Thơ THÁI CAN
Thơ THÁI CAN
1/ANH BIẾT EM ĐI...:
Anh biết em đi chẳng trở về,
Dặm ngàn liễu khuất với sương che.
Em đừng quay lại nhìn anh nữa:
Anh biết em đi chẳng trở về.
Em nhớ làm chi tiếng ái ân.
Đàn xưa đã lỡ khúc dương cầm.
Dây loan chẳng đượm tình âu yếm,
Em nhớ làm chi tiếng ái ân.
Bên gốc thông già ta lỡ ghi
Tình ta âu yếm lúc xuân thì.
Em nên xoá dấu thề non nước
Bên gốc thông già ta lỡ ghi.
Chẳng phải vì anh chẳng tại em:
Hoa thu tàn tạ rụng bên thềm.
Ái tình sớm nở chiều phai rụng:
Chẳng phải vì anh chẳng tại em.
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan,
Tình kia sao giữ được muôn vàn...
Em đừng nên giận tình phai lạt:
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan.
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che.
Em đừng quay lại nhìn anh nữa;
Anh biết em đi chẳng trở về.
Chép theo một bức thư (1934).
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc thành bài hát Anh biết em đi chẳng trở về.
2/ CHIỀU THU:
Hoa hồng rũ cánh bay đầy đất
Trĩu nặng sương thu mấy khóm lan
Mỹ nhân lững thững xem hoa rụng
Ta ngỡ Hằng Nga náu Quảng Hàn.
Mỹ nhân lững thững thăm hoa rụng
Trâm ngọc quên cài tóc bỏ lơi
Sương toả bên mình như khói nhẹ
Xiêm y tha thướt mái hiên ngoài.
Ta đứng bên hiên kiếm ý thơ
Mỹ nhân vô ý bước đi qua
Cánh hồng quyến luyến bên chân ngọc
Như muốn cùng ai sống phút thừa
Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man mác, giá như sương
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương
Tạp chí Phong hoá.
3/ CHIÊU QUÂN:
Quần sơn vạn hác phó Kinh môn
Sinh trưởng Minh phi thượng hữu thôn
Nhất khứ tử đài liên sóc mạc
Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn
Hoạ đồ tỉnh thức xanh phong diện
Hoàn bội không qui nguyệt dạ hồn
Thiên tải tỳ bà tác hồ ngữ
Phân minh oán hận khúc trung luân
(Đỗ Phủ)
Trước lầu từ lúc biệt quân vương
Tuyết phủ rừng phong giá rãi đường
Đau đớn nàng nhìn lên cõi Bắc
Lạnh lùng trời đất nhuốm thê lương
Chiều tối nàng đi đến Thạch Tuyền
Chợt nhìn lên đá núi Yên Nhiên
Muôn nghìn tượng đá hình dung lạ
Đột ngột trong sương hung dữ nhìn
Kinh hoàng nàng tưởng giặc Hung Nô
Lệ ngọc hai hàng rỏ tợ mưa
Tuyết phủ đầy đường quân chẳng tiến
Hai ven bờ suối lặng như tờ
Trên tuyết trăng lên lạnh lẽo xanh
Vời trông muôn dặm dấu đô thành
Mịt mùng trong bóng trăng thu lạnh
Chỉ thấy muôn trùng tuyết trắng xanh
Quân sỹ dừng chân dưới núi cao
Nghe chim trên núi động rì rào
Hãi hùng những sợ quân Hồ đến
Vội vã bên mình rút kiếm đao!
Trong tối âm thầm lại cứ đi
Nửa đêm vừa đến gác Vân Trì
Mây che ảm đạm giời đen tối
Dế khóc thêm buồn nỗi biệt ly
Chiêu Quân lên gác ngắm trăng tàn
Nhìn đám mây trời vẽ hợp tan
Sực nhớ đêm nào trong điện ngọc
Sum vầy trong một giấc vu san
Tay tiêu thánh thót tiếng tơ huyền
Văng vẳng chuông vàng khánh ngọc chen
Khi nhẹ mơ màng mây khói toả
Khi sầu ủ dột tiếng chim quyên
Tiếng đàn như nhắc khoảng đời xưa
Cung cấm thanh nhàn buổi sớm trưa
Muôn tía nghìn hồng đua vẻ đẹp
Cung tần mỹ nữ nhởn nhơ đùa
Bỗng động biên ngoài dấu lửa binh
Bụi hồng tán loạn chốn đô thành
Quân vương thổn thức lòng lo sợ
Hồn mộng ra ngoài cõi chiến tranh
Ba quân thất thế lúc đông sang
Đất Hán chưa hề giãi tuyết sương
Máu nóng nhuốm hồng đồng cát trắng
Hình hài đem giả nợ Quân vương
Trường thành chồng chất đống xương khô
Ngựa báo phi về chốn cố đô
Cung điện ngậm ngùi sầu chiến sỹ
Quân vương thổn thức lệ chan hoà
Sinh kế hoà Phiên há bởi ai!
Sinh ly tử biệt vốn cơ giời
Mang đàn thất vọng sang miền bắc
Đặng cứu quân tàn chốn ải khơi!
Chỉ sợ Quân vương ở cấm cung
Trông mây thêm bận nỗi đau lòng
Nàng ngoài ải nhạn đà cam phận
Lạnh lẽo thân tàn với gió đông!
Bài thơ của Đỗ Phủ mà thi sĩ Thái Can đã dẫn có nhan đề Vịnh hoài cổ tích. Xin xem phần dịch nghĩa và dịch thơ trong phần thơ Đỗ Phủ.
Chiêu Quân: Vương Chiêu Quân 王昭君 còn gọi là Minh Phi 明妃 hay Minh Quân 明君 tên thật là Vương Tường 王嬙, nhũ danh Hạo Nguyệt 皓月, tự Chiêu Quân, là người đẹp được tôn vinh là một trong Tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc, cùng với ba người kia là Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi. Nàng là người làng Tỷ Quy, huyện Nam Quận, nay là huyện Quỳ Châu, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Theo Hán thư, nàng nguyên là cung nhân của Hán Nguyên Đế từ năm 15 tuổi với thân phận là một gia nhân tử, tức hàng phi tần vô danh không có tước hiệu trong chế độ nhà Hán. Thời đó Hung Nô rất mạnh, thường xuyên quấy nhiễu trung nguyên, nhà Hán hằng năm vẫn phải cống vàng bạc, vải lụa, mỹ nhân, trâu ngựa theo sách lược hoà thân từ thời Lưu Bang. Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà 呼韓邪 đến kinh đô Trường An để thần phục nhà Hán, đề nghị được trở thành con rể của Nguyên Đế. Hoàng đế thuận theo, ban cho cho 5 cung nhân trong hậu cung, và một trong số ấy là Vương Chiêu Quân. Sau khi làm vợ chúa Hung Nô, nàng được phong hiệu Ninh Hồ yên chi 寧胡阏氏, sinh được một con trai. Nàng mang trọng trách làm cầu nối giữa nhà Hán và Hung Nô thời đó. Đến đời Tấn, Tấn Vũ Để để tránh phạm huý cha mình là Tư Mã Chiêu, cho đổi gọi tên nàng là Minh Quân hay Minh Phi.
Theo một giai thoại chép trong Tây Kinh tạp ký 西京雜記 được lưu truyền từ cuối đời Hán rằng do số phi tần của Hán Nguyên Đế quá đông, nên hoàng đế lệnh hoạ sư vẽ lại chân dung để dựa vào nhan sắc mà sẽ triệu hạnh. Các cung phi thường lo lót tiền cho hoạ công Mao Diên Thọ 毛延壽 để được vẽ cho đẹp, chỉ Vương Tường không đút lót nên chân dung không đến được hoàng đế. Khi Hung Nô đến chầu, xin mỹ nhân để làm yên chi, Nguyên Đế chọn trong số chân dung, thấy Chiêu Quân tầm thường, nên chọn để phái đi Hung Nô. Trước nàng diện kiến, thấy dung mạo không ai bì kịp, Nguyên Đế hối hận nhưng chuyện đã định nên không thể thay đổi, sai chém Mao Diên Thọ cùng các hoạ công khác. Một dị bản của giai thoại này là Chiêu Quân tự vẽ chân dung mình, nhưng bức tranh đó trước khi dâng lên vua bị Mao Diên Thọ điểm thêm nốt ruồi, thuật số thường gọi là tướng sát chồng.
Chiêu Quân trên đường tới Hung Nô, khi tới biên cương là một nơi hoang mạc rộng lớn, nàng ngồi trên ngựa buồn u uất mà cầm một cây tỳ bà đàn một khúc gọi là Xuất tái khúc 出塞曲 và làm một số bái thơ ai oán, trong đó có bài Chiêu Quân oán 昭君怨 được chép trong Nhạc phủ thi tập. Một con nhạn bay ngang qua nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất, nên nàng được tôn vinh là người có khả năng làm chim sa cá lặn (trầm ngư lạc nhạn 沉魚落雁). Do giai thoại này, Chiêu Quân xuất tái 昭君出塞 trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật ngày trước. Truyện Kiều: “Quá quan này khúc Chiêu Quân, Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia”.
Năm 20 TCN, Hô Hàn Tà chết, nàng tiếp tục làm vợ của người con là thiền vu Phục Chu Luy 復株累 lên thay, theo tục của người Hung Nô, sinh thêm được hai con gái. Sử sách không chép về cái chết của nàng. Sách Thông điển đời Đường chép sau khi mất tại Hung Nô, nàng được chôn ở bờ nam sông Đại Hắc gần Hồi Hột, nay thuộc Nội Mông. Ở đây mặc dù mùa thu cây cỏ đều tàn úa nhưng mộ nàng vẫn quanh năm xanh tươi như ở trung nguyên, nên người ta gọi là “thanh trủng” 青塚 (nấm mồ xanh).
4/ HỒN HOA:
Đêm tối vườn hồng im lặng phắc
Cùng anh em sẽ ra vườn chơi
Im lặng em đừng đi nặng bước
Đừng ca, đừng hát, đừng nô cười
Vì trong đêm tối cánh hoa tươi
Thường biến hình ra thành những người
Tuyệt dịu êm đềm như ánh sáng
Mơ màng trên những cánh hoa mai
Em lắng tai nghe, gió thoảng qua
Nhưng không! ấy chính tiếng nàng hoa
Dịu dàng ngâm khúc thần tiên mộng
Trong lúc canh trường gió thoảng qua
Em hãy lặng nhìn bên khóm liễu
Hồn hoa thấp thoáng dưới trăng mờ
* "Có những chiều lạ lùng linh hồn hoa còn ẩn". Thái Can đã nhầm nguyên tác câu thơ là của Albert Samain (chứ không phải là của Henry de Régnier)
5/ VƯỜN ĐÀO:
Vườn đào há lọc nắng hè trong
Sớm thấy cô em má đỏ hồng
Dưới ánh nắng xanh tìm quả chín
Trên cành còn đọng hạt sương trong
Ngửng mắt nhìn lên mấy quả đào
Thèm thuồng ham muốn quả trên cao
Mắt cô trong suốt như sao sáng
Ước lấy trần gian đổi ngọt ngào
Và cả đài tiên lộng lẫy xinh
Hình như chín ửng với xuân tình
Dang tay mơn trớn trên cành biếc
Hái quả đào ngon dưới lá xanh
Thiếu nữ là ai thế! hở cô?
Quả đào đỏ ửng hái trong mơ
Là tình huyền ảo gieo trong trí
Bởi những Thi nhân tợ bóng mờ
6/ THUYỀN HOA:
Sông Hương nước chảy lờ đờ
Thuyền ai một lá đợi chờ giai nhân
Đầy thuyền rã cánh hoa xuân
Xin mời cô hãy bước chân xuống thuyền
Mời cô bước xuống thuyền hoa
Kìa bên Vĩ Dạ trăng ngà đã lên
Rộn ràng đàn địch U Uyên
Dưới vầng trăng bạc con thuyền nhởn nhơ
Trong thuyền ngào ngạt hương lan
Bóng đèn huyền ảo tiếng đàn du dương
Mơ màng ánh nước sông Hương
Bằng đâu nét mặt mơ màng cô em!
Kìa kìa bên bến Phu Văn
Dưới hoa một cặp giai nhân chuyện trò
Tôi xin lựa mấy vần thơ
Cung đàn lựa phím cho cô đỡ buồn
Ước sao lựa được mấy vần
Thần tiên để tặng dấu chân ngọc ngà
Mơ hồ trăng toả ánh xa
Bên người Ngọc nữ trên hoa duỗi mình
Bên hoa người Ngọc duỗi mình
Lặng nghe khúc hát Nam bình du dương
Trăng thanh giỡn nước sông Hương
Đèn xanh huyền diệu mùi hương ngạt ngào
Con thuyền lặng lẽ trên sông
Như thời khắc chảy trong dòng hư vô
Trong sương tôi ước cùng cô
Mê man hát khúc tình ca tuyệt vời
7/ PHÚT YÊU ĐƯƠNG:
Độ ấy phương xa anh mới về
Thây em trước cửa hái hoa lê
Hoa lê lác đác trên khăn rụng
Âu yếm em cười lá biếc che
Từ đó về sau cứ mỗi đêm
Trăng thanh mơ mộng dọi bên thềm
Khúc đàn thổn thức buông theo gió
Cho đặng thâm tình thấu đến em
Em cảm tình anh, biết ý anh
Đêm khuya anh đứng tựa bên mành
Tiếng đàn trầm bổng như man mác
Đượm cả không gian điệu Ái Tình
Lòng em náo nức nỗi yêu đương
Qua lá trăng len ánh dịu dàng
Êm ái hoa đào đương thỏ thẻ
Chuyện cùng hoa hạnh dưới cành sương
Thôi! Thế lòng anh mãn nguyện rồi
Vì tình chỉ mộng đó mà thôi
Lòng em một phút yêu anh thế
Cũng thể yêu anh suốt một đời
8/ NẮNG MAI:
Trời xuân vừa rạng ánh bình minh
Thiếu nữ lăm xăm bước một mình
Dưới ánh hoa đào khoe má đỏ
Hoa đào rực rỡ, lá đào xanh
Nàng vui, vui với cảnh ngày xuân
Đàn bướm bay cao, liệng xuống gần
Phấp phới bên nàng muôn cánh nhẹ
Tưng bừng bay lượn dưới hoa xuân
Lá cây che thoáng bóng người yêu
Vạch cỏ, vin cây dáng mỹ kiều
Dưới gió áo nàng bay phấp phới
Tình chàng sau gió cũng bay theo
Chàng ngắm, say sưa, bướm với người
Nô đùa hớn hở với hoa tươi
Rỡ ràng hoa cũng cùng sung sướng
Dưới ánh triêu dương mỉm miệng cười!
Đầy trí ngây thơ - mộng hão huyền!
Mơ màng chàng ước cuộc tình duyên
Ái tình đẹp tợ hoa xuân thắm
Em tợ trên không tiếng quản huyền
9/ ƯỚC NGUYỆN CUỐI CÙNG:
Ta chẳng màng chi với ái tình
Dù hoa tình ái tuyệt trần xinh
Tấm lòng âu yếm tan như khói
Ta chẳng màng chi với ái tình...
Ta chỉ vui cùng mây nước thôi
Ái tình nào khác chớp ngang giời
Thoảng trong giây lát là tan biến
Ta chỉ vui cùng mây nước thôi
Tạo hoá sinh ta với cỏ cây
Với làn gió thoảng với hương bay
Với trăng cao ngất giời xanh biếc
Tạo hoá sinh ta với cỏ cây
Sớm xuân hoa cỏ nở tưng bừng
Khắp cả vườn xuân bát ngát hương
Cùng với hoa xuân chào ánh sáng
Sớm xuân hoa cỏ nở tưng bừng...
Chiều hạ trong hoa chim líu lo
Đàn ta hoạ khúc tiếng mơ hồ
Tan trong bóng tối chìm trong lặng
Chiều hạ trong hoa chim líu lo...
Đêm thu Ngọc địch thổi ly đình
Ta lặng nhìn lên ánh sáng xanh
Của đám mây giời bay lững thững
Đêm thu Ngọc địch thổi ly đình
Mưa gió đêm đông tối cả giời
Ta lấy tinh thần sáng suốt soi
Những cảnh u huyền trong ảo mộng
Mưa gió đêm đông tối cả giời...
Suốt một đời ta dốc một lòng
Chỉ thờ cảnh sắc đẹp mông lung
Như mây cao vút trên từng thẳm
Suốt một đời ta dốc một lòng...
Rồi một ngày kia ta giã từ
Cuộc đời cát bụi lẫn dâm hư
Ta cùng cây cỏ cùng tan nát
Rồi một ngày kia ta giã từ...
Hồn ta bay bổng chốn không trung
Lẫn với thời gian mãi chẳng cùng
Như khúc tiên ca đồng vọng mãi
Hồn ta bay bổng chốn không trung...
________________________________________________
Thái Can sinh ngày 22/10/1910- mất 1998 tại xã Văn Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh,là bác sĩ và là nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến
Ông lần lượt theo học các trường: trường phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh), trường Vinh (Nghệ An), Trường Trung học Bảo Hộ (tức Trường Bưởi, Hà Nội), trường thuốc Hà Nội (tức Trường Y- Dược Đông Dương).
Lúc còn đi học, ông đã làm thơ. Buổi đầu, ông ký bút hiệu Th.C. Thơ ông phần nhiều đăng trên các báo: Phong hoá, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Văn học tạp chí.
Năm 1934, Thái Can cho in tập thơ Những nét đan thanh, do Ngân Sơn tùng thư ở Huế xuất bản. Tập thơ này về sau, được ông bổ sung thêm, tự mình đề tựa rồi cho tái bản năm 1938. Năm 1995, Nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho tái bản lần nữa với tên mới là Thơ Thái Can.
Năm 1940, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa.
Tháng 8 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân chọn để giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942). Cũng năm này, ông học thêm chữ Hán và làm thơ bằng chữ Hán.
Sau Hiệp định Genève ông di cư vào Nam, mở phòng khám bệnh ở Đà Nẵng rồi sau năm 1975 thì tỵ nạn sang Hoa Kỳ định cư. Ngày 22 tháng 04 năm 1998, Thái Can qua đời tại California, Hoa Kỳ.
Giới thiệu Thái Can, Hoài Thanh và Hoài Chân, viết:
“ Tôi đã cố đọc lại thơ Thái Can để mong tìm lại cái say sưa ngày trước. Nhưng lòng tôi cứ dửng dưng. Sao bây giờ tôi thấy thơ Thái Can sáo quá mà người thiếu nữ trong thơ Thái Can thì hầu hết ẻo lả đến khó chịu...
Thơ Thái Can vẫn như trước. Dễ lòng tôi đã khác xưa? Một người thơ cũng như một người tình, yêu đó rồi bỏ đó sao cho đành. May thay tôi vẫn có thể thích được dăm bảy bài. Kể người bài đó đều phỏng theo lối thơ xưa. Chữ dùng cũng xưa. Nhưng có cái gì bảo ta rằng ở đây có một người khóc cười thật. Ở đây không còn cái thói khóc gượng cười vờ nó vẫn lưu hành trên sân khấu tuồng cổ và trên thi đàn Việt Nam khoảng vài mươi năm trước...
Thơ Thái Can nhạc điệu không có nhiều lối và cũng chỉ nằm trong khuôn khổ thơ thất ngôn, nhưng trong những câu thơ hay bao giờ cũng thấm thía...Cho đến những bức tranh thỉnh thoảng ta gặp trong thơ Thái Can cũng không phải là những bức tranh tô bằng nét, bằng màu, mà chính là hoà bằng nhạc điệu...
”
Trong sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển Hạ) có đoạn viết:
Với Thái Can, mùa xuân cũng như mùa thu, đều chất chứa những gì tan tác:
Một ngày là một đóa hoa tươi
Sớm với bình minh mỉm miệng cười.
Theo bóng tà dương chiều đã tạ,
Trong thời gian mãi lửng lo trôi...
(Bên hồ)
Một khía cạnh khác của Thái Can, đó là những mảnh đời của những ca nhi, vũ nữ đã chiếm nhiều hồn thơ của thi nhân, làm chuyển hẳn mạch thơ từ chỗ khách quan, thành cái nhìn vạn hữu như hư ảo, cái trò đời như bạc bẽo, đảo điên...Cho nên, nói đến thơ ông, ta không thể tách rời tính xã hội trong nét bút. Nói khác hơn, cuộc sống của những thân phận ấy xuất hiện trong thơ Thái Can như những tiếng uất ức, nghẹn nào…Và nó như muốn đạp đổ những gì bất công trong xã hội...
”
Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thì
“ ... mặc dù nhà thơ viết nhiều đề tài khác nhau, nhưng chủ yếu nhất vẫn là "tình yêu" và "người đẹp"...Có thể nói thơ tình của ông là những tứ thơ dịu nhẹ, thường mang cái triết lý tình là mộng ảo...Trong số đó, nổi trội hơn cả là bài "Anh biết em đi…". Tuy nhiên, đây cũng là thi phẩm mà ông tỏ ra mâu thuẫn với lòng mình nhiều nhất...Đặc biệt, câu: "Anh biết em đi chẳng trở về", cứ lập đi lập lại đến bốn năm lần, khiến người đọc thơ nghe như có một cảm giác tái tê, một cái gì dằn dặt nơi nội tâm của nhà thơ rất nhiều...
Một bài khác cũng gây nhiều ấn tượng là bài "Cảnh đoạn trường". Một cô kỹ nữ xinh đẹp về sau phải quyên sinh nhưng không chết, đã được tác giả cực tả bằng những câu xúc động. Nhưng tiếc là ông lại đưa tiếp vào bài thơ một thứ triết lý sống khinh bạc...làm cho ý nhị bài thơ biến đổi, đang từ trữ tình chuyển sang triết luận một cách khô sáo...Thơ Thái Can nói chung cổ kính về ngôn từ, bị Hoài Thanh chê là sáo...Mặc dù vậy, cách dùng từ của ông cũng tạo được cho ông một âm điệu riêng ít có trong thơ mới..
Theo wikipedia

Nhận xét
Đăng nhận xét