Chuyển đến nội dung chính

CÓ LINH HỒN KHÔNG? 08

(Tiếp)

 
Nhà Khoa Học Trở Về Từ Thế Giới Bên Kia Đính Chính Lại Sự Tồn Tại Của Linh Hồn | Vũ Trụ Nguyên Thủy

                            CÓ LINH HỒN KHÔNG?

15 - Linh hồn có tồn tại không? Bằng chứng nói ‘Có’

    Thiện Tâm •Chủ nhật, 06/12/2020

Có hay không sự tồn tại của linh hồn là một trong những câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống. Mặc dù các tôn giáo luôn nói về sự tồn tại của nó, nhưng làm sao chúng ta biết được liệu linh hồn có thực sự tồn tại hay không? Một chuỗi các thí nghiệm khoa học mới giúp trả lời câu hỏi tâm linh cổ xưa này. Bài viết của Tiến sĩ Robert Lanza, 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2014 được tạp chí TIME bình chọn.

Tiến sĩ Robert Lanza là Trưởng phòng Y học Tái sinh Toàn cầu Astellas, Giám đốc Khoa học của AIRM và là giáo sư tại Đại học Wake Forest, Mỹ. Tạp chí TIME đã công nhận ông là một trong “100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới”. Ông có nhiều nghiên cứu sâu về lĩnh vực tế bào gốc, kỹ thuật mô, y học tái tạo. Ông cũng có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực tư tưởng của con người và được tạp chí Prospect vinh danh là một trong 50 “Nhà tư tưởng của thế giới”.
linh hồn
Tiến sĩ Robert Lanza, được tạp chí Prospect vinh danh là một trong 50 “Nhà tư tưởng của thế giới”. (Ảnh: Wikipedia)

Ý tưởng về linh hồn gắn liền với ý tưởng về một cuộc sống tương lai và niềm tin của chúng ta về sự tồn tại tiếp tục sau khi chết. Nó được cho là yếu tố cơ bản cuối cùng sống động nhất mà chúng ta suy nghĩ và cảm nhận, nhưng không phụ thuộc vào cơ thể. Nhiều người suy ra sự tồn tại của nó mà không cần phân tích hay phản ánh khoa học. Thật vậy, những bí ẩn về sự sinh ra và cái chết, cuộc dạo chơi của ý thức trong những giấc mơ (hoặc khi ta say rượu), và thậm chí cả những hoạt động trí óc phổ biến nhất – chẳng hạn như trí tưởng tượng và trí nhớ – gợi ý sự tồn tại của một sinh lực quan trọng – thứ tồn tại độc lập với cơ thể.

Tuy nhiên, mô hình khoa học hiện tại không nhận ra không gian tinh thần này của cuộc sống. Chúng ta được dạy rằng ta chỉ là hoạt động của phân tử các-bon và một số phân tử protein; chúng ta sống một thời gian và chết. Và vũ trụ? Nó cũng không có ý nghĩa. Tất cả đã được tính toán theo phương trình – không cần linh hồn. Nhưng Thuyết trung sinh (biocentrism – sự sống làm trung tâm) – một ‘lý thuyết về mọi thứ’ mới – thách thức mô hình thực tại duy vật truyền thống này. Theo tất cả các hướng, mô hình lỗi thời này dẫn đến những bí ẩn khó giải đáp, đến những ý tưởng cuối cùng là phi lý. Nhưng kiến ​​thức là khúc dạo đầu cho sự khôn ngoan, và chẳng bao lâu nữa thế giới quan của chúng ta sẽ bắt kịp sự thật.

Tất nhiên, hầu hết những người có tín ngưỡng nhìn nhận về linh hồn một cách rõ ràng và dứt khoát hơn khái niệm khoa học. Nó được coi là bản chất thực sự của một người, và được cho là bất tử và siêu việt so với sự tồn tại vật chất. Nhưng khi các nhà khoa học nói về linh hồn (nếu có), nó thường ở trong bối cảnh vật chất, hoặc được coi như một từ đồng nghĩa đầy thi vị của suy nghĩ. Mọi thứ có thể biết về “linh hồn” đều có thể học được bằng cách nghiên cứu hoạt động của não bộ. Theo quan điểm của họ, khoa học thần kinh là nhánh nghiên cứu khoa học duy nhất có liên quan đến việc tìm hiểu linh hồn.

Theo truyền thống, khoa học đã bác bỏ linh hồn như một đối tượng của niềm tin của con người, hoặc tối giản nó thành một khái niệm tâm lý giúp định hình nhận thức của chúng ta về thế giới tự nhiên có thể quan sát được. Vì vậy, thuật ngữ “sự sống” và “cái chết” không khác gì những khái niệm chung về “sự sống sinh học” và “cái chết sinh học.” Nguyên tắc hoạt hình đơn giản là các quy luật hóa học và vật lý. Bạn (và tất cả các nhà thơ và triết gia từng sống) chỉ là hạt bụi quay quanh lõi của dải Ngân hà.

Khi tôi ngồi đây trong văn phòng của mình với hàng đống sách khoa học, tôi không thể tìm thấy một tài liệu tham khảo nào về linh hồn, hay bất kỳ khái niệm nào về một bản chất vĩnh cửu, phi vật chất đang chiếm hữu chúng ta. Thật vậy, một linh hồn chưa bao giờ được nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử, cũng như không được quay trong phòng thí nghiệm trong ống nghiệm hoặc máy siêu ly tâm. Theo những cuốn sách này, không có gì tồn tại lâu hơn cơ thể con người sau khi chết.

Trong khi khoa học về thần kinh đã đạt được những tiến bộ to lớn làm sáng tỏ hoạt động của bộ não, tại sao một trải nghiệm chủ quan vẫn còn là điều bí ẩn. Vấn đề của linh hồn nằm chính xác ở đây, trong việc hiểu bản chất của cái tôi, cái “tôi” đang tồn tại để cảm nhận và sống cuộc sống. Nhưng đây không chỉ là vấn đề đối với sinh học và khoa học nhận thức, mà còn đối với toàn bộ triết học tự nhiên phương Tây.

Thế giới quan hiện tại của chúng ta – thế giới của khách quan và chủ nghĩa hiện thực ngây thơ – đang bắt đầu xuất hiện những vết nứt nghiêm trọng. Tất nhiên, điều này sẽ không gây ngạc nhiên cho nhiều triết gia và những độc giả khác, những ai, khi chiêm ngưỡng các tác phẩm của những người như Plato, Socrates, Kant, Đức Phật và các vị thầy tâm linh vĩ đại khác, luôn băn khoăn về mối quan hệ giữa vũ trụ và tâm trí của con người.

Gần đây, thuyết trung sinh và các lý thuyết khoa học khác cũng bắt đầu thách thức mô hình vật lý – hóa học cũ, và đặt ra một số câu hỏi khó về sự sống: Có linh hồn không? Có điều gì chịu đựng được sự tàn phá của thời gian?

Cuộc sống và ý thức là trung tâm của quan điểm mới này về bản thể, thực tại và vũ trụ. Mặc dù mô hình khoa học hiện tại dựa trên niềm tin rằng thế giới có sự tồn tại khách quan không phụ thuộc vào người quan sát, các thí nghiệm thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Chúng ta nghĩ rằng cuộc sống chỉ là hoạt động của các nguyên tử và hạt, chúng quay xung quanh một lúc rồi tan biến vào hư vô. Nhưng nếu chúng ta thêm sự sống vào phương trình, chúng ta có thể giải thích một số câu đố lớn của khoa học hiện đại, bao gồm nguyên lý bất định, sự vướng víu và sự tinh chỉnh của các quy luật hình thành vũ trụ.

Hãy xem xét thí nghiệm khe đôi nổi tiếng. Khi bạn quan sát một hạt đi qua các khe, nó sẽ hoạt động giống như một viên đạn, đi qua khe này hay khe khác. Nhưng nếu không có ai quan sát hạt, nó thể hiện hành vi của sóng và có thể đi qua cả 2 khe cùng một lúc. Thí nghiệm này và các thí nghiệm khác cho chúng ta biết rằng các hạt không được quan sát chỉ tồn tại dưới dạng ‘sóng xác suất’ như nhà vật lý học và toán học Max Born, người đoạt giải Nobel đã chứng minh vào năm 1926. Chúng là những dự đoán thống kê – không có gì khác ngoài một kết quả có thể xảy ra. Cho đến khi được quan sát, chúng không có tồn tại thực sự; chỉ khi tâm trí người quan sát đặt đúng vị trí, chúng mới có thể được coi là có khoảng thời gian tồn tại hoặc có vị trí trong không gian. Các thí nghiệm ngày càng làm rõ rằng ngay cả kiến ​​thức đơn thuần trong đầu người thí nghiệm cũng đủ để biến khả năng thành hiện thực.

Nhiều nhà khoa học bác bỏ ý nghĩa của những thí nghiệm này, bởi vì cho đến gần đây, hành vi phụ thuộc vào người quan sát này được cho là chỉ giới hạn trong thế giới hạ nguyên tử. Tuy nhiên, điều này đang được các nhà nghiên cứu trên thế giới thách thức. Trên thực tế, trong năm 2011, một nhóm các nhà vật lý (ông Gerlich và cộng sự, Nature Communications 2: 263, 2011) đã chỉ ra rằng sự kỳ lạ lượng tử cũng xảy ra trong thế giới quy mô con người. Họ đã nghiên cứu các hợp chất khổng lồ bao gồm tới 430 nguyên tử, và xác nhận rằng hành vi lượng tử kỳ lạ này mở rộng ra thế giới rộng lớn hơn mà chúng ta đang sống.

Quan trọng là, điều này có liên quan trực tiếp đến câu hỏi liệu con người và các sinh vật sống khác có linh hồn hay không. Như nhà triết học Kant đã chỉ ra hơn 200 năm trước, mọi thứ chúng ta trải nghiệm – bao gồm tất cả màu sắc, cảm giác và đối tượng mà chúng ta nhận thức – không là gì ngoài những hình ảnh đại diện trong tâm trí chúng ta. Không gian và thời gian chỉ đơn giản là công cụ của tâm trí để kết hợp tất cả lại với nhau. Giờ đây, trước sự thích thú của những người theo chủ nghĩa duy tâm, các nhà khoa học đang bắt đầu lờ mờ nhận ra rằng những quy tắc đó khiến bản thân sự tồn tại trở nên khả thi. Thật vậy, các thí nghiệm trên cho thấy rằng các vật thể chỉ tồn tại với các thuộc tính thực nếu chúng được quan sát. Kết quả không chỉ thách thức trực giác cổ điển của chúng ta, mà còn cho thấy rằng một phần của tâm trí – linh hồn – là bất tử và tồn tại bên ngoài không gian và thời gian.
linh hồn
Ảnh minh họa. (Ảnh: Bruce Rolff/Shutterstock.com)

Nhà sử học, triết học người Mỹ Will Durant viết “Hy vọng về một cuộc sống khác” cho chúng ta dũng khí để đối mặt với cái chết của chính mình và chịu đựng cái chết của những người thân yêu của chúng ta; chúng ta được trang bị vũ khí 2 lần nếu chúng ta chiến đấu bằng niềm tin.”

Và chúng ta được trang bị gấp 3 lần nếu chúng ta chiến đấu với khoa học.

Theo Psychology Today

Thiện Tâm biên dịch

Bạn đang sao chép nội dung của Trí Thức VN. Nếu là cá nhân sử dụng, vui lòng ghi rõ nguồn trithucvn.org. Nếu là website, kênh truyền thông, vui lòng chỉ sử dụng nội dung khi có sự  cho phép của Trí Thức VN.

Camera bắt được cảnh hồn lìa khỏi xác: Bằng chứng chấn động về sự tồn tại của linh hồn

16 - Biện hộ cho Linh hồn

Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hoan. Mới đây trên Radio The Moth, một cô gái trẻ chia sẻ câu chuyện của mình, kể về việc cô chia tay một người mà cô có tình cảm sâu đậm. Vấn đề là, cô có một đức tin sâu sắc, và phải đấu tranh với chủ nghĩa duy vật của bạn trai. Với anh ấy, linh hồn không tồn tại, chỉ có thế giới vật chất mà thôi. Cô cứ hỏi xem anh có tin mình có linh hồn không. Anh ấy không thể bắt mình tin như thế được. Và cuối cùng, dù đau lòng, nhưng họ đã chia tay. Tại sao lại thế? Nói theo lời cô ấy thì: “Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hồn.”

Nỗi thất vọng của cô, vô số người cũng từng gặp. Thế giới của chúng ta ngày càng chối bỏ sự tồn tại của linh hồn. Nhưng không phải lúc nào cũng như thế. Cho đến trước thời hiện đại, thường thì chính vật chất và thân thể mới không được tôn vinh xứng đáng. Nhưng mọi thứ đã thay đổi, một cách triệt để.

Bắt đầu từ Darwin, người đặt nguồn gốc của chúng ta vào lịch sử thân thể hơn là linh hồn. Và điều này càng thành hình rõ hơn trong triết học cơ giới của thế kỷ trước, xem cả vũ trụ và chúng ta là những cỗ máy vật chất. Rồi điều này càng được củng cố hơn khi y học hiện đại và tâm lý kinh nghiệm ngày càng giải thích rằng, não trước hết là một phức hợp carbon và phản ứng hóa học. Rồi tâm thức này càng phát triển hơn nữa khi các trường đào tạo cấo cao của chúng ta tập trung vào kỹ thuật công nghệ hơn là về suy tư. Và tâm thức này cũng tích tụ trong nền văn hóa phổ biến hiện thời, khi tình yêu và tình dục được giải thích theo kiểu hóa sinh hơn là theo linh hồn. Thật chẳng có gì bất ngời khi câu khẩu quyết cho các ca sĩ pop thời nay là: Em muốn cơ thể anh! Anh muốn cơ thể em! Chúng ta đã đi quá xa khỏi hôn nhân của tâm trí đích thực của Shakespeare, và tình yêu của linh hồn lữ hành của Yeat.

Tất nhiên, tôn giáo luôn phản đối chuyện này, nhưng thường thì nhận thức của tôn giáo về linh hồn lại quá hẹp để có đủ sức mạnh kéo nền văn hóa vật chất về lại khao khát khám phá và lắng nghe linh hồn. Mỉa mai thay, một nhân vật không có tôn giáo, Carl Jung, lại nói về linh hồn theo một cách tri thức. Và chính nơi người bệnh, người điên, người tự tử, và những người có cuộc sống bị sụp đổ, mà Jung bắt đầu nghe ra tiếng kêu của linh hồn (với những đòi hỏi đôi khi rất khác với những đòi hỏi của thân thể, và với nhu cầu còn hơn xa yêu cầu tiện nghi và sống thọ).

Những khẳng định của Jung và các môn đồ của ông, có thể xem là một lời kháng nghị cho linh hồn. Chẳng hạn như trong bài viết của James Hillman. Mỉa mai thay, một người theo thuyết bất khả tri như ông có thể nói về linh hồn thật sâu sắc đến nỗi những người theo đạo như chúng tôi phải thấy mình nhỏ bé và ghen tị. Như Jung, James cũng rút ra nhiều thấu suốt của mình từ việc lắng nghe linh hồn kêu lên ý nghĩa và nỗi đau của mình qua tiếng nói của người bệnh, người điên, người sụp đổ và tự tử. Ông tin rằng tôn giáo, y học và tâm lý học, không lắng nghe tiếng kêu của linh hồn. Chúng không ngừng cố gắng sữa chữa, trị bệnh, hay cứu linh hồn, hơn là lắng nghe linh hồn. Mà linh hồn không mong muốn hay cần được chữa trị. Linh hồn là bất diệt rồi. Linh hồn cần được nghe, và nghe với hết sự tốt lành thiêng liêng và phức tạp trần gian của nó. Và đôi khi điều linh hồn nói với chúng ta lại đi ngược với mọi thường thức, kiến thức y học và cả các linh đạo tối giản mà chúng ta thường xem là tôn giáo.

Để gắn bó hơn với linh hồn của mình, chúng ta nên xem lại một ngôn ngữ cổ xưa hơn, ngôn ngữ mà tôn giáo, thi sĩ, thần thoại, và những người đang yêu đã dùng, trước khi chủ nghĩa vật chất thống trị biến ngôn ngữ về linh hồn của chúng ta thành ngôn ngữ của hóa sinh và cơ giới. Chúng ta không thể hiểu được linh hồn qua một mô tả khoa học, nhưng chỉ có thể hiểu bằng cách xem xét hành vi, sự ham muốn, bất mãn và phản kháng của linh hồn. Không thể giải thích, mà phải cảm nghiệm linh hồn, và cảm nghiệm linh hồn luôn nằm trong thâm sâu, khao khát, trong cái tôi, trong giới hạn, trong cảm giác lữ hành, trong nhu cầu cần một tri kỷ.

Đáng mừng là, ngày nay, chúng ta vẫn bộc phát kết nối linh hồn với những sự vượt trên hóa sinh và cơ giới. Như Hillman chỉ ra rằng: “Chúng ta liên kết từ “linh hồn” với tâm trí, tinh thần, tâm hồn, sự sống, hơi ấm, nhân văn, nhân cách, cá tính, ý định, bản chất, nội tại, mục đích, cảm xúc, phẩm chất, đức hạnh, tội lỗi, khôn ngoan, sự chết, Thiên Chúa. Và chúng ta nói linh hồn là “phiền phức” “già cỗi” “vô hình” “bất tử” “lạc lối” “ngây thơ” “hứng khởi”. Chúng ta có thể nói đôi mắt “có hồn” bởi đôi mắt là tấm gương của linh hồn, và những người không có lòng thương là người “vô hồn”.

Chúng ta hiểu rõ cấu thành của sự gì đó khi nó vỡ ra. Vậy nên có lẽ thời nay, chúng ta có thể hiểu rõ sự vô hồn trong việc chúng ta ngày càng chấp nhận khiêu dâm và tình dục qua đường, việc chúng ta thấy cần thiết và có chủ ý loại bỏ linh hồn khỏi những trải nghiệm mang tính linh hồn nhất.

(Còn nữa)

 

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MIỀN TÂY HOANG DẠI

MUÔN MẶT ĐỜI THƯỜNG III/153

VẪN THẾ MÀ!