GIỮA ĐỜI ẢO - THỰC
GIỮA ĐỜI ẢO - THỰC
Ta lớn lên thành nam nhi đất Bắc Nhưng lập gia đình, kiếm sống đất phương Nam Qua biết bao vấp váp, thăng trầm Giờ đã thành lão già tóc bạc!
Xa Hà Nội từ ngày thắng giặc Non sông một dải nối liền Ta di trú vào Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông một thuở
Năm mươi năm bóng câu qua cửa Chưa một lần thăm lại Hồ Gươm Vãn đền Ngọc Sơn Âu cũng là phận số!
“Văn Như Siêu, Quát Vô Tiền Hán
Thi Đáo Tùng, Tuy Thất Thịnh
Đường”*
Người Tràng An, ba mươi sáu phố phường? Còn không vườn tinh hoa Quốc Tử Giám?
Mối tình đầu thương nhớ lắm Đến bây giờ còn nồng ấm trong tim Cuộc đời bảy nổi ba chìm Có ai qua định mệnh!?
Âu là số phận. Sinh Bắc, tử Nam Vĩnh biệt Thăng Long Ngàn năm văn vật!
Ơi cô gái tung tăng nhảy nhót Một sáng tựu trường dưới bóng hàng cây Sao sáng mai nay hiển hiện tràn đầy Thực tại đang mơ hay mơ vào thực tại?
Nhớ em lắm ơi người em gái Sao bao tháng năm em vẫn như xưa Vẫn líu lo trong thầm lặng, đợi chờ Vẫn xinh xắn, mắt biếc buồn vời vợi!
Em vào đây từ ngoài Hà Nội? Vàng vàng vội vội đi đâu? Miệng ngậm nụ cười, mắt thoảng ưu sầu Hình bóng mờ dần giữa ôn ào phố hội!
Ta cuồng lên vẫy gọi Muốn dãi bày tâm sự từ lâu Cuộc tình ngày xưa dang dở trong nhau Còn ẩn chứa biết bao điều ấm ức!...
Xin tạ từ mối tình đất Bắc Ta đã lập thân thương nhớ trời Nam Nhưng vẫn sắt son như nhất dải non sông Sống với cả hai mối tình ảo - thực
Ta mơ thấy ông cha thuở
trước
Thương lắm những hồn hóa đá vọng
phu
Những bước đầu tiên đi khai phá hoang
vu
Hào sảng mang gươm đi mở
nước
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long!...**
Trần Hạnh Thu
CT: * Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch rõ và thanh thoát:
"Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời Tiền Hán phải thua
Thơ như Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thời Thịnh Đường còn kém".
Sách Đại Nam Chính Biên Liệt truyện có đoạn:
“Cao Bá Quát, người huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, cùng với anh là Bá
Đạt đẻ sinh đôi nên đặt tên như thế, nhỏ kháu khỉnh thông minh đều có
văn tài, Quát sau làm nhà ở trong thành Đại La tỉnh Hà Nội. Minh Mạng
năm thứ 12 (1831) về khoa thi Hương đỗ Á nguyên, khi bộ duyệt đánh vào
hạng chưa được Á nguyên mà thi Tiến sĩ thường bị hỏng. Bá Quát tức giận
ngày thêm dùi mài, văn càng mạnh, cùng với Phó bảng huyện Thọ Xương là
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đều nổi tiếng”.
“Tùng Thiện Vương, tên là Miên Thẩm, tự là Thận Minh, con trai thứ
mười vua Minh Mạng, người Huế quen gọi ngài Tùng, hay là Thương Sơn
(Thương Sơn là biệt hiệu ngài), có tiếng hay chữ nhất trong thời ấy, mà
sở trường về nghề làm thơ. Có em là Tuy Lý Vương cũng học rộng và hay
thơ, nổi tiếng ngang nhau”.
(Trích Wikipedia)
Nhận xét
Đăng nhận xét