Thơ J. Leiba Lê Văn Bái
Thơ J. Leiba Lê Văn Bái;
1/ HOA BẠC MỆNH:
Tháng ba, hoa bạc mệnh
Tàn trước mọi cành xuân
(Dịch thơ cổ)
Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai
Ba xuân muôn thắm thêu cành biếc
Bạc mệnh hoa kia đã rụng rồi!
Héo trước trăm hoa: hoa bạc mệnh
Đang xuân, để khỏi thấy xuân tàn.
Chúa xuân vì biết tình hoa thế
Xin kiếp sau đừng nở thế gian.
Hồn kết gió hương trời Nhược thuỷ
Cánh viền mây thắm động Thiên Thai
Hoá thành những giọt mưa thơm ấy
Tưới nở trăm hoa đã héo rồi!
2/ MAI RỤNG:
Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai,
Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài,
Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ,
Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...
Hoa mai đã tạ, lá mai vàng,
Vàng úa đầu cành, ủ bóng dương,
Lác đác mai già rơi mặt đất:
Hoa xưa thành quả, quả nay tàn!
Quả tàn héo rụng gốc cây khô;
Thiếu nữ âu sầu tưởng mộng xưa.
Vạch cỏ, ngậm ngùi nghiêng giỏ hốt;
Rạt rào hoa rụng cánh như mưa.
Giỏ chưa đầy quả, lệ chan sầu,
Vứt giỏ bên mình, kéo áo lau.
Gió đuổi hoa tàn bay xớn xác,
Má hồng sầu ủ, ủ làn thâu...
...“Năm xưa em ở chốn phòng khuê.
Yêu, nhớ, ngây thơ đã biết gì.”
Mai nở, mai tàn, mai lại rụng,
Tường đông xuân sắc mặc đi về.
Tường đông, xuân ấy gặp tình lang,
Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương.
Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối:
Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.
Yêu chàng, em cố chuốt hình dung
Tô cặp môi son, điểm má hồng,
Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,
Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong,
Vườn tình hoa ánh cánh song sa,
Rẽ liễu cùng chàng dựa bóng hoa.
Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...
Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau.
Xuân tới cành đào hoa lại nở,
Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu?
Gió xuân lại thổi chốn vườn xưa,
Lệ đẫm khăn là, dạ ngẩn ngơ.
Hoa cỏ thương người, xuân ủ bóng.
Đâu ngày xuân thắm buổi ngây thơ?
Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch,
Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai.
Phấn mốc, hương bay, chiếu lệch giường,
Song thưa, gió ném cánh hoa tàn.
Ba xuân những biếng thăm vườn cũ,
Trước cửa rêu dầy, lớp cỏ lan.
*
Phòng không chi tưởng cảnh xuân tình,
Nhánh liễu phai tơ rụng trước mành.
Chợt nghĩ vườn xuân, xuân sắp hết.
Gượng vui, khoác áo dạo hoa đình.
Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi,
Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai.
Tơi bời ong bướm bay qua ngõ,
Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.
Xuân buồn như nhắc cảnh xuân vui
Gió thổi lay cành, rụng quả mai,
Thương dấu xuân tàn, nghiêng giỏ hót
Thương xuân, xuân hỡi, có thương người?
Lệ chan má phấn, ủ mày ngày.
Thấm thoát màu xuân có thế thôi
Cảnh cũng như người, chung hối hận:
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
...............................................”
Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai,
Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài,
Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ.
Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai.
3/ NĂM QUA:
Em nhớ năm em mới lên mười,
Tóc em buông xoã chấm ngang vai.
Ngây thơ nào biết em xinh đẹp,
Cùng trẻ bên đường đánh “chắt” chơi.
Anh đi qua đó đứng nhìn em,
Em vứt sành đi vội đứng lên,
Dắt tay cười nói thi nhau chạy,
Em vấp vào anh ngã xuống thềm.
Me em chạy lại bế em hôn,
Êm ái đe em sẽ đánh đòn.
Em phải nhịn đau không dám khóc,
Vì em trông thấy vẻ anh buồn...
........................
Em nhớ năm em lên mười hai,
Một mình em lấy trộm gương soi,
Đường ngôi đương kẻ thì anh đến,
Anh đến bên em mỉm miệng cười.
Em thẹn, quăng gương chạy xuống nhà,
Nín hơi anh gọi cũng không thưa.
Sau mành lấp ló em nhìn trộm,
Em đợi anh về mới dám ra...
..........................
Em nhớ năm em lên mười lăm,
Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân.
Mừng xuân em thấy tim hồi hộp.
Nhìn cái xuân sang khác mỗi lần.
Ba mươi, em đứng ngắt hoa đào;
Nghỉ học anh về qua trước ao,
Ngẩng mặt vừa khi anh ngó thấy,
Ném hoa em vội chạy ngay vào.
Mồng hai anh lễ Tết nhà em,
Em đứng nhìn anh, nấp bóng rèm,
Mười sáu xuân rồi anh đã lớn;
Tìm em rầu rĩ vẻ anh nhìn.
Em thấy tim em đập rộn ràng,
Muốn ra lại ngại cháy tâm can.
Me em rót nước mời anh uống,
Anh tủi, em rầu, ai khổ hơn?
Năm ấy xuân em có một mình,
Ai vui em những ngẩn ngơ tình.
Này quân tam cúc năm xưa đó,
Nào lúc vui đùa, em với anh?
Mồng một, vui xuân hai chúng ta,
Em mười ba tuổi, tính còn thơ,
Em anh còn cãi nhau như trẻ,
Em dỗi, anh nhìn, dạ ngẩn ngơ...
Xuân nay xuân trước cách bao rồi!
Nhớ buổi xuân nào, tiếc phút vui.
Em ước đôi ta cùng bé lại:
Vui xuân lại được đánh bài chơi!
Ngày nay nhớ lại buổi vô tình,
Anh lặng yêu em, em nhớ anh.
Rồi nữa xuân qua, xuân lại lại
Biết rằng sau có vẹn ba sinh?
...........................
Hôm qua em đến mái đông lân,
Cô gái khâu thêu vẻ ngại ngần.
Tơ lụa bộn bề quần áo cưới,
Vội vàng cho khách kịp ngày xuân.
Duyên mình hờ hững hộ duyên ai,
Cô gái đông lân đáng ngậm ngùi
Ngán nỗi năm năm đưa chỉ thắm,
Phòng không may áo cưới cho người!...
Anh ơi! Anh mãi đứng công danh,
Để phụ cho nhau một mối tình
Nhánh liễu vườn xuân, ai nấy chủ?
Chờ ai biết có khỏi trao cành?
Má đỏ, xuân em chỉ có thì,
Xuân qua, phó lẽ đợi anh về,
Tương tư lệ nhỏ phai màu phấn,
Anh hỡi! yêu nhau há đợi gì?
Danh lợi như mây nổi giữa trời;
Hồng nhan phải giống mãi trên đời?
Đợi anh áo gấm xuân sau lại,
Chỉ sợ nghiêng giành hốt quả mai!
4/ LỚP TANG THƯƠNG:
Ngày ấy cùng say trong quán rượu
Sầu tư đã cạn rượu hồ vơi,
Hai chàng trai trẻ ca rồi hát,
Bắt chước người xưa đề vách chơi:
"Nhớ Hạnh Hoa thôn quán rượu này.
Nhớ ngày nhớ tháng hẹn rồi đây,
Mười năm sau sẽ cùng chung lại
Xem cuộc đờii qua mấy đổi thay."
"Ngày ấy hẳn đầu chưa điểm bạc
Biết bao dòng nước chảy qua cầu!
Lối xưa tửu quán còn không nhỉ?
Bể rộng mong đừng hoá ruộng dâu!"
Chưa tới mười năm quán Hạnh Hoa,
Xuyên ngang tửu quán ánh dương tà,
Một người xuống ngựa mười năm trước
Một chén men tràn suối lệ sa.
5/ NHỚ:
Một chiều thu trước bên sông vắng
Mà cánh phù dung đỏ khắp bờ
Người đẹp chờ thuyền sang bến mộng
Màu da màu áo trắng như mơ
Môi hồng thiếu phụ buồn man mác
Hoa rụng trong thu gợn ngậm ngùi
Một cánh hoa rơi rồi một cánh
Lòng ta tàn một chút gì vui
Buồn vướng mắt nhung xinh đẹp quá
Ầm thầm ủ một mộng yêu đương
Thu xưa từ độ thu xa lắm...
Hẳn một tình duyên đã lỡ làng
Bờ thu đỏ nhuộm màu hoa rụng
Chẳng một con thuyền đậu bến sông
Thiếu phụ mong gì hoa đã rụng
Trời chiều lại lỡ một chờ mong!...
Lòng tôi buồn bã từ hôm ấy
Và mỗi chiều thu nắng đẹp tàn
Nhìn cánh phù dung nơi bến vắng
Nhớ người thiếu phụ, nhớ yêu đương
6/ BỐN MÙA YÊU THƯƠNG:
Xuân ngập song đào nụ nở hoa,
Nắng vàng như suối chảy cành tơ.
Ái ân hương dậy lòng trinh nữ.
Môi hứa bao niềm yêu mộng, thơ...
Lá biếc đầy cành, quả trĩu tươi.
Gió nam, ngày hạ khắc thêm dài,
Vườn cây bóng mát, chiều êm mộng,
Thơ thẩn, tình em gửi một người...
Dạo ấy, thu đem ảm đạm về,
Đây trời như nặng nỗi phân ly
Em nhìn lá rụng, sầu không nói:
Hay gió thu về nhắc nhở chi?...
Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều!
Tình yêu đã thắm mắt em buồn,
Ta đủ vui lòng lượm phấn hương
Của cánh hoa xưa tan tác đó,
Gượng cười an ủi bởi yêu đương.
Em thuộc về ai? Ta biết đâu!
Thương hoa tình ái sớm tàn mau.
Nhưng bao người trước ta, em nhỉ,
Ai kẻ buồn duyên đến bạc đầu.
7/ BẾN GIÁC:
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am Không
Cửa thiền một đóng duyên trần đứt
Quên hết người quen chốn bụi hồng.
8/ THUYỀN AI ĐẬU BẾ CÔ TÔ:
(Nước
Ngô bị diệt vong. Mây nước năm hồ đã lồng khung cho con thuyền Tây Thi
cùng Phạm Lãi. Cung Quán Khuê cỏ hoang, đài Cô Tô trăng lạnh, cả một
thời xưa ca vũ chỉ còn dư âm trong tiếng chuông sớm mái Hàn san.)
Trên đài Cô Tô bóng trăng soi,
Dưới đài Cô Tô dòng nước trôi.
Trăng lặn non Tây còn lúc mọc,
Nước về Đông cứ lạnh lùng xuôi...
Cung xưa, tha thẩn lũ hươu nai!
Tây Tử năm hồ đã dạo chơi.
Xương ngọc, hồn hoa đâu chốn gửi?
Thà như trinh nữ: Hổ Khâu vùi.
Hổ Khâu, tầng núi, tháp lô nhô,
Đêm vắng, đèn chong, tỏ ngọn chùa.
Muốn đốt hương thơm nương cửa Phật,
Mà đem thoa xuyến vứt cho sư!
Thuyền dạo hồ Đông muôn dặm chơi,
Quạ kêu, trăng lặn, nước mờ khơi.
Hàn San vẳng tiếng chuông chùa sớm,
Cây bến, đèn ngư, não mộng người!
9/ NGŨ LĂNG NIÊN THIẾU:
Gốc liễu vương tôn vừa buộc ngựa
Sau rèm son phấn đã đưa hương
Tiếng oanh chào khách lời lưu luyến
Khúc hát gieo sênh, dịp đoạn trường
Rượu ngon cứ uống đừng lo cạn
Ta có kim bào, tuấn mã đây
Tiệc ngọc nghìn vàng chi xiết kể
Tiếc gì tri kỷ một đêm nay
Rồi mai người khách phong lưu ấy
Túi rỗng đi qua kỹ viện này
Che áo vì chưng e thẹn mặt
Ngậm tình, chẳng nói một ai hay.
--------------------------------------------------
J.
Leiba (viết tắt chữ Jean Leiba), tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái
trong tên ông nói lái mà ra. Khởi đầu, ông ký bút hiệu Thanh Tùng Tử,
sau mới đổi là J. Leiba.
Ông sinh
ở Yên Bái, nhưng chính quán lại là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh
(Nam Định). Thuở nhỏ ông theo học Trường Bưởi (trường Trung học Bảo hộ),
đến năm thứ ba, ông bỏ dở việc học đi theo một nhóm giang hồ ngót một
năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi lại lên Hà Nội viết báo và
làm thơ.
Bước chân vào làng thơ
từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, ông viết
cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, báo Tiểu thuyết thứ bảy ra đời, ông
cộng tác với Chủ báo Vũ Đình Long, rồi được cử làm Chủ bút tờ Ích hữu.
Ngoài ra, ông còn viết cho các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt báo, Nam
Cường, L'Annam nouveau... Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều,
chính là nhờ những bài thơ đăng trên tuần báo Loa.
Năm
1935, ông thi đỗ bằng thành chung, được bổ vào ngạch thư ký tòa sứ Bắc
Kỳ, nhận việc ở tòa sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây,
ông đã sống khá trác táng. Đến khi đổi lên tòa sứ Hà Giang thì J. Leiba
đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ về Hà Nội chữa
trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh nên
xin về nghỉ ở quê nhà. Tại đây, thỉnh thoảng ông mới gửi một vài bài thơ
cho báo Tiểu thuyết thứ Bảy và Tri Tân.[1]
Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần ở tuổi 29.
Nhận xét
Đăng nhận xét