loài người đã
cho rằng Trái Đất đứng yên trong Vũ Trụ để rồi làm xuất hiện thuyết Địa
Tâm của Ptôlêmê.
Nhưng
trên cơ sở nào xác định tương đối được phạm vi hiện thực đối với một
khảo sát chuyển động nào đó? Chúng ta cho rằng, trên cơ sở về mối quan
hệ giữa chuyển động di dời và sự đứng yên. Khi chúng ta ở trong một toa
tàu hỏa chuyển động đều và khảo sát chuyển động của một vật nào đó thì
mặc nhiên chúng ta đã “gói gọn” phạm vi hiện thực của khảo sát ấy là
không gian bên trong toa tàu và không gian ấy là đứng yên. Vì sàn, vách,
trần của toa tàu xác định không gian của nó nên chúng cũng đứng yên và
có thể chọn bất cứ điểm nào cố định trên đó làm mốc đứng yên để khảo sát
chuyển động. Nói rộng ra, nếu chọn môi trường Trái Đất là phạm vi hiện
thực để khảo sát chuyển động trên mặt đất thì mặt đất sẽ là mặt đứng
yên. Nếu chọn phạm vi hiện thực là Thái Dương Hệ thì không gian thuộc
Thái Dương Hệ là đứng yên, và vì Mặt Trời được “gắn cố định” trong không
gian ấy nên nó được coi là cột mốc đứng yên để khảo sát chuyển động của
các hành tinh trong Hệ. Qua đó, có thể rút ra kết luận: Xét về mặt khảo
sát chuyển động, bao giờ cũng xác định tương đối được một phạm vi (qui
mô) hiện thực được cho là đứng yên tuyệt đối với mọi chuyển động trong
hiện thực ấy. Do đó, trong hiện thực ấy bao giờ cũng có ít nhất là một
điểm đứng yên tuyệt đối của nó (tương tự như điểm bất động trong toán
học) để dựa vào đó mà khảo sát mọi chuyển động trong đó. Khi điểm mốc
dựa vào đó để khảo sát mọi chuyển động là điểm đứng yên tuyệt đối trong
phạm vi hiện thực thì tất cả mọi chuyển động trong hiện thực ấy cũng
mang tính tuyệt đối (đối với phạm vi hiện thực ấy). Đó chính là một
trong những biểu hiện về tính tuyệt đối của sự chuyển động và đứng yên.
Trong phạm vi hiện thực là môi trường Trái Đất, không thể phủ nhận sự
đứng yên tuyệt đối của mặt đất và những gì gắn cố định vào nó cũng như
không thể phủ nhận tính tuyệt đối của những chuyển động trên mặt đất, so
với mặt đất. Có thể qui ước một vật chuyển động nào đó là đứng yên để
khảo sát sự chuyển động của những vật khác, song đó chỉ mang tính chủ
quan, khiên cưỡng, tạm thời và siêu hình vì không phù hợp với hiện thực
khách quan. Có thể qui ước một trái núi chuyển động và một con ngựa đang
phi là đứng yên so với trái núi. Nhưng qui ước như thế là hoàn toàn phi
lý, không tương thích, không phản ánh đúng, thậm chí là phản ánh trái
ngược với hiện thực khách quan…
Qua
sự trình bày có phần lê thê, thiếu mạch lạc ở trên chúng ta rút ra nhận
xét nhỏ này: khi nói chiếc xe tải chở tảng đá có khối lượng M với vận tốc v,
thì coi như chúng ta đã qui ước ngầm rằng vận tốc ấy được xác định
trong một hệ tọa độ nào đó có gốc tọa độ cố định trên mặt đất và vì gốc
tọa độ ấy đứng yên tuyệt đối trong phạm vi hiện thực ở Trái Đất nên giá
trị vận tốc v cũng là giá trị tuyệt đối trong hiện thực ấy. Nghĩa là chuyển động với vận tốc v là một hiện tượng khách quan “chắc như đinh đóng cột” và:
Mc2=Moc2+Mv2
là
biểu diễn toán học về sự chuyển hóa năng lượng toàn phần của tảng đá,
xảy ra thực sự trong hiện tượng khách quan. Nếu ai đó trên chiếc xe tải
cho rằng tảng đá đứng yên thì phải hiểu ngầm là tảng đá chỉ đứng yên so
với người đó thôi chứ thực ra, một cách khách quan, tảng đá (và cả người
đó) vẫn đang bị di dời bởi chiếc xe tải có vận tốc v. (Nếu biết vận tốc tuyệt đối w trong thực tại khách quan thì chắc chắn sẽ qui đổi được vận tốc tuyệt đối v trong
hiện thực khách quan về vận tốc ấy, nghĩa là có thể chuyển biến biểu
diễn năng lượng toàn phần của một vật chuyển động trong hiện thực khách
quan thành biểu diễn năng lượng toàn phần của vật đó trong thực tại
khách quan).
Năng lượng toàn phần của tảng đá có khối lượng M được xác định là Mc2.
Lượng năng lượng đó là bất biến trong thực tại khách quan và trong bất
cứ một hiện thực khách quan nào, một khi khối lượng của tảng đá chưa bị
biến đổi.
Giả sử rằng quãng đường thẳng và thời gian vận chuyển tảng đá của chiếc xe tải lần lượt là x và t thì theo quan niệm của vật lý cổ điển, chiếc xe tải cần phải tiêu tốn một “công sức” (thực ra là một xung lực):
Có thể hiểu biểu diễn đó theo hai hướng:
- Trong môi trường không có ma sát, chiếc xe tải sẽ phải vận chuyển tảng đá với vận tốc nhanh dần đều bởi tác động của một lực:
với
là gia tốc của chuyển động.
- Trong môi trường có ma sát, để đảm bảo chiếc xe tải chuyển động thẳng đều với vận tốc v trên quãng đường x, cần phải duy trì một lực tác động đến nó để cân bằng với lực ma sát, trong suốt thời gian t.
Rõ
ràng, cách hiểu thứ nhất “ám chỉ” chiếc xe tải chuyển động trong môi
trường không có lực cản (ngoài trường lực) và cách hiểu thứ hai ám chỉ
nó chuyển động trong môi trường có lực cản (trong trường lực). Nhưng dù
chiếc xe tải chuyển động ngoài hay trong trường lực (cản) thì để duy trì
lực F trên suốt quãng đường
(hay trong suốt thời gian t), phải hình dung rằng lực F cũng có vận tốc cùng phương chiều với vận tốc v và có giá trị (ít ra) là bằng vận tốc v. Nghĩa là biểu diễn hiện tượng theo xung lực - động lượng là chưa hoàn chỉnh và hoàn chỉnh hơn phải là biểu diễn sau:
F.v.t=M.v2
Hay: 
Và từ đó, vật lý cổ điển đưa ra khái niệm “công” (thành phần
ở vế trái của biểu diễn) và khái niệm động năng (thành phần m.v2 ở vế phải của biểu diễn).
Có thể phát biểu: muốn vận chuyển tảng đá có khối lượng M qua quãng đường dài x trong khoảng thời gian t (hay muốn “tạo ra” một động năng M.v2 (cũng có thể hiểu “tạo ra” một động lượng M.v chuyển động với vận tốc v)), chiếc xe tải phải bỏ ra một công (chưa tính công bỏ ra để tự vận chuyển bản thân nó) chí ít cũng phải bằng:
Trong
thực tiễn ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào đời sống lao động - sản
xuất, trước yêu cầu xác định số công cần thiết (hay lượng công sức phải
tiêu tốn) để vận chuyển (hay truyền đi) một lượng vật chất (được hiểu
như là một khối lượng) đến đâu đó, thì biểu diễn toán học về công ở trên
đã đủ đáp ứng, thậm chí là đáp ứng một cách mỹ mãn. Tuy nhiên thực tiễn
cũng chỉ ra rằng so sánh giữa hai con ngựa hoặc giữa con bò và con
ngựa, thường vẫn xảy ra sự chênh lệch nhau về sức kéo, nghĩa là khả năng
sinh công trong cùng một khoảng thời gian là khác nhau. Kinh nghiệm ấy
dẫn đến khái niệm “công suất”. Công suất là một đại lượng vật lý về trị
số bằng công do lực sinh ra trong một đơn vị thời gian. Qua đó, trong số
hai máy có khả năng sinh công, máy nào có công suất lớn hơn thì máy đó
được đánh giá là mạnh hơn. Nếu ký hiệu công suất là W thì biểu diễn toán học nhằm xác định nó là:
Cơ
học cổ điển được xây dựng nên trên cơ sở những quan niệm về vật chất và
sự tác động qua lại giữa chúng được rút ra từ cảm nghiệm chủ quan nặng
về trực giác và có phần ngộ nhận. Nếu chỉ xét trong phạm vi đáp ứng cho
nhu cầu nhận thức phát sinh trong thực tiễn lao động - sản xuất thông
thường, mang tính thực dụng thì cơ học cổ điển coi như đã hoàn thành sứ
mạng vẻ vang của nó.
Quá
trình tiếp tục tìm hiểu, khám phá bản chất các hiện tượng còn bí ẩn xảy
ra trong hiện thực khách quan cũng như khám phá bản chất đích thực của
vật chất đã tất yếu làm cho hiện thực khách quan vật lý dần mở rộng cả
về phía Vũ Trụ vĩ mô lẫn Vũ Trụ vi mô. Nhiều hiện tượng có vẻ thuần túy
thuộc lĩnh vực cơ học không những không thể giải thích được bằng cơ học
cổ điển mà còn làm bộc lộ ra những mâu thuẫn gay gắt, không khắc phục
được về mặt quan niệm, bộc lộ ra ngay trong các biểu diễn toán học cơ
bản nhất của nó.
Như
vậy, cơ học cổ điển không đủ khả năng giúp cho con người nhận thức rốt
ráo, triệt để về thực tại khách quan vật lý và tất yếu trong vật lý học
phải nảy sinh cuộc cách mạng về nhận thức như chúng ta đã kể, đi liền
với những tên tuổi lẫy lừng như Anhxtanh, Planck, Bo…
Bây giờ, chúng ta thử xem xét hiện tượng chiếc xe tải vận chuyển tảng đá khối lượng M với vận tốc v theo một cách quan sát hơi khác với truyền thống.
Chúng
ta cho rằng đại lượng biểu diễn tổng lực lượng vật chất của một vật xác
đáng nhất, triệt để nhất, tổng quát nhất, chính là năng lượng toàn
phần. Vậy thì, khi chiếc xe tải vận chuyển tảng đá khối lượng M trên một quãng đường x và trong thời gian t, diễn tả cho đầy đủ phải là: chiếc xe tải vận chuyển một năng lượng MC2 với vận tốc v, và như thế, biểu diễn toán học không còn là Mv nữa mà phải là MC2v , hay có thể viết:
FC2t=MC2v
Nếu
không chú ý đến chiếc xe tải thì coi như tảng đá “tự thân” chuyển động
ngoài “trường” lực cản (không bị ma sát) với vận tốc tuyệt đối v trong
hiện thực khách quan. Do đó, năng lượng toàn phần của nó, trước quan
sát, phải chuyển hóa, phân định thành hai thành phần là năng lượng nội
tại và động năng (Moc2 và Mv2).
Có
thể nói, chiếc xe tải vận chuyển tảng đá bằng cách chủ động tương tác
cơ học với tảng đá, làm cho tảng đá “bị” chuyển động với vận tốc v. Vì bị chuyển đổi trạng thái từ đứng yên sang chuyển động nên năng lượng toàn phần của nó bị chuyển hóa một phần đúng bằng Mv2. Nếu thế, phải kết luận rằng, “công sức” mà chiếc xe tải bỏ ra vận chuyển tảng đá với vận tốc v cũng chính là “công sức” làm chuyển hóa một phần năng lượng toàn phần của tảng đá thành động năng Mv2 của
nó và dạng năng lượng này là có thực, có thể quan sát thấy, có thể xác
định chắc chắn được trong hiện thực khách quan. Hay nói nôm na: đó là
lượng công sức làm cho trọng tâm của tảng đá (và do đó mà cả tảng đá)
“bị” chuyển động với vận tốc v.
Để dẫn đến nhận định trên thì trước hết chúng ta viết lại các biểu diễn:
MC2=MoC2+Mv2
Và:
Đặt: C2-v2=V2 thì có:
MC2=MV2+Mv2
Như vậy:
FC2t = (FV2+Fv2)t = (MV2+Mv2)v = MC2v Ở đây, MV2 là năng lượng nội tại của tảng đá đang chuyển động với vận tốc v trong
hiện thực khách quan. Năng lượng đó chỉ “bị” chiếc xe tải “bớt đi” chút
ít để làm thể hiện ra trong hiện thực khách quan lượng động năng của
tảng đá mà thôi chứ ngoài ra không còn “thấy” bất cứ một biến đổi nào
khác nữa. Hay nói khác đi, vận động nội tại của tảng đá đang chuyển
động, không chịu bất cứ một tương tác nào với chiếc xe tải, và hơn nữa,
nó luôn ở trạng thái cân bằng động. Vì V2 là
ảo, có thể tính toán ra được chứ không thể “thấy” trong hiện thực khách
quan, ngoài ra nó còn là một đại lượng vô hướng, cho nên năng lượng nội
tại MV2 cũng
mang tính ảo, không hiện hữu hoặc có thể cho là hiện hữu một cách tĩnh
tại tuyệt đối trong hiện thực khách quan ấy (tồn tại mà không hiện
hữu!). Vậy trong hiện thực khách quan thông thườn (ở tầng nấc vĩ mô) V2 phải bằng 0 và có thể rút ra từ biểu diễn vừa nêu ở trên:
Fv2t=Mv2v
Suy ra: Fx=Mv2
(Về mặt nhận thức, phải thấy
. Tuy nhiên, vì FV2t=MV2v, nên vẫn suy ra được biểu thức tính công của cơ học cổ điển!)
Đến
đây, có thể hiểu vì sao biểu thức tính công hay công suất là chính xác
và đắc dụng cho hoạt động khoa học - kỹ thuật trong hiện thực khách quan
thông thường của con người. Tuy nhiên, càng tìm hiểu sâu về phía Vũ Trụ
vi mô, nghĩa là càng mở rộng phạm vi hiện thực khách quan vật lý theo
chiều sâu, thì những biểu diễn toán học của cơ học cổ điển, trong đó có
biểu diễn công và công suất, cũng dần trở nên bất cập, thiếu chính xác,
thậm chí là không ứng dụng được.
Theo
cơ học cổ điển định nghĩa, năng lượng là số đo mức độ vận động của vật
chất. Từ định nghĩa đó mà đi đến quan niệm: một hệ vật chất có năng
lượng thì nó sẽ có khả năng sinh công. Điều quan trọng là thực nghiệm
cũng như hoạt động thực tiễn chỉ ra rằng, độ biến thiên năng lượng của
một hệ vật chất bằng công mà hệ đã trao đổi với bên ngoài.
Còn
chúng ta quan niệm: năng lượng là lượng vật chất vận động (chính xác
hơn: là lượng KG vận động). Trong thực tại khách quan, một thực thể cũng
chính là một lượng vật chất vận động hay một lượng năng lượng. Lượng
năng lượng này còn được gọi là năng lượng toàn phần của thực thể, được
xác định bằng khối lượng của thực thể nhân với bình phương giá trị vận
tốc cực đại C trong Vũ
Trụ. Năng lượng toàn phần của thực thể luôn được bảo toàn một khi khối
lượng của thực thể đó không biến đổi. Tuy nhiên, trong mối tương quan về
vận động giữa thực thể với mỗi đối tác mà lượng năng lượng toàn phần
của thực thể ấy phân định tương đối thành hai phần tương phản nhau,
chuyển hóa qua lại nhau. Có thể gọi hai thành phần năng lượng ấy một
cách chung nhất là “nội năng” và “ngoại năng”. Trước quan sát và nhận
thức, nội năng được cho là có các tính: chìm khuất, tiềm ẩn, tĩnh tại,
còn ngoại năng thì có các tính: nổi trội, hiện thực, hoạt động.
Trên
cơ sở quan niệm của chúng ta về năng lượng mà thấy, bất cứ vật nào cũng
có khả năng sinh công, dù thụ động hay chủ động. Trong hiện thực khách
quan,, khi thấy một vật (chủ động) sinh công, tác động đến một vật khác,
thì tuân theo nguyên lý tác dụng tương hỗ, vật bị tác động cũng đồng
thời (bị động) sinh công đúng bằng ngần ấy tác động trở lại. Tuy nhiên,
không thể có bất cứ vật nào chủ động sinh công được nếu trước đó nó
không tương tác với môi trường chứa nó (gồm cả các thực thể khác nó), vì
như thế sẽ phạm vào một trong những nguyên lý cơ bản của Tự Nhiên:
nguyên lý nhân quả. Tóm lại, vật nào cũng có khả năng sinh công nhưng
muốn biến khả năng đó thành hiện thực thì đối với một vật, điều kiện
tiên quyết là phải tương tác với môi trường chứa nó.
Khi
chiếc xe tải vận chuyển tảng đá thì có nghĩa chiếc xe tải đã sinh công.
Có như thế là nhờ động cơ của nó tác động đến bánh xe. Động cơ hoạt
động được là nhờ phản ứng gây cháy (phản ứng oxy hóa khí) ở áp suất cao
giữa nhiên liệu (xăng, dầu) và khí oxy trong xilanh tác động làm chuyển
động pitông đồng thời khí thải bị tống ra môi trường. Cứ cố tình giả sử
rằng tự thân chiếc xe tải làm cho động cơ (thuộc nội tại) của nó hoạt
động thì nó cũng không thể chủ động sinh công vận chuyển tảng đá được
nếu không có sự tương tác (hiện tượng ma sát) giữa các bánh xe của nó
với mặt đường (thuộc về môi trường chứa nó).
Có
thể suy đoán rằng, nguyên nhân làm cho các pitông của động cơ xe tải
sinh công là sự cưỡng bức chuyển hóa đột biến một phần tĩnh năng thành
động năng nhờ phản ứng cháy làm biến đổi vật chất (biến đổi các nguyên
tử tham gia phản ứng thành các nguyên tử khác sau phản ứng). Nhưng
nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất là sự giải phóng có tính bùng phát bức
xạ KG ẩn chứa tiềm năng trong các chất tham gia phản ứng của các thực
thể vi mô tương tác, chuyển hóa lẫn nhau để tự phân hủy và tái tạo thành
các chất mới. Chính sự vận động của lực lượng bức xạ này đã làm cho
nhiệt độ và áp suất, trong xilanh tăng vọt, tạo điều kiện chuyển hóa
năng lượng toàn phần của pitông theo hướng từ nội năng sang động năng và
sinh công.
Khi pitông sinh công làm cho tảng đá thể hiện ra một động năng Mv2 thì
đồng thời tảng đá cũng tác động lại pitông làm xuất hiện quá trình
chuyển hóa năng lượng ngược lại trong xilanh: theo hướng từ động năng
sang tĩnh năng. Nếu không có sự xả thải sản phẩm cháy ra môi trường và
sự cung cấp nhiên liệu mới (nghĩa là khối lượng vật chất trong xilanh
không bị biến đổi) thì năng lượng toàn phần trong đó bất biến về lượng.
Tình hình đó rõ ràng làm mất (dần?) khả năng sinh công nhằm vận chuyển
tảng đá (cũng như vận chuyển bản thân xe tải) của động cơ xe tải. Muốn
duy trì sự vận chuyển xe tải, động cơ phải lặp lại quá trình ban đầu,
nghĩa là phải loại bỏ chất thải trong xilanh, nạp nhiên liệu mới và tạo
phản ứng cháy trong điều kiện áp suất cao…
Nếu
ngay khi sự nổ, do phản ứng cháy trong điều kiện áp suất cao xảy ra,
pitông bị cố định chặt, không hoạt động được, thì vận động vật chất
trong lòng xilanh rõ ràng là cũng không sinh công được, nghĩa là “cái gì
của Xêda phải trả lại cho Xêda”. Nói chặt chẽ hơn, nếu giả sử rằng vách
ngăn môi trường nội tại xilanh với môi trường bên ngoài cách ly hoàn
toàn hai môi trường ấy, thì vận động vật chất trong lòng xilanh không
thể sinh công tác động đến bất cứ vật nào thuộc môi trường bên ngoài.
Lúc đó nội tại xilanh không khác một hệ nhiệt động bị cô lập và do đó
sớm muộn gì cũng phải đạt đến trạng thái cân bằng (bền) nhiệt động.
Giả
sử tiếp rằng, ngay sau vụ nổ, tất cả các thực thể trong lòng xilanh đều
tồn tại dưới dạng bức xạ điện từ và lòng xilanh là một hốc cầu thì lúc
này “trước mắt” chúng ta đích thị là hệ Ho cô
lập, chứa toàn bức xạ và ở trạng thái cân bằng nhiệt động - hay có thể
gọi nó dưới một cái tên quen thuộc mà cũng ngắn gọn hơn: hốc đen tuyệt
đối Ho.
Đối với môi trường bên ngoài, vận động vật chất trong hốc đen tuyệt đối Ho không
thể sinh công. Khẳng định như thế tưởng hiển nhiên nhưng thực ra là
không chắc chắn. Nếu xét theo góc độ coi mặt cách ly môi trường Kg hốc Ho với
môi trường ngoài thuộc về môi trường ngoài thì vì khi lực lượng bức xạ
tác động đến nó thì nó đồng thời cũng tác động trở lại lực lượng bức xạ,
làm chuyển hóa năng lượng toàn phần của các bức xạ tác động vào nó,
nghĩa là làm cho động năng của các bức xạ ấy đổi chiều từ hướng vào nó
sang hướng ra xa nó. Mặt cách ly rõ ràng là đã bị động sinh công liên
tục cho nên lực lượng bức xạ trong hốc Ho phải đóng vai trò liên tục chủ động sinh công, tác động đến mặt cách ly, nghĩa là sinh công đối với môi trường bên ngoài. Vì hệ Ho là hệ cô lập và cân bằng nhiệt động nên sự thu công và phát công của mặt cách ly cũng cân bằng.
Hiển nhiên, nếu không tồn tại mặt cầu cách ly So thì hệ Ho cũng không thể tồn tại. Chính mặt So đã đóng vai trò quyết định đến sự bảo toàn năng lượng trong hệ Ho và làm cho vận động nội tại của hệ Ho không những được cân bằng mà còn được duy trì lâu dài, nghĩa là có tính tuần hoàn theo chu kỳ và tính vĩnh cửu.
Vì hệ Ho cũng chính là hốc đen tuyệt đối nên mặt cầu cách ly So cũng được coi là mặt thu - phát đồng thời năng lượng bức xạ trong nội tại hệ Ho và sự thu - phát đó là cân bằng.
Như chúng ta đã hình dung, trong hốc đen tuyệt đối Ho, nếu mặt cầu So được coi là một mặt thực thu phát (ảo) năng lượng bức xạ một cách cân bằng thì mặt cầu ảo SA đồng tâm với nó và cách nó một khoảng h,
cũng được coi là mặt thu phát (thực) năng lượng bức xạ một cách cân
bằng. Có thể cho đó là đặc tính cơ bản nhất của hốc đen tuyệt đối dạng
cầu, và nếu đúng thế thì tất cả các mặt ảo đồng tâm với So đều là mặt thu phát cân bằng năng lượng bức xạ.
Cần
phải có một biểu diễn toán học tổng quát cho các nhận định nêu trên và
chúng ta cho rằng có thể xây dựng biểu diễn đó trên cơ sở biểu diễn mà
chúng ta đã xác lập:
Với: p là tiềm áp suất trên mặt cầu ảo bất kỳ S (mặt này đồng tâm với mặt cầu So)
N là số bức xạ có trong phần thể tích V (phần thể tích này được giới hạn bởi mặt ảo S)
m là khối lượng bức xạ được xác định tại mặt S
c là vận tốc di dời cực đại tuyệt đối trong Vũ Trụ
h là hằng số Planck
K là hằng số bônzman
T là nhiệt độ tuyệt đối trong hốc Ho.
Vì phát và thu năng lượng bức xạ tại mặt S là
hai quá trình tương phản nhau, bằng nhau về lực lượng nhưng ngược chiều
nhau, nên chỉ cần xét đến một quá trình. Chúng ta xét quá trình phát
năng lượng bức xạ. Nếu coi khối cầu có mặt bao ngoài S là một hệ thu - phát bức xạ thì hướng phát của nó là có chiều từ tâm ra và vuông góc với mặt S (hướng kính).
Có thể thấy hiện tượng vận chuyển tảng đá của chiếc xe tải và hiện tượng phát bức xạ của mặt cầu S là
hoàn toàn tương tự nhau về mặt di dời năng lượng trong không gian.
Trong biểu diễn vừa nêu lại ở trên, chúng ta thấy vế trái là tiềm áp
suất p. Tiềm áp suất p là một đại lượng ảo, được xác định bằng tổng (tiềm) lực chia cho diện tích (ảo) của mặt S, nghĩa là bằng một (tiềm) lực do bức xạ gây ra, tác động lên một đơn vị diện tích (ảo) của mặt S. Đương nhiên, sự tác động đó cũng chỉ là một quá trình ảo (phi thực).
Tương
phản của ảo là thực. Cho nên có thể biến đổi một quá trình ảo thành quá
trình thực tương phản với nó. Tiềm lực là một đại lượng mang tính ảo
(dù là trong thế giới vật lý). Công hay công suất được thiết lập trên cơ
sở tiềm lực và được biểu diễn với sự có mặt của đại lượng tiềm lực,
cũng mang tính ảo (chưa thực). Như vậy, tương tự như trong cơ học cổ
điển, nếu chúng ta nhân hai vế của biểu diễn tiềm áp lực ở trên với tích
của hai đại lượng: diện tích mặt cầu ảo S, và tốc độ lan truyền qua mặt S của các bức xạ (giả sử là v), thì sẽ có được biểu diễn công suất phát bức xạ (ảo) của mặt cầu ảo S. Gọi công suất phát bức xạ (ảo) qua mặt S là
, chúng ta có:
Nếu chúng ta chia trở lại các vế của biểu diễn đó cho diện tích mặt ảo S, thì theo định nghĩa của nhiệt học, sẽ có được biểu diễn năng suất bức xạ toàn phần của mặt S tại nhiệt độ T, ký hiệu là ET:
Đến đây chúng ta đưa ra hai nhận xét:
- Vì trong chân không vận tốc lan truyền của bức xạ điện từ (mà chúng ta gọi là bức xạ KG) luôn bằng C, nên phải cho rằng vận tốc giả định v trong biểu diễn chính là C. Mặt khác, vì trong hốc Ho mật
độ năng lượng lớn hơn so với mật độ năng lượng trong chân không (được
qui ước bằng 0), nên tất yếu quãng đường mà bức xạ di dời trong đó sau
một đơn vị thời gian, theo đánh giá của hệ quan sát trong chân không
(bên ngoài hốc Ho)
phải ngắn hơn quãng đường đạt được trong chân không sau cũng một đơn vị
thời gian đó. Như vậy, phải thêm vào vế cuối của biểu diễn trên một hệ
số nhân có giá trị đúng bằng:
với
là số chỉ mức năng lượng trong hốc Ho so với chân không
- Vì vận động của bức xạ trong hốc Ho (cô
lập và cân bằng nhiệt động) là ổn định và được duy trì một cách điều
hòa, cho nên trong trường hợp lý tưởng vận động ấy phải tuân theo một
cách nghiêm ngặt qui luật có biểu diễn toán học ở trên. Như vậy, quá
trình lan truyền và chuyển hóa của mọi bức xạ giữa nội năng và động năng
của chúng cũng phải tuân thủ theo một qui định chung. Hơn nữa, đi kèm
với quá trình lan truyền (theo hướng kính) và chuyển hóa năng lượng đó
là quá trình biến đổi từ bức xạ có tần số này thành bức xạ có tần số
khác. Chúng ta cho rằng, để phù hợp với biểu diễn toán học ở trên thì
tần số bức xạ trong hốc Ho tăng dần một cách đều đặn theo hướng kính từ ngoài đến tâm và ngược lại, trong một khoảng tần số
và
khoảng tần số này được xác định tùy thuộc vào trạng thái nhiệt động
của mỗi hốc đen tuyệt đối (đây phải chăng là hiện tượng đã xảy ra trong
Vũ Trụ dưới tên gọi "sự dịch về phía đỏ của tần số" mà loài người đã
ngộ nhận, dẩn đến quan niệm Vũ Trụ giãn nở - học thuyết Big Bang?!).
Điều đó dẫn đến suy lý: trên mỗi mặt cầu ảo chỉ tồn tại duy nhất một
loại bức xạ có tần số xác định và là đặc trưng cho mặt cầu ảo ấy. Như
vậy, năng suất bức xạ toàn phần tại một mặt cầu ảo nào đó trong hốc Ho cũng chính là năng suất bức xạ riêng phần của nó, hay, đối với mặt S:
Từ hai nhận xét đó, chúng ta viết ra biểu diễn:
Chúng ta phân vế phải của biểu diễn thành hai phần:
Và biến đổi lần lượt hai thành phần ấy:
+ Biến đổi thành phần
:
Có thể xác định thể tích V theo đường kính biểu kiến của một bức xạ (khi nó định xứ):
với n' là một hệ số (dương)
Và:
với t là đơn vị thời gian qui ước của hệ quan sát đặt trong chân không, bên ngoài hốc Ho.
Từ đó:
Vì
với t' là đơn vị thời gian “riêng” của nội tại bức xạ, được xác định trong hệ Ho. (Giữa t và t' có mối quan hệ:
). Ngoài ra cũng vì
:
Nên:
+ Xét thành phần
:
Có thể hình dung: C2 là số chỉ tổng năng lượng toàn phần có trong hốc Ho,
là số chỉ tổng năng lượng nội tại của bức xạ “hiện diện” ở mặt cầu ảo S. Hay phát biểu đơn giản hơn, đó là tỷ số giữa mức năng lượng tại mặt ảo S và mức năng lượng cực đại có thể có trong hốc Ho.
Suy đoán thêm rằng, tỷ số về mức năng lượng đó có mối quan hệ khăng
khít với các đại lượng khác trong việc thể hiện quá trình vận động nội
tại một cách cân bằng và điều hòa của hốc đen tuyệt đối Ho. Một trong những mối quan hệ đó là:
Có thể thay chỉ số C2 bằng Eo.
Biết rằng thành phần tử số ở vế trái cũng như vế phải có giá trị rất
nhỏ so với thành phần đóng vai trò mẫu số của chúng, nên có thể viết
chúng dưới dạng vi phân của mẫu số:
Sau khi lấy dấu tích phân sẽ có:
Vậy:
Để đến được với công thức Planck, không còn cách nào khác, chúng ta phải “hạ quyết tâm” rằng:
Cuối
cùng rồi cũng phải đến hồi kết. Trong dân gian Việt Nam có câu: “Có thờ
có thiêng, có kiêng có lành”. Hiểu đại khái: dù chưa biết chắc sự hiển
linh có thật hay không thì cứ thờ, cứ kiêng, chẳng mất gì mà may ra còn
được thọ nhận. Từa tựa như vậy còn có thành ngữ: “Cầu được, ước thấy”.
Nghĩa là hãy bền lòng nuôi hy vọng, hay kiên tâm mà cầu ước, rồi thì
cũng ra đạt được điều mong muốn, và lúc đó sẽ phải tin vào sự hiển linh,
vào điều mà M. Planck khẳng định: "“Một
chân lý mới của khoa học thường thắng lợi không phải bằng cách những kẻ
chống đối nó sẽ được thuyết phục và tuyên bố mình được dạy dỗ, mà đúng
hơn bằng cách những kẻ chống đối dần dần chết hết và thế hệ mới ngay từ
đầu được làm quen với nó”.
Đối
với riêng chúng ta, không còn gì phải bàn cãi: hiện tượng hiển linh là
có thật, bởi vì trong suốt cuộc hành trình dài dằng dặc cho đến đây của
mình, có nhiều lúc gặp phải những vấn đề cam go, thực sự nan giải, thậm
chí đã tưởng hoàn toàn bế tắc, thì đâu đó từ phía không thể ngờ nổi,
vọng về những thì thầm mách bảo kỳ diệu, đóng vai trò vạch đường chỉ lối
cho chúng ta tiếp tục tiến lên.
Và
lần này nữa, đặt cược niềm tin vào quan niệm về bản chất nhiệt và nhiệt
độ của mình, chúng ta đã cố công mở ra con đường xuất phát từ phương
trình trạng thái khí lý tưởng kết hợp với phương trình cơ bản của thuyết
động học phân tử để đến với công thức Planck. Dù con đường ấy là kết
quả đẫm màu suy lý thiên vị, chủ quan “duy ý chí” nên cũng không ít thô
kệch, khiên cưỡng, thì chúng ta vẫn cho rằng con đường ấy đồng thời cũng
là kết quả của một sự mách bảo tâm linh. Nghĩa là dù con đường ấy có
phù phiếm và nực cười đến mấy thì vẫn hàm chứa chân lý. Ai chế nhạo mặc
lòng, chúng ta cứ “tạc” ra đây điều mà chúng ta tâm huyết, và vật lý
tương lai sẽ chứng thực:
Từ:

Nhận xét
Đăng nhận xét